A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 46
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt:
Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong
Tập 91
Xin
xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản,
trang một trăm sáu mươi mốt.
(Sớ) Nạn thoát giả, Nguyên
mạt, Trương Sĩ Thành công Hồ Châu, Giang Chiết
thừa tướng dữ chiến, cầm tứ thập
nhân, tù hạm tống lục, dạ túc Tây Hồ Điểu
Kḥa Tự. Đại Du Mưu thiền sư, từ bộ
lang hạ, tù kiến Sư thần quán nhàn nhă, tŕ tụng bất
chuyết, nhân cầu cứu bạt. Sư giáo linh chí tâm niệm
Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn A Di Đà Phật, trung hữu
tam nhân tín thọ kỳ ngữ, niệm bất tuyệt khẩu.
Thiên hiểu phát tù, dịch già tỏa, chí tam nhân, h́nh cụ
bất túc, duy hệ dĩ thằng, kư nhi thẩm cúc, tri
lương dân bị lỗ giả, toại đắc
thích.
(疏) 難脫者,元末張士誠攻湖州,江浙丞相與戰,擒四十人,囚檻送戮,夜宿西湖鳥窠寺。大猷謀禪師,徐步廊下,囚見師神觀閒雅,持誦不輟,因求救拔。師教令至心念南無救苦救難阿彌陀佛,中有三人信受其語,念不絕口。天曉發囚,易枷鎖,至三人,刑具不足,惟繫以繩,既而審鞫,知良民被虜者,遂得釋。
(Sớ: Thoát nạn: Cuối
đời Nguyên, Trương Sĩ Thành tấn công Hồ
Châu, Thừa Tướng đánh nhau với hắn tại
miền Giang Chiết, bắt được bốn
mươi người, giam vào tù xa, đưa đi hành
h́nh. Đến đêm, [xe tù] nghỉ tại chùa Điểu
Kḥa ở Tây Hồ. Thiền sư Đại Du Mưu đi
thong dong trên hành lang, tù nhân thấy Sư dáng vẻ nhàn nhă,
tŕ tụng không ngớt, do vậy, bèn cầu Sư cứu
giúp. Sư dạy họ hăy chí tâm niệm Nam Mô Cứu Khổ
Cứu Nạn A Di Đà Phật, trong số ấy có ba
người tin nhận lời Ngài, niệm không ngớt tiếng.
Tới sáng, giải tù nhân đi, thay gông xiềng, tới ba
người ấy, không đủ gông cùm, chỉ trói bằng
thừng. Thẩm vấn cặn kẽ, biết họ là
lương dân bị bắt, họ bèn được thả).
Đây là nói tới điều
cảm ứng cuối cùng, tức “phu tù thoát nạn” (bị giam cầm được
thoát nạn). Khi gặp phải tai nạn, niệm Phật,
niệm Bồ Tát, cảm ứng rất nhiều. Chúng ta thấy
điều này không chỉ được ghi chép trong nhiều
bộ cảm ứng lục, mà trong bút kư của cổ nhân
cũng thấy hết sức nhiều, như trong cuốn
Duyệt Vy Thảo Đường Bút Kư của Kỷ Hiểu
Lam cũng ghi chép không ít. Ở đây cũng là nêu đại
lược một điều, tức là một chuyện
vào đời Nguyên. Khi ấy, Trương Sĩ Thành[1] cát cứ một
phương, về sau bị Châu Nguyên Chương tiêu diệt,
lúc ấy, thế lực của hắn khá lớn. Hồ Châu
thuộc tỉnh Giang Tô. Trong chiến tranh loạn lạc,
chẳng ít dân lành bị bắt làm tù binh. Có kẻ làm loạn,
mà cũng có dân lành lẫn lộn trong các tù binh, mỗi người
nghiệp lực khác nhau. Do những tù binh ấy bị nhốt
trong pḥng trống của nhà chùa, nên có thể gặp pháp
sư, đấy là cộng nghiệp của chúng sanh. Những
kẻ ngộ nạn ấy cầu pháp sư giúp đỡ,
pháp sư có thể giúp đỡ bằng cách khuyên họ niệm
Phật. Thông thường chúng ta gặp tai nạn đều
niệm “Nam-mô đại từ
đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ
Tát”, ở đây là Cứu Khổ Cứu Nạn A Di
Đà Phật, tôi tin bản thân thiền sư Đại Du
Mưu nhất định là một người niệm Phật
tu Tịnh Độ. Nếu không, Sư chẳng dạy họ
niệm A Di Đà Phật.
Do vậy biết: Trong khi chúng
ta gặp tai nạn, có cần phải niệm Quán Âm Bồ
Tát hay không? Bị bệnh, có cần phải niệm Dược
Sư Phật hay chăng? [Nếu gặp tai nạn bèn niệm
Quán Âm Bồ Tát, bị bệnh niệm Dược Sư Phật]
th́ dường như mỗi vị Phật hay Bồ Tát cai
quản một chuyện [nhất định]! Từ chỗ
này, chúng ta hiểu: B́nh thường chúng ta tu pháp môn này, niệm
A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là Bổn Tôn của chúng
ta, gặp tai nạn cũng vậy, mà bị bệnh tật
cũng thế, thảy đều niệm A Di Đà Phật,
chắc chắn hữu hiệu! Hiệu quả do đâu mà
có? Trong các buổi giảng, chúng tôi thường nói: “Chí thành cảm thông”. Người
b́nh thường cầu Phật, cầu Bồ Tát chẳng
hiệu quả, v́ tâm họ chẳng chân thành. V́ sao biết
tâm họ chẳng chân thành? Họ cầu rất nhiều Phật,
Bồ Tát, tâm họ sẽ chẳng chân thành. Nếu tâm chân
thành, chỉ cầu một vị Phật hay Bồ Tát mà quư
vị thường chuyên niệm, đến lúc ấy, nhất
định có linh nghiệm. Chúng ta niệm đoạn này, phải
hiểu rơ đạo lư này. Tục ngữ có câu: “Thành tắc linh” (thành kính ắt
linh thiêng), chẳng thành kính sẽ không linh; niệm chú, vẽ
bùa đều chẳng ra ngoài lệ này! Niệm chú, vẽ
bùa bằng ḷng Thành đều linh, huống hồ chúng ta niệm
danh hiệu Phật, Bồ Tát? Chẳng c̣n nghi hoặc ǵ nữa!
Học Phật, dẫu là nghiên
cứu kinh giáo, cũng phải một môn thâm nhập. Học
nhiều, tinh thần lẫn sức lực của chúng ta bị
phân tán, muốn đạt thành tựu rất khó! Từ
xưa tới nay, hễ học phải “chuyên công” (chuyên dốc công sức nơi một bộ
kinh); thí dụ như chúng ta dùng thời gian mười
năm để chuyên môn học bộ kinh Di Đà này, “chuyên
công” nơi một bộ kinh Di Đà này, mười năm
không ngừng đọc tụng, diễn giảng, nghiên cứu,
thảo luận, sau mười năm ấy, quư vị sẽ
là chuyên gia kinh A Di Đà, chẳng có ai sánh bằng quư vị,
v́ sao? Quư vị có hạ thủ mười năm công phu
[nghiên cứu, học tập] bộ kinh này. Một kẻ
khác, trong mười năm nghiên cứu mười bộ
kinh, thoạt nh́n chẳng ít, rất nhiều! Mỗi năm
nghiên cứu một bộ, đối với mỗi bộ
kinh, người ấy đều liễu giải ngoài da,
thiếu chiều sâu! Nếu mười năm nghiên cứu
hai mươi bộ, ba mươi bộ, càng chẳng cần
phải nói nữa! Tôi nghĩ mọi người đều
có thể hiểu rơ đạo lư này, quư vị hăy suy nghĩ
kỹ lưỡng: Chúng ta phải nên dùng thái độ ǵ để
học Phật?
Xưa nay, các vị đại
đức có thành tựu đều là suốt đời đổ
công sức nơi một bộ. Thời cổ, như ngài
Thanh Lương suốt đời dốc hết công phu nơi
kinh Hoa Nghiêm, Ngài giảng kinh Hoa Nghiêm năm mươi lần.
Trí Giả đại sư chuyên dốc công sức nơi Pháp
Hoa. Vào đời Đường, Nam Sơn Luật Tổ
là ngài Đạo Tuyên Luật Sư ở núi Chung Nam chuyên dốc
công sức nơi Tứ Phần Giới Luật. Tứ Phần
Luật[2] là một bộ
sách rất lớn. Ngài nghe giảng hơn hai mươi lần,
người ta có tinh thần như vậy. Nơi nào giảng
Tứ Phần Luật, Ngài t́m đến đó chỉ để
nghe kinh, kinh giảng xong Ngài mới rời đi. Cận
đại, pháp sư Viên Anh chuyên dốc sức nơi kinh Lăng
Nghiêm, từ năm hai mươi lăm tuổi Ngài đă dốc
sức nơi kinh Lăng Nghiêm măi cho đến năm bảy
mươi mấy tuổi mới hoàn thành bộ Lăng
Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa. Do công sức cả đời,
Ngài mới có thành tựu to lớn ngần ấy. Cư sĩ
Giang Vị Nông suốt đời chuyên dồn sức nơi
kinh Kim Cang, bốn mươi năm dốc công phu nơi
kinh Kim Cang, từ xưa tới nay chẳng ai giảng kinh
Kim Cang hay hơn ông ta được. Một bộ Kim Cang Kinh
Giảng Nghĩa của ông ta là bản chú giải kinh Kim
Cang có uy tín nhất, người ta dụng công sâu dầy, bốn
mươi năm mà! Đối với một bộ Tâm
Kinh, Tâm Kinh gồm hai trăm sáu mươi chữ, cư sĩ
Châu Chỉ Am[3] cũng dùng bốn
mươi năm công phu, viết thành tác phẩm Tâm Kinh Thuyên
Chú. Đây là chú giải Tâm Kinh đầy uy tín, từ
xưa đến nay không có một ai có thể vượt
trội ông ta được! Do vậy, bất luận là
giải môn hay hành môn đều phải chuyên công th́ mới
có thể thu được hiệu quả chẳng thể
nghĩ bàn!
Ở đây nói tới niệm Phật,
trong số tù nhân có ba người oan uổng, họ là
lương dân, họ tin tưởng; c̣n kẻ làm ác chẳng
tin. Nếu chúng ta hỏi: Giả sử bọn họ tin
tưởng, có được cứu hay chăng? Họ tin
tưởng, chắc chắn được cứu. Đoạn
kế tiếp sẽ nói về kẻ ác đắc độ.
Những kẻ ấy đều có thể văng sanh, đều
được cứu vớt, tôi nghĩ trong một đời
này, chắc chắn, chúng ta [văng sanh] chẳng có vấn
đề ǵ!
(Huyền
Nghĩa) Hựu phục ác nhân tắc Thiện Ḥa thập
niệm, địa ngục hiện nhi hóa Phật không nghênh.
Súc sanh tắc cù dục xưng danh, h́nh hài yểm nhi liên hoa
địa phát. Hà huống thân vô trọng thắc, báo tại
tối linh, tín nguyện huân tu, ninh thành hư khí?
(玄義) 又復惡人則善和十念,地獄現而化佛空迎。畜生則鴝鵒稱名,形骸掩而蓮華地發。何況身無重慝,報在最靈,信願熏修,寧成虛棄。
(Huyền
Nghĩa: Lại nữa, kẻ ác như Thiện Ḥa
mười niệm, tướng địa ngục hiện
mà hóa Phật đón rước trên không. Súc sanh như con yểng
xưng danh, xác đă vùi mà đất trổ hoa sen. Huống
chi con người là hạng tối linh, thân không vướng
tội ác nặng nề, tín nguyện huân tu, há thành luống
uổng?)
Chúng ta xem lời chú giải.
(Sớ) Ác nhân giả.
(疏) 惡人者。
(Sớ: Kẻ ác).
Đây là một câu
chuyện rất nổi tiếng, ai nấy đều hay
biết.
(Sớ) Đường Trương
Thiện Ḥa, đồ ngưu vi nghiệp.
(疏) 唐張善和,屠牛為業。
(Sớ: Đời
Đường, Trương Thiện Ḥa làm nghề mổ
trâu).
Vào đời Đường, ông
Trương Thiện Ḥa làm đồ tể, giết trâu, cả
đời đă mổ trâu, bán thịt trâu chẳng biết
đến bao nhiêu!
(Sớ) Lâm chung, kiến quần ngưu sách mạng, ư
thị đại bố.
(疏) 臨終,見群牛索命,於是大怖。
(Sớ: Lâm chung, thấy
lũ trâu đến đ̣i mạng; do vậy, hết sức
kinh hoảng).
Khi lâm chung, ông ta thấy nhiều
kẻ đầu trâu đến đ̣i mạng. Khi ấy, ông
ta sợ hăi, biết nhân quả báo ứng chẳng sai mảy
may!
(Sớ) Hoán kỳ thê vân: “Tốc
diên Tăng vị ngă niệm Phật”.
(疏) 喚其妻云:速延僧為我念佛。
(Sớ: Gọi vợ:
“Mau thỉnh Tăng niệm Phật cho ta”).
Ông ta bảo vợ thỉnh người
xuất gia mau đến siêu độ ông ta. Theo như Văng
Sanh Truyện ghi chép, khi ông ta gào to “cứu mạng”, gặp
duyên tốt đẹp, nhân duyên thù thắng, khéo sao có một
vị xuất gia hóa duyên đi qua cửa, nghe tiếng ông
ta kêu, hỏi: “Chuyện ǵ?” Vợ ông ta thỉnh vị xuất
gia ấy vào trong nhà. Ông ta cho biết nhiều kẻ đầu
trâu tới đ̣i mạng!
(Sớ) Dụ vân: “Kinh trung thuyết
lâm chung ác tướng hiện giả, chí tâm niệm Phật,
tức đắc văng sanh”.
(疏) 諭云:經中說臨終惡相現者,至心念佛,即得往生。
(Sớ: Vị
Tăng khuyên nhủ: “Kinh dạy khi lâm chung tướng ác
hiện ra, hăy chí tâm niệm Phật liền được
văng sanh”).
Vị xuất gia ấy bảo
ông ta: Theo như Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh đă
dạy, Ngũ Nghịch, Thập Ác là tội nghiệp to lớn,
nặng nề, khi lâm chung niệm Phật cũng có thể
văng sanh.
(Sớ) Ḥa vân: “Địa ngục
chí”.
(疏) 和云:地獄至。
(Sớ: Thiện Ḥa nói: “Tướng địa ngục
hiện ra rồi”).
Trương Thiện Ḥa kêu to: “Tướng
địa ngục hiện tiền”. Nói cách khác, ngay lập
tức ông ta phải đọa địa ngục .
(Sớ) Cấp thủ
hương lô lai, tức dĩ hữu thủ ḱnh hỏa, tả
thủ niêm hương, diện Tây chuyên thiết niệm Phật,
vị măn thập thanh, tự ngôn “Phật lai nghênh ngă”, tức
hóa khứ.
(疏) 急取香鑪來,即以右手擎火,左手拈香,面西專切念佛,未滿十聲,自言佛來迎我,即化去。
(Sớ: Vội cầm
lấy ḷ hương, liền dùng tay phải giữ lửa,
tay trái cầm hương, mặt hướng về
Ngay lập tức cầm lấy
ḷ hương, nắm trên tay một vốc hương, lớn
tiếng niệm A Di Đà Phật. Chưa đầy mười
tiếng, ông ta nói: “Chẳng thấy người đầu
trâu nữa! Phật đến rồi!” Ông ta theo Phật ra
đi. Đây là một ví dụ hết sức tốt đẹp,
đấy là kẻ làm ác lâm chung niệm Phật văng sanh;
nhưng phải nói rơ chuyện này cùng quư vị, quư vị từng
thấy có mấy ai khi lâm chung sáng suốt, tỉnh táo như
thế hay chăng? Đây là điều kiện tiên quyết.
Nếu khi lâm chung, chẳng nhận biết một ai, sẽ
chẳng thể cứu được!
Trương Thiện Ḥa có đại
phước báo, phước báo ấy đă tu trong đời
trước. Tu trong đời trước là như kinh Di
Đà đă dạy: “Lâm mạng
chung thời, tâm bất điên đảo” (lúc lâm chung, tâm
không điên đảo). Do vậy, kinh Di Đà dạy chúng
ta hai chuyện. Thứ nhất là “nhất tâm bất loạn”, đó là quyết
định thành tựu. Chỉ cần đắc nhất
tâm bất loạn, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, thích đi lúc nào bèn đi lúc ấy, muốn ở
lại thế giới này thêm mấy năm bèn ở thêm mấy
năm, chắc chắn chẳng trở ngại, đến
đi tự do, đó là đắc nhất tâm bất loạn.
Chưa đắc nhất tâm bất loạn th́ điều
kiện quan trọng nhất là “tâm
bất điên đảo”. Khi quư vị sắp mất,
phải tỉnh táo, sáng suốt, như vậy th́ mới nắm
chắc văng sanh. Nếu lâm chung đau khổ, hoặc hôn mê,
bất tỉnh, như vậy th́ chẳng có cách nào cả, thậm
chí trợ niệm cũng chẳng có cách nào! Do vậy, con người
trong một đời phải nên tu phước, chớ
nên hưởng phước, chớ nên hưởng sạch
một chút phước báo ấy, hưởng hết th́
khi lâm chung sẽ chẳng có phước!
Trong quá khứ, tôi đă thấy
không ít kẻ phú quư, tuổi trẻ đắc chí, trung niên
đắc chí, tha hồ hưởng thụ, gọi một
tiếng, trăm kẻ thưa, đến tuổi xế bóng
suy sụp, ngay cả một kẻ hầu hạ, chăm sóc
cũng chẳng có! Giặt áo, nấu cơm đều phải
tự ḿnh làm lấy, đáng thương vô cùng! Khi người
ấy đắc chí, trong nhà kẻ hầu mười mấy,
hai mươi người, vẫn sợ hầu hạ chẳng
trọn vẹn; lúc tuổi xế chiều, chuyện ǵ tự
ḿnh cũng đều phải làm, ra phố mua thức ăn
cũng tự ḿnh xách giỏ lê bước. Tôi đă thấy
rất nhiều, hưởng hết phước rồi! T́nh
h́nh lúc người ấy chết [như thế nào] có thể
suy ra được, lẽ nào có thể tỉnh táo, sáng suốt
được? Chẳng thể nào!
Do vậy, nhất định
phải biết tu phước, mong sao khi lâm chung tỉnh táo,
sáng suốt, chúng ta niệm Phật chắc chắn có thể
văng sanh. Đới nghiệp văng sanh phải cậy vào sát-na
lâm chung ấy! Như Trương Thiện Ḥa tỉnh táo dường
ấy là do thiện căn tu hành trong nhiều đời
nhiều kiếp, khi đó, [thiện căn ấy] bèn hiện
tiền. Suốt đời chẳng nghe Phật pháp, lâm
chung được nghe, chịu tin tưởng, chịu
chuyên tâm niệm; do vậy, lúc lâm chung mười niệm
hay một niệm cũng có thể văng sanh, đấy là Hạ
Phẩm Hạ Sanh trong Quán Kinh. Ngàn vạn phần phải ghi
nhớ, quyết chẳng thể mang tâm lư cầu may. Đọc
câu chuyện này, [bèn lầm tưởng] chẳng có ǵ phải
gấp rút! Cả đời này tạo ác thêm một chút, chẳng
sao cả! Lâm chung vẫn c̣n kịp. Nếu quư vị suy tưởng
như vậy, lầm lẫn quá đỗi! Khi quư vị
lâm chung, có thể bảo đảm tỉnh táo, sáng suốt
như ông Trương Thiện Ḥa hay chăng? Có bảo đảm
khi ấy sẽ có thiện tri thức tới giúp đỡ
quư vị hay không? Do vậy, chớ nên mang tâm lư cầu may!
Phải sốt sắng niệm Phật. Nhất là trong thời
đại hiện đại này, tai nạn bất ngờ
rất nhiều, bản thân chúng ta có đảm bảo cả
đời chẳng gặp phải hay chăng? Tai nạn đột
nhiên xảy đến, làm thế nào đây? Do vậy, b́nh
thường phải nghiêm túc nỗ lực niệm Phật,
niệm Phật có thể tiêu tai miễn nạn. Dẫu đại
kiếp nạn xảy đến, cũng có thể tỉnh
táo, sáng suốt niệm Phật văng sanh, đấy là công
đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn.
(Sớ) Súc sanh giả.
(疏) 畜生者。
(Sớ: Súc sanh).
Đoạn này nói về súc sanh
niệm Phật văng sanh. Chuyện này rất kỳ quái, nhưng
cũng không ít, cổ nhân đă viết một quyển sách
có tựa đề Vật Do Như Thử (loài vật mà c̣n
như thế) chuyên môn ghi chép chuyện súc sanh văng sanh tại
Trung Quốc trong các thời đại.
(Sớ) Tống Hoàng Nham Chánh
Đẳng Tự, Quán Công, súc cù dục.
(疏) 宋黃巖正等寺,觀公,畜鴝鵒。
(Sớ: Đời
Tống, Quán Công thuộc chùa Chánh Đẳng xứ Hoàng
Nham nuôi một con yểng).
Chùa tên là Chánh Đẳng. Pháp
danh của vị xuất gia này chẳng ghi chép trọn vẹn,
tôn xưng Ngài bằng một chữ[4]
là Quán Công. Sư nuôi một con “cù
dục” (con yểng), chúng ta thường gọi nó là “bát ca” (八哥). Bát ca có thể nói được.
(Sớ) Thường niệm Phật
bất tuyệt.
(疏) 常念佛不絕。
(Sớ:
Thường niệm Phật chẳng dứt).
Trong chùa, mọi người dạy
nó niệm Phật, nó cũng biết niệm Phật.
(Sớ) Nhất nhật lập
hóa lung thượng, Quán táng chi.
(疏) 一日立化籠上,觀葬之。
(Sớ: Một hôm,
nó đứng chết trong lồng, Quán Công đem chôn).
Có một hôm nó văng sanh, đứng
chết trong lồng, pháp sư đem nó đi chôn.
(Sớ) Dĩ nhi thổ thượng
xuất tử liên hoa nhất đóa.
(疏) 已而土上出紫蓮華一朵。
(Sớ: Nhưng trên
mặt đất trổ một đóa sen tím)
Chôn dưới đất, chưa
được mấy hôm, trên cuộc đất ấy mọc
lên một đóa hoa sen màu tím. Pháp sư nghĩ đấy là
tướng lành rất tốt đẹp, muốn biết
đóa sen ấy có phải từ thân con yểng mọc ra
hay chăng, liền bới đất xem thử.
(Sớ) Tầm thổ trung, tắc
hoa tùng thiệt đoan nhi phát.
(疏) 尋土中,則華從舌端而發。
(Sớ: T́m trong
đất th́ ra hoa mọc từ lưỡi con chim).
Quả nhiên đúng như vậy,
hoa sen ấy mọc từ lưỡi của con chim bé ấy.
(Sớ) Linh Chi Chiếu Luật Sư,
vị chi tán, hữu “lập vong lung bế hồn nhàn sự,
hóa tử liên hoa dă thái kỳ” chi cú.
(疏) 靈芝照律師,為之讚,有「立亡籠閉渾閒事,化紫蓮華也太奇」之句。
(Sớ: Ngài Linh Chi
Chiếu luật sư soạn bài tán, trong ấy có câu:
“Đứng chết trong lồng nào hiếm lạ, hóa sanh
sen tím thật hy kỳ”).
Đây là một vị xuất
gia sống vào đời Tống chuyên môn nghiên cứu giới
luật, trong Luật Tông gọi Ngài là Linh Chi Luật Tổ[5]. Ngài thấy
chuyện này, bèn đặc biệt viết một bài văn
để tán thán. Súc sanh đạo văng sanh là chuyện b́nh
thường, từng nghe nói rất nhiều, chẳng hiếm
lạ! Cuống lưỡi biến thành hoa sen tím, chuyện
này rất hiếm lạ. Đây là nói về thời xưa.
Trong cuốn băng thâu âm lời
khai thị trong Phật Thất, pháp sư Đàm Hư có kể
nhiều chuyện văng sanh hiện thời. Ngài có nhắc tới
chuyện một con gà trống văng sanh. Khi pháp sư Đế
Nhàn làm phương trượng chùa Đầu Đà, trong
chùa có nuôi một con gà trống. Con gà trống ấy mỗi
ngày đều theo đại chúng tụng kinh sớm tối,
nó cũng theo đại chúng đến trai đường.
Mọi người ăn cơm, cơm, rau rơi xuống
đất nó đều nhặt ăn hết, ăn sạch
sành sanh. Có một hôm lên tụng kinh, sau khi tụng kinh xong,
mọi người đều rời khỏi, con gà trống
ấy không đi. Thầy Hương Đăng xua nó đi:
“Mọi người đi hết rồi, ta phải
đóng cửa, ngươi hăy mau đi ra”. Con gà trống to
ấy không đoái hoài tới thầy ấy, đi tới giữa
đại điện, đứng ở đấy, nghển
cổ nh́n tượng Phật, kêu ba tiếng, rồi đứng
chết ngay ở đó. Pháp sư Đế Nhàn chiếu
theo lễ tiết dành cho người xuất gia hỏa táng
nó. Đây là chuyện súc sanh văng sanh mà lăo pháp sư Đàm Hư
đích thân chứng kiến. Con người nếu chẳng
khéo niệm Phật sẽ thua cả súc sanh! Công đức
lợi ích văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới
nói bất tận, quư vị hăy
khéo nghe lời khai thị của Đàm lăo pháp sư.
(Sớ) Như thượng tŕ
danh sở cử, tự phi quang xuất Phật chí thử.
(疏) 如上持名所舉,自飛光出佛至此。
(Sớ: Những
điều cảm ứng do tŕ danh như vừa nêu trên
đây, từ phóng ra quang minh cho đến chỗ này).
Thiện Đạo đại
sư niệm Phật một tiếng, trong miệng tỏa
ra một tia sáng, chuyện này đă được nhắc
tới trong phần trước, cho đến tận chỗ
này, hết thảy đều là nói về chuyện cảm
ứng.
(Sớ) Diệc thiên vạn trung
kỷ nhất nhi dĩ.
(疏) 亦千萬中紀一而已。
(Sớ: Cũng chỉ là ghi chép một phần
trong ngàn vạn phần đó thôi).
Ngàn vạn người và động
vật văng sanh, nêu đại lược một hai trường
hợp để chứng minh mà thôi!
(Sớ) Thắc giả, ác chi nặc
ư tâm giả dă.
(疏) 慝者,惡之匿於心者也。
(Sớ: “Thắc” là
trong tâm ẩn giấu điều ác).
Trong tâm có sự đại ác;
tham, sân, si, mạn đều là đại ác.
(Sớ) Tối linh giả, nhân vi
vạn vật chi linh dă. Mạt phục kết ngôn, ác nhân
niệm Phật, thượng đắc văng sanh, hà huống
ác vị tất như Thiện Ḥa.
(疏) 最靈者,人為萬物之靈也。末復結言,惡人念佛,尚得往生,何況惡未必如善和。
(Sớ: “Tối linh”: Con người linh thông nhất
trong muôn loài. Cuối cùng, lại kết luận rằng: Kẻ
ác niệm Phật c̣n được văng sanh, huống hồ
kẻ chưa chắc đă ác như Thiện Ḥa).
Chưa tạo tội nghiệp
nặng nề như ông Trương Thiện Ḥa.
(Sớ ) Súc sanh niệm Phật,
thượng đắc văng sanh, hà huống linh nhi hiệu
vi nhân loại. Dĩ thử tỷ huống, tri tất sanh
dă.
(疏) 畜生念佛,尚得往生,何況靈而號為人類。以此比況,知必生也。
(Sớ:
Súc sanh niệm Phật c̣n được văng sanh, huống
hồ loài người được gọi là “tối
linh”. Dùng điều này để so sánh, liền biết
[người chân thật niệm Phật] ắt được
văng sanh).
Chúng ta nh́n vào những sự
tích này hăy nên giác ngộ. Trừ phi bản thân chúng ta chẳng
chịu phát tâm, chứ chịu phát tâm niệm Phật, đời
này, chúng ta nhất định văng sanh, đây là chuyện thiên
chân vạn xác (ngàn vạn phần xác đáng). Các vị
đồng học có rất nhiều người mới vừa
học Phật, [thấy] tông phái Phật pháp nhiều, pháp
môn nhiều, kinh điển nhiều, khởi sự tu tập
từ chỗ nào? Chẳng thể không lưu ư điều
này. Nếu vừa bắt đầu tu tập bèn t́m được
đúng cửa nẻo, quư vị sẽ thành tựu nhanh chóng.
Thành tựu không chỉ nhanh mà c̣n cao. T́m trật cửa nẻo,
chắc là suốt cả đời này vẫn chẳng thể
thành tựu, đi theo khá nhiều con đường oan uổng.
Đây là điều phải lưu ư lúc khởi đầu.
Trong tất cả các pháp môn, thành tựu trong một đời,
ai nấy đều có thể thành tựu, không ǵ hơn pháp
môn Niệm Phật.
Kinh
Di Đà tuy đơn giản, kinh văn chẳng dài, nhưng
từng câu từng chữ chứa đựng vô lượng
nghĩa. Chúng ta đọc bản chú giải này, quư vị cầm
trên tay một cuốn sách chú giải kinh Di Đà to như
thế, trong đó, chúng tôi chọn lựa ba tác phẩm chú
giải. Bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư bác
đại tinh thâm, gồm có bốn quyển, hôm nay chúng ta
giảng đến đây là quyển thứ nhất. Giảng
chưa xong quyển thứ nhất mà đă mất chín
mươi mốt buổi giảng rồi. Lần này là lần
thứ ba chúng tôi giảng Sớ Sao, lần thứ hai chúng
tôi có giữ lại băng thâu âm, mỗi băng dài chín
mươi phút, một bộ kinh A Di Đà là ba trăm ba
mươi lăm băng. Do vậy, mọi người ngàn
vạn phần đừng xem rẻ kinh Di Đà, chớ nên
nghĩ pháp môn này đơn giản!
Trong quá khứ, thầy Lư giảng
một bộ kinh Lăng Nghiêm ở Đài Trung, giảng
xong từ đầu tới cuối cũng chẳng hơn
một trăm ba mươi sáu giờ. Chúng tôi giảng Di
Đà Kinh Sớ Sao một lượt đă giảng hơn
năm trăm giờ, đó là lần giảng thứ hai. Giảng
lần này tỉ mỉ hơn lần trước, tốn
thời gian càng nhiều hơn! Do vậy, khinh dễ pháp
môn Niệm Phật tức là thiếu phước báo; chọn
lựa pháp môn này tức là quư vị thiện căn, phước
đức, nhân duyên sâu dầy.
Bản thân tôi học Phật
hơn ba mươi năm, trong quá khứ chẳng hiểu,
ṃ mẫm khắp nơi, cũng ṃ mẫm khá nhiều kinh
luận, tới cuối cùng mới biết pháp môn Niệm Phật
tốt đẹp. Trong đạo tràng giảng kinh, tôi chỉ
giảng hai bộ kinh là kinh Di Đà và Tứ Thập Hoa
Nghiêm. Lần này v́ các đồng học giảng Tứ Thập
Nhị Chương Kinh, nhằm giúp đỡ những vị
học giảng kinh, mong mỏi quư vị sẽ nhờ vào
Tứ Thập Nhị Chương Kinh mà dấy lên hứng
thú học Phật. Nếu thật sự học Phật,
nhất định phải niệm kinh Di Đà, nhất
định phải tu pháp môn Niệm Phật.
(Sớ) Tín nguyện huân tu, sở
tác đường quyên, vô hữu thị xứ.
(疏) 信願熏修,所作唐捐,無有是處。
(Sớ: “Tín nguyện
huân tu”: Tu tập pháp môn này mà phí uổng là chuyện chẳng
bao giờ có).
“Đường
quyên” có nghĩa là uổng phí. Chỉ cần quư vị
tin tưởng, phát nguyện, sốt sắng niệm Phật,
niệm Phật gọi là “huân
tu”, ngày đêm chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp,
chẳng hoài nghi, cứ một mực niệm, đó gọi
là “huân tu”. Nếu nói quư vị
làm chuyện này vô ích th́ chẳng có lẽ ấy! Chắc chắn
là đạt được công đức lợi ích thù thắng!
Ngũ, kết khuyến.
(Huyền Nghĩa) Thị dĩ
nhất âm thỉ xướng, thiên Phật đồng
canh. Tam học cao tăng, cửu lưu danh đức, nhược
u, nhược hiển, nhược thánh, nhược phàm,
như vạn thủy vô bất triều Đông, tự quần
tinh tất giai củng Bắc, phương chi tiệp kính,
hiệu viết Phổ Môn, khởi hư ngữ tai! Quyết
chí cầu sanh, vô dung nghĩ nghị giả hỹ.
五,結勸。
(玄義) 是以一音始唱,千佛同賡。三學高僧,九流名德,若幽若顯,若聖若凡,如萬水無不朝東,似群星悉皆拱北,方之捷徑,號曰普門,豈虛語哉。決志求生,無容擬議者矣。
(Năm là kết luận,
khuyên lơn.
Huyền
Nghĩa: Do vậy, một
tiếng vừa đề xướng, ngàn vị Phật
cùng tiếp lời. Bậc cao tăng Tam Học, các vị
danh đức trong cửu lưu, dù u hay hiển, dù thánh hay
phàm, như muôn ḍng nước, không ḍng nào chẳng xuôi về
Đông, dường các ngôi sao đều chầu về
phương Bắc, đấy mới là đường tắt,
được gọi là Phổ Môn, há phải lời lẽ
rỗng tuếch ư? Hăy quyết chí cầu được
văng sanh, chớ nên băn khoăn, bàn định chi nữa!)
“Canh”
(賡) là tiếp tục. Qua mấy câu
này, Liên Tŕ đại sư đă tận t́nh khuyên bảo,
khích lệ chúng ta hăy chọn lựa pháp môn này, nghiêm túc tu học.
Xin quư vị đọc lời chú giải:
(Sớ) Thử tổng kết Tịnh
Độ pháp môn, nhất thiết chúng sanh sở quy y dă.
(疏) 此總結淨土法門,一切眾生所皈依也。
(Sớ: Đây là tổng
kết pháp môn Tịnh Độ là pháp môn được hết
thảy chúng sanh quy y).
Chữ “thử” chỉ ba ḍng văn tự trước ḍng
này. Pháp môn này có thể nói là đă được đề
xướng đầu tiên trong hội Hoa Nghiêm. Trong Phật
giáo Trung Quốc, kinh Hoa Nghiêm được mọi người
công nhận là “căn bản pháp
luân”, [tức là] hết thảy các kinh đều là quyến
thuộc của Hoa Nghiêm, mà cũng là cành nhánh của Hoa
Nghiêm. Giống như một cái cây, Hoa Nghiêm là căn bản,
hết thảy các kinh đều là cành nhánh sanh từ căn
bản này, ta sẽ hiểu địa vị được
chiếm lănh bởi kinh Hoa Nghiêm trong Phật pháp. Trong kinh Hoa
Nghiêm giảng tới hai ngàn pháp môn, bao gồm Hiển, Mật
các tông. Kinh ấy to lớn, giảng rất chi tiết, giảng
rất nhiều, nhưng cuối cùng kết quy nơi pháp
môn Niệm Phật. Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ
Tát đều phát nguyện cầu sanh Tây Phương Tịnh
Độ, Thiện Tài đồng tử cũng tu pháp môn Niệm
Phật văng sanh Tịnh Độ. Trong năm mươi ba
lần tham học, tuy tham phỏng khá nhiều các tông phái và
pháp môn bất đồng, sau khi tiếp xúc với họ,
Thiện Tài đồng tử vẫn như như bất
động, vẫn là nhất tâm niệm Phật. Không chỉ
tới cuối cùng, Văn Thù, Phổ Hiền, Thiện Tài
văng sanh Tịnh Độ, mà Phổ Hiền Bồ Tát c̣n dùng
“mười đại nguyện vương dẫn về
Cực Lạc”, khuyên tất cả các vị Bồ Tát trong
hội Hoa Tạng thảy đều cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, hăy xem cảnh
tượng ấy trang nghiêm tới bậc nào! Do vậy, chúng
ta mới thật sự hiểu Tịnh Độ là chỗ
quy y của toàn bộ Phật pháp. Chẳng niệm Phật,
chẳng cầu sanh Tịnh Độ, quá đáng tiếc!
Trong lời mi chú[6] cho kinh Vô Lượng
Thọ, thầy Lư đă phê mấy câu. V́ thầy thấy
trong kinh có nói: Bồ Tát đă cúng dường bốn
trăm ức trong đời quá khứ, con số ấy thật
là phi phàm! Cúng dường bốn trăm ức Phật mà c̣n
mê khi cách ấm, vẫn bị thoái chuyển, điều này
đáng sợ quá! Tuy có cái nhân xa xôi, trong tương lai đương
nhiên họ vẫn có thể văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, nhưng nhiều kiếp dài lâu luân
hồi trong lục đạo, chịu khổ rất oan uổng.
V́ thế, cuối cùng, lăo nhân gia nhận định: “Chẳng cầu đới nghiệp
văng sanh, chẳng ngu, ắt cuồng”, quư vị chẳng
phải là kẻ ngu th́ cũng là cuồng vọng! Lời này
chẳng sai tí nào!
(Sớ) Xướng giả,
đạo dă, canh giả, tục dă. Thỉ xướng giả,
Thích Ca khai thị Tây Phương, chúng sanh thỉ tri Tịnh
nghiệp, thị dẫn nhi đạo chi dă.
(疏) 唱者導也,賡者續也。始唱者,釋迦開示西方,眾生始知淨業,是引而導之也。
(Sớ: “Xướng” là hướng dẫn. “Canh”
là tiếp nối. “Đề xướng đầu tiên”: Đức
Thích Ca khai thị cơi Tây Phương, chúng sanh mới biết
đến Tịnh nghiệp, đấy là hướng dẫn
vậy).
Trong hội Hoa Nghiêm, Thích Ca Mâu
Ni Phật đă nói đến Tây Phương Tịnh Độ;
nhưng trong hội Di Đà, hội Vô Lượng Thọ,
hội Quán Vô Lượng Thọ chuyên giảng Tây
Phương Cực Lạc thế giới, chuyên giới
thiệu Tây Phương Tịnh Độ. “Chúng sanh thỉ tri Tịnh nghiệp”: Chúng ta mới
biết; nhưng [trong số các bộ] kinh Phật truyền
đến Trung Quốc th́ kinh Vô Lượng Thọ được
truyền đến sớm nhất. Khi ngài An Thế Cao tới
Trung Quốc, kinh Vô Lượng Thọ đă được
truyền đến. Hơn nữa, ngài An Thế Cao c̣n dịch
sang tiếng Hán, rất đáng tiếc là bản này đă
thất truyền.
(Sớ) Đồng canh giả,
lục phương tán thán. Tường như kinh văn
trung thuyết, thị tục nhi ḥa chi dă.
(疏) 同賡者,六方讚歎。詳如經文中說,是續而和之也。
(Sớ: “Đồng canh” (cùng tiếp nối) là sáu
phương tán thán như trong kinh văn đă nói cặn kẽ,
đó là nối tiếp phụ họa theo).
Thích Ca Mâu Ni Phật giảng Tây
Phương Tịnh Độ, sáu phương Phật tán
thán, khuyên chúng ta học tập.
(Sớ) Tam học giả vi Thiền,
Giáo, Luật tam tông dă.
(疏) 三學者,謂禪教律三宗也。
(Sớ: “Tam học” là ba tông Thiền, Giáo, Luật).
“Tam
Học” là Thiền, Giáo, Luật. Nói thật ra, ngoài Tịnh
Độ Tông ra, [từ ngữ Tam Học] bao quát toàn bộ
các tông phái, Thiên Thai, Hiền Thủ, Tam Luận, Duy Thức
đều gộp trong một chữ Giáo.
(Sớ)
Thiền, như Vĩnh Minh, dĩ Tông môn trụ thạch,
nhi thượng thượng phẩm sanh.
(疏) 禪,如永明,以宗門柱石,而上上品生。
(Sớ:
Thiền như ngài Vĩnh Minh là bậc thạch trụ
trong nhà Thiền, mà thượng thượng phẩm văng
sanh).
Đây là nói tới Thiền Tông.
Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ trước đó cũng học
Thiền, là bậc đại triệt đại ngộ
trong Thiền Tông, quay về niệm Phật, trở thành tổ
sư đời thứ sáu của Tịnh Độ Tông.
Theo truyền thuyết, Vĩnh Minh Diên Thọ đại
sư là A Di Đà Phật tái lai. Ngài có viết một bộ
sách lớn là Tông Kính Lục một trăm quyển lưu
truyền đời sau; ngoài ra, c̣n có Vạn Thiện Đồng
Quy Tập. Theo truyện kư ghi chép, sau khi pháp sư văng sanh, có
một vị xuất gia đối trước tháp của
Ngài lễ bái, đi nhiễu, suốt cả năm đều
làm như vậy, chẳng chịu rời đi. Có người
hỏi thầy ấy: “V́ sao thầy lễ tháp ở nơi
này?” Nhà sư ấy cho biết đă từng chết một
lần, gặp vua Diêm La, thấy trong đại diện của
vua Diêm La treo một bức tượng vẽ. Trước
khi vua Diêm La sắp thăng điện đều đến
trước tượng lạy ba lạy. Sư bèn hỏi
người bên cạnh: “Đấy là h́nh của ai vậy?”
Người khác bảo: “Đó là Vĩnh Minh Diên Thọ đại
sư”. Nói chung, thọ mạng của Sư vẫn chưa
hết, vua Diêm La cho trở về. Sau khi sống lại, Sư
đi hỏi ḍ khắp nơi xem có ai là Vĩnh Minh Diên Thọ
hay không? Nghe nói quả nhiên có một vị như vậy, Sư
đối trước tháp của Vĩnh Minh Diên Thọ
đại sư hằng ngày lễ bái, đi nhiễu, bảo
vua Diêm La cung kính đại sư, [lẽ nào ta không cung kính].
Hơn nữa, trong cơi Âm c̣n cho biết ngài Vĩnh Minh Diên Thọ
thượng thượng phẩm văng sanh. Thượng thượng
phẩm là từ nơi ấy mà truyền ra, chứ trong
truyện kư không nói!
(Sớ) Viên Chiếu dĩ độc
bỉnh đơn truyền, nhi tiêu danh liên cảnh.
(疏) 圓照以獨秉單傳,而標名蓮境。
(Sớ: Ngài Viên Chiếu
riêng giữ phép đơn truyền, mà tên ghi nơi cảnh
sen).
Đời Tống, thiền sư
Viên Chiếu sau khi đại triệt đại ngộ nơi
Thiền Tông, quay về niệm Phật. “Tiêu danh liên cảnh”: Khi ấy, tại chùa Tư Phước
có một vị xuất gia tới lễ dưới ṭa của
pháp sư Viên Chiếu. Sau khi lễ bái, c̣n bỏ tiền cúng
dường. Pháp sư ấy là một vị đại pháp
sư hết sức nổi tiếng, tư cách, địa
vị đều cao hơn Chiếu pháp sư (ngài Viên Chiếu).
Do vậy, mọi người cảm thấy lạ lùng, hỏi:
“V́ sao Ngài đến lễ Sư? Lại c̣n cúng dường
Sư nữa?” Vị ấy cho biết: Trong Thiền Định,
ông ta thấy thế giới Tây Phương. Trên hoa sen trong
thế giới Tây Phương có khắc tên họ pháp
sư Viên Chiếu. V́ thế, ông ta biết Sư trong tương
lai quyết định văng sanh, nên đặc biệt đến
lễ dưới ṭa, cúng dường.
(Sớ) Giáo như Tăng Duệ
hoằng phụ Thập sư, nhi liên hoa xuất tháp.
(疏) 教,如僧叡弘輔什師,而蓮華出榻。
(Sớ: Giáo th́
như ngài Tăng Duệ giúp ngài La Thập hoằng truyền,
giường nẩy hoa sen).
Đây là nói về Giáo Hạ. Tăng
Duệ là một người lỗi lạc, Ngài là một
trong bốn đại đệ tử của Cưu Ma La
Thập đại sư[7].
Khi ấy, Ngài giúp Cưu Ma La Thập đại sư dịch
kinh, học vấn, đạo đức vô cùng tốt đẹp.
Sau khi pháp sư La Thập văng sanh, ngài Tăng Duệ sang Lô
Sơn theo Huệ Viễn đại sư niệm Phật.
Ngài cũng biết trước lúc mất, khi mất báo trước
với mọi người khi nào Ngài sẽ ra đi. Ngài hướng
về Tây, chắp tay mà tịch. Mọi người thấy
trước cái giường Ngài đang ngồi có một đóa
sen vàng, chợt ẩn, chợt hiện, lại c̣n có mây mù
ngũ sắc từ pḥng Ngài chầm chậm trôi ra. Đấy
là tướng lành văng sanh.
(Sớ) Tứ Minh trung hưng Thai
giáo, nhi Tây hướng tọa vong.
(疏) 四明中興台教,而西向坐亡。
(Sớ: Ngài Tứ
Minh trung hưng giáo nghĩa Thiên Thai, ngồi hướng mặt
về Tây mà tịch).
Tứ Minh tôn giả chú sớ rất
nhiều, là bậc đại sư trung hưng tông Thiên
(Sớ) Luật như Linh Chi, sanh
hoằng Tỳ Ni, nhi tử sanh An Dưỡng.
(疏) 律,如靈芝,生弘毗尼,而死生安養。
(Sớ: Luật
như Linh Chi, sống hoằng dương Luật Tạng,
thác sanh An Dưỡng).
Đây là người học giới
luật. Linh Chi Luật Sư suốt đời hoằng
dương giới luật, nhưng chính ḿnh niệm Phật
văng sanh Tịnh Độ.
(Sớ) Thanh Chiếu đại
xiển Luật học, nhi thuyết kệ Tây quy.
(疏) 清照大闡律學,而說偈西歸。
(Sớ: Ngài Thanh Chiếu
xiển dương Luật học rộng lớn, nói kệ
về Tây).
Đời Tống, Thanh Chiếu
Luật Sư là học tṛ của Linh Chi Luật Sư. Tuy
Ngài suốt đời hoằng dương giới luật,
nhưng chính Ngài niệm Phật sáu mươi năm. Khi lâm
chung, nói một bài kệ: “Di
Đà khẩu khẩu xưng”, xưng niệm, “bạch hào niệm niệm
tưởng”, thường tưởng tướng bạch
hào của A Di Đà Phật tỏa ánh sáng, “tŕ thử bất thoái tâm”, chỉ cần quư vị
niệm Phật, tưởng Phật không ngă ḷng, “quyết định sanh An Dưỡng”,
An Dưỡng là Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Nói xong, Ngài văng sanh.
(Sớ) Nhược quảng cử
giả, bất khả thắng số.
(疏) 若廣舉者,不可勝數。
(Sớ: Nếu kể
rộng răi th́ chẳng kể xiết).
Nếu nói rộng răi sẽ nhiều
lắm, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, các bộ
truyện kư văng sanh ghi chép [các nhân vật] trải các đời
hết sức nhiều!
(Sớ) Cửu lưu giả, vị
Nho, Đạo, nông, công, y, bốc đẳng dă.
(疏) 九流者,謂儒道農工醫卜等也。
(Sớ: “Cửu
lưu” là Nho, Đạo, nông dân, thợ thuyền, thầy
thuốc, thầy bói v.v...)
Người trong tam giáo cửu
lưu[8] niệm Phật
văng sanh cũng hết sức đông đảo!
(Sớ) Nho, như Văn Lộ Công,
đức nghiệp măn triều, nhi kết thập vạn
đồng sanh chi duyên.
(疏) 儒,如文潞公,德業滿朝,而結十萬同生之緣。
(Sớ: Nho như
Văn Lộ Công đức hạnh công nghiệp trùm khắp
triều đ́nh, [đề xướng hội niệm Phật]
kết duyên văng sanh với một vạn người).
Đây là Văn Ngạn Bác, Tể
Tướng đời Tống, vị này cũng niệm Phật
văng sanh.
(Sớ) Tô Trưởng Công, văn hạnh tuyệt
thế, nhi hữu Tây Phương Công Cứ chi thuyết.
(疏) 蘇長公,文行絕世,而有西方公據之說。
(Sớ: Tô Trưởng
Công văn chương, hạnh nghiệp tuyệt thế,
có câu nói “Tây Phương Công Cứ”).
Chữ
長 phải đọc âm “Zhǎng” (âm Hán Việt là Trưởng), là anh cả. Tô
Trưởng Công là Tô Đông Pha. Tô Đông Pha có ba anh em[9],
ông ta là anh cả, nên người đời sau gọi ông
ta là Trưởng Công. Tô Đông Pha mỗi khi đến một
nơi nào, đều đem theo một bức tượng
vẽ A Di Đà Phật. Người ta hỏi ông ta: “Đấy
là ǵ vậy?” Ông ta nói: “Đây là công cứ để sanh về
Tây Phương của ta”. Từ ngữ “Tây Phương công cứ” do ông ta nói ra đầu
tiên. Trên thực tế, ông ta trọn chẳng văng sanh, v́ sao
chẳng thể văng sanh? Tập khí văn học quá nặng,
gây chướng ngại. Sở Tri Chướng quá nặng,
cho nên ông ta chẳng thể văng sanh.
(Sớ) Đạo như Cát Tế
Chi xả Tiên học nhi hồi tâm Tịnh nghiệp.
(疏) 道,如葛濟之捨仙學而回心淨業。
(Sớ: Đạo như Cát Tế Chi bỏ đạo
Tiên, hồi tâm tu Tịnh nghiệp).
Cát Tế Chi đời Tống,
[theo Tịnh Độ Thánh Hiền Lục] “Cú Dung nhân, cửu sự Tiên học” (người
xứ Cú Dung, theo học đạo Tiên đă lâu). Ông ta là người
Giang Tây, lúc đầu học Đạo (tu Tiên). Vợ ông
ta là người niệm Phật. Có một năm, bà vợ
đang dệt vải, bỗng nhiên thấy A Di Đà Phật
và Quán Âm, Thế Chí, hải hội đại chúng đều
hiện trên không trung. Bà vợ vội lễ bái, lại c̣n
chỉ lên trời bảo Cát Tế Chi hăy xem, chính ông ta thấy
A Di Đà Phật hiện nửa thân, nên tin tưởng, chẳng
học Đạo nữa, mà chuyên môn niệm Phật. Có câu
chuyện như vậy!
(Sớ) Loan pháp sư phần Tiên
kinh nhi chuyên tu Quán Kinh.
(疏) 鸞法師焚仙經而專修觀經。
(Sớ: Pháp sư
Đàm Loan đốt kinh Tiên để chuyên tu Quán Kinh).
Vào thời đại Hậu Ngụy[10], ngài Đàm Loan
là một vị đại sư lỗi lạc trong Tịnh
Độ Tông, ham thích trường sinh bất lăo, nên học
Đạo từ nhỏ, tu Tiên. Về sau, Sư gặp một
vị cao tăng từ Ấn Độ tới Trung Quốc
là ngài Bồ Đề Lưu Chi, vị pháp sư này cũng
phiên dịch không ít kinh điển. Ngài Đàm Loan bèn hỏi
pháp sư: “Trong Phật giáo có phương pháp trường
sinh bất tử hay chăng?” Ngài Bồ Đề Lưu
Chi nói: “Trường sinh bất tử chỉ riêng Phật
giáo có, trừ Phật giáo ra, đâu có ǵ thật sự là trường
sinh bất tử?” Sư nghe nói, tin tưởng. Do vậy,
ngài Bồ Đề Lưu Chi bèn trao cho Sư một quyển
Thập Lục Quán Kinh, tức là Quán Vô Lượng Thọ
Phật Kinh, dặn Sư hăy chiếu theo phương pháp ấy
tu học. Sư đốt sạch những kinh tu Tiên trước
kia, chuyên tu Thập Lục Quán Kinh, tu thành công. Pháp sư Đế
Nhàn có chú giải Thập Lục Quán Kinh, dựa theo bộ
Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Diệu Tông Sao[11] để chú giải.
Diệu Tông Sao rất sâu, người sơ học chẳng
dễ ǵ đọc hiểu được! Pháp sư Đế
Nhàn là tổ sư trong tông Thiên Thai, hóa sâu thành đơn giản,
dễ hiểu, kẻ sơ học đọc đến đều
hiểu được!
(Sớ) Năi chí Tử Chương
chi nghiệp Kỳ Hoàng nhi niệm Phật.
(疏) 乃至子章之業岐黃而念佛。
(Sớ: Cho đến
Tử Chương theo nghề y[12], nhưng niệm Phật).
Đời Nguyên, Ngô Tử Chương
làm thầy lang chữa bệnh, suốt đời niệm
Phật; khi lâm chung chẳng ngă bệnh, niệm Phật qua
đời.
(Sớ) Trương Thuyên Chi hà lỗi
tỷ nhi xưng danh.
(疏) 張銓之荷耒耜而稱名。
(Sớ: Trương
Thuyên Chi vác cày xưng danh).
Đời Tấn, Trương
Thuyên Chi là nông phu cày ruộng. Ông ta là người đọc
sách, hết sức thanh cao, không muốn làm quan, quay về nhà
cày cấy. Tuy làm ruộng, ông ta thường mang theo kinh sách,
để trong lúc nghỉ tay cày bừa sẽ đọc
kinh Phật. Về sau, ông ta cũng tham dự Lô Sơn liên
xă của Huệ Viễn đại sư. Mỗi người
trong liên xă niệm Phật văng sanh đều biết trước
lúc mất, không bệnh tật, qua đời.
(Sớ) U như minh quân kính lễ.
(疏) 幽如冥君敬禮。
(Sớ: “U” là như vua cơi Âm
kính lễ).
Vua Diêm La lễ tượng thiền
sư Vĩnh Minh Diên Thọ.
(Sớ) La Sát hưu tâm.
(疏) 羅剎休心。
(Sớ: La Sát nguôi ḷng).
Trong phần trước đă
nhắc tới câu chuyện này. Quỷ La Sát muốn ăn thịt
người, khiến cho người nơi ấy ai nấy
đều hoảng sợ, chẳng yên ổn. Do vậy, quốc
vương ước định với quỷ La Sát, mỗi
ngày trao cho quỷ ăn thịt một người. Mỗi
nhà luân phiên, như vậy th́ mọi người mới yên
dạ đôi chút. Có một ngày, nhà nọ chỉ có đứa
con độc nhất, cả nhà người ấy niệm
Phật. Luân lưu đến phiên, chỉ đành đem đứa
con nhỏ giao cho quỷ La Sát. Khi đưa đi, cha mẹ
lại dặn con hăy nhất tâm niệm Phật, niệm Phật
nhất định đừng để gián đoạn. V́
thấy nó niệm Phật, quỷ La Sát chẳng dám tới
gần, nên chẳng có cách nào xơi nó được! Ngày hôm
sau, người nhà thấy nó vẫn c̣n sống, hỏi
nguyên do? Nó nói: “Quỷ La Sát đến rồi lại đi!”
Không chỉ bỏ đi, mà từ đấy về sau, quỷ
La Sát chẳng quấy nhiễu! Niệm Phật có thể
khiến cho quỷ thần lánh xa, chẳng dám léo hánh, chẳng
dám quấy nhiễu, sức mạnh của Phật hiệu
chẳng thể nghĩ bàn! Quư vị phải chí tâm xưng
niệm! Quư vị vừa niệm Phật vừa dấy vọng
tưởng, sẽ chẳng có sức mạnh, quỷ La Sát
trông thấy vẫn có thể bắt nạt quư vị v́ tâm
quư vị chẳng chân thành! Miệng có, tâm không, Phật hiệu
chẳng linh, tâm và miệng phải giống hệt như
nhau!
(Sớ) Thánh.
(疏) 聖。
(Sớ: Thánh).
Nói tới thánh nhân.
(Sớ) Như Văn Thù cầu sanh,
Phổ Hiền nguyện văng.
(疏) 如文殊求生,普賢願往。
(Sớ: Như
Văn Thù cầu được sanh về, Phổ Hiền
nguyện được về tới).
Kinh
Hoa Nghiêm nói Văn Thù, Phổ Hiền Bồ Tát cầu sanh Tịnh
Độ.
(Sớ) Huống hiển dữ
phàm, bất đăi luận hỹ.
(疏) 況顯與凡,不待論矣。
(Sớ: Huống hồ
hiển và phàm, chẳng cần phải nói nữa).
“Huống”
là huống chi, “hiển” (người
trong cơi dương gian), “phàm”
(phàm phu) chẳng cần phải nói nữa!
(Sớ) Triều Đông giả,
hội cực nghĩa.
(疏) 朝東者,會極義。
(Sớ: Xuôi về
Đông, có nghĩa là quy tụ về nơi cùng tột)
Câu này nhằm giải thích câu “như vạn thủy vô bất triều
Đông” (như muôn ḍng, chẳng ḍng nào không xuôi về Đông).
Địa h́nh Trung Quốc, phía Đông là Thái B́nh
Dương, tất cả các con sông đều chảy về
phía Đông.
(Sớ) Củng Bắc giả, tông
bổn nghĩa.
(疏) 拱北者,宗本義。
(Sớ: Chầu về
phương Bắc, nghĩa là đề cao cái gốc).
Sao Bắc Cực (Pole star, North
star) trên trời được dùng để xác định
phương hướng, v́ nó di động với biên
độ nhỏ nhất.
(Sớ) Dụ Tịnh Độ
vi Chân Tế sở nghệ, thế tất hướng văng.
(疏) 喻淨土為真際所詣,勢必向往。
(Sớ: Sánh ví Tịnh
Độ là chỗ để Chân Tế quay về, thế
ắt phải hướng tới).
Chân Tế là chân lư; đó gọi
là “thù đồ đồng quy”
(khác đường nhưng về cùng một chỗ),
không ǵ chẳng quy hướng Tịnh Độ.
(Sớ) Phi cưỡng chi sử
nhiên dă.
(疏) 非強之使然也。
(Sớ: Chẳng phải do cưỡng ép mà thành ra
như vậy).
Đây chẳng phải là miễn
cưỡng, là chuyện thực tại, chẳng miễn
cưỡng tí nào.
(Sớ) Tiệp kính, phổ môn,
giải kiến tiền văn.
(疏) 捷徑普門,解見前文。
(Sớ: Xem lời
giải thích của “đường tắt” và Phổ Môn
trong phần trước).
Trong phần trước đă
nói, pháp môn Niệm Phật thẳng tắt nhất trong hết
thảy các pháp môn, nhanh chóng nhất, chẳng có pháp môn nào
nhanh hơn pháp môn này. Do vậy, Niệm Phật cũng được
gọi là Phổ Môn.
(Sớ) Trùng ngôn kết chi, minh bất
hư dă.
(疏) 重言結之,明不虛也。
(Sớ:
Lặp lại để kết luận th́ rơ ràng [pháp môn
này] chẳng hư luống vậy).
Đây là nhắc lại lần
nữa để kết luận khuyên lơn: Pháp môn Niệm
Phật chân thật, chẳng dối, chúng ta ngàn vạn phần
đừng để luống qua!
(Sớ) Quyết chí giả, Đại
Bổn vân: “Thiết hữu đại hỏa, sung măn tam
thiên đại thiên thế giới, yếu đương
quá thử, sanh bỉ quốc độ, tắc quyết
định kỳ chí, vô thoái khiếp dă”.
(疏) 決志者,大本云:設有大火,充滿三千大千世界,要當過此,生彼國土,則決定其志,無退怯也。
(Sớ: “Quyết chí”
là như kinh Đại Bổn chép: “Nếu có lửa lớn
đầy dẫy khắp tam thiên đại thiên thế giới,
cũng phải vượt qua, sanh về cơi ấy, quyết
định ư chí, chẳng lui sụt, khiếp nhược”).
Quư vị phải hạ quyết
tâm kiên định, phải lập chí hướng này: Trong đời
này, ta nhất định sanh về Tịnh Độ! Đă
đặt vững quyết tâm ấy, quư vị phải biết:
Hết thảy muôn duyên thế gian và xuất thế gian đều
phải buông xuống. Hễ có chuyện ǵ quư vị chẳng
buông xuống được, sẽ chẳng thể văng sanh.
Chuyện ấy là chướng ngại to lớn của chính
ḿnh, mà cũng khiến cho chính ḿnh suốt đời tiếc
nuối. Không chỉ là tiếc nuối một đời, mà
là đời đời kiếp kiếp tiếc nuối. Pháp
môn này chẳng dễ ǵ gặp gỡ! Bài Khai Kinh Kệ có câu:
“Bách thiên vạn kiếp nan tao
ngộ”, chẳng giả tí nào! Do vậy, khuyến khích quư
vị hạ vững quyết tâm, lập chí hướng chắc
chắn. Trừ pháp môn này ra, ta tạm thời buông các pháp
môn khác xuống, chẳng tu. Trừ bộ kinh điển này
ra, những kinh điển khác cũng buông xuống, ta tạm
thời chẳng niệm. Xem trong những phần trước,
người ta suốt đời niệm kinh Di Đà, niệm
mấy chục vạn biến. Nếu chúng ta buông những
chuyện khác xuống, chúng ta sẽ có thể đạt được
những thành tựu giống như cổ nhân.
(Sớ) Nghĩ nghị giả.
(疏) 擬議者。
(Sớ: Toan tính, bàn định...)
“Nghĩ”
(擬) là hoài nghi.
(Sớ) Dịch viết: “Nghĩ chi nhi hậu ngôn,
nghị chi nhi hậu động”. Kim vị bất tu
nghĩ nghị.
(疏) 易曰:擬之而後言,議之而後動。今謂不須擬議。
(Sớ: Kinh Dịch
dạy: “Toan tính rồi mới nói, bàn định rồi mới
hành động”. Nay nói chẳng cần phải băn
khoăn, bàn định nữa).
Chẳng cần phải suy tính,
bàn định, mà hăy mau hạ quyết tâm.
(Sớ) Tích nhân hữu ngôn: “Bốc
dĩ quyết nghi, bất nghi hà bốc”.
(疏) 昔人有言:卜以決疑,不疑何卜。
(Sớ: Xưa kia có
người nói: “Bói toán để dứt ḷng nghi hoặc, nếu
chẳng nghi hoặc th́ bói để làm ǵ?”)
Đây là chuyện thời Đường
Thái Tông. Chúng ta căn bản là chẳng có hoài nghi, chẳng
cần phải bói toán!
(Sớ) Niệm Phật văng sanh, đản
đế tín bất nghi nhi dĩ, hà phục nghĩ nghị
vi tai.
(疏) 念佛往生,但諦信不疑而已,何復擬議為哉。
(Sớ: Niệm Phật
văng sanh chỉ nên tin tưởng chắc chắn, chẳng
nghi ngờ mà thôi, cần ǵ phải băn khoăn, bàn định
nữa ư?)
Chớ nên hoài nghi, chớ nên thảo
luận, hăy mau hạ quyết tâm niệm Phật, nhất
định thành tựu trong một đời này. Hôm nay đă
hết thời gian rồi.
Tập 92
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm sáu mươi
tám[13].
Cửu,
tổng thích danh đề.
九、總釋名題。
(Chín, giải thích chung tên gọi
của kinh).
Phần Tổng
Thích Danh Đề chia thành hai đoạn lớn.
Sơ,
đề nghĩa, nhị, dịch nhân.
初、題義,二、譯人。
(Một là ư nghĩa của tựa
đề kinh, hai là nói về người dịch)
Đoạn
lớn thứ nhất giải thích tựa đề bản
kinh, đoạn lớn thứ hai nói về người phiên
dịch, tức Cưu Ma La Thập đại sư.
Như
thượng bát môn tự nghĩa, dĩ tri nhất kinh
đại chỉ. Kim dục thích văn, tiên minh tổng
đề, sử hữu cương lănh. Cố thứ chi,
dĩ tổng thích danh đề.
如上八門敘義,已知一經大旨。今欲釋文,先明總題,使有綱領,故次之以總釋名題。
(Do những ư nghĩa được
tŕnh bày trong tám môn như trên, đă biết được
ư chỉ chung của kinh này. Nay sắp giải thích kinh
văn, trước hết giảng rơ tựa đề
chung của bản kinh, nhằm làm cho người đọc
biết được cương lănh. V́ thế, tiếp
theo đây là phần Tổng Thích Danh Đề).
Đoạn
này nhằm tŕnh bày nguyên do có đoạn lớn này: V́ sao phải
có đoạn này, trước hết, nêu ra rơ ràng. Tám môn trên
đây là phần Huyền Nghĩa của kinh này, nói theo cách
bây giờ, đó là phần khái yếu, khái thuyết, khái luận
của kinh Di Đà, chúng tôi đă giảng xong, đă nói rất
rơ ràng minh bạch tông chỉ nghĩa thú của bộ kinh này.
Tới lúc này mới thật
sự bước vào kinh văn. Trong kinh văn, trước
tiên giới thiệu đề mục, v́ đề mục
là tổng cương lănh của cả bộ kinh, rất
giống với tựa đề của một bài văn,
hết sức quan trọng.
(Kinh)
Phật thuyết A Di Đà Kinh.
(經) 佛說阿彌陀經。
(Chánh
kinh: Phật Thuyết A Di Đà Kinh).
Phần Sớ
dưới đây là lời chú giải.
(Sớ)
Đề nghĩa hữu tứ.
(疏) 題義有四。
(Sớ:
Phần giảng về ư nghĩa của tựa đề
kinh gồm bốn đoạn).
Trong phần
này có bốn đoạn, chia ra như thế nào? Đoạn
thứ nhất là Phật, một chữ là một đoạn,
đoạn thứ hai là Thuyết, đoạn thứ ba là A
Di Đà, đoạn thứ tư là Kinh.
(Sớ)
Sơ, năng thuyết Phật.
(疏) 初、能說佛。
(Sớ:
Một, vị Phật nói kinh này).
“Phật” là Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni Phật.
(Sớ)
Nhị, chánh minh thuyết.
(疏) 二、正明說。
(Sớ:
Hai, giải thích chữ Thuyết).
“Chánh” là [kinh này] do Thích Ca Mâu Ni
Phật nói.
(Sớ)
Tam, sở thuyết Phật.
(疏) 三、所說佛。
(Sớ:
Ba, đức Phật được nói đến)
Đoạn
thứ ba là nội dung được nói. Thích Ca Mâu Ni Phật
nói ǵ vậy? Nói tới Tây Phương Cực Lạc thế
giới A Di Đà Phật, giới thiệu Tây Phương
Cực Lạc thế giới cho chúng ta.
(Sớ)
Tứ, kết thuyết danh.
(疏) 四、結說名。
(Sớ:
Bốn, kết lại để nêu tên kinh).
Đấy
là Kinh.
(Sớ)
Ngôn thử độ Thích Ca Mâu Ni Phật.
(疏)
言此土釋迦牟尼佛。
(Sớ: Nói đến Thích Ca
Mâu Ni Phật trong cơi này).
“Thử” (đây) là đối
với “bỉ” (kia) mà nói, v́
A Di Đà Phật không ở trong thế giới này. Thông thường
chúng ta nói đến “thế giới”, trong quan niệm của
người b́nh thường, [chữ “thế giới”] chỉ
quả địa cầu này; thật ra, trong Phật pháp, phạm
vi của từ ngữ này to hơn rất nhiều. Chẳng
phải chỉ là một địa cầu, mà “thế giới”
trong Phật pháp là một Ngân Hà Hệ như chúng ta nói trong
hiện tại, số lượng tinh cầu trong ấy đúng
là chẳng biết rơ. Kinh Phật thường nói là “tam thiên đại thiên thế giới”.
Tam thiên đại thiên thế giới là khu vực giáo hóa của
một đức Phật, như vậy th́ Phật có diệt
độ hay không? Không có, Phật chẳng diệt độ.
Chúng ta nói “Phật diệt
độ” là nói theo địa cầu này: Thích Ca Mâu Ni Phật
xuất hiện, Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ. Nếu
nói theo đại thế giới, đức Phật chẳng
diệt độ, đức Phật diệt độ trên
quả địa cầu này, lại xuất hiện trên một
tinh cầu khác, chuyện là như thế đó! Do vậy, Phật
quả thật bất sanh bất diệt, chúng ta phải nên
biết điều này.
A Di
Đà Phật chẳng thuộc vào Ngân Hà Hệ này, mà thuộc
một tinh hệ (galaxy) khác. Tinh hệ ấy cách chúng ta hết
sức xa xôi, kinh nói “mười
vạn ức cơi Phật”. Nếu mỗi cơi Phật là một
Ngân Hà Hệ, chúng ta thuộc Ngân Hà này, Ngân Hà của Tây
Phương Cực Lạc thế giới ở bên đó, ở
giữa [hai tinh hệ] có mười vạn ức Ngân Hà Hệ,
khoảng cách quá ư xa xôi. Những nhà khoa học hiện
thời vắt óc suy nghĩ [chẳng t́m ra] cách nào, muốn
ngồi phi thuyền cũng chẳng đến được,
khoảng cách thật sự quá xa xôi. Tuy xa xôi, chúng ta muốn
tới vẫn chẳng khó, vẫn là rất dễ. Đấy
là nói về “thần thức”
(tục ngữ gọi là “linh hồn”),
tốc độ của thần thức vô cùng nhanh, bất
luận phương tiện giao thông khoa học kỹ thuật
ǵ cũng chẳng có cách nào sánh bằng, chỉ trong một
cái khảy ngón tay, hay trong một niệm có thể từ thế
giới này văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
V́ thế, đừng nên sợ khoảng cách xa xôi, chớ
nên bận ḷng! Đấy là Thích Ca Mâu Ni Phật...
(Sớ)
Thuyết bỉ độ A Di Đà Phật y chánh trang
nghiêm.
(疏)
說彼土阿彌陀佛依正莊嚴。
(Sớ: Nói về y báo và chánh
báo trang nghiêm của A Di Đà Phật trong cơi kia).
“Y” là hoàn cảnh, nói tới hoàn
cảnh sống ở bên kia. “Chánh”
là nói tới thân thể chúng ta, thân thể là chánh báo. Dung mạo,
sự khỏe mạnh, sự trường thọ nơi
thân thể này đều là chánh báo của thân. Y báo là hoàn cảnh
vật chất. Giới thiệu Tây Phương Cực Lạc
thế giới A Di Đà Phật và nhân dân bên ấy, đó
là “y chánh trang nghiêm”, nhằm
mục đích ǵ?
(Sớ)
Tín nguyện văng sanh chi kinh dă.
(疏) 信願往生之經也。
(Sớ: [Đây là] kinh tín nguyện
văng sanh).
Khuyên
chúng ta phải tin tưởng, khuyên chúng ta phát nguyện,
phát nguyện ǵ? Chúng ta di dân sang Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Hiện tại có rất nhiều người
di dân sang ngoại quốc, tôi thấy họ rất khổ.
Ở ngoại quốc, áp lực trong cuộc sống rất
nặng, Hoa kiều ở ngoại quốc chẳng hạnh
phúc! Do vậy, chúng ta nên di dân sang Tây Phương Cực Lạc
thế giới, đấy mới là cơi nước thật
sự yên ổn, c̣n nước Mỹ chắc chắn chẳng
an ổn.
(Sớ)
Thống quát đại ư, thứ năi ly thích.
(疏)
統括大意,次乃離釋。
(Sớ: Nêu đại ư tổng
quát rồi mới tách ra từng điều để giải
thích).
Trước
hết, nêu lên đại ư. “Ly
thích” là giải thích từng đoạn một. Phần
dưới là Sao, Sao là chú giải của lời Sớ. Sớ
và Sao đều do Liên Tŕ đại sư viết. Sau khi
đại sư viết chú giải cho kinh này, v́ lời chú
giải khá sâu, sợ người đời sau nghiên cứu
gặp khó khăn, nên Ngài lại tự viết thêm lời
chú giải cho bản chú giải, chú giải lời chú giải
gọi là Sao. Nếu văn tự trong lời Sao dễ hiểu,
minh bạch, chúng tôi sẽ tỉnh lược, chẳng giảng
cặn kẽ, có chỗ nào khó th́ chúng tôi sẽ nêu ra để
nghiên cứu, thảo luận.
(Sao)
Thống quát giả, tiên thả lược biểu toàn
văn, sử huyết mạch quán thông, ư nghĩa cụ túc.
(鈔)
統括者,先且略表全文,使血脈貫通,意義具足。
(Sao:
“Thống quát” là trước hết nêu đại lược
ư nghĩa được biểu thị trong toàn bộ bản
kinh, khiến cho [người đọc] thông suốt điều
cốt lơi, ư nghĩa trọn đủ).
Đây là
ư nghĩa của chữ “thống
quát”.
(Sao)
Thứ năi nhất nhất ly nhi thích chi.
(鈔)
次乃一一離而釋之。
(Sao: Kế đó bèn tách ra thành
từng điều một để giải thích).
“Ly thích” là đem tên kinh Phật
Thuyết A Di Đà Kinh chia thành bốn đoạn, giải
thích tường tận từng đoạn một.
(Sao )
Đề chỉ Phật danh.
(鈔) 題止佛名。
(Sao: Tên kinh chỉ có danh hiệu Phật).
Bộ kinh này dùng danh
hiệu Phật làm tựa đề.
(Sao)
Nhi ngôn y chánh đẳng giả, Quán Kinh “ngôn Phật tiện
châu”, kim cử Phật danh, nhiếp vô bất tận cố.
(鈔)
而言依正等者,觀經言佛便周,今舉佛名,攝無不盡故。
(Sao: Mà nói là y báo, chánh báo v.v... v́
như Quán Kinh đă dạy “hễ nói tới Phật liền
trọn đủ”, nay nêu lên danh hiệu Phật sẽ nhiếp
trọn hết, chẳng sót điều ǵ).
Trong tựa
đề kinh chẳng nói tới y báo và chánh báo trang nghiêm, chỉ
nói tới danh hiệu Phật. Tuy chẳng nói tới y báo và
chánh báo trang nghiêm, nhưng hễ nói tới Phật th́ y báo
và chánh báo trang nghiêm đều gồm trọn trong ấy.
Tuy tỉnh lược về mặt ngôn ngữ, nhưng ư nghĩa
hết sức hoàn chỉnh, toàn vẹn.
“Ly thích” là tách ra để giảng.
Chúng ta phải đặc biệt lưu ư chỗ này, v́
không riêng ǵ người niệm Phật cần phải biết,
đó cũng đồng thời là Phật học thường
thức, chúng ta hiểu rơ th́ mới chẳng đến nỗi
nẩy sanh hiểu lầm đối với Phật giáo.
(Sao)
Thứ ly thích dă.
(鈔) 次離釋也。
(Sao:
Kế đó là tách ra từng điều để giải
thích).
Tách ra để
giảng, trước hết giảng chữ Phật.
(Sớ)
Phật giả, Phạm ngữ cụ vân Phật Đà, thử
vân Giác Giả.
(疏) 佛者,梵語具云佛陀,此云覺者。
(Sớ: “Phật”, tiếng Phạn
nói đầy đủ là Phật Đà, cơi này dịch là
Giác Giả).
“Cụ” là xưng hô đầy
đủ, tức nói đầy đủ th́ [Phật] là Phật
Đà Da (Buddhaya). Chúng ta dịch Phạn văn của Ấn
Độ sang tiếng Hán, “Phật
Đà Da” gọi thành Phật là do tỉnh lược.....Người
Hoa thích đơn giản, chẳng thích rườm rà, v́ thế,
dịch tiếng ngoại quốc [sang tiếng Hán] cũng
rất đơn giản. Từ ngữ Phật Đà Da bỏ
bớt âm cuối, giữ lại một chữ Phật!
(Sớ)
Thử vân Giác Giả.
(疏) 此云覺者。
(Sớ:
Cơi này dịch là Giác Giả).
Phật Đà
Da nghĩa là ǵ? “Giác” có nghĩa
là trí huệ giác ngộ.
(Sớ)
Bị tam giác cố.
(疏) 備三覺故。
(Sớ:
Do trọn đủ ba ư nghĩa giác).
Đầy
đủ ba ư nghĩa Giác.
(Sớ)
Hựu vân Trí Giả, vô bất tri cố.
(疏)
又云智者,無不知故。
(Sớ:
C̣n dịch là Trí Giả, v́ không ǵ chẳng biết).
Trong ư nghĩa
của chữ “Phật”, có ư nghĩa Giác và ư nghĩa Trí,
hai thứ ư nghĩa.
(Sớ)
Hựu Phật giả, thập hiệu chi nhất.
(疏) 又佛者,十號之一。
(Sớ:
Lại nữa, Phật là một trong mười hiệu).
Phật có
mười hiệu. Trong mười hiệu ấy có một
hiệu là Phật, tức là Phật Đà.
(Sớ)
Hựu Phật Địa minh thập nghĩa Phật, Thiên
Thai minh Lục Tức Phật, Hoa Nghiêm minh thập thân Phật.
(疏)
又佛地明十義佛,天台明六即佛,華嚴明十身佛。
(Sớ: Lại nữa, Phật
Địa Luận nói tới mười ư nghĩa của
chữ Phật, tông Thiên Thai nói tới Lục Tức Phật,
kinh Hoa Nghiêm nói về mười thân Phật).
“Minh” là nói rơ. Trong Phật Địa
Luận[14] có nói về mười ư nghĩa của
chữ Phật. Trong bản chú giải kinh Pháp Hoa, Thiên Thai Trí
Giả có nói sáu loại Phật, gọi là Lục Tức Phật.
Trong kinh Hoa Nghiêm có giảng mười loại Phật, gọi
là “thập thân Phật”.
(Sớ)
Cố Phật giả, thiên trung thiên, thánh trung thánh.
(疏) 故佛者,天中天,聖中聖。
(Sớ:
V́ thế, Phật là trời của các vị trời, là
thánh của các bậc thánh).
Đây là
tôn xưng Phật, tôn xưng Ngài “thiên trung thiên”, là bậc thánh của chư thánh.
(Sớ)
Phàm đơn ngôn Phật giả, tức Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni dă.
(疏)
凡單言佛者,即本師釋迦牟尼也。
(Sớ: Nếu chỉ nói một
chữ Phật th́ chính là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật).
Chỉ nói một chữ Phật, tức là nói tới vị thầy căn bản của chúng ta là Thích Ca Mâu Ni Phật, giống như trong tựa đề kinh này.
(Sao)
Phạm giả, tịnh dă.
(鈔) 梵者,淨也。
(Sao:
“Phạm” là tịnh).
Người
Ấn Độ, cổ nhân Ấn Độ tự xưng
họ là hậu duệ của Đại Phạm Thiên
(Brahma), do vậy, ngôn ngữ của họ được
gọi là Phạm ngữ, văn tự gọi là Phạm
văn. Cách nói này cũng chẳng phải là không có đạo
lư, truyền thuyết từ cổ nói tổ tiên họ từ
trời giáng xuống, tức là Phạm Thiên giáng xuống. Theo
Tiến Hóa Luận (Theory of Evolution), tổ tiên của nhân
loại là vượn và khỉ, do vượn và khỉ tiến
hóa [thành người]; trong Phật pháp chẳng nói “tiến
hóa”. Đức Phật bảo chúng ta, tổ tiên của nhân
loại do đâu mà có? Từ Quang Âm Thiên (Ābhāsvara)[15] tới. Người từ Quang Âm Thiên tới
địa cầu này, tới nơi này, khi ấy trên địa
cầu có một loại thực vật gọi là “địa ph́” vô cùng thơm
ngon, họ rất thích ăn thứ này. Sau khi ăn nhiều,
họ bị mất thần thông phi hành (đi lại bằng
cách bay lượn), đi không được! V́ sao? Khởi
lên tâm tham, tham ái nơi này, nên không trở về được.
Sau khi không trở về được, ở lại nơi
này, cho nên con người do đấy mà có. Do vậy, tổ
tiên của con người là chư thiên cơi Quang Âm Thiên. Theo Phật
pháp, Sơ Thiền là Phạm Thiên, Nhị Thiền là Quang Âm
Thiên. Do vậy, truyền thuyết của Cổ Ấn Độ
hết sức gần gũi [với kinh Phật]. “Phạm” có nghĩa là thanh tịnh.
(Sao)
Đối Hoa danh Phạm, văn chất chi vị dă.
(鈔)
對華名梵,文質之謂也。
(Sao: So với tiếng Hán nên gọi
là Phạm, ngụ ư văn chương lẫn nội dung
đều hay đẹp).
“Phạm bổn”: Kinh Phật
nguyên văn viết bằng Phạn văn (Sankrit). “Đối Hoa danh Phạm”, “Hoa” là tiếng Hán, “đối Hoa danh Phạm”, do
so với tiếng Hán mà nói th́ gọi là Phạm. Sách Diễn
Nghĩa giảng: “Văn chất
chi vị giả, Phạm bổn giai Tây Vực chi ngữ,
chất nhi vô văn, dịch dĩ thử phương chi
ngữ, tắc dụng lục kinh, Trang, Lăo chi văn, văn
thái ỷ lệ, hoán nhiên thành chương” (“Văn chất chi vị” [ư nói]:
Bản tiếng Phạn đều dùng ngôn ngữ của Tây
Vực, ư nghĩa phong phú nhưng lời văn thô mộc.
Dịch sang tiếng xứ này, bèn dùng văn chương
trong Lục Kinh[16], Trang, Lăo, văn từ đẹp đẽ,
bóng bẩy, tươi đẹp, tạo thành văn chương
rạng ngời). Phạn văn ư nghĩa phong phú, nhưng
thiếu bóng bẩy, chẳng dùng phương cách tu từ,
câu văn chẳng được tô điểm cho đẹp
đẽ. Tiếng Hán khác hẳn, một tác phẩm
văn chương tiếng Hán sau khi viết xong, phải
được gọt giũa, phải tô điểm câu
văn cho đẹp đẽ. Sự tô điểm ấy
gọi là Văn. “Chất” (質)
là có nội dung, Văn (文) là được tô điểm, trau chuốt,
lúc ấy, mới là văn chương hay đẹp bậc
nhất. Kinh Phật dịch sang tiếng Hán, đích xác là
văn chương lẫn nội dung đều vượt
trỗi!
Sau khi đức
Phật diệt độ một ngàn năm, Phật pháp
truyền tới Trung Quốc. Theo sử sách Trung Quốc
ghi chép, thời điểm xác thực [Phật pháp được
truyền vào Trung Quốc] là lúc hai vị pháp sư Ma Đằng
(Kāśyapa Mātanga) và Trúc Pháp Lan (Dharmaraksa) được
Hán Minh Đế phái đặc sứ thỉnh các Ngài từ
Tây Vực tới Trung Quốc vào năm Vĩnh B́nh thứ
mười đời Hán Minh Đế tức là năm 67 Công
Nguyên, hiện thời là năm 1987, hơn một ngàn chín trăm
năm, Phật giáo đă truyền đến Trung Quốc rất
sớm! Sau này, vào giữa đời Đường, kinh Phật
từ Tây Vực truyền sang Trung Quốc với số lượng
lớn. Pháp sư Trung Quốc sang bên ấy thỉnh kinh, mà
cũng có kinh do pháp sư Ấn Độ đem tới. Có
thể nói là kinh điển hết sức phong phú. Những
kinh luận đem tới, chẳng phải là được
phiên dịch toàn bộ, mà chỉ chọn lọc những thứ
trọng yếu để ưu tiên dịch trước, dịch
sang tiếng Hán.
Nhưng
chư vị có nghĩ nguyên bản Phạn văn đă đi
về đâu hay không? Không c̣n nữa, tại Trung Quốc
đại lục t́m không được nguyên văn một
bộ kinh điển nào bằng tiếng Phạn. Thuở
ấy, kinh lá Bối (bối diệp kinh) được lưu
thông với số lượng lớn, cớ sao ngày nay chẳng
c̣n một bộ nào! Đặt câu hỏi như vậy. Tôi
từng đem vấn đề này thỉnh giáo tiên sinh Phương
Đông Mỹ, sau khi Phương tiên sinh nghe xong, cũng cảm
thấy đây là một câu hỏi đích xác, cụ suy nghĩ,
nghĩ ra câu trả lời. Đối với câu trả lời
do cụ nghĩ ra ấy, tôi cũng rất đồng ư với
cách nói của cụ. Cụ nói: “Người Trung Quốc quá
tự phụ, ḷng tin quá mạnh, cho rằng những kinh
điển người Hán đă phiên dịch, không chỉ
là ư nghĩa hoàn toàn chẳng sai lầm, mà văn tự c̣n được
gọt giũa bóng bẩy hơn bản tiếng Phạn. Đọc
kinh điển bằng tiếng Hán, kinh điển tiếng
Phạn có thể chẳng cần đến nữa!” Đó
là câu trả lời của Phương tiên sinh, tôi nghe cũng
cảm thấy rất hài ḷng, đủ thấy người
Hoa có ḷng tự tin mạnh mẽ.... Người hiện thời
đọc kinh điển bằng tiếng Hán bèn hoài nghi,
không tin, muốn t́m kinh điển bằng tiếng Phạn,
tiếng Anh, hay tiếng Tây Tạng. Đấy đúng là
chuyện đau buồn! [Kinh điển bằng] tiếng
Nhật được dịch từ tiếng Hán ra, [kinh
điển bằng] tiếng Tây Tạng cố nhiên một
phần được dịch trực tiếp từ tiếng
Phạn, nhưng vẫn có một phần được dịch
từ tiếng Hán!
Phật giáo
Tây Tạng trễ hơn Phật giáo Trung Quốc vài
trăm năm. Phật giáo Tây Tạng do Văn Thành Công Chúa[17] đời Đường [sau khi] được
gả về Tây Tạng đă đề xướng. Khi ấy,
vua Tây Tạng mới [phái người] sang Ấn Độ,
sang Trung Quốc thỉnh kinh. Từ thời Hậu Hán tới
đời Đường, tối thiểu phải trễ
hơn sáu, bảy trăm năm, xét về mặt tu học
thành tựu, nói thật ra, Tây Tạng kém hơn Trung Quốc.
Chẳng nói ǵ khác, coi như chúng ta thừa nhận những
đại lạt-ma như Đạt Lại, Ban Thiền
là A La Hán chuyển thế th́ họ mới là A La Hán mà thôi,
trong khi tổ sư các tông, các phái của Trung Quốc đều
là đại Bồ Tát minh tâm kiến tánh, cao trỗi hơn
A La Hán rất nhiều, làm sao A La Hán có thể sánh bằng?
Do vậy, [không tin tưởng kinh điển bằng tiếng
Hán, chạy theo kinh điển bằng tiếng Tây Tạng]
không chỉ là đánh mất ḷng tự tin, mà ngay cả tín
tâm học Phật cũng bị mất, làm sao có thể thành
tựu cho được? Ở ngoại quốc, Mật Tông
rất thịnh hành, nhưng thật ra, Phật học
Trung Quốc chắc chắn không thể kém Tây Tạng. Nói
thật ra, nếu thật sự muốn học Phật phải
học những thứ của Trung Quốc, có thể nói là
kinh điển Phật học bằng tiếng Hán là độc
nhất vô nhị.
Tôi c̣n nhắc
nhở người Mỹ, tôi tiếp xúc người Mỹ
học Phật cũng nhiều, họ cũng giống như
ong vỡ tổ học Thiền, học Mật; v́ thế,
tôi cảnh tỉnh họ, tôi nói thẳng với họ: “Phật
giáo chưa truyền đến Mỹ!” Họ nghe nói, cảm
thấy kỳ quái, hiện thời Phật giáo tại Mỹ
rất thịnh hành. Người Nhật truyền giáo bên đó,
người Nhật có thế lực rất lớn. Chín mươi
phần trăm giáo hội, chùa miếu tại Mỹ là của
người Nhật Bản, Tây Tạng chiếm sáu bảy
phần trăm, Trung Quốc chỉ chiếm hai ba phần
trăm. Người Nhật có thế lực lớn nhất,
chi phối Phật giáo nước Mỹ. Tôi bảo người
Mỹ: “Phật giáo chưa truyền tới Mỹ”. Họ
nghe nói vậy, rất lạ lùng, tôi bèn giải thích: “Quư vị
hăy quan sát cẩn thận một phen, người Hoa thờ
tượng Phật hay tượng Bồ Tát, vừa nh́n bèn
thấy là người Hoa, Phật giáo đă truyền đến
Trung Quốc rồi. Người Nhật thờ tượng
Phật, tượng Bồ Tát, vừa nh́n đă thấy là
người Nhật Bản, lại c̣n đi giầy kiểu
Nhật. Tượng Phật của Thái Lan cằm nhọn,
vừa nh́n đă thấy là người Thái”. Tôi nói: “Quư vị
có khi nào thấy một tượng Phật, tượng Bồ
Tát ở Mỹ giống một người Mỹ hay chăng?”
Tôi nhắc nhở họ: Phật giáo trao cho chúng ta tinh thần
đội trời đạp đất, độc lập,
chẳng phải là để người khác xỏ mũi
lôi đi, đây là chỗ chúng tôi bội phục năm vóc
sát đất đối với Phật pháp.
Người
Nhật truyền bá Phật giáo mang tánh chất xâm lược;
hiện thời họ chẳng dùng vơ lực, chẳng dùng
quân đội xâm lược, mà dùng hai phương pháp tôn
giáo và kinh tế để xâm lược, diệt vong cả
quốc gia của quư vị mà quư vị vẫn chẳng biết.
Dùng Phật pháp để khống chế tư tưởng
của quư vị, nghe theo lời họ, thuận theo sự
sắp đặt của họ, nguy lắm! V́ thế, tôi
cảnh tỉnh người Mỹ, đừng để
họ dùng phương pháp ấy xâm lược. Hiện thời,
người Mỹ dần dần bị mất ḷng tự
tin, nghĩ Nhật Bản tốt đẹp, thứ ǵ của
Nhật Bản cũng là bậc nhất, chúng ta phải cảnh
giác điều này. Do vậy, phải nhận ra văn hóa, ưu
điểm của chính ḿnh, mà cũng phải biết khuyết
điểm của chính ḿnh. Khuyết điểm lớn nhất
của chúng ta trong hiện thời là thiếu ḷng tự
tin, chẳng đoàn kết. Có thể sửa đổi hai
khuyết điểm này, chúng ta sẽ là bậc nhất trên
thế giới, là người lănh đạo thế giới.
(Sao)
Cụ giả, cụ túc, Phạn ngữ đương vân
Phật Đà, bất ngôn Đà giả, tỉnh văn dă.
(鈔)
具者,具足,梵語當云佛陀,不言陀者,省文也。
(Sao: “Cụ” là đầy
đủ. Nói theo tiếng Phạn sẽ là Phật Đà,
[trong tiếng Hán] chẳng nói chữ Đà là v́ tỉnh
lược).
“Tỉnh văn” là tỉnh
lược. Người Trung Quốc chuộng đơn
giản, thích tỉnh lược. Do vậy, họ tỉnh
lược âm cuối của chữ Phật Đà Da, chỉ
nói là Phật.
(Sao)
Dịch dĩ Chấn Đán nhi ngôn, tắc vân Giác Giả.
(鈔)
譯以震旦之言,則云覺者。
(Sao: Dịch sang tiếng
Trung Hoa sẽ là “bậc giác ngộ”).
Vào thời
cổ, người ngoại quốc gọi Trung Hoa là “Chấn Đán” v́ Trung Hoa ở
phương Đông, nơi mặt trời mọc. Ngoài ra,
c̣n có một danh xưng là Chi Na. Chi Na (Cina-sthana) là tiếng
Phạn, có nghĩa là chuẩn mực văn hóa cao, sản vật
phong phú. Nói theo cách hiện thời, đó là một quốc
gia hay một khu vực văn minh, kinh tế phát triển
cao nhất. Giống như trong kinh Phật nói đến
danh xưng Xá Vệ Quốc (Srāvastī), đó là tôn xưng xứ ấy là một
nơi có văn hóa và kinh tế phồn hoa, hưng thịnh
nhất tại Cổ Ấn Độ.
Phật dịch
sang tiếng Hán “tắc vân Giác
Giả” (nên gọi là Giác Giả). Giác là:
(Sao )
Đối mê giả đắc danh dă.
(鈔) 對迷者得名也。
(Sao:
Do đối với người mê mà gọi là Giác).
“Mê” là tương phản của
giác ngộ. V́ thế, mê và giác là một cặp, Phật là
giác, bất giác là mê, phàm phu mê, Phật giác ngộ. Giác có ba ư
nghĩa:
(Sao)
Tam giác giả, tự giác dị phàm phu.
(鈔)
三覺者,自覺異凡夫。
(Sao: “Ba thứ giác”: Tự giác
khác với phàm phu).
Đức
Phật tự giác, phàm nhân tự ḿnh mê hoặc. Quả thật,
chúng ta chẳng biết chính ḿnh do đâu mà có, cũng chẳng
biết chính ḿnh tương lai sẽ đi về đâu,
thậm chí không biết hiện tại phải nên làm những
ǵ. Sống hồ đồ cả đời này, đó là bất
giác, đúng là “túy sanh, mộng
tử” (sống say, chết mộng). Phàm phu là như vậy,
trong thế gian này, tranh danh, đoạt lợi, đến
rốt cuộc rỗng tuếch, quư vị có thể đoạt
được thứ ǵ hay chăng? Chẳng có ǵ cả! Cổ
nhân nói con người nên làm được ba điều bất
hủ: Lập công, lập đức, lập ngôn, đó gọi
là “di phương hậu thế”
(để lại tiếng thơm cho đời sau), quan niệm
này vẫn là mê, bất giác. V́ sao? Địa cầu có thành,
trụ, hoại, không, quư vị chẳng giữ được.
Theo các nhà địa chất khảo sát, trước
đây địa cầu đă trải qua bốn lần hồng
thủy (lụt lội lớn), cả mặt đất
đều bị ch́m đắm, tất cả văn hóa đều
bị hủy diệt toàn bộ, mỗi lần hồng thủy
gần như văn hóa đều phải bắt đầu
lại. Quư vị để tiếng thơm cho đời
sau, đấy là mộng tưởng, là chuyện chẳng
thể làm được! Có thể thấy lời Phật
dạy chính xác, chẳng sai lầm. Mê hoặc, điên đảo!
Phải giác ngộ điều này!
Phật chẳng
mê, nên Ngài chẳng có phiền năo, Phật chẳng mê, nên Ngài
chẳng luân hồi; phiền năo là nhân, luân hồi là quả.
Lục đạo luân hồi do đâu mà có? Do phiền năo trong
tâm quư vị biến hiện. Tâm Phật chẳng có phiền
năo, nên chẳng có lục đạo luân hồi. Trong kinh, đức
Phật nói thánh giả Tiểu Thừa Tứ Quả La Hán vượt
thoát luân hồi, vượt thoát bằng cách nào? Đoạn
Kiến Tư phiền năo bèn vượt thoát tam giới, vượt
thoát luân hồi. Phật chẳng có Kiến Tư phiền
năo, không chỉ chẳng có Kiến Tư phiền năo, mà Trần
Sa phiền năo cũng chẳng có, Vô Minh phiền năo cũng chẳng
có. Đối với ba loại phiền năo này, A La Hán bất
quá đoạn được Kiến Tư phiền năo, chứ
Trần Sa phiền năo và Vô Minh phiền năo hăy c̣n; v́ thế,
chẳng c̣n luân hồi trong lục đạo của tam giới.
Chư vị
đồng tu phải nhớ kỹ, nếu chúng ta chẳng
đoạn Kiến Tư phiền năo, bất luận quư vị
học pháp môn nào cũng chẳng thể thành tựu, v́ sao?
Quư vị chưa có năng lực thoát tam giới. Giống
như pháp sư Đàm Hư đă nói, Ngài là tổ sư tông
Thiên Thai, tông Thiên Thai dùng phương pháp Chỉ Quán để
tu Thiền Định, tu Chỉ Quán, tu tới mức tốt
nhất cũng chẳng qua là sanh lên trời mà thôi, chẳng
thoát khỏi tam giới. Dù cho công phu Thiền Định rất
sâu, ngồi xếp bằng nh́n vách có thể ngồi trên một
tháng, một trăm ngày không đứng dậy, phi phàm lắm!
[Nhưng] quả báo của người ấy cũng bất
quá là Sơ Thiền hay Nhị Thiền mà thôi, hoặc trên
trời Tứ Thiền, công phu như thế đấy, chẳng
thoát khỏi tam giới.
Do vậy,
chư vị đồng tu, nếu muốn thoát sanh tử
luân hồi trong đời này, mong thật sự ĺa khổ
được vui, sạch sẽ, gọn gàng, quư vị phải
nghiêm túc nghiên cứu kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ.
Trừ pháp môn này ra, bất luận pháp môn nào quư vị cũng
đừng mong thành tựu trong một đời này! Tôi chẳng
nói bừa đâu, chính quư vị hăy suy nghĩ một chút, quư
vị có thể đoạn phiền năo hay chăng? Chẳng
phải là nói pháp môn chẳng hay, pháp môn nào cũng đều
hay, nhưng nếu quư vị tu theo cách ấy mà thật sự
có thể đoạn phiền năo th́ sẽ thành công. Quư vị
dùng phương pháp ấy để tu, nhưng tu mà chẳng
thể đoạn phiền năo, nói cách khác, quư vị chẳng
thành công, uống thuốc ấy vô hiệu!
Pháp môn
này chẳng đoạn phiền năo mà vẫn có thể văng sanh,
mầu nhiệm ở chỗ này. Trừ pháp môn này ra, trong “tám
vạn bốn ngàn pháp môn” như thường nói, bất luận
pháp môn nào cũng đều phải đoạn Kiến
Tư phiền năo th́ mới có thể vượt thoát lục
đạo luân hồi, chỉ riêng pháp môn này chẳng cần.
Quư vị thật sự tin tưởng, thật sự phát
nguyện, thật sự chịu niệm Phật, nhất
định thành công trong một đời này. Quư vị phải
buông hết thảy xuống, không chỉ buông duyên thế
gian xuống, mà tất cả hết thảy Phật pháp
đều phải buông xuống. Ta chẳng cần phải
nghiên cứu hết thảy các kinh giáo, chỉ cần nghiên
cứu hai bộ kinh này là đủ rồi, bảo đảm
quư vị văng sanh trong một đời này. Nếu quư vị
tu Thiền, tu Mật, tu Giáo, sẽ chẳng đáng trông cậy,
v́ sao? Tư tưởng của quư vị hỗn loạn,
công phu bị xen tạp, chẳng thuần; v́ thế, rất
khó đạt được hiệu quả. Pháp môn này chẳng
có bí quyết ǵ khác, giống như trong Đại Kinh đă
dạy: “Phát Bồ Đề
tâm, một mực chuyên niệm”, c̣n trong bộ kinh này th́
dạy: “Nhất tâm bất loạn,
tâm bất điên đảo”.
Chỉ cần quư vị thật sự làm theo như thế,
chắc chắn thành công; v́ thế nói là “vô cùng trọng yếu”.
Tôi thưa
cùng các vị đồng tu, tôi nhất định nắm
chắc văng sanh, sở dĩ ngày nay tôi khẳng định
như thế để khuyên quư vị v́ tôi quyết định
nắm chắc. Trên thế giới này, suốt ngày từ sáng
đến tối, tôi hoan hỷ, cười hề hà, v́
sao? Tôi đến lữ hành, tôi tới vui chơi, chẳng
lo nghĩ, chẳng vướng mắc, lẽ nào chẳng
tự tại! Phải nghiêm túc nỗ lực. Trước
khi tôi có được pháp môn này, tôi giống hệt như
quư vị: Suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ
lung tung, phiền năo trùng trùng; sau khi hiểu được
pháp môn này, [những điều ấy] chẳng c̣n nữa,
vọng tưởng, tạp niệm chẳng c̣n, hết thảy
phiền năo cũng chẳng c̣n, phiền năo cũng chẳng
t́m được, chẳng nghĩ đến phiền năo nào,
đều chẳng nghĩ tới. Tôi thật sự đạt
được lợi ích và chỗ hay khéo của pháp môn này.
Nay tôi đem
lợi ích thù thắng này cống hiến quư vị. Do vậy,
nếu mọi người phát tâm in kinh, tốt nhất là
in hai bộ kinh này, tức Di Đà Kinh Sớ Sao và Yếu
Giải, hoặc Chú Giải kinh Vô Lượng Thọ, công
đức vô lượng vô biên, v́ sao? Người khác có được
những tác phẩm ấy, thật sự có thể đắc
độ. Họ có những kinh sách khác, tuy hay, nhưng chẳng
cứu được cái mạng trong hiện tại. Mấy
bộ sách ấy thật sự cứu mạng, thật sự
có thể giải quyết vấn đề; do vậy, hết
thảy các công đức chẳng thể sánh bằng công
đức này! Đây là nói về tự giác; Phật giác,
phàm phu bất giác, “tự giác dị
phàm phu”, “dị” (異) là chẳng giống phàm phu.
(Sao)
Giác tha dị Nhị Thừa.
(鈔) 覺他異二乘。
(Sao:
Giác tha là khác với Nhị Thừa).
“Nhị Thừa” là nói tới Thanh
Văn và Duyên Giác, chúng ta thường gọi họ là A La
Hán và Bích Chi Phật, trong Phật pháp gọi những vị
này là Tiểu Thừa. Tiểu Thừa đă đoạn Kiến
Tư phiền năo, có thể vượt thoát lục đạo
sanh tử luân hồi; nhưng họ chỉ là tự giác, chẳng
giác tha, tục ngữ gọi họ là “tự liễu hán” (kẻ chỉ lo giải thoát cho
riêng ḿnh). Chính ḿnh đă giác ngộ, nhưng không chịu giúp
đỡ người khác, không chịu giáo hóa chúng sanh, đó
là kẻ Tiểu Thừa. Do vậy, sự tự giác của
Tiểu Thừa chưa viên măn; trong ba loại phiền năo,
họ chỉ đoạn được một loại là
Kiến Tư phiền năo, hai loại khác vẫn chưa đoạn
được! V́ sao chưa đoạn được? Hai
loại phiền năo kia phải giáo hóa chúng sanh th́ mới
đoạn được. Người Tiểu Thừa tham
cầu thân tâm tự tại, chẳng muốn tiếp xúc xă
hội, v́ người trong xă hội quá phiền phức. V́
thế, họ chẳng đoạn được Trần
Sa Hoặc và Vô Minh Hoặc. Phật khác hẳn, Phật giáo
hóa chúng sanh trọn khắp, đại từ, đại
bi, chẳng giống Thanh Văn và Duyên Giác.
(Sao )
Giác măn dị Bồ Tát.
(鈔) 覺滿異菩薩。
(Sao:
Giác măn khác với Bồ Tát).
“Măn” (滿) là viên măn, Bồ Tát thật sự là tự
giác, chính ḿnh tự giác, mà cũng giáo hóa chúng sanh, cũng giúp
đỡ người khác giác ngộ, nhưng chưa viên
măn. Chỉ có Phật viên măn, đại giác viên măn; do vậy,
Ngài chẳng giống Bồ Tát.
Xưng hô
trong Phật môn, ở đây tôi nói đại lược, đây
là một thứ kiến thức thông thường, quư vị
phải ghi nhớ. Hiện thời, chúng ta thấy nhiều
vị xuất gia thường được tôn xưng là
“đại sư X....”, xưng hô như vậy không được!
Sau khi các vị đồng tu hiểu chuyện này, sau này gặp
người xuất gia, đừng nên gọi vị ấy
là đại sư, gọi “đại sư” là chửi vị
ấy, v́ sao? Chữ “đại
sư” dùng để gọi Phật! Bồ Tát c̣n chưa
có tư cách xưng là đại sư, Bồ Tát xưng là Đại
Sĩ, [chẳng hạn như] Quán Âm Đại Sĩ. Quư vị
có thấy chỗ nào gọi Ngài là Quán Âm Đại Sư
hay chăng? Chẳng có, mà là Quán Âm Đại Sĩ; bởi
lẽ, Bồ Tát được gọi là Đại Sĩ,
hoặc Khai Sĩ.
“Đại sư” là tiếng để
tôn xưng Phật. Mọi người b́nh thường chớ
nên xưng, v́ sao? Phải là người đă giác măn mới
có thể xưng, tuy người ấy đă giác, nhưng
chưa giác măn, sẽ chẳng thể xưng là đại sư.
Do vậy, gọi vị ấy là đại sư là quá lố!
Giống như chúng ta gặp một ai, muốn tỏ ḷng
tôn kính người ấy, danh xưng tôn kính cao nhất trong
thế gian là Tổng Thống, tôi gặp quư vị [bèn gọi
quư vị là] “Tổng Thống tiên sinh”, chẳng phải là
chửi quư vị hay sao? Quư vị chẳng phải là Tổng
Thống, mà gọi quư vị là Tổng Thống tiên sinh! Quư
vị làm giáo viên trong nhà trường, cao nhất trong nhà trường
là hiệu trưởng, trông thấy quư vị bèn gọi quư
vị là “hiệu trưởng tiên sinh”, đấy chẳng
phải là chửi người ta hay sao? Do vậy, [xưng
hô như vậy] tuyệt đối là sai lầm, con người
hiện thời có nhiều chỗ vượt phận, làm
chuyện quá lố!
(Sao) Tam giác câu viên, cố viết
tự tha giác măn chi giả.
(鈔) 三覺俱圓,故曰自他覺滿之者。
(Sao: Ba thứ giác
đều trọn vẹn, cho nên nói là bậc tự giác,
giác tha viên măn).
Phải đạt
tới địa vị ấy, chúng ta mới tôn xưng vị
ấy là Phật, gọi Ngài là đại sư.
Chữ “Phật” có rất nhiều ư
nghĩa, thuở ấy, trong tiếng Hán chẳng thể t́m
được từ ngữ để dịch danh từ này,
không thể làm ǵ khác hơn là dịch âm rồi chú giải.
Dưới đây là ba ư nghĩa giác khác nữa, cũng là nói
tới tự giác, giác tha, giác măn.
(Sao)
Hựu ly tâm danh tự giác, ly sắc danh giác tha, câu ly danh giác
măn, diệc tam giác nghĩa.
(鈔)
又離心名自覺,離色名覺他,俱離名覺滿,亦三覺義。
(Sao: Lại nữa, ĺa tâm là tự
giác, ĺa sắc là giác tha, cùng ĺa [danh lẫn sắc] gọi
là giác măn. Đó cũng là ư nghĩa của ba thứ giác).
Trong phần
trước, tam giác là nói theo mặt nhân sự (quan hệ
giữa con người với nhau). A La Hán, Bích Chi Phật,
Bồ Tát, quả thật có những hạng người ấy,
có chuyện ấy, [cách giải thích ư nghĩa ba thứ giác
trong đoạn trước được] nói theo phương
diện ấy. C̣n ba ư thứ giác ở đây hoàn toàn nói
theo công phu tu chứng của chính ḿnh, chẳng dính ǵ đến
người ngoài. Ở đây, nói tới Sắc và Tâm là nói
theo Duy Thức Học. Duy Thức Học cũng là Tâm Lư Học
Phật giáo, nói tới Tâm Lư Học. Tâm ở đây là thức
tâm, chúng ta thường nói là “bát thức”. Bát thức hoàn
toàn nói về tâm lư: A Lại Da Thức là nói đến bản
thể của cái tâm, bảy thức trước là nói tới
tác dụng của cái tâm ấy, tức là tác dụng tâm lư. Do
vậy, trong các tác dụng, tác dụng thứ nhất là Mạt
Na. Mạt Na là Chuyển Thức, [hàm nghĩa] từ Thể
chuyển biến thành tác dụng như thế nào, nên nó được
gọi là Chuyển Thức. Thứ sáu là Ư Thức, nay chúng
ta luôn sử dụng Ư Thức, Ư Thức phân biệt các thứ,
chấp trước đủ thứ. Hết thảy những
thứ này toàn là tâm ư thức.
Nơi mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân là Ngũ Thức, chúng ta có năm
thứ cảm quan (giác quan), mắt có thể thấy, tai có
thể nghe v.v... V́ thế, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nguyên y nhất tinh minh, phân thành lục
ḥa hợp” (vốn là một cái trong trẻo, sáng suốt,
chia thành sáu thứ ḥa hợp). Thể của chúng là một,
nhưng do nơi công cụ khác nhau mà khởi tác dụng khác
nhau. Do hiện thời khoa học kỹ thuật phát triển,
chúng ta lư giải chuyện này chẳng khó. Thí dụ như
điện, Thể của điện là một, nhưng nơi
đèn th́ tỏa sáng, nơi microphone bèn khuếch đại
âm thanh, nhưng điện chỉ là một! Nơi máy móc
khác nhau, bèn khởi tác dụng chẳng giống nhau. A Lại
Da như ḍng điện, mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân giống như máy móc chạy bằng điện, nơi
mỗi loại máy, nó khởi tác dụng khác nhau, nhưng ḍng
điện ấy chắc chắn giống nhau. V́ thế, tâm
là một, nơi mắt có thể thấy, nơi tai có thể
nghe, nơi mũi ngửi hương, nơi lưỡi nếm
vị, đó là do máy móc khác nhau, nên khởi tác dụng khác
nhau. Những thứ này thảy đều gọi là vọng
tâm, hư vọng, chẳng phải là chân tâm.
Tác dụng
của chân tâm tuyệt diệu thay! Tác dụng của chân tâm
chẳng bị “máy móc” ràng buộc. Nếu là chân tâm [th́ dùng
bất cứ giác quan nào] cũng có thể thấy, nghe, mà cũng
có thể nếm mùi vị. Do vậy, kinh Lăng Nghiêm nói: “Lục căn hỗ dụng”
(sáu căn dùng lẫn cho nhau). Bất luận đối với
một vật thể nào, nó đều có thể phát huy toàn
bộ công năng, toàn bộ tác dụng, đó là chân thật.
V́ thế, chúng ta thường nói người dùng chân tâm “có
thần thông”, v́ sao có thần thông? Thí dụ như người
ấy nh́n vào chỗ này, có thể thấy phía sau hay chăng?
Có thể thấy đằng sau, trông thấy được!
Thân th́ sao? [Chỗ nào trên] thân cũng đều khởi tác
dụng, chẳng bị chướng ngại! Đỉnh đầu
cũng thấy được phía trên, ḷng bàn chân cũng thấy
được phía dưới, bốn phương tám
hướng đều thấy. V́ thế, chân tâm hiện
tiền, bản năng (năng lực sẵn có) của quư
vị bèn khôi phục.
Hiện thời,
trên thế giới này, có không ít kẻ có thần thông, thật
đấy, chẳng giả, nhưng ngàn vạn phần quư
vị đừng nên quấy rầy họ, chớ nên thân
cận họ, chẳng có lợi ích ǵ! V́ thần thông của
họ đều do quỷ thần dựa thân hiện ra, chẳng
phải là năng lực do người ấy vốn có. Yêu
ma quỷ quái tới thế gian này là v́ họ có duyên với
kẻ ấy, nhờ thân thể kẻ ấy để hiển
lộ thần thông, đôi bên đều có lợi. Ma quỷ
có lợi, mà chính người ấy cũng cảm thấy
nay ta có thần thông, cũng nhóm họp chẳng ít đồ
chúng khuấy động sóng gió, kiếm chác tiếng tăm,
lợi dưỡng. Hiện tại, người mê tín chuyện
này đặc biệt đông, nói sự thật họ chẳng
tin, nói lời giả dối họ tin ngay!
Khi tôi giảng
pháp môn Tịnh Độ tại Los Angeles, người nghe đại
khái chỉ có bốn mươi mấy người, trong số
ấy, có một vị cư sĩ bảo tôi: “Thưa pháp
sư! Nếu ngài giảng Tài Thần Kinh[18], sợ rằng người nghe hơn một
vạn”. Ông ta bảo tôi: “Lô Thắng Ngạn[19] giảng Tài Thần Kinh ở đó, bán
vé tham dự mỗi vé hai mươi Mỹ kim, mà chẳng c̣n
chỗ nào trống”. Quư vị xem thử là bao nhiêu người?
Lô Thắng Ngạn thật sự phát tài. Chúng tôi nói lời
thật với mọi người, lời thật chẳng
ai nghe! Kẻ nói giả dối nhằm lừa người,
con người hiện thời chịu bị lừa gạt,
nên hễ bị gạt bèn kéo tới. Trước mắt th́
tốt đẹp lắm, tiền bạc cuồn cuộn đưa
tới không ngừng, nhưng quả báo về sau cũng
kinh khủng lắm, đấy là “cái được chẳng
bù nổi cái mất”, như cổ nhân đă nói: “Đao khẩu thỉ mật”
(liếm mật trên lưỡi dao). Mật trên mũi dao rất
ngọt, nếm vào được hưởng vị mật
ngọt, nhưng lưỡi cũng đứt luôn! Quả
báo về sau đáng sợ lắm, chúng ta nhất định
chớ nên làm chuyện ấy!
Do vậy,
phải tự giác, tự giác ĺa tâm, tức là ĺa tâm ư thức,
đó gọi là tự giác, đấy là công phu chân chánh. Ĺa
tâm ư thức th́ ĺa bằng cách nào? Nói đơn giản, thức
là phân biệt, ư là chấp trước, tâm là giữ lại
ấn tượng. Nếu trong cuộc sống, chúng ta xử
sự, đăi người, tiếp vật, chẳng phân biệt,
chẳng chấp trước, không giữ lại ấn
tượng, đó là “ĺa tâm ư thức”, là tự giác. Chư
vị hăy suy nghĩ, có thể làm được hay chăng?
Chẳng dễ dàng! Đó là tự giác.
Ư nghĩa
tự giác này c̣n sâu hơn phần trước, đây là
công phu thật sự, phải ĺa tâm ư thức. Trong các buổi
giảng, tôi thường dùng bốn câu để giảng:
“Chẳng phân biệt, chẳng
chấp trước, chẳng khởi tâm, chẳng động
niệm”. Phải thật sự thực hiện! Thật
sự làm như vậy, có người hỏi tôi: Như vậy
chẳng phải là biến thành ngây ngốc hay sao? Nếu ngây
ngốc là Phật th́ rất dễ, trong bệnh viện chích
một mũi thuốc bèn ngây ngốc, thành Phật rồi,
cần ǵ phải khổ sở tu như thế? Chẳng cần
nữa! Không phải vậy! “Chẳng phân biệt” như tôi
vừa mới nói với quư vị chính là “phân biệt” và “chẳng
phân biệt” là một, không hai; đó gọi là “chẳng
phân biệt”. “Chấp trước” và “chẳng chấp
trước” là một, không hai; đó gọi là “chẳng chấp
trước”. “Chẳng động niệm” th́ “động
niệm” và “chẳng động niệm” cũng là một,
chẳng hai. “Khởi tâm” và “chẳng khởi tâm” cũng là
một, không hai!
Điều
này nghe qua rất huyền diệu, nhưng tôi nói lời thật
với quư vị. Thí dụ như chúng ta đăi người,
tiếp vật, trên tay cầm một quyển sách, người
ta hỏi quư vị: “Pháp sư! Thấy cầm ǵ trên tay?” Tôi
chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, chẳng
phân biệt, chẳng chấp trước, tôi chẳng nói một
câu nào, nhưng người ta hỏi, tôi chẳng ngơ
ngác! Họ hỏi tôi đó là ǵ, tôi đáp: “Sách!” “Sách ǵ?”
“Kinh Di Đà”. Quư vị thấy tôi lại phân biệt, lại
chấp trước, lại khởi tâm, lại động
niệm, nhưng phân biệt, chấp trước, khởi
tâm, động niệm là v́ kẻ đó. Kẻ ấy nói đây
là sách, cho nên tôi nói với hắn đây là sách. Kẻ ấy
nói đây là kinh Di Đà, nên tôi cũng nói kinh Di Đà. Trong tâm
của chính tôi có chấp trước đây là sách, đây là
kinh Di Đà hay không? Không có! Do vậy, đối với
chính ḿnh mà nói th́ quả thật chẳng khởi tâm động
niệm, chẳng có phân biệt, chấp trước, nhưng
đối với người khác lại khởi tâm, lại
động niệm, lại phân biệt, lại chấp
trước, cho nên là một, không hai! Nếu quư vị học
được như vậy th́ gọi là Phật.
Đối
với chính ḿnh, “Phật pháp
trên thế gian”, đối với người khác, “bất hoại thế gian tướng”
(chẳng phá hỏng tướng thế gian). Đối với
hết thảy các hiện tượng và hết thảy trật
tự trên thế gian đều tùy thuận, quyết định
chẳng phá hoại chúng, tâm chính ḿnh thanh sạch, chẳng nhiễm
mảy trần, quư vị đắc đại tự tại.
Trên thế gian này, không có một ai mà ta chẳng thể ḥa
thuận, không có chuyện ǵ chẳng đáng yêu, quư vị
đắc đại tự tại. Nhưng người thế
gian chẳng giống như Phật, họ bên ngoài phân biệt,
bên trong cũng thật sự phân biệt, bên ngoài chấp
trước, bên trong cũng chấp trước, chuyện
này phiền phức lắm! Phật, Bồ Tát cao minh ở
chỗ: Bên ngoài bèn ứng theo quư vị, thuận theo sự
phân biệt của quư vị mà phân biệt, thuận theo sự
chấp trước của quư vị mà chấp trước;
đối với chính Ngài th́ căn bản là chẳng có
phân biệt, chấp trước, bản lănh ở chỗ
này, điều đó gọi là tự giác, chúng ta phải học
điều này. Tu hành là tu ǵ? Tu điều này. Mỗi ngày gơ
mơ, niệm kinh, lạy Phật, dập đầu, người
ta nói những điều đó đều là làm ra vẻ, làm
bộ, làm tịch, dẫu làm giống đến mấy,
nhưng trong tâm thiếu công phu, vô dụng!
Lần
này tôi qua Gia Nă Đại, gặp một vị đồng
tu, cho tôi biết: Trong quá khứ, ông ta theo một vị lăo
sư phụ học Phật. Ông ta nói vị sư phụ ấy
tu hành hết sức tốt đẹp, công khóa mỗi ngày đều
chẳng thiếu, luôn hết sức nghiêm túc tu học, ông
ta bội phục năm vóc sát đất. Ông ta nói gần đây
vị thầy đó bị ma dựa, đang ở trong nhà
thương điên. Ông ta đến hỏi tôi nguyên nhân v́
sao? Hỏi tôi có nên thân cận vị ấy hay chăng? Tôi
bảo ông ta: “Tu hành trên h́nh thức, dù tu tốt đẹp
vẫn là làm bộ, làm tịch. Tu hành chân chánh là dụng công
nơi nội tâm để chuyển cảnh giới, chứ
không do h́nh thức”.
Chúng ta
đọc truyện kư của cổ nhân, thấy Hàn Sơn,
Thập Đắc ở trong chùa miếu điên điên khùng
khùng, họ là hai người làm việc vặt vănh, chuyên
nhóm lửa trong nhà bếp, về sau mới biết họ
là Văn Thù, Phổ Hiền hai vị đại Bồ Tát.
Họ ở chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, sư Phong Càn giă gạo
trong pḥng xay xát là A Di Đà Phật. Các Ngài đều làm việc
cực nhọc, hầu hạ mọi người. Do vậy,
các Ngài thấy [chư Tăng] mỗi nửa tháng tụng
giới trong Giới Đường, trang nghiêm tụng giới,
nghiêm túc lắm! Hàn Sơn, Thập Đắc ở ngoài cửa
trêu ghẹo, cợt nhả, v́ sao? Tụng giới luật rất
nghiêm túc, nhưng không làm được! V́ thế, phải
biết: Công phu chân chánh ở nơi tâm địa. “Nhân địa bất chân, quả
chiêu vu khúc” (cái nhân chẳng thật, chuốc quả ngoắt
ngoéo). Sư phụ ông ta gặp ma chướng, bị ma dựa
là có nguyên nhân.
Ông ta hỏi:
“Tôi có nên thân cận người ấy hay chăng?” Tôi bảo
ông ta: “Nếu ông đă theo ông ta nhiều năm như vậy,
phải có nghĩa vụ chăm nom ông ta. Ông ta đang bệnh
khổ, nếu cần được giúp đỡ th́ có
tiền nên giúp đỡ ông ta, chăm sóc ông ấy”. Ông ta
thưa: “Sư phụ tôi tiền nhiều lắm!’ Tôi nói: “Vậy
th́ ông chẳng cần phải đến, lắm tiền quá
sẽ bị ma dựa. Trong kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát
Hung, đức Phật đă dạy: ‘Tích tài táng đạo’ (tích tụ tài sản, đạo
tiêu vong), tâm ông ta không ở nơi đạo, mà hằng ngày
ḷng đặt nơi tiền tài”. Nhất là tại Hương
Cảng, sư phụ ông ta ở Hương Cảng, tiền
nhiều quá, bỏ trong ngân hàng lại sợ ít lời, mua
cổ phiếu lại sợ cổ phiếu sụt giá,
chuyện này phiền phức lớn lắm, ông ta đâu có
ḷng nào tu đạo? V́ thế, dù mỗi ngày tụng niệm
công khóa chăm chỉ, tâm ông ta không đặt nơi đạo,
sẽ bị ma dựa! Chúng ta phải hiểu chỗ này, ĺa
tâm và sắc rất ư trọng yếu!
Sắc là
ǵ? Cảnh giới bên ngoài. Cảnh giới bên ngoài phải
bỏ, quyết chẳng bị động tâm bởi ngũ
dục lục trần bên ngoài. Bên ngoài là tài, sắc, danh, ăn
uống, nghỉ ngơi, tiếng tăm, lợi dưỡng,
quư vị vẫn bị động tâm v́ những thứ ấy
là sai rồi, quư vị sẽ mê, chẳng giác. Do vậy, tự
giác và giác tha ở đây có nghĩa là bên trong th́ đoạn
phiền năo, bên trong chẳng khởi tâm, chẳng động
niệm, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước,
bên ngoài chẳng bị ngũ dục lục trần dụ
dỗ, mê hoặc, đó là Giác Tha. “Câu ly” (đều ĺa), hai bên đều ĺa, trong ĺa
phiền năo, ngoài dứt trần duyên, đó là Giác Măn, giác hành
viên măn. V́ vậy, đoạn này giải thích [ư nghĩa của
Tam Giác] hoàn toàn dựa theo công phu của chính ḿnh, hết sức
trọng yếu.
Học Phật,
thu hoạch trong giai đoạn thứ nhất là pháp hỷ
sung măn, đấy là sự chứng đắc, hưởng
thụ đầu tiên. Năm Dân Quốc 42 (1953), tôi thân cận
tiên sinh Phương Đông Mỹ, hết sức khó có, cụ
muốn tôi theo học ở nhà cụ, chẳng học ở
trường. V́ thế, tôi học ở nhà cụ. Cụ
giảng triết học khái luận, giảng tới cuối
cùng bèn giảng triết học trong kinh Phật. Cụ đưa
ra một nhận định đanh thép: “Triết học trong kinh Phật cao nhất trong toàn bộ
triết học thế giới, là sự hưởng thụ
cao nhất trong đời người”. Tôi bị rúng động
bởi hai câu ấy. V́ thế, phát tâm học Phật, nghiên
cứu Phật học. Tôi vô cùng cảm kích thầy, v́ sao? Ngày
nay tôi thật sự chứng thực sự hưởng thụ
tối cao trong đời người, tôi đạt được.
V́ thế,
học Phật thân tâm tự tại, khoái lạc. Tôi thấy
rất nhiều người học Phật, học đến
nỗi mặt mày cau có. Đấy là học Phật chẳng
đúng phương pháp, chẳng đạt được
lợi ích, giống như chúng ta mắc bệnh, uống
thuốc vô hiệu! Mong mọi người hăy khéo kiểm
điểm, nghiêm túc học tập, người học Phật
sung sướng. Tôi ở ngoại quốc có pháp duyên tốt
đẹp như thế, hết thảy mọi người
đều mong theo tôi v́ thấy tôi rất vui sướng,
sự vui sướng của tôi do đâu mà có? Do niệm A
Di Đà Phật. Tôi dạy họ: “Quư vị niệm như
thế sẽ rất vui sướng!” Điều này có thể
tiếp dẫn rất nhiều chúng sanh. Nếu tôi suốt
ngày từ sáng đến tối đeo bản mặt cau có,
chẳng có ai muốn học Phật hết! Quư vị thấy
học Phật theo kiểu đó, th́ có c̣n nên học Phật
hay chăng? Chẳng nên học Phật!
Chư vị
hăy gắng tích cực, nếu chúng ta chẳng học Phật
pháp tốt đẹp, không chỉ chúng ta có lỗi với đức
Phật, mà c̣n là phá hoại Phật pháp, v́ sao? Chúng ta dọa
lây người khác không dám học Phật, tội lỗi ấy
vô lượng vô biên, khác nào phá hoại Phật pháp. Nói
chung, chúng ta khiến cho người ta trông thấy, [liền
nghĩ]: Học Phật tốt lắm, quư vị thấy người
học Phật hạnh phúc, vui sướng dường ấy.
Thứ nhất là nếu khiến cho người ta có ấn
tượng ấy, như vậy là quư vị có thể phổ
độ chúng sanh, có thể tiếp dẫn chúng sanh rộng
khắp, rất quan trọng! Pháp hỷ từ trong nội
tâm phát ra, chẳng phải do học được, nhất
định chẳng do bị cảnh giới bên ngoài kích
thích, mà thật sự từ nội tâm sanh ra hỷ duyệt,
đó là pháp hỷ. Ngày hôm nay, chúng tôi giảng tới đây!
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 46 hết
[1] Trương Sĩ Thành (1321-1387) là một
tướng lănh nghĩa quân chống lại Mông Cổ sống
vào cuối đời Nguyên, quê ở Câu Trường (nay là
thành phố Đại Phong, tỉnh Giang Tô). Họ
Trương vốn làm nghề gánh muối. Năm Chí Chánh
(1353) cùng với các em là Trương Sĩ Nghĩa,
Trương Sĩ Đức, Trương Sĩ Tín và Lư Bá
Thăng kéo cờ khởi nghĩa, được dân chúng ủng
hộ, chiếm được vùng Thái Châu, Hưng Hóa, Cao
Bưu của tỉnh Giang Tô. Năm 1354, Trương Sĩ
Thành xưng đế ở Cao Bưu, đặt quốc
hiệu là Đại Châu, tự xưng là Thành Vương,
lấy niên hiệu là Thiên Hựu. Tháng Chín năm ấy,
Thái Sư kiêm Tả Thừa Tướng Thoát Thoát của
nhà Nguyên dẫn binh tấn công Cao Bưu, đánh bại
Trương Sĩ Thành. Trương Sĩ Thành đang lúc bó
tay chịu chết th́ Nguyên Thuận Đế nghe lời
sàm tấu, tước đoạt binh quyền của Thoát
Thoát, khiến Trương Sĩ Thành thừa dịp
đánh bại quân Nguyên, chiếm đến Tô Châu. Một
đối thủ quan trọng của Trương Sĩ
Thành thuở ấy là Châu Nguyên Chương đă xưng
đế ở Nam Kinh cũng tấn công Trương
Sĩ Thành ráo riết. Trương Sĩ Thành phải xin
xưng thần, nhưng Châu Nguyên Chương từ chối.
Đến năm 1357, họ Trương phải chịu
nhận tước phong nhà Nguyên. Tuy vậy, cuộc tranh
giành quyền lực giữa Trương Sĩ Thành và Châu
Nguyên Chương vẫn dằng dai măi cho đến
năm 1367 khi Tô Châu thất thủ, Trương Sĩ Thành
bị họ Châu giải về Nam Kinh và bị xử tử
h́nh.
[2] Tứ Phần Luật (Dharmagupta-vinaya), c̣n gọi là Đàm Vô Đức Luật Tạng là một bộ luật gồm sáu mươi quyển, do các vị Trúc Phật Niệm, Phật Đà Da Xá v.v... cùng dịch tại Trường An từ năm 410 đến 412 vào thời Diêu Tần. Đây là giới luật được truyền thừa theo truyền thống Pháp Tạng Bộ của Thượng Tọa Bộ tại Ấn Độ. Bộ luật này được chia thành bốn phần: 1. Luật tỳ-kheo 2. Luật tỳ-kheo-ni 3. Nói về những quy định thông thường trong sinh hoạt như Tự Tứ, quần áo, thuốc men, y Ca Thi Na v.v... 4. Những quy định về pḥng ốc, điều bộ Tỳ Ni v.v... Theo truyền thống, bộ luật này được coi là do tôn giả Pháp Chánh (Dharmagupta, c̣n phiên âm là Đàm Vô Đức) hội tập từ giới bổn được lưu truyền trong Thượng Tọa Bộ. Sau khi bộ luật này được dịch sang tiếng Hán, vẫn chưa được phổ biến, măi đến đời Bắc Ngụy Văn Đế, ngài Pháp Thông Luật Sư bắt đầu hoằng truyền, môn nhân là Đạo Phú viết sớ giải. Sau đấy, các vị Huệ Quang, Trí Thủ tiếp tục hoằng dương Tứ Phần Luật. Môn nhân của ngài Trí Thủ là Đạo Tuyên Luật Sư đă hệ thống hóa, biên tập, chú giải hoàn chỉnh Tứ Phần Luật, khiến cho Tứ Phần Luật có ảnh hưởng lớn nhất đối với Phật giáo Trung Hoa. Bộ Tứ Phần Luật Xan Phiền Bổ Khuyết Hành Sự Sao của ngài Đạo Tuyên là một tác phẩm trọng yếu để nghiên cứu Tứ Phần Luật.
[3] Châu Chỉ Am (1781-1839), tên thật là Châu
Tế, tự là Bảo Tự và Giới Tồn, hiệu Vị
Trai; về già lấy hiệu là Chỉ Am, người xứ
Kinh Khê tỉnh Giang Tô (nay là huyện Tuyên Hưng). Ông đỗ
Tiến Sĩ năm Gia Khánh thứ mười (1805),
văn chương trác tuyệt, được coi là một
nhà văn học nổi tiếng thời ấy. Ngoài tác phẩm
Tâm Kinh Thuyên Chú, ông c̣n để lại những tác phẩm
nổi tiếng như Giới Tồn Trai Luận Từ Tạp
Trước, Phổ Lược, Tống Tứ Gia Từ
Tuyển v.v...
[4] Đây là thói quen của Phật môn Trung
Hoa, nhằm tỏ ḷng tôn kính, ít khi gọi đủ pháp
danh hay pháp hiệu mà chỉ gọi tên bằng chữ đầu
(nếu đồng thời có nhiều vị cùng chữ
th́ gọi bằng chữ thứ hai trong pháp danh), chẳng
hạn tổ Huệ Viễn được gọi là Viễn
Công, tổ Ấn Quang được gọi là Ấn Công
hay Ấn Tổ, ḥa thượng Khai Như núi Phổ
Đà được gọi là Khai Công, pháp sư Đế
Nhàn được gọi là Đế Công v.v...
[5] Linh Chi Nguyên Chiếu (1048-1116) là người
Dư Hàng (nay là Dư Huyện tỉnh Chiết Giang), họ
Đường, tự Trạm Nhiên, hiệu An Nhẫn Tử.
Xuất gia từ nhỏ, mười tám tuổi đă
được thọ Cụ Túc Giới, học giáo
nghĩa Thiên Thai với ngài Thần Ngộ Xử Khiêm,
nhưng dốc chí nơi giới luật. Về sau, Sư
lễ ngài Quảng Từ xin thọ Bồ Tát Giới, nối
pháp Nam Sơn Chánh Truyền. Trong niên hiệu Nguyên Phong
(1078-1085), Sư trụ tŕ chùa Chiêu Khánh, hoằng truyền
giới luật, về già, dời sang chùa Linh Chi, ở
đó suốt ba mươi năm, cơi đời gọi ngài
là Linh Chi Tôn Giả. Khi mất, được vua ban thụy
hiệu Đại Trí Luật Sư. Những tác phẩm chủ
yếu của Ngài là Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh
Sớ, Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Tŕ Kư (chú
giải bộ Hành Sự Sao của tổ Đạo Tuyên).
[6] Mi chú: Ghi chú ở trên đầu mỗi
câu hay mỗi đoạn của chánh kinh.
[7] Ngài Cưu Ma La Thập có bốn đại
đệ tử là Đạo Sanh, Tăng Triệu, Đạo
Dung, và Tăng Duệ.
[8] Từ ngữ “tam giáo cửu lưu” hay
gọi tắt là “cửu lưu” phiếm chỉ các tông phái
học thuật và tôn giáo của xă hội Trung Quốc thời
cổ. Thoạt đầu, cửu lưu gồm:
1. Nho gia.
2. Đạo gia.
3. Âm Dương gia: Chuyên nghiên cứu Âm
Dương, Ngũ Hành, đại biểu xuất sắc
của học thuyết này là Trâu Diễn, Đổng Trọng
Thư. Âm Dương Gia thịnh hành nhất vào thời Ngụy
- Tấn, đến đời Đông Hán, kết hợp với
tư tưởng Đạo gia trở thành Hoàng Lăo Học
Phái.
4. Pháp gia: Chuyên đề xướng
quân chủ tập trung, trị dân bằng pháp luật nghiêm
ngặt, không từ thủ đoạn chính trị nào, nên
c̣n gọi là Bá Đạo. Các nhân vật tiêu biểu của
phái này gồm Thương Ưởng, Quản Tử, Tử
Sản, Hàn Phi, Lư Tư, Thân Bất Hại, Thận
Đáo...
5. Danh gia: Chuyên biện định Danh và
Thực, nặng về lư luận, nhiều khi trở thành
ngụy biện như Công Tôn Long chủ trương “ngựa
trắng không phải là ngựa, đá cứng không phải
là đá”. Các đại biểu chủ yếu của phái
này là Công Tôn Long, Doăn Văn, Đặng Tích, Huệ Thi v.v...
6. Mặc gia: Những người theo
thuyết Kiêm Ái của Mặc Địch.
7. Tung Hoành gia: Chủ trương liên kết
hay chia rẽ các quốc gia để đạt được
mục tiêu chính trị, các nhân vật tiêu biểu là Tô Tần,
Trương Nghi, Cam Mậu, Nhạc Nghị, Phạm Chuy,
Mao Toại v.v...
8. Tạp gia: Không chuyên một đường
lối nào.
9: Nông gia: Chủ trương phát triển,
nghiên cứu nông nghiệp.
Từ cách hiểu ban đầu này, về
sau phát triển thành ba loại cửu lưu, nhằm phân loại
các nghề nghiệp trong xă hội:
1. Thượng cửu lưu: như
đế vương, thánh hiền, văn nhân, vũ
sĩ, nông dân, thợ thuyền, thương nhân.
2. Trung cửu lưu: học tṛ, thầy
thuốc, thầy bói, họa sĩ, người chép thuê,
tăng, ni, đạo sĩ.
3. Hạ cửu lưu: sư gia (người
hầu ghi chép án từ hoặc cố vấn, tham mưu cho
quan lại), sai nha, bà mối, đầy tớ sai vặt,
trộm cắp, kỹ nữ v.v...
[9] Tô Đông Pha tên thật là Tô Tuân, em trai
là Tô Triệt (c̣n gọi là Tô Tử Do, hay Dĩnh Tân Di Lăo)
và Tô Tiểu Muội đều nổi tiếng về
văn tài.
[10] Hậu Ngụy là từ ngữ gọi
chung các triều đại mang hiệu Ngụy (như
Đông Ngụy, Bắc Ngụy, Tây Ngụy) sau nhà Tào Ngụy
(do Tào Phi sáng lập). Ngài Đàm Loan sanh năm 476 nhằm
năm đầu niên hiệu Thừa Minh đời Hiếu
Văn Đế nhà Bắc Ngụy (c̣n gọi là Nguyên Ngụy,
do Thác Bạt Khuể sáng lập), viên tịch năm Hưng
Ḥa thứ tư (542) đời Hiếu Tĩnh Đế
nhà Đông Ngụy (do Nguyên Thiện Kiến chắt của
Ngụy Hiếu Văn Đế sáng lập dưới sự
ủng hộ của Cao Hoan).
[11] Ở đây, nguyên văn ghi lầm thành
“Diệu Trung Sao”, có lẽ do người ghi lại văn
tự đă nghe lầm chữ Tông thành Trung v́ trong tiếng
Quan Thoại hai chữ này đọc hơi giống nhau.
[12] Kỳ Hoàng là gọi tắt của Kỳ
Bá và Hoàng Đế, hai người được coi là tổ
của y học Trung Quốc. Do đó, “nghiệp Kỳ Hoàng” là học nghề thuốc,
hành y.
[13] Đến đây là đă giảng xong
quyển một của bộ A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa, bắt đầu bước vào quyển thứ
hai.
[14] Phật Địa Luận
(Buddhabhūmi-sūtra-shāstra) có tên gọi đầy
đủ là Phật Địa Kinh Luận, là một bộ
luận do ngài Thân Quang Bồ Tát (Bandhuprabha) viết,
được ngài Huyền Trang dịch sang tiếng Hán
thành bảy quyển. Luận này nhằm giải thích Phật
Địa Kinh, nội dung hết sức phong phú, giải
thích ư nghĩa kinh và những khái niệm thanh tịnh pháp giới,
Đại Viên Kính Trí, B́nh Đẳng Tánh Trí, Nhiếp Đại
Giác Trí v.v...
[15] Quang Âm Thiên c̣n gọi là A Ba Hội Đề
Bà, A Ba Hội Thiên, A Hội Hằng Tu Thiên, A Ba Hỗ Tu
Thiên, A Ba La Thiên v.v... hoặc dịch nghĩa là Quang Ấm
Thiên, Thủy Vô Lượng Thiên, Vô Lượng Thủy
Thiên, Cực Quang Tịnh Thiên, Cực Quang Thiên, Quang Tịnh
Thiên, Biến Thắng Quang Thiên, Hoảng Dục Thiên, Quang
Diệu Thiên. Đây là tầng trời thứ ba trong Nhị
Thiền Thiên. Trong tầng trời ấy không có âm thanh,
quang minh do định tâm luôn tỏa ra, dùng quang minh để
diễn đạt ư tưởng nên gọi là Quang Âm Thiên.
Tuổi thọ của chư thiên trong tầng trời này
là tám đại kiếp, lấy Thiền Duyệt làm thức
ăn, sắc thân tối thắng, sống yên vui, trọn
đủ thần thông.
[16] Lục Kinh là sáu bộ kinh điển
chính yếu của Nho gia bao gồm Thi, Thư, Lễ, Nhạc,
Dịch và Xuân Thu. Nhạc Kinh đă thất truyền, có lẽ
do bị Tần Thủy Hoàng thiêu hủy.
[17] Văn Thành Công Chúa (623-580) là cháu gái
Đường Thái Tông, được hoàng đế nhà
Đường gả cho vua Songstan Gampo (605-650) của Tây Tạng
thuộc vương triều Yarlung (sử Hán thường
gọi là vương quốc Thổ Phồn) nhằm xoa dịu
sự quấy phá, tấn công liên tục của họ. Theo
sử liệu Tây Tạng, công chúa Văn Thành đă đem
Phật giáo vào Tây Tạng. Cùng với sự giúp đỡ
của công chúa Bhrikuti (Xích Tôn Công Chúa) xứ Nepal, công chúa
Văn Thành thành công trong việc lôi kéo vua Songtsan Gampo tin theo
đạo Phật và dân Tây Tạng chuyển từ tín
ngưỡng đạo Bon sang Phật giáo, mở
đường cho Liên Hoa Sinh đại sĩ (Padmasambhava)
truyền Mật Tông vào Tây Tạng sau này. Người Tây Tạng
gọi công chúa Văn Thành rGya MobZa (người con gái đất
Hán) hoặc Mun Chang Kung Co. Ngôi chùa Jokhang (Đại Chiêu Tự)
được coi là nơi thờ bức tượng Phật
do công chúa Văn Thành đem từ Trung Hoa sang Tây Tạng.
Người Tây Tạng tin vua Songtsan Gampo là hóa thân của
Quán Thế Âm Bồ Tát, c̣n Xích Tôn công chúa là hóa thân của Lục
Độ Mẫu (Green Tara), Văn Thành Công Chúa là hóa thân của
Bạch Độ Mẫu (White Tara).
[18] Tài Thần Kinh có hai cách hiểu:
1. Tài Thần Kinh là Huyền Đàn Nguyên
Soái Kinh của Đạo Giáo. Vị thần Kim Long Như
Ư Chánh Nhất Long Hổ Huyền Đàn Chân Quân (tục danh
Triệu Công Minh, gọi tắt là Huyền Đàn Nguyên Soái)
này được tin là chủ về phú quư tài sản,
chưởng thiện, phạt ác, quản trị phước
lộc trong nhân gian. Huyền Đàn Nguyên Soái thường
được tạc tượng mặt đen, rậm
râu, đầu đội măo sắt, cưỡi hổ
đen, tay cầm roi sắt, nên c̣n gọi là Hắc Hổ
Huyền Đàn. Đạo Giáo c̣n phân định: Văn
Tài Thần là Phạm Lăi, Vơ Tài Thần là Triệu Công Minh.
2. Tài Thần Kinh là nghi quỹ Mật
Tông Tây Tạng dạy về pháp tu quán tưởng thần
Câu Tỳ La (Kubera, Kuvera). Câu Tỳ La chính là Bắc
Phương thiên vương Tỳ Sa Môn (Vaiśravana), tuy
có thuyết nói Câu Tỳ La là con trai của Tỳ Sa Môn thiên
vương. Trong truyền thống Tây Tạng, Tài Thần
Câu Tỳ La được gọi là Jambala (hay Dzambala),
thường được tạc tượng lùn, mập,
bụng phệ (tượng trưng cho sự giàu có và hoan
hỷ), tay cầm một con chồn mongoose (một loại
chồn chuyên ăn rắn độc tại Ấn Độ)
nhả ra tiền vàng hay châu ngọc. Mật Tông Tây Tạng
nói có năm vị Jambala có màu sắc khác nhau: trắng,
đen, đỏ, xanh lục và vàng, nhưng thường
được thờ và cầu nguyện nhiều nhất
là Hoàng Tài Thần, tức Jambala sắc vàng. Mỗi vị
có chân ngôn và nghi quỹ riêng. Năm vị Tài Thần này
được coi là hóa thân của các vị Phật hay Bồ
Tát khác nhau, chẳng hạn Hoàng Tài Thần là hóa thân của
Bảo Sanh Như Lai (Ratnasambhava), vị này thân màu vàng, ngồi
trên hoa sen, tay cầm ngọc như ư và chồn mongoose. Bạch
Tài Thần sắc trắng, hóa thân của Quán Thế Âm Bồ
Tát, cưỡi sư tử tuyết hoặc rồng, tay cầm
quyền trượng và con chồn mongoose. Hắc Tài Thần
là hóa thân của Bất Động Phật (Akshobhaya),
thường đứng trên xác chết đặt trên ṭa
sen, tay cầm chén Kapala và chồn Mongoose v.v...
Do Lô Thắng Ngạn
pha trộn lung tung Đạo Giáo và Mật Tông nên rất có
thể ông ta giảng Tài Thần Kinh theo cả hai kiểu.
[19] Lô Thắng Ngạn là giáo chủ tà phái
Chân Phật Tông của Đài Loan. Ông ta sanh năm 1945, quê ở
Gia Nghĩa (Đài Loan), thuở nhỏ theo đạo Tin
Lành, từng tốt nghiệp kỹ sư khảo sát từ
đại học Trung Chánh, chuyên dạy Kinh Thánh vào Chủ
Nhật mỗi tuần. Đột nhiên, năm 1969, ông ta
tuyên bố được Diêu Tŕ Kim Mẫu khai Thiên Nhăn
Thông và hai mươi vị đạo sư của Đạo
Giáo, Hiển Giáo và Mật Giáo Tây Tạng thị hiện, khải
thị nên theo Phật giáo, học Phong Thủy với Liễu
Minh Ḥa Thượng, quy y với ngài Ấn Thuận để
học Thiền, và bắt đầu khai đạo, thành lập
tông phái Linh Tiên Tông. Giáo nghĩa của ông ta pha trộn lung
tung những niềm tin dân gian, tín ngưỡng Đạo
Giáo, vay mượn và xuyên tạc Mật Tông Phật giáo, nhất
là Mật Tông Tây Tạng. Ông ta tuyên bố từng được
“điểm đạo” bởi các vị lạt-ma nổi
tiếng của Tây Tạng như Karmapa đời thứ
mười sáu, Rangjung Rigpe Rinpoche, Tai Situ Rinpoche, nhưng các
lạt-ma Tây Tạng không công nhận điều này! Ông ta tự
tuyên bố ḿnh là hóa thân của một vị Bồ Tát tên
Padmakumara (Liên Hoa Đồng Tử), vị này chính là hóa thân
của A Di Đà Phật (sic!), nên thường tự
xưng là Liên Hoa Hoạt Phật. Năm 1982, ông ta dẫn vợ
con sang Mỹ, định cư tại Seattle và đổi
tên đạo của ḿnh thành Linh Tiên Chân Phật Tông; về
sau chỉ c̣n gọi là Chân Phật Tông. Ông ta lại xin quy y
với thượng sư Thổ Đăng Đạt Cát
của Hoàng Giáo Tây Tạng (chi phái Mông Cổ) tại
Hương Cảng để tăng uy thế. Năm 1986,
ông ta chính thức xuống tóc xuất gia tại chùa Lôi Tạng
sáng lập tại Seattle, nhưng vẫn sống với vợ
con, hưởng thụ mọi lạc thú trần tục,
thậm chí tín đồ không cần kiêng rượu thịt.
Vợ ông ta là Liêu Lệ Hương tự xưng là Liên
Hương Thượng Sư và nắm quyền chỉ
đạo pháp vụ trong Chân Phật Tông. Năm 1996, sau khi
xin được tiếp kiến Đạt Lai Lạt Ma
và sư trưởng Ganden Tri Rinpoche (trưởng ḍng tu
Gelugpa, tức ḍng tu của Đạt Lai Lạt Ma), Lô Thắng
Ngạn tuyên bố ông ta được hai vị này công nhận
ông ta là lạt-ma cao cấp của Tây Tạng và có toàn quyền
xử lư sự vụ của tín đồ Phật giáo Tây Tạng
tại Đài Loan, nhưng văn pḥng chính phủ Tây Tạng
phản bác tuyên bố này. Ngày 24 tháng Mười năm 2007,
bảy đại đoàn thể Phật giáo Trung Hoa tại
Mă Lai (Tổng hội Phật giáo Mă Lai, Hội Thanh Niên Phật
Giáo Mă Lai, Hội Phật giáo Hoằng Pháp Mă Lai, Tích Lan Phật
Giáo Tinh Tấn Hội, Phật Quang Sơn, Phật Giáo Từ
Tế Công Đức Hội, Tổng Hội Kim Cang Thừa
Mă Lai) cùng một số tổ chức Phật giáo tại
Đài Loan và Hương Cảng đă cùng tuyên cáo Chân Phật
Tông là ngoại đạo dựa hơi Phật giáo. Hai vị
Ấn Thuận và lạt-ma Thổ Đăng Đạt
Cát đều tuyên bố minh bạch họ không có quan hệ
sư thừa với họ Lô.