A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 37
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt:
Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong
Tập 73
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang một trăm mười một:
(Sớ) Tứ, Hoa Nghiêm dụ
dược vương thụ, nhược hữu kiến
giả, nhăn đắc thanh tịnh, năi chí nhĩ, tỷ, lục
căn, vô bất thanh tịnh. Chúng sanh kiến Phật, diệc
phục như thị, dĩ kiến Viên Giác Phật,
văn Phổ Môn pháp, thần lực năi nhĩ. Thử tắc
A Di Đà Phật đạo tràng, bảo thụ, kiến
giả, văn giả, lục căn thanh tịnh cố.
(疏) 四、華嚴喻藥王樹,若有見者,眼得清淨,乃至耳鼻六根,無不清淨。眾生見佛,亦復如是,以見圓覺佛,聞普門法,神力乃爾。此則阿彌陀佛道場寶樹,見者聞者,六根清淨故。
(Sớ: Bốn là trong kinh Hoa
Nghiêm có tỷ dụ cây dược vương, nếu có
ai thấy mắt sẽ thanh tịnh, cho đến sáu
căn tai, mũi v.v... không căn nào chẳng thanh tịnh.
Chúng sanh thấy Phật cũng giống như vậy, do
thấy Viên Giác Phật, nghe pháp Phổ Môn, do thần lực
nên như vậy. Trong kinh này, ai thấy đạo tràng, cây
báu của A Di Đà Phật, sáu căn sẽ thanh tịnh).
Đoạn kinh này giảng rơ mối
quan hệ giữa kinh này và kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm là Thuần
Viên, kinh này cũng có nghĩa thú[1] Viên Giáo. Đại
sư nêu đại lược mười điều,
đây là điều thứ tư. Kinh Hoa Nghiêm có tỷ dụ
như thế này: “Dược
vương thụ”, người trông thấy cây ấy,
nhăn căn bèn thanh tịnh. Không chỉ nhăn căn thanh tịnh,
mà sáu căn đều thanh tịnh. Đây là tỷ dụ “thấy Phật”. Nói thật
ra, thấy Phật là phước báo rất lớn, thiếu
phước báo sẽ chẳng thể thấy Phật. Dẫu
thấy Phật, kẻ ấy cũng chẳng tin. V́ thế,
học Phật thật sự chẳng phải là chuyện
dễ. Bài kệ Khai Kinh của cổ nhân có câu: “Trăm ngàn vạn kiếp khó gặp
gỡ”. Câu ấy là sự thật, quả thật chẳng
dễ ǵ gặp được Phật pháp. Gặp Phật
pháp, nhất định phải liễu giải chính xác
nghĩa thú của Phật pháp th́ mới thật sự
đạt lợi ích. Nếu không, gặp Phật pháp mà hiểu
lầm, coi Phật, Bồ Tát như những vị thần,
th́ có thể nói là gặp và chẳng gặp không khác ǵ nhau
cho lắm! Trong xă hội hiện thời, tuyệt đại
đa số là hiểu cong vạy, hiểu sai lạc Phật
pháp, chúng ta phải chú ư điều này!
Hôm nay, có một đồng tu đến
hỏi tôi: “Hộ pháp như thế nào?” Đây thật sự
là một vấn đề rất lớn. Nay chúng ta học
Phật, toàn tâm toàn lực dâng hiến Phật pháp, thừa
sự, cúng dường, có phải là chúng ta đă hộ pháp
hay chưa? Chẳng hề! Hộ pháp phải nói theo hai tầng
ư nghĩa:
-
Thứ nhất là phải hộ tŕ pháp của chính ḿnh, điều
này rất trọng yếu. Tu học theo Phật pháp là tu chính
ḿnh, chứ không phải tu vị Phật nào khác! Tổng cương
lănh tu hành là Giác - Chánh - Tịnh, quư vị phải hộ tŕ
điều này, hộ tŕ cái tâm thanh tịnh, hộ tŕ giác tánh,
hộ tŕ chánh tri chánh kiến của chính ḿnh. Đấy là
hộ pháp chân chánh, sẽ có thể đắc Định,
đắc Huệ!
- Điều thứ hai, phải
hộ tŕ pháp của chư Phật Như Lai, đó là đại
phước báo. V́ sao? Lợi ích nhân thiên! Do vậy, bất
luận khi nào, chúng ta cũng phải phấn chấn tinh thần.
Một tín đồ Phật giáo mà suốt ngày từ sáng
đến tối gục đầu ủ rũ, là ǵ? Tuy
chính ḿnh Phật tâm rất thanh tịnh, nhưng đă hủy
diệt Phật pháp của hết thảy chúng sanh. Dù
người ấy thanh tịnh tới đâu đi nữa,
chẳng có phước báo! Trong kinh Phật có tỷ dụ
“La Hán thác không bát” (La Hán
đi khất thực ôm bát trống trơn). Bậc La Hán
đă chứng quả, đă chứng Tứ Quả La Hán,
đi ra ngoài khất thực, không được ai cúng
dường, hằng ngày đói meo v́ không tu phước. Phải
hộ tŕ h́nh tượng của chư Phật, chúng ta phải
đặc biệt chú ư điểm này. Hộ tŕ h́nh tượng
Phật pháp là tu phước, nhiếp thọ hết thảy
chúng sanh, tiếp dẫn hết thảy chúng sanh, quảng
bá Phật pháp, giới thiệu Phật pháp với hết
thảy chúng sanh. Đó là hộ tŕ pháp của chư Phật,
hộ tŕ pháp của chúng sanh, những điều này đều
là chuyện thuộc về phước báo.
Hộ
tŕ chính ḿnh, hộ tŕ Định, hộ tŕ Huệ, phải
hộ tŕ Giới - Định - Huệ của chính ḿnh, phải
hộ tŕ Văn - Tư - Tu của chính ḿnh. Nếu nói theo tổng
cương lănh th́ phải hộ tŕ Giác - Chánh - Tịnh của
chính ḿnh, điều này vô cùng quan trọng. Chữ “kiến Phật” được
nói tới trong kinh văn có ư nghĩa ấy.
Nói theo nghĩa thú rất sâu, “thấy Phật” là ǵ? Là kiến
tánh! Minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Quư vị
đă kiến tánh, lẽ nào sáu căn chẳng thanh tịnh?
Đương nhiên thanh tịnh, nhưng chẳng thể
nói là thấy vị Phật bên ngoài. Thấy Phật bên
ngoài là duyên phận. Vị Phật bên ngoài nhắc nhở Tự
Tánh Giác, Tự Tánh Tịnh của chính ḿnh, chúng ta nhất
định phải giác ngộ và hiểu rơ điều này.
Nếu quư vị thấy Phật bên ngoài mà vẫn cứ y
như cũ, chẳng thể đánh thức chính ḿnh th́ thấy
mà cũng như chẳng thấy! Nói theo Phật pháp, kẻ
ấy nghiệp chướng quá nặng! Thấy h́nh tượng
Phật mà chẳng thể khởi Tự Tánh Giác, thấy
tượng Bồ Tát mà chẳng khởi Tự Tánh Tịnh,
mở kinh điển ra coi mà chẳng khởi Tự Tánh
Chánh. Giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ
chẳng nhiễm, công đức của Trụ Tŕ Tam Bảo
là ở chỗ này: Thường thường cảnh tỉnh
chính ḿnh. Chúng ta thấy rồi, vẫn mê hoặc, điên
đảo y như cũ, chẳng thể cảnh tỉnh
chính ḿnh, đó là “thấy mà cũng như chẳng thấy”,
chẳng đạt được hiệu quả sáu
căn thanh tịnh!
Tiếp theo đó, lời Sớ
nói rất rơ ràng, “chúng sanh kiến
Phật, diệc phục như thị. Dĩ kiến Viên
Giác Phật, văn Phổ Môn pháp” (chúng sanh thấy Phật
cũng giống như thế, do thấy Viên Giác Phật,
nghe pháp Phổ Môn). Tôi vừa mới nói đến ư
nghĩa này. Viên Giác là giác ngộ viên măn. Phổ (普) là phổ biến,
Môn (門) là thông đạt.
Nói cách khác, sự ǵ, vật ǵ cũng đều chẳng
mê, thứ ǵ cũng chẳng tà, niệm nào cũng đều
là Giác - Chánh - Tịnh, đó gọi là pháp Phổ Môn. “Thần lực năi nhĩ” (do thần
lực nên như vậy), đó là sức mạnh do Tam Bảo
ban cho, sức mạnh thần kỳ chẳng thể
nghĩ bàn. Do vậy, ư nghĩa thật sự của việc
đệ tử Phật thờ h́nh tượng Phật, Bồ
Tát là ở chỗ này, chứ không phải là coi các Ngài như
một vị thần.
Cũng có người hỏi: “Đă
là như thế, v́ sao chúng ta hằng ngày c̣n phải thắp
hương, cung kính lễ bái?” Đốt hương, thắp
đèn, cung kính, lễ bái là tu hành, tu Tánh Đức của
chính ḿnh. Từ vô thỉ kiếp đến nay, chúng ta
lười biếng, bê trễ, tập khí ngạo nghễ,
ngă mạn quá sâu, làm thế nào mới có thể trừ bỏ
những tập khí ấy? Phải đối trước
h́nh tượng của Phật, Bồ Tát, sốt sắng
tu tŕ nơi mặt sự tướng, nhằm uốn nắn,
sửa đổi căn bệnh tập khí của chính
ḿnh. Sáng tối nhất định phải thắp
hương, đốt đèn, lễ bái, quư vị làm những
chuyện đó, phải hiểu ư nghĩa thật sự.
Chúng ta thắp một nén hương, hương thơm sẽ
khiến cho tinh thần của chính ḿnh tỉnh táo. Trong Phật
môn, hương tượng trưng cho Tín, Tín Hương.
Thắp một nén Tín Hương, tín tâm của chính ḿnh chẳng
lui sụt, biểu thị ư nghĩa ấy, tín tâm kiên cố,
tín tâm thanh tịnh. Đèn tượng trưng quang minh, mức
độ thấp nhất là chúng ta đăi người tiếp
vật bằng tâm địa quang minh, đó là ư nghĩa của
việc thắp đèn. Thắp đèn c̣n có một ư
nghĩa quan trọng là “bỏ
ḿnh v́ người”, thắp đèn dầu hay thắp nến
đều biểu thị thiêu ḿnh để soi sáng người
khác, hy sinh chính ḿnh để thành tựu người khác.
Lạy Phật, lễ Phật
nhằm tu cái tâm cung kính, tu cung kính đối với hết
thảy: Chúng ta đăi người, tiếp vật, phải
cung kính giống như cung kính Phật. Dùng ḷng thành kính
để làm, để đăi người, tiếp vật,
đó là lạy Phật! Nếu không, suốt ngày từ sáng
đến tối luôn giống như thế này, nhưng rời
khỏi Phật đường lại hành xử theo một
kiểu khác, sự tu học trong Phật pháp đối với
quư vị chẳng có mảy may dính dáng nào, có thể nói là “chẳng
thể áp dụng những điều đă học”, chẳng
thể vận dụng trong xă hội và cuộc sống. Những
điều học được từ Phật đường
phải áp dụng vào xă hội và cuộc sống. Có thể
ứng dụng trong cuộc sống th́ mới là tu hành thật
sự, đó gọi là thật sự chứng nhập.
Kinh Hoa Nghiêm có ư nghĩa này,
đấy là ư nghĩa Viên Giáo; kinh này cũng có. “Thử tắc A Di Đà Phật
đạo tràng, bảo thụ, kiến giả, văn giả,
lục căn thanh tịnh” (Trong kinh này th́ đạo
tràng, cây báu của A Di Đà Phật, người thấy kẻ
nghe sáu căn thanh tịnh). Kinh Vô Lượng Thọ có đoạn
kinh văn nói như vậy, ư nghĩa này giống với
nghĩa thú của kinh Hoa Nghiêm. V́ thế, phán định
kinh này có ư nghĩa Viên Giáo.
(Sớ) Ngũ, Hoa Nghiêm bát nạn siêu Thập Địa
chi giai, thử tắc địa ngục, quỷ, súc, đản
niệm Phật giả, tất văng sanh cố.
(疏) 五、華嚴八難超十地之階,此則地獄鬼畜,但念佛者,悉往生故。
(Sớ: Năm là
kinh Hoa Nghiêm nói từ tám nạn vượt lên địa vị
Thập Địa, kinh này nói địa ngục, quỷ
đạo, súc sanh chỉ do niệm Phật đều
được văng sanh).
Đoạn kinh văn này quả
thật đă tạo cho chúng ta ḷng tin không chi lớn bằng!
Bát nạn là ǵ? “Nạn” là
quư vị gặp khó khăn. Trong kinh Phật thường nói
có tám thứ nạn, nạn ǵ vậy? Chính là quư vị không
có cơ hội tiếp xúc Phật pháp. Không có cơ hội
nghe Phật pháp, quư vị sẽ không có cơ hội giải
thoát, chẳng có cơ duyên liễu sanh tử, xuất tam giới.
Đấy là thật sự gặp nạn.
Nạn
thứ nhất trong tám nạn là địa ngục, đọa
địa ngục th́ trong địa ngục không có Phật
pháp. Tuy Địa Tạng Bồ Tát thề “địa ngục chẳng trống, thề chẳng
thành Phật”, đó là lời nguyện của Bồ
Tát. Quư vị đọa địa ngục, mong Địa
Tạng Bồ Tát đến cứu, cơ hội ấy hết
sức mong manh. Chẳng phải là Bồ Tát thiếu từ
bi! Bồ Tát đến độ quư vị, quư vị vẫn
hủy báng, vẫn chẳng tin tưởng, chẳng thể
tiếp nhận! Đây là do nghiệp chướng của
chính ḿnh quá nặng. Thật ra, Phật, Bồ Tát không
nơi nào chẳng phân thân, không chỗ nào chẳng hiện
thân, đương nhiên địa ngục cũng chẳng
phải là ngoại lệ. Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay, Phật,
Bồ Tát hiện thân là cảm ứng đạo giao, chúng
sanh có cảm, Phật, Bồ Tát liền có ứng. Chúng sanh
chẳng có một thiện niệm, chẳng có ư niệm cầu
Phật, cầu Tam Bảo, làm sao Phật, Bồ Tát hiện
thân? Chẳng thể nào có chuyện ấy được!
Kế đến là ngạ quỷ
và súc sanh. Trong ngạ quỷ đạo, đương
nhiên cũng Phật, Bồ Tát đến giáo hóa chúng sanh. Độ
chúng sanh trong ngạ quỷ đạo c̣n khó hơn độ
nhân đạo nhiều lắm! Súc sanh đạo ngu si. V́
thế, tam ác đạo là “nạn”! Trong ba ác đạo,
mong đắc độ rất khó! Chúng sanh trong ác đạo
cũng có kẻ đắc độ, đấy là những
người suốt đời siêng năng, nhọc nhằn
tu hành, do lâm chung một niệm sai lầm mà mắc đọa;
nhưng người ấy thiện căn sâu dầy, Phật,
Bồ Tát vào ác đạo giáo hóa, người ấy có thể
tiếp nhận. Hăy nghĩ xem thiện căn của chúng
ta là như thế nào? Chúng ta có sốt sắng tu học hay
chăng? Nếu chúng ta lười nhác, biếng trễ, mê
hoặc, điên đảo, chính ḿnh đọa trong tam
đồ, Phật có đến trước mặt
cũng chẳng thể độ quư vị được!
Ḥa thượng Phong Can, Hàn
Sơn, Thập Đắc, những vị ấy xuất
hiện tại chùa Quốc Thanh núi Thiên
Do vậy, phải cứu chính
ḿnh trong đời này. Chính ḿnh phải cứu chính ḿnh. Tự
ḿnh chẳng cứu chính ḿnh, chẳng có cách nào hết! Người
khác giúp quư vị, chỉ là Tăng Thượng Duyên mà thôi.
Có bốn thứ duyên, [nhưng ngoài Tăng Thượng Duyên
ra, ba thứ duyên c̣n lại là] Thân Nhân Duyên, Sở Duyên Duyên,
và Vô Gián Duyên đều phải do chính ḿnh có đủ;
chư Phật, Bồ Tát, Thế Tôn, đồng tham đạo
hữu, đều là Tăng Thượng Duyên của quư vị.
Nếu chính quư vị chẳng trọn đủ ba điều
kiện đầu, dù Tăng Thượng Duyên tốt
đẹp như thế nào cũng bị uổng phí, vô dụng!
Xưa kia, quy củ giáo học trong chùa chiền rất
nghiêm ngặt, cách bổng hát[2] nghiêm ngặt có
thể đánh thức người ta! Thật sự
đánh, thật sự có thể lay tỉnh quư vị. Nay th́
ai dám đánh? Nếu quư vị vừa đánh hay chửi,
ngay lập tức đâm đơn kiện liền! Do vậy,
hiện thời không có ai đánh quư vị, mà cũng không có
ai chửi quư vị, có thể thành tựu hay không hoàn toàn cậy
vào chính ḿnh. Chính ḿnh đọa lạc, Phật, Bồ Tát
ngó thấy cũng chẳng có cách nào, chỉ đành để
quư vị đọa lạc. V́ thế, tam ác đạo là
ba thứ trong bát nạn.
“Manh,
lung, ám, á” (mù, điếc, ngọng, câm) cũng là một
thứ nạn. “Manh” (盲) là mù mắt,
người ấy chẳng xem kinh sách được, chẳng
thấy tượng Phật. “Lung”
(聾: điếc) th́ thuyết pháp cho người
ấy, kẻ ấy chẳng thể nghe. “Á” (啞: câm) th́ trong tâm có
nghi vấn chẳng hỏi được. Đối với
việc học Phật, đều là gặp chướng
ngại rất lớn.
Loại
thứ năm là Thế Trí Biện Thông, rất có biện
tài, có trí huệ thông minh thế gian, chẳng tin tưởng
Phật pháp. Nói Phật pháp với kẻ ấy, hắn cứ
căi ngang, nói toàn những lư luận cong quẹo. Loại
người này chẳng dễ tiếp nhận, tự cho
ḿnh là đúng.
“Phật
tiền, Phật hậu”: Sanh nhằm vào thời đại
không có Phật pháp, chẳng có cơ hội nghe Phật
pháp. Quư vị sanh trong thế gian, đức Phật
chưa xuất hiện, trong thế gian không có Phật pháp.
Hoặc lúc quư vị sanh ra, pháp vận của Phật
đă hết. Pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật là một
vạn hai ngàn năm; sau một vạn hai ngàn năm, thế
gian này không c̣n Phật pháp nữa, Phật pháp hoàn toàn tiêu diệt,
ắt phải đợi đến Di Lặc Phật xuất
hiện trong thế gian. Ngài Di Lặc hiện đang là Bồ
Tát, đến khi nào mới hạ sanh làm Phật trong nhân
gian? Trong Di Lặc Hạ Sanh Kinh, Thích Ca Mâu Ni Phật cho biết:
Lấy niên đại của chúng ta để tính toán th́
năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm sau, Di
Lặc Phật mới từ trời Đâu Suất giáng hạ,
thế gian này lại có Phật pháp. Quư vị hăy nghĩ xem:
Thời gian không có Phật pháp dài cỡ nào? Phật pháp của
Thích Ca Mâu Ni Phật chỉ có một vạn hai ngàn năm;
hiện thời, đức Phật đă diệt độ
ba ngàn năm, Phật pháp hăy c̣n chín ngàn năm nữa. Sau
chín ngàn năm, sẽ không có Phật pháp; lại phải
đợi năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn
năm sau, Di Lặc Phật xuất hiện trong thế
gian mới có Phật pháp. V́ thế, sanh trước hay sanh
sau Phật, muốn học Phật mà chẳng có nhân duyên,
chẳng có cơ hội. Chúng ta nay được làm thân
người, sống trong thời kỳ Mạt Pháp của
Thích Ca Mâu Ni Phật, là may mắn lớn nhất trong những
sự bất hạnh, lại c̣n sống trong một ngàn
năm đầu tiên của thời kỳ Mạt Pháp. Nói
cách khác, vẫn c̣n một chút duyên dính líu với chánh pháp. Nếu
chẳng khéo nắm lấy cơ hội này, hễ mất
thân người, lần sau lại được làm thân người,
sợ nhằm đúng thời diệt pháp, muốn nghe Phật
pháp, chẳng dễ ǵ có cơ hội! Trong bài kệ Khai
Kinh có câu: “Vô thượng thậm
thâm vi diệu pháp, bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ”.
Những câu này đáng để chúng ta phải răn dè!
Trừ những điều này
ra, c̣n có hai nơi cũng thuộc vào tám nạn. Một là Bắc
Câu Lô Châu (Uttakuru)[3], người ở
nơi ấy phước báo quá lớn, chẳng tin tưởng
Phật pháp. Như câu nói: “Phú
quư khó học đạo”, cuộc sống của họ
không phải lo âu ǵ, suốt ngày từ sáng đến tối
sung sướng, cho rằng đă quá tốt đẹp rồi,
coi thường chuyện học Phật. Trong chùa Phật,
Vi Đà Bồ Tát là thần hộ pháp, trên tấm hoành phi
[treo phía trên bàn thờ Ngài] ghi “tam
châu cảm ứng”. Rơ ràng là có bốn đại bộ châu[4], cớ sao Ngài chỉ
cảm ứng ba châu? Ba châu là trừ Bắc Câu Lô Châu ra. Bắc
Câu Lô Châu không có Phật pháp, Ngài đến nơi đó vô ích,
cho nên chỉ hộ pháp trong ba châu, tam châu cảm ứng!
Sanh vào Bắc Câu Lô Châu là nơi không có Phật pháp. C̣n có một
nơi nữa là Vô Tưởng Thiên (Asamjñasattva), c̣n gọi
là Trường Thọ Thiên, thuộc Đệ Tứ Thiền
Thiên trong Sắc Giới. Đức Phật giảng pháp
cho họ, họ bèn nhập Định, cũng chẳng thấy,
chẳng nghe, cũng chẳng có cách nào hết. Tám loại
này gọi là “gặp nạn”, không có cơ duyên nghe pháp!
Những điều này hoàn toàn
nói theo sự tướng. Nếu nói theo Lư, ư nghĩa này
càng sâu hơn. Kinh Hoa Nghiêm dạy: Tam đồ bát nạn,
chỉ cần có thể quay đầu, cũng có thể
vượt trọn vẹn lên Thập Địa, chẳng
thể nghĩ bàn! Vượt lên địa vị Thập
Địa, viên thành Phật đạo. Do vậy, kinh Hoa
Nghiêm không chỉ là Viên, mà c̣n là Đốn. Kinh này và kinh Quán
Vô Lượng Thọ nói rất rơ ràng: Ngạ quỷ,
địa ngục, súc sanh, “đản
niệm Phật giả, tất văng sanh cố” (chỉ cần
niệm Phật, đều được văng sanh), so ra
c̣n nhanh chóng hơn kinh Hoa Nghiêm. V́ thế, Hoa Nghiêm có ǵ, kinh
này cũng có.
Nay chúng ta tuy chưa đọa
địa ngục, nhưng nếu quư vị hết sức
lắng ḷng suy nghĩ, chẳng phải là hiện thời
quư vị đă ghi danh trong địa ngục rồi hay
sao? Thật đấy! Chẳng giả đâu! Đọc
kỹ kinh văn, đối chiếu với tư tưởng
và hành vi của chính ḿnh, sẽ hiểu rơ chính ḿnh đă tạo
nghiệp nhân địa ngục. Tạo nghiệp nhân địa
ngục là đă ghi danh trong sổ bộ, đến khi ấy
phải có mặt. Lúc này, nếu giác ngộ th́ vẫn c̣n kịp!
Giống như pháp sư Oánh Kha đời Tống, là
người xuất gia, cảm thấy chính ḿnh đă ghi
danh trong sổ bộ địa ngục, chẳng có cách
nào, cho nên nguội lạnh cơi ḷng, một mực niệm Phật,
niệm đến mức cảm A Di Đà Phật hiện
ra. Sư bèn văng sanh, vị này phi phàm! Thật sự quay
đầu, thật sự giác ngộ. Chúng sanh trong ác đạo,
làm các thứ ác nghiệp, chịu quay đầu niệm Phật,
vẫn c̣n có thể cứu! Trong kinh Hoa Nghiêm có giáo nghĩa
đới nghiệp văng sanh, mà kinh Di Đà cũng có.
(Sớ) Lục, Hoa Nghiêm nhất tức nhất thiết,
cố Như Lai năng ư nhất thân hiện bất khả
thuyết Phật sát vi trần số đầu, nhất
nhất đầu xuất nhĩ sở thiệt, nhất
nhất thiệt xuất nhĩ sở âm thanh, năi chí văn
tự, cú nghĩa, sung măn pháp giới.
(疏) 六、華嚴一即一切,故如來能於一身現不可說佛剎微塵數頭,一一頭出爾所舌,一一舌出爾所音聲,乃至文字句義,充滿法界。
(Sớ: Sáu là trong
kinh Hoa Nghiêm, một chính là hết thảy. Cho nên đức
Như Lai có thể trong một thân hiện ra số đầu
bằng số các vi trần trong một bất khả thuyết
cơi Phật, mỗi mỗi đầu hiện ngần ấy
lưỡi, mỗi mỗi lưỡi phát ra ngần ấy
âm thanh, cho đến văn tự, cú nghĩa đầy khắp
pháp giới).
Đây là cảnh giới chẳng
thể nghĩ bàn, thần thông chẳng thể nghĩ bàn trong
kinh Hoa Nghiêm.
(Sớ) Thử tắc như
Đại Bổn vân.
(疏) 此則如大本云。
(Sớ: Điều này như Đại Bổn
đă nói).
Chữ “thử” chỉ bộ kinh này, Tiểu Bổn Di
Đà Kinh không có, nhưng Vô Lượng Thọ Kinh (Đại
Bổn Di Đà Kinh) có.
(Sớ) Bỉ quốc vô lượng
bảo hoa, nhất nhất hoa trung, xuất tam thập lục
bách thiên ức quang minh, nhất nhất quang minh, xuất
tam thập lục bách thiên ức Phật, phổ vị thập
phương thuyết nhất thiết pháp cố.
(疏) 彼國無量寶華,一一華中,出三十六百千億光明,一一光明,出三十六百千億佛,普為十方說一切法故。
(Sớ: Cơi ấy có vô lượng
hoa báu, trong mỗi hoa, tỏa ra ba mươi sáu trăm ngàn
ức quang minh, trong mỗi quang minh, hiện ra ba
mươi sáu trăm ngàn ức Phật, khắp v́ mười
phương nói hết thảy các pháp).
Giáo nghĩa này cũng giống
với kinh Hoa Nghiêm. Đó là thần lực chẳng thể
nghĩ bàn. Đến khi nào mới có thần thông rộng
lớn như thế? Thưa quư vị, Tạng Giáo Phật
c̣n có, huống chi Viên Giáo! Tỳ Lô Giá Na Phật là Viên Giáo
Phật, A Di Đà Phật cũng là Viên Giáo Phật, có
năng lực ấy! “Nhất
thân” là bản thân, vô lượng vô biên thân là phân thân, là
hóa thân. Nói thông thường, A La Hán có năng lực này,
nhưng năng lực không to. Theo Cao Tăng Truyện ghi
chép, có một vị pháp sư Ấn Độ sang Trung Quốc
hoằng pháp, sau một thời gian ở tại đó, Sư
muốn trở về nước. Có nhiều tín đồ
muốn làm tiệc tiễn hành Sư, Sư đều nhận
lời, thời gian cùng một ngày. Đến ngày hôm sau, Sư
phải lên đường, khi mọi người cáo biệt
Sư tại cái trường đ́nh mười dặm
đường[5], có người
nói: “Ngày hôm qua pháp sư đến nhà tôi nhận cúng dường”,
người khác nói: “Hôm qua pháp sư đến nhà tôi nhận
cúng dường”. Hỏi ra, cùng một ngày, Sư phân thân tới
năm trăm thân, nhà nào cũng đều đến nhận
cúng dường, mới biết vị pháp sư ấy có
thần thông, phân thân! Cổ đại đức thị
hiện như thế, thị hiện xong bèn ra đi, chẳng
c̣n ở lại nơi ấy nữa. A La Hán có thể chia
thành năm trăm thân, cùng một lúc đến năm
trăm nhà nhận cúng dường, huống hồ Như
Lai?
Đây là nói Như Lai phân thân
để thuyết pháp, “nhất
thân hiện bất khả thuyết Phật sát cực vi trần
số đầu” (một thân hiện số đầu
bằng số vi trần trong một bất khả thuyết[6] cơi Phật), có
đầu đương nhiên có thân, tức là hiện số
thân bằng số vi trần trong bất khả thuyết
cơi Phật. “Nhất nhất
đầu xuất nhĩ sở thiệt” (mỗi một
đầu hiện ngần ấy lưỡi), mỗi
đầu có một miệng, có một lưỡi, lưỡi
bèn thuyết pháp. “Nhất nhất
thiệt xuất nhĩ sở âm thanh” (mỗi một
lưỡi phát ra ngần ấy âm thanh), phía sau âm thanh bèn
nói tới “văn tự, cú
nghĩa”, đấy là nội dung của âm thanh, tức
là thuyết pháp. “Sung măn pháp giới”
(tràn ngập pháp giới), chư Phật thuyết pháp quả
thật tận hư không, khắp pháp giới, mà nay chúng ta
tai điếc, nghe không được! Nếu tai quư vị
rất thông sáng, mười phương chư Phật thuyết
pháp, chúng ta ở đây đều nghe rất rơ ràng. Âm thanh
ấy giống như âm thanh của radio, hiện thời
radio bị trục trặc, chỉ có một hai băng tần
là nghe rơ, những băng tần khác không nghe được.
Nếu hoàn toàn khôi phục, đích xác là mười
phương chư Phật thuyết pháp, muốn nghe vị
Phật nào sẽ nghe vị Phật ấy, muốn nghe pháp
môn ǵ, liền có thể nghe pháp môn ấy, chẳng cần
phải đến chỗ Ngài. Ngồi ở đây mà có thể
nghe chư Phật Như Lai giảng kinh, thuyết pháp.
Đấy là sức thần thông chẳng thể nghĩ
bàn của Tỳ Lô Giá Na Phật được nói trong kinh
Hoa Nghiêm.
Kinh này cũng có cảnh giới
ấy, trong kinh Vô Lượng Thọ nói “vô lượng bảo hoa” trong thế giới Cực
Lạc, đấy là hoa sen trong ao bảy báu, hoa phóng quang
minh, mỗi một đóa hoa tỏa ra ba mươi sáu
trăm ngàn ức quang minh. Đây là con số Thiên Văn, ta
không có cách nào tính toán được! Trong mỗi quang minh có
hóa Phật, quang trung hóa Phật! Những vị hóa Phật
ấy cũng đến mười phương thế giới
v́ trọn khắp hết thảy các chúng sanh mà thuyết
pháp. Ư nghĩa này giống với kinh Hoa Nghiêm, đều nhằm
nói rơ kinh này là Viên Giáo.
(Sớ) Thất, Hoa Nghiêm Xá Na, Thích Ca, song thùy lưỡng
tướng.
(疏) 七、華嚴舍那釋迦,雙垂兩相。
(Sớ: Bảy là
trong kinh Hoa Nghiêm hiện hai tướng là Lô Xá Na Phật và
Thích Ca Mâu Ni Phật).
Tỳ Lô Giá Na là Pháp Thân Phật,
Pháp Thân là Lư Thể, không có tướng. “Song thùy lưỡng tướng”: Từ Chân
Như bổn tánh hiện tướng, hiện ra hai tướng:
Một là Lô Xá Na (Rocana), tức là Báo Thân Phật, Tự Thụ
Dụng thân; hai là Thích Ca Mâu Ni Phật, tức là Ứng Thân
Phật. Chúng sanh có cảm, Phật bèn có ứng, trên thực
tế, [Thích Ca Mâu Ni Phật] là Hóa Thân của Tỳ Lô Giá Na
Phật. Tướng Báo Thân Phật to lớn, bài Kệ Tán
Phật có câu “bạch hào uyển
chuyển ngũ Tu Di, cám mục trừng thanh tứ đại
hải” (bạch hào mềm mại cuộn tṛn to bằng
năm quả núi Tu Di, mắt biếc trong vắt như bốn
biển), h́nh dung tướng của Báo Thân Phật. Báo Thân
Phật quá lớn, nếu vị Phật này ở ngay
trước mặt th́ chúng ta chẳng thấy được,
v́ sao? C̣n lớn hơn quả địa cầu của
chúng ta. Giống như loài người chúng ta quá to, loài
trùng kiến chẳng thấy được, loài kiến
thấy chúng ta như một quả núi, chúng nó chẳng biết
có cái thân to như thế. Ứng Thân Phật hiện tướng
chẳng khác con người cho mấy, tùy loại ứng
thân, [tức là] chúng sanh thân tướng như thế nào, Phật
bèn hiện thân tướng như thế ấy. Tướng
ấy không nhất định, lớn, nhỏ chẳng nhất
định, thọ mạng cũng không nhất định.
Thọ mạng cũng chẳng khác với thọ mạng
của chúng sanh cho lắm!
Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật thị
hiện trong thế gian, [kinh sách] nói “trượng lục chi thân” là thân cao một trượng
sáu thước. Khi ấy, một thước ngắn hơn
hiện thời. Trong bộ Luật Học Tam Thập Tam
Chủng, Hoằng Nhất đại sư giảng về
thước đời Châu th́ một thước dài hơn
sáu tấc hiện thời một chút. Một trượng
sáu thước so ra cao hơn chúng ta hiện thời một
chút. Thọ mạng của đức Phật là tám
mươi tuổi; đúng lư, Ngài phải sống đến
một trăm tuổi, v́ Ngài xuất hiện trong thời
thọ mạng của con người là một trăm
năm, nhưng Ngài viên tịch trước, v́ sao? Rất
nhiều nguyên nhân! Nhân tố quan trọng nhất là ma yêu cầu
Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn sớm, ma nói: “Ngài đă hoằng
pháp lợi sanh nhiều năm như thế, độ
chúng sanh nhiều ngần ấy, đủ rồi, Ngài nên
ra đi”. Đức Phật rất từ bi, liền
đáp ứng. Nguyên nhân thứ hai là đệ tử Phật
vô ư, chẳng biết thỉnh Phật trụ thế. Nguyên
nhân thứ ba là Phật lưu lại phước báo của
hai mươi năm cho các đệ tử xuất gia mai
sau. Kinh nói rất rơ ràng minh bạch, người xuất
gia trong đời sau cơm, áo, ăn ở, tứ sự
cúng dường[7], những
phước báo ấy do Thích Ca Mâu Ni Phật ban cho chúng ta. Phước
thừa của đức Phật ban cho các đệ tử
trong đời mạt, nhưng ngày nay đệ tử Phật
chẳng thật thà, nghĩ đủ mọi phương
cách kiếm chác tiếng tăm, lợi dưỡng, chẳng
biết khéo an tâm tu đạo. Nói thật ra, chỉ cần
an tâm tu đạo, nhất định chẳng chết
đói. Đức Phật dâng hiến phước thừa
hai mươi năm của Ngài cho chúng ta, chẳng thể
nào chết đói được! Tuy kinh đă nói như thế,
người đời sau đọc đến cũng gật
đầu; gật đầu xong, chẳng tin, vẫn cầu
có tín đồ đông đảo, vẫn nghĩ hết mọi
cách để kiếm tiền, vậy là không có cách nào hết!
V́ thế, vào cửa Phật mà chẳng tin Phật, chẳng
thể y giáo phụng hành. Kinh này cũng có “song thùy lưỡng tướng”:
(Sớ) Thử tắc như Quán Kinh vân: A Di Đà Phật
hiện lục thập vạn ức na-do-tha Hằng hà sa
do-tuần chi thân.
(疏) 此則如觀經云,阿彌陀佛現六十萬億那由他恆河沙由旬之身。
(Sớ: Ở
đây th́ như trong Quán Kinh đă nói A Di Đà Phật hiện
thân to đến sáu mươi vạn ức na-do-tha Hằng
hà sa do-tuần).
Quán Vô Lượng Thọ Phật
Kinh có đoạn nói như vậy, đấy là Báo Thân Phật.
Báo Thân Phật quả thật quá to, số lượng này
quá lớn so với địa cầu.
(Sớ) Nhi hựu kiến trượng
lục chi thân, ư tŕ thủy thượng cố.
(疏) 而又見丈六之身,於池水上故。
(Sớ: Lại c̣n
thấy thân trượng sáu trên mặt nước ao).
Đây là tướng tiếp dẫn.
Đức Phật dùng hóa thân đến mười
phương thế giới tiếp dẫn hết thảy
chúng sanh. Khi những chúng sanh trong mười phương
thế giới văng sanh, A Di Đà Phật đến tiếp
dẫn họ, thân tiếp dẫn hoàn toàn là Hóa Thân của A
Di Đà Phật. Quư vị thấy thân tướng ấy của
Phật gần như bằng chúng ta, hoặc cao hơn
chúng ta gấp bội; hiện thân ấy để tiếp
dẫn quư vị, nhỏ hơn thân thật sự của
Ngài quá nhiều. V́ vậy, [trong kinh này, A Di Đà Phật] cũng
có phân thân.
(Sớ) Bát, Hoa Nghiêm dĩ Lô Xá Na Phật vi giáo chủ,
thử tắc như Thanh Lương vân: “A Di Đà Phật
tức Bổn Sư Lô Xá Na cố”.
(疏) 八、華嚴以盧舍那佛為教主,此則如清涼云:阿彌陀佛即本師盧舍那故。
(Sớ: Tám, kinh Hoa
Nghiêm lấy Lô Xá Phật làm giáo chủ, kinh này th́ như
ngài Thanh Lương đă nói: “A Di Đà Phật tức Bổn
Sư Lô Xá Na Phật”).
Trong Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao, theo
cách nh́n của Thanh Lương đại sư, Lô Xá Na Phật
trong hội Hoa Nghiêm chính là A Di Đà Phật, là một
người, chẳng phải hai. Trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới gọi là A Di Đà Phật, trong thế
giới Hoa Tạng gọi là Lô Xá Na Phật, ư nghĩa này
càng viên măn. Giống như một người có hai chức
vụ, có hai văn pḥng, nhưng thật ra là một người.
Tây Phương Cực Lạc thế giới thật sự
giống như một trường đại học,
đến nơi ấy để viên thành Phật đạo,
thành tựu viên măn vô thượng Bồ Đề. Đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới để
hoàn thành học nghiệp; sau khi hoàn thành, đến mười
phương thế giới hóa độ chúng sanh hữu
duyên. Kinh luận dạy chúng ta: Lúc b́nh thường phải
rộng kết pháp duyên với hết thảy chúng sanh. Pháp
duyên nhiều, độ chúng sanh cũng nhiều; pháp duyên
ít, độ chúng sanh cũng ít.
Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện
trong thế gian này, thuyết pháp bốn mươi chín
năm, giảng kinh hơn ba trăm hội, pháp duyên sâu
đậm. Pháp duyên của Di Lặc Bồ Tát chẳng bằng
Thích Ca Mâu Ni Phật, trong tương lai Di Lặc Bồ Tát
xuất hiện trong thế gian chỉ có ba hội Long Hoa,
Thích Ca Mâu Ni Phật có hơn ba trăm hội. Đấy
là tuy đều thành Phật, nhưng mỗi vị trong
đời quá khứ kết pháp duyên với chúng sanh khác
nhau. Di Lặc Bồ Tát tuy chỉ có ba hội, nhưng
đệ tử được Ngài độ rất
đông, nói về số lượng sẽ chẳng kém
Thích Ca Mâu Ni Phật.
(Sớ) Cửu, Hoa Nghiêm danh đại
bất tư nghị, Tịnh Danh chư kinh danh tiểu bất
tư nghị, thử tắc diệc danh Bất Khả
Tư Nghị Công Đức cố.
(疏) 九、華嚴名大不思議,淨名諸經名小不思議;此則亦名不可思議功德故。
(Sớ: Chín là kinh
Hoa Nghiêm được gọi là đại bất tư
nghị, các kinh như kinh Tịnh Danh[8] gọi là tiểu bất tư nghị, kinh này c̣n
có tên là Bất Khả Tư Nghị Công Đức).
Tựa đề của kinh này
được La Thập đại sư dịch là
Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất
Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh, trong tựa
đề của kinh có chữ “bất
khả tư nghị”. Hoa Nghiêm là đại bất
tư nghị, quả thật là chẳng thể nghĩ bàn
trong hết thảy các kinh. Phẩm Nhập Pháp Giới của
Tứ Thập Hoa Nghiêm có tên gọi đầy đủ là
Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới
Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Cảnh giới
giải thoát chẳng thể nghĩ bàn là sở nhập, hạnh
nguyện Phổ Hiền là năng nhập. V́ thế, kinh Hoa
Nghiêm gọi là kinh điển Đại Bất Khả
Tư Nghị. Kinh Tịnh Danh là kinh Duy Ma Cật, được
gọi là Tiểu Bất Khả Tư Nghị Kinh, những
cảnh giới được nói trong kinh ấy quả thật
chẳng thể nghĩ bàn.
Chữ “thử” chỉ kinh này (kinh A Di Đà). Tựa
đề của một bản kinh chính là cương lănh
của trọn bản kinh. “Xưng
tán”, ai xưng tán? Mười phương ba đời
hết thảy chư Phật xưng tán, không có vị Phật
nào chẳng xưng tán. Người xưng tán chẳng phải
là người tầm thường, mà là mười
phương ba đời hết thảy chư Phật.
Đối tượng được xưng tán là bộ
kinh Di Đà này. Đủ thấy bộ kinh này có giá trị
cao lắm! Quư vị kiểm trong tất cả kinh điển
do đức Phật đă nói, có bộ kinh nào được
hết thảy chư Phật xưng tán hay chăng, ngay cả
kinh Hoa Nghiêm cũng không có, nhưng kinh Di Đà được
hết thảy chư Phật khen ngợi, khen ngợi
điều ǵ? “Bất khả
tư nghị công đức”! Bất khả tư nghị
là không thể nói được, “nghị” là nghị luận, công đức mầu
nhiệm, rộng lớn không có cách nào diễn tả, “tư” là tư duy, không có cách
nào suy nghĩ được! “Công”
là niệm A Di Đà Phật, “đức”
là văng sanh Tịnh Độ. Hễ văng sanh liền chứng
trọn vẹn ba thứ Bất Thoái. Tín nguyện tŕ danh là
Công, văng sanh chẳng thoái chuyển là Đức. “Nhất thiết chư Phật
chi sở hộ niệm”: Pháp môn Niệm Phật
được hết thảy chư Phật hộ tŕ.
Trong tâm của hết thảy chư Phật, niệm niệm
chẳng quên pháp môn này; quư vị có thể tu học pháp môn
này, nhất định được hết thảy
chư Phật hộ niệm; bởi lẽ, chư Phật
hộ niệm kinh này, hộ niệm pháp môn này, chúng ta đọc
bộ kinh này, chiếu theo pháp môn này để tu học,
đương nhiên cũng được hết thảy
chư Phật hộ niệm. Quư vị đồng tu phải
biết: Trong vô lượng vô biên pháp môn, pháp môn Niệm Phật
là bậc nhất. Đây là sự thật ngàn vạn phần
xác đáng. Quư vị tin tưởng, sẽ có đại
phước báo. Quư vị không tin, tu học các pháp môn khác,
thích pháp môn nào bèn tu học pháp môn ấy. Quư vị học
các pháp môn khác, đời này chưa chắc thành tựu, học
pháp môn này, đời này quyết định thành tựu.
V́ thế, pháp môn này thù thắng! Tương ứng với
kinh Hoa Nghiêm ở chỗ giáo nghĩa “bất tư nghị” này.
(Sớ) Thập, Hoa Nghiêm vi giáo, tức phàm phu tâm, tiện
thành chư Phật bất động trí.
(疏) 十、華嚴為教,即凡夫心,便成諸佛不動智。
(Sớ: Mười,
giáo nghĩa của kinh Hoa Nghiêm là từ ngay cái tâm phàm phu mà
thành tựu trí bất động của chư Phật).
Đây
là giáo nghĩa của Hoa Nghiêm: Thành Phật trong một
đời! Hoa Nghiêm nói thành Phật trong một đời,
Thiện Tài đồng tử tham học năm mươi
ba lần nhằm nêu gương cho chúng ta thấy: Từ hạng
phàm phu lè tè sát đất, chẳng cần đợi đến
đời thứ hai bèn viên chứng Phật quả ngay trong
một đời, những kinh điển khác chẳng có
điều này. Đối với thuyết “tức thân thành Phật” (thành Phật ngay trong cái
thân này) của Mật Tông, Ấn Quang đại sư
đă giảng rất rơ ràng. Kiến giải của các ngài
Đế Nhàn và Đàm Hư đối với chuyện
này gần như là nhất trí [với quan điểm của
tổ Ấn Quang], [“tức
thân thành Phật”] chỉ là liễu sanh tử mà thôi! Mật
Tông nói “tức thân thành Phật” là liễu sanh tử trong một
đời, liễu sanh tử rốt cuộc là địa
vị nào? Tiểu Thừa A La Hán đă liễu sanh tử.
Bồ Tát thuộc địa vị Thất Tín trong Viên Giáo
liễu sanh tử. Nói cách khác, “tức thân thành Phật”
như Mật Tông đă nói chính là địa vị này, chẳng
thể sánh bằng Hoa Nghiêm! Một đời thành Phật
trong Hoa Nghiêm chính là Phật quả rốt ráo viên măn trong
Viên Giáo, từ địa vị phàm phu mà thành Phật. “Tiện thành chư Phật bất
động trí” (bèn thành tựu trí bất động của
chư Phật). Bất động trí, nói đơn giản
là thật sự chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn;
trong bài kệ Hồi Hướng chúng ta thường đọc
có câu: “Hoa khai kiến Phật
ngộ Vô Sanh” (hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sanh).
Khi ấy, đích thân thấy Thật Tướng của
các pháp, thật sự thấy tướng chân thật của
hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian. Thấy
được tướng ấy là thấy ǵ? Bất sanh,
bất diệt, b́nh đẳng nhất tướng, đó
gọi là Nhất Pháp Giới Đại Tổng Tướng
Pháp Môn Thể, cũng là cái mà nay chúng ta gọi là “bản thể của vạn hữu
trong vũ trụ”, Thiền gia gọi nó là “diện mạo sẵn có trước
khi được cha mẹ sanh ra”. Thấy được
diện mạo sẵn có là thành Phật. Đó là giáo
nghĩa của kinh Hoa Nghiêm, c̣n kinh này th́...
(Sớ ) Thử tắc bất việt
xưng danh, Phật hiện tiền cố.
(疏) 此則不越稱名,佛現前故。
(Sớ: Kinh này th́ chẳng
vượt khỏi xưng danh mà Phật hiện tiền).
“Bất
việt” là chẳng vượt qua, tu pháp môn này là một
câu Phật hiệu. Quư vị phải biết: Rốt cuộc
cách niệm Phật trong Niệm Phật Đường là
như thế nào? Một Niệm Phật Đường thật
sự sẽ chẳng niệm kinh, cũng chẳng niệm
chú Văng Sanh, chẳng dùng đến kệ tán Phật, mà là bốn
chữ A Di Đà Phật, tức là một câu Phật hiệu
suốt ngày từ sáng đến tối trong hai mươi
bốn tiếng đồng hồ chẳng gián đoạn.
Pháp khí trong ấy tối đa là một cái dẫn khánh, một
cái mơ nhỏ. Người ta làm sao chịu đựng nổi?
Luân lưu niệm! Quư vị niệm mệt bèn nghỉ ngơi,
người nghỉ khỏe khoắn rồi lại niệm
tiếp. Giống như Niệm Phật Đường của
Ấn Quang đại sư xưa kia, niệm suốt hai
mươi bốn tiếng đồng hồ chẳng gián
đoạn. Buổi tối là bốn người một
ban, luân phiên niệm. Bốn người trực ban th́ phải
gơ dẫn khánh, gơ mơ, hướng dẫn mọi người
niệm. Đông người hơn th́ tùy hỷ. Cách niệm
là như vậy, một năm ba trăm sáu mươi ngày,
mỗi ngày đều giống như thế, tuyệt đối
chẳng gián đoạn. Đó gọi là Niệm Phật
Đường; Niệm Phật Đường ấy
được chư Phật hộ niệm.
Do vậy, trong Niệm Phật
Đường không có tạp tâm chuyện gẫu, không nói
năng, chỉ có âm thanh niệm Phật. Quư vị nhiễu
niệm cũng được, ngồi niệm cũng
được, đứng niệm cũng được,
lễ niệm cũng được, ai nấy chẳng trở
ngại nhau. Có một khu vực nhất định,
nơi này để lễ Phật, nơi kia để chỉ
tịnh, ngồi niệm, phía ngoài để vừa đi
kinh hành vừa niệm Phật, phân chia phạm vi. Quư vị
thích nhiễu niệm, ra phía ngoài. Thích ngồi niệm,
đến chỗ này; thích lễ Phật, ra nơi kia.
Đôi bên chẳng trở ngại nhau. Chỉ có một câu
Phật hiệu, ngày đêm không gián đoạn, đó gọi
là Niệm Phật Đường. Do vậy, muốn thật
sự kiến lập Niệm Phật Đường
như vậy, tôi cảm thấy tối thiểu phải
có hai trăm người đồng tu th́ mới có thể
luân lưu [trực ban] được. Số người
ít sẽ không thể làm được. Có được
hai trăm người th́ gần như là phải mấy
ngày mới đến phiên trực một lần, thân tâm của
chính ḿnh không bị áp lực. Chẳng hạn như, mỗi
tuần chỉ luân phiên niệm hai tiếng đồng hồ,
đó là khi quư vị trực ban. Ngoài lúc ấy ra, quư vị
sẽ thoải mái lắm, niệm mệt bèn nghỉ
ngơi, nghỉ khỏe rồi, quay trở lại niệm.
Tự do tự tại chẳng bị g̣ bó, thật sự
khiến cho thân tâm thanh tịnh, có thể thành tựu
người khác!
“Bất
việt xưng danh” (chẳng vượt ra ngoài phép xưng
danh) là tín nguyện tŕ danh. Câu Phật hiệu này niệm
đến mức chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp
(khi niệm Phật, quyết chẳng khởi vọng
tưởng. Nếu khởi vọng tưởng tức là
xen tạp), chẳng hoài nghi, chính ḿnh có tín tâm kiên định,
trong một đời này văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, nhất định thành công! “Phật hiện tiền cố”
(Phật hiện tiền), nhất định thấy Phật!
Trong kinh Lăng Nghiêm, Đại Thế Chí Bồ Tát [đă
dạy] “ức Phật, niệm
Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định
thấy Phật”.
(Sớ) Thị tắc tề
đẳng Tịnh Danh chư kinh.
(疏)
是則齊等淨名諸經。
(Sớ: Do vậy, giống như các kinh Tịnh
Danh v.v...)
Kinh Tịnh Danh là Tiểu Bất
Tư Nghị Kinh, kinh Di Đà cũng thuộc loại kinh
điển bất tư nghị, cùng thuộc về Viên
Giáo như kinh Hoa Nghiêm.
(Sớ) Đồng vi Hoa Nghiêm
lưu loại.
(疏) 同為華嚴流類。
(Sớ: Có cùng ḍng, loại với kinh Hoa Nghiêm).
Cùng một ḍng, một loại
với kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm giống như nguồn chánh,
là nơi phát nguyên. Kinh này là chi lưu của kinh Hoa Nghiêm,
thuộc cùng một loại với Hoa Nghiêm, cùng với kinh
Hoa Nghiêm đều thuộc vào Viên Giáo.
(Sớ) Viên Giáo toàn nhiếp thử
kinh, thử kinh phần nhiếp Viên Giáo.
(疏) 圓教全攝此經,此經分攝圓教。
(Sớ: Viên Giáo nhiếp
trọn vẹn kinh này, kinh này một phần thuộc về
Viên Giáo).
Viên Giáo là Hoa Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm
hoàn toàn bao quát bộ kinh này, nhưng kinh này phần nhiếp
Viên Giáo. Trong bộ kinh này có một bộ phận quả
thật thuộc về giáo nghĩa Viên Giáo.
(Sớ) Dĩ thiểu phần
nghĩa, cố danh Phần Viên dă.
(疏) 以少分義,故名分圓也。
(Sớ: Do có chút phần
[thuộc giáo nghĩa Viên Giáo], nên gọi là Phần Viên).
“Phần”
là bộ phận, nó có một phần quả thật
tương đồng với giáo nghĩa Hoa Nghiêm. Đủ
thấy trong toàn bộ giáo nghĩa của Phật giáo, bộ
kinh này có phạm vi hết sức rộng lớn, đă rộng
lại sâu, quyết chẳng thể coi rẻ được!
Hôm nay đă hết thời gian rồi!
Tập 74
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang một trăm mười ba.
Tam, bàng thông.
Sơ, Quán Kinh.
(Huyền Nghĩa) Tiên minh thông
Quán Kinh giả, hữu ngôn thập lục Quán môn, danh vi
Định Thiện, chấp tŕ danh hiệu, danh vi Tán Thiện,
kim vị thông chi.
三、旁通
初、觀經
(玄義) 先明通觀經者,有言十六觀門,名為定善,執持名號,名為散善,今為通之。
(Ba là luận
định ư nghĩa của những kinh có liên quan tới
kinh này.
Thứ nhất là
Quán Kinh.
Huyền Nghĩa: Trước hết nói rơ kinh này có
ư nghĩa thông với Quán Kinh. Có kẻ nói mười sáu môn
Quán [trong Quán Kinh] là Định Thiện, c̣n chấp tŕ danh
hiệu là Tán Thiện, nay bèn đả thông [chấp trước
sai lầm ấy]).
Trong phần Bàng Thông có hai đoạn,
đoạn thứ nhất nói về Quán Vô Lượng Thọ
Phật Kinh, đoạn thứ hai lại nêu ra những
kinh điển khác có ư nghĩa thông với bộ kinh này.
Trong Tịnh Độ Tam Kinh, trừ kinh này ra, [hai kinh c̣n lại]
là kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng Thọ
Phật, đấy là ba bộ kinh điển chủ yếu
của pháp môn Tịnh Độ. Từng có người
nói: Mười sáu phép Quán là Định Thiện, c̣n pháp tŕ
danh niệm Phật được giảng trong kinh này là
Tán Thiện. Rốt cuộc ai là Định? Ai là Tán? Ở
đây cũng có một cách giải thích: V́ mười sáu
phép Quán chủ yếu là tu Định, chẳng khác ǵ Thiền
Tông tu Chỉ Quán, ắt phải do tâm Định th́ mới
có thể quán thành tựu, tâm tán loạn chắc chắn chẳng
thể quán thành tựu. Ví như phép Quán thứ nhất là
quán “mặt trời lặn giống như cái trống
treo”. Khi mặt trời lặn xuống ở phương
Tây, mặt trời đỏ rực, quư vị bèn trông thấy.
Bất luận là ban ngày hay ban đêm, bất luận lúc
nào, vầng mặt trời đỏ rực luôn ở
trước mặt. Mở to mắt, vầng thái
dương ở trước mặt; nhắm mắt, vầng
thái dương vẫn ở trước mặt th́ phép Quán
thứ nhất mới tu thành. Phép Quán thứ hai là quán “biển
cả đóng băng”, tức là quán thế giới lưu
ly. Sau khi quán thành công, quư vị thấy đại địa
giống như ngọc Phỉ Thúy, phủ bằng Lưu
Ly, quả thật chẳng dễ dàng! V́ thế, chúng ta có
thể học lư luận của mười sáu phép Quán,
nhưng phương pháp tu hành chắc chắn chẳng thể
làm được. Tâm quá thô, không định được;
do vậy, chẳng thể quán thành tựu. Nguyên lư tŕ danh niệm
Phật cũng xuất phát từ Thập Lục Quán Kinh, tức
là trong phép Quán cuối cùng [có nói]: Nếu đối với
những phương pháp trước đó, quư vị đều
không có cách nào tu được, hăy tŕ danh niệm Phật.
Chấp tŕ danh hiệu, có thể nói là người sơ học
đều tán tâm xưng danh, tức là dùng cái tâm tán loạn
để niệm Phật hiệu. Ư nghĩa Định và
Tán được giảng như vậy.
(Huyền Nghĩa) Ư trung hữu
nhị, nhất tổng, nhị biệt.
(玄義) 於中有二,一總,二別。
(Huyền Nghĩa:
Trong đoạn này có hai ư nghĩa, một là tổng, hai là
biệt).
Trong đây có hai ư nghĩa: Một
là nói chung, hai là nói riêng.
(Huyền Nghĩa) Tiên minh tổng
giả, bỉ kinh diệu quán, tông hồ nhất tâm.
(玄義) 先明總者,彼經妙觀,宗乎一心。
(Huyền Nghĩa:
Trước hết nói về ư nghĩa chung th́ tông chỉ của
những phép Quán mầu nhiệm trong kinh ấy (kinh Quán Vô
Lượng Thọ Phật) là nhất tâm).
Chỉ điểm cho chúng ta thấy
tông chỉ của Thập Lục Quán Kinh. Kinh này tu hành từ
một ngày cho đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn,
cũng là theo tông chỉ ấy.
(Huyền Nghĩa) Thử kinh nhất
tâm, chánh phù bỉ ư.
(玄義) 此經一心,正符彼意。
(Huyền Nghĩa:
Nhất tâm trong kinh này thật phù hợp với ư ấy).
Nói
theo phương diện nhất tâm, kinh này và Quán Kinh chẳng
khác.
(Huyền Nghĩa) Nhất tâm tác
quán, nhất tâm xưng danh, hà đắc đồng quy nhất
tâm, dương bỉ ức thử, tường như Tịnh
Giác Sớ trung thuyết.
(玄義) 一心作觀,一心稱名,何得同歸一心,揚彼抑此,詳如淨覺疏中說。
(Huyền Nghĩa:
Nhất tâm tác quán, nhất tâm xưng danh, lẽ nào chẳng
cùng trở về nhất tâm, đề cao điều kia,
hạ thấp điều này được nói tường
tận trong bộ Tịnh Giác Sớ).
Liên Tŕ đại sư giảng
rơ: Hai bộ kinh này quả thật giống nhau, có cùng một
tông chỉ, nhưng phương pháp tu hành khác nhau. Nếu
nói theo mặt Sự, Quán Kinh chuyên môn dạy quán tưởng
y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Đối với cách tu này, cũng khó thể
diễn tả sự vi diệu! [Hành giả] ắt phải
thông đạt nghĩa lư Đại Thừa rất sâu th́
phép Quán ấy mới là mầu nhiệm. Nếu không, chỉ
là đơn độc quán tưởng những sự
tướng, mầu nhiệm ở chỗ nào? Lư rất sâu
tức là muốn nói đến nhất tâm. Kinh Hoa Nghiêm dạy:
“Ưng quán pháp giới tánh, nhất
thiết duy tâm tạo” (Hăy nên quán tánh pháp giới, hết
thảy do tâm tạo). Quư vị quán hết thảy các pháp,
chẳng phải chỉ là y báo và chánh báo của thế giới
Tây Phương, mà vô lượng vô biên các cơi Phật trong tận
hư không, trọn pháp giới đều là vật
được biến hiện bởi tự tánh, duy tâm sở
hiện, duy thức sở biến, tâm tánh trọn khắp,
không pháp ǵ chẳng tạo. Cho nên nói: “Ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm”. Đấy mới
là diệu quán, vận dụng nhất tâm. Vận dụng
nhất tâm th́ phép Quán này sẽ mầu nhiệm.
Chúng ta cũng dùng cái tâm này để
niệm Phật, làm sao Phật hiệu chẳng mầu nhiệm?
Trong kinh Di Đà, trong các đức hiệu của năm vị
Phật ở phương Đông, vị Phật cuối
cùng là Diệu Âm Phật. Ngài tượng trưng cho sự
diệu quán. Phép niệm Phật của chúng ta là diệu
âm, đều diệu! V́ sao diệu? Diệu ở chỗ
nào? Diệu ở chỗ nhất tâm xưng niệm. Đó
là diệu. Khi niệm Phật tuyệt đối chẳng
có vọng tưởng, chẳng có nghi hoặc, chẳng có
phân biệt, chẳng có chấp trước th́ Phật hiệu
trong sự niệm Phật ấy chính là diệu âm. Chúng ta
đọc lời chú giải, trước hết, đại
sư giải thích chữ “bàng
thông”.
(Sớ) Bàng thông giả, bất Biệt, Đốn,
Viên, đản thủ chư Đại Thừa kinh
nghĩa lư tương thông.
(疏) 旁通者,不別頓圓,但取諸大乘經義理相通。
(Sớ: “Bàng thông” là
không phân biệt là Biệt, Đốn hay Viên, chỉ chọn
lấy những kinh Đại Thừa có nghĩa lư tương
thông [kinh Di Đà]).
Ở đây nói đến “tương thông” (có cùng giáo
nghĩa hay có những điểm chung), chứ không luận
Biệt Giáo, Viên Giáo, hay Đốn Giáo, tạm thời không
bàn đến những thứ ấy, chỉ lấy những
kinh Đại Thừa nào có nghĩa lư thông với kinh này.
(Sớ) Dĩ Thập Lục Quán
thị Tịnh Độ chuyên kinh, cố tiên cử dă.
(疏) 以十六觀,是淨土專經,故先舉也。
(Sớ: Do kinh Thập
Lục Quán là kinh chuyên nói về Tịnh Độ, nên nêu ra
trước hết).
Nêu Quán Vô Lượng Thọ Phật
Kinh đầu tiên, đạo lư là ở chỗ này.
(Sớ) Định tán giả,
Cô Sơn phán thập lục Quán vi Định Thiện, thử
kinh tŕ danh vi Tán Thiện.
(疏) 定散者,孤山判十六觀為定善,此經持名為散善。
(Sớ: “Định,
tán”: Ngài Cô Sơn phán định mười sáu phép Quán là
Định Thiện, c̣n phép tŕ danh trong kinh này là Tán Thiện).
Cô Sơn là pháp sư Trí Viên
đời Tống, trụ tại Cô Sơn, Tây Hồ, Hàng
Châu, người đời sau dùng ngay tên đất để
gọi Ngài, nhằm tỏ ḷng cung kính. Thuở ấy, Ngài
trụ tŕ đạo tràng này, vừa hoằng pháp lợi
sanh, vừa siêng năng viết chú sớ. Ngài viết
mười bản chú giải[9], người
thuở ấy có kẻ gọi Ngài là Thập Bổn Sớ
Chủ. Định Thiện và Tán Thiện là do Ngài nói.
(Sớ) Kim vị nhất tâm bất
loạn, hữu Sự, hữu Lư.
(疏) 今謂一心不亂,有事有理。
(Sớ: Nay nói nhất
tâm bất loạn có Sự và Lư).
Ở đây, Liên Tŕ đại
sư dựa trên ư nghĩa của kinh này và Thập Lục
Quán Kinh để thảo luận thâm nhập một phen.
(Sớ) Tức Sự nhất
tâm, dĩ phi toàn tán, hà huống Lư nhất.
(疏) 即事一心,已非全散,何況理一。
(Sớ: Ngay cả Sự
nhất tâm c̣n chưa phải hoàn toàn là Tán Thiện, huống
hồ Lư nhất tâm).
“Lư
nhất” là Lư nhất tâm. Cách nh́n của Liên Tŕ đại
sư thâm nhập hơn cách nh́n của ngài Trí Viên. Pháp
sư Trí Viên không chuyên tu Tịnh Độ, Liên Tŕ đại
sư cả đời dốc sức nơi Tịnh Độ,
nên cảnh giới và thể nghiệm khác nhau. Sự nhất
tâm bất loạn đă đắc Định; trong sách Yếu
Giải, Ngẫu Ích đại sư đă nói rất thấu
triệt: Niệm Phật đến mức Sự nhất
tâm bất loạn, Kiến Tư phiền năo đă đoạn.
Nếu đă đoạn Kiến Tư phiền năo, nói thông
thường theo Giáo Hạ, đó chính là cảnh giới của
Đệ Cửu Định. Thiền Định thế
gian là Tứ Thiền Bát Định, đạt đến
Tứ Không Thiên. Đệ Cửu Định là pháp chứng
đắc của A La Hán và Bích Chi Phật, vĩnh viễn
đoạn Kiến Tư phiền năo, vượt thoát tam
giới, chẳng c̣n luân hồi nữa. Đấy là Định,
chẳng phải Tán, huống chi Lư nhất tâm? Kiến
Tư, Trần Sa phiền năo đă đoạn, bốn
mươi mốt phẩm vô minh tối thiểu cũng phá
một phẩm; phá một phẩm vô minh, chứng một
phần Pháp Thân, đó là Lư nhất tâm. Cảnh giới Lư nhất
tâm là cảnh giới của Sơ Địa Bồ Tát
trong Biệt Giáo hay Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo, cao
hơn A La Hán và Bích Chi Phật quá nhiều, làm sao có thể
nói là Tán Thiện? Điều này quả thật nói chẳng
suông!
Pháp sư Trí Viên nh́n theo công phu mà
hàng sơ học chúng ta dùng: Hiện thời chúng ta niệm
Phật, quả thật là tán tâm niệm Phật, chứ
không phải là nhất tâm niệm Phật. Chúng ta tán tâm niệm
Phật cũng được thành công, có thể niệm
đến mức công phu thành phiến sẽ đới
nghiệp văng sanh; nhưng đối với mười sáu
phép Quán th́ không được! Mười sáu phép Quán nhất
định phải quán thành! Để quán thành, đích xác
là phải nhất tâm tu Quán. Tán tâm tu Quán chắc chắc chẳng
thể quán thành công. Nếu nh́n từ điểm này, pháp
sư Trí Viên nói chẳng sai; nhưng nếu do chuyện này mà
phán định Thập Lục Quán Kinh là Định Thiện,
kinh Di Đà là Tán Thiện th́ cách nói ấy chẳng viên măn!
Do vậy, cách nói của Liên Tŕ đại sư là dựa
trên lư luận trong kinh điển và phân tích rất cặn
kẽ.
(Sớ) Chánh phù bỉ ư giả, bỉ
kinh Tam Quán, tức Không, tức Giả, tức Trung, siêu hồ
thứ đệ, thị vi nhất tâm. Kim kinh chấp tŕ
danh hiệu, nhất tâm bất loạn, tắc năng tŕ,
sở tŕ, liễu bất khả đắc, thị danh
Không Quán. Chánh đương Không thời, Năng Sở lịch
nhiên, thị danh Giả Quán. Phi Giả, phi Không, thường
Không, thường Giả, bất khả tư nghị, thị
danh Trung Quán.
(疏) 正符彼意者,彼經三觀,即空即假即中,超乎次第,是為一心。今經執持名號,一心不亂,則能持所持,了不可得,是名空觀;正當空時,能所歷然,是名假觀;非假非空,常空常假,不可思議,是名中觀。
(Sớ: “Thật phù hợp ư ấy”:
Tam Quán trong kinh kia (Quán Kinh) tức là Không, Giả, Trung
vượt khỏi thứ tự, chính là nhất tâm. Nay kinh
này chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn th́
năng tŕ (người tŕ danh, tâm tŕ danh) và sở tŕ (đối tượng
được tŕ niệm, tức Phật hiệu) trọn
chẳng thể được. Đó gọi là Không Quán.
Ngay trong lúc Không, Năng và Sở rành rành, đó gọi là Giả
Quán. Chẳng phải Giả, chẳng phải Không, mà
thường Không, thường Giả, chẳng thể
nghĩ bàn, bèn gọi là Trung Quán).
Nói thật ra, lư luận và
phương pháp tu học của kinh Di Đà chẳng khác
ǵ Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, chẳng có cao thấp.
“Bỉ kinh Tam Quán” là nói
đến Không, Giả, Trung, đây là giáo nghĩa của
tông Thiên
Thuở ấy, có những cao
tăng Ấn Độ đến Trung Quốc, Trí Giả
đại sư đem tâm đắc của ḿnh thảo luận
với các vị ấy. Những vị pháp sư ngoại
quốc đó hết sức bội phục Ngài, nói Ngài ngộ
được phương pháp tu hành Tam Chỉ Tam Quán hết
sức gần gũi với Xa Ma Tha, Tam Ma và Thiền Na
như trong kinh Lăng Nghiêm đă dạy. Trí Giả đại
sư nghe nói Ấn Độ có kinh Lăng Nghiêm, rất
mong mỏi bộ kinh ấy được truyền sang
Trung Quốc, nhưng thuở ấy, sang Ấn Độ
chẳng dễ dàng, giao thông chẳng thuận tiện
như hiện thời. Ngài bèn dựng một cái đài ở
núi Thiên Thai, gọi là Bái Kinh Đài, hướng về
phương Tây, bởi lẽ, Ấn Độ ở phía
Tây của Trung Quốc. Mỗi ngày lễ bái tại đó, mục
đích lễ bái là cầu cho bộ kinh ấy được
truyền sang Trung Quốc. Ngài lễ suốt mười
tám năm, măi cho đến khi viên tịch, kinh Lăng Nghiêm
vẫn chưa truyền sang Trung Quốc; nhưng quư vị
hăy nghĩ xem: Tinh thần và nghị lực ấy đáng
để người đời sau kính phục. Sau này,
đến thời Đường Trung Tông, pháp sư Bát Lạt
Mật Đế mới đem kinh Lăng Nghiêm sang Trung Quốc.
Trong Tam Chỉ Tam Quán, lại
chia ra Nhất Tâm Tam Quán [và Thứ Đệ Tam Quán]. Nhất
tâm cao lắm. Trong nhất tâm, Tam Chỉ Tam Quán đều
viên măn. Ở đây nói là “tức
Không, tức Giả, tức Trung, siêu hồ thứ đệ”,
có Thứ Đệ Tam Quán và Nhất Tâm Tam Quán. Nhất Tâm
Tam Quán: Quán Tam Đế (Không, Giả, Trung) là một cảnh,
một nhưng ba, ba mà một, đấy mới là rốt
ráo, đấy cũng là “xứng
tánh nhi quán” (quán xứng hợp với Lư tánh) như chúng
ta thường nói, hoặc là “xứng
tánh nhi đàm” (bàn luận đạo lư xứng hợp với
Lư tánh) trong Giáo Hạ. Khi tu phép Quán này, một chính là ba, ba
chính là một, “Không tựu thị
pháp giới” (Không chính là pháp giới). Một thứ
Không, hết thảy đều Không, chẳng thể nói cái
này là Không, cái kia là Có, chẳng thể có đạo lư ấy.
Một thứ Không, hết thảy đều Không. Không
được quán từ chỗ nào? Quán từ thể tánh;
quán tự tánh của hết thảy các pháp là không tịch,
trọn chẳng thể được. Đó cũng là
quán từ bản thể.
Quán Giả: Giả cũng là
toàn thể pháp giới. Giả là quán từ Tướng, hết
thảy các tướng đều là pháp sanh bởi nhân
duyên. Pháp sanh bởi duyên toàn là giả, chẳng có một thứ
nào không giả. V́ thế, một thứ giả, hết thảy
đều giả. Giả cũng là pháp giới, Giả và
Không có phải là đối đăi hay chăng? Chẳng phải!
Giả và Không là một, chẳng hai. Như vậy th́ mới
nhập pháp giới. Nếu [thấy] Giả và Không chẳng
phải là một, thấy là hai chuyện, quư vị chẳng
thể nhập pháp giới. Không là nó, mà Giả cũng là
nó. Giả là Có. Trong Tâm Kinh có nói: “Sắc
bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức
thị Không, Không tức thị Sắc”. Không là nói về
bản thể của pháp giới. Giả là nói về hiện
tượng trong pháp giới. Hiện tượng là hiện
tượng của bản thể, bản thể là bản
thể của hiện tượng, là một, không hai. Quư vị
phải thấu hiểu ư nghĩa này. V́ thế, Không trong Phật
pháp chẳng dễ hiểu, Không chẳng phải là cái ǵ
cũng chẳng có, mà Không là Có. Không và Có là một chuyện,
Có là Không, Không là Có, Không và Có là một, Không và Có chẳng hai.
Đấy mới gọi là Nhất Tâm Tam Quán.
Lại c̣n có Trung. Trung là Dụng,
tức tác dụng của Quán. Chẳng riêng ḿnh Phật pháp
nói Trung Đạo là tác dụng, mà Nho gia cũng nói điều
này. Trong Tứ Thư có một thiên sách là Trung Dung[10], Nho gia dạy
chúng ta dùng Trung sẽ được tự tại, Phật
pháp cũng như vậy. Trung cũng là pháp giới, Trung là
khởi tác dụng. Hết thảy các pháp đều là
Trung Đạo, chẳng Không, chẳng Giả, không ǵ chẳng
Trung, quán như vậy thành tựu th́ sẽ chứng đắc
Nhất Tâm Tam Trí, ba thứ trí huệ ấy chính là Nhất
Thiết Trí, Đạo Chủng Trí, và Nhất Thiết Chủng
Trí. Cách Quán này của tông Thiên Thai cũng có kinh luận
để làm căn cứ: Trung Luận[11] nói “nhân duyên sở sanh pháp, tức
Không, tức Giả, tức Trung” (pháp sanh bởi nhân
duyên là Không, là Giả, là Trung). Ba thứ trí huệ
được nói trong Phật pháp đều do nhất tâm
mà chứng đắc. Loạn tâm chắc chắn chẳng
thể khai trí huệ, chắc chắn chẳng thể khai
ngộ, v́ tâm quư vị chẳng chuyên nhất.
Phật pháp
lấy cầu trí huệ làm mục đích. Bất luận
pháp môn nào, không ǵ chẳng nhằm tu Định, không ǵ chẳng
nhằm tu nhất tâm. Nếu nói pháp môn có cao hay thấp,
cách nh́n ấy lệch lạc, hiểu lầm! Trong kinh
Đại Thừa, đức Phật dạy chúng ta: “Pháp môn b́nh đẳng, không có cao,
thấp”. Cách nh́n này tuyệt đối chính xác, v́ các
pháp môn đều nhằm tu nhất tâm. Nhất Tâm Tam Quán
là tu nhất tâm, Thứ Đệ Tam Quán vẫn là tu nhất
tâm, chỉ là phương pháp khác nhau. Nhất Tâm Tam Quán cao
minh, dành cho hàng lợi căn tu. Thứ Đệ Tam Quán [dành
cho kẻ] ngu si hơn một chút, kẻ ngốc hơn một
chút dùng phương pháp này. Thứ Đệ cũng thế
mà Nhất Tâm cũng thế, đến cuối cùng đều
có thể đắc Định, đều có thể chứng
quả. Thứ Đệ Tam Quán không nhất định phải
bắt đầu từ đâu, nói thông thường th́ từ
Giả nhập Không, cách này so ra thuận tiện hơn, Giả
là giả tướng, nhập Không; sau đó, từ Không lại
nhập Giả, quay trở lại. Đó gọi là “song giá, song chiếu” (ngăn
trở cả hai, thấu suốt cả hai)[12]. Từ Biệt
Giáo trở xuống đều dùng phương pháp này. Nếu
dùng Nhất Tâm Tam Quán th́ là Viên Giáo, là viên dung, chẳng có thứ
tự. Kinh này tuy không phải là Thuần Viên, mà là Phần
Viên, thuộc về Đốn Giáo, cho nên mới nói “siêu hồ thứ đệ, thị
vi nhất tâm” (Vượt khỏi thứ tự, đấy
là nhất tâm).
Kinh này cũng như vậy. Phải
thật sự thông đạt lư luận của kinh Di
Đà. Phương pháp tu hành trong kinh Di Đà là “tín nguyện tŕ danh”, quư vị
nhất định phải niệm Phật. Phương
pháp niệm Phật rất nhiều, niệm bằng miệng,
hay niệm bằng tâm, đương nhiên lấy tâm làm chủ.
Nếu miệng niệm, tâm chẳng niệm, vô dụng!
Đấy là “rách toạc cuống
họng cũng uổng công”. Tâm niệm, miệng chẳng
niệm, hữu ích! Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: “Ức Phật, niệm Phật”,
nhớ đến Phật, trong tâm ta tưởng Phật,
tuy miệng ta không niệm, trong tâm ta tưởng là
được! “Hiện tại,
tương lai, nhất định thấy Phật”, những
câu kinh văn này hết sức khẳng định, nhất
định thấy Phật! Do vậy, ức niệm hết
sức khẩn yếu, thời thời khắc khắc
đừng quên Phật, phải thường nh́n tượng
Phật. Hiện thời rất thuận tiện, trong nhà
thờ một bức h́nh Phật lớn, tượng Phật
nhỏ có thể mang theo ḿnh, thường nh́n, giúp cho quư vị
ức niệm, niệm niệm chẳng quên A Di Đà Phật,
niệm niệm chẳng quên Tây Phương Tam Thánh, phải
dưỡng thành thói quen ấy.
“Năng
tŕ, sở tŕ, liễu bất khả đắc, thị
danh Không Quán” (năng tŕ và sở tŕ trọn chẳng thể
được th́ gọi là Không Quán). V́ sao? Tánh của
Năng và Sở là Không. Năng Tŕ là chính chúng ta, Sở Tŕ
là danh hiệu A Di Đà Phật, đây cũng là pháp sanh bởi
nhân duyên. Trung Luận nói: “Nhân
duyên sở sanh pháp, ngă thuyết tức thị Không, diệc
danh vi giả danh, diệc thị Trung Đạo nghĩa”
(Pháp do nhân duyên sanh, ta nói chính là Không, cũng gọi là giả
danh, cũng là nghĩa Trung Đạo). Những câu này dạy
chúng ta điều ǵ? Phá chấp trước. Tuy chấp
tŕ danh hiệu, nhưng trong ấy có phá chấp trước,
thật sự mầu nhiệm chẳng thể diễn tả
được! Danh hiệu ấy có cần hay không? Cần!
Suốt ngày từ sáng đến tối Phật hiệu
không gián đoạn, đó gọi là chấp tŕ danh hiệu.
Tuy chấp tŕ danh hiệu, nhưng đồng thời tam
luân thể không, đó là phương pháp tu hành cao minh nhất.
“Chánh
đương Không thời, Năng Sở lịch nhiên, thị
danh Giả Quán” (Đang trong lúc Không, Năng và Sở rành
rành, đó là Giả Quán). Đồng thời, tuy Năng và
Sở trọn chẳng thể được, Phật hiệu
của chúng ta chẳng hề gián đoạn, từng chữ
phân minh, “Năng Tŕ, Sở Tŕ, liễu
bất khả đắc” (Năng Tŕ và Sở Tŕ, trọn
chẳng thể được), chẳng chấp Có. “Năng Sở lịch nhiên” (Năng
và Sở rành rành), chẳng chấp Không. Hai bên Không và Có
đều chẳng chấp trước, điều này nói
rơ Chân Không chẳng trở ngại Duyên Khởi, đó là
tướng chân thật của pháp giới.
“Phi
Không, phi Giả, thường Không, thường Giả, bất
khả tư nghị, thị danh Trung Quán” (Chẳng phải
Không, chẳng phải Giả, thường Không, thường
Giả, chẳng thể nghĩ bàn, th́ gọi là Trung Quán).
Phi Giả phi Không, thường gọi là “hỗ đoạt lưỡng vong” (đoạt lẫn
nhau, hai bên cùng mất), hai bên đều ĺa, đó gọi là
“song giá Trung Đạo”
(Trung Đạo ngăn dứt hai bên Không và Giả). Hai bên
chẳng lập, chẳng chấp Không, mà cũng chẳng
chấp Có, thường Không, thường Giả; đấy
là “song chiếu Trung Đạo”.
Tuy hai bên đều chẳng chấp trước, mà hai bên
có thể đồng thời tồn tại, “giá, chiếu” đồng thời,
điều này chẳng thể nghĩ bàn, thật sự chẳng
thể nghĩ bàn. Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức
Phật bảo ngài A Nan: “Ông chẳng
thể nghĩ bàn!”, câu này nhằm nói về chính chúng ta.
Mỗi người chúng ta đều chẳng thể
nghĩ bàn! V́ sao nói “chẳng thể nghĩ bàn?” Hoàn toàn
tương ứng với lư luận trong kinh này. Quư vị
phải hiểu: Tam Đế Tam Quán ở chỗ nào? Ở
ngay trên thân chúng ta. Thân tâm của chúng ta về thể tánh
th́ trọn chẳng thể được, nhưng cái
tướng ấy hiện thời cũng là Năng - Sở
rành rành: Pháp tánh có thể sanh, cái được sanh chính là
tướng trạng Tứ Đại và Ngũ Ấm này.
Trong ấy cũng là “song giá,
song chiếu”, quả thật chẳng thể nghĩ
bàn.
(Sớ) Lương dĩ đơn đề thánh hiệu,
trực hạ nhất tâm, hữu hà thứ đệ, chánh
Tam Quán viên tu chi nghĩa dă.
(疏) 良以單提聖號,直下一心,有何次第,正三觀圓修之義也。
(Sớ: Ấy là v́
chỉ giữ một thánh hiệu mà chứng nhập thẳng
vào nhất tâm, đâu có thứ tự ǵ, đấy chính là
ư nghĩa chánh yếu của tu trọn vẹn Tam Quán).
Pháp môn Niệm Phật phải
như thế nào mới là đắc lực? Đoạn
này nhằm thuyết minh về chuyện này. Quư vị phải
đặc biệt ghi nhớ câu này: “Đơn đề thánh hiệu, trực hạ nhất
tâm”, tám chữ này [phải ghi nhớ]. Trừ một câu
Phật hiệu ra, bất cứ vọng niệm ǵ cũng
chẳng có, đó gọi là Đơn Đề! Niệm một
tiếng Phật hiệu mà vẫn c̣n nghĩ đến
chuyện ǵ khác, đấy chẳng phải là Đơn Đề!
Nếu có thể thật sự trong mười hai thời
chỉ có một câu Phật hiệu, những ư niệm khác
đều chẳng có, thưa quư vị,
đó là “nhất tâm”. Đây
chẳng phải là Thứ Đệ Nhất Tâm mà là “đương hạ nhất
tâm” (đạt nhất tâm ngay khi ấy, không cần theo
thứ tự tu tập dần dần nào), nhất tâm bất
loạn bèn hiện tiền. Vẫn c̣n hoài nghi cái này, hoài
nghi cái nọ, nghĩ cái này, tưởng cái nọ, chính là
phá hoại nhất tâm của chính ḿnh! Cách tu này chính là giáo
nghĩa viên tu Tam Quán chánh yếu trong tông Thiên Thai, tức là
Nhất Tâm Tam Quán của tông Thiên
Ngẫu Ích đại sư nói
pháp môn này đơn giản nhất, dễ dàng nhất, ổn
thỏa, thích đáng nhất, nhanh chóng nhất. Trong vô
lượng pháp môn, không có pháp nào lư tưởng bằng,
không có pháp môn nào thù thắng bằng. Quư vị được
nghe pháp môn này, phước báo rất lớn; người thiếu
phước báo sẽ chẳng được nghe! Quư vị
thật sự hiểu rơ pháp môn này, chiếu theo pháp môn này
để tu học, sẽ thành Phật trong một đời
này. Tu học những pháp môn khác, chẳng dễ ǵ mong
được thành Phật trong một đời! Pháp môn
này thành Phật trong một đời. Không chỉ thành Phật,
mà c̣n thành một vị Phật trong Viên Giáo, đúng là chẳng
thể nghĩ bàn!
(Sớ) Thị tắc bỉ
kinh dĩ tâm quán vi Tông.
(疏) 是則彼經以心觀為宗。
(Sớ: Kinh ấy lấy
tâm quán làm tông).
Thập Lục Quán Kinh lấy
nhất tâm quán tưởng làm tông chỉ.
(Sớ) Thử kinh dĩ tâm niệm
vi Tông.
(疏) 此經以心念為宗。
(Sớ: Kinh này lấy tâm niệm
làm tông).
Lấy nhất tâm niệm danh
hiệu Phật làm tông chỉ.
(Sớ) Quán tức niệm dă, niệm
tức quán dă, lưỡng kinh sở thuyết, kư đồng
nhất tâm, hà độc thử kinh ức chi vi tán.
(疏) 觀即念也,念即觀也,兩經所說,既同一心,何獨此經抑之為散。
(Sớ: Quán chính là
niệm, niệm chính là quán, hai kinh cùng nói về nhất
tâm, cớ sao chỉ dè bỉu một ḿnh kinh này là Tán Thiện).
Ư nghĩa này hết sức rơ
ràng. “Quán” là dốc hết tinh thần vào một cảnh giới,
lại c̣n [nhận biết cảnh giới ấy] rơ ràng,
rành rẽ, rành mạch, phân minh. “Niệm” là trong tâm nghĩ
tới, Quán là tưởng, tâm tưởng đến; niệm
và tưởng là một chuyện. Quán Kinh dùng cái tâm pháp giới
để quán cảnh pháp giới, kinh này dùng cái tâm pháp giới
để niệm pháp giới Phật, cùng là một chuyện!
Trên thực tế, chẳng có sai biệt nào cả! Làm sao
có thể nói kinh này là Tán Thiện cho được?
(Sớ) Cố thử pháp môn danh
Niệm Phật tam-muội.
(疏) 故此法門名念佛三昧。
(Sớ: V́ thế,
pháp môn này được gọi là Niệm Phật tam-muội).
V́ sao gọi là Niệm Phật
tam-muội? Tam-muội là Chánh Định, dùng phương
pháp Niệm Phật để thành tựu tam-muội. V́ thế,
gọi là Niệm Phật tam-muội. Niệm Phật tam-muội
nói nghiêm ngặt sẽ là Sự nhất tâm bất loạn.
Công phu thành phiến là Tương Tự Niệm Phật
tam-muội.
(Sớ) Diệc danh Nhất Hạnh
tam-muội.
(疏) 亦名一行三昧。
(Sớ: C̣n gọi là Nhất Hạnh tam-muội).
Nhất
Hạnh là chẳng có hai hạnh, Nhất Hạnh là chuyên niệm
danh hiệu. Suốt ngày từ sáng đến tối những
điều ta nghĩ tưởng đều là một câu A
Di Đà Phật. Trừ một câu A Di Đà Phật ra, chuyện
ǵ cũng không tưởng tới, chuyện ǵ cũng chẳng
nghĩ tới. Đó gọi là Nhất Hạnh tam-muội.
(Sớ) Diệc danh
(疏) 亦名諸佛現前三昧。
(Sớ: C̣n gọi
là
“
Nếu Phật vừa hiện
ra trước mặt, chính ḿnh bèn hoan hỷ, hoan hỷ là
phiền năo, nhất tâm bị phá hoại. Nay v́ sao Phật
chẳng thể hiện ra trước mặt? Quư vị công phu chưa đến mức, hễ Phật
hiện ra, công phu của quư vị liền bị phá hoại.
Khi nào quư vị như như bất động, Phật
bèn hiện ra. Giống như chúng ta đi học, thấy
quư vị đă học khá rồi mới có thể khảo
nghiệm. Thứ ǵ cũng chẳng biết, thầy
sẽ chẳng khảo nghiệm được! V́ sao? Quư
vị c̣n chưa đạt đến tŕnh độ. Phật
hiện ra trước mắt nhằm khảo nghiệm
chúng ta, hiện thời công phu của chúng ta chưa đạt
tŕnh độ. Tŕnh độ chưa tới mà Phật
cũng hiện ra, quư vị phải nhớ kỹ, đó chẳng
phải là Phật, mà chắc chắn là ma đến nhiễu
loạn. V́ thế, người niệm Phật tâm phải
thanh tịnh, phải chuyên nghĩ đến Phật hiệu,
niệm Phật hiệu, những thứ khác đều chẳng
nghĩ đến, cũng đừng cầu nhất tâm:
“Ta niệm lâu ngày như thế, cớ sao vẫn chưa
đắc nhất tâm?” Như vậy là không được,
nhất định chẳng đạt được! V́
trong cái tâm niệm Phật của quư vị đă có suy
nghĩ lung tung, nghĩ đến nhất tâm cũng sẽ
suy nghĩ lung tung. Mong Phật hiện ra trước mặt
cũng là suy nghĩ lung tung, đừng nên như vậy!
(Sớ) Diệc danh Bát Nhă tam-muội.
(疏) 亦名般若三昧。
(Sớ: Cũng gọi là Bát Nhă tam-muội).
Nhất tâm bất loạn là
đại trí huệ. Nên biết nhất tâm là Thể, trí
huệ là Dụng. Nhất tâm khởi dụng là Bát Nhă. Bát
Nhă và Thiền Định có thể làm Thể và Dụng lẫn
cho nhau, Thiền Định là Thể, Bát Nhă là Dụng; mà
Bát Nhă là Thể, Thiền Định cũng có thể là Dụng.
Do vậy, Niệm Phật tam-muội cũng gọi là Bát
Nhă tam-muội.
(Sớ) Diệc danh Phổ Đẳng
tam-muội.
(疏) 亦名普等三昧。
(Sớ: Cũng gọi là Phổ Đẳng tam-muội).
“Phổ”
là phổ biến. Quư vị chỉ cần nhất tâm niệm
thành công, tám vạn bốn ngàn pháp môn, giáo lư trong Tam Tạng
quư vị đều quán thông, giống như quư vị đă đọc hết
toàn bộ Đại Tạng Kinh, toàn bộ tất cả
pháp môn đều tu viên măn; cho nên một pháp môn thành tựu
th́ hết thảy pháp môn đều thành tựu, đó gọi
là Phổ Đẳng tam-muội. Nếu quư vị hiểu
rơ đạo lư này, chết sạch ḷng so đo, khăng khăng
niệm danh hiệu Phật này, chẳng c̣n khởi tâm
động niệm học cái này, học cái nọ, h́nh
như môn này hay lắm, môn kia cũng tuyệt, chẳng tu rất
đáng tiếc! Đúng vậy, rất đáng tiếc, quư
vị tu suốt cả đời vẫn chẳng thành
công! Quư vị chẳng hiểu đường lối này.
Nếu quư vị hiểu biết đường lối
này: Quư vị nắm chắc một điều, th́ điều
ǵ cũng sẽ đạt được, chẳng sót một
điều nào! Quả thật là như thế. Nếu
đọc thông suốt bộ Sớ Sao này, sẽ thông hiểu
Đại Tạng Kinh, đối với bất luận
kinh điển nào, chắc chắn quư vị có năng lực
đọc tụng, có năng lực thông đạt, đó
là Phổ Đẳng tam-muội. Chúng ta thấy nhiều
danh từ như vậy, mới biết pháp môn Niệm Phật
thật sự chẳng thể nghĩ bàn!
(Sớ) Tam-muội chi ngôn Định
dă.
(疏) 三昧之言定也。
(Sớ: Tam-muội là Định).
Tam-muội
(Samādhi) là tiếng Ấn Độ, dịch sang
nghĩa tiếng Hán là Chánh Định.
(Sớ) Kư thông đa chủng
tam-muội, hà đắc vi Tán?
(疏) 既通多種三昧,何得為散。
(Sớ: Đă bao gồm
nhiều loại tam-muội, lẽ nào là Tán Thiện?)
Pháp môn Niệm Phật đă có
tên gọi nhiều ngần ấy, đều gọi là
tam-muội; nếu quư vị nói Niệm Phật là Tán Thiện,
lời ấy quả thật nói không xuôi được!
(Sớ) Đại yếu, quán
tưởng nhược phi nhất tâm, quán diệc thành
tán. Tŕ danh nhược đắc nhất tâm, tŕ tức
thành định, bất tại quán tưởng, tŕ danh, nhi
tại nhất tâm dữ bất nhất tâm dă!
(疏) 大要觀想若非一心,觀亦成散。持名若得一心,持即成定,不在觀想持名,而在一心與不一心也。
(Sớ: Nói chung, nếu quán tưởng mà chẳng
nhất tâm th́ quán cũng trở thành Tán Thiện. Nếu
tŕ danh đắc nhất tâm th́ tŕ danh trở thành Định
Thiện. Chẳng do quán tưởng hay tŕ danh, mà là do nhất
tâm hay không).
Cách nói này của Liên Tŕ đại
sư hết sức hợp lư, hết sức viên măn. Tu Quán
cũng thế, mà tŕ danh cũng thế, vấn đề
là quư vị có sử dụng nhất tâm hay không? Tán tâm quán
tưởng, quán tưởng cũng trở thành Tán Thiện.
Nhất tâm quán tưởng, quán tưởng sẽ thành
Định Thiện. Nói cách khác, tán tâm tŕ danh th́ tŕ danh là
Tán Thiện; nhất tâm tŕ danh, lẽ nào tŕ danh chẳng là
Định Thiện? Cách nói này quả thật hợp t́nh, hợp
lư!
(Sớ) Như Tịnh Giác sớ giả, Sớ vân: “Trí
Giả đại sư ư Quán Kinh, dĩ tam chủng Tịnh
nghiệp thuộc Tán, thập lục diệu Quán thuộc Định”,
vị văn dĩ tŕ danh vi Tán dă.
(疏) 如淨覺疏者,疏云:智者大師於觀經,以三種淨業屬散,十六妙觀屬定,未聞以持名為散也。
(Sớ: “Như Tịnh
Giác sớ” là trong lời Sớ có viết: “Đối với
Quán Kinh, Trí Giả đại sư coi ba thứ Tịnh
nghiệp là Tán Thiện, mười sáu phép Quán mầu nhiệm
là Định Thiện”. Chưa hề nghe nói Ngài phán định
tŕ danh là Tán Thiện!)
Ở đây trích dẫn lời
chú giải của cổ đức. Trí Giả đại
sư là một vị tổ sư phi phàm của tông Thiên
Trong Quán Vô Lượng Thọ
Phật Kinh có nói phu nhân Vy Đề Hy gặp phải đứa
con chẳng hiếu thuận, oán ghét mà phải gặp gỡ,
oan gia đối đầu đưa đến, cảm
thấy đời người vô cùng đau khổ, cầu
Thích Ca Mâu Ni Phật dạy bà cách tư duy và chánh thọ: “Con
nên nghĩ như thế nào, nh́n như thế nào”. Đức
Phật liền đem ba thứ tịnh nghiệp để
trả lời. [Đối với câu hỏi] làm thế nào
để đắc Chánh Thọ (Chánh Thọ là sự
hưởng thụ chính đáng, cũng gọi là tâm thanh tịnh),
đức Phật dùng mười sáu phép Quán để trả
lời. Trong bản chú giải, [Trí Giả đại
sư] lăo nhân gia đă nói rất rơ ràng: Ba thứ Tịnh
nghiệp tán tâm suy lường th́ gọi là “tư duy”,
đó là Tán Thiện. Mười sáu phép Quán thuộc về
Chánh Thọ, là Định Thiện. Tán Thiện và Định
Thiện được giảng như vậy.
Ba thứ Tịnh nghiệp là
ǵ? Chính là ba phước trong Quán Kinh. Đối với
người tu hành chúng ta mà nói, ba phước này rất
quan trọng. Chúng ta chẳng dùng phương pháp trong mười
sáu phép Quán, mà dùng tŕ danh niệm Phật, nhưng ba thứ
Tịnh nghiệp này rất khẩn yếu, ắt phải
tu tập. Loại thứ nhất là “hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư
trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện
nghiệp”. Nhất định phải hiếu thuận
với cha mẹ, phải tôn trọng sư trưởng,
phải nuôi dưỡng tâm từ bi, từ tâm chẳng giết.
Hiện thời, Phật giáo đồ Trung Quốc đều
có thể ăn chay trường, điều này rất tốt,
nhưng chẳng có mấy ai tu Thập Thiện nghiệp.
Chúng ta phải tu Thập Thiện nghiệp. Thập Thiện
nghiệp là: Thân chẳng giết, chẳng trộm, chẳng
dâm; miệng chẳng nói dối, chẳng nói đôi chiều,
chẳng ác khẩu, chẳng nói thêu dệt; ư chẳng tham,
chẳng sân, chẳng si. Tu thành tựu loại Tịnh nghiệp
này, sẽ hưởng phước báo nhân thiên, chẳng
đọa trong ba ác đạo.
Ba thứ Tịnh nghiệp là ba
tầng cấp. Loại thứ hai là “thọ tŕ Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng
phạm oai nghi”. Cao hơn loại trước, đây là
pháp Tiểu Thừa, vượt thoát thế gian. Thọ tŕ
Tam Quy, “thọ” (受) là quư vị phải tiếp nhận, “tŕ” (持)
là giữ ǵn. Tam Quy là giác chứ không mê, chánh chứ
không tà, tịnh chứ không nhiễm. Phải tŕ giới,
đó là cảnh giới của Thanh Văn và Duyên Giác. Loại
Tịnh nghiệp thứ ba là Đại Thừa, “phát Bồ Đề tâm, tin sâu
nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến
tấn hành giả”. Chẳng phát Bồ Đề tâm, sẽ
chẳng tương ứng với Tây Phương Tịnh
Độ, v́ Tây Phương Tịnh Độ là Đại
Thừa Phật pháp. Đại Thừa Phật pháp kiến
lập trên cơ sở Bồ Đề tâm. Bồ Đề
tâm là chân thành; đăi người, tiếp vật phải
dùng cái tâm chân thành, đấy là Bồ Đề tâm, quyết
định chẳng có hư vọng, chẳng thể có
hư ngụy. Phải dùng cái tâm chân thành để đăi
người, tiếp vật th́ chúng ta mới có thể nhập
môn Phật pháp.
Quư vị phải hiểu: Bao
nhiêu người học Phật, thậm chí người xuất
gia cho đến bảy mươi, tám mươi, chín
mươi tuổi vẫn chưa thể tiến nhập
Phật pháp, nguyên nhân là ở chỗ nào? Là do không có Bồ
Đề tâm. Bồ Đề tâm là chân tâm, thành tâm, đó
là bản thể của Bồ Đề tâm. Chân thành khởi
tác dụng, đối với chính ḿnh là tâm thanh tịnh, tự
thụ dụng, thanh lương, tự tại; đối
với người khác là đại từ đại bi.
Tâm chí thành khởi lên tác dụng ấy, điều này chẳng
cần phải học, đó là Tánh Đức sẵn có
trong Chân Như bổn tánh. Chính ḿnh nhất định thanh
tịnh, đối với người khác nhất định
từ bi. Tâm địa của chính ḿnh chẳng thanh tịnh,
sẽ chẳng đối xử từ bi đối với
người khác. Chính quư vị phải giác ngộ: Tâm Bồ
Đề [của chính ḿnh] chưa nẩy sanh. Tâm Bồ
Đề chưa nẩy sanh th́ là tâm ǵ vậy? Tâm phàm phu!
Tâm phàm phu th́ quư vị chẳng thể ra khỏi lục
đạo; tâm Bồ Đề mới có thể vượt
thoát lục đạo, mới có thể minh tâm kiến
tánh, mới có thể văng sanh Tây Phương.
Ba thứ tịnh nghiệp trong
Quán Kinh này hết sức quan trọng. Phải tin sâu nhân quả,
như thường nói “chúng
sanh sợ quả, Bồ Tát sợ nhân”, người học
Phật chẳng dám tạo nhân ác, tạo nhân ác th́ về
sau sẽ bị ác báo. Quả báo ác xảy đến đừng
sợ, nghịch cảnh xảy đến bèn vâng chịu,
đó là Báo, báo hết sẽ xong! Trong khi thọ báo, nhất
định đừng tạo nhân ác. Phải đọc tụng
Đại Thừa, kinh Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ,
kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật đều là kinh
Đại Thừa. Chúng ta là người tu Tịnh Độ
đọc những kinh điển ấy là đủ rồi,
chẳng cần phải tự ḿnh chuốc thêm phiền! Tịnh
Độ tam kinh nhất luận, hoặc bộ Tịnh
Độ Thập Yếu do Ngẫu Ích đại sư
biên soạn, bộ Văn Sao của Ấn Quang đại
sư đều nhằm giảng rơ ba kinh, nêu tỏ những
tông chỉ và giáo nghĩa Tịnh Độ. Chúng ta có thể
đọc tụng những tác phẩm ấy. Tuy Văn Sao
của Ấn Quang đại sư không phải là kinh
điển, nhưng những điều được
nói trong ấy hoàn toàn là giáo nghĩa Đại Thừa. “Khuyến tấn hành giả”:
Tự ḿnh tu, c̣n phải khuyên người khác; đem những
lư luận, phương pháp, công đức, lợi ích ấy
nói cho người khác nghe.
Trí Giả đại sư chẳng
hề nói tŕ danh niệm Phật là Tán Thiện, chỉ nói “ba thứ Tịnh nghiệp là Tán
Thiện, mười sáu phép Quán là Định Thiện”,
cách nói này rất có lư!
(Sớ) Cô Sơn phán thử kinh vi
Tán Thiện, dư bất vĩ bỉ thuyết.
(疏) 孤山判此經為散善,予不韙彼說。
(Sớ: Ngài Cô
Sơn phán định kinh này là Tán Thiện, tôi chẳng chấp
nhận thuyết ấy).
Pháp sư Trí Viên nói kinh này là Tán Thiện;
nói thật ra, chúng ta xem những lời nghị luận của
Liên Tŕ đại sư trong phần trên, nghĩ ra Ngài thật
sự có lư, chẳng phải là nói tùy tiện. V́ thế,
chúng ta chẳng dám đồng ư với cách nói của ngài Cô
Sơn.
(Sớ) Thả Phổ Môn Phẩm
Sớ, thích nhất tâm xưng danh, hữu Sự, hữu
Lư, tồn niệm Quán Âm, vô hữu gián đoạn, danh Sự
nhất tâm. Nhược đạt thử tâm, tứ tánh bất
sanh, dữ Không Huệ tương ứng, danh Lư nhất
tâm. Phổ Môn vô “bất loạn” nhị tự, Trí Giả
thượng tác Không Huệ thích chi, kim vân “nhất tâm bất
loạn”, hà đắc biếm vi Tán Thiện?
(疏) 且普門品疏,釋一心稱名,有事有理,存念觀音,無有間斷,名事一心。若達此心,四性不生,與空慧相應,名理一心。普門無不亂二字,智者尚作空慧釋之,今云一心不亂,何得貶為散善。
(Sớ: Hơn nữa, trong phần
sớ giải phẩm Phổ Môn, đă giải thích nhất
tâm xưng danh có Sự và Lư. Nghĩ tới Quán Âm chẳng
gián đoạn, gọi là Sự nhất tâm. Nếu đạt
cái tâm này, bốn tánh chẳng sanh, tương ứng với
Không Huệ th́ gọi là Lư nhất tâm. Trong phẩm Phổ
Môn không có hai chữ “bất loạn” mà ngài Trí Giả c̣n giải
thích là Không Huệ, nay kinh này nói “nhất tâm bất loạn”,
sao lại gièm chê là Tán Thiện?)
Ở đây, trích dẫn lời
chú giải kinh Pháp Hoa của Trí Giả đại sư. Bộ
Pháp Hoa Văn Cú của Trí Giả đại sư măi cho
đến nay vẫn là một bản chú giải có thẩm
quyền bậc nhất. Bản chú giải này hết sức
sâu, học tṛ của Ngài lại chú giải bản chú giải
ấy, đặt tên là Pháp Hoa Kinh Văn Cú Kư, tức là bút
kư, là kinh điển làm căn cứ quan trọng nhất
trong tông Thiên Thai, là một trong Thiên Thai Tam Đại Bộ[13]. Bản chú giải
ấy tuy hay, nhưng sâu quá, hàng sơ học chúng ta không
cách nào đọc được! Lần này, tôi từ
Hương Cảng trở về, đem theo một bộ
Pháp Hoa Kinh Văn Cú Kư Toản Yếu[14] do thiền sư
Đạo Bái đời Thanh biên soạn. Toản Yếu
là trích yếu từ sách Văn Cú Kư, rất thuận tiện
đối với người mới học Văn Cú Kư.
Trong bản chú giải kinh Pháp Hoa, Trí Giả đại
sư đă một phen biện luận, phán đoán, bảo
niệm Quán Thế Âm Bồ Tát có Sự nhất tâm mà
cũng có Lư nhất tâm, nhưng Ngài không nói đến nhất
tâm bất loạn. Sự nhất tâm là quư vị niệm
danh hiệu [Quán Thế Âm Bồ Tát] chẳng gián đoạn,
giống như chúng ta niệm A Di Đà Phật. Trong mười
hai thời, danh hiệu ấy chẳng gián đoạn, đó
gọi là Sự nhất tâm.
“Nhược
đạt thử tâm, tứ tánh bất sanh, dữ Không Huệ
tương ứng, danh Lư nhất tâm” (Nếu đạt
tâm này, bốn tánh chẳng sanh, tương ứng với
Không Huệ, gọi là Lư nhất tâm). “Tứ tánh bất sanh” là ǵ? Tứ tánh cũng phát
xuất từ Trung Quán Luận, “chư
pháp bất tự sanh” [nghĩa là] hết thảy các pháp
chẳng thể tự sanh ra, “diệc
bất tùng tha sanh” [nghĩa là] cũng chẳng do ai khác
sanh ra, mà cái khác (tha) cũng chẳng thể tự sanh. “Bất cộng, bất vô nhân”
nghĩa là cũng chẳng phải do tự và tha cùng sanh ra,
mà cũng chẳng thể nói là không có nguyên nhân mà sanh. “Thị cố thuyết vô sanh”
(cho nên nói vô sanh). Đây gọi là tứ tánh: Tự sanh, tha
sanh, cộng sanh, vô nhân sanh. Nếu quư vị thông đạt
bốn tánh chất này, quư vị sẽ hiểu hết thảy
các pháp vốn chẳng sanh. Nếu thấu đạt cái
tâm này, tứ tánh chẳng sanh, tương ứng với
Không Huệ. Tương ứng với Không Huệ là
tương ứng với trí huệ Đại Bát Nhă,
đó là Lư nhất tâm. Tương ứng với Đại
Bát Nhă th́ trên thực tế là tương ứng với
Chân Như pháp tánh.
Trong lời chú giải phẩm
Phổ Môn, tuy không nói đến hai chữ “bất loạn”, chỉ nói đến nhất
tâm. “Trí Giả thượng tác
Không Huệ thích chi” (ngài Trí Giả c̣n giải thích [nhất
tâm] là Không Huệ), Trí Giả đại sư giải thích
như thế. “Kim vân nhất
tâm bất loạn” [nghĩa là] bản kinh này chẳng những
nói tới nhất tâm mà phía sau c̣n có “bất loạn”, nói tới nhất tâm bất loạn.
“Hà đắc biếm vi Tán Thiện”
(sao lại gièm chê là Tán Thiện): Pháp sư Trí Viên nói kinh này
là Tán Thiện, nói thật ra, lời ấy nói chẳng
thông! Trong đoạn này, Liên Tŕ đại sư biện
định quả thật hết sức rơ ràng! V́ thế,
chúng ta chớ nên hoài nghi.
(Sớ) Ngu án: Trí Giả nhập
diệt, xướng Tam Bảo danh.
(疏) 愚按:智者入滅,唱三寶名。
(Sớ: Ngu tôi nhận
định: Ngài Trí Giả nhập diệt, xướng
danh hiệu Tam Bảo).
“Ngu”
là Liên Tŕ đại sư tự xưng. Trí Giả đại
sư viên tịch, khi lâm chung niệm danh hiệu Tam Bảo:
A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế
Chí Bồ Tát, Ngài niệm Phật văng sanh.
(Sớ) Chương An lâm chung, diệc
xưng Di Đà cập nhị Đại Sĩ.
(疏) 章安臨終,亦稱彌陀及二大士。
(Sớ: Ngài
Chương An lâm chung, cũng xưng niệm danh hiệu
Phật Di Đà và hai vị Đại Sĩ).
Ngài Chương An là học tṛ
đắc ư nhất của Trí Giả đại sư. Về
sau, quá nửa những trước tác của đại
sư do vị này chỉnh lư. Pháp Hoa Văn Cú do Trí Giả
đại sư biên soạn, Văn Cú Kư là bút kư của ngài
Chương An, nhằm giải thích chú sớ của đại
sư[15]. Ngài
Chương An lâm chung cũng niệm A Di Đà Phật,
Quán Thế Âm Bồ Tát, và Đại Thế Chí Bồ Tát,
cũng ra đi như vậy, đều là văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới.
(Sớ) Bỉ sư tư tự
hành như tư.
(疏) 彼師資自行如斯。
(Sớ: Thầy tṛ họ tự hành như thế).
“Sư”
là Trí Giả đại sư, tức thầy, “tư” (資) là học sinh, đồ
đệ, tức ngài Chương An. Thầy tṛ họ hai
người đều tự ḿnh tu hành như thế, cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
(Sớ) Tất bất tán phán
xưng danh, ư thị ích tín.
(疏) 必不散判稱名,於是益信。
(Sớ: Cho nên chẳng cần
rườm lời biện định về chuyện phán
định xưng danh là Tán Thiện).
Chắc chắn Trí Giả đại
sư chẳng đến nỗi coi tŕ danh niệm Phật
là Tán Thiện. Chúng ta thấy Trí Giả đại sư và
Chương An đại sư suốt đời tu hành, suốt
đời giảng kinh, thuyết pháp, chú sớ kinh điển,
chúng ta càng tin tưởng tŕ danh niệm Phật nhất
định chẳng phải là Tán Thiện. Những điều
này đều khơi gợi tín tâm của chúng ta, khiến cho
tín tâm của chúng ta kiên định. Người niệm Phật
nhất định phải tự tin: Trong một đời
này, ta nhất định văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, phải có tín tâm ấy, quyết định
văng sanh, một tí hoài nghi cũng chẳng có!
Trong phần trước đă
nói với quư vị “đọc
tụng Đại Thừa”, chúng ta đọc kinh Di
Đà, đọc Sớ Sao, Yếu Giải, hoặc là xem
kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
là đủ rồi, những thứ khác đều chẳng
cần phải đọc tới. Liên Tŕ đại sư
nói rất hay: “Tam Tạng
mười hai bộ kinh dành cho kẻ khác ngộ”. Tôi
đọc tụng Đại Thừa, chuyên môn đọc
tụng Tịnh Độ Tam Kinh. Khi đọc kinh cũng
là niệm Phật, v́ kinh điển niệm niệm đều
nói về Tây Phương Tịnh Độ, đều nói
về thế giới Cực Lạc. Niệm Phật
cũng là niệm kinh, v́ kinh khuyên quư vị niệm A Di
Đà Phật, niệm A Di Đà Phật há chẳng phải
là niệm kinh? V́ thế, niệm Phật và đọc kinh
là một, không hai. Như thế th́ mới có thể quyết
định văng sanh, quyết định niệm đến
mức thanh lương, tự tại, niệm đến
mức pháp hỷ sung măn, được thụ dụng
trong hiện tại. Hôm nay đă hết thời gian rồi!
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần
37 hết
[1] Nghĩa thú: Ư nghĩa và chỉ thú (chỗ
hướng đến, tông chỉ, mục đích hướng
đến).
[2] Bổng (棒) là
dùng gậy đánh, hát (喝) là quát
to. Đây là phương cách thường được
dùng để chỉ điểm người đến
tham học của ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền. Về
sau, mọi phương pháp chỉ dạy, cảnh tỉnh
đều gọi chung là “bổng
hát”.
[3] Bắc Câu Lô Châu c̣n dịch là Uất
Đan Việt, Uất Đát La, Úc Đa La Cưu Lưu, Ốt
Đát La Củ Lô v.v... dịch nghĩa là Cao Thắng,
Phước Địa. Theo kinh A Hàm, A Tỳ Đàm Luận,
và Du Già Sư Địa Luận, châu Uất Đan Việt
ở phương Bắc núi Tu Di. Châu này vuông vức, kích
thước mỗi bề là mười ngàn do-tuần, bốn
phía bằng phẳng, con người thọ ngàn năm,
không có các nỗi khổ, thường hưởng khoái lạc,
cần dùng vật ǵ cứ lấy từ cây Như Ư, chẳng
cần phải lo ăn uống, nhà cửa. Con cái đẻ
ra không cần nuôi, ai đi qua thấy trẻ đói
đưa ngón tay gần miệng đứa bé, liền có sữa
chảy ra. Châu này thuộc quyền quản trị của
Tỳ Sa Môn thiên vương (Vaiśravana).
[4] Bốn đại châu là ngoại trừ Bắc Câu Lô Châu c̣n có:
1.
Nam Diêm Phù Đề (Jambudvīpa): Nằm ở phía
2. Đông Thắng Thần Châu (Pūrvavideha): Nằm ở phía Đông núi Tu Di, có h́nh bán nguyệt, thọ mạng con người trong châu này là hai trăm năm mươi năm.
3. Tây Ngưu Hóa Châu (Aparagodānīya): Nằm ở phía Tây núi Tu Di, châu có h́nh tṛn. Con người trong cơi này thọ năm trăm tuổi, không sống trong nhà mà ngủ trên mặt đất.
[5] Nguyên văn “thập
lư trường đ́nh”: Thời Tần - Hán, cứ mỗi
mười dặm đường, chánh quyền sở tại
lập một cái đ́nh để người đi
đường nghỉ chân hoặc dành cho thân hữu tiễn
biệt bạn bè. Đ́nh là một cái nhà nhỏ không vách,
chỉ có cột, bên trong thường có kê bàn ghế bằng
đá. Theo cổ lễ, tiễn nhau phải theo chân mười
dặm đường. Về sau, cứ năm dặm lập
một cái đ́nh, gọi đó là “đoản đ́nh”, c̣n
đ́nh ở khoảng cách mười dặm gọi là
“trường đ́nh”.
[6] Theo phẩm A Tăng Kỳ trong kinh Hoa
Nghiêm, một bất khả thuyết là một trong các con số
lớn, tính từ một lạc-xoa là một trăm ngàn,
câu-chi là một trăm lạc-xoa, câu-chi lần câu-chi là một
a-dữu-đa, a-dữu-đa lần a-dữu-đa là một
na-do-tha v.v... Một bất khả thuyết là sau số 1
có 4.652.297.985.247.205.555.163.324.710.981.206.016 con số 0.
[7] “Tứ sự
cúng dường” là cung cấp bốn nhu cầu sinh hoạt
thông thường cho Phật và Tăng đoàn, tức là
cung cấp y phục, thức ăn, vật dụng để
nằm và thuốc men.
[8] Tịnh Danh Kinh là tên gọi thông thường
của kinh Duy Ma Cật (v́ Duy Ma Cật dịch sang nghĩa
tiếng Hán là Tịnh Danh, hoặc Vô Cấu Xưng). Sở
dĩ nói “Tịnh Danh chư
kinh” v́ kinh này có đến bảy bản dịch,
nhưng đă thất lạc bốn bản, chỉ c̣n ba bản:
1. Phật Thuyết Duy Ma Cật Kinh do
cư sĩ Chi Khiêm dịch vào thời Đông Ngô.
2. Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh do ngài
Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu Tần.
3. Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh do ngài
Huyền Trang dịch vào đời Đường.
Bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập
có ghi tên kinh Duy Ma Cật là Bất Khả Tư Nghị Giải
Thoát Kinh. Tên gọi này do chính đức Phật nói, v́ trong
phẩm Chúc Lụy, đức Phật đă dạy ngài A
Nan: “Này A Nan! Kinh này tên là Duy Ma Cật
Sở Thuyết, c̣n gọi là Bất Khả Tư Nghị
Giải Thoát Pháp Môn”. Bản của ngài Chi Khiêm ghi gần
giống như vậy, bản của ngài Huyền Trang ghi:
“Đức Thế Tôn bảo rằng:
- Kinh như thế này có tên là Thuyết Vô Cấu Xưng Bất
Khả Tư Nghị Tự Tại Thần Biến Giải
Thoát Pháp Môn, hăy tŕ như thế”.
[9] Pháp sư Trí Viên (976-1022) là một danh
tăng thuộc Sơn Ngoại Phái của tông Thiên Thai, tự
là Vô Ngoại, hiệu Trung Dung Tử, hoặc
Tiềm Phu, quê ở huyện Tiền Đường, họ
Từ. Sư xuất gia từ nhỏ, về sau thọ giới
tại chùa Long Hưng ở Tiền Đường. Về
sau, Sư sang chùa Phụng Tiên học giáo nghĩa Thiên Thai với
ngài Nguyên Thanh. Sau đấy, Sư ẩn cư tại Mă
Năo Pha thuộc Cô Sơn, Tây Hồ, Hàng Châu, giao du thân thiết
với ngài Từ Vân Tuân Thức. Do nghe ngài Nguyên Thanh nói tác
phẩm Kim Quang Minh Kinh Huyền Nghĩa của Trí Giả
đại sư bị người đời sau sửa
đổi, nên mới có hai bản gọi là Lược Bổn
và Quảng Bổn, Sư bèn viết tác phẩm Pháp Hoa Thập
Diệu Bất Nhị Môn Thị Châu Chỉ, chủ
trương Chân Tâm Quán. Sau đó, ngài Tứ Minh Tri Lễ viết
bộ Thích Nạn Phù Tông Kư đả phá thuyết của
ngài Nguyên Thanh và đề cao Quảng Bổn. Nhằm bênh vực
thầy và tự biện hộ cho ḿnh, ngài Trí Viên bèn hợp
tác với ngài Phạm Thiên Khánh Chiêu soạn bộ Biện
Ngoa để công kích ngài Tri Lễ. Lại soạn bộ
Kim Quang Minh Kinh Huyền Nghĩa Biểu Trưng Kư nhằm
bắt bẻ bộ Quảng Bổn là văn tự thô lậu,
nghĩa lư sơ sài, lư lẽ mâu thuẫn và tường thuật
sự việc lầm lẫn. Tông Thiên Thai từ sự kiện
này mà chia thành hai phái Sơn Gia và Sơn Ngoại. Đôi bên
viết sách công kích nhau, kéo dài mười mấy năm, tạo
thành trận bút chiến dằng dai giữa hai phái Sơn
Ngoại và Sơn Gia trong tông Thiên
[10] Tuy thường nói Luận Ngữ, Mạnh
Tử, Đại Học và Trung Dung là Tứ Thư,
nhưng Trung Dung và Đại Học chỉ là hai thiên sách
trong sách Lễ Kư. Trung Dung là thiên thứ ba mươi mốt,
c̣n Đại Học là thiên thứ hai mươi bốn.
Thiên sách Đại Học nhấn mạnh tầm quan trọng
của Thành (ḷng thành), Trung Dung cũng nhấn mạnh Thành,
nhưng điểm độc đáo của Trung Dung là nói
đến ư nghĩa “chấp Trung” tức là cầu “trung
ḥa”. Theo đó, con người phải sống hợp với
Trung, dùng ḷng chí thành để đạt đến Trung.
[11] Trung Luận
(Mūlamadhyamakakārikā) c̣n gọi là Trung Quán Luận,
Trung Luận Tụng, hoặc Trung Quán Căn Bản Luận
do Long Thọ Bồ Tát trước tác, do ngài Cưu Ma La Thập
dịch sang tiếng Hán. Tác phẩm này được coi là
kinh điển căn bản của học thuyết Trung
Quán, nhấn mạnh tầm quan trọng của Trung Đạo
cũng như các phương pháp thể nhập Trung Đạo.
Do tầm quan trọng của bộ luận này, trong Hán Tạng
có đến bảy bộ chú giải như sau: Vô Úy Luận
(do ngài Long Thọ tự viết để chú thích Trung Luận),
Trung Luận Thích (do ngài Thanh Mục viết), Thuận Trung
Luận (do Vô Trước Bồ Tát viết), Đại Thừa
Trung Quán Thích Luận (do ngài An Huệ viết), Căn Bản
Trung Luận Chú (do ngài Phật Hộ soạn), Bát Nhă
Đăng Luận (do ngài Thanh Biện viết), và Tịnh
Minh Cú Luận (do ngài Nguyệt Xứng viết).
[12] Do quán các pháp là Giả, tức là nh́n từ
Tướng để thể nhập Tánh, tức là phá chấp
Hữu, nhập Không là quán chiếu bản tánh các pháp là
Không, nhưng chẳng phải là trống không, rỗng tuếch,
chỉ v́ bản tánh không có vọng niệm, đối
đăi nên gọi là Không, quán như vậy chính là phá chấp
Không. Do vậy, bước thứ nhất này gọi là
“song giá” (ngăn dứt cả hai kiến chấp Có và
Không), sau đó nhập Trung thấy rơ bản chất của
Không và Giả, Giả chính là Không, Không chính là Giả nên gọi
là “song chiếu”, nên từ Tánh lại khởi ra tác dụng,
do vậy, mới nói là từ Không trở lại Giả.
[13] Thiên Thai Tam Đại Bộ là ba bộ
sách do chính ngài Thiên Thai Trí Khải (Trí Giả đại
sư) biên soạn, gồm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền
Nghĩa, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú và Ma Ha Chỉ Quán.
Ba bộ này là căn cứ lư luận cho toàn bộ giáo
nghĩa của tông Thiên
[14] Đúng ra phải đọc là Pháp Hoa
Kinh Văn Cú Kư Soán Yếu, nhưng ta quen đọc chữ
Soán (篡: cướp lấy, đoạt lấy)
thành Toản cho những tác phẩm thuộc thể loại
trích yếu này. Soán Yếu có nghĩa là gạn lọc lấy,
đoạt lấy những điều trọng yếu.
[15] Thật ra, ngài Chương An chỉ chỉnh
lư tác phẩm Pháp Hoa Văn Cú của tổ Trí Giả, phần
Văn Cú do ngài Chương An biên tập, c̣n Văn Cú Kư
chính là tác phẩm chú giải Văn Cú của ngài Kinh Khê Trạm
Nhiên. V́ thế, trong các bản in Pháp Hoa Văn Cú Kư hiện
thời thường ghi như sau: Tùy Thiên Thai Trí Giả đại
sư thuyết, Tùy Chương An Quán Đảnh đại
sư văn cú, Đường Kinh Khê Trạm Nhiên đại
sư thuật kư (Thiên Thai Trí Giả đại sư đời
Tùy giảng, Chương An Quán Đảnh đại
sư đời Tùy ghi thành văn cú, Kinh Khê Trạm Nhiên đại
sư đời Đường viết bút kư).