A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 38
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo
duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong
Tập 75
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm
mười sáu:
(Huyền Nghĩa) Thứ minh biệt giả,
hoặc vị thử kinh đản văn Phật danh,
hoặc vị thử kinh Phật thị Liệt Ứng,
hoặc vị thử kinh hoa cục xa luân, hoặc vị
thử kinh Ngũ Nghịch bất sanh, hoặc vị
thử kinh chỉ thuộc hạ phẩm, bất tri
nhị kinh thật nhất nghĩa cố, bất tri
thử kinh vưu độc yếu cố.
(玄義) 次明別者,或謂此經但聞佛名,或謂此經佛是劣應,或謂此經華局車輪,或謂此經五逆不生,或謂此經止屬下品。不知二經實一義故,不知此經尤獨要故。
(Huyền Nghĩa: Tiếp đó là nói tới
những ư nghĩa riêng biệt: Hoặc có kẻ nói kinh này
chỉ nghe danh hiệu Phật, hoặc nói Phật trong kinh
này là Liệt Ứng Thân, hoặc nói trong kinh này, hoa chỉ
hạn cuộc to bằng bánh xe, hoặc nói đối
với kinh này, kẻ Ngũ Nghịch chẳng thể văng
sanh, hoặc nói kinh này chỉ thuộc hạ phẩm;
chẳng biết hai kinh thật sự có cùng một
nghĩa, chẳng biết kinh này lại càng đặc
biệt quan trọng).
Trong đoạn này, chúng ta
tiếp tục nói về ư nghĩa Bàng Thông, trước
hết là sau khi tŕnh bày xong mối quan hệ giữa kinh này
và Thập Lục Quán Kinh, lại thảo luận ở
một mức độ sâu hơn nữa, đối
với sự niệm Phật và học Phật của
chúng ta có mối quan hệ rất trọng yếu. Các
đồng tu cũng có thể thấu hiểu pháp môn này là
một pháp môn vô cùng khó gặp gỡ. Trong bài kệ Khai Kinh
có câu: “Trăm ngàn vạn
kiếp khó gặp gỡ”; câu ấy đúng là sự
thật ngàn muôn phần xác đáng, nhưng bao nhiêu
người gặp được pháp môn này lại coi
thường, bỏ qua, đúng là đáng tiếc! Sau khi
gặp gỡ, chẳng những phải lư giải, mà c̣n
phải lư giải sâu xa; sau đấy, chúng ta mới có
thể sanh khởi ḷng tin. Tín tâm thanh tịnh sẽ
được thụ dụng. Tin sâu, nguyện thiết
tha, khởi hạnh, chúng ta chắc chắn chẳng bỏ
uổng một đời này.
Tu hành trong thời Mạt Pháp,
trừ pháp môn này ra, mong thành tựu trong bất cứ
một pháp môn nào đều chẳng dễ dàng! V́ sao?
Nếu quư vị tự ḿnh nghiêm túc phản tỉnh một
phen, sẽ hiểu rơ. Thứ nhất, quư vị có thể
phá Ngă Kiến hay không? Phá
được Ngă Chấp hay không? Có thể đoạn
tham, sân, si, mạn hay không? Trong kinh điển, đức
Phật đă đôi ba lượt bảo chúng ta, tŕ giới,
tu Định, cung kính, xưng tán, cúng dường, mà
nếu chẳng thể ĺa khỏi tham, sân, si, mạn,
sẽ đều là chuyện thuộc về phía Ma
Vương! Tu đến cuối cùng đều thành
Ma. Chúng ta có tin nổi lời này hay chăng? Suy nghĩ
cặn kẽ, quả thật có lư! V́ những ǵ quư vị
tu là phước báo nhân thiên, nói cách khác, quư vị chẳng
thoát khỏi lục đạo luân hồi, hưởng
đại phước báo trong lục đạo luân
hồi, lại khởi tham, sân, si, mạn to lớn, đấy
chẳng phải là ma th́ là ǵ vậy? A Tu La trong cơi trời
và cơi người là do nghiệp nhân này mà tu thành. Có những
người phiền năo nhẹ nhàng, tuy tu phước báo
ít, vẫn có thể văng sanh. Thậm chí phước báo nhân
thiên hoàn toàn chẳng tu, nhưng một câu A Di Đà
Phật niệm đến tột cùng, người ấy
có thể văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, mạnh hơn phước báo nhân thiên nhiều
lắm! Trong kinh luận, truyện kư và bút kư của cổ
đức, chúng ta thấy chuyện này rất nhiều.
Mục đích chủ yếu của đoạn kinh văn
này là muốn làm cho chúng ta thấu hiểu tầm trọng
yếu đặc biệt của bộ kinh này.
Có kẻ nói bộ kinh này là “đản văn Phật danh”
(chỉ nghe danh hiệu Phật) cho nên là Tán Thiện,
chẳng phải Định Thiện. Hoặc có kẻ nói
Phật được giảng trong kinh này là Liệt
Ứng Thân, chẳng phải là Thắng Ứng Thân. Quư
vị hăy đọc lời chú giải.
(Sớ) Đản danh giả,
hoặc vị Quán Kinh giáo tưởng bỉ Phật
tướng hảo.
(疏) 但名者,或謂觀經教想彼佛相好。
(Sớ: “Chỉ nghe
danh hiệu”: Là có kẻ nói Quán Kinh dạy tưởng
tướng hảo của đức Phật ấy).
Đem so kinh này với Quán Vô
Lượng Thọ Phật Kinh th́ Quán Vô Lượng
Thọ Phật Kinh nói cặn kẽ; chẳng những quư
vị được nghe danh hiệu Phật, mà kinh c̣n
dạy quư vị quán tưởng như thế nào. Kinh này
chẳng dạy quư vị quán tưởng, chỉ dạy
niệm danh hiệu Ngài, danh hiệu là bốn chữ.
(Sớ) Thử kinh đản tŕ tứ tự không
danh, tắc bất kiến Phật thân, cố danh Tán
Thiện.
(疏) 此經但持四字空名,則不見佛身,故名散善。
(Sớ: Kinh này chỉ tŕ suông
danh hiệu gồm bốn chữ, chẳng thấy thân
Phật, nên gọi là Tán Thiện).
Nói thật ra, đây là tri
kiến của hàng phàm phu, chắc chắn chẳng
phải là cảnh giới của Phật, Bồ Tát, v́ sao?
Phật và Bồ Tát đều chẳng có thân tướng
nhất định. Đối với người Hoa, Quán
Thế Âm Bồ Tát quen thuộc nhất. Có thư cục
xuất bản Quán Thế Âm Bồ Tát Biến Tướng
Đồ, trong sách ấy có hơn năm trăm bức
h́nh Quán Âm Bồ Tát, có tướng nam, có tướng
nữ, có các thân phận khác nhau, rốt cuộc, thân nào
mới là Quán Thế Âm Bồ Tát? Phẩm Phổ Môn nói
rất hay, nên dùng thân nào để đắc độ bèn
hiện thân tướng ấy. V́ thế, Bồ Tát không có
tướng nhất định. Các Bồ Tát đều
chẳng có tướng nhất định, huống chi là
Phật? V́ thế, đương nhiên Phật cũng
chẳng có tướng nhất định. Làm sao quư
vị có thể nói đây là Liệt Ứng Thân? Chúng ta
nhất định phải biết điều này!
Chư Phật, Bồ Tát
hiện tướng, kinh Lăng Nghiêm nói rất rơ ràng, “tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri
lượng” (thuận theo tâm của chúng sanh, phù hợp
với khả năng nhận biết của họ). Nói
cách khác, mỗi cá nhân thấy tướng Phật, Bồ
Tát khác nhau. Chẳng riêng ǵ Phật, Bồ Tát thị
hiện cho hết thảy chúng sanh các thân tướng khác
nhau, mà nếu quư vị quan sát kỹ càng, chính bản thân
mỗi người chúng ta cũng thị hiện trong
thế gian này [các tướng] khác nhau. Nếu giống nhau
th́ người trong thiên hạ trông thấy quư vị
sẽ có cùng một cảm nhận. V́ sao có người
ưa thích quư vị? Có người chán ghét quư vị?
Chẳng phải là hai thứ tướng khác nhau rất
hiển nhiên hay sao? Đó là thô phần, chứ tế
phần th́ chẳng phải chỉ có hai thứ, mà cũng
là vô lượng vô biên thứ, chẳng khác chư Phật,
Bồ Tát!
Quư vị hiểu rơ đạo
lư này, nếu chúng ta muốn thấy Phật, Bồ Tát,
muốn thấy tướng hảo, chúng ta phải dùng cái
tâm tốt lành, v́ sao? Tâm chúng sanh có cảm, tâm Phật,
Bồ Tát sẽ ứng, cảm ứng đạo giao mà!
Chúng ta đăi người, tiếp vật cũng giống
như vậy, ngay cả Mạnh Phu Tử cũng nói: “Kính nhân giả, nhân hằng kính
chi” (Kính trọng người khác th́ người khác luôn
kính trọng ta). Chúng ta mong người khác tôn kính chúng ta th́
chúng ta phải đối đăi với người khác
bằng cái tâm cung kính; chúng ta có cảm, bên ngoài sẽ có
ứng. Chúng ta chẳng đối đăi người khác
bằng ḷng cung kính, dùng những tâm ganh tỵ, nóng giận để
cảm, làm sao có ứng tốt đẹp cho
được? Chẳng thể nào có lẽ ấy! Quư
vị đọc đến đoạn kinh văn này,
sẽ hiểu: Sự thật là cảm ứng đạo
giao, là chuyện như thế đó. Chúng ta dùng cái tâm thanh
tịnh để cảm, thấy Ứng Thân thù thắng
của Phật. Sau khi đă đoạn phiền năo, tâm
địa thật sự b́nh đẳng, thấy Báo Thân
Phật, chẳng phải là Ứng Thân! Phiền năo chưa
đoạn th́ thấy Ứng Thân.
Chấp trước th́
tuyệt đối là chính ḿnh chịu thiệt tḥi! Thánh
nhân thế gian và xuất thế gian bảo chúng ta hăy “trạch thiện cố
chấp” (chọn lấy điều lành để
chấp trước), đó là nói với những kẻ
sơ học. Thiện là ǵ! Tâm địa thanh tịnh là thiện.
Tâm địa b́nh đẳng là thiện, ĺa tham, sân, si,
mạn là thiện. Chúng ta đối với Phật,
Bồ Tát rất cung kính, cung kính cha mẹ, cung kính thầy,
nhưng đối với những kẻ không quen biết
ta chẳng cung kính, có được hay không? Không
được! Chắc chắn là không được! Tu
kiểu đó không phải là tu Phật pháp, mà là tu pháp
thế gian. Pháp thế gian sẽ đạt
được phước báo thế gian, chẳng thể
văng sanh, chẳng thể thấy Phật, ngay cả
Liệt Ứng Thân của Phật cũng chẳng thấy
được, nói chi Thắng Ứng Thân, chẳng có duyên
với Phật mà! Chẳng phải là Phật chẳng có
duyên với quư vị, mà là quư vị vô duyên với Phật.
Quư vị vô duyên với Phật là như thế nào? Do quư
vị có tham, sân, si, mạn, nghi, có Phiền Năo
Chướng, Sở Tri Chướng; hai thứ
chướng ngại ấy ngăn trở cái duyên thấy
Phật. Chuyện là như vậy đó. Phá hai thứ
chướng, ĺa hết thảy chấp; như vậy th́
mới có thể thấy Phật.
V́ thế, Phật, Bồ Tát
không có thân nhất định. Kinh nói lên ư nghĩa như
sau: Nếu cái tâm đă định, thân Phật sẽ
tự hiện. Hiện thời chẳng thấy thân
Phật, rơ ràng là khuyết thiếu định lực, cho
nên gọi là Tán Thiện. Tán Thiện có nghĩa như
vậy đó.
(Sớ) Nhiên kinh vân: “A Di Đà
Phật, dữ chư thánh chúng, hiện tại kỳ
tiền”. Kư Phật hiện, tắc ninh vô tướng
hảo; huống dữ chúng, tắc chủ bạn tề
chương. Cái bỉ dĩ tác quán kiến Phật,
thử dĩ tŕ danh kiến Phật, vi nhân bất
đồng, kiến Phật tắc nhất.
(疏) 然經云:阿彌陀佛,與諸聖眾,現在其前,既佛現,則寧無相好,況與眾,則主伴齊彰。蓋彼以作觀見佛,此以持名見佛,為因不同,見佛則一。
(Sớ: Nhưng kinh chép: “A Di Đà Phật và các
thánh chúng hiện ra trước mặt”. Phật đă
hiện, lẽ nào không có tướng hảo? Huống chi
Phật hiện ra cùng với thánh chúng, tức là chủ và
bạn cùng hiện rơ ràng. Ấy là v́ kinh kia dùng quán
tưởng để thấy Phật, kinh này dùng tŕ danh để
thấy Phật, nhân khác nhau, nhưng thấy Phật
giống hệt nhau).
Nói điều này vô cùng hay! Nói
hết sức rơ ràng! Trong kinh Vô Lượng Thọ đă
giảng rất rơ ràng; kinh Vô Lượng Thọ và kinh Di
Đà cùng thuộc về một bộ, chúng ta gọi là
Đại Bổn và Tiểu Bổn. Đại Bổn
văn tự nhiều, nói rất tường tận,
khiến chúng ta càng hiểu rơ cảnh giới của Tây
Phương. Trong kinh Đại Bổn nói rất rơ ràng,
người niệm Phật thật sự tin
tưởng, thật sự phát nguyện văng sanh, khi lâm
chung A Di Đà Phật đến tiếp dẫn quư vị.
Không chỉ ḿnh A Di Đà Phật đến, mà Quán Thế
Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh
Hải Hội Chúng Bồ Tát đều đến đón
tiếp quư vị. Đă đến đón tiếp, lẽ
nào chẳng thấy thân Phật? Khi văng sanh, quư vị
sẽ chính mắt thấy Phật, Bồ Tát, theo các Ngài ra
đi.
Quư vị phải hiểu:
Thời đại hiện tại thật sự là một
thời kỳ bất thường, chẳng phải là
thời đại b́nh thường. Những dự ngôn
của Tây Phương và Đông Phương đều nói
thế giới này sắp xảy ra tai nạn to lớn. Tôi
đến mỗi địa phương trên thế
giới, [thấy] quả thật đều có điềm
báo trước, điềm báo trước rất xấu!
Chúng ta học Phật, học những pháp môn khác, hay th́ hay
đấy, nhưng chuyện xảy đến sẽ
đối phó không kịp! Lần này tôi sang Mỹ, ở
tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn của Mỹ
mười ngày. Trước khi đi, có những
đồng tu đem t́nh h́nh bên ấy kể với tôi: Các
đồng tu ấy thành lập một đoàn thể
Phật giáo mới được một năm, trong
ấy có người học Thiền, có kẻ học
Mật, lại c̣n có rất nhiều người học theo ngoại đạo, những
người ấy đều tụ tập lại, họ
muốn tôi đến đó giảng kinh đừng
đặc biệt nhấn mạnh Tịnh Độ, mà
phải chú ư mọi phương diện, như vậy th́
mới có thể khế hợp căn cơ. Tôi nghe rồi
gật đầu, đến nơi đó, tôi chuyên môn
giảng Tịnh Độ, chuyện ǵ cũng chẳng
kiêng kỵ. Tôi nói thẳng với họ: “Quư vị thích
nghe th́ nghe, không nghe, tôi cũng rất tôn trọng quư vị.
Quư vị thích học điều ǵ th́ học điều
đó, nhưng tôi thưa cùng quư vị một câu
thật thà: ‘Quư vị học ǵ, cũng đều
chẳng thể thành tựu’. Tôi nói thật đấy,
trừ pháp môn Niệm Phật ra, học ǵ cũng
đều chẳng thể thành công”. V́ thế, tôi đến
Washington DC mười ngày, giảng đại ư kinh Vô
Lượng Thọ cho họ, giới thiệu pháp môn
Niệm Phật. Họ nghe giảng mười ngày xong,
rất nhiều người học Thiền, học
Mật, học pháp ngoại đạo nói với tôi: “Nay
chúng tôi chết sạch ḷng mong ngóng, kiên quyết niệm
Phật”. Tôi nói: “Rất tốt! Vậy là tôi đến
đây không uổng công. Niệm Phật là khẩn yếu,
khẩn yếu hơn bất cứ ǵ khác!”
Quán Kinh dạy chúng ta dùng
phương pháp quán tưởng để thấy
Phật, bộ kinh này không cần phải rắc rối
như thế, chỉ yêu cầu quư vị chết sạch
ḷng mong ngóng, khư khư niệm một câu Phật
hiệu, bèn có thể thấy Phật, dễ dàng hơn
phương pháp được nói trong Quán Kinh rất nhiều!
Quán Kinh giảng lư luận rất thấu triệt,
nhưng trên thực tế, kinh Di Đà có hiệu quả
cao hơn Quán Kinh. V́ sao nói “cao hơn Quán Kinh?” Trước
kia, khi tôi đến Đài Trung học Phật, thầy Lư
bảo tôi:
-
Quán Kinh dùng phương pháp quán tưởng để
thấy Phật, nhưng anh có hiểu Bát Nhă hay không? Trong
Bát Nhă đă giảng rất rơ ràng: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư
vọng”. Anh quán tưởng Phật thành tựu
chẳng dễ dàng ǵ, sau đấy, [khi đă quán thành
rồi] lại phải gạt bỏ h́nh tượng
ấy khỏi A Lại Da Thức th́ Chân Như bổn tánh
của anh mới thanh tịnh. Lục Tổ nói rất hay:
“Vốn chẳng có một
vật, chỗ nào nhuốm bụi trần”.
Tượng Phật là một vật, nếu anh chẳng
thể quét sạch sành sanh vật ấy, tâm bèn chẳng
thanh tịnh.
Thầy
Lư hỏi chúng tôi:
-
Đến khi ấy, một câu Phật hiệu gạt
bỏ dễ dàng, hay là gạt bỏ h́nh tượng
Phật dễ dàng?
Chúng
tôi suy nghĩ, gạt bỏ Phật hiệu dễ dàng, v́
sao? Tánh của danh tự là Không, gạt bỏ dễ dàng,
c̣n gạt bỏ h́nh tượng quá khó. V́ thế, thầy
nói: “Kinh này có hiệu quả thù thắng hơn Thập
Lục Quán Kinh”. Từ xưa đến nay, các vị
tổ sư đại đức đề xướng
kinh này rất có lư! Thực hiện dễ dàng, thành công cao!
Nhất là trong kinh Lăng Nghiêm, Đại Thế Chí
Bồ Tát đă nói rất rơ ràng: “Nhớ
Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai,
nhất định thấy Phật”; lẽ đâu
chẳng thấy Phật?
(Sớ) Liệt Ứng giả,
hoặc vị Quán Kinh ngôn Phật thân cao lục thập
vạn ức na-do-tha Hằng hà sa do-tuần, thử kinh
bất thuyết, nghi thị Liệt Ứng, cố danh Tán
Thiện.
(疏) 劣應者,或謂觀經言佛身高六十萬億那由他恆河沙由旬,此經不說,疑是劣應,故名散善。
(Sớ: “Liệt
Ứng”: Có kẻ bảo Quán Kinh nói thân Phật cao sáu
mươi vạn ức na-do-tha Hằng hà sa do-tuần,
kinh này chẳng nói, nên ngờ [thân Phật trong kinh này] là
Liệt Ứng, v́ thế gọi là Tán Thiện).
Đây là dẫn kinh làm chứng
cứ để nêu ra nghi vấn. Nghi vấn này cũng
rất hay, hỏi rất hay. V́ sao? Học Phật, quư
vị phải nhớ, có nghi th́ nhất định
phải hỏi. Nếu có nghi hoặc mà chẳng hỏi,
chẳng hiểu rơ, sẽ có chướng ngại. Tín tâm,
nguyện lực, hạnh lực của quư vị
đều bị giảm bớt, đây chính là “đoạn nghi, sanh tín”
rất quan trọng, nhất định phải hỏi!
Những câu hỏi giống như câu hỏi vừa
được nêu ra này, có thể nói là những nghi vấn
thông dụng, dường như mỗi người
mới học Phật đều
chẳng tránh khỏi, nhất là khi đọc những kinh
điển khác, bèn sanh nghi vấn đối với
Tịnh Độ.
Như trong lần trước,
chúng tôi đă nhắc đến lời khai thị trong
Phật Thất của lăo pháp sư Đàm Hư, có một
vị hiệu trưởng thấy Quán Kinh nói “thị tâm thị Phật,
thị tâm tác Phật” (tâm này là Phật, tâm này làm
Phật), “tự tánh Di Đà,
duy tâm Tịnh Độ”, đọc những
đoạn kinh văn ấy, ông ta bèn hoài nghi, nói: “Di Đà
đă là tự tánh Di Đà, ta cần ǵ phải niệm
nữa! Chúng ta hằng ngày niệm Ngài để làm ǵ?
Tịnh Độ là duy tâm Tịnh Độ, ta cũng không
cần văng sanh, lẽ ǵ ta cứ phải cầu sanh?” Ông ta
đem những nghi vấn ấy hỏi lăo pháp sư
Đàm Hư, cụ Đàm rất tán thán: “Ông hỏi
rất hay!” Giải thích những vấn đề ấy
chẳng dễ dàng! Làm thế nào để đoạn nghi
sanh tín cho ông ta? Chúng tôi nghe lời phúc đáp của lăo pháp
sư Đàm Hư trong băng thâu âm, rất tuyệt, cao
minh lắm! Quư vị hăy nghe đoạn đối
thoại ấy, đúng là có học vấn. Sư chẳng
giải thích cho ông ta, mà hỏi ngược lại: “Tôi
hỏi ông, chính ông hăy khéo suy nghĩ, tự tánh Di Đà và
Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà
Phật có giới tuyến hay không? Giới tuyến
rốt cuộc ở nơi đâu? Giới tuyến
giữa duy tâm Tịnh Độ và Tây Phương Tịnh
Độ lại ở nơi đâu?” Hỏi ngược
lại ông ta như thế, vị hiệu trưởng
ấy cũng rất lỗi lạc, ông ta nghe câu nói ấy,
suy nghĩ cả nửa ngày, nói: “Con nghĩ chẳng
thể t́m giới tuyến trong ấy được, không
có giới tuyến!” Lăo pháp sư nói: “Đă không có giới
tuyến th́ vẫn là cùng một cái tâm niệm Phật”.
Như vậy th́ ông ta mới tiếp nhận, quả
thật không có giới tuyến! Ông ta có thể thấu
hiểu điều này, ông ta trí huệ cao độ, đó
gọi là “ngoài tâm không pháp, ngoài
pháp không tâm”. Cầu sanh Tây Phương Tịnh
Độ là cầu chứng tự tánh Tịnh Độ,
đến Tây Phương thấy A Di Đà Phật chính là
thấy tự tánh Di Đà.
Thiền gia nói “minh tâm kiến tánh”, chúng ta chẳng dễ ǵ làm
được điều này trong một đời,
nhưng người niệm Phật văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới sẽ làm được.
Kinh Vô Lượng Thọ tặng cho chúng ta phương
pháp niệm Phật, phương pháp ấy là “ngày đêm
chẳng gián đoạn”, niệm Phật như thế
mới có hiệu quả. Đả Phật thất,
bảy ngày bảy đêm, một câu Phật hiệu
chẳng gián đoạn giữa chừng, chẳng xen
tạp, chẳng hoài nghi th́ mới niệm thành tựu!
Thành tựu ǵ vậy? Thành tựu ở mức độ
cao là nhất tâm bất loạn, thành tựu ở mức
độ thấp là công phu thành phiến. Kinh đă nói
rất rơ ràng, tu hành đúng pháp, chiếu theo lư luận và
phương pháp trong kinh này để tu hành. Trong một
đời này, nếu quư vị từng tu được
một ngày, khi lâm chung A Di Đà Phật sẽ đến
tiếp dẫn quư vị. Nếu trong một đời
này, quư vị chẳng tu tập ngày nào, chẳng có cách nào
hết! Mỗi ngày là hai mươi bốn tiếng
đồng hồ, trong tâm chỉ có một câu Phật
hiệu, niệm Phật, tưởng Phật, nhất
quyết đừng nên nghĩ ǵ khác, khởi vọng
tưởng là không được. V́ thế, trong Phật
Thất có Hộ Thất Sư tốt lành đại
từ đại bi giúp cho quư vị thành tựu, chăm sóc
sự ăn ở của quư vị, khiến cho quư vị
thân lẫn tâm đều buông xuống hết thảy, hăy
khéo niệm tốt đẹp một câu Phật hiệu.
Niệm Phật chỉ có
bốn chữ. Nói nghiêm ngặt, trong Niệm Phật
Đường chỉ có bốn chữ A Di Đà Phật,
niệm suốt năm, mỗi ngày hai mươi bốn
tiếng đồng hồ, một năm ba trăm sáu
mươi ngày, một câu Phật hiệu nhất
định chẳng để gián đoạn. Trong ấy
không có nghi thức ǵ cả, niệm một bộ kinh Di
Đà, xướng bài kệ Tán Phật, đều gọi
là thêm thắt, đều gọi là xen tạp. Như
vậy th́ mới thật sự có hiệu quả. Có
người nào làm như vậy hay không? Thưa quư vị,
thật sự có, nhưng rất ít, tôi đă từng
thấy, đó là người niệm Phật thật
sự! Niệm rất có hiệu quả, rất có thành
tựu. Sự thành tựu ấy giống hệt như
trong kinh đă nói, chân thật, chẳng dối! V́ thế,
học Phật chẳng thể không nghiên cứu kinh
luận, chẳng thể không liễu giải. Nếu không,
hằng ngày vẫn là “tu mù, luyện đui”, chẳng
thể hàng phục phiền năo, tâm chẳng đạt
được thanh tịnh, công phu chẳng đắc
lực, đó gọi là nghiệp chướng. Tiếp theo
đây là lời giải thích, hăy xem rốt cuộc có
phải là Tán Thiện hay không!
(Sớ) Nhiên Đại Bổn
vân.
(疏) 然大本云。
(Sớ: Nhưng kinh Đại Bổn nói).
Đại Bổn là kinh Vô
Lượng Thọ.
(Sớ) Nhĩ thời, A Di Đà
Phật, phóng đại quang minh, phổ chiếu nhất
thiết thế giới. A Nan kiến Phật, dung thể
nguy nguy, như hoàng kim sơn, cao xuất nhất thiết
chư thế giới thượng, tắc Quán Kinh sở
thuyết do nhất thế giới, kim ngôn nhất
thiết thế giới, tắc cánh vi cao đại, hà
tắc ngôn Liệt?
(疏) 爾時阿彌陀佛,放大光明,普照一切世界,阿難見佛,容體巍巍,如黃金山,高出一切諸世界上。則觀經所說,猶一世界,今言一切世界,則更為高大,何得言劣?
(Sớ: “Lúc bấy giờ, A Di Đà Phật phóng
đại quang minh, chiếu trọn khắp hết
thảy các thế giới. A Nan thấy thân Phật ṿi
vọi như quả núi vàng, cao vượt trỗi hết
thảy các thế giới”. Như vậy th́ [thân Phật
như trong] Quán Kinh nói chỉ như một thế
giới, nay kinh này nói hết thảy các thế giới,
càng cao rộng hơn, lẽ nào bảo là Liệt Ứng
Thân?)
Kinh Vô Lượng Thọ do ngài
A Nan khải thỉnh, Thích Ca Mâu Ni Phật có một hôm
thị hiện tướng hảo đặc biệt, tinh
thần rạng rỡ, oai nghi, khí độ thù thắng
hơn lúc b́nh thường, ngài A Nan thấy vậy, bèn nói:
“Hôm nay tướng đức Phật đẹp
đẽ, rạng rỡ, trước nay con chưa từng
được thấy, v́ sao đẹp đẽ
dường ấy? Có phải là lăo nhân gia nghĩ
đến quá khứ Phật? Hay là nghĩ đến
chư Phật trong hiện tại hoặc vị lai?”
Khải thỉnh, thưa hỏi Phật như vậy.
Dụng ư khải thỉnh hết sức sâu xa, Ngài
chẳng nói đến nguyên nhân nào khác, mà nói tới
niệm Phật. Nói cách khác, ngầm chỉ sự thù
thắng của pháp môn Niệm Phật. Quư vị niệm
Phật, tâm là Phật, thân là Phật, dung mạo là
Phật! Tục ngữ thường nói: “Tướng chuyển theo tâm”. Người
niệm Phật lẽ đâu chẳng có tướng
tốt như Phật? Quư vị muốn có tướng
hảo, hăy niệm Phật. Ngay cả Thích Ca Mâu Ni Phật
cũng niệm Phật; khi niệm Phật, tướng
của Ngài đặc biệt tốt đẹp hơn b́nh
thường. A Nan hỏi, đức Phật liền
đáp. Ngài nói đúng là niệm Phật, niệm vị
Phật nào? Ngài niệm A Di Đà Phật; v́ thế,
giảng cho A Nan kinh Vô Lượng Thọ nhằm giới
thiệu A Di Đà Phật.
Kinh nói: Sau khi giới thiệu
xong, Ngài lại hỏi A Nan có muốn thấy A Di Đà
Phật hay không? A Nan thưa: “Đương nhiên con
muốn thấy!” Đức Phật bèn dạy: “Ông nên
chắp tay hướng về phương Tây, cung kính
đảnh lễ, xưng niệm A Di Đà Phật”. A Di
Đà Phật liền hiện thân, thân Phật cao
vượt trỗi hết thảy các thế giới. Sau
khi ngài A Nan đă thấy A Di Đà Phật, liền phát
nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Quư vị biết:
[Tổ sư] Thiền Tông đời thứ nhất là Ma
Ha Ca Diếp, Thích Ca Mâu Ni Phật cầm cành hoa giơ lên,
mỉm cười, truyền pháp cho Ma Ha Ca Diếp, Ca
Diếp truyền cho A Nan. A Nan là tổ sư Thiền Tông
đời thứ hai, phát nguyện văng sanh Tây Phương
Tịnh Độ! V́ thế, kẻ học Thiền mà
hủy báng Tịnh Độ là chẳng tôn kính tổ
sư của chính hắn, ư vị ở đây rất sâu
đậm. Đây là người hỏi dẫn kinh,
người đáp cũng viện dẫn kinh, nhất
định chớ nên hiểu lầm chỗ này.
(Sớ) Hựu Đại
Bổn vân: A Di Đà Phật đạo tràng bảo
thụ, thuần dĩ chúng bảo, tự nhiên hợp thành,
tắc phi mộc Bồ Đề thụ hạ chi thân, hà
đắc ngôn Liệt?
(疏) 又大本言:阿彌陀佛道場寶樹,純以眾寶,自然合成。則非木菩提樹下之身,何得言劣?
(Sớ: Lại nữa, kinh Đại Bổn nói
cây báu nơi đạo tràng của Phật thuần
bằng các chất báu tự nhiên hợp thành, nên thân
Phật [trong cơi Cực Lạc] chẳng phải là thân
dưới cội cây Bồ Đề bằng gỗ, làm
sao bảo là Liệt Ứng Thân cho được?)
Lời đáp này càng cao minh
hơn nữa. V́ chúng ta nói đến Liệt Ứng Thân là
nói về Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trong thế
giới này. Ngàn vạn phần đừng hiểu lầm
trong tương lai chúng ta thấy A Di Đà Phật th́ thân
tướng của A Di Đà Phật chẳng khác thân Thích
Ca Mâu Ni Phật cho mấy! Lầm rồi! V́ sao? A Di Đà
Phật chẳng đến thế giới này, chúng ta
thấy A Di Đà Phật trong thế giới Tây
Phương. Thế giới Tây Phương khác thế
giới của chúng ta, người bên ấy phước
báo to lớn, cho nên thân tướng cao lớn, tướng
hảo cũng thù thắng, chắc chắn chẳng
giống con người chúng ta ở nơi đây. Nếu
quư vị đọc kỹ bốn mươi tám nguyện
sẽ hiểu rơ. Bốn mươi tám nguyện do A Di
Đà Phật đă phát ra trong khi tu nhân, mà cũng nhằm
nói rơ t́nh h́nh quốc độ và nhân dân nơi thế
giới ấy trong tương lai khi Ngài thành Phật.
Chẳng thỏa nguyện ấy, Ngài sẽ chẳng thành
Phật. Hiện thời, Ngài đă thành Phật; đủ
thấy lư tưởng, nguyện vọng của Ngài
thứ ǵ cũng đều viên măn. Thế giới của
Ngài rất đặc biệt, điều thứ nhất
là trong thế giới ấy không có ba ác đạo. Thế
giới Cực Lạc chỉ có hai đường
trời và người, c̣n Tu La, ngạ quỷ, địa
ngục, súc sanh đều chẳng có! Điều thứ
hai, ḷng người trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới đều thanh tịnh, không có tham, sân, si,
mạn, không có ác nhân, đương nhiên chẳng có ác
quả; nhân và quả đều thù thắng!
Bên ấy cũng là tinh cầu,
nhưng tinh cầu ấy to hơn tinh cầu của chúng
ta quá nhiều, tinh cầu của chúng ta quá nhỏ, thế
giới Cực Lạc lớn hơn thế giới
của chúng ta quá nhiều. Hoàn cảnh là y báo, trong Phật
pháp thường nói: “Y báo
chuyển theo chánh báo”. Chúng sanh có phước, hoàn
cảnh cũng chuyển biến theo. Trong thế giới
Cực Lạc, phước báo của Phật và chúng sanh to
lớn, nên hoàn cảnh chẳng có bụi đất.
Mặt đất nơi chúng ta là đất cát, c̣n
đất trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới là lưu ly, đó là ngọc Phỉ Thúy, tức
một loại ngọc có màu xanh lá cây, trên đất
lưu ly là đường sá lót bằng vàng. Kinh Kim Cang nói:
“Phật thị chân ngữ
giả, thật ngữ giả, như ngữ giả”
(Phật là bậc nói lời chân chánh, nói thật, nói
đúng như sự thật không thêm bớt). Cơi ấy
như thế nào, đức Phật bèn thuật lại
đúng như thế đó. Cây cối bên ấy cũng cao
lớn, cây chẳng phải bằng gỗ, mà do bảy báu
hợp thành. Rễ cây, thân cây và cành cây đều bằng
vô lượng báu. Nói “bảy
báu” th́ thông thường dùng số bảy làm con số
đại diện cho sự viên măn. Bảy là viên măn; v́
thế, [cơi ấy] do vô lượng vô biên trân bảo
hợp thành. Chẳng phải là “mộc
Bồ Đề thụ hạ” (dưới cội
Bồ Đề bằng gỗ), Thích Ca Mâu Ni Phật
thị hiện thành Phật dưới cội Bồ
Đề, đó là cây bằng chất gỗ, chẳng
phải là cây báu! Đấy là chỗ khác biệt. V́
thế, quư vị đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới, thấy A Di Đà Phật chắc chắn
chẳng phải là Liệt Ứng Thân.
(Sớ) Hựu Quán Kinh vân: Bỉ
Phật hoặc hiện trượng lục, bát xích, hoặc hiện đại thân, măn hư
không trung, tắc tùy cơ sở kiến, đại
tiểu vô định, cố cổ vị: “Tức
Liệt, tức Thắng, sanh pháp bất nhị”. Nhi
huống kim kinh bất xuất đại tiểu, hà
đắc định chỉ vi Liệt?
(疏) 又觀經云:彼佛或現丈六八尺,或現大身,滿虛空中,則隨機所見,大小無定,故古謂即劣即勝,生法不二。而況今經,不出大小,何得定指為劣。
(Sớ: Lại nữa, Quán Kinh nói: Đức
Phật ấy hoặc hiện thân cao một trượng
sáu, tám thước, hoặc hiện thân to đầy
khắp hư không, như vậy là tùy theo căn cơ mà
thấy [thân Phật] lớn hay nhỏ không nhất
định. V́ thế, cổ đức bảo: “Liệt
Ứng Thân chính là Thắng Ứng Thân, Thắng Ứng Thân
chính là Liệt Ứng Thân, sanh thân (Hóa Thân) và Pháp Thân
chẳng hai”. Huống chi kinh này chẳng nói thân Phật là
lớn hay nhỏ, lẽ nào quyết đoán kinh này nói
Liệt Ứng Thân cho được?)
Trong Quán Kinh nói A Di Đà Phật hiện thân trượng
sáu, hoặc hiện thân cao tám thước. Tám thước
là chiều cao của người b́nh thường như
chúng ta; thân trượng sáu nói chung là cao gấp đôi chúng
ta. “Hoặc hiện đại
thân, măn hư không trung”
(hoặc hiện thân to đầy khắp hư không), thân
tướng ấy rất lớn, thường nói là “trăm ngàn do-tuần”. Do
đây có thể biết: Thân tướng của Phật
lớn hay nhỏ không nhất định, mỗi
người trông thấy khác nhau. Chẳng phải chỉ
như thế, thế gian này của chúng ta cũng là cơi Phàm
Thánh Đồng Cư. Năm trước tôi giảng kinh
bên Hương Cảng, gặp pháp sư Thánh Nhất. Pháp
sư Thánh Nhất bảo tôi: Ngài từng tới triều
bái Phổ Đà Sơn vào năm 1982. Đoàn của Ngài
gồm ba người, đến Phạm Âm Động
lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, cầu Quán Thế Âm
Bồ Tát hiện h́nh tượng cho họ thấy. Lễ
bái hơn một tiếng đồng hồ, Bồ Tát
hiện thân, ba người đều thấy, thời gian
hiện thân rất lâu, gần đến nửa tiếng
đồng hồ, nhưng ba người ấy kể
lại những ǵ ḿnh thấy khác hẳn nhau. Pháp sư
Thánh Nhất thấy thân sắc vàng, tức là thân bằng
vàng đội măo Tỳ Lô[1], là tướng
nam nhân, tay cầm cuốn sách đứng trên hoa sen. Vị
cư sĩ kia thấy Ngài có h́nh tướng người
xuất gia. Ba người họ thấy thân tướng
của Bồ Tát khác nhau, quả thật là “thuận theo tâm chúng sanh, ứng với khả
năng nhận biết của họ”, chẳng sai! Tâm
quư vị thanh tịnh trang nghiêm, thấy tướng khác
hẳn. Trong tương lai, chúng ta văng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới, mỗi một người
thấy A Di Đà Phật, thấy Quán Thế Âm Bồ Tát
khác nhau, đều không giống nhau. Hiện thời, khéo
tu hành, tương lai sẽ thấy tướng Phật
thù thắng trang nghiêm.
Cổ nhân nói: “Tức Liệt, tức Thắng, sanh pháp bất
nhị”. Liệt là sanh thân (Ứng Hóa Thân), Thắng là
Pháp Thân. Hai thân này chính là lẫn nhau, không hai. Nói cách khác, thân
tướng của Phật từ Pháp Thân của Phật
biến hóa ra. Hóa Thân và Pháp Thân là một, không hai. Ĺa hết
thảy phân biệt, chấp trước, tâm bèn thanh
tịnh. Học Phật, đặc biệt là tu Tịnh
Độ, nhất là mong thành tựu trong một
đời này, mọi người phải nhớ kỹ
lời giáo huấn của Lục Tổ đại sư: “Nhược chân tu đạo
nhân, bất kiến tha nhân quá” (nếu người
thật tu đạo, chẳng thấy lỗi người
khác). Chúng ta học Phật nhằm mục đích ǵ? Tu tâm
địa thanh tịnh.
Trong thời đại hiện
tại, cuộc sống khẩn trương, áp lực
trầm trọng, công việc bận bịu, chúng ta dùng
phương pháp và thái độ nào để học
Phật? Trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử
tham học năm mươi ba lần, đă nêu một
tấm gương tốt cho chúng ta. Đăi người
tiếp vật “ngoài chẳng
chấp tướng, trong tâm bất động”, sẽ
niệm một câu Phật hiệu tốt đẹp,
niệm Phật hiệu đắc lực. Ngoài chấp
tướng, trong động tâm, dẫu niệm Phật
hiệu tốt đẹp, mỗi ngày niệm đến
mười vạn câu, cổ nhân bảo là “phong xuy bất nhập, vũ đả bất
thấu” (gió thổi chẳng lọt, mưa táp chẳng
thấm), quư vị vẫn chẳng thể văng sanh! V́ sao?
Niệm Phật hiệu nhiều, nhưng không có hiệu
quả, chẳng đắc lực. Niệm Phật
để cầu ǵ? Cầu nhất tâm bất loạn. Quư
vị là nhị tâm, tam tâm, thấy sắc, nghe tiếng, tâm
luôn loạn th́ làm thế nào được nữa?
Niệm dẫu nhiều cũng chẳng được!
Do vậy, phải nhớ: Quư
vị tu nhất tâm bất loạn, ta tu cái tâm thanh
tịnh. Nói chung phải ghi nhớ: Tâm tịnh, cơi
nước sẽ tịnh. Tiếp xúc xă hội bên ngoài,
người và sự việc từ bên ngoài ồ ạt kéo
đến quấy nhiễu, đối với chúng ta mà nói
th́ [những điều ấy] đă ban cho chúng ta một
ân huệ rất lớn, v́ sao? Trong cảnh giới ấy,
chúng ta thời thời khắc khắc khảo nghiệm
xem công phu của chính ḿnh đă đắc lực hay
chưa. Ta thấy, nghe, trong tâm sanh phiền năo, [tức là]
công phu của ta chưa đắc lực. [Những
người đến quấy nhiễu ta] là Bồ Tát, là
thầy của ta, họ đến bảo ta: “Ngươi
chưa được! Công phu chưa đắc lực!”
Quư vị đối diện người và việc
chẳng chấp tướng, chẳng động tâm,
rất thanh tịnh, họ bèn bảo quư vị: “Công phu
của ngươi đă đắc lực”. Đó gọi
là “lịch sự luyện tâm”
(trải qua sự việc để luyện tâm), rèn
luyện cái tâm thanh tịnh và b́nh đẳng của chính
ḿnh trong quan hệ với con
người và sự việc th́ mới có thể viên thành
Phật đạo. Ĺa khỏi con người và sự
việc, quư vị đến nơi đâu để tu?
Chẳng có chỗ nào để tu cả! Do vậy, tu hành
nhất định phải hiểu rơ đạo lư này!
Nếu quư vị nói là tách rời những mối quan
hệ bất như ư với con người, quư
vị đâu có phước báo lớn như vậy? Ngay
cả Thích Ca Mâu Ni Phật cũng chẳng làm
được! Tăng đoàn của Thích Ca Mâu Ni Phật,
bên ngoài có Đề Bà Đạt Đa, bên trong có Lục Quần
tỳ-kheo[2], trong số các
đồ đệ của Ngài có không ít kẻ chẳng
vâng lời, khuấy động sóng gió! Ngay cả lúc Thích Ca
Mâu Ni Phật trụ thế, suốt đời hoằng
pháp lợi sanh mà c̣n chẳng thể có được
một ngày thanh tịnh! Quư vị mong có một ngày thanh
tịnh th́ phước báo phải nhiều đến
đâu? Chúng ta chẳng thể không giác ngộ!
Quán Kinh nói Thắng Ứng Thân
và Liệt Ứng Thân, nói thấy tướng có lớn và
nhỏ. Kinh Di Đà chẳng nói. Không nói th́ quư vị
chắc chắn chẳng thể tự ḿnh nhận
định A Di Đà Phật hiện tướng Liệt
Ứng Thân, quư vị nghĩ trật lất mất
rồi!
(Sớ) Hoa cục xa luân giả.
(疏) 華局車輪者。
(Sớ: Hoa chỉ hạn cuộc to bằng bánh xe).
“Cục”
là hạn cuộc, kinh này nói hoa sen trong ao bảy báu to
bằng bánh xe.
(Sớ) Hoặc vị Quán Kinh hoa đại thập
nhị do-tuần, thử kinh xa luân, hoa cục ư
tiểu, cố danh Tán Thiện.
(疏) 或謂觀經華大十二由旬,此經車輪,華局於小,故名散善。
(Sớ: Hoặc có
kẻ nói: Theo Quán Kinh, hoa sen to mười hai do-tuần,
kinh này nói hoa sen to bằng bánh xe, kích thước hạn
cuộc nhỏ nhoi, nên nói kinh này là Tán Thiện).
Đây cũng là hiểu lầm, quả thật
hoa sen trong ao bảy báu nơi Tây Phương Cực
Lạc thế giới có lớn, có nhỏ.
(Sớ) Bất tri xa luân chi
nghĩa, đại tiểu vô định, Đại
Bổn xa luân đại chí bách thiên do-tuần, hà chỉ
thập nhị, tường như hậu văn trung
biện.
(疏) 不知車輪之義,大小無定,大本車輪大至百千由旬,何止十二,詳如後文中辯。
(Sớ: Chẳng
biết ư nghĩa của “bánh xe” là lớn hay nhỏ không
nhất định. “Bánh xe” trong kinh Đại Bổn to
đến trăm ngàn do-tuần, đâu phải chỉ
mười hai do-tuần. Điều này sẽ
được biện định cặn kẽ trong
phần kinh văn ở phía sau).
Đại Kinh cho biết hoa sen
nhỏ là một do-tuần, lớn là trăm ngàn
do-tuần. Chúng ta sanh vào Tây Phương Cực Lạc
thế giới, hoa sen là chỗ để ta sanh vào,
sống trong đó, chỗ ta tu hành đều ở trong hoa
sen. Trong hoa sen có phải là chốn tịch mịch hay
chăng? Không! A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí, hải
hội chúng Bồ Tát, ở trong hoa sen quư vị đều
thấy hết. Trong hoa sen thấy Ứng Thân của A Di
Đà Phật và các thánh chúng, hoa chưa nở mà! V́ thế,
trong hoa sen và ngoài hoa sen gần như chẳng khác ǵ nhau.
Một do-tuần là tám mươi dặm. Ngay cả hoàng cung
đời Thanh cũng chưa to đến tám mươi
dặm, đấy là cái hoa sen nhỏ nhất trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới, Hạ Phẩm
Hạ Sanh đó nghe! Thượng Phẩm Thượng Sanh
là trăm ngàn do-tuần, thưa quư vị, lớn hơn
địa cầu của chúng ta nhiều lắm.
Địa cầu bỏ vào trong hoa sen ấy như một
trái banh da, quư vị nghĩ xem hoa sen bao lớn?
V́ sao hoa sen có lớn nhỏ?
Trong kinh, đức Phật đă nói rất rơ ràng: Chúng sanh
trong mười phương thế giới phát tâm muốn
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
đă phát tâm ấy, có nguyện ấy, trong ao bảy báu
nơi Tây Phương thế giới liền trổ
một đóa sen, mọc lên búp sen nhỏ, hoa ấy có ghi
tên họ của quư vị. Trong tương lai, A Di Đà
Phật đến tiếp dẫn quư vị, sẽ cầm
theo hoa sen ấy để tiếp dẫn. Quư vị
niệm Phật rất siêng, hoa sen ấy sẽ càng tăng
trưởng, hoa lớn hay nhỏ do công phu niệm
Phật siêng hay lười. Người niệm Phật
giỏi giang, hoa sen sẽ to lớn, ánh sáng và màu sắc
đẹp đẽ. V́ thế, nhất định
phải niệm Phật, phải niệm hằng ngày,
niệm Phật chớ nên gián đoạn! Để làm ǵ?
Vun bồi hoa sen trong ao bảy báu, quư vị vun trồng hoa
sen. Người công phu tốt đẹp, tương lai
ở trong thế giới Tây Phương, hoa sen có thể
trụ trong không trung. Người công phu kém hơn, hoa sen
cũng có thể trở thành công cụ giao thông để
bay đi, nhưng hễ ngừng lại, nhất
định bị rơi xuống đất, chẳng
thể thường ở trên hư không. V́ thế, hoa sen
lớn hay nhỏ không nhất định, chẳng thể
câu nệ hoa sen chỉ to bằng bánh xe!
(Sớ) Ngũ Nghịch bất
sanh giả, hoặc vị Quán Kinh ngôn Ngũ Nghịch
đắc sanh, Đại Bổn “duy trừ Ngũ
Nghịch”, tắc tế độ công hiệp, cố danh
Tán Thiện. Bất tri “duy trừ Ngũ Nghịch” hạ,
hữu “phỉ báng chánh pháp” tứ tự. Ngũ Nghịch
nhi kiêm báng pháp, năi tại sở trừ. Tuy cụ Ngũ
Nghịch, bất báng pháp giả, vị tất bất sanh
dă.
(疏) 五逆不生者,或謂觀經言五逆得生,大本唯除五逆,則濟度功狹,故名散善。不知唯除五逆下,有誹謗正法四字,五逆而兼謗法,乃在所除,雖具五逆,不謗法者,未必不生也。
(Sớ: “Ngũ Nghịch chẳng được
văng sanh”: Có kẻ bảo Quán Kinh nói Ngũ Nghịch
được văng sanh, Đại Bổn nói “chỉ
trừ kẻ Ngũ Nghịch”, như vậy là công năng
tế độ của [Đại Bổn và Tiểu Bổn
Di Đà] hẹp ḥi, nên gọi là Tán Thiện. Kẻ ấy
chẳng biết dưới câu“chỉ trừ Ngũ
Nghịch”, c̣n có bốn chữ “phỉ báng chánh pháp”. Kẻ
đă phạm tội Ngũ Nghịch, lại c̣n hủy
báng chánh pháp, bèn bị gạt ra; chứ kẻ tuy phạm
đủ Ngũ Nghịch, nhưng chẳng hủy báng
chánh pháp, chưa chắc đă không được văng sanh).
Lời đáp này quá hay! Đích
xác đă giải trừ một mối nghi hoặc to
lớn cho chúng ta. Con người hiện thời rất
dễ phạm tội Ngũ Nghịch, quả báo của
tội Ngũ Nghịch là trong địa ngục. Ngũ
Nghịch là năm tội ǵ vậy? Kinh Địa Tạng
đă nói rất rơ ràng: Thứ nhất là giết cha,
thứ hai là giết mẹ, thứ ba là giết A La Hán,
thứ tư là làm thân Phật chảy máu, thứ năm là
phá ḥa hợp Tăng. Giết cha mẹ: Cha mẹ có ân
đức lớn nhất đối với chúng ta, ân
dưỡng dục! Bất hiếu đă là đại
nghịch bất đạo; giết hại cha mẹ
trời đất chẳng thể dung! Do tội nghiệp
ấy, sẽ đọa địa ngục. A La Hán là
mắt của trời người, là bậc thiện nhân
tại một địa phương. Tại địa
phương có bậc đại thiện nhân ấy,
người khác nhất định được
hưởng sự giáo hóa ngấm ngầm, Ngài có công
đức dạy người khác đoạn ác tu
thiện. Ngài cũng là một vị thầy tốt, có
thể giáo hóa một vùng, là thiện tri thức của
mọi người trong một phương. Quư vị
giết hại Ngài, khiến cho người nơi ấy
thiếu phước, cho nên tội lỗi ấy rất
to!
Làm thân Phật chảy máu:
Phật là bậc đạo sư của tam giới,
Phật là đấng đại phước báo, không ai có
thể hại Phật, nhưng có thể làm cho Phật
bị thương một chút, chảy máu đôi chút, làm
như vậy th́ có thể, chứ chẳng thể nào
hại chết Phật được. Thần hộ pháp
của Phật quá nhiều. Điều này có nghĩa là: Dùng
ác tâm ác ư đối với Phật, tội rất
nặng! Hiện thời, Phật chẳng trụ thế,
chúng ta do ác tâm, ác ư hủy hoại tượng Phật, giống
như làm thân Phật chảy máu. V́ thế, đối
với điều này, đại khái là các đồng tu
học Phật sẽ không phạm. Kẻ chẳng học
Phật, nhất là những kẻ tin tưởng các tôn
giáo khác bài xích Phật giáo sẽ có khả năng phạm
tội này. Họ do cái tâm chán ghét mà phá hoại tượng
Phật, thiêu hủy kinh điển của Phật giáo, có
thể có những chuyện như vậy, đó là phạm
tội Ngũ Nghịch. Các đồng tu học Phật dễ
phạm nhất là phá ḥa hợp Tăng. Phá ḥa hợp
Tăng là phá hoại Tăng đoàn, nói những
điều đúng, sai, ưu điểm, khuyết
điểm; tuy phạm những tội nghiệp như
thế, những tội nghiệp ấy cũng rất
nặng, nhưng chẳng phải là cực nặng. V́ sao
chẳng phải là cực nặng? V́ trong hiện thời
chẳng có Tăng đoàn thật sự ḥa hợp. Tuy
Tăng đoàn hữu danh vô thực, chúng ta cũng chớ
nên phá hoại, v́ đối với việc hoằng
dương Phật giáo, ít nhiều ǵ họ cũng có công
đức!
Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Duy trừ Ngũ Nghịch,
phỉ báng chánh pháp” (chỉ trừ kẻ phạm
tội Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp [th́ không thể
văng sanh]). Kẻ phỉ báng chánh pháp sẽ chẳng thể
tiếp nhận [pháp môn Tịnh Độ], không có cách nào
hết! Câu này có nghĩa là: Dẫu cho quư vị tạo
tội Ngũ Nghịch, mà vẫn có thể tin tưởng
và tiếp nhận pháp môn này, tin tưởng Tây
Phương có A Di Đà Phật, quư vị chịu niệm
Phật, phát nguyện văng sanh thế giới Cực
Lạc, đấy là quư vị chẳng phỉ báng chánh
pháp. Đây là đặc biệt nói theo bộ kinh này.
Nếu quư vị chẳng tin tưởng pháp môn này, tin theo
các tông khác, hoặc pháp môn khác, trong một đời này,
quư vị vẫn chẳng thể đắc độ,
chẳng thể văng sanh. Quư vị tin bất cứ một
tông phái hay bất cứ một pháp môn nào khác đều
không được, nhất định phải tin
tưởng pháp môn này, phải tin Tây Phương quả
thật có thế giới Cực Lạc, trong thế
giới Cực Lạc quả thật có một vị giáo
chủ, tức là có một vị đạo sư hiệu
là A Di Đà Phật. Quư vị thật sự tin tưởng,
thật sự chịu sanh về đó, dẫu tạo
tội Ngũ Nghịch, vẫn có thể văng sanh. Mang ư
nghĩa này! Nếu đă tạo tội Ngũ Nghịch,
lại c̣n chẳng tin tưởng pháp môn này, chẳng có
cách nào hết! A Di Đà Phật chẳng giúp đỡ
được, ư nghĩa là như vậy đó! Đây là
nói theo Hạ Phẩm Hạ Sanh trong Quán Kinh.
Dùng phương pháp nào? Quán Kinh
nói quán tưởng, Hạ Phẩm Hạ Sanh chẳng quán
tưởng mà niệm Phật. Tŕ danh niệm Phật
được Quán Kinh nêu ra trong chương Hạ
Phẩm Hạ Sanh; nay chúng ta dùng phương pháp tŕ danh này,
có phải là trong tương lai văng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới sẽ là Hạ Phẩm
Hạ Sanh ư? Nếu quư vị nghĩ như vậy th́
lại lầm mất rồi! Quư vị phải biết:
Phương pháp tŕ danh mầu nhiệm đến tột
cùng, thực hiện dễ, thành công cao! Một câu Phật
hiệu có thể viên chứng Vô Thượng Bồ
Đề, từ Sơ Phát Tâm măi cho đến khi thành
Phật, chẳng cần phải thay đổi, chẳng
cần bất cứ ǵ giúp thêm, chẳng cần tới! Một
câu Phật hiệu là được rồi! Trước
tiên, chúng ta phải niệm Phật đến mức công
phu thành phiến, tiến hơn bước nữa là
Sự nhất tâm bất loạn, lại niệm
đến Lư nhất tâm, công đức chẳng thể
nghĩ bàn!
Niệm một câu Phật
hiệu, chư Phật hộ niệm, thần hộ pháp
bảo vệ, hết thảy quỷ thần chẳng dám
đến gần bên thân quư vị. Đầu thời Dân
Quốc, cư sĩ Đinh Phước Bảo có ghi
lại một câu chuyện, đấy là chuyện có
thật. Có hai người là bạn bè thân thiết, cùng
đi ra ngoài, có một người chết trên
đường đi, một người trở về.
Sau khi trở về bèn báo tin cho gia quyến của
người kia biết, vợ ông ta ngờ vị bằng
hữu ấy hại chết chồng ḿnh. Mối nghi
ấy từ đầu đến cuối không thể tháo
gỡ được! Sau khi chồng bà ta chết đi,
hồn ma rất thiêng, vẫn thường t́m đến
người bạn tṛ chuyện, ông ta nói: “Người nhà
tôi nghi ngờ ông, ông hăy dẫn vợ tôi đến đây,
tôi sẽ giải thích trước mặt bà ấy ḥng có
thể tiêu trừ nỗi hoài nghi ấy”. Ông ta nghe xong câu
ấy, bèn niệm một tiếng A Di Đà Phật. Ông
niệm A Di Đà Phật một tiếng, hồn ma ấy
kêu lên: “Ông đừng có niệm! Khi ông niệm, thân ông phóng
quang, tôi bứt rứt chịu không thấu!” Ông ta nghe xong,
niệm mấy tiếng nữa, hồn ma bèn bỏ
chạy. Do vậy, ông ta hiểu: Ông ta cũng chẳng
cần phải giải thích cho vợ ông kia nữa. Từ
đấy về sau, ông ta xuất gia, nhất tâm niệm A
Di Đà Phật. Ông ta mới biết một câu A Di Đà
Phật có sức mạnh chẳng thể nghĩ bàn như
thế. Vị bằng hữu kia chẳng phải là ác
quỷ, niệm mấy câu A Di Đà Phật mà ông ta
chẳng dám léo hánh, chẳng dám đến gần, phải
tránh đi, mới biết công đức niệm Phật
chẳng thể nghĩ bàn!
Phải hiểu rơ “Ngũ Nghịch chẳng văng
sanh” là do duyên cớ nào, tuyệt đối đừng
nói những điều giảng trong kinh này chẳng
bằng Quán Kinh, cách nghĩ như vậy là sai lầm. Liên
Tŕ đại sư nói rất hay: Dẫu phạm
đủ Ngũ Nghịch, nhưng chẳng báng pháp,
chưa chắc đă không văng sanh!
(Sớ) Lương diêu báng tắc bất tín, bất
tín bất sanh, cố sở vị: “Nghi tắc hoa bất
khai”, thị dă.
(疏) 良繇謗則不信,不信不生,故所謂疑則華不開是也。
(Sớ: Ấy là v́:
Hễ phỉ báng tức là không tin, do không tin nên chẳng
văng sanh, cho nên nói “hễ nghi th́ hoa sen chẳng nở”, chính
là nói về điều này).
V́ thế, quyết định
chớ nên hoài nghi! Bí quyết của pháp môn này là có tín tâm
kiên định, có nguyện lực chân chánh. Tin thật,
nguyện thiết, thái độ tŕ danh niệm Phật là
chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, chẳng hoài
nghi, cách tu là như vậy. Trong một đời này, chúng
ta quyết định được văng sanh, không một
ai chẳng được văng sanh. Cổ đức nói: “Vạn người tu, vạn
người đến”. Hôm nay thời gian đă hết
rồi!
Tập 76
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm
mười chín:
(Sớ) Hựu Quán Kinh Hạ
Hạ Phẩm Ngũ Nghịch văn trung, vị kỳ
nhân thập thanh xưng danh, toại đắc văng sanh,
tắc quán tưởng vị thành, duy tư thập
niệm, Ngũ Nghịch chi sanh, chánh xưng danh đắc
sanh nhĩ.
(疏) 又觀經下下品五逆文中,謂其人十聲稱名,遂得往生,則觀想未成,唯資十念,五逆之生,正稱名得生耳。
(Sớ: Lại
nữa, trong kinh văn nói về Ngũ Nghịch trong
phần Hạ Hạ Phẩm Văng Sanh của Quán Kinh, có nói:
“Người ấy xưng danh mười tiếng bèn
được văng sanh”, tức là quán tưởng chưa
thành, chỉ nhờ vào mười niệm, Ngũ
Nghịch văng sanh chính là do xưng danh mà được văng
sanh vậy).
Đây là tháo gỡ [kiến
chấp] do thấy kẻ tạo tội Ngũ Nghịch
chẳng thể văng sanh bèn hiểu lầm “tŕ danh niệm
Phật là Tán Thiện, chẳng phải là Định
Thiện”. Chương Hạ Hạ Phẩm của Quán Kinh
đă ban cho người tu Tịnh Độ chúng ta một
khải thị rất lớn, v́ phương pháp
được giảng trong Quán Kinh hoàn toàn là quán
tưởng, nh́n từ chương kinh này, ta có thể
thấy: Hoàn toàn chưa quán tưởng thành công, thậm
chí có thể nói là kẻ ấy chẳng dùng đến công
phu quán tưởng, mà dùng công phu nào? Dùng công phu niệm Phật!
Hơn nữa, thời gian niệm Phật không lâu. Lâm chung
mười niệm bèn có thể văng sanh. Do vậy, Tŕ Danh
Niệm Phật và pháp môn được giảng trong Quán
Kinh chẳng khác nhau. Cũng có thể nói: Lư luận của
pháp môn Tŕ Danh Niệm Phật dựa trên Quán Kinh, ta cũng
có thể nói theo cách ấy. V́ thế, ba kinh thật sự
là một, một mà ba, ba nhưng một.
Thế nhưng tội Ngũ
Nghịch, khi lâm chung nhất định phải có nhân duyên
thù thắng. Chuyện khẩn yếu đầu tiên là khi
lâm chung phải sáng suốt! Nếu lúc lâm chung hôn mê, điên
đảo, thậm chí chẳng nhận biết
người nhà, quyến thuộc, đó là chuyện
phiền phức! Dẫu có duyên gặp Phật pháp, cũng
chẳng thể thành tựu! Mấy ai khi lâm chung sáng
suốt, tỉnh táo? Hơn nữa, ai có thể bảo
đảm chính ḿnh lâm chung tỉnh táo, chẳng mê hoặc,
chẳng điên đảo? Chuyện này nhất
định chẳng thể cầu may. Do điều này,
chúng ta phải sốt sắng tu phước báo. Hết
thảy thiện căn, phước đức đă tu
đều hồi hướng cầu sanh Tịnh
Độ, như vậy th́ mới có thể bảo
đảm khi lâm chung sáng suốt. Quư vị phải
biết: Đời người rất ngắn! Trong
thời gian vô cùng ngắn ngủi này, chúng ta hăy nên chịu
đựng, dẫu có phước, chớ nên hưởng
hết! Phước báo hưởng ba phần là đủ
rồi, phần c̣n lại bố thí cho hết thảy chúng
sanh, hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề;
đấy mới là phương pháp chính xác duy nhất
để cầu sanh Tịnh Độ.
Tạo tội Ngũ Nghịch
mà khi lâm chung vẫn có duyên gặp Phật, người
ấy đời này tạo tội nghiệp nhiều,
nhưng đời trước chắc chắn thiện
căn sâu dầy. V́ sao thiện căn sâu dầy mà
đời này lại mê hoặc, điên đảo tạo
tội nghiệp? Trong kinh Vô Lượng Thọ,
đức Phật đă giảng chuyện này rất rơ
ràng: Bồ Tát chưa thể văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới c̣n bị mê khi cách ấm, loại
Bồ Tát nào vậy? Trong kinh, đức Phật đă
dạy: “Bỉ ư tiền
thế trụ Bồ Tát đạo” (Kẻ ấy trong
đời trước đă trụ trong đạo Bồ
Tát), là Bồ Tát thật sự, chẳng giả, “vô số kiếp lai, cúng
dường tứ bách ức Phật” (từ vô số
kiếp đến nay, đă cúng dường bốn
trăm ức Phật). Cúng dường bốn trăm
ức Phật mà c̣n bị mê khi cách ấm, c̣n bị thoái
chuyển, quư vị mới hiểu tánh chất nghiêm
trọng của vấn đề này. Đời này
người ấy mê mất, đă tạo tội Ngũ
Nghịch, [đó là chuyện] rất có thể xảy ra!
Nhưng thiện căn của người ấy hết
sức sâu dầy, đáng tiếc suốt đời
chẳng gặp thiện tri thức; v́ thế, chấp mê
chẳng ngộ, khi lâm chung gặp thiện tri thức.
Gặp thiện tri thức rồi, được
thiện tri thức chỉ điểm bèn giác ngộ. Sau
khi giác ngộ bèn thật sự chịu niệm Phật, ḷng
tin chân thật, nguyện thiết tha, tuy niệm Phật
ít, chỉ niệm Phật hiệu mười tiếng
cũng có thể văng sanh. Ông Trương Thiện Ḥa trong
Văng Sanh Truyện là một thí dụ rơ ràng nhất. Ông ta là
người đời Đường, khi lâm chung mới
gặp Phật pháp, mười niệm văng sanh.
Chúng ta đọc đến
đoạn kinh văn này, nhất quyết chớ nên
giữ tấm ḷng cầu may: “Lâm chung mười niệm
vẫn có thể văng sanh; hiện thời tạo tội
nghiệp nhiều một chút cũng chẳng sao!” Nếu
quư vị nghĩ như thế, lầm lẫn quá
đỗi! Quư vị đừng nghĩ chỉ riêng các đồng
tu tại gia, mà nhiều pháp sư xuất gia cũng hồ
đồ, mê muội khi lâm chung, đủ thấy đây
chẳng phải là chuyện dễ dàng, lúc b́nh
thường phải nỗ lực, phải tu
phước, phải sốt sắng tu học, phải
học theo những đại đức đă văng sanh
xưa nay, biết trước lúc mất, không bệnh
tật qua đời, tự tại lắm! Đấy
mới là tấm gương chân chánh cho chúng ta!
(Sớ) Huống Đại Bổn vân: “Địa
ngục, quỷ, súc sanh, diệc sanh ngă sát trung”, đọa
địa ngục giả, phi Ngũ Nghịch nhân nhi hà?
(疏) 況大本云:地獄鬼畜生,亦生我剎中,墮地獄者,非五逆人而何。
(Sớ: Huống chi
kinh Đại Bổn nói: “Địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh, cũng sanh trong cơi ta”. Kẻ đọa
địa ngục chẳng phải là kẻ Ngũ
Nghịch th́ là ǵ vậy?)
Theo kinh Vô Lượng Thọ,
trong bốn mươi tám nguyện của A Di Đà
Phật có nguyện này. Trong đại kinh lại
đặc biệt nói rơ ràng: Chúng sanh trong ác đạo
cũng có kẻ niệm Phật văng sanh. Trong lời khai
thị cho Phật Thất, lăo pháp sư Đàm Hư có nói:
Trước kia, lúc pháp sư Đế Nhàn làm Phương
Trượng chùa Đầu Đà, trong chùa nuôi một con gà
trống, con gà trống ấy văng sanh. Chính mắt pháp
sư Đế Nhàn thấy chuyện này. [Thuở ấy]
trong chùa không có đồng hồ, sáng sớm gà gáy báo sáng,
mọi người thức dậy tụng khóa sáng. Mọi
người sáng tối lên chánh điện, con gà trống
ấy cũng theo lên chánh điện tham dự khóa tụng
niệm Phật. Khi tăng chúng thọ trai, nó cũng
đến. Mọi người vứt cơm, lá rau
xuống đất, nó ăn sạch. Có một lần, khóa
tụng đă xong, mọi người đều trở về
liêu pḥng, con gà trống vẫn đi loanh quanh trong chánh
điện chẳng rời đi, thầy Hương
Đăng xua nó đi, bảo: “Khóa tụng xong rồi, tôi
phải đóng cửa”. Con gà trống ấy chạy vào
Phật điện, nghển cổ nh́n tượng
Phật, kêu lên ba tiếng, đứng tại đó
chết ngay. Con gà trống ấy biết trước lúc
mất, đứng văng sanh. Đọa lạc trong ác
đạo, đương nhiên là chúng sanh tội nghiệp
sâu nặng, nhưng linh tánh chẳng mê muội, gặp duyên
niệm Phật vẫn có thể văng sanh.
Cũng có người hỏi:
“Đời trước đă tu tốt đẹp như
thế, v́ sao bị đọa trong ba ác đạo?”
Vấn đề này chúng ta phải nên nghiên cứu cặn
kẽ. Đời sau phải đi vào nơi nào là do ư
niệm cuối cùng lúc lâm chung quyết định. Quư
vị suốt đời niệm Phật chuyên cần,
nhưng ư niệm cuối cùng lúc lâm chung chẳng phải là
niệm Phật, sẽ chẳng thể văng sanh! Lúc lâm chung
khởi một niệm tham tâm, bèn vào đường
ngạ quỷ. Lâm chung khởi lên một niệm sân
khuể tâm, đi vào đường địa ngục.
Lâm chung mê hoặc, điên đảo, đi vào
đường súc sanh. Đấy là tam ác đạo!
Một niệm cuối cùng lúc lâm chung là A Di Đà Phật,
chắc chắn văng sanh Tây Phương. Mười
niệm hay một niệm đều được văng
sanh, do một niệm lúc lâm chung quyết định!
Nhà Phật lại răn
dạy chúng ta: Phải vô cùng thận trọng khi lâm chung,
đó là đại sự, quan hệ đến hạnh
phúc trong đời sau. Con người sau khi qua đời,
trong ṿng tám tiếng đồng hồ, chớ nên
đụng chạm, v́ sao? Sợ đụng chạm
sẽ khiến người ấy khởi tâm sân khuể.
Trước khi tắt hơi, tốt nhất là trợ
niệm, một mực niệm măi cho đến khi
[người ấy] đă tắt hơi tám tiếng
đồng hồ, đó là tối thiểu! Hiệu quả
niệm Phật ấy vô cùng to lớn. Trợ niệm
nhằm nhắc nhở người ấy, mong một
niệm của người ấy lúc lâm chung là chánh
niệm, là A Di Đà Phật. Trong ṿng tám tiếng
đồng hồ, tuy người ấy đă tắt
hơi, thần thức chưa rời khỏi thân. V́
thế, trong tám tiếng đồng hồ, nếu người
ấy giác ngộ hồi đầu, cũng niệm
Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, vẫn c̣n có thể văng sanh. V́ thế, trong ṿng tám
tiếng đồng hồ sau khi người ấy
tắt hơi vô cùng quan trọng, nhất định
chớ khiến cho người ấy sanh phiền năo,
đừng khiến người ấy khởi tham, sân, si.
Sách Sức Chung Tân Lương có nói rơ: Tốt nhất là
tách người nhà, thân quyến khỏi người
chết, v́ sao? Sợ người ấy trông thấy
[người thân] sẽ khởi tâm tham: Bỏ người
này chẳng được, kẻ nọ chưa thấy
mặt [ta chưa thể trút hơi], phiền phức to lớn,
chẳng sang Tây Phương Cực Lạc thế giới
được! Lúc b́nh thường phải thấy
thấu suốt, buông xuống, sẽ có ích rất lớn
đối với việc văng sanh của chúng ta.
Trong ác đạo, nhất là
trong địa ngục, đương nhiên là kẻ
phạm tội Ngũ Nghịch; điều này chứng
tỏ người phạm tội Ngũ Nghịch vẫn
có thể văng sanh.
(Sớ) Chỉ thuộc hạ
phẩm giả.
(疏) 止屬下品者。
(Sớ: Chỉ thuộc
hạ phẩm là).
“Chỉ
thuộc hạ phẩm, danh Tán Thiện giả” (chỉ
văng sanh trong hạ phẩm nên gọi là Tán Thiện), có
nghĩa là: Nếu người ấy là Chánh Định,
nhất định sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, không bao lâu sau sẽ chứng Vô Sanh
Pháp Nhẫn. Người ấy chỉ là hạ phẩm
[văng sanh], chưa đắc Chánh Định, cho nên là Tán
Thiện.
(Sớ) Hoặc vị Quán Kinh hạ chi tam phẩm.
(疏) 或謂觀經下之三品。
(Sớ: Hoặc có
kẻ nói ba phẩm hạ trong Quán Kinh).
Ba phẩm hạ là hạ
hạ phẩm, hạ trung phẩm, hạ thượng
phẩm trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư.
(Sớ) Sơ ngôn trí giả giáo
linh hợp chưởng xoa thủ, xưng Nam-mô A Di Đà
Phật, tam ngôn thiện hữu giáo vân: “Nhữ
nhược bất năng niệm bỉ Phật giả,
ưng xưng danh hiệu”, tắc tŕ danh văng sanh, tự duy
hạ phẩm.
(疏) 初言智者教令合掌叉手,稱南無阿彌陀佛。三言善友教云:汝若不能念彼佛者,應稱名號,則持名往生,似唯下品。
(Sớ: Trước hết, kinh nói người có
trí dạy kẻ ấy chắp tay xưng niệm Nam-mô A Di
Đà Phật, kinh nói điều thứ ba là bạn lành
dạy rằng: “Nếu ông chẳng thể niệm
đức Phật ấy [bằng cách quán tưởng], hăy
nên đọc danh hiệu của Ngài”, như vậy th́ tŕ
danh văng sanh dường như chỉ là hạ phẩm).
Nh́n theo Quán Kinh, nh́n từ
bề ngoài, dường như là như thế này: Ba
phẩm hạ của Quán Kinh dường như
đều là tŕ danh. Nói chung, tŕ danh [bèn văng sanh] trong ba phẩm
hạ. Nói thật ra, hạ hạ phẩm văng sanh cũng
khá lắm! Kẻ ham cao chuộng xa sợ rằng chẳng
thể văng sanh, ngay cả hạ hạ phẩm vẫn không
đủ tư cách, hỏng rồi! Có người nói:
“Phương pháp [Tŕ Danh Niệm Phật] của quư vị
là hạ hạ phẩm”, chúng ta chắp tay: “Đối
với tôi, hạ hạ phẩm là đủ rồi, tôi
rất hoan hỷ. Tôi chỉ cần có thể sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới là thỏa măn
rồi. Ông có bản lănh, ông cầu thượng
thượng phẩm, tôi chúc mừng ông, c̣n tôi hạ
hạ phẩm là đủ rồi!” Quư vị có thể
chết sạch ḷng so đo, kiên quyết như thế,
chẳng nghi hoặc, chắc chắn thành tựu trong
một đời này. Đại sư rát miệng buốt
ḷng giải thích cho chúng ta nhiều ngần ấy, v́ sợ
những kẻ chẳng cam ḷng văng sanh trong hạ hạ
phẩm sẽ chẳng niệm Phật, hành theo cách nào khác;
đó mới gọi là lầm lẫn to lớn!
(Sớ) Bất tri tŕ hữu
Sự Lư, Lư phục thiển thâm.
(疏) 不知持有事理,理復淺深。
(Sớ: Chẳng
biết tŕ danh có Sự và Lư, Lư lại có sâu và cạn).
Đối với pháp tŕ danh
này, kinh Di Đà nói “nhất tâm
bất loạn”, có Sự nhất tâm và Lư nhất tâm.
Chấp tŕ danh hiệu có Sự Tŕ và Lư Tŕ. Trong sách Di Đà
Kinh Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư nói: Bất
luận Sự Tŕ hay Lư Tŕ, niệm đến mức
đoạn được Kiến Tư phiền năo,
đều gọi là Sự nhất tâm. Do đây có thể
biết: Sự Tŕ và Lư Tŕ là phương pháp khác nhau,
chứ hiệu quả giống nhau. Niệm đến
mức phá một phẩm vô minh, thấy một phần
chân tánh, khi ấy sẽ gọi là Lư nhất tâm bất
loạn.
Sự Tŕ là ǵ? Lư Tŕ là ǵ? Lư Tŕ
là thật sự thông đạt Thật Tướng
như Quán Kinh đă nói “tâm này
là Phật, tâm này làm Phật”. Niệm một câu Phật
hiệu tương ứng với Bát Nhă Không Huệ, cách
niệm ấy gọi là Lư Tŕ. Lư Tŕ có thể đắc Lư
nhất tâm hay không? Chưa chắc! Tuyệt đối
chẳng phải là Sự Tŕ sẽ đắc Sự
nhất tâm bất loạn, Lư Tŕ sẽ đắc Lư
nhất tâm bất loạn, chớ nên hiểu lầm
chỗ này! Nhất tâm bất loạn hoàn toàn phụ
thuộc công phu tŕ danh sâu hay cạn. Nếu niệm câu
Phật hiệu đến mức tương ứng
với Không Huệ th́ có khi người ấy vẫn
chưa đắc nhất tâm! Nếu chính ḿnh c̣n có thị
phi, nhân ngă, vẫn c̣n có tham, sân, si, mạn, c̣n có phân
biệt, chấp trước, th́ chưa đắc
nhất tâm! Không chỉ là chưa đắc nhất tâm, mà
ngay cả công phu thành phiến cũng chưa đạt
được. Nói cách khác, niệm Phật như thế
không có cách nào văng sanh được! Muốn thật
sự văng sanh, mức độ thấp nhất là phải
niệm đến mức công phu thành phiến.
Thị phi, nhân ngă, phân biệt,
chấp trước, tham, sân, si, mạn thật sự
chẳng đoạn, tuy chưa đoạn mà câu Phật
hiệu này khởi tác dụng, có thể đè nén phiền
năo, vọng tưởng vừa khởi lên ngay lập
tức đổi nó thành Phật hiệu, trong mười
hai thời chỉ có Phật hiệu, đó gọi là công
phu thành phiến. Một mặt niệm Phật, một
mặt vẫn khởi vọng tưởng th́ không
được, đó là điều đáng kiêng dè rất
lớn. “Rách toạc cổ
họng cũng uổng công”. Khi quư vị lớn
tiếng niệm Phật th́ chỉ niệm trong họng,
trong tâm khởi vọng tưởng, không được
rồi! Nhất định phải niệm đến
mức Phật hiệu có thể chế phục vọng
tưởng; đó gọi là công phu thành phiến. Khi quư
vị chẳng niệm Phật hiệu, vọng
tưởng lại khởi lên; khi niệm Phật,
Phật hiệu có thể chế ngự vọng tưởng,
như thế mới là hữu dụng, công phu mới
đắc lực. Bất luận Sự Tŕ hay Lư Tŕ,
phải niệm đến mức như thế ấy,
công phu mới đắc lực!
Trong lúc b́nh thường, chúng ta
từ sáng đến tối đăi người, tiếp
vật, thực hiện công phu niệm Phật nơi
đâu? Thực hiện từ khởi tâm động
niệm. Ư niệm vừa khởi lên, bất luận là
thiện hay ác, bất luận là chánh hay tà, nhất loạt
đổi nó thành A Di Đà Phật. Nói cách khác, chẳng
khởi tâm động niệm th́ thôi, hễ khởi tâm
động niệm bèn là A Di Đà Phật. Người
thật sự niệm Phật tâm suy nghĩ, ư nghĩ
tưởng chỉ có A Di Đà Phật, chỉ có Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Trừ A Di
Đà Phật và Tây Phương Cực Lạc thế
giới ra, hết thảy đều chẳng nắm níu,
hết thảy đều buông xuống. Quư vị có
thể thật sự làm như vậy, tối đa trong
thời gian ba năm công phu sẽ thành thục, nắm
chắc Tây Phương Tịnh Độ. Cũng có
nghĩa là: Trong ba năm, chắc chắn có thể
đạt tới công phu thành phiến. Công phu thành phiến
cũng có ba bậc chín phẩm; ba phẩm thượng
của công phu thành phiến (thượng thượng
phẩm, thượng trung phẩm, thượng hạ phẩm)
biết trước lúc mất, sanh tử tự tại,
nhưng chưa đạt đến nhất tâm bất
loạn. Tôi thấy không ít người biết
trước lúc mất, không bệnh tật mà văng sanh,
cảnh giới của những người ấy
đều là công phu thành phiến thượng phẩm,
họ chưa đắc nhất tâm, nhưng có thể sanh
tử tự tại; đấy là đại sự
thật sự.
Kinh này thật sự khó có, v́
đây là pháp môn duy nhất để mười
phương chư Phật độ hết thảy chúng
sanh thành Phật trong một đời, đơn giản,
thẳng chóng, ổn thỏa, thích đáng, lẹ làng, chúng
ta chẳng dễ ǵ gặp được! Nhất là trong
xă hội hiện đại, thiên hạ đại
loạn, chúng ta tu pháp môn ǵ cũng đều có cảm giác
chẳng kịp. Pháp môn này đ̣i hỏi quư vị phải
thật sự dứt sạch so đo, khăng khăng tu
học; nếu quư vị chẳng hiểu rơ pháp môn này,
sẽ chẳng dễ ǵ tu tập! Thời gian của chúng
ta có hạn, phải nghiên cứu kỹ càng pháp môn này. Tham
khảo đối chiếu kinh Vô Lượng Thọ và
kinh Di Đà, sẽ dễ dàng hiểu rơ Tây Phương
Tịnh Độ, thật sự có thể giúp cho quư
vị đoạn nghi, sanh tín, chết sạch so đo,
khăng khăng tu tập pháp môn này. Tôi nghĩ chẳng cần
đến mấy năm, trong các đồng tu của chúng
ta, nhất định sẽ có rất nhiều
người thành tựu chẳng thể nghĩ bàn!
Ở đây, đại sư
bảo tŕ danh có Sự và Lư, Lư có sâu và cạn, Sự
cũng có sâu và cạn.
(Sớ) Kim hạ sanh giả.
(疏) 今下生者。
(Sớ: Nay kẻ văng sanh trong hạ phẩm).
Đây là nói về kẻ Hạ
Phẩm Hạ Sanh.
(Sớ) Cẩn thị Sự
thiện.
(疏) 僅是事善。
(Sớ: Chỉ là thiện về mặt Sự).
Tức là nói về thập
niệm văng sanh.
(Sớ) Nhược thành Lư Quán,
tắc dữ bỉ kinh Tam Quán Viên Tu, minh khế bất
nhị, hà lự phẩm vị chi bất cao dă.
(疏) 若成理觀,則與彼經三觀圓修,冥契不二,何慮品位之不高也。
(Sớ: Nếu thành
tựu Lư Quán, sẽ ngầm khế hợp với việc
tu trọn vẹn ba phép Quán trong kinh kia, lo chi phẩm vị
chẳng cao?)
Đây là giải đáp câu
hỏi của những kẻ ấy: Quư vị nghĩ tŕ
danh niệm Phật phẩm vị chẳng cao th́ quư vị
học Lư Tŕ. Lư Tŕ là hiểu rơ Lư, quả thật có thể
giúp cho phẩm vị của quư vị cao hơn. Sự Tŕ
mà thật sự thật thà niệm Phật, phẩm
vị cũng cao như thế.
(Sớ) Huống hạ phẩm văn trung, năi
chỉ ác nhân, ngu nhân, phi vị thiện nhân, trí nhân tŕ danh,
diệc cư hạ phẩm dă. Cố tri nhị kinh,
kỳ nghĩa nhất dă.
(疏) 況下品文中,乃指惡人愚人,非謂善人智人持名,亦居下品也。故知二經,其義一也。
(Sớ: Huống chi trong phần kinh văn nói
về hạ phẩm là nói về kẻ ác, kẻ ngu,
chứ không nói người lành, người trí tŕ danh
cũng thuộc vào hạ phẩm. Cho nên biết hai kinh có
cùng một ư nghĩa).
Quán
Kinh và kinh này có ư nghĩa giống nhau, Quán Kinh nói hạ
phẩm hạ sanh là nói về kẻ Ngũ Nghịch hay
kẻ tạo ác tŕ danh niệm Phật. Tuy chúng ta tạo
ác, vẫn chưa đến mức Ngũ Nghịch,
Thập Ác, chính ḿnh thật sự hạ quyết tâm tŕ danh
niệm Phật, tôi tin tưởng chắc chắn
chẳng thuộc trong ba phẩm Hạ. Đấy là
điều chúng ta chắc chắn có thể làm
được.
(Sớ) Độc yếu
giả, lược hữu tam ư.
(疏) 獨要者,略有三意。
(Sớ: “Trọng
yếu đặc biệt nhất”: Nói đại
lược th́ có ba ư).
“Độc
yếu” là trong ba kinh Tịnh Độ, bộ kinh này
trọng yếu nhất. Cổ đại đức
xếp kinh Di Đà vào khóa tụng sáng tối, ngay cả
khóa tối của Thiền Tông cũng chẳng ra ngoài
lệ này. Người niệm Phật, người
quyết tâm cầu sanh Tịnh Độ, chẳng
những khóa tối niệm kinh Di Đà mà khóa sáng cũng
niệm kinh Di Đà. Chú Lăng Nghiêm, thập tiểu chú,
Tâm Kinh có thể chẳng cần thêm vào, cứ một
biến kinh Di Đà, ba biến chú Văng Sanh, tiếp theo
đó là niệm Phật hiệu, đấy chính là
phương pháp được dạy bởi Giác Minh
Diệu Hạnh Bồ Tát trong Tây Phương Xác Chỉ,
đơn giản, dễ hiểu, phải làm như
thế!
(Sớ) Nhất giả, Quán Kinh
sở minh Phật thân, tuy vân tức Báo, tức Pháp.
(疏) 一者,觀經所明佛身,雖云即報即法。
(Sớ: Một, Quán
Kinh nói đến thân Phật, tuy nói “Báo Thân chính là Pháp Thân,
Pháp Thân chính là Báo Thân”).
“Báo”
là Báo Thân, “Pháp” là Pháp Thân, ba
thân Phật là một Thể.
(Sớ) Nhi na-do, Hằng sa,
bất vô số kế, sanh thân tôn đặc, do đăi
biện nghi.
(疏) 而那由恆沙,不無數計,生身尊特,猶待辯疑。
(Sớ: Nhưng [do
trong Quán Kinh có những từ ngữ như] na-do-tha,
Hằng hà sa, tức là [những thân ấy] không phải là
chẳng có số lượng tính đếm, sự tôn quư
đặc biệt của sanh thân (Hóa Thân) hăy đợi
đến phần Biện Nghi (biện định sự
nghi hoặc) [trong phần sau, sẽ lại bàn tiếp]).
Đây là những điều
được nói trong Quán Kinh.
(Sớ) Thử kinh đản
viết quang minh vô lượng, thọ mạng vô
lượng, tắc bất thuộc chư số, trực
chỉ Pháp Thân, độc yếu nhất dă.
(疏) 此經但曰光明無量,壽命無量,則不屬諸數,直指法身,獨要一也。
(Sớ: Kinh này chỉ nói quang
minh vô lượng và thọ mạng vô lượng, tức
là không thuộc vào những con số, mà trực tiếp nói
đến Pháp Thân, đây là điểm trọng yếu
độc đáo thứ nhất).
So sánh hai bộ kinh th́ kinh Di
Đà trọng yếu hơn Quán Kinh. Điều thứ
nhất là thân Phật trọn chẳng thuộc vào số
lượng. Nói cách khác, vượt ngoài số
lượng! Nay chúng ta là phàm phu bèn vướng trong số
lượng, cho nên quư vị có vận mạng, Phong
Thủy để có thể tính đoán. Phật và các
đại Bồ Tát đă vượt ngoài số
lượng, chẳng thuộc trong số lượng. Quán
Kinh nói “na-do-tha, Hằng hà sa
số” th́ [những thân ấy] vẫn thuộc trong
số lượng; kinh Di Đà không có những con số
ấy, chỉ nói “vô lượng quang, vô lượng
thọ”. Nói “vô lượng” tức là không thuộc vào
số lượng. Đó là điểm thứ nhất.
“Sanh
thân tôn đặc, do đăi biện nghi”: Cái thân cao sáu
mươi vạn ức na-do-tha [như Quán Kinh đă nói]
chính là Sanh Thân, chỉ rơ thân tướng của Tây
Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà
Phật cao lớn. Bài Kệ Tán Phật có câu: “Bạch hào uyển chuyển
ngũ Tu Di, cám mực trừng thanh tứ đại
hải” cũng là [nói đến] thân to lớn. Những
thân ấy thù thắng, to lớn, vượt xa Ứng
Liệt Thân thị hiện trong uế độ. Thuở
Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện trên quả địa
cầu này, thân Ngài cũng chỉ cao một trượng sáu
thước. Hiện thời chúng ta thấy người
một trượng sáu thước cao lớn lắm!
Thật ra, tuy Phật là một người cao lớn,
nhưng không cao hơn người b́nh thường
nhiều lắm. V́ sao? Thước thời ấy không dài
như thước hiện thời. Trong bộ Luật
Học Tam Thập Tam Chủng, Hoằng Nhất đại
sư đă nói về thước đời Châu: [Kinh
điển nhà Phật dịch ra tiếng Hán, dùng
đơn vị đo lường theo] thước đời
Châu v́ đức Phật giáng sanh nhằm thời Châu
của Trung Quốc. Một thước trong phép đo
của nhà Châu chỉ hơn sáu tấc hiện thời.
Ở đây, nói rơ thân tướng của A Di Đà
Phật trong thế giới Cực Lạc to lớn,
chẳng giống với thân tướng do Phật đă
thị hiện trong thế giới này. Cổ đại
đức đă lập ra một đoạn nghi vấn
để chuyên môn biện định vấn đề
này, ở đây, chúng ta không thảo luận thâm nhập vấn
đề ấy.
(Sớ) Nhị giả, thập
lục diệu môn, tuy vân tức quán tức tâm.
(疏) 二者,十六妙門,雖云即觀即心。
(Sớ: Hai là
mười sáu môn quán mầu nhiệm, tuy nói “quán chính là tâm,
tâm chính là quán”).
Năng quán (cái tâm quán) và sở
quán (cảnh được quán) là một, không hai, như
vậy th́ mới có thể tiến nhập, nhưng
vẫn là có thứ tự.
(Sớ) Nhi tiên nhật, thứ
thủy, thứ địa, thứ thụ, thứ ṭa,
phương nhập Phật quán, tắc bất vô thứ
đệ, do giác phồn trường.
(疏) 而先日,次水,次地,次樹,次座,方入佛觀,則不無次第,猶覺繁長。
(Sớ:
Trước hết quán mặt trời, kế đó là quán
nước, rồi quán đất, rồi quán cây, rồi
quán ṭa sen, rồi mới quán thân Phật, cho nên chẳng
phải là không có thứ tự, vẫn c̣n cảm thấy
rắc rối, tốn nhiều thời gian).
“Phồn”
(繁) là rắc rối, quá phức
tạp. “Trường” (長) là phải trải qua một thời gian khá dài th́
mới có thể quán thấy Phật.
(Sớ) Thử kinh bất tu
dư nghiệp, đơn sự tŕ danh.
(疏) 此經不修餘業,單事持名。
(Sớ: Kinh này
chẳng tu các hạnh nghiệp khác, chỉ chú trọng tŕ
danh).
So sánh về mặt tu hành th́
kinh Di Đà thuận tiện hơn Quán Kinh. Hành nhân chẳng
cần phải trải qua nhiều giai đoạn, mà
thẳng thừng, thỏa đáng thấy Phật! Chỉ
cần quư vị nhất tâm bất loạn, tâm chẳng
điên đảo, khi lâm chung Phật liền đến
tiếp dẫn quư vị. Chương Đại Thế
Chí Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: “Ức Phật, niệm Phật,
hiện tiền, đương lai, tất định
kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm Phật,
hiện tiền, tương lai, nhất định
thấy Phật). Hiện tiền là hiện tại,
trước khi văng sanh đă thấy. Trông thấy, quư
vị chẳng hoan hỷ; chẳng trông thấy, quư vị
cũng chẳng lo lắng. Dẫu trông thấy th́ thấy
mà như chẳng thấy, quư vị cũng đừng nên
sanh ḷng hoan hỷ. Sanh ḷng hoan hỷ là trật rồi!
Từ đầu đến cuối ǵn giữ nhất tâm
bất loạn, như vậy mới là tốt đẹp.
Do vậy, tŕ danh niệm Phật chẳng có thứ
lớp, c̣n phương pháp được giảng trong
Quán Kinh có thứ lớp. Xét trên phương pháp để
nói, kinh này thuận tiện rất nhiều; v́ thế, kinh
này được gọi là “độc
yếu” (độc đáo, trọng yếu), đặc
biệt trọng yếu.
(Sớ) Tam giả, thượng
tam phẩm sanh, năi năng du lịch thập phương,
thừa sự chư Phật, trung hạ nhị phẩm,
giai vô thử văn.
(疏) 三者,上三品生,乃能遊歷十方,承事諸佛,中下二品,皆無此文。
(Sớ: Ba là [theo
Quán Kinh], văng sanh trong ba phẩm thượng mới có
thể dạo khắp mười phương, hầu
hạ chư Phật, đối với hai phẩm trung và
hạ, kinh văn không nói đến điều này).
Ba kinh Tịnh Độ có kinh nói chuyện này rất cặn kẽ,
có kinh nói tỉnh lược. Quư vị muốn liễu
giải Tây Phương Cực Lạc thế giới,
phải gộp ba kinh lại để xem th́ mới có
thể thật sự hiểu rơ chuyện này, trọn
chớ nên v́ kinh này có nói, kinh kia không nói [mà lầm
tưởng] kinh này cao minh, kinh kia kém hơn một chút,
tuyệt đối chẳng phải là như vậy! Quư
vị gộp lại để xem, mới thấy
được trọn vẹn. Đối với
chuyện này, Quán Kinh nói có đôi chút thiếu sót, chỉ nói
ba phẩm thượng, chẳng nói tới phẩm trung và
phẩm hạ, tức là nói: Hễ sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới bèn có năng lực “dạo khắp mười
phương, thừa sự chư Phật”; nhưng kinh
Tiểu Bổn nói rất cặn kẽ.
(Sớ) Kim tŕ danh văng sanh, tiện đắc cúng
Phật chư phương, thực thời hoàn quốc,
độc yếu tam dă.
(疏) 今持名往生,便得供佛諸方,食時還國,獨要三也。
(Sớ: Nay tŕ danh văng sanh
liền được cúng dường Phật các
phương, đến giờ ăn trở về cơi ḿnh,
đó là điều đặc biệt trọng yếu
thứ ba).
Đây
là điều được nói trong kinh Di Đà, dẫu là
kẻ Hạ Phẩm Hạ Sanh cũng có thần thông
đạo lực này, mỗi ngày đều có thể cúng
dường trọn khắp mười vạn ức
Phật trong các phương khác. V́ thế, kinh này là kinh
trọng yếu nhất trong ba kinh.
(Sớ) Văn thuyết nhất nghĩa,
thượng khủng sanh nghi, cánh văn độc
yếu, tất trí thâm hăi, cố vân “nan tín chi pháp”, hựu
vân “bất khả tư nghị công đức kinh” dă.
(疏) 聞說一義,尚恐生疑,更聞獨要,必致深駭,故云難信之法,又云不可思議功德經也。
(Sớ:
Nghe nói một nghĩa, c̣n sợ sanh ḷng nghi, huống chi
nghe tới những điều độc yếu, ắt
càng đến nỗi kinh hăi sâu xa. V́ thế, nói là “pháp khó
tin”, lại nói là “kinh có công đức chẳng thể
nghĩ bàn vậy”).
Đúng
là khiến cho người nghe kinh hăi; v́ thế, hai vị
đại sư Liên Tŕ và Ngẫu Ích đều nói kinh này
là kinh chẳng thể nghĩ bàn! Trong tất cả các kinh
điển, chẳng có cách nói như thế này, trong
mười phương cơi nước, cũng chẳng có
t́nh h́nh này. Chuyện thù thắng lạ lùng, đặc
biệt như thế này chỉ Tây Phương Cực
Lạc thế giới mới có, vấn đề là quư
vị có tin hay không! Nếu quư vị không tin, trong
đời này, ở ngay trước mặt mà bỏ
lỡ! Nếu quư vị tin tưởng tức là quư vị
có phước phận, thành tựu trong một đời
này, mấu chốt là ở chỗ này!
Tôi nhớ lúc mới đến
Đài Trung, thầy Lư đem pháp môn này khuyên tôi tu học.
Cụ nói như thế nào? Cụ nói: “Phải tin
tưởng! Từ xưa đến nay, bao nhiêu người
thông minh trí huệ đều tu pháp môn này. Nếu bị
lừa th́ những người ấy đều bị lừa,
chúng ta bị lừa một lần cũng không sao!” Cụ
dùng phương pháp này để khuyên tôi, dù bị lừa,
chúng ta cũng t́nh nguyện cam tâm mắc lừa. Giữ
chắc chủ ư, hạ quyết tâm chuyên tu pháp môn này.
Nếu từ xưa đến nay, những người
đó đều chẳng uổng công, chắc chắn chúng
ta cũng chẳng uổng công trong một đời này,
khuyên chúng ta phải chuyên tu, tạm thời gác những pháp
môn khác qua một bên. “Pháp môn vô
lượng thệ nguyện học” tới khi nào
sẽ học? Đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới rồi hăy học. V́ thế, nay tôi chẳng
cần Đại Tạng Kinh nữa, tôi đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới rồi mới
cần. Nếu cần bây giờ, tôi chẳng đến
được Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Hiện thời, chỉ cần giữ chắc
kinh Di Đà là được rồi, dùng cái ván nhảy
ấy để cầu sanh về thế giới Tây Phương.
Đến thế giới Tây
Phương lại tu vô lượng vô biên pháp môn, thọ
mạng lâu dài mà! Sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới, thọ mạng giống như A Di Đà
Phật, Phật thọ vô lượng, người Hạ
Phẩm Hạ Sanh trong Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng thọ vô
lượng. Tướng hảo, quang minh, hoàn cảnh sinh
sống, thảy đều giống hệt. Đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới đều
giống hệt nhau, thật sự b́nh đẳng! Sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
diện mạo giống hệt như Phật, quư vị
nghe xong đừng hoảng sợ: Đều giống
hệt như nhau th́ Trương Tam hay Lư Tứ ta chẳng
nhận biết! Khi ấy, quư vị tự nhiên có thần
thông, tự nhiên chẳng lầm người. Do vậy,
diện mạo quyết định giống hệt nhau,
đó mới là b́nh đẳng. Trong thế gian này, diện
mạo mỗi người khác nhau, chẳng b́nh
đẳng! Do vậy, pháp môn này là pháp khó tin. Tựa
đề của kinh là Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật
Sở Hộ Niệm Kinh, tựa đề kinh đă
bảo rơ ràng với chúng ta: Công đức chẳng thể
nghĩ bàn! Phần so sánh [kinh Di Đà] với Quán Kinh
đến đây là xong!
Nhị, chư kinh.
二、諸經。
(Hai, các kinh khác).
Tiếp theo là nói đến các
kinh; ngoài ba kinh Tịnh Độ ra, c̣n có không ít các kinh có ư
nghĩa thông với kinh này, đại khái là hơn một
trăm bộ trong Đại Tạng Kinh. Có hơn một
trăm bộ kinh luận, trong ấy, đức Phật
khuyên chúng ta cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ,
ở đây chỉ nêu đại lược vài thứ.
Xin xem kinh văn.
(Huyền Nghĩa) Phục minh
thông chư kinh giả.
(玄義) 復明通諸經者。
(Huyền Nghĩa: Lại giảng rơ các kinh có ư
nghĩa tương thông [với kinh này]).
“Phục”
là lại nói, [tức là] lại nói về các kinh luận khác
[có ư nghĩa] thông với kinh này.
(Huyền Nghĩa) Dữ chư Đại Thừa
kinh ư nghĩa tương thông, như Tịnh Danh, Pháp Hoa
đẳng, bàng thông như thị, năi tri thử kinh,
nghĩa lư sở cai, thâm thúy quảng viễn, bất
ưng thị đồng thiển cận, tự thủ
khiên vưu.
(玄義) 與諸大乘經意義相通,如淨名法華等,旁通如是,乃知此經,義理所該,深邃廣遠,不應視同淺近,自取愆尤。
(Huyền Nghĩa:
Có ư nghĩa tương thông với các kinh Đại
Thừa như Tịnh Danh, Pháp Hoa v.v... Do ư nghĩa
tương thông như thế, bèn biết kinh này nghĩa lư
bao trùm, sâu sắc, xa rộng, đừng nghĩ kinh này
giống như những kinh nông cạn để tự
chuốc lấy tội khiên).
Ở đây nêu đại
lược hai thứ.
(Sớ) Tịnh Danh Pháp Hoa đẳng giả,
thử nhất tâm tŕ danh đắc sanh bỉ quốc,
tức “tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ
tịnh”, thị Tịnh Danh nghĩa.
(疏) 淨名法華等者,此一心持名得生彼國,即隨其心淨則佛土淨,是淨名義。
(Sớ: “Tịnh
Danh, Pháp Hoa v.v...”: Kinh này nói nhất tâm tŕ danh sẽ
được sanh về cơi kia. Đấy chính là ư
nghĩa “hễ tâm tịnh, ắt cơi Phật tịnh” trong
kinh Tịnh Danh).
Tịnh Danh là kinh Duy Ma, đó
cũng là kinh chẳng thể nghĩ bàn. Kinh Duy Ma nói “tùy kỳ tâm tịnh, tắc
Phật độ tịnh” (hễ tâm tịnh, ắt cơi
Phật tịnh); kinh Di Đà nói nhất tâm bất loạn
chính là tâm tịnh, văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới là cơi Phật tịnh; [do vậy] ư nghĩa
thông với kinh Tịnh Danh. Kinh Duy Ma có nói mấy câu
đáng để chúng ta tham khảo, mà cũng ban cho chúng ta
một khơi gợi, phát khởi rất lớn:
Người tu Tịnh Độ phải đặc
biệt chú ư tâm tịnh. Tu điều ǵ? Tu tâm thanh
tịnh. Tâm tịnh, ắt cơi Phật sẽ tịnh.
Tâm thanh tịnh là ǵ? Trong tâm có
phiền năo bèn chẳng thanh tịnh. “Phiền năo” chỉ thất t́nh, ngũ dục,
tham, sân, si, mạn, có thị phi, nhân ngă, có phân biệt,
chấp trước là chẳng thanh tịnh! Tâm thanh
tịnh khó lắm! Tuy khó, chẳng thể không tu! Dẫu
cho thời gian giữ được thanh tịnh không dài,
nhưng hằng ngày quư vị phải đạt thanh
tịnh trong một thời gian ngắn. Cái tâm niệm
Phật là tâm thanh tịnh. Trong tâm quư vị chỉ có
một câu A Di Đà Phật, đó là tâm thanh tịnh.
Một câu Phật hiệu tương ứng với
đại nguyện lực của Tây Phương Cực
Lạc thế giới A Di Đà Phật. Quư vị phải
nhớ: Tâm niệm Phật là tâm thanh tịnh. Khi niệm
Phật khởi vọng tưởng, tâm chẳng thanh
tịnh. Chúng ta niệm Phật để tu điều ǵ?
Tu tâm thanh tịnh. Quư vị phải hiểu rơ đạo
lư này. Do vậy, người niệm Phật phải
thấy thấu suốt và buông xuống thân tâm, thế
giới, bớt một phần tham luyến, bớt
một phần chấp trước, sẽ nắm vững
văng sanh thêm một phần. Điều này rất quan
trọng.
(Sớ) Hựu thử nhất
tâm tŕ danh, tức dĩ thâm tâm niệm Phật, năi chí
độc nhập tha gia, nhất tâm niệm Phật,
khất thực vô lữ, nhất tâm niệm Phật,
nhất xưng Nam-mô Phật, giai dĩ thành Phật
đạo, thị Pháp Hoa nghĩa, đẳng giả.
(疏) 又此一心持名,即以深心念佛,乃至獨入他家,一心念佛,乞食無侶,一心念佛,一稱南無佛,皆已成佛道,是法華義。等者。
(Sớ: Lại
nữa, nhất tâm xưng danh trong kinh này chính là dùng thâm tâm
để niệm Phật, điều này giống như
những nghĩa “cho đến một ḿnh vào nhà
người khác bèn nhất tâm niệm Phật, khi khất
thực không có đồng bạn bèn nhất tâm niệm
Phật, xưng Nam-mô Phật một tiếng đều
đă thành Phật đạo” trong kinh Pháp Hoa).
“Thâm
tâm” được sanh bởi Lư rất sâu, nó cũng do
thiện căn sâu dầy sanh ra nên gọi là “thâm tâm”. Kinh Thập
Địa nói: “Nhập thâm
quảng tâm” (nhập cái tâm sâu rộng), kinh Niết Bàn
nói: “Căn thâm nan bạt”
(rễ sâu khó nhổ), đều nhằm h́nh dung thâm tâm.
Thâm tâm là một trong các tâm Bồ Đề, thuộc
về Tự Thụ Dụng tâm. Nhất tâm tŕ danh là thâm tâm
niệm Phật, tŕ danh là niệm Phật, nhất tâm là
thâm tâm. Đủ thấy rằng: Nếu quư vị nhị
tâm, tam tâm, sẽ chẳng phải là thâm tâm!
Bồ Đề tâm lấy trực tâm làm Thể.
Quán Kinh gọi trực tâm là chí thành tâm. Tâm này chí thành
đến cùng cực. Chí thành là bản thể của
Bồ Đề tâm. Có Thể, đương nhiên có tác
dụng, tác dụng chia thành hai phương diện:
Một là đối với chính ḿnh, hai là đối với
chúng sanh. Để chính ḿnh thụ dụng là nhất tâm,
nhất tâm là thâm tâm. Do vậy, chúng ta niệm Phật
phải là nhất tâm xưng danh. Nói “nhất tâm” một
cách đơn giản th́ là chẳng xen tạp, [nhất tâm
niệm Phật là] niệm một câu A Di Đà Phật
chẳng xen tạp. Đó là nhất tâm. Ta niệm một
câu Phật hiệu này, ta nghĩ đến chuyện khác,
xen tạp rồi! Đó chẳng phải là nhất tâm.
Chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, chẳng hoài
nghi, đó là nhất tâm xưng niệm, vô lượng vô
biên công đức. V́ thế, nhất tâm tŕ danh là phát
Bồ Đề tâm. Đối đăi người khác
phải bằng tâm đại bi, tâm đại bi rốt
ráo viên măn là ǵ? Thưa quư vị, khuyên người khác
niệm A Di Đà Phật là tâm đại bi rốt ráo viên măn; v́ quư vị khuyên
người ta học pháp môn khác, chưa chắc
người ta đă có thể thành tựu trong một đời này. Quư
vị khuyên người ta niệm Phật, người ta
trong một đời sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới bèn thành Phật. Pháp môn này chính là Phật
pháp để “tức thân thành
Phật”, thành tựu ngay trong đời này. V́ thế, khuyên
người khác niệm Phật chính là ḷng đại bi
thật sự, là bi tâm triệt để của chư Phật
Như Lai.
Quư vị giảng kinh, giảng
kinh này là tâm bi triệt để, chẳng giống như giảng những
kinh khác cho người ta. Tuy kinh Hoa Nghiêm cũng là bi tâm
triệt để, nhưng
dài quá, ai có thời gian đến nghe lâu như vậy? Đến [nghe
giảng] không xuể! Từ cổ đến nay, theo
cách nh́n của tổ sư đại đức, kinh Vô Lượng Thọ
là kinh Hoa Nghiêm cô đọng, là tiểu bổn của kinh Hoa Nghiêm. Kinh
Hoa Nghiêm là đại bổn của kinh Vô Lượng Thọ. Hai
bộ kinh này có tánh chất tương đồng, mục
tiêu nhất trí, đều khuyên chúng ta niệm Phật
cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng, Phổ Hiền Bồ
Tát dùng mười đại nguyện vương dẫn
về Cực Lạc, khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh
Độ. Trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao, lúc
nào, chỗ nào Tổ cũng đều nhắc tới kinh
Hoa Nghiêm, dùng kinh Hoa Nghiêm để chứng minh pháp môn này là
quan trọng nhất trong hết thảy các pháp môn,
độc yếu mà!
“Độc
nhập tha gia, nhất tâm niệm Phật, khất thực
vô lữ, nhất tâm niệm Phật, nhất xưng Nam-mô
Phật, giai dĩ thành Phật đạo”, đó là
những điều được nói trong kinh Pháp Hoa. Kinh
Pháp Hoa giảng diệu lư Thật Tướng, sánh ví
đạo lư Thật Tướng vi diệu như hoa sen.
Tựa đề kinh dùng Pháp và Dụ (thí dụ) để
đặt tên, danh và thực cùng phô bày, nên gọi là
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Trước kia, tôi đă giảng
bộ kinh này, giảng đề kinh cũng tốn không ít
thời gian. Giảng mười môn huyền diệu trong
Bổn và Tích cũng hết sức thú vị.
(Sớ) Lược cử dư
kinh như Văn Thù sở vân Nhất Hạnh tam-muội,
Đại Phẩm sở vân “nhược nhân tán tâm
niệm Phật, năi chí tất khổ, kỳ phước
bất tận” thị Bát Nhă nghĩa.
(疏) 略舉餘經,如文殊所云:一行三昧。大品所云:若人散心念佛,乃至畢苦,其福不盡,是般若義。
(Sớ: Nêu đại lược các kinh khác th́
như Nhất Hạnh tam-muội được nói trong
kinh Văn Thù Sở Thuyết Bát Nhă Ba La Mật[3], kinh Đại Phẩm Bát Nhă nói “nếu ai tán tâm niệm Phật th́ cho đến
khi hết khổ, phước ấy vẫn chưa
hết”, đó là những nghĩa lư Bát Nhă).
Bát Nhă (Prajñā) dịch sang nghĩa tiếng Hán là trí huệ. Theo
thứ tự giảng kinh của đức Thế Tôn, sau
khi giảng Phương Đẳng bèn giảng Bát Nhă. Pháp
môn Niệm Phật, tín nguyện tŕ danh là Nhất Hạnh
tam-muội, cũng là Nhất Tướng tam-muội. V́
thế, giáo nghĩa hoàn toàn chẳng mâu thuẫn với kinh
Bát Nhă. “Đại Phẩm”
chính là kinh Đại Phẩm Bát Nhă[4]. Nói “nhược nhân tán tâm niệm
Phật” nhằm phân biệt chẳng phải nhất
tâm, nói rơ người niệm Phật phước báo to
lớn chẳng thể nghĩ bàn! Muốn tu phước
phải tu bằng cách nào? Niệm Phật là
được! Người chịu niệm Phật có
phước. Đây là nói về tán tâm niệm Phật. “Năi chí tất khổ, kỳ
phước bất tận” (cho đến khi hết
khổ, phước ấy chẳng tận), “tất” (畢) có nghĩa là kết thúc,
khổ là quả báo, quả báo đă hết rồi.
Quả báo đă hết sạch th́ là ai vậy? Tiểu
Thừa nói đó là A La Hán, A La Hán là khổ nhân lẫn
khổ quả đều xong, tốt nghiệp rồi.
Tốt nghiệp là đă xong xuôi; c̣n trong Đại
Thừa th́ là Thập Địa Bồ Tát, tức Pháp Vân
Địa Bồ Tát, đoạn hết Kiến Tư
phiền năo, Trần Sa phiền năo và Vô Minh phiền năo,
Phần Đoạn sanh tử lẫn Biến Dịch sanh
tử đều đoạn sạch, phước báo
bất tận! Phước báo quá lớn! Đó là tán tâm
niệm Phật, nhất tâm niệm Phật càng chẳng
cần phải nói nữa. Nhất tâm niệm Phật th́
người ấy đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới bèn thành Phật. Điều này
chứng tỏ phước báo niệm Phật to lớn
chẳng thể nghĩ bàn!
(Sớ) Như kinh tam thất
nhật, khể thủ thập phương chư Phật
danh tự, thị Viên Giác nghĩa.
(疏) 如經三七日,稽首十方諸佛名字,是圓覺義。
(Sớ: Như
trải qua hai mươi mốt ngày đảnh lễ danh
hiệu của mười phương chư Phật là
nghĩa lư trong kinh Viên Giác).
Kinh Viên Giác là Tiểu Lăng
Nghiêm, tánh chất rất gần với kinh Lăng Nghiêm.
Viên có nghĩa là viên măn, Giác là giác ngộ; đại
triệt đại ngộ th́ gọi là Viên Giác. Kinh Viên Giác
có nói niệm Phật hai mươi mốt ngày, đấy
cũng là định kỳ hạn cầu chứng đắc.
Kinh Di Đà chỉ nói bảy ngày, “hoặc một ngày, cho đến bảy ngày”,
kinh Viên Giác nói hai mươi mốt ngày. Đây là đả
thất, nhưng gộp ba thất lại. Đủ
thấy kinh luận đề xướng niệm Phật
quả thật rất nhiều.
(Sớ) Như ngũ bách trưởng giả tử,
xưng thất Phật danh, toại đắc kiến kim
sắc chi thân, thành A La Hán, thị Quán Phật Tam Muội
nghĩa.
(疏) 如五百長者子,稱七佛名,遂得見金色之身,成阿羅漢,是觀佛三昧義。
(Sớ: Như
năm trăm vị trưởng giả xưng niệm
danh hiệu của bảy vị Phật liền
được thân sắc vàng, thành A La Hán, đó là nghĩa
lư trong kinh Quán Phật Tam Muội).
Đây là nói tới kinh Quán
Phật Tam Muội[5], nói về pháp
môn Niệm Phật, đặc biệt nhấn mạnh tu
hành Chánh Định. Kinh có nói “năm
trăm vị trưởng giả”[6] cũng tu pháp
môn Niệm Phật. Niệm Phật bèn thấy Phật,
thấy Phật th́ sao? Chứng quả! Đều
chứng quả A La Hán, quư vị mới hiểu công
đức niệm Phật. Như thế nào mới
chứng quả A La Hán? Đoạn hết Kiến Tư
phiền năo, họ dùng phương pháp Niệm Phật
để đoạn hết Kiến Tư phiền năo.
Kiến Tư phiền năo đă đoạn, văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, chẳng phải
là sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, mà là sanh trong cơi
Phương Tiện Hữu Dư. Đủ thấy
xưng danh niệm Phật chẳng phải là Tán Thiện.
Tán Thiện chẳng có công phu ấy, chẳng thể
đạt thành tựu như vậy. Niệm Phật có
thể chứng quả A La Hán, đủ thấy một
câu Phật hiệu là Định Thiện, chẳng
phải là Tán Thiện. Thật ra, Định Thiện hay
Tán Thiện là do tâm mỗi người, chứ không do
phương pháp. Tâm quư vị tán loạn niệm Phật
th́ là Tán Thiện, nhất tâm niệm Phật th́ là
Định Thiện.
(Sớ) Như Bồ Tát lục
niệm, niệm Phật đệ nhất.
(疏) 如菩薩六念,念佛第一。
(Sớ: Như trong
sáu niệm của Bồ Tát, niệm Phật đứng
đầu).
Toàn bộ Đại Thừa
lẫn Tiểu Thừa Phật đều nói tới
Lục Niệm. Bồ Tát phải tu Lục Niệm;
niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng là niệm Tam
Bảo. Trong khóa tụng sáng tối, chúng ta có Tam Quy Y,
tức là niệm Tam Bảo. Trừ Tam Bảo ra, c̣n
phải niệm ba chuyện nữa! Niệm Thí là bố
thí, niệm Giới là nghĩ tới giới luật,
nhất định phải tŕ giới, niệm Thiên,
chư thiên phước báo lớn nhất, chuẩn mực
đạo đức của chư thiên rất cao. V́
thế, Bồ Tát phải niệm sáu chuyện này. Niệm
Tam Bảo, chúng ta thường nói là niệm Giác, niệm
Chánh, niệm Tịnh, Giác - Chánh - Tịnh. Niệm Thí, Thí là
buông xuống, thường phải nghĩ buông xuống.
Niệm Giới: Do Giới mới có thể đắc
Định, do Định mới có thể khai Huệ,
đó là cội rễ to lớn của Tam Học. Niệm
Thiên, phải nâng cao cảnh giới của chính ḿnh. V́
thế, tâm phải đặt yên trong sáu cảnh giới.
Có thể nói Lục Niệm đều là Tự mà cũng
đều là Tha. Nói Tha th́ Tam Bảo là Trụ Tŕ Tam
Bảo, nói Tự th́ là Tự Tánh Tam Bảo.
Ba điều cuối cùng,
Bố Thí, Tŕ Giới là nhân hạnh (hạnh trong khi tu nhân)
để chính ḿnh tu Bồ Tát Hạnh, sanh lên trời là
quả báo. Giới là đừng làm các điều ác, vâng
làm các điều lành. Chữ Thiên không chỉ có nghĩa là “sanh thiên” (tức các vị
trời do quả báo mà mang thân chư thiên, nên gọi là sanh
thiên. Tam giới có hai mươi tám tầng trời). Thiên
trong kinh Phật có rất nhiều ư nghĩa, trừ hai
mươi tám tầng trời ra, c̣n có Nghĩa Thiên và
Đệ Nhất Nghĩa Thiên. Đệ Nhất Nghĩa
Thiên là biệt hiệu của quả địa Như Lai.
Đây là nói “Bồ Tát lục
niệm, niệm Phật đệ nhất”. Hôm nay
đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng tới
đây!
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần
38 hết
[1] Đây là loại măo có thêu thùa rất
đẹp, chỉ dành cho vị pháp sư chủ pháp
đội trong các pháp hội đặc biệt như
Diệm Khẩu hoặc Thủy Lục, mô phỏng h́nh
đóa sen nở, chính giữa có trụ giống như
một cái tháp nhỏ, đó là nơi chân thân Tỳ Lô Giá Na
Phật ngự nên gọi là măo Tỳ Lô. Thông thường
trong pháp hội của Trung Hoa, vị chủ pháp sau khi
đă lên pháp tọa, lễ thỉnh, kết ấn, gia tŕ triệu
thỉnh, rồi mới đội mũ lên, cung thỉnh
Tam Bảo rồi mới khoác thêm h́nh Ngũ Phật lên măo,
chứ không đội ngay từ đầu như trong các
pháp hội Trai Đàn Chẩn Tế của người
Việt. Sau khi hoàn tất nghi lễ thi thực, bèn tháo
mũ ra, đặt lên án, trước khi bước xuống
pháp ṭa, hồi hướng, lễ Tam Quy, chứ không
đội măo về liêu pḥng hay trai đường.
[2] Lục Quần Tỳ Kheo là sáu
tỳ-kheo đệ tử Phật thường kéo bè kéo
phái làm chuyện phi pháp, trái nghịch oai nghi nên gọi là Lục Quần (sáu người
họp thành bầy), nhằm mục đích tạo duyên cho
đức Phật chế giới. Các bộ luật cho
biết tên họ là Nan Đồ, Bạt Nan Đà, Ca
Lưu Đà Di, Xiển Na, Mă Tú và Măn Túc. Sách Tát Bà Sa Tỳ
Ni Tỳ Bà Sa cho biết: “Trong
số Lục Quần tỳ-kheo, hai người
đắc Lậu Tận nhập Vô Dư Niết Bàn là Ca
Lưu Đà Di và Xiển Na, hai người sanh lên cơi
trời là Nan Đồ và Bạt Nan Đà. Hai người
đọa làm rồng là Mă Tú và Măn Túc.... Hai người
thông hiểu tinh tú vận hành là Nan Đồ và Bạt Nan
Đà, hai người tinh thông nghệ thuật bắn cung
là Ca Lưu Đà Di và Xiển Na, hai người thông thạo
âm nhạc và kịch nghệ là Mă Tú và Măn Túc”. Tùy theo cách
dịch nghĩa phiên âm mà danh hiệu các vị này có sai khác,
chẳng hạn Tăng Kỳ Luật ghi tên họ là Nan
Đà, Ca Lưu Đà Di, Tam Văn Đạt Đa, Ma Hê Sa Đạt
Đa, Mă Sư, Măn Túc; Tỳ Nại Da Luật ghi là
Xiển Đà, Ô Ba Nan Đà, A Thuyết Tha, Bổ Nại Bà
Tố Ca, Xiển Đà, Ô Đà Di (theo cách phiên âm này
th́ hai vị có tên là Nanda và Chanda cùng được phiên
thành Xiển Đà, có lẽ là lỗi chép sai khi sao lục).
[3] Văn Thù Sở Thuyết Bát Nhă Ba La
Mật Đa Kinh có hai bản dịch: Bản thứ
nhất của ngài Mạn Đà La Tiên, bản thứ hai
của ngài Tăng Già Sa La dịch. Kinh này tương
ứng với hội thứ bảy trong bộ Đại
Bát Nhă Kinh do ngài Huyền Trang dịch và bản Thánh Bát Nhă Ba
La Mật Đa Thất Bách Tụng Đại Thừa Kinh
trong Đại Tạng Kinh của Tây Tạng.
[4] Đại Phẩm Bát Nhă Kinh c̣n gọi
là Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng Bát Nhă, Ma Ha Bát Nhă Ba La
Mật Kinh, Ma Ha Bát Nhă Kinh hay Đại Phẩm Kinh do ngài
Cưu Ma La Thập dịch vào năm Hoằng Thỉ
thứ năm (403), gồm hai mươi bảy quyển.
Những bản dịch tiếng Hán khác của kinh này là
Quang Tán Bát Nhă Ba La Mật Kinh do ngài Pháp Hộ dịch vào
đời Tây Tấn, Phóng Quang Bát Nhă Ba La Mật Kinh do ngài
Vô La Xoa dịch vào đời Tây Tấn. Kinh này tương
ứng với hội thứ hai trong bộ Đại Bát
Nhă sáu trăm cuốn của ngài Huyền Trang. Kinh này
được chú giải đặc biệt nhiều,
nổi tiếng nhất là Đại Trí Độ Luận
của ngài Long Thọ, Đại Phẩm Kinh Nghĩa
Sớ của ngài Cát Tạng, và Đại Phẩm Kinh Du Ư
(không ghi tên tác giả).
[5] Kinh này có tên gọi đầy
đủ Phật Thuyết Quán Phật Tam Muội Hải
Kinh do ngài Trúc Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La
dịch vào thời Đông Tấn, gồm mười
quyển, sáu phẩm, nội dung nói đến những
tướng hảo của đức Phật và cách quán
tưởng. So với cách quán tưởng của Quán Kinh,
kinh này phức tạp hơn rất nhiều, xin trích
một đoạn như sau: “Phật
bảo phụ vương: - Thế nào là quán tướng
quang minh giữa hai mày của Như Lai? Nay đức
Như Lai v́ các chúng sanh trong đời sau mà hiện chút
tướng quang minh nơi bạch hào. Quang minh ấy chia
làm tám vạn bốn ngàn nhánh, cũng có tám vạn bốn
ngàn màu, chiếu trọn khắp mười phương vô
lượng thế giới, mỗi màu hóa ra một quả
núi bằng vàng. Mỗi núi vàng có vô lượng hang báu. Trong
mỗi hang báu có một hóa Phật ngồi xếp bằng
nhập Thiền Định sâu, có Thanh Văn, Bồ Tát
trăm ngàn đại chúng làm quyến thuộc. Khi ấy,
trong hang Phật đó có các hóa Phật, đều phóng
tướng quang minh đại nhân nơi bạch hào,
cũng chiếu mười phương vô lượng
thế giới [khiến các thế giới ấy]
đều như sắc vàng ṛng. Trên đất sắc vàng
có hoa sen vàng. Trên mỗi hoa sen vàng đều có hóa Phật,
cũng có cùng hiệu là Thích Ca Văn (Thích Ca Mâu Ni). Giữa
chặng mày của chư Phật cũng phóng quang minh này,
chiếu trọn khắp mười phương thế
giới, giống như trăm ngàn ức Tu Di Sơn
Vương hợp lại một chỗ. Các Tu Di Sơn
Vương hiện bóng chư Phật, thân Phật cao rơ,
bằng với núi Tu Di. Nơi bạch hào của các vị
hóa Phật ấy cũng phóng quang nhiễu khắp chư
Phật bảy ṿng xong, đều nhập vào giữa hai
mày của Thích Ca Mâu Ni Phật. Khi quang minh ấy nhập
vào [tướng bạch hào giữa hai mày], nơi mỗi
lỗ chân lông trên thân Phật đều có một hóa
Phật, trong mỗi lỗ chân lông của mỗi vị hóa
Phật ấy đều
hóa ra tám vạn bốn ngàn h́nh tượng nhiệm
mầu, đều là những chuyện mà hết thảy
chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới hiếm
khi được thấy”.
[6] Chữ “trưởng
giả tử” thường được dịch là
con ông trưởng giả, nhưng theo Ḥa Thượng
Tịnh Không, chữ Tử ở đây không phải là con
mà là cách xưng hô bày tỏ sự kính trọng giống
như chữ Tử trong Khổng Tử, Lăo Tử, Trang
Tử v.v... (xin xem chi tiết trong Địa Tạng
Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Kư).