A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 44

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 87

 

Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm bốn mươi sáu, đoạn lớn thứ bảy của phần Huyền Nghĩa.

 

      Thất, bộ loại sai biệt

      七、部類差別

      (Bảy, bộ loại sai khác).

 

      Trong đoạn này lại chia thành ba tiểu đoạn:

 

      Sơ minh bộ. Nhị minh loại. Tam phi bộ phi loại.

      明部。二明類。三非部非類。

      (Thứ nhất là nói về bộ, thứ hai là giảng về loại, thứ ba là [nói về những kinh] chẳng thuộc về bộ hay loại).

       

      Trước hết, chúng ta coi tiểu đoạn thứ nhất.

 

      Sơ, minh bộ.

      (Huyền Nghĩa) Dĩ tri thử kinh, tông thú xung thâm, vị thẩm đương bộ đẳng loại, vi hữu kỷ chủng. Sơ tiên minh bộ giả, bộ hữu nhị chủng: Nhất vi Đại Bổn, nhị vi thử kinh.    

      初明部。

      (玄義) 已知此經,宗趣沖深,未審當部等類,為有幾種。初先明部者,部有二種:一謂大本,二謂此經。

      (Trước hết, nói về bộ.

      Huyền Nghĩa: Đă biết kinh này có Tông và Thú sâu xa, chưa rơ nếu xét theo bộ loại th́ sẽ có mấy loại. Trước hết, nói về bộ, bộ có hai loại: Một là Đại Bổn, hai là kinh này).

       

      Khi nghiên cứu kinh Di Đà, cũng chẳng thể thiếu khuyết đoạn này. Trong một đời giáo học của đức Phật, nói tới pháp môn này, trừ bộ kinh này ra, những kinh hoàn toàn tương đồng với pháp môn này sẽ được gọi là “đồng bộ”. Những kinh điển nào hoàn toàn tương đồng? [Ngoài ra, c̣n có những kinh] chẳng hoàn toàn tương đồng, nhưng là cùng một loại, [tức là] đều cùng nói tới chuyện văng sanh Tây Phương Tịnh Độ. Đồng bộ th́ đều dùng phương pháp tŕ danh. Dùng phương pháp bất đồng là như Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh dùng quán tưởng. C̣n có [các kinh khác] dùng tŕ chú, hay dùng phương pháp khác, nhưng đều là cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, những kinh ấy gọi là “đồng loại”. C̣n có những kinh chẳng phải là đồng loại mà cũng chẳng phải là đồng bộ, [tức là] giảng kèm thêm [Tịnh Độ], những kinh điển ấy càng nhiều. Giảng kèm thêm, khuyên chúng ta niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đại khái có hơn một trăm loại. Do vậy, biết rằng: Trong bốn mươi chín năm giáo học, Thích Ca Mâu Ni Phật coi trọng pháp môn này, cho nên không ngừng tuyên dương. Chúng ta xem lời chú giải:

 

      (Sớ) Bộ giả, dĩ thị tổng quy nhất bộ, nhi hữu tường lược.

      () 部者,以是總歸一部,而有詳略。

      (Sớ: “Bộ” là cùng gom chung vào một bộ, nhưng giảng giải chi tiết hay đại lược [khác nhau]).

 

      Cùng thuộc một bộ kinh, nhưng có kinh giảng tỉ mỉ hơn một chút, có kinh giảng đơn giản hơn một chút.

 

      (Sớ) Tường vi Đại Bổn.

      () 詳為大本。

      (Sớ: Giảng tường tận là Đại Bổn).

 

      Đại Bổn là kinh Vô Lượng Thọ, giảng tỉ mỉ.

 

      (Sớ) Lược vi thử kinh.

      () 略為此經。

      (Sớ: Giảng đại lược là kinh này).

 

      “Thử kinh” là kinh A Di Đà, tức Tiểu Bổn, văn tự ít, giảng tỉnh lược một chút.

 

      (Sớ) Đại Bổn hữu lục.

      () 大本有六。

      (Sớ: Đại Bổn có sáu loại).

       

      Tổng cộng có sáu thứ (sáu bản dịch khác nhau).

 

      (Sớ) Nhất danh Vô Lượng B́nh Đẳng Thanh Tịnh Giác Kinh, Hậu Hán Chi Lâu Ca Sấm dịch.

      () 一名無量平等清淨覺經,後漢支婁迦讖譯。

      (Sớ: Bản thứ nhất tên là Vô Lượng B́nh Đẳng Thanh Tịnh Giác Kinh do ngài Chi Lâu Ca Sấm (Lokasema)[1] dịch vào thời Hậu Hán).

 

      Các bản dịch thời cổ gồm mười hai loại, hiện thời chỉ c̣n giữ được năm loại.

 

      (Sớ) Nhị danh Vô Lượng Thọ Kinh, Tào Ngụy Khang Tăng Khải dịch. Tam danh A Di Đà Kinh, dữ kim kinh đồng danh, Ngô Chi Khiêm dịch.

      () 二名無量壽經,曹魏康僧鎧譯。三名阿彌陀經,與今經同名,吳支謙譯。

      (Sớ: Bản thứ hai có tên là Vô Lượng Thọ Kinh, do ngài Khang Tăng Khải dịch vào thời Tào Ngụy, bản dịch thứ ba tên là A Di Đà Kinh, có cùng tên với kinh này, do ngài Chi Khiêm[2] dịch vào đời Ngô).

      Ngô là Đông Ngô, Tào Ngụy đều là thời đại Tam Quốc.

 

      (Sớ) Tứ danh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh, Tống Pháp Hiền dịch.

      () 四名無量壽莊嚴經,宋法賢譯。

      (Sớ: Bản thứ tư tên là Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh, do ngài Pháp Hiền[3] dịch vào đời Tống).

 

      Đây là nhà Triệu Tống[4], sau nhà Đường là nhà Tống, Triệu Khuông Dận làm hoàng đế của triều đại này.

 

      (Sớ) Ngũ xuất Bảo Tích đệ thập bát kinh, danh Vô Lượng Thọ Như Lai Hội, Nguyên Ngụy Bồ Đề Lưu Chí dịch.

      () 五出寶積第十八經,名無量壽如來會,元魏菩提流志譯。

      (Sớ: Bản thứ năm trích từ quyển mười tám của kinh Bảo Tích, có tên là Vô Lượng Thọ Như Lai Hội, do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch vào thời Nguyên Ngụy).

 

      Quyển thứ mười tám của kinh Đại Bảo Tích là Vô Lượng Thọ Như Lai Hội, có ư nghĩa hoàn toàn giống với kinh Vô Lượng Thọ. Vương triều Nguyên Ngụy[5] thuộc thời đại Nam Bắc triều, do Thác Bạt Khuể thành lập. Đây là năm loại bản dịch trực tiếp từ Phạn văn, là bản dịch từ nguyên văn.

 

      (Sớ) Lục danh Phật Thuyết Đại A Di Đà Kinh, Tống Long Thư cư sĩ Vương Nhật Hưu giả.

      () 六名佛說大阿彌陀經,宋龍舒居士王日休者。

(Sớ: Bản thứ sáu mang tên Phật Thuyết Đại A Di Đà Kinh, do cư sĩ Long Thư Vương Nhật Hưu đời Tống).

 

      Thứ sáu là bản hội tập do cư sĩ Vương Long Thư (Vương Nhật Hưu) đời Tống hội tập. Long Thư là địa danh, hiện nay là Thư Thành thuộc tỉnh An Huy. [Vương Nhật Hưu được] gọi là Long Thư là do người đời sau tôn xưng ông ta. Vị cư sĩ này cả đời học Phật, hoàn cảnh gia đ́nh khá giả, sau khi đậu Tiến Sĩ, không ra làm quan, có công danh, nhưng không làm quan. Gia cảnh khá giả, sống thoải mái, chuyên tu Tịnh Độ. Ông ta đă dùng mấy bản dịch thời cổ, nhưng chỉ đọc bốn bản dịch, chưa đọc kinh Bảo Tích, hội tập bốn thứ bản dịch, biên soạn thành một bản mới, nay chúng ta gọi là Đại A Di Đà Kinh, [bản ấy] do cư sĩ Long Thư biên soạn. Bản biên tập này vẫn chưa hoàn toàn lư tưởng, người đời sau phê b́nh ông ta cũng rất nhiều. Có người nói khi ông biên tập kinh này, đại khái thuộc độ tuổi trung niên, cũng tức là nói ông ta biên tập khi công phu tu hành của chính ḿnh vẫn chưa thành tựu. Cuốn Long Thư Tịnh Độ Văn thật sự lỗi lạc, đó là tác phẩm [do ông Vương] viết vào lúc tuổi già. Chính ông ta đứng văng sanh, biết trước lúc mất, không ngă bệnh. Có thể thấy ông ta văng sanh phẩm vị chắc chắn chẳng thấp. Đây là một vị tại gia cư sĩ, suốt đời niệm A Di Đà Phật.

 

      (Sớ) Tổng thủ tiền chi tứ dịch, tham nhi hội chi. Duy trừ Bảo Tích, bỉ sở vị cập.

      () 總取前之四譯,參而會之。唯除寶積,彼所未及。

      (Sớ: Đă gộp chung bốn bản dịch đầu tiên để tham khảo, hội tập. Chỉ trừ bản dịch trong kinh Bảo Tích là chưa dùng đến).

 

      Tham khảo rồi hội tập. Ông ta chỉ dùng bốn bản dịch gốc để soạn thành bản hội tập.

 

      (Sớ) Nhiên thượng ngũ dịch, hỗ hữu dị đồng. Hán Ngô nhị dịch, tứ thập bát nguyện, chỉ tồn kỳ bán, vi nhị thập tứ, kỳ dư văn trung, đại đồng tiểu dị.

      () 然上五譯,互有異同。漢吳二譯,四十八願,止存其半,為二十四,其餘文中,大同小異。

      (Sớ: Nhưng trong năm bản dịch ấy, có những chỗ giống nhau và khác biệt. Trong hai bản dịch thuộc đời Hán và Ngô, bốn mươi tám nguyện chỉ c̣n một nửa, tức là hai mươi bốn nguyện. Những phần kinh văn khác, chỉ khác biệt đôi chút).

     

      Bản Hán dịch là B́nh Đẳng Thanh Tịnh Giác Kinh, bản Ngô dịch là A Di Đà Kinh. Đối với bốn mươi tám nguyện, bản B́nh Đẳng Thanh Tịnh Giác Kinh và bản A Di Đà Kinh do ngài Chi Khiêm dịch đều là hai mươi bốn nguyện. Các bản dịch của Khang Tăng Khải và Pháp Hiền đều là bốn mươi tám nguyện. Đối với bản hội tập của cư sĩ Hạ Liên Cư, quư vị mở xem phần kinh văn hai mươi bốn nguyện [sẽ thấy] vốn là bốn mươi tám nguyện. Trong một nguyện, [nhiều khi] cụ đă gộp hai hay ba nguyện lại. Trên thực tế, hai mươi bốn nguyện và bốn mươi tám nguyện nội dung hoàn toàn tương đồng, chỉ là những điều mục được gộp vào hay tách ra khác nhau mà thôi. Do vậy, bản hội tập của cư sĩ Hạ Liên Cư hay hơn bản do Vương Long Thư biên soạn, hay hơn cả mấy bản dịch gốc, đúng là đă biên tập những chỗ tinh hoa trong các bản dịch cổ, biên tập vô cùng khéo. Nay chúng ta đang dùng bản này.

 

      (Sớ) Vương thị sở hội, giảo chi ngũ dịch, giản dị minh hiển, lưu thông kim thế, lợi ích thậm đại.

     () 王氏所會,較之五譯,簡易明顯,流通今世,利益甚大。

      (Sớ: Bản hội tập của họ Vương, so với năm bản dịch gốc, đơn giản, dễ đọc, rơ ràng, được lưu thông trong hiện thời, có lợi ích rất lớn).

     

      Đây là cái nh́n của Liên Tŕ đại sư trong đời Minh, có thể thấy thuở ấy, bản Đại A Di Đà Kinh do cư sĩ Long Thư biên tập rất được người khác hoan nghênh.

 

      (Sớ) Đản kỳ bất diêu Phạn bổn, duy chước Hoa văn, vị thuận dịch pháp.

      () 但其不繇梵本,唯酌華文,未順譯法。

      (Sớ: Nhưng bản ấy chẳng phát xuất từ [chánh kinh bằng] tiếng Phạn, chỉ châm chước từ những bản tiếng Hán, chưa theo đúng cách dịch thuật).

 

      Ông ta không phiên dịch từ nguyên bản tiếng Phạn, mà chỉ dùng bốn bản dịch tiếng Hán để biên tập thành một bản mới mà thôi!

 

      (Sớ) Nhược dĩ Phạn bổn trùng phiên nhi thành lục dịch, tức vô nghị hĩ.

      () 若以梵本重翻而成六譯,即無議矣。

      (Sớ: Nếu dùng bản tiếng Phạn để dịch lại thành bản dịch thứ sáu, sẽ chẳng có ai dị nghị).

     

      Mọi người sẽ chẳng tranh căi với ông ta.

 

      (Sớ) Cố bỉ bất ngôn dịch, nhi ngôn giảo chánh dă.

      () 故彼不言譯而言校正也。

      (Sớ: V́ thế, ông ta không nói là dịch, mà nói là giảo chánh).

 

      Cư sĩ Vương Long Thư rất khiêm hư, không nói là phiên dịch, mà nói là “giảo chánh”, tức là gộp mấy phiên bản lại để chỉnh lư.

 

      (Sớ) Hựu kỳ trung khứ thủ cựu văn, diệc hữu vị tận.

      () 又其中去取舊文,亦有未盡。

      (Sớ: Hơn nữa, trong bản hội tập, việc chọn lựa để bỏ đi, hay giữ lại những câu kinh văn từ các bản dịch cổ cũng chưa trọn vẹn).

 

      Đây là những chỗ phê b́nh đối với [bản hội tập của] ông ta; nói cách khác, ông ta đă bỏ sót những chỗ trọng yếu, đáng tiếc quá!

 

      (Sớ) Như tam bối văng sanh.

      () 如三輩往生。

      (Sớ: Như trong phần ba bậc văng sanh).

     

      Đây là một đoạn kinh văn rất trọng yếu, giảng về ba bậc văng sanh.

 

      (Sớ) Ngụy dịch.

      () 魏譯。

      (Sớ: Bản dịch đời Ngụy).

 

      Tức là bản của ngài Khang Tăng Khải.

 

      (Sớ) Giai viết phát Bồ Đề tâm.

      () 皆曰發菩提心。

      (Sớ: [Đối với cả ba bậc] đều nói là “phát Bồ Đề tâm”).

 

      Đối với văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, phát Bồ Đề tâm rất trọng yếu.

 

     (Sớ) Nhi Vương thị duy trung bối phát Bồ Đề tâm, hạ viết bất phát, thượng cánh bất ngôn, tắc cao hạ thất thứ.

      () 而王氏唯中輩發菩提心,下曰不發,上竟不言,則高下失次。

      (Sớ: Nhưng ông Vương chỉ nói bậc Trung phát Bồ Đề tâm, bậc Hạ chẳng phát, c̣n bậc Thượng hoàn toàn chẳng nhắc tới. Đấy chính là đă đánh mất thứ tự cao thấp).

 

      Đây là chỗ thiếu hoàn mỹ của ông ta. Trong bản dịch của ngài Khang Tăng Khải, các bậc đều phải phát Bồ Đề tâm, v́ Tây Phương Cực Lạc thế giới là Đại Thừa Phật pháp; chẳng phát Bồ Đề tâm sẽ không tương ứng với Tây Phương Tịnh Độ. V́ thế, phát Bồ Đề tâm rất trọng yếu. [Trong bản hội tập của ông Vương], thượng phẩm không nhắc tới, văn tự bị thiếu sót, trung phẩm th́ có, trong phần hạ phẩm, ông ta bảo “chẳng phát”. Đây là chỗ bị người khác phê b́nh, bảo là “cao hạ thất thứ” (đánh mất thứ tự cao thấp). Nếu coi “chẳng phát Bồ Đề tâm” là cao, mà do hạ phẩm chẳng phát, [vậy th́ lẽ ra hạ phẩm] phải cao hơn trung phẩm, đây là thứ tự điên đảo. Nếu coi phát Bồ Đề tâm là cao, mà [trong phần kinh văn] thượng phẩm lại mơ hồ chẳng nói. Đây cũng là chỗ khiến cho người ta nghi hoặc.

 

      (Sớ) Thả văn trung đa thiện căn, toàn tại phát Bồ Đề tâm, nhi tam bối bất đồng, đồng nhất phát tâm, chánh văng sanh yếu chỉ, năi phản lược chi, cố vân vị tận.

      () 且文中多善根,全在發菩提心,而三輩不同,同一發心,正往生要旨,乃反略之,故云未盡。

      (Sớ: Hơn nữa, “nhiều thiện căn” [như đă được nói] trong kinh văn hoàn toàn do phát Bồ Đề tâm, tuy ba bậc khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ phát tâm, đấy chính là tông chỉ trọng yếu trong văng sanh, mà ông ta lại ngược ngạo gạt bỏ, cho nên nói là “chưa trọn vẹn”).

 

      Điều này có nghĩa là như cổ nhân đă nói: “Tuy hay khéo lắm, nhưng chưa trọn vẹn!” Chưa thể đạt đến tận thiện tận mỹ, nên bản này có khuyết điểm, sai sót. Đây là một ví dụ rất rơ rệt. Ở đây nêu rơ: Cả ba bậc đều cùng phát tâm. Đây là điều kiện văng sanh trọng yếu nhất, nhất định phải “phát Bồ Đề tâm”. Ông ta tỉnh lược đi, đó là chuyện rất đáng tiếc!

 

      (Sớ) Nhiên kim Sớ Sao sở dẫn, nghĩa tắc kiêm thâu ngũ dịch, ngữ tắc đa tựu Vương văn.

      () 然今疏鈔所引,義則兼收五譯,語則多就王文。

      (Sớ: Nhưng nay những phần kinh Vô Lượng Thọ được trích dẫn trong bản Sớ Sao này, ư nghĩa bao gồm cả năm bản dịch gốc, nhưng kinh văn phần nhiều trích theo bản của ông Vương).

 

      Trong bản Sớ Sao do Liên Tŕ đại sư biên soạn có những phần trích dẫn, Ngài giải thích: Những ư nghĩa ấy chủ yếu dựa theo năm thứ bản dịch gốc của kinh Đại Bổn, nhưng kinh văn trích dẫn, đa phần chọn lựa từ bản của ông Vương Long Thư. Ông Vương Long Thư giỏi văn chương, văn chương khéo léo [nên Tổ dùng bản ấy để trích dẫn kinh văn], nhưng [luận định] nghĩa lư th́ luôn tuân thủ năm bản dịch gốc từ thời cổ. V́ thế, cái hay của Sớ Sao là ở chỗ này! Có thể nói: Đọc bộ Sớ Sao là đọc toàn bộ tất cả kinh luận của Tịnh Độ Tông, v́ toàn bộ đều được trích dẫn. Không chỉ trích dẫn năm bản dịch ấy, mà Quán Kinh, Cổ Âm Vương Kinh, Bi Hoa Kinh thảy đều trích dẫn. [Ngay cả những kinh] không phải đồng bộ, mà cũng chẳng phải đồng loại như kinh Hoa Nghiêm và kinh Pháp Hoa, thảy đều được trích dẫn. Do vậy, Sớ Sao quả thật mênh mông, to lớn, tinh tường, sâu xa. Đấy là lời tán thán của Ngẫu Ích đại sư. Nói cách khác, học Phật không chỉ là học Tịnh Độ Tông, quư vị đọc Sớ Sao mà thật sự đọc thông suốt th́ tất cả các tông phái khác cũng đều thông suốt, v́ [kinh điển của các tông phái khác] Ngài đă đều trích dẫn rồi! Đối với chúng ta hiện thời mà nói, bộ sách này càng đúng là lợi ích chẳng thể nghĩ bàn!

 

      (Sớ) Dĩ Vương bổn thế sở thông hành, nhân tập kiến cố.

      () 以王本世所通行,人習見故。

      (Sớ: Do bản của ông Vương phổ biến trong cơi đời, người ta đă quen thấy).

 

      Chọn văn tự của Vương Long Thư có cái lợi là mọi người [cảm thấy] quen thuộc.

 

      (Sớ) Dư ngũ gián thủ.

      () 餘五間取。

      (Sớ: Đôi khi chọn từ năm bản dịch gốc).

     

Đôi khi cũng phải chọn từ năm bản dịch cổ.

 

      (Sớ) Nhi khái dĩ Đại Bổn tiêu chi, cố thượng lục chủng giai danh Đại Bổn.

      () 而槩以大本標之,故上六種皆名大本。

      (Sớ: Nhưng đều gọi chung là Đại Bổn, bởi cả sáu bản trên đây đều được gọi là Đại Bổn).

     

       Trong Sớ Sao, hễ nhắc đến Đại Bổn, [th́ danh xưng Đại Bổn] bao gồm sáu thứ này. Sáu thứ này đều được gọi là Đại Bổn; nhưng rốt cuộc chọn lấy bản nào th́ nhất định phải là bản mà chính quư vị cảm thấy thân thuộc nhất. Khi không quen, quư vị sẽ t́m không được, sẽ chẳng biết là bản nào!

 

      (Sớ) Kim thử kinh giả, danh vi Tiểu Bổn.

      () 今此經者,名為小本。

      (Sớ: Nay kinh này được gọi là Tiểu Bổn).

     

      Kinh A Di Đà do Cưu Ma La Thập đại sư phiên dịch được gọi là Tiểu Bổn.

 

      (Sớ) Văn hữu phồn giản, nghĩa vô thắng liệt.

      () 文有繁簡,義無勝劣。

      (Sớ: Kinh văn chi tiết hay đơn giản, nhưng ư nghĩa chẳng hơn kém).

     

      Hai câu này rất trọng yếu. “Văn hữu phồn giản”: Văn tự có dài hay ngắn, kinh Vô Lượng Thọ văn tự nhiều, kinh văn dài. Kinh văn của kinh Di Đà ngắn, nhưng “nghĩa vô thắng liệt” (ư nghĩa chẳng hơn kém), nội dung như nhau, ư nghĩa hoàn toàn như nhau. Do vậy, hai bộ kinh này thuộc loại đồng bộ, giống nhau, một kinh giảng tỉ mỉ, kinh kia giảng tỉnh lược một chút.

 

      Nhị, minh loại

      二、明類

      (Thứ hai là nói về loại)

 

      Đoạn thứ hai giảng về “loại”. Loại là chẳng cùng bộ.

 

      (Huyền nghĩa) Nhị, minh loại giả, tự hữu tam chủng: Nhất Quán Kinh, nhị Cổ Âm Vương Kinh, tam Hậu Xuất A Di Đà Kệ Kinh.

      (玄義) 二、明類者,自有三種:一觀經,二鼓音王經,三後出阿彌陀偈經。

      (Huyền Nghĩa: Hai, nói về loại th́ có ba thứ: Một là Quán Kinh, hai là Cổ Âm Vương Kinh, ba là Hậu Xuất A Di Đà Kệ Kinh).

 

      Đây là ba bản khác nhau.

 

      (Sớ) Loại giả, bất đồng kỳ bộ, nhi đồng kỳ loại. Như tùng côn đệ, tuy bất đồng phụ, nhi đồng kỳ tổ, diệc danh tỷ kiên, tương vi đẳng di, cố viết đồng loại.

      () 類者,不同其部,而同其類。如從昆弟,雖不同父,而同其祖,亦名比肩,相為等夷,故曰同類。

      (Sớ: “Loại” là chẳng cùng bộ, mà cùng loại. Như anh em họ, tuy chẳng cùng một cha, nhưng có cùng một tổ, cũng gọi là “ngang vai vế”, cùng là ngang hàng, nên gọi là “đồng loại”).

 

      “Đồng bộ” giống như cùng một người, hoàn toàn tương đồng. “Đồng loại”: Tuy không phải là cùng một người, nhưng giống như anh em họ, tuy không có cùng một cha, nhưng có cùng một ông nội. Quan hệ “đồng loại” cũng hết sức mật thiết.

 

      (Sớ) Quán Kinh giả, Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh.

      () 觀經者,觀無量壽佛經。

      (Sớ: Quán Kinh là Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh).

     

      Tuy mục tiêu cũng là văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhưng phương pháp tu hành khác nhau, kinh này dùng phương pháp quán tưởng.

 

      (Sớ) Cụ đàm thập lục diệu môn.

      () 具談十六妙門。

      (Sớ: Giảng trọn vẹn mười sáu phép Quán mầu nhiệm).

 

      Có mười sáu phép Quán.

 

(Sớ) Nhất Tâm Tam Quán, tường bổn Sớ Sao.

() 一心三觀,詳本疏鈔。

(Sớ: Nhất Tâm Tam Quán được giảng chi tiết trong cuốn Sớ Sao của kinh ấy).

 

      Chữ “bổn Sớ Sao” chỉ Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao. Nói theo lư luận Tịnh Độ, bộ kinh ấy cũng rất trọng yếu.

 

      (Sớ) Cổ Âm Vương Kinh giả, Phật tại Chiêm Ba đại thành, Già Già linh tŕ, dữ tỳ-kheo bách nhân thuyết. Trung vân: “Nhược hữu tứ chúng, thọ tŕ A Di Đà Phật danh hiệu, lâm mạng chung thời, Phật dữ thánh chúng, tiếp dẫn văng sanh” đẳng.

      () 鼓音王經者,佛在瞻波大城,伽伽靈池,與比丘百人說。中云:若有四眾,受持阿彌陀佛名號,臨命終時,佛與聖眾,接引往生等。

      (Sớ: Cổ Âm Vương Kinh[6]: Đức Phật ngự tại đại thành Chiêm Ba (Campaka), nơi ao thiêng Già Già, giảng cho một trăm vị tỳ-kheo. Trong ấy có đoạn nói: “Nếu có tứ chúng thọ tŕ danh hiệu của A Di Đà Phật, khi lâm chung, Phật và thánh chúng sẽ tiếp dẫn văng sanh” v.v...)

 

      Cách nói này hoàn toàn chẳng khác ǵ Đại Bổn và kinh này. V́ thế, nó và kinh này cũng là đồng loại, đều nhằm khuyên con người văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới .

 

      (Sớ) Hậu Xuất Kệ Kinh giả, thỉ chung duy kệ, thị già đà bộ.

      () 後出偈經者,始終唯偈,是伽陀部。

      (Sớ: Hậu Xuất Kệ Kinh là từ đầu đến cuối đều là kệ, thuộc loại Già-đà).

     

Kệ Kinh từ đầu đến cuối là kệ tụng. “Già-đà” (Gāthā) là Cô Khởi Tụng, nhằm phân biệt không phải là Trùng Tụng (Geya).

 

      (Sớ) Trung vân: “Phát nguyện dụ chư Phật, thệ nhị thập tứ chương”.

      () 中云:發願喻諸佛,誓二十四章。

      (Sớ: Trong ấy có đoạn: “Phát nguyện vượt chư Phật, lời thề hăm bốn chương”).

 

      Có cùng số chữ với Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh.

 

      (Sớ) Nguyện chỉ tồn bán, dữ Hán Ngô nhị dịch đồng, nhi tứ thập bát nguyện, tự cổ cập kim, truyền dương dĩ cửu, nhị thập tứ giả, hoặc Phạn bổn khuyết lược, vị khả tri dă.

      () 願止存半,與漢吳二譯同,而四十八願,自古及今,傳揚已久,二十四者,或梵本缺略,未可知也。

      (Sớ: Nguyện chỉ c̣n một nửa, giống với hai bản dịch đời Hán và đời Ngô, nhưng bốn mươi tám nguyện từ xưa đến nay được lưu truyền, hoằng dương đă lâu. Hai mươi bốn nguyện có thể là do bản tiếng Phạn bị thiếu sót không chừng!)

 

      Đối với chuyện này, Liên Tŕ đại sư chẳng khảo chứng cặn kẽ.

 

      (Sớ) Hoặc vấn: Cổ Âm diệc thuyết tŕ danh, vân hà bất dữ kim kinh đồng bộ?

      () 或問,鼓音亦說持名,云何不與今經同部。

      (Sớ: Có kẻ hỏi: Kinh Cổ Âm Thanh Vương cũng nói đến tŕ danh, cớ sao chẳng phải là đồng bộ với kinh này?)

 

       Câu hỏi này hay lắm! Trích dẫn từ Cổ Âm Vương Kinh trong đoạn kinh văn này, quả thật là dạy chúng ta tŕ danh niệm Phật, đáng lẽ phải là cùng bộ, v́ lẽ ǵ phân định là đồng loại, chẳng phải là đồng bộ?

 

      (Sớ) Đáp: Dĩ hữu chú cố. Bỉ kinh tuy thuyết tŕ danh, trọng tŕ chú cố.

      () 答:以有咒故。彼經雖說持名,重持咒故。

      (Sớ: Đáp: Do có thần chú. Kinh ấy tuy nói đến tŕ danh, nhưng coi trọng tŕ chú).

     

      Trong kinh ấy có chú, đặc biệt nhấn mạnh tŕ chú. Có lẽ cũng có đồng tu hoài nghi, v́ sao cùng khuyên cầu sanh Tịnh Độ, mà đức Phật nói nhiều phương pháp ngần ấy? Ở đây, phải hiểu: Đức Phật thuyết pháp ứng cơ, giống người Trung Quốc tuyệt đại đa số thích tŕ danh, thích niệm danh hiệu Phật; nhưng ở những nơi khác như Tây Tạng, Ni Bạc Nhĩ (Nepal), Tây Khang[7], c̣n có người ngoại quốc, có rất nhiều người thích tŕ chú. Thích tŕ chú bèn dạy quư vị tŕ chú; ưa tŕ danh bèn dạy quư vị tŕ danh; chuộng quán tưởng bèn dạy quư vị quán tưởng. Đức Phật ứng cơ thuyết pháp, chúng ta phải hiểu điều này! Phương pháp khác nhau, nhưng nhất định đạt tới mục đích tương đồng. Nhưng trong tất cả các phương pháp, nếu quư vị so sánh đôi chút th́ tŕ danh thuận tiện và dễ dàng nhất, vẫn là đơn giản và dễ dàng hơn tŕ chú. Xét về hiệu quả, thưa quư vị, càng đơn giản càng đắc lực.

      Theo Trúc Song Tùy Bút của Liên Tŕ đại sư, có người hỏi Ngài: “Ngài dạy người khác niệm Phật như thế nào?” Ngài đáp: “Dạy người khác niệm Phật sáu chữ Nam-mô A Di Đà Phật”. Người ta bèn hỏi Ngài: “Chính lăo nhân gia th́ niệm theo cách nào?” “Niệm bốn chữ A Di Đà Phật”. Khác nhau! Người ta hỏi: “V́ sao Ngài dạy người khác niệm sáu chữ, chính ḿnh niệm bốn chữ?” Ngài nói: “Bản thân tôi trong một đời này tâm nguyện quyết định muốn cầu sanh Tịnh Độ. V́ thế, chấp tŕ danh hiệu bốn chữ, đơn giản mà! Dạy người khác, chưa chắc họ đă có tâm nguyện ấy, chưa chắc phát nguyện văng sanh trong một đời này. V́ thế, thêm vào Nam-mô sẽ tốt hơn một chút”. Nam-mô có nghĩa là cung kính hay quy y. “Nam-mô A Di Đà Phật” dịch nghĩa sang tiếng Hán là “quy y A Di Đà Phật” hay “cung kính A Di Đà Phật”, thêm vào lời lẽ khách sáo! Nếu chính Ngài đă quyết định muốn cầu sanh Tịnh Độ trong một đời này, những chữ khách sáo đều khỏi nhắc tới, bỏ sạch, quyết định văng sanh mà! Nếu chính ḿnh tâm sanh tử chẳng thiết tha, thêm Nam-mô sẽ tốt hơn. Nếu trong một đời này, thật sự mong văng sanh thế giới Cực Lạc, hăy học theo Liên Tŕ đại sư, càng đơn giản càng đắc lực. Do lúc lâm chung, một niệm cuối cùng càng đơn giản càng tốt, quá dài, quá rườm rà, e rằng cho đến lúc ấy sẽ chẳng đắc lực, phiền lắm!

      Do đây biết rằng: Phương pháp tŕ danh này, tại Trung Quốc hơn một ngh́n năm qua, lịch đại tổ sư cực lực đề xướng là rất có lư. Các Ngài không đề xướng tŕ chú, không đề xướng quán tưởng, chuyên môn đề xướng tŕ danh, trong ấy có đạo lư rất sâu. Nương theo pháp môn này tu hành, người thành tựu, người văng sanh trong các đời vô số như trong Văng Sanh Truyện đă ghi chép, đó chỉ là chép một, bỏ sót cả vạn, [những trường hợp văng sanh] không được ghi chép rất nhiều, được ghi chép rất ít.

 

      Tam, phi bộ phi loại.

      (Huyền Nghĩa) Tam, minh phi bộ loại giả, đới thuyết Tịnh Độ.

      三、非部非類。

(玄義) 三、明非部類者,帶說淨土。

      (Ba là chẳng phải bộ mà cũng chẳng phải loại.

      Huyền Nghĩa: Ba, nói về chẳng phải bộ mà chẳng phải loại là nói kèm thêm về Tịnh Độ).

     

      Đây là giảng kèm thêm!

 

      (Huyền Nghĩa) Như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, cập Khởi Tín đẳng.

      (玄義) 如華嚴法華,及起信等。

      (Huyền Nghĩa: Như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, và Khởi Tín v.v...)

 

       Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Khởi Tín Luận v.v... những kinh luận như vậy rất nhiều, gần như có một, hai trăm loại!

 

      (Huyền Nghĩa): Hựu phi bộ loại, nhi trung thuyết chuyên tŕ danh hiệu, như Văn Thù Bát Nhă.

      (玄義) 又非部類,而中說專持名號,如文殊般若。

      (Huyền Nghĩa: Lại nữa, trong các thứ chẳng phải bộ loại, có loại chuyên nói đến tŕ danh hiệu như kinh Văn Thù Bát Nhă).

 

      Trong kinh Văn Thù Bát Nhă cũng có [nói tới phương pháp tŕ danh]. Đây là nói về “phi bộ phi loại”.

 

      (Sớ) Đới thuyết giả, chư đồng bộ đồng loại chi ngoại, phục hữu chư kinh, tuy bất chuyên đàm Tịnh Độ, kỳ trung đới cập khuyến tán văng sanh dă.

      () 帶說者,諸同部同類之外,復有諸經,雖不專談淨土,其中帶及勸讚往生也。

      (Sớ: “Nói kèm”: Ngoài các kinh đồng bộ, đồng loại, c̣n có các kinh tuy chẳng chuyên giảng về Tịnh Độ, nhưng trong ấy có kèm thêm khuyên lơn, ca ngợi văng sanh).

 

      Đây là một loại.

 

      (Sớ) Hoa Nghiêm, như Hạnh Nguyện Phẩm, kư minh thập đại nguyện vương, nhi mạt ngôn dĩ thử thập nguyện đạo quy Cực Lạc thị dă.

      () 華嚴,如行願品,既明十大願王,而末言以此十願導歸極樂是也。

      (Sớ: Hoa Nghiêm th́ như trong phẩm Hạnh Nguyện giảng về mười đại nguyện vương, cuối cùng nói: Dùng mười nguyện này dẫn về Cực Lạc. Đó là [nói kèm]).

 

     Đây là nói tới kinh Hoa Nghiêm. Nói tới kinh Hoa Nghiêm và kinh Pháp Hoa, ư nghĩa này rất sâu, v́ cả một đời Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh, thuyết pháp, bộ kinh được giảng đầu tiên là kinh Hoa Nghiêm, cuối cùng giảng kinh Pháp Hoa, nói tới kinh giảng lần đầu, và nói tới kinh giảng cuối cùng, hết thảy các kinh đều được bao quát vào giữa. Các kinh luận đă được nói trong khoảng ấy, đă nói kèm về Tịnh Độ rất nhiều; cho nên Ngài đặc biệt nêu ra hai kinh này, một mở đầu, một kết thúc. Nhất là pháp môn Niệm Phật được đề xướng đầu tiên do hai vị Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền trong hội Hoa Nghiêm. Kinh văn của kinh Hoa Nghiêm đă ghi chép rành mạch, hai vị Bồ Tát này đều phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Học tṛ của ngài Văn Thù là Thiện Tài đồng tử tham học năm mươi ba lần, đến cuối cùng tham phỏng Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát dạy cho Thiện Tài mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Không chỉ Thiện Tài đồng tử văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, mà bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ trong hội Hoa Tạng, tức Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, trong mỗi một địa vị chẳng biết có bao nhiêu Bồ Tát, đều cùng Văn Thù, Phổ Hiền văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

      V́ thế, đối với kinh Hoa Nghiêm, quư vị thấy xuyên suốt th́ nó là kinh ǵ vậy? Là kinh văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nói nhiều ngần ấy, đến cuối cùng bèn sang Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đây là khải thị tối cao vô thượng mà kẻ nghiên cứu Hoa Nghiêm chẳng thể không biết. Bất luận quư vị học tông nào, phái nào, học kinh ǵ hay luận ǵ, đến cuối cùng không ǵ chẳng quy về Tịnh Độ. Năm mươi ba lần tham học, năm mươi ba vị thiện tri thức, mỗi cá nhân học pháp môn khác nhau. Nói theo cách hiện thời, có Hiển, có Mật, các tông, các phái, cuối cùng toàn bộ đều là cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Chúng ta phải nên hiểu điều này!

      C̣n có một điểm phải đặc biệt chú ư, các tông, các phái, Hiển hay Mật, đều cùng tu mười đại nguyện vương, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là chỗ quy túc chung. Mười đại nguyện vương là cương lănh tu hành chung của vô lượng vô biên pháp môn, có cùng một ư nghĩa với Tam Quy Y. Tam Quy Y là quy y “Giác, Chánh, Tịnh”, cho nên nó là tổng cương lănh tu hành trong Phật môn, mười đại nguyện vương cũng là tổng cương lănh tu hành. Nếu chúng ta coi Tam Quy Y như Cương, mười đại nguyện vương là Mục, nương theo thập nguyện để tu “Giác, Chánh, Tịnh”. Đây là tổng cương mục tu học của Phật pháp, chúng ta chớ nên không biết!

      Mười đại nguyện vương, thứ nhất là “lễ kính chư Phật”: Bên trong phải chân thành, bên ngoài phải cung kính. Không chỉ học Phật phải tu từ chỗ này, mà đạo làm người trong pháp thế gian cũng thực hiện từ chỗ này. Chưa làm được điều này, những thứ khác chẳng cần phải bàn tới nữa! Giống như xây nhà, nó là nền móng. Nếu nền móng không có, quư vị dựng nhà sao được? Rất trọng yếu! Rất nhiều người niệm Phật, quá ư là nhiều, văng sanh được mấy? V́ lẽ ǵ niệm Phật suốt đời vẫn chẳng thể văng sanh? Chư vị phải nhớ: Người ấy thiếu cơ sở! Trong phần trên đă nói “lễ kính chư Phật” là phát Bồ Đề tâm, Bồ Đề tâm là cái tâm chân thành. Người ấy thiếu Bồ Đề tâm! Trong tâm siểm khúc, cong quẹo, cái tâm bất hảo, đó chẳng phải là tâm học Phật, chẳng phải là tâm thành đạo, đương nhiên cũng không phải là tâm văng sanh. V́ mỗi cá nhân trong Tây Phương Cực Lạc thế giới tâm địa thanh tịnh, chánh trực; tâm quư vị khác với ḷng người của đại chúng trong thế giới Cực Lạc, cho nên dù quư vị mỗi ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, cổ đại đức bảo “rách toạc cổ họng cũng uổng công”, chẳng thể văng sanh. Chúng ta nhất định phải chú ư điều này!

      Chúng ta xử sự, đăi người, tiếp vật phải chân thành, phải cung kính, Nho gia cũng nói tới điều này [bằng thuật ngữ] “thành ư chánh tâm”, cũng nói thực hiện từ chỗ này! Vừa mở sách Lễ Kư ra, [ta thấy câu đầu tiên là] “Khúc Lễ viết: Vô bất kính” (Khúc Lễ nói: Không ǵ chẳng kính), có dụng ư hoàn toàn giống như nguyện thứ nhất trong mười đại nguyện vương. Chẳng đặt vững nền tảng lễ kính, làm người c̣n làm chưa tốt đẹp, quư vị c̣n thành Phật được ư? Đó là chuyện không thể nào xảy ra được! Do vậy, nhất định phải đặt vững nền móng này!

 

      (Sớ) Pháp Hoa, như vân tụng tư kinh giả.

      () 法華,如云誦斯經者。

      (Sớ: Như kinh Pháp Hoa nói: “Người tụng kinh này”).

 

      Đây là nói tới người niệm kinh Pháp Hoa.

 

      (Sớ) Mạng chung đương sanh A Di Đà Phật Cực Lạc thế giới thị dă.

      () 命終當生阿彌陀佛極樂世界是也。

      (Sớ: Mạng chung sẽ sanh về thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật, đấy là [nói kèm về Tịnh Độ]).

 

       Trong kinh Pháp Hoa, rành rành là có những đoạn kinh văn nói rơ: “Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới”, nhưng đoạn kinh văn này khi phiên dịch đă bị bỏ sót, h́nh như là bài thứ năm hay bài thứ sáu trong phần kệ tụng. Nguyên văn tiếng Phạn của kinh Pháp Hoa nay vẫn c̣n, đầu thời Dân Quốc, nữ cư sĩ Lă Bích Thành[8] học Phật vô cùng kiền thành, bà ta là giáo sư đại học, rất giỏi tiếng Anh, tiếng Phạn cũng thông thạo, đă nhận thấy đoạn văn này trong nguyên bản kinh Pháp Hoa bằng tiếng Phạn đă bị bỏ sót, bèn dịch ra.

 

      (Sớ) Khởi Tín, như tiền giáo khởi trung sở minh thị dă.

      () 起信,如前教起中所明是也。

      (Sớ: Luận Khởi Tín th́ như trong phần Giáo Khởi Nhân Duyên ở phần trước đă nói rơ).

 

       Khởi Tín là Khởi Tín Luận, người đọc tụng rất nhiều. Bản thân Mă Minh Bồ Tát (Aśvaghośa) cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, cho nên Ngài viết Khởi Tín Luận cũng nhằm đề xướng, khuyên người khác cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

 

      (Sớ) Đẳng giả.

      () 等者。

      (Sớ: Những kinh luận giống như vậy).

       

      Những kinh luận như vậy quá nhiều!

 

      (Sớ) Như Quán Phật Tam Muội.

      () 如觀佛三昧。

      (Sớ: Như Quán Phật Tam Muội Kinh).

       

      Quán Phật Tam Muội Kinh.

 

      (Sớ) Thập Trụ Đoạn Kết chư kinh.

      () 十住斷結諸經。

      (Sớ: Các kinh như Thập Trụ Đoạn Kết).

       

      Chẳng thể kể xiết! Nếu mỗi thứ đều viết ra hết, sẽ có rất nhiều, đề mục các kinh luận này có hơn một trăm loại.

 

      (Sớ) Đới thuyết Tịnh Độ, tằng điệp phi nhất, tường như hậu thích văn trung tạp dẫn.

      () 帶說淨土,層疊非一,詳如後釋文中雜引。

      (Sớ: Nói kèm về Tịnh Độ th́ tầng lớp chẳng phải là một loại, sẽ được trích dẫn tường tận trong phần giải thích kinh văn ở phần sau).

 

      Trong Sớ Sao đă dẫn rất nhiều kinh luận giảng về pháp môn Niệm Phật.

 

      (Sớ) Văn Thù Bát Nhă, tường hậu chấp tŕ danh hiệu văn trung.

      () 文殊般若,詳後執持名號文中。

      (Sớ: Đối với kinh Văn Thù Bát Nhă, sẽ được giảng giải tường tận trong phần nói về chấp tŕ danh hiệu ở phía sau).

 

      Trong đoạn văn giải thích về “chấp tŕ danh hiệu” của Sớ Sao đă trích dẫn kinh Văn Thù Bát Nhă. Đây là Phật khuyên chúng ta cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, đặc biệt là pháp môn tŕ danh.

 

      Bát, dịch thích tụng tŕ.

      八、譯釋誦持

      (Tám là phiên dịch, giải thích, tŕ tụng)

 

      Đoạn này nói về sự cảm ứng. “Dịch” là khi phiên dịch, “thích” là khi chú giải hay giảng kinh, “tụng” là đọc thuộc ḷng, “tŕ” là nương theo kinh điển này để tu hành. Nói “tín nguyện tŕ danh” là y theo phương pháp này để tu hành.

 

      Sơ minh dịch, nhị minh thích, tam minh tụng, tứ minh tŕ, ngũ kết khuyến.

      初明譯。二明釋。三明誦。四明持。五結勸。

      (Trước hết là nói về dịch, thứ hai là nói về giải thích, thứ ba nói về tụng, thứ tư nói về tŕ, thứ năm là kết lại lời khuyên).

 

      Chia thành năm đoạn.

 

      Sơ, minh dịch

    (Huyền Nghĩa) Dĩ tri thử kinh, vi bộ, vi loại, tường, lược, đồng, biệt. Vị ủy dịch tự hà thời?

      初、明譯

      (玄義) 已知此經,為部為類,詳略同別。未委譯自何時。

      (Thứ nhất, nói về dịch.

      Huyền Nghĩa: Đă biết kinh bộ loại của kinh này có tường tận hay đại lược, giống nhau hay sai khác, nhưng chưa rơ kinh này được dịch từ khi nào?)

 

      “Ủy” là ủy khuất (委屈)[9]. Kinh này rốt cuộc được phiên dịch lúc nào? Do nhân duyên ǵ truyền đến Trung Quốc? Vẫn chưa biết chuyện này, vẫn c̣n ủy khuất, xin hăy giảng giải rơ ràng, [đoạn văn trên đây] mang ư nghĩa này!

 

      (Huyền Nghĩa) Phàm hữu kỷ dịch.

      (玄義) 凡有幾譯。

      (Huyền Nghĩa: Có mấy bản dịch).

 

     Như Đại Bổn có tất cả mười hai bản dịch, nhưng nay trong Đại Tạng Kinh chỉ c̣n năm bản dịch, những bản dịch khác đều bị thất lạc. Tại Trung Quốc, kể từ đời Tống, Đại Tạng Kinh mới bắt đầu được biên tập, thu thập tất cả kinh điển đă phiên dịch và chú sớ của cổ đức, biên soạn thành một bộ tùng thư (collection). Do trước đây, kinh điển lưu giữ phân tán tại chùa chiền hay trong dân gian, nên rất nhiều thứ bị lạc mất.

 

      (Huyền Nghĩa) Dĩ chí chú thích xiển dương, độc, tụng, thọ, tŕ, hữu hà linh nghiệm?

      (玄義) 以至註釋闡揚,讀誦受持,有何靈驗。

      (Huyền Nghĩa: Cho đến chú thích, xiển dương, đọc, tụng, thọ, tŕ, có những điều linh nghiệm nào?)

     

      Các đồng tu học Phật cũng phải biết những điều này nhằm giúp cho chúng ta sanh khởi và tăng trưởng ḷng tin.

 

      (Huyền Nghĩa) Sơ minh dịch giả hữu nhị.

      (玄義) 初明譯者有二。

      (Huyền Nghĩa: Trước hết, nói rơ có hai bản dịch).

 

      Bộ kinh này có hai bản dịch.

 

      (Huyền Nghĩa) Nhất danh Phật Thuyết A Di Đà Kinh, tức kim kinh.

      (玄義) 一名佛說阿彌陀經,即今經。

      (Huyền Nghĩa: Một bản tên là Phật Thuyết A Di Đà Kinh, tức kinh này).

 

      Hiện thời, chúng ta đang dùng bản này, kinh có tựa đề là Phật Thuyết A Di Đà Kinh.

 

      (Huyền Nghĩa) Diêu Tần Tam Tạng pháp sư Cưu Ma La Thập dịch.

      (玄義) 姚秦三藏法師鳩摩羅什譯。

      (Huyền Nghĩa: Do Tam Tạng pháp sư Cưu Ma La Thập dịch vào thời Diêu Tần).

 

      Do Cưu Ma La Thập đại sư phiên dịch.

 

      (Sớ) Diêu Tần giả.

      () 姚秦者。

      (Sớ: Diêu Tần).

 

      Tần là danh xưng của triều đại. V́ sao phải thêm vào phía trước chữ Diêu? Trong lịch sử Trung Quốc, có bốn vương quốc dùng “Tần” làm quốc hiệu[10], nên phải thêm ḍng họ của quốc vương vào trước [quốc hiệu], ta mới biết triều đại Tần nào!

 

      (Sớ) Châu hữu Doanh Tần.

      () 周有嬴秦。

      (Sớ: Đời Châu có nhà Doanh Tần).

 

      Tần[11] là một tiểu quốc đời Châu, cũng là thời đại Xuân Thu Chiến Quốc. Sau này, Tần cường thịnh, mở rộng lănh thổ, Tần Thủy Hoàng thôn tính lục quốc[12], thống nhất Trung Quốc. Do Tần Thủy Hoàng họ Doanh, nên trong lịch sử gọi là Doanh Tần.

 

      (Sớ) Nam Bắc Triều hữu Phù Tần, Diêu Tần.

      () 南北朝有苻秦、姚秦。

      (Sớ: Thời Nam Bắc Triều có Phù Tần và Diêu Tần).

 

      Thời Nam Bắc Triều, Phù Kiên ở Quan Trung, [địa phương này] nay thuộc một giải Cam Túc, Thiểm Tây và Hà Nam, thành lập một vương triều xưng là Tần, đây cũng là Phù Tần. Trong cuộc chiến tại Ph́ Thủy[13], tướng Tạ An và Tạ Huyền của nhà Tấn đă đánh bại Phù Kiên. Diêu Trành là một tướng quân dưới trướng Phù Kiên được vua sai ở lại trấn thủ hậu phương, thấy quốc vương thua trận, liền dấy binh đảo chánh, chiếm giữ Quan Trung, tự xưng vương, nhưng không thay đổi quốc hiệu, trong lịch sử gọi triều đại này là Diêu Tần.

 

      (Sớ) Kim ngôn Diêu giả, giản phi dư Tần dă.

      () 今言姚者,揀非餘秦也。

      (Sớ: Nay nói là Diêu Tần nhằm phân biệt chẳng phải các nhà Tần khác).

 

      Chúng ta vừa nh́n liền biết đây là triều đại nào? Đây là thời đại Diêu Tần, lại c̣n là đời vua thứ hai của nhà Diêu Tần. Diêu Trành đă chết, con ông ta là Diêu Hưng kế vị. [Kinh này dịch] dưới thời Diêu Hưng.

 

      (Sớ) Tam Tạng giả, thông kinh, luật, luận, kiêm thiện Hoa Phạn cố.

      () 三藏者,通經律論,兼善華梵故。

      (Sớ: Tam Tạng là thông hiểu kinh, luật, luận, lại c̣n thông thạo tiếng Hán lẫn tiếng Phạn).

 

Người như thế gọi là Tam Tạng pháp sư” (Tripitakācārya), vị pháp sư này vô cùng nổi tiếng, Ngài nói tiếng Hán rất khá, đương nhiên là hết sức thông đạt Phạn văn; cho nên dịch kinh vô cùng thích hợp khẩu vị của người Hoa.

 

      (Sớ) Pháp sư giả, Phật pháp sở thuộc, diễn dương hối chúng, vi biểu phạm cố.

      () 法師者,佛法所屬,演揚誨眾,為表範故。

      (Sớ: Pháp sư là người diễn giải, hoằng dương Phật pháp, dạy bảo đại chúng, nêu gương mẫu).

 

      “Biểu” () là sư biểu (師表: Bậc thầy gương mẫu), “phạm” là mô phạm (模範: khuôn phép). Ngài thông đạt Phật pháp, có thể giảng giải, hướng dẫn chúng ta tu hành, nêu gương, làm khuôn phép cho chúng ta, nên chúng ta tôn xưng Ngài là “pháp sư”. V́ thế, danh xưng “pháp sư” này chẳng dễ đảm đương cho lắm! Nếu quư vị làm không được, người ta gọi quư vị là pháp sư, nói thật ra, đó là chửi người đấy! Chúng ta phải hiểu rơ điều này. Nếu bản thân chúng ta làm không được, người khác tôn kính gọi ta là pháp sư, hay ḥa thượng, hăy nên sanh tâm hổ thẹn; nói thật ra là chẳng gánh vác nổi! V́ thế, các đồng tu xuất gia nhất định phải nỗ lực, phải thật sự phát phẫn, danh phù hợp thực, sẽ chẳng mắc tội lỗi! Nếu không, người ta gọi quư vị một tiếng, sẽ thành một tội nặng; gọi hai tiếng sẽ là hai tội nặng! Trong một đời này, ta chẳng làm tội nghiệp ǵ, đến sau này, khi vua Diêm La tống quư vị vào địa ngục, quư vị vẫn kêu oan uổng! Thật ra, cũng chẳng oan uổng tí nào! Mỗi một tiếng là tăng thêm tội này trên thân; thật đấy, chẳng giả tí nào! Giống như người thế gian, ta phát tâm làm thầy đi dạy học, kết quả là suốt đời cũng chẳng dạy một đứa học tṛ nào, chẳng lên lớp bữa nào, người ta vừa thấy mặt bèn nói: “Thầy ơi! Thầy ơi!” Người ấy có tội lỗi hay chăng? Có tội! Thật đấy, chẳng giả đâu!

 

      (Sớ) Cưu Ma La Thập giả.

      () 鳩摩羅什者。

      (Sớ: Cưu Ma La Thập).

 

      Đây là tên họ của một người.

 

      (Sớ) Phạn ngữ cụ vân Cưu Ma La Kỳ Bà Thập.

      () 梵語具云鳩摩羅耆婆什。

      (Sớ: Tiếng Phạn nói đầy đủ là Cưu Ma La Kỳ Bà Thập).

 

      Đây là dịch âm tiếng Phạn [Kumārajīva], người Hoa chuộng đơn giản, giảm bớt những chữ có âm nhẹ, nên gọi là Cưu Ma La Thập. Có khi c̣n tỉnh lược hơn nữa, gọi Ngài là La Thập.

 

      (Sớ) Thượng ngũ tự, thử vân Đồng Thọ.

      () 上五字,此云童壽。

      (Sớ: Năm chữ trên đây được cơi này dịch là Đồng Thọ).

 

       “Đồng” () là đồng tử (童子), tuổi rất nhỏ, đứa bé con. “Thọ” () là cụ già. Tuy giống như đứa con nít, c̣n thuộc tuổi trẻ con, mà trí huệ và hàm dưỡng, cử chỉ của Ngài đều giống như một người trưởng thành. V́ thế, mọi người gọi Ngài bằng danh xưng này. Quả thật, Ngài rất lỗi lạc, đây là bậc tái lai, là Bồ Tát tái lai.

 

      (Sớ) Thập giả, thâm thiện thử phương văn tự chi thập.

      () 什者,深善此方文字之什。

      (Sớ: “Thập”: Mười phần thông hiểu sâu xa văn tự phương này).

 

      Đối với ngữ văn Trung Hoa rất thông đạt.

 

      (Sớ) Hoa Phạn hợp cử, xưng La Thập dă.

  () 華梵合舉,稱羅什也。

      (Sớ: Gộp chung cả tiếng Hán lẫn tiếng Phạn nên gọi là La Thập).

 

      Thật ra, tên thật sự của Ngài là Cưu Ma La Kỳ Bà, Thập ()[14] là danh hiệu do người Hoa tặng cho Ngài. Ngài hết sức thông đạt ngữ văn tiếng Hán.

 

      (Sớ) Dịch giả, dịch dă, dịch Phạn thành Hoa dă.

      () 譯者,易也,易梵成華也。

      (Sớ: Dịch là thay đổi, tức là chuyển từ tiếng Phạn sang tiếng Hán).

 

      Đó là phiên dịch, đem Phạn văn chuyển thành tiếng Hán.

 

      (Sớ) Châu Lễ, chưởng tứ phương chi ngữ, các hữu kỳ quan, Bắc phương viết Dịch, kim kinh tự Tây lai, nhi ngôn Dịch giả, Hán chi Bắc quan, kiêm thiện Tây ngữ, Ma Đằng thỉ chí, toại xưng vi Dịch, kim nhưng chi dă.

      () 周禮,掌四方之語,各有其官,北方曰譯,今經自西來,而言譯者,漢之北官,兼善西語,摩騰始至,遂稱為譯,今仍之也。

     (Sớ: Theo Châu Lễ, chưởng quản ngôn ngữ bốn phương, mỗi phương đều có một chức quan. Viên quan trông nom việc giao tiếp bằng ngôn ngữ ở phương Bắc được gọi là Dịch. Nay kinh này từ phương Tây truyền sang mà gọi là Dịch v́ chức quan ở phương Bắc vào đời Hán cũng thông thạo các ngôn ngữ ở phương Tây. Ngài Ma Đằng đến [Trung Hoa] đầu tiên [được vị quan ở phương Bắc tiếp đăi], nên nay vẫn gọi là Dịch).

     

       Châu Lễ là tên một bộ sách. Lễ Kinh của Trung Quốc gồm có ba bộ: Châu Lễ, Nghi Lễ và Lễ Kư. Đây là ba bộ trong mười ba kinh (thập tam kinh) [của Nho gia]. Trong Châu Lễ, hiến pháp, chánh trị, điển chương, văn vật, chế độ đời Châu, đều được ghi chép trong ấy. Châu Lễ là trước tác của Châu Công, ư tưởng ấy (tức ư tưởng xây dựng một xă hội ổn định, b́nh trị) được thiết lập tận thiện tận mỹ. Tôi chưa đọc bộ sách này, tiên sinh Phương Đông Mỹ đă bảo tôi rất nhiều lần, sách này hay lắm! Ngài nói: “Rất nhiều bản hiến pháp của các quốc gia xưa nay, trong ngoài nước đều thua Châu Lễ. Nếu các đời vua cuối của nhà Châu tuân thủ làm theo giáo huấn trong bộ sách ấy, nhà Châu sẽ chẳng vong quốc”. Trong lịch sử Trung Quốc, triều đại tồn tại lâu nhất là nhà Châu, tám trăm năm, người đời sau không tuân thủ bộ hiến pháp này, nên mới vong quốc. Phương tiên sinh hết sức tán thán bộ sách này, tôi chỉ đọc mấy thiên trong sách Lễ Kư.

      Theo chế độ ấy, vị quan trông nom sự phiên dịch [ngôn ngữ] ở bốn phương có danh xưng khác nhau. Phương Bắc gọi là Dịch (), phương Đông gọi là Kư (), phương Nam gọi là Tượng (), phương Tây gọi là Địch Đê (狄鞮), danh xưng bất đồng, đều có ư nghĩa, nhưng công tác đều là phiên dịch. Kinh Phật đến từ phương Tây. Vào thời Hán, con đường Tơ Lụa[15] là tuyến đường chính để từ Trung Quốc sang Tây Vực, Phật giáo cũng theo đường này truyền đến Trung Quốc, theo tuyến đường Nam Bắc từ rặng Thiên Sơn ở Tân Cương, Cam Túc đến Trường An; khi đó, kinh đô của quốc gia ở Trường An, rất gần phương Bắc. Khởi đầu từ thời hai vị Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch Tứ Thập Nhị Chương Kinh, vị quan trông nom phiên dịch của phương Bắc đến giúp sức. Vị quan cai quản công tác phiên dịch ở phương Bắc rất thông thạo Phạn văn, nên mời ông ta đến giúp sức, cho nên dùng chữ Dịch này. Về sau, một mực dùng chữ Dịch, chẳng thay đổi nữa, đă biến thành thói quen rồi!

       Tứ Thập Nhị Chương Kinh là bộ kinh Phật được phiên dịch đầu tiên tại Trung Quốc. Bộ kinh này có nội dung vô cùng phong phú, có thể nói là Phật học khái luận của kinh Phật. Cuốn Tứ Thập Nhị Chương Kinh Tân Sớ của cư sĩ Quư Thánh Nhất đă chú giải rất tỉ mỉ, trong tất cả các bản chú giải xưa nay, tôi cảm thấy bản của ông ta hay nhất. Chỗ hay nhất trong bộ kinh này là ǵ? Con người hiện đại chúng ta học Phật chẳng thể thành tựu là v́ thân ḿnh đầy bệnh (khuyết điểm) mà chẳng biết. “Ta không phạm khuyết điểm ǵ! Ta hết sức tốt đẹp!” Thấy khuyết điểm của kẻ khác, chẳng biết chính ḿnh sai quấy! Sau khi quư vị đọc kinh này, mới phát hiện chính ḿnh có bao nhiêu là lầm lỗi, sửa đổi những khuyết điểm ấy, công phu niệm Phật của quư vị mới đắc lực. Bộ kinh này là một liều lương dược chữa bệnh cho chúng ta! Học Phật phải học từ đâu? Phải học từ bộ kinh này! Nhưng bộ kinh này lời lẽ đơn giản, ư nghĩa bao quát, văn tự rất đơn giản, rất ít, nghĩa lư quá phong phú, không được chú giải cặn kẽ, quư vị sẽ chẳng thấy được! Trong quá khứ, chúng ta vẫn chưa t́m được bản chú giải lư tưởng. Bản chú giải của pháp sư Quán Đảnh quá sâu, không thích hợp cho kẻ mới học. Do vậy, tại Hương Cảng, tôi thấy bản này của cư sĩ Quư Thánh Nhất, vô cùng hoan hỷ!

      Các đồng tu học giảng kinh phải bắt đầu học từ chỗ nào? Bắt đầu học từ kinh này. Kinh này chia thành ba bộ phận, bộ phận thứ nhất là giải thích khoa đề, tức là mỗi chương trong bốn mươi hai chương có một đề mục, [giải thích khoa đề] là giải thích đề mục [của từng chương], sau đó là giải thích danh từ thuật ngữ, điển cố, cuối cùng là giảng nghĩa, hợp lại để giảng. Có từng tầng lớp rơ rệt! Đây là quy củ giảng kinh truyền thống, hoàn toàn dựa theo quy củ để giảng, có thứ tự, chẳng lộn xộn. V́ thế, các đồng tu giảng kinh phải dốc sức nơi bộ kinh này. Quư vị có thể học theo quy củ và phương pháp này, về sau, quư vị sẽ có chỗ để dốc sức nơi hết thảy các kinh. Do vậy, đây là bộ sách tham khảo vô cùng hay. Pháp sư Bân Tông chú giải kinh Di Đà và Tâm Kinh cũng dùng quy củ này, viết theo đúng quy củ. Đó là khuôn mẫu giảng kinh tốt đẹp, nhất định phải dựa theo phương thức này để giảng.

      V́ thế, quư vị giảng kinh chớ nên học theo cách tôi giảng trong hiện thời. Học theo cách tôi giảng trong hiện nay sẽ gặp trắc trở. [Muốn] học giảng kinh với tôi th́ [phải học] trong mười mấy năm trước đây, nghe tôi giảng kinh sẽ được lợi ích, được thụ dụng, v́ sao? Khi tôi bắt đầu đến giảng kinh tại Đài Bắc, đại khái là mười lăm, mười sáu năm, tuân theo phương pháp giảng ấy, rất giữ quy củ. Từ năm Dân Quốc sáu mươi (1971) bắt đầu giảng kinh Hoa Nghiêm, dần dần vượt ngoài đường lối, không tuân thủ quy củ nữa. Những người mới học nghe không nhận ra, nhưng các vị có kinh nghiệm nghe giảng biết ngay. Tôi giảng kinh tại Hương Cảng, có rất nhiều pháp sư nghe, c̣n có những pháp sư hết sức thích nghe tôi giảng kinh. Pháp sư Sướng Hoài bảo đại chúng: Tôi không phải là giảng kinh trên ṭa, mà là nói ǵ? Tŕnh bày báo cáo tâm đắc của chính ḿnh. Tôi mở bản kinh ra, tôi nói những điều chính ḿnh hiểu và lănh hội. Quư vị bắt đầu học giảng kinh, có câu nói: “Bất học quy củ, bất thành phương viên” (Chẳng học theo quy củ[16], chẳng thành vuông tṛn). Đạt đến cảnh giới của tôi, phải nâng cao hơn một tầng nữa, trên giảng đài, tôi đă tuân theo quy củ mười mấy năm!

      Từ năm Dân Quốc 56 (1967), tôi lên Đài Bắc giảng kinh, tôi vừa xuất gia bèn bắt đầu giảng kinh, tôi xuất gia năm Dân Quốc 48 (1959), tháng Giêng năm Dân Quốc 49 (1960) bèn bắt đầu giảng kinh, tuân theo quy củ, đến năm sáu mươi tuổi mới dần dần thoát ra, giảng báo cáo tâm đắc của chính ḿnh. Do vậy, những đồng học nghe kinh thuở đầu, giống như các vị đang giảng kinh ở các nơi như Hùng Uyển, Từ Huệ Linh, vào thuở ấy, có lúc họ gặp tôi, vẫn nói: “May là thuở ấy, đến nghe [thầy giảng] bèn được lợi ích, học được thứ này thứ nọ. Bây giờ đến nghe kinh, chẳng học được ǵ!” Nay tôi giảng đúng là “thiên mă hành không”[17], không có ngằn mé. Khi cao hứng, th́ có mấy câu, ba bốn câu kinh văn mà giảng suốt hai giờ không xong, cũng có khi cả đoạn văn dài, loáng một cái đă xong, quư vị học được điều ǵ? Học không được! Nhưng đối với người tu hành, lời giảng ấy hữu ích, đối với những vị học giảng kinh th́ hỏng bét, nhưng đối với những vị niệm Phật tu hành, chắc chắn hữu ích. V́ thế, chắc chắn không thể học theo cách tôi giảng trên giảng đài, hiện thời tốt nhất là tuân theo phương pháp này trong Tứ Thập Nhị Chương Kinh để học giảng kinh.

      Đoạn kế tiếp nhằm giới thiệu đơn giản về Cưu Ma La Thập đại sư; đây là trích lục từ truyện kư của Ngài, nhằm khiến cho chúng ta hiểu biết đại lược về đại sư. Theo truyện kư, vị đại sư này là vị thầy dịch kinh của quá khứ thất Phật. V́ thế, những thứ do Ngài phiên dịch hết sức hay! Đến Trung Quốc, Ngài chịu không ít vùi dập, chịu đựng chẳng ít khổ nạn, chính ḿnh bị thiệt tḥi to lớn, nhưng Ngài có cống hiến rất lớn đối với Phật pháp Trung Quốc. Ngài bị Lữ Quang giam cầm gần ba mươi năm, không cách nào xoay sở, Ngài học văn tự Trung Quốc vào lúc ấy. Sau khi Lữ Quang chết, cháu là Lữ Long kế vị, đầu hàng Diêu Hưng; Cưu Ma La Thập đại sư mới được Diêu Hưng nghênh thỉnh về Trường An, tiến hành công tác dịch kinh bảy năm rồi viên tịch. Bảy năm ấy có ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Trung Quốc, đặt vững cơ sở cho Phật giáo Trung Quốc.

      Do điều này biết rằng: Hoằng pháp lợi sanh không do thời gian dài hay ngắn, mà thật sự do công lực dầy hay mỏng. Như Ấn Quang đại sư, đối với Phật pháp cận đại, không chỉ là nói theo phía Tịnh Độ, mà đối với toàn bộ Phật pháp, Ngài có ảnh hưởng to lớn dường ấy. Ấn Quang đại sư hoằng pháp bao nhiêu năm? Mười năm. Bảy mươi tuổi mới ra hoằng pháp, trước năm bảy mươi tuổi không ai biết, tới bảy mươi tuổi mới bị người ta phát hiện. Khi đó nhằm thời đầu Dân Quốc, có những vị lăo cư sĩ rất có học vấn lúc đến Phổ Đà Sơn du ngoạn, đă vô t́nh phát hiện, tṛ chuyện với Ngài, cảm thấy vị này kiến giải lỗi lạc. Sau đấy, trao đổi thư từ với Ngài, những bức thư trả lời của Ngài được đăng tải công khai trên báo hay tạp chí, mọi người mới biết có pháp sư Ấn Quang. Lăo nhân gia viên tịch năm tám mươi tuổi, [hoằng pháp chỉ] mười năm. Đây là như cổ nhân Trung Quốc đă nói: “Hậu tích bạc phát” (chất chứa sâu dầy, phát hiện mỏng manh), v́ Ngài đă tích chứa quá dầy, tuy thời gian phát ra chẳng dài, nhưng công lực đă đủ mức, nên mới có sức ảnh hưởng sâu dầy như vậy. La Thập đại sư là người như vậy. Chúng ta phải ghi nhớ chuyện này.

      Đối với người hiện thời, tôi được coi là kẻ đă từng trải qua [kinh nghiệm này], chính ḿnh bị thua thiệt rất nhiều, bị lừa gạt rất nhiều; đó là v́ lúc tôi ra giảng kinh, tuổi c̣n trẻ quá, chẳng thể học theo cổ nhân, tích chứa chẳng dầy. Cho nên sức lực phát ra cũng chẳng đủ, phải tích chứa cho dầy, mới đủ sức! Tôi thấy người hiện thời vẫn chẳng được như tôi. Tôi c̣n có thể theo thầy học Phật mười ba năm, bọn họ hiện thời học được ba tháng đă muốn đi ra ngoài biểu diễn, vẫn chẳng bằng tôi. Có thể suy ra: Sức lực do quư vị phát ra sẽ chẳng bằng tôi. Chúng ta đọc những tác phẩm của cổ nhân phải ghi nhớ giáo huấn, phải có ḷng nhẫn nại, phải có chí thường hằng, phải có nghị lực, có như vậy th́ mới có thể thật sự thành tựu.

      Học theo lời dạy của một người, điều này trọng yếu lắm! Không nên ra ngoài, hôm nay nghe vị này, ngày mai nghe vị khác, nghe nhiều quá, tư tưởng hỗn loạn, phức tạp. Do vậy, tuy người ta tôn kính Ấn Quang đại sư, có mấy ai thường nhắc đến tên Ngài? Không nhắc tới! V́ sao chẳng nhắc tới? Có chỗ kiêng kỵ. Ấn Quang đại sư phản đối kẻ học Phật thường tới chùa, phản đối người học Phật thân cận pháp sư, cực lực phản đối! Quư vị tới chùa thường xuyên quá, tinh thần phân tán, chẳng thể tập trung, chẳng thể học Phật pháp tốt đẹp lắm, nhiều nhất là tu được một chút “si phước” mà thôi! Quư vị tiếp cận vị pháp sư này, vị pháp sư này bèn giảng điều này, [thân cận] vị pháp sư nọ, [vị ấy bèn] giảng điều kia, đầu óc quư vị chứa đựng đủ thứ lộn xộn, niệm Phật sẽ chẳng đắc nhất tâm bất loạn.

      Do vậy, mọi người hễ nhắc tới pháp sư Ấn Quang, bèn rất cung kính, nhưng chẳng nhắc tới một câu nào của Ngài! V́ sao? Đối với pháp sư Ấn Quang, thí dụ như quư vị quy y với Ngài, đến đó gặp Ngài, Ngài sẽ đùng đùng quở mắng quư vị một trận: “Ngươi đến đây làm chi?” “Con đến thăm sư phụ”. “Ngươi đă thấy mặt sư phụ rồi, có ǵ hay ho đâu? Không trở về nhà lo thật thà niệm Phật, gặp sư phụ để làm ǵ chớ?” Chửi cho một trận tơi bời, đó là một vị thiện tri thức chân chánh. Pháp sư hiện thời th́: “Các ông thường phải đến gặp ta”, thái độ khác hẳn pháp sư Ấn Quang! Cho nên mọi người kính nhi viễn chi Ngài! Nhưng nếu chúng ta suy ngẫm, sẽ thấy: Thật sự muốn thành tựu th́ lời lăo nhân gia dạy đúng quá. Ngài chủ trương một đạo tràng, một thầy, học theo lời dạy của một vị thầy, quư vị mới có thể đắc nhất tâm bất loạn, sẽ chẳng bỏ lỡ một đời này! Hôm nay, chúng tôi giảng tới chỗ này.

 

Tập 88

 

Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang một trăm năm mươi mốt:

 

      (Sớ) Án bổn truyện, Sư, Trung Thiên Trúc quốc nhân, phụ danh Cưu Ma La Diễm, gia thế tướng quốc, khí vinh xuất du, Quy Tư vương dĩ muội thê chi, sanh Sư. Sư sanh nhi thần linh, thất tuế tùy mẫu nhập tự, kiến thiết bát, thí thủ gia đảnh, nga niệm thử bát thậm trọng, ngă hà năng cử? Tức bất thắng trọng. Toại ngộ vạn pháp duy tâm, bác học cường kư, nhân năng mạc cập.

      () 按本傳,師,中天竺國人,父名鳩摩羅琰,家世相國,棄榮出遊,龜茲王以妹妻之,生師,師生而神靈,七歲隨母入寺,見鐵缽,試取加頂,俄念此缽甚重,我何能舉?即不勝重。遂悟萬法唯心,博學強記,人能莫及。

      (Sớ: Theo truyện kư của Ngài, Sư là người xứ Trung Thiên Trúc, cha tên là Cưu Ma La Diễm (Kumārāyana), vốn thuộc ḍng dơi Tướng Quốc, bỏ vinh hoa, đi du hóa khắp nơi. Vua xứ Quy Tư (Kucha) gả em gái cho, sanh ra Sư. Sư sanh ra thông minh, bảy tuổi theo mẹ vào chùa, thấy bát sắt, thử đội lên đầu, chợt nghĩ bát này rất nặng, ta làm sao có thể giở lên được? Liền [cảm thấy] bát nặng khôn xiết, bèn ngộ “vạn pháp duy tâm”, học rộng, nhớ dai, không ai bằng được).

 

     Giới thiệu người phiên dịch bộ kinh này là Cưu Ma La Thập đại sư. Vị đại sư này là Bồ Tát tái lai, trong đời quá khứ từng là vị sư dịch kinh của bảy đức Phật, từng phiên dịch kinh điển của bảy đức Phật. V́ thế, Ngài dịch hay như thế, do có mối quan hệ nhân duyên với đời trước.

      “Bổn truyện”: Đây là trích lục từ truyện kư của Ngài. Truyện kư bản gốc rất dài, trong Đại Tạng Kinh và Cao Tăng Truyện đều có truyện kư của Ngài. Chữ “Sư” [trong lời Sớ] chỉ La Thập đại sư. “Trung Thiên Trúc quốc nhân”: Đây là nói về quê hương của Ngài. Thiên Trúc là Ấn Độ, khi ấy Ấn Độ được chia thành năm khu vực: Đông, Nam, Tây, Bắc, và Trung, Ngài là người Trung Ấn Độ. Cha Ngài là Cưu Ma La Diễm (Kumārāyana), là Tướng Quốc, tức Tể Tướng, giống như Hành Chánh Viện Trưởng (Thủ Tướng)[18] trong chế độ hiện thời, địa vị khá cao. Tuy sanh trong gia đ́nh quư tộc, ông từ bỏ phú quư đi xuất gia, [lời Sớ chép là] “khí vinh xuất du”, tức là sang du lịch nước khác. Sau đấy đến Quy Tư (Kuche, Cưu Ty), chữ này đọc [theo âm Quan Thoại] là Qiu[19] thuộc Thiên Sơn nam lộ của vùng Tân Cương, Trung Quốc; khi ấy, [Cưu Ty] là một quốc gia rất nổi danh tại Tây Vực[20]. Quốc vương Cưu Ty coi trọng Cưu Ma La Diễm, bèn gả em gái cho Ngài. Định cư ở nơi đây, sau đó, sanh ra một trai là Cưu Ma La Thập. Đây là tường thuật gia thế của Ngài.

     “Sanh nhi thần linh”: Ngài sanh ra cũng rất không tầm thường, đứa bé này vô cùng thông minh, có trí huệ. “Thất tuế tùy mẫu nhập tự” (bảy tuổi theo mẹ vào chùa), thấy bát sắt trong chùa, đội lên đầu chơi, bỗng nhiên nghĩ: Bát này nặng như thế, ta bé như thế, làm sao đội lên đầu được? Ư niệm này vừa nẩy sanh, liền cảm thấy cái bát ấy quá nặng, nhấc lên không nổi! Ngay lúc ấy, Ngài liền ngộ “vạn pháp duy tâm”. Trong tâm không có phân biệt chấp trước, sẽ chẳng có nặng hay nhẹ; có phân biệt, chấp trước, hết thảy hiện tượng sẽ sanh ra. Đúng là cảnh chuyển theo tâm! Vào thời Hán, tại Trung Quốc, Lư Quảng là một vị đại tướng rất giỏi. Có một lần trong khi hành quân, ông ta thấy một khối đá lớn trong đám cây cỏ, khối đá ấy nh́n xa giống như một con cọp, liền bắn một phát tên. Khi bắn, mũi tên cắm sâu vào tảng đá, Lư Quảng vừa nh́n thấy khối đá, liền cảm thấy chính ḿnh ghê gớm lắm: “Các ngươi xem đó, ta rất mạnh! Bắn một phát lút sâu vào đá”. Bắn phát nữa, chẳng thể xuyên vào đá! Đấy cũng là vạn pháp duy tâm! Khi ông ta bắn tên, chẳng nghĩ đó là tảng đá mà tưởng là con cọp, cho nên mũi tên có thể bắn xuyên qua. Niệm thứ hai, biết nó là tảng đá, nên mũi tên chẳng bắn xuyên thấu được. Vạn pháp duy tâm, tâm chuyển vạn pháp. “Bác học cường kư”: Đại sư có trí nhớ rất tốt, những sách đă đọc chẳng quên, “nhân năng mạc cập”: So ra, người b́nh thường chẳng bằng Ngài.

 

      (Sớ) Dĩ xung niên cao đức, cố vân Đồng Thọ.

      () 以沖年高德,故云童壽。

      (Sớ: Do [tuổi c̣n trẻ] mà đức hạnh cao trỗi như người đă lăo thành, nên gọi là Đồng Thọ).

 

      Ngài mười hai, mười ba tuổi đă giảng kinh; khi ấy, những vị cao tăng đại đức cùng Ngài biện luận đều chẳng thể thắng Ngài. Tuổi rất trẻ, nhưng học vấn lẫn đức hạnh giống như người trưởng thành, nên mọi người gọi Ngài bằng danh xưng Cưu Ma La, có nghĩa là Đồng Thọ (đứa trẻ già giặn).

 

      (Sớ) Kư thông Tam Tạng, đông du Cưu Ty, vương thiết kim sư tử ṭa xử chi.

      () 既通三藏,東遊龜茲,王設金獅子座處之。

      (Sớ: Đă thông suốt Tam Tạng, đi sang phương Đông, [trở về] xứ Cưu Ty, quốc vương bày ṭa sư tử bằng vàng thỉnh Ngài ngồi).

 

      Sau khi mẹ Ngài xuất gia, bèn dẫn Ngài sang Ấn Độ. Bà mẹ đă chứng Tam Quả, chính Ngài cũng đại triệt đại ngộ. Từ Ấn Độ du học, trở về Cưu Ty, khi ấy, La Thập đại sư hai mươi mấy tuổi. Quốc vương Cưu Ty vô cùng tôn trọng Ngài, cúng dường Ngài bảo tọa sư tử bằng vàng, thỉnh Ngài ở lại nơi ấy giảng kinh, thuyết pháp, coi Ngài như quốc bảo. Thời cổ, Trung Quốc và ngoại quốc giống nhau, coi nhân tài là quốc bảo. Đế vương, đại thần chẳng ai không tôn trọng hiền nhân, lễ hiền hạ sĩ (lễ kính, khiêm tốn đối với bậc hiền nhân, trí thức), xin họ dạy bảo cách cai trị nước nhà. Nói theo cách bây giờ là “tư chánh” (資政: giúp đỡ cai trị), làm cố vấn cho quốc vương. Đây là nói rơ địa vị của Ngài tại Cưu Ty.

 

      (Sớ) Phù Kiên cứ Tần, tương sự Tây thảo, thích Thái Sử tấu dị tinh hiện ư Tây Vực phân dă, đương hữu đại đức trí nhân, nhập phụ Trung Quốc.

      () 苻堅據秦,將事西討,適太史奏異星現於西域分野,當有大德智人,入輔中國。

      (Sớ: Phù Kiên chiếm cứ đất Tần, sắp sửa [đem quân] chinh phạt phía Tây, nhằm lúc ấy, quan Thái Sử tâu có ngôi sao lạ mọc trên phần bầu trời[21] ở phía Tây Vực, ắt sẽ có bậc đại đức trí huệ, vào giúp Trung Quốc).

 

      “Phù Kiên cứ Tần”: Vào thời Nam Bắc Triều, Phù Kiên chiếm cứ vùng Quan Trung[22], thành lập một quốc gia gọi là Tần. “Tây thảo”: “Thảo” () là “thảo phạt” (討伐). Ông ta rất có dă tâm, vẫn luôn không ngừng mong mở rộng lănh thổ quốc gia, xâm phạm những thành thị lân cận. Thời cổ coi trọng bói toán, chiêm tinh, nó có ảnh hưởng rất lớn đến quốc gia đại sự. “Thái Sử” là chức quan trông coi việc quan sát hiện tượng thiên văn, ông ta thấy một ngôi sao rất lớn xuất hiện tại phương Tây. Đây là hiện tượng bất thường, bèn tâu lên Tần vương: Phía Tây xuất hiện một ngôi sao lớn. Căn cứ trên sự bói toán, phương Tây có bậc đại đức đại trí huệ đến Trung Quốc, giúp đỡ Trung Quốc.

 

      (Sớ) Kiên vân: “Trẫm văn Cưu Ty hữu La Thập giả, đắc phi thử da?

      () 堅云:朕聞龜茲有羅什者,得非此耶?

      (Sớ: Phù Kiên nói: “Trẫm nghe nói xứ Cưu Ty có ngài La Thập, có phải là người ấy đó chăng?”)

     

      Phù Kiên nói: “Ta nghe nói nước Cưu Ty có một vị tên là Cưu Ma La Thập, có đúng người ấy hay chăng”. V́ sự bói toán này, khi ấy, nhà vua bèn sai người sang Tây Vực nghênh thỉnh ngài Cưu Ma La Thập, thỉnh bậc cao nhân thật sự có trí huệ, có đức hạnh đến phụ trợ quốc gia này; nhưng quốc vương [Cưu Ty] không chịu để cho Ngài đi.

 

      (Sớ) Khiển tướng Lữ Quang.

      () 遣將呂光。

      (Sớ: Phù Kiên sai tướng Lữ Quang).

     

      Năm Kiến Nguyên mười ba (377) thời Phù Kiên, phái đại tướng Lữ Quang dẫn bảy vạn đại quân Tây chinh.

 

      (Sớ) Lâm phát, vị viết.

      () 臨發,謂曰。

      (Sớ: Lúc sắp xuất hành, vua nói).

 

      Lúc sắp dẫn quân đi, vua dặn riêng Lữ Quang.

 

      (Sớ) Trẫm phi tham địa dụng binh.

      () 朕非貪地用兵。

      (Sớ: Ta chẳng phải do tham chiếm đất mà dụng binh).

     

      Xuất binh lần này không phải là tham cầu đất đai của người ta, mà cũng chẳng phải là tham cầu vàng, bạc, đồ quư giá.

 

      (Sớ) Văn La Thập thâm giải pháp tướng, vi hậu học tông.

      () 聞羅什深解法相,為後學宗。

      (Sớ: Ta nghe nói La Thập hiểu pháp tướng sâu xa, là bậc tông sư cho hàng hậu học).

 

      Ta nghe nói La Thập đại sư hết sức thông đạt Đại Thừa Phật pháp, quả thật có sự ngộ nhập rất sâu, là tông sư cho hàng hậu học. “Tông” là tông sư, là tổ sư trong Phật môn, Nho gia gọi vị ấy là tông sư.

 

      (Sớ) Nhược khắc Cưu Ty, tức nghi tŕ dịch tống Thập.

      () 若克龜茲,即宜馳驛送什。

      (Sớ: Nếu phá tan Cưu Ty, hăy mau đưa ngài La Thập trở về).

 

      Phá được Cưu Ty, thắng trận, hăy lập tức dùng khoái mă (ngựa chạy rất nhanh), chạy tiếp sức từng trạm chẳng ngừng, ngay lập tức đưa pháp sư La Thập về. Bỏ ra bảy vạn đại quân chẳng tiếc nuối, lao sư động chúng[23] để thỉnh một người. Phù Kiên tôn trọng hiền nhân, đúng là chẳng cần phải tranh căi nữa! Lữ Quang dẫn đại quân tới nước Cưu Ty. Tuy Cưu Ty là một nước lớn ở Tây Vực, cũng bất quá là một thành mà thôi, không có cách nào chống lại binh Tần. Quân Tần vây kín đô thành nước Cưu Ty, nói rơ nguyên nhân v́ sao kéo đến: Do muốn thỉnh người ấy. Vua Cưu Ty rất không vừa ḷng, muốn chống lại. La Thập bảo vua Cưu Ty: “Binh lực của chúng ta không bằng người ta, nhất định sẽ thua trận, chẳng biết bao nhiêu người bị tử thương”, khuyên vua Cưu Ty ḥa đàm, không nên chiến tranh, Ngài tự theo họ đi. Vua Cưu Ty nghe lời Ngài khuyên. Trong t́nh h́nh ấy, Lữ Quang dẫn Cưu Ma La Thập đại sư trở về Trung Quốc, thỉnh đến như thế đó!

 

      (Sớ) Cập phá Cưu Ty, tải Thập dĩ quy.

      () 及破龜茲,載什以歸。

      (Sớ: Đến khi phá được Cưu Ty, chở ngài La Thập về).

     

      Thắng trận, dùng xe chở La Thập đại sư về.

 

      (Sớ) Trung đạo, văn Kiên dĩ vi Diêu Trành sở hại, toại chỉ bất phản, Thập sư nhân bất chí Tần.

  () 中道聞堅已為姚萇所害,遂止不返,什師因不至秦。

      (Sớ: Giữa đường, nghe Phù Kiên đă bị Diêu Trành hại, bèn dừng lại, không trở về [kinh đô Trường An] nữa, do vậy, ngài La Thập chưa đến đất Tần).

 

      Lữ Quang về tới Lương Châu, nay thuộc tỉnh Cam Túc, được tin quốc gia có biến cố. Tần vương đánh nhau với Đông Tấn tại Ph́ Thủy, thua trận. Nói thật ra, ông ta bại trận lần này v́ quá kiêu ngạo, đó gọi là “kiêu binh tất bại”. Khi ấy, Phù Kiên dẫn mấy chục vạn quân, phô trương là một trăm vạn, quân đội Đông Tấn tập hợp hết cả lại, tổng cộng chưa đầy mười vạn người. Đấy là “dĩ quả địch chúng” (lấy ít chống đông). Phù Kiên hết sức kiêu ngạo, nghĩ ḿnh ắt chiến thắng, Đông Tấn đâu có lực lượng nào để chống lại ông ta? Không ngờ chính ḿnh bại trận! Sau khi bại trận, quay về, đại tướng dưới quyền là Diêu Trành đảo chánh, giết ông ta để tự ḿnh làm quốc vương. Diêu Trành và Lữ Quang cùng là đại tướng của Phù Kiên, nay Diêu Trành làm quốc vương, Lữ Quang chẳng phục; v́ thế, chiếm cứ Lương Châu, lập ra nước Lương tại đó, xưng là Lương Vương. Khi ấy, lực lượng của ông ta khá hùng hậu, Diêu Trành cũng chẳng có cách nào khác. Do vậy, La Thập đại sư không có cách nào đến nước Tần, ở Lương Châu gần ba mươi năm. Lữ Quang biết ngài La Thập là một người lỗi lạc, nhưng chính ḿnh không thể dùng Ngài, lại không dám tha Ngài, v́ Ngài là người có trí huệ, sợ Ngài phù tá người khác. Do vậy, giam kín Ngài tại Lương Châu. Mẹ ngài La Thập từng bảo Ngài: “Ngươi và Trung Quốc hữu duyên, nhưng phải chịu tai nạn rất lớn, sẽ gặp cảnh giam cầm”. La Thập thưa cùng mẹ: “Chỉ cần có thể lợi ích chúng sanh, khổ nạn dẫu lớn đến mấy cũng đều ưng chịu”.

 

      (Sớ) Hậu Trành diệc văn Sư danh, yếu thỉnh, nhi Quang bất doăn.

      () 後萇亦聞師名,要請,而光不允。

      (Sớ: Sau này, Diêu Trành cũng nghe danh Sư, muốn thỉnh, nhưng Quang không chấp nhận).

 

      Diêu Trành hướng về Lữ Quang yêu cầu, mong có thể thỉnh La Thập đại sư tới Trường An, Lữ Quang không đáp ứng.

 

      (Sớ) Trành vong, tử Hưng phục thỉnh, diệc bất doăn.

      () 萇亡,子興復請,亦不允。

      (Sớ: Diêu Trành mất, con là Diêu Hưng lại thỉnh, Lữ Quang vẫn không chấp nhận).

 

      Sau khi Diêu Trành chết, con trai là Diêu Hưng kế vị, lại hướng về nước Lương thỉnh cầu hăy để Cưu Ma La Thập đại sư tới Trường An, nhưng vẫn không được đáp ứng.

 

      (Sớ) Nhân khiển binh phạt Quang, Quang điệt hàng Tần, phương đắc nghênh Sư nhập quan, phụng vi quốc sư.

      () 因遣兵伐光,光姪降秦,方得迎師入關,奉為國師。

      (Sớ: Do vậy, phái quân chinh phạt Quang. Cháu của Quang bèn đầu hàng nước Tần, mới đón được Sư về Quan Trung, tôn làm quốc sư).

 

      Khi ấy, Lữ Quang đă chết, cháu trai của Lữ Quang đầu hàng, Diêu Hưng mới có thể nghênh thỉnh La Thập đại sư tới Trường An. Diêu Hưng đối xử với Ngài theo lễ tiết quốc sư, vô cùng tôn kính. Lại c̣n đem biệt thự của hoàng đế trong vườn Tiêu Dao cúng dường La Thập đại sư, thỉnh Ngài tiến hành công tác dịch kinh. Ngài ở Trường An bảy năm rồi viên tịch. Do vậy, La Thập đại sư tới Trung Quốc hoằng pháp trên thực tế chỉ có bảy năm. Thuở ấy, dịch trường dịch kinh của La Thập đại sư gần như tới tám trăm người, quy mô to lớn, là dịch trường bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Sau này, dịch trường của Huyền Trang đại sư đại khái là sáu trăm người. V́ Ngài trụ tại Lương Châu một thời gian dài, học tiếng Hán đến nơi đến chốn, những kinh điển do Ngài dịch gần như là văn chương do người Hoa viết. V́ thế, tài nghệ về tiếng Hán của tất cả các pháp sư dịch kinh khác đều chẳng bằng ngài La Thập. Đối với Phật giáo Trung Quốc, Ngài có ảnh hưởng sâu xa, có cống hiến không ai lớn bằng!

 

      (Sớ) Sư duyệt cựu kinh, nghĩa đa phi tích, bất dữ Phạn bổn tương ứng.

      () 師閱舊經,義多紕僻,不與梵本相應。

      (Sớ: Ngài duyệt những kinh điển đă dịch từ trước, thấy nghĩa lư sai lạc, trúc trắc, chẳng tương ứng với nguyên gốc tiếng Phạn).

       

      La Thập đại sư thấy kinh điển được phiên dịch tại Trung Quốc trước đó, nghĩa lư có rất nhiều thiếu sót, có rất nhiều chỗ chẳng viên măn.

 

      (Sớ) Năi tập sa-môn Triệu, Duệ đẳng bát bách dư nhân, tân dịch kinh luận tam bách cửu thập dư quyển, tịnh sướng thần nguyên, phát huy u trí.

      () 乃集沙門肇叡等八百餘人,新譯經論三百九十餘卷,並暢神源,發揮幽致。

      (Sớ: Bèn nhóm họp các sa-môn như Tăng Triệu, Tăng Duệ v.v... hơn tám trăm người, dịch lại các bản mới đến hơn ba trăm chín mươi quyển, khiến cho những nguồn cội thần kỳ, mầu nhiệm trở thành thông suốt, nêu tỏ lư thẳm sâu tột cùng).

 

      Thuở ấy là lúc nhân tài trong Phật môn cực thịnh, các đời sau không có cách nào hơn được. Những vị như Tăng Triệu, Tăng Duệ đều là những nhân vật lỗi lạc. Lúc ấy, Tăng Triệu đại sư hai mươi mấy tuổi, Ngài thọ mạng rất ngắn, ba mươi mấy tuổi đă qua đời, nhưng thành tựu chẳng thể nghĩ bàn, lưu lại các trước tác như Duy Ma Kinh Chú Giải, Triệu Luận măi cho đến nay đều vẫn là những tác phẩm đầy uy tín trong Tánh Tông. Tăng Duệ cũng là một trong tứ đại đệ tử của ngài La Thập. Dịch trường của đại sư có hơn tám trăm người, có thể nói là đă tập hợp tinh anh cả nước để tiến hành công tác phiên dịch. Tổng cộng dịch được hơn ba trăm chín mươi quyển kinh luận, mỗi một bộ đều dịch hết sức hay. Người Trung Quốc thường niệm kinh Di Đà, kinh Kim Cang, kinh Pháp Hoa, [những kinh ấy] đều do Ngài phiên dịch. “Phát huy u trí”: “U” () là Lư sâu thẳm qua sự phiên dịch của Ngài đều được hiển lộ rất rơ rệt.

 

      (Sớ) Sư vị chung thiểu nhật, tập chúng vị viết: “Nguyện sở tuyên dịch, truyền chi hậu thế, hàm cộng lưu thông, kim ư chúng tiền, phát thành thật thệ, nhược sở truyền vô mậu, đương sử phần thân chi hậu, thiệt bất tiêu lạn.

      () 師未終少日,集眾謂曰:願所宣譯,傳之後世,咸共流通,今於眾前,發誠實誓,若所傳無謬,當使焚身之後,舌不焦爛。

      (Sớ: Trước khi Sư tịch mấy ngày, nhóm đại chúng, bảo: “Nguyện những kinh điển do tôi tuyên dịch, truyền đến đời sau đều được lưu thông. Nay đối trước đại chúng, phát thệ thành thật, nếu những bản dịch được truyền lại không sai lầm, sẽ khiến cho sau khi hỏa thiêu, lưỡi chẳng cháy tiêu”).

     

      Thuở ấy, La Thập đại sư tới Trung Quốc, Diêu Hưng biết đại sư là người thông minh tuyệt đỉnh, nếu Ngài sanh mấy đứa con, nhất định chúng nó sẽ thông minh tuyệt đỉnh. Ngài là người xuất gia, quốc vương ban cho Ngài mười mỹ nữ, ép Ngài nhất định phải nhận lấy. Truyện kư có chép chuyện ngài La Thập nuốt kim. Ngài dạy học tṛ tŕ giới, học tṛ thấy Ngài như vậy, có kẻ chẳng phục lắm. La Thập đại sư chẳng có cách nào, bất đắc dĩ hiển lộ một chút thần thông, lấy kim thêu bỏ đầy một chén, ăn hết chén kim ấy trước mặt mọi người, nhằm bảo học tṛ: “Các ông có năng lực giống như ta th́ mới có thể bắt chước ta, chưa có năng lực ấy th́ hăy ngoan ngoăn tŕ giới”.

      “Vị chung thiểu nhật”: Trước lúc Ngài viên tịch vài bữa, Ngài triệu tập đại chúng, hướng về mọi người tuyên bố, nói rơ những kinh điển do Ngài phiên dịch chẳng có sai lầm, mong muốn những kinh điển ấy có thể lưu thông trong đời sau. “Kim ư chúng tiền”: Đối trước đại chúng phát thệ, nếu kinh điển do Ngài phiên dịch chẳng sai lầm, có thể phù hợp ư Phật, sau khi Ngài đă chết, đem hỏa táng, lưỡi chẳng nát, dùng chuyện này để chứng minh.

 

      (Sớ) Dĩ Hoằng Thỉ thập nhất niên bát nguyệt, nhị thập nhật, tuất[24] ư Trường An.

      () 以弘始十一年八月二十日卒於長安。

      (Sớ: Ngày Hai Mươi tháng Tám năm Hoằng Thỉ thứ mười một (409), Ngài mất tại Trường An).

 

      Lăo nhân gia viên tịch ngày Hai Mươi tháng Tám Âm lịch.

 

      (Sớ) Xà-duy tân diệt h́nh tận.

      () 闍維薪滅形盡。

      (Sớ: Khi trà tỳ, [tới lúc] củi cháy hết, thân h́nh đều cháy tan).

 

      Xà-duy (Jhāpeti) là hỏa táng. Sau khi hỏa táng, “tân diệt”: Tân () là củi để thiêu; củi thiêu cháy sạch rồi, “h́nh tận”: Cả cái thân đều cháy tan, cháy hết sạch.

 

      (Sớ) Thiệt căn nghiễm nhiên.

      () 舌根儼然。

      (Sớ: Lưỡi vẫn c̣n nguyên).

     

      Quả nhiên chẳng sai! Đúng như Ngài đă tự nói, lưỡi Ngài chẳng nát! Toàn thân cháy tan thành tro, lưỡi chẳng tan, dùng chuyện này để chứng tỏ kinh điển do Ngài đă dịch phù hợp ư Phật.

 

      (Sớ) Kim thử kinh giả, dịch ư Thập sư, nhi thiệt căn bất hoại, dữ chư Phật xuất quảng trường thiệt tán thán thử kinh, hợp nhi quán chi, Phật ngữ bất hư, ư thị ích tín.

      () 今此經者,譯於什師,而舌根不壞,與諸佛出廣長舌讚歎此經,合而觀之,佛語不虛,於是益信。

      (Sớ: Nay kinh này do ngài La Thập dịch, mà lưỡi Ngài chẳng nát, cùng với chư Phật hiện tướng lưỡi rộng dài tán thán kinh này. Hợp cả hai điều này lại để xem xét, lời Phật chẳng dối; do vậy, càng thêm tin tưởng).

 

      La Thập đại sư phát thệ nguyện giữ cái lưỡi lại để chứng minh. Trong kinh này, mười phương chư Phật hiện tướng lưỡi rộng dài ca ngợi kinh này, khuyên chúng ta tu học. Chúng ta hợp những điều này lại để xem xét, ḷng tin mới có thể tăng trưởng.

 

      (Huyền Nghĩa) Nhị, danh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh.

      (玄義) 二、名稱讚淨土佛攝受經。

      (Huyền Nghĩa: Bản thứ hai tên là Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh).

 

      Kinh này có hai bản dịch, bản trước do La Thập đại sư phiên dịch, nay chúng ta đang dùng bản này. Về sau, Huyền Trang đại sư từ Ấn Độ trở về, mang theo nguyên bản kinh Di Đà bằng tiếng Phạn, cũng dịch sang tiếng Hán, nhưng tựa đề kinh khác nhau, Huyền Trang đại sư ghi tên kinh là Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh.

 

      (Huyền Nghĩa) Đường Tam Tạng pháp sư Huyền Trang dịch, nhị kinh liên tỷ, tiểu dị đại đồng, thời sở tông thượng, giai hoằng Tần bổn.

      (玄義) 唐三藏法師玄奘譯,二經聯比,小異大同,時所宗尚,皆弘秦本。

      (Huyền Nghĩa: Do Tam Tạng pháp sư Huyền Trang dịch vào đời Đường. So sánh giữa hai kinh, sai biệt đôi chút, những điểm chánh yếu đều giống nhau, nhưng các thời đều ưa chuộng, hoằng dương bản dịch đời Tần).

 

      “Liên” () là liên tục, ngài La Thập dịch trước, ngài Huyền Trang dịch sau. “Tỷ” () là so sánh. Lấy hai bản này để so sánh, ư nghĩa giống như nhau, nhưng văn tự khác nhau, cho nên là đại đồng tiểu dị; nhưng từ xưa tới nay bản được lưu thông luôn là bản dịch của La Thập đại sư. Tuy Huyền Trang đại sư có phiên dịch, nhưng từ xưa tới nay không có ai niệm bản dịch của Ngài. Huyền Trang đại sư phát tâm tới Ấn Độ v́ hoài nghi kinh điển được phiên dịch qua các đời chẳng đáng tin cậy lắm, cho nên tự ḿnh đến Ấn Độ để ấn chứng đôi chút, coi thử bản dịch bằng tiếng Hán và nguyên văn kinh điển có bị sai khác rất lớn hay chăng, có bị dịch sai hay không. Do động cơ (motivation) này, Ngài qua Ấn Độ, ở lại Ấn Độ học tập mười bảy năm.

      Thuở ấy, du hành bằng ngựa, tức là cỡi ngựa, giao thông chẳng thuận tiện như hiện tại, kinh điển từ Ấn Độ chuyển về Trung Quốc cũng vô cùng gian khổ. Kinh chép trên lá Bối. Lá cây Bối Đa La (Pattra) dầy như lá chuối, nhưng chất liệu bền bỉ hơn lá chuối rất nhiều. Quư vị hăy nghĩ xem: Lá cây cồng kềnh, một mảnh lá cây như vậy được cắt thành từng miếng, mỗi miếng chép bốn ḍng, một thớt ngựa đại khái chỉ chở được một bộ kinh mà thôi! Kinh sách, tượng Phật từ Ấn Độ mang về Trung Quốc, gặp bao nhiêu khổ nạn chẳng thể nào tưởng tượng, đúng là nguy hiểm tánh mạng, chín phần chết, một phần sống.

      Sau khi trở về, Huyền Trang đại sư đă công nhận bản dịch kinh Di Đà của Cưu Ma La Thập đại sư không có vấn đề ǵ. Nếu có vấn đề, Ngài đă sớm tuyên bố nên dùng bản dịch của Ngài. Bản dịch của Ngài chỉ để cho chúng ta tham khảo, vẫn chủ trương mọi người hăy niệm bản dịch của La Thập đại sư y như cũ; do vậy, chúng ta đối với bộ kinh này, càng tăng trưởng ḷng tin vô cùng. Truyền nhân của Huyền Trang đại sư là Khuy Cơ, Khuy Cơ đại sư là khai sơn tổ sư của Pháp Tướng Duy Thức Tông. Bộ Di Đà Kinh Thông Tán Sớ của Khuy Cơ đại sư đă dùng bản dịch của Cưu Ma La Thập. Khuy Cơ đại sư chú giải kinh Di Đà chẳng chọn bản dịch của thầy, mà chọn bản dịch của Cưu Ma La Thập đại sư, dụng ư ấy đặc biệt sâu xa. Hai vị đại sư này làm chứng cho chúng ta biết: Bản dịch của Cưu Ma La Thập đại sư chắc chắn là khá lắm, hai Ngài đều tán thán, đều giúp lưu thông, c̣n tranh căi ǵ nữa hay chăng? Hơn nữa, Khuy Cơ đại sư chú giải kinh Di Đà, tán thán pháp môn này, tán thán đến mức không c̣n ǵ hơn được nữa: Chí viên chí đốn, từ một ngày đến bảy ngày thành tựu. Nếu câu nói này thốt ra từ miệng một vị Tổ Sư bên Tịnh Độ Tông sẽ là chuyện rất b́nh thường, nhưng do khai sơn tổ sư của Duy Thức Pháp Tướng Tông thốt ra, chuyện này chẳng đơn giản! Do vậy, cống hiến của hai vị đại sư đối với pháp môn Tịnh Độ quả thật quá to lớn. Chúng ta nên hiểu điều này!

 

      (Sớ) Huyền Trang pháp sư giả, Đường Lạc Châu Câu Thị nhân, tánh Trần thị.

      () 玄奘法師者,唐洛州緱氏人,姓陳氏。

      (Sớ: Pháp sư Huyền Trang pháp sư là người huyện Câu Thị, xứ Lạc Châu, sống vào đời Đường, họ Trần).

 

      “Đường” là đời Đường, Lạc Châu nay là Lạc Dương, Ngài là người huyện Câu Thị. “Tánh Trần thị” (họ Trần) đây là họ ngoài đời[25] của Ngài.

 

      (Sớ) Thiếu ly hoạn nạn, tùy huynh Trưởng Kiện pháp sư xuất gia ư Tịnh Trụ Tự.

      () 少罹患難,隨兄長腱法師出家於淨住寺。

      (Sớ: Thuở nhỏ gặp hoạn nạn, theo anh là pháp sư Trưởng Kiện xuất gia tại chùa Tịnh Trụ).

 

      Lúc c̣n trẻ, gia cảnh khó khăn, anh Ngài xuất gia, Ngài cũng xuất gia làm tiểu sa-di.

 

      (Sớ) Niên thập nhất, tụng Duy Ma, Pháp Hoa, trác nhiên tự lập, bất ngẫu thời lưu.

      () 年十一,誦維摩法華,卓然自立,不偶時流。

      (Sớ: Năm mười một tuổi, do tụng Duy Ma và Pháp Hoa, nổi bật hơn người, chẳng chơi đùa cùng đồng bạn).

 

      Mười một tuổi, nếu nói theo chúng ta hiện thời th́ gần như là một đứa bé con chẳng hiểu biết nhiều nhặn ǵ! Khi ấy, gia cảnh kham khổ, có lẽ là một đứa trẻ cha mẹ đă khuất, không nơi nương tựa, thường được đưa đến chùa miếu làm tiểu sa-di. Theo quy chế nhà Phật, bảy tuổi mới có thể là sa-di. Nh́n vào những tiểu sa-di ở chung với nhau, đương nhiên trẻ nhỏ không thể nào chẳng chơi đùa. Ngài mười một tuổi, tuổi chẳng khác mọi người cho mấy, nhưng Ngài quở trách các bạn trẻ khác: “Đă xuất gia th́ phải nên nghiêm túc tu học Phật pháp, chẳng thể vẫn giống như lũ trẻ giỡn hớt, đùa nghịch, bỏ phí thời gian quư báu của chính ḿnh”. Ngài có thể nói những câu này, những người lớn nghe được, biết đứa bé này chẳng tầm thường, nên cũng khá coi trọng Ngài. “Trác nhiên tự lập” là nói đến chuyện này. “Bất ngẫu thời lưu” là chẳng chơi đùa cùng với mọi người.

 

      (Sớ) Niên nhị thập nhất, giảng Tâm Luận, bất khuy văn tướng, dũng chú bất cùng, thời hiệu “thần nhân”.

      () 年二十一,講心論,不窺文相,涌注不窮,時號神人。

      (Sớ: Năm hai mươi mốt tuổi, giảng Tâm Luận, chẳng nh́n vào văn tự, mà tuyên giảng ào ạt chẳng ngớt, khi ấy, gọi Ngài là “thần nhân”).

     

      Ngài từ năm mười một tuổi đă chuyên tâm nhất chí, chẳng ham vui đùa, chuyên tâm tu học Phật pháp, tới năm hai mươi mốt tuổi đă có thành tựu kha khá. Ngài giảng kinh có thể không cần nương theo chú giải, lên bục giảng, ư nghĩa tự nhiên nẩy sanh “dũng chú bất cùng” (tuôn ra ào ạt chẳng ngớt), đối với nghĩa lư áo diệu trong kinh, từ cái tâm thanh tịnh giống như nước suối tuôn trào ra ngoài. Đây là trí huệ, mà cũng là cảm ứng; do vậy, Ngài được gọi là “thần nhân”, thật sự là bậc hữu đức hữu học. La Thập đại sư thuở ấy là như vậy, mà ngài Huyền Trang cũng chẳng phải là ngoại lệ.

 

      (Sớ) Trinh Quán tam niên, văng Tây Vực thủ kinh, bị kinh hiểm nạn, lịch bách ngũ thập quốc, toại chí Xá Vệ.

      () 貞觀三年,往西域取經,備經險難,歷百五十國,遂至舍衛。

      (Sớ: Năm Trinh Quán thứ ba (629), sang Tây Vực thỉnh kinh, trải đủ mọi nỗi hiểm nạn, đi khắp một trăm năm mươi nước, dần dần đến Xá Vệ).

 

       Trinh Quán (626-649) là niên hiệu của Đường Thái Tông. Vào thời ấy, ra khỏi nước phải được hoàng đế phê chuẩn. Hoàng đế chẳng phê chuẩn, Ngài lén lút ra đi. Trên đường đi, đúng là nếm trọn hết nỗi khổ, đến Đôn Hoàng[26], đồng bạn đều ngă ḷng, quay về, chịu khổ không thấu mà! Ngài một ḿnh, chẳng sợ gian nan, nguy hiểm, lần lượt đi qua hơn một trăm năm mươi quốc gia, những nước này đều là tiểu quốc. Đi như vậy đến thành Xá Vệ của Ấn Độ. Chùa Na Lạn Đà (Nālandā)[27] là nơi Huyền Trang đại sư ở lại để học tập, cũng thuộc thành Xá Vệ.

     

      (Sớ) Thủ kinh lục bách dư bộ, Trinh Quán thập cửu niên hoàn kinh.

      () 取經六百餘部,貞觀十九年還京。

      (Sớ: Thỉnh được hơn sáu trăm bộ kinh, năm Trinh Quán mười chín, trở lại kinh thành).

 

      Ngài ra đi năm Trinh Quán thứ ba (629), năm Trinh Quán mười chín (645) quay về. Từ đầu đến cuối là mười bảy năm. Khi trở về, Đường Thái Tông nghênh tiếp tại trường đ́nh, gặp mặt Ngài bèn hỏi: “Sao Ngài lại lén lút ra đi?” Đây là Ngài hết sức thành công tại ngoại quốc, vô cùng quang vinh trở về. Lúc đó, người Ấn Độ tôn xưng Ngài là Đại Thừa Thiên. Tại Ấn Độ, trong Đại Thừa Phật pháp, không có một ai có thể trội hơn Huyền Trang đại sư. Khi ấy, Ấn Độ có mười tám quốc vương hợp sức tổ chức cử hành một đại hội biện luận. giống như là đấu vơ đài vậy, thỉnh Huyền Trang đại sư chủ tŕ, bất cứ ai trong xứ Ngũ Ấn Độ đều có thể tùy tiện biện luận với Ngài, nhưng không có một ai tranh biện thắng nổi Ngài. Lúc trở về khác hẳn, mỗi lần đến một nước nào, quốc vương, đại thần đích thân nghênh tiếp và đưa tiễn, cho nên Ngài mang nhiều kinh sách như vậy quay về chẳng khó khăn, dọc đường có người hộ tống, có người cung cấp ngựa và lương khô, đúng là “áo gấm vinh quy”. Sau khi Ngài trở lại Trung Quốc, Đường Thái Tông đích thân ra ngoài thành hoan nghênh Ngài.

 

      (Sớ) Ư Ngọc Hoa Đài phiên dịch kinh luận, tổng nhất thiên tam bách tam thập quyển.

      () 於玉華臺翻譯經論,總一千三百三十卷。

      (Sớ: Phiên dịch kinh luận ở Ngọc Hoa Đài, tổng cộng một ngàn ba trăm ba mươi quyển).

     

      Trong lịch sử dịch kinh Trung Quốc, Huyền Trang đại sư phiên dịch kinh điển nhiều nhất, phong phú nhất. Ngài mang về hơn sáu trăm bộ kinh sách, mỗi một bộ nhỏ th́ chỉ có một quyển, lớn th́ có tới cả ngàn quyển. Nguyên văn Trí Độ Luận là một ngàn quyển, Huyền Trang đại sư phiên dịch, đă rút gọn thành một trăm quyển. Chỉ có Đại Bát Nhă Kinh sáu trăm quyển là phiên dịch giữ đúng nguyên văn. Kinh Kim Cang là một quyển trong bộ kinh Đại Bát Nhă này, quyển này cũng là tinh hoa của toàn bộ kinh Bát Nhă. Huyền Trang đại sư phiên dịch kinh luận tổng cộng một ngàn ba trăm ba mươi quyển, dịch nhiều nhất!

      Những kinh do Huyền Trang đại sư dịch là trực dịch. Theo ngữ pháp trong tiếng Ấn Độ có rất nhiều câu viết theo lối đảo ngược, người Trung Quốc đọc bản dịch của Ngài [cảm thấy] không quen thuộc lắm! La Thập đại sư là ư dịch, tức là Ngài vốn đă hiểu rơ ư nghĩa của bản gốc kinh điển, hoàn toàn dùng ngữ pháp và cách nói của người Hoa để phiên dịch, cho nên chúng ta thấy kinh do Ngài dịch giống như văn chương của người Hoa, nên họ đọc rất hoan hỷ, chẳng gặp khó khăn. Bản dịch của La Thập đại sư đặc biệt được người Trung Quốc hoan nghênh là do đạo lư này!

 

      (Sớ) Kư ngọa tật.

      () 既臥疾。

      (Sớ: Đă nằm bệnh).

     

      Huyền Trang đại sư viên tịch năm sáu mươi mấy tuổi. Tại Trung Quốc, gần như là những pháp sư đại đức nghiên cứu Duy Thức Pháp Tướng thọ mạng cũng chẳng dài, những vị có thể thọ hơn bảy mươi tuổi rất ít. Chúng tôi nghĩ có lẽ là do các Ngài suy nghĩ quá độ! Duy Thức Pháp Tướng rất tốn công suy nghĩ, quả thật là có chút hợp lư. Hiện thời, cũng có không ít người rất có hứng thú đối với tông này, nhưng muốn thật sự thành tựu, chắc chắn là vắt kiệt cân năo, v́ phải làm công tác phân tích, phân tích vô cùng vi tế. Không giống như Tánh Tông hay Niệm Phật, chẳng cần phải bận tâm ǵ hết, cầu nhất tâm bất loạn, tâm thanh tịnh là được rồi! Khi Huyền Trang đại sư viên tịch, Ngài ngă bệnh. Có học tṛ hỏi Ngài: “Công phu tu hành của lăo nhân gia tốt đẹp dường ấy, cả đời phiên dịch kinh điển nhiều ngần ấy, có công đức to dường ấy, cớ sao lúc ra đi vẫn ngă bệnh?” Ngài bảo: “Do tội chướng từ vô thỉ kiếp tới nay, tội nặng, báo nhẹ, do đau bệnh lần này, tất cả nghiệp chướng sẽ đều tiêu trừ”.

 

      (Sớ) Kiến đại bạch liên hoa cập Phật tướng.

      () 見大白蓮華及佛相。

      (Sớ: Thấy hoa sen trắng to và h́nh tướng Phật).

     

      Đây là một tướng lành hết sức tốt đẹp.

 

      (Sớ) Hữu hiếp lũy túc nhi thệ, lưỡng nguyệt, sắc mạo như sanh.

      () 右脅累足而逝,兩月,色貌如生。

      (Sớ: Xếp chân nằm trên hông phải qua đời, đă mất hai tháng mà sắc tướng, diện mạo vẫn như c̣n sống).

 

      V́ Ngài là người được Đường Thái Tông tôn kính nhất, nên sau khi Ngài đă tịch, vua đă lưu xác Ngài hai tháng rồi mới nhập liệm, diện mạo như c̣n sống, có thể thấy tướng tốt lành này.

 

      (Sớ) Tiên thị Tây hành chi nhật, phủ Linh Nghiêm Tự tùng nhi tác thệ ngôn: “Ngô Tây khứ, nhữ Tây trưởng, ngô Đông quy, nhữ Đông hướng”.

      () 先是西行之日,撫靈嚴寺松而作誓言:吾西去,汝西長,吾東歸,汝東向。

      (Sớ: Trước ngày Ngài sang Tây Trúc, đă vỗ vào cây tùng ở chùa Linh Nghiêm thề rằng: “Ta sang phương Tây, ngươi hăy mọc dài về phương Tây. Ta trở về phương Đông, ngươi hăy hướng về phương Đông”).

 

     Khi Ngài sang Ấn Độ, xuất phát từ Linh Nghiêm Tự. Ở cổng chùa Linh Nghiêm có một gốc tùng, Ngài bèn vỗ vào thân cây tùng, bảo nó: “Ta sang phương Tây thỉnh kinh, ngươi hăy mọc dài về phương Tây. Năm nào ta trở về, ngươi hăy đổi lại, mọc dài sang phương Đông”. Đúng là như vậy, cây này rất linh.

 

      (Sớ) Sư khứ, tùng Tây trưởng chí ư sổ trượng.

      () 師去,松西長至於數丈。

      (Sớ: Sư đi rồi, cây tùng mọc dài về phía Tây đến mấy trượng).

 

      Huyền Trang đại sư sang Ấn Độ, cây ấy mọc dài về phía Tây, mọc đặc biệt tươi tốt, mọc đến vài trượng.

 

      (Sớ) Nhất nhật hốt Đông hồi.

      () 一日忽東迴。

      (Sớ: Một hôm, cây chợt mọc trở về phương Đông).

 

      Có một ngày, những pháp sư trong chùa thấy cây ấy xoay trở lại, mọc dài về phương Đông. Mọi người nhớ mười bảy năm trước lúc Huyền Trang đại sư sang Ấn Độ, đi rồi tin tức mịt mù, chẳng biết Ngài c̣n sống hay đă chết? Sau mười bảy năm, thấy cây ấy mọc dài về phương Đông, quay trở lại, mọi người trong ḷng hoan hỷ, Huyền Trang đại sư sắp quay về!

 

      (Sớ) Môn đệ tử hỷ viết: “Sư quy hỹ”. Dĩ nhi quả nhiên, thời hiệu Ma Đảnh Tùng vân.

      () 門弟子喜曰:師歸矣。已而果然,時號摩頂松云。

      (Sớ: Các đệ tử vui mừng nói: “Thầy về rồi đấy!” Quả nhiên là như thế, khi ấy, người ta gọi cây tùng ấy là Cây Tùng Được Xoa Đầu).

 

      Cây tùng ấy sau này được gọi là Ma Đảnh Tùng. Ngay cả cây cỏ đều có linh tánh, con người quyết định chớ nên cô phụ linh tánh của chính ḿnh.

 

      (Sớ) Án sư thệ ngôn tự yếu, bất sảng như thị, chân ngữ, thật ngữ.

      () 按師誓言自要,不爽如是,真語實語。

      (Sớ: Xét thấy lời Sư tự thề chẳng sai sẩy như thế, [đó là] chân ngữ, thật ngữ).

 

      Điều này cũng có thể là chứng minh: Lời Ngài là lời chân thật. La Thập đại sư dùng cái lưỡi để làm chứng, Huyền Trang đại sư dùng cây tùng ấy cũng có thể làm chứng. Nếu chẳng phải là lời chân thành, chẳng thể cảm động cây cỏ. Chỉ có chân thành mới có thể cảm động.

 

      (Sớ) Diệc Thập sư thiệt căn bất hoại, chư Phật thiệt tướng quảng trường ư dă.

      () 亦什師舌根不壞,諸佛舌相廣長意也。

      (Sớ: Cũng có cùng một ư nghĩa với chuyện cái lưỡi của ngài La Thập chẳng hư nát và tướng lưỡi dài rộng của chư Phật vậy).

     

      Điều này nói chung giống với ư nghĩa đă được nói trong phần trước.

 

      (Sớ) Sở dịch thử kinh, yên khả bất tín?

      () 所譯此經,焉可不信?

      (Sớ: Đối với kinh này do các Ngài dịch, há có thể chẳng tin?)

 

      Đây là nói đến sự phiên dịch kinh Di Đà, chúng ta có thể nào chẳng tin?

 

      (Sớ) Liên tỷ giả, tiên hậu trùng dịch dă.

      () 聯比者,先後重譯也。

      (Sớ: “Ghép lại để so sánh” là [so sánh giữa] hai lần dịch trước và sau).

 

      Ghép liền hai bản dịch, so sánh giữa hai bản dịch để đối chiếu, ư nghĩa như nhau, văn tự không giống nhau, trong ấy cũng có rộng lược sai khác, chẳng hạn như “Lục phương Phật”, La Thập đại sư dịch thành sáu phương, Huyền Trang đại sư dịch thành mười phương.

 

      (Sớ) Tiểu dị đại đồng giả, Phạn âm sảo biệt, cập ngữ hữu phồn giản, như Hằng hà, Căng Già.

      () 小異大同者,梵音稍別,及語有繁簡,如恆河殑伽。

      (Sớ: Sai biệt đôi chút, phần lớn giống nhau: Âm tiếng Phạn hơi khác nhau, và từ ngữ có rườm rà hay đơn giản khác biệt, ví dụ như Hằng hà và Căng Già).

 

      La Thập đại sư dịch là “Hằng hà sa số”, dùng chữ “Hằng hà”; Huyền Trang đại sư dịch thành Căng Già, sông Căng Già (Ganges) là Hằng hà, từ âm tiếng Phạn dịch ra.

 

      (Sớ) Lục phương thập phương chi loại.

      () 六方十方之類。

      (Sớ: Sáu phương và mười phương v.v...)

 

      “Lục phương Phật”: La Thập đại sư dịch thành sáu phương, tức Đông, Nam, Tây, Bắc, trên, dưới; Huyền Trang đại sư dịch là mười phương. Bản dịch của La Thập đại sư đă tỉnh lược bốn phương Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, Tây Nam. Tuy văn tỉnh lược, nhưng ư nghĩa viên măn.

 

      (Sớ) Nhi đại ư nhất vô tương quai dă.

      () 而大意一無相乖也。

      (Sớ: Nhưng đại ư là một, chẳng trái nghịch nhau).

 

      Đại ư hoàn toàn tương đồng.

 

      (Sớ) Giai hoằng giả, Pháp Hoa tam dịch, Tần bổn thịnh hành. Thử kinh nhị dịch, diệc phục như thị.

      () 皆弘者,法華三譯,秦本盛行。此經二譯,亦復如是。

      (Sớ: “Đều hoằng dương”: Pháp Hoa có ba bản dịch, bản dịch đời Tần thịnh hành. Kinh này có hai bản dịch, cũng giống như thế).

 

       Kinh Pháp Hoa tại Trung Quốc có ba bản dịch, nhưng hết thảy mọi người thích tụng bản dịch của La Thập đại sư, những bản khác như Chánh Pháp Hoa, Thiêm Phẩm Pháp Hoa Kinh[28] rất ít người niệm, rất ít lưu thông. Kinh Di Đà cũng giống như thế, có hai bản dịch, nhưng bản dịch của La Thập đại sư được hoan nghênh nhất.

      Hiện thời, chúng tôi nói Vô Lượng Thọ Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh được truyền đến Trung Quốc sớm nhất, được phiên dịch vào thời ngài An Thế Cao, chỉ trễ hơn [bản dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương] của Ma Đằng và Trúc Pháp Lan. Đó là vào đời Hán. Hơn nữa, tại Trung Quốc có mười hai bản dịch, được phiên dịch nhiều nhất. Do điều này có thể biết: Từ xưa tới nay, pháp môn Tịnh Độ được coi trọng và phổ biến, các vị cổ đại đức đều đề xướng cầu sanh Tịnh Độ, chúng ta chớ nên không biết điều này! Nhưng hơn nửa các bản dịch đă bị thất lạc, được thu thập trong Đại Tạng Kinh chỉ năm bản dịch, chỉ c̣n những bản ấy. Nay chúng ta nghiên cứu kinh Vô Lượng Thọ, phải lấy năm bản dịch ấy làm căn cứ. Bản được chúng tôi dùng để giảng hiện thời là bản hội tập của cư sĩ Hạ Liên Cư. Cụ đă đem năm bản dịch, biên tập lần nữa thành một bản mới. Nhưng mỗi câu kinh văn, mỗi chữ trong ấy đều xuất phát từ năm bản dịch gốc, tự ḿnh chẳng thêm vào một chữ nào, không hề sửa một chữ nào. Đây là biên tập trung thực, lại c̣n là biên tập khá hay! Chúng ta đọc bản này, giảng bản này, năm bản dịch gốc có thể dùng để tham khảo. Những chuyện này không ǵ chẳng nhằm kiến lập ḷng tin cho chúng ta, kích phát đại nguyện cầu sanh Tịnh Độ, khiến cho chúng ta trong một đời này thành tựu viên măn Bồ Đề. Đây là bổn hoài khiến đức Thế Tôn xuất hiện giáo hóa chúng sanh trên thế gian này, mà cũng là kỳ vọng duy nhất của lịch đại tổ sư đại đức đối với chúng ta, mong muốn chúng ta hăy chọn lựa pháp môn này, sẽ thành tựu ngay trong đời này. Hôm nay chúng tôi giảng tới đây.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 44 hết

 



[1] Ngài Chi Lâu Ca Sấm (147-?), người xứ Đại Nhục Chi, đến Trung Hoa vào thời Hán Hoàn Đế. Tính đến niên hiệu Trung B́nh đời Hán Linh Đế, Ngài đă dịch các bộ Đạo Hành Bát Nhă Kinh, Ban Châu Tam Muội Kinh, A Xà Thế Kinh, Tạp Thí Dụ Kinh, Thủ Lăng Nghiêm Kinh, Vô Lượng Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh, một phần kinh Bảo Tích. Ngài chính là người đầu tiên truyền học thuyết Bát Nhă vào Trung Quốc. Bộ Ban Châu Tam Muội Kinh được coi như là bộ kinh đầu tiên giới thiệu tư tưởng Tịnh Độ Tông Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu cho rằng Sơ Tổ Huệ Viễn đă chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hai bộ Ban Châu Tam Muội và Vô Lượng Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh khi đề xướng liên xă.

[2] Khang Tăng Khải (Samghavarman), không rơ năm sinh và năm mất, chữ Khang không phải là họ mà do Ngài đến từ xứ Khang Cư (Sogdiana) vùng Trung Á. Ngài đến Lạc Dương vào năm Gia B́nh thứ tư (252) nhà Tào Ngụy, ở chùa Bạch Mă. Ngài dịch các bộ Úc Già Trưởng Giả Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh, Tứ Phần Tạp Yết Ma. Trong Tục Tạng có Vô Lượng Thọ Phật Danh Hiệu Lợi Ích Đại Sự Nhân Duyên Kinh cũng đề tên dịch giả là ngài Khang Tăng Khải, nhưng do văn phong khác biệt, nên các học giả không dám đoan quyết bản ấy có phải do Ngài dịch hay không.

Ngài Chi Khiêm là người xứ Đại Nhục Chi, có tên tự là Cung Minh (không rơ năm sinh và năm mất), theo gia đ́nh di cư đến Trung Hoa, sống ở Hà Nam, thông thạo ngôn ngữ sáu quốc gia, theo học với ngài Chi Lượng (đệ tử của ngài Chi Lâu Ca Sấm). Do tỵ nạn, chạy vào Đông Ngô, được Ngô vương Tôn Quyền coi trọng, phong làm quan Bác Sĩ, dạy Thái Tử Tôn Lượng. Ngài chuyên tâm dịch kinh Phật suốt mười ba năm, dịch Duy Ma Cật Kinh, Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh, Đại Minh Độ Kinh v.v... Khi Thái Tử lên ngôi, ngài lánh vào núi Cùng Ải ẩn cư, xin xuất gia với pháp sư Trúc Pháp Lan.

[3] Pháp Hiền (?-1001) là một vị Tăng xuất thân từ tự viện Na Lạn Đà, đến Trung Quốc vào năm Khai Bảo thứ sáu (973), hợp sức ngài Pháp Tấn chùa Khai Nguyên ở phủ Hà Trung dịch Thánh Vô Lượng Thọ Kinh Thất Phật Tán, được vua ban áo bào màu tía. Nhận lời thỉnh của sư Pháp Tấn, ngài dịch bộ Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Kinh, được vua ban hiệu Truyền Giáo đại sư. Sư lại dịch kinh Cát Tường Tŕ Thế. Khi Sư mất, vua ban thụy hiệu Huyền Giác đại sư, tổng số kinh do Ngài dịch lên đến một trăm hai mươi bộ.

[4] Gọi là Triệu Tống (960-1279) để phân biệt với nhà Lưu Tống (420-479) do Lưu Dụ sáng lập, cũng như tiểu quốc cũng mang tên Tống do tướng cướp Phụ Công Thạch chiếm cứ thời Tùy Mạt. Phụ Công Thạch thuở hàn vi thường đi trộm cắp cùng với Đỗ Phục Uy. Khi Đỗ Phục Uy nhân lúc nhà Tùy suy yếu, chiếm cứ vùng Hoài Nam, đă phong cho Phụ Công Thạch làm Trưởng Sử. Năm 623, Phụ Công Thạch làm phản, chiếm cứ vùng Đơn Dương, tự xưng là Tống Đế đặt niên hiệu là Thiên Minh. Về sau, Phụ Công Thạch bị Lư Tĩnh, Lư Hiếu Cung, Lư Thế Dân cùng vây đánh, bị bắt trên đường bôn tẩu sang Cối Kê rồi bị Đường Cao Tổ (Lư Uyên) hạ lệnh giết chết.

[5] Nguyên Ngụy tức là nhà Bắc Ngụy (386-557). Thác Bạt Khuể (Khuê) là một quư tộc họ Thác Bạt (Tuoba) thuộc sắc dân Tiên Ty (Tiên Ty là một sắc dân Mông Cổ, hậu duệ của tộc Donghu). Đến đời vua thứ bảy là Ngụy Hiếu Văn Đế (Thác Bạt Hoành) trong nỗ lực Hán hóa dân tộc Tiên Ty, đă đổi họ Thác Bạt thành họ Nguyên, nên sử thường gọi nhà Bắc Ngụy là Nguyên Ngụy để phân biệt với những nhà Ngụy khác.

[6] Kinh này có tên gọi đầy đủ là A Di Đà Phật Cổ Âm Thanh Vương Đà La Ni Kinh, một quyển, đă mất tên người dịch, được đánh số 370 trong tập 12 của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.

[7] Tây Khang là một tên một tỉnh được đặt ra khi chính quyền Dân Quốc c̣n nắm quyền cai trị Hoa Lục, bao gồm phần lớn vùng Kham của Tây Tạng. Khi Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa thành lập, chính quyền Mao Trạch Đông đă tách một phần Tây Khang nhập vào Tây Tạng Tự Trị Khu và phần c̣n lại ghép vào tỉnh Tứ Xuyên.

[8] Lă Bích Thành (1833-1943), người huyện Tinh Đức, tỉnh An Huy, là một nhà giáo dục thời cận đại, nhiệt t́nh hoạt động bảo vệ nữ quyền, đề xướng giáo dục nữ giới. Năm 1903, bà được mời làm biên tập viên cho tờ Đại Công Báo, trở thành nữ biên tập đầu tiên của Trung Hoa. Năm 1904, bà làm Giám Đốc trường công lập Bắc Dương cho nữ giới. Bà từng làm Bí Thư cho Viên Thế Khải năm 1912, nhưng từ chức năm 1915, sang học tại đại học Columbia của Mỹ. Bà văn tài mẫn tiệp, c̣n để lại bộ Hiểu Châu Từ. Phần lớn các sáng tác của bà nhằm hoằng dương Phật pháp.

[9] “Ủy khuất” có nghĩa gốc là bị đối xử hay bị chỉ trích không công bằng, trong tâm khó chịu, ấm ức. Ở đây, chữ “ủy khuất” được dùng với ư nghĩa ấm ức, băn khoăn v́ chưa hiểu rơ.

[10] Thật ra, trong lịch sử Trung Hoa có rất nhiều nhà Tần, ở đây, Ḥa Thượng Tịnh Không chỉ kể bốn nhà Tần có ảnh hưởng lớn đến lịch sử Trung Hoa:

1. Doanh Tần (221-207 trước Công Nguyên) do Tần Thủy Hoàng (Doanh Chính) sáng lập, diệt vong dưới đời Tần Tam Thế (Doanh Tử Anh).

2. Tiền Tần (350-394), c̣n gọi là Phù Tần, do Tần Huệ Vũ Đế (Phù Hồng) sáng lập, diệt vong dưới đời Phù Sùng (chưa kịp lập đế hiệu).

3. Hậu Tần (384-417), c̣n gọi là Diêu Tần, do Tần Vũ Chiêu Hoàng Đế (Diêu Trành) sáng lập, diệt vong trong đời Diêu Hoằng (chưa kịp xưng đế hiệu).

4. Tây Tần (385-431), do Tần Tuyên Liệt Vương (Khất Phục Quốc Nhân) sáng lập, diệt vong dưới đời Khất Phục Mộ Mạt.

Do vùng Quan Trung, Cam Túc, Thiểm Tây thuộc lănh thổ nước Tần thời Chiến Quốc nên những lănh chúa quân phiệt khi xưng vương tại vùng này thường xưng là Tần. Chẳng hạn, thời Bắc Ngụy, Mạc Chiết Niệm Sanh giết quan thứ sử Tần Châu (nay thuộc Cam Túc), chiếm cứ Tần Châu, xưng vương, lập quốc, cũng lấy quốc hiệu là Tần.

[11] Nước Tần thời Chiến Quốc thuộc địa bàn tỉnh Thiểm Tây và Cam Túc. Theo truyền thuyết, tổ tiên vua Tần là Phi Tử. Phi Tử vốn là hậu duệ của Nữ Tu (cháu nội vua Chuyên Húc), đến đời cháu của Nữ Tu là Bá Ích giúp vua Đại Vũ trị thủy và lại giúp vua Thuấn chăm sóc, huấn luyện thú nên được ban họ là Doanh. Phi Tử giỏi nuôi ngựa, được Châu Hiếu Vương giao chăm sóc ngựa chiến, có công, nên Châu Hiếu Vương cắt Tần Ấp (nay là huyện Thanh Thủy tỉnh Cam Túc) phong cho, coi đất phong ấy là nước phụ dung (địa vị kém hơn nước chư hầu) của nhà Châu. Năm 770 trước Công Nguyên, Tần Tương Công pḥ tá Châu B́nh Vương thiên đô, nên Châu B́nh Vương phong cho Tần Tương Công tước Bá, nước Tần chính thức trở thành nước chư hầu, mở rộng địa bàn khắp cả tỉnh Thiểm Tây và Cam Túc.

[12] Lục quốc là sáu nước chư hầu lớn thời ấy: Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Tề, và Yên. Ngoài sáu nước lớn ấy ra (nếu không kể Tần), thời Xuân Thu c̣n có các nước Tống, Vệ, Đông Châu, Trung Sơn, Lỗ, Đằng, Trâu, Phí v.v... nhưng thế lực các nước ấy rất yếu (có nước bị diệt vong trước khi Tần Thủy Hoàng diệt Lục Quốc, chẳng hạn Lỗ biệt Sở diệt quốc vào năm 256 trước Công Nguyên, Trung Sơn bị nước Triệu diệt vào năm 296 trước Công Nguyên), nên khi Tần diệt Lục Quốc th́ các nước ấy mất chỗ dựa, cũng diệt vong theo.

[13] Đây là một trận đánh khá lớn tại Ph́ Thủy (nay thuộc vùng Đông Nam huyện Thọ, tỉnh An Huy) vào năm Thái Nguyên thứ ba (383) nhà Đông Tần do nhà Tiền Tần khởi xướng, quân Đông Tấn chỉ có tám vạn nhưng đă đánh tan tác mười vạn quân của Phù Kiên. Nguyên nhân là do Phù Kiên sau khi đă giết Tần Lệ Vương (Phù Sanh) đoạt ngôi, xưng là Tiền Tần Thiên Vương, lại được một mưu sĩ là Vương Mănh giúp sức, quân lực mạnh mẽ, chỉ trong một thời gian ngắn đă diệt Tiền Yên, chiếm đất Lương (Hán Trung), Ích Châu, diệt nước Đại của ḍng họ Thác Bạt, diệt Tiền Lương, đánh chiếm nhiều nơi thuộc Tây Vực. Do vậy, với tham vọng mănh liệt, Phù Kiên bỏ qua lời khuyên của Vương Mănh, toan làm chủ Trung Nguyên, đă phát binh đánh Tấn vào năm 378. Trải qua nhiều cuộc chiến, phe Tấn luôn thắng. Trong cuộc chiến Ph́ Thủy, Phù Kiên đă dốc mười vạn quân mong đè bẹp quân Tấn, nhưng thất bại thảm hại.

[14] Thập () là chữ kép của Thập () dùng trong văn kiện, nhất là các bằng khoán, để tránh bị sửa đổi hay đọc lầm lẫn. Thập có c̣n nghĩa là những thứ lặt vặt. Một quyển sách cũng gọi là Thập. Do vậy, chữ Thập ở đây có nghĩa xưng tụng Ngài điều ǵ cũng biết, chẳng sót một điều nhỏ nhặt nào.

[15] Con đường Tơ Lụa là một tuyến đường giao thông, buôn bán nối liền châu Á và châu Âu thời cổ. Nếu kề cả đường biển sẽ bao gồm Hồng Hải, Đông Phi, Ấn Độ, Đông Nam Á, Bắc Phi và Somalia. Con đường này dài hơn bốn ngàn dặm (6.500km) được h́nh thành từ thời Hán nhờ sự khám phá và sứ vụ của Trương Khiên. Gọi là con đường Tơ Lụa v́ Trung Hoa là nước đầu tiên sản xuất tơ lụa, gấm vóc được khối Hồi Giáo và các vương quốc châu Âu ưa chuộng. Khởi đầu từ thành phố Nam Dương (tỉnh Hà Nam) cho đến Ngọc Môn Quan, Dương Quan, thông sang Thông Lănh (Pamir) tới tận Trung Á, Tây Á, kết thúc tại vùng Địa Trung Hải của Âu Châu. Con đường này suy vi khi đế quốc Mông Cổ tan ră, khiến cho t́nh h́nh an ninh không đảm bảo, thổ phỉ cướp bóc khiến các thương gia không dám chuyển hàng nữa, cũng như do hàng hải phát triển khiến con đường chuyển vận trên bộ mất dần vai tṛ. Không chỉ tơ lụa, mà các hàng hóa như gai, xạ hương, hương liệu, gia vị, châu báu, đồ thủy tinh, đồ gốm, đồ sứ, trà, rượu, ngay cả nô lệ cũng được chuyển vận theo con đường này.

[16] Quy () vốn là dụng cụ để vẽ h́nh tṛn, Củ () là dụng cụ để vẽ h́nh vuông, nên “quy củ” được hiểu theo nghĩa rộng là phép tắc, quy định.

[17] Đây là một thành ngữ, dùng h́nh ảnh ngựa cơi trời có thể sải cánh bay lượn tùy ư trên hư không, chẳng thể đoán trước được. Thành ngữ này thường dùng để h́nh dung khí thế của thơ văn hay thư pháp tung hoành ngang dọc, ào ạt, hùng vĩ, không thể đoán trước được kết cục, diễn biến.

[18] Hành Chánh Viện Trưởng là danh xưng để gọi Thủ Tướng của Đài Loan, tại Hoa Lục th́ gọi là Tổng Lư Quốc Vụ Viện.

[19] Từ cách đọc này trong tiếng Hán, chữ Quy Tư phải đọc đúng âm là Cưu Ty. Xứ này nằm phía Bắc sa mạc Taklamakan trong vùng trũng Tarim, phía Nam sông Muzat. Dân Cưu Ty nói tiếng Toracharian (thuộc hệ ngôn ngữ Ấn Âu), có văn tự riêng. Người Trung Hoa đă biết đến xứ này từ thời Hán. Thời Đường xứ này rất nổi tiếng về âm nhạc và ca vũ, cung đ́nh triều Đường rất chuộng nhạc Cưu Ty, thể loại Nhă Nhạc của Trung Hoa chịu ảnh hưởng lớn từ nhạc Cưu Ty. Đàn Tỳ Bà cũng do người Trung Hoa vay mượn của dân Cưu Ty và cải tiến. Hiện thời, Quy Tư chính là thành phố Kuqa (Khố Xa) thuộc địa khu Aksu của Tân Cương Duy Ngô Nhĩ Tự Trị Khu, Trung Quốc.

[20] Tây Vực là danh xưng để gọi chung toàn bộ những vùng đất nằm ở Thiên Sơn nam lộ (tức là tuyến đường Tơ Lụa đi từ Ngọc Môn Quan về phương Tây). Từ Ngọc Môn Quan đi về phương Tây có ba tuyến đường: Bắc, Nam, và Trung. Thoạt đầu vào thời Tùy Đường, Tây Vực bao gồm: Phía Bắc đến Phất Lâm (đế quốc Byzantine), phía Đông đến Ba Tư, phía Nam đến giáp ranh Bà La Môn (Ấn Độ). Thời Nguyên, cả khu vực Âu Châu cũng được gộp vào Tây Vực. Hiểu theo nghĩa hẹp, Tây Vực chỉ bao gồm các quốc gia Trung Á nằm dọc theo con đường Tơ Lụa. Sử Trung Hoa thường ghi các quốc danh nổi tiếng tại Tây Vực như Thiện Thiện (Lâu Lan), Nhược Khương, Ô Tra, Tây Da, Tử Hợp, Quyên Độc, Tiểu Uyên, Tinh Tuyệt, Thả Mạt, Vu Điền, Nhung Lô, Ba Sơn, Sớ Lặc, Kiệt Thạch, Nguy Tu v.v...

[21] “Phân dă” là cách phân chia bầu trời thành mười hai cung (Tinh Kỷ, Huyền Hiêu, Phản Tư, Giáng Lũ, Đại Lương, Thật Trầm, Thuần Thủ, Thuần Hỏa, Thuần Vỹ, Thọ Tinh, Đại Hỏa, Tích Mộc) của thiên văn cổ Trung Hoa, khá giống như cách chia mười hai cung Hoàng Đạo hiện thời, nhưng trong “phân dă” th́ mặt đất cũng chia thành mười hai cung tương ứng với bầu trời. Do vậy, để chiêm nghiệm vận mạng một nước, quan Thái Sử thường quan sát tinh tú ứng với phân dă của nước ấy.

[22] Quan Trung là vùng b́nh nguyên sông Vị, thuộc miền Trung tỉnh Thiểm Tây hiện thời, thuộc vùng thượng lưu sông Hoàng. Vùng này nông nghiệp trù phú, dân cư đông đảo, thường gọi la Bát Bách Lư Tần Xuyên (vùng Tần Xuyên tám trăm dặm). Do chung quanh vùng này có bốn ải là Tán Quan (ở phía Tây), Hàm Cốc Quan (phía Đông), Vũ Quan (phía Nam) và Tiêu Quan (phía Bắc) nên gọi là Quan Trung. Kinh đô Hàm Dương của nước Tần thời Tần Thủy Hoàng cũng thuộc Quan Trung.

[23] Chữ Sư ở đây chỉ quân đội.

[24] Tuất (): Thời cổ, quan đại phu chết được gọi là Tuất, nên cổ văn thường dùng chữ Tuất để nói về cái chết của những người đáng tôn trọng.

[25] Ngài Huyền Trang tên thật là Trần Huy, hậu duệ của công thần Trần Thật (104-187) thời Đông Hán. Ngài thuộc gia đ́nh vọng tộc, ông cố là Trần Khâm làm quan Thái Thú vùng Thượng Đảng thời Đông Ngụy, ông nội là Trần Khang làm quan Quốc Tử Bác Sĩ nhà Bắc Tề, cha là Trần Huệ làm huyện lệnh Giang Lăng đời Tùy. Khi Ngài sanh ra, cha đă từ quan, cơi đời loạn lạc, gia cảnh suy sút. Ngài có ba người anh, người anh thứ hai là Trần Tố, đă xuất gia trước đó tại chùa Tịnh Trụ ở Lạc Dương. Vị này có tài giảng kinh nên người đương thời thường gọi là pháp sư Trưởng Kiện.

[26] Đôn Hoàng nay thuộc thành phố Tửu Tuyền, tỉnh Cam Túc. Thời Xuân Thu, do nơi này có một loại dưa ngon nổi tiếng, nên gọi là Qua Châu. Do ở trong vùng sa mạc, nên đôi khi c̣n gọi là Sa Châu. Tới thời Chiến Quốc, Đôn Hoàng thuộc địa bàn của Đại Nhục Chi. Nơi này từng bị quân Hung Nô chiếm lănh một thời gian dài, đến khi nhà Hán lấy lại bèn đổi chữ viết từ 燉煌 (đồi núi lửa) thành Đôn Hoàng (敦煌), ngụ ư cầu chúc thịnh vượng dài lâu. Thời ngài Huyền Trang, Đôn Hoàng bị dân Thổ Phồn (Tây Tạng) chiếm đóng, măi đến đời Đường Tuyên Tông mới chiếm lại Đôn Hoàng.

[27] Na Lạn Đà (那爛陀) là một tu viện nổi tiếng được xây dựng bởi vua Śakrāditya (Thước Ca La A Điệt Đa) của vương triều Ma Kiệt Đề. Na Lạn Đà thường được dịch nghĩa là Thí Vô Yếm (bố thí không chán), một danh hiệu của long vương hồ Amrā gần tu viện. Thuở cực thịnh, Na Lạn Đà có đến mười ngàn vị tăng tu học và hai ngàn giáo sư, là một đại học Phật giáo lớn nhất thời ấy. Riêng thư viện của Na Lạn Đà chiếm hết ba ṭa nhà lớn, mỗi ṭa nhà gồm chín tầng. Hiện nay, di chỉ Na Lạn Đà thuộc tiểu bang Bihar của Ấn Độ, cách thành phố Patna năm mươi lăm dặm về phía Đông Nam. Năm 1193, Khtiyar Uddin Muhammad Bin Bakhtiyar Khilji, tướng quân của vua Qutb-ud-din Aibak, Sultan xứ Delhi (người sáng lập vương triều Ghuhlam), đă tấn công tu viện Na Lạn Đà, thiêu sống hoặc chặt đầu hàng ngàn vị tăng, đốt cháy kinh sách, đập nát các kiến trúc. Theo sử gia Minhaj-ib-Siraj của Ba Tư, thư viện cháy đến vài tháng mới tắt. Tu viện trưởng Shakya Shribhadra (Thích Thắng Hiền) chạy thoát sang Tây Tạng, truyền thừa giáo nghĩa Căn Bản Nhất Thiết Hữu Bộ (Mūlasarvāstivāda). Tu viện Na Lạn Đà diệt vong.

[28] Chánh Pháp Hoa Kinh do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn, chỉ có hai mươi bảy phẩm, hơi khác với bản dịch của ngài La Thập ở chỗ phẩm Chúc Lụy được xếp vào cuối cùng, phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát được xếp thành phẩm hai mươi sáu với danh xưng Lạc Phổ Hiền. Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh do Ngài Xà Na Quật Đa dịch vào đời Tùy, gồm hai mươi bảy phẩm, và phẩm Chúc Lụy cũng được xếp vào cuối cùng.