A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 42
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt:
Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong
http://new.amtb-aus.org/Item/5257.aspx
Tập 83
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang một trăm ba mươi
sáu:
(Sớ) Tắc sở vị Trùng
Tụng như, Thọ Kư như, thập nhị phần
giáo, nhất thiết giai như. Dĩ thượng triển
chuyển thôi tầm chân thật chi lư, cực chí ư thử.
Thí chi vật bất ly mộng, mộng bất ly nhân. Viên
Giác Sớ vân: “Sanh pháp bổn vô, nhất thiết duy thức.
Thức như huyễn mộng, đản thị nhất
tâm”, tắc dĩ tự tâm vi giáo thể dă.
(疏) 則所謂重頌如,授記如,十二分教,一切皆如。以上展轉推尋真實之理,極至於此,譬之物不離夢,夢不離人。圓覺疏云:生法本無,一切唯識,識如幻夢,但是一心。則以自心為教體也。
(Sớ: Chính là nói Trùng Tụng là Như, Thọ Kư là Như, mười hai phần
giáo, hết thảy đều Như. Lần lượt
truy t́m lư chân thật như trên, đạt đến chỗ
cùng cực ở nơi đây. Ví như vật chẳng ĺa
mộng, mộng chẳng ĺa người. Viên Giác Sớ viết:
“Chúng sanh và pháp vốn không, hết thảy chỉ là Thức,
Thức như huyễn mộng, chỉ là nhất tâm”. Tức
là lấy tự tâm làm giáo thể).
Đây là nói tới khoa thứ
ba trong phần Giáo Thể, tức là “hội quy tự tánh” (gom về tự tánh). Lư này hết
sức sâu, rất khó lănh hội. Khó lănh hội là v́ chúng
sanh có phân biệt, chấp trước, nên chẳng dễ
ǵ lănh hội. Nếu phân biệt, vọng tưởng của
chúng ta tạm thời gián đoạn, trong thời gian tạm
thời ngưng dứt rất ngắn ấy, cảnh giới
này sẽ hiện tiền, giống như ánh chớp. Tuy cảnh
giới ấy hiện tiền trong một thời gian ngắn
ngủi, đă khiến cho quư vị có tín tâm rất lớn.
V́ sao? Quư vị tin tưởng “vạn
pháp đều Như” như trong kinh Phật đă dạy,
quư vị thấu hiểu ư nghĩa Như này. Nếu có thể
thường giữ cho cảnh giới ấy chẳng bị
mất đi, đấy chính là nhập cảnh giới của
Phật; nhưng phàm phu tập khí, nghiệp chướng
sâu nặng, rất khó giữ được cảnh giới
này. Do đây có thể biết: Tu học Phật pháp chú trọng
nhất tâm bất loạn. Chỉ cần nhất tâm sẽ
liền có thụ dụng, là sự thụ dụng chẳng
thể nghĩ bàn, nhất là những điều được
nói trong đoạn này đều là cảnh giới của
Pháp Thân đại sĩ.
Đoạn này tiếp tục
giải thích “hội quy tự
tánh”. “Tướng” là hết
thảy các tướng được hiện, phạm vi
bao quát [của Tướng] vô cùng lớn; người, sự,
vật đều bao gồm trong ấy. Trong Phật pháp
thường nói là “y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười
pháp giới”, toàn bộ vũ trụ và nhân sinh như
người thế gian chúng ta thường nói đều được
bao gồm trong ấy. Ngay cả hết thảy các kinh pháp
do Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói cũng chẳng phải ngoại
lệ, cũng thuộc trong ấy. Ở đây, nói đại
lược: “Sở vị Trùng
Tụng như, Thọ Kư như” (nói Trùng Tụng là
Như, Thọ Kư là Như); đây là hai loại trong mười
hai phần giáo, nêu ra hai loại để làm đại diện.
Nói cách khác, Trùng Tụng là Chân Như, Thọ Kư cũng là
Chân Như, Trường Hàng cũng là Chân Như, Cô Khởi
cũng là Chân Như, không có một pháp nào chẳng phải
là Chân Như. V́ thế, quư vị mở quyển kinh Phật
ra, chữ đầu tiên là “như
thị ngă văn”. Phật pháp thật sự là một
chữ Như, không có pháp nào chẳng Như. Nói cách khác, tất
cả ngôn thuyết, tất cả kinh luận đều nhằm
chú giải chữ Như, đều là cước chú của
chữ Như mà thôi.
Chữ Như này là Chân Như, hết
thảy các pháp, không có một pháp nào chẳng là Chân Như.
Cổ nhân có tỷ dụ như sau: “Dùng vàng làm đồ vật, món nào cũng đều
là vàng”. Dùng vàng ṛng làm ra mấy ngàn thứ, mấy vạn
thứ lộng lẫy, có thứ nào chẳng phải là
vàng? Thứ nào cũng đều là vàng, điều này dễ
hiểu. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới
đều do Chân Như bổn tánh biến hiện ra, có
pháp nào chẳng phải là Chân Như? Pháp nào cũng đều
là Chân Như. Nếu quư vị thấy cảnh giới này,
nhà Thiền gọi là minh tâm kiến tánh, Tịnh Độ
Tông gọi là Lư nhất tâm bất loạn, Hoa Nghiêm gọi
là Pháp Thân đại sĩ, chẳng qua là như thế mà
thôi! V́ thế, “thập nhị
phần giáo, nhất thiết giai như” (mười hai
phần giáo, hết thảy đều là Như), có
nghĩa là “hết thảy các
giáo pháp sai biệt”, v́ sao có sai biệt? Sai biệt “tùng duyên vô tánh” ([sai biệt]
là do duyên, không có tánh). Tuy trên mặt sự tướng th́ có
sai biệt, nhưng bất cứ pháp nào cũng đều
là vô tự tánh, tự tánh là tự thể của nó, nó không
có tự thể, nó từ duyên sanh ra. Tánh “vô tự tánh” là
Chân Như bổn tánh, cho nên chẳng có một pháp nào chẳng
do Chân Như bổn tánh biến hiện ra. Nói cách khác, nó là
Chân Như.
Kinh luận cũng thường
nói “hư tướng bổn tận,
chân tánh bổn hiện” (tướng hư vọng vốn
hết, chân tánh vốn hiện), hai câu này nói hết sức
hay. “Bổn” nghĩa là “vốn
sẵn như thế”, “hư”
là hư vọng; tướng hư vọng vốn sẵn
hư vọng, như kinh Kim Cang đă nói: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư
vọng”, “hết thảy
các pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”,
vốn sẵn là như thế. Chân Như bổn tánh hiện
tiền, chỉ cần quư vị thấy thấu suốt
tướng hư vọng, Chân Như bổn tánh sẽ hiện
tiền, chuyện là như vậy đó. Tánh và Tướng
chẳng hai. Nay chúng ta chẳng thấy chân tánh, mê nơi
tướng, vấn đề là do mê. V́ thế, phá mê sẽ
khai ngộ, mấu chốt ở chỗ này!
Ở đây, đại sư bảo
chúng ta: “Dĩ thượng triển
chuyển thôi tầm chân thật chi lư” (lần lượt
truy t́m lư chân thật như trên), đối với từng
sự, từng vật nào, pháp thế gian hay pháp xuất thế
gian, không ngừng truy cứu, truy cứu đến cùng cực,
chân lư bèn hiện tiền, tức là Chân Như bổn tánh hiện
tiền. Tiếp đó, Ngài lại dùng một tỷ dụ
để nói: “Thí chi vật bất
ly mộng” (Ví như vật chẳng ĺa mộng), lấy
mộng làm tỷ dụ. Trong khi chúng ta nằm mộng,
trong mộng có người, có vật, nhưng những
người và vật ấy đều ở trong mộng,
chẳng rời khỏi mộng. “Mộng bất ly nhân” (Mộng chẳng rời
người), có người th́ mới có thể nằm mộng,
không có người, lấy ai nằm mộng? “Người” là ǵ vậy? Tâm
người, [tức là] tâm quư vị hiện mộng cảnh.
Trong mộng cảnh có hết thảy các vật; hết thảy
những vật ấy có phải là tâm người hay không?
Trong các buổi giảng, chúng tôi thường dùng điều
này để làm tỷ dụ v́ nó dễ hiểu. Bởi lẽ,
“toàn mộng chính là tâm, toàn tâm
chính là mộng”. Mộng là tướng; phàm những ǵ
có h́nh tướng đều là hư vọng. Cảnh giới
trong mộng là hư vọng, nhưng cái tâm nằm mộng
là thật, là Chân Như; nhưng quư vị phải hiểu:
Mộng cảnh chẳng ĺa tâm, tâm chẳng ĺa mộng, ĺa
mộng chẳng có tâm, ĺa tâm chẳng có mộng. Do vậy,
tánh của tướng hư vọng ấy là Chân Như bổn
tánh, thấy Tánh th́ phải thấy từ tướng
hư vọng. Chỉ cần quư vị chẳng chấp
tướng, sẽ thấy tánh chân thật.
Tiếp đó, lăo nhân gia dẫn
một câu trong kinh Viên Giác: “Sanh
pháp bổn vô, nhất thiết duy thức” (chúng sanh và các
pháp vốn Không, hết thảy chỉ là thức). Đặc
biệt là bên tông Duy Thức, họ chú trọng lư luận,
cho nên nói “vạn pháp duy thức”;
trừ thức ra, thứ ǵ cũng đều chẳng có. Thức
do đâu mà có? Thức do Chân Như bổn tánh biến hiện.
V́ thế, nói: “Thức như
huyễn mộng, đản thị nhất tâm” (Thức
như huyễn mộng, chỉ là nhất tâm), đó là một
bước ḍ t́m sâu hơn nữa trong Duy Thức, thật
sự t́m đến cội nguồn. Cội nguồn
đích xác là Chân Như bổn tánh.
“Tắc
dĩ tự tâm vi giáo thể” (chính là lấy tự tâm
làm giáo thể). Đây là nói rơ hết thảy các kinh do đức
Phật đă giảng, tư tưởng, ngôn ngữ,
văn tự của Ngài đều từ Chân Như bổn
tánh lưu lộ, nói nhiều như thế, nhưng ư
nghĩa thật sự là một câu. Đây là nói về hết
thảy các kinh, hết thảy các pháp.
(Sớ) Kim thử kinh giả.
(疏) 今此經者。
(Sớ: Nay kinh này).
“Kim”
là nói hiện tại, nay chúng ta đang đọc bộ
kinh này.
(Sớ) Y chánh tín nguyện đẳng
pháp.
(疏) 依正信願等法。
(Sớ: Các pháp như y báo, chánh báo, tín, nguyện
v.v...)
Kinh nói đến y báo trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới tức hoàn cảnh
sống của họ; chánh báo là A Di Đà Phật, chư
đại Bồ Tát, và trời người trong thế giới
Cực Lạc là chánh báo. Tín - Nguyện - Hạnh là những
điều kiện Phật dạy chúng ta phải hội
đủ để văng sanh Tịnh Độ.
(Sớ) Nhược văn,
nhược nghĩa.
(疏) 若文若義。
(Sớ: Dù văn hay nghĩa).
“Văn”
chỉ văn tự, “nghĩa”
chỉ nghĩa lư được bao hàm trong văn tự.
(Sớ) Cứu cực giai quy nhất
tâm Chân Như.
(疏) 究極皆歸一心真如。
(Sớ: Xét đến
tột cùng đều quy vào nhất tâm Chân Như).
Toàn là “nhất tâm Chân Như” hiển hiện, mà cũng
là nói: Ĺa khỏi nhất tâm Chân Như, chẳng có y báo và
chánh báo, cũng chẳng có các pháp như Tín, Nguyện, Hạnh
v.v..., cũng chẳng có văn, mà cũng chẳng có nghĩa.
Không có một pháp nào chẳng do nhất tâm Chân Như biến
hiện ra.
(Sớ) Cố cổ đức
vân: “
(疏) 故古德云:諸大乘經,皆以一實相印,為經教體。
(Sớ: V́ thế, cổ
đức nói: “Các kinh Đại Thừa đều lấy
Thật Tướng ấn để làm giáo thể”).
Câu này là nói tổng quát. “Giáo thể”: Giáo là giáo học
của Như Lai. Sách giáo khoa (kinh điển) và cách dạy
học của Ngài được kiến lập dựa
trên lư luận nào? Chữ Thể có ư nghĩa này. “Ấn” (印) là ấn tín, giống
như ấn tín của quan viên. Ấn là biểu tượng
đại diện cho người ấy, đóng ấn
trên văn kiện, [chứng thực] văn kiện ấy
do chính ông phát ra. Phật pháp cũng như thế, hết
thảy các kinh nếu có pháp ấn của Phật ấn chứng
th́ kinh ấy là kinh Phật chân chánh. Pháp ấn của Phật
có hai loại: Tiểu Thừa là Tam Pháp Ấn, Đại
Thừa là “nhất Thật
Tướng ấn”. Nói cách khác, hết thảy các kinh
Đại Thừa, không kinh nào chẳng nói về Thật
Tướng. Chỉ cần nói đến Thật Tướng,
kinh ấy nhất định là kinh Đại Thừa.
Kinh này của chúng ta có nói về Thật Tướng hay
chăng? Có thể dùng điều này để biện
định một bộ kinh là chân hay giả. Tam Pháp Ấn
của Tiểu Thừa là “vô thường, vô ngă, Niết Bàn”.
Kinh giảng nhiều đến đâu đi nữa, chẳng
rời khỏi ba cương lănh này. Nếu tách khỏi ba
cương lănh này, nếu bộ kinh ấy chẳng nói
đến ba chuyện này, nó chẳng phải là kinh Phật.
Hết thảy các kinh Tiểu Thừa đều có thể
dùng ba Pháp Ấn này để ấn định, kinh chẳng
nói tới vô thường sẽ nói vô ngă, hoặc nói Niết
Bàn. Các kinh Đại Thừa nói chung chẳng ngoài Thật
Tướng.
(Sớ) Thử kinh nhất tâm bất
loạn, tức thị Thật Tướng, tức thị
Chân Như.
(疏) 此經一心不亂,即是實相,即是真如。
(Sớ: Trong kinh này, “nhất
tâm bất loạn” chính là Thật Tướng, chính là Chân
Như).
Có thể thấy bộ kinh này hết
sức khế hợp Đại Thừa pháp ấn. Điều
quan trọng nhất trong bộ kinh này là nói về nhất
tâm bất loạn, nhất tâm là Chân Như, Thật Tướng.
(Sớ) Tắc hợp tiền nhị
chủng, hội quy nhất tâm, nhi vi giáo thể.
(疏) 則合前二種,會歸一心,而為教體。
(Sớ: Nên hợp
hai loại trước, gom về nhất tâm, lấy đó
làm giáo thể).
Do đây có thể biết bộ
kinh này của chúng ta cũng lấy “nhất tâm” làm giáo thể. Đây là nói ở mức
độ khá sâu, chúng ta đối với bộ kinh này mới
thật sự sanh khởi ḷng tin kiên định: Pháp môn này
là pháp khó tin, quả thật khó tin. Chúng ta tốn hơi sức
nhiều ngần ấy, tốn thời gian nhiều ngần
ấy để t́m ṭi tỉ mỉ, không ǵ chẳng nhằm
kiến lập ḷng tin mà thôi! Có Tín, có Nguyện, nhất
định văng sanh. Ngẫu Ích đại sư bảo
chúng ta: “Phẩm vị cao hạ
tại ư tŕ danh chi thâm thiển, năng bất năng văng
sanh quyết định tại tín nguyện” (Phẩm vị
cao hay thấp là do tŕ danh sâu hay cạn. Được văng
sanh hay không là do tín nguyện quyết định). Tín nguyện
chẳng dễ ǵ kiến lập!
Tứ, vô ngại.
(Huyền Nghĩa) Vô ngại giả,
tâm, cảnh, Lư, Sự, bổn tự giao triệt. Cảnh
cập Sự giả, thị danh Tùy Tướng. Tâm giả
vi thức, Lư giả quy tánh, cụ giao triệt cố.
四、無礙。
(玄義) 無礙者,心境理事,本自交徹,境及事者,是名隨相,心者為識,理者歸性,具交徹故。
(Bốn,
vô ngại.
Huyền
Nghĩa: Vô ngại là
tâm, cảnh, Lư, Sự, vốn tự thấu triệt lẫn
nhau. Cảnh và Sự gọi là Tùy Tướng. Tâm là Thức,
Lư quy về Tánh, thấu triệt lẫn nhau trọn vẹn).
“Vô
ngại”: Trong phần trên đă nói tới Tùy Tướng,
Duy Thức và Quy Tánh, chúng là một mà ba, tuy ba mà một, viên
dung vô ngại. Hễ chấp trước điều ǵ sẽ
biến thành chuyện ǵ cũng bị trở ngại; hết
thảy đều chẳng chấp trước sẽ
không có chướng ngại. Từng tầng [ư nghĩa]
đă được nói trong phần trên từ cạn
đến sâu: Tùy Tướng cạn, Duy Thức sâu hơn
một bậc, Quy Tánh lại sâu hơn một bậc nữa.
Đó là thứ tự, chẳng thể viên dung. Chẳng thể
viên dung, sẽ chẳng thể khế nhập; nói thông tục
là quư vị chẳng thể chứng đắc! Nói th́ quư vị
cũng biết nói, nhưng chính ḿnh chẳng thể thụ
dụng, chẳng thể nhập cảnh giới ấy, đó
chẳng thể là viên dung. Môn này chẳng thể thiếu,
nếu đem những điều đă nói trong các phần
trước từ cạn đến sâu gộp lại toàn
bộ viên dung th́ sẽ viên dung vô ngại.
“Tâm
cảnh”: Tâm là Duy Thức và Quy Tánh đă nói trong phần
trước, c̣n Cảnh là Tùy Tướng. Lư là Quy Tánh, Sự
là Tùy Tướng. “Bổn tự
giao triệt” (vốn tự thấu triệt lẫn
nhau), nói cách khác, trong tâm có cảnh, trong cảnh có tâm, tâm và
cảnh chẳng hai. Chúng tôi nêu lên một thí dụ để
nói. Ví như giảng đường của chúng ta to chừng
này, chẳng thể coi là rất lớn, chúng ta đều
thấy mỗi góc rất rơ ràng; chúng ta có thể thấy là
do tâm, [vậy th́ thử hỏi] tâm chúng ta có đến góc ấy
hay không? Nếu chẳng đến góc ấy, làm sao chúng ta
có thể thấy góc ấy? Phải đến! Do vậy,
trong cảnh có tâm, trong tâm có cảnh, vốn thấu triệt
lẫn nhau. Tánh Thấy của chúng ta chẳng đến
nơi ấy, làm sao có thể thấy? Tánh Nghe của chúng
ta chẳng đến nơi ấy, làm sao có thể nghe? Phật
đă dạy chúng ta: Thấy, nghe, hay, biết, căn tánh của
sáu căn vốn tận hư không, trọn khắp pháp giới.
Chúng ta vốn có năng lực to dường ấy, hiện
thời đă đánh mất năng lực này. V́ sao
đánh mất? Mê mất rồi! Chẳng phải là thật
sự mất. V́ thế, hiện thời chẳng phải
là căn tánh của sáu căn chúng ta không khởi tác dụng,
mà là phạm vi khởi tác dụng của chúng nhỏ bé, chẳng
thể tự tại thụ dụng tận hư không trọn
pháp giới. Hết thảy sự giáo học của đức
Phật không ǵ chẳng nhằm dạy chúng ta khôi phục tự
tánh, mà cũng là khôi phục tác dụng bản năng của
sáu căn, chỉ như thế mà thôi! Đây là mục tiêu
giáo học của Phật pháp.
Do v́ “ngoài
tâm không cảnh, ngoài cảnh không tâm”, “ngoài Sự không Lư, ngoài Lư không Sự”, bất cứ
chuyện nào cũng đều có đạo lư, bất cứ
một lư luận nào cũng đều có sự tướng,
quả thật là thấu triệt lẫn nhau, thấu triệt
viên dung. Tiếp theo đó, [sách Sớ Sao] thuyết minh
đạo lư này, chỉ bày từng điều một. Cảnh,
Sự là Tùy Tướng, Tâm là Duy Thức, Lư là Quy Tánh, hoàn
toàn thấu triệt lẫn nhau. Kinh Hoa Nghiêm đặc biệt
hiển thị cảnh giới này, Lư Sự vô ngại, Sự
Sự vô ngại, hiển thị cảnh giới chân chánh
này. Chúng ta đọc tiếp phần chú giải.
(Sớ) Giao triệt giả,
dĩ nhất tâm nguyên hữu Chân Như, sanh diệt nhị
môn, Chân Như tức thị sanh diệt, cố Lư bất
ngại Sự, cảnh, tâm; sanh diệt tức thị Chân
Như, cố Sự, cảnh, tâm bất ngại Lư.
(疏) 交徹者,以一心原有真如生滅二門。真如即是生滅,故理不礙事境心;生滅即是真如,故事境心不礙理。
(Sớ: “Thấu triệt
lẫn nhau”: Do nhất tâm vốn có hai
môn là Chân Như và sanh diệt. Chân Như chính là sanh diệt,
nên Lư chẳng trở ngại Sự, cảnh, tâm. Sanh diệt
chính là Chân Như, nên Sự, cảnh, tâm chẳng trở ngại
Lư).
Đoạn này phát xuất từ
Đại Thừa Khởi Tín Luận của Mă Minh Bồ Tát.
Nói thật ra, con người chỉ có hai loại là mê và ngộ.
Mê th́ pháp giới này là sanh diệt môn. Mê rồi, quư vị thấy
bất luận pháp nào cũng đều có sanh và diệt.
Con người có sanh, già, bệnh, chết; thực vật
có sanh, trụ, dị, diệt; khoáng vật có thành, trụ,
hoại, không. Đó đều là pháp sanh diệt. Pháp sanh diệt
là ǵ? Mê mất cảnh giới này. V́ khi mê, tâm quư vị là
tâm sanh diệt. Tâm sanh diệt thấy cảnh giới bên
ngoài đều là pháp sanh diệt, chuyện là như vậy
đó. Do đây, đức Phật dạy chúng ta: “Vô minh bất giác sanh tam tế”.
Vô minh là mê; sau khi đă mê bèn có ba món tế tướng xuất
hiện; ba tế tướng là vô minh nghiệp tướng,
chuyển tướng, và cảnh giới tướng. Những
tướng này đều được nói trong Duy Thức,
chúng được gọi là “tam
tế tướng”. Những người tầm thường
chúng ta không có cách nào thấy được những tướng
này trong A Lại Da Thức; A La Hán và những vị Bồ
Tát tầm thường chẳng thấy được.
Theo kinh Phật, Bát Địa Bồ Tát mới thấy ba tế
tướng. Do thấy được tế tướng,
nên chuyển A Lại Da Thức thành Đại Viên Kính Trí.
Nếu quư vị chẳng thấy chúng, chuyển bằng cách
nào? Hễ thấy được, bèn có thể chuyển
được, đó là phá mê khai ngộ. Thấy mà c̣n
chưa thấy được, đang mê làm sao mà chẳng
biết ḿnh mê, làm sao quư vị có thể phá mê cho được?
Do vậy, đây là một công phu rất sâu.
Tam tế làm duyên tăng trưởng
lục thô. Cảnh giới lục thô biến thành thế
giới và vạn tượng sâm la trong vũ trụ, Phật
pháp nói [lục thô] biến thành mười pháp giới.
Đó gọi là Lưu Chuyển Môn. Nếu vừa giác ngộ,
bèn từ Lục Thô quay trở về Tam Tế, từ Tam Tế
trở về Nhất Chân pháp giới. Đó là “hoàn nguyên” (trở về nguồn);
khi hoàn nguyên th́ gọi là Hoàn Diệt môn.
Khi mê, vọng sanh, chân diệt.
Nói thật ra, đối với chuyện “vọng sanh” th́
chẳng khó hiểu ǵ! Nếu quư vị ngồi tại nơi
đây một lát, hướng vào trong tâm để quán chiếu,
quư vị sẽ nhận thấy chính ḿnh có rất nhiều
vọng tưởng, [cố gắng] ngăn dứt
cũng chẳng ngăn dứt được. Đó là vọng
sanh. Khi mê, vọng bèn sanh, sanh ra vọng tưởng, suốt
ngày từ sáng đến tối khởi vọng tưởng,
cho nên chẳng thấy chân, chỉ thấy vọng tưởng,
vọng niệm tơi bời. Đó là mê. Khi ngộ, hiện
tượng ấy đảo ngược lại, chân sanh,
vọng diệt, cảnh giới ấy rất vi tế. Có
người vọng tưởng ǵ cũng chẳng có, chẳng
có vọng tưởng th́ như thế nào? Gật gù ngủ
gật. Đấy có phải là giác ngộ hay chăng? Chẳng
phải! Thưa quư vị, đó gọi là vô minh. Phàm phu phiền
phức, chẳng đọa trong vọng tưởng th́
cũng rớt trong vô minh; đó đều là bất giác,
đều là sanh diệt.
Người thật sự giác
ngộ chẳng có vọng tưởng, mà tỉnh táo, sáng
suốt, tinh thần sung măn, chẳng ngủ gật. Lại
thưa cùng quư vị, người ấy chẳng cần ngủ
nghê. Kinh nói “tài, sắc, danh, ăn uống, ngủ” là
Ngũ Cái (năm món che đậy chân tánh), tức là năm
thứ phiền năo, trong bổn tánh không có [những phiền
năo này]. Người thật sự giác ngộ chẳng cần
ăn cơm, chẳng cần ngủ nghê, thân thể khỏe
mạnh, tinh thần sung măn, đó là người thật sự
giác ngộ. Chúng ta nay vẫn c̣n phải ăn cơm, c̣n phải
ngủ, tức là chưa giác ngộ. A La Hán bảy ngày
ăn một bữa, đủ rồi! Bích Chi Phật nửa
tháng ăn một bữa. Người công phu càng cao ăn
càng ít. Mỗi ngày ăn nhiều bữa, mỗi bữa
ăn thật nhiều, không được rồi, thiếu
công phu! Thế nhưng quư vị phải nhớ, quư vị
nghe những lời này bèn gắng hết sức ăn ít
để tỏ ra ḿnh có công phu. Chưa được nửa
tháng hay một tháng, thân thể ngă bệnh, hỏng bét, lầm
lẫn quá đỗi! Không có công phu, thể lực cần
phải tiêu hao [năng lượng] nhiều ngần ấy,
quư vị cần phải bổ sung nhiều chừng đó.
Giống như hiện thời lái xe vậy, có xe ít tốn
xăng, có xe hao xăng. Xe hao xăng mà quư vị đổ
xăng không đủ, nó không chạy được. Người
có công phu giống như xe đỡ tốn xăng, giác ngộ
rồi; kẻ mê hoặc, điên đảo giống
như xe hao xăng, nếu quư vị không đổ thêm
xăng là không được, chuyện này chớ nên miễn
cưỡng! Hai ngày trước, tôi đọc bản chú
giải Tứ Thập Nhị Chương Kinh của
cư sĩ Quư Thánh Nhất, ông đă nói về chuyện này
rất nhiều, đúng là hợp t́nh, hợp lư! Trong đời
hiện tại này, nhiều người tu hành chúng ta phạm
phải những khuyết điểm nào, ông ta đều
chỉ điểm ra. Bản chú giải ấy rất hay,
hăy nên học cặn kẽ.
Nói chung, có mê, có ngộ th́ chúng
ta gọi nó là Sanh Diệt môn. Loại thứ hai là Chân
Như môn, Chân Như môn là nói theo Thể. Sanh Diệt môn là
nói theo Tướng, nói theo sự tướng. Chân Như
môn là nói từ bản thể của hết thảy muôn
pháp. Khi mê chẳng thấy vọng sanh, chân diệt; khi giác ngộ
cũng chẳng thấy vọng diệt, chân sanh. Nói cách
khác, Thể vốn bất sanh, bất diệt, bất cấu,
bất tịnh. V́ thế, tự thể của hết thảy
vạn pháp là Chân Như. Chúng ta nói tới Chân Như là quán
sát từ bản thể của hết thảy vạn pháp.
“Nhất
tâm nguyên hữu nhị môn” (Nhất tâm vốn có hai môn).
Khởi Tín Luận viết: “Y
nhất tâm pháp, hữu nhị chủng môn, nhất giả
tâm Chân Như môn, nhị giả tâm sanh diệt môn”
(Nương theo pháp nhất tâm, có hai môn: Một là tâm Chân
Như môn, hai là tâm sanh diệt môn). Hai môn này bao quát tất cả
hết thảy các pháp: Pháp thế gian và pháp xuất thế
gian đều bao gồm trong ấy. Pháp sanh diệt bao gồm
tất cả hiện tượng, tức là tâm, cảnh, Sự,
hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian. Chân
Như môn bao gồm bản thể của hết thảy
các pháp. Quư vị phải nhớ: Lư và Sự thấu triệt
lẫn nhau, tức là trong Lư có Sự, trong Sự có Lư. Do vậy,
cảnh giới thật sự là viên dung vô ngại, hoàn toàn
được hiển thị trong kinh Hoa Nghiêm.
“Chân
Như tức thị Sanh Diệt, cố Lư bất ngại
Sự, cảnh, tâm” (Chân Như chính là Sanh Diệt, nên Lư
chẳng trở ngại Sự, cảnh, tâm). Đây đều
là những đạo lư trong Khởi Tín Luận. “Chân Như bất thủ tự
tánh, ngũ đạo tùy duyên” (Chân Như chẳng giữ
lấy tự tánh, năm đường tùy duyên), ngũ
đạo chính là lục đạo, [tức là] chẳng
nói đến A Tu La đạo. V́ sao chẳng nói đến
A Tu La? A Tu La thuộc đường nào th́ gộp vào
đường đó. Tại thiên đạo th́ gộp vào
thiên đạo, tại nhân đạo th́ gộp vào nhân
đạo. Súc sanh, ngạ quỷ đều có A Tu La, chỉ
trong địa ngục là không có
Luân hồi trong lục đạo
th́ cái ǵ luân hồi? Sự, cảnh, tâm luân hồi. Lư là Chân
Như bổn tánh, Chân Như bổn tánh chẳng luân hồi;
nhưng chúng ta là kẻ bất giác, thấy Chân Như bổn
tánh dường như cũng luân hồi, dường
như vậy, thật ra chẳng phải! Khi mê, thấy
toàn bộ Chân Như là sanh diệt. Trong Phật pháp cũng
có một câu nói rất nổi tiếng là “bất biến, tùy duyên”. Lư Thể bất biến,
nhưng nó có thể tùy duyên trong lục đạo. Giác ngộ
rồi th́ tuy ở trong lục đạo, vẫn tự tại,
chẳng nhiễm, du hư thần thông mà! Tới nơi đâu
cũng được, người ấy chẳng nhiễm.
Nhiễm là ǵ? Hưởng thụ sướng khổ là ô
nhiễm; người ấy ở trên thiên đường
chẳng có Lạc Thụ, chẳng nhiễm niềm vui ấy.
Đọa trong địa ngục, kẻ ấy chẳng
nhiễm khổ, tâm thanh tịnh. Nói cách khác, các thứ cảm
thụ khổ, lạc, ưu, hỷ, xả đều chẳng
có, tâm người ấy thanh tịnh, b́nh đẳng, tự
tại; đó là Phật, Bồ Tát, là người thật
sự giác ngộ. V́ thế, Lư chẳng trở ngại Sự,
tâm, cảnh.
Luân hồi trong lục đạo
th́ lục đạo là duyên khởi, thiện nghiệp bèn
thọ báo trong ba thiện đạo, ác nghiệp bèn thọ
khổ trong ba ác đạo. Nghiệp lực thiện, ác dẫn
dắt quư vị luân hồi trong lục đạo. Quư vị
phải vào trong đường nào là do thiện nghiệp
và ác nghiệp làm chủ tể. Quư vị phải hiểu:
Chẳng phải là Phật, Bồ Tát làm chủ tể,
cũng chẳng phải là vua Diêm La làm
chủ tể, càng chẳng liên quan ǵ tới Thượng
Đế hay quỷ thần! Ai làm chủ tể cho quư vị?
Chính ḿnh làm chủ tể của chính ḿnh! V́ thế, người
học Phật phải học giác ngộ. Người ấy
biết mạng vận do chính ḿnh nắm trong tay, chẳng
liên can đến một ai khác. Hàng quỷ thần,
vua Diêm La có hay không? Có! Giống như trong một nước
có h́nh cảnh (cảnh sát h́nh sự), quư vị chẳng phạm
pháp, họ chẳng dám động đến quư vị. Nếu
họ bắt quư vị, họ sẽ phạm tội! Quư vị
phạm tội, họ mới đến bắt. Vua Diêm La,
tiểu quỷ thần cũng giống như thế. Quư vị
tạo lắm nỗi ác nghiệp, đến khi ấy, quỷ
thần tới kiếm, phiền quá! Quư vị làm lành, chẳng
làm ác, quỷ thần thấy quư vị cung kính c̣n chẳng
kịp, họ chẳng dám chạm mặt, chẳng dám kiếm
chuyện với quư vị. Đủ thấy chính ḿnh làm chủ
tể, chứ không do ai khác làm chủ tể, phải hiểu
rơ và tin tưởng đạo lư này.
Tuy là lục đạo tùy duyên,
nhưng duyên khởi vô tánh, chẳng có tự tánh, giống
như h́nh ảnh xuất hiện trên màn h́nh máy TV, h́nh ảnh
có hay không? Có, nhưng nó không có tự tánh. Tự tánh là tự
thể, [những h́nh ảnh xuất hiện trên màn h́nh TV] không
có tự thể. Tự thể của nó là ǵ? Tự thể
là màn h́nh, màn h́nh chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng
đến, chẳng đi. Chúng bất quá là những luồng
sáng di động trên màn h́nh mà thôi, màn h́nh có di động
hay không? Chẳng động! Màn h́nh là bất biến tùy
duyên, h́nh ảnh là tùy duyên bất biến. Trong ấy
cũng thấu triệt lẫn nhau. Trong h́nh ảnh có màn
h́nh, trong màn h́nh có h́nh ảnh. H́nh ảnh chẳng ĺa màn
h́nh, màn h́nh chẳng ĺa h́nh ảnh, là một, chẳng phải
hai. Quư vị hăy lănh hội ư nghĩa này. Quư vị thật
sự tham thấu đạo lư này, sẽ tin sâu chẳng nghi
hết thảy các pháp do đức Phật đă nói. V́ sao?
Hiểu rơ Lư rồi! V́ toàn bộ Sự, cảnh, tâm sanh diệt
là Chân Như, tùy duyên bất biến. Đạo lư này xuyên
suốt tất cả các kinh Đại Thừa, có thể
nói hết thảy các kinh Đại Thừa đều là cảnh
giới này.
(Sớ) Kim thử kinh giả.
(疏) 今此經者。
(Sớ: Nay kinh này).
Chúng ta lại coi kinh A Di Đà.
(Sớ) Tâm tức thị độ,
tắc nhất niệm vô vi, nhi bất phương tŕ, lâu,
điểu, thụ chiêu bố, sâm liệt.
(疏) 心即是土,則一念無為,而不妨池樓鳥樹昭布森列。
(Sớ: Tâm chính là
cơi nước nên nhất niệm vô vi chẳng trở ngại
ao, lầu, chim, cây cối xếp đặt rạng ngời,
dày đặc).
Câu này là nói “dĩ Lư thành Sự môn, Lư tùy Sự biến, nhất
đa duyên khởi chi vô biên dă” (là môn dùng Lư để
thành Sự, Lư biến theo Sự, một và nhiều duyên khởi
vô biên), vô lượng vô biên. Chúng ta thường nói Tây
Phương Cực Lạc thế giới có bốn cơi: Cơi
Phàm Thánh Đồng Cư, cơi Phương Tiện Hữu
Dư, cơi Thật Báo Trang Nghiêm và cơi Thường Tịch
Quang. Cơi nước do đâu mà có? Do tâm biến hiện ra.
Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến. V́ thế, “Lư tùy Sự biến”. “Nhất niệm vô vi” là Lư, nhất
niệm vô vi là nhất tâm bất loạn, Lư nhất tâm bất
loạn, đó là Lư. Từ đây khởi tác dụng, biến
hiện ra hiện tượng. V́ thế, chẳng trở
ngại. “Tŕ” là ao bảy
báu. “Lâu” là cung, điện,
lầu, gác. “Điểu” là
như kinh nói: Bạch hạc, khổng tước,
Ca-lăng-tần-già, các loài chim quư quá nhiều, nói chẳng
hết. “Thụ” là hàng cây. “Chiêu bố sâm liệt”: Chiêu (昭) là sáng rơ, Bố (布) là giăng bày,
trong cơi nước ấy, xếp đặt chỉnh tề,
hết sức trang nghiêm đẹp mắt, chẳng trở
ngại, Lư chẳng trở ngại Sự.
Thưa quư vị, nói thật ra,
nếu thật sự đọc thông suốt kinh Phật,
[sẽ thấy] thế giới này rất đẹp đẽ
v́ quư vị chẳng có phiền năo. Bất luận cảnh
giới nào, không cảnh giới nào chẳng là Như, chẳng
có pháp nào không Như, không ǵ chẳng phải là Tánh. Đúng
như cổ nhân đă nói: “Đầu
đầu thị đạo, tả hữu phùng nguyên” (Pháp
nào cũng là đạo, đâu đâu cũng gặp nguồn),
pháp hỷ sung măn! Cảnh giới là tu hành, tu thanh tịnh,
b́nh đẳng, từ bi trong cảnh giới, pháp hỷ
sung măn! Tu hành trong cảnh giới, tu hành sống động.
Năm mươi ba lần tham học trong kinh Hoa Nghiêm, quư
vị thấy năm mươi ba vị Bồ Tát tu hành,
suốt ngày từ sáng đến tối tới các nơi
vui chơi, vui chơi mà họ thành Phật, chẳng phải
tu khổ sở giống như Tiểu Thừa! Tiểu Thừa
chẳng hiểu Lư, chuyện ǵ cũng đều có chướng
ngại; cho nên họ tu rất khổ, mà thành tựu rất
hữu hạn. Đại Thừa giống như tâm địa
cởi mở, thật sự đạt đến Lư Sự
vô ngại, Sự Sự vô ngại; chỗ sáu căn tiếp
xúc sáu trần, không ǵ chẳng là Như, không ǵ chẳng là
tánh, minh tâm kiến tánh, vạn pháp đều Như. V́ thế,
họ đạt được Lư Sự vô ngại, Sự
Sự vô ngại, viên măn Giới - Định - Huệ trong
cảnh giới, viên măn Giác - Chánh - Tịnh, viên măn Tín - Nguyện
- Hạnh, Hạnh là lục độ vạn hạnh, thật
sự phi phàm!
(Sớ) Chúng sanh tín nhạo, tùy
nguyện văng sanh.
(疏) 眾生信樂,隨願往生。
(Sớ: Chúng sanh tin
ưa, nguyện được văng sanh).
Đây là nói chúng sanh trong mười
phương thế giới, đă có ḷng tin, điểm này
rất quan trọng! Quư vị chẳng tin, sẽ không có
cách nào cả! Quư vị phải tin, tin tưởng Tây
Phương Cực Lạc thế giới như trong kinh
điển đă dạy. Ḷng tin ấy quả thật là
khó. V́ thế, rất nhiều tổ sư đại đức
các đời khuyên lơn, khích lệ chúng ta phải thâm nhập
Đại Kinh. Đại Kinh là kinh Vô Lượng Thọ,
v́ sao? Đại Kinh giảng tường tận hơn
kinh này. Nay chúng ta thấy bản chú giải này, quả thật
c̣n tường tận hơn Đại Kinh. Hiện thời,
chúng tôi đề xuất nghiên cứu, thảo luận kinh
Vô Lượng Thọ, không ǵ chẳng nhằm giúp chúng ta kiến
lập ḷng tin. Kinh Vô Lượng Thọ được
truyền sang Trung Quốc sớm nhất, cũng là kinh
được phiên dịch sớm nhất, có duyên phận
đặc biệt sâu với Trung Quốc. Những bản
dịch trong thời kỳ đầu rất nhiều, hiện
thời trong Đại Tạng có tất cả năm bản
dịch. V́ để khích lệ, cổ vũ các đồng
tu thâm nhập nghiên cứu, chúng tôi đem nguyên văn
năm bản dịch in chung thành một cuốn; nhưng
thưa quư vị, cuốn sách ấy chẳng phải là sách
phổ cập. V́ sao? Dành cho những người thật sự
thâm nhập nghiên cứu. Chẳng mong thâm nhập nghiên cứu
th́ hiện thời chúng ta dùng một bản, thầy Lư có
chú giải, [dùng bản ấy] là được rồi.
Ḷng tin quan trọng lắm!
Đă tin rồi, chữ tiếp theo đó lại càng quan trọng
hơn, “nhạo” (樂) là ǵ vậy?
Ưa thích! Quư vị đă tin tưởng, nhưng chẳng
ưa thích, không được rồi! Chẳng thể
thành tựu! Giống như tôi cổ vũ, khích lệ các
đồng tu phát tâm giảng kinh vậy. Quư vị tin giảng
kinh có công đức rất lớn, phước huệ
song tu, nhưng quư vị chẳng thích ra giảng kinh, không
có cách nào hết! Nếu quư vị ưa thích th́ mới
được, ưa thích sẽ như thế nào? Hễ
ưa thích, sẽ tinh tấn, chẳng lui sụt, sẽ
đạt được pháp hỷ trong ấy, sẽ coi
chuyện này giống như chúng ta mặc áo, ăn cơm,
chẳng thể có một ngày không ăn, chẳng thể có
hôm nào không giảng kinh; ngày nào không giảng kinh giống
như hôm đó không ăn vậy! Nếu quư vị đắc
pháp hỷ nơi ấy, tôi thưa cùng quư vị, ba năm
có thành tựu, sẽ có thành tựu! “Nhạo” hết sức quan trọng, chữ Nhạo
(樂) phải đọc
giọng Khứ Thanh, [theo âm Quan Thoại là] Yào, Nhạo là
ưa thích, hoan hỷ. Trong thiên Học Kư, Nho gia đă nói: “Thất niên tiểu thành, cửu
niên đại thành” (bảy năm thành tựu nhỏ,
chín năm thành tựu lớn). Học Phật cũng giống
như thế, giảng kinh cũng thế,
xướng niệm cũng thế, hằng ngày xướng,
một ngày không xướng không được, phải
như vậy th́ mới nên, quư vị xướng niệm
suốt ba năm, thành công! Cổ nhân nói: “Quyền bất ly thủ, khúc bất ly khẩu”
(
Pháp sư trong nhà Phật, một
là [chuyên về] Phạm Bái, hướng dẫn đại
chúng cộng tu; hai là [chuyên về] giảng kinh, khơi gợi,
phát khởi ḷng chánh tín, khuyên người khác phát nguyện.
V́ thế, giảng kinh chú trọng nơi tín nguyện, Phạm
bái chú trọng nơi tu hành, Tín - Nguyện - Hạnh ba
tư lương chẳng thể thiếu khuyết. Nho gia
lấy lễ nhạc làm phương tiện dạy học,
Phật pháp cũng chẳng ngoại lệ. Giới trong Phật
pháp giống như lễ của Nho gia, Phạm Bái trong Phật
pháp giống như âm nhạc. V́ thế, hai chuyện này
đều cần phải nghiêm túc nghiên cứu, nghiêm túc tập
luyện. Quư vị chịu nghiêm túc [nghiên cứu, tập
luyện] th́ không riêng ǵ quư vị có phước, mà mọi
người chúng ta đều có phước, v́ sao? Chánh
pháp tồn tại lâu dài!
Trong thế gian hiện thời,
giống như kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng!”
V́ sao có hiện tượng này? Người hoằng
dương chánh pháp quá ít. Chúng ta khuyên người khác
đi hoằng dương, chẳng bằng khuyên chính ḿnh.
Khuyên người khác rất khó, hăy khuyên chính ḿnh! Hoằng
dương chánh pháp, thưa quư vị, chỉ cần một
điều kiện. Nếu quư vị hội đủ
điều kiện ấy, quư vị sẽ có tư cách.
Điều kiện ǵ vậy? Chẳng cần tiếng
tăm, lợi dưỡng là được. Nay chúng ta v́
sao khuyên người khác, người khác chẳng chịu
làm? Người khác không buông tiếng tăm, lợi dưỡng
xuống được. Đó là chướng ngại lớn
nhất trong hoằng pháp. Chúng ta có thể bỏ tiếng
tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần,
sẽ hội đủ, trọn đủ điều kiện
ấy. Quư vị nói: “Tôi hơi đần một chút”. Đần
cũng không sao, sẽ có thần lực Tam Bảo gia tŕ chẳng
thể nghĩ bàn! Tham cầu tiếng tăm lợi dưỡng,
tuy oai thần của Tam Bảo chẳng thể nghĩ bàn,
vẫn không thể gia tŕ được! Chính quư vị có
chướng ngại, chướng ngại ấy rất lớn.
V́ thế, chỉ cần chính ḿnh chịu hy sinh, sẽ có thể
mang lại vô tận phước báo rộng lớn cho chúng
sanh, sự hy sinh ấy rất đáng giá! “Chúng sanh tín nhạo” hết sức trọng yếu,
tín nguyện văng sanh.
(Sớ) Độ tức thị
tâm, tắc thất bảo trang nghiêm, nhi bất
phương toàn thể không tịch, bất lập nhất
trần, thật vô chúng sanh sanh bỉ quốc giả, tắc
tâm, cảnh, Lư, Sự, hỗ tương dung nhiếp, nhi
vi giáo thể dă.
(疏) 土即是心,則七寶莊嚴,而不妨全體空寂,不立一塵。實無眾生生彼國者,則心境理事,互相融攝,而為教體也。
(Sớ: Cơi nước chính là
tâm, nên bảy báu trang nghiêm chẳng trở ngại toàn thể
không tịch, chẳng lập mảy trần. Thật sự
chẳng có chúng sanh sanh về cơi ấy, cho nên tâm, cảnh,
Lư, Sự dung nhiếp lẫn nhau để làm giáo thể).
Câu này nói hết sức viên măn.
Mấy câu này “toàn Sự quy Lư”
(toàn thể Sự quy vào Lư), tất cả Sự, tâm, cảnh
thảy đều quy vào Chân Như bổn tánh. Sự quy
vào Lư sẽ viên dung, ngàn vạn sai biệt nói chung đều
chẳng chướng ngại. Đây chính là Sự Sự
vô ngại như Thanh Lương đại sư đă nói
về kinh Hoa Nghiêm. “Thất bảo
trang nghiêm, nhi bất phương toàn thể không tịch”
(Bảy báu trang nghiêm chẳng trở ngại toàn thể
không tịch), giống như chúng ta xem phim: Vô biên sắc
tướng lần lượt hiện trước mặt
chúng ta, thật ra, trọn chẳng thể được,
bản thể của chúng chính là Không. Bản thể của
thế gian hiện tiền cũng là Không, trọn chẳng
thể được! Rất nhiều người chưa
giác ngộ, cho rằng những h́nh tượng hư giả
hiện tiền là thật, họ mê nơi những tướng
ấy, ngỡ những tướng ấy là chân thật, đấy
là lầm lỗi lớn nhất.
Nếu quư vị giác ngộ chẳng
mê, đời người sẽ vui sướng khôn ngằn,
chỉ có sướng, chẳng có khổ. Quư vị mê nơi
ấy th́ chỉ có khổ, chẳng sung sướng. Đó
là sự thật ngàn vạn phần đích xác. V́ thế,
khổ, sướng ở chỗ nào? Khổ hay sướng
là do mê hay ngộ! Nơi sự tướng chẳng có khổ,
mà cũng chẳng có sướng, t́m khổ chẳng
được. Khổ hay sướng do tự tâm mê hay ngộ.
Hễ mê bèn khổ, hễ ngộ bèn sướng. Ngộ
bèn hiểu “toàn thể không tịch,
bất lập nhất trần” (toàn thể không tịch,
chẳng lập mảy trần), Lục Tổ bảo: “Vốn chẳng có một vật,
chỗ nào nhuốm bụi trần”. V́ thế, văng sanh
Tây Phương Tịnh Độ “sanh tắc quyết định sanh, khứ tắc
thật bất khứ” (sanh th́ quyết định sanh,
đi th́ thật sự chẳng đi). Lư này rất sâu, cổ
đức đă nêu tỏ đạo lư này trong bộ Tịnh
Độ Sanh Vô Sanh Luận. Cư sĩ Quư Thánh Nhất là
một vị cư sĩ lỗi lạc thời đầu
Dân Quốc đă chú giải bộ Sanh Vô Sanh Luận rất
cặn kẽ, chú giải rất hay. Khi có cơ hội, tôi
sẽ giảng bộ sách này một lượt là tốt
nhất, đối với sự văng sanh Tịnh Độ
của chúng ta rốt cuộc là đi về bên ấy
như thế nào, rốt cuộc có thể văng sanh hay không sẽ
có quyết đoán khẳng định.
“Thật
vô chúng sanh sanh bỉ quốc giả” (thật ra, chẳng
có chúng sanh sanh về cơi ấy), nói thật ra, sanh th́ quyết
định sanh, “thật vô
chúng sanh sanh bỉ quốc giả” là nói theo Lư, văng sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới là nói theo sự
tướng. V́ thế, quư vị phải hiểu rơ câu nói
này, đừng nghe nói “thật
vô chúng sanh sanh bỉ quốc giả”, [bèn nghĩ] chẳng
có hy vọng ǵ nơi Tây Phương Cực Lạc thế
giới hết, lầm lẫn quá đỗi rồi! Lời
này được nói dựa trên góc độ nào? Nói theo Lư,
Lư là vạn pháp đều Như, vạn pháp đều không;
Sự là vạn pháp đều có, vạn pháp đều là!
Quư vị phải hiểu đạo lư này.
Như thế th́ “tắc tâm, cảnh, Lư, Sự, hỗ
tương dung nhiếp” (tâm, cảnh, Lư, Sự dung nhiếp
lẫn nhau), đấy mới là Sự Sự vô ngại thật
sự. Liên Tŕ đại sư phán định kinh này là Phần
Viên, c̣n kinh Hoa Nghiêm là Toàn Viên, [nhận định ấy]
có lư lắm! Bởi lẽ, kinh này cũng giảng Lư Sự
vô ngại, tuy chưa giảng đến Sự Sự vô ngại,
mà đă giảng Lư Sự vô ngại. Giảng đến Sự
Sự vô ngại th́ sẽ hoàn toàn giống hệt kinh Hoa
Nghiêm, đấy thật sự là tự tại vô ngại
viên dung. Chúng ta đă nói đến Lư Sự vô ngại, hết
sức gần với Sự Sự vô ngại. V́ thế,
kinh này đạt được sự viên dung về mặt
giáo nghĩa như kinh Hoa Nghiêm, đó là giáo thể. Giáo thể
nói đến đây mới được coi là viên măn thật
sự.
Trong chương này, như
đă thưa cùng quư vị trong phần trước, chủ
yếu là [khiến cho người đọc] khởi ḷng
tin, hiểu được căn cứ lư luận của
kinh này. Đức Phật chẳng tùy tiện nói kinh Di
Đà này. Nếu hiểu rơ lư luận, sẽ tự nhiên
thông suốt nơi mặt Sự, có thể tin tưởng
Sự. Có Lư, đương nhiên phải có Sự. Hễ có
Sự, bèn có Lư, Lư - Sự chẳng hai, Lư - Sự viên dung. V́
thế, lăo nhân gia chia một đoạn giáo thể thành bốn
tầng, quả thật đă giảng vô cùng hay, giảng rất
viên măn.
Đoạn thứ sáu tiếp
theo đây là giảng về “tông
thú chỉ quy”. Tông (宗) là tông chỉ, tông chỉ là phương pháp tu hành.
Thú (趣) là phương
hướng. Phần tiếp theo đây nhằm thảo luận
tổng cương lănh tu hành, đại phương
hướng tu hành. V́ thế, đoạn này cũng hết
sức quan trọng. Hôm nay đă hết thời gian rồi,
chúng tôi giảng đến chỗ này.
Tập 84
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang một trăm ba mươi
tám:
Lục, tông thú chỉ quy.
六、宗趣旨歸
(Sáu, tông thú chỉ
quy).
Đoạn lớn này chia làm ba
đoạn vừa.
Sơ, tổng trần, nhị dị
giải, tam, chánh ư.
(Huyền Nghĩa) Dĩ tri thử kinh năng thuyên
chi Thể, như thị cai la. Vị thẩm sở tông,
đương tại hà giả. Phù ngữ chi sở
thượng viết Tông, Tông chi sở quy viết Thú, nhi hữu
thông, biệt.
初、總陳。二、異解。三、正意。
(玄義) 已知此經能詮之體,如是該羅。未審所宗,當在何者。夫語之所尚曰宗,宗之所歸曰趣。而有通別。
(Thứ nhất là
nói chung, hai là giải thích những chỗ khác biệt, ba là
tŕnh bày ư chánh.
Huyền Nghĩa: Đă biết cái Thể để
nói kinh này bao trùm như thế; chưa biết rơ điều
được kinh này đề cao là ở chỗ nào. Điều
được văn tự đề cao [trong một bộ
kinh] gọi là Tông, chỗ Tông sẽ dẫn đến gọi
là Thú, [Tông và Thú đều] có thông và biệt).
Vừa mở đầu, đại
sư đă chỉ ra: Đă biết kinh thể của bộ
kinh này, [kinh thể] tức là căn cứ lư luận. Thể
là nói đến căn cứ lư luận, trong phần trên
đă nói Tùy Tướng, Duy Thức, Quy Tánh, Vô Ngại, v́
chúng ta phân tích từng tầng một.
Chúng ta hiểu kinh thể của kinh này lấy trí huệ
và đức năng sẵn có trong Chân Như bổn tánh làm
căn cứ. Do vậy, không ǵ chẳng bao trùm, hết thảy
các pháp thế gian và xuất thế gian đều bao quát trọn
hết. Hiểu rơ căn cứ lư luận, nên chúng ta có thể
tin tưởng. “Vị thẩm
sở Tông” (chưa hiểu rơ Tông), “thẩm” là thẩm sát (審察: suy xét cặn kẽ), chưa hiểu tông chỉ của
bộ kinh này rốt ráo là như thế nào? Tông Chỉ là
nói tới tu hành, mà cũng là cương lănh tu học; v́ thế,
nó hết sức quan trọng. Căn cứ lư luận nhằm
khởi tín tâm, khiến cho chúng ta chẳng hoài nghi, kiến
lập tín tâm. Tông Chỉ là phương hướng chỉ
đạo chúng ta tu hành; do vậy, đoạn này cũng hết
sức trọng yếu. Hai câu tiếp theo đó nhằm giải
thích từ ngữ Tông Thú. “Ngữ
chi sở thượng viết Tông” (điều
được văn tự đề cao th́ là Tông), “thượng” là sùng thượng
(崇尚: đề cao), “ngữ”
(語) là ngôn ngữ;
điều được văn tự trong bộ kinh này
đề cao th́ gọi là Tông. “Tông
chi sở quy viết Thú” (điều được Tông
dẫn đến th́ gọi là Thú), “Thú” có nghĩa là “quy
thú” (歸趣: hướng về, dẫn về), đây cũng là
mục tiêu cuối cùng của Tông Chỉ, điều
đó gọi là Thú. Trong Phật pháp, [nói đến Tông Thú] bèn
có Thông và Biệt. Thông là chung cho hết thảy các pháp môn,
chung cho hết thảy các kinh luận. Biệt là nói riêng về
[Tông và Thú] của bộ kinh này. Đối với Thông và Biệt,
chúng ta đều phải nên biết.
(Huyền Nghĩa) Thông luận Phật
giáo, nhân duyên vi Tông.
(玄義) 通論佛教,因緣為宗。
(Huyền Nghĩa:
Luận định chung về Phật giáo th́ nhân duyên là
Tông).
Đây là nói chung, Phật pháp chẳng
ĺa khỏi nhân duyên. Trong phần trước, tôi cũng
đă từng thưa với quư vị, trong kinh điển
có nói: “
(Huyền Nghĩa) Biệt tắc
y cổ thập môn, tự ngă pháp câu hữu, chí viên dung cụ
đức, hậu hậu, tiền tiền, thứ đệ
thâm thiển. Thị cố chư kinh, các hữu tông thú.
(玄義) 別則依古十門,自我法俱有,至圓融具德,後後前前,次第深淺,是故諸經,各有宗趣。
(Huyền Nghĩa: Về
Biệt th́ tuân theo mười môn của cổ nhân, từ
“ngă và pháp đều có” cho đến “viên dung đầy
đủ các đức”, mỗi môn sau so với môn trước,
theo thứ tự, môn sau sâu hơn môn trước. V́ thế,
các kinh, mỗi kinh đều có Tông Thú riêng biệt).
Trong tổng nhân duyên lại sanh
ra sai biệt, nhưng sai biệt chẳng rời khỏi Tổng,
Tổng chẳng rời khỏi Biệt: Biệt là Biệt
do so với Tổng, Tổng là Tổng của Biệt. Nếu
suy xét tỉ mỉ sâu xa hơn, lại có thể chia thành
mười môn. Mười môn là điều thường
được giáo lư nói đến, nhưng ở đây chẳng
liệt kê trọn vẹn, chỉ nêu một
trường hợp để nói, từ “ngă pháp câu hữu”, đấy là giáo nghĩa Tiểu
Thừa cho đến “viên dung cụ đức” là giáo
nghĩa viên măn của Đại Thừa. Trong mười
môn, nêu ra môn thứ nhất và môn cuối cùng, tỉnh lược
những môn trong khoảng giữa. Mười thứ nhân
duyên sai biệt này được giảng rất tường
tận trong bộ Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao, càng về sau càng
sâu hơn. Môn sau sâu hơn môn trước, chiếu theo thứ
tự từ cạn đến sâu để nói. Hết thảy
các kinh luận Đại Tiểu Thừa đều có mức
độ sâu hay cạn sai khác; v́ thế, mỗi bộ kinh
đều có Tông Thú duy nhất, đặc biệt.
(Sớ) Thượng giả sùng
dă.
(疏) 尚者崇也。
(Sớ: Thượng là tôn sùng).
Tông là điều được
đề cao bởi ngôn ngữ, Thượng có nghĩa là
tôn sùng.
(Sớ) Thánh nhân lập giáo, nhất
bộ ngữ ngôn, hà sở sùng thượng. Sở sùng
thượng giả, danh chi viết Tông.
(疏) 聖人立教,一部語言,何所崇尚。所崇尚者,名之曰宗。
(Sớ: Thánh nhân lập
giáo, cả một khối ngôn ngữ nhằm đề cao
điều ǵ th́ điều được đề cao ấy
sẽ gọi là Tông).
Đây là định nghĩa nhằm
giải thích Tông Thú. Chữ “thánh
nhân” chỉ Thích Ca Mâu Ni Phật, “lập” là kiến lập, “giáo” là giáo học. Ngài kiến lập loại giáo
học này; trong thuở ấy hoàn toàn là ngôn giáo, hằng ngày
[các đệ tử] nghe lăo nhân gia giảng giải, thuyết
minh. Đến cuối cùng, kết tập thành kinh điển,
ghi chép lại thành sách, tức là kinh điển trong hiện
tại. Những kinh điển ấy “hà sở sùng thượng”, tức là rốt cuộc,
kinh điển tôn sùng điều ǵ vậy? Điều
đó gọi là Tông.
(Sớ) Quy giả, chí dă. Lập thử vi Tông, vị
cầu hà sự? Cứu sở quy chí, danh chi viết Thú.
(疏) 歸者至也,立此為宗,為求何事。究所歸至,名之曰趣。
(Sớ: Quy là đạt
đến. Lập ra cái Tông ấy nhằm cầu chuyện
ǵ? Rốt cuộc sẽ đạt đến, quay về
điều ǵ, th́ điều ấy gọi là Thú).
“Quy”
nói thật ra là hướng đến. Nói đến chỗ
rốt ráo, tông chỉ rốt cục nhằm hướng
đến điều ǵ? V́ điều ǵ? Điều đó
chính là Thú. Đây là định nghĩa nhằm giải
thích đơn giản hai chữ Tông và Thú. Trong tông Thiên
Thai, dùng Ngũ Trùng Huyền Nghĩa để giải thích
kinh, phương pháp đơn giản hơn. Trong Ngũ
Trùng Huyền Nghĩa, khoa mục này được gọi
là Minh Tông, nói cạn hơn một chút! Tông là tông chỉ, tức
là phương hướng tu hành, là cương yếu chỉ
đạo sự tu hành của chúng ta. Tông Hoa Nghiêm dùng “thập môn khai khải” phức
tạp hơn, đương nhiên giảng chi tiết
hơn Ngũ Trùng Huyền Nghĩa; đấy là ưu
điểm. Khuyết điểm là quá rườm rà, quá phức
tạp. [Cách giải thích Tông Thú của tông] Thiên Thai đơn
giản, dễ hiểu, đó là chỗ hay của họ.
(Sớ) Nhân duyên giả, giản
dị vô nhân, tà nhân.
(疏) 因緣者,揀異無因邪因。
(Sớ: “Nhân duyên”:
Nhằm phân biệt khác với không có nhân và tà nhân).
Đây là lư do v́ sao đức Phật
đặc biệt nhấn mạnh Nhân Duyên. Nói thật ra, nhân
duyên sanh pháp (pháp sanh bởi nhân duyên), đó là sự thật,
là chân tướng sự thật. Đức Phật thuyết
pháp, chúng ta phải hiểu động cơ (motivation) và mục
đích thuyết pháp của Ngài. Động cơ là v́ chúng
sanh đối với vũ trụ và nhân sinh có nhiều
cách nghĩ, cách nh́n sai quấy, những cách nghĩ cách nh́n
sai quấy ấy là tà tri tà kiến, cho nên họ chuốc lấy
nhiều thứ khổ nạn. Đức Phật thấy
vậy, chẳng đành ḷng; v́ thế, Ngài đại từ
đại bi hiện thân thuyết pháp cho chúng sanh, nhằm
mục đích phá trừ tà tri, tà kiến, giúp chúng ta kiến
lập chánh tri chánh kiến. Đấy là mục đích
thuyết pháp của đức Phật.
Thuở đức Phật xuất
hiện, xứ có mức độ văn hóa cao nhất
trên cả thế giới là Ấn Độ, vượt
trội Trung Quốc. Đức Phật xuất hiện nhằm
nhà Châu của Trung Quốc, cũng là nhằm thời đại
Xuân Thu, sớm hơn Khổng Tử một chút. Khi ấy,
căn bản văn hóa Trung Quốc đă khá vững vàng,
nhưng văn hóa Trung Quốc là văn hóa Nhân Thừa, vẫn
chưa phải là Thiên Thừa. Nho gia và Đạo gia nói
đến cơi người rất nhiều, nói đến
cơi trời rất ít; nhưng tại Ấn Độ thuở
ấy đúng là phi phàm, những nhà triết học và
tư tưởng gia Ấn Độ đă có năng lực
đến được Tứ Thiền Thiên, Tứ Không
Thiên. Đây là một nơi có tŕnh độ
văn hóa cao nhất trên cả thế giới; v́ thế,
đức Phật chẳng xuất hiện tại Trung Quốc
mà xuất hiện tại Ấn Độ, rất có
lư! Đối với Ấn Độ mà giảng lục
đạo sẽ thuận lợi, chứ người Trung
Quốc chưa thể tiếp nhận, bản thân người
Trung Quốc chưa đạt tới tŕnh độ ấy,
ngay cả Khổng lăo phu tử cũng nói: “Kính trọng quỷ thần, nhưng lánh xa”. Khổng
phu tử rất ít bàn về vấn đề này!
Những học giả Ấn
Độ có cách nh́n sai lầm. Chẳng hạn như lục
sư ngoại đạo[1] giảng về
vũ trụ và nhân sinh, nói thật ra, bọn họ đă
đạt tới cảnh giới Tứ Không Thiên nên kiến
lập hai mươi lăm Đế, Đế thứ nhất
gọi là Minh Đế (冥諦). Tư tưởng
Minh Đế tại Trung Quốc cũng có, nhưng không
nói tường tận, rơ ràng như vậy. Thiên thứ nhất
trong sách Ấu Học Quỳnh Lâm[2] của
Trung Quốc có câu “hỗn độn
sơ khai, càn khôn thỉ định” (lúc hỗn độn
sơ khai, trời đất vừa định). Hỗn
độn chính là Minh Đế như lục sư ngoại
đạo Ấn Độ đă nói, đó là cảnh giới
ấy, nhưng không có ai trong chúng ta giảng rơ ràng như thế,
mà chỉ nói hàm hồ, mông lung. Khi đạt đến cảnh
giới ấy, họ cho rằng hết thảy các pháp là “tự nhiên sanh”, tức tự
nhiên phát sanh, đó là quan niệm sai lầm! V́ thế, đức
Phật nói Nhân Duyên nhằm uốn nắn cách nh́n sai lạc
của họ. Nói thật ra, quan điểm của họ
cũng chẳng phải là nói tùy tiện, mà do trong cảnh
giới ấy, thấy hết thảy vạn pháp dường
như từ Không mà Có, tự nhiên sanh ra, chẳng có nhân, chẳng
có nguyên nhân, từ Minh Đế sanh ra. Đó là “vô nhân”, sai lầm!
Loại
thứ hai là “tà nhân”. Tà nhân
chính là họ cho rằng [vạn pháp] đều do Tự Tại
Thiên[3] sanh ra, người Ấn Độ hiện
nay vẫn nói tổ tiên của họ là Đại Phạm
Thiên. Đức Phật dạy chúng ta: Người trên
địa cầu này do đâu mà có? Từ Quang Âm Thiên (Abhassara-deva)
sanh đến. Nói theo cách hiện thời, ngoài vũ trụ chẳng biết có bao nhiêu
người từ các tinh cầu di dân đến địa
cầu của chúng ta, sanh con đẻ cái ở nơi
đây. Cách nói này, tức là nói [mọi thứ đều
do] Đại Phạm Thiên sanh ra, chính là hiểu lầm cái
nhân, nên gọi là “tà nhân”. “Giản dị vô nhân, tà nhân”
(nhằm phân biệt khác với không có nhân và tà nhân), phân
định các cách nói của họ là sai lầm!
(Sớ) Nhất đại thời
giáo, bất xuất nhân duyên.
(疏) 一代時教,不出因緣。
(Sớ: Giáo pháp suốt
một đời đức Phật chẳng ra ngoài nhân
duyên).
“Nhất
đại” là cuộc đời do Thích Ca Mâu Ni Phật
thị hiện trong thế gian này, Ngài sống đến
tám mươi tuổi, năm ba mươi tuổi thị
hiện chứng đạo, đi hoằng pháp lợi sanh,
đến năm tám mươi tuổi nhập Niết
Bàn, toàn bộ [thời gian hoằng pháp] là bốn
mươi chín năm. Suốt bốn mươi chín năm,
đức Phật bôn ba các nơi giáo hóa chúng sanh, dấu
chân in khắp năm xứ Ấn Độ[4], tức là toàn bộ
vùng Ấn Độ. Về phía Nam, Phật từng đến
tận đảo Tích Lan (Sri Lanka), phương Bắc
đến núi Hỷ Mă Lạp Nhă, đấy là khu vực
giáo hóa trong thời đức Phật, khá rộng lớn.
Nói chung, [những giáo pháp do đức Phật đă nói] “chẳng ngoài nhân duyên”.
(Sớ) Như sở vị “nhân
duyên cố sanh diệt, nhân duyên cố tức Không, nhân duyên
cố tức Giả, nhân duyên cố tức Trung”.
(疏) 如所謂因緣故生滅,因緣故即空,因緣故即假,因緣故即中。
(Sớ: Như [trong kinh điển,
đức Phật đă] nói: “Do nhân duyên nên sanh diệt, do
nhân duyên nên chính là Không, do nhân duyên nên chính là Giả, do nhân
duyên nên chính là Trung”).
Mấy câu này hoàn toàn là nói theo
cương lănh, bao gồm Thiên Thai lẫn Hiền Thủ;
nói đến Giáo, chúng ta có thể lấy hai tông phái này làm
đại diện. “Nhân duyên cố
sanh diệt” là ǵ? Tướng sanh diệt chẳng thật,
là giả. Nhân duyên tụ hội bèn sanh, nhân duyên tán bèn diệt.
Quư vị hăy nghiền ngẫm kỹ càng, chúng tôi dùng thí dụ
để nói: Chẳng hạn như, đây là cuốn sách,
sách sanh ra như thế nào? Do nhiều trang giấy đóng
lại bèn gọi là sách; sách được sanh ra. Nếu
nay chúng ta đem photocopy cuốn sách, toàn bộ đều
tháo tung ra, tách ra thành từng trang một, sách bèn diệt,
sách chẳng c̣n nữa, chỉ c̣n từng trang giấy một.
Giấy nhiều ngần ấy gom lại, sách bèn sanh ra; tách
rời ra, sách bèn diệt. Quư vị nghĩ xem trong ấy có
sanh diệt hay không? Nói thật ra, chẳng có sanh diệt,
chẳng qua là duyên tụ hay duyên tán mà thôi!
Người thế gian chấp
trước tướng hư vọng này, cho là có sanh có diệt,
thật ra là bất sanh bất diệt. Tướng sanh diệt
như vừa nói đó, chẳng chân thật! Một pháp là
như thế, mà pháp nào cũng đều giống như vậy,
chẳng có một pháp nào có thể vượt khỏi định
luật này. Chẳng hạn như cái nhà này, nhà do cốt sắt
và xi-măng, rất nhiều vật liệu xây dựng lắp
ghép thành, nhà bèn sanh ra. Cả đống vật liệu xây
dựng chất tại nơi đó th́ chẳng có nhà, nhà bị
diệt rồi! Thật ra, những vật liệu ấy
lắp ghép hay chất đống ở nơi kia đều
nhiều như nhau, chẳng tăng, chẳng giảm. Cho
đến thân thể của chúng ta cũng giống như
thế. Đức Phật gọi thân thể này của
chúng ta là Tứ Đại và Ngũ Uẩn. Tứ Đại
và Ngũ Uẩn là những vật xây dựng nên cái thân này.
Hễ chúng tụ hội, thân này bèn hiện tướng;
chúng phân tán, thân này chẳng c̣n nữa, diệt mất!
V́ thế, hai chữ “sanh diệt” thật ra là chuyện
như thế nào? Chúng ta nói “sanh
tử” th́ sanh tử là ǵ? Sanh là duyên tụ, tử là duyên tán; chỉ có tụ hay tán,
đó là thực tại. Nói sanh tử hay nói sanh diệt
đều là giả, là vọng tướng (tướng
hư vọng), chẳng phải là chân tướng. Chân tướng
duyên tụ hay duyên tán. Hiểu rơ triệt để tầng
[ư nghĩa] này, trong nhà Phật gọi là “liễu sanh tử”, tức là đă thấu triệt
sanh tử rồi! Thấu triệt điều ǵ? Hiểu
rơ, triệt để hiểu rơ! Sau khi đă hiểu rơ, mới
biết điều ǵ? Vốn chẳng có sanh tử, sanh tử
do đâu mà có! Thật sự liễu giải thấu triệt,
sanh chẳng có ǵ đáng sợ, mà tử cũng chẳng có
ǵ đáng sợ, cũng chẳng có ǵ đáng buồn, hoàn
toàn là hiện tượng đúng mực, b́nh thường!
Đấy chính là “sanh tử tự tại” như trong nhà
Phật thường nói. V́ quư vị hiểu rơ, quư vị
bèn tự tại. Liễu sanh tử là nói theo kiểu này: Do
thật sự hiểu rơ, bèn thật sự tự tại. Dẫu xả thân hay thọ thân
trong lục đạo, người ấy cũng rất tự
tại. Ta sắp phải đi đầu thai, đầu
thai giống như ǵ? Thay một bộ quần áo, mặc
một bộ quần áo mới. Ta xả thân, ta muốn ra
đi, thay y phục là được rồi, y phục bẩn
phải đem giặt, thay bộ mới. Xả thân và thọ
thân trong lục đạo giống như chúng ta thay quần
áo, rất tự tại, hết thảy ưu lự thảy
đều chẳng có. Đó là nói “nhân duyên cố sanh diệt” (do nhân duyên, nên có sanh
diệt).
“Nhân
duyên cố tức Không”: Tam Chỉ Tam Quán được
kiến lập theo một bài kệ trong Trung Quán Luận.
Trong thuở ấy, thiền sư Huệ Tư phát hiện
điều này rồi được Trí Giả đại
sư hoàn thiện, thật sự kiến lập tông Thiên
Thai, hoàn toàn sử dụng ư nghĩa này, tức là Tam Quán Tam
Đế. Tam Quán là Không, Giả, Trung. Trung Quán Luận nói: “Nhân duyên sở sanh pháp, ngă thuyết
tức thị Không, diệc danh vi giả danh, diệc danh
Trung Đạo nghĩa” (Pháp do nhân duyên sanh, ta nói chính là
Không, cũng gọi là giả danh, cũng gọi nghĩa
Trung Đạo). Ba câu này là nguồn gốc lư luận của
tông Thiên
Do pháp được sanh bởi
nhân duyên, nó chẳng có tự tánh, bản thể của nó chính
là Không, nó chẳng có tự thể! Có tự thể, sẽ
là thật sự có, chẳng có tự thể th́ là Không.
Chúng ta dùng ngay cuốn sách này để nói th́ bản thể
của cuốn sách này là Không, v́ sao? Nếu quư vị nh́n th́
thấy về căn bản, nó chẳng phải là sách, mà là một trăm mấy chục
trang giấy, chẳng thấy sách, nó là Không. Nếu quan sát
kỹ càng, giấy là ǵ? Rất nhiều sợi “tiêm duy”
(cellulose) gộp thành, nếu dùng kính hiển vi để
nh́n, chúng đều do các nguyên tử và điện tử
[hợp thành], giấy cũng chẳng có! Quư vị bèn hiểu
những vật này không có tự tánh; v́ thế, đức
Phật bảo “bản thể
chính là Không”. Phàm là pháp được sanh bởi nhân
duyên, đều có tánh chất này, đều là rỗng
không, chẳng có tự tánh. Đó là nói chúng không có tự
tánh, chẳng có tự thể. Nói “Không” là nói theo Tánh, hoặc
nói theo Thể. Thể là Không, Phật pháp thường nói: “Vạn pháp đều Không”.
Quư vị liễu giải Thể
Tướng [của vạn pháp] là Không th́ có lợi ǵ? Chẳng
chấp trước! Đoạn trừ tâm tham, đoạn
trừ cái tâm được - mất, v́ sao? Không mà! Quư vị
đạt được ǵ? Đạt được cả
đống rỗng không, mà mất đi th́ cũng là rỗng
không! Chẳng có vọng tưởng được - mất,
rất tự tại! Con người chẳng biết có bao
nhiêu phiền năo đều do [ư niệm] được - mất
sanh ra, chẳng biết được lẫn mất hoàn
toàn là vọng tưởng, chẳng chân thật. Nếu quư
vị thật sự có cái để đạt được,
đức Phật sẽ bội phục quư vị. Quả
thật là “không có ǵ để đạt được”
(vô sở đắc), thứ ǵ cũng đều chẳng
đạt được! Đêm ngủ, ngay cả thân thể
này cũng chẳng biết là ai, quư vị đạt
được cái ǵ? Quư vị hăy nghĩ xem: Quư vị đă
ngủ th́ quư vị có đạt được cái ǵ trong thế
giới này hay chăng? Chẳng đạt được
thứ ǵ, bản thể là Không; ngay cả thân thể của
chính ḿnh c̣n chẳng đạt được, phải biết
điều này. Thân chẳng phải là chính ḿnh!
V́ thế, các triết học
gia Tây Phương nghiên cứu, rốt cuộc Ngă là ǵ? Họ
biết thân chẳng phải là Ngă, v́ thế, mới hiểu
“ta suy tưởng, nên ta tồn
tại”. Ta có thể suy nghĩ th́ cái “có thể suy
nghĩ” đại khái là Ngă! Vẫn sai! Cái có thể suy
nghĩ là ǵ? Thọ, Tưởng, Hành, Thức, trong Phật
pháp bảo những thứ ấy vẫn chưa phải là
Ngă, vẫn là hư vọng. Quư vị khởi vọng
tưởng nơi Ngũ Uẩn Sắc, Thọ, Tưởng,
Hành, Thức, vọng tưởng vẫn chẳng phải
là quư vị, vẫn “bản thể chính là Không”. Triết học
Tây Phương gặp phải nỗi khó khăn này, t́m chẳng
ra bản thể của vũ trụ. Trong Phật pháp, bản
thể của vũ trụ được gọi là Chân
Như pháp tánh. Hiểu Tam Chỉ Tam Quán, thật sự giúp
chúng ta giải quyết khó khăn rất lớn, chẳng
khởi tâm tham đối với hết thảy các pháp, chẳng
khởi tâm phân biệt, chấp trước đối với
hết thảy các pháp th́ mới có thể đạt
được thanh tịnh, tự tại, biết hết
thảy các pháp đều là không tịch.
“Nhân
duyên cố tức Giả” (do nhân duyên nên là Giả). Giả
là ǵ? Nói theo Tướng! Pháp sanh bởi nhân duyên th́ pháp ấy
có hay là không? Có! Thân thể của chúng ta có hay không? Có! Thân
thể là ǵ? Giả tướng. Thể là Không, Tướng
là Giả. V́ có giả tướng, nên quư vị có thể tận
t́nh hưởng thụ, đó đạt được Lạc.
Hưởng thụ, nhưng biết Tướng là Giả;
tuy hưởng thụ nhưng chẳng chấp trước,
người ấy chẳng khổ. Phàm phu chấp trước
nơi hưởng thụ, do chấp trước bèn có khổ,
sanh ra phiền năo, sanh ra mừng, giận, buồn, vui, yêu,
ghét, ham muốn. Phật, Bồ Tát tận t́nh hưởng
thụ, chẳng nẩy sanh thất t́nh ngũ dục. V́
sao các Ngài chẳng sanh phiền năo? V́ các Ngài biết Tướng
giả, Thể không, biết chân tướng sự thật.
Do vậy, trong Phật pháp gọi sự
hưởng thụ của các Ngài là Chánh Thọ, tức là
sự hưởng thụ đúng mực, b́nh thường.
Sự hưởng thụ của chúng ta chẳng đúng mực,
chẳng b́nh thường. Chẳng đúng mực, chẳng
b́nh thường, sẽ sanh phiền năo, sanh tham, sân, si, sanh
thất t́nh ngũ dục, sanh ra những thứ ấy. Phật,
Bồ Tát hưởng thụ giống hệt, nhưng chẳng
sanh phiền năo, chẳng khởi thất t́nh, ngũ dục,
cao minh ở chỗ này! Tông chỉ giáo học của
Phật pháp là “phá mê khai ngộ, ĺa khổ được
vui”. Nói “mê” tức là chẳng hiểu chân tướng sự
thật này, chẳng biết Tướng là giả, Thể
là Không; v́ thế, kẻ ấy sanh phân biệt, chấp
trước, vọng tưởng đối với hết
thảy vạn pháp.
“Nhân
duyên cố tức Trung” (do nhân duyên nên Trung), Trung là
nghĩa Trung Đạo. Trung là ǵ? Tánh và Tướng chẳng
hai là Trung, Thể và Dụng giống hệt như nhau. Thể
là Không, cái Không ấy là Chân Không, chẳng phải ngoan không
(cái Không trơ trơ, chẳng có ǵ, rỗng tuếch),
Tướng là giả, Tướng là có, gọi là Diệu
Hữu. Nói “diệu hữu phi
hữu, chân không bất không” (diệu hữu chẳng phải
là có, chân không chẳng không), đó là nghĩa Trung Đạo.
Thánh nhân thế gian và xuất thế gian đều dạy
chúng ta phải dùng Trung. Thể, Tướng, Dụng, Thể
là Không, Tướng là Giả, phải dùng Trung. Đạo
Trung Dung chẳng lệch lạc, chẳng dựa dẫm,
chẳng thiên về Không mà cũng chẳng thiên về Giả.
Dùng Tâm Kinh để nói th́ chẳng thiên về Không mà cũng
chẳng thiên về Có, đối với hai bên đều
chẳng thiên lệch, chẳng chấp trước Không, mà
cũng chẳng chấp trước Có, hai bên đều chẳng
chấp trước, đó là Trung Đạo.
“Dùng
Trung”, đức Phật dạy chúng ta như thế, Khổng
lăo phu tử của Nho gia cũng dạy chúng ta dùng Trung.
Trong Tứ Thư, sự giáo học của sách Trung Dung là dạy
chúng ta dùng Trung. Sở dĩ Khổng Tử trở thành bậc
đại thánh, là v́ Ngài biết tùy thời giữ lấy
Trung Đạo[5], đó là bậc
phi phàm, bất luận trong thời đại nào, bất
luận h́nh thái xă hội khác nhau như thế nào, Ngài đều
dùng Trung Đạo, chẳng thiên vị, chẳng lệch lạc;
v́ thế, Ngài chẳng lạc hậu. Lệch vào một
bên sẽ nẩy sanh khuyết điểm; v́ thế,
người học Phật phải biết dùng Trung. Nói
theo kinh này, Trung chính là nhất tâm bất loạn. Nhất
tâm là Trung, lệch về một bên sẽ chẳng phải
là nhất tâm.
Bốn câu này đem phối hợp
với Ngũ Giáo để nói, bởi lẽ, trong bộ
Di Đà Kinh Sớ Sao, Liên Tŕ đại sư đă dùng
phương thức chú giải kinh Hoa Nghiêm [để chú
giải kinh Di Đà]. Hoa Nghiêm là Ngũ Giáo, Ngũ Giáo tức
là Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, Viên. Tiểu là Tiểu
Thừa, Thỉ là Đại Thừa Thỉ Giáo, tức khởi
đầu của Đại Thừa, Chung là Đại Thừa
Chung Giáo. Trừ những giáo này ra, c̣n có Đốn Giáo, lại
c̣n có Viên Giáo. Bài kệ trong Trung Quán Luận [được
nhắc tới] trong phần trên không chỉ là căn cứ
lư luận để thành lập tông Thiên Thai, đem bài kệ
ấy áp dụng vào tông Hoa Nghiêm để nói cũng thông suốt.
“Nhân duyên cố sanh diệt”
(Do nhân duyên nên sanh diệt), đó là giáo nghĩa Tiểu Thừa,
“tức Giả, tức Không”
là giáo nghĩa Thỉ Giáo, “nhân
duyên cố tức Trung” là giáo nghĩa của Chung Giáo,
Đốn Giáo và Viên Giáo.
Đại Thừa Chung Giáo song
chiếu hai bên và Trung Đạo, tức là hai bên Thể và
Dụng đều hiểu rơ, đều có cả, chẳng
lệch [về một bên nào]. Đốn Giáo là hai bên Có và
Không đều tách ĺa, đều bỏ hết, cao minh
hơn Chung Giáo. Quư vị cả hai bên đều có, vẫn
chưa bỏ sạch, Đốn Giáo là hai bên đều
không có; hai bên đều thoát bỏ, đó là Đốn
Giáo, đốn siêu! Nói thật ra, hai bên đều có th́
chúng ta thường nói là “nhập thế”, thảy đều
bỏ sạch th́ là “xuất thế”, chẳng cần nữa,
vượt thoát rồi! Nho gia Trung Quốc là Đại Thừa
Chung Giáo, Đạo gia của Lăo Trang là Đốn Giáo, hết
thảy đều bỏ hết!
Viên Giáo viên măn nhất, “giá, chiếu”[6] đồng thời,
ở ngay trong thế gian mà xuất thế gian, điều
ḥa Đốn Giáo và Chung Giáo, hợp thành một Thể,
đó là viên măn rốt ráo nhất. Kinh Hoa Nghiêm dùng
phương pháp này, năm mươi ba lần tham vấn ở
cuối kinh, năm mươi ba vị thiện tri thức,
đó là Viên Giáo, viên dung vô ngại! V́ thế, đạt
đến Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, chẳng
có chướng ngại, đấy mới thật sự là
viên măn. Nay chúng ta xử sự, động tâm đều có
chướng ngại, chẳng thể viên! V́ sao chẳng thể
viên? Chẳng hiểu rơ Lư, chẳng hiểu rơ chân tướng
sự thật. Nếu hiểu rơ lư luận, hiểu rơ chân
tướng sự thật, có ǵ chẳng viên? Viên mới là
hạnh phúc viên măn rốt ráo.
V́ thế, Viên cũng thường
được gọi là “bất
tư nghị, bất khả tư nghị”. Phẩm cuối
cùng của kinh Hoa Nghiêm, tức Tứ Thập Hoa Nghiêm có
đề mục là Nhập Bất Tư Nghị Cảnh
Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Cảnh
giới chẳng thể nghĩ bàn là cảnh giới hạnh
phúc viên măn rốt ráo. Nói theo cách hiện thời như vậy
th́ mọi người sẽ hiểu rất rơ, có kẻ
nào chẳng mong cầu [điều ấy]? Có phải là ai
nấy đều có thể truy cầu điều này
ư? Chuyện này tùy thuộc từng cá nhân. Nếu người
trong thế gian này chẳng thể truy cầu, Thích Ca Mâu Ni
Phật tuyệt đối chẳng giảng bộ kinh này.
Giảng bộ kinh này mà chúng ta làm không được, há chẳng
phải là nhử cho người khác thèm thuồng đó ư?
Làm sao Thích Ca Mâu Ni Phật làm chuyện ấy được?
Làm chuyện ấy sẽ có lỗi với người
trong cơi này. Phàm là những ǵ có thể nói ra được,
đều là những chuyện người trong thế
gian này đều có thể làm được, đó mới
là đại từ đại bi. V́ thế, nhất định
phải hiểu Lư.
Nếu đem phối hợp với
Tứ Giáo của tông Thiên Thai để nói th́ sanh diệt
là Tạng Giáo, “tức Không”
là Thông Giáo, “tức Giả”
là Biệt Giáo, “tức Trung”
là Viên Giáo, đấy chính là Tạng, Thông, Biệt, Viên
như tông Thiên Thai đă nói. Đủ thấy rằng: Lư
luận này thật sự viên măn. Bất luận Hiền Thủ
hay Thiên Thai đều chẳng thể rời khỏi nguyên
tắc và nguyên lư này.
(Sớ) Phật giáo sở tông,
nhân duyên nhiếp tận, cố vân Thông dă.
(疏) 佛教所宗,因緣攝盡,故云通也。
(Sớ: Những
điều được Phật giáo đề cao đều
gồm trọn trong nhân duyên, cho nên nói [nhân duyên] là Tông chung [của
Phật giáo]).
Nhân duyên bao gồm trọn hết.
(Sớ) Thập môn giả, đệ
nhất, ngă pháp câu hữu tông, nội chấp hữu Ngă,
ngoại chấp hữu Pháp, danh vi phụ Phật pháp ngoại
đạo.
(疏) 十門者,第一、我法俱有宗,內執有我,外執有法,名為附佛法外道。
(Sớ: “Mười
môn”: Thứ nhất là tông “Ngă và Pháp đều có”, trong chấp
có Ngă, ngoài chấp có Pháp, gọi là ngoại đạo dựa
hơi Phật pháp).
Ở đây, chúng ta phải
đặc biệt lưu ư, Phật pháp nói “ngoại đạo” không chỉ là những tôn
giáo ngoài Phật pháp, mà c̣n bao gồm cả chính Phật
giáo! Ngoại đạo là ǵ? Ngoài tâm cầu pháp th́ gọi
là ngoại đạo. Nay chúng ta học Phật, chẳng
hướng về tự tánh để cầu, mà hướng
ra ngoài để cầu, tức là ngoại đạo! Nay
chúng ta lạy Phật, chúng ta lạy A Di Đà Phật, cầu
A Di Đà Phật bảo vệ, gia ân cho chúng ta, [tức là
coi] A Di Đà Phật là vật ở ngoài tâm chúng ta, chúng ta
là ngoại đạo, là thứ ngoại đạo ăn
bám Phật giáo, kèm thêm Phật pháp. Trong loại ngoại
đạo này có kèm thêm Phật và Phật pháp. Chúng ta lạy
Phật phải theo cách nào? Phải trở về tự
tánh. Chúng ta lạy A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là vô
lượng giác trong tự tánh của chúng ta, phải biết
trở về tự tánh. Từ h́nh tượng Phật ở
bên ngoài khơi gợi, phát khởi tự tánh giác của chúng
ta, đó là đúng, là chính xác, là nội học. Nội và
ngoại chẳng hai, đó là tương ứng. V́ thế,
chúng ta lạy Quán Âm Bồ Tát nhằm khơi mở ḷng
đại từ đại bi trong tự tánh của chúng
ta, thấy Quán Âm Bồ Tát, nghe danh hiệu Quán Âm Bồ Tát,
ḷng từ bi trong tự tánh bèn tỏ lộ, đó là Quán Âm.
Lục Tổ Đàn Kinh có đoạn: “Từ bi tức Quán Âm, b́nh đẳng, chánh trực
tức Di Đà”, chúng ta phải
ghi nhớ! V́ thế, đừng học Phật đến
nỗi trở thành ngoại đạo dựa hơi Phật
pháp, lầm mất rồi!
Tất cả hết thảy những
thứ lập bày trong Phật pháp đều là công cụ
để dạy học, đều nhằm khơi gợi,
phát khởi tự tánh, thật bất phàm! Phật sự
trong nhà Phật: Giảng kinh, thuyết pháp là Phật sự,
chúng ta vẫn phải thắp nến, chẳng thắp
đèn điện, v́ sao? Nến biểu thị ư nghĩa
có thể chiếu sáng. Ngọn nến biểu thị thiêu
đốt chính ḿnh để soi sáng cho người khác, bỏ
ḿnh v́ người. Chúng ta thấy điều này, phải học
theo ngọn nến. Kinh Hoa Nghiêm nói “thiện tri thức chân đèn, thiện tri thức nến,
thiện tri thức lư hương”, không thứ ǵ chẳng
phải là thiện tri thức! Thiện tri thức ghế
dài, phải học điều ǵ từ ghế dài? Nhẫn
nhục. Mọi người đều ngồi trên nó, nó chịu
đựng. Trong giáo học Phật pháp, sâm la vạn tượng,
hết thảy vạn pháp, không thứ ǵ chẳng dùng đến,
vật dụng để giảng dạy và cách dạy học
vô lượng vô biên, đúng là đẹp đẽ khôn xiết!
Người học Phật chúng ta phải hiểu, hễ
hiểu th́ sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần
lẽ nào chẳng minh tâm kiến tánh? Quư vị chẳng hiểu
đạo lư này th́ căn pḥng này đă sáng như vậy,
c̣n phải đốt hai ngọn nến để làm ǵ? Thậm
chí c̣n nói là lăng phí! Nó có ư nghĩa giáo dục ở trong ấy,
đó là giáo học!
Loại thứ nhất [trong
mười môn] là bên trong chấp trước có Ngă, bên ngoài
chấp trước có Pháp. Quư vị vừa thấy điều
này liền hiểu ngay, Phật pháp từ đầu đến
cuối chỉ có một mục tiêu: Phá chấp trước
mà thôi! Chẳng chấp trước bèn là Phật, là Bồ
Tát, chấp trước bèn là phàm phu. Phàm phu và Phật khác
nhau ở chỗ này! Phá Ngă Chấp, quư vị được
gọi là A La Hán, chẳng gọi là phàm phu. Phá Pháp Chấp,
quư vị được gọi là Bồ Tát, chẳng gọi
là A La Hán. Phá chấp trước mà thôi! Mười tông, nói
thật ra là do đối với mức độ phá hai thứ
chấp trước này sâu hay cạn khác nhau mà kiến lập.
(Sớ) Đệ nhị, Pháp hữu,
Ngă vô tông, tắc dị ngoại đạo.
(疏) 第二、法有我無宗,則異外道。
(Sớ: Thứ hai là
tông “Pháp có, Ngă Không”, khác với ngoại đạo).
Đây là chỗ chẳng giống
với ngoại đạo. “Pháp
hữu, Ngă vô” là Tiểu Thừa. Tiểu Thừa biết
trong hết thảy các pháp chẳng có Ngă, nhưng [vẫn
chấp trước] có Pháp. Ngă là ǵ? Tướng tụ hợp
của Ngũ Uẩn. Ngũ Uẩn ly tán, Ngă bèn diệt;
đó là nhân duyên sanh diệt, nhân duyên tụ tán. Họ biết
không có Ngă, trong Tứ Đại và Ngũ Uẩn không có Ngă,
nhưng chấp trước Tứ Đại và Ngũ Uẩn
là thật. Ví như chúng ta nói “không có sách, nhưng có giấy”,
[chấp trước] giấy có thật, v́ có nhiều trang
giấy như thế đóng thành sách, tách ra th́ gọi là giấy.
Giấy có, sách không có. “Giấy là có”, họ chấp trước
điều này! Sự chấp trước này gọi là Pháp
Chấp, họ có Pháp Chấp. V́ thế, Tiểu Thừa chẳng
thể kiến tánh, nhưng cao minh hơn phàm phu rất nhiều.
Phàm phu trong lục đạo đều chấp trước
“Ngă lẫn Pháp đều có”, có Ngă, có Pháp, chẳng biết
Ngă lẫn Pháp đều là do nhân duyên tụ hay tán, thật
sự chẳng có! Thể là Không, Tướng là Giả. Họ
chẳng biết chân tướng sự thật này, chẳng
thể dùng Trung, mà dùng thiên, dùng tà, lầm lẫn quá lớn!
(Sớ) Diêu thị tùng tiền chí hậu, diêu thiển
nhập thâm, năi chí đệ thập, viên dung cụ đức.
(疏) 繇是從前至後,繇淺入深,乃至第十圓融具德。
(Sớ: Do vậy từ
trước đến sau, từ cạn mà lănh hội sâu dần,
cho đến môn thứ mười là “các đức trọn
đủ viên dung”).
Ở đây đă nhắc đến
[mười tông], chúng tôi cũng nói sơ lược nhằm
giới thiệu danh từ. Môn thứ ba là “pháp vô khứ lai tông”, tức là biết hết thảy
các pháp chẳng đến, chẳng đi, cao minh hơn Nhị
Thừa. Pháp có hay không? Đương nhiên Pháp vẫn là có,
nhưng nó chẳng đến, chẳng đi. Hiện thời
các nhà khoa học dần dần thấu hiểu đạo
lư này: Năng lượng và vật chất có thể chuyển
biến thành lẫn nhau, vật chất có thể biến
thành năng lượng, năng lượng cô đặc
sẽ trở thành vật chất. Vật chất và
năng lượng là một, chẳng hai, đầy ắp
trong vũ trụ, quả thật chẳng đến, chẳng
đi.
Môn thứ tư là “hiện thông giả thật tông”[7]. “Pháp có, Ngă không”,
“pháp không đến đi”, “hiện thông giả thật”,
ba tông này đều có hai pháp Hữu và Không, “nhân duyên sanh diệt, ngă thuyết tức thị Không”
(nhân duyên sanh diệt, ta nói chính là Không), đều bao gồm
ư nghĩa này.
Môn thứ năm là “tục vọng chân thật tông”.
Tục là pháp thế gian, pháp thế gian là hư vọng. Chân
là đối với Tục mà nói, tức là pháp xuất thế
gian, nó thật sự tồn tại, có điều này để
kiến lập tông chỉ.
Môn thứ sáu là “chư pháp đản danh tông” (các pháp chỉ có cái
tên). Chỉ có cái tên, chứ không có thực thể. Hai tông
này (tông thứ năm và thứ sáu) đều thiên trọng
Không.
Môn thứ bảy “tam tánh không hữu tông”,
đây chính là chỗ kiến lập của tông Duy Thức
Pháp Tướng. Tam tánh là Y Tha Khởi Tánh, Biến Kế Sở
Chấp Tánh và Viên Thành Thật Tánh. [Những giáo nghĩa thuộc
tông này] nói về ba tánh và ba vô tánh.
Môn thứ tám là “chân không tuyệt tướng tông”, đây cũng
là thiên trọng nơi Không, từ nghĩa Không mà kiến lập.
Môn thứ chín là “không hữu vô ngại tông”, kiến lập trên
pháp tánh.
Môn thứ mười là “viên dung cụ đức tông”,
kiến lập trên viên dung vô ngại.
(Sớ) Tường cụ Hoa
Nghiêm Huyền Đàm.
(疏) 詳具華嚴玄談。
(Sớ: [Những môn này] được giảng
chi tiết trong Hoa Nghiêm Huyền Đàm).
Nếu quư vị muốn nghiên cứu
cặn kẽ mười tông, trong Tam Tạng Pháp Số và
Phật Học Từ Điển đều có [giải
thích chi tiết]. Giải thích cặn kẽ nhất là Hoa
Nghiêm Kinh Huyền Đàm, tức là bộ phận Huyền
Nghĩa của Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao.
(Sớ) Nhược ước
chi vi ngũ.
(疏) 若約之為五。
(Sớ: Nếu nói gọn th́ có năm môn).
“Ước”
là quy nạp, đem mười tông trên đây quy nạp lại,
chẳng ngoài năm loại.
(Sớ) Bất xuất Hữu,
Không, Pháp Tướng, Pháp Tánh, Viên Dung.
(疏) 不出有、空、法相、法性、圓融。
(Sớ: Chẳng
ngoài Có, Không, Pháp Tướng, Pháp Tánh, Viên Dung).
Năm điều này bao quát toàn
bộ mười tông.
(Sớ) Kim thử kinh giả,
tông hồ Pháp Tánh, dĩ Tịnh Độ y chánh tín nguyện
đẳng, giai quy nhất tâm, nhất tâm bất loạn,
tức Pháp Tánh cố.
(疏) 今此經者,宗乎法性,以淨土依正信願等,皆歸一心,一心不亂,即法性故。
(Sớ: Nay kinh này
đề cao Pháp Tánh, bởi lẽ, y báo, chánh báo trong cơi Tịnh
Độ, tín nguyện v.v... đều quy vào nhất tâm,
mà nhất tâm bất loạn chính là Pháp Tánh).
Ư nghĩa này được nói rất
khéo, rất viên măn. Trong sự luận định về biệt
nghĩa (ư nghĩa riêng biệt) nơi Tông, [từ chỗ
nh́n vào] bộ kinh này thuộc về tầng cấp nào, quư
vị cũng thấy được độ sâu của
pháp môn này. Pháp môn này thuộc về Pháp Tánh chỉ kém viên
dung, viên dung là Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Hoa Nghiêm nói Sự Sự vô
ngại, kinh này nói Lư Sự vô ngại. Nếu [kinh này cũng]
nói Sự Sự vô ngại th́ kinh này sẽ là thuần viên
như kinh Hoa Nghiêm. Nói như vậy, bộ kinh này c̣n kém
kinh Hoa Nghiêm một bậc. Đă kém kinh Hoa Nghiêm một bậc,
cớ sao lại là chỗ quy túc của kinh Hoa Nghiêm? Mười đại nguyện
vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về
Cực Lạc, lấy Tây Phương Cực Lạc thế
giới làm chỗ quy túc, không sai! Nói thật ra, Tây
Phương Cực Lạc thế giới xét theo Hoa Nghiêm
là thật, chẳng giả; v́ sao tổ sư phán giáo chẳng
phán định pháp môn này là viên măn nhất, mà lại phán
định là giáo nghĩa viên măn kém hơn Hoa Nghiêm? Đây
là nói theo căn tánh của chúng ta. Nay đối với
chúng ta, nếu nói Sự Sự vô ngại th́ [chúng ta] chẳng
thể văng sanh, c̣n nay chúng ta học Lư Sự vô ngại th́
ai nấy đều văng sanh, đạo lư là như vậy
đó. Thế nhưng trong hội Hoa Nghiêm, kinh A Di
Đà là thuần viên, là Sự Sự vô ngại, v́ sao? [Cảnh
giới của] Pháp Thân đại sĩ mà! Pháp Thân đại
sĩ đọc kinh Di Đà th́ kinh Di Đà là thuần viên.
Nay chúng ta là hạng phàm phu lè tè sát đất đọc
kinh Di Đà, thấy kinh Di Đà là phần viên th́ đă khá
lắm rồi, rất khó có rồi! V́ thế, pháp này do [thuận
theo căn tánh của] con người mà kiến lập, phải
hiểu ư nghĩa này!
“Tịnh
Độ y báo, chánh báo” là nói đến thế giới
Tây Phương, “Tín - Nguyện
- Hạnh” là chúng sanh văng sanh, đều quy vào nhất
tâm. Y báo và chánh báo do nhất tâm hiện, Tín - Nguyện - Hạnh
do nhất tâm biến. V́ thế, nhất tâm bất loạn
là Pháp Tánh. Pháp Tánh là Phật Tánh, cho nên đức Phật
nói: “Hết thảy chúng sanh
đều có Phật Tánh”. Phật Tánh là nhất tâm, hết
thảy chúng sanh đều có nhất tâm. Nay quư vị chẳng
giữ được nhất tâm, cái tâm bị loạn, vậy
là chẳng có cách nào hết. Đó là chuyện của quư vị,
người nào cũng chẳng giúp quư vị được,
quư vị phải biết điều này!
Do điều này, trong hết thảy
các pháp môn, bản thân tôi trong mấy chục năm đă thể
nghiệm sự nhiệm mầu của Tịnh Độ.
Nhiệm mầu ở chỗ nào? Bất luận chúng ta ở
trong hoàn cảnh nào, đăi người, tiếp vật,
chúng ta tu nhất tâm chẳng bị chướng ngại.
Trong thuận cảnh, mọi người ưa thích ta, ta
tu nhất tâm, không bị chướng ngại. Trong nghịch
cảnh, người này hận ta, kẻ kia chán ghét ta,
người này chửi ta, kẻ nọ muốn đánh ta,
ta vẫn tu nhất tâm bất loạn, vẫn chẳng bị
trở ngại, tu trong tâm địa của chính ḿnh, chẳng
bị ngoại cảnh ảnh hưởng; nhưng tu các
pháp môn khác sẽ bị ảnh hưởng. Chẳng hạn
như mới học tham Thiền, quư vị nhất định
phải có chỗ rất yên tĩnh để tịnh tọa.
Người niệm Phật giữa chỗ náo nhiệt vẫn
một mực niệm A Di Đà Phật, miệng chẳng
niệm, tâm ta niệm, chẳng trở ngại! Đi,
đứng, nằm, ngồi chẳng rời niệm này,
cách này rất tuyệt! V́ thế, dụng công trong pháp môn
này chẳng bị chướng ngại. Đi, đứng,
nằm, ngồi đều có thể niệm, nằm trên giường
cũng có thể niệm, thuận tiện lắm! Những
pháp môn khác có rất nhiều chỗ chẳng thuận tiện
như phương pháp này!
Có thể nói phương pháp này
là một phương pháp tu hành chẳng bị ngoại cảnh
quấy nhiễu mảy may, là phương pháp dễ thành tựu
nhất, giống như trong kinh Hoa Nghiêm đă thị hiện
“trải qua sự để
luyện tâm”. Sự là ǵ vậy? Cảnh giới! Trong hết
thảy cảnh giới, rèn luyện điều ǵ? Rèn luyện
cái tâm thanh tịnh của chính ḿnh. Đối với cảnh
giới bên ngoài, khi ấy hăy xét ḿnh có tâm tham hay không? Có tâm
sân hay không? Có tâm ngu si hay không? Có thể thấy được!
Đối diện hết thảy người và việc
đều hiểu rơ ràng, hiểu Không, Giả, Trung, đó
là chẳng ngu si. Trong thuận cảnh chẳng khởi tâm
tham, trong nghịch cảnh chẳng khởi tâm sân, đó là
nhất tâm bất loạn, đó là công phu chân chánh. V́ thế,
quư vị tu hành mà tách rời hoàn cảnh bên ngoài th́ đến
nơi đâu để tu? Không có chỗ nào để tu cả!
Tu hành chẳng thể ĺa khỏi xă hội, chẳng thể
ĺa khỏi mối quan hệ giữa con người với
nhau, chẳng thể tách rời được! V́ lẽ
nào? Công phu thật sự phải rèn luyện từ ngay
nơi này! Giống như đao muốn bén nhọn, chẳng
thể rời khỏi đá mài. Rời khỏi ḥn đá
mài, đao làm sao sắc bén cho được? Nói thông tục
là: “Chẳng thể chịu
đựng sự khảo nghiệm của thời đại
và quan hệ giữa con người với nhau th́ khảo
nghiệm ở chỗ nào?” Luyện nhất tâm bất
loạn, luyện cái tâm thanh tịnh, công phu của quư vị
mới có thể thành tựu.
Cái tâm thanh tịnh là Chân Như
Phật Tánh của chính ḿnh, phải hiển lộ Chân
Như Phật Tánh của chính ḿnh trong hoàn cảnh. Nhất
tâm bất loạn là Chân Như của chính ḿnh, là Phật
Tánh của chính ḿnh. Hiểu rơ đạo lư này, nếu trong
hoàn cảnh, tâm vừa loạn th́ tham, sân, si, mạn dấy
lên, dấy lên phân biệt, chấp trước, hăy ngay lập
tức cảnh giác “Phật Tánh của chúng ta lại mê rồi!”
Làm như thế nào để thường xuyên giữ ǵn
giác chứ không mê, đấy là tu hành thật sự, là công
phu chân chánh. Đoạn này là nói chung. Đoạn thứ hai
là dị giải (giải thích về những cách phán định
Tông Thú khác biệt).
(Huyền Nghĩa) Kim minh thử
kinh, cổ hữu đa giải.
(玄義) 今明此經,古有多解。
(Huyền Nghĩa:
Nay nêu rơ, đối với kinh này từ xưa đă có nhiều
người giải thích)
Từ xưa đến nay,
người giảng kinh Di Đà rất nhiều, giải
thích rất nhiều.
(Huyền Nghĩa) Hữu vị
tín nguyện vi Tông.
(玄義) 有謂信願為宗。
(Huyền Nghĩa: Có người nói kinh này lấy
tín nguyện làm Tông).
Có người chủ
trương như vậy.
(Huyền Nghĩa) Hữu vị
siêu quá tam giới nhị chủng thanh tịnh vi Tông, linh
chư chúng sanh đắc Bất Thoái Chuyển vi Thú.
(玄義) 有謂超過三界二種清淨為宗,令諸眾生得不退轉為趣。
(Huyền Nghĩa:
Có người bảo “hai thứ thanh tịnh vượt
trỗi tam giới là Tông, khiến cho các chúng sanh đắc
Bất Thoái Chuyển là Thú”).
Đương nhiên cách nói này
cũng không sai, cũng có lư!
(Sớ) Tín nguyện vi Tông giả,
chư giải đa đồng.
(疏) 信願為宗者,諸解多同。
(Sớ: Phần
đông các nhà chú giải chấp nhận tín nguyện là
Tông).
Rất nhiều người giảng
kinh Di Đà chủ trương như vậy, đủ thấy
đây chẳng phải là kiến giải của một cá
nhân, mà là kiến giải của nhiều người.
(Sớ) Dĩ kinh trung lũ ngôn: “Nhược
hữu tín giả, ưng đương phát nguyện, sanh
bỉ quốc độ” cố.
(疏) 以經中屢言:若有信者,應當發願,生彼國土故。
(Sớ: Do trong kinh
nhiều lượt nói: “Nếu là người có ḷng tin,
hăy nên phát nguyện sanh về cơi nước ấy”).
Họ có kinh văn để làm
chứng cứ, chẳng phải là nói tùy tiện, xác thực
là như thế. Trong phần sau, chúng ta sẽ lại bàn về
vấn đề này. Cách nói của Liên Tŕ đại sư
chính là nhằm mở rộng vấn đề này tinh vi
hơn, nhưng cũng chẳng rời khỏi nguyên tắc
này.
(Sớ) Nhị chủng thanh tịnh
giả.
(疏) 二種清淨者。
(Sớ: Hai thứ thanh tịnh là...)
“Hai
thứ thanh tịnh” là nói về điều ǵ vậy?
Chính là y báo và chánh báo.
(Sớ) Luận ngôn Cực Lạc
thế giới, y chánh nhị báo, thanh tịnh trang nghiêm, phi
tam giới sở cập, cố dĩ vi Tông.
(疏) 論言極樂世界,依正二報,清淨莊嚴,非三界所及,故以為宗。
(Sớ: Văng Sanh Luận
nói y báo và chánh báo trong thế giới Cực Lạc thanh tịnh
trang nghiêm, ba cơi chẳng thể bằng, nên lấy hai thứ
ấy làm Tông).
Chữ “luận” chỉ Văng Sanh Luận do Thiên Thân Bồ
Tát soạn. Văng Sanh Luận cũng khuyên người ta niệm
Phật cầu sanh về thế giới Tây Phương, v́
bản thân Thiên Thân Bồ Tát phát nguyện cầu sanh Tây
Phương. Ngài nói y báo và chánh báo trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới thanh tịnh, trang nghiêm, thế giới
Sa Bà chẳng thể sánh bằng, không có cách nào so sánh
được! Có những người dựa theo cách nói của
Văng Sanh Luận, coi đó là tông chỉ [của kinh Di
Đà].
(Sớ) Nhi yếu kỳ sở
quy, vị linh chúng sanh, sanh bỉ thanh tịnh Cực Lạc
quốc độ, sanh bỉ quốc dĩ, tức bất
thoái chuyển, dĩ thử vi Thú.
(疏) 而要其所歸,為令眾生,生彼清淨極樂國土,生彼國已,即不退轉,以此為趣。
(Sớ: Nhưng xét
đến mục đích th́ là làm cho chúng sanh sanh về cơi
nước Cực Lạc thanh tịnh, đă sanh về cơi
ấy liền được bất thoái chuyển, lấy
điều này làm Thú).
Lấy điều này làm chỗ
quy hướng, cách nói này cũng hết sức có lư. Bởi
lẽ, nếu Bồ Tát chẳng tu hành trong Tây Phương
Cực Lạc thế giới, nhất định bị
thoái chuyển, chuyện này phiền phức lắm! Trong
mười phương thế giới, Bồ Tát tu hành th́
phải tu đến khi nào mới chẳng bị thoái chuyển?
Phải tu đến Bát Địa, Bát Địa gọi
là Bất Động Địa, chẳng c̣n thoái chuyển
nữa. Từ Thất Địa trở về trước,
thưa quư vị, đều bị mê khi cách ấm, đều
thoái chuyển. V́ thế, kinh Vô Lượng Thọ đă
nói: Có vô lượng Bồ Tát phát Bồ Đề tâm, trụ
Bồ Tát đạo. Nói “trụ
Bồ Tát đạo” là trong tâm thường nghĩ
đến Lục Độ, tức Bố Thí, Tŕ Giới,
Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Bát Nhă,
dùng cái tâm này, dùng sáu cái tâm này để tự hành, hóa độ
người khác. Đó gọi là “trụ
Bồ Tát đạo”. Cúng dường bốn trăm ức
Phật, quư vị nghĩ xem phước báo của họ
lớn chừng nào! Chẳng qua người Ấn Độ
nói Ức th́ chẳng phải là một vạn vạn là một
Ức, mà là mười vạn là một Ức, [dẫu Ức
của họ nhỏ như vậy] cũng đă bất
phàm rồi! Cúng dường bốn trăm ức Phật,
vẫn bị cách ấm, vẫn bị thoái chuyển!
Điều này khuyến khích, cổ
vũ chúng ta nhất định phải phát tâm cầu sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới, sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới, dẫu là hạ
hạ phẩm văng sanh cũng chẳng bị thoái chuyển,
đều viên chứng ba thứ Bất Thoái. Bởi lẽ,
y báo và chánh báo bên ấy thanh tịnh trang nghiêm, “tam giới chẳng thể sánh bằng”.
Tam giới nói theo nghĩa hẹp là thế giới Sa Bà của
chúng ta, theo nghĩa rộng là thế giới của chư
Phật trong mười phương! Các thế giới của
chư Phật trong mười phương đều là
tam giới, đều chẳng sánh bằng Tây Phương
Cực Lạc thế giới. Nếu sánh bằng th́ v́ sao
mười phương chư Phật đều khuyên mọi
người hăy văng sanh [Cực Lạc]? Đạo lư này rất
hiển nhiên! Các cơi nước Phật trong mười
phương đều chẳng thanh tịnh trang nghiêm bằng
thế giới Tây Phương! V́ thế, các vị đồng
tu phải chân thật tu học pháp môn này, mong trong một
đời này, chúng ta sẽ đạt mục đích. V́
sao phải giảng kinh giáo? Giảng kinh giáo nhằm mục
đích nào? Nhằm kiên định ḷng tin, trừ nghi hoặc
cho quư vị, cổ vũ, khích lệ quư vị phát nguyện,
mục đích giảng kinh là ở chỗ này! Nếu quư vị
đầy đủ tín nguyện, nói cách khác, điều
quan trọng nhất sau tín nguyện là niệm Phật. Hôm
nay đă hết thời gian rồi!
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa,
phần
42 hết
[1] Lục sư ngoại đạo là sáu
người sáng lập sáu trường phái triết học
và tôn giáo chủ yếu thời ấy, gồm:
1) A Kỳ Đa Xí Xá Khâm Bà La (Ajita Kesakambalin) chủ trương Duy Vật Luận, tức là thế giới và con người do Tứ Đại hợp thành, chủ trương con người chết đi là hết, không thiện, không ác.
2) Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên (c̣n phiên là Bạt Câu Đà Ca Chiên Diên, Pakudha Kaccāyana) chủ trương mọi hiện tượng do bảy yếu tố là đất, nước, gió, lửa, khổ, lạc, và mạng hợp thành. Thậm chí giết người không có tội v́ chỉ là lưỡi gươm cắt đứt sự tổ hợp của bảy yếu tố.
3) Phú Lan Na Ca Diếp (Pūrana Kassapa) chủ trương sổ toẹt mọi quy chuẩn đạo đức trong xă hội đương thời, theo thuyết đoạn diệt.
4) Mạt Già Lê Câu Xá Lê Tử (Makkhali Gosāla) chủ trương trần truồng, chủ trương quyết định luận. Chúng sanh khổ hay vui chẳng do nhân duyên, mà tự nhiên nó là như thế! Con người không có cách nào thay đổi số phận.
5) San Xà Dạ Tỳ La Chi Tử (Sañjaya Belatthiputta) chủ trương hoài nghi luận, đề xướng con người khi nào chịu hết khổ sẽ sướng, giống như bánh xe hết lên cao sẽ xuống thấp.
6) Ni Càn Đà Nhă Đề Tử (Nigantha Nātaputta), chủ trương tương đối luận, ông này trở thành thỉ tổ đạo Jain (Kỳ Na Giáo) sau này. Tu sĩ phái này cũng thích lơa thể, họ tin rằng trần truồng là giải thoát mọi vướng mắc, chấp trước!
[2] Ấu Học Quỳnh Lâm là sách vỡ
ḷng cho trẻ học. Tác phẩm này vốn có tên là Ấu Học
Tu Tri do Ngô Đăng Cát (tự Doăn Thăng) biên soạn vào
cuối đời Minh, sau đó được Trâu Thánh Mạch
tu chỉnh, viết lời chú giải, đổi tên thành Ấu
Học Cố Sự Quỳnh Lâm, đến thời Dân Quốc,
được Phí Hữu Dung, Diệp Phố Tôn và Thái
Đông Phiên tu chỉnh lần nữa, gọi gọn là Ấu
Học Quỳnh Lâm. Sách được viết theo loại
Biền Văn, đăng đối rất hoàn chỉnh,
chữ dùng chọn lọc, dễ đọc, dễ nhớ,
bao gồm rất nhiều kiến thức cơ bản
(theo quan niệm thời ấy), xin trích một đoạn
đầu: “Hỗn độn
sơ khai, càn khôn thỉ định. Khí chi khinh thanh, thượng
phù giải vi thiên, khí chi trọng trược hạ
ngưng giả vi địa. Nhật, nguyệt, ngũ
tinh, vị chi thất chánh, thiên địa dữ nhân, vị
chi tam tài. Nhật vi chúng dương chi tông, nguyệt năi
thái âm chi tượng. Hồng danh đế đông, năi
thiên địa chi dâm khí, nguyệt lư thiềm thừ, thị
hạo phách chi tinh hoa” (Hỗn độn sơ khai, trời
đất vừa định. Khí trong nhẹ nổi lên là
trời, khí nặng đục ch́m xuống là đất. Mặt
trời, mặt trăng, năm ngôi sao, gọi là Thất
Chánh. Trời, đất và con người gọi là Tam Tài.
Mặt trời đứng đầu các loại thuộc
dương, mặt trăng là h́nh tượng của thái
âm. Mống trời c̣n gọi là cầu vồng, chính là khí ẩm
thấp trong trời đất [kết thành], con cóc trong mặt
trăng chính là tinh hoa của hồn phách mênh mông [trong vũ
trụ]).
[3] Tự Tại Thiên (Maheśvara)
chính là một danh xưng khác của thần Shiva, một
trong ba ngôi của Bà La Môn. Kinh Phật thường phiên âm vị
này là Ma Hê Thủ La Thiên. Vị thần này thường
được coi là thần hủy diệt, được
tôn sùng nhất trong ba ngôi (Phạm Thiên, Tỳ Nữu và Thấp
Bà). Vị thần này thường được tạc
có ba mắt, bốn tay, lần lượt cầm chĩa
ba, tù và, b́nh nước, và trống, thân bôi tro xanh xám, rắn
hổ mang quấn quanh cổ, cưỡi trâu trắng. Ấn
Độ Giáo thường thờ vị này dưới
h́nh tượng Linga đặt trên Yoni.
[4] Gọi là năm xứ Ấn Độ,
tức là dựa theo cách nói của thời Cổ. Sách Văng
Thế Thư (Puranas) đă chia khu vực Ấn Độ
hiện thời thành năm vùng, gọi chung bằng danh
xưng Ngũ Ấn Độ, Ngũ Thiên Trúc, Ngũ Ấn,
Ngũ Thiên, tức là Pracya, Uttarapatha, Aparanta, Dakshinapatha, và
Majjhimdesa.
[5] Nguyên văn “thời
trung giả dă”. Chữ “thời
trung” xuất phát từ sách Trung Dung. Khổng Tử nói:
“Quân tử chi Trung Dung dă, quân tử
nhi thời trung, tiểu nhân chi phản Trung Dung dă, tiểu
nhân nhi vô kỵ đạn dă”, câu này được giải
thích theo sách Trung Dung Tinh Hoa Tuyển Túy có nghĩa là: Người
quân tử có thể hợp với đạo lư Trung Dung là
do có thể bất cứ lúc nào cũng tuân thủ Trung
Đạo, chẳng thái quá hay bất cập. Kẻ tiểu
nhân sở dĩ trái nghịch Trung Đạo là v́ không hiểu
rơ lư này, chẳng có chuyện ǵ phải kiêng dè mà không dám làm.
[6] Giá: Vượt khỏi hai bên, thoát ngoài
đối đăi.
Chiếu: Thấy có hai bên, nhưng không
vướng mắc vào một bên nào.
[7] Tông này căn cứ trên cách phán định
của tông Hoa Nghiêm đối với Thuyết Giả Bộ
(một bộ phái Tiểu Thừa tại Ấn Độ),
theo đó, không chỉ quá khứ và vị lai đều
không có thật thể, mà các pháp hữu vi trong hiện tại
cũng có pháp là giả, có pháp là thật. Do pháp hiện tại
bao gồm cả giả lẫn thật nên mới gọi
Hiện Thông Giả Thật Tông.