A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 45

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 89

 

Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm năm mươi ba:

 

      Nhị, minh thích.

      二、明釋

      (Hai, nói về chuyện giải thích kinh).

 

      Đoạn này nhằm giới thiệu sự chú giải, “thích” () là giải thích.

 

      (Huyền Nghĩa) Thứ minh thích thử kinh giả, luận tắc hữu Thiên Thân Bồ Tát Vô Lượng Thọ Kinh Luận, giải tắc hữu Từ Ân Thông Tán, Hải Đông Sớ, Cô Sơn Sớ, năi chí Đại Hựu Lược Giải đẳng.

      (玄義) 次明釋此經者,論則有天親菩薩無量壽經論,解則有慈恩通贊、海東疏、孤山疏,乃至大佑略解等。

      (Huyền Nghĩa: Tiếp theo là nói đến chuyện giải thích kinh này, về luận th́ có Vô Lượng Thọ Kinh Luận của Thiên Thân Bồ Tát, về giải th́ có Thông Tán của ngài Từ Ân, Hải Đông Sớ, Cô Sơn Sớ, cho đến cuốn Lược Giải của ngài Đại Hựu v.v...)

 

      Những tác phẩm được giới thiệu ở đây đều là các bản chú giải cổ; v́ Liên Tŕ đại sư là người đời Minh, những bản chú giải Ngài được thấy đương nhiên đều là của những vị trước thời Ngài.

 

      (Sớ) Thiên Thân Bồ Tát giả, thường nhập Nhật Quang Định, thăng Đâu Suất thiên cung nội viện, thân cận Từ Thị, tạo Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá. Ưu Bà Đề Xá giả, thử vân “phân biệt nghĩa”.

      () 天親菩薩者,常入日光定,昇兜率天宮內院,親覲慈氏,造無量壽經優婆提舍。優婆提舍者,此云分別義。

      (Sớ: Thiên Thân Bồ Tát thường nhập Nhật Quang Định, lên nội viện của cung trời Đâu Suất, thân cận ngài Từ Thị, soạn Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá. Ưu Bà Đề Xá được cơi này dịch là “phân biệt nghĩa”).

 

       Ưu Bà Đề Xá (Upadeśa) được người Hoa dịch là “Luận”. Thiên Thân Bồ Tát (Vasubandhu) không chú giải kinh Di Đà, mà là chú giải kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Vô Lượng Thọ và kinh này cùng một bộ, có thể nói là một bộ kinh, không phải là hai bộ kinh; kinh Vô Lượng Thọ văn tự nhiều, giảng cặn kẽ hơn một chút. Kinh Di Đà văn tự ít, nói giản lược hơn một tí. Hai bản kinh này chỉ có chi tiết hay giản lược khác biệt, những điều khác hoàn toàn như nhau. Thiên Thân Bồ Tát có chú giải, gọi là Vô Lượng Thọ Kinh Luận, trong Đại Tạng Kinh có bản này. Chữ Giải () chỉ chú giải kinh Di Đà. Chú giải kinh Di Đà bản cổ nhất đương nhiên cũng có, nhưng chẳng truyền lại. Vẫn c̣n được lưu truyền cho tới hiện thời, chúng ta thấy bản cổ nhất là Thông Tán Sớ của pháp sư Khuy Cơ đời Đường.

      Trong Phật môn, Thiên Thân Bồ Tát cũng là một vị rất lỗi lạc, Ngài là em trai Vô Trước Bồ Tát (Asanga). Lúc vị Bồ Tát này tại thế, thường lên thiên cung Đâu Suất. Thiên Thân c̣n gọi là Thế Thân, thân cận Di Lặc Bồ Tát, Từ Thị là Di Lặc Bồ Tát, Ngài có năng lực ấy. Tại Trung Quốc cận đại, chỉ có ḿnh lăo ḥa thượng Hư Vân thân cận Di Lặc Bồ Tát. Từ Niên Phổ của Ngài, chúng ta thấy: Ngài từng đến cung trời Đâu Suất một lần trong Định; nhưng đương nhiên lăo ḥa thượng Hư Vân tŕnh độ kém hơn Thiên Thân Bồ Tát. Thiên Thân Bồ Tát tới lui [Đâu Suất nội viện] tùy ư, thường xuyên đến. Tuy Ngài thường xuyên thân cận Di Lặc Bồ Tát, cũng chẳng cầu sanh Di Lặc nội viện, mà vẫn cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ; v́ thế, Ngài viết chú giải cho kinh Vô Lượng Thọ. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và Văng Sanh Truyện đều có truyện kư của Thiên Thân Bồ Tát.

 

      (Sớ) Từ Ân pháp sư giả, húy Khuy Cơ, tánh Uất Tŕ thị, Kính Đức do tử dă.

      () 慈恩法師者,諱窺基,姓尉遲氏,敬德猶子也。

      (Sớ: Pháp sư Từ Ân húy là Khuy Cơ, họ Uất Tŕ, là cháu của Uất Tŕ Kính Đức).

 

       Từ Ân là tên chùa, tức là Từ Ân Tự; vào thời Đường, Từ Ân Tự ở Trường An. Người đời sau cung kính gọi Ngài là “Từ Ân pháp sư”. Pháp danh của Ngài là Khuy Cơ. “Húy” () cũng là kính xưng, là cấm kỵ, không dám gọi tên trực tiếp. V́ thế, sau này mới dùng chữ “thượng” và “hạ”, tức là [đối với pháp danh của ngài Khuy Cơ sẽ nói là] thượng “Khuy” hạ “Cơ”. Ở ngoài đời, “tánh Uất Tŕ thị”, tức là Ngài có họ kép là Uất Tŕ. Uất Tŕ Kính Đức[1] là đại tướng của Đường Thái Tông, Khai Quốc Uất Tŕ Công thời Đường Thái Tông chính là ông ta (Uất Tŕ Kính Đức). “Do tử” (giống như con) là cháu trai. Sư là cháu trai của Uất Tŕ Kính Đức, không phải là con ruột, mà là con trai của anh em ông Kính Đức. Vị này cũng là vô cùng thông minh. Theo truyện kư cho biết, khi Huyền Trang đại sư sang Ấn Độ, trên đường gặp một lăo ḥa thượng, đại khái đă hơn một trăm tuổi đang nhập Định, lăo ḥa thượng này do đọc kinh mà chứng quả. Sau khi Huyền Trang đại sư gặp vị này, cảm thấy hai người rất có duyên phận, bảo Sư hăy mau sang Trung Quốc đầu thai, Ngài nói: “Ta sang phương Tây thỉnh kinh, trong tương lai, sau khi trở về, sẽ đến độ ông”. Đây là Sơ Địa Bồ Tát, Sư bèn đến đầu thai, đầu thai vào nhà Uất Tŕ Kính Đức làm vương tôn công tử.

 

      (Sớ) Trang sư độ chi xuất gia.

      () 奘師度之出家。

      (Sớ: Được ngài Huyền Trang độ xuất gia).

 

       Sau khi Huyền Trang đại sư trở về, đă t́m độ cho Sư xuất gia.

 

      (Sớ) Học thông Đại Tiểu.

      () 學通大小。

      (Sớ: Học thông suốt Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa).

 

      Đối với pháp thế gian lẫn xuất thế gian, Ngài đều thông đạt, người vô cùng thông minh.

 

      (Sớ) Tạo sớ kế khả bách quyển.

      () 造疏計可百卷。

      (Sớ: Soạn sớ giải tính ra cả trăm quyển).

 

      “Sớ” () là chú giải. Trong phương diện Duy Thức, Ngài viết chú giải nhiều nhất, chẳng hạn như Thành Duy Thức Luận Thuật Kư. V́ thế, Ngài là khai sơn tổ sư của Duy Thức Pháp Tướng Tông Trung Quốc, là tổ sư đời thứ nhất.

 

      (Sớ) Thích Di Lặc Hạ Sanh Kinh, bút phong đắc xá-lợi nhị thất lạp.

      () 釋彌勒下生經,筆鋒得舍利二七粒。

      (Sớ: Khi ngài chú giải Di Lặc Hạ Sanh Kinh, trên đầu ngọn bút thu được hai mươi bảy[2] hạt xá-lợi).

 

      Khi Ngài chú giải Di Lặc Hạ Sanh Kinh, trên đầu ngọn bút lông có lưu lại hai mươi bảy viên xá-lợi, đây là cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn!

 

      (Sớ) Phục thị Tây Phương yếu nghĩa.

      () 復示西方要義。

      (Sớ: Ngài lại chỉ bày ư nghĩa trọng yếu của Tây Phương).

 

      Đối với Di Đà Tịnh Độ, Ngài hết sức tán thán.

 

      (Sớ) Hữu Di Đà Kinh Thông Tán nhất quyển.       

      () 有彌陀經通贊一卷。

      (Sớ: Có Di Đà Kinh Thông Tán Sớ một quyển).

 

      Bản chú giải kinh Di Đà của Khuy Cơ đại sư có tên là Thông Tán Sớ.

 

      (Sớ) Hải Đông pháp sư giả, húy Nguyên Hiểu.

      () 海東法師者,諱元曉。

      (Sớ: Pháp sư Hải Đông, húy là Nguyên Hiểu).

 

      Pháp sư Nguyên Hiểu (Wonhyo) là người Đại Hàn; khi ấy, Sư lưu học tại Trung Quốc cũng rất có thành tựu. Ngài cũng chú giải kinh Di Đà.

 

      (Sớ) Kỳ sớ thử kinh, đại suất y luận vi chủ.

      () 其疏此經,大率依論為主。

      (Sớ: Sư sớ giải kinh này, nói chung lấy Văng Sanh Luận làm chủ).

 

      Ngài chú giải kinh Di Đà, chủ yếu dựa theo Vô Lượng Thọ Kinh Luận (Văng Sanh Luận) của Thiên Thân Bồ Tát.

 

      (Sớ) Cô Sơn Viên pháp sư giả.

      () 孤山圓法師者。

      (Sớ: Pháp sư Cô Sơn Viên).

 

      Cô Sơn là địa danh, Viên pháp sư có pháp hiệu là Trí Viên. Đây là pháp sư Trí Viên.

 

      (Sớ) Thập sớ lưu thông, thử sớ cư nhất.

      () 十疏流通,此疏居一。

      (Sớ: Có mười bản sớ lưu thông, sớ giải kinh này đứng đầu).

 

      Đối với việc nghiên cứu kinh giáo, cổ đại đức quá nửa đều là “chuyên công” (chuyên dốc sức nghiên cứu một bộ kinh hay luận), chuyên công mới có thể thành tựu. Lan man quá nhiều, tâm lực cũng bị phân tán. Thời gian, lẫn tinh lực đều chẳng đạt được. Như pháp sư Trí Viên cũng rất lỗi lạc, trong hết thảy các kinh luận, Sư chọn ra mười bộ, suốt đời chuyên dồn công nơi mười thứ này. Trong mười thứ ấy, có kinh Di Đà. Mười thứ là: Văn Thù Bát Nhă Kinh, Di Giáo Kinh, Tâm Kinh, Thụy Ứng Kinh, Tứ Thập Nhị Chương Kinh, Bất Tư Nghị Pháp Môn Kinh, Vô Lượng Nghĩa Kinh, Phổ Hiền Quán Kinh, A Di Đà Kinh, và Lăng Nghiêm Kinh. Vị pháp sư này suốt đời chọn lựa mười thứ này, tinh lực cả đời dồn vào mười bộ kinh trên đây, viết chú giải cho cả mười kinh, người đời sau xưng tụng Ngài là Thập Sớ Pháp Sư.

 

      (Sớ) Nghĩa Uyên, Tịnh Giác, Việt Khê đẳng lịch đại chư sư chủng chủng giải thích suất đa tán một.

      () 義淵、淨覺、越溪等歷代諸師種種解釋率多散沒。

      (Sớ: Trải qua các đời, các tác phẩm giải thích của những vị sư như Nghĩa Uyên, Tịnh Giác, Việt Khê .v... phần nhiều bị thất lạc).

 

      Đây là Ngài nghe nói, cổ nhân c̣n có mấy vị pháp sư ấy chú giải kinh Di Đà, nhưng Liên Tŕ đại sư chẳng được thấy!

 

      (Sớ) Chí Nguyên, Đại Hựu sư giả, năi hữu Lược Giải.

      () 至元大佑師者,乃有略解。

      (Sớ: Trong niên hiệu Chí Nguyên, sư Đại Hựu bèn có bộ Lược Giải).

 

      Đời Nguyên, [trong niên hiệu Chí Nguyên 1335-1340], có pháp sư Đại Hựu soạn bộ A Di Đà Kinh Lược Giải, hiện được đưa vào Vạn Tục Tạng.

 

      (Sớ) Kim duy Hải Đông, Việt Khê, Đại Hựu sở giải cẩn tồn nhi dĩ, thế viễn nhân vong, kinh tàn giáo thỉ, toại linh như thị quảng đại thâm viễn pháp môn, bất đắc nhân nhân hiểu liễu, ninh bất bi phù?    

      () 今唯海東越溪大佑所解僅存而已,世遠人亡,經殘教弛,遂令如是廣大深遠法門,不得人人曉了,寧不悲夫。

      (Sớ: Nay chỉ c̣n các bản chú giải của Hải Đông, Việt Khê và Đại Hựu c̣n tồn tại trên cơi đời mà thôi, đời đă xa, người đă khuất, kinh tàn, giáo suy vi, khiến cho pháp môn rộng lớn sâu xa như thế này mà không phải ai nấy cũng đều thấu hiểu, há chẳng đáng buồn ư?)

 

      Đoạn này cũng là Liên Tŕ đại sư tự thuật đạo lư v́ sao Ngài phải chú giải kinh Di Đà, viết bản Sớ Sao này. Quả thật kinh này quá trọng yếu, nhưng chẳng mấy ai biết đến. Đúng là hiện thời người niệm Phật rất nhiều, nhưng người thật sự hiểu đạo lư niệm Phật chẳng nhiều, kẻ hiểu phương pháp, bí quyết niệm Phật chẳng mấy; đấy đều là do sức tuyên truyền chẳng đủ. Trong quá khứ, biện pháp tuyên truyền duy nhất là lưu thông chú sớ. Đại sư phát đại tâm, soạn một bản chú giải cho kinh này hết sức cặn kẽ. Sau khi chúng ta đọc bộ chú giải này, có thể nói là chẳng cần phải đọc những bản chú giải cổ cũng chẳng sao! V́ lẽ ǵ? Ngài chú giải quá tường tận, đă bao quát trọn hết toàn bộ.

      Nay chúng tôi đem bộ Thông Tán Sớ in ghép vào sau bộ sớ này, mục đích trọng yếu nhất là giúp cho mọi người sanh khởi ḷng tin. Huyền Trang đại sư và Khuy Cơ đại sư đă chứng minh cho chúng ta thấy bộ kinh này đă được phiên dịch chẳng sai, chú giải chẳng sai, y theo phương pháp này tu hành chắc chắn chẳng sai lầm. Dụng ư của chúng tôi là như vậy. V́ hiện thời, nói thật ra, là thời kỳ Mạt Pháp, pháp yếu, ma mạnh, thậm chí có nhiều kẻ xuất gia trong thời Mạt Pháp cũng đúng như trong kinh Phật thường nói: “Do như sư tử trùng, hoàn thực sư tử nhục” (giống như loài trùng trong thân sư tử, lại ăn thịt sư tử), có phải là người xuất gia chân chánh hay không? Chẳng phải! Mà là con cháu của Ma Vương Ba Tuần, trong thời kỳ Mạt Pháp thảy đều xuất gia, cũng xuống tóc, thọ giới, khoác áo ca-sa, bọn họ là con cháu ma, chẳng phải là người xuất gia chân chánh. Đây là thủ đoạn diệt Phật duy nhất của ma, trong kinh điển cũng thường ghi chép.

      Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, Ma Vương nói hắn muốn diệt Phật pháp. Đức Phật cười, Ngài nói: “Pháp của ta không ai có thể diệt được”. Ma vương bèn đáp: “Trong thời kỳ Mạt Pháp, con cháu của ta thảy đều xuất gia thọ giới, mặc áo ca-sa để diệt pháp của Ngài”. Đức Phật nghe rồi mắt ứa lệ, hết cách! Diệt pháp như thế nào? Đầu tiên sẽ nói kinh Di Đà là giả, nói A Di Đà Phật là thần mặt trời, thốt lời bịa đặt ấy, làm sao được nữa? May mắn là Huyền Trang đại sư và Khuy Cơ đại sư đă tạo chứng cớ cho chúng ta. Nếu hiện thời không có Thông Tán Sớ bày ra trước mặt, chúng ta sẽ chẳng có cách nào biện bác với họ được! Có cuốn sách này bày ra trước mặt, chúng ta bèn tin tưởng những lời lẽ ấy là bịa đặt đồn thổi, trọn chẳng phải là sự thật, [mà là] ác ư phá hoại pháp môn này.

 

      (Huyền Nghĩa) Nhược phù viễn thừa Phật chỉ, hoằng xiển bí tông, vi luận, vi văn, vi tập, vi lục, vi truyện, vi kệ, vi phú, vi thi, giao tán hỗ dương, kỳ lệ bất ức, mạc bất đinh ninh khẩn cáo, cảm khái bi ca, phổ khuyến mê lưu, đồng quy giác lộ, nhất tằng quá mục, khả phất minh tâm.

      (玄義) 若夫遠承佛旨,弘闡祕宗,為論為文,為集為錄,為傳為偈,為賦為詩,交讚互揚,其麗不億。莫不叮嚀懇告,感慨悲歌,普勸迷流,同歸覺路,一曾過目,可弗銘心。

      (Huyền Nghĩa: Như những tác phẩm kính vâng ư chỉ của Phật, hoằng truyền, xiển dương tông chỉ kín nhiệm, viết luận, soạn văn, soạn tập, soạn sách, soạn truyện, viết kệ, viết phú, làm thơ, cùng nhau tán dương, chẳng thể kể xiết! Không ǵ chẳng đau đáu khẩn thiết bảo ban, cảm khái bi ca, khuyên khắp những kẻ đang mê muội hăy trở về đường giác, hễ chạm qua mắt, há chẳng ghi khắc trong ḷng ư?)

     

      Đoạn trên là nói về sự chú giải, c̣n đoạn này nói về sự tán thán pháp môn này từ xưa tới nay. Như Ấn Quang Đại Sư Văn Sao trong thời cận đại hoàn toàn là ca ngợi Tịnh Độ. “Nhược phù” là ngữ trợ từ (tiếng đệm). “Viễn thừa Phật chỉ”: Đức Phật diệt độ đến nay đă cách chúng ta ba ngàn năm, thời đại đă xa xôi, chúng ta có thể vâng nhận ư chỉ của Phật tức là [thấu hiểu] ư Phật. Ư Phật nhằm dạy chúng ta hăy hoằng dương và tu học pháp môn này. “Hoằng xiển bí tông”: Chữ “bí tông” chỉ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Từ xưa tới nay, tứ chúng đệ tử khen ngợi pháp môn này, “vi luận, vi văn”, [tức là trong những tác phẩm tán dương Tịnh Độ] có luận, có văn. Cuốn Niệm Phật Luận của pháp sư Đàm Hư thuộc loại văn tự này. Trong Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, có sáu, bảy bài luận và mấy trăm bài văn ca ngợi Tây Phương Tịnh Độ. “Vi tập, vi lục, vi truyện, vi kệ”: Có Tịnh Độ Tập, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Văng Sanh Truyện; có kệ tụng, có phú, có thơ như pháp sư Bạch Vân viết bài Tịnh Độ Từ vô cùng hay, lần trước chúng tôi đă in ra ba ngàn trang, đó là chữ viết của Triệu Mạnh Phủ vào cuối đời Tống, khá có giá trị nghệ thuật, lời từ cũng hay, mà chữ cũng đẹp!

       “Giao tán hỗ dương”: Tán thán lẫn nhau, tuyên dương pháp môn này. “Kỳ lệ bất ức” (chẳng thể kể xiết): “Ức” [là một trăm ngàn, “kỳ lệ bất ức” có nghĩa là dùng con số lớn như Ức cũng chẳng thể tính đếm được] có nghĩa là “vô tận”. “Mạc bất đinh ninh khẩn cáo”: Khẩn thiết răn dạy người thời ấy, mà cũng là răn dạy kẻ học Phật trong đời sau, khuyên mọi người hăy sốt sắng tu học pháp môn này. “Cảm khái bi ca, phổ khuyến mê lưu, đồng quy giác lộ” (Lời ca bi thương cảm khái, khuyên khắp những kẻ mê muội hăy cùng về đường giác): Một câu A Di Đà Phật là giác lộ thật sự, giác lộ là con đường chánh giác. Tuy các pháp môn khác đều do đức Phật nói, đều hay, nhưng điều đáng tiếc là chẳng khế cơ. Chúng ta nương theo pháp môn khác, vẫn mê, bất giác, v́ sao mê? Mê nơi pháp môn. Học Hiền Thủ bèn mê nơi kinh Hoa Nghiêm, học Thiên Thai bèn mê nơi kinh Pháp Hoa, học Duy Thức bèn mê nơi Thành Duy Thức Luận, không ǵ chẳng mê! Thưa quư vị, chỉ có một câu A Di Đà Phật chẳng mê. Dù quư vị mê nơi một câu A Di Đà Phật, vẫn có thể văng sanh. Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới chắc chắn chẳng mê! Do vậy, có sự khác biệt này! Trong các pháp môn khác, hễ mê sẽ vô ích, chẳng thể liễu sanh tử, chẳng thể thoát tam giới; c̣n pháp môn Niệm Phật tuy mê, vẫn có thể đới nghiệp văng sanh, hay ở chỗ này! Do vậy, đây thật sự là con đường chánh giác, nói thật thà th́ chỉ có một đường này. Hai câu sau cùng là đại sư đặc biệt căn dặn. “Nhất tằng quá mục” (hễ lướt qua mắt): Quư vị từng gặp gỡ pháp môn này, từng trông thấy, đọc qua văn tự này, nghe người khác khuyến cáo, hăy nên khắc cốt minh tâm, chớ nên quên lăng!

 

      (Sớ) Thượng văn chuyên chỉ chú thích thử kinh.

      () 上文專指註釋此經。

      (Sớ: Những câu trong phần trên chuyên nói về việc chú thích kinh này).

 

      Đoạn trước nói về chú giải, nói tới những chú giải từ xưa của bộ kinh này.

 

      (Sớ) Kim vị kỳ dư tán vịnh Tịnh Độ.

      () 今謂其餘讚詠淨土。

      (Sớ: C̣n phần này nói đến những tác phẩm khác ca ngợi, ngâm vịnh Tịnh Độ).

 

      Những tác phẩm tán thán, ca vịnh Tịnh Độ khác.

 

      (Sớ) Sở hữu ngôn từ bất khả thắng kỷ.

      () 所有言辭不可勝紀。

      (Sớ: Tất cả ngôn từ chẳng thể nào ghi chép trọn hết được).

 

      Chẳng có cách nào liệt kê trọn hết, quá nhiều!

 

      (Sớ) Vi luận, như Thập Nghi, Bảo Vương đẳng.

      () 為論,如十疑寶王等。

      (Sớ: Soạn luận th́ như Thập Nghi Luận, Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận v.v...)

 

       Thập Nghi Luận do Thiên Thai Trí Giả đại sư viết vào đời Tùy. Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận do pháp sư Phi Tích viết vào đời Đường, hoàn toàn là tán dương Tịnh Độ. Ngẫu Ích đại sư đưa cả hai bản này vào sách Tịnh Độ Thập Yếu. Nói về luận bèn nêu ra hai tác phẩm để làm ví dụ.

 

      (Sớ) Vi văn, như Long Thư, Vô Tận đẳng

      () 為文,如龍舒無盡等。

      (Sớ: Soạn văn th́ như Long Thư, Vô Tận v.v...)

 

      “Long Thư”: Cư sĩ Vương Nhật Hưu soạn Long Thư Tịnh Độ Văn, bộ này lưu hành rất rộng tại Đài Loan. Trong bộ Tịnh Độ Thập Yếu được lưu thông hiện thời, người đời sau đă bổ sung không ít tác phẩm, như Triệt Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục, Long Thư Tịnh Độ Văn cũng được chép vào đấy. Các đồng tu chuyên tu Tịnh Độ trong quá khứ đă từng có người thỉnh lăo pháp sư Ấn Quang biên tập một bộ Tịnh Độ Tùng Thư, lăo ḥa thượng bảo: “Không cần thiết! Có một bộ Tịnh Độ Thập Yếu là đủ rồi!” Tại Đài Loan cũng có không ít đồng tu phát tâm biên soạn một bộ Tịnh Độ Tùng Thư[3], đâm ra quá nhiều, quá tạp. Thật sự tu hành th́ đúng là Thập Yếu cũng đủ rồi. “Vô Tận” là cư sĩ Trương Vô Tận, tức là Trương Thương Anh, là một vị Tể Tướng đời Tống. Ông này cũng soạn Tịnh Độ Văn.

 

      (Sớ) Vi tập, như Quyết Nghi, Chỉ Quy đẳng.

      () 為集,如決疑指歸等。

      (Sớ: Viết thành Tịnh Độ Tập th́ như Tịnh Độ Quyết Nghi Tập, Tịnh Độ Chỉ Quy Tập v.v...)

 

      Vương Cổ viết Trực Chỉ Tịnh Độ Quyết Nghi Tập. Tại Ngô Quận có một vị xuất gia là pháp sư Đại Hựu viết Tịnh Độ Chỉ Quy Tập. Cuối đời Thanh, đầu thời Dân Quốc, Thượng Hải Thương Vụ Ấn Thư Quán đă in bộ Tịnh Độ Thập Tam Chủng bao gồm hết thảy các tác phẩm ấy.

 

      (Sớ) Vi lục, như Tịnh Độ Tự Tín đẳng.

      () 為錄,如淨土自信等。

      (Sớ: Soạn lục là như Tịnh Độ Tự Tín v.v...)

 

      Vô Công cư sĩ Vương Điền đă viết Tịnh Độ Tự Tín Lục.

 

      Sớ: Vi truyện, như Tịnh Độ Lược Truyện đẳng.

      () 為傳,如淨土略傳等。

      (Sớ: Viết truyện là như Tịnh Độ Lược Truyện v.v...)

 

      Đây là truyện kư. Từ Vân Sám Chủ viết Tịnh Độ Lược Truyện. Nêu ra mấy ví dụ, thật ra, trong mỗi triều đại, các vị đại đức xuất gia lẫn tại gia đă chú sớ rất nhiều. Bộ Tịnh Độ Tùng Thư đă sưu tập những bản chú sớ khá hoàn chỉnh.

 

      (Sớ) Vi kệ, như Kính Lộ Tu Hành đẳng. Vi phú, như Thần Thê An Dưỡng đẳng. Vi thi, như Chư Gia Hoài Tịnh Độ đẳng.

      () 為偈,如徑路修行等。為賦,如神棲安養等。為詩,如諸家懷淨土等。

      (Sớ: Viết kệ như Kính Lộ Tu Hành v.v... Viết phú như bài phú Thần Thê An Dưỡng v.v... Làm thơ như tập Chư Gia Hoài Tịnh Độ v.v...)

 

      Quá nhiều, nên chỉ nói đại lược. Kệ tụng th́ như bài Tịnh Độ Kệ do Thiện Đạo đại sư viết hết sức nổi tiếng! Ngài nhắc nhở người đời: “Tiệm tiệm kê b́ hạc phát” (dần dần da gà, tóc hạc), con người sẽ dần dần suy lăo, da dẻ nhăn nheo, đầu tóc bạc phơ. Khi ấy, hăy nghĩ sẽ chẳng c̣n mấy chốc nữa đâu! “Khán khán hành bộ lung chung” (nh́n xem chân bước run run). Lưng gù, eo hông chẳng c̣n sức nữa, bước đi phải chống gậy! Dáng vẻ già cả, lập cập! “Duy hữu kính lộ tu hành” (chỉ có đường tắt tu hành), “kính lộ” là con đường gần nhất. Lúc ấy, quư vị phải giác ngộ, muốn tu hành phải t́m một con đường gần gũi. Đường gần là ǵ vậy? Chớ nên lăng phí rất nhiều thời gian. V́ sao? Thời gian của chính ḿnh chẳng đủ dùng, [vô thường] xảy đến [đối phó] chẳng kịp, đâu có thời gian dài như vậy? Phải t́m một con đường gần, phải t́m con đường đáng tin nhất, phải t́m con đường đơn giản nhất, ổn thỏa nhất. Đó chính là “đản niệm A Di Đà Phật” (chỉ niệm A Di Đà Phật), chỉ niệm! “Đản” là chỉ niệm A Di Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra, đều buông xuống hết! Thiện Đạo đại sư dạy chúng ta như vậy. Ngài là tổ sư đời thứ hai của Tịnh Độ Tông.

      Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư viết Thần Thê An Dưỡng Phú (bài phú gởi ḷng nơi Cực Lạc). C̣n như Chư Gia Hoài Tịnh Độ Thi (thơ tưởng nhớ tới Tịnh Độ của các tác giả) th́ như trong Tịnh Độ Thập Yếu có cuốn Tây Trai Tịnh Độ Thi do thiền sư Sở Thạch sáng tác. Thiền sư Trung Phong cũng viết Hoài Tịnh Độ Thi (thơ mong tưởng Tịnh Độ) hết sức hay. Những tác phẩm ấy đều nhằm khích lệ, khuyên lơn người đời sau hăy nhất tâm tu Tịnh Độ.

 

      (Sớ) Cáo nhi viết khẩn, chân thành chi ngữ.

      () 告而曰懇,真誠之語。

      (Sớ: Bảo ban mà nói là “khẩn thiết”, [ngụ ư] lời lẽ chân thành).

 

      Chân tâm thành khẩn bảo ban chúng ta.

 

      (Sớ) Kư kỳ tín thọ nhi phụng hành dă.

      () 冀其信受而奉行也。

      (Sớ: Mong mỏi họ tin nhận rồi vâng làm theo).

 

       “Kư” () là mong muốn, chân thành bảo ban chúng ta, hy vọng chúng ta sẽ tin tưởng, tiếp nhận, y theo phương pháp này mà tu hành.

 

      (Sớ) Ca nhi viết bi, thê sở chi từ, hoặc năng cảm phát nhi hưng khởi dă.

      () 歌而曰悲,淒楚之辭,或能感發而興起也。

      (Sớ: Lời ca được gọi là bi thương, [ngụ ư] lời lẽ thê lương, may ra sẽ cảm động, khơi gọi ḷng người, khiến họ hăng hái tu tập).

 

      Cảm khái bi ca, “bi” () là mong muốn có thể làm cho chúng ta xúc động, giác ngộ, cảnh tỉnh thế sự vô thường, tháng ngày c̣n lại chẳng nhiều nhơi ǵ! Khiến cho bản thân hăng hái dấy lên ư niệm niệm Phật.

 

      (Sớ) Lệ, sổ dă. Bất ức giả, ức bất túc dĩ tận chi, ngôn đa dă.

      () 麗,數也。不億者,億不足以盡之,言多也。

(Sớ: Lệ là tính đếm. “Bất ức”: Ngay cả con số Ức cũng chẳng đếm trọn hết, ư nói nhiều lắm)

     

      “Ức” là một con số lớn, một vạn vạn là một Ức. Con số này không có cách nào tính trọn hết. Cực lực h́nh dung số lượng thật nhiều.

 

      (Sớ) Thử giai Tịnh Độ thánh hiền thiên ngôn vạn ngữ, bất yếm phiền trùng.

      () 此皆淨土聖賢千言萬語,不厭繁重。

      (Sớ: Những tác phẩm ấy đều là ngàn vạn lời lẽ của các bậc thánh hiền Tịnh Độ, chẳng ngại rườm lời lặp đi lặp lại).

 

       Tịnh Độ Tùng Thư có tới ba mươi cuốn, quư vị mới hiểu được các tổ sư đại đức trong các đời đă buốt ḷng rát miệng khuyên bảo chúng ta.

 

      (Sớ) Trực dục sanh tử hải trung, tận khiết chúng sanh ư bỉ ngạn nhi hậu dĩ.

      () 直欲生死海中,盡挈眾生於彼岸而後已。

      (Sớ: Chỉ v́ muốn đưa hết chúng sanh trong biển sanh tử lên bờ kia mới thôi).

 

     Trong ḷng các Ngài ôm ấp nguyện vọng này, trực tiếp ở trong biển sanh tử nâng dắt chúng sanh, cho nên nêu lên cương lănh này nhằm cứu độ chúng sanh lên bờ kia. Ở đây, chữ “bờ kia” chỉ Tây Phương Cực Lạc thế giới, đưa chúng ta đến chỗ A Di Đà Phật, đưa qua Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đây là bi tâm của các vị tổ sư đại đức trong quá khứ.

 

      (Sớ) Ngă đẳng ưng đương hàm ân báo đức.    

      () 我等應當銜恩報德。

      (Sớ: Chúng ta hăy nên nhớ ơn, báo đức).

 

      Chúng ta gặp gỡ, trông thấy, nghe nói, hăy nên hàm ân báo đức. “Hàm” () là ôm giữ.

 

      (Sớ) Lũ cốt minh tâm.

      () 縷骨銘心。

      (Sớ: Ghi xương, tạc dạ).

       

      Phải nhớ kỹ đại ân đại đức này, đừng nên quên lăng. Không những chính ḿnh phải tín nguyện phụng hành, mà c̣n phải:

 

      (Sớ) Triển chuyển lưu thông, đệ tương khuyến đạo.

      () 展轉流通,遞相勸導。

      (Sớ: Xoay vần lưu thông, lần lượt khuyên dạy lẫn nhau).

     

      Hôm trước tôi có nhận được một “lá thư may mắn”, mỗi cá nhân nhận được thư này nếu sao thành mười tám bức gởi cho thân thích bằng hữu, quư vị sẽ hết sức may mắn. Nếu không chép ra, trong tương lai sẽ mắc nạn. Theo tôi thấy, lá thư may mắn thật sự [chính là pháp môn Tịnh Độ]. Tôi khuyên quư vị, mỗi người hăy đem thi từ Tịnh Độ sao ra hai mươi bản tặng thân thích bằng hữu, khuyên khắp hết thảy mọi người niệm A Di Đà Phật. Đấy là vận may thật sự của chúng ta, chứ c̣n những thứ khác chưa chắc đă may mắn. Biện pháp này rất tốt đẹp, xoay vần lưu thông, lần lượt khuyên dạy lẫn nhau.

 

      (Sớ) Như kỳ trí nhi bất lăm, lăm nhi bất tín.

      () 如其置而不覽,覽而不信。

      (Sớ: Nếu để đó không xem tới, hoặc xem mà chẳng tin).

 

       “Trí” () là bỏ tại nơi đó, bỏ xó chẳng xem tới, hoặc có xem, nhưng chẳng tin.

 

      (Sớ) Bất viết ngu mông chi huấn, tắc viết kư ngụ chi đàm, độc thả nại chi hà tai.

      () 不曰愚蒙之訓,則曰寄寓之談,獨且奈之何哉。

      (Sớ: Nếu chẳng chê là lời dạy của kẻ ngu muội, tối tăm, th́ cũng phán là chuyện ngụ ngôn, [đối với những kẻ ấy] chỉ đành chẳng biết làm sao được nữa?)

     

      Đây là lời lăo nhân gia cảm thán! Chính kẻ ấy chẳng tin, lại c̣n phê b́nh, bảo chúng ta ngu si, quở chúng ta mê tín, đấy là kẻ ấy sai lầm. Kinh nói kẻ ấy “ít thiện căn, ít phước đức”, nên chẳng thể tiếp nhận. Mặc dù kẻ ấy, ít thiện căn và phước đức, chẳng thể tiếp nhận, nhưng chúng ta chớ nên không tạo cơ hội cho kẻ ấy, mà vẫn cứ tạo cơ hội cho họ. Kẻ ấy tin tưởng th́ rất tốt, sẽ đắc độ trong một đời này. Kẻ ấy không tin, cũng đă gieo một chủng tử, tức là đă gieo một chủng tử vào A Lại Da Thức. Do vậy, lưu thông phổ biến, khuyên người khác tu Tịnh Độ, chuyện này quả thật vô cùng quan trọng!

 

Tam, minh tụng.

三、明誦

(Ba, nói về sự cảm ứng do tụng đọc).

 

      “Tụng” () là đọc tụng. Đoạn thứ ba nói về sự cảm ứng do đọc tụng.

 

      (Huyền Nghĩa) Thứ minh tụng thử kinh giả, như thiệt căn bất hoại.

      (玄義) 次明誦此經者,如舌根不壞。

      (Huyền Nghĩa: Tiếp đó, nói người tụng kinh này lưỡi chẳng hư hoại).

     

      Đây là nói về sự cảm ứng do niệm kinh Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ.

 

      (Huyền Nghĩa) Thiên nhạc Tây nghênh.

      (玄義) 天樂西迎。

      (Huyền Nghĩa: Nhạc trời đón về Tây).

 

      Đây là nói về tướng lành khi văng sanh.

 

      (Huyền Nghĩa) Phương giải oán nhi văng sanh.

      (玄義) 方解冤而往生。

      (Huyền Nghĩa: Giải trừ hờn oán rồi văng sanh).

 

      Trong phần sau [của lời Sớ] có [kể rơ] câu chuyện này.

 

      (Huyền Nghĩa) Vị chung quyển nhi tọa thoát.

      (玄義) 未終卷而坐脫。

      (Huyền Nghĩa: Tụng kinh chưa hết một quyển đă ngồi qua đời).

 

      Tụng chưa xong một quyển, người ấy đă ngồi ngay nơi đó, văng sanh.

 

      (Huyền Nghĩa) Quy như nhập Định.

      (玄義) 歸如入定。

      (Huyền Nghĩa: Trở về [Cực Lạc] như nhập Định)

 

      Lúc văng sanh chẳng ngă bệnh, giống như tịnh tọa, nhập Định, ra đi như vậy đó!

 

      (Huyền Nghĩa) Chung đổ bạch liên.

      (玄義) 終睹白蓮。

      (Huyền Nghĩa: Khi mất, thấy hoa sen trắng).

 

      Lúc lâm chung thấy hoa sen màu trắng.

 

      (Huyền Nghĩa) Ngân đài nhi dịch kim đài, thô nhạc nhi lai tế nhạc.

      (玄義) 銀臺而易金臺,粗樂而來細樂。

      (Huyền Nghĩa: Đài bạc đổi thành đài vàng, nhạc thô tháp rồi đến nhạc vi diệu).

 

      Những chuyện này đều được chú giải, xin hăy đọc lời chú giải:

 

      (Sớ) Thiệt căn bất hoại giả, Trí Luận vân: “Hữu tỳ-kheo tụng Di Đà kinh”.

      () 舌根不壞者,智論云:有比丘誦彌陀經。

(Sớ: “Lưỡi chẳng hoại”: Trí Độ Luận chép: Có tỳ-kheo tụng kinh Di Đà).

 

      Đây là chuyện được nói trong Trí Độ Luận. Tỳ-kheo là người xuất gia, niệm kinh Di Đà.

 

      (Sớ) Mạng dục chung thời, ngữ đệ tử ngôn.

      () 命欲終時,語弟子言。

      (Sớ: Lúc sắp lâm chung, bảo đệ tử).

 

      Lúc lâm chung, Sư bảo đồ đệ, học tṛ.

 

      (Sớ) A Di Đà Phật dữ chư đại chúng, câu lai nghênh ngă.

      () 阿彌陀佛與諸大眾,俱來迎我。

      (Sớ: A Di Đà Phật và đại chúng đều đến đón ta).

 

      Lúc sắp ra đi, tỉnh táo, sáng suốt, chính Sư thấy A Di Đà Phật, thấy thanh tịnh hải hội đại chúng đúng như kinh đă dạy, đều đến đón tiếp Sư.

 

      (Sớ) Hậu tùng hỏa táng, thiệt căn bất hôi, sắc tướng tự nhược.

      () 後從火化,舌根不灰,色相自若。

      (Sớ: Sau đấy, đem hỏa táng, lưỡi chẳng cháy thành tro, sắc tướng vẫn giống hệt như cũ).

 

      Người xuất gia sau khi văng sanh quá nửa là hỏa táng. Sau khi hỏa táng, lưỡi Ngài chẳng hoại, giống như Cưu Ma La Thập đại sư trong phần trước. Có thể thấy Ngài nói lời thật, chứ chẳng lừa người! Không chỉ lưỡi chẳng hoại, mà màu lưỡi chẳng thay đổi, khắp thân cháy thành tro, không chỉ lưu lại cái lưỡi, mà màu sắc của lưỡi c̣n chẳng biến đổi. Đây là tạo chứng cớ cho người khác.

 

      (Sớ) Thiên nhạc Tây nghênh giả.

      () 天樂西迎者。

(Sớ: Nhạc trời đón về Tây).

 

      Đây cũng là một câu chuyện.

 

(Sớ) Tống Đường Thế Lương.

() 宋唐世良。

      (Sớ: Đời Tống, Đường Thế Lương).

 

      Đường Thế Lương là một vị tại gia cư sĩ vào đời Tống.

 

      (Sớ) Tụng Di Đà kinh thập vạn quá.

      () 誦彌陀經十萬過。

      (Sớ: Tụng kinh Di Đà tới mười vạn biến).

 

      Tụng mười vạn lần.

 

      (Sớ) Nhất nhật, vị gia nhân viết: “Phật lai nghênh ngă”.

      () 一日謂家人曰:佛來迎我。

      (Sớ: Một hôm, bảo người nhà: “Phật đến đón ta”).

 

      Vị này cũng là biết trước lúc mất, chẳng bị ngă bệnh. Có một hôm, bảo người nhà: “A Di Đà Phật đến đón ta”.

 

      (Sớ) Ngôn dĩ, tác lễ, tọa thệ.

      () 言已,作禮坐逝。

      (Sớ: Nói xong, làm lễ, ngồi qua đời).

 

      Sau khi dặn ḍ người nhà, ông ta lễ Phật. Lúc lạy xong bèn tịnh tọa, ra đi, [tức là] ngồi mất!

 

      (Sớ) Kỳ dạ, hữu Lợi hành nhân, tại Đạo Vị sơn thượng, mộng Tây Phương dị quang, phan hoa tân phân, âm nhạc liệu lượng, không trung thanh vân: “Đường Thế Lương dĩ sanh Tịnh Độ”

      () 其夜有利行人,在道味山上,夢西方異光,旛華繽紛,音樂嘹喨,空中聲云:唐世良已生淨土。

(Sớ: Đêm ấy, có người tu hành tên Lợi ở trên núi Đạo Vị, mộng thấy phương Tây có ánh sáng lạ, tràng phan và hoa phấp phới, âm nhạc vang rền, trong hư không có tiếng nói: “Đường Thế Lương đă sanh về Tịnh Độ”).

 

      Tướng lành chẳng phải tại quê hương ông ta, mà ở một nơi rất xa, tức là núi Đạo Vị. Buổi tối ngày ông Đường văng sanh, Lợi hành nhân, ông này cũng là một người tu hành, khi tu hành trên núi, đêm ấy mộng thấy phương Tây có dị quang. “Dị quang” là [ánh sáng] khác thường; lại c̣n thấy phan. Đây là một loại tràng phan trong nhà Phật, giống như cờ xí. Trên trời có hoa, “tân phân” là rất nhiều phan, tràng, hoa trời từ không trung nườm nượp rơi xuống. “Âm nhạc liệu lượng” (âm nhạc vang rền): Nhạc trời. Lại c̣n nghe trong hư không có âm thanh, có người nói: “Đường Thế Lương văng sanh Tây Phương Tịnh Độ”. Đó là “thiên nhạc Tây nghênh”. Thời cổ có một câu chuyện như vậy đó. Những chuyện như vậy trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và Văng Sanh Truyện ghi chép nhiều lắm.

 

      (Sớ) Giải oán văng sanh giả.

      () 解冤往生者。

      (Sớ: Giải oán kết,văng sanh).

 

      Đây là một trường hợp tiêu tai.

 

      (Sớ) Tống Thượng Ngu.

      () 宋上虞。

      (Sớ: Vào đời Tống, tại Thượng Ngu[4]).

 

      Đây là một địa phương.

 

      (Sớ) Dân Phùng Mân.

      () 民馮珉。

      (Sớ: Có một người dân tên là Phùng Mân).

 

      Đây là tên của vị ấy, cũng là tại gia cư sĩ.

 

      (Sớ) Thiếu sự du liệp.

      () 少事遊獵。

      (Sớ: Thuở trẻ thích săn bắn).

 

      Lúc tuổi trẻ, ưa săn bắn. Săn bắn sẽ kết oán cừu nhiều lắm!

 

      (Sớ) Kiến cự xà, tŕ sáo tương văng thích chi.

      () 見巨蛇,持矟將往刺之。

      (Sớ: Thấy một con rắn to, liền vác mâu đến đâm nó).

 

      “Sáo” () là trường mâu, ông ta đâm con rắn ấy.

 

      (Sớ) Thời xà tại nham hạ.

      () 時蛇在巖下。

      (Sớ: Lúc ấy, rắn ở dưới vách núi).

 

      Rắn ở dưới vách núi.

 

      (Sớ) Dục phệ hoàng độc.

      () 欲噬黃犢。

      (Sớ: Toan cắn con bê vàng).

 

      “Độc” () là con ḅ con. Rắn này rất lớn, toan nuốt con bê.

 

      (Sớ) Mân thôi nham thạch áp chi, chí tử.

() 珉推巖石壓之,至死。

      (Sớ: Phùng Mân đẩy đá từ vách núi xuống, đè chết rắn).

 

      Ông ta ở phía trên, dùng đá to quăng xuống, đè rắn chết bẹp. Rắn to như vậy thường gọi là “rắn đă thành tinh”.

 

      (Sớ) Xà lũ vi túy.

      () 蛇屢為祟。

      (Sớ: Rắn nhiều lần hiện hồn quấy phá).

 

      Rắn sau khi bị đè chết, thường thường quấy phá, kiếm chuyện, đó là oan gia trái chủ.

 

      (Sớ) Mân tu sám niệm Phật kinh niên, xà bất năng hại.

      () 珉修懺念佛經年,蛇不能害。

      (Sớ: Ông Mân tu sám, niệm Phật nhiều năm, rắn chẳng thể hại được).

 

      “Tu sám” là sám hối, niệm Phật; do có công đức này, rắn không có cách nào báo thù được.

 

      (Sớ) Nhất nhật thỉnh đồng xă tịnh lữ, tụng Di Đà kinh, hiệp chưởng nhi hóa.

      () 一日請同社淨侶,誦彌陀經,合掌而化。

      (Sớ: Một hôm, mời các bạn thanh tịnh cùng liên xă, tụng kinh Di Đà, chắp tay qua đời).

 

      “Đồng xă”: Nhất định là ông ta đă tham gia liên xă. Từ xưa tới nay, liên xă hết sức phổ biến. Từ thời Huệ Viễn đại sư thành lập liên xă đầu tiên, về sau, tại mỗi nơi ở Trung Quốc, hễ lập hội niệm Phật đều gọi là “liên xă”. Thỉnh các đồng tu trong liên xă đến trợ niệm giúp ông ta, tụng kinh Di Đà, ông ta chắp tay văng sanh. Đây là nói về chuyện “giải oán văng sanh”. Nếu ông ta chẳng thường niệm Phật, không cầu văng sanh, oán gia trái chủ sẽ không tha cho ông ta! Nếu ông ta không ra khỏi lục đạo luân hồi, dù trong một đời này tu tập tốt đẹp đến mấy đi nữa, đời sau oán gia vẫn đến kiếm! Các quư vị đọc Từ Bi Tam Muội Thủy Sám, thấy Ngộ Đạt quốc sư là cao tăng mười đời; oán gia theo Ngài suốt mười đời, nhưng chưa báo thù được. Tới đời thứ mười, tôn giả Ca Nặc Ca điều giải, hóa giải. Nếu không, oán ấy vẫn chưa hết! Do vậy, quư vị phải ghi nhớ, đừng kết oán cừu với người khác, đừng kết oán cừu với quỷ thần, mà cũng đừng kết oán cừu với súc sanh, nhất là những súc sanh lớn. Quư vị kết oán cừu với chúng sẽ phiền phức lắm! V́ sao? Càng to, linh tánh càng cao, ư niệm báo thù càng mạnh. Kết mối oán cừu rất đáng ngán. Quả thật là đời đời kiếp kiếp chẳng dễ ǵ giải trừ!

      Tục ngữ nói rất hay: “Oan gia nghi giải, bất nghi kết”, [nghĩa là] phải biết giải khai oan gia, đừng nên kết. Hễ kết th́ sau này, đời đời kiếp kiếp bị phiền phức. Chỉ có thật sự văng sanh Tây Phương Tịnh Độ th́ mới tính là tất cả oan gia của quư vị đều được giải trừ. Nếu quư vị chưa thể văng sanh Tịnh Độ, chắc chắn chẳng thể trốn tránh được! Chẳng cần biết quư vị tu pháp môn ǵ, hễ tu chưa thành công, oan gia trái chủ đều gọi là “ma chướng”, họ đều đến chướng ngại quư vị. Từ vô thỉ kiếp tới nay, chẳng biết đă kết oán cừu với bao nhiêu người, kết mối thù oán với bao nhiêu quỷ thần và súc sanh. Nay chúng ta cầu thuận buồm xuôi gió trên con đường Bồ Đề sẽ chẳng dễ dàng, đâu có chuyện [dễ dàng như vậy] được! Chỉ có biện pháp duy nhất là học theo Phùng cư sĩ, hằng ngày thật sự niệm Phật, sám hối. Để sám hối, chúng ta niệm bài kệ Sám Hối là đủ rồi. Nương theo kệ Sám Hối, trong tâm thật sự sám hối, như thế là tốt đẹp. Lại nữa, một câu A Di Đà Phật này quả thật tiêu trừ nghiệp chướng, tăng phước huệ. Không chỉ có đại công đức văng sanh, mà hiện thời, quư vị niệm một tiếng A Di Đà Phật sẽ tiêu tội chướng, tăng phước huệ, quư vị niệm niệm A Di Đà Phật là niệm niệm tiêu nghiệp chướng, niệm niệm tăng phước huệ. Không có pháp môn nào có hiệu quả thù thắng hơn pháp này!

 

      (Sớ) Vị chung tọa thoát giả.

      () 未終坐脫者。

      (Sớ: Nói chưa tụng xong đă ngồi qua đời).

       

      Đây là người thuộc đời Tấn.

 

      (Sớ) Tấn Trí Tiên pháp sư, hiệu Chân Giáo, trụ Bạch Liên Tự, thập tam niên Tây hướng thập niệm, thập nhị thời bất tạm phế.

      () 晉智仙法師,號真教,住白蓮寺,十三年西向十念,十二時不暫廢。

      (Sớ: Đời Tấn, pháp sư Trí Tiên, hiệu là Chân Giáo, trụ tại chùa Bạch Liên, suốt mười ba năm hướng về phương Tây, tu thập niệm, trong suốt mười hai thời chẳng tạm bỏ).

 

      Sư rốt cuộc niệm Phật không nhiều lắm, nhưng người ta công phu tuyệt vời! Sư sử dụng cách Thập Niệm. Ngài niệm suốt mười ba năm chẳng gián đoạn, niệm Phật bằng cách hướng về phương Tây thập niệm. Sư tu thập niệm trong mười hai thời, mỗi thời niệm một lần. Thập niệm th́ thời gian [niệm Phật] chẳng lâu, đại khái là năm phút đă niệm xong! Nhưng mười hai thời chẳng đơn giản, mười hai thời bao gồm cả buổi tối. “Thời thần” (時辰) trong thuở ấy dùng “Tư, Sửu, Dần, Măo, Th́n, Tỵ, Ngọ, Mùi v.v...” để tính toán; một thời thần thuở ấy bằng hai giờ hiện thời. Cứ mỗi hai tiếng đồng hồ, Sư lại niệm một lần, đấy là tu pháp Thập Niệm. Mỗi hai tiếng đồng hồ niệm một lần, suốt mười ba năm chẳng gián đoạn, công phu ở chỗ này! Khó nhất là buổi tối, buổi tối cứ cách hai giờ, Sư lại trở dậy niệm một lần, chuyện này chẳng dễ dàng.

 

      (Sớ) Nhất tịch vi tật.

      () 一夕微疾。

      (Sớ: Một tối, hiện chút bệnh nhẹ).

 

      Hôm Sư văng sanh, bị mắc chút bệnh vặt.

 

      (Sớ) Mạng quán đường hành nhân tụng Di Đà kinh.

      () 命觀堂行人誦彌陀經。

      (Sớ: Bảo những người đang làm việc trong trai đường hăy tụng kinh Di Đà).

 

      “Quán đường hành nhân”: Quán đường là Ngũ Quán Đường[5], tức trai đường. Sư bảo những người đang làm việc ở đó niệm kinh Di Đà.

 

      (Sớ) Vị chung quyển.

      () 未終卷。

      (Sớ: Tụng chưa hết quyển kinh).

 

      Kinh Di Đà chưa tụng xong.

 

      (Sớ) An nhiên tọa thoát.

      () 安然坐脫。

      (Sớ: Đă ngồi lặng lẽ qua đời).

 

      Sư ngồi ở nơi đó, người ta niệm kinh, Sư cũng niệm theo, lắng nghe, một quyển kinh chưa niệm xong, Sư đă văng sanh. Đây là nêu gương Thập Niệm.

 

      (Sớ) Quy như nhập Định giả, Tống Thích Xử Khiêm.

      () 如入定者,宋釋處謙。

      (Sớ: Về [Cực Lạc] như nhập Định là ngài Thích Xử Khiêm đời Tống).

 

      Đây là một vị xuất gia, pháp sư Xử Khiêm.

 

      (Sớ) Tinh tu Tịnh Độ.

      () 精修淨土。

      (Sớ: Tu ṛng Tịnh Độ).

 

       “Tinh tu” là chuyên tu, chẳng xen tạp các pháp môn khác. Chúng ta tu pháp môn Tịnh Độ mà c̣n muốn tu thêm pháp khác, vẫn muốn nghiên cứu pháp khác, đấy là chẳng tinh! “Tinh” là trừ pháp môn này ra, trừ kinh điển Tịnh Độ ra, tất thảy đều chẳng xen lạm, đó là “tinh”. Kinh điển chủ yếu trong Tịnh Độ là tam kinh nhất luận, nương theo những kinh luận này để tu hành.

 

      (Sớ) Nhất tịch, tụng Di Đà kinh tất.

      () 一夕,誦彌陀經畢。

      (Sớ: Một tối, Sư tụng kinh Di Đà xong).

 

      Buổi tối hôm văng sanh, tụng kinh xong.

 

      (Sớ) Xưng tán Tịnh Độ.

      () 稱讚淨土。

      (Sớ: Khen ngợi Tịnh Độ).

 

      Nay chúng ta gọi “xưng tán Tịnh Độ” là Tán Phật Kệ .

 

      (Sớ) Cáo chúng viết: “Ngô dĩ vô sanh nhi sanh Tịnh Độ”. Như nhập Thiền Định, yểm nhiên nhi hóa.

      () 告眾曰:吾以無生而生淨土。如入禪定,奄然而化。

      (Sớ: Bảo đại chúng: “Ta do vô sanh mà sanh Tịnh Độ”, như nhập Thiền Định, đột nhiên qua đời).

 

      Giă biệt đại chúng. Nói xong, đặc biệt nói Ngài “do vô sanh mà sanh”; đấy là Tịnh Độ sanh vô sanh. Cổ đức dạy chúng ta: “Sanh tắc quyết định sanh, khứ tắc thật bất khứ” (sanh th́ quyết định sanh, nhưng đi thật sự chẳng đi). Thiên Thai đại sư có Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận, bộ sách này hiện nay cũng thuộc trong Tịnh Độ Thập Yếu. Hết sức trọng yếu, có thể giải trừ khá nhiều nghi vấn về Tịnh Độ. Cư sĩ Quư Thánh Nhất đă chú giải Sanh Vô Sanh Luận hết sức tỉ mỉ.

 

      (Sớ) Chung đổ bạch liên giả, Tống Gia Ḥa quận, Chung ẩu.

      () 終睹白蓮者,宋嘉禾郡鍾嫗。

      (Sớ: Lâm chung thấy hoa sen trắng: Đời Tống, bà lăo họ Chung ở quận Gia Ḥa).

 

      Bà cụ này họ Chung.

 

      (Sớ) Nhật tụng Di Đà kinh thập biến, niệm Phật bất chuyết.

      () 日誦彌陀經十遍,念佛不輟。

      (Sớ: Hằng ngày tụng kinh Di Đà mười biến, niệm Phật chẳng bỏ sót).

 

      Quư vị thấy bà cụ tu hành, mỗi ngày niệm kinh Di Đà mười biến, Phật hiệu chẳng gián đoạn.

 

      (Sớ) Nhất nhật ngữ kỳ tử viết.

      () 一日語其子曰。

      (Sớ: Một hôm bảo con).

 

      Hôm văng sanh bảo con.

 

      (Sớ) Kiến bạch liên hoa vô số, chúng thánh nghênh ngă.

      () 見白蓮華無數,眾聖迎我。

      (Sớ: Mẹ thấy hoa sen trắng vô số, các vị thánh đến đón mẹ).

     

      Thấy hoa sen, thấy Phật và đại chúng đến đón tiếp, bà cụ bèn văng sanh.

 

      (Sớ) Toại đoan tọa tủng thân hóa khứ.   

      () 遂端坐聳身化去。

      (Sớ: Bèn ngồi ngay ngắn, thân khẽ động, đă tịch rồi).

 

      Khẽ động vai đă đi rồi, tự tại ngần ấy! Chẳng sanh bệnh; đây là một bà cụ tại gia. Truyện kư của những vị này được chép tường tận trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục.

 

      (Sớ) Ngân đài kim đài giả.

      () 銀臺金臺者。

      (Sớ: Đài bạc, đài vàng).

 

      Câu chuyện này được lưu truyền rất phổ biến, rất nhiều người biết.

 

      (Sớ) Hoài Ngọc thiền sư, Thai Châu nhân, bố y nhất thực, thường tọa, bất ngọa. Tinh tấn niệm Phật, tụng Di Đà kinh tam thập vạn biến.

      () 懷玉禪師,台州人,布衣一食,常坐不臥。精進念佛,誦彌陀經三十萬遍。

      (Sớ: Thiền sư Hoài Ngọc, người xứ Thai Châu, mặc áo vải, ngày ăn một bữa, thường ngồi, chẳng nằm, tinh tấn niệm Phật, tụng kinh Di Đà ba mươi vạn biến).

 

      Niệm Phật hiệu chẳng cần phải nói nữa! Kinh Di Đà tụng ba mươi vạn biến. Vị này suốt đời mặc “bố y”, [tức là] y phục bằng vải thô, ăn đúng Ngọ một bữa, “thường tọa bất ngọa”: Đây là tu không ngả lưng xuống đơn (giường Tăng), khi ngủ chẳng nằm xuống, lúc mệt bèn tịnh tọa. Tinh tấn niệm Phật, thật sự tinh tấn. Trong Niệm Phật Đường, nói thật ra, nếu thật sự dụng công niệm Phật, hiệu quả sẽ hết sức rơ ràng. Có một pḥng nghỉ, mọi người mệt mỏi bèn tới đó nghỉ ngơi một chốc. Khi nghỉ, chẳng cần cởi áo, mặc cả áo mà ngủ. Ngủ một lát, tinh thần khôi phục, bèn ngay lập tức niệm tiếp, phải như vậy th́ mới được. Chúng ta chưa phải là đả Tinh Tấn Phật Thất, đả Tinh Tấn Phật Thất rất nghiêm ngặt. Đấy là hễ mệt mỏi tự ḿnh đi nghỉ, nghỉ khoẻ xong bèn ngay lập tức quay lại niệm Phật. Có thể buông xuống hết thảy, nhất tâm niệm Phật, hiệu quả vô cùng rơ rệt!

     

(Sớ) Nhất nhật kiến Tây Phương thánh chúng, đa nhược Hằng sa.

() 一日見西方聖眾,多若恆沙。

      (Sớ: Một hôm, thấy Tây Phương thánh chúng nhiều như cát sông Hằng).

 

      Nhiều như số cát trong sông Hằng, Ngài thấy thanh tịnh hải chúng theo A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí đều đến đón tiếp.

 

      (Sớ) Nhất ḱnh ngân đài, tùng song nhi nhập.

      () 一擎銀臺,從窗而入。

      (Sớ: Một vị bưng đài bạc, theo cửa sổ mà vào).

 

      Cầm hoa sen, trên hoa có đài, kim đài hay ngân đài là phẩm vị cao hay thấp khác nhau. Người đến đón tiếp Ngài cầm hoa sen, trên hoa có đài bằng bạc, theo cửa sổ tiến vào.

     

(Sớ) Ngọc viết.

() 玉曰。

(Sớ: Hoài Ngọc nói).

 

      Thiền sư Hoài Ngọc bèn nói.

 

(Sớ) Ngô nhất sanh tinh tấn, thệ thủ kim đài, vi hà đắc thử? Ngân đài toại ẩn.

() 吾一生精進,誓取金臺,為何得此?銀臺遂隱。

      (Sớ: Ta cả đời tinh tấn, thề lấy được đài vàng, v́ sao được đài này? Đài bạc liền ẩn).

 

      Ta suốt đời tinh tấn, trong tâm mong đài vàng, nào ngờ nay là đài bạc, trong tâm đương nhiên rất khổ sở, rất hổ thẹn. Ư niệm này vừa dấy lên, chẳng thấy đài bạc nữa, nó bèn ẩn mất!

 

      (Sớ) Ngọc cảm kích.

      () 玉感激。

      (Sớ: Hoài Ngọc cảm kích).

 

      Chẳng thấy đài bạc nữa, tiêu mất rồi! Trong tâm Ngài cũng rất cảm động. Như thế nào đây? Lại tinh tấn và nỗ lực.

 

      (Sớ) Bội phục tinh tấn.

      () 倍復精進。

      (Sớ: Tinh tấn gấp bội).

 

      Nỗ lực gấp bội.

 

      (Sớ) Tam thất nhật hậu.

      () 三七日後。

      (Sớ: Hai mươi mốt ngày sau).

     

      Hai mươi mốt ngày sau.

 

      (Sớ) Kiến Phật măn không trung.

      () 見佛滿空中。

      (Sớ: Thấy Phật đầy ắp trên hư không).

 

      Phật lại đến tiếp đón Sư.

 

      (Sớ) Năi vị đệ tử viết: “Kim đài lai nghênh”.

      () 乃謂弟子曰:金臺來迎。

      (Sớ: Sư bèn bảo đệ tử: “Đài vàng đến đón”).

 

      Quả nhiên chẳng phụ ḷng mong mỏi, đài vàng tới đón.

 

      (Sớ) Ngô sanh Tịnh Độ hỹ. Thuyết kệ, hàm tiếu nhi thệ.

      () 吾生淨土矣。說偈含笑而逝。

(Sớ: Ta sanh về Tịnh Độ! Nói kệ, mỉm cười, qua đời).

 

      Ngài hoan hỷ, nguyện vọng đă đạt, đúng là kim đài đến đón tiếp Ngài!

 

      (Sớ) Quận thủ Đoàn công dị chi.

      () 守段公異之。

      (Sớ: Viên quan họ Đoàn đứng đầu quận ấy lấy làm lạ).

 

       “Quận thủ” là trưởng quan vùng ấy. Khi đó, quận tương đương với tỉnh hiện thời, nhưng nhỏ hơn tỉnh một chút. Quận Thủ là quan Thái Thú, là quan lớn trong vùng, trông thấy tướng lành này cũng hết sức cảm động.

 

      (Sớ) Tác thi tán mỹ.

      () 作詩讚美。

      (Sớ: Làm thơ ca ngợi)

 

      Có thơ tặng cho Ngài để ca ngợi.

 

      (Sớ) Hữu “chi đê chỉ vị quải kim đài” chi cú vân.

      () 有枝低只為掛金臺之句云。

      (Sớ: Trong ấy có câu “đài vàng treo trĩu nặng cành cây”).

 

      Thơ rằng: “Ngă sư nhất niệm đăng Sơ Địa” (thầy ta một niệm lên Sơ Địa), đài vàng là Lư nhất tâm bất loạn, Lư nhất tâm bất loạn là thượng phẩm thượng sanh. Ngài suốt đời dụng công, thường ngồi chẳng nằm, nhất là trong ba thất tức hai mươi mốt ngày cuối cùng càng thêm tinh tấn gấp bội, đắc Lư nhất tâm bất loạn. V́ thế, tán thán Ngài “nhất niệm đăng Sơ Địa”. “Phật quốc sênh ca lưỡng độ lai” (Cơi Phật đàn ca hai lượt tới), A Di Đà Phật trỗi nhạc trời đến tiếp dẫn Ngài hai lần, “duy hữu môn tiền cổ ḥe thụ” (trước song, riêng một cội ḥe già). Trước chùa có một cây ḥe, cành ḥe rủ thấp. “Chi đê chỉ vị quải kim đài” (đài vàng đeo trĩu cả cành cây). Đài vàng quá nặng, cho nên cành ḥe bị đè xuống rất thấp. Dùng bài thơ này để tán thán Ngài.

 

      (Sớ) Thô nhạc, tế nhạc giả, Nguyên Tử Hoa thiền sư.

      () 粗樂細樂者,元子華禪師。

      (Sớ: “Nhạc thô tháp, nhạc vi diệu”: Thiền sư Tử Hoa vào đời Nguyên).

 

      Đây là một vị xuất gia vào thời Nguyên.

 

      (Sớ) Đại Lịch cửu niên, ư Nhuận Châu Quán Âm Tự, tụng Di Đà kinh lục nguyệt.

      () 大歷九年,於潤州觀音寺,誦彌陀經六月。

      (Sớ: Vào năm Đại Lịch thứ chín (774), tụng kinh Di Đà sáu tháng tại chùa Quán Âm ở Nhuận Châu).

 

      Mỗi ngày niệm kinh Di Đà suốt nửa năm.

 

      (Sớ) Hốt đắc tật.

      () 忽得疾。

      (Sớ: Chợt mắc bệnh).

 

      Bỗng nhiên Ngài nhiễm bệnh.

 

      (Sớ) Dạ văn hương khí nhạc âm.

      () 夜聞香氣樂音。

      (Sớ: Đêm ngửi thấy mùi hương, nghe tiếng nhạc).

 

      Trong khi bị bệnh, Ngài ngửi thấy mùi hương, nghe tiếng thiên nhạc.

 

      (Sớ) Không trung cáo viết: “Thô nhạc dĩ quá, tế nhạc tục lai, quân đương văng sanh”.

      () 空中告曰:粗樂已過,細樂續來,君當往生。

      (Sớ: Trong hư không có tiếng bảo: “Nhạc thô vụng đă hết, nhạc tinh tế sẽ tiếp tục trỗi, ông sẽ văng sanh”).

 

      Nhạc trời cũng là hai lượt, càng về sau càng tinh tế hơn, càng dễ nghe hơn.

 

      (Sớ) Lương cửu niệm Phật nhi hóa.

      () 良久念佛而化。

      (Sớ: Hồi lâu sau, Sư niệm Phật qua đời).

 

      Ngài niệm Phật văng sanh.

 

      (Sớ) Dị hương liên nhật bất tán.

      () 異香連日不散。

      (Sớ: Mùi hương lạ đọng lại cả ngày chẳng tan).

 

Những điều này là tướng lành văng sanh. Đại sư đă nêu lên rất nhiều ví dụ, đều nhằm giúp chúng ta sanh khởi ḷng tin. Mỗi ví dụ đều là chuyện chân thật. Hôm nay đă hết thời gian rồi.

 

Tập 90

 

Xin đọc A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm năm mươi bảy:

 

      (Huyền Nghĩa) Hựu nhược thư tả tắc hóa bị thương sanh[6], giảng diễn tắc tường phù bạch hạc.

      (玄義) 又若書寫則化被蒼生,講演則祥符白鶴。

      (Huyền Nghĩa: Lại nữa, như biên chép giáo hóa trọn khắp phàm dân, giảng diễn ắt hiện điềm lành hạc trắng).

 

      Từ xưa tới nay, thọ tŕ kinh Di Đà có khá nhiều sự cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Đoạn này nói về chuyện chép kinh. Trước đây, kinh sách lưu thông phải dựa vào biên chép. Kỹ thuật ấn loát cho đến sau đời Tống - Nguyên mới dần dần phát triển. Kinh điển in theo lối phương sách, tức là in theo lối khâu gáy đóng thành sách như chúng ta thấy hiện thời, đóng sách như vậy để trở thành một cuốn. Măi đến cuối đời Minh, mới chọn lựa cách đóng kinh Phật thành sách theo lối như vậy. Vào đời Minh, [cách đóng sách ấy do] Hàn Sơn đại sư đề xướng, gọi là “phương sách bản”. Trước kia, thời Đường [kinh Phật được] gọi là “quyển tử”, giống như những bức vẽ được cuộn lại. Sau đấy là “triếp điệp bản”[7]. Từ triếp bản lại diễn biến thành sách đóng thành tập gọi là phương sách bản.

      Thời ấy, thuật ấn loát chưa phát triển, bản in khắc trên gỗ, trước hết, phải chép lại. Chép hoàn chỉnh rồi mới đem bản ấy khắc lên ván gỗ, khắc từng chữ một. Khi in cũng rất bất tiện. Cứ một bức ván gỗ là một trang kinh sách. Thuở đó chưa có mực in, dùng muội gỗ tùng để in; tức là dùng hạt cây tùng đốt lấy bồ hóng. Quư vị thấy những bản sách cổ, in bằng muội gỗ tùng, tay sờ vào sẽ bị đen thui, đối với bản in bằng mực ta sẽ không bị đen tay. In bằng muội gỗ tùng nên giá thành khá cao, chẳng thuận tiện như hiện tại. Người hiện tại tu phước nên [mọi việc] thuận tiện hơn cổ nhân rất nhiều! Cổ nhân muốn lưu thông kinh sách, phải thuê người sao chép, sao một bộ phải trả công chừng đó tiền! Có những người có học, đi thi không đỗ, làm cách nào đây? Thường đến chùa miếu chép kinh. Nhà chùa trả tiền công cho họ, sao một bộ kinh trả công bao nhiêu tiền, cho họ ăn, cho họ ở, để họ chuyên làm việc sao chép kinh điển. Lưu thông kinh điển thuở ấy phải dùng phương thức này. Những trường hợp được đại sư nêu lên trong lời chú giải đều là chuyện thật.

 

      (Sớ) Thư tả giả, Đường Thiện Đạo đại sư, phàm đắc sấn thí, dụng tả Di Đà kinh thập vạn quyển.

      () 書寫者,唐善導大師,凡得襯施,用寫彌陀經十萬卷。

      (Sớ: “Biên chép”: Đời Đường, Thiện Đạo đại sư hễ được cúng dường bèn dùng để chép kinh Di Đà số đến mười vạn quyển).

 

       “Sấn thí” (襯施) là tín đồ cúng dường tiền bạc cho Ngài, Ngài dùng tiền này để cậy người khác chép kinh Di Đà. Chẳng dễ dàng! Kinh Di Đà được phổ biến, lưu thông là do Thiện Đạo đại sư đề xướng mà đắc lực. Đương nhiên, kinh này chẳng thể coi là quá dài, cứ một quyển là được một bộ, đấy là một quyển kinh. Ngài nhờ người khác chép kinh Di Đà, số lượng rất đáng kể, mười vạn quyển! Với kỹ thuật ấn loát phát triển như trong hiện thời, người nào phát tâm in kinh Di Đà mười vạn quyển? Hiện thời làm chuyện này dễ hơn thời Thiện Đạo đại sư rất nhiều, mười vạn quyển kinh phải chép trong bao nhiêu năm? Ngày nay, chúng ta in mười vạn cuốn sách chỉ mất một tháng, giá tiền lại c̣n thấp hơn trước đây rất nhiều. Đây là lưu thông kinh quyển.

 

      (Sớ) Khuyến nhân thọ tŕ, diệc hữu độc tụng chí thập vạn biến giả, ngũ thập vạn biến giả.

      () 勸人受持,亦有讀誦至十萬遍者,五十萬遍者。

      (Sớ: Khuyên người khác thọ tŕ, cũng có người đọc tụng tới mười vạn biến, hay năm mươi vạn biến).

 

      Đây là nói về người thọ tŕ, tụng niệm kinh này. Bởi lẽ, các đồng tu phải chú ư, niệm kinh th́ không nên niệm quá nhiều, quá tạp! Nhất định phải hiểu rơ niệm kinh nhằm mục đích ǵ, chúng ta niệm kinh Di Đà nhằm mục đích ǵ? Nói thật ra là cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đấy là mục đích thật sự của chúng ta. Nếu chúng ta nhất tâm nhất ư muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, niệm thêm những kinh điển khác chính là xen tạp! Pháp môn này đáng quư ở chỗ chuyên tu! Niệm bộ kinh này thuần thục, tâm cũng định rồi, chuyên nhất rồi, bèn có thể đắc nhất tâm bất loạn. Nếu như niệm đủ thứ kinh luận, chẳng dễ ǵ thành tựu nhất tâm bất loạn! V́ sao? Niệm kinh này, nghĩ đến kinh kia chưa niệm, niệm kinh đó xong, lại c̣n có những kinh khác ta chưa niệm! Trong tâm quư vị khởi vọng tưởng, tâm chẳng chuyên! V́ thế, thật sự đạt được lợi ích nơi tu hành, nhất định phải chuyên, niệm kinh phải chuyên, pháp môn tu hành cũng phải chuyên, chỉ niệm một câu A Di Đà Phật, những thứ khác đều chẳng cần tới nữa!

      Một câu A Di Đà Phật này có công đức chẳng thể nghĩ bàn, Ngẫu Ích đại sư đă nói rất rơ ràng: Một câu A Di Đà Phật “viên nhiếp ngũ tông, cai la bát giáo” (nhiếp trọn năm tông, bao trùm tám giáo). Một câu A Di Đà Phật gồm trọn hết thảy các kinh điển và hết thảy các pháp môn do Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói trong bốn mươi chín năm, chẳng sót một pháp nào! Không chỉ bao gồm những điều Thích Ca Mâu Ni Phật đă giảng trong bốn mươi chín năm, thậm chí những pháp do mười phương ba đời hết thảy chư Phật đă nói, một câu A Di Đà Phật này cũng đều gồm trọn! Chúng ta chẳng niệm A Di Đà Phật th́ niệm ǵ? Chẳng niệm kinh Di Đà th́ niệm kinh ǵ đây?

      Thiện Đạo đại sư rất lỗi lạc, Ngài là người đời Đường. Theo truyện kư ghi chép, Ngài chuyên niệm A Di Đà Phật. V́ thế, Ngài là tổ sư đời thứ hai của Tịnh Độ Tông. Ngài niệm một tiếng Phật hiệu, từ trong miệng phóng ra một tia sáng, trong tia sáng ấy có một vị Hóa Phật, đó là tượng A Di Đà Phật. Mỗi câu đều như vậy. Điều này được truyện chép như sau: “Khẩu phóng quang minh, quang trung hóa Phật”. Theo truyền thuyết lịch sử, Thiện Đạo đại sư là hóa thân của A Di Đà Phật. Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ, ḥa thượng Phong Can cũng là hóa thân của A Di Đà Phật.

 

      (Sớ) Tăng tục quy ngưỡng, chí hữu cảm cực phần thân cúng dường, đắc Niệm Phật tam-muội giả, bất khả thắng kỷ.

      () 僧俗歸仰,至有感極焚身供養,得念佛三昧者,不可勝紀。

      (Sớ: Tăng, tục quy y ngưỡng mộ, đến nỗi có người cảm mộ cùng cực, đă đốt thân cúng dường. Người đắc Niệm Phật tam-muội chẳng thể ghi xiết).

 

      Đây đều là nói công đức giáo hóa của Thiện Đạo đại sư. Hậu thế tôn Ngài làm tổ sư Tịnh Độ Tông. Cảm động tới cùng cực, “đốt thân cúng dường”, đốt ngón tay hay đốt cánh tay đều là đốt một bộ phận trên thân. Đắc Niệm Phật tam-muội, Niệm Phật tam-muội là Sự nhất tâm bất loạn. Người theo Thiện Đạo đại sư tu học, đắc nhất tâm bất loạn rất ư là nhiều!

 

      (Sớ) Giảng diễn giả.

      () 講演者。

      (Sớ: Giảng diễn).

 

      Giảng giải bộ kinh này.

 

      (Sớ) Tống Trầm Tam Lang.

      () 宋沈三郎。

      (Sớ: Ông Trầm Tam Lang đời Tống).

 

      Người đời Tống.

 

      (Sớ) Văn tuế hồi tâm niệm Phật.

      () 晚歲回心念佛。

      (Sớ: Tuổi già, hồi tâm niệm Phật).

 

      Đây là lúc tuổi già, tuổi tác đă cao lắm rồi. Đến lúc này mới học Phật, tin tưởng pháp môn Tịnh Độ, phát tâm niệm Phật.

 

      (Sớ) Nhân bệnh, thỉnh tăng giảng Di Đà kinh, dịch y nhi chung.

      () 因病,請僧講彌陀經,易衣而終。

      (Sớ: Do bị bệnh, thỉnh Tăng giảng kinh Di Đà, thay áo, qua đời).

 

      Trong khi bị bệnh, thỉnh pháp sư giảng kinh Di Đà cho ông ta nghe. Trong lúc thay đổi y phục, ông ta bèn mạng chung.

 

      (Sớ) Súc tất dục khởi, nhị tử cục ư danh giáo, dĩ dịch khám vi nan, duệ kỳ hĩnh trực chi. Tương nhập liệm, hốt cử thủ xuất y bị, cù nhiên nhi tọa, cử gia đại kinh. Nhị tử cấp tiền phù vệ, năi dĩ trửu tiết trúy chi. Tử viết: “Trợ phụ tọa thoát nhĩ”. Cánh tọa thệ. Trà-tỳ, hữu bạch hạc nhị thập cửu chích, phi minh vân biểu, cửu chi Tây khứ.

      () 縮膝欲起,二子局於名教,以易龕為難,曳其脛直之。將入斂,忽舉首出衣被,瞿然而坐,舉家大驚。二子急前扶衛,乃以肘節捶之。子曰:助父坐脫耳。竟坐逝。荼毗,有白鶴二十九隻,飛鳴雲表,久之西去。

      (Sớ: Co chân toan ngồi dậy, hai đứa con trai câu nệ danh giáo, cho là khó thể đổi ḥm, bèn kéo chân cha cho thẳng ra. Lúc sắp nhập liệm, ông ta đột nhiên tḥ đầu ra khỏi vải liệm, đột ngột ngồi dậy, cả nhà kinh hăi. Hai đứa con trai vội tiến lên nâng đỡ, ông ta bèn dùng khuỷu tay huưch họ, con bèn nói: “Giúp cha ngồi qua đời mà”, ông ta bèn ngồi qua đời. Lúc hỏa thiêu, có hai mươi chín con hạc trắng bay lượn, hót ríu rít trong mây, hồi lâu, bay về phía Tây).

 

      Truyện Trầm Tam Lang được chép trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và Văng Sanh Truyện. Người này đă chết, trước khi ông mất, đă dặn con là ông ta muốn tọa khám, tức là tọa thoát, ngồi mà mất. “Danh giáo” là Nho gia. Theo quy chế đại liệm[8] của Nho gia, người sau khi đă chết nhất định phải nhập liệm trong quan tài. V́ vậy, con ông ta không nghe lời, tiến hành đại liệm cho ông ta theo cách thức của người b́nh thường. Kéo chân ông ta cho thẳng lại, dùng quan tài nhập liệm. Lúc ấy, bỗng nhiên ông ta ngồi dậy, đúng là chuyện khiến mọi người rất kinh hăi. Người trong nhà ông ta hiểu rơ, biết ông ta mong tọa thoát, không muốn nằm sơng sượt ra đi. V́ thế, con trai ông ta giúp ông ngồi xếp bằng, để ông ta tọa thoát. Trà-tỳ (Jhāpeta) là hỏa táng, khi hỏa táng có hai mươi chín con hạc trắng, giống như đến tiễn ông ta. Hỏa thiêu xong, những con hạc trắng ấy bay về phương Tây; có tướng lành ấy. “Tường phù bạch hạc” (hạc trắng hiện điềm lành) là do lễ thỉnh pháp sư tới giảng kinh Di Đà, ông ta văng sanh trong khi đang nghe, nên có sự cảm ứng tốt lành này.

 

      (Huyền Nghĩa) Hiện tiền cảm ứng, tắc bảo địa dao quán, khắc thủ văng sanh, tắc Niết Bàn phi tỷ, như tư cảm ứng, lũ kiến cổ kim.

      (玄義) 現前感應,則寶地遙觀,剋取往生,則涅槃非比,如斯感應,屢見古今。

      (Huyền Nghĩa: Cảm ứng trong hiện tiền th́ dơi trông đất báu, ước định kỳ hạn văng sanh, kinh Niết Bàn chẳng thể sánh bằng. Những sự cảm ứng như vậy, xưa nay thấy rất nhiều).

 

      Đây là nói về sự cảm ứng trong hiện tiền, quả thật cũng hết sức nhiều! Ở đây, nêu đại lược vài người.

 

      (Sớ) Bảo địa dao quán giả, Đường Đại Hành thiền sư.

      () 寶地遙觀者,唐大行禪師。

      (Sớ: “Dơi trông đất báu”: Thiền sư Đại Hành đời Đường).

 

      Thiền sư Đại Hành là người đời Đường.

 

      (Sớ) Sơ tu Phổ Hiền Sám.

      () 初修普賢懺。

      (Sớ: Thoạt đầu tu Phổ Hiền Sám Pháp).

 

      Trước đó, Ngài tu lễ Phổ Hiền Sám Pháp, tức là Phổ Hiền Bồ Tát Sám Nguyện Nghi, y theo phương pháp ấy để tu hành.

 

      (Sớ) Hậu nhập Đại Tạng, tùy thủ thủ quyển, đắc Di Đà kinh.

      () 後入大藏,隨手取卷,得彌陀經。

      (Sớ: Về sau, vào chỗ cất giữ Đại Tạng Kinh, tiện tay rút ra một quyển, bèn rút được kinh Di Đà).

 

      Cổ nhân thường dùng phương pháp này. Kinh điển nhiều dường ấy, ta phải nên học kinh nào? Đối trước Phật hứa nguyện, con rút lấy một bộ từ Đại Tạng Kinh, sẽ học theo kinh ấy, dùng phương pháp này! Đôi khi là rút thăm, như Ngẫu Ích đại sư thường dùng biện pháp này. Đối với những kinh luận, pháp môn ưa thích, Ngài đều viết thành từng tờ, đặt trước bàn Phật, mỗi ngày lễ bái, cúng dường, lễ bái suốt bảy ngày rồi rút lấy một tờ, dùng phương pháp này. Thiền sư Đại Hành rút một quyển từ trong Đại Tạng Kinh, rút được kinh Di Đà.

 

      (Sớ) Nhật dạ tụng vịnh.

      () 日夜誦詠。

      (Sớ: Ngày đêm tụng niệm, tán thán).

 

      “Tụng” là đọc tụng, “vịnh” là ca xướng (Phạm Bái). Xoang điệu đọc tụng của cổ nhân rất dễ nghe, mà xoang điệu Phạm Bái cũng hết sức êm tai.

 

      (Sớ) Chí tam thất nhật.

      () 至三七日。

      (Sớ: Tới hai mươi mốt ngày).

 

      Sư ngày đêm niệm bộ kinh Di Đà này, niệm suốt hai mươi mốt ngày.

 

      (Sớ) Đổ lưu ly địa thượng, Phật cập nhị đại sĩ hiện tiền.

      () 睹琉璃地上,佛及二大士現前。

      (Sớ: Thấy trên đất lưu ly, đức Phật và hai vị đại sĩ hiện tiền).

 

      Tướng ấy hiện tiền, thấy trong hiện tiền. Ngài thấy đại địa trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là đất lưu ly. Nay chúng ta gọi ngọc lưu ly là Phỉ Thúy, là một loại ngọc có màu xanh lá cây. Đại địa là ngọc màu xanh lá cây. A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí đều hiện h́nh cho Ngài thấy.

 

      (Sớ) Hy Tông văn kỳ sự.

      () 僖宗聞其事。

      (Sớ: Vua Hy Tông nghe chuyện này).

 

      Hoàng đế Hy Tông nhà Đường nghe kể chuyện này.

 

      (Sớ) Chiếu nhập nội đ́nh, tứ hiệu Thường Tinh Tấn Bồ Tát.

      () 詔入內庭,賜號常精進菩薩。

      (Sớ: Hạ chiếu vời vào cung, ban danh hiệu Thường Tinh Tấn Bồ Tát).

 

      Thiền sư Đại Hạnh vốn học Thiền, về sau, từ Thiền trở về Tịnh Độ, Ngài thật sự tinh tấn, chuyên niệm kinh Di Đà, ngày đêm không ngừng niệm. Niệm hai mươi mốt ngày, được cảm ứng như thế. V́ vậy, hoàng đế Hy Tông ban tặng danh hiệu Thường Tinh Tấn Bồ Tát.

 

      (Sớ) Hậu lưu ly địa phục kiến, tức nhật mạng chung, dị hương kinh tuần, nhục thân bất hoại.

      () 後琉璃地復見,即日命終,異香經旬,肉身不壞。

      (Sớ: Sau đó lại thấy đất lưu ly, mạng chung ngay trong ngày hôm ấy, mùi hương lạ đọng lại cả mười ngày, nhục thân chẳng hư).

 

      Vị pháp sư này lưu lại nhục thân, khi Ngài văng sanh, tướng lành ấy lại hiện tiền. Khi tướng ấy hiện tiền, Ngài văng sanh. “Dị hương kinh tuần”: “Tuần” () là mười ngày, khi Ngài văng sanh mùi hương suốt mười ngày chẳng tan.

 

      (Sớ) Niết Bàn phi tỷ giả.

      () 涅槃非比者。

      (Sớ: Niết Bàn chẳng thể sánh bằng)

 

      Kinh Niết Bàn chẳng sánh bằng kinh Di Đà.

 

      (Sớ) Lương Đạo Trân pháp sư.

      () 梁道珍法師。

      (Sớ: Pháp sư Đạo Trân đời Lương).

 

      Đời Lương thời Ngũ Đại, pháp sư Đạo Trân giảng kinh Niết Bàn.

 

      (Sớ) Thiên Giám trung.

      () 天監中。

      (Sớ: Trong niên hiệu Thiên Giám).

 

      Thiên Giám (502-519)[9] là niên hiệu.

 

      (Sớ) Khế tích Lô Sơn.

      () 憩錫盧山。

      (Sớ: Trụ tại Lô Sơn).

 

      “Khế tích” () là ở lại. Ngài du phương tham học tới Lô Sơn thuộc tỉnh Giang Tây, bèn trụ lại đó.

 

      (Sớ) Mộ Viễn công tịnh nghiệp.

      () 慕遠公淨業。

      (Sớ: Ngưỡng mộ Tịnh nghiệp của tổ Huệ Viễn).

 

      Đối với Đông Lâm Niệm Phật Đường chuyên tu Tịnh Độ của Huệ Viễn đại sư, Ngài hết sức ngưỡng mộ.

 

      (Sớ) Thiền tọa trung, hốt kiến hải thượng sổ bách nhân thừa bảo phảng tiền mại.

      () 禪坐中,忽見海上數百人乘寶舫前邁。

      (Sớ: Trong khi ngồi Thiền, chợt thấy trên biển mấy trăm người ngồi trên thuyền báu tiến về trước).

 

      Đây là cảnh giới trong Định, khi Ngài nhập Định, hiện ra cảnh biển cả, trên biển có mấy trăm người ngồi trên một chiếc thuyền lớn. “Bảo phảng”: Lúc ấy, chiếc thuyền đó hết sức quư báu, do bảy báu chế thành. Họ ngồi thuyền báu tiến lên phía trước.

 

      (Sớ) Sư vấn: Hà chi?

      () 師問何之。

      (Sớ: Sư hỏi: “Đi đâu thế?”)

 

      Pháp sư Đạo Trân hỏi họ: “Các vị đi đâu vậy?”

 

(Sớ) Đáp viết: Văng Cực Lạc quốc.

() 答曰往極樂國。

      (Sớ: Họ đáp: “Đến cơi Cực Lạc”).

 

      Chúng tôi muốn lái thuyền này đến Tây Phương Cực Lạc thế giới. Sau khi Sư nghe xong:

 

      (Sớ) Nhân cầu phụ tải.

      () 因求附載。

      (Sớ: Do vậy, bèn xin ngồi nhờ thuyền của họ).

 

      Tôi có thể ngồi ké thuyền của quư vị cùng đi hay chăng?

 

      (Sớ) Báo vân.

      () 報云。

      (Sớ: Họ đáp).

 

      Bọn họ trả lời Ngài.

 

      (Sớ) Pháp sư tuy thiện giảng Niết Bàn kinh.

      () 法師雖善講涅槃經。

      (Sớ: Pháp sư tuy khéo giảng kinh Niết Bàn).

 

      Ông giảng kinh Niết Bàn rất khá.

 

      (Sớ) Diệc đại bất khả tư nghị.

      () 亦大不可思議。

(Sớ: Cũng là rất chẳng thể nghĩ bàn).

 

      Công đức này chẳng thể nghĩ bàn!

 

      (Sớ) Nhiên vị tụng Di Đà kinh, khởi đắc đồng văng?

      () 然未誦彌陀經,豈得同往?

      (Sớ: Nhưng chưa tụng kinh Di Đà, làm sao cùng đi được?)

 

      Ông chưa hề niệm kinh Di Đà, làm sao có thể cùng đi được? Vị này đúng là suốt đời hoằng dương kinh Niết Bàn, giảng kinh Niết Bàn, nhưng chẳng thể văng sanh Tây Phương. Ông chưa niệm kinh Đà là không được rồi, [chúng tôi] không muốn dẫn ông đi cùng.

 

      (Sớ) Sư toại phế giảng, niệm Phật.

      () 師遂廢講念佛。

      (Sớ: Sư bèn bỏ giảng, niệm Phật).

 

      Sau khi thấy cảnh giới trong Định như vậy, vị pháp sư này chẳng giảng kinh nữa, mà chuyên niệm Phật.

 

      (Sớ) Tụng Di Đà kinh cập nhị vạn biến.

      () 誦彌陀經及二萬遍。

      (Sớ: Tụng kinh Di Đà đến hai vạn biến).

 

      Nếu trong Định chẳng gặp phải cảnh giới này, tâm ấy sẽ chẳng thể phát khởi. Gặp cảnh giới ấy, tâm ấy thật sự phát khởi!

 

      (Sớ) Tương chung tứ thất nhật tiền.

      () 將終四七日前。

      (Sớ: Hai mươi tám ngày trước khi mất).

 

      Đây cũng là biết trước lúc mất, bốn thất trước hôm văng sanh, tức là trước đó hai mươi tám ngày, đại khái là chừng một tháng, trước đó một tháng!

 

      (Sớ) Dạ tứ cổ.

      () 夜四鼓。

      (Sớ: Lúc canh tư ban đêm).

     

      Vào lúc canh tư ban đêm.

 

      (Sớ) Kiến Tây Phương ngân đài lai chí, không trung kiểu như bạch nhật. Thanh vân: “Pháp sư đương thừa thử đài văng sanh”.

      () 見西方銀臺來至,空中皎如白日。聲云:法師當乘此臺往生。

      (Sớ: Thấy từ Tây Phương có đài bạc đưa tới, trên trời sáng như ban ngày, có tiếng nói: “Pháp sư nên ngồi đài này mà văng sanh”).

 

      Có tướng lành này hiện tiền.

 

      (Sớ) Thời chúng hàm văn thiên nhạc dị hương.

      () 時眾咸聞天樂異香。

      (Sớ: Khi ấy, đại chúng đều nghe thấy nhạc trời và ngửi thấy mùi hương lạ).

 

      Khi ấy, đại chúng nghe trên không trung trỗi nhạc trời, lại c̣n ngửi thấy mùi hương lạ.

 

      (Sớ) Sổ nhật hương do vị tán.

      () 數日香猶未散。

      (Sớ: Mùi hương ấy mấy ngày chẳng tan).

 

      Mùi hương mấy ngày vẫn chưa tan.

 

      (Sớ) Kỳ dạ phong đảnh tự tăng, dao kiến cốc khẩu hỏa cự sổ thập, minh liệu triệt dạ, thứ nhật năi tri Sư thệ.

      () 其夜峰頂寺僧,遙見谷口火炬數十,明燎徹夜,次日乃知師逝。

      (Sớ: Đêm hôm ấy, vị Tăng sống trên đỉnh núi, nh́n thấy xa xa ở ngoài cửa hang núi có mấy chục ánh đuốc sáng ngời suốt đêm, hôm sau mới biết Sư đă tịch).

 

      “Phong đảnh tự”: Ngôi chùa này được xây tại nơi rất cao, cho nên có tầm nh́n rộng lớn, có thể thấy rất xa. Thấy tại cửa hang núi có nhiều ánh đuốc. Măi cho đến lúc trời sáng, vẫn c̣n thấy ánh đuốc. Đến hôm sau mới biết tướng lành ấy là do pháp sư văng sanh.

 

      (Sớ) Như thượng sở lục.

      () 如上所錄。

      (Sớ: Những điều được ghi chép như trên đây).

 

      Những điều được ghi chép này.

 

      (Sớ) Giai tu nhân chứng quả, thử cảm bỉ ứng.

      () 皆修因證果,此感彼應。

      (Sớ: Đều do tu nhân chứng quả, ở đây cảm, nơi kia sẽ ứng).

 

      Người tu hành có cảm, Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật bèn có ứng.

 

      (Sớ) Điệp kiến tằng xuất, tự cổ cập kim, vị cập mai cử.    

      () 疊見層出,自古及今,未及枚舉。

      (Sớ: [Những chuyện cảm ứng như thế này] thường được thấy nghe, từ xưa đến nay, chẳng thể nêu trọn).

 

      Những chuyện cảm ứng này quả thật rất nhiều. Những chuyện được Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và Văng Sanh Truyện ghi chép là ghi một, sót cả vạn. Nhất là vào thời cổ, thông tin chẳng dễ dàng! Bao nhiêu tướng lành văng sanh, nhưng người biên chép chưa nghe nói, chưa trông thấy, nên bỏ sót. Nói thật ra, tác giả [của những bộ sách ấy] sưu tập tài liệu rất hữu hạn, bỏ sót rất nhiều. V́ thế, tại Trung Quốc, chẳng biết pháp môn này đă độ bao nhiêu người văng sanh thế giới Tây Phương.

 

      Tứ, minh tŕ

      四、明持

      (Bốn là nói [sự cảm ứng] do thọ tŕ).

 

      “Tŕ” là thọ tŕ, [đoạn này nói về] sự cảm ứng do thọ tŕ.

 

      (Huyền Nghĩa) Nhược tŕ danh giả, hoặc nhất niệm nhi phi nhất quang, hoặc nhất thanh nhi xuất nhất Phật, hoặc hưởng di lâm cốc, hoặc âm triệt cung vi, hoặc lục thời hệ niệm, nhi y chánh doanh không, hoặc thập tự tiêu tâm, nhi thánh hiền nhập hội, kịp hồ chiêu đại, tục hữu danh lưu.

      (玄義) 若持名者,或一念而飛一光,或一聲而出一佛,或響彌林谷,或音徹宮闈,或六時繫念,而依正盈空,或十字標心,而聖賢入會,洎乎昭代,續有名流。

      (Huyền Nghĩa: Như tŕ danh th́ hoặc là niệm một câu phóng ra một tia sáng, hoặc mỗi tiếng niệm hiện ra một vị Phật, hoặc vang vọng khắp rừng núi, hoặc âm thanh lọt vào tận trong cung, hoặc sáu thời hệ niệm, y báo và chánh báo đầy ắp hư không, hoặc dùng chữ Thập để biểu thị cái tâm, thánh hiền xin dự vào hội, măi cho đến nay vẫn luôn lưu danh).

     

Trong đoạn này cũng trích chẳng ít chuyện.

 

      (Sớ) Thử chánh minh chấp tŕ danh hiệu dă.

      () 此正明執持名號也。

      (Sớ: Đây là nói trực tiếp đến chuyện chấp tŕ danh hiệu).

 

Đây là nói về sự cảm ứng thù thắng do niệm Phật.

 

      (Sớ) Tịnh nghiệp chư hiền, đa bất phiền tải.

      () 淨業諸賢,多不繁載。

      (Sớ: Các bậc hiền nhân trong Tịnh Nghiệp quá nhiều đến nỗi chẳng thể chép hết).

 

      “Tải” () là ghi chép. Nhiều quá! Ghi chép chẳng trọn!

 

      (Sớ) Cô cử chiêu chước thế nhân nhĩ mục giả nhất nhị, dĩ vi khích khuyến.

      () 姑舉昭灼世人耳目者一二,以為激勸。

      (Sớ: Đành nêu ra một hai người được người đời nhận biết rơ rệt nhất nhằm khích lệ, khuyên lơn).

 

      Nêu ra mấy vị nổi danh nhất, ai cũng biết trong các đời để khuyên lơn, khích lệ hàng hậu học.

 

      (Sớ) Phi quang giả.

      () 飛光者。

(Sớ: Phóng ánh sáng).

 

      Đây là mỗi niệm bèn tỏa quang minh, “phi quang” là trong miệng tỏa ra ánh sáng. Tôi vừa mới nhắc đến vị này với quư vị, đó là Thiện Đạo đại sư.

 

      (Sớ) Đường Thiện Đạo đại sư, nhân vấn niệm Phật đắc sanh Tịnh Độ phủ?

      () 唐善導大師,人問念佛得生淨土否?

      (Sớ: Có người hỏi Thiện Đạo đại sư đời Đường: “Niệm Phật có được sanh về Tịnh Độ hay chăng?”)

 

      Có người hỏi lăo nhân gia: “Niệm Phật có thể văng sanh thế giới Cực Lạc hay không?”

 

      (Sớ) Đáp viết: “Như nhữ sở niệm, toại nhữ sở nguyện”.

      () 答曰:如汝所念,遂汝所願。

      (Sớ: Ngài đáp: “Đúng như ḷng ông nghĩ tưởng, ông sẽ được toại nguyện”).

 

      Thiện Đạo đại sư trả lời: Chỉ cần ông niệm, nhất định sẽ được măn nguyện. Ông chịu niệm, sẽ nhất định văng sanh.

 

      (Sớ) Ư thị, Đạo năi tự niệm A Di Đà Phật nhất thanh.

      () 於是導乃自念阿彌陀佛一聲。

      (Sớ: Ngay khi ấy, ngài Thiện Đạo tự niệm A Di Đà Phật một tiếng).

 

      Chính Ngài tự niệm, niệm Phật một tiếng bèn có một tia sáng.

 

      (Sớ) Tắc hữu nhất quang tùng kỳ khẩu xuất, thập thanh chí bách, quang diệc như chi.

      () 則有一光從其口出,十聲至百,光亦如之。

      (Sớ: Bèn có một tia sáng từ miệng tỏa ra, niệm từ mười tiếng cho đến một trăm tiếng, ánh sáng đều [tỏa ra] như vậy).

 

      Ngài niệm Phật, miệng phóng quang minh.

 

      (Sớ) Quang minh măn thất.

      () 光明滿室。

      (Sớ: Quang minh ngập thất).

 

      Ngài niệm nhiều lượt, trong pḥng toàn là quang minh.

 

      (Sớ) Đế văn kỳ sự.

      () 帝聞其事。

      (Sớ: Vua nghe chuyện này).

 

      Thuở ấy, hoàng đế nghe có tướng lạ như vậy, cũng triệu kiến Ngài.

 

(Sớ) Sắc sở cư vi Quang Minh Tự, hậu đăng liễu thụ đoan tọa nhi hóa.

      () 敕所居為光明寺,後登柳樹端坐而化。

      (Sớ: Sắc phong nơi Ngài trụ là Quang Minh Tự. Về sau, Ngài trèo lên cây liễu ngồi ngay ngắn, viên tịch nơi đó).

 

      Chỗ Ngài ở được hoàng đế tặng một bức hoành phi đề Quang Minh Tự. Niệm Phật miệng tỏa quang minh.

 

      (Sớ) Xuất Phật giả, Thiếu Khang pháp sư.

      () 出佛者,少康法師。

      (Sớ: “Niệm ra Phật”: Pháp sư Thiếu Khang).

 

      Đây cũng là một vị tổ sư của Tịnh Độ Tông.

 

      (Sớ) Tại Ô Long sơn, kiến Tịnh Độ đạo tràng, khuyến nhân niệm Phật, chúng kiến Sư niệm Phật nhất thanh, khẩu xuất nhất Phật, chí ư thập niệm, thập Phật thứ xuất, do nhược liên châu.

      () 在烏龍山,建淨土道場,勸人念佛,眾見師念佛一聲,口出一佛,至於十念,十佛次出,猶若連珠。

      (Sớ: Ngài lập Tịnh Độ đạo tràng tại núi Ô Long, khuyên người khác niệm Phật. Đại chúng thấy Sư niệm Phật một tiếng, từ trong miệng bay ra một vị Phật, cho đến mười niệm là mười vị Phật lần lượt xuất hiện, giống như một xâu chuỗi).

 

      Ngài niệm Phật, từ trong miệng có tượng Phật xuất hiện. Niệm một tiếng là một vị Phật, niệm mười tiếng là mười vị Phật, niệm một trăm tiếng là một trăm vị Phật. Phật liên tiếp xuất hiện, có tướng lành như vậy.

 

      (Sớ) Lâm chung chi nhật, khẩu phóng dị quang sổ đạo, yểm nhiên nhi thệ.

      () 臨終之日,口放異光數道,奄然而逝。

(Sớ: Ngày lâm chung, miệng tỏa ra mấy tia sáng lạ, đột nhiên qua đời).

 

     Đây cũng là điềm lành chẳng thể nghĩ bàn do niệm Phật trong thuở ấy, đủ để cảm động ḷng trời.

 

      (Sớ) Hưởng di giả, Đường Đạo Xước thiền sư, b́nh cư vị chúng giảng Vô Lượng Thọ kinh, tương nhị bách biến.

      () 響彌者,唐道綽禪師,平居為眾講無量壽經,將二百遍。

      (Sớ: “Tiếng vang trọn khắp”: Thiền sư Đạo Xước đời Đường, thường giảng kinh Vô Lượng Thọ cho đại chúng, số lần giảng đến hai trăm lượt).

 

      Vị này cũng là tổ sư Tịnh Độ Tông, suốt đời chuyên giảng kinh Vô Lượng Thọ, giảng đến hai trăm lần.

 

      (Sớ) Nhân các kháp châu, khẩu xưng Phật hiệu, hoặc thời tán tịch, thanh bá lâm cốc.

      () 人各掐珠,口稱佛號,或時散席,聲播林谷。

      (Sớ: Mỗi người [đến nghe] lần chuỗi, miệng niệm Phật hiệu, hoặc lúc giải tán, tiếng vang vọng khắp rừng núi).

 

      Đại chúng đến nghe kinh, lần xâu chuỗi niệm Phật. Chùa chiền đều được xây dựng trong núi sâu. Nếu nói theo hiện thời, đều là nơi có Phong Thủy tốt nhất, đều ở trong núi thẳm. Âm thanh niệm Phật vang vọng rừng núi (lâm cốc). “Cốc” là sơn cốc (hang núi). Đây là sự cảm ứng. Nếu chẳng phải là cảm ứng, sẽ không thể có chuyện này! Nếu dùng Niệm Phật Đường để nói, âm thanh cộng tu của mọi người ở nơi đây, nếu bên ngoài sơn cốc hoặc rừng cây mà có thể nghe tiếng, nếu chẳng do cảm ứng, chắc chắn chẳng thể nào có được! Nhất là sau khi pháp hội giảng kinh đă giải tán, âm thanh vẫn vang vọng trong rừng núi.

Trên thực tế, mỗi vị đồng tu niệm Phật đều phải biết: Sau khi niệm Phật hiệu thuần thục, bất luận ở nơi đâu, hễ tâm tĩnh lặng, sẽ nghe Phật hiệu thoảng bên tai. Nếu có cảnh giới ấy, quư vị nên biết đó là bước đầu trong công phu niệm Phật, chứng tỏ công phu của quư vị vừa mới đắc lực, phải nên tiếp tục nỗ lực, từ công phu này, tiến hơn bước nữa mới là công phu thành phiến, sau đấy là nhất tâm bất loạn. Nếu cảnh giới này hiện tiền, quả thật là trong chốn rừng núi, hễ tâm thanh tịnh, quư vị sẽ nghe tiếng niệm Phật.

 

      (Sớ) Âm triệt giả, Đường Pháp Chiếu.

      () 音徹者,唐法照。

      (Sớ: “Âm thanh thấu triệt”: Ngài Pháp Chiếu đời Đường).

 

      Thiền sư Pháp Chiếu đề xướng Ngũ Hội Niệm Phật, là tổ sư đời thứ tư của Tịnh Độ Tông.

 

      (Sớ) Ư Tinh Châu Ngũ Hội Niệm Phật.

      () 於并州五會念佛。

      (Sớ: Ngũ Hội Niệm Phật ở Tinh Châu).

     

      Ngài gặp Văn Thù Bồ Tát. Vị này tham Thiền, vốn trụ tại Hành Châu thuộc tỉnh Hồ Nam, nay là huyện Hành Sơn. Có một buổi sáng, ăn cháo buổi sáng (điểm tâm) trong Thiền đường, thuở ấy, người xuất gia đều dùng bát để ăn cháo buổi sáng. Trong bát hiện tướng, cũng là cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn, giống như xem TV vậy. Trong bát hiện ra h́nh ảnh, chính là hiện cảnh Ngũ Đài Sơn rơ ràng. Sau khi trông thấy, Ngài bèn đem chuyện này hỏi một vị lăo đồng tham. Trong quá khứ, vị ấy từng đến Ngũ Đài Sơn, nghe Ngài mô tả, vị ấy bèn bảo: “Đấy là Ngũ Đài Sơn”, khuyên Sư hăy lên núi ấy lễ Phật.

      Sau khi đến Ngũ Đài Sơn, quả nhiên cảnh giới giống hệt như cảnh đă hiện trong bát. Ngài nhớ rất rơ ràng, đường đi rất quen thuộc; do vậy, t́m được Đại Thánh Trúc Lâm Tự, ngài Văn Thù đang giảng kinh ở đó, thính chúng đông tới một vạn người. Sau khi nghe xong, Ngài tiến lên đảnh lễ Văn Thù Bồ Tát rồi hỏi Văn Thù Bồ Tát, Ngài thưa: “Thời kỳ Mạt Pháp chúng sanh căn tánh khá kém cỏi, phiền năo nặng nề, tu pháp môn ǵ có thể có thành tựu?” Văn Thù Bồ Tát dạy: “Tu pháp môn Niệm Phật”. Văn Thù Bồ Tát dạy Ngài niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ, tự niệm mấy câu cho Ngài nghe. Ngài bèn học lấy, đó là Ngũ Hội Niệm Phật.

      Sau khi Ngài rời khỏi Ngũ Đài Sơn, bèn tự ḿnh lập đạo tràng chuyên niệm Phật tại Tinh Châu. Thanh điệu niệm Phật ấy học từ chỗ Văn Thù Bồ Tát ở Ngũ Đài Sơn, hiện thời tại Đài Loan cũng có Ngũ Hội Niệm Phật, chẳng biết có phải điệu do Văn Thù Bồ Tát truyền hay không, chẳng biết! Có thể là thanh điệu do Văn Thù Bồ Tát truyền dạy đă thất truyền! Hiện thời có những người thông minh, nghe nói có Ngũ Hội Niệm Phật, bèn tự ḿnh biên soạn một bản nhạc phổ, dạy mọi người niệm. Ngũ Hội Niệm Phật của họ giống như ca hát, tiếp độ sơ cơ rất tốt, nhưng thật sự niệm Phật th́ cách niệm ấy chẳng dễ ǵ đắc nhất tâm. Tôi nghĩ cách ấy nhất định khác biệt rất lớn so với cách do Văn Thù Bồ Tát truyền dạy. Đây là đạo tràng niệm Phật do thiền sư Pháp Chiếu thành lập.

 

      (Sớ) Cảm Đại Tông hoàng đế cung trung văn niệm Phật thanh.

      () 感代宗皇帝宮中聞念佛聲。

      (Sớ: Cảm hoàng đế Đại Tông ở trong cung nghe tiếng niệm Phật).

 

      Trong cung đ́nh, hoàng đế nghe tiếng niệm Phật.

 

      (Sớ) Khiển sứ dao tầm.

      () 遣使遙尋。

      (Sớ: Sai người đi kiếm măi tận xa).

 

      Liền phái người đuổi theo thanh âm này, một mực đuổi tới Tinh Châu, đuổi tới chỗ thiền sư Pháp Chiếu.

 

      (Sớ) Kiến sư khuyến hóa chi thịnh, toại chiếu nhập cung, cung nhân niệm Phật, diệc cập ngũ hội, hiệu Ngũ Hội pháp sư.

      () 見師勸化之盛,遂詔入宮,宮人念佛,亦及五會,號五會法師。

      (Sớ: Thấy Sư khuyến hóa hết sức đông đảo, bèn hạ chiếu triệu Sư vào cung. Người trong cung niệm Phật cũng là năm hội, nên Sư được gọi là Ngũ Hội pháp sư).

 

      Đây cũng là có duyên với hoàng đế Đại Tông, vua thỉnh pháp sư vào cung. Ở trong cung, Sư dạy mọi người niệm Phật. Đây là nói “âm triệt cung vi” (âm thanh niệm Phật lọt vào tận trong cung).

 

     (Sớ) Lục thời giả, Tấn Huệ Viễn pháp sư, cư Lô Sơn, chế liên hoa lậu, lục thời niệm Phật, trừng tâm hệ tưởng.

      () 六時者,晉慧遠法師,居廬山,製蓮華漏,六時念佛,澄心繫想。

      (Sớ: “Sáu thời”: Pháp sư Huệ Viễn đời Tấn, sống ở Lô Sơn, chế đồng hồ hoa sen, sáu thời niệm Phật, lắng ḷng hệ niệm Cực Lạc).

 

      Tổ sư đời thứ nhất của Tịnh Độ Tông là Huệ Viễn đại sư, Ngài dựng Niệm Phật Đường tại Lô Sơn, tỉnh Giang Tây. Hiện nay, Niệm Phật Đường này vẫn c̣n. Lúc tôi giảng kinh tại Hương Cảng, nghe họ nói: Hiện thời, tại Đông Lâm Niệm Phật Đường vẫn c̣n hơn một trăm người niệm Phật, vô cùng khó có! Ngài chế ra “liên hoa lậu” (đồng hồ nhỏ giọt h́nh hoa sen). Trước kia, không có đồng hồ, không biết thời gian, cho nên dùng b́nh đựng nước nhỏ giọt có khắc vạch để tính toán thời gian. Phía trên thùng đựng nước, Ngài chế ra hoa sen, thả trôi trên mặt nước, nước nhỏ từng giọt. Trên thùng khắc độ số, [nhờ đó] biết nước đă chảy bao nhiêu bèn biết thời gian là bao lâu. Thời cổ, dùng phương thức này để tính thời gian. “Lục thời”: Ngày ba thời, đêm ba thời. “Lục thời” là ngày đêm chẳng gián đoạn. Niệm Phật Đường quả thật là như vậy. Hễ mệt mỏi th́ làm như thế nào? Mệt mỏi có thể nghỉ ngơi. Do vậy, bên cạnh Niệm Phật Đường có một cái đơn lớn để nghỉ ngơi. Khi nghỉ ngơi, vẫn để nguyên áo mà ngủ, không cởi ra. Sau khi tỉnh lại, ngay lập tức nhanh chóng niệm tiếp. Hễ mệt bèn nghỉ ngơi, nghỉ khỏe khoắn rồi bèn lập tức vào Niệm Phật Đường niệm Phật.

 

      (Sớ) Hậu thập cửu niên.

      () 後十九年。

      (Sớ: Mười chín năm sau).

       

      Mười chín năm sau.

 

      (Sớ) Thất nguyệt hối tịch.

      () 七月晦夕。

      (Sớ: Đêm không trăng tháng Bảy).

 

      “Hối” () là ngày Ba Mươi hay Mồng Một, lúc chẳng có ánh trăng, Vọng () là ngày Rằm, ngày trăng tṛn gọi là Vọng. Tịch () là buổi tối.

 

      (Sớ) Ư Bát Nhă đài, phương tùng Định khởi.

      () 於般若臺,方從定起。

      (Sớ: Sư ở đài Bát Nhă, vừa mới xuất Định).

 

      Đây là lúc niệm Phật, ngồi ở nơi đó, cũng có thể nhập Định, lúc xuất Định.

 

      (Sớ) Kiến A Di Đà Phật, thân biến hư không, viên quang chi trung, vô lượng hóa Phật cập Bồ Tát chúng, thủy lưu quang minh, diễn thuyết diệu pháp.

      () 見阿彌陀佛,身遍虛空,圓光之中,無量化佛及菩薩眾,水流光明,演說妙法。

      (Sớ: Thấy A Di Đà Phật thân đầy chật hư không, trong viên quang có vô lượng hóa Phật và các vị Bồ Tát, quang minh tràn trề, diễn thuyết diệu pháp).

 

      Cảnh giới này hoàn toàn giống như trong kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật đă giảng về Tây Phương Cực Lạc thế giới, Ngài đă trông thấy. Viễn công đại sư thấy cảnh giới Tây Phương, tổng cộng đă thấy ba lần, nhưng chẳng nói với bất cứ ai. Lúc văng sanh mới tuyên bố cùng mọi người. Niệm Phật Đường của Ngài có tất cả một trăm hai mươi ba người, họ là những người chí đồng đạo hợp, cùng nhau kết xă niệm Phật, ai nấy đều văng sanh. Các vị như Lưu Di Dân văng sanh trước Ngài, khi Viễn công văng sanh, những người đă văng sanh trước đều theo A Di Đà Phật đến đón Sư. Đă thế, c̣n bảo Ngài: “Chúng tôi đều theo gót Ngài, cùng lăo nhân gia niệm Phật, sao Ngài về trễ thế?” Trong truyện kư Tịnh Độ có ghi chép truyện này tại rất tỉ mỉ!

 

      (Sớ) Phật ngôn: “Ngă dĩ bổn nguyện lực cố, lai an ủy nhữ. Nhữ thất nhật hậu, đương sanh ngă quốc”. Chí kỳ, đoan tọa nhi thệ.

      () 佛言:我以本願力故,來安慰汝,汝七日後,當生我國。至期,端坐而逝。

      (Sớ: Đức Phật dạy: “Ta do bổn nguyện lực nên đến an ủi ngươi. Bảy ngày sau, ông sẽ sanh về nước ta”. Đến kỳ hạn, Sư ngồi ngay ngắn qua đời).

 

Đây là được thấy lần thứ ba. Bảy ngày trước hôm văng sanh, hiện tướng lành này.

 

      (Sớ) Thập tự giả, Tống Trường Lô Tông Trách thiền sư, Thiền Lư đỗng ngộ, Tông Thuyết kiêm thông.

() 十字者,宋長蘆宗賾禪師,禪理洞悟,宗說兼通。

      (Sớ: “Chữ thập”: Thiền sư Trường Lô Tông Trách đời Tống, ngộ rỗng rang lẽ Thiền, Tông lẫn Thuyết đều thông đạt).

 

      Vị pháp sư này cũng rất lỗi lạc. Có rất nhiều vị thông Giáo, chẳng thông Thiền, có vị thông Thiền nhưng không hiểu Giáo. Từ xưa tới nay, Thiền lẫn Giáo đều thông không nhiều lắm! Nói theo lối thông tục, đây là bậc đại thông gia thật sự. Chỉ có thông gia thật sự mới biết cái hay của niệm Phật, mới có thể khăng khăng một mực niệm Phật. V́ sao? Ngài thông đạt hết thảy nên hiểu được Giáo lẫn Thiền chẳng tốt như văng sanh [trong Tịnh Độ]! Điều này là thật, chẳng giả tí nào! Nương theo Thiền hay Giáo để tu hành, nếu muốn chứng quả, dựa theo pháp Đại Thừa để nói sẽ là chuyện trong vô lượng kiếp, trong giáo pháp Tiểu Thừa là ba đại A-tăng-kỳ kiếp, trong đó c̣n bị thoái chuyển, c̣n bị mê khi cách ấm, chẳng thể bảo đảm quư vị thuận buồm xuôi gió. Chỉ có niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là thuận buồm xuôi gió, thành tựu trong một đời! V́ thế, người thật sự Tông lẫn Giáo đều thông, không ai chẳng hồi tâm Tịnh Độ. Ngài cũng là một trong số đó.

 

      (Sớ) Nhi viễn tôn Lô phụ chi quy.

      () 而遠尊盧阜之規。

      (Sớ: Đă tôn kính khuôn mẫu Lô Sơn từ lâu).

 

       “Lô phụ” là quy củ Niệm Phật Đường tại Lô Sơn của Huệ Viễn đại sư, chiếu theo phương pháp ấy.

 

      (Sớ) Kiến liên hoa thắng hội.

() 建蓮華勝會。

      (Sớ: Lập hội sen thù thắng).

 

      Ngài khởi xướng một hội, mời những người chí đồng đạo hợp họp lại để mọi người cùng nhau tu hành.

 

      (Sớ) Kỳ pháp nhật niệm A Di Đà Phật, hoặc thiên thanh, vạn thanh, các ư nhật hạ dĩ thập tự kư chi.

      () 其法日念阿彌陀佛,或千聲萬聲,各於日下以十字記之。

      (Sớ: Phương pháp là hằng ngày niệm A Di Đà Phật một ngàn tiếng hoặc một vạn tiếng, mỗi người dùng chữ Thập để ghi nhớ mỗi ngày).

 

      Đây là kư số niệm Phật (niệm Phật ghi nhớ số câu đă niệm). Mọi người cùng nhau cộng tu, nhưng mỗi cá nhân niệm nhiều hay ít do chính họ tự ấn định. Quư vị tự nguyện mỗi ngày niệm một ngàn câu, liền niệm một ngàn câu. Quư vị tự nguyện niệm một vạn tiếng, hăy niệm một vạn tiếng. Do cá nhân tự ấn định, nhưng công khóa mỗi ngày chẳng thể thiếu. Họ dùng nhật lịch, ngày đầu tiên ta phát nguyện niệm một ngàn tiếng, công khóa ngày hôm ấy niệm xong, ta bèn vạch một chữ Thập dưới ngày dó. Đấy là ghi sổ. Giống như Công Quá Cách sau này, mỗi ngày ghi chép công khóa của ḿnh chẳng hề thiếu, quư vị phát tâm niệm một vạn tiếng th́ mỗi ngày niệm một vạn tiếng. Cứ niệm đủ một vạn tiếng bèn vạch một chữ Thập, vẽ kư hiệu ấy. Hằng ngày niệm theo cách như vậy. Liên hoa thắng hội được tổ chức như vậy. Chúng tôi tin tưởng người tham gia tổ chức ấy nhất định rất nhiều, v́ đến đấy niệm một ngàn tiếng chẳng tốn bao nhiêu thời gian, sau khi niệm xong, trở về nhà vẫn có thể làm công chuyện của họ. Không giống liên xă của Viễn Công, phải ở lại nơi ấy, ở măi nơi đó mà niệm cho tới khi văng sanh. T́nh h́nh khác nhau, không phải là người thật sự phát tâm, Ngài sẽ không thâu nhận.

      Thuở ấy, văn học gia Tạ Linh Vận đời Tấn, rất thân thiết với Huệ Viễn đại sư. Tạ Linh Vận muốn tham gia liên xă, nhưng Huệ Viễn đại sư không thâu nhận. Đào Uyên Minh giao t́nh với Ngài cũng tốt đẹp, Ngài cũng rất hoan nghênh Đào Uyên Minh tham gia liên xă, nhưng Đào Uyên Minh không chịu tham gia. V́ lẽ ǵ chẳng cho Tạ Linh Vận tham gia? Tập khí văn nhân quá nặng, ông ta chuộng viết văn, làm thơ phú, làm những thứ ấy; c̣n niệm Phật là hạ quyết tâm muốn cầu sanh Tịnh Độ, cho nên ai nấy đều thành tựu. Yêu cầu của liên hoa thắng hội này cũng rất nhẹ nhàng, nếu mỗi ngày phát tâm niệm mấy vạn câu Phật hiệu, sẽ rất có khả năng thành tựu. Mỗi ngày niệm một ngàn tiếng cũng kể như khá lắm, nếu suốt đời chẳng thiếu sót, cũng chắc chắn sẽ văng sanh.

 

      (Sớ) Nhất tịch, mộng nhất nam tử, ô cân, bạch y, phong mạo thanh mỹ, vị Trách viết: Dục nhập công Di Đà hội, khất thư nhất danh.

      () 一夕,夢一男子,烏巾白衣,風貌清美,謂賾曰:欲入公彌陀會,乞書一名。

      (Sớ: Một đêm, mộng thấy một người đàn ông, khăn đen, áo trắng, phong thái, diện mạo thanh cao, đẹp đẽ, bảo ngài Tông Trách: “Tôi muốn dự vào hội Di Đà của ông, xin hăy đề một tên”).

 

      Có một tối, Ngài nằm mộng, trong mộng thấy một nam tử; “cân” () là mũ đội, [“ô cân” là] mũ màu đen, mặc áo trắng. Người này phong thái, diện mạo thanh cao, đẹp đẽ, tới nói với pháp sư anh ta muốn tham dự hội Di Đà, tham gia liên hoa thắng hội của Ngài, xin ghi danh.

 

      (Sớ) Trách vấn công hà danh? Viết: Phổ Huệ.

      () 賾問公何名?曰:普慧。

      (Sớ: Ngài Tông Trách hỏi: “Ông tên ǵ?” Đáp: “Phổ Huệ”).

 

      Pháp sư bèn hỏi anh ta: “Ông tên ǵ để tôi ghi tên”. Anh ta đáp: “Phổ Huệ”.

 

      (Sớ) Hựu vân: “Gia huynh Phổ Hiền, diệc khất đăng danh”.

      () 又云:家兄普賢,亦乞登名。

      (Sớ: Lại nói: “Anh tôi là Phổ Hiền cũng xin ghi danh”).

 

      Anh ta ghi danh xong, lại nói: Anh ta c̣n có một người anh tên là Phổ Hiền, cũng ghi danh. Nói xong, không thấy đâu nữa!

 

      (Sớ) Trách giác nhi ngữ chư tôn túc.

      () 賾覺而語諸尊宿。

      (Sớ: Ngài Tông Trách tỉnh giấc, kể với các tôn túc).

 

      Hôm sau, pháp sư đem cảnh giới trong mộng kể với những bậc trưởng thượng đức cao, tuổi trọng.

 

      (Sớ) Giai vân Hoa Nghiêm Ly Thế Gian phẩm, hữu nhị Bồ Tát danh, năi tri thánh hiền u tán, dĩ nhị đại sĩ thư ư lục thủ.

() 皆云華嚴離世間品,有二菩薩名,乃知聖賢幽贊,以二大士書於錄首。  

(Sớ: Họ đều nói trong phẩm Ly Thế Gian của kinh Hoa Nghiêm có tên hai vị Bồ Tát ấy, bèn biết là thánh hiền ngầm tán dương, bèn đề tên hai vị đại sĩ ở đầu sổ [công cứ]).

 

      Mọi người suy nghĩ, hai vị này là hai vị Bồ Tát trong kinh Hoa Nghiêm, tức Phổ Hiền Bồ Tát và Phổ Huệ Bồ Tát. Bồ Tát cũng tới tham gia hội này, cho nên ghi tên Phổ Hiền và Phổ Huệ vào vị trí thứ nhất và thứ hai. Đó là cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn.

 

      (Sớ) Chiêu đại giả.

      () 昭代者。

      (Sớ: Hiện thời...)

 

       “Chiêu đại” là hiện thời. Phía trên là nói về quá khứ, nói trong lúc “hiện tại” tức là nói trong thuở ấy, tức là nói về thời đại của Liên Tŕ đại sư, những năm cuối dưới đời Minh.

 

      (Sớ) Như Tây Trai, Không Cốc, Thiên Kỳ, Độc Phong đẳng, giai cận thế cao tăng, đốc tín tinh tu, thất hưu tiền cổ, tương tục bất tuyệt, sảo tường Văng Sanh Tập trung. Cái thiên vạn trung, kỷ kỳ nhất nhị nhi dĩ.

      () 如西齋、空谷、天奇、毒峰等,皆近世高僧,篤信精修,匹休前古,相續不絕,稍詳往生集中。蓋千萬中,紀其一二而已。

      (Sớ: Như Tây Trai, Không Cốc, Thiên Kỳ, Độc Phong v.v... đều là những bậc cao tăng trong thời cận đại, ḷng tin chuyên dốc, tu hành thuần nhất, tốt lành sánh ngang cổ nhân, nối tiếp chẳng dứt. Những chuyện được kể khá tường tận trong Văng Sanh Tập chỉ là ghi chép một hai trường hợp trong ngàn vạn trường hợp mà thôi!)

 

      Thiền sư Sở Thạch Kỳ có Tây Trai Tịnh Độ Thi, sách Tịnh Độ Thập Yếu có sưu tập sách này, toàn là thơ ca ngợi Tịnh Độ. Thiền sư Không Cốc Long có một tác phẩm chuyên khuyên tu Tịnh Độ mang tên Không Cốc Tập, trong Vạn Tục Tạng có sưu tập. Thiền sư Thiên Kỳ có Quỳnh Tuyệt Tập, thiền sư Độc Phong Thiện có Ngữ Lục để lại cho người đời sau. Những vị này đều sống vào cuối đời Minh, đều là những vị rất có thành tựu trong Phật môn. Hơn nữa, những vị này trước đó tu Thiền, là những người sau khi đă thành tựu kha khá trong nhà Thiền, quay trở lại niệm Phật, đều là niệm Phật văng sanh Tịnh Độ. Trong Văng Sanh Truyện có truyện kư của họ. Những chuyện này quả thật nói măi chẳng hết, quá nhiều! Ở đây chỉ có thể nêu lên vài vị để khuyên lơn, khích lệ mà thôi.

 

      (Huyền Nghĩa) Chí ư cảm hộ.

      (玄義) 至於感護。

      (Huyền Nghĩa: C̣n như cảm ứng, hộ tŕ).

 

      “Cảm” là cảm ứng, “hộ” là hộ tŕ.

 

      (Huyền Nghĩa) Tắc túc oán đắc độ, ác quỷ bất xâm, linh ứng tắc cổ mục trùng minh, phu tù thoát nạn.

      (玄義) 則宿冤得度,惡鬼不侵,靈應則瞽目重明,俘囚脫難。

      (Huyền Nghĩa: Th́ oán thù đời trước được độ thoát, ác quỷ chẳng xâm hại, linh ứng th́ như mắt mù sáng lại, tù nhân thoát nạn).

 

      Ở đây cũng nêu ra mấy câu chuyện.

 

      (Sớ) Oán độ giả.

      () 冤度者。

      (Sớ: Độ kẻ oán).

 

      Oán quỷ lẩn quẩn bên thân, niệm Phật có thể độ họ. Hiện thời, t́nh h́nh này trong thế gian rất nhiều, nhưng người ta không tin, như vậy là chẳng có cách nào hết! Nếu thật sự tin tưởng, nhất tâm niệm Phật, những oán quỷ chắc chắn sẽ rời khỏi .

 

      (Sớ) Đường Thiệu Bưu, Trấn Giang nhân.

      () 唐邵彪,鎮江人。

      (Sớ: Đời Đường, Thiệu Bưu là người xứ Trấn Giang).

 

      Đây là chuyện của người đời Đường, xảy ra tại Trấn Giang, tỉnh Giang Tô.

 

      (Sớ) Vi chư sanh thời.

      () 為諸生時。

      (Sớ: Lúc c̣n là chư sanh).

 

      “Chư sanh” là Tú Tài, khi đậu Tú Tài.

 

      (Sớ) Mộng chí nhất công phủ.

      () 夢至一公府。

      (Sớ: Mộng đến một công thự).

 

      Mộng đến một nha môn.

 

      (Sớ) Chủ giả vấn: “Nhữ tri sở dĩ bất đệ phủ?”

      () 主者問汝知所以不第否。    

(Sớ: Viên trưởng quan hỏi: “Ngươi có biết sao thi chẳng đậu hay chăng?”)

 

      Ông ta là Tú Tài, khi Tú Tài đi thi tiếp mà đậu sẽ thành Cử Nhân. Hằng năm cứ rớt măi, chẳng đậu! Mộng tới nha môn, có người hỏi ông ta: “Ngươi có biết v́ lẽ ǵ thi chẳng đậu hay chăng?”

 

      (Sớ) Bưu đối bất tri.

      () 彪對不知。

      (Sớ: Thiệu Bưu đáp: “Không biết!”)

 

      Ông ta thưa: “Tôi chẳng biết!” .

 

      (Sớ) Nhân sử nhân dẫn Bưu tiền hành

() 因使人引彪前行。

(Sớ: Do vậy, sai người dẫn ông Bưu tiến lên trước).

 

      Cho ông ta thấy nhân quả báo ứng.

 

      (Sớ) Kiến đại hoạch trung.

      () 見大鑊中。

      (Sớ: Thấy trong chiếc vạc lớn).

 

      “Hoạch” là cái chảo lớn. Thấy trong chảo....

      (Sớ) Hữu cáp lỵ tác nhân ngữ, hô Bưu danh.

      () 有蛤蜊作人語,呼彪名。

      (Sớ: Thấy ṣ nói tiếng người, gọi tên ông Bưu).

 

      Đại khái là ông ta thường ưa ăn đồ biển tươi, ăn quá nhiều! Những con ṣ ấy đều gọi tên ông ta, chẳng hề quên mất. Quư vị hăy suy nghĩ: Nếu ăn những món c̣n sống, nó sẽ biết tên quư vị là ǵ. Hiện tại, chúng nó không có cách nào phản kháng, không có sức báo cừu, đợi có dịp, nó sẽ chẳng tha quư vị. Chuyện này rất phiền! Nếu thấy những chuyện này nhiều hơn, quư vị sẽ chẳng dám ăn nữa!

 

      (Sớ) Bưu bố.

      () 彪怖。

      (Sớ: Thiệu Bưu sợ hăi).

 

      Thấy trước đây ḿnh đă ăn những thứ này, nay mỗi con ṣ đều nhớ, món nợ này phải trả, Thiệu Bưu kinh hoảng!

 

      (Sớ) Toại niệm A Di Đà Phật.

      () 遂念阿彌陀佛。

      (Sớ: Bèn niệm A Di Đà Phật).

 

      Do vậy bèn lớn tiếng niệm A Di Đà Phật.

 

      (Sớ) Cáp lỵ biến hoàng tước phi khứ.

      () 蛤蜊變黃雀飛去。

      (Sớ: Ṣ biến thành chim sẻ bay đi mất).

 

      Vừa niệm A Di Đà Phật, những con ṣ ấy đều được siêu độ. Chúng nó nghe Phật hiệu đều được siêu độ, biến thành chim sẻ bay đi. Chắc có người muốn hỏi: Những con ṣ ấy có đều văng sanh hay chăng? Chưa chắc, nhưng có thể từ súc sanh vượt thoát lên nhân đạo; nếu công lực lớn hơn, có thể siêu độ chúng tới thiên đạo.

 

      (Sớ) Bưu hậu cập đệ, quan chí An Phủ Sứ.

      () 彪後及第,官至安撫使。

      (Sớ: Về sau, Thiệu Bưu thi đỗ, làm quan tới chức An Phủ Sứ[10]).

 

      Nhân duyên này cũng chẳng thể nghĩ bàn, cũng là do thiện căn trong đời quá khứ; nếu không, làm sao ông ta mộng thấy cảnh giới này mà niệm Phật? Đấy là “túc oán đắc độ”.

 

      (Sớ) Quỷ khước giả.

      () 鬼卻者。

      (Sớ: Quỷ thoái lui).

 

      Đây là giải thích chuyện ác quỷ chẳng xâm phạm.

 

      (Sớ) Phật thế.

() 佛世。

      (Sớ: Thời đức Phật).

 

      Đây là một câu chuyện trong kinh điển.

 

      (Sớ) Hữu nhất quốc lân ư La Sát.

      () 有一國鄰於羅剎。

      (Sớ: Có một nước ở gần chỗ quỷ La Sát).

 

      Ở gần xứ quỷ La Sát.

 

      (Sớ) La Sát thực nhân vô độ.

      () 羅剎食人無度

      (Sớ: La Sát ăn thịt người không biết bao nhiêu).

 

      La Sát ăn thịt người, lại c̣n ăn rất nhiều!

 

      (Sớ) Vương ước: “Tự kim quốc trung, gia dĩ nhất nhân, thứ đệ tống dữ, vật đắc uổng sát!”

      () 王約:自今國中,家以一人,次第送與,勿得枉殺。

      (Sớ: Vua bèn ước hẹn với quỷ: “Từ nay trở đi, mỗi nhà trong nước sẽ theo thứ tự cống nạp một người cho ngươi, đừng giết chóc bừa băi!”).

 

      Quốc vương hết cách, đấu với hắn không lại, mong quỷ La Sát đừng giết người bừa băi. Mỗi nhà dân trong nước này sẽ thay phiên mỗi ngày dâng một người cho La Sát ăn, chớ nên nhiễu loạn khiến mọi người chẳng an ổn! La Sát cũng đồng ư.

 

      (Sớ) Hữu phụng Phật gia, chỉ sanh nhất tử, thứ đệ sung hành, phụ mẫu ai hào, chúc linh chí tâm niệm Phật.

      () 有奉佛家,只生一子,次第充行,父母哀號,囑令至心念佛。

      (Sớ: Có một nhà thờ Phật, chỉ sanh được một trai, theo thứ tự phải dâng nạp, cha mẹ đau đớn khóc lóc, dặn ḍ con hăy chí tâm niệm Phật).

 

      Có một hôm luân phiên tới một nhà nọ chỉ có một con duy nhất, đứa bé ấy chẳng thể không đi. Cả nhà đều niệm Phật, cha mẹ dặn con hăy nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ.

 

      (Sớ) Dĩ Phật oai lực, quỷ bất đắc cận.

      () 以佛威力,鬼不得近。

      (Sớ: Do oai lực của Phật, quỷ chẳng tới gần được).

 

      V́ đứa bé niệm Phật, niệm suốt đêm đến hừng đông, quỷ La Sát chẳng thể đến gần!

 

      (Sớ) Minh thần văng thị, kiến tử thượng tại.

      () 明晨往視,見子尚在。

      (Sớ: Sáng hôm sau, cha mẹ ra xem, thấy con vẫn c̣n sống).

 

       Hôm sau, [cha mẹ thấy] đứa bé vẫn c̣n sống, quỷ La Sát chẳng bắt được!

 

      (Sớ) Tương chi nhi hoàn, tự thị La Sát chi hoạn toại tức.

      () 將之而還,自是羅剎之患遂息。

      (Sớ: Dẫn con trở về, từ đấy, nạn La Sát bèn chấm dứt).

 

      Từ đấy trở đi, quỷ La Sát chẳng c̣n tới nhiễu loạn ở nơi ấy nữa. La Sát là quỷ ăn thịt người, hễ niệm Phật, nó sẽ chẳng dám gây hại. Đây là một câu chuyện trong kinh Phật.

      Trong bút kư của cư sĩ Đinh Phước Bảo có chép một chuyện vào đầu thời Dân Quốc. Có một người buôn bán, cùng kinh doanh chung với bạn bè. Khi lên thuyền, người bạn không cẩn thận, rớt xuống sông chết đuối. Sau khi trở về, vợ người bạn rất hoài nghi: “Gă này ham tiền hại mạng!” Ông ta chịu oan, không có cách nào biện bạch, cũng không có cách nào chứng minh. Quỷ ấy sau khi chết vẫn thường đến gặp ông ta, bạn bè thân thiết mà! Ông ta cũng chẳng sợ, c̣n bày rượu và thức ăn đăi quỷ. Ông thường tán chuyện với quỷ, bảo quỷ: “Người nhà ông thường nghi ngờ ta”. Quỷ nói không sao, sau này sẽ từ từ ḥa giải với họ. Có một hôm, ông ta niệm Phật, quỷ bảo: “Ông đừng niệm”. Ông ta hỏi: “V́ sao?” Quỷ nói: “Khi ông niệm, tôi chẳng dám tới gần ông”. Ông ta nghe lời ấy, bèn lớn tiếng niệm, niệm nhiều hơn, quỷ chạy mất. Ông ta mới hiểu niệm Phật có lợi ích như thế; về sau, xuất gia, chuyên môn niệm Phật. Niệm Phật có sức mạnh lớn như thế đó! Quỷ chẳng dám tiếp cận. Do vậy, người niệm Phật điều ǵ cũng chẳng sợ, bất luận cảnh giới nào, chỉ cần định cái tâm, vọng niệm ǵ cũng chẳng màng, nhất tâm niệm Phật, hết thảy yêu ma quỷ quái đều chẳng đến gần bên thân!

 

      (Sớ) Mục minh giả.

      () 目明者。

(Sớ: Mắt sáng).

 

      Đây cũng là cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn!

 

      (Sớ) Tống Sùng thị nữ, song cổ.

      () 宋崇氏女,雙瞽。

      (Sớ: Đời Tống, cô gái họ Sùng, hai mắt đều mù).

 

      Hai con mắt đều mù.

 

      (Sớ) Niệm Phật tam niên, tinh cần bất thế, song mục trùng minh như cố.

      () 念佛三年,精勤不替,雙目重明如故。

      (Sớ: Niệm Phật ba năm, chuyên tinh, siêng năng, chẳng thay đổi chí, hai mắt bèn sáng lại như cũ).

      Mù là do nghiệp chướng, niệm Phật có thể tiêu nghiệp chướng, nhất là chí thành niệm Phật, thành tâm thành ư niệm suốt ba năm. Tinh chuyên, siêng năng, chẳng đổi chí, chẳng giải đăi! Nghiệp chướng tiêu trừ, hai mắt khôi phục. Hết thảy bệnh khổ, thành tâm thành ư niệm Phật, sẽ đều có cảm ứng. V́ thế, người thật sự niệm Phật có bệnh, không nên kiếm bác sĩ, mà hăy nhất tâm niệm Phật, nghiệp chướng tiêu trừ sẽ lành bệnh. Nếu nghiệp chướng chẳng tiêu, bèn niệm Phật văng sanh. Thế giới này có ǵ tốt lành để lưu luyến? Khăng khăng một mực, niệm Phật mới có cảm ứng. Niệm Phật chẳng có cảm ứng là do tham cầu thế gian này, vẫn chưa nỡ đi, ngoài miệng bảo ta niệm Phật muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong tâm vương vấn thế gian này, không chịu đi. Tâm chẳng chân thành, niệm Phật cũng chẳng có cảm ứng, niệm Phật hiệu mà tai nạn cũng không tiêu, bệnh cũng chẳng lành. Cứ khăng khăng một mực niệm, sẽ có thể tiêu tai, có thể lành bệnh, có thể văng sanh, tinh thuần, siêng năng th́ sẽ có thể đạt được!

      Do vậy, tin Phật không dễ dàng! Thông thường, người ta tin Phật, nhưng bán tín bán nghi, chẳng phải là khăng khăng một mực tin Phật. Khăng khăng một mực tin tưởng sẽ có cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn! Ngày hôm nay chúng ta giảng tới đây.

 

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 45 hết

 



[1] Uất Tŕ Kính Đức tên thật là Uất Tŕ Cung (585-658), Kính Đức là tên tự, người xứ Thiện Dương, Sóc Châu (nay thuộc Sóc Thành, Sóc Châu, tỉnh Sơn Tây). Ông này xuất thân là thợ rèn, về sau đăng lính, do vũ dũng được phong tới chức Triêu Tán Đại Phu. Kính Đức theo Lưu Vũ Châu chống lại nhà Tùy, lập nhiều chiến tích. Sau đấy, bị tướng của Lư Thế Dân (Đường Thái Tông) bắt được, dụ hàng, ông ta theo Lư Thế Dân trở thành một đại tướng khai quốc công thần, được ghi tên trong gác Lăng Yên. Cùng với Tần Quỳnh, ông ta được dân Trung Hoa coi là “môn thần” (thần giữ cửa), các đền miếu Trung Hoa thường vẽ h́nh hai ông này để trấn yểm quỷ mị không cho vào cửa. Do lúc trẻ ông ta từng làm thợ rèn, nên c̣n được coi là thần bảo hộ nghề rèn ở Trung Hoa. Ḍng họ Uất Tŕ vốn xuất phát từ sắc dân thiểu số Tiên Ty thời Bắc Ngụy. Người thuộc bộ lạc Uất Tŕ của Tiên Ty đều lấy Uất Tŕ làm họ. Uất Tŕ cũng là họ của hoàng tộc xứ Vu Điền.

Ngài Khuy Cơ (632-682), tên tự là Hồng Đạo, là con trai của Uất Tŕ Tông (giữ chức Tả Kim Ngô Tướng Quân, đô đốc Tùng Châu, tước Khai Quốc Công). Khi ngài Huyền Trang bắt đầu dịch kinh, Sư được phái phục vụ và bảo vệ dịch trường. Ngài Huyền Trang thấy chàng thanh niên này mặt mũi thanh tú, khí độ hào hùng, liền muốn hóa độ thành đệ tử, nên thương lượng với cha ngài Khuy Cơ. Do Khuy Cơ vốn là quư tộc, nên phải tốn qua nhiều thủ tục mới có thể xuất gia nên măi cho đến năm Trinh Quán 22 (648) mới chính thức xuất gia. Năm Vĩnh Huy thứ năm (654), Sư vâng chiếu học văn tự của năm xứ Ấn Độ, hai năm sau, chính thức tham dự vào hàng ngũ tăng sĩ dịch kinh, đảm nhiệm vai tṛ Bút Thọ, theo hầu ngài Huyền Trang trải khắp các dịch trường tại Từ Ân, Tây Minh, Ngọc Hoa v.v... Ngài từng tạo tượng Văn Thù Bồ Tát bằng ngọc thạch tại Ngũ Đài Sơn, và đích thân chép kinh Bát Nhă. Những tác phẩm chủ yếu của Ngài là Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh U Tán, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Tán, Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh Sớ, Nhân Minh Nhập Chánh Lư Luận Sớ, Biện Trung Biên Luận Thuật Kư, Tạp Tập Luận Thuật Kư, Duy Thức Nhị Thập Luận Thuật Kư, Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận Giải, Du Già Sư Địa Luận Lược Toản, Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương, Thành Duy Thức Luận Khu Yếu, Đối Pháp Luận Sớ, Kim Cang Kinh Luận Hội Thích, Di Lặc Hạ Sanh Kinh Sớ.

[2] Thông thường “nhị thất” là mười bốn (2x7), Ḥa Thượng Tịnh Không giảng là “hai mươi bảy” nên chúng tôi dịch theo lời giảng của Ngài.

[3] Tịnh Độ Tùng Thư đúng như tên gọi là một bộ tổng tập bao gồm toàn bộ tất cả những tác phẩm viết về Tịnh Độ từ trước đến nay, do các vị Đạo An, Mao Dịch Viên, Trần Tử B́nh v.v... biên soạn vào năm 1972, thâu thập ba trăm tác phẩm, chia thành kinh luận, chú sớ, tinh yếu, trước thuật, toản tập (trích lược những phần trọng yếu), thi kệ, hành nghi (nghi thức), sử truyện. Trong mỗi loại, các tác phẩm được sắp xếp theo triều đại và niên đại.

[4] Thành phố Thượng Ngu nằm ở Đông Bắc tỉnh Chiết Giang, thuộc hạ lưu sông Tào Nga. Huyện Thượng Ngu đă được thành lập từ thời Tần Thủy Hoàng. Theo truyền thuyết, đây là đất phong của con cháu vua Ngu Thuấn, cho nên mới gọi là Thượng Ngu.

[5] Nhà ăn (trai đường) được gọi là Ngũ Quán Đường v́ khi thọ trai, phải quán tưởng năm điều:

1. Kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ: Xét công nhiều ít, nghĩ do đâu mà có. Cơm cháo một ngày ba thời đều chẳng dễ có. Phải nghĩ đến các thức ăn do bao người vất vả gieo trồng, chăm bón, gặt hái, phơi sấy, xay giă, nấu nướng, chế biến, toàn bộ đều do đàn na tín thí cúng dường.

2. Thổn dĩ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng: Tự xét đức hạnh của chính ḿnh có xứng đáng nhận lănh sự cúng dường ấy hay chưa, phát khởi tâm trân trọng, dụng công tu hành.

3. Pḥng tâm nan quá, thực đẳng vi tông: Đề pḥng cái tâm mắc phải tham, sân, si, chớ tham đồ ăn ngon. Thấy món ngon chẳng khởi tâm tham, luôn quán chiếu, thấy hết thảy đều do các duyên ḥa hợp, đều là hư huyễn.

4. Chánh sự lương dược, vị liệu h́nh khô: Thức ăn là món thuốc tốt lành để chữa căn bệnh thân thể khô gầy.

5. Vị thành đạo nghiệp, ưng thọ thử thực: Ăn uống nhằm duy tŕ sắc thân này để tu tập đạo nghiệp thành công, chớ không phải để cung phụng, chiều chuộng cái thân, thỏa măn ḷng tham.

[6] Chữ “thương sanh” theo nghĩa gốc là nơi cây cỏ sanh trưởng tươi tốt, như trong kinh Thư, thiên Ích Tắc có câu: “Đế quang thiên chi hạ, chí ư hải ngung thương sanh”, Khổng Tử giảng câu này phải hiểu là “quang thiên chi hạ, chí ư hải ngung, thương thương nhiên sanh thảo mộc, ngôn sở cập quảng viễn” (chỗ có ánh sáng mặt trời, cho đến góc biển, cây cối mọc xanh tươi, ư nói: Sự phổ cập rất xa rộng). Về sau, chữ “thương sanh” thường được dùng để chỉ dân chúng.

[7] Quyển tử là in trên một tờ giấy dài, hai đầu gắn trục để cuộn lại. V́ thế, kinh Phật c̣n được gọi là “xích trục hoàng quyển” (trục đỏ, quyển vàng). Triếp điệp bản là in thành từng trang trên một tờ giấy dài, in xong sẽ xếp thành sách, gắn b́a hai đầu. Những cách in này nhằm mô phỏng lối chép kinh trên lá Bối. C̣n “phương sách” là in giống như triếp điệp, nhưng chỉ có một mặt giấy, xếp mặt không có chữ đâu lưng vào nhau, dùng chỉ khâu gáy để đính vào b́a, giống như sách hiện thời.

[8] Đại liệm nhằm phân biệt với tiểu liệm. Tiểu liệm là dùng vải liệm bọc kín thi thể người chết. Đại liệm là đưa thi thể người chết đă tiểu liệm vào quan tài. Nghi lễ Nho gia quy định rất rắc rối, chẳng hạn khi tiểu liệm phải bọc vải liệm theo tŕnh tự nào, buộc dây từ chỗ nào trở đi. Khi đại liệm cũng có quy định đặt theo hướng nào, chất liệu quan tài tùy theo độ tuổi của người chết mà khác biệt, sơn phết quan tài như thế nào. Chẳng hạn người chết từ năm mươi tuổi trở xuống, không được sơn quan tài sắc vàng, chỉ dùng màu đỏ v.v...

[9] Thiên Giám là niên hiệu của Lương Vũ Đế (Tiêu Diễn).

[10] An Phủ Sứ, c̣n gọi là Kinh Lược Sứ, Tuyên Phủ Sứ, hay Tuyên Úy Sứ, được thiết lập từ đời Tùy, là mệnh quan do triều đ́nh phái đi tuần sát các quan chức tại các địa phương. Về sau, chức vụ này thường là một vơ quan cao cấp. Đến đời Tống, do chủ trương trung ương tập quyền, các chức vụ Tiết Độ Sứ, Quán Sát Sứ đều phế bỏ, chức Tri Châu trực thuộc triều đ́nh. Do phạm vi quản trị của Tri Châu quá nhỏ, triều đ́nh phải phái mệnh quan triều đ́nh đi làm An Phủ Sứ coi sóc những khu vực lớn hơn. Đến đời Nam Tống, An Phủ Sứ được gọi là Kinh Lược An Phủ Sứ, có quyền hạn khá lớn. Đến đời Nguyên, chứ An Phủ Sứ quản trị một Lộ, tức tương đương với Tỉnh Trưởng sau này.