A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 36
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt:
Huệ Trang và Đức Phong
Tập 71
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang một trăm lẻ năm:
Tam, phần nhiếp.
三、分攝
(Ba, thuộc về
phần nào trong mười hai thể loại kinh điển).
Đoạn thứ ba là Phần
Nhiếp, phần trước đă nói về Tạng Nhiếp
và Giáo Nhiếp.
(Huyền Nghĩa) Phần giả,
thập nhị phần giáo, như Tu Đa La, Kỳ Dạ
đẳng, kim thử kinh giả, Tu Đa La, Ưu Đà
Na, nhị phần nhiếp cố.
(玄義) 分者,十二分教,如脩多羅祇夜等。今此經者,脩多羅、優陀那,二分攝故。
(Huyền Nghĩa: “Phần” là mười hai phần
giáo, như Trường Hàng, Trùng Tụng v.v... Nay kinh này thuộc
về hai phần Trường Hàng và Vô Vấn Tự Thuyết).
Đức Phật nói hết thảy
các kinh, có các thứ thể tài (genre) khác nhau. Cổ nhân gọi
thể tài là Phần. Kinh Phật gồm có mười hai
Phần, c̣n gọi là mười hai bộ (“bộ” là bộ phận), tức là mười
hai loại thể tài khác nhau. Tu Đa La (Sūtra) là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Khế
Kinh, thật ra là Trường Hàng, nay ta gọi [Trường
Hàng] là “tản văn”
(văn xuôi), theo phương thức tản văn. Kinh Di
Đà từ đầu đến cuối được
viết theo thể tài tản văn. Thể tài gồm
mười hai loại, ở đây đại sư tỉnh
lược, trong Phật Học Từ Điển và Tam Tạng
Pháp Số[1] đều nói rất
chi tiết.
(Sớ ) Phần giả, phân tề.
(疏) 分者,分齊。
(Sớ: Phần là phân chia rạch ṛi).
“Tề”
(齊) là chỉnh tề,
chia thành từng bộ phận, mỗi bộ phận tách
biệt rơ ràng với những bộ phận khác.
(Sớ ) Dĩ nhất đại
thời giáo.
(疏) 以一代時教。
(Sớ: Đem giáo pháp trong suốt một đời
đức Phật).
“Nhất
đại thời giáo” là Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện
trong thế gian, giảng kinh, thuyết pháp suốt bốn
mươi chín năm. Tạng, Giáo, Phần do người
đời sau phân chia, phán định, thuở Phật tại
thế không có. V́ sao người đời sau phải phân
loại? V́ trong hết thảy các kinh, đức Phật
hoàn toàn chẳng làm giống như cách sắp xếp tùy
theo tŕnh độ học sinh trong nhà trường, từ Tiểu
Học, Trung Học, Đại Học, đến nghiên cứu
sinh, chẳng giống như vậy. Thời đức Phật
không có nhà trường, hết thảy các kinh được
nói ra đều do có người đến thỉnh giáo.
Những người đến hỏi có người tŕnh
độ rất sâu, có kẻ tŕnh độ rất cạn,
đức Phật khéo quan sát căn cơ, đối với
người tŕnh độ cạn bèn nói pháp cạn, đối
với người tŕnh độ sâu bèn nói pháp sâu, khiến
cho người nghe ai nấy đều hoan hỷ. Do vậy,
kinh Phật có độ sâu - cạn khác nhau rất lớn.
Người đời sau nhằm dạy học thuận
tiện đă phân loại kinh Phật, những kinh điển
nào thích hợp với người căn cơ nông cạn,
dành cho người tŕnh độ nông cạn học, những
kinh điển nào thích hợp cho người có tŕnh độ
bậc trung học tập, những kinh điển nào thích
hợp với người có tŕnh độ bậc cao học
tập. Do vậy, chia Tam Tạng thành Ngũ Giáo Tiểu, Thỉ,
Chung, Đốn, Viên, lại phân chia nhỏ hơn thành
Mười Hai Phần Giáo nhằm nghiên cứu kết cấu
văn tự và hệ thống tư tưởng của
kinh văn.
(Sớ) Biệt kỳ phân tề,
các hữu sở thuộc dă. Kỳ Dạ, thử vân Trùng Tụng,
Ưu Đà Na, thử vân Vô Vấn Tự Thuyết.
(疏) 別其分齊,各有所屬也。祇夜,此云重頌。優陀那,此云無問自說。
(Sớ: Phân định sự
khác biệt rạch ṛi giữa các kinh, mỗi kinh đều
thuộc về một thể tài nhất định. Kỳ
Dạ được cơi này dịch là Trùng Tụng, Ưu
Đà Na được cơi này dịch là Vô Vấn Tự
Thuyết).
“Biệt”
là khu biệt (區別: phân chia rạch ṛi thành từng phần).
Kỳ Dạ (Geya) là thi ca, kệ tụng, câu văn hết
sức tề chỉnh, mỗi bài gồm bốn câu. Kệ
có các h́nh thức bốn chữ, năm chữ, bảy chữ,
có gieo vần, có thể phổ thành ca khúc để diễn
xướng. “Kim thử kinh giả”
(nay kinh này), kinh này là Tu Đa La, tức là thể tài tản
văn, chẳng có kệ tụng, mà cũng chẳng có mật
chú. Tản văn, kệ tụng, mật chú là ba thể tài
lớn trong mười hai phần. Ưu Đà Na (Udāna)
là Vô Vấn Tự Thuyết (không ai hỏi mà tự nói). Bộ
kinh này cũng thuộc loại Vô Vấn Tự Thuyết,
chẳng có ai khải thỉnh. Chúng ta thấy nhiều kinh
điển đều do có người khải thỉnh,
chẳng hạn như kinh Kim Cang do tôn giả Tu Bồ
Đề bước ra thỉnh pháp, hướng về
Thích Ca Mâu Ni Phật nêu câu hỏi, đức Phật bèn giải
đáp. Kinh Di Đà chẳng có ai khải thỉnh, do đức
Phật tự nói ra, Vô Vấn Tự Thuyết!
(Sớ ) Thập Nhị Bộ,
khủng phiền bất tự.
(疏) 十二部,恐煩不敘。
(Sớ: Mười
hai bộ, sợ rườm rà nên không tŕnh bày).
Giải thích từng điều
một rất phiền phức nên tỉnh lược.
(Sớ) Ngôn nhị phần nhiếp
giả, nhất, Tu Đa La nhiếp, dĩ thị Khế
Kinh cố; nhị, Ưu Đà Na nhiếp, dĩ bất
đăi thỉnh vấn, tự cáo Thân Tử cố.
(疏) 言二分攝者,一、脩多羅攝,以是契經故;二、優陀那攝,以不待請問,自告身子故。
(Sớ: Nói “thuộc
về hai phần”: Một là thuộc về Tu Đa La, do
là Khế Kinh. Hai là thuộc về Ưu Đà Na do chẳng
đợi thưa hỏi mà tự bảo ngài Xá Lợi Phất).
Thân Tử là ngài Xá Lợi Phất,
Xá Lợi Phất (Śāriputra) là tiếng Phạn,
dịch sang tiếng Hán là Thân Tử.
Tam, nghĩa lư thâm quảng.
三、義理深廣。
(Khoa mục lớn
thứ ba [trong Thập Môn Khai Khải] là nghĩa lư sâu rộng).
Chúng ta sắp thảo luận
những đạo lư trong kinh Di Đà. Đoạn lớn
này có thể chia thành ba đoạn nhỏ.
Sơ, nhiếp đốn, nhị
phần viên, tam bàng thông.
初 攝頓,二分圓,三旁通。
(Một là kinh này thuộc vào Đốn giáo, hai là
kinh này có đôi phần thuộc Viên Giáo, và ba là luận định
những kinh điển khác có ư nghĩa tương thông).
Trong Ngũ Giáo, kinh Di Đà thuộc
Đốn Giáo, “đốn”
(頓) là đốn siêu (nhanh chóng vượt
thoát). Không riêng ǵ Liên Tŕ đại sư có cách nh́n như vậy,
mà Khuy Cơ đại sư của Pháp Tướng Duy Thức
Tông cũng nhận định giống như thế. Ngài nói
kinh này, pháp môn này viên đốn đến cùng cực. V́
sao? V́ có thể thành công trong bảy ngày. Quư vị nghĩ
xem: Pháp môn nào có thể thành Phật trong bảy ngày? T́m không
ra! Pháp môn này đúng là bảy ngày thành Phật, từ một
ngày cho đến bảy ngày, kinh nói rất rơ ràng. Cũng
có thể là chúng ta nghe rồi chẳng tin, thật sự là
bảy ngày có thể thành tựu ư? Trong Cao Tăng Truyện
hay Văng Sanh Truyện, quả thật có người niệm
Phật bảy ngày bèn văng sanh.
Đời Tống, pháp sư
Oánh Kha trong quá khứ chưa từng niệm Phật, mà
cũng chẳng biết đến pháp môn này. Sau khi ông ta xuất
gia, giới luật chẳng nghiêm, chẳng giữ Thanh Quy,
tạo tội nghiệp rất nặng, nhưng ông ta có thiện
căn. Nói “thiện căn”
nghĩa là ông ta có thể tự giác, biết chính ḿnh
tương lai nhất định đọa địa ngục,
biết địa ngục khổ sở, địa ngục
đáng sợ, do vậy, thỉnh giáo đồng học:
“Có cách nào để tương lai chẳng đọa
địa ngục hay không?” Các đồng học bảo
ông ta: “Chỉ có một biện pháp, niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ. Tây Phương Cực Lạc thế
giới không có ba ác đạo, quyết định chẳng
đọa địa ngục”. Sau khi nghe xong, ông ta rất
hoan hỷ, trở về liêu pḥng đóng cửa niệm Phật,
cầu sanh Tịnh Độ. Ông ta chẳng ăn, chẳng
uống, cũng chẳng ngủ nghỉ, niệm Phật
suốt ba ngày như thế, cảm A Di Đà Phật hiện
thân. A Di Đà Phật bảo ông ta: “Thọ mạng của
ông hăy c̣n mười năm nữa, hăy khéo tu tập trong
mười năm ấy, đến khi thọ mạng
đă hết, ta lại đến tiếp dẫn”. Ông ta bạch
A Di Đà Phật: “Con căn tánh kém hèn rất nặng, không
thể chống đỡ những dụ dỗ, mê hoặc.
Hễ vừa bị bên ngoài dẫn dụ, con lại tạo
tội. Nếu con sống thêm mười năm nữa, chẳng
biết sẽ lại tạo bao nhiêu tội, thôi đi! Con
không cần mười năm thọ mạng, nay con muốn
theo Phật”.
Ông ta thỉnh cầu A Di Đà
Phật như vậy, A Di Đà Phật đúng là rất từ
bi, bèn nói: “Được rồi! Ba ngày sau, ta sẽ đến
tiếp dẫn ông”. Ông ta mở cửa pḥng, bảo đại
chúng: “Ba ngày sau A Di Đà Phật đến tiếp dẫn
tôi văng sanh”. Trong chùa chẳng có ai tin, hạng người
như vậy làm sao có thể văng sanh? Nhưng ông ta nói lời
ấy h́nh như chẳng giả dối; hơn nữa, thời
gian rất ngắn, ba ngày thôi! Coi thử ngươi nói thật
hay giả? Đến ngày thứ ba, ông ta thỉnh cầu
đại chúng trợ niệm tiễn ông ta văng sanh. Ông ta tắm
rửa, thay y phục sạch sẽ xong, niệm xong kinh Di
Đà, lại niệm Phật hiệu, Phật hiệu vừa
niệm mấy câu bèn bảo mọi người: “Phật
đến rồi, tôi phải theo Ngài ra đi”, ba ngày văng
sanh!
Do vậy, chẳng có một
pháp môn nào nhanh bằng pháp môn này. Con người hiện thời
v́ sao không thành công? Con người hiện thời ngoài miệng
nói muốn văng sanh, nhưng trong tâm chẳng muốn đi,
vẫn lưu luyến thế giới này. Nếu chúng ta
đả Phật Thất ở đây, phía trên treo một
tấm biển: “Bảy ngày bảo đảm văng sanh”,
cũng chẳng có ai đến dự! Vừa trông thấy,
họ bèn nói: “Thôi rồi! Bảy ngày phải chết, không
đến đâu!” Con người hiện tại “miệng
nói vậy, ḷng chẳng nghĩ vậy”. Trước kia,
ḷng người ta thật sự muốn văng sanh nên mới
có thể thành công! V́ thế, trong lịch sử, quả thật
có những trường hợp như vậy, có những
chuyện như thế. Cổ đức phán định [kinh
A Di Đà] là Đốn Giáo, đốn đến cùng cực,
đốn siêu! Chúng ta nên hiểu điều này.
(Huyền Nghĩa) Dĩ tri thử
kinh nhiếp ư Đốn Giáo, thiểu phần thuộc
Viên.
(玄義) 已知此經攝於頓教,少分屬圓。
(Huyền Nghĩa:
Đă biết kinh này thuộc về Đốn Giáo, có chút
phần Viên).
“Thiểu
phần thuộc Viên”: Trong ấy có ư nghĩa Viên Giáo, chẳng
phải là thuần Viên, chỉ có một phần thuộc
Viên Giáo.
(Huyền Nghĩa) Vị tri sở
cụ nghĩa lư, đương phục vân hà?
(玄義) 未知所具義理,當復云何。
(Huyền Nghĩa:
Chưa biết nghĩa lư trọn đủ lại là
như thế nào?)
Nay lại phải hỏi hai
danh từ Viên và Đốn, danh từ đương nhiên
chứa đựng ư nghĩa, chúng ta c̣n chưa hiểu rơ ư
nghĩa, đương nhiên phải thảo luận kỹ
càng hơn. Sau khi hiểu rơ nghĩa lư, đối với
pháp môn này chúng ta mới có thể thật sự sanh khởi
tín tâm, ḷng tin từ đâu mà phát sanh? Sanh từ lư luận.
Hiểu rơ đạo lư, ta sẽ đương nhiên tin
tưởng. Đủ thấy thảo luận nghĩa lư
và ḷng tin của ta đối với pháp môn này có mối
quan hệ rất lớn.
(Huyền Nghĩa) Tiên minh thử
kinh nhiếp ư Đốn giả, cái vị tŕ danh tức
sanh, tật siêu, tốc chứng, vô vu khúc cố, chánh thuộc
ư Đốn.
(玄義) 先明此經攝於頓者,蓋謂持名即生,疾超速證,無迂曲故,正屬於頓。
(Huyền Nghĩa: Trước
hết, giảng rơ kinh này thuộc Đốn Giáo. Ấy là
v́ tŕ danh liền văng sanh, vượt thoát, chứng ngộ
nhanh chóng, chẳng quanh co, ṿng vèo, đúng là thuộc về
Đốn Giáo).
Xếp ư nghĩa Đốn lên
đầu, quả thật rất có lư. Pháp môn này xác thực
thuộc vào loại pháp môn đốn siêu, văng sanh trong một
đời này đúng là chẳng thể nghĩ bàn. Pháp môn
này đúng là pháp môn thành Phật trong khi c̣n sống. Các vị
đại đức xưa nay bảo chúng ta: Thiền thuộc
về Đốn Giáo, Mật nói “tức thân thành Phật”,
đều chẳng bằng pháp môn Niệm Phật! Trong Thiền,
dẫu đắc Thiền Định, cũng chẳng qua
là sanh lên Tứ Thiền Thiên mà thôi, chẳng thể ra khỏi
tam giới. [Người tu] Thiền Tông Trung Quốc đến
cuối cùng vẫn phải niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ. Thiền Môn Nhật Tụng là nghi thức tụng
niệm của nhà Thiền, khóa tối tụng kinh A Di
Đà, niệm Phật, đến khi bệnh nặng bèn niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu người ấy
không làm như vậy, dẫu có Định lực rất
sâu, chỉ có thể sanh trong cơi trời Tứ Thiền
Thiên mà thôi, chẳng thể ra khỏi tam giới, chẳng
rốt ráo. Mật Tông nói “tức
thân thành Phật” (thành Phật ngay trong cái thân này), chẳng
qua là liễu sanh tử mà thôi, nhưng cảnh giới liễu
sanh tử của họ thật sự chỉ bằng với
Tiểu Thừa A La Hán, họ có thật sự liễu sanh
tử hay chăng? [Đừng tưởng lầm] hễ
tu [Mật Tông] bèn có thể liễu sanh tử, không có lẽ
ấy! Nếu tu thành công th́ mới được, tu chẳng
thành công sẽ vô ích. Phải đoạn được Kiến
Tư phiền năo, mới tính là tu thành công. Chưa đoạn
Kiến Tư phiền năo, chẳng thể liễu sanh tử,
thoát tam giới. Do điều này biết rằng: Mật
thật sự chẳng dễ dàng!
Tịnh Độ thành tựu dễ
dàng do “đới nghiệp văng sanh”, chẳng cần phải
đoạn Kiến Tư phiền năo. Quư vị phải hiểu:
Trong tất cả kinh Phật, chỉ có bộ kinh này nói chẳng
cần đoạn Kiến Tư phiền năo mà có thể
văng sanh. Trừ bộ kinh này ra, bất cứ pháp môn nào khác
cũng đều không có cách nói này. Nói cách khác, trong tám vạn
bốn ngàn pháp môn, chỉ có pháp môn này là đới nghiệp
văng sanh; nhưng quư vị phải hiểu: Văng sanh Tây
Phương Cực Lạc hoàn toàn chẳng phải là thành
Phật, v́ quư vị chưa đoạn Kiến Tư phiền
năo, vẫn là thân phận trời, người. Nói theo các
pháp môn khác thuộc Tông Môn, Giáo Hạ, chẳng thể coi là
có thành tựu. Chúng tôi nêu tỷ dụ, giống như từ
thế giới Sa Bà di dân sang Tây Phương Cực Lạc
thế giới, địa vị của chúng ta hoàn toàn chẳng
được nâng cao hơn, mà mang địa vị giống
hệt như vậy di dân sang đó. Đốn là đốn
ở chỗ này: Di dân sang đó. Viên ở chỗ nào? Tây
Phương Cực Lạc thế giới hết sức
chẳng thể nghĩ bàn! Chỉ cần quư vị sanh vào
Tây Phương Cực Lạc thế giới, dẫu cho
địa vị thấp đến đâu đi nữa, Hạ
Phẩm Hạ Sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, đến
nơi đó bèn chứng trọn vẹn ba món Bất Thoái.
Do vậy, pháp môn này cũng thuộc vào Viên, đạo lư Viên
nh́n từ chỗ này; chẳng nói là Thuần Viên v́ Kiến
Tư phiền năo chưa đoạn. Nếu là Thuần
Viên th́ không chỉ Kiến Tư phiền năo phải đoạn,
mà Trần Sa phiền năo cũng phải đoạn, vô minh
phải phá một phẩm. Thuần Viên là Pháp Thân đại
sĩ, thuộc vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm.
(Sớ) Chánh thuộc Đốn
nghĩa giả, dĩ bác địa phàm phu, dục
đăng thánh địa, kỳ sự thậm nan, kỳ
đạo thậm viễn.
(疏) 正屬頓義者,以博地凡夫,欲登聖地,其事甚難,其道甚遠。
(Sớ: Kinh này hoàn
toàn thuộc vào nghĩa lư Đốn giáo, bởi hạng
phàm phu sát đất mà muốn đạt lên địa vị
thánh th́ chuyện ấy rất khó, đạo ấy rất
xa vời).
Câu này ư nói sự khó khăn ấy
quả thật là khó. Nay chúng ta một tí ti tập khí
cũng chẳng dễ ǵ đoạn trừ, huống là
mong chứng cảnh giới của bậc thánh nhân trong Phật
pháp, ắt phải đoạn trừ những tập khí
vi tế. Khó làm mà có thể làm được, khó nhẫn mà
có thể nhẫn được, khó đoạn mà có thể
đoạn được, đó chính là đoạn Hoặc
chứng Chân. Đoạn Hoặc khó! Chứng Chân khó! “Kỳ đạo thậm viễn”
(Đạo ấy rất xa vời): Từ Sơ Phát Tâm cho
đến khi thành Phật, có tất cả năm
mươi lăm tầng cấp địa vị Bồ
Tát trong Đại Thừa, đó là nói theo kinh Lăng Nghiêm;
nay chúng ta thuộc tầng cấp nào? Giống như đi
học, có năm mươi lăm lớp, nay chúng ta ở
lớp nào? Thưa quư vị, chúng ta đứng ngoài cửa,
vẫn chưa vào trong, nhập môn rồi mới có thể
tính. Quư vị c̣n chưa học lớp Một, vẫn
đứng ngoài cửa. Lớp Một là tŕnh độ ǵ
vậy? Chúng ta chỉ nói tới Viên Giáo, lớp Một chính
là địa vị Sơ Tín Bồ Tát trong Viên Giáo. Bồ
Tát thuộc địa vị Sơ Tín đoạn sạch
tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới.
Thử hỏi: Chúng ta đă đoạn được mấy
phẩm trong tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc? Một
phẩm cũng chưa đoạn! Chưa có tư cách học
lớp Một! Đoạn sạch tám mươi tám phẩm
Kiến Hoặc mới là địa vị Sơ Tín, trên
đó là Nhị Tín, Tam Tín cho đến Thập Tín, sau đấy
là Sơ Trụ cho đến Thập Trụ, Sơ Hạnh
cho đến Thập Hạnh, Sơ Hồi Hướng
cho đến Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh,
Sơ Địa cho đến Thập Địa, lại
đến Đẳng Giác Bồ Tát, Bồ Đề đạo
đúng là xa xôi! Quư vị nhất định phải hiểu,
nay chúng ta ngay cả lớp Một Tiểu Học mà c̣n
chưa đủ tư cách, nếu học các pháp môn khác,
làm sao có thể thành tựu? Chính ḿnh phải nghiêm túc suy
nghĩ bản thân ḿnh thuộc căn tánh nào, quyết định
chớ nên lừa ḿnh, dối người. Tư cách học
lớp Một c̣n chưa có, làm thế nào đây? Hành theo pháp
môn này! Nay chúng ta là phàm phu sát đất, một phẩm Kiến
Tư phiền năo chưa đoạn, dùng pháp môn này để
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới.
(Sớ) Kim đản tŕ danh, tức
đắc văng sanh.
(疏) 今但持名,即得往生。
(Sớ: Nay chỉ tŕ danh liền được
văng sanh).
Nay chúng ta chỉ cần tin
tưởng, chỉ cần thật sự chịu phát nguyện,
thật sự muốn văng sanh, suốt ngày từ sáng đến
tối nghĩ tới A Di Đà Phật, niệm A Di Đà
Phật, có thể làm như vậy, trong thời gian hai ba
năm sẽ thành công. Nếu [công phu] tưởng Phật,
niệm Phật của quư vị lúc gián đoạn, lúc liên
tục, như có, như không, sợ rằng suốt đời
này cũng chẳng thể thành công. Nếu quư vị coi
đây là chuyện bậc nhất phải làm, chắc chắn
sẽ có hy vọng [văng sanh].
(Sớ) Kư văng sanh hỹ, tức
đắc Bất Thoái.
(疏) 既往生矣,即得不退。
(Sớ: Đă văng sanh liền đắc Bất
Thoái).
Dẫu là Hạ Phẩm Hạ Sanh,
hễ về bên đó liền bất thoái chuyển. Nói thật
ra, bất thoái chuyển chẳng đơn giản, v́ sao?
Bất thoái chuyển th́ quư vị thuộc vào địa vị
thánh nhân. V́ thế, pháp môn này gọi là “pháp khó tin”, thật
sự khó! Có ba loại Bất Thoái:
-
Thứ nhất là Vị Bất Thoái, tức là địa vị
chẳng bị lui sụt. Chúng ta thường nói Vị Bất
Thoái chính là địa vị Sơ Tín Bồ Tát trong Viên
Giáo. Ngài học lớp Một, chẳng bị lùi xuống
nữa. Đức Phật bảo chúng ta: Đoạn sạch
tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc là địa vị
Sơ Tín Bồ Tát trong Viên Giáo; tuy vẫn chưa thoát khỏi
tam giới, quyết định chẳng đọa ác
đạo. Từ đấy trở đi, vị Bồ
Tát ấy chỉ có tiến lên, chẳng lui sụt, đă
được bảo đảm. Sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới dẫu là Hạ
Hạ phẩm phàm phu cũng thuộc địa vị Bất
Thoái. Nói cách khác, người trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới chẳng có sự thoái đọa này (tức
là địa vị không bị lui sụt).
- Thứ hai là Hạnh Bất
Thoái, nói thông thường, Hạnh Bất Thoái là từ A La
Hán trở lên, Tứ Quả La Hán, trong địa vị Bồ
Tát th́ là Đệ Thất Tín. Vị Bất Thoái là Sơ
Tín, Hạnh Bất Thoái là Đệ Thất Tín, bằng với
địa vị Thất Tín Bồ Tát trong Viên Giáo.
-
Loại thứ ba là Niệm Bất Thoái, minh tâm kiến
tánh, trong Viên Giáo là từ Sơ Trụ Bồ Tát trở lên.
Người
Hạ Phẩm Hạ Sanh là Vị Bất Thoái, Hạnh Bất
Thoái, Niệm Bất Thoái, nói cách khác, trong một đời
có thể bằng với Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên
Giáo, quả thật tuyệt diệu! So với A La Hán và
Bích Chi Phật, cao hơn quá nhiều! A La Hán, Bích Chi Phật
chỉ bằng với Đệ Thất Tín Bồ Tát. “Bằng” là nói về mức
độ đoạn phiền năo giống nhau, chứ trí
huệ khác nhau. Trí huệ của họ (A La Hán, Bích Chi Phật)
kém xa trí huệ của Thất Tín Bồ Tát. Do vậy, sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới là thành
tựu! Đấy là ư nghĩa viên măn; hiểu được
chỗ tốt đẹp này, nhất định mong văng
sanh!
(Sớ) Khả vị đàn chỉ
viên thành, nhất sanh thủ biện.
(疏) 可謂彈指圓成,一生取辦。
(Sớ: Có thể
nói là thành tựu viên măn trong khoảng khảy ngón tay; hoàn tất
trong một đời).
“Đàn
chỉ” ư nói nhanh chóng. Thành tựu trong khoảng khảy
ngón tay, không chỉ thành tựu, mà c̣n thành tựu viên măn. Cổ
nhân nói: “Đàn chỉ viên thành
bát vạn môn” (trong khoảng khảy ngón tay viên măn tám vạn
pháp môn), tám vạn bốn ngàn pháp môn được gồm
thâu trong một câu A Di Đà Phật, chẳng sót pháp nào! “Nhất sanh thủ biện
tăng-kỳ quả” (chỉ một đời mà tu
đạt cái quả vốn phải tu trong nhiều
A-tăng-kỳ kiếp). Kinh nói thành Phật phải mất
ba đại A-tăng-kỳ kiếp, chúng ta không cần
đến, một khi văng sanh liền hoàn tất chuyện
thuộc ba A-tăng-kỳ kiếp. Pháp sư Oánh Kha đời
Tống, ba ngày đă làm xong, người khác phải mất
ba A-tăng-kỳ kiếp mới có thể hoàn tất. Trong
thế gian này, [những trường hợp] tu tập thành
công trong ba năm nhiều lắm! Niệm Phật ba
năm, biết trước lúc mất, tự tại văng
sanh.
Trong bản chú giải kinh Di
Đà của pháp sư Viên Anh, Sư có dẫn chứng chuyện
ông Vương Đả Thiết ở Hành Châu, đây là
chuyện thật! Tại Hành Dương, tỉnh Hồ
Vị pháp sư ấy bảo
ông ta: “Chỉ cần niệm Phật, cầu sanh Tịnh
Độ là được. Niệm A Di Đà Phật cầu
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
chuyện ấy chẳng tốn tiền, cũng chẳng cần
phải ra ngoài, tới chùa miếu, cũng chẳng tốn
thời gian”. Ông ta nghe xong rất hoan hỷ, làm theo. Mỗi
ngày rèn sắt, cứ đập búa xuống liền niệm
A Di Đà Phật, giở búa lên bèn A Di Đà Phật. Thụt
ống bễ vào, A Di Đà Phật, kéo ống bễ ra, A
Di Đà Phật. Suốt ngày từ sáng đến tối
là A Di Đà Phật. Vợ ông ta ở bên cạnh nói: “Ông
rèn sắt đă quá khổ sở, quá mệt mỏi rồi,
trong miệng vẫn niệm A Di Đà Phật có phải là
càng mệt hơn hay sao?” Ông ta nói: “Trước kia, tôi mệt
thật. Nay hễ niệm A Di Đà Phật, tinh thần
sung măn gấp trăm lần, chẳng mệt mỏi ǵ hết!”
Niệm như vậy ba năm,
có một hôm, ông ta bảo vợ: “Tôi sắp về nhà”. Bà vợ
nói: “Đây chẳng phải là nhà của ông hay sao?” Ông ta
nói: “Nhà tôi bên Tây Phương Cực Lạc thế giới!”
Nói xong lại tiếp tục rèn sắt, rèn một lúc bèn
đọc một bài kệ. Ông ta chưa từng đi học,
chẳng biết chữ, lúc sắp ra đi để lại
một bài kệ:
Đinh
đinh đang đang,
Cửu luyện
thành cang,
Thái b́nh tương
cận,
Ngă văng Tây
Phương.
(Binh binh, beng beng,
Luyện
măi thép bền,
Thái b́nh sắp đến,
Ta về Tây Phương).
Ông ta đập búa xuống rồi
đứng văng sanh. Khi văng sanh, mùi hương lạ ngập
nhà, hàng xóm chung quanh đều ùa đến xem, đứng
văng sanh! V́ thế, cả một giải Hành Dương
phong khí niệm Phật đặc biệt thịnh hành là
do ông ta đă làm gương tại đó: Kẻ chẳng
biết chữ, niệm Phật ba năm bèn văng sanh, ra
đi tự tại dường ấy, ba năm thành công! Đích
xác là hoàn thành chuyện của ba đại A-tăng-kỳ
kiếp trong một đời! Đương nhiên, pháp này
thuộc về Đốn Giáo, hoàn thành trong một đời.
(Sớ) Như tương bảo
vị, trực thọ phàm dung, bất lịch giai cấp,
phi Tiệm giáo vu hồi khuất khúc chi tỷ, cố thuộc
Đốn nghĩa.
(疏) 如將寶位,直授凡庸,不歷階級,非漸教迂迴屈曲之比,故屬頓義。
(Sớ: Như
đem ngôi báu trao ngay cho kẻ tầm thường, kém cỏi,
chẳng trải qua từng tầng cấp. Tiệm Giáo
quanh co, ṿng vèo, chẳng thể nào sánh bằng, nên pháp này thuộc
về nghĩa lư Đốn giáo).
“Bảo
vị” (ngôi báu) giống như ngôi vị của quốc
vương. Một kẻ b́nh dân bá tánh chẳng cần phải
thăng từng cấp từ huyện thái gia (tri huyện),
tri phủ, tuần phủ, mà ngay lập tức được
trao cho vương vị, một bước lên trời,
đó là ư nghĩa của Đốn. V́ thế, pháp môn Niệm
Phật chẳng có cấp bậc, chẳng cần phải
tu học dần dần, mà là đốn siêu, đốn chứng.
(Huyền Nghĩa) Hoặc nạn.
(玄義) 或難。
(Huyền Nghĩa: Nếu gạn hỏi).
Có người đến vấn
nạn.
(Huyền Nghĩa) Đốn Giáo
nhất niệm bất sanh, tức danh vi Phật. Ngũ
pháp tam tự tánh giai Không, bát thức nhị vô ngă câu khiển.
(玄義) 頓教一念不生,即名為佛。五法三自性皆空,八識二無我俱遣。
(Huyền Nghĩa: Trong Đốn Giáo, một niệm
chẳng sanh bèn gọi là Phật. Năm pháp, ba tự tánh
đều là Không; tám thức, hai thứ vô ngă đều mất
sạch).
Đây là nói theo Pháp Tướng
Tông “ngũ pháp, tam tự tánh,
bát thức, nhị vô ngă”, Đốn giáo bỏ sạch
những thứ này. Trong tâm thật sự làm được
“nhất niệm bất sanh”, Lục Tổ nói: “Vốn chẳng có một vật,
chỗ nào nhuốm bụi trần”, đấy là Đốn.
Thiền Tông Nam Truyền của Lục Tổ là pháp môn
Đốn Giáo.
(Huyền Nghĩa) Kim tŕ danh niệm
Phật, thị vi hữu niệm, vân hà danh Đốn?
(玄義) 今持名念佛,是為有念,云何名頓。
(Huyền Nghĩa:
Nay tŕ danh niệm Phật là hữu niệm, sao có thể gọi
là Đốn?)
Câu hỏi này rất hay! Dùng giáo
nghĩa Đốn Giáo để cật vấn người
niệm Phật, người niệm Phật và giáo
nghĩa Đốn Giáo chẳng phù hợp! Đốn Giáo
là thành Phật, c̣n Đốn ở đây là văng sanh. Tôi vừa
mới nói đó, văng sanh trọn chẳng phải là thành Phật,
nhưng Tây Phương Cực Lạc thế giới
phước báo quá lớn, hễ văng sanh sẽ giống
như thành Phật. Giống như thành Phật, chứ
hoàn toàn chẳng phải là thành Phật. Cho nên nó thuộc về
Phần Viên, chẳng phải là Thuần Viên, đạo lư ở
chỗ này.
(Huyền Nghĩa) Đáp: Dĩ
nhất tâm bất loạn, chánh vị vô niệm.
(玄義) 答:以一心不亂,正謂無念。
(Huyền Nghĩa:
Đáp: Do nhất tâm bất loạn chính là vô niệm).
Dùng giáo nghĩa của kinh này
để trả lời. Giáo nghĩa và tông chỉ của
kinh này yêu cầu chúng ta niệm Phật đến mức
nhất tâm bất loạn.
(Huyền Nghĩa) Nhược hữu niệm giả,
bất danh nhất tâm, đản đắc nhất tâm, hà
pháp bất tịch?
(玄義) 若有念者,不名一心,但得一心,何法不寂。
(Huyền Nghĩa: Nếu
hữu niệm sẽ chẳng gọi là nhất tâm, chỉ
cần đạt được nhất tâm th́ có pháp nào chẳng
vắng lặng?)
Nh́n từ điểm này, kinh Di
Đà quả thật thuộc Đốn Giáo; nhưng đối
với Đốn Giáo, nếu quư vị đốn không được,
thất bại sẽ chuốc phiền, giống như một
bước lên trời, lên không được, rơi xuống
sẽ tan thân nát xương, phiền phức to lắm! Ư
nghĩa Đốn của pháp môn này và ư nghĩa Đốn
của các pháp kia (tức các pháp môn thuộc Đốn Giáo)
khác nhau; nếu niệm đến mức nhất tâm bất
loạn sẽ giống như các pháp môn Đốn Giáo khác.
Nếu chưa thể niệm đến nhất tâm bất
loạn, th́ niệm đến mức công phu thành phiến
đới nghiệp văng sanh vẫn thuộc vào Đốn
Giáo. Do vậy, pháp môn này nhất định có thành tựu.
(Sớ) Ngũ pháp giả, vị:
Nhất danh, nhị tướng, tam vọng tưởng, tứ
chánh trí, ngũ như như.
(疏) 五法者,謂:一名,二相,三妄想,四正智,五如如。
(Sớ: Năm pháp
là: Một là danh, hai là tướng, ba là vọng tưởng,
bốn là Chánh Trí, năm là Như Như).
Kinh Lăng Già chia hết thảy
các pháp thành năm loại lớn. Năm loại lớn ấy
triển khai sẽ thành hết thảy vạn pháp, pháp thế
gian lẫn pháp xuất thế gian đều bao gồm
trong ấy, nói chung, chẳng ra ngoài năm hạng mục
này.
Thứ
nhất là Danh, tức danh xưng. Phàm là vật thể hay
hiện tượng đều có một tên gọi.
Loại
thứ hai là Tướng, tức hiện tượng. Chỉ
cần là vật thể, nhất định có hiện
tượng.
Hai
thứ đầu là vật chất; tất cả vật
chất trong vũ trụ đều chẳng ngoài danh và
tướng, bao gồm tất cả vật chất.
Loại
thứ ba là vọng tưởng. Vọng tưởng là hiện
tượng tâm lư. Phàm phu suốt ngày từ sáng đến
tối tưởng Đông nghĩ Tây, nghĩ đến
quá khứ, vị lai, hoàn toàn khởi vọng tưởng.
Hai
thứ sau là cảnh giới thánh nhân. Ai mới có chánh trí? Từ
A La Hán trở lên. Những vị từ A La Hán trở lên
không có vọng tưởng, trí huệ hiện tiền. A La
Hán được gọi là Chánh Giác, Bồ Tát là Chánh Đẳng
Chánh Giác.
Như
Như là Chân Như bổn tánh, là bản thể của vạn
hữu trong vũ trụ. Bản thể của bốn pháp
đầu (danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí)
là Như Như, [Như Như] c̣n gọi là Chân Như, Tự
Tánh, hay Bổn Tánh.
(Sớ) Tam tự tánh giả.
(疏) 三自性者。
(Sớ: Ba tự tánh là...)
“Tánh”
là tánh chất. Nói theo tánh chất th́ có thể chia thành ba loại.
(Sớ) Danh, tướng thị
Vọng Kế Tánh, vọng tưởng thị Duyên Khởi
Tánh, Chánh Trí, Như Như thị Viên Thành Tánh.
(疏) 名、相,是妄計性;妄想,是緣起性;正智、如如,是圓成性。
(Sớ: Danh và Tướng
là Vọng Kế Tánh, vọng tưởng là Duyên Khởi
Tánh, Chánh Trí và Như Như là Viên Thành Tánh).
Loại thứ nhất là so
lường hư vọng, chẳng chân thật. Nói cách
khác, hoàn toàn sanh từ khái niệm
trừu tượng, cho nên gọi là Biến Kế Sở
Chấp Tánh (Parikalpita-svabhāva). Chẳng hạn Danh, danh
là giả danh, thánh nhân Trung Quốc nói: “Danh khả danh, phi thường
danh”
(cái danh mà có thể gọi tên được th́ chẳng phải
là cái danh thường hằng), bởi lẽ, danh tự chẳng
chân thật. Nếu quư vị thật sự giác ngộ danh
tự là hư vọng, hư giả, sẽ thấy thấu
suốt cửa ải này. Danh là do con người giả lập,
chẳng thật! Giả sử hiện thời có kẻ chỉ
ta, chửi bới: “Mày là đồ chó, chẳng phải là
người”. Quư vị nghe xong bèn nổi đóa, tức là
bị danh tướng vây hăm rồi! Nếu tổ tiên đặt
cho h́nh dáng này của chúng ta cái tên gọi là Chó, th́ hiện
thời mọi người chúng ta nghe chữ Chó cũng vui
vẻ. Thoạt đầu, tạo ra chữ cũng theo
cách ấy. Giả bày ra, chẳng thật! Cớ sao quư vị
lại coi nó là thật? Nhằm nói năng, trao đổi ư
kiến cho thuận tiện, mà giả lập những danh
tướng ấy; cho nên Danh là giả, chẳng thật!
Tướng là hiện tượng,
thuộc về Vọng Kế Tánh (Biến Kế Sở Chấp
Tánh), mà cũng thuộc Duyên Khởi
Tánh. Duyên Khởi Tánh chính là Y Tha Khởi Tánh
(Para-tantra-svabhāva), [nghĩa là] do các thứ điều kiện
tập hợp mà sanh khởi hiện tượng ấy. Chẳng
hạn như cái khăn lông, đó là Tướng. Có nhiều
điều kiện th́ mới sanh ra tướng ấy.
Đó gọi là Y Tha Khởi Tánh, tức là Duyên Khởi Tánh.
V́ sao cũng nói nó thuộc Biến Kế Tánh? Cùng là một
cái khăn lông đặt ở chỗ này, rất nhiều
người trong chúng ta trông thấy. Có người thấy
nó, thờ ơ, chẳng quan tâm, chẳng để ư tới.
Có người thấy nó rất dễ thương, động
ḷng. Có người thấy nó rất đáng ghét, bực
ḿnh v́ chẳng thể vứt nó đi. Tâm lư ấy chính là Biến
Kế Sở Chấp Tánh, chẳng thật! Hết thảy
hiện tượng bày ra trước mắt chúng ta, trong tâm
chúng ta dấy lên biến hóa, khởi tham, sân, si, mạn, đó
là Biến Kế Sở Chấp Tánh. Lục Tổ đại
sư nói: “Vốn chẳng có một
vật”, tức là chẳng có vật ǵ, trong chân tâm chẳng
có vật ǵ. Hết thảy vạn pháp sanh thành, thuộc về
Y Tha Khởi Tánh, là hiện tượng được sanh
bởi các điều kiện, nhân duyên, quyết chẳng
phải là ngẫu nhiên, quyết chẳng đơn thuần,
trong ấy hết sức phức tạp. Trong nhà Phật
có Pháp Tướng Duy Thức Tông chuyên môn nghiên cứu những
thứ này, nghiên cứu rất tỉ mỉ. Muốn hiểu
rơ, quư vị hăy nghiên cứu Duy Thức Pháp Tướng, đây
là một môn học vấn rất sâu, rất rắc rối,
là khoa học và triết học thuần túy.
“Vọng
tưởng thị Duyên Khởi Tánh”: Vọng tưởng
chẳng ngẫu nhiên sanh ra, mà cũng do có rất nhiều
nhân duyên mới sanh khởi vọng tưởng. Có những
nhân tố quư vị có thể nhận biết, nhưng cũng
có những nhân tố về căn bản chẳng thể
nhận biết được! Nguyên nhân là ǵ? Con người
chúng ta chẳng phải chỉ [tồn tại] trong một
đời này, mà c̣n có quá khứ, quá khứ lại c̣n có quá
khứ của nó. Đă có quá khứ, đương nhiên nhất
định có vị lai, ba đời đều có chính ḿnh;
chuyện trong một đời này có khi ta nghĩ đến,
tuy không biết chuyện đời trước, nhưng tập
khí của đời trước đôi khi hiện hành. Ví
như nằm mộng, có nhiều cảnh giới trong mộng
chẳng phải là những thứ quư vị có thể tưởng
tượng trong lúc b́nh thường, v́ sao có thể mộng
thấy? Có quan hệ với đời trước. Hiện
thời, tại ngoại quốc, thuật thôi miên thịnh
hành; cho nên người ngoại quốc thừa nhận con
người có đời trước. Có nhiều người
đời trước là động vật, từ trong
súc sanh [sanh làm người], cũng có người làm người
rồi trở lại làm người, cũng có người
từ tinh cầu khác sanh vào nơi đây. Những cách nói
này tương ứng với Phật pháp.
“Chánh
Trí, Như Như, thị Viên Thành Tánh”, “thành” là thành tựu,
“viên” là viên măn, đây là chân thật, chắc chắn chẳng
hư vọng. Viên Thành Thật Tánh (Parinispanna-svabhāva) đối lập với
hai loại trước; hai loại trước, tức là
Biến Kế Sở Chấp Tánh (Vọng Kế Tánh) và Y
Tha Khởi Tánh (Duyên Khởi Tánh), chúng là hư vọng.
(Sớ) Bát thức giả, Lại
Da, Mạt Na cập nhăn đẳng lục, hợp chi thành
bát.
(疏) 八識者,賴耶、末那及眼等六,合之成八。
(Sớ: Tám thức
là A Lại Da thức, Mạt Na thức và sáu thức
như Nhăn Thức v.v... hợp thành tám thức).
Lại Da là A Lại Da Thức
(Ālayavijñāna). Duy Thức Tông nói hiện tượng
tâm lư gồm có tám thứ, tác dụng tâm lư (Tâm Sở) gồm
năm mươi mốt thứ (năm mươi mốt
Tâm Sở thuộc về tác dụng), hai mươi bốn
món Bất Tương Ứng cũng thuộc về tác dụng
của tâm. Thức thứ tám là A Lại Da Thức, c̣n gọi
là Tạng Thức; hết thảy vạn pháp trong vũ trụ
và nhân sinh đều do nó biến hiện ra. V́ thế, thức
này gọi là Căn Bản Thức. Nói theo các tôn giáo khác, A Lại
Da Thức là Tạo Vật Chủ (Tạo Hóa, Hóa Công) thật
sự, thứ ǵ cũng đều do nó tạo ra, đều
do nó biến hiện ra. Nó biến hiện có quy tắc, có
trật tự, chẳng rối loạn. Toàn thể vũ
trụ, các tinh cầu vận hành trong hư không chẳng rối
loạn. Thân thể của chúng ta là tiểu vũ trụ,
tiểu vũ trụ giống hệt đại vũ trụ;
đại vũ trụ chẳng thể nghĩ bàn, tiểu
vũ trụ của chúng ta cũng chẳng thể nghĩ
bàn. Trong tiểu vũ trụ, mỗi bộ vị vận
hành cũng có thứ tự, chẳng rối loạn. Nếu
chúng rối loạn, con người sẽ ngă bệnh, phải
chết. Chúng chẳng rối loạn, rất có trật tự;
v́ thế, người b́nh thường cảm thấy rất
kỳ quái: “Chắc là phải có một vị thần làm
chúa tể ở trong ấy”. Thật ra, chẳng phải thần,
mà là A Lại Da Thức làm chúa tể!
Mạt Na (Manasvijñāna) c̣n dịch
là Truyền Tống (tiếp nhận rồi gởi đi),
bên trong th́ nó lấy thức thứ tám
(A Lại Da) làm bản thể hay tự thể của nó,
ngoài nương vào thức thứ sáu, tức Ư Thức,
để khởi tác dụng. Bản thân nó chẳng có Thể,
mà cũng chẳng có tác dụng, nó thật sự là Y Tha Khởi.
Thức thứ sáu phân biệt, Mạt Na Thức chấp
trước, chấp trước vào một phần của
Kiến Phần trong A Lại Da Thức. Kiến Phần rộng
lớn vô biên, Mạt Na chấp trước một phần
[của Kiến Phần], coi nó là Tự Ngă. Linh Hồn
như người Trung Quốc thường nói chính là nó, tức
là một phần trong Kiến Phần của A Lại Da Thức.
Kinh sánh ví A Lại Da Thức như biển cả, một
phần ấy giống như một cái bọt nước
sanh trong biển cả, người ta chấp trước
cái bọt nước ấy là chính ḿnh. Đây là cách nh́n sai
lầm. Nếu nhận biết toàn thể biển cả
là chính ḿnh th́ gọi là thành Phật, là đại triệt
đại ngộ. Nay người ấy không có cách nào phá vỡ
bọt nước nhỏ nhoi, chẳng thể thấy Chân
Ngă rộng lớn vô biên. Kẻ ấy có Ngă Chấp; Ngă Chấp
hạn cuộc, nhỏ bé, chấp trước cái thân của
chính ḿnh là Ngă, đó là sai lầm, chẳng biết tận
hư không trọn pháp giới là Ngă, đó là Chân Ngă.
Măi cho đến thức thứ
sáu, và năm thức trước, tức Nhăn Thức,
Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức,
đó là tác dụng của năm căn. “Thấy, nghe, hay,
biết” cảnh giới bên ngoài là tác dụng của
năm thức trước. Chúng có thể cảm nhận cảnh
giới bên ngoài, sức phân biệt yếu ớt. Có sức
phân biệt mạnh nhất là thức thứ sáu, tức Ư
Thức. Trong cuộc sống thường ngày, có nhiều
danh từ thuật ngữ xuất phát từ Phật pháp,
đủ thấy Phật pháp có ảnh hưởng rất
sâu đậm đối với đời sống của
người Trung Quốc, phạm vi ảnh hưởng to
lớn. Chúng ta thường nói “chú
ư”: Chẳng hạn nh́n th́ quư vị phải chú ư nh́n, nghe
th́ quư vị phải chú ư nghe. Hai chữ này (tức “chú ư”)
xuất phát từ Phật pháp. Chú ư là ǵ? Ư là Ư Thức. Khi mắt
quư vị thấy, tức là Nhăn Thức thấy sắc
pháp, v́ sức phân biệt của quư vị yếu ớt
nên phải dồn sức chú ư, tức là đưa thêm Ư Thức
vào. Quư vị phân biệt kỹ càng, phân biệt kỹ càng
là dồn sức chú ư. Thức thứ sáu, tức Ư Thức,
có tác dụng phân biệt quá rộng lớn, đối với
bên trong nó có thể phan duyên A Lại Da Thức, đối
với bên ngoài, nó có thể nương theo năm căn
để phan duyên cảnh giới bên ngoài, có thể nói là “không ǵ chẳng duyên”; tác dụng
hết sức rộng lớn.
(Sớ) Nhị vô ngă giả, nhân
vô ngă, pháp vô ngă.
(疏) 二無我者,人無我,法無我。
(Sớ: Nhị vô
ngă là nhân vô ngă và pháp vô ngă).
“Nhị
vô ngă” là hai thứ vô ngă. Một loại là Nhân Vô Ngă, loại
kia là Pháp Vô Ngă. Nhân Vô Ngă: Cái thấy của ta (ngă kiến,
khả năng thấy) ở bên trong, thuộc về con
người, vật được ta thấy (ngă sở kiến)
là pháp bên ngoài. Nếu “năng kiến” là Không th́ là Nhân Vô
Ngă. Quư vị cũng quán thấy “tướng được
thấy” (sở kiến) là Không, sẽ là Pháp Vô Ngă. Như
thế th́ mới có thể khôi phục bản tánh của
chính ḿnh, mới có thể thấy chân tướng của
vũ trụ và nhân sinh. Thiền gia nói “phụ mẫu vị sanh tiền bản lai diện
mục” (diện mạo vốn có trước khi
được cha mẹ sanh ra), quư vị mới có thể
thật sự thấy được diện mạo vốn
có. Đương nhiên đây là một cảnh giới khá
cao. Nếu đạt đến Nhân Vô Ngă, sẽ có thể
thoát khỏi tam giới; đối với Tiểu Thừa
là bậc đă chứng quả A La Hán; trong Đại Thừa
Viên Giáo là bậc Bồ Tát thuộc địa vị Thất
Tín. Các vị ấy đă tu đến Nhân Vô Ngă, vô ngă rồi!
Tuy vô ngă, họ vẫn c̣n có Pháp. Nói điều này quá khó hiểu,
chúng tôi nêu ra một tỷ dụ để nói.
Chúng ta tỷ dụ Ngă như cuốn
sách này, ví Pháp như những trang giấy. Một bữa
nào đó, người ấy giác ngộ, có sách hay không? Không
có sách! V́ sao không có sách? Chỉ là từng trang giấy! Gộp
chúng lại sẽ thành sách, trên thực tế chẳng có
sách. Tách rời chúng ra, lập tức sách không c̣n nữa.
Đủ thấy cuốn sách này, không chỉ Danh là giả,
mà Tướng cũng là giả! Quư vị có hiểu hay
không? Tướng cũng là giả, Tướng chẳng thật.
Quư vị biết sách không có, mà cái tên “sách” cũng chẳng
có; Thể của sách cũng chẳng có. Người ấy
đă giác ngộ điều này, nhưng [vẫn thấy]
giấy là có, chấp vào giấy, giấy là Pháp. Phá Nhân Ngă
Chấp, nhưng Pháp Ngă Chấp vẫn chưa phá, vẫn
c̣n có giấy! Nếu đem phân tích giấy, nh́n dưới
kính hiển vi có độ phóng đại lớn, [sẽ
thấy giấy] toàn là nguyên tử, điện tử! Giấy
cũng không có, Pháp cũng không có, đó là một tầng
cao hơn, Pháp cũng chẳng chấp trước! Đấy
là minh tâm kiến tánh. Phá trừ Ngă Chấp, xuất tam giới,
phá trừ Pháp Chấp, bèn minh tâm kiến tánh. Bất luận
tông nào, pháp môn nào, bộ kinh điển nào, đều tuân
theo nguyên lư và nguyên tắc này, chắc chắn chẳng thay
đổi!
Do điều này, chúng ta tu hành,
công phu của chính ḿnh đạt đến tŕnh độ
nào chẳng cần phải hỏi ai khác, v́ người
khác có thể dối gạt quư vị. Ở Los Angeles, tôi
đă gặp một số người tu hành đôi ba
năm, tự nghĩ ta tu khá lắm, bèn thỉnh người
khác ấn chứng. Kết quả là gă đó thọ kư cho họ:
“Mấy người các ông đă khai ngộ rồi!” Bọn
họ sung sướng khôn ngằn, đều tự nghĩ
ḿnh đă khai ngộ. Tôi giảng kinh ở Los Angeles, những
người “khai ngộ” ấy cũng đến nghe, nghe
xong, đến hỏi tôi: “Chúng tôi đă khai ngộ hay
chưa?” Tôi nói: “Quư vị chưa khai ngộ”. Họ nói: “V́
sao vị pháp sư đó nói tôi đă khai ngộ?” Tôi nói:
“Tôi chưa khai ngộ. Quư vị đến hỏi tôi quư vị
đă khai ngộ hay chưa, tôi chắc chắn chứng
minh quư vị chưa khai ngộ, ông ta lừa người rồi!
Cảnh giới do quư vị chứng đắc, hăy nên hỏi
chính ḿnh; chính ḿnh mới thật sự hiểu. Nếu quư
vị đă phá Ngă Chấp, chắc chắn thoát khỏi tam
giới”. Kinh Kim Cang đă nói rất rơ ràng: “Nhược Bồ Tát hữu ngă tướng, nhân
tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng,
tức phi Bồ Tát” (Nếu Bồ Tát có ngă tướng,
nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng,
chẳng phải là Bồ Tát). Đấy chẳng phải
là Bồ Tát! Chẳng phải là vị Bồ Tát nào vậy?
Chẳng phải là một vị Bồ Tát vượt thoát
tam giới, vẫn chưa thoát khỏi tam giới! Trong tam
giới, vị ấy là Bồ Tát ǵ? Danh tự Bồ Tát! Hữu
danh vô thực. Nếu quư vị thọ Bồ Tát Giới, sẽ
đều là Bồ Tát, hữu danh vô thực! Một phẩm
phiền năo cũng chưa đoạn, nên gọi là danh tự
Bồ Tát. Nếu thật sự tu hành, nhưng công phu
chưa đến mức, th́ gọi là Quán Hạnh Bồ
Tát, quư vị là một Bồ Tát tu hành, nhưng chưa
đạt mức. Dù có đi học, nhưng thi không đậu,
cũng vô ích. V́ thế, cảnh giới phải tự hỏi
chính ḿnh [đừng mất công hỏi ai khác].
Nếu đối với
người, đối với sự, đều xem nhẹ,
chắc chắn sẽ có lợi cho chính ḿnh, đừng nên
sốt sắng [tham đắm] quá, đừng quá chấp
trước. Sốt sắng, chấp trước, sẽ
tăng trưởng Ngă Kiến. Phải tận lực
nghĩ đến phương pháp phá trừ Ngă Kiến, để
cho nó tăng trưởng hằng ngày th́ c̣n làm ǵ được
nữa! Ắt phải nhạt bớt [Ngă Kiến], tâm mới
được thanh tịnh, tự tại. Nếu chưa
thể, hăy nên sanh ḷng hổ thẹn, thật thà niệm Phật,
cầu sanh Tịnh Độ. Chưa có năng lực phá
trừ Ngă Kiến, chỉ có một con đường là
niệm Phật th́ mới có thể thành công. Trong hết thảy
các kinh, cũng chỉ có bộ kinh này thật sự có thể
cứu người, có thể cứu ḿnh, có thể cứu
chúng sanh. Chiếu theo lư luận và phương pháp trong kinh
Di Đà để niệm Phật, chúng ta chắc chắn
thành tựu trong một đời này.
(Sớ) Dĩ thượng diệc
giai nhập ngũ pháp trung, tường kiến Nhập
Lăng Già chư kinh.
(疏) 以上亦皆入五法中,詳見入楞伽諸經。
(Sớ: Những
điều trên đây cũng thuộc trong năm pháp, xem
chi tiết trong các kinh như Nhập Lăng Già[2]).
“Dĩ
thượng diệc giai nhập ngũ pháp trung”: Đều
chẳng rời khỏi năm pháp. Đối với tám thức,
tự thể của tám thức là vọng tưởng, “danh tướng” là do thức
thứ sáu so lường. Khi chuyển Thức thành Trí, nó sẽ
là Chánh Trí, Lư được chứng nhập [bởi Chánh Trí]
là Như Như. Vô Ngă cũng chẳng ra ngoài năm pháp. Hai
thứ chấp trước Nhân và Pháp cũng thuộc vào
danh, tướng và vọng tưởng. Hai thứ vô ngă, tức
Nhân Vô Ngă và Pháp Vô Ngă, đều nói đến Lư, tức là
lư Như Như. Khi chứng đắc “nhị vô ngă” th́
chính là trí huệ, nên gọi là Chánh Trí. V́ thế, các pháp này
đều chẳng ĺa khỏi năm pháp ấy. “Tường kiến Nhập
Lăng Già chư kinh” (xem chi tiết trong các kinh như Nhập
Lăng Già): Trong Nhập Lăng Già Kinh, trong kinh luận Duy
Thức, đều nói [những giáo nghĩa này] rất nhiều.
(Sớ) Tất Không tất khiển,
sở vị Phật thân vô vi, bất đọa chư số.
(疏) 悉空悉遣,所謂佛身無為,不墮諸數。
(Sớ: “Đều
là Không, đều bỏ đi”, chính là nói: Thân Phật vô vi
nên chẳng thuộc vào số).
“Tất”
(悉) là thảy đều tách ĺa,
đều buông xuống, đấy là nghĩa lư Đốn
Giáo. Đều buông hết xuống, đó là “bất đọa chư số”:
Số là số lượng, chỉ cần trong tâm ta có ngă
(ta), c̣n có nhân (người khác), quư vị sẽ vướng
mắc trong số. Nói đơn giản th́ cái Số đó
chính là vận mạng, quư vị sẽ có vận mạng.
Do vậy có thể xem tướng, có thể đoán vận
mạng, v́ sao? V́ quư vị c̣n vướng mắc trong Số.
Nếu công phu của quư vị đạt đến vô ngă,
chẳng c̣n có số nữa, đoán mạng hay xem tướng
cũng đoán chẳng ra, v́ sao? Vượt thoát rồi, chẳng
mắc vào số. Quư vị phải hiểu: Chỉ cần
chúng ta c̣n khởi tâm động niệm bèn có tội,
phước; trong quá khứ, chúng ta làm thiện nghiệp
bèn có thiện báo, tạo ác nghiệp bèn có ác báo, chẳng
tránh khỏi quả báo thiện hay ác. Đó là định
luật, không có cách nào tránh né được. Nếu đạt
đến vô ngă, sẽ không c̣n nữa. Quư vị hăy suy nghĩ,
vô ngă th́ ai chịu báo? Phước báo hiện tiền, ai
hưởng phước? Ngă không có th́ cái ǵ hưởng? Tội
báo hiện tiền, ngă không có, ai chịu báo? Không có! Hễ
có ngă bèn có lục đạo luân hồi, vô ngă th́ lục
đạo luân hồi chẳng thể được! Khi ấy,
đừng nói là vượt thoát luân hồi, ngay cả luân
hồi cũng chẳng có.
Do điều này, nếu quư vị
hiểu rơ sự thật này, lục đạo do đâu mà
có? Có ngă bèn có lục đạo, vô ngă chẳng có lục
đạo! Có pháp bèn có tứ thánh pháp giới, tức Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Nếu không có pháp, tứ
thánh pháp giới cũng chẳng có. Đến khi ấy, sẽ
là cảnh giới ǵ? Bất đắc dĩ, miễn
cưỡng gọi bằng danh từ “Nhất Chân pháp giới”.
Kinh Hoa Nghiêm nói Nhất Chân pháp giới là nói về chuyện
này. V́ thế, phải biết: Mười pháp giới do
chính ḿnh biến hiện, hiểu rơ đạo lư này rồi
sẽ dễ tu!
Trong hết thảy các cảnh
giới, phải bỏ Ngă! Ngă ấy bỏ bằng cách nào?
Quá khó khăn! Người Tiểu Thừa sau khi đoạn
Kiến Hoặc, phải sanh trong cơi trời hay cơi người
bảy lượt, đoạn Tư Hoặc, đạt
đến cảnh giới Nhân Không, chứng A La Hán. Nhân
gian thọ mạng ngắn ngủi, cơi
trời thời gian dài lâu, những con số ấy đều
là con số thiên văn, chẳng có cách nào tính toán được!
Muốn phá trừ Pháp Chấp, phải mất ba đại
A-tăng-kỳ kiếp, đủ thấy chẳng phải
là chuyện dễ dàng! Phương pháp của Đại Thừa
xảo diệu hơn Tiểu Thừa rất nhiều.
Người Tiểu Thừa đoạn bằng
phương pháp cứng ngắc (không linh hoạt, uyển
chuyển), đoạn cứng ngắc sẽ đoạn không
được, dẫu có đạt đến vô ngă th́ ai
vô ngă? Ta vô ngă! Quư vị nghĩ xem: C̣n có ngă hay là không? Vẫn
c̣n! Phương pháp Đại Thừa hay khéo, dạy quư vị
khởi tâm động niệm hăy luôn nghĩ v́ chúng sanh,
nghĩ đến người khác, chẳng nghĩ tới
chính ḿnh, lâu dần dưỡng thành thói quen, chẳng c̣n Ngă
nữa. Người niệm Phật khởi tâm động
niệm đều nghĩ đến A Di Đà Phật, niệm
A Di Đà Phật. Như vậy dần dần sẽ quên mất
chính ḿnh! Chẳng dùng phương pháp xảo diệu này, mà
mong đoạn trừ Ngă, sẽ chẳng phải là chuyện
dễ! Chỉ cần có Ngă, bất luận quư vị tu pháp
môn ǵ cũng đều có luân hồi.
Tu Thiền đến mức vô
ngă mới có thể thoát khỏi tam giới. Tu Mật đến
vô ngă mới có thể thành Phật. Chỉ cần tồn tại
ngă th́ Thiền lẫn Mật đều chẳng thoát khỏi
tam giới. Muốn vượt thoát tam giới, chỉ có
con đường niệm Phật đới nghiệp
văng sanh là có thể đi thông suốt; trừ con đường
này ra, không có con đường thứ hai! Đủ thấy
niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ hết sức
trọng yếu, nhất là trong thời đại hiện
tại, thiên hạ đại loạn, mạng người
vô thường, một hơi thở ra không hít vào
được nữa, bèn phải luân hồi, hết sức
đáng sợ! Hôm nay đă hết thời gian rồi!
Tập 72
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang một trăm lẻ tám:
(Sớ) Nhị vô ngă giả, nhân
vô ngă, pháp vô ngă. Dĩ thượng diệc giai nhập
ngũ pháp trung, tường kiến Nhập Lăng Già
chư kinh.
(疏) 二無我者,人無我,法無我 。以上亦皆入五法中,詳見入楞伽諸經。
(Sớ:
Nhị vô ngă là nhân vô ngă và pháp vô ngă. Những điều
trên đây cũng thuộc trong năm pháp, xem chi tiết
trong các kinh như Nhập Lăng Già).
Đây là nói tới Duy Thức, [nói
tới] Duy Thức là nói tới lư luận trong Phật pháp,
hết sức trọng yếu. Bất luận tông phái hay
pháp môn nào, chúng ta thường nói “vô lượng pháp môn, tám
vạn bốn ngàn pháp môn”, đều chẳng trái nghịch
những đạo lư này. Trong các tông phái, nếu chúng ta quy
nạp lại, có thể nói là có ba tông phái, những tông phái
[quy nạp] này mang tánh chất là khoa mục chung [cho mọi
tông phái]. Thứ nhất là Luật Tông, bất cứ tông
phái Hiển hay Mật nào cũng đều phải giữ
giới luật, nương Giới sanh Định, do
Định khai Huệ. Đấy là khoa mục chung bắt
buộc phải tu học trong Phật giáo. Thứ hai là Duy
Thức, Duy Thức là nói về lư luận. Không chỉ kinh
Di Đà chẳng thể trái nghịch đạo lư Duy Thức,
mà Thiền Tông, Mật Tông cũng chẳng thể trái nghịch,
nên Duy Thức cũng có thể nói là khoa mục chung. Thứ
ba là Tịnh Độ Tông niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ. Tịnh Độ là chỗ quy túc cuối cùng của
tất cả các tông phái; v́ thế, nó cũng là khoa mục
chung. Những vị tổ sư đại đức của
Thiền Tông từ xưa tới nay đến cuối cùng
niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ. Tại Đài Loan, các đồng tu đều
biết pháp sư Quảng Khâm tham Thiền, nhưng về
già, Ngài chuyên môn niệm Phật, cũng là niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ. Đấy là tấm
gương gần đây nhất mà chúng ta thấy. V́
thế, chẳng những phải tu ba tông này, mà chúng c̣n là
khoa mục chung [cho mọi tông phái Phật giáo].
Hai thứ vô ngă th́ trong phần
trước đă nói đại ư. Ắt cần phải
đạt đến Nhân Vô Ngă mới có thể vượt
thoát tam giới, chứng quả A La Hán, vĩnh viễn
thoát khỏi luân hồi, nhưng chưa thể kiến
tánh. Nếu muốn minh tâm kiến tánh, phải tiến thêm
một bước là phá Pháp Chấp, pháp cũng vô ngă. Hết
thảy vạn pháp cũng vô ngă. Nên giải thích Ngă như
thế nào? Ngă (Ātman) có
nghĩa
là chủ tể, hay tự tại. Trong kinh nêu ra bảy, tám
định nghĩa của Ngă. Quả thật, hết thảy
các pháp cũng là những pháp được sanh bởi nhân
duyên, do nhiều điều kiện kết hợp lại.
Pháp sanh bởi nhân duyên th́ nói cách khác, nó không có chủ thể,
chẳng thể nói cái nào là chủ. Sau khi đă biết Pháp
Vô Ngă th́ mới có thể minh tâm kiến tánh, mới có thể
đạt được cái mà Thiền Tông gọi là “diện mạo vốn có trước
khi được cha mẹ sanh ra”.
Niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ cũng chẳng rời khỏi đạo lư này.
Nếu làm được Nhân Vô Ngă th́ mới chứng đắc
“nhất tâm bất loạn” được nói trong kinh này.
Nhất tâm có hai loại: Sự nhất tâm và Lư nhất tâm.
Trong lúc này, chỉ chứng đắc Sự nhất tâm bất
loạn th́ văng sanh Tịnh Độ phẩm vị cũng
cao, sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư. Nếu chứng
đắc Lư nhất tâm bất loạn, đă phá trừ
Pháp Vô Ngă, minh tâm kiến tánh rồi, sanh vào Tịnh Độ,
địa vị càng cao hơn, người ấy sanh vào
cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm dùng danh xưng Pháp Thân
đại sĩ để chỉ những người thuộc
địa vị ấy. Nếu nh́n theo tiêu chuẩn này,
trong đời này chúng ta muốn cầu sanh Tịnh Độ
đạt đến tiêu chuẩn ấy quả thật chẳng
dễ dàng, thật đấy! Chẳng đạt đến
tiêu chuẩn này, chẳng có cách nào thành tựu; v́ thế, cổ
nhân nói chắc nịch: Tu bất cứ pháp môn nào [ngoài pháp
môn Tịnh Độ] cũng đều chẳng thể
thành tựu, nguyên nhân là v́ chỗ này, không có biện pháp nào
phá Nhị Vô Ngă!
Nhưng niệm Phật mà
chưa đạt đến mục đích ấy cũng chẳng
sao! Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật đă
nói rất rơ ràng: Chỉ cần có tín niệm kiên cố,
mười niệm hay một niệm cũng đều có
thể văng sanh, điều kiện ấy mỗi cá nhân
chúng ta đều có thể làm được, nhưng sanh
về Tây Phương Tịnh Độ phẩm vị
không cao, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Tuy phẩm vị
không cao, phải biết hoàn cảnh của Tây Phương
Cực Lạc thế giới quá tốt đẹp: Thế
giới ấy không có ba ác đạo. Chẳng những
không có ba ác đạo, mà Tu La đạo cũng chẳng
có, chỉ có hai đường nhân thiên. Nói cách khác, hễ
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, dẫu
là Hạ Phẩm Hạ Sanh cũng chắc chắn chẳng
đọa trong ba ác đạo. Ngoài ra, một điều
tốt đẹp nữa là bên ấy thọ mạng dài
lâu, thọ mạng của người Hạ Hạ Phẩm
văng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư bằng với A
Di Đà Phật. A Di Đà Phật thọ vô lượng,
nên người ấy cũng thọ vô lượng. Điều
tốt đẹp lớn nhất của thọ mạng
dài là tu hành nhất định thành công!
Thọ mạng của chúng ta
trong thế giới này quá ngắn ngủi, thời gian có thể
sử dụng hết sức hữu hạn. Dẫu sống
tới trăm tuổi, đêm ngủ hết tám tiếng
đồng hồ. Nói cách khác, tối thiểu là một phần
ba [cuộc đời]! Lại c̣n phải trừ đi hai
mươi năm đầu chưa hiểu chuyện, sau
tám mươi tuổi quá già, chẳng c̣n có sức để
tu hành nữa. Lại c̣n phải trừ đi thời gian mặc
áo, ăn cơm, giao tiếp, cả một đời quư vị
dùng khoảng thời gian năm năm [để tu hành] là
đă phi phàm rồi! Thời gian quả thật quá ngắn!
Công phu vừa mới đắc lực, thọ mạng
đă hết, không làm sao được, lại phải
đợi đến đời sau! V́ thế, đời
đời tu hành mà đến nay chúng ta vẫn y hệt
như vậy!
Hiểu rơ sự thật này, quư
vị mới biết: Chính ḿnh nhất định đừng
nên đợi đến đời sau, v́ sao? T́nh huống trong
đời sau có thể c̣n kém hơn đời này! Phải
hạ quyết tâm, đời này nhất định phải
sanh về Tịnh Độ! Cũng có người nói: Tôi
muốn th́ muốn vậy, nhưng có thật sự làm
được hay chăng? Tôi nghĩ những người
mang nỗi nghi vấn ấy rất nhiều. Nếu quư vị
đọc kỹ ba kinh Tịnh Độ, nỗi hoài nghi ấy
sẽ chẳng c̣n nữa! Đức Phật dạy chúng
ta câu nào cũng chân thật, đức Phật chẳng vọng
ngữ. Kinh Kim Cang đă nói rất hay: “Như Lai thị chân ngữ giả” (đức
Như Lai là bậc nói lời thật), chân là không giả, “thật ngữ giả” , thật
là chẳng hư dối, chẳng hư ngụy; “như ngữ giả”, nói hoàn
toàn phù hợp với sự thật, chẳng tăng, chẳng
giảm, nói rất khít khao, đó là “như ngữ”, “bất
cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả”
(chẳng nói dối, chẳng nói những điều quái lạ).
Những câu này đều nhằm khuyên chúng ta phải tin
tưởng lời Phật dạy, đức Phật chẳng
vọng ngữ. Do vậy, chúng ta thật sự tin tưởng
lời răn dạy của đức Phật, y giáo phụng
hành, trong một đời này, chắc chắn có thành tựu.
Nói đến Nhân Vô Ngă và Pháp Vô Ngă, dẫu làm không được
mà vẫn có thể thành tựu th́ chỉ có pháp môn Niệm
Phật. Trừ pháp môn Niệm Phật ra, những pháp môn
nhất định phải đạt được Nhân
Vô Ngă và Pháp Vô Ngă th́ mới được coi là thành tựu.
(Sớ) Tất
Không tất khiển, sở vị Phật thân vô vi, bất
đọa chư số. Nhất niệm bất sanh tức
danh vi Phật giả, Đốn Giáo chi chỉ dă.
(疏) 悉空悉遣,所謂佛身無為,不墮諸數。一念不生即名為佛者,頓教之旨也。
(Sớ: “Đều không, đều bỏ đi”,
chính là nói: Thân Phật vô vi nên chẳng thuộc vào các pháp số.
Một niệm chẳng sanh th́ gọi là Phật, đấy
là tông chỉ của Đốn Giáo).
Đoạn này nói về “giáo nghĩa thâm quảng” (giáo
nghĩa rộng sâu), giảng về Đốn Giáo. Tông chỉ
của Đốn Giáo đích thực là như vậy: Ĺa hết
thảy tướng chính là hết thảy pháp. V́ sao có thể
coi Niệm Phật là Đốn Giáo? Chiếu theo tông chỉ
của Đốn Giáo để nói, quả thật chẳng
thể coi Niệm Phật là Đốn Giáo, v́ văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới chưa đoạn
Kiến Tư phiền năo, hai thứ Vô Ngă đều vẫn
c̣n. “Đốn” ở chỗ thành công trong một đời,
chẳng đợi đến đời thứ hai.
(Sớ) Kim ngôn niệm Phật, tắc
sở xưng Phật hiệu thuộc Danh, sở đối
Phật thân thuộc Tướng, ức niệm bỉ Phật
thuộc vọng tưởng. Túng sử tịnh niệm
tương kế, nhập Tam-ma-địa, diệc thuộc
Chánh Trí, Như Như.
(疏) 今言念佛,則所稱佛號屬名,所對佛身屬相,憶念彼佛屬妄想,縱使淨念相繼,入三摩地,亦屬正智如如。
(Sớ: Nay nói niệm
Phật th́ danh hiệu Phật được xưng niệm
là Danh, thân của đức Phật được
xưng niệm là Tướng, nghĩ nhớ đức Phật
ấy là vọng tưởng. Dẫu cho tịnh niệm
liên tục, nhập Chánh Định, vẫn thuộc vào
Chánh Trí và Như Như).
Hoàn
toàn thuộc vào năm pháp.
(Sớ) Nhi phục phân biệt thị
Phật, thuộc thức t́nh.
(疏) 而復分別是佛,屬識情。
(Sớ: Lại c̣n
phân biệt là Phật, thuộc về t́nh thức).
Quư vị có cái tâm phân biệt,
đó là thức thứ sáu.
(Sớ) Năng niệm, sở niệm,
thuộc nhân pháp.
(疏) 能念所念,屬人法。
(Sớ: Năng niệm
và sở niệm thuộc về nhân và pháp).
Năng niệm (chủ thể
niệm Phật) là người, sở niệm (danh hiệu
được niệm, đức Phật được
niệm) là pháp.
(Sớ) Thượng vị khiển
hữu ngă, huống vô ngă diệc khiển da?
(疏) 尚未遣有我,況無我亦遣耶。
(Sớ: Hữu ngă
c̣n chưa gạt bỏ được, huống là vô ngă
cũng gạt bỏ ư?)
Hữu ngă c̣n chưa trừ
được, làm sao có thể nói là “đă đạt
đến vô ngă”? Đốn Giáo là ngay cả vô ngă cũng
chẳng cần đến. Đốn Giáo là “năm pháp, ba tự tánh, tám thức,
hai thứ vô ngă” thảy đều bỏ sạch, quả
thật chẳng nhiễm mảy trần. Lục Tổ
đại sư là Đốn Giáo, “vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm
bụi trần?” Tám thức, hai thứ vô ngă, Ngài đều
chẳng có. Nh́n từ góc độ này, làm sao có thể nói Niệm
Phật là Đốn Giáo cho được?
(Sớ) Bỉ giáo sở không, sở
khiển, thử giai hữu chi.
(疏) 彼教所空所遣,此皆有之。
(Sớ: Những điều không có, bị gạt
bỏ trong Đốn Giáo, pháp môn này đều có cả).
“Sở
khiển” là bị bỏ đi. Người niệm Phật
chúng ta thứ ǵ cũng là chẳng Không, cũng chẳng
tách rời một thứ ǵ.
(Sớ) Dĩ kỳ hữu niệm,
cố nạn phi Đốn.
(疏) 以其有念,故難非頓。
(Sớ: Do [niệm
Phật] là hữu niệm, nên bắt bẻ, bảo nó chẳng
phải là Đốn).
Người ta đến vấn
nạn, nói pháp môn của chúng ta chẳng phải là Đốn
Giáo.
(Sớ) Chánh vị vô niệm giả,
lương diêu nhất tâm bất loạn, tắc bất
dĩ hữu tâm niệm, bất dĩ vô tâm niệm, bất
dĩ diệc hữu diệc vô tâm niệm, bất dĩ
phi hữu phi vô tâm niệm. Ly thử tứ cú, cánh hữu
hà niệm? Tuy danh niệm Phật, cái vô niệm chi niệm
dă. Niệm nhi vô niệm, thị danh nhất tâm. Như thị
chi tâm, tâm vô kỳ tâm, cưỡng danh viết “nhất”. Thượng
vô nhất tướng, an cầu sở vị ngũ giả,
tam giả, bát giả, nhị giả, nhiên tắc nhất
tâm bất loạn, bất dị nhất niệm bất
sanh, yên đắc phi Đốn?
(疏) 正謂無念者,良繇一心不亂,則不以有心念,不以無心念,不以亦有亦無心念,不以非有非無心念,離此四句,更有何念。雖名念佛,蓋無念之念也,念而無念,是名一心。如是之心,心無其心,強名曰一。尚無一相,安求所謂五者三者八者二者,然則一心不亂,不異一念不生,焉得非頓。
(Sớ: Nói pháp này đúng là vô
niệm, là v́ nhất tâm bất loạn chẳng phải là
dùng hữu tâm để niệm, chẳng dùng vô tâm để
niệm, chẳng dùng cái tâm vừa hữu niệm vừa
vô niệm để niệm, chẳng dùng cái tâm chẳng có
chẳng không để niệm. Ĺa khỏi bốn câu ấy,
c̣n có niệm ǵ nữa? Tuy gọi là “niệm Phật”, nhưng
là niệm mà vô niệm. Niệm mà vô niệm th́ gọi là nhất
tâm. Cái tâm như thế là cái tâm chẳng có vọng tâm nên
cưỡng gọi là Nhất. Nó c̣n chẳng có một
tướng, há t́m được những cái gọi
năm pháp, ba tánh, tám thức, hai vô ngă ư? Vậy th́ “nhất
tâm bất loạn” chẳng khác “nhất niệm bất
sanh”, lẽ nào chẳng phải là Đốn?)
Cách nói này vô cùng cao! Đúng là
Đốn Giáo! Trong đoạn trên, kẻ ấy (tức kẻ
bắt bẻ niệm Phật chẳng phải là Đốn
Giáo) thấy chúng ta cái ǵ cũng có, kẻ ấy đă thấy
sai bét rồi! Thật ra, kẻ ấy hoàn toàn chẳng thấy
sai, mà lời đáp của tổ sư cũng chẳng hề
đáp trật. Lời đáp của tổ sư là ǵ? Là Lư
nhất tâm bất loạn, cớ sao chẳng là Đốn?
Nay chúng ta ngay cả công phu thành phiến c̣n chưa làm
được! V́ thế, phải hiểu v́ sao tổ
sư phán định pháp môn này là Đốn, lại phán
định nó là Phần Viên, tức là có một phần là
Viên.
Nói theo công phu niệm Phật,
đương nhiên Lư nhất tâm bất loạn là mục tiêu
tối cao, làm chưa được th́ hạ xuống một
cấp, chọn lấy cái kém hơn, tức là Sự nhất
tâm. Nếu Sự nhất tâm vẫn chưa làm được,
lại hạ xuống một bậc là công phu thành phiến.
Như thế mới gọi là “thích
hợp trọn khắp ba căn, gồm thâu lợi căn
lẫn độn căn”. Đấy là điểm đặc
sắc của pháp môn này. Đức Phật thật sự
khích lệ chúng ta thành tựu Lư nhất tâm bất loạn
trong một đời này, có làm được hay chăng?
Nói thật ra, xét theo lư luận, ai nấy đều có thể
làm được, nhưng luận theo mặt Sự, có những
kẻ không chịu làm th́ không có cách nào hết! Thế nào là
không chịu làm? Kẻ ấy không chịu buông xuống,
không chịu bỏ!
Chiều hôm nay, có mấy vị
đồng tu sơ học đến đây gặp tôi, hỏi
tôi về Phật pháp. Bọn họ thường nghĩ Phật
pháp là triết học hết sức sâu xa, uyên áo. Tôi bảo
họ: “Chẳng phải vậy! Phật pháp rất dễ
tiến nhập, chẳng khó tí nào! Khó là khó ở chỗ
nào? Khó ở chỗ quư vị chẳng buông xuống! Điều
thứ nhất là phải buông tiếng tăm, lợi
dưỡng thế gian xuống, quư vị có chịu làm hay
không? Quư vị chịu làm, sẽ vào được cửa.
Không chịu, dù đức Phật có thuyết pháp cho quư vị
cũng phí công! Quư vị cũng chẳng có cách nào nhập
môn! Vấn đề là do chính ḿnh. Khác hẳn triết học!
Đối với triết học, kẻ ngu si một chút,
kẻ căn tánh chậm chạp sẽ thật sự chẳng
thể hiểu triết học. Phật pháp không như vậy,
người chưa từng đi học, người chẳng
biết chữ như Lục Tổ đều có thể tiến
nhập Phật pháp. Lục Tổ dựa vào điều
ǵ? Dựa vào cái tâm thanh tịnh. Trong ḷng Ngài chẳng vướng
mắc hết thảy các pháp, tâm địa thanh tịnh,
chẳng nhiễm mảy trần, nên tiến nhập. Ngài
không biết chữ, nghe người ta niệm kinh, người
niệm kinh chẳng khai ngộ, nhưng Ngài nghe liền
khai ngộ. V́ sao? Người niệm kinh chưa buông xuống,
tuy người ấy biết niệm mà chẳng khai ngộ.
Người nghe kinh buông xuống, tuy không biết niệm
mà khai ngộ. Đạo lư là như vậy đó! Không chỉ
pháp thế gian phải buông xuống, mà pháp xuất thế
gian cũng phải buông xuống. V́ sao? Không buông pháp thế
gian xuống được, trong tâm c̣n xen tạp cả đống
danh hiệu Phật, Bồ Tát và kinh điển nhiều
dường ấy, đó đều là chướng ngại,
quư vị vẫn chưa thể minh tâm kiến tánh. Cái tâm chẳng
thanh tịnh, chẳng bị pháp thế gian ô nhiễm th́ lại
bị Phật pháp ô nhiễm! Đốn Giáo là chẳng nhiễm
mảy trần.
Ở đây, đại sư
biện giải, lời giảng của Ngài rất hợp
lư. Lư nhất tâm bất loạn quả thật chẳng nhiễm
mảy trần, hoàn toàn phù hợp với giáo nghĩa của
Đốn Giáo. Do vậy, pháp môn Niệm Phật thuần
túy thuộc vào Đốn Giáo. Không riêng ǵ Liên Tŕ đại
sư chỉ dạy như vậy, mà tổ sư Pháp
Tướng Duy Thức Tông là Khuy Cơ đại sư
cũng phán định kinh này là Đốn Giáo. Ngài c̣n nêu ra
thí dụ, trong kinh này có nói: Hoặc một ngày cho đến
bảy ngày, bảy ngày bèn thành công, đó là Đốn. Bảy
ngày tu thành công điều ǵ vậy? Thành nhất tâm bất
loạn. Tâm chẳng điên đảo. Tâm chẳng điên
đảo th́ tâm ấy quyết định chẳng c̣n mê
hoặc nữa, thật sự là giác, chứ không mê. Bảy
ngày có thể hoàn thành, đó là Lư nhất tâm bất loạn.
Điều này thuộc về Đốn Giáo. Chúng ta nói “thành
Phật trong một đời”, đó là ư nghĩa Viên Giáo.
V́ thế, kinh này Đốn cực, mà cũng là Viên cực.
Ở chỗ này, câu nào cũng
nói về Lư, chúng ta hiểu rơ là tốt rồi, nhưng
chưa thể học theo. V́ sao chưa thể học? Học
chưa được! Ví như trong kinh có nói: “Bất dĩ hữu tâm niệm,
bất dĩ vô tâm niệm” (chẳng dùng hữu tâm để
niệm, chẳng dùng vô tâm để niệm), chúng ta dùng
cái tâm ǵ để niệm? Hữu tâm niệm cũng chẳng
được, mà vô tâm niệm cũng không xong. Vừa hữu
vừa vô cũng chẳng được, chẳng phải
hữu chẳng phải vô vẫn không được. Dùng
cái tâm ǵ để niệm? Nay chúng ta thật thà dùng hữu
tâm để niệm là được rồi! Cảnh giới
chưa đạt đến tŕnh độ ấy, bèn dùng
hữu tâm để niệm. Cổ đức bảo chúng
ta: “Ninh khả chấp Hữu
như Tu Di sơn, bất khả chấp Không như giới
tử” (thà chấp có như núi Tu Di, đừng chấp
Không chừng bằng hạt cải). “Giới tử” là hạt cải, rất nhỏ!
Quyết định đừng nên chấp Không. Chấp Hữu
th́ chúng ta có thể đới nghiệp văng sanh, có thể
sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Trong cơi Phàm Thánh Đồng
Cư có ba bậc, chín phẩm. Trung thượng phẩm
đều biết trước lúc mất, tự tại
văng sanh, đấy là điều tốt đẹp lắm!
Đến khi công phu của
chúng ta đạt tới tŕnh độ ấy, lại tiến
lên nữa, tiến lên cầu Sự nhất tâm bất loạn.
Sự nhất tâm bất loạn là Định, chúng ta
thường gọi Định ấy là Niệm Phật
tam-muội. Kiến Tư phiền năo chẳng c̣n dấy
lên hiện hành nữa, đă đạt được Nhân
Vô Ngă, đó là Niệm Phật tam-muội thành công. Đă
đạt đến cảnh giới ấy, lại tiến
lên Pháp Vô Ngă, chứng Pháp Vô Ngă th́ mới là “ly tứ cú, tuyệt bách phi” như [đang nói] ở
đây. “Tứ cú” (bốn câu)
là Có, Không, Cũng Có Cũng Không, Chẳng Phải Có Chẳng
Phải Không, đấy mới là thật sự nhập cảnh
giới này. Đó là cảnh giới do đích thân Như Lai
chứng đắc. Nói cách khác, quyết định chẳng
phải là cảnh giới hiện tiền của chúng ta,
đừng vọng tưởng cảnh giới ấy, hăy
thật thà niệm một câu Phật hiệu này, niệm
đến mức trong mười hai thời Phật hiệu
chẳng gián đoạn, đó gọi là công phu thành phiến.
Câu cuối cùng là nói đại
lược. “Sở vị
ngũ giả” là nói đến ngũ pháp (Danh, Tướng,
Vọng Tưởng, Chánh Trí, Như Như), “tam giả” là ba tự tánh (Vọng
Kế Tánh, Duyên Khởi Tánh, Viên Thành Tánh), “bát giả” là tám thức, “nhị giả” là Nhị Vô Ngă (Nhân Vô Ngă và Pháp Vô
Ngă), đều nhằm tổng kết phần trước.
Thật sự đạt đến nhất tâm bất loạn
th́ những thứ này đều chẳng c̣n nữa; cho nên
nói “bất dị nhất niệm
bất sanh” (chẳng khác ǵ một niệm chẳng
sanh). Do đây có thể biết rằng: Tịnh Độ
Tông nói nhất tâm bất loạn hoàn toàn có cùng một cảnh
giới với “nhất niệm
bất sanh” như Viên Giáo đă nói, cách nói khác nhau, cảnh
giới hoàn toàn tương đồng. V́ thế, niệm
Phật cũng là niệm đến mức nhất niệm
bất sanh, giống như trong chương Đại Thế
Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông của kinh Lăng
Nghiêm, Đại Thế Chí Bồ Tát [đă nói] “nhiếp trọn sáu căn, tịnh
niệm tiếp nối”, tám chữ này đă miêu tả “ly tứ cú, tuyệt bách phi”.
Ngài có niệm Phật hay không? Niệm chứ! Ngài chẳng
chấp trước vào cái Ngă đang niệm, cũng chẳng
chấp trước có pháp để niệm, Năng và Sở
hai đằng đều chẳng chấp trước, Năng
và Sở cùng mất. Chẳng chấp Có, từng câu Phật
hiệu liên tục, chẳng gián đoạn. Ngài chẳng
chấp trước Không, đó gọi là “Không và Hữu hai
bên đều chẳng chấp trước”. Công phu thật
sự đạt đến mức th́ mới có cảnh giới
này. Chúng ta lại xem đoạn tiếp theo:
Phần Viên.
(Huyền Nghĩa) Phần thuộc
Viên Giáo giả.
分圓
(玄義) 分屬圓教者。
(Phần
Viên.
Huyền
Nghĩa: Có phần thuộc
về Viên Giáo).
“Phần”
là bộ phận.
(Huyền Nghĩa) Viên chi vi nghĩa, vi tứ pháp giới
trung, tiền tam thông ư chư giáo, hậu nhất độc
thiện hồ Viên. Kim thử kinh giả, Viên toàn nhiếp
thử.
(玄義) 圓之為義,為四法界中,前三通於諸教,後一獨擅乎圓。今此經者,圓全攝此。
(Huyền Nghĩa: Ư nghĩa của Viên là trong bốn
pháp giới, ba pháp giới đầu các giáo đều có,
riêng pháp giới cuối cùng chỉ riêng Viên Giáo là có. Nay Viên
Giáo hoàn toàn thâu nhiếp kinh này).
Viên Giáo hoàn toàn bao quát bộ kinh
này.
(Huyền Nghĩa) Thử phần nhiếp Viên, đắc
Viên thiểu phần, phần thuộc Viên cố.
(玄義) 此分攝圓,得圓少分,分屬圓故。
(Huyền Nghĩa:
Kinh này thuộc về Viên Giáo một phần: Do được
một ít phần Viên, nên thuộc về Viên Giáo một phần).
Xét theo kinh này để nói, nó có
một phần là giáo nghĩa của Viên Giáo.
(Sớ) Tứ pháp giới giả.
(疏) 四法界者。
(Sớ: Bốn pháp giới là...)
Tứ pháp giới: Thanh
Lương đại sư giải thích kinh Hoa Nghiêm,
đă chia pháp giới thành bốn loại. Trên thực tế,
[tứ pháp giới] là bốn góc độ quan sát, chứ
chúng là một Thể. Một Thể được nh́n từ
bốn góc độ th́ mới thấy được tánh
chân thật của nó.
(Sớ) Nhất, Sự pháp giới.
(疏) 一、事法界。
(Sớ: Một là Sự pháp giới).
Sự
là nh́n theo sự tướng. Sự tướng là “duyên khởi vô biên”, nhỏ
th́ như chúng ta quan sát một người, quan sát chính ḿnh,
thân tâm của chúng ta, lớn th́ thấy toàn thể vũ trụ
đều là pháp sanh bởi nhân duyên, vô lượng vô biên
nhân duyên. Đức Phật dạy chúng ta phải có trí huệ,
phải có tầm nh́n sâu rộng, chớ nên chỉ thấy
trước mắt, chỉ thấy một phần; [nếu
không] sẽ phát sanh rất nhiều chuyện hiểu lầm,
phát sanh sự hiểu biết sai lạc. Tục ngữ
nói: “Nhất ẩm nhấc
trác, mạc phi tiền định” (một miếng
ăn, một hớp uống, không ǵ chẳng được
định trước), ai định? Tuyệt đối
chẳng phải là Phật, Bồ Tát định sẵn
cho quư vị, cũng chẳng phải do vua Diêm La quyết
định! Đức Phật bảo: “Nghiệp lực
quyết định”. Ngay cả trường hợp bị
chết v́ chiến tranh th́ cũng chẳng phải là chết
oan uổng!
Lúc tôi mới học Phật,
lăo cư sĩ Châu Kính Trụ giúp đỡ tôi rất nhiều.
Khi ấy, vào khoảng năm Dân Quốc 38 (1949) hay 39 (1950),
kinh sách ở Đài Loan chẳng dễ kiếm: Tiệm
sách cũng không bán, mà cũng không có ai in. Sau khi đến
Đài Loan, Châu lăo cư sĩ đă làm chuyện công đức
to lớn là xướng suất in kinh. Cụ tự ḿnh
quyên góp từ bạn bè, lập ra Đài Loan Ấn Kinh Xứ.
Cụ là người đầu tiên in kinh Phật ở
Đài Loan. Khi tôi học Phật, lăo nhân gia đă bảy
mươi tuổi, cụ cũng sống rất thọ,
chín mươi sáu tuổi mới văng sanh. Cụ kể cho
tôi nghe rất nhiều chuyện lạ lùng do đích thân cụ
đă từng trải qua, chẳng phải là chuyện giả.
Bản thân cụ là một người theo khoa học, học
theo ngành Tài Chánh, từ trước đến nay chẳng
hề tin chuyện quỷ thần, đương nhiên càng
chẳng dễ ǵ tiếp nhận Phật pháp. Nhạc phụ
của cụ là cụ Chương Thái Viêm[3],
là một bậc đại sư về Quốc Học
đầu thời Dân Quốc, là một người có danh
vọng hết sức cao.
Khi cụ Chương Thái Viêm
c̣n sống, từng làm Phán Quan cho Đông Nhạc Đại
Đế[4], chức Phán
Quan giống như Bí Thư Trưởng (Tổng Thư
Kư) hiện thời, địa vị rất cao. Dưới
Đông Nhạc Đại Đế là cụ. Mỗi
đêm cụ phải đi làm, có hai tiểu quỷ khênh kiệu
tới thỉnh cụ lên kiệu. Khi trời tối, lúc mọi
người ngủ th́ cụ phải đi làm. Khi cụ
đi làm, giống như đă chết, nằm yên trên
giường chẳng động đậy tức là cụ
đă đi làm. Đến sáng sớm hôm sau, khi gà gáy, cụ
tan sở, được đưa về. Cụ thấy
rất nhiều chuyện trong cơi Âm, bạn bè thường
hỏi cụ: “Tối hôm qua xử đoán vụ án nào, gặp
những ai?”
Cụ thấy quỷ có thọ
mạng dài hơn người, gặp những người
đời Đường, đời Tống, đă từng
đọc văn chương của họ, khi gặp mặt
có cảm giác đặc biệt thân thiết. Xă hội
trong quỷ đạo chẳng khác với nhân gian cho mấy,
cũng có quỷ ngoại quốc. Cụ nói: Ở trong ấy,
gần như ngôn ngữ thông suốt, chẳng bị
chướng ngại, cũng phải làm lụng, cũng có
đăi ngộ. Trong những trước tác của Châu lăo
cư sĩ, cụ đă viết lại những chuyện
ấy rất chi tiết. Là v́ cụ Chương là người
sống, đêm vào cơi Âm để làm việc, nên chẳng cần
tới lương bổng, cũng giống như là trọn
hết nghĩa vụ. Đông Nhạc Đại Đế
cai quản năm tỉnh, sự sống chết luân hồi
của người trong năm tỉnh do ông ta cai quản.
Khi ấy, cụ Châu nghe bố vợ (cụ Chương)
kể những chuyện ấy, chỉ nghĩ là ông cụ
tùy tiện nói để nghe chơi, vẫn chẳng thể
sanh ḷng tin tưởng. Lúc trẻ, cụ đă thấy rất
nhiều, từ đầu đến cuối chẳng sanh
khởi ḷng tin. Nói cách khác, chẳng phải là chuyện do
chính ḿnh đích thân trông thấy, chuyện ấy rất khó
tin tưởng!
Cụ kể vào một ngày Xuân
Tân Hợi (1911), tại quê cụ có một vị Cử
Nhân. Vị Cử Nhân này là con trai độc nhất, gia cảnh
cũng đủ sống. Sau khi thi đỗ, chẳng làm
quan, mà ở nhà, tự ḿnh cày cấy, phụng dưỡng
cha mẹ. Người này rất hiếu thuận, kết
hôn, sanh được một con. Trong khi ngủ trưa, chợt
thấy có một người kêu cửa, ông ta liền nhỏm
dậy, trên thực tế chỉ là nằm mộng, đứng
lên, mở cửa. Có một người cưỡi một
thớt ngựa đến, cầm một tấm thiếp,
hỏi ông ta: “Đại tướng quân của chúng tôi muốn
mời vị này”. Ông ta xem th́ thấy tên ḿnh, không sai, liền
nói: “Tôi suốt đời chưa từng giao du với
người trong chốn quan trường. Đại
tướng quân của các vị là ai tôi cũng chẳng quen
biết, chắc là có người trùng tên trùng họ, mà cũng
không chừng là trao nhầm danh thiếp rồi”. Người
ấy cũng chẳng đếm xỉa lư lẽ, bảo:
“Đă là trùng tên th́ Ngài theo tôi đi một chuyến cho rồi”.
Ép ông ta, bảo ông ta lên ngựa.
Sau khi ông ta lên ngựa, cảm
thấy con ngựa này chẳng chạy trên mặt đất
mà giống như bay lên trời, bên tai nghe gió thổi. Không
lâu sau, ngựa dừng lại, thấy nhiều người
giống như đang thương lượng một đại
sự trọng yếu. Đại tướng quân c̣n
chưa thăng trướng, ông ta hỏi ḍ người
khác: “Đại tướng quân là ai vậy?” Người
ta bảo: “Nhạc Phi”. Ông ta sững sờ, nói: “Không xong rồi!
Ta đă chết rồi sao? Nhạc Phi là người đời
Tống, ông ta đến t́m ḿnh, chẳng phải là ta
đă chết rồi sao? Không được rồi, ta nhất
định chẳng thể đi”. Ông ta tự nhủ: “Cha
mẹ ta tuổi đă cao lắm rồi, con c̣n quá bé. Ta
chưa thể nào xa họ được”.
Một lát sau, đại tướng
quân bèn thăng trướng, t́m ông ta để làm ǵ? Chuẩn
bị đánh miền Bắc, vẫn là muốn đánh
đuổi quân Thanh khỏi miền Bắc. Người
Kim thuở ấy chính là người Măn Thanh, Măn Thanh là hậu
duệ của người Kim[5]. Bọn họ
muốn đánh dẹp quân Kim, mời ông ta làm công việc giống
như Bí Thư. Ông ta là văn nhân, nên [Nhạc Phi] mời
ông ta đến làm việc. Ông ta thấy Nhạc Phi đối
với ḿnh hết sức lễ độ, bèn thưa: “Trên
c̣n có cha mẹ, vợ cũng rất trẻ, con c̣n bé quá.
Tôi là con trai một trong nhà, chẳng có anh em, cảm thấy
rất khó khăn”. Nhạc Phi bảo ông ta: “Chuyện này
không sao đâu! Chúng tôi c̣n bốn tháng nữa mới khởi
sự, tôi có thể đưa ông về. Ông hăy sắp xếp
ổn thỏa mọi việc trong nhà, đến lúc đó
lại phái người đến đón ông. Hăy ước
định ngày tháng và giờ giấc kỹ càng”. Ông ta
nghĩ: “Theo Nhạc Phi cũng cảm thấy rất vinh dự,
cũng khá lắm!” Được rồi! Ông ta nhận lời.
Nhạc Phi liền phái tiểu quỷ đưa ông ta trở
về.
Sau khi trở về, ông ta tỉnh giấc. Tỉnh giấc liền
thưa chuyện với cha mẹ, kể lể chuyện ấy.
Người nhà nói: “Ngươi nằm mộng như vậy,
há phải là thật!” Ông ta bảo người nhà: “Đấy
chẳng phải là mộng”. Ông ta nói: “Cảnh giới trong
mộng chẳng thể rơ ràng như thế, hoàn toàn giống
với cảnh giới trong lúc tỉnh táo. Chuyện này sợ
chẳng phải là mộng, nhất định phải
nghiêm túc chuẩn bị”. Thoáng chốc đă đến
thời gian ước định, ông ta báo cho thân thích, bạn
bè đến nhà tiễn hành. Ông ta tuổi trẻ, lại chẳng
bệnh tật ǵ, [mọi người kéo tới] xem thử
ông ta chết như thế nào? Châu lăo cư sĩ cũng
đến để xem chuyện quái lạ này. Ngày hôm ấy,
trong nhà bày tiệc rượu, ăn uống xong, ông ta hướng
về mọi người từ tạ. Tắm rửa,
thay quần áo mới, vào nhà, lên giường nằm tại
đó, bố ông ta cũng có mặt, đông đảo thân
thích cùng hiện diện. Chưa đầy một chốc,
ông ta thưa với cha: “Người đón con đă đến
rồi, đang ở ngoài cửa”. Bố ông ta liền quở
mắng, tỏ ư không chấp nhận. Kết quả vẫn
là ông ta tự ḿnh nghĩ thông suốt, bèn khuyên cha: “Vẫn
nên để cho con đi th́ tốt hơn; nếu không, sẽ
như người ta nói: ‘Rượu kính không uống lại
uống rượu phạt’, con vẫn phải ra đi.
Cha có chửi mắng cũng vô ích”. Ông bố uất quá,
nói: “Được rồi! Mày đi
đi”. Nói xong câu ấy, ông ta liền tắt thở. Vừa
được đồng ư, liền đi ngay! Châu lăo
cư sĩ đích thân chứng kiến chuyện này. Cụ
nói: Gần như là hai hay ba tháng sau, cách mạng Tân Hợi
(1911) thành công, lật đổ nhà Măn Thanh. V́ thế, cụ
nói: “Thế gian c̣n chưa loạn, quỷ thần đă loạn
trước, bên phía quỷ thần đă đánh nhau. Quỷ
thần thắng trận th́ chúng ta mới thắng trận;
nếu quỷ thần thất trận, chúng ta chẳng thể
thắng trận”.
Cụ nói trước thời
Kháng Chiến[6], trong biến cố
Hai Mươi Tám tháng Giêng[7] tại Thượng
Hải, trước chiến dịch ấy ba tháng, khi
đó, Châu lăo cư sĩ đang làm Tổng Kinh Lư (Tổng
Giám Đốc) cho ngân hàng nhà họ X... tại Tô Châu, cụ
có một người bạn làm sai nha trong cơi Âm, địa
vị không cao, giao chuyển công văn. Trong cơi Âm, thành hoàng
Tô Châu giống như chủ tịch tỉnh, là thành hoàng của
Giang Tô, cai quản cả một tỉnh. Trong cơi Âm, Thượng
Hải được coi như một huyện, thuộc
quyền cai quản của Thành Hoàng [Tô Châu]. Bên Thượng
Hải giao sang một cuốn sổ sanh tử đă phê,
ông ta lo việc giao chuyển. Ông ta mở ra xem trộm, xem
xong rất ngỡ ngàng, v́ tên họ đều là bốn chữ,
năm chữ, chẳng giống tên họ của Trung Quốc.
Hôm sau, cùng với mấy người bạn bè của Châu
lăo cư sĩ dùng cơm, ông ta kể: “Ngày hôm qua thành hoàng
Thượng Hải giao cho cuốn sổ sanh tử đă
phê, trong ấy ghi rất nhiều tên họ bốn chữ,
năm chữ, rất lạ lùng!” Mọi người nghe
xong đều không hiểu, người Trung Quốc họ
kép bốn chữ cũng có, nhưng ít lắm, tuyệt
đối chẳng thể nói họ kép lần này chết
nhiều như thế, chẳng thể nào có chuyện ấy
được! Suy đoán cách nào cũng không ra, bèn bỏ
qua chuyện này. Ba tháng sau, cuộc chiến tại Thượng
Hải bùng nổ, họ mới hoảng nhiên đại ngộ:
Đấy là tên họ của người Nhật Bản
chết tại đó. V́ thế nói là người đáng phải
chết th́ tên họ trong sổ sanh tử đă giao cho Thành
Hoàng từ ba tháng trước. Do vậy, Châu lăo cư
sĩ nói: “Trong thế gian này nói chết oan uổng là do nhân
gian chúng ta thấy [như vậy], chứ trên thực tế
không có. Thật sự là oan oan tương báo. Họ có cái
nhân trong đời trước”. Nếu chúng ta lắng ḷng
quan sát chuyện này th́ trong hiện tiền sẽ đều
có thể thấy được. Thật sự muốn cứu
người đời, cứu xă hội, trừ Phật
pháp ra, không có cách thứ hai nào!
Nhân duyên quả báo là sự thật
ngàn vạn phần xác đáng. Đức Phật bảo
chúng ta: Quan hệ giữa người và người có bốn
nhân duyên, báo ân, báo oán (báo cừu), đ̣i nợ, trả nợ.
Nếu mối quan hệ này rất sâu, sẽ biến thành
người một nhà; quan hệ sơ sài, xa xôi một chút
th́ là thân thích, bè bạn. Chẳng có mối quan hệ này, cả
đời cũng chẳng gặp. Nếu gặp gỡ th́
cũng là người xa lạ, họ gật đầu
chào quư vị, đều là do trong đời trước
có nhân duyên, chắc chắn chẳng phải là ngẫu nhiên.
V́ sao kẻ ấy thấy người khác hợp nhăn, nhưng
cứ khăng khăng thấy quư vị ngứa mắt? Chắc
chắn trong đời trước quư vị đă có khúc mắc
với kẻ ấy, chỉ là sâu hay cạn mà thôi. Thật
sự hiểu rơ chân tướng sự thật này, tâm chúng
ta sẽ b́nh. Đối đăi hết thảy mọi
người bằng tấm ḷng đại từ đại
bi: Người có ân với ta, chí đồng đạo hợp,
hy vọng họ có thể thành Phật trong một đời;
người có oán với ta, hy vọng hóa giải oán kết,
giúp họ học Phật. V́ thế, hiểu rơ Phật pháp
sẽ là công đức vô lượng vô biên. Chẳng hiểu
rơ, oan oan tương báo chẳng xong. Đó là khổ, khổ
sở vô tận! Đúng là “biển
khổ vô biên, quay đầu là bờ”. V́ thế, phải
hiểu tứ pháp giới là duyên khởi vô tận, vô
lượng nhân duyên, chắc chắn chẳng đơn
thuần!
(Sớ) Nhị, Lư pháp giới.
(疏) 二、理法界。
(Sớ: Hai là Lư pháp giới).
Lư là nói tới bản thể, tức
là nói tới bổn tánh. Nh́n từ Sự pháp giới, đó
là hiện tượng sai biệt, Tướng vô cùng vô tận.
Nh́n từ Lư pháp giới, hết thảy muôn h́nh tượng
có cùng một bản thể như trong kinh Hoa Nghiêm đă dạy:
“Ưng quán pháp giới tánh, nhất
thiết duy tâm tạo” (Nên quán tánh pháp giới, hết thảy
do tâm tạo), đó là do tâm tánh của chúng ta biến hiện.
Nói “duy tâm sở hiện” là
tâm có thể hiện tướng, “duy thức sở biến” là nói tới sự biến
hóa nơi h́nh tướng, thiên biến vạn hóa do thức
làm chủ. Chúng ta nằm mộng, trong mộng, ta cũng mộng
thấy có núi, sông, đại địa,
cũng mộng thấy người lành, kẻ ác. Thời
gian nằm mộng khá ngắn ngủi, sau khi tỉnh giấc,
chúng ta suy nghĩ cặn kẽ, mộng cảnh do đâu mà
có? Hoàn toàn do chính ḿnh biến hiện. Nếu b́nh thường
chúng ta hỏi: “Tâm có h́nh dạng như thế nào?” Chúng ta
không biết, tâm không có h́nh tướng! Trong khi chúng ta nằm
mộng, chúng ta có thể nói: Những cảnh giới trong
mộng chính là tướng trạng của tâm, tức là
tướng trạng của cái tâm trong khi ấy. Tướng
là hư vọng, là cái được biến; cái tâm có tác dụng
biến hiện là thật. Chân - vọng chẳng hai,
năng biến và sở biến là một, không hai. V́ thế,
toàn thể chân tâm biến thành vọng cảnh, toàn thể
vọng cảnh vốn là chân tâm. “Toàn chân tức vọng, toàn vọng tức chân”.
Nếu ở trong mộng, quư vị
tự hỏi: Cái ǵ là chính ḿnh? Chúng ta hăy suy nghĩ: Trong mộng
có ǵ chẳng phải là chính ḿnh? Trong mộng
đương nhiên cũng có bản thân của chính ḿnh, là
chính ḿnh. Người thân ái vẫn là chính ḿnh, do chính ḿnh biến
ra! Kẻ oán gia đối đầu vẫn là chính ḿnh y
như cũ! Chẳng có ǵ không phải là chính ḿnh. Ngay cả
núi, sông, đại địa, hư không đều là chính
ḿnh. Trong mộng dễ tỉnh ngộ! Cuộc sống hiện
thực của chúng ta trong hiện thời là một cảnh
mộng lớn! Phải hiểu: Y báo và chánh báo trang nghiêm
trong mười pháp giới là do chân tâm của chúng ta hiện
ra, cũng là duy thức sở biến. Chư Phật và các
đại Bồ Tát chứng đắc cảnh giới
này, thật sự hiểu rơ chân tướng của nhân
sinh và vũ trụ, mới biết đó là chính ḿnh, ngoài
chính ḿnh ra, chẳng có ai khác. V́ thế, đối với hết
thảy các chúng sanh sẽ sanh khởi ḷng đại từ
vô duyên, đại bi đồng thể. “Từ” là từ
ái, “duyên” là điều kiện, [vô duyên là] không có điều
kiện, [Vô Duyên Từ là] yêu thương người khác
vô điều kiện. V́ sao? V́ chúng ta có cùng một Thể.
Nói “ngoài
tâm vô pháp, ngoài pháp vô tâm” th́ mới nói tới “duy tâm Tịnh Độ, tự
tánh Di Đà”. Thế giới Cực Lạc cách ngoài
mười vạn ức cơi Phật do đâu mà có? Vẫn
do tâm tánh biến hiện. A Di Đà Phật cũng do tự
tánh của chúng ta biến hiện. Tây Phương Cực Lạc
thế giới chẳng rời ngoài tâm tánh của chúng ta, vẫn
là vật được hiện trong tâm tánh. V́ thế, cổ
đức mới nói: “Sanh tắc
quyết định sanh, khứ tắc thật bất khứ”
(Sanh th́ quyết định sanh, đi th́ thật sự chẳng
đi). Hai câu này nói trên hai phương diện khác nhau. “Sanh th́ nhất định sanh”
là nói theo Sự pháp giới. “Đi
th́ thật sự chẳng đi” là nói theo Lư pháp giới.
Do vậy, hai câu này chắc chắn chẳng mâu thuẫn.
Trên Thể là như như bất động, chẳng có đến
hay đi, trên Tướng th́ có đến, đi; nhưng
phải hiểu: Tướng và Thể là một, không hai.
Quư vị tách thành hai chuyện để xem, tức là mê rồi,
chẳng thấy chân tướng. Nếu quư vị biết
hai thứ ấy là một, không hai, chân tướng sẽ
rạng ngời!
(Sớ) Tam, Sự Lư vô ngại
pháp giới.
(疏) 三、事理無礙法界。
(Sớ: Ba là Sự
Lư vô ngại pháp giới).
Đây là nói viên dung vô ngại,
Lư và Sự là viên dung, trong Lư và Sự chẳng có chướng
ngại.
(Sớ) Tứ, Sự Sự vô ngại
pháp giới.
(疏) 四、事事無礙法界。
(Sớ: Bốn là Sự
Sự vô ngại pháp giới).
Đối với Tiểu, Thỉ,
Chung, Đốn, ba thứ pháp giới trước, tức
Sự pháp giới, Lư pháp giới, Sự Lư vô ngại pháp giới,
[xét theo] lư luận đều có thể thông suốt[8], chỉ riêng Sự
Sự vô ngại pháp giới là không có, chỉ Viên Giáo mới
có Sự Sự vô ngại pháp giới, Thuần Viên, đó
là đại triệt đại ngộ. Thật sự
giác ngộ triệt để chân tướng của
vũ trụ và nhân sinh sẽ là Sự Sự vô ngại. Hễ
chưa nhập cảnh giới này, nói chung là sẽ có
chướng ngại. Ví như nay chúng ta học Phật,
tín đồ Phật giáo Trung Quốc ăn chay, nếu quư
vị ăn thịt, ôi chao, không được rồi!
Đó là phạm phải tội nghiệp lớn tầy trời,
đó là chướng ngại! Chướng ngại sanh từ
đâu? Trong phần trên đă nói rồi đó: “Năm pháp, ba tự tánh, tám thức,
hai vô ngă”. Quư vị có những thứ ấy, cho nên có
chướng ngại. Đạt đến Sự Sự
vô ngại là cảnh giới Thuần Viên, chướng ngại
ǵ cũng chẳng có!
Nhưng chưa đạt tới
cảnh giới này, chớ nên học đ̣i! Nếu chưa
đạt tới cảnh giới này mà học đ̣i [cách
hành xử của những bậc đă đạt cảnh
giới Sự Sự vô ngại], nhất định sẽ
tạo tội nghiệp. Thuộc tầng cấp nào, chúng
ta cũng phải tuân thủ quy củ của tầng cấp
đó. Học Tiểu Học nhất định phải
giữ quy củ của trường Tiểu Học, học
Trung Học nhất định phải giữ quy củ của
trường Trung Học. V́ sao? Chúng ta không có cách nào vượt
thoát, Viên Giáo là vượt thoát triệt để. V́ thế,
đối với Sự Sự vô ngại pháp giới, trong
hết thảy các kinh Phật, chỉ ḿnh kinh Hoa Nghiêm thuộc
về Sự Sự vô ngại, nhất là phần năm mươi
ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử ở
cuối kinh, đúng là pháp giới vô chướng ngại đại
tự tại. Chúng ta hiểu lư luận này, hiểu chuyện
này, nhưng trước mắt, chắc chắn chưa thể
làm được. Cảnh giới của những vị ấy
là cảnh giới sau khi đă đắc Lư nhất tâm bất
loạn, là sự tu học sau khi đă minh tâm kiến tánh.
[Sách Diễn Nghĩa giảng] “Sự Sự vị chủ bạn
trùng trùng, tương tức, tương nhập” (Sự
Sự nghĩa là chủ và bạn trùng trùng, chính là lẫn
nhau, nhập vào nhau): Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật
đă nêu ra những ví dụ về “lớn - nhỏ vô ngại”:
Lớn như núi Tu Di, có thể bỏ núi Tu Di vào trong hạt
cải. Chúng ta làm không được, hạt cải quá bé!
Ngài nói núi Tu Di chẳng rút nhỏ, hạt cải cũng chẳng
ph́nh to, lớn có thể vào trong nhỏ, nhỏ có thể vào
trong lớn. Nay chúng ta biết: Nhỏ vào trong lớn không
có vấn đề ǵ, nhưng lớn vào nhỏ sẽ có vấn
đề ngay! Nêu lên thí dụ này, nhằm giảng rơ cảnh
giới Sự Sự vô ngại. Đây chắc chắn chẳng
phải là điều chúng ta có thể làm được
trong hiện thời!
(Sớ) Duy Hoa
Nghiêm nhất kinh hữu chi.
(疏) 唯華嚴一經有之。
(Sớ: Chỉ riêng
kinh Hoa Nghiêm là có).
Sự
Sự vô ngại pháp giới, chỉ kinh Hoa Nghiêm mới có.
Nói thật ra, kinh Hoa Nghiêm là một bộ kinh điển vô
cùng hay, phải nên đọc. Cổ nhân có nói: “Chẳng đọc Hoa Nghiêm, chẳng
biết sự phú quư trong nhà Phật”. Nói cách khác, chẳng
biết sự tốt đẹp do học Phật. Chẳng
đọc Hoa Nghiêm, nói thật ra, quư vị cũng chẳng
hiểu rơ đường nẻo trong Phật pháp, cũng
chẳng t́m được đường lối tu hành. Bản
thân tôi học Phật, có tín tâm kiên cố đối với
pháp môn Niệm Phật là nhờ kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm
nói đến hai ngàn pháp môn, nhưng Văn Thù, Phổ Hiền,
Thiện Tài đồng tử tu niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ. Chúng tôi mới hoảng nhiên đại
ngộ: Trong tất cả các pháp môn, pháp môn Tịnh Độ
được kinh Hoa Nghiêm xếp vào bậc nhất.
Năm mươi ba lần tham
học là Thiện Tài đồng tử đă làm
gương, nhằm bảo chúng ta phải nên tu pháp môn Niệm
Phật như thế nào. Thiện Tài đồng tử tu
pháp môn Niệm Phật theo cách tu Sự Sự vô ngại.
Năm mươi ba lần tham học, Ngài đến bất
cứ đâu, đúng là chẳng có chướng ngại ǵ.
Ngài đến tham phỏng với người học Phật
lẫn người không học Phật; thậm chí tham phỏng
cả ngoại đạo, tham phỏng người lành,
tham phỏng cả kẻ ác, nhất loạt đối
đăi b́nh đẳng. Năm mươi ba lần tham học
nói theo xă hội hiện thời là dùng năm mươi ba
vị Bồ Tát đại diện cho những nhân vật
thuộc các tầng lớp khác nhau trong xă hội, nam, nữ,
già, trẻ, các ngành, các nghề, thảy đều tu pháp
Đại Thừa chẳng trở ngại, không có chướng
ngại. Bất luận quư vị có thân phận nào, bất
luận quư vị làm nghề ǵ, quư vị học Phật
đều có thể thành tựu trong một đời, lại
c̣n chắc chắn chẳng mâu thuẫn với nghề nghiệp
của quư vị, thật tuyệt diệu! Kẻ giết
lợn, mổ trâu, hằng ngày có thể mổ lợn giết
trâu mà cũng thành Phật y hệt. Nếu quư vị không hiểu,
sẽ tạo vô lượng vô biên tội nghiệp. Khi
đă hiểu, dù quư vị có làm nghề ấy vẫn có thể
thành Phật. Quư vị làm nghề ấy là tu hành, thật sự
chẳng thể nghĩ bàn! Do vậy nên là Thuần Viên, thật
sự là Viên Giáo!
Trong Tứ Thập Hoa Nghiêm, Cam
Lộ Hỏa Vương suốt ngày từ sáng đến
tối giết người, Ngài thành Phật. Những
người bị giết ai nấy đều được
cứu[9]. Ngài thật sự
có bản lănh ấy! Giết ngươi để giúp cho
ngươi siêu sanh, cứu ngươi mà! Ngài nói với Thiện
Tài đồng tử Ngài dùng tâm đại từ bi, dùng
phương pháp ấy để cứu nhân độ thế,
đại từ, đại bi, quyết định chẳng
có sân khuể, tâm địa quyết định là thanh lương
tự tại. Chúng ta đọc kinh thấy khi ấy Thiện
Tài đồng tử thấy như vậy, có cảm giác rất
sợ hăi, ngă ḷng chẳng muốn đến gặp nhà vua
nữa. Cuối cùng, thiên thần bảo cho Ngài biết chân
tướng sự thật, nói rơ vua là một vị đại
thiện tri thức, là đại Bồ Tát, phàm phu mắt
thịt chúng ta chắc chắn chẳng thể nh́n ra! V́ thế,
phải nên thâm nhập kinh Hoa Nghiêm, nghiên cứu cặn kẽ.
Nay chúng ta mang thân phận ǵ, làm nghề ǵ, chẳng cần
phải thay đổi thân phận, chẳng cần phải
đổi nghề, vẫn có thể thành Bồ Tát đạo,
vẫn có thể thành Phật, làm Tổ. V́ thế, Phật
pháp Sự Sự vô ngại, Lư Sự vô ngại, rốt ráo
viên măn ở trong Đại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm Kinh.
(Sớ) Danh vi Biệt Giáo Nhất
Thừa, dĩ Sự Lư vô ngại, đồng Đốn,
đồng Chung, Sự Sự vô ngại, bất đồng
bỉ nhị, giản hồ đồng giáo Nhất Thừa,
cố danh vi Biệt.
(疏) 名為別教一乘,以事理無礙,同頓同終;事事無礙,不同彼二,揀乎同教一乘,故名為別。
(Sớ: Gọi [kinh
Hoa Nghiêm] là Biệt Giáo Nhất Thừa v́ Sự Lư vô ngại
giống với Đốn Giáo và Chung Giáo, c̣n Sự Sự
vô ngại chẳng giống với hai giáo ấy, nhằm phân
biệt khác với Nhất Thừa của Viên Giáo[10] nên gọi là Biệt).
Điều này dựa trên tánh chất
của kinh Hoa Nghiêm để nói.
(Sớ) Phi Tạng Thông Biệt
Viên chi Biệt dă.
(疏) 非藏通別圓之別也。
(Sớ: [Nói Sự Sự
vô ngại là Biệt Giáo chính là dựa theo ư nghĩa trên
đây], chứ không phải là Biệt hiểu theo nghĩa “Tạng,
Thông, Biệt, Viên”).
Biệt Giáo ở đây là nói
theo ư nghĩa này, chứ Biệt ở đây vẫn thuộc
vào Viên Giáo trong bốn giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên.
(Sớ) Kim vị phần nhiếp
hồ Viên giả.
(疏) 今謂分攝乎圓者。
(Sớ: Nay nói [kinh Di Đà] có phần thuộc Viên
là...)
Nói đến bộ kinh A Di
Đà này.
(Sớ)
Dĩ Hoa Nghiêm toàn viên, kim đắc thiểu phần,
lược thuyết hữu thập.
(疏) 以華嚴全圓,今得少分,略說有十。
(Sớ: Do Hoa Nghiêm
là toàn viên, nay kinh này có được ít phần, nói đại
lược th́ gồm mười điều).
“Đắc
thiểu phần”: Kinh này có một ít ư nghĩa thuộc
Viên Giáo, hết sức gần với mười huyền
môn được giảng trong kinh Hoa Nghiêm. Dưới
đây là nói đại lược, nêu lên mười thí dụ
mà thôi.
(Sớ) Nhất, Hoa Nghiêm khí giới
trần mao, h́nh vô h́nh vật, giai tất diễn xuất diệu
pháp ngôn âm.
(疏) 一、華嚴器界塵毛,形無形物,皆悉演出妙法言音。
(Sớ: Một là
trong kinh Hoa Nghiêm, khí thế giới, vi trần, mảy lông,
những vật có h́nh tướng hoặc không có h́nh tướng,
đều diễn ra âm thanh diệu pháp).
Điều này nói rơ trong kinh Hoa
Nghiêm, vô t́nh thuyết pháp. Nay chúng ta gọi “khí” (器) là thế giới vật chất,
tức là thực vật, khoáng vật, đó là “khí thế
giới”. Trong kinh Hoa Nghiêm, thực vật lẫn khoáng vật
đều thuyết pháp, đều biểu thị pháp. “Trần mao”: “Trần” là vi trần,
“mao” là sợi lông. “H́nh vô
h́nh”: Hữu h́nh hoặc
vô h́nh. Những vật chất ấy đều có thể “diễn xuất diệu pháp”,
tức là chúng đều có thể biểu diễn, đều
có thể thuyết pháp.
(Sớ) Thử tắc thủy,
điểu, thụ lâm, hàm tuyên Căn, Lực, Giác, Đạo
chư pháp môn cố.
(疏) 此則水鳥樹林,咸宣根力覺道諸法門故。
(Sớ: Trong kinh này,
nước, chim, rừng cây đều tuyên nói các pháp môn
như Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Bát Thánh
Đạo).
“Thử”
là nói về kinh này, giống như kinh Hoa Nghiêm! Trong kinh Di
Đà có nói: Tây Phương có nước tám công đức
trong ao bảy báu. Những loài chim, cây cối, hàng cây
cũng có thể thuyết pháp, giảng Ngũ Căn,
Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh
Đạo. Đấy chỉ là nêu vài thí dụ, nhưng
cũng bao gồm toàn bộ hết thảy các pháp, toàn bộ
Phật pháp cũng đều được lục trần
thuyết pháp.
(Sớ) Nhị, Hoa Nghiêm nhất
vi trần trung, cụ túc thập phương pháp giới,
vô tận trang nghiêm.
(疏) 二、華嚴一微塵中,具足十方法界,無盡莊嚴。
(Sớ: Hai, trong kinh
Hoa Nghiêm, ở trong một vi trần có trọn đủ
mười phương pháp giới, trang nghiêm vô tận).
“Vi
trần” cực nhỏ, trong nhỏ có thể hiện lớn,
có thể hiện y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười
phương pháp giới, giống như hiện thời
chúng ta xem TV: Từ màn h́nh TV, chúng ta có thể thấy
được hoạt động của toàn thế giới,
chúng ta dùng tỷ dụ này. Thế nhưng màn h́nh TV rất
lớn, nếu không, sẽ chẳng thấy rơ được.
Kinh [Hoa Nghiêm] nói: Trong một sợi lông, hay trong một vi
trần, có thể hiện cảnh giới, mà lại c̣n thấy
chân thật, chính xác hơn chúng ta xem TV, chi tiết hơn,
khía cạnh nào cũng có thể thấy trọn vẹn. Đấy
là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn.
(Sớ) Thử tắc như
Đại Bổn vân.
(疏) 此則如大本云。
(Sớ: Kinh này th́ như Đại Bổn có nói).
Trong kinh Di Đà không có, nhưng
trong kinh Vô Lượng Thọ có nói. Phân lượng của
kinh Vô Lượng Thọ nhiều hơn, nói chi tiết
hơn.
(Sớ) Ư bảo thụ trung,
kiến thập phương Phật sát, do như kính tượng
cố.
(疏) 於寶樹中,見十方佛剎,猶如鏡像故。
(Sớ: Trong cây báu
thấy cơi Phật trong mười phương như bóng
hiện trong gương).
Kinh Đại Bổn nói trong bảy
hàng cây báu, hàng cây giống như màn h́nh TV: Khi quư vị dạo
chơi giữa các hàng cây, có thể thấy chư Phật
trong mười phương thuyết pháp trong ấy, nh́n
thấy nhân duyên, quả báo của chúng sanh trong mười
phương thế giới chẳng sót, có thể thấy
quá khứ, hiện tại, vị lai, thảy đều có
thể trông thấy. [Lời Sớ viết] “diệc hàm vô lượng”
(cũng bao hàm vô lượng), [ngụ ư]: Ư nghĩa này giống
với kinh Hoa Nghiêm.
(Sớ) Tam, Hoa Nghiêm bất động
tịch tràng, biến châu pháp giới, cố vân Thể
Tướng như bổn vô sai biệt, vô đẳng vô
lượng tất châu biến.
(疏) 三、華嚴不動寂場,遍周法界,故云體相如本無差別,無等無量悉周遍。
(Sớ: Ba là Hoa Nghiêm bất
động tịch tràng, trọn khắp pháp giới, nên
nói Thể và Tướng giống như Bổn chẳng
sai biệt. Vô đẳng, vô lượng thảy đều
trọn khắp).
“Như
bổn vô sai biệt” chính là
“bất động tịch tràng”: Tràng là tâm địa, “tịch” là thanh tịnh tịch
diệt. Khi trong tâm ta chẳng sanh một niệm, khi ấy
là “bất động tịch
tràng”. Khi một niệm chẳng sanh, chân tâm hoàn toàn hiển
lộ. Nay chúng ta nói: “Cái ǵ ta cũng chẳng nghĩ tới,
tâm ta cũng sẽ định”. Đó có phải là cảnh
giới này hay không? Chẳng phải! V́ sao chẳng phải?
Khi thật sự thanh tịnh, tịch diệt, tâm địa
là một khối quang minh. Dẫu tâm chúng ta rất thanh tịnh,
nhưng bất cứ chuyện ǵ bên ngoài cũng đều
chẳng biết, th́ nói cách khác, ta đang bị vô minh che lấp.
Nhất tâm nhất định phá vô minh. Nếu nói chính ḿnh
đă đắc nhất tâm, mà vô minh vẫn chưa phá, đó
chẳng phải là nhất tâm thật sự. Do vậy, tu
Thiền Định có một thứ gọi là Vô Tưởng
Định, Phật pháp gọi loại Định này là
ngoại đạo, đệ tử Phật chẳng tu!
Tu Vô Tưởng Định thành tựu, quả báo sẽ
là Vô Tưởng Thiên trong Tứ Thiền Thiên. Định ấy
tu thành tựu th́ cái ǵ cũng chẳng biết, chẳng
tương ứng với ư nghĩa Thiền Định
trong Phật pháp. Định trong Phật pháp là “tịch tịch, tinh tinh”, “tịch tịch” (寂寂) là Định,
chẳng sanh một niệm; “tinh
tinh” (惺惺) là hiểu rơ hết
thảy, chẳng có ǵ không hiểu. Tâm giống như một
tấm gương trong sạch, chẳng nhiễm mảy
trần. Gương có thể chiếu, soi cảnh giới
bên ngoài rơ ràng, đó là “bất
động tịch tràng”, là nhất tâm bất loạn.
Nhất tâm bất loạn là không ǵ chẳng biết, nhất
tâm bất loạn là biết hiện tại, quá khứ, vị
lai, đều biết hết cả, đó là nhất tâm
chân chánh. Do vậy, đừng hiểu lầm cảnh giới!
“Vô đẳng vô lượng”
là nói thế giới. Vô đẳng thế giới, vô
lượng thế giới đều là ư nghĩa trọn
khắp pháp giới. Trong kinh này nói:
(Sớ) Thử tắc như
Đại Bổn vân: “A Di Đà Phật thường tại
Tây Phương, nhi diệc biến thập phương cố”.
(疏) 此則如大本云:阿彌陀佛常在西方,而亦遍十方故。
(Sớ: Kinh này th́
như Đại Bổn nói: A Di Đà Phật thường
ngự tại Tây Phương, mà cũng trọn khắp
mười phương).
A Di Đà Phật quả thật
từ trước đến nay chưa hề rời khỏi
Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhưng trọn
hư không, khắp pháp giới, không nơi đâu A Di Đà
Phật chẳng hiện thân. Chỗ nào có cảm, A Di
Đà Phật liền hiện thân nơi đó, Phật có ứng,
cảm ứng đạo giao! A Di Đà Phật có đến
hay không? Chẳng thể nói là Ngài không đến, mà cũng
chẳng thể nói là Ngài có đến. Cổ nhân đă nêu
một tỷ dụ về cảnh giới này: “Thiên giang hữu thủy thiên
giang nguyệt” (nước ngàn con sông in bóng ngàn mặt
trăng). Trăng có đến trong sông hay chăng? Không
đến, nhưng trong nước thật sự có
trăng. A Di Đà Phật tại Tây Phương Cực Lạc
thế giới bất động, mà mười
phương thế giới đều có A Di Đà Phật.
Chúng sanh có cảm, giống như ở nơi ấy có
nước, chỗ có nước bèn có thể hiện bóng
trăng, cảm ứng đạo giao. Chúng sanh niệm Phật
trong mười phương thế giới khi lâm chung, hóa
thân của A Di Đà Phật đến tiếp dẫn quư
vị văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Hóa thân Phật đến tiếp dẫn quư vị, chẳng
thể nói hóa thân không phải là đức Phật thật
sự. Nói thật ra, đạt đến cảnh giới
ấy th́ chẳng giả mà cũng chẳng thật, chân và
giả đều không áp dụng được! Điều
này có cùng ư nghĩa với “bất
động châu biến”. Hôm nay thời gian đă hết
rồi.
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa,
phần
36 hết
[1] Tam Tạng Pháp Số, gọi đủ
là Đại Minh Tam Tạng Pháp Số do ngài Nhất Như
biên soạn vào đời Minh. Bộ sách này gồm năm
mươi quyển, giải thích những danh từ, thuật
ngữ Phật học thường gặp trong Tam Tạng
kinh điển, bắt đầu bằng từ ngữ
“nhất tâm” và kết thúc bằng từ ngữ “bát vạn
tứ thiên pháp môn”, gồm 1.555 mục.
[2] Nhập Lăng Già Kinh
(Lankāvatāra-sūtra) có tên gọi đầy đủ
là Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh, là một bộ
kinh Đại Thừa, chuyên giảng về Như Lai Tạng,
chân thường duy tâm. Cùng với kinh Giải Thâm Mật,
kinh Lăng Già được coi là kinh điển trọng yếu của Như Lai Tạng Học
Phái. Danh xưng của kinh thường được giải
thích như sau: Lăng Già có nghĩa là Hồng Bảo
Thạch, là tên một ngọn núi báu. Có thuyết giải
thích Lăng Già là tên một ḥn đảo vốn là thủ
đô của xứ Ravana, nơi cư trụ của La Sát
Vương. Toàn bộ danh xưng Lăng Già A Bạt Đa
La có nghĩa là đức Phật vào núi báu Lăng Già để
giảng kinh này. Kinh Lăng Già có năm bản dịch:
1. Bản dịch thứ nhất của
ngài Đàm Vô Sấm dịch tại xứ Cô Tạng nước
Bắc Lương đă thất truyền từ đời
Đường.
2. Bản dịch mang tên Lăng Già A Bạt
Đa La Bảo Kinh của ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch
vào năm Nguyên Gia 20 (443) đời Lưu Tống, gồm
bốn quyển. Theo truyền thuyết, tổ Đạt
Ma đă truyền cho ngài Huệ Khả bản kinh này. Sách
Truyền Đăng Lục cũng nói Ngũ Tổ Hoằng
Nhẫn đă vẽ bức Lăng Già Tu Định Đồ
trên vách tường trong Thiền thất.
3. Bản dịch mang tên Nhập Lăng
Già Kinh mười quyển do ngài Bồ Đề Lưu
Chi dịch vào đời Bắc Ngụy.
4. Bản dịch mang tên Đại Thừa
Nhập Lăng Già Kinh, bảy quyển, do ngài Thật Xoa
Nan Đà dịch vào đời Đường.
5. Bản hội tập mang tên Lăng
Già Hội Dịch do pháp sư Viên Kha biên soạn vào đời
Minh. Bản này hội tập ba bản
Tống dịch, Ngụy dịch và Đường dịch.
Nguyên bản kinh này bằng tiếng
Phạn được phát hiện vào năm 1923 tại
Kathmandu của Nepal và được Nam Điều Văn
Hùng (Nanjō Bunyū) người Nhật kiểm giảo,
xuất bản. Đến năm 2005, Đàm Tích Vĩnh dựa
theo bản này, tham khảo ba bản
Hán dịch trước đó, dịch thành bản mới
mang tựa đề Nhập Lăng Già Kinh Phạm Bổn
Tân Dịch. Ở đây, Tổ Liên Tŕ dùng chữ “Lăng Già chư kinh” trong lời
Sớ nhằm nói đến các bốn bản dịch gốc
và một bản hội tập vào đời Minh.
[3] Chương Thái Viêm (1868-1936), người
xứ Dư Hàng, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, vốn có
tên là Học Thừa, tự là Mai Thúc. Về sau đổi
tên thành Bính Lâm, hiệu Thái Viêm. Cụ c̣n có các biệt hiệu
Cao Lan Thất Chủ Nhân, Lưu Tử Tuấn Tư Thục
Đệ Tử. Cụ là một nhà tư tưởng, sử
gia, chuyên gia về Quốc Học đồng thời là một
trong những nhà cách mạng tiên phong của Quốc Dân
Đảng. Năm 23 tuổi, cụ chuyên nghiên cứu Quốc
Học dưới sự giảng dạy của Du Việt,
rất được giới học thuật kính nể
do sự bác lăm của ḿnh. Khi chiến tranh Trung Nhật lần
thứ nhất xảy ra, cụ tham gia Cường Học
Hội, viết nhiều bài cho Thời Vụ Báo của
Lương Khải Siêu, chỉ trích những hủ bại
của triều đ́nh nhà Thanh. Bị truy nă, cụ phải
trốn sang Đài Loan, rồi sang Nhật Bản được
Lương Khải Siêu tiến cử lên Tôn Văn. Cụ
trở lại Thượng Hải làm cộng tác với tờ
Á Đông Thời Báo, và xuất bản tác phẩm quan trọng
nhất là Cầu Thư nhằm tŕnh bày ư tưởng canh
tân đất nước. Cụ bị nhà Thanh hạ ngục
từ năm 1901 đến năm 1906 và đă nghiên cứu
Phật học trong thời gian ở tù. Sau khi được
thả, cụ đă tham gia Đồng Minh Hội và trở
thành chủ bút tờ Dân Báo. Trong thời gian này, các học
tṛ đắc ư của cụ là Hoàng Khản, Lỗ Tấn,
Châu Tác Nhân (em trai Lỗ Tấn), Tiền Huyền Đồng
v.v... Chính cụ đă ấp ủ danh xưng Trung Hoa Dân Quốc
trước khi cách mạng Tân Hợi thành công. Trung Hoa Dân Quốc
thành lập, Viên Thế Khải đă mời cụ làm cố
vấn cao cấp. Khi cuộc tổng tuyển cử đầu
tiên được tiến hành vào năm 1913, Tống Giáo
Nhân đắc cử, nhưng chưa nhậm chức
đă bị ám sát chết. Cụ Chương kịch liệt
phê phán Viên Thế Khải đă ám sát họ Tống. Do vậy,
cụ Chương bị hắn giam giữ cho đến
khi Viên Thế Khải chết vào năm 1916. Năm 1924, cụ
Chương rời Quốc Dân Đảng, tuyên bố chỉ
trung thành với Trung Hoa Dân Quốc, phê phán những biện
pháp và đường lối độc tài của Tưởng
Giới Thạch. Cụ lập ra hội nghiên cứu Quốc
Học Giảng Tập Hội tại Tô Châu vào năm 1934,
kiêm chủ bút tờ Chế Tín cho đến khi mất. Khi
cụ mất, chính quyền Dân Quốc đă làm lễ quốc
táng. Một trong những đóng góp quan trọng của cụ
là chế ra hệ thống Chú Âm Phù Hiệu để ghi
cách đọc chữ Hán rất thuận tiện.
[4] Đông Nhạc Đại Đế
chính là thần núi Thái Sơn, c̣n có danh xưng là Đông Nhạc
Đế Quân, hoặc Thái Sơn Phủ Quân. Vị này
chưởng quản ngũ nhạc và tất cả danh
sơn của Trung Hoa. Theo Đạo Giáo, vị này quản
nhiệm cả mười vị Diêm Vương (trong
Đạo Giáo c̣n có một vị thần là Phong Đô
Đế Quân cũng cai quản Thập Điện Diêm
Vương), chủ tŕ họa phước của nhân gian.
Nguồn gốc của Đông Nhạc Đại Đế
cũng có nhiều thuyết:
1. Cát Hồng đời Tấn cho rằng
Đông Nhạc Đại Đế là vua Phục Hy.
2. Có thuyết cho rằng Đông Nhạc
Đại Đế là Kim Hồng Thị, hậu duệ của
Bàn Cổ, tu đạo thành tiên tại Thái Sơn.
3. Theo tiểu thuyết Phong Thần Diễn
Nghĩa th́ Đông Nhạc Đại Đế chính là
đại tướng Hoàng Phi Hổ của Trụ
Vương.
Có một số tăng sĩ cho rằng
Đông Nhạc Đại Đế là hóa thân của Địa
Tạng Vương Bồ Tát.
[5] Nhà Măn Thanh thuộc sắc tộc Nữ
Chân (Jurchen), c̣n gọi là Nữ Trực, hoặc Nữ
Trinh, sống chủ yếu ở vùng Măn Châu, vốn là hậu
duệ của một bộ tộc thuộc sắc dân Mạt
Hạt (Malgal, cư dân chủ yếu của cổ
vương quốc Bột Hải) phải lưu tán sau khi
nhà Liêu diệt Bột Hải. Do họ thường sống
tập trung quanh sông Amur vào thuở đầu nên sử
thường gọi là Hắc Thủy Mạt Hạt (Hắc
Thủy là dịch nghĩa của chữ Amur). Các bộ tộc
Nữ Chân được thống nhất bởi Hoàn Nhan A
Cốt Đả (Wanyan Aguda). A Cốt Đả xưng
đế, lập ra vương triều Kim. Chữ Kim này
chính là đặt theo tên của ḍng sông Anchuhu (sông Vàng) ở
quê hương người Mạt Hạt. Lănh thổ nhà
Kim bao gồm toàn bộ miền Bắc Trung Hoa, nhưng rồi
nhà Kim bị nhà Nguyên của Hốt Tất Liệt diệt
quốc vào năm 1234. Vào năm 1586, tù trưởng Nỗ
Nhĩ Cáp Xích (Nurhachi) của bộ tộc Kiến Châu Nữ
Chân đă thống nhất các bộ tộc Nữ Chân, lập
ra vương triều Hậu Kim. Con trai ông ta là Hoàng Thái Cực
đă đổi tên dân tộc thành Măn Châu v́ tin người
Nữ Chân là hậu duệ của Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát, và đổi quốc hiệu thành Đại Thanh.
[6] Chữ Kháng Chiến ở đây chỉ
giai đoạn Trung Hoa chống lại sự xâm lăng của
quân phiệt Nhật từ năm 1937 đến năm
1945, khởi đầu bằng Lư Câu Kiều sự biến,
tức sự kiện quân Nhật viện cớ một
lính Nhật mất tích gần đồn lũy của
thành Uyển B́nh (phụ cận Bắc Kinh) để
đ̣i xét thành. Quân Quốc Dân Đảng chống lại,
hai bên đọ súng, và Nhật viện cớ ấy, tấn
công chiếm Bắc Kinh và Thiên Tân.
[7] Sử Trung Hoa thường gọi sự
kiện này là Nhất Nhị Bát Sự Biến, hoặc Tùng
Hỗ Chiến Tranh hoặc Thượng Hải Sự Biến.
Sau khi tấn công thành công Măn Châu, Nhật đă chiếm
được Đông Tam Tỉnh của Trung Hoa và lập
ra chính quyền bù nh́n Măn Châu Quốc, với mục đích
tiếp tục tiến chiếm Trung Hoa, quân phiệt Nhật
thấy cần phải tạo ra một cớ để tấn
công Trung Hoa. Vào ngày Mười Tám tháng Giêng năm 1932, họ
sai năm tăng nhân người Nhật khiêu khích khiến
cho các thanh niên Trung Hoa nổi giận, đánh đập họ
ở ngoài xưởng máy Tam Hữu Thực Nghiệp Xă ở
Thượng Hải. Kết quả, hai người bị
thương nặng, một người chết. Vài tiếng
sau, xưởng máy Tam Hữu bị người Nhật đốt
trụi với mục đích báo thù. Các h́nh thức kháng Nhật
liền sôi nổi bùng ra. Chính quyền Nhật liền viện
cớ bảo vệ kiều dân Nhật tại Trung Hoa
để đem quân vào Thượng Hải. Giữa
đêm ngày Hai Mươi Tám tháng Giêng, Nhật ném bom Thượng
Hải và ba ngàn quân Nhật chính thức tấn công nhiều
nơi tại Thượng Hải. Chiến cuộc nổ
ra, hai bên thương vong nặng nề, cho đến khi
quân Quốc Dân Đảng v́ thiếu lương thực
phải rút khỏi Thượng Hải, phía Nhật dưới
áp lực của liên quân Đồng Minh và chiến phí quá nặng
cũng phải nhượng bộ; đôi bên kư kết hiệp
ước đ́nh chiến Tùng Hỗ vào ngày Năm tháng
Năm năm 1932.
[8] Ư nói: Bốn giáo trước xét theo lư luận
đều có đủ cả ba pháp giới Sự vô ngại,
Lư vô ngại, Sự Lư vô ngại.
[9] Cam Lộ Hỏa Vương là vị thiện
tri thức thứ mười bảy trong số năm
mươi ba vị thiện tri thức. Bát Thập Hoa
Nghiêm dịch tên vị vua này là Vô Yếm Túc Vương.
Để tránh hiểu lầm Phật giáo khuyến khích giết
người, xin trích dẫn một đoạn do vua tự
giải thích trong Tứ Thập Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Bất
Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền
Hạnh Nguyện Phẩm, quyển 14, như sau: “Thiện nam tử! Ư ông nghĩ
sao? Như ông đă thấy quả báo [do ta được
thụ hưởng] đáng yêu như thế, sắc tướng
như thế, quyến thuộc như thế, vinh hoa, sung sướng như thế, giàu có như
thế, tự tại như thế, có phải là do ác nghiệp
cảm thành hay chăng? Này thiện nam tử! Ta đắc
Bồ Tát Như Huyễn Giải Thoát. Này thiện nam tử!
Nay tất cả các chúng sanh trong cơi ta, hành nhiều nghiệp
ác như hạng Chiên Đà La. Ta v́ các chúng sanh ác chẳng chịu
vâng theo sự giáo hóa tốt lành mà tạo các thứ
phương tiện, vẫn chưa thể khiến họ
bỏ ác nghiệp, quay về thiện đạo. Thiện
nam tử! Ta v́ điều phục các chúng sanh ấy, khiến
cho họ thành thục, nên do ḷng Đại Bi hướng dẫn,
hóa hiện những kẻ ác, đối trước những
kẻ ác ấy, cảnh cáo kẻ ác, và biến hóa ra những
kẻ năo hại, bức năo, trách phạt [những kẻ
ác đó], đủ thứ trừng phạt khổ sở,
khiến cho những chúng sanh làm ác trong nước thấy
chuyện ấy, sanh ḷng hoảng sợ, đối với
các món dục lạc, sẽ sanh ḷng chán ĺa, tâm sanh khiếp
sợ, liền có thể vĩnh viễn đoạn hết
thảy ác nghiệp, phát Bồ Đề tâm, đắc Bất
Thoái Chuyển. Do vậy, thiện nam tử nên biết: Những
chúng sanh tạo ác chịu đựng các nỗi khổ và
những chúng sanh hung bạo [do ta ra lệnh] trừng phạt
kẻ ác như ông đă thấy đều là huyễn hóa.
Này thiện nam tử! Ta dùng các phương tiện như
vậy nhằm làm cho chúng sanh thôi tạo mười nghiệp
bất thiện, tu tập trọn mười thiện
đạo, lợi lạc rốt ráo, an ổn rốt ráo,
vĩnh viễn dứt các khổ, trụ trong Nhất Thiết
Trí Địa của Như Lai. Này thiện nam tử! Thân,
ngữ, ư của ta chưa hề mong năo hại một chúng
sanh nào. Ḷng ta nghĩ thà đến hết đời vị
lai, [chính ḿnh] chịu khổ không gián đoạn, trọn
chẳng phát khởi một niệm sân tâm, chưa từng
khởi ư tưởng năo hại chúng sanh bé bỏng như
con muỗi, con kiến, huống là tạo tác các ác nghiệp
như thế. Thiện nam tử! Ta tự ức niệm,
cho đến trong mộng, chưa từng có một niệm tâm sanh phóng dật,
huống là lúc thức mà lại giết người ư?”
[10] Viên Giáo Nhất Thừa chỉ có hai bộ
kinh là Pháp Hoa và Hoa Nghiêm, nhưng trong Pháp Hoa không có Sự Sự
vô ngại, chỉ riêng kinh Hoa Nghiêm có nên mới gọi Hoa
Nghiêm là Biệt Giáo Nhất Thừa nhằm phân định
với Nhất Thừa nói chung.