A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 35
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt:
Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong
Tập 69
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang chín mươi chín:
(Sớ ) Phạm ngữ Tu Đa
La, thử vân Khế Kinh, danh vi Kinh Tạng, giải kiến
hậu thích đề trung.
(疏) 梵語脩多羅,此云契經,名為經藏,解見後釋題中。
(Sớ: Tiếng Phạn Tu
Đa La, cơi này dịch là Khế Kinh, có tên là Kinh Tạng, [ư
nghĩa chữ Kinh] xem trong phần giải thích tựa
đề kinh ở phần sau).
“Phạm
ngữ” (tiếng Phạn)[1] là một loại
ngôn ngữ của Cổ Ấn Độ. Người Cổ
Ấn Độ tự xưng họ là hậu duệ của
Đại Phạm Thiên (Mahā-Brahmā); do họ hết
sức tôn kính Phạm thiên, nên ngôn ngữ của họ
được gọi là “Phạm ngữ”. Tu Đa La (Sūtra) là dịch âm, “thử vân Khế Kinh”,
“thử vân” là phiên dịch, chữ “thử” (此) chỉ Trung Quốc.
[Tu Đa La] phiên dịch sang tiếng Hán là Khế Kinh, có
nghĩa là “thượng khế
chư Phật chi sở chứng”, tức là nhất
định tương ứng với Lư được chứng
bởi chư Phật Như Lai. Dưới th́ có thể khế
hợp với căn cơ của chúng sanh. Nói theo cách bây giờ
là “thích hợp với tŕnh độ của chúng sanh”, có như
vậy th́ mới có lợi ích. Nếu chỉ khế Lư mà
chẳng khế Cơ, tuy Lư chẳng sai, chúng ta học xong
chẳng đạt được lợi ích thực tế.
Nếu thích hợp tŕnh độ, nhưng lại chẳng
hợp Lư, sẽ chẳng khác ǵ rất nhiều loại
sách vở trong thế gian! V́ thế, Kinh được dịch
thành Khế Kinh, ư nghĩa này hết sức viên măn!
(Sớ ) Tỳ Nại Da, thử
vân Điều Phục, tức Luật Tạng.
(疏) 毗奈耶,此云調伏,即律藏。
(Sớ: Tỳ Nại
Da cơi này dịch là Điều Phục, tức Luật Tạng).
Tỳ Nại Da là tiếng Phạn,
dịch sang nghĩa tiếng Hán là Điều Phục,
đây cũng là Giới Luật. Giới Luật c̣n gọi
là Điều Phục. Đây chính là Luật Tạng, phần
này thuộc Luật Tạng trong Tam Tạng. “Điều” (調) có nghĩa là điều luyện (調練: rèn luyện, uốn
nắn khiến một vật trở thành hài ḥa), điều
lư (調理:
uốn nắn
cho hợp lư), tức điều ḥa, chỉnh lư. Tư
tưởng, kiến giải, hành vi của chúng ta nếu
có chỗ nào chẳng thích hợp hoặc sai lầm, chúng ta
phải điều chỉnh. Giới Luật có ư nghĩa
này. “Phục” (伏) là hàng phục phiền năo. Trong kinh Kim Cang, tôn giả
Tu Bồ Đề hướng về Thích Ca Mâu Ni Phật
nêu lên hai câu hỏi lớn; câu hỏi thứ nhất là “làm thế nào để hàng phục
cái tâm”. Trong tâm chúng ta phiền năo quá nhiều, vọng niệm
quá nhiều, dùng phương pháp nào để hàng phục
phiền năo và vọng niệm? Đây là một câu hỏi lớn
trong kinh Kim Cang. Câu hỏi thứ hai là “nên trụ như thế nào?” [nghĩa là] cái tâm của
chúng ta nên an trụ ở chỗ nào? Một bộ kinh Kim
Cang từ đầu đến cuối nhằm giải
đáp hai câu hỏi này. Tác dụng của Giới Luật
là hàng phục phiền năo; do vậy, tŕ giới mới có
thể đắc Định. Kinh Kim Cang gọi “đắc
Định” là “ưng vân hà trụ?”
(nên trụ như thế nào), tâm chúng ta nên trụ nơi
đâu? Tâm nên an trụ trong cảnh giới Thiền Định.
Nói theo pháp môn Niệm Phật, hăy nên trụ trong nhất tâm
bất loạn. Nhất tâm bất loạn là Thiền Định,
thuộc về Luật Tạng.
(Sớ ) A Tỳ Đạt Ma, thử
vân Đối Pháp, tức Luận Tạng.
(疏) 阿毗達磨,此云對法,即論藏。
(Sớ: A Tỳ
Đạt Ma, cơi này dịch là Đối Pháp, tức Luận
Tạng).
Đây là Kinh - Luật - Luận
Tam Tạng. A Tỳ Đạt Ma dịch sang nghĩa tiếng
Hán là Đối Pháp. Pháp có hai loại:
-
Thứ nhất, theo danh từ Phật học là Thắng
Nghĩa Pháp, Thắng là thù thắng, Nghĩa là nghĩa lư,
[Thắng Nghĩa] là nghĩa lư thù thắng nhất. Trong
kinh Phật thường nói tới Đại Bồ Đề,
Đại Niết Bàn, Thường Trụ Chân Tâm, những
pháp giống như vậy th́ gọi là Thắng Nghĩa
Pháp.
-
Loại thứ hai là Pháp Tướng Pháp, những pháp thuộc
loại Pháp Tướng vô cùng rộng lớn. Hết thảy
các kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói trong bốn
mươi chín năm, hết thảy các pháp môn được
truyền lại, đều có Thể, Tánh, tướng trạng
(Tướng). Chúng được gọi là Pháp Tướng
Pháp.
Chữ Đối cũng có hai
ư nghĩa:
- Một ư nghĩa là Đối
Hướng; nói theo cách hiện thời, đây chính là nguyện
vọng của chúng ta. Chúng ta phát nguyện muốn chứng
Đại Niết Bàn, phát nguyện cầu sanh Tịnh
Độ th́ phải noi theo phương hướng, mục
tiêu ấy. Cho nên nó có ư nghĩa phương hướng, mục
tiêu.
- Ư nghĩa thứ hai là Đối
Quán. Đây chính là dụng công, công phu. Đối với sự
dụng công trong nhà Phật th́ có thể dùng một chữ
Quán làm danh từ chung. Trong nhà Thiền nói “quán chiếu, chiếu
trụ, chiếu kiến”, công phu mỗi tầng một cao
hơn. Tuy Tịnh Tông không nhắc tới những danh
tướng ấy, danh từ khác nhau, nhưng ư nghĩa và cảnh
giới hoàn toàn tương đồng. Pháp môn Niệm Phật
nói “công phu thành phiến”, đấy chính là quán chiếu
trong nhà Thiền. Sự nhất tâm bất loạn là chiếu
trụ, chiếu trụ là đắc Thiền Định.
Chiếu kiến có cùng cảnh giới với Lư nhất
tâm. Người niệm Phật niệm đến mức
Lư nhất tâm bất loạn hoàn toàn có cùng một cảnh
giới với “minh tâm kiến tánh, đại triệt
đại ngộ” của nhà Thiền.
Nói chung, Đối Pháp đ̣i hỏi
chúng ta phải dùng cái tâm thanh tịnh, dùng trí huệ chân thật
để đối ứng hết thảy các pháp tướng,
tâm như vậy mới tương ứng với pháp.
Đây là ư nghĩa của Luận Tạng. Dùng chữ này (tức
Đối Pháp) để giải thích Luận Tạng. Chúng
ta thấy quá nửa Luận Tạng là [biên bản] thảo
luận giữa Phật và Bồ Tát, hoặc thảo luận
giữa các Bồ Tát. Quả thật [Luận Tạng] rất
có ích trong việc giúp chúng ta mở mang trí huệ. Trong Tam Học
Giới - Định - Huệ, Luận Tạng thiên trọng
Huệ Học.
(Sớ ) Thượng nhị câu
hữu đa nghĩa.
(疏) 上二俱有多義。
(Sớ: Hai loại trước đều có nhiều
nghĩa).
“Câu
hữu đa nghĩa”: Đây là nói về Kinh và Luật.
Trong ba thứ, giải thích hai thứ trước là Kinh và
Luật rất phiền phức. Đối với Khế
Kinh, kinh Hoa Nghiêm có tới mười danh từ để
giải thích. Đối với Luật Tạng, ngoài Tỳ
Nại Da, c̣n dùng chữ Phạn là Thi La (Śīla) hoặc
Ba La Đề Mộc Xoa (Prātimoksha), những danh từ
này đều nói về Giới Luật; nhưng danh
xưng khác nhau, đương nhiên ư nghĩa cũng khác biệt
đôi chút, đại đồng tiểu dị.
(Sớ ) Phi cấp bất dẫn.
(疏) 非急不引。
(Sớ: Nếu chẳng cần kíp sẽ chẳng
nêu ra).
“Phi
cấp” là không quan trọng. Nếu [những ư nghĩa
nào] không bắt buộc phải liễu giải th́ ở chỗ
này đại sư sẽ chẳng nói nhiều.
(Sớ ) Tu Đa La nhiếp giả.
(疏) 脩多羅攝者。
(Sớ: [Kinh này] thuộc về Tu Đa La).
Bộ kinh này thuộc Tu Đa
La Tạng trong Tam Tạng, thuộc về Khế Kinh.
(Sớ ) Thử kinh tại Kinh - Luật
- Luận Tam Tạng Trung, thuộc Kinh Tạng cố. Hỗ
nhiếp giả, như Hoa Nghiêm tắc Kinh nhiếp nhi kiêm
Luật, Luận, dĩ Thập Tạng đẳng phẩm
hiển giới luật, Vấn Minh đẳng phẩm hiển
luận nghị cố.
(疏) 此經在經律論三藏中,屬經藏故。互攝者,如華嚴則經攝而兼律論,以十藏等品顯戒律,問明等品顯論議故。
(Sớ: Trong Tam Tạng Kinh -
Luật - Luận, kinh này thuộc về Kinh Tạng. “Nhiếp
lẫn nhau”: Như kinh Hoa Nghiêm thuộc về Kinh mà c̣n kèm
theo Luật và Luận, v́ những phẩm như Thập Tạng
giảng giới luật, những phẩm như [Bồ
Tát] Vấn Minh giảng về luận nghị).
Điều này nêu rơ thuở
đức Phật giảng kinh quả thật khế lư,
khế cơ. Đức Phật giảng kinh cũng chẳng
có pháp nhất định, giống như kinh Kim Cang đă
chép: “Phật vô hữu định
pháp khả thuyết” (Đức Phật không có pháp nào
nhất định để nói, hoặc có thể hiểu
là: Đức Phật không có cách nói nhất định nào).
Chỉ thuận theo nhu cầu của người nghe, bèn
thỏa măn thính chúng, khiến cho họ phá mê khai ngộ th́
mục đích giáo học đă đạt. Do vậy, mỗi
lần đức Phật giảng kinh, trong khi giảng
kinh cũng đồng thời giảng giới luật, và
cũng giảng luận nghị. Chúng ta thường thấy
t́nh h́nh này trong nhiều bộ kinh Đại Thừa. Ở
đây, đại sư lấy kinh Hoa Nghiêm làm thí dụ.
Kinh Hoa Nghiêm đương nhiên là kinh, trong ấy vừa có
giới luật vừa có luận nghị. Nói cách khác, kinh ấy
có đủ cả ba tạng.
Ba tạng đầy đủ,
v́ sao gọi là Kinh, chẳng gọi là Hoa Nghiêm Giới hay
Hoa Nghiêm Luận, mà gọi là Hoa Nghiêm Kinh? Đó là v́ bộ
phận kinh chiếm đa số, giới luật và luận
nghị chiếm phần ít, phân lượng không nhiều.
Chẳng hạn như ở đây nói “Thập Tạng đẳng phẩm hiển giới
luật” (những phẩm như Thập Tạng giảng
về giới luật), trong chương thứ hai của
phẩm Thập Tạng giảng rộng về giới luật.
Trừ phẩm này ra, phẩm Tịnh Hạnh cũng là giới
luật, phẩm Phạm Hạnh cũng có thể coi là giới
luật. Kinh Hoa Nghiêm có tất cả ba mươi chín phẩm,
chỉ có hai phẩm kinh giảng về giới luật,
trong phẩm Thập Tạng chỉ có một phần giảng
về giới luật. Tuy là một phần, nhưng giảng
rất cặn kẽ, điều này cho thấy kinh Hoa
Nghiêm quả thật có chỗ giảng về giới luật,
nhưng phân lượng, kinh văn chẳng nhiều.
Nói đến Luận Tạng
th́ kinh Hoa Nghiêm cũng có, như “Vấn
Minh đẳng phẩm” (các phẩm như Vấn Minh),
mười vị Bồ Tát trong danh hiệu có chữ Thủ[2] cùng nhau hỏi
đáp, biện luận với nhau. Đầu tiên là Văn
Thù Bồ Tát “dĩ nhất tâm
chủng chủng sai biệt vấn” (v́ sao cùng là một
tâm mà có các thứ sai biệt), Giác Thủ Bồ Tát liền
trả lời, một hỏi một đáp giống
như nghiên cứu, thảo luận hiện thời;
cũng có tánh chất hơi giống như một cuộc
họp để thảo luận. Đó gọi là “lư luận
càng biện định càng sáng tỏ”. Kinh Hoa Nghiêm có thể
loại này, nhưng kinh văn cũng chẳng nhiều. V́
thế, bộ phận giảng về Khế Kinh chính là phần
giảng về Định Học, chiếm phân lượng
lớn nhất trong kinh Hoa Nghiêm, chiếm địa vị
quan trọng nhất. Do đó, chúng ta vẫn gọi Hoa
Nghiêm là Kinh, chứ không nói Hoa Nghiêm là Luật hay Luận.
(Sớ ) Phạm Vơng tắc Luật
nhiếp nhi kiêm Kinh, dĩ Tâm Địa phẩm chi thượng,
quảng đàm Bồ Tát giai vị cố. Dư khả lệ
tri.
(疏) 梵網則律攝而兼經,以心地品之上,廣談菩薩階位故,餘可例知。
(Sớ: Kinh Phạm
Vơng thuộc về Luật, kèm thêm Kinh, bởi lẽ, phần
trước của phẩm Tâm Địa giảng rộng
răi về các địa vị Bồ Tát. Những kinh khác cứ
dựa theo [những điều vừa tŕnh bày] sẽ biết).
Lại
nêu trường hợp kinh Phạm Vơng, đây cũng là một
kinh rất quen thuộc đối với các đồng
tu. Kinh Phạm Vơng có tới hơn sáu mươi quyển,
bản dịch tiếng Hán chỉ dịch hai quyển, những
phần khác bị thất lạc, mà cũng chẳng t́m
được nguyên văn. Hai quyển này chính là phẩm Bồ
Tát Tâm Địa Giới của kinh Phạm Vơng. Quyển
thượng nói về địa vị Bồ Tát: Thập
Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng,
Đẳng Giác, Diệu Giác, quyển hạ giảng về
giới luật của Bồ Tát. Hiện thời, những
đồng tu xuất gia tại Đài Loan thọ Bồ
Tát giới theo quyển hạ của kinh Phạm Vơng. Quyển
thượng giảng nên giữ cái tâm như thế nào,
đấy là tâm Bồ Tát, quyển hạ giảng về hạnh
Bồ Tát. Quư vị hăy nghĩ xem: Nếu không có tâm Bồ
Tát, ta sẽ thấy làm cách nào vẫn chẳng giống hạnh
Bồ Tát. Do vậy, tâm Bồ Tát hết sức trọng yếu.
Hễ có tâm Bồ Tát, hết thảy hành vi tự nhiên là Bồ
Tát hạnh. Trong hai quyển kinh văn, đương nhiên
giới luật rất quan trọng, nhưng phần “quảng đàm Bồ Tát giai vị”
(rộng luận định về các địa vị Bồ
Tát) thuộc vào phạm vi Kinh Tạng. V́ thế, “Phạm Vơng tắc Luật nhiếp
nhi kiêm Kinh” (Phạm Vơng thuộc về Luật kèm theo
Kinh). Nay chúng ta gọi [hai quyển ấy] là Phạm Vơng
Kinh Tâm Địa Giới Phẩm. Những trường hợp
giống như vậy rất nhiều, chúng ta học Phật
cần phải biết điều này.
(Sớ ) Thử kinh bất kiêm giới
luật, diệc vô luận nghị.
(疏) 此經不兼戒律,亦無論議。
(Sớ: Kinh này chẳng
nói kèm thêm giới luật, mà cũng chẳng có luận nghị).
Bộ A Di Đà Kinh này thuần
túy thuộc vào Kinh Tạng, thuộc vào Khế Kinh. Trong kinh
văn không nói đến giới luật, mà cũng chẳng
có luận nghị.
(Sớ ) Tự thỉ chí chung.
(疏) 自始至終。
(Sớ: Từ đầu đến cuối).
Đều do một ḿnh Thích Ca
Mâu Ni Phật nói.
(Sớ) Chuyên thuyết niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ, cố vân kim phi bỉ dă.
(疏) 專說念佛求生淨土,故云今非彼也。
(Sớ: Chuyên nói niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ, nên nói: Nay kinh này chẳng
giống các kinh khác).
Chẳng giống những kinh
luận khác, trong những kinh luận khác c̣n có những phần
mang ư nghĩa giới luật và luận nghị, kinh này
không có. Kinh này thuần túy là Khế Kinh, trong Tam Tạng, nó
thuộc vào Kinh Tạng.
(Huyền Nghĩa) Nhị Tạng
giả, nhất, Bồ Tát Tạng, nhị, Thanh Văn Tạng.
(玄義) 二藏者,一、菩薩藏,二、聲聞藏。
(Huyền Nghĩa:
Nhị Tạng là: Một là Bồ Tát Tạng, hai là Thanh
Văn Tạng).
Bồ Tát Tạng là Đại
Thừa, Thanh Văn Tạng là Tiểu Thừa. Đây là chỗ
khác biệt giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa. Trong
hai thừa, bộ kinh này thuộc về Đại Thừa
hay Tiểu Thừa? Chúng ta cũng phải phân biệt
điều này.
(Huyền Nghĩa) Kim thử kinh giả, Bồ Tát Tạng
nhiếp, diệc hữu hỗ nhiếp, kim phi bỉ cố.
(玄義) 今此經者,菩薩藏攝,亦有互攝,今非彼故。
(Huyền Nghĩa:
Nay kinh này thuộc về Bồ Tát Tạng. Cũng có kinh vừa
thuộc vào Bồ Tát Tạng vừa thuộc vào Thanh
Văn Tạng, nay kinh này chẳng giống những kinh ấy).
Qua lời chú giải, chúng ta sẽ
có thể thấy [v́ sao có nhận định này].
(Sớ ) Bồ Tát, Thanh Văn,
tường kiến hậu thích văn trung.
(疏) 菩薩聲聞,詳見後釋文中。
(Sớ: Đối
với từ ngữ Bồ Tát và Thanh Văn, xem lời giảng
chi tiết trong phần giải thích kinh văn ở phía
sau).
Phía sau sẽ có lời giải
thích chi tiết.
(Sớ ) Tạng phân nhị giả,
dĩ kinh hữu Đại Thừa, Tiểu Thừa, cố
nhị tạng phân nhiếp. Nhược ước nhân hữu
tam thừa, diệc hợp phân tam.
(疏) 藏分二者,以經有大乘小乘,故二藏分攝。若約人有三乘,亦合分三。
(Sớ: Tạng được chia thành hai là do kinh
có Đại Thừa và Tiểu Thừa, nên chia thành hai tạng.
Nếu ước theo [căn cơ] của con người
có ba thừa, Kinh Tạng cũng nên chia thành ba tạng).
Nói theo phía [căn tánh của] con
người th́ có Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát, [nên Kinh
Tạng] cũng có thể chia thành ba. Chỉ nói Thanh Văn,
[tức là] trong Thanh Văn Tạng bao gồm Duyên Giác Tạng.
(Sớ ) Dĩ Duyên Giác nhân đa
bất tạ giáo, nhiếp quy Thanh Văn, cố chỉ nhị
tạng.
(疏) 以緣覺人多不藉教,攝歸聲聞,故止二藏。
(Sớ: Do bậc
Duyên Giác đa số [giác ngộ] chẳng nhờ vào kinh
giáo, bèn nhiếp Duyên Giác Tạng vào Thanh Văn Tạng, cho
nên chỉ có hai tạng).
Thanh Văn bao gồm cả Duyên
Giác; do vậy, chỉ có hai tạng là Bồ Tát Tạng và
Thanh Văn Tạng. Duyên Giác có hai loại:
-
Một loại là khi có Phật ra đời, theo Phật tu
học, từ Thập Nhị Nhân Duyên mà khai ngộ, chúng ta
gọi loại này là Duyên Giác.
-
Loại thứ hai là khi Phật chưa xuất thế, tức
là trong lúc thế gian này không có Phật, không có người
dạy bảo, họ tự ḿnh khai ngộ, loại này gọi
là Độc Giác. Họ là người thông minh trí huệ
tuyệt đỉnh trong hàng phàm phu. Trong kinh điển, đức
Phật đă bảo: Người khai ngộ chẳng phải
là chuyện ngẫu nhiên, những người ấy đều
là do công phu tu hành nhiều đời nhiều kiếp
đă chín muồi.
Kinh
dạy chúng ta về [t́nh h́nh của] hàng Tiểu Thừa sau
khi chứng đắc Sơ Quả: Nhất định là
trong lúc có Phật trụ thế, họ theo Phật học
pháp, chứng đắc Sơ Quả, [tức là] đoạn
sạch tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới
rồi mới chứng đắc Sơ Quả. Chứng
đắc Sơ Quả rồi c̣n phải bảy lần
sanh trong cơi trời hay trong nhân gian rồi mới có thể
chứng Tứ Quả La Hán. Cơi người thọ mạng
ngắn ngủi, cơi trời thọ mạng lâu dài; huống
chi bảy lần sanh tử, thời gian ấy phải dùng
những con số thiên văn để tính toán, quá ư là
dài! Đến lần thọ sanh thứ bảy [trong thế
gian], nếu trong thế giới này không có Phật th́ làm
cách nào? Có Phật th́ người ấy nhất định
có cơ duyên thân cận Phật, chứng quả A La Hán,
không c̣n phải bàn căi ǵ nữa! Không có Phật th́ sao? Không
có Phật th́ người ấy vẫn có thể chứng
quả. Không có Phật th́ họ thành Độc Giác, quyết
định chẳng tái sanh lần thứ tám. Sau khi chứng
đắc Sơ Quả, cũng giống như là quư vị
đă được bảo đảm, bảy lần qua
lại trong cơi trời và cơi người, nhất định
chứng quả. Đó là hàng Tiểu Thừa.
Trong cái nh́n của người
Đại Thừa, sự tu hành chứng quả ấy rất
vụng về, nên gọi là Bổn A La Hán (笨阿羅漢: A La Hán ngốc nghếch), v́ sao? Phải
tốn thời gian dài như thế. V́ vậy, trong tu học
Phật pháp, Đại Thừa là đường tắt,
Đại Thừa dễ dàng hơn Tiểu Thừa, mà
cũng nhanh chóng hơn Tiểu Thừa. Tiểu Thừa Phật
pháp được truyền đến Trung Quốc vào thời
Tùy - Đường, kinh điển khá hoàn chỉnh, gần
ba ngàn bộ, nhưng rất ít người học. Tại
Trung Quốc, Tiểu Thừa chỉ thịnh hành trong một
thời kỳ rất ngắn, sau đấy, người
Trung Quốc không học nữa, hoàn toàn tu học Đại
Thừa; nhưng quư vị phải hiểu: Đại Thừa
Phật pháp nhất định phải kiến lập trên
cơ sở Tiểu Thừa. Không có cơ sở Tiểu Thừa,
muốn học Đại Thừa sẽ rất khó khăn.
Ngày nay, người học Đại Thừa rất nhiều,
người thành tựu chẳng có mấy, nguyên nhân ở
chỗ nào? Thiếu cơ sở! Giống như cất nhà
không xây móng. Đây là một vấn đề rất nghiêm
trọng! V́ sao trong quá khứ người Hoa không học Tiểu
Thừa, mà có thể học Đại Thừa thành công? Họ
có cơ sở Nho gia và Đạo gia. Quư vị phải nhớ:
Đạo gia không phải là Đạo Giáo[3], Đạo Giáo
vô ích! Nếu dùng cơ sở của Nho gia và Đạo gia
th́ nói thật ra, cơ sở c̣n được đặt
vững vàng, kiên cố, ổn thỏa hơn Tiểu Thừa.
Do v́ xưa kia, người ta đọc sách của Khổng
Tử, đọc Tứ Thư, Ngũ Kinh, dùng cơ sở
ấy để trực tiếp học Đại Thừa,
chẳng bị chướng ngại, mà ngược lại
c̣n thành tựu dễ dàng. Hiện thời rắc rối lắm,
kinh điển Tiểu Thừa không đọc, Tứ
Thư Ngũ Kinh cũng vứt bỏ, trực tiếp muốn
dốc sức nơi kinh điển Đại Thừa,
đương nhiên bị nhiều chướng ngại,
đổ công sức rất nhiều, tốn thời gian
lâu dài, đâm ra chẳng đạt được hiệu
quả. V́ thế, các đồng tu học Phật ngày nay
phải đọc Tứ Thư cho nhiều. Chúng ta vừa
học Đại Thừa, vừa dùng Nho gia và Đạo
gia để bù đắp, chắc chắn có lợi, có thể
giúp nhau thành tựu.
(Sớ ) Kim Bồ Tát Tạng nhiếp giả.
(疏) 今菩薩藏攝者。
(Sớ: Nay kinh này thuộc vào Bồ Tát Tạng [là
v́]...)
Nói đến bộ kinh này.
(Sớ ) Thử kinh diễn thuyết
Đại Thừa, như y chánh trang nghiêm.
(疏) 此經演說大乘,如依正莊嚴。
(Sớ: Kinh này diễn
nói Đại Thừa như y báo và chánh báo trang nghiêm).
“Y”
là y báo, tức là nói đến hoàn cảnh sống của
chúng ta. “Chánh báo” là nói đến
bản thân chúng ta. Y báo và chánh báo trang nghiêm h́nh dung cuộc sống
của chúng ta viên măn. Ư nghĩa “viên măn” ấy rất rộng,
hoàn toàn chẳng phải là tốt đẹp rất viên
măn, mà xấu xa cũng rất viên măn! Ví như quư vị
gieo thiện nhân, đắc thiện quả viên măn. Quư vị
gieo ác nhân, hưởng ác quả cũng rất viên măn! Ác quả
viên măn, thiện quả viên măn, chẳng có ǵ không viên măn, mỗi
thứ đều viên măn. Quả báo ấy nhất định
giống như các nhân hạnh khác, tức là nhân và quả
chẳng sai chạy chút nào, mười pháp giới đều
là như thế. V́ thế, đều gọi là “trang nghiêm”.
(Sớ ) Tín nguyện văng sanh
đẳng.
(疏) 信願往生等。
(Sớ: Tín nguyện văng sanh v.v...)
Trong pháp môn này, quan trọng nhất
là kiến lập tín tâm. Trong sách Yếu Giải, Ngẫu
Ích đại sư đă nói rất hay: Kiến lập tín
tâm th́ đầu tiên là phải “tín
tự”, tức là tin vào chính ḿnh, kiến lập cái tâm tự
tín. Chẳng hiểu rơ chân tướng sự thật, bảo
quư vị hăy tin ngay, điều này quá khó! Tin là tin “duy tâm Tịnh Độ, tự
tánh Di Đà”, Tây Phương Cực Lạc thế giới,
A Di Đà Phật và bản thân chúng ta chẳng hai, chẳng
khác, là vật do tâm tánh của chính ḿnh biến hiện ra,
chẳng phải là vật có từ bên ngoài tâm. “Ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp không
có tâm”. Lư này quá sâu xa! Quư vị dùng ḷng tin này để niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ sẽ là Lư niệm,
chứ không phải là Sự niệm. Trong khi giảng Yếu
Giải, chúng tôi đă thưa cùng quư vị: Tŕ danh niệm
Phật có Lư tŕ và Sự tŕ. Nếu là Lư tŕ, quả thật
sẽ có thể đoạn hết thảy nghi hoặc,
chướng ngại, người tầm thường chẳng
thể làm được chuyện này, chúng ta rất khó thể
làm được. Ư nghĩa này cũng chẳng qua nghe nói [cho
biết] mà thôi, chẳng phải là cảnh giới của
chính ḿnh!
Chẳng phải là cảnh giới
để chính ḿnh có thể đạt được th́
sao? Vẫn phải tin vào chính ḿnh. Nói theo mặt Sự, tin
chính ḿnh trong đời này quyết định có thể
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Quư vị
có ḷng tin ấy là được rồi! Chưa thông hiểu
Lư, nhưng có ḷng tin ấy vẫn có thể văng sanh, vẫn
có thể tu pháp môn này. Chắc cũng có các vị hỏi: Với
ḷng tin như thế mà tu tập pháp môn này th́ có thể
đạt đến Lư nhất tâm bất loạn hay
chăng? Thưa quư vị, có thể! Lư tŕ [sẽ đạt]
công phu thành phiến, Sự nhất tâm bất loạn và Lư
nhất tâm bất loạn; c̣n nếu là Sự tŕ th́ vẫn
đạt công phu thành phiến, Sự nhất tâm, Lư nhất
tâm. Có thể thấy: Trước mắt, không hiểu Lư chẳng
sao cả! Hễ quư vị niệm đến mức nhất
tâm bất loạn, sẽ tự nhiên thông suốt Lư ấy.
Do Sự tŕ mà đạt đến Lư tŕ, đây là một
con đường hết sức sáng sủa.
Thứ hai là Tín Tha (tin vào người
khác), chữ Tha chỉ ai? Thứ nhất là Thích Ca Mâu Ni Phật.
Phải tin Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật giảng
cho chúng ta pháp môn này, quyết định chẳng giả,
quyết định chẳng dối gạt chúng ta, quư vị
phải tin tưởng. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Thời kỳ Mạt Pháp, tà
sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng”. Lần
này tôi giảng ở B́nh Đông[4] ba ngày, có một
vị lăo cư sĩ đặc biệt nêu ra câu hỏi:
“Có rất nhiều người nói kinh Lăng Nghiêm là giả,
kinh ấy có phải là giả hay chăng?” Tôi bảo ông ta:
“Kinh Lăng Nghiêm chắc chắn chẳng giả. Trong Pháp
Diệt Tận Kinh[5], Thích Ca Mâu Ni Phật
có nói, trong tương lai Phật pháp đều bị diệt
sạch, kinh Lăng Nghiêm bị diệt đầu tiên, kinh
A Di Đà bị diệt cuối cùng. Tất cả kinh
điển đều chẳng c̣n, nhưng kinh A Di Đà vẫn
c̣n lưu lại một trăm năm. Khi kinh A Di Đà cũng
không c̣n, vẫn c̣n sáu chữ Nam-mô A Di Đà Phật lưu
lại một trăm năm. Quư vị hăy nghĩ đến
tánh chất quan trọng của kinh này”. Tôi bảo ông ta: “Yêu
ma quỷ quái nghĩ đủ mọi cách để hủy
diệt kinh Lăng Nghiêm, nói kinh Lăng Nghiêm chẳng phải
do đức Phật nói. Mọi người đừng
tin tưởng bọn chúng. Nếu tin lời chúng nó, kinh
Lăng Nghiêm sẽ bị diệt”.
Kinh Lăng Nghiêm bị diệt
th́ có lợi ǵ? Tà ma ngoại đạo có thể hoành hành
không kiêng dè ǵ! Quư vị không có cách nào để biện
định kẻ khác là Phật hay là ma. Nửa phần sau
quyển bốn kinh Lăng Nghiêm là chương Tứ Chủng
Thanh Tịnh Minh Hối (bốn lời dạy răn sáng suốt,
thanh tịnh), khi giảng kinh Lăng Nghiêm, tôi đặc biệt
nêu ra: “Đây là kính chiếu yêu”. Quư vị đọc thuộc
nửa quyển kinh văn ấy, những kẻ giả vờ
học Phật quư vị vừa nh́n liền thấy ngay, bọn
hắn không có cách nào ẩn h́nh. V́ thế, chúng nó phải
nghĩ đủ mọi phương pháp nhằm phá hoại
kinh này, khiến quư vị chẳng tin tưởng [kinh
Lăng Nghiêm]. Chương Thanh Tịnh Minh Hối có nói: Trong
thời kỳ Mạt Pháp, tà sư thuyết pháp nhiều
như cát sông Hằng. Trong thời kỳ Mạt Pháp, chẳng
dễ gặp được chánh pháp; do thiện căn,
phước đức, nhân duyên nhiều đời nhiều
kiếp quư vị mới có thể nghe chánh pháp. V́ vậy,
chúng ta phải tin Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng dối gạt
chúng ta.
Thứ hai, Tha chính là A Di Đà
Phật. Trong kinh Vô Lượng Thọ có chép lịch sử
và truyện kư của Ngài. Trong vô lượng kiếp
trước, A Di Đà Phật cũng là phàm phu như chúng
ta, gặp Thế Tự Tại Vương Phật, khi
đó địa vị của Ngài là quốc vương,
Ngài bỏ ngôi vua, theo Phật xuất gia, phát ra bốn
mươi tám nguyện, đời đời kiếp kiếp
tu hành. Bốn mươi tám nguyện của Ngài đều
được thực hiện, kiến lập Tịnh
Độ Tây Phương Cực Lạc thế giới, tiếp
dẫn chúng sanh niệm Phật trong mười
phương thế giới. Quư vị phải tin đấy
là chuyện thật, chắc chắn chẳng giả! Chỉ
cần chúng ta tin tưởng sự thật này, niệm Phật,
phát nguyện cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ,
khi lâm chung, nhất định đức Phật đến
tiếp dẫn chúng ta. Những lời Ngài nói đáng tin cậy,
tuyệt đối chẳng phải là dối gạt con
người. Đấy là bảo quư vị phải Tín Tha.
Tín Tự, Tín Tha, Tín Sự, Tín Lư, Tín Nhân, Tín Quả; đó là
nói về Tín. Nguyện: Phải thật sự phát nguyện,
nguyện sanh vào Tây Phương Tịnh Độ. Tín nguyện
văng sanh!
(Sớ ) Giai tự lợi, lợi
tha.
(疏) 皆自利利他。
(Sớ: Đều là tự lợi, lợi tha).
Nay chúng ta bắt đầu phát
nguyện v́ cứu độ hết thảy chúng sanh mà cầu
sanh Tịnh Độ, đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới, chính ḿnh tu học thành tựu, trở về
thế giới này độ chúng sanh. Do vậy, người
niệm Phật văng sanh là tích cực, chứ
không tiêu cực. Có rất nhiều người nghĩ niệm
Phật chỉ là cầu giải thoát cho riêng ḿnh, giống
như tiêu cực, chẳng đáng để học tập,
họ đă thấy trật mất rồi! V́ sao chúng ta
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới?
V́ cứu độ hết thảy chúng sanh. Chẳng
đến thế giới Tây Phương, chẳng đoạn
phiền năo, trí huệ chẳng thể thành tựu viên măn.
Dẫu chúng ta có ḷng muốn giúp đỡ chúng sanh, nhưng
thiếu năng lực. V́ vậy, đến Tây
Phương để học lấy bản lănh, ta đă
có năng lực rồi sẽ quay trở lại. Đấy
là “tự lợi, lợi tha”.
(Sớ ) Bồ Tát tịnh Phật
quốc độ, giáo hóa chúng sanh chi đạo cố.
(疏) 菩薩淨佛國土,教化眾生之道故。
(Sớ: Bồ Tát
nghiêm tịnh cơi Phật; đấy là đạo để
giáo hóa chúng sanh).
Đây là chỉ thú của kinh
này. V́ thế, kinh này thuộc về Đại Thừa, chẳng
thuộc Tiểu Thừa.
(Sớ ) Hỗ nhiếp giả,
như Hoa Nghiêm Bồ Tát Tạng nhiếp, diệc thông Thanh
Văn, dĩ năng bao hàm vô lượng thừa cố.
(疏) 互攝者,如華嚴菩薩藏攝,亦通聲聞,以能包含無量乘故。
(Sớ: “Nhiếp lẫn
nhau” là như kinh Hoa Nghiêm thuộc về Bồ Tát Tạng,
mà cũng thuộc vào Thanh Văn Tạng, v́ có thể bao hàm
vô lượng thừa).
Kinh Hoa Nghiêm bao hàm tất cả
hết thảy Phật pháp. Đương nhiên cũng bao
hàm Duyên Giác Thừa, Thanh Văn Thừa, cho đến Nhân
Thiên Thừa. Không chỉ Nhân Thiên Thừa, ngay cả ba ác
đạo cũng chẳng lọt ra ngoài. Đây là giảng
rơ ư nghĩa “hỗ nhiếp”.
(Sớ ) Kim kinh Nhị Thừa chủng bất sanh, cố
vân “phi bỉ”.
(疏) 今經二乘種不生,故云非彼。
(Sớ: Nay kinh này “chủng
tánh Nhị Thừa chẳng sanh” cho nên nói là “không giống
những kinh khác”).
“Nhị
Thừa chủng bất sanh” (Chủng tánh Nhị Thừa
chẳng sanh vào Tịnh Độ) là điều được
nói trong Văng Sanh Luận, [điều đó] chẳng có nghĩa
là người Tiểu Thừa không thể văng sanh! Người
Tiểu Thừa nếu chẳng tin, chẳng phát nguyện,
đương nhiên người ấy chẳng thể văng
sanh. Người Tiểu Thừa tin tưởng, phát nguyện,
được gọi là “hồi
Tiểu hướng Đại”, sẽ văng sanh. Quư vị
phải hiểu rơ đạo lư này: Nhằm phân định
rơ người ấy khác với những kẻ Tiểu Thừa
chấp trước, người ấy đă bỏ chấp
trước, phá trừ chấp trước, hồi Tiểu
hướng Đại, cầu sanh Tịnh Độ. Phẩm
vị của người ấy khá cao v́ đă đoạn
Kiến Tư phiền năo. Hễ người ấy văng
sanh, sẽ sanh trong cơi Phương Tiện Hữu Dư, chẳng
sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư. “Nhị thừa chủng bất sanh” là những kẻ
chẳng chịu hồi Tiểu hướng Đại, họ
sẽ chẳng có phần nơi Tịnh Độ.
(Sớ ) Hoặc vấn: Hà đắc
văn trung, bỉ Phật hữu Thanh Văn đệ tử?
(疏) 或問:何得文中,彼佛有聲聞弟子?
(Sớ:
Có kẻ hỏi: Cớ sao trong kinh văn nói đức Phật
ấy có đệ tử Thanh Văn).
Những
đệ tử Thanh Văn ấy là người hồi Tiểu
hướng Đại. Nếu chẳng hồi Tiểu
hướng Đại, đương nhiên chẳng thể
văng sanh! Liên Tŕ đại sư giải đáp.
(Sớ
) Đáp: Thử tạm hữu, chung vô, chí hạ thích
văn trung đương biện.
(疏) 答:此暫有終無,至下釋文中當辯。
(Sớ:
Đáp: Những người ấy là tạm thời có, rốt
cuộc là không, đến phần giải thích kinh văn ở
phía sau sẽ biện định điều này).
Trong
phần sau sẽ giải thích tường tận. V́ sao nói
là “tạm hữu, chung vô”?
Người Tiểu Thừa một ngày nào đó phát tâm hồi
Tiểu hướng Đại, tức là nói căn cơ của
người ấy đă chín muồi, cho nên người ấy
quyết định văng sanh. Đă văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, thấy Phật, nghe pháp, nghe những
pháp nào? Vẫn là nghe pháp Tiểu Thừa. V́ sao nghe pháp Tiểu
Thừa? V́ tập khí Tiểu Thừa rất sâu, đă quen
tu nhiều đời nhiều kiếp rồi, tập khí rất
khó đoạn. V́ thế, người ấy sang bên đó vẫn
học kinh điển Tiểu Thừa. Đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật
đúng là “tùy chúng sanh tâm, ứng
sở tri lượng” (thuận theo tâm chúng sanh, giảng
pháp thích ứng với khả năng tiếp nhận của
họ): Quư vị thích Tiểu Thừa bèn giảng Tiểu
Thừa; thích Đại Thừa bèn giảng Đại Thừa,
nhưng người ấy chắc chắn chẳng chấp
vào giáo nghĩa Tiểu Thừa, v́ sao? V́ nơi ấy thọ
mạng vô lượng, Bồ Tát vô lượng, những
điều người ấy được thấy nghe
đều là pháp Đại Thừa, nhất định người
ấy sẽ bị ảnh hưởng. V́ thế, ở
nơi đó, tuy người ấy có tập khí Tiểu Thừa,
nhưng thời gian c̣n tập khí ấy không dài, cho nên nói là
“tạm thời có, rốt cuộc
là không”.
(Sớ
) Hựu vấn: Yếm khổ xu lạc, tự chuyên tự
lợi, hà danh Bồ Tát?
(疏) 又問:厭苦趨樂,似專自利,何名菩薩?
(Sớ:
Lại hỏi: Chán khổ, hướng đến sướng,
dường như là chuyên tự lợi, sao gọi là Bồ
Tát?)
Tịnh
Tông thường nói “yếm ly
Sa Bà, hân cầu Cực Lạc” (chán ĺa Sa Bà, ưa cầu
Cực Lạc); quư vị chán ngán bên này, ưa thích bên kia,
đă có chán ngán và hoan hỷ th́ dường như là tự
tư tự lợi! Tự tư tự lợi th́ làm sao có
thể gọi là Bồ Tát cho được?
(Sớ
) Đáp: Cầu sanh Tịnh Độ, chánh vị kiến
Phật văn pháp.
(疏) 答:求生淨土,正為見佛聞法。
(Sớ:
Đáp: Cầu sanh về Tịnh Độ chính là v́ thấy
Phật, nghe pháp).
Đây
là nói cho chúng ta biết mục đích của việc “cầu
sanh Tịnh Độ”. V́ sao chúng ta cầu sanh Tịnh
Độ? V́ muốn “thấy
Phật, nghe pháp”. Chỉ có thấy Phật nghe pháp th́
pháp ấy mới là thuần chân, chẳng vọng. Đức
Phật chẳng c̣n tại thế, tuy những bậc
đại đệ tử, A La Hán, Bồ Tát đă kết
tập kinh điển, chép thành văn tự để
lưu truyền hậu thế, nhưng nay chúng ta mở quyển
kinh ra xem vẫn có thể hiểu sai ư nghĩa, đấy
là điều chẳng thể tránh khỏi. Đời sau,
cũng có những vị tổ sư đại đức
giảng sai kinh Phật, huống hồ những người
xuất gia hiện thời, giảng sai kinh nghĩa, bẻ
cong ư kinh, tôi cảm thấy chẳng thể trách họ
được. Đó là hiện tượng b́nh thường!
Do điều này, chúng ta tu học Phật pháp gặp
chướng ngại trùng trùng, t́m đâu ra một vị thầy
giỏi hay một vị thiện tri thức chân chánh chỉ
điểm? T́m không ra! Nếu quư vị muốn t́m một
vị thầy thực sự giỏi giang, một vị
thiện tri thức chân chánh, biện pháp duy nhất là cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Mười
phương chư Phật, Đẳng Giác Bồ Tát đều
ở bên Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư
vị thời thời, khắc khắc, ở bất cứ
nơi đâu cũng đều có thể gặp gỡ các
Ngài, lời các Ngài nói chắc chắn là tốt lành. V́ thế,
cầu sanh Tịnh Độ chính là để “thấy Phật,
nghe pháp”.
(Sớ
) Đắc Vô Sanh Nhẫn dĩ, hoàn lai thử thế, cứu
khổ chúng sanh.
(疏) 得無生忍已,還來此世,救苦眾生。
(Sớ:
Đă đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, bèn trở lại cơi
đời này cứu khổ chúng sanh).
Khi
nào quư vị thả chiếc bè Từ trở lại độ
chúng sanh? Cũng có giai đoạn và tiêu chuẩn, tức là:
Nếu quư vị chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, khi ấy,
quư vị có thể quay lại. Nếu chính ḿnh c̣n chưa chứng
Vô Sanh Pháp Nhẫn, nói cách khác, quư vị vẫn là phàm phu,
quay lại vô ích! Quay lại th́ vẫn sanh tử luân hồi,
quay lại nhất định bị đọa lạc;
cũng có nghĩa là nói: Học Phật ở Tây
Phương Cực Lạc thế giới phải học
tốt nghiệp rồi mới được. Đă đắc
Vô Sanh Pháp Nhẫn, thưa quư vị, là tốt nghiệp Tiểu
Học bên Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tốt
nghiệp Tiểu Học cũng được, cũng có
thể trở về độ sanh. Vô Sanh Pháp Nhẫn rốt
cuộc là địa vị nào vậy? Trong bài kệ Hồi
Hướng, chúng ta thường đọc “hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”.
Địa vị ấy chẳng quá cao, nói theo Viên Giáo th́ chỉ
là Sơ Trụ Bồ Tát mà thôi. Tuy địa vị không
cao, nhưng thần thông rộng lớn, bản lănh chẳng
nhỏ!
Qua
kinh Lăng Nghiêm, chúng ta thấy trong chương Hai
Mươi Lăm Pháp Viên Thông, hai mươi lăm vị Bồ
Tát đều là Sơ Trụ trong Viên Giáo. Trong Quán Thế
Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương thuộc quyển
sáu kinh Lăng Nghiêm có nói ba mươi hai ứng thân. Kẻ
nên dùng thân Phật để độ được, Quán
Thế Âm Bồ Tát bèn thị hiện thân Phật để
thuyết pháp. Quư vị nói: Ngài là Bồ Tát, làm sao có thể
hiện thân Phật? Có thể chứ! Phật gồm có bốn
loại, có Tạng Giáo, Thông Giáo, Biệt Giáo và Viên Giáo. Trong
bốn loại Phật, Sơ Trụ Bồ Tát của Viên
Giáo có thể thị hiện làm Tạng Giáo Phật hay Thông
Giáo Phật, chứ Biệt Giáo Phật th́ không được,
bản thân Ngài chưa đạt tŕnh độ ấy. Biệt
Giáo Phật phải là địa vị Đệ Nhị Hạnh
trong Thập Hạnh. Nói cách khác, phải từ Nhị Hạnh
trở lên mới có thể hiện thân phận Phật
trong Biệt Giáo. Do vậy, Bồ Tát có thể thị hiện
ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo,
dùng thân phận ấy để giáo hóa chúng sanh. Đây là
nói bậc đă đắc Vô Sanh Nhẫn, địa vị
thấp nhất là Sơ Trụ trong Viên Giáo. Quư vị có thể
trở lại thế giới Sa Bà, t́m người nhà và quyến
thuộc của chính ḿnh, bất luận họ đang luân
hồi trong đường nào, quư vị đều biết,
đều có thể t́m được họ. Họ có
duyên với quư vị, họ nhất định đắc
độ. Phật chẳng độ kẻ thiếu duyên,
họ có duyên với quư vị. Có duyên bèn sẽ chịu nghe
lời quư vị, chịu tiếp nhận, hoan hỷ tiếp
nhận lời quư vị khuyến cáo, nhất định
có thể thành tựu. Do vậy, hạnh này đích xác là Bồ
Tát hạnh!
(Sớ
) Phi Thanh Văn đạo, như Thiên Thai Thập Nghi Luận
trung thuyết.
(疏) 非聲聞道,如天台十疑論中說。
(Sớ:
[Pháp môn Tịnh Độ] chẳng phải là Thanh Văn
đạo, như trong Thập Nghi Luận của ngài Thiên
Thai đă nói).
Thập
Nghi Luận do Trí Giả đại sư sáng tác, chuyên môn giải
thích Tịnh Độ. Cuốn sách này được đưa
vào bộ Tịnh Độ Thập Yếu. Phần Tạng
Nhiếp (kinh Di Đà thuộc về Tạng nào) được
giới thiệu đến đây.
Ngoài Tạng ra, c̣n có Giáo. Giáo là
giáo học. Trong giáo học, cũng chia thành rất nhiều
loại, kinh này thuộc về loại nào?
(Huyền Nghĩa) Giáo giả, y
Hiền Thủ phán giáo phân ngũ, vị Tiểu, Thỉ,
Chung, Đốn, Viên. Kim thử kinh giả, Đốn giáo
sở nhiếp, diệc phục kiêm thông tiền hậu nhị
giáo.
(玄義) 教者,依賢首判教分五:謂小、始、終、頓、圓。今此經者,頓教所攝,亦復兼通前後二教。
(Huyền Nghĩa: Về giáo th́ theo cách phán giáo của
ngài Hiền Thủ, [giáo pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật]
được chia thành năm loại: Tiểu, Thỉ,
Chung, Đốn, Viên. Nay kinh này thuộc về Đốn
Giáo mà cũng thuộc vào hai giáo trước và sau đó (tức
Chung Giáo và Viên Giáo).
“Tiền”
là Chung Giáo, “hậu” là Viên
Giáo. “Phán giáo”: Phán (判) là phán biệt (判別: phân chia), phán
định. Quư vị phải hiểu: Phân khoa phán giáo là
chuyện của người đời sau, chứ thuở
Thích Ca Mâu Ni Phật không có. Người đời sau thấy
đức Phật lưu lại kinh điển nhiều
dường ấy, giáo nghĩa trong kinh điển có sâu, có
cạn, người học Phật chúng ta phải nên theo
tŕnh tự từ cạn đến sâu, giống như tiêu
chuẩn sắp xếp các môn học hiện thời vậy,
môn nào nên xếp vào bậc Tiểu Học, môn nào nên xếp
vào bậc Trung Học, hoặc xếp vào Đại Học,
xếp vào chương tŕnh nghiên cứu sinh. “Phán giáo” chính là sắp xếp
các môn học. Thời Thích Ca Mâu Ni Phật không có, đệ
tử đến hỏi, đức Phật bèn đáp theo
lời hỏi, chẳng theo một khuôn khổ nào!
Nay sách giáo khoa được
lưu lại nhiều ngần ấy, chúng ta học tập
nói chung phải có thứ tự. V́ thế, những cách phán
giáo này do người đời sau đặt ra, sắp xếp
môn học, chia thành năm loại lớn là Tiểu, Thỉ,
Chung, Đốn và Viên, gọi là Ngũ Giáo. Phán giáo do
người đời sau đặt ra, các vị đại
đức đối với những pháp được
thuyết trong bốn mươi chín năm của đức
Phật mỗi người có một cách nh́n khác nhau, mỗi
người có một cách phân chia, cũng chẳng hoàn toàn
giống nhau. Do vậy, phán giáo để dành cho người
đời sau tham khảo, đừng nên chấp trước
quá đáng!
Tiểu Giáo là ǵ? Tiểu Giáo giống
như Tiểu Học, ư của ngài Hiền Thủ là “đản thuyết Thiên Không” (chỉ
nói đến cái Không lệch lạc), loại giáo nghĩa
này thuộc về Tiểu Giáo. Nay kinh Di Đà thuộc về
Đốn Giáo trong Ngũ Giáo. “Đốn”
là đốn siêu (nhanh chóng vượt thoát), nhanh chóng nhất
trong tất cả các pháp môn. Con người hiện thời
thường nói ngồi máy bay trực thăng là nhanh nhất,
đó là Đốn Giáo. Không chỉ là Đốn, trong ấy
c̣n có ư nghĩa Viên, Viên là viên măn, mà cũng có ư nghĩa Chung
Giáo. Trong Đại Thừa, Chung Giáo là cao nhất, Viên Giáo
là viên măn nhất. Dẫu Hạ Phẩm Hạ Sanh, sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng viên chứng
(chứng trọn vẹn) ba thứ Bất Thoái. Viên chứng
ba thứ Bất Thoái mang ư nghĩa Viên Giáo và Chung Giáo. V́ thế,
trong hết thảy các kinh Đại Thừa, kinh này quả
thật có địa vị đặc thù, được hết
sức đề cao.
(Sớ ) Ngũ Giáo giả, nhất
Tiểu Thừa Giáo, sở thuyết duy thị Nhân Không,
túng thiểu thuyết Pháp Không, diệc bất minh hiển,
dĩ y Lục Thức, Tam Độc, kiến lập nhiễm
tịnh căn bản, vị tận pháp nguyên cố.
(疏) 五教者,一、小乘教,所說唯是人空,縱少說法空,亦不明顯,以依六識三毒,建立染淨根本,未盡法源故。
(Sớ: Ngũ Giáo:
Một là Tiểu Thừa Giáo, chỉ nói về Nhân Không. Dẫu
có nói đôi chút về Pháp Không, nhưng cũng chưa rơ
ràng, bởi pháp này dựa trên Lục Thức và Tam Độc
để xây dựng [kiến giải về] căn bản
nhiễm và tịnh, chưa trọn hết nguồn pháp).
Nhân Không là vô ngă. Trong Phật
pháp thường nói: “Nhân Ngă
Không, Pháp Ngă Không, Nhị Không Chân Như”. Phàm phu chấp
trước Có, người Tiểu Thừa chấp trước
Không. Người Tiểu Thừa đă phá Nhân Ngă, chấp
trước Pháp Ngă, Bồ Tát chấp trước Trung
Đạo; v́ thế, đều chẳng viên! Trong kinh luận,
đức Phật thường nói: “Lưỡng biên bất lập” (hai bên đều
chẳng lập). Hai bên là Không và Hữu, đừng nên chấp
vào hai bên, “Trung Đạo bất
tồn”, [tức là] Trung Đạo cũng chẳng có. Nếu
quư vị nói “hai bên chẳng có chính là Trung Đạo” th́
Trung Đạo và hai bên đối lập, lại trở
thành một bên! Do vậy, Bồ Tát có hai loại: Quyền
Bồ Tát và Thật Bồ Tát. Chấp trước Trung
Đạo là Quyền Giáo Bồ Tát, chưa thật sự
là Bồ Tát. Bồ Tát thật sự chẳng lập một
pháp nào, giống như Lục Tổ đă nói: “Vốn chẳng có một vật,
chỗ nào nhuốm bụi trần?” Ngay cả ư niệm
Trung Đạo cũng chẳng có, như vậy mới thật
sự là thanh tịnh. Nhân Không là trong Ngũ Uẩn không có
Ngă, người Nhị Thừa có thể giác ngộ điều
này, nhưng Ngũ Uẩn cũng là Không, họ không có cách
nào tiếp nhận! Họ ngỡ Ngũ Uẩn là có. Trong
Ngũ Uẩn vô ngă, đó là sự thật, quả thật
chẳng t́m được Ngă!
“Túng
nhiên thiểu thuyết Pháp Không” (dẫu có nói đôi chút
về Pháp Không), chẳng hạn như kinh nói: “Vô thùy lăo tử, vô thị lăo tử”
(không có ai già chết nên không có ǵ là già chết). Câu trước
nói về Nhân Không, câu sau nói về Pháp Không. Lại như
kinh thường nói: “Chư
pháp vô hữu Ngă, diệc phục vô ngă sở, Nhân Pháp diệc
nhiên” (Các pháp không có Ngă, mà cũng chẳng có cái ǵ là của
ta, Nhân và Pháp cũng giống như vậy), cũng là câu
trước nói về Nhân Không, câu sau nói về Pháp Không; nhưng
nói rất ít, hoàn toàn chẳng nêu bày rơ rệt, tường
tận đạo lư Pháp Không, v́ sao? Người Tiểu Thừa
chẳng dễ dàng lănh ngộ. Nói cách khác, họ chưa
đủ tŕnh độ! Nguyên nhân khiến tŕnh độ
không đủ là do họ chấp tướng quá lố. Chẳng
hạn như, Bồ Tát thị hiện thành Phật, nhất
là thị hiện thành Tạng Giáo Phật, Tạng Giáo Phật
có tám tướng thành đạo. Trong tám tướng thành
đạo, đối với Tiểu Thừa có tướng
“hàng ma”. Trong Đại Thừa không có hàng ma. V́ sao Đại
Thừa không hàng ma? Ma là Phật, Phật là ma, Phật - ma
không hai! Ma hiện trước mặt, tâm địa thanh tịnh,
quang minh, sẽ chẳng bị nó dụ dỗ, mê hoặc,
đó là Phật. Nếu Phật hiện đến, trong
tâm vừa động, ta hoan hỷ: Thấy Phật rồi!
Cái tâm của quư vị bị loạn ngay, Phật cũng là
ma! V́ thế, trong Đại Thừa Phật pháp không có hàng
ma, nhưng có trụ thai. Tiểu Thừa có nhập thai, xuất
thai, chẳng có trụ thai. Trong tám tướng thành đạo
của Đại Thừa Phật pháp có tướng trụ
thai, đấy là Bồ Tát ở trong thai khi mẹ đang
hoài thai. Ngài ở trong bụng mẹ giảng kinh, thuyết
pháp, cũng có vô lượng Bồ Tát vây kín xung quanh nghe
kinh trong ấy. Tiểu Thừa không có chuyện này, đủ
thấy đích xác cảnh giới Đại Thừa và Tiểu
Thừa không giống nhau!
Dẫu có nói đến Pháp Không
cũng chẳng triệt để, cũng chẳng rơ ràng.
Đă thế, lại c̣n lấy Lục Thức và Tam Độc
(tham, sân, si) làm căn cứ để luận định
nhiễm và tịnh, đây cũng là nói rất cạn! Bởi
lẽ, người Tiểu Thừa chẳng tin có thức
thứ tám, họ chẳng thể lănh ngộ; họ tin có
thức thứ sáu, thức thứ sáu so ra dễ tin tưởng
hơn. Đức Phật bèn giảng cho họ thức thứ
sáu. Tam Độc là nói về Năng Huân, tức [chủ thể
có công năng] huân tập! Hằng ngày, tham, sân, si huân tập
quư vị, thức thứ sáu được gọi là Sở
Huân (cái bị huân tập). Tam Độc huân tập thức
thứ sáu, lưu chuyển sanh tử, đấy là nguyên
nhân của sự luân hồi trong lục đạo. Cách nói
này hết sức hợp lư, nếu chúng ta chẳng nâng Phật
pháp lên cao hơn một tầng nữa, chẳng nói tới
pháp xuất thế gian, chỉ nói về lục đạo
luân hồi th́ lư luận này vô cùng tinh vi, xác thực. V́ sao
quư vị có sanh tử luân hồi? V́ nguyên nhân như thế
đó! Do vậy, điều này được gọi là
căn bản của ô nhiễm. Quư vị phải ghi nhớ:
Trong hết thảy cảnh giới, phải ngăn ngừa
chính ḿnh khởi tham, sân, si, nhất định chẳng
để cho tham, sân, si ô nhiễm tự tâm. Người Tiểu
Thừa nói “tự tâm” chính
là nói về thức thứ sáu, họ coi Ư Thức, tức thức
thứ sáu, là tự tâm. Ngược với họ, đức
Phật dùng Giới - Định - Huệ để huân tập
thức thứ sáu, Giới - Định - Huệ đối
trị tham, sân, si. Dùng Giới Học để đối
trị tâm tham, dùng Định Học để đối
trị tâm sân khuể, dùng Huệ Học để đối
trị ngu si. Giống như trị bệnh; tham, sân, si là bệnh,
Giới - Định - Huệ là thuốc. Dùng Giới -
Định - Huệ để huân tập thức thứ
sáu. Đó gọi là căn bản thanh tịnh. V́ thế, họ
dùng những điều này để kiến lập căn
bản nhiễm và tịnh. Cố nhiên kiến lập
như thế rất hay, có thể làm cho chúng sanh đoạn
ác, tu thiện, ĺa nhiễm, tu tịnh, nhưng chẳng triệt
để, v́ sao? Chưa nói đến tâm tánh!
“Vị
tận pháp nguyên” (chưa trọn hết nguồn pháp).
Sau thức thứ sáu c̣n có thức thứ bảy và thức
thứ tám; cao nhất là nói đến Chân Như bổn
tánh. Những điều này [Tiểu Giáo] đều
chưa nói đến! Giáo nghĩa giống như vậy
được gọi là Tiểu Thừa Giáo. Tu học Tiểu
Thừa Giáo khá khó khăn, v́ sự tu học trong Tiểu Thừa
hết sức coi trọng sự tướng. Giới luật
cũng như thế. Giới luật Tiểu Thừa luận
sự, chẳng luận tâm, hết sức chấp trước
nơi sự tướng. Chúng ta cũng thường gọi
điều này là “trạch thiện
cố chấp” (chọn lựa điều lành rồi
chấp chặt vào đó), chẳng giống Đại Thừa.
Sự tu học trong Đại Thừa rất sống
động, ngày nay chúng ta gọi là “cởi mở”, họ luận
tâm, chẳng luận sự. V́ thế, cảnh giới
Đại Thừa cao hơn Tiểu Thừa. Nhiễm hay tịnh
trong Đại Thừa dựa trên khởi tâm động
niệm để nói; sự kết tội trong giới luật
cũng giống như thế. Chẳng hạn như “không sát sanh” là điều đầu
tiên trong Ngũ Giới. Nếu là Tiểu Thừa, tâm ta muốn
giết người khác, nhưng hoàn toàn chẳng giết hắn,
ta chẳng phạm giới. Đối với Bồ Tát Giới
của Đại Thừa th́ không được! Quư vị
khởi lên một ư niệm “ta muốn giết hắn” là
đă phạm giới. Đại Thừa luận tâm, chẳng
luận sự; Tiểu Thừa luận sự, chẳng luận
tâm, giống như pháp luật trong thế gian. Giới Tiểu
Thừa nhiều, nhưng dễ tŕ, dễ tuân thủ; giới
Đại Thừa tuy ít, rất khó tŕ, [bởi] kết tội
nơi khởi tâm động niệm. Tiểu Thừa chẳng
rốt ráo, chưa trọn hết nguồn pháp.
Nói đến Đại Thừa,
Đại Thừa có Thỉ Giáo, có Chung Giáo. Thỉ Giáo là bắt
đầu, Chung Giáo là kết thúc. Chúng ta ví Tiểu Giáo
như Tiểu Học, Thỉ Giáo và Chung Giáo như Trung Học,
Thỉ Giáo là Sơ Trung (cấp Hai, Trung Học Đệ
Nhất Cấp), Chung Giáo là Cao Trung (cấp Ba, Trung Học
Đệ Nhị Cấp), một trước, một sau,
đều thuộc về Đại Thừa. Thỉ Giáo
và Chung Giáo đều là “tiệm
thứ” (tiến dần dần theo thứ tự), thuộc
về tiệm tu, giống như đi học: Lớp
năm đầu, lớp năm thứ hai, lớp năm
thứ ba, lớp năm thứ tư, tu học tiến dần
lên. Đốn Giáo không có thứ tự, giống như bậc
thiên tài đặc biệt thù thắng! Chưa tốt nghiệp
Tiểu Học mà có thể học thẳng vào chương
tŕnh nghiên cứu sinh, chẳng cần học những lớp
ở giữa, đốn siêu! Thành tựu hết sức
nhanh chóng. Viên Giáo là đại viên măn, là viên măn rốt ráo. Tại
Trung Quốc quả thật có người thuộc loại
căn tánh này, chẳng phải là không có. Nếu nói theo pháp
môn này, sẽ càng rơ rệt nhất! Hôm nay chúng tôi giảng
đến chỗ này!
Tập 70
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang một trăm lẻ hai:
(Sớ) Ngũ Giáo giả, nhất, Tiểu Thừa
Giáo, sở thuyết duy thị Nhân Không, túng thiểu thuyết
Pháp Không, diệc bất minh hiển, dĩ y Lục Thức,
Tam Độc, kiến lập nhiễm tịnh căn bản,
vị tận pháp nguyên cố.
(疏) 五教者,一、小乘教,所說唯是人空,縱少說法空,亦不明顯,以依六識三毒,建立染淨根本,未盡法源故。
(Sớ: Ngũ Giáo:
Một là Tiểu Thừa Giáo, chỉ nói về Nhân Không. Dẫu
có nói đôi chút về Pháp Không, nhưng cũng chưa rơ
ràng, bởi pháp này dựa trên Lục Thức và Tam Độc
để xây dựng [kiến giải về] căn bản
nhiễm và tịnh, chưa trọn hết nguồn pháp).
Vượt thoát lục đạo
sanh tử luân hồi, [Tiểu Giáo] lấy điều này
làm chánh yếu. Muốn vượt thoát sanh tử luân hồi,
đoạn Kiến Tư phiền năo, chứng Nhân Không th́
[tu tập Tiểu Giáo] sẽ có thể [thực hiện được],
có thể đạt được mục đích này. A La
Hán và Bích Chi Phật trong Tiểu Thừa đều thuộc
vào cảnh giới này. Cao hơn một tầng là Đại
Thừa Thỉ Giáo, Thỉ (始) là bắt đầu,
từ Tiểu Thừa vừa mới bước vào Đại
Thừa. Căn tánh của chúng sanh khác nhau; v́ thế, sự
tu học trong Phật pháp có thứ tự, mà cũng có khi
chẳng tuân theo thứ tự. Giống như trong giới
giáo dục hiện thời [t́nh trạng] cũng là như vậy:
Tuân theo thứ tự là như Tiểu Học, Trung Học,
Đại Học, nghiên cứu sinh, học theo tŕnh tự như
vậy, theo thứ tự học cao dần lên; nhưng
cũng có bậc thiên tài, chẳng cần phải theo thứ
tự ấy, thậm chí c̣n chưa tốt nghiệp Tiểu
Học mà có thể học Đại Học, chẳng cần
phải học Trung Học, đương nhiên rất ít
người như vậy.
Trong Phật pháp, quả thật
căn tánh của chúng sanh khác nhau, tuy từ Đại Thừa
nhập đạo, vừa bắt đầu liền học
Đại Thừa, ít nhiều ǵ th́ cũng cần có một
chút cơ sở Tiểu Thừa? Nếu hoàn toàn không có
cơ sở Tiểu Thừa, [học ngay vào Đại Thừa
mà thành tựu], th́ thật sự phải là bậc thiên tài
hoặc bậc tái lai, kẻ tầm thường sẽ chẳng
thể làm được! Giống như Lục Tổ đại
sư của Thiền Tông, đúng là thiên tài! Trước thời
Lục Tổ, chúng ta chẳng thấy có ai có căn tánh
như Lục Tổ, mà sau Lục Tổ măi cho đến
hiện tại đă hơn một ngàn ba trăm năm,
cũng chẳng thấy một ai. V́ thế, chúng ta chẳng
thể học theo căn tánh ấy. Trong Ngũ Giáo, Lục
Tổ thuộc vào Đốn Giáo, Viên Giáo, Ngài nhập đạo
từ ngay nơi ấy, chúng ta chẳng thể làm
được!
Chúng ta tu học tuy là vừa vào
cửa Phật bèn học pháp Đại Thừa, nhưng
Đại Thừa của chúng ta hiện thời vẫn
chưa phải là Thỉ Giáo, chúng ta từ Chung Giáo, Đốn
Giáo và Viên Giáo của Đại Thừa mà nhập môn. Do vậy,
có nhiều đồng tu học Phật đổ hết
tinh thần, siêng năng tu tập suốt đời, chẳng
những chưa thể nhập môn, mà ngay cả tin tức
cũng không có. Đó là sự thật. Học đến
già, quư vị hỏi họ: “Trong Phật pháp, ông có tâm đắc
ǵ hay chăng?” Người ấy không nói được! Dẫu
học Thiền, vẫn chưa đắc Thiền Định;
học Giáo, chưa đại khai viên giải. Niệm Phật
chẳng đắc nhất tâm bất loạn. Dụng công
cả đời, chẳng có thành tựu ǵ! Chúng ta thấy
rất nhiều người gặp phải t́nh cảnh ấy,
đấy là v́ họ không hiểu giáo nghĩa, chẳng biết
căn tánh của chính ḿnh. Nếu chính ḿnh chẳng phải
là bậc thượng căn lợi trí, chúng ta cứ cầu
học theo thứ tự, sẽ nhất định có thành
tựu.
Phật pháp khác với pháp thế
gian. Tu học pháp thế gian dùng một thời gian rất
dài để tiến dần theo tŕnh tự, cầu tiến
bộ dần dần. Trong Phật pháp, tất cả các
căn cơ được chia thành hai loại lớn: Một
là hạng thiện căn sâu dầy, hai là kẻ phước
đức sâu dầy. Đương nhiên hễ có thiện
căn, nhất định có phước đức. Thiện
căn sâu dầy, phước đức kém một chút,
t́nh h́nh này rất nhiều. Có người phước
đức sâu dầy, nhưng thiện căn kém một
chút. Hai loại người này đều có thể theo pháp
Đại Thừa. Thiện căn là ǵ? Thiện căn là
nói đến tín giải. Người ấy nghe xong liền
tin tưởng, Tín là thiện căn. Vừa nghe liền lư
giải, đó gọi là “nhất
văn thiên ngộ” (nghe một, ngộ cả ngàn), “cử nhất phản tam,
văn nhất tri thập” (nêu lên một góc, suy ra ba góc
kia, nghe một biết mười). Đấy là thiện
căn sâu dầy. Phước đức kém một chút là
người ấy coi nhẹ mặt Hành, thật sự nói
đến đoạn phiền năo th́ người ấy
chưa đủ công phu. Tín giải th́ có, nhưng mặt
Hành c̣n kém mấy phần!
Người phước đức
nhiều, thiện căn ít, có thể tin, nhưng giải
th́ kém, sẽ không có năng lực ấy. Giảng cho họ
cách nào, họ cũng chẳng thể thấu hiểu,
cũng chẳng hiểu rơ ràng, nhưng người ấy
có phước báo, phước báo là ǵ? Chịu hành. Chẳng
hạn như quư vị bảo người ấy tham Thiền,
người ấy hằng ngày tịnh tọa; bảo
người ấy niệm Phật, người ấy một
câu A Di Đà Phật suốt ngày từ sáng đến tối
chẳng rời miệng, người ấy có thể hành,
phước báo to lớn. Hai loại người này đều
có thành tựu. V́ thế, kinh Di Đà bảo: “Bất khả dĩ thiểu thiện
căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ
quốc” (Chẳng thể do chút ít thiện căn,
phước đức, nhân duyên mà được sanh vào cơi
ấy); đủ thấy chỉ cần có thiện
căn, có phước đức, nhất định có thể
thành tựu. Nếu hai loại này (thiện căn và phước
đức) đều nhiều, quá tốt đẹp!
Đấy là bậc thượng căn lợi trí. Trong hai
loại này, ai có loại này nhiều, loại kia ít, sẽ đều
nhất định có thành tựu, chẳng thể nào không
thành tựu. Sợ nhất là cả hai loại đều
chẳng có, đối với Phật pháp nửa tin nửa
ngờ, lại chẳng thể lư giải, đương
nhiên càng chẳng chịu thực hành, loại người
này chẳng thể thành tựu được!
(Sớ ) Nhị, Đại Thừa
Thỉ Giáo.
(疏) 二、大乘始教。
(Sớ: Hai là Đại Thừa Thỉ Giáo).
Thỉ Giáo là bắt đầu
của Đại Thừa, trước là thông với Tiểu
Thừa, [tức là trong giáo nghĩa của Thỉ Giáo] bao
hàm những giáo nghĩa của Tiểu Thừa, sau là thông với
Đại Thừa. V́ thế, theo cách phán giáo của tông
Thiên Thai, Thỉ Giáo được gọi là Thông Giáo, thông
với giáo trước và giáo sau. Trong cách phán giáo của
tông Hiền Thủ, giáo này được gọi là Thỉ
Giáo, tức Đại Thừa Thỉ Giáo.
(Sớ) Diêu đệ nhị thời,
đản minh ư Không. Đệ tam thời định
thuyết Tam Thừa, bất hứa định tánh, Xiển
Đề thành Phật, vị tận Đại Thừa
chí cực chi thuyết, cố danh vi Thỉ. Hữu thành Phật,
hữu bất thành Phật, phục danh Phần Giáo. Sở
thuyết tắc quảng đàm pháp tướng, thiểu
cập pháp tánh. Kỳ sở vân Tánh, diệc thị Tướng
số, dĩ y sanh diệt bát thức, kiến lập sanh tử
cập Niết Bàn nhân chư nghĩa loại cố.
(疏) 繇第二時,但明於空。第三時定說三乘,不許定性闡提成佛,未盡大乘至極之說,故名為始。有成佛有不成佛,復名分教。所說則廣談法相,少及法性。其所云性,亦是相數,以依生滅八識,建立生死及涅槃因諸義類故。
(Sớ: Ấy là v́ thời thứ
hai chỉ giảng về Không, thời thứ ba lập ra
Tam Thừa, chẳng hứa khả hàng định tánh Thanh
Văn và Xiển Đề có khả năng thành Phật,
chưa nói tột cùng giáo nghĩa Đại Thừa, nên gọi
là Thỉ. [Do trong giáo nghĩa của Thỉ Giáo], có kẻ
thành Phật, có kẻ chẳng thành Phật, nên [Thỉ Giáo]
lại gọi là Phần Giáo. Giáo này nói rộng về pháp
tướng, giảng đôi chút về pháp tánh. Cái
được gọi là “tánh” [trong Thỉ Giáo] cũng chỉ
là một danh từ pháp tướng v́ nó dựa trên tám thức
sanh diệt để kiến lập các nghĩa lư như
nhân duyên của sanh tử và Niết Bàn).
Giới thiệu đơn giản
giáo nghĩa của Đại Thừa Thỉ Giáo. “Đệ nhị thời” nói
Không, “đản minh ư Không”
(chỉ giảng về Không). Nói theo Pháp Tướng Tông,
khi Thích Ca Mâu Ni xuất hiện lần đầu tiên tại
Lộc Dă Uyển thuyết pháp cho năm vị tỳ-kheo,
Ngài nói pháp Tứ Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
Nói các pháp đều dựa trên pháp tướng để
nói, tướng là Có, đó là “đệ
nhất thời”. Trong thời thứ hai, dựa vào Biến
Kế Sở Chấp, nói hết thảy các pháp đều
Không. Nói theo cách bây giờ, Biến Kế Sở Chấp là
khái niệm trừu tượng, chẳng chân thật, chỉ
là một khái niệm trừu tượng mà thôi, chẳng
có sự thật. V́ thế, nó là giả, chẳng thật.
Đây là một phần Không nghĩa trong Bát Nhă. Đó là thời
thứ hai, nói các pháp đều là Không.
Thời thứ ba, nói Biến Kế
Tánh Không (tánh của Biến Kế Sở Chấp là Không). Trong
Duy Thức, có ba loại tánh: Y Tha Khởi Tánh, Viên Thành Thật
Tánh (tánh là tánh chất) [và Biến Kế Sở Chấp
Tánh]. Y Tha Khởi: Tha (他) là bên ngoài; có nhiều điều kiện th́ mới
có thể hiện thành một hiện tượng, Phật
môn gọi điều này là “duyên
khởi”. Hết thảy các pháp đều do nhân duyên tụ
hợp hiện thành hiện tượng ấy, nó có tự
thể hay không? Không có! Đức Phật dạy: Con
người do các thứ duyên như Tứ Đại và
Ngũ Uẩn (Tứ Đại và Ngũ Uẩn là duyên) tụ
tập mà hiện ra tướng. Nếu Tứ Đại
và Ngũ Uẩn phân tán, tướng ấy chẳng c̣n nữa.
Chúng ta hăy nghĩ xem: Con người có hay không? Con người
không có, Tứ Đại và Ngũ Uẩn th́ có. Nếu từ
chỗ này, quư vị hoảng nhiên đại ngộ th́ con
người chúng ta sẽ không có sanh tử! Cái gọi là “sanh”
chẳng qua là tướng được hiện bởi Tứ
Đại và Ngũ Uẩn tụ hợp; cái gọi là “tử”
chỉ là Tứ Đại phân tán mà thôi!
Tứ Đại tụ là nó, mà
tán cũng là nó, nó chẳng có sanh diệt. Các khoa học gia
hiện thời nói vật chất chẳng diệt, có cùng
một đạo lư như Phật pháp đă nói. V́ thế,
chẳng có sanh diệt. Do điều này, “phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư
vọng”. Tướng là [các nhân duyên] tụ hội, khi tụ
bèn hiện ra tướng. Khi [các nhân duyên ấy] tán, tướng
bị diệt mất. Do vậy, tướng có, tướng
không, những điều này là sự thật. Nếu nói
sanh và diệt, đấy chẳng phải là sự thật.
Sự thật là [các nhân duyên] tụ hay tán mà thôi. Trong tụ
và tán, chẳng t́m được ư nghĩa sanh diệt. V́
thế, nói “sanh tử” là giả, chẳng thật. Phật
môn nói “liễu sanh tử”,
liễu (了) là hiểu rơ;
triệt để hiểu rơ sanh tử rốt ráo là chuyện
như thế nào, hiểu rơ ràng! Thật sự hiểu rơ
ràng th́ đối với sanh, quư vị sẽ chẳng tham
sống, mà cũng chẳng sợ chết. Biết sanh tử
chẳng chân thật, chỉ do cách nh́n sai lầm, nhận
biết lầm lẫn [mà chấp trước sanh tử]. Đối
với chân tướng nhân sinh và vũ trụ, nẩy sanh
hiểu lầm, trong sự nhận biết lầm lẫn
bèn có sanh tử. Đấy là nói về Y Tha Khởi Tánh.
Viên Thành Thật Tánh: Viên Thành Thật
là thành tựu viên măn. Nói “thành tựu
viên măn” có nghĩa là chẳng có thứ ǵ trước mắt
chẳng chân thật, v́ sao? Tánh là chân thật, cho nên những
tướng ấy cũng chân thật. Cổ nhân nêu tỷ
dụ: “Dùng vàng chế đồ
vật, món nào cũng đều là vàng”. Đem vàng sánh với
thật, đồ vật ví với giả. Ta có một khối
vàng, hôm nay ta cao hứng đúc thành tượng Phật, tượng
Phật bằng vàng! Ngày mai ta không thích tượng Phật
nữa, đúc thành h́nh con mèo bé, con cún, tướng khác nhau,
vàng có tồn tại hay không? Vẫn tồn tại! Hiện
tướng tượng Phật th́ vẫn là vàng, hiện
tướng con cún, con mèo bé vẫn là vàng, chẳng biến
đổi, thứ ǵ cũng đều chân thật. V́ thế,
trong Phật môn nói minh tâm kiến tánh, “minh” (明) là trong tâm không mê, phá mê khai ngộ; ngộ (悟) là quang minh. Quư
vị thấy hết thảy vạn sự vạn pháp không
ǵ chẳng phải là Chân Như bổn tánh. Minh tâm bèn kiến
tánh, tánh ở chỗ nào? Chẳng có pháp nào không phải là
tánh, hoàn toàn do tự tánh biến hiện. Giống như
vàng và các món đồ là một, quư vị hoảng nhiên
đại ngộ, có món đồ nào chẳng phải là
vàng? Quư vị thấy các món đồ bằng vàng trong tiệm
kim hoàn, thứ nào cũng đều là vàng, chẳng có thứ
nào không phải. Sâm la vạn tượng, vũ trụ,
nhân sinh đều là vật được biến hiện
bởi tự tánh, chẳng có pháp nào không phải là tự
tánh. Đó gọi là “pháp nào
cũng là đạo, đâu đâu cũng gặp nguồn”;
cảnh giới ấy được gọi là Viên Thành Thật
Tánh. Những điều này đều là nói về giáo
nghĩa Đại Thừa.
“Đệ
tam thời định thuyết tam thừa” (Thời thứ
ba lập ra ba thừa), ba thừa là Thanh Văn Thừa,
Duyên Giác Thừa và Bồ Tát Thừa, “bất hứa định tánh Xiển Đề
thành Phật” (chẳng hứa khả định tánh Thanh
Văn và Xiển Đề có thể thành Phật): Giáo
nghĩa này chẳng tán thành [ư kiến hàng định tánh
Thanh Văn và Nhất Xiển Đề vẫn có khả
năng thành Phật]. Xiển Đề (Icchantika) là tiếng
Ấn Độ, dịch sang nghĩa tiếng Hán là “kẻ
không có thiện căn”, hay “kẻ đoạn diệt thiện
căn”, hạng người này chẳng thể thành Phật.
Thật ra, người chẳng có thiện căn có phải
là do tự tánh biến hiện ra hay chăng?
Đương nhiên là có! Ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp không có
tâm, chẳng hề nói ngoài tâm c̣n có thể kiến lập một
pháp, đấy là chuyện chẳng thể nào có được!
Nhưng trong giai đoạn này, đức Phật chưa
nói rốt ráo, v́ sao? Căn tánh và tŕnh độ của chúng
sanh c̣n chưa đạt tới mức, nói ra sẽ khiến
họ hoài nghi, chẳng thể tiếp nhận, chẳng thể
tin tưởng. Do vậy, trong giai đoạn này, giáo
nghĩa chỉ nói đến đây bèn thôi. Tới hội
Pháp Hoa “khai Quyền hiển Thật”,
đức Phật nói lời thật, Nhất Xiển
Đề cũng có thể thành Phật! Đấy mới
là rốt ráo viên măn. Đại Thừa Thỉ Giáo chẳng
nói đến vấn đề này, do vậy, [sách Sớ
Sao] phê phán [Thỉ Giáo] “vị
tận Đại Thừa chí cực chi thuyết”
(chưa nói đến giáo nghĩa Đại Thừa tột
cùng). Đó gọi là Thỉ, tức là bắt đầu của
Đại Thừa. Đồng thời, trong giai đoạn
này, đức Phật nói có kẻ thành Phật, có kẻ
chưa thể thành Phật, do nói những điều
đó nên gọi là Phần Giáo. Phần Giáo là có phân biệt,
[Thỉ Giáo] được gọi là Đại Thừa Phần
Giáo.
“Sở
thuyết tắc quảng đàm pháp tướng” (nói rộng
về pháp tướng). Chẳng hạn như Bách Pháp Minh
Môn nói tâm pháp gồm tám món, tức tám Tâm Vương (tám thức)
và Tâm Sở Hữu Pháp. Nay chúng ta gọi năm mươi
mốt Tâm Sở Pháp (Tâm Sở Hữu Pháp) là tác dụng tâm
lư. Hai mươi bốn món Bất Tương Ứng Hành
Pháp cũng thuộc vào tác dụng tâm lư, nhưng là tác dụng
gián tiếp, chẳng phải là tác dụng trực tiếp.
Nói theo ngôn ngữ hiện thời, những loại tác dụng
gián tiếp này hoàn toàn là khái niệm trừu tượng,
quyết định chẳng phải là chân thật. Tâm Sở
Hữu Pháp là Y Tha Khởi, tức là nương vào Tâm
Vương mà khởi. Hai mươi bốn món Bất
Tương Ứng chẳng thể t́m ra chúng nương
vào đâu mà khởi lên, thậm chí sở y (chỗ
nương tựa) của chúng rất nhiều, nhưng chẳng
thể nói quyết định là thuộc vào một loại
pháp nào, chúng là những khái niệm sai lầm sanh ra từ rất
nhiều pháp. Cho nên, về Sự th́ có, mà về Lư th́ không.
Ví như thời gian, chúng ta nói mấy phút, mấy giây,
dường như là có chuyện này, chúng tôi hẹn quư vị
mấy giờ sẽ đến đây, nay chúng tôi giảng
kinh là từ bảy giờ rưỡi đến chín giờ.
Về mặt Sự th́ có, nhưng trên Lư quả thật chẳng
có! Quan niệm thời gian do quả đất xoay quanh
chính nó một ṿng mà có, chia thành hai mươi bốn giờ,
một giờ chia thành sáu mươi phút, chia ra như vậy.
Trên địa cầu, thời gian địa cầu tự
xoay quanh nó một ṿng dài ngắn khác nhau [tùy thuộc các vị
trí khác nhau]. Nếu quư vị tới Nam Cực hay Bắc Cực,
cứ coi địa cầu xoay quanh nó một ngày th́ [ở
nơi đó] sáu tháng là ban ngày, sáu tháng là ban đêm, chia ra hai
mươi bốn giờ bằng cách nào? Không có cách nào chia
được! Quư vị ngồi trong phi thuyền, bay lên
không trung rời khỏi trái đất, quan niệm thời
gian trên địa cầu không c̣n nữa! Do đây, có thể
biết: Thời gian là một khái niệm trừu tượng,
chẳng phải là sự thật.
Không gian cũng giống như
thế! Chúng ta nói bốn phương, bốn phương
bàng, trên, dưới, Đông, Tây, Nam, Bắc. Nay ta biết
địa cầu tṛn xoe, chúng ta đi sang phương
Đông, đi theo phương Đông, khi trở về [chỗ
cũ] sẽ là trở về từ phương Tây! Do vậy,
phương vị cũng chẳng thật. Chúng ta ở
Đài Bắc, Cơ Long ở phía Bắc của chúng ta, Tân
Trúc nằm ở phương Nam. Nếu chúng ta sang Nhật
Bản th́ Cơ Long cũng thuộc phương Nam, chẳng
c̣n là phương Bắc của chúng ta nữa, rốt cuộc
xác định phương vị như thế nào? Chẳng
có! Chẳng hề có phương vị! Những điều
này đều nhằm thuận tiện cho cuộc sống
mà giả lập, trên thực tế chẳng có, đều
là một loại khái niệm trừu tượng. Trên mặt
Sự th́ có, nhưng theo Lư th́ không! Chúng ta phải giác ngộ.
Giác ngộ rồi cũng chẳng hoại pháp thế gian,
v́ sao? Thuận tiện cho mọi người sử dụng,
chúng ta ước chừng mấy giờ đến chỗ
này, đến giờ mọi người đều đến.
Tuy là những thứ giả, nhưng chúng có ích, quư vị
chớ nên chấp trước. Nếu quư vị chấp
trước “nhất định là có”, sẽ thành sai lầm.
Trong Bách Pháp, những pháp giống như thời gian và không
gian đều thuộc về Bất Tương Ứng
Hành Pháp. Sắc pháp là vật chất, chia thành năm căn
và sáu trần, gồm mười một loại. Trong sáu
căn có Ư Căn, đó là tâm pháp, không phải sắc pháp.
Do vậy, Ư Căn được xếp vào tám Tâm
Vương. Do đó, sắc pháp chỉ gồm mười
một loại, tâm pháp có tám loại. Những điều
này đều là “quảng
đàm pháp tướng” (giảng rộng về pháp
tướng), chúng tôi chỉ nêu ra một thí dụ để
nói.
“Thiểu
cập pháp tánh” (nói đôi chút về pháp tánh): Rất ít
bàn đến pháp tánh. Dẫu nói đến pháp tánh, ư
nghĩa vẫn bao hàm trong pháp tướng. Nói cách khác, từ
pháp tướng mà nói kèm thêm một chút pháp tánh. Giống
như Bách Pháp [là một thí dụ] vô cùng rơ rệt: Trong một
trăm pháp, có chín mươi bốn pháp nói về pháp tướng,
sáu pháp sau cùng đều là pháp vô vi, đều thuộc về
pháp tánh. Nói đến pháp tánh chỉ chiếm sáu phần
trăm, nói đến pháp tướng chiếm hết chín
mươi bốn phần trăm. Rất hiển nhiên [Bách
Pháp] thuộc Đại Thừa Thỉ Giáo. “Kỳ sở vân tánh, diệc thị
tướng số” (Nói đến tánh th́ cũng thuộc
vào danh số của pháp tướng), vừa nói đến
điều này! “Dĩ y sanh diệt
bát thức, kiến lập sanh tử cập Niết Bàn
nhân chư nghĩa loại cố” (do dựa trên tám thức
sanh diệt để kiến lập các nghĩa lư giống
nhân duyên của sanh tử và Niết Bàn). Nói đến sanh
tử và Niết Bàn đều là dựa trên tám thức sanh
diệt để nói, cách nói này chẳng viên dung. Pháp Tướng
Tông nói Chân Như là ngưng lặng, bất động, chẳng
giống như Viên Giáo! Viên Giáo nói Chân Như hoạt bát sống
động, bất biến nhưng tùy duyên, tùy duyên
nhưng bất biến. Giáo nghĩa của Thỉ Giáo nói
Chân Như là thanh tịnh, bất động, chẳng tùy
duyên, đó là v́ dựa trên tám thức sanh diệt. Theo cách
nói của tông Thiên Thai, tám thức có bốn loại: Sanh Diệt
Bát Thức, Vô Sanh Bát Thức, Vô Lượng Bát Thức và
Vô Tác Bát Thức; có thể thấy là đối với một
danh từ, có nhiều cách nói. Tiểu Giáo có cách nói của
Tiểu Giáo, Thỉ Giáo có cách nói của Thỉ Giáo. Chung
Giáo, Đốn Giáo, Viên Giáo, mỗi giáo có cách nói riêng, ư
nghĩa khác nhau, mức độ sai biệt sâu hay cạn
rất lớn.
Do vậy, Thỉ Giáo giảng
sanh tử và Niết Bàn: Từ vô thỉ đến nay, hết
thảy các pháp do có lục đạo luân hồi, do có
mười pháp giới, cho nên mới có chứng đắc
Niết Bàn. Giới (界) là nhân, thật ra, nếu nói chân thật th́ kinh Hoa
Nghiêm giảng về Niết Bàn viên măn nhất: Niết Bàn
vốn sẵn có. Niết Bàn (Nirvāna)
là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là “bất sanh, bất diệt”.
Bất sanh bất diệt vốn sẵn có, nay chúng ta tuy là
phàm phu, nhưng Niết Bàn sẵn có của chúng ta chẳng
hề mất đi. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật
đă nói rất rơ ràng: Căn tánh của sáu căn là bất
sanh, bất diệt, sáu thức có sanh diệt. Giáo nghĩa [Thỉ
Giáo] được kiến lập trên cơ sở này. Do
kiến lập trên tám thức sanh diệt nên mới có “Có Niết
Bàn để có thể chứng, có sanh tử để có
thể liễu”, đó là Đại Thừa Thỉ Giáo.
Lên một tầng cao hơn, sẽ chẳng có sanh tử,
mà cũng chẳng có Niết Bàn. “Sanh
tử Niết Bàn đẳng không hoa” (sanh tử và Niết
Bàn như hoa đốm trên hư không), đấy là b́nh
đẳng. Ở đây, nói về giáo nghĩa của Thỉ
Giáo, giáo nghĩa của Chung Giáo cao hơn.
(Sớ) Tam, Đại Thừa Chung Giáo, diêu xuất
Trung Đạo Diệu Hữu, định tánh Xiển
Đề giai đương tác Phật, phương tận
Đại Thừa chí cực chi thuyết, cố danh vi
Chung. Xứng Thật Lư cố, phục danh Thật Giáo.
(疏) 三、大乘終教,繇出中道妙有,定性闡提,皆當作佛,方盡大乘至極之說,故名為終。稱實理故,復名實教。
(Sớ: Ba là Đại Thừa Chung Giáo, do xuất
phát từ Diệu Hữu của Trung Đạo, định
tánh Thanh Văn và Xiển Đề đều có thể
thành Phật. Như vậy th́ mới nói trọn hết
giáo nghĩa tột cùng của Đại Thừa, cho nên gọi
là Chung. Do xứng hợp Thật Lư, nên lại gọi là Thật
Giáo).
Đây là giáo nghĩa tối hậu
của Đại Thừa, mà cũng là cách nói tối cao. Ở
đây vừa nói đến “định
tánh”, chữ “định
tánh” chỉ bậc A La Hán, “Xiển
Đề” là kẻ chẳng có thiện căn. Những
người này đều có thể thành Phật, giáo
nghĩa mới viên măn rốt ráo. Đức Phật thuyết
pháp quả thật đă lao tâm khổ tứ đến tột
cùng, bởi lẽ, tướng chân thật của hết
thảy các pháp vốn chẳng thể nói ra được,
những ǵ có thể nói ra đều là chẳng thật. Nếu
quư vị t́m kiếm chân tánh của quư vị từ những
ngôn ngữ văn tự đă được nói ra ấy,
muốn truy t́m chân tướng của vũ trụ và nhân
sinh, chắc chắn sẽ chẳng t́m được! V́
sao? Quư vị mê nơi văn tự, ngôn ngữ, chẳng
đạt được chân tướng. Nếu muốn
đạt được chân tướng th́ ngôn ngữ
văn tự giống như những cột mốc chỉ
đường, quư vị [dựa theo chúng] để t́m
phương hướng, nhưng phải ĺa bỏ ngôn ngữ,
văn tự! Có như vậy th́ mới có thể ngộ
nhập Thật Tướng. Đấy là phương pháp
chánh đáng và là chỗ chân thật dụng tâm trong sự
giáo học của Phật pháp.
Nếu cầu t́m [chân nghĩa] từ
ngôn ngữ văn tự th́ cao nhất là chỉ dừng ở
Đại Thừa Thỉ Giáo mà thôi! Giáo nghĩa Chung Giáo phải
ngộ nhập, phải tách ĺa ngôn ngữ, văn tự,
nhưng cũng chẳng thể không cần đến ngôn
ngữ, văn tự! Giống như chúng ta đi
đường, biển chỉ đường rất
quan trọng, chẳng thể không cần đến;
nhưng tấm biển chỉ đường chẳng phải
là nơi chốn. Chúng ta từ các huyện thị bên ngoài
đến Đài Bắc, đến ranh giới Đài Bắc,
thấy biển đề “thành phố Đài Bắc”, tự
cho là chính ḿnh đă đến Đài Bắc rồi, tấm
biển ấy có phải là Đài Bắc hay không? Chẳng
phải! Nếu [hiểu tấm biển ấy là Đài Bắc
th́] đem tấm biển ấy cắm tại nơi khác,
Đài Bắc ở nơi đó rồi. Đâu phải vậy,
nhưng nó có thể chỉ dẫn chúng ta đến
được mục đích. Ngôn ngữ, văn tự của
Phật và kinh điển cũng giống như vậy,
quư vị phải hiểu tánh chất của chúng. V́ thế,
kinh Kim Cang dạy: “Pháp thượng
ưng xả, hà huống phi pháp” (Pháp c̣n nên xả, huống
là phi pháp), “pháp” là Phật
pháp, cũng chớ nên chấp trước Phật pháp th́ mới
có thể t́m được Chân Như bổn tánh.
“Trung
Đạo Diệu Hữu”: Chân Không và Diệu Hữu là
một, không hai, chớ nên coi chúng là hai chuyện. Tâm Kinh
văn tự tuy ít, ư nghĩa hết sức sâu sắc, giảng
đạo lư này hết sức thấu triệt. Chẳng hạn
như kinh nói: “Sắc bất dị
Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không,
Không tức thị Sắc”. Sắc là nói đến pháp
tướng, Không là nói đến pháp tánh. Điều này
cho thấy pháp tánh và pháp tướng là cùng một chuyện,
chẳng phải hai chuyện. Nếu quư vị thấy tánh
th́ thấy ở chỗ nào? Thấy nơi tướng; ĺa
khỏi tướng, tánh ở đâu ra? Ví như vàng, vàng
ví như tánh, những món đồ bằng vàng ví như
tướng. Ta muốn vàng, quư vị cầm lấy tượng
Phật, [nhưng do chấp tướng bèn nói]: “Ta không muốn
tượng Phật, ta muốn vàng!” Quư vị đổi
sang một viên ngói bằng vàng, [vẫn cứ khăng khăng]:
“Ta không muốn ngói, ta muốn vàng!” Cầm lấy một
đống ṿng vàng: “Ta không muốn ṿng, ta muốn vàng!” Quư
vị lấy vàng từ nơi đâu? Chắc chắn chẳng
t́m được, bởi những tướng ấy vốn
là vàng. Quư vị hiểu rơ chuyện này, thứ ǵ ta cũng
đều lấy được. Tượng Phật
cũng được, ngói cũng được, ṿng xuyến
cũng được, thứ ǵ cũng đều được,
v́ sao? Thảy đều là vàng!
Đối với người
kiến tánh, sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần
đều là pháp tánh, đều là tự tánh, nên gọi là
minh tâm kiến tánh. Nếu ai đạt đến cảnh
giới này, tâm họ sẽ tự nhiên b́nh đẳng trong
hết thảy vạn pháp, v́ sao? Toàn là tự tánh, một
tánh, chẳng hai tánh. Chúng sanh và Phật b́nh đẳng,
chính ḿnh và chư Phật b́nh đẳng, b́nh đẳng với
hết thảy chúng sanh. Tâm địa thanh tịnh, v́ sao
thanh tịnh? Trong hết thảy các pháp, người ấy
không có lấy hay bỏ, biết chúng đều do tự tánh biến, chẳng có lấy hay bỏ, nên
tâm thanh tịnh. Đối với hết thảy chúng sanh,
sanh tâm đại từ đại bi, tâm đồng thể
từ bi, biết hết thảy vạn pháp đều do tự
tánh biến hiện, hết thảy vạn pháp do tự
tánh kiến lập, lẽ nào người ấy chẳng từ
bi? Do vậy, nói là “vô duyên đại từ, đồng thể
đại bi”, hết thảy vạn pháp và chính ḿnh có cùng một
bổn tánh. V́ vậy, tâm từ bi tự nhiên lưu lộ,
chẳng có bất cứ điều kiện nào, đó là kiến
tánh, kiến tánh bèn thành Phật. Chúng ta gọi người
đă thấy tánh là Phật, đó là nghĩa chân thật
trong Phật pháp.
“Định
tánh, Xiển Đề”: [“Định
tánh”] là định tánh Thanh Văn. Định tánh A La
Hán cũng có thể hồi Tiểu hướng Đại,
cũng có thể làm Phật, làm Tổ. Xiển Đề
là kẻ không có thiện căn. Người không có thiện
căn v́ chưa gặp duyên; hễ gặp duyên, thiện căn
cũng có thể hiển phát, cũng có thể thành Phật.
Đây là giáo nghĩa tột cùng trong Đại Thừa Phật
pháp. “Hết thảy chúng sanh
đều có Phật tánh”,
“hết thảy chúng sanh đều sẽ thành Phật”.
Huống chi trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă nói: “Hết thảy chúng sanh vốn
đă thành Phật”, nói như vậy càng viên măn, càng rốt
ráo hơn. “Cố danh vi Chung”
(nên gọi là Chung Giáo), đây là giáo nghĩa chung cực của
Đại Thừa, “xứng Thật
Lư cố” (v́ xứng hợp với Thật Lư), giảng
giải chân thật, quả thật là Lư Thể.
( Sớ ) Sở thuyết tắc
đa đàm pháp tánh, thiểu cập pháp tướng.
(疏) 所說則多談法性,少及法相。
(Sớ:
Những điều được nói [trong Chung Giáo] đa
số luận về pháp tánh, và luận đôi chút về
pháp tướng).
Đây là giáo nghĩa của
Đại Thừa Chung Giáo: Đối với pháp tánh nói rất
nhiều, thảo luận nhiều, ít nói đến pháp
tướng. Tướng là giả, tánh là thật.
(Sớ ) Kỳ sở vân tướng,
diệc hội quy tánh.
(疏) 其所云相,亦會歸性。
(Sớ: Nói đến
tướng th́ cũng quy vào tánh).
Dù có nói đến pháp tướng,
chẳng hạn như nói ba đời, Ngũ Ấm, thế
gian, xuất thế gian, những thứ ấy đều
là giả danh. Lại nói: “Hữu
tránh thuyết sanh tử, vô tránh tức Niết Bàn, sanh tử
cập Niết Bàn, nhị câu bất khả đắc”
(Hễ có tranh chấp th́ là sanh tử, không tranh chấp
chính là Niết Bàn, sanh tử và Niết Bàn, hai thứ ấy
đều chẳng thể được). Đó là giáo
nghĩa trong giai đoạn này.
(Sớ ) Dĩ y Như Lai Tạng bát thức, tùy duyên
thành lập chư nghĩa loại cố.
(疏) 以依如來藏八識,隨緣成立諸義類故。
(Sớ:
Do dựa trên tám thức và Như Lai Tạng, mà tùy duyên thành
lập các nghĩa lư).
Như
Lai Tạng (Tathāgatagarbha) là tự tánh thanh
tịnh tâm, “bát thức” là bản
thể của A Lại Da Thức. “Y Như Lai Tạng bát thức” là như kinh
Lăng Nghiêm đă nói: Kinh Lăng Nghiêm là Đại Thừa
Chung Giáo, giảng về Như Lai Tạng tánh, giảng về
thức thứ tám. Bản thể của thức thứ tám
là Như Lai Tạng, tác dụng của Như Lai Tạng là
tám thức. Thể và Dụng là một, không hai. Nói theo
phương diện tác dụng là tám thức, nói theo phía bản
thể là Như Lai Tạng. Do vậy, sanh diệt và chẳng
sanh diệt ḥa hợp. Thể là chẳng sanh diệt, tám thức
là sanh diệt. Chuyển tám thức thành bốn trí, bốn
trí chẳng sanh diệt. Sanh diệt và chẳng sanh diệt
là một, không hai! Trong sanh diệt có chẳng sanh diệt.
Trong chẳng sanh diệt, có sanh diệt, đấy là trong
Thể có tác dụng, trong tác dụng có Thể. Giống
như chúng ta soi gương, bản thể của
gương là chẳng sanh diệt, tướng (h́nh bóng) được
chiếu trong gương có sanh diệt. Người Trung Quốc
soi vào bèn hiện h́nh ảnh người Trung Quốc,
người ngoại quốc soi gương bèn hiện bóng
người ngoại quốc. Tướng được
hiện có sanh, có diệt, nó biến hóa. Gương là Thể,
chẳng sanh diệt. Sanh diệt và chẳng sanh diệt là
một, không hai!
Cái
thể tánh có thể biến (năng biến) ra vạn pháp
trong nhân sinh và vũ trụ là Như Lai
Tạng, nó là thật. Cái được biến (sở biến)
là huyễn tướng, tướng ấy Giả Hữu,
c̣n gọi là Diệu Hữu. Chẳng thể nói là nó không
có, nó có! Đă có, v́ sao nói là Giả Hữu? V́ cái Hữu
ấy thường xuyên biến hóa, chẳng vĩnh viễn
bất biến. Vĩnh viễn bất biến sẽ là
Chân Hữu. Như Lai Tạng tánh là Chân Hữu, vĩnh viễn
bất biến. Hết thảy các tướng bị biến,
những tướng ấy tạm thời có rồi không,
thiên biến vạn hóa. Kinh dạy: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư
vọng”. Hư vọng, nhưng là có, chẳng phải
là không có. Nó chẳng thể vĩnh viễn tồn tại;
đó là sự thật. Phàm những ǵ có tướng đều
biến hóa trong từng sát-na, chẳng thể ngưng nghỉ!
Sau khi quư vị đă hiểu rơ chân tướng này, trong hết
thảy cảnh giới Giả Hữu hay Diệu Hữu,
quư vị đều có thể thụ dụng.
Ví
như hiện thời chúng ta có cái thân này, thân tướng
này là Giả Hữu. Chúng ta biết nó biến hóa trong từng
sát-na, con người tuyệt đối chẳng phải
là mỗi năm một suy lăo, chẳng phải vậy, mà
là già đi trong từng sát-na. Bất quá, chính quư vị chẳng
nhận biết, đến khi quư vị bảy
mươi, tám mươi mới [than văn]: “Úi chà! Sao mà ta già
khọm thế này?” Thật ra, chẳng phải là lúc đó
mới già. Già đi từng giờ một, già đi từng
phút một, già đi từng giây một, già đi trong từng
sát-na! Nói xuyên suốt th́ con người chẳng có ư
nghĩa ǵ hết, từ lúc sanh ra, con người đă
đi theo một mục tiêu, một phương hướng,
một đường lối. Đi đâu vậy? Đi
đến mộ phần, chẳng chịu ngừng phút
nào, đó thật sự gọi là tinh tấn! Làm chuyện
ǵ khác, người ta cũng ngưng lại không làm, chứ
chuyện này vĩnh viễn chẳng ngừng! Nếu quư vị
thật sự thấy xuyên suốt con người chẳng
có ư nghĩa ǵ cả, đó là giác ngộ. Giác ngộ chân
tướng sự thật, trong thế gian này, bất luận
nghèo, giàu, sang, hèn, đều đi theo một con đường,
sanh ra liền đi theo con đường tử vong này, mỗi
ngày một gần hơn, mỗi phút một gần hơn,
là chuyện như thế đó! Do vậy, đức Phật
dạy chúng ta phải liễu sanh tử, “liễu” là hiểu rơ. Sau khi hiểu rơ, phải
thoát sanh tử, thoát sanh tử là tách ĺa, cao lắm! Liễu
thoát sanh tử là hai chuyện: Liễu là học vấn, Thoát
là công phu. Thoát là tháo gỡ, là buông bỏ. Đó là công phu. Liễu
là học vấn, hiểu rơ chân tướng sự thật.
Liễu mà chẳng thoát th́ không được, nhất
định phải thoát. Phật pháp nhằm dạy chúng ta
liễu thoát sanh tử, nhận thức chân tướng của
nhân sinh và vũ trụ. Do vậy, biết chính ḿnh tuy có sanh
diệt, nhưng chính ḿnh cũng có cái chẳng sanh diệt.
Chúng ta có thể thoát khỏi sanh diệt, tu cái bất sanh
diệt, quư vị bèn thành công.
Cách
tu như thế nào? Cái gọi là “tu”
chính là ứng dụng. Phật, Bồ Tát chẳng khác ǵ
chúng ta. Chúng ta từ sáng đến tối đăi người,
tiếp vật, dùng cái tâm ǵ? Dùng tâm sanh diệt, ư niệm
này khởi, ư niệm kia diệt, dùng cái tâm này! Chúng ta dùng
cái tâm sanh diệt, nên có sanh tử, có lục đạo luân
hồi, cho nên có khổ! Phật, Bồ Tát cũng ăn
cơm, mặc áo, đăi người, tiếp vật y hệt,
nhưng các Ngài chẳng dùng tâm sanh diệt, mà dùng tâm ǵ? Dùng
cái tâm chẳng sanh diệt. Do vậy, các Ngài chẳng chết,
có thể liễu thoát. Tâm chẳng sanh diệt và tâm sanh diệt
ḥa hợp làm một. Kinh Lăng Nghiêm đă giảng rất
cặn kẽ: “Thường trụ
chân tâm, tánh tịnh minh thể”, dùng cái tâm này, chúng ta
thường gọi nó là “chân
tâm”. Trong chân tâm không có niệm, chân tâm ly niệm! Có niệm
là vọng tâm. Tám thức có niệm, c̣n Chân Như bổn
tánh, Như Lai Tạng không có niệm.
V́
thế, đức Phật dạy chúng ta đăi người,
tiếp vật phải dùng cái tâm nào? Dùng chân tâm. Trong hết
thảy các pháp, chẳng khởi tâm, chẳng động niệm,
chẳng phân biệt, chẳng chấp trước, đấy
là chân tâm. Trong ấy chẳng có sanh diệt. Quư vị nói: Chẳng
có sanh diệt, nhưng con mắt tôi vẫn có thể thấy,
làm sao chẳng thể thấy? Lúc mở mắt nh́n một
vật ǵ, khi thấy nó, quư vị chẳng khởi tâm, chẳng
động niệm, chẳng có phân biệt, chẳng có chấp
trước, thử hỏi quư vị c̣n thấy hay là không?
Thấy! Khi ấy, cái thấy của quư vị là Chân Kiến,
tức là thấy bằng chân tâm, thấy bằng tánh Thấy.
Đối với cảnh giới, vừa khởi lên phân
biệt, chấp trước, khởi tâm động niệm,
đó là thấy bằng tám thức. Trong khi quư vị chẳng
khởi tâm, chẳng động niệm, hết thảy
các cảnh giới chắc chắn b́nh đẳng. Vừa
mới phân chia tốt, xấu; tốt, xấu là ǵ? Trong tám
thức mới có! Trong vọng tâm mới có! Trong chân tâm chẳng
có. V́ sao? Trong chân tâm chẳng có phân biệt, chấp trước.
Hễ có phân biệt, chấp trước, sẽ biết
[là tốt, xấu], chân tâm mất đi; [phàm phu] dùng vọng
tâm, dùng cái tâm sanh diệt.
V́
thế, Phật, Bồ Tát thấy sắc, nghe tiếng chẳng
sử dụng cùng một cái tâm như chúng ta. Chúng ta dùng
Nhăn Thức để thấy, dùng Nhĩ Thức để
nghe, dùng thức thứ sáu, tức Ư Thức, để
nghe, toàn bộ lọt vào trong Ư Thức. Thứ thứ sáu,
tức Ư Thức, phân biệt, thức thứ bảy chấp
trước, thức thứ tám giữ lại ấn tượng,
khởi vọng tưởng. Phật, Bồ Tát chẳng
dùng tâm ư thức, chẳng dùng thức thứ sáu nên chẳng
phân biệt, chẳng dùng thức thứ bảy nên không chấp
trước, chẳng dùng thức thứ tám nên không lưu
lại ấn tượng. V́ thế, tâm của các Ngài
được gọi là tâm thanh tịnh, bản lănh của
các Ngài chính là ở chỗ này! Nói theo tướng th́ chẳng
khác ǵ, chúng ta ăn cơm, mặc áo, Phật, Bồ Tát
cũng mặc áo, ăn cơm, chúng ta có thù tạc, Phật,
Bồ Tát cũng có thù tạc, chẳng khác ǵ cuộc sống
hiện thực của chúng ta.
Nếu
quư vị xem lại phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện[6] trong kinh Hoa
Nghiêm, quư vị sẽ thấy Thiện Tài đồng tử
tham học năm mươi ba lần, năm mươi ba
vị thiện tri thức đều là Bồ Tát. Các Ngài biểu
hiện các ngành, các nghề, nam, nữ, già, trẻ, có khác ǵ
xă hội hiện thực của chúng ta hay chăng? Hoàn toàn
giống hệt, chẳng khác ǵ cả. Chỗ khác nhau là dụng
tâm không giống nhau. Các Ngài đăi người, tiếp vật,
thậm chí buôn bán chẳng dùng tâm ư thức, mà dùng Chân
Như bổn tánh. Dùng tâm ư thức chẳng kiếm
được nhiều tiền, dùng Chân Như bổn tánh
sẽ kiếm tiền vô lượng vô biên. V́ sao? Phước
báo xứng tánh hiện tiền, trí huệ, phước
đức vốn sẵn có trong chân tánh hiện tiền. Tạng
báu ấy vô lượng vô biên! Do vậy, dùng chân tâm thù thắng
hơn dùng vọng tâm rất nhiều. Dùng vọng tâm chẳng
thể liễu thoát sanh tử luân hồi; dùng chân tâm liền
liễu thoát sanh tử luân hồi.
Pháp
môn Niệm Phật nhằm dạy chúng ta phương pháp sử
dụng chân tâm. Sử dụng theo cách nào? Chỉ cần quư
vị khởi tâm động niệm, hễ vọng tâm vừa
phát tác, ngay lập tức chuyển nó thành A Di Đà Phật.
Thưa quư vị, một câu A Di Đà Phật này nửa
chân, nửa vọng. A Di Đà Phật chẳng phải là
thuần chân, v́ sao? Nếu thuần chân th́ trong Chân Như bổn
tánh không có A Di Đà Phật. Hễ có một câu A Di Đà
Phật, vẫn chưa phải là thuần chân. Chẳng phải
là thuần chân, v́ sao cần đến nó? Dùng một niệm
này để dứt hết thảy vọng niệm. Dùng
phương pháp này! Nói theo lư luận, phương pháp này chẳng
khác quán tâm hay tham thoại đầu của Thiền gia. V́
sao chúng ta chẳng dùng tới tham thoại đầu, chẳng
dùng quán tâm? Ở đây lại có một đạo lư, có một
sự thật: Dùng quán tâm hay tham thoại đầu phải
hoàn toàn cậy vào chính ḿnh, chính ḿnh chưa thể kiến
tánh! Nói cách khác, quư vị chẳng thoát khỏi luân hồi,
vẫn luân hồi sanh tử, vẫn mê hoặc, điên
đảo. Dùng phương pháp niệm A Di Đà Phật
th́ sao? Công phu của chúng ta chưa đạt đến mức
ấy (chưa thể kiến tánh), nhưng khi lâm chung, A Di
Đà Phật tiếp dẫn ta sang thế giới Tây
Phương, tối thiểu là ta có thể thoát khỏi
luân hồi lục đạo trong thế giới Sa Bà.
Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới,
chẳng có lục đạo, chỉ có hai đường
trời và người, chẳng có A Tu La, súc sanh, ngạ quỷ,
địa ngục, tốt hơn nơi đây nhiều lắm!
Ở nơi đây, chúng ta luân hồi trong lục đạo,
bên kia là luân chuyển trong hai đường! Huống chi lại
có thể thường thân cận chư Phật, Bồ
Tát, tu hành thuận tiện rất lớn. Niệm A Di
Đà Phật dễ hơn, hay hơn tham thoại đầu
ở chỗ này!
Kinh
này thuộc về Đốn Giáo, trong ấy có kèm thêm Chung
Giáo và Viên Giáo. Trong Ngũ Giáo, kinh Di Đà thuộc ba giáo
Chung, Đốn và Viên.
(Sớ
) Tứ, Đốn Giáo, tổng bất thuyết pháp tướng,
duy thuyết chân tánh.
(疏) 四、頓教,總不說法相,唯說真性。
(Sớ:
Bốn là Đốn Giáo, nói chung chẳng nói đến pháp
tướng, chỉ nói về chân tánh).
“Đốn” là đốn
siêu (nhanh chóng vượt thoát). Trong Khởi Tín Luận, Mă
Minh Bồ Tát bảo chúng ta: Hết thảy các pháp chỉ
do vọng niệm mà có sai khác. Ĺa hết thảy vọng niệm,
sẽ không có hết thảy pháp để được.
Đấy chính là ư nghĩa Đốn Giáo.
(Sớ
) Nhất niệm bất sanh, tức danh vi Phật, vô tiệm
thứ cố.
(疏) 一念不生,即名為佛,無漸次故。
(Sớ:
V́ một niệm chẳng sanh bèn gọi là Phật, chẳng
có thứ tự tiến tu dần dần).
Không
có thứ tự! Có tâm là phàm phu, vô tâm là Phật. Nếu quư
vị hiểu lầm ư nghĩa “vô tâm”: Từ nay trở
đi, cái ǵ cũng chẳng suy nghĩ, cái ǵ cũng chẳng
nghĩ tới, như vậy sẽ trở thành Vô Tưởng
Định! Vô Tưởng Định có được hay
không? Không được! Quả báo của Vô Tưởng
Định là Tứ Thiền Thiên, vẫn luân hồi trong lục
đạo. Vô tâm là không có vọng tâm, chứ chẳng phải
là không có chân tâm! Thích Ca Mâu Ni Phật trụ thế giáo hóa
chúng ta, suốt bốn mươi chín năm hằng ngày giảng
kinh, thuyết pháp, chúng ta hỏi Ngài có tâm hay chăng? Nếu
Ngài chẳng có tâm, vậy th́ Phật pháp, những đạo
lư, những phương pháp từ đâu mà nói ra? Từ
Chân Như bổn tánh lưu xuất, từ chân tâm tự
nhiên lưu lộ, chẳng có vọng tâm. Vọng tâm là ǵ?
Phân biệt, chấp trước, vọng tưởng. Vô
tâm là chẳng có phân biệt, chấp trước, vọng
tưởng, không có những cái tâm ấy, hoàn toàn khác Vô
Tưởng Định. Thật sự có thể ở
trong hết thảy vạn pháp mà chẳng có phân biệt, chấp
trước, vọng tưởng, người ấy sẽ
là Phật.
Tâm
Phật b́nh đẳng, tâm phàm phu chẳng b́nh đẳng.
Phàm phu có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng;
do vậy, tâm họ chẳng b́nh đẳng. Trong hết thảy
vạn pháp, họ có [quan niệm] tốt, xấu, có ưa
thích, có chán ghét, đó là tâm phàm phu. Phật không có phân biệt,
chấp trước, cho nên trong hết thảy vạn pháp,
tâm Phật b́nh đẳng. Đức Phật thấy
người cung kính, tán thán Ngài, giống hệt như
người hủy báng, lăng nhục Ngài, thậm chí đối
với kẻ sát hại Ngài, Phật thấy hai người
ấy quyết định b́nh đẳng. Chớ nên nói “kẻ
này xử tốt với ta, kẻ kia chẳng tốt”. Khởi
ư niệm ấy th́ là phàm phu, chẳng phải là Phật. Tu
hành: “Hành” là hành vi sai lầm, tư tưởng cũng là hành
vi, tức hành vi tâm lư. Hành vi tâm lư sai lầm, sửa đổi
nó th́ gọi là “tu hành”. Trong cuộc sống thường
ngày, chúng ta thấy ưa thích cái này, chán ghét cái kia, chỉ cần
có ư niệm ấy sanh khởi, phải lập tức giác
ngộ: “Ta sai rồi! Đấy là hành vi sai lầm, ta phải
sửa đổi cho đúng”.
Sửa
đổi cho đúng như thế nào? Trong hết thảy
cảnh giới, ta đối xử bằng cái tâm b́nh
đẳng, tâm thanh tịnh. Làm không được ư?
Thấy điều ǵ ưa thích, A Di Đà Phật! Thấy
điều ǵ chán ghét, A Di Đà Phật! Mọi người
đều là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là b́nh
đẳng. Chẳng khác ǵ nhau, đều là A Di Đà Phật.
Như vậy th́ mới tốt đẹp, dùng
phương pháp ấy để tu. Trong tám vạn bốn
ngàn pháp môn, niệm A Di Đà Phật là phương pháp xảo
diệu nhất. Đọc kinh văn trong phần sau, quư vị
sẽ biết cách này mầu nhiệm không thể diễn tả
được! Trong khi quư vị phân biệt, chấp
trước, vọng tưởng dấy lên, đều
dùng A Di Đà Phật để thay thế, đó là tu hành.
Sửa đổi cho đúng những hành vi, tư tưởng
sai lầm, lại có thể phát nguyện văng sanh, công đức
ấy vô lượng vô biên, đúng là thành Phật trong một
đời. V́ thế, trong Đốn Giáo chắc chắn
không có thứ tự.
Kinh
Di Đà không chỉ là Đốn Giáo, mà c̣n là bậc nhất
trong Đốn Giáo. Lời này do Khuy Cơ đại sư
nói ra. Ngài Khuy Cơ là tổ sư đời thứ nhất
của Pháp Tướng Duy Thức Tông Trung Quốc. Bản
chú giải kinh Di Đà của Ngài có tên là A Di Đà Kinh Thông
Tán Sớ, vừa mở đầu, trong phần phán giáo,
Ngài phán định kinh A Di Đà là Đốn Giáo, lại
c̣n là tột bậc trong Đốn Giáo, “chí viên, chí đốn”, v́ sao? Từ một ngày
đến bảy ngày có thể thành tựu. Quư vị
nghĩ xem: Có pháp môn nào có thể thành công trong bảy ngày? Chỉ
có pháp môn này là bảy ngày thành công. Sự thành công ấy
như sau: Tu học pháp môn này, trong bảy ngày có thể chứng
đắc nhất tâm bất loạn. Nhất tâm bất loạn
là minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Nói cách khác,
dùng phương pháp này, bảy ngày có thể thành Phật;
chẳng nói văng sanh mà nói là “bảy
ngày thành Phật”. Pháp môn này so với bất cứ pháp
môn nào cũng đều nhanh hơn, nhưng có nhiều
người chẳng hiểu, chẳng liễu giải.
Trong
bảy ngày có thể thành Phật, lẽ nào trong bảy ngày
chẳng thể văng sanh ư? Văng sanh dễ hơn thành Phật
rất nhiều. Thành Phật nhất định phải
là Lư nhất tâm bất loạn, văng sanh chỉ cần công
phu thành phiến là được rồi! Chỉ cần một
câu Phật hiệu có thể đè nén phân biệt, chấp
trước, vọng tưởng là được rồi.
Có công phu như vậy, sẽ có thể văng sanh; nhưng
thành Phật th́ chưa được, với công phu ấy
chưa thể thành Phật! Thành Phật, nhất định
phải là tiến hơn nữa, đạt đến Sự
nhất tâm bất loạn, đạt đến Lư nhất
tâm bất loạn. Sự nhất tâm bất loạn là
đắc Định, gọi là Niệm Phật tam-muội.
Lư nhất tâm bất loạn là từ trong Định mà
khai ngộ, đại triệt đại ngộ, minh tâm
kiến tánh. Pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn, thật sự
có thể cứu độ hết thảy chúng sanh, thật
sự cứu chính ḿnh, cứu chúng sanh. Nếu chúng ta đầy
đủ nhiều thiện căn, lắm phước
đức, hăy nên phát đại tâm, cả đời chuyên
tu pháp môn này, chuyên môn hoằng dương pháp môn này, hy vọng
phổ biến pháp môn này trên toàn thế giới, khiến
cho ai nấy đều có cơ hội được nghe.
Trên
thế giới có bao nhiêu người muốn tu, nhưng
không có cơ hội, chẳng được tiếp xúc.
Người ngoại quốc chẳng biết chữ Hán,
không có ai giới thiệu pháp môn này với họ, họ chẳng
biết. Nếu phá được rào cản ngôn ngữ, giới
thiệu pháp môn Di Đà cho người ngoại quốc,
tôi tin rằng người ngoại quốc sẽ ưa
thích pháp môn này nhất, v́ nó đơn giản, dễ dàng.
Thiền và Mật hấp dẫn người ngoại quốc
nhất v́ người ngoại quốc thích những thứ
kỳ lạ, thoạt đầu họ kéo đến
như ong vỡ tổ. Tu tập hai ba tháng, cảm thấy
quư vị thật sự chẳng có ǵ cho họ học, họ
lại ngă ḷng. Nói thật ra, chẳng bằng đem pháp môn
Niệm Phật dạy họ cặn kẽ. Họ bằng
ḷng học th́ một bộ A Di Đà Kinh Sớ Sao giảng
chi tiết từ đầu đến cuối một
lượt, mỗi ngày giảng một tiếng rưỡi
sẽ mất hai năm để học xong. Sau khi đă
giảng hai năm xong một lượt, lại giảng
từ đầu một lần nữa. Nếu chúng ta mỗi
ngày giảng kinh này hai tiếng, giảng một lượt
mất một năm, giảng năm mươi lượt
là năm mươi năm, họ quyết định thành
tựu. Cảnh giới của kẻ nói và người
nghe sẽ khác hẳn. Lần thứ nhất là cảnh giới
của lần thứ nhất, nghe lần thứ hai sẽ
có cảnh giới của lần thứ hai. Người giảng
nhận thấy mỗi biến mỗi khác, người
nghe đối với mỗi biến đều có ngộ
xứ, làm sao người ấy chẳng hoan hỷ? Đương
nhiên là pháp hỷ sung măn. Đây là Đốn Giáo. Thiền
chẳng lẹ như vậy, mà Mật cũng chẳng nhanh
như vậy! Muốn thành tựu nhanh chóng, hăy thật thà
niệm Phật, bảo đảm một bộ kinh Di
Đà là đủ rồi!
(Sớ
) Ngũ, Viên Giáo, thống cai tiền tứ, viên măn cụ
túc.
(疏) 五、圓教,統該前四,圓滿具足。
(Sớ:
Năm là Viên Giáo, gồm trọn viên măn, đầy đủ
bốn giáo trước).
Loại
thứ năm là Viên Giáo, Viên là viên măn. Toàn bộ giáo
nghĩa của bốn giáo trước đều
được bao gồm trong giáo này, chẳng sót một
điều ǵ! “Thống cai tiền
tứ” (gồm trọn bốn giáo trước), bốn
giáo trước là từ cạn đến sâu, nhưng các
giáo ấy chẳng thể dung nhiếp lẫn nhau. V́ thế,
chẳng viên măn. Viên Giáo là viên măn, dung hội, xuyên suốt bốn
giáo trước, chúng đều được bao gồm
trong giáo này, trong cạn có sâu, trong sâu có cạn, vô cùng huyền
diệu. Vừa có thứ tự, lại vừa có viên dung;
viên dung chẳng trở ngại thứ tự, thứ tự
chẳng trở ngại viên dung. Đấy chính là giáo
nghĩa của Viên Giáo.
(Sớ)
Sở thuyết duy thị vô tận pháp giới, tánh hải
viên dung, duyên khởi vô ngại, tương tức,
tương nhập, đế vơng trùng trùng, chủ bạn
giao tham, vô tận vô tận cố.
(疏) 所說唯是無盡法界,性海圓融,緣起無礙,相即相入,帝網重重,主伴交參,無盡無盡故。
(Sớ:
Những điều được nói [trong Viên Giáo] chỉ
là pháp giới vô tận, tánh hải viên dung, duyên khởi vô ngại,
các pháp chính là lẫn nhau, nhập vào lẫn nhau, lưới
Thiên Đế trùng trùng, chủ và bạn xen lẫn vào nhau,
vô tận, vô tận).
“Sở thuyết duy thị
vô tận pháp giới”: Đây là giáo nghĩa của Hoa
Nghiêm, đem hết thảy các pháp quy nạp vào Nhất
Chân pháp giới. Pháp giới chỉ có một, pháp giới
chỉ có chân thật, chẳng có hư vọng. Do vậy gọi
là Nhất Chân. Một là chân, hai là hư vọng. V́ thế,
Hoa Nghiêm nói Nhất Chân. Kinh này nói đến nhất tâm bất
loạn, cũng là nói đến nhất, nhất tâm là
năng nhập, Nhất Chân là sở nhập. Như thế
nào th́ mới có thể nhập Nhất Chân pháp giới? Nhất
tâm có thể nhập, nhị tâm chắc chắn chẳng thể
nhập. Nh́n từ chỗ này, quư vị mới thấy mối
quan hệ giữa hai bộ kinh. Kinh Hoa Nghiêm giảng về
Nhất Chân pháp giới, kinh Di Đà giảng nhất tâm bất
loạn. Do vậy, chứng đắc nhất tâm bất
loạn là chứng đắc thế giới Hoa Tạng,
là nhập Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm
Kinh. V́ thế, kinh Hoa Nghiêm và kinh Di Đà là một, không hai.
Năng Sở chẳng hai, năng nhập và sở nhập
không hai. Năng nhập là nhất tâm, sở nhập là Nhất
Chân, quả thật là một, không hai. [Sách Diễn Nghĩa
nhận định]:“Vô tận
pháp giới, thống duy Nhất Chân pháp giới, phân vị
Sự Lư đẳng tứ pháp giới” (vô tận pháp giới
đều chỉ là Nhất Chân pháp giới, chia thành bốn
pháp giới như Sự, Lư v.v...), Thanh Lương đại
sư chia thành bốn loại: Sự pháp giới, hoàn toàn
nói về sự tướng; Lư pháp giới, có Sự
đương nhiên sẽ có Lư; Lư Sự vô ngại pháp giới
và Sự Sự vô ngại pháp giới. Sự Sự vô ngại
là đại tự tại. Nay chúng ta nơi nào cũng có
chướng ngại, v́ sao? Chưa thể viên dung, chẳng
biết chân tướng sự thật; cho nên chỗ nào
cũng đều có chướng ngại. Thật sự
viên dung tự tại sẽ thật sự là Sự Sự
vô ngại.
“Tánh hải viên dung”: Viên dung chẳng
ngại duyên khởi, pháp tướng chính là pháp tánh, các pháp
chính là nhau, ḥa nhập lẫn nhau. Đó là cảnh giới
Sự Sự vô ngại và Lư Sự vô ngại. “Đế vơng trùng trùng, chủ bạn
giao tham”: Đây là tỷ dụ. “Đế vơng” là nói [tới cái lưới kết
bằng châu báu] của Thiên Đế Thích. Người Hoa
gọi Đế Thích là Ngọc Hoàng Thượng Đế,
tức là chúa tể cơi trời Đao Lợi. Đao Lợi
thiên cung được trang sức bằng mành lưới,
mỗi mắt lưới buộc một viên minh châu, viên
minh châu nào cũng đều phóng quang, ánh sáng chiếu rọi
lẫn nhau. Chúng ta không có phước báo lớn như trong
cung trời Đao Lợi, nhưng do khoa học kỹ thuật
hiện thời cũng rất khá: Ngàn vạn ngọn
đèn ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau cũng hết sức
trang nghiêm, có ư nghĩa mường tượng [ư nghĩa
lưới báu của Thiên Đế]. “Vô tận vô tận”: Đây kia chiếu lẫn nhau,
cảnh giới ấy hiển thị chẳng cùng tận!
(Sớ
) Dĩ thượng tường như Hoa Nghiêm Huyền
Đàm trung.
(疏) 以上詳如華嚴玄談中。
(Sớ:
Những điều trên đây được giảng cặn
kẽ trong sách Hoa Nghiêm Huyền Đàm).
“Tánh hải” là nói đến
Lư pháp giới, “duyên khởi”
là nói đến Sự pháp giới. “Viên dung vô ngại” là nói đến Lư Sự vô ngại
pháp giới, “tương tức,
tương nhập, đế vơng trùng trùng” là nói Sự
Sự vô ngại pháp giới. Những điều này
được thuyết minh chi tiết trong bộ sách Huyền
Đàm[7], tức chú giải
của kinh Hoa Nghiêm.
(Sớ
) Khủng phiền bất tự.
(疏) 恐煩不敘。
(Sớ:
Sợ rườm rà nên chẳng tŕnh bày).
Nếu
nói đến ư nghĩa này của kinh Hoa Nghiêm sẽ phải
tốn rất nhiều thời gian, ở đây không nói nhiều!
Nếu quư vị muốn liễu giải nhiều hơn,
có thể tham khảo kinh Hoa Nghiêm, Hoa Nghiêm Kinh Sớ Luận
Toản Yếu. Đây là sách tiết yếu (trích lục những
ư tưởng quan trọng) của bộ Sớ Sao và Hợp
Luận, là kinh sách nhập môn của tông Hoa Nghiêm.
(Sớ
) Ngôn Đốn giáo nhiếp giả, như hậu nghĩa
lư trung biện.
(疏) 言頓教攝者,如後義理中辯。
(Sớ:
Nói [kinh Di Đà] thuộc về Đốn Giáo th́ sẽ biện
định trong phần nghĩa lư ở phía sau).
Kinh
này thuộc về Đốn Giáo, trong phần nghĩa lư ở
phía sau sẽ thảo luận chi tiết.
(Sớ)
Diệc thông tiền hậu giả, thông tiền Chung Giáo,
dĩ nhất thiết chúng sanh niệm Phật, định
đương thành Phật, tức định tánh, Xiển
Đề giai tác Phật cố. Thông hậu Viên Giáo giả,
diệc nghĩa lư trung biện.
(疏) 亦通前後者,通前終教,以一切眾生念佛,定當成佛,即定性闡提皆作佛故。通後圓教者,亦義理中辯。
(Sớ:
“Cũng thông với giáo trước và giáo sau”: Thông với
Chung Giáo trong phần trước v́ hết thảy chúng sanh
niệm Phật, nhất định sẽ thành Phật, tức
là hàng định tánh Thanh Văn và Xiển Đề sẽ
đều thành Phật. Thông với Viên Giáo trong phần sau
cũng sẽ được biện định trong phần
bàn luận nghĩa lư).
Định
tánh Thanh Văn và chúng sanh chẳng có thiện căn, chỉ
cần họ nhất niệm hồi tâm sẽ có thể
văng sanh. Đấy là giáo nghĩa của Đại Thừa
Chung Giáo. Trong Văng Sanh Truyện, chúng ta thấy ông
Trương Thiện Ḥa đúng là Nhất Xiển Đề,
suốt đời chẳng tin nhân quả, chẳng tin Phật
pháp, sống bằng nghề giết trâu, hằng ngày sát
sanh! Khi lâm chung, thấy rất nhiều người đầu
trâu, tức là những kẻ thân người mà đầu
trâu, đến đ̣i mạng. Đấy là tướng
địa ngục hiện tiền. Khi ấy, ông ta mới
thật sự biết có nhân quả báo ứng, những kẻ
đầu trâu ấy đều là những con trâu bị
ông ta giết hại trong một đời đến
đ̣i mạng. Khi ông ta hét lên xin cứu mạng, khéo sao có một
vị xuất gia đi qua cửa nhà ông ta, hỏi: “V́ sao
ông kêu cứu mạng?” Ông ta thưa: “Nhiều kẻ đầu
trâu đến đ̣i mạng!” Vị xuất gia ấy thắp
mấy nén hương bảo ông ta cầm, lớn tiếng
niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Ông ta dốc hết tánh mạng lớn
tiếng niệm, niệm được mấy câu bèn bảo
người nhà: Người đầu trâu chẳng c̣n nữa,
A Di Đà Phật đến tiếp dẫn ông ta văng sanh.
Lâm chung mười niệm, niệm Phật văng sanh. Nhất
Xiển Đề là kẻ chẳng có thiện căn, khi
lâm chung hồi tâm chuyển ư cũng có thể văng sanh.
Trước hết, nói bộ kinh này thành tựu con người
ổn thỏa, thích đáng, nhanh chóng, chẳng có pháp môn nào
nhanh chóng bằng. Hôm nay chúng ta giảng đến chỗ
này.
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần
35 hết
[1] Phạn ngữ (đúng ra phải đọc
là Phạm ngữ, nghĩa là ngôn ngữ của Phạm
Thiên, nhưng ta quen đọc thành Phạn ngữ) là dịch
nghĩa chữ Samkrtam (toàn hảo) hoặc nói đầy
đủ là Samskrtā vāk (ngôn ngữ
toàn hảo, thường được viết dưới
dạng Latin hóa là Sankrit) thuộc hệ ngôn ngữ
Indo-Aryan, đến nay vẫn được dùng như ngôn
ngữ chính thức của tiểu bang Uttarakhand của Ấn
Độ. Danh xưng Samskrtam đă được dùng trong
các kinh điển Veda. Tiếng Sankrit được dùng
trong kinh Phật là loại cổ điển Phạn ngữ
(nhằm phân biệt với Phệ Đà Phạn ngữ -
Vedic Sankrit). So với Phệ Đà Phạn ngữ, tiếng
Phạn trong kinh Phật bóng bẩy hơn, quy luật hành
văn phức tạp hơn. Khác với quan niệm thông thường
cho tiếng Phạn là tử ngữ, nó vẫn được
sử dụng trong các trường đại học và nhất
là trong các cơ sở tôn giáo. Đôi khi Sankrit c̣n được
gọi là Bắc Phạn để phân biệt với Nam
Phạn (Pali).
[2] Phẩm kinh này có tên đầy đủ
là Bồ Tát Vấn Minh, tức phẩm thứ mười
trong bộ Bát Thập Hoa Nghiêm. Mười vị Bồ Tát
có chữ Thủ trong danh hiệu chính là: Giác Thủ Bồ
Tát, Tài Thủ Bồ Tát, Bảo Thủ Bồ Tát, Công Đức
Thủ Bồ Tát, Mục Thủ Bồ Tát, Tinh Tấn Thủ
Bồ Tát, Pháp Thủ Bồ Tát, Trí Thủ Bồ Tát, Hiền
Thủ Bồ Tát (thật ra, chỉ có chín vị mang chữ
Thủ, do tính luôn Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nên nói là
Thập Thủ Bồ Tát). Câu hỏi của Văn Thù Bồ
Tát là: “Này Phật tử! Tâm
tánh là một, cớ sao thấy có các thứ sai biệt?
Như là đi vào đường lành hay đường
ác, các căn thiếu hay đủ, thọ sanh giống nhau
hay khác nhau, đoan chánh, xấu xí, khổ, vui khác nhau, nghiệp
chẳng biết tâm, tâm chẳng biết nghiệp, thọ
chẳng biết báo, báo chẳng biết thọ, tâm chẳng
biết thọ, thọ chẳng biết tâm, nhân chẳng biết
duyên, duyên chẳng biết nhân, trí chẳng biết cảnh, cảnh chẳng biết trí”.
Câu này được Giác Thủ Bồ Tát trả lời.
Tiếp đó, Văn Thù Bồ Tát nêu ra một loạt câu hỏi
khác, mỗi câu đều được một vị Bồ
Tát trong số chín vị Bồ Tát trên đây trả lời.
[3] Đạo Gia (c̣n gọi là Hoàng Lăo học
phái) là một trong những học phái tư tưởng
trong bá gia chư tử, chú trọng nghiên cứu chủ đề
chính trong tư tưởng của Lăo Tử và Trang Tử:
Sự tự do của con người theo triết lư Vô Vi.
Vô Vi không có nghĩa là không làm ǵ mà là thuận
theo quy luật tự nhiên, không chấp trước, câu nệ
h́nh thức. Thoạt đầu (thời Tiên Tần), Đạo
Gia được gọi là Đạo Đức gia
v́ chuyên nghiên cứu Đạo Đức Kinh của Lăo Tử.
Theo Tư Mă Viêm (cha sử gia Tư Mă Thiên), tư tưởng
Đạo Gia có thể tóm tắt như sau: Lấy Đạo
làm gốc, tự nhiên vô vi. Đạo là nguồn gốc của
vũ trụ, mà cũng là pháp tắc chỉ đạo sự
vận hành của toàn vũ trụ. Tư tưởng này
được kế thừa và triển khai thêm bởi
Trang Tử, dẫn khởi đến hứng thú nghiên cứu
của môn Huyền Học thời Ngụy - Tấn.
Trong khi đó, Đạo Giáo là một
tôn giáo đa thần, gom góp hầu như tất cả các
thần linh cổ đại của người Hán lẫn
các dân tộc bị Hán hóa, và số lượng thần
thánh được liên tục bổ sung qua những
đàn cầu cơ (kể cả những thần thánh do
các thanh đồng bịa ra). Họ vay mượn tư
tưởng của Đạo Gia (nhưng do tư tưởng
Đạo Gia quá huyền áo, các Đạo Sĩ chỉ thường
vay mượn những danh từ trong Đạo Gia, gán cho
đủ thứ nội dung hỗn tạp do họ bịa
đặt), pha trộn với những tín ngưỡng dân
gian, kể cả học thuyết Âm Dương, Ngũ
Hành, Phong Thủy, Địa Lư, cùng những tṛ mê tín dị
đoan, bùa chú, cầu cơ, lên đồng, trừ tà, tróc
quái, luyện đan, pḥng trung thuật v.v... Họ cũng
vay mượn những quan niệm nhân quả của Phật
giáo, cũng như những nghi thức sám hối, siêu độ
của Phật giáo để tạo thành nghi thức riêng,
thậm chí bịa chuyện Lăo Tử đi
về phương Tây, hóa thành Phật Thích Ca và ghi chép thành
bản kinh Lăo Tử Hóa Hồ, suy tôn Lăo Tử thành Đạo
Đức Chân Quân hoặc Thái Thượng Lăo Quân. Đạo
Giáo được coi là hậu thân của Ngũ
Đấu Mễ Đạo (về sau gọi là Thiên Sư
Đạo) do Trương Đạo Lăng sáng lập vào
năm 142 thời Tây Hán.
[4] B́nh Đông là một huyện ở cực
[5] Kinh này có tên gọi đầy đủ
là Phật Thuyết Pháp Diệt Tận Kinh, đă mất tên
người dịch. Kinh này được đánh số
396 trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. Đức
Phật giảng kinh này tại nước Câu Di Na Kiệt
(Kushinagar). Phật cho biết sau khi Ngài diệt độ,
sẽ có yêu ma quỷ quái mạo danh Phật pháp, giả làm
đệ tử Phật để phá hoại Phật pháp.
Tuy có các Bồ Tát, La Hán, Bích Chi Phật tận lực cứu
văn Phật pháp, nhưng vẫn không chế ngự nổi sức
phá hoại của ma. Phật huyền kư hai kinh sẽ bị
diệt đầu tiên là Thủ Lăng Nghiêm và Ban Châu Tam Muội,
màu áo ca-sa của sa-môn sẽ chuyển thành nhạt dần.
[6] Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện
nói ở đây chính là phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện
trong Tứ Thập Hoa Nghiêm, tức là phẩm Nhập Pháp
Giới trong Bát Thập Hoa Nghiêm.
[7] Tác phẩm này gọi đủ là Hoa
Nghiêm Kinh Sớ Sao Huyền Đàm do tổ Thanh Lương
Trừng Quán biên soạn, gồm tám quyển. Thật ra,
đây chỉ là tác phẩm trích yếu phần Huyền
Nghĩa trong hai bộ Hoa Nghiêm Kinh Sớ và Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ
Diễn Nghĩa Sao. Do tác phẩm này quá cô đọng, uyên
áo, về sau lại có hai tác phẩm chú giải bộ sách
này là Hoa Nghiêm Huyền Đàm Quyết Trạch do ngài Tiên Diễn
biên soạn và Huyền Đàm Hội Huyền Kư do ngài Phổ
Thụy biên soạn.