A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 48

Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 95

 

Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm bảy mươi ba.

 

      (Sao) Thánh trung thánh giả, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, nhập thánh vực nhi vị ưu, duy Phật cư cực quả, thị thánh nhi hựu thánh dă.

   () 聖中聖者,聲聞緣覺菩薩,入聖域而未優,惟佛居極果,是聖而又聖也。

      (Sao: “Thánh trung thánh”: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đă dự vào bậc thánh, nhưng chưa đạt tới mức ưu việt, chỉ có Phật thuộc quả vị tột cùng, nên là bậc thánh của chư thánh).

 

      Trong sự giáo học của đức Phật, trước hết, chúng ta phải hiểu rơ Phật giáo là nền giáo dục của đức Phật, có khá nhiều chỗ hết sức tương tự với cách giáo học hiện thời trong nền giáo dục của chúng ta, chỉ là danh xưng khác nhau, trên thực tế chẳng có ǵ khác biệt. Trong Phật pháp, chia ra Đại Thừa và Tiểu Thừa, giống như trong giáo dục hiện tại chia ra Tiểu Học, Trung Học, và Đại Học. Thanh Văn là Tiểu Học, Duyên Giác như Trung Học, Bồ Tát như Đại Học, chia thành ba giai đoạn, nhưng tốt nghiệp “Tiểu Học” trong Phật pháp có tŕnh độ khá cao!

      Cái được Phật pháp truy cầu là trí huệ tối cao, tối viên măn, trong kinh Phật gọi [trí huệ ấy] là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (Anuttara-samyak-sambodhi). Đây là tiếng Phạn dịch âm, có nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong câu này cũng chia thành ba giai đoạn. Thứ nhất là Chánh Giác. Người đạt Chánh Giác đă tu học xong Tiểu Thừa, được gọi là chứng đắc địa vị A La Hán. A La Hán có một ư nghĩa là Vô Học. Vô Học nghĩa là vị ấy đă học xong hết những thứ cần học, chẳng c̣n học nữa, đă tốt nghiệp chương tŕnh học, nên vô học. Phật pháp có ba giai đoạn, giai đoạn thứ nhất, chứng đắc Chánh Giác là A La Hán. Phật pháp thừa nhận chúng sanh trong thế gian có giác, chẳng thể nói là không giác ngộ. Trong thế gian hiện thời, những khoa học gia, triết học gia, nhà tôn giáo, đối với vũ trụ và nhân sinh đă có sự giác ngộ kha khá, tuy đă giác, nhưng chẳng thể coi là Chánh, chưa thể coi là Chánh Giác được! Trong tiêu chuẩn Chánh Giác của Phật pháp, điều kiện thứ nhất là phải có sự giác ngộ kha khá đối với vũ trụ và nhân sinh. Điều kiện thứ hai là phải đoạn phiền năo, quư vị quả thật có thể đoạn các duyên tham, sân, si, mạn, thật sự phù hợp tiêu chuẩn “giác, chánh, tịnh” mới gọi là Chánh Giác. Do vậy, A La Hán đă đạt tới mục tiêu này.

      Đức Phật giảng nhiều hiện tượng trong vũ trụ, chúng ta có thể lư giải, nhưng c̣n có nhiều hiện tượng mà với năng lực hiện thời, chúng ta vẫn chưa thể đạt được, thậm chí tư tưởng, học thuật, khoa học kỹ thuật của chúng ta đều chẳng đạt được, nhưng chẳng thể nói là chúng không tồn tại. Thí dụ như người Ấn Độ nói lục đạo luân hồi, lục đạo luân hồi chẳng phải là quan niệm riêng của Phật giáo. Tại Ấn Độ vào thời cổ, Bà La Môn giáo, S Lun (Sānkhyā), Du Già (Yoga)[1], ngoại đạo đều nói ti chuyn việc này. Nói cách khác, trước Thích Ca Mâu Ni Phật, người Ấn Độ đă nói tới lục đạo luân hồi. Hơn nữa, c̣n có nhiều nhà tôn giáo, năng lực tu hành thật sự có thể đạt tới Sắc Giới Thiên và Vô Sắc Giới Thiên. Những tôn giáo cao cấp Ấn Độ có thể lư giải t́nh h́nh trong lục đạo rất rơ ràng, họ biết những sự thật ấy rất rơ ràng, nhưng rốt cuộc v́ sao sanh ra chuyện ấy? Con người có thể vượt thoát lục đạo hay chăng? Họ chẳng có cách nào! Đó gọi là “biết chuyện đương nhiên, nhưng chẳng biết nguồn cội”, [chỉ có] Thích Ca Mâu Ni Phật mới giải quyết vấn đề này cho chúng ta!

      Nguyên nhân căn bản của lục đạo luân hồi là do mê mất chính ḿnh nên mới có hiện tượng ấy. Mê ǵ? Mê mất Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chính ḿnh. Đức Phật cho chúng ta biết: Hết thảy chúng sanh ai nấy đều có Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác! Nói cách khác, trí huệ viên măn, đức năng viên măn, tài nghệ viên măn, hết thảy chúng sanh đều b́nh đẳng. V́ sao nay quư vị bị mất? Do quư vị mê mất chính ḿnh. Phật pháp chẳng nói quư vị mê bên ngoài, mà là mê mất tự tánh của chính ḿnh, nên hiện tượng này biến thành hiện tượng lục đạo luân hồi. Nếu quư vị thật sự giác ngộ, t́m luân hồi trọn chẳng thể được, c̣n có lục đạo ở đâu nữa? Đây là vấn đề mê hay giác. Mê th́ giống như chúng ta nằm mộng, cổ nhân cũng nói: “Mộng lư minh minh hữu lục thú, giác hậu không không vô đại thiên” (Trong mộng rành rành phô sáu nẻo, giác rồi ba cơi rỗng toang hoang). Quư vị tỉnh giấc, c̣n có mộng ở chỗ nào? T́m cũng t́m chẳng được! Khi chúng ta mê bèn như nằm mộng, có lục đạo luân hồi, có chuyện này, chẳng phải là không có, thật sự có; tuy có, nó chẳng phải là thật, giống như chúng ta nằm mộng, nhưng trong mộng, quư vị chẳng biết là đang nằm mộng, cứ ngỡ mộng cảnh là thật, chẳng biết đó là giả, là hư vọng. Tới khi tỉnh giấc, mới biết [những mộng cảnh ấy] đều là giả. Nếu trong mộng hiểu được chính ḿnh đang nằm mộng, giấc mộng ấy nhất định rất thú vị, nhất định rất tự tại. Do vậy, Phật pháp nói Phật, Bồ Tát du hư thần thông trên thế gian, v́ sao? Các Ngài biết chính ḿnh đang nằm mộng. Chúng ta nằm mộng mà chẳng biết ḿnh đang nằm mộng, các Ngài biết chính ḿnh đang nằm mộng; v́ thế, tâm t́nh và cảnh giới của chúng ta hoàn toàn khác hẳn!

      Đó là nói về giai đoạn thứ nhất, tức Chánh Giác. Có thể nói A La Hán là một danh xưng học vị của bậc Chánh Giác giống như hiện thời chúng ta nói tới Học Sĩ (Cử Nhân), Thạc Sĩ, Tiến Sĩ. Bồ Tát giống như Thạc Sĩ, Phật giống như Tiến Sĩ, học vị tối cao. Chánh Đẳng Chánh Giác là Bồ Tát, Đẳng là bằng Phật, nhưng vẫn chưa phải là Phật; nói cách khác, rất gần với viên măn, nhưng vẫn chưa đạt tới viên măn thật sự. Đạt tới rốt ráo viên măn sẽ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hoàn toàn chẳng mê, đấy là Phật. Ba danh hiệu này giống như ba danh hiệu học vị (degree).

      V́ thế, đức Phật dạy chúng ta: Ai nấy đều có thể thành Phật. Ngài lại c̣n nói rất minh bạch như trong Hoa Nghiêm và Viên Giác đă nói: “Hết thảy chúng sanh vốn đă thành Phật”, vốn là Phật, vốn đích xác là Phật; chỉ cần quư vị chẳng mê, quư vị là Phật! Quư vị tuy mê, nhưng mê vẫn là Phật. V́ mê là giả, chẳng phải là thật, giác là thật. Nếu là thật, sẽ vĩnh viễn chẳng mất đi; giả th́ chắc chắn có thể bỏ đi. V́ thế, trước hết, chúng ta phải kiến lập tín tâm nơi đây: Chính ḿnh chắc chắn có thể thành tựu! Chỗ khác nhau giữa Phật pháp và các tôn giáo khác là Phật pháp nói đến Tín th́ thứ nhất là tin vào chính ḿnh, kiến lập ḷng tự tin kiên cường, tín tâm theo Lư tánh; đă tự tin rồi th́ sẽ tin tưởng Phật, tin tưởng Bồ Tát, tin tưởng thầy có thể giúp đỡ ḿnh. Nếu chúng ta đánh mất ḷng tin vào chính ḿnh, dẫu Phật, Bồ Tát thần thông lớn tới đâu, trí huệ cao tới đâu đi nữa, vẫn chẳng thể giúp đỡ! Phật, Bồ Tát có thể giúp đỡ ai? Giúp kẻ có ḷng tự tin, người ấy thật sự tin tưởng chính ḿnh có thể thành Phật, tin tưởng chính ḿnh có thể tiêu nghiệp chướng. Do vậy, đầu tiên, nhất định là chính ḿnh phải kiến lập tín tâm.

      Chúng ta gọi A La Hán là thánh nhân, Bồ Tát cao hơn A La Hán một cấp, đương nhiên càng là thánh nhân, Phật là tối cao, được xưng tụng là “thánh trung chi thánh” do ư nghĩa này. Trong phần trên, đă tán thán Ngài là “thiên trung chi thiên” (vị trời của chư thiên); ở đây, tán thán Phật là bậc thánh của các thánh. Tuy chúng ta gọi Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát là thánh nhân, các Ngài chưa hoàn toàn đạt đến địa vị viên măn rốt ráo, chỉ có Phật mới viên măn rốt ráo. V́ thế, “thị thánh chi hựu thánh” (lại là bậc thánh của các thánh). Những lời khen ngợi này đều dành cho Thích Ca Mâu Ni Phật, nhằm để xưng hô với Ngài.

 

(Sao) Tức Thích Ca giả, quá khứ, vị lai, tu tiêu mỗ Phật.

() 即釋迦者,過去未來,須標某佛。

      (Sao: “Tức là Phật Thích Ca”: Nếu là Phật quá khứ và vị lai, cần phải nêu rơ là vị Phật nào).

 

      Trong kinh Phật, nếu nói tới đức Phật khác, nhất định là nói về quá khứ Phật, hoặc vị lai Phật. Chẳng hạn như chúng ta nói tới Di Lặc Bồ Tát, bèn gọi Ngài là Đương Lai Hạ Sanh Phật, Ngài là vị lai Phật, hiện nay vẫn c̣n là Bồ Tát, vẫn chưa thành Phật. Nếu trong kinh chẳng nói “quá khứ, vị lai” th́ [hễ chỉ nói “Phật” th́ tức] là nói Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật là vị thầy căn bản của chúng ta, v́ nền giáo dục và sự giáo học [Phật pháp] lúc thoạt đầu do Ngài khởi xướng, Ngài là người khởi xướng, sáng lập Phật giáo.

 

      (Sao) Thích Ca kiến tọa đạo tràng, nhất độ chi trung, vô nhị Phật cố. Dụ như tiền triều đế chúa, tu xưng quốc hiệu, đương kim thiên tử, trực viết Chí Tôn, diệc dĩ nhất quốc chi trung vô nhị chủ cố. Thị tri đơn ngôn Phật giả, tức Tất Đạt sở thành Hiền Kiếp đệ tứ Phật dă.

      () 釋迦見坐道場,一土之中,無二佛故。喻如前朝帝主,須稱國號,當今天子,直曰至尊,亦以一國之中無二主故。是知單言佛者,即悉達所成賢劫第四佛也。

      (Sao: Đức Thích Ca ngồi nơi đạo tràng. Trong một cơi nước, chẳng có hai vị Phật. Giống như [nói tới] vua chúa trong triều đại trước, cần phải gọi rơ quốc hiệu, [c̣n nói tới] vị thiên tử hiện tại, bèn gọi thẳng là đấng Chí Tôn, cũng giống như trong một nước chẳng có hai chủ. Do vậy, chỉ nói “Phật” th́ chính là nói tới vị Phật thứ tư trong Hiền Kiếp do Thái Tử Tất Đạt Đa tu thành).

 

      Ư nghĩa này rất rơ ràng, đại sư dùng tỷ dụ để giảng rơ. Nhờ vào công cụ khoa học, chúng ta biết vũ trụ to lớn phi thường, nhưng vẫn chẳng rộng lớn, viên măn như trong kinh Phật đă nói. Khoa học đă chứng thực đích xác một phần, tối thiểu là đối với tam thiên đại thiên thế giới như đức Phật đă dạy, các nhà khoa học đă đồng ư. Nói “vô lượng vô biên thế giới” th́ các nhà khoa học c̣n chưa chứng thực được! Địa bàn giáo hóa của một vị Phật là một đại vũ trụ, đấy chẳng phải là quả địa cầu này, địa cầu chỉ là một cứ điểm (foothold, stronghold) trong khu vực giáo hóa của đức Phật mà thôi. Trong Phật pháp, khu vực giáo hóa to lớn ấy được gọi là “đại thiên thế giới”, một đại thiên thế giới có mười ức Ngân Hà Hệ. Một Ngân Hà Hệ là một đơn vị thế giới, một ngàn đơn vị thế giới là một tiểu thiên thế giới, một ngàn tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. Do đại thiên thế giới có ba thứ “thiên”, tức là tiểu thiên, trung thiên, và đại thiên, nên trong Phật pháp thường nói là “tam thiên đại thiên thế giới”.

      Trí huệ và năng lực của Phật vô cùng lớn, chúng ta chẳng thể nào tưởng tượng được. Chúng ta nói “thần thông” th́ thần thông là năng lực. “Thông” () là thông đạt chẳng chướng ngại, bất luận trí huệ, đức năng, hay tài nghệ đều chẳng bị chướng ngại. Nói cách khác, Phật đa tài, đa nghệ, điều ǵ cũng biết, điều ǵ cũng đều có thể. “Thần” () là vượt khỏi sự hiểu biết thông thường của chúng ta. Những ǵ chúng ta không thể tưởng tượng, Ngài đều biết, đều có thể làm được, nên gọi là “thần thông”. Khu vực giáo hóa của Phật là một đại thiên thế giới. Chúng sanh nơi này cơ duyên chín muồi, Ngài bèn đến nơi đây. Chúng ta trong cơi này chẳng chịu tiếp nhận, nghe lời, thầy bèn bỏ đi, sang dạy bên thế giới khác. Thân Phật không chỉ là một thân, Ngài có thể phân thân. Phân thân, nói theo khoa học, cũng là một chuyện có thể được, nhưng hiện thời chúng ta chẳng biết cách làm. Những năng lực này của Phật do đâu mà có? Do định công (công phu định lực) mà có. Trong phẩm Như Lai Xuất Hiện của kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai”. Nói cách khác, hết thảy chúng sanh vốn đều là Phật, nay v́ sao biến thành chúng sanh? V́ sao trí huệ, đức tướng, năng lực của quư vị thảy đều bị mất? “Đản dĩ vọng tưởng, chấp trước, nhi bất năng chứng đắc” (chỉ v́ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc). Đức Phật chỉ nói tới một nhân tố quan trọng, đó là “vọng tưởng, chấp trước”. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là gốc bệnh của chúng sanh. Nếu hoàn toàn không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tâm của quư vị và toàn thể vũ trụ hợp thành một, không có giới hạn.

      Năng lực trí huệ vốn sẵn có, chẳng do học được từ bên ngoài. Một đời đức Phật dạy học bốn mươi chín năm, giảng Bát Nhă hai mươi hai năm. Bát Nhă là trí huệ. Trong toàn bộ giáo học, Bát Nhă là khoa mục trung tâm trong sự giáo học của Phật pháp, giảng lâu nhất. Trong kinh Bát Nhă có hai câu danh ngôn: “Bát Nhă vô tri, không ǵ chẳng biết”. Nếu quư vị đạt được tâm thanh tịnh, ĺa khỏi hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; lúc đó, trong cái tâm thanh tịnh ấy, cái ǵ cũng đều chẳng có. Lục Tổ bảo: “Vốn chẳng có một vật”, đấy là Bát Nhă vô tri. Khi nó khởi tác dụng, không ǵ chẳng biết. V́ sao nó có thể không ǵ chẳng biết? V́ trong cảnh giới vô tri ấy, tâm tĩnh lặng, giống như nước lắng trong, chẳng dấy lên sóng ṃi, khi nước hết sức tĩnh lặng sẽ soi bóng hết thảy cảnh giới bên ngoài giống như một tấm gương soi, soi rơ ràng, không có ǵ chẳng biết! V́ thế, “vô tri” là trí huệ thật sự, hễ “có biết” là hỏng rồi! Có biết, quư vị sẽ có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, giống như nước dậy sóng, soi bóng cảnh giới bên ngoài sẽ vỡ thành từng mảnh nhỏ, chẳng thể soi rất hoàn chỉnh. Quư vị nói “có biết”, tức là sẽ có điều chẳng biết, c̣n vô tri th́ không ǵ chẳng biết. V́ thế, đức Phật mong chúng ta hăy học vô tri, chẳng mong chúng ta học hữu tri. Vô tri chẳng phải là si ngốc, vô tri là trí huệ thật sự, là tâm địa thanh tịnh. Trong tâm chẳng thể có thứ ǵ, thường giữ ǵn cái tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh là giác tâm, tâm thanh tịnh là chánh tâm.

      Phật pháp tuy có rất nhiều tông phái, pháp môn, nhưng trên thực tế, cuối cùng là ba môn “giác, chánh, tịnh”. Bất luận quư vị từ môn nào tiến nhập đều được, đều như nhau. Thiền Tông theo Giác môn, nên chẳng lập văn tự, khởi sự bằng Thiền Định, đó gọi là “giáo ngoại biệt truyền” (truyền riêng ngoài Giáo). Giáo Hạ, bao gồm bảy tông phái, theo Chánh môn. Chánh môn là kiến giải chính xác, tư tưởng chính xác, đương nhiên môn này tương đối chậm hơn một chút. V́ Giác môn là toàn bộ thân, tâm, thế giới, hết thảy buông xuống, cho nên ngay cả kinh điển cũng không cần, pháp thế gian lẫn Phật pháp thảy đều buông xuống, khôi phục cái tâm thanh tịnh, đi theo lộ tŕnh ấy. Lộ tŕnh ấy nhanh chóng, là đốn siêu. Giáo Hạ giống như chúng ta đi học, từ Tiểu Học, Trung Học, tới Đại Học tuần tự thong thả tiến từng bước, bồi dưỡng tư tưởng và kiến giải đều chính xác, cuối cùng vẫn đạt tới mục tiêu giống hệt!

      Đi theo Tịnh môn có hai tông phái: Tịnh Độ Tông và Mật Tông; nhưng nói theo hiện thời, Mật chẳng bằng Tịnh Độ, v́ sao? Hiện tại yêu ma quỷ quái đều vào trong Mật. Hiện thời, Mật chẳng phải là Phật Mật, mà là Ma Mật, Yêu Mật, Quỷ Mật, Quái Mật, chuyện này phiền lắm! V́ thế, có người học Mật, học chẳng bao lâu, học mấy tháng thường biến thành bệnh thần kinh, bệnh tật ǵ cũng đều phát sanh. Thật ra, Mật Tông đích xác là rất hay, chỉ v́ hiện thời yêu ma quỷ quái xâm nhập, nguyên nhân v́ đâu? Mật dễ dàng xâm nhập nhất! Mật qua lại với quỷ thần hết sức mật thiết, nên rất dễ biến chất. Tịnh Độ Tông chuyên niệm A Di Đà Phật, chẳng dễ dàng biến chất, yêu ma quỷ quái vào trong Tịnh Độ Tông cũng niệm A Di Đà Phật; do vậy, biến thành chánh pháp, ma cũng biến thành chánh, nên Tịnh Độ chẳng bị biến thành tà pháp. Sở dĩ Mật rất dễ biến thành tà, chẳng phải v́ Mật chẳng tốt đẹp, mà do hiện tại Mật bị yêu ma quỷ quái xâm nhập, chúng ta chẳng có cách nào phân biệt nó là thật hay giả. Như tôi thấy, tại Trung Quốc và ngoại quốc tôi đă thấy rất nhiều, chín mươi phần trăm là giả, chẳng thật! Mật thật sự tôi cũng đă từng gặp rồi. Lúc tôi mới học Phật, Chương Gia đại sư là Mật thật sự, chắc chắn chẳng phải là Tà Mật. Hiện thời, Mật có rất nhiều vấn đề, mà lại c̣n là những vấn đề vô cùng nghiêm trọng, chúng ta phải nhận biết chuyện này! Chúng ta chọn lựa pháp môn Tịnh Độ, theo ngơ Tịnh, chuyên môn bồi dưỡng cái tâm thanh tịnh; bởi lẽ, trong tất cả các pháp môn, học pháp môn này đơn giản nhất, dễ dàng nhất.

      Chư vị phải nhớ, pháp môn thù thắng nhất là pháp môn đơn giản nhất. Nếu có ai nói: “Pháp này quá đơn giản, đâu có dễ dàng như vậy?” Kẻ ấy chẳng tin tưởng, tức là hắn thiếu phước báo, nghiệp chướng sâu nặng! Nếu pháp môn này phức tạp, chẳng thể coi là một pháp môn thật sự hay. Pháp thật sự hay nhất định phải đơn giản, nhất định phải rất dễ dàng, ai nấy đều có thể tu, ai nấy đều tu thành công, khi ấy mới là pháp môn bậc nhất. Do vậy, pháp môn Tịnh Độ là pháp môn thù thắng nhất trong toàn bộ Phật pháp, trong vô lượng vô biên pháp môn; v́ thế, được mười phương chư Phật tán thán.

      Nói tới cuối cùng là ba môn “giác, chánh, tịnh” này; trong ba môn ấy, chúng ta chọn một môn để nhập đạo là được, đây là một mà ba, tuy ba mà một. Thí dụ như quư vị từ Tịnh môn mà vào, quư vị chẳng hề không chánh, chẳng hề không giác, Giác lẫn Chánh đều đạt được. Giống như giảng đường này có ba cửa, quư vị theo bất luận cửa nào để tiến vào, đều giống như nhau, toàn bộ đều đạt được. Chẳng thể nói là ta theo Tịnh môn tiến vào, tới khi đó, ta vẫn c̣n có vấn đề nơi Chánh và Giác, ta c̣n phải tu học thêm, chẳng có đạo lư này. Giác nhất định là Chánh, nhất định là Tịnh, Chánh nhất định là Giác, nhất định là Tịnh, Tịnh nhất định là Giác, nhất định là Chánh, là một mà ba, tuy ba mà một; nhưng ba môn này khó dễ khác nhau, chúng ta phải khéo chọn lựa!

      Trong một khu vực giáo hóa, chỉ có thể có một vị Phật, Phật giống như hiệu trưởng. Một trường học chỉ có thể có một hiệu trưởng, chẳng thể có hai hiệu trưởng. Tuy có người đạo đức, học vấn, trí huệ, thần thông hoàn toàn b́nh đẳng giống hệt như Phật, nhưng trong khu vực giáo hóa ấy, vẫn phải chọn ra một vị làm hiệu trưởng, chẳng thể nào hết thảy mọi người đều làm hiệu trưởng. Chúng ta gọi những người ấy là Đẳng Giác Bồ Tát, hoàn toàn b́nh đẳng với Phật. Trong nhà trường ấy, các Ngài làm giáo sư, hoặc đảm nhiệm giáo vụ, nhưng hiệu trưởng luôn luôn chỉ có một người. Trên danh phận tuy là như thế, nhưng địa vị của họ nhất định b́nh đẳng. Không chỉ hiệu trưởng và giáo viên b́nh đẳng, mà [ngay cả] địa vị học tṛ cũng b́nh đẳng. Do vậy, Phật và chúng sanh cũng là b́nh đẳng, trong Phật pháp quả thật không có cao thấp. Căn nguyên của thuật ngữ “b́nh đẳng” là do kinh Phật mà có, thanh tịnh, b́nh đẳng.

      Mỗi cơi Phật là một đại thiên thế giới. Quả địa cầu này là một phần tử của đại thiên thế giới, là một tinh cầu nhỏ bé mà thôi! Giáo khu (khu vực giáo hóa) của Thích Ca Mâu Ni Phật là một đại thiên thế giới. Do vậy, chúng ta nói Phật giáng sanh hay nhập diệt là nh́n theo mặt h́nh tích, [tức là] nh́n từ h́nh tướng bên ngoài, trên thực tế là chẳng sanh, chẳng diệt. Không riêng ǵ đức Phật chẳng sanh, chẳng diệt, mà mỗi cá nhân chúng ta đều là chẳng sanh, chẳng diệt, những ǵ đức Phật có, chúng ta thảy đều có. Do vậy, kinh điển toàn nói những chuyện thuộc bổn phận của chính chúng ta. Như kinh Hoa Nghiêm toàn là giảng về chính ḿnh, chắc chắn chẳng có một câu nào nói đến chuyện ngoài chính ḿnh ra! Không có! Chúng ta đọc kinh Phật, nhất định phải hiểu được ư nghĩa này!

      Đức Phật dạy, trong “đại thời gian” hiện tại, cái “đại thời gian” ấy cũng rất dài, chẳng thể dùng một hai năm để tính toán, chỉ dùng Kiếp để tính toán, [Kiếp ở đây] là đại kiếp. “Kiếp” (Kalpa) là đơn vị thời gian, có tiểu kiếp, trung kiếp, và đại kiếp, ở đây nói tới đại kiếp. Thông thường chúng ta nói tiểu kiếp là “tăng giảm kiếp” (Antah-kalpa). Theo kinh dạy, khi thọ mạng con người dài nhất là tám vạn bốn ngàn năm, đây là tuổi thọ dài cực hạn của con người. Từ tám vạn bốn ngàn năm, cứ mỗi một trăm năm lại giảm một tuổi, giảm như vậy tới mười tuổi, mười tuổi là cực hạn thấp nhất của tuổi thọ con người; sau đấy, cứ mỗi một trăm năm lại tăng thêm một tuổi, tăng thêm cho đến tám vạn bốn ngàn tuổi, chu kỳ một tăng một giảm này được gọi là một “tiểu kiếp”. Phật giáo tính toán đơn vị thời gian theo cách tính như thế. Hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp (Asankya-kalpa), bốn trung kiếp là một đại kiếp (Maha-kalpa).

      Trong một đại kiếp này, đức Phật dạy: Trong thế giới này, có một ngàn vị Phật xuất thế, Thích Ca Mâu Ni Phật là vị Phật thứ tư trong đại kiếp này. Kiếp này có tên là Hiền Kiếp (Bhadra-kalpa) v́ hiền nhân rất nhiều, [tức là] Phật, Bồ Tát thành tựu con người rất nhiều, do có nhiều người hiền nên gọi là Hiền Kiếp. Thích Ca Mâu Ni Phật là vị Phật thứ tư trong Hiền Kiếp, vị Phật thứ năm là Di Lặc Phật, ngài Di Lặc hiện đang là Bồ Tát. Di Lặc Bồ Tát giáng thế vào năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm sau. Tới chỗ này, chúng ta đă giới thiệu xong chữ Phật trong tựa đề “Phật Thuyết A Di Đà Kinh”. Tiếp theo đây là giảng chữ “Thuyết” .

 

      (Sớ) Thuyết giả, duyệt dă.

      () 說者,悅也。

      (Sớ: Thuyết là hoan hỷ).

 

      Vào thời cổ, chữ Duyệt () trong Hỷ Duyệt (hoan hỷ) viết cùng một mặt chữ với chữ Thuyết (: nói) trong hiện tại. Nói th́ đương nhiên hoan hỷ mới nói, chẳng hoan hỷ sẽ chẳng thể nói. Nhất là nói kinh Di Đà, đức Phật hoan hỷ tới tột bậc, v́ sao? Tất cả hết thảy các pháp môn đều phải đi đường ṿng rồi mới thành tựu, đều khiến cho chúng sanh phải chịu đựng những nỗi khổ sở, đi theo rất nhiều chặng đường oan uổng rồi mới có thể thành tựu, chỉ riêng pháp môn này là thành tựu trong một đời, trực tiếp thành tựu. Có thể đem pháp môn này giới thiệu với chúng sanh, lẽ nào đức Phật chẳng vui sướng? Đức Phật mang tâm nguyện mong cho mọi người đều thành tựu trí huệ viên măn, mọi người đều thành Phật. Quư vị phải nhớ: “Thành Phật”, chẳng phải là thành thần! Thành thần hay thành tiên đều chẳng thể giải quyết vấn đề, v́ sao? Thần tiên c̣n có mê hoặc, điên đảo. Phật, Bồ Tát chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo. Đức Phật mong chúng ta thành tựu trí huệ, khôi phục năng lực vốn có của chính ḿnh, đức Phật giáo học nhằm mục đích này! Luôn mong chúng ta thành tựu sớm một chút, giống như cha mẹ quan tâm, yêu thương con cái, luôn mong muốn con học hành sớm ngày thành tựu, sự nghiệp sớm có ngày viên măn. Đức Phật nói bộ kinh này lợi ích chúng sanh chẳng ǵ có thể sánh bằng, mà mọi người cũng phải chịu tiếp nhận, chịu tin tưởng th́ mới có thể nói! Nói ra mà không ai tin tưởng, nói uổng công rồi! Đức Phật quan sát thấy học tṛ có thể tiếp nhận, cho nên Ngài vô cùng hoan hỷ diễn nói. Bộ kinh này và kinh Vô Lượng Thọ là đồng bộ, kinh Di Đà là giới thiệu đơn giản, kinh Vô Lượng Thọ là thuyết minh tỉ mỉ. Hai bộ kinh này có nội dung hoàn toàn tương đồng.

 

      (Sớ) Duyệt sở hoài cố.

      () 悅所懷故。

      (Sớ: Do thỏa thích điều ấp ủ trong ḷng).

 

      “Hoài” () là “hoài băo” (điều ôm ấp, kỳ vọng trong ḷng); nói thật ra là nguyện vọng. Nguyện vọng thật sự có thể đạt được, thật sự hoan hỷ, thật sự hỷ duyệt .

 

      (Sớ) Tứ Biện tuyên diễn cố, thập nhị bộ đẳng, chí Tứ Tất Đàn, giai thị Thuyết nghĩa.

      () 四辯宣演故,十二部等,至四悉檀,皆是說義。

      (Sớ: Từ dùng Tứ Biện Tài tuyên diễn mười hai bộ v.v... cho tới Tứ Tất Đàn đều là ư nghĩa của chữ Thuyết).

 

      Đối với mỗi câu đều được giảng rơ tỉ mỉ trong lời chú giải tiếp theo đây, nay chúng ta coi lời chú giải, xin hăy xem lời Sao.

 

      (Sao) Duyệt sở hoài giả.

      () 悅所懷者。

      (Sao: Do thỏa thích điều ấp ủ trong ḷng).

 

      V́ sao đức Phật hoan hỷ dường ấy?

 

      (Sao) Bổn nguyện độ sanh, đắc cơ nhi thuyết, sở hoài sướng duyệt.

      () 本願度生,得機而說,所懷暢悅。

      (Sao: Bổn nguyện độ sanh có cơ hội để nói, thỏa thích nỗi niềm hằng ấp ủ).

 

      Nói thật ra, đức Phật chỉ có một nguyện vọng là giúp đỡ chúng sanh, giúp cho chúng sanh khôi phục năng lực sẵn có, khôi phục trí huệ vốn có, khôi phục th́ gọi là “thành Phật”; chỉ có một mục đích rất đơn thuần như vậy. Đức Phật quả thật có năng lực giúp đỡ chúng ta, nhưng chúng ta không chịu tiếp nhận, không tin, nên đức Phật chẳng có cách nào cả! V́ thế, chẳng phải là Phật thiếu từ bi, chẳng phải là Ngài không chịu giúp đỡ chúng ta, mà do chúng ta bài xích, cự tuyệt, chẳng tin, Ngài chẳng có cách ǵ hết! Chúng ta chịu tin tưởng, chịu tiếp nhận, đức Phật liền hoan hỷ; kinh nói người ấy có thiện căn, có phước đức. Thiện căn và phước đức trọn đủ, nhất định đức Phật chẳng bỏ lỡ cơ hội ấy, nhất định tới giúp đỡ người ấy. Nếu người ấy thiện căn và phước đức trọn đủ, chịu tin, chịu phát nguyện, chịu nỗ lực tu tập, mà nếu người ấy cả đời chẳng gặp gỡ Phật pháp, Phật sẽ có lỗi với kẻ ấy. “Phật thị môn trung, bất xả nhất nhân” (trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai), Phật có lỗi với người ấy. Nếu kẻ ấy không tin, không chịu phát nguyện, không chịu khéo học, mà nếu Phật tới độ kẻ ấy sẽ là chuyện thừa thăi, vô dụng! Cơ cảm tương ứng, Phật bèn đến. Nhất là nói bộ kinh này, sung sướng quá, thẳng thừng giúp đỡ quư vị thành tựu, thành tựu ấy là thành tựu rốt ráo viên măn. Việc này hoàn toàn tương ứng với bổn nguyện giúp đỡ chúng sanh, Ngài có thể t́m được những người chịu tin, chịu học, bèn nói với họ pháp môn này.

      Tiếp đó, đại sư trích dẫn kinh Đại Bổn, Đại Bổn chính là kinh Vô Lượng Thọ, Ngài trích dẫn kinh văn từ kinh Vô Lượng Thọ.

 

      (Sao) Như Đại Bổn, Thế Tôn dục thuyết thử kinh.

      () 如大本世尊欲說此經。

      (Sao: Như trong kinh Đại Bổn, lúc đức Thế Tôn sắp nói kinh ấy).

 

      “Thử kinh” là kinh Vô Lượng Thọ. Hai bộ kinh Di Đà và Vô Lượng Thọ có ư nghĩa hoàn toàn tương đồng, có thể dùng chung cho nhau.

 

      (Sao) Tiên thả chư căn duyệt dự, nhan sắc dị thường.

   () 先且諸根悅豫,顏色異常。

      (Sao: Trước hết, các căn lộ vẻ vui sướng, vẻ mặt khác với b́nh thường).

 

      Trước khi giảng kinh, trông đức Phật dung mạo rạng ngời, hết sức vui sướng, hết sức hoan hỷ; khi ấy, ngài A Nan thấy vậy, tự nhủ trước nay ta chưa hề thấy đức Phật hoan hỷ, rạng rỡ giống như hôm nay. “Nhan sắc dị thường”: Chẳng giống lúc b́nh thường, hoan hỷ phi thường! Trước khi nói kinh, đức Phật hiện vẻ hỷ duyệt như vậy, chính là v́ Ngài sắp giới thiệu pháp môn giúp đỡ chúng sanh bậc nhất trong vô lượng vô biên pháp môn. Trong giảng đường này, chúng tôi giảng kinh đă giảng thật lâu, thấu hiểu sâu đậm pháp môn này là pháp môn bậc nhất trong vô lượng pháp môn.

 

      (Sao) Huống kim tŕ danh niệm Phật, đắc cơ nhi thuyết, duyệt khả tri hỹ.

      () 況今持名念佛,得機而說,悅可知矣。

      (Sao: Huống chi nay pháp tŕ danh niệm Phật gặp được căn cơ để nói, có thể biết là đức Phật vui sướng [dường nào])

 

      Phương pháp tu hành trong Tịnh Độ cũng rất nhiều, Tŕ Danh là bậc nhất, đơn giản nhất, dễ dàng nhất, thẳng chóng nhất, ổn thỏa nhất. Nói thật ra, pháp này tương ứng với Thiền, mà cũng tương ứng với Mật. Niệm một câu A Di Đà Phật là Thiền Tịnh Mật Tam Tu. Quư vị đang tam tu mà chẳng biết! Vừa mở đầu, kinh Vô Lượng Thọ đă biểu thị pháp, ba ư nghĩa này hết sức rơ rệt, cho nên chẳng cần tu pháp nào khác! Quư vị nói: “Cách tu như thế nào?” Một câu A Di Đà Phật niệm đến cùng là được rồi, tới lúc đó, sẽ tự nhiên hiểu rơ, tự nhiên tâm khai ư giải, niệm tới mức cái tâm thanh tịnh, niệm tới nhất tâm bất loạn. Nhất tâm bất loạn là “minh tâm kiến tánh” trong Thiền Tông, là “tam mật tương ứng” trong Mật Tông, nhưng phương pháp [tŕ danh] này dễ hơn Thiền, mà cũng dễ hơn Mật, thành tựu hoàn toàn giống như Thiền và Mật. V́ thế, nó thật sự là một pháp môn chẳng thể nghĩ bàn.

      “Đắc cơ”: Cơ () là kẻ có căn khí, ở đây là kẻ có thể tín, có thể nguyện, chịu niệm Phật, gặp được người như vậy, đức Phật bèn hoan hỷ. Gặp được người như vậy, người ấy nhất định đắc độ trong một đời, nhất định thành Phật trong một đời. Lẽ đâu đức Phật chẳng hoan hỷ? Đương nhiên là hoan hỷ phi thường. Đây là nói chữ “duyệt” có ư nghĩa thỏa thích bổn hoài. Cũng chính v́ như vậy, nay chúng ta muốn giới thiệu Phật pháp với người khác, kinh điển nhiều lắm, kinh điển Phật giáo nổi tiếng là nhiều, phương pháp, đường lối cũng quá nhiều, chúng ta giới thiệu với người khác điều ǵ đây? Chúng ta chỉ giới thiệu pháp môn này. V́ vậy, tôi giảng kinh trong ngoài nước, luôn giới thiệu pháp môn này với mọi người, người chịu tin sẽ đắc độ. Do đó, chúng ta chẳng cần làm chuyện náo nhiệt, đừng phô trương ầm ĩ, [khoe khoang] thính chúng của tôi đến mấy trăm người, mấy ngàn người, không nên làm chuyện ấy! Mấy ngàn người hay mấy trăm người sau khi nghe, chẳng có một người nào tin tưởng, chẳng có một ai chịu hành, vẫn chẳng phải là uổng công giảng ư?

      Chúng ta tới một nơi nào có một người chịu tin tưởng, một người phát nguyện, thật sự chịu tu hành, người ấy sanh về thế giới Tây Phương, thấy Phật, thành Phật, đấy là có ư nghĩa. Tới một nơi độ được một người, giúp đỡ người ấy thành Phật, nơi ấy là nơi chúng ta phải đến. Nếu chẳng ai tin tưởng, không ai bằng ḷng tu th́ mười vạn người, trăm vạn người, chúng ta tới đó [giảng kinh, thuyết pháp] cũng chẳng có ư nghĩa ǵ hết! V́ thế, chúng ta chẳng cần phô trương, đừng nên chuộng sĩ diện hăo, mà phải thật sự giúp đỡ người khác. Tôi mỗi khi tới một nơi nào, nói chung có được một hai người, thậm chí chỉ có một người [chịu thật sự tu tập], tôi đều rất hoan hỷ, v́ sao? Người ấy thật sự tin tưởng, thật sự phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, nói chung, kể như tôi đă giúp đỡ người khác, chẳng uổng công tới! Thật sự hoan hỷ, giúp đỡ một người thành Phật, đúng là nhân duyên rất hiếm có, hết thảy các chuyện tốt đẹp đều chẳng thể sánh bằng chuyện này. Người ấy thành Phật, trong tương lai độ bao nhiêu chúng sanh! Chúng ta phải chú trọng thực chất.

 

      (Sao) Tứ Biện giả.

      () 四辯者。

(Sao: Tứ Biện là...)

 

      “Biện” là biện tài, trong kinh Phật thường nói có bốn thứ, [gọi chung là] Tứ Vô Ngại Biện Tài, thứ nhất là:

 

      (Sao) Viết Nghĩa.

   () 曰義。

      (Sao: Là Nghĩa Biện Tài).

 

      “Nghĩa” là nghĩa lư, là lư luận. [Nghĩa Vô Ngại Biện Tài là] thông đạt lư luận chẳng chướng ngại; nói thông tục là hiểu rành rẽ đạo lư, chẳng bị chướng ngại. Thứ hai là...

 

      (Sao) Viết Pháp.

      ()曰法。

      (Sao: Pháp Biện Tài).

 

      “Pháp” là phương pháp. Đức Phật giảng tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn, phương pháp vô ngại. Nếu Ngài có chướng ngại, làm sao có thể nói nhiều dường ấy được? Phương pháp này không được, bèn đổi sang phương pháp khác. Phương pháp, đường lối rất nhiều, nói chung nhằm dẫn dụ quư vị bước vào chánh đạo. Đây là biện tài của Phật. Thứ ba là...

 

      (Sao) Viết Từ.

      () 曰詞。

      (Sao: Từ Biện Tài).

 

      “Từ” là ngôn ngữ, [Từ Vô Ngại Biện Tài là] ngôn ngữ chẳng bị chướng ngại. Kinh thường nói: “Phật dĩ nhất âm nhi thuyết pháp, chúng sanh tùy loại các đắc giải” (đức Phật dùng một âm thanh để thuyết pháp, chúng sanh tùy theo mỗi loài đều hiểu). Đức Phật thuyết pháp tại nơi đó, bất luận là người nào đến nghe, đều nghe rất rơ ràng, đều nghe rất minh bạch, ngôn ngữ quá xảo diệu. Nếu đức Phật ngự trên giảng đài, người Hoa nghe [sẽ cảm thấy]: “Đức Phật nói bằng tiếng Hoa, Ngài nói bằng tiếng quê hương của chúng ta!” Người Nhật Bản nghe [sẽ thấy] đức Phật giảng bằng tiếng Nhật. Đức Phật cũng chẳng cần phiên dịch. Một âm thanh thốt ra, người ở mỗi nơi nghe thành tiếng địa phương của họ. Điều này tuyệt diệu chẳng thể nói nổi, đức Phật có năng lực ấy. Gần đây, các khoa học gia nghiên cứu, trong tương lai có thể phát minh một loại computer có thể tự động phiên dịch các thứ ngôn ngữ bất đồng, mọi người đều có thể nghe hiểu! Trong quá khứ, chúng ta rất khó tin tưởng [chuyện này], các khoa học gia hiện thời chứng tỏ: Đó là chuyện có thể làm được. V́ thế, chư thiên đến nghe, [sẽ thấy Phật nói] bằng ngôn ngữ của chư thiên. Từ quỷ đạo đến nghe, [sẽ thấy đức Phật nói] bằng ngôn ngữ của quỷ đạo. Súc sanh tới nghe, [sẽ thấy đức Phật nói] bằng ngôn ngữ súc sanh. Quá kỳ diệu! Đấy là Từ Vô Ngại. Thứ tư là:

 

      (Sao) Viết Nhạo Thuyết dă.

      () 曰樂說也。

      (Sao: Nhạo Thuyết Vô Ngại).

 

      Có ba thứ Biện Tài trên đây, nhưng chẳng thích giảng, sẽ chẳng có cách nào hết! “Nhạo Thuyết” là người ấy thích giảng, chẳng ngại phiền, không nề hà mệt mỏi. Chỉ cần gặp phải đối tượng, bèn hết sức vui ḷng giúp đỡ, dắt d́u người khác, giúp đỡ người khác vô điều kiện. Chúng ta phải học tập điều này.

 

      (Sao) Tứ giai vô ngại, danh chi viết Thuyết.

      () 四皆無礙,名之曰說。

      (Sao: Bốn điều ấy đều vô ngại, nên gọi là Thuyết).

     

      Ở đây, Thuyết bao gồm bốn ư nghĩa vô ngại. Trong kinh điển có [nói tới] rất nhiều vị Phật, Bồ Tát, [đối với] trí huệ, thần thông, đức năng của các Ngài, có những điều chúng ta chẳng thể học theo, nhưng cũng có những điều chúng ta có thể học tập. Có thể học tập th́ chúng ta phải tận hết khả năng học tập. Như ở nơi đây, bản thân chúng ta hiểu được Phật pháp bao nhiêu, phải giới thiệu với mọi người bấy nhiêu! Có người nói: “Nói sai Phật pháp, phải chịu trách nhiệm nhân quả!” Gánh trách nhiệm nhân quả giống như chỉ sai đường, báo hại người ta phải đi bao nhiêu con đường oan uổng! Đây là chuyện quư vị có lỗi với người ta. Phật pháp là chỉ đường! Chúng ta tuân thủ nguyên tắc do Khổng lăo phu tử đă dạy: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri” (biết th́ nói là biết, không biết bèn nói không biết), sẽ không chỉ sai đường! Phàm kẻ chỉ sai đường đều là phường ham cao xa, hiếu thắng, không biết mà cứ nhận bừa là biết, nên mới phạm lỗi! Tôi hiểu ư nghĩa này bèn giảng cho quư vị nghe, chỗ kia không hiểu, không hiểu th́ tôi chẳng giảng, đừng sợ tẽn ṭ, đừng sợ mất mặt, chắc chắn quư vị sẽ chẳng giảng trật.

      Từ xưa tới nay đều là như vậy, người ta chuộng thể diện! Học Phật chớ nên có chuyện này, phải thật thà! Ta hiểu đoạn này ta có thể giảng, đoạn kia ta không hiểu, ta đọc lướt qua, đọc lướt qua chẳng bị khuyết điểm! Chúng tôi đọc rất nhiều bản chú giải của cổ nhân, phát hiện rất nhiều trường hợp kinh văn có rất nhiều ư nghĩa trong ấy, nhưng v́ sao lời chú giải chẳng giảng? Viết mấy câu đơn giản, sơ sài cho xong, cớ sao chẳng chú giải cặn kẽ? Về sau, chúng tôi hiểu: Đoạn ấy, Ngài cũng không hiểu, nhưng chẳng mắc khuyết điểm! Nếu Ngài dùng ư tưởng của chính ḿnh để giải, sẽ có thể giảng sai. V́ thế, Ngài dè dặt, cẩn thận, chính ḿnh không biết, chưa lănh ngộ được, quyết định không dám tùy tiện nói lung tung! Chư vị thuyết pháp cho hết thảy chúng sanh, tuân thủ nguyên tắc này, bất cứ lúc nào, bất luận nơi đâu, đều chẳng có khuyết điểm, chỉ có công đức, không mắc khuyết điểm, phải ghi nhớ điều này!

 

      (Sao) Trung Luận vân.

      () 中論云。

      (Sao: Trung Quán Luận nói:)

 

      Trích dẫn một đoạn từ Trung Quán Luận.

 

      (Sao) Chư Phật y Nhị Đế, vị chúng sanh thuyết pháp.

   () 諸佛依二諦,為眾生說法。

      (Sao: Chư Phật nương vào Nhị Đế để thuyết pháp cho chúng sanh).

 

      Nhị Đế là Chân Đế và Tục Đế, Chân Tục nhị đế. Chân Đế là chân thật, Lư chân thật, Sự chân thật, nhưng chúng sanh chẳng thấy, Phật, Bồ Tát thấy được, đó là thật. Tục Đế là thế tục, tức kiến giải và hiểu biết thông thường của người thế tục; chúng ta tùy thuận thế tục để nói, mọi người sẽ rất dễ hiểu. V́ sao? V́ thường thức và kiến giải của quư vị có thể đạt đến. Do đó, đức Phật thuyết pháp luôn chẳng rời khỏi hai nguyên tắc sau đây:

- Một là cảnh giới do đích thân Ngài chứng đắc.

- Hai là nói theo hoàn cảnh sống hiện thực của chúng ta.

Chân và Tục có thể viên dung, chúng ta sẽ sống rất hạnh phúc, rất mỹ măn.

      Đức Phật giáo hóa các chúng sanh tuân theo tiêu chuẩn: Nương vào Chân Tục nhị đế. Tŕnh độ [của thính chúng] càng cao th́ thành phần thuộc Chân Đế [trong lời giảng] càng nhiều. Càng là kẻ mới học, thành phần Tục Đế [trong lời Phật giảng] càng nhiều, phương diện Chân Đế ít hơn. Dạy hàng đại Bồ Tát th́ Chân nhiều, Tục ít. Nói theo Ngũ Thừa Phật pháp th́ đức Phật dạy người, dạy trời, Tục Đế chiếm phần hết sức quan trọng, Chân chẳng qua là điểm thêm đôi chút mà thôi! Lên cao hơn là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Chân sẽ dần dần chiếm đa số, thành phần Tục chiếm ít hơn. Đó là y Chân Tục nhị đế để thuyết pháp.

      Nhưng phải hiểu: Chân và Tục chẳng hai. Trong cái nh́n của Phật mới có thể thấy như vậy. Chân và Tục quả thật là một, chẳng hai. Chẳng hạn như chúng ta nêu thí dụ, kinh thường dạy: “Phiền năo tức Bồ Đề”, Bồ Đề là Chân, phiền năo là Tục, chúng là một, không hai. Trên thực tế, v́ sao trở thành có phiền năo và Bồ Đề? Do mê hay ngộ! Mê th́ quư vị mê ǵ? Mê Bồ Đề. Bồ Đề bị mê th́ sẽ không gọi là Bồ Đề, thay đổi danh xưng thành phiền năo. Quư vị ngộ là ngộ ǵ? Ngộ phiền năo. Nếu giác ngộ phiền năo, chẳng c̣n gọi nó là phiền năo nữa, mà sửa tên thành Bồ Đề, chuyện là như vậy đó. Do vậy, mê th́ có phiền năo, ngộ là Bồ Đề, chỉ đổi danh xưng, chẳng thay đổi Sự, trên mặt Sự là như nhau.

    Nếu chúng ta hỏi: Người giác ngộ c̣n có phiền năo hay không? Người giác ngộ thật sự chẳng có phiền năo. Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n có tâm hoan hỷ, tâm hỷ duyệt, đấy chẳng phải là phiền năo ư? Nơi Phật chẳng gọi là phiền năo, mà gọi là Bồ Đề. Mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham muốn đều là Bồ Đề; đối với chúng ta, mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham muốn là phiền năo. V́ sao có sự sai biệt ấy? Chúng ta bị mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham muốn ô nhiễm, tâm chúng ta chẳng thanh tịnh. Thích Ca Mâu Ni Phật mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham muốn bày ra trước mặt, tâm địa Ngài chẳng nhiễm, mà thanh tịnh; sai biệt ở chỗ này! Nếu trong cuộc sống hằng ngày, trong đăi người, tiếp vật, mừng, giận, buồn, vui, mà chúng ta có thể giữ được tâm địa thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần th́ mừng, giận, buồn, vui là Bồ Đề.

     Có người chẳng hiểu, nghĩ học Phật là chuyện rất đáng kinh sợ. V́ sao? Học Phật không có Ái nữa. Không có Ái th́ làm sao được? Đáng sợ vô cùng! Thật ra, học Phật th́ Phật là thật sự yêu thương, chẳng giả! Người thế gian tuy cảm thấy Ái rất đáng quư, nhưng đều là giả, hư t́nh giả ư, chẳng phải là chân ái, mà là giả ái. Khi yêu nhau bèn kết hôn, hai hôm sau nghe nói lại ly hôn, đó chẳng phải là chân ái, v́ ḷng ái ấy bị biến đổi! Không giống như Phật, Bồ Tát! Ḷng ái của Phật, Bồ Tát vĩnh viễn bất biến. Quư vị tôn kính các Ngài, các Ngài yêu thương, che chở quư vị; quư vị hủy báng, hăm hại các Ngài, các Ngài vẫn yêu thương, che chở quư vị, chẳng hề đổi dạ, đấy gọi là Bồ Đề, là thật! V́ thế, ḷng Ái thật sự ở trong Phật pháp, trong thế gian không có! Thế gian hư t́nh giả ư, nhất định phải hiểu rơ ràng, chớ bị lừa. V́ thế, bảo quư vị phải dùng lư trí, chớ nên dễ dăi xử sự theo cảm t́nh. Cảm t́nh là mê, lư trí là giác, phải lấy lư trí làm chủ. Tuy có cảm t́nh, nhưng t́nh sanh từ lư trí, chẳng sanh từ mê hoặc, điên đảo, chẳng sanh từ mê chấp, mà sanh từ lư trí, Phật pháp nói tới chuyện này. Thông thường, chúng ta chẳng nói Ái, mà thay đổi danh xưng thành “từ bi”, từ bi là Ái. Nói cách khác, lư tánh ái (ḷng yêu thương dựa trên lư tánh) là từ bi, c̣n [ḷng yêu thương] sanh từ phân biệt, chấp trước, t́nh thức th́ gọi là Ái. Một đằng là danh xưng khi mê, một đằng là danh xưng lúc giác ngộ, khác nhau ở chỗ này!

      Giáo học Phật pháp là một nghệ thuật cao độ, ở đây nói là “y Nhị Đế”. Kiến trúc Phật giáo thể hiện ư nghĩa này. Đại điện của Phật, tức Đại Hùng Bảo Điện, là một kiến trúc chủ yếu nhất trong tự viện, giống như một hội đường (ṭa nhà dùng để nhóm họp)[2], hết thảy những cuộc nhóm họp trọng yếu phải được cử hành tại đó. Chúng ta thấy kiến trúc ấy bên ngoài là hai tầng, bên trong là một tầng, v́ sao xây cất theo cách ấy? Hai tầng tượng trưng Nhị Đế, một tầng bên trong tượng trưng Nhất Như. Chân Tục nhất như, Nhị Đế bất nhị. Ngay cả kiến trúc cũng đều biểu thị pháp, thể hiện dụng ư này, chẳng phải là xây cất tùy tiện. Đây là nói thêm cho quư vị hiểu!

 

      (Sao) Từ Vô Ngại Trí, dĩ thế trí sai biệt thuyết.

      () 詞無礙智,以世智差別說。

      (Sao: Từ Vô Ngại Trí, dựa trên trí thế gian mà nói khác biệt [tùy theo hoàn cảnh, thời điểm]).

 

      Trong “Từ Vô Ngại” có rất nhiều ư nghĩa, chúng ta vừa mới nói một ư nghĩa là “Phật dùng một âm thanh để thuyết pháp, chúng sanh tùy theo từng loài đều hiểu”, đấy là Từ Vô Ngại. Từ Vô Ngại kiểu này chúng ta không thể học được, nhưng Từ Vô Ngại theo nghĩa thứ hai, chúng ta có thể học được. Học ǵ vậy? Nguyên lư, nguyên tắc, và tinh thần của Phật pháp vĩnh viễn bất biến, nhưng thuyết pháp có thể do tùy lúc, tùy chỗ mà nói khác nhau. Chẳng hạn như người nghe giảng chúng ta đều là đồng tu đang học Tịnh Độ, chúng tôi có cách nói theo kiểu tu Tịnh Độ. Nếu tôi đến Thiền Đường bèn giảng Thiền. Tôi có một người bạn thân là pháp sư Thánh Nhất, Ngài tham Thiền, trong chùa của Ngài có tới bốn mươi người hằng ngày đều ngồi tham Thiền. Tôi tới Hương Cảng, Ngài cũng mời tôi giảng khai thị; nói chung, tôi chẳng thể giảng Tịnh Độ, chỉ đành giảng Thiền, khế hợp căn cơ của bọn họ, giảng Đàn Kinh, giảng kinh Kim Cang, lấy những tài liệu trong ấy để nói với họ. Nếu thính chúng là người kinh doanh, mua bán, tôi giảng kinh nhất định phải dạy họ làm thế nào để phát tài, họ mới hoan hỷ, đó là “vô ngại”. Nếu thính chúng là dân biểu, đại biểu Quốc Hội, và ủy viên Lập Pháp, nội dung ư nghĩa lời tôi nói phải là tham chánh như thế nào, làm thế nào để thực hiện tốt việc chính trị trong đất nước, làm sao khiến cho dân chúng sống cuộc đời giàu có, khỏe mạnh, an ổn, vui sướng, mà chẳng khuyên họ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, giảng theo cách ấy họ chẳng thể tiếp nhận. V́ thế, trong lúc nào, đối với hạng người nào, quyết định sẽ nói khác nhau!

      Cùng là một bộ kinh, cùng một câu kinh, sẽ có nhiều cách giảng khác nhau. Tuy khác nhau, nhưng tông chỉ quyết định chẳng thay đổi, phương hướng, mục tiêu, tinh thần quyết định chẳng thay đổi; do vậy, quyết định chẳng giảng sai lệch Phật pháp. Phật pháp sống động, chẳng chết cứng, khô khan, chẳng phải là chỉ có thể giảng một cách, đấy là chỗ khó khăn trong kinh Phật. Không riêng ǵ kinh là như vậy, mà chú giải cũng đều là như vậy; do vậy, [giảng kinh, giảng chú giải] chẳng dễ dàng! Chú giải của cổ nhân câu nào cũng đều là sống động, quư vị nói sao cũng hợp lư, chẳng chết cứng, chẳng phải là câu này có ư nghĩa [nhất định] như thế này, phải giảng theo cách này, đó là văn chương chết ngắc! Phật pháp sống động, không chỉ là kinh sống động, mà chú giải cũng đều sống động, hết sức chẳng dễ dàng! Nếu chính ḿnh chẳng thật sự chứng đến cảnh giới ấy, sẽ nói không được, mà viết cũng chẳng thành. Viết văn chương th́ ư nghĩa chỉ có một, chẳng có ư nghĩa thứ hai. Viết một bài văn hay th́ ai cũng có thể viết được; nhưng nếu viết một bài văn sao cho “người nhân thấy là nhân, người trí thấy là trí”, văn chương ấy chẳng dễ viết. Đây là Từ Vô Ngại loại thứ hai, đích xác là chúng ta có thể học được, chúng ta nỗ lực sẽ có thể học được, đấy là “dĩ thế trí sai biệt thuyết”.

 

      (Sao) Nhạo Thuyết Vô Ngại Trí.

      () 樂說無礙智。

      (Sao: Nhạo Thuyết Vô Ngại Trí).

 

      Chữ “phải đọc là Yào (âm Hán Việt tương ứng là Nhạo), nghĩa là ưa thích, yêu chuộng. “Nhạo Thuyết”: Nay chúng ta bảo là “thích nói”, không ngại phiền, chẳng sợ mệt nhọc. Thích nói với người khác là Nhạo Thuyết Vô Ngại Trí.

 

      (Sao) Dĩ Đệ Nhất Nghĩa Trí thiện xảo thuyết, bất ngôn nghĩa pháp giả, hậu hậu kiêm ư tiền tiền, Từ cập Nhạo Thuyết, nhiếp Nghĩa, Pháp cố.

      () 以第一義智善巧說,不言義法者,後後兼於前前,詞及樂說,攝義法故。

      (Sao: Dùng Đệ Nhất Nghĩa Trí để khéo léo nói, chẳng nói tới Nghĩa Vô Ngại Biện Tài và Pháp Vô Ngại Biện Tài, v́ những điều sau bao gồm điều trước. Từ Vô Ngại Biện Tài và Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện Tài bao trùm Nghĩa Vô Ngại Biện Tài và Pháp Vô Ngại Biện Tài).

 

      Thứ tự của bốn chữ “nghĩa, pháp, từ, nhạo” này chẳng thể điên đảo, v́ sao? Chữ sau có thể bao gồm chữ trước, nhưng chữ trước chưa chắc đă bao gồm chữ sau. Đến phần Nhạo Thuyết, đương nhiên toàn bộ ư nghĩa của ba loại trước đều được bao gồm trong ấy. Đệ Nhất Nghĩa Trí là trí huệ chân thật, mà cũng chính là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác như chúng ta đă nói trong phần trước. Đấy mới là Đệ Nhất Nghĩa Trí. “Thiện xảo” là ứng dụng vào hành vi, ứng dụng trong xử sự, đăi người, tiếp vật, trong giáo hóa chúng sanh vô cùng xảo diệu! Chẳng dùng từ ngữ “xảo diệu” mà dùng từ ngữ “thiện xảo”, hay quá! “Thiện” là tốt, phương thức xảo diệu vô cùng tốt đẹp, có thể khiến cho người ta tiếp nhận rất dễ dàng, rất dễ hiểu rơ, rất dễ đạt tới hiệu quả giáo học, đấy mới gọi là “thiện xảo”.

 

      (Sao) Thập nhị bộ đẳng, chỉ sở thuyết dă.

      () 十二部等,指所說也。

      (Sao: “Mười hai bộ v.v...” chỉ những kinh điển đă được nói).

 

      Nói theo cách bây giờ, “thập nhị bộ” là đức Phật thuyết pháp có mười hai phương thức khác nhau; nói theo văn chương hiện thời là “thể tài” (genre). [Kinh Phật] có mười hai loại thể tài khác nhau. Có thể là dùng thể tài văn xuôi, hoặc dùng thể tài thi ca. Chúng ta mở bản kinh ra, trong kinh văn có Trường Hàng, Trường Hàng là văn xuôi, như trong kinh Di Đà hoàn toàn là văn xuôi. Có những kinh trong đó có kệ tụng, kệ tụng là thi ca. Sau phần văn xuôi có thi ca. Lại c̣n có những kinh điển phía sau có chú ngữ, đều là vận dụng thể tài khác nhau. Thể tài có tất cả mười hai loại, nhưng cũng không phải là mỗi bộ kinh đều có mười hai loại này. Mười hai loại đều có đủ th́ chỉ có một bộ kinh là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Bộ kinh này lớn nên có đủ mười hai loại thể tài. Kinh Pháp Hoa cũng là kinh lớn, nhưng chỉ có chín loại thể tài. Kinh Di Đà có hai loại: Một là văn xuôi, loại kia là Vô Vấn Tự Thuyết, kinh này từ đầu đến cuối không có ai khải thỉnh, do Thích Ca Mâu Ni Phật tự nói ra. Trong mười hai loại, loại này khá đặc biệt, Vô Vấn Tự Thuyết là không ai hỏi, tự ḿnh nói.

      “Thập nhị bộ” là toàn bộ Phật pháp. “Bộ” là bộ phận, chẳng có nghĩa là kinh Phật chỉ có mười hai bộ! Về sau, cổ nhân sợ người ta thấy danh từ này nẩy sanh hiểu lầm, ngỡ là [kinh Phật chỉ có] mười hai bộ kinh, nên đổi thành “thập nhị phần giáo”. “Thập nhị phần giáo”“thập nhị bộ kinh” ư nghĩa hoàn toàn tương đồng, đều nhằm nói rơ đức Phật thuyết pháp theo các thể lệ khác nhau. Mười hai loại thể tài này, kinh Đại Tiểu Thừa đều có, nhưng kinh Tiểu Thừa chỉ có chín loại thể tài. Cũng có người nói Tiểu Thừa cũng có mười hai loại thể tài này. Đấy là cổ nhân mỗi vị có cách nói riêng biệt.

 

      (Sao) Tất Đàn giả.

   () 悉檀者。

      (Sao: Tất Đàn là...)

 

      Nương theo Tứ Tất Đàn, Tứ Tất Đàn cũng nhằm nói rơ: Có thể nói thiện xảo. Nói cách khác, đây là một phương thức tiếp dẫn chúng sanh. Tất Đàn (Siddhānta) là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Biến Thí (bố thí trọn khắp).

 

      (Sao) Hợp Hoa Phạm vân Biến Thí.

      () 合華梵云遍施。

      (Sao: Ghép tiếng Hán và tiếng Phạn lại [thành từ ngữ này], có nghĩa là Thí Trọn Khắp).

 

      “Tất” là chữ Hán, “Đàn” là tiếng Ấn Độ. Danh từ này gồm một chữ Hán và một âm tiếng Phạn gộp lại, Hoa Phạm hợp dịch thành Tất Đàn. “Tất” có nghĩa là phổ biến, đàn” (Dāna) là bố thí. [Tất Đàn] có nghĩa là bố thí trọn khắp. Gồm có tất cả bốn loại.

 

      (Sao) Dĩ Thế Giới, Vị Nhân, Đối Trị, Đệ Nhất Nghĩa, tứ môn.

      () 以世界、為人、對治、第一義,四門。

      (Sao: Dùng bốn môn Thế Giới, Vị Nhân, Đối Trị, Đệ Nhất Nghĩa ).

 

      Đây là danh xưng của Tứ Tất Đàn: Thế Giới Tất Đàn, Vị Nhân Tất Đàn, Đối Trị Tất Đàn, Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn.

 

      (Sao) Tác hoan hỷ, sanh thiện, diệt ác, nhập đạo, tứ ích.

   () 作歡喜、生善、滅惡、入道,四益。

      (Sao: Để tạo bốn món lợi ích: Hoan hỷ, sanh thiện, diệt ác, nhập đạo).

 

    Đây là nội dung của Tứ Tất Đàn. Thế Giới Tất Đàn nghĩa là ǵ? Hoan hỷ. Điều cốt yếu trong Phật pháp là khiến cho hết thảy chúng sanh sanh tâm hoan hỷ, đây là điều kiện thứ nhất. Người ta chẳng hoan hỷ th́ làm thế nào? Chẳng hoan hỷ, chúng ta hăy nhanh chóng rời khỏi; rời khỏi họ sẽ hoan hỷ. Bất luận thế nào, phải làm cho người ta hoan hỷ. Người ta rất thích chúng ta ở với họ, chúng ta bèn ở cùng một chỗ với họ. Họ chán ghét chúng ta, muốn chúng ta rời khỏi, chúng ta mau mắn rời khỏi. Đây là điều thứ nhất phải tuân thủ; bởi lẽ, Phật pháp luôn khiến cho người khác sanh tâm hoan hỷ. Chúng ta bước vào một ngôi chùa xây đúng quy củ, tức là chùa theo đúng quy củ kiến trúc trong Phật pháp, vừa bước vào sẽ thấy kiến trúc đầu tiên là Thiên Vương Điện. Thiên Vương Điện đối diện đại môn, đầu tiên quư vị thấy Di Lặc Phật, Di Lặc Phật khiến cho quư vị hoan hỷ: Mập mạp, cười h́ h́, đấy là ư nghĩa Thế Giới Tất Đàn. Do vậy, người nào mới có tư cách học Phật? Phải hoan hỷ đối với người khác, trong bất luận thuận cảnh hay nghịch cảnh, đều khiến cho người khác sanh tâm hoan hỷ, người như vậy mới có thể học Phật, người như vậy mới có thể nhập Phật môn. Di Lặc Phật bụng rất lớn, biểu thị chuyện ǵ cũng đều có thể bao dung, chẳng so đo, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước, có thể sanh tâm hoan hỷ. Do vậy, Ngài biểu thị pháp; đây cũng là nhằm bảo chúng ta phải học tập.

      Thứ hai là Vị Nhân Tất Đàn, mang ư nghĩa “sanh thiện”. Chúng ta đối đăi với người khác, nhất định phải khơi gợi giác tánh của người ta, phải giúp đỡ kẻ ấy sanh khởi thiện tâm, trước hết, thực hiện từ chỗ này. Thật ra, giáo học của cổ nhân Trung Quốc cũng là như vậy, “ẩn ác, dương thiện” (ẩn giấu điều ác, tuyên dương điều lành). Chẳng hạn như trông thấy người ta, tuy kẻ ấy chẳng phải người tốt, lắm phen làm ác, nhưng hắn cũng có điểm tốt, quư vị gặp mặt hắn bèn tán dương chuyện tốt lành của hắn, chớ nên nhắc tới điều ác. Kẻ ấy được cổ vũ, khích lệ sẽ quay đầu, học theo điều tốt.

      Trong xă hội hiện thời, nói thật ra, dư luận phải chịu trách nhiệm rất lớn, v́ sao? Người tốt, chuyện tốt chẳng nói tới, đối với kẻ ác bèn thêm muối, thêm dấm, khiến cho kẻ ác nghĩ: “Ta làm người tốt có ích ǵ, ai biết? Ta làm ác, người nào cũng biết ta”. Nói cách khác, cổ vũ, khích lệ con người hướng theo điều ác, dư luận nhất định phải chịu trách nhiệm chuyện này. Nếu chúng ta ca ngợi mặt thiện, về căn bản là chẳng nhắc tới mặt ác, dẫu là kẻ làm ác cũng sẽ sanh tâm hổ thẹn: “Ta làm chuyện ác nhiều ngần ấy, người ta trọn chẳng nhắc tới, người ta tha thứ cho ta”. Trong tâm hắn khổ sở: “Làm một tí chuyện tốt lành nhỏ xíu, người khác tán thán ta, cổ vũ khích lệ ta, đối với ta tốt đẹp như thế đấy!” Hắn sẽ quay đầu. Phật môn rất coi trọng giáo học, đầu tiên là phải giúp cho kẻ khác sanh thiện, cổ vũ, khích lệ người khác hướng thiện.

      Thứ ba là Đối Trị Tất Đàn, đấy là “diệt ác”. Diệt ác, chủ yếu là đối với chính ḿnh mà nói. Giống như giới luật của nhà Phật, giới luật nhằm răn dè chính ḿnh, chẳng phải để ngăn cấm người khác. V́ thế, giới luật trong Phật pháp thật sự đáng tán thán. Phật khuyên chúng ta hăy tự tuân thủ giới luật, đừng quan tâm đến người khác. Kẻ khác tuân thủ hay không chẳng liên quan đến ta! Chính ḿnh giữ giới là đúng, giới luật nhằm ngăn giữ chính ḿnh! Đối trị là đối trị chính ḿnh, đối trị phân biệt, chấp trước, vọng tưởng của chính ḿnh. Đối trị chính ḿnh, tức là những thứ như ghen ghét, sân khuể, chúng ta đều phải sửa đổi. Sửa đổi là sám hối chân thật.

      Trong sám trừ nghiệp chướng của Phật pháp, điều được coi trọng là sửa lỗi, đổi mới. Thực hiện những nghi thức [sám hối] chẳng phải là điều trọng yếu; nghi thức là làm cho người khác xem, giống như diễn tuồng, diễn cho kẻ khác xem, nhằm dụng ư nào? Nhằm dụng ư khuyên người khác quay đầu, khuyên người khác hăy sửa lỗi, đổi mới, mang ư nghĩa này. Bản thân quư vị thật sự hối cải, cần ǵ phải làm những h́nh thức ấy? Không cần thiết! Chúng ta phải biết điều này. Chúng ta lạy Lương Hoàng Sám, lễ Thủy Sám nhằm khuyên người khác. Do vậy, những chuyện như thế chớ nên không biết! Sau khi đă biết, quư vị mới hiểu giáo học Phật pháp thiện xảo, ứng dụng những phương pháp vô cùng cao minh, dùng rất xảo diệu.

      Thứ tư là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn, đây là nói về Nhập Đạo. Đệ Nhất Nghĩa là trí huệ rốt ráo viên măn; trong bốn món Tất Đàn, điều này là mục tiêu chủ yếu. Những điều trước đều là “dụ đạo” (誘導: khuyên dụ, hướng dẫn), “dụ đạo” tới cuối cùng th́ phải giúp cho người ấy thành Phật, phải cổ vũ, khích lệ người ấy. Thứ nhất, phải khơi gợi ḷng tin nơi người ấy, v́ sao chúng sanh chẳng thể thành Phật? Do không tin chính ḿnh có thể thành Phật. Thậm chí tôi đă gặp những đồng tu học Phật nhiều năm, tự cảm thấy chính ḿnh nghiệp chướng quá nặng, tội nghiệp quá sâu, đời sau ta chỉ cần có thể lại được làm người là tốt rồi, thế giới Tây Phương ta chẳng dám mong mỏi! Quan niệm ấy sai lầm! Do vậy, chúng ta nhất định phải giúp họ kiến lập ḷng tin, tạo tội nghiệp dẫu lớn đến mấy đều có thể văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Quư vị thấy Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh đă dạy: Ngũ Nghịch, Thập Ác gặp nhân duyên tốt đẹp, gặp thiện tri thức chân thật giảng giải lư luận, phương pháp, quư vị thật sự hiểu rơ, giác ngộ, tuân theo phương pháp ấy để tu hành, nhất định có thể văng sanh. Chúng ta vẫn chưa tạo tội nghiệp nặng nề dường ấy, v́ sao chẳng thể [văng sanh]? Chắc chắn có thể! Tội nghiệp từ vô thỉ kiếp dẫu nặng đến mấy, không có tội nào chẳng thể hối cải, đều là trong một niệm hồi tâm chuyển ư, phá mê khai ngộ, nghiệp chướng bèn có thể tiêu trừ, phước huệ hiện tiền. Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn là môn chánh yếu nhất, thật sự giới thiệu Đại Thừa Phật pháp cho người khác, khuyên lơn, cổ vũ họ tu học, v́ thế là Nhập Đạo. Đó là bốn thứ lợi ích.

 

      (Sao) Thập nhị bộ kinh, nhất thiết chư pháp, tùy nghi nhi thuyết, vô lượng phương tiện, yếu quy tác Thế Giới đẳng tứ thuyết, sử nhân đắc hoan hỷ đẳng tứ ích nhi dĩ. Giám cơ thọ pháp, kỳ văn phồn quảng, lược cử bất tất.

      () 十二部經一切諸法,隨宜而說,無量方便,要歸作世界等四說,使人得歡喜等四益而已。鑒機授法,其文繁廣,略舉不悉。

      (Sao: Mười hai bộ kinh, hết thảy các pháp, tùy nghi mà nói, vô lượng phương tiện đều phải quy về bốn món Tất Đàn như Thế Giới v.v... nhằm khiến cho người ta đạt được bốn thứ lợi ích như hoan hỷ v.v... mà thôi. Xét căn cơ để trao truyền giáo pháp. Lời văn rườm rà, quá rộng, nên nêu đại lược, chẳng tŕnh bày trọn hết).

 

      Nói cặn kẽ, sẽ quá nhiều, nên ở đây chỉ dùng phương pháp đơn giản nhất ḥng giới thiệu. Pháp môn rất nhiều, kinh điển rất nhiều, bất luận nói theo cách nào, đều phải làm cho thính chúng đạt được bốn món lợi ích. Bất luận giảng một bộ kinh nào, bất luận giảng một bộ luận nào, quư vị đều phải khiến cho người khác sanh tâm hoan hỷ, sanh thiện, đoạn ác, nhập đạo. Đức Phật thuyết pháp có nhiều nguyên tắc, nhưng những nguyên tắc này chúng ta đều phải biết th́ thuyết pháp mới chẳng luống uổng, thật sự hữu ích cho chúng sanh. Hôm nay chúng tôi giảng tới đây!

 

Tập 96

 

Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm bảy mươi bảy:

 

      (Sớ) Phật thuyết giả, thuyết giản ngũ nhân cố.

   () 佛說者,說揀五人故。

      (Sớ: “Phật thuyết”: Nhằm phân định rơ [trong] năm hạng người có thể nói kinh, [kinh này do chính đức Phật nói]).

 

      Trong đoạn trước đă giới thiệu sơ lược những ư nghĩa sâu xa được bao hàm trong chữ Thuyết. Đoạn này nói về những bộ kinh Phật [có tựa đề] được bắt đầu bằng hai chữ Phật Thuyết. Cũng có nhiều kinh điển hoàn toàn không có hai chữ này, [chẳng hạn như trong các tựa đề] Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh đều không có chữ “Phật Thuyết”. V́ sao có kinh điển ghi [tựa đề] là Phật Thuyết? Có kinh điển chẳng ghi Phật Thuyết? Thật ra, đều là kinh do đức Phật nói, v́ sao có sai biệt như vậy? Có thói quen như sau: Hễ là kinh Vô Vấn Tự Thuyết, như kinh Di Đà này, tên kinh phải bắt đầu bằng Phật Thuyết. Một loại khác là trong phần Chánh Tông, câu đầu tiên do đức Phật nói th́ tựa đề kinh cũng bắt đầu bằng Phật Thuyết. Do phân định [kinh này] chẳng phải do năm loại người [nói ra], trong năm loại người này có cả Phật trong ấy. Bởi lẽ, kinh điển không nhất định đều do đức Phật nói, mà năm loại người đều có thể giảng kinh.

 

      (Sao) Ngũ nhân giả, nhất Phật, nhị Bồ Tát, tam thiên nhân, tứ tiên, ngũ hóa nhân, thử ngũ giai năng thuyết kinh.

      () 五人者,一佛,二菩薩,三天人,四仙,五化人,此五皆能說經。

      (Sao: Năm loại người là: Một là Phật, hai là Bồ Tát, ba là chư thiên, bốn là tiên, năm là hóa nhân. Năm loại này đều có thể nói kinh).

 

      Thứ nhất là Phật, thứ hai là Bồ Tát, thứ ba là “thiên nhân” (chư thiên), thứ tư là “tiên nhân”, thứ năm là “biến hóa nhân”, năm loại này đều có thể nói kinh. Trừ Phật ra, bốn loại kia đều phải được Phật ấn chứng th́ mới có thể gọi là Kinh. Nếu chưa được Phật ấn chứng, chẳng thể là kinh, quư vị phải ghi nhớ điều này!

 

      (Sao) Kim hiển thử kinh thị Chí Thánh lập ngôn.

      () 今顯此經是至聖立言。

      (Sao: Nay chỉ rơ kinh này là lời dạy của đấng Chí Thánh).

 

      Kinh Di Đà từ đầu đến cuối do một ḿnh Thích Ca Mâu Ni Phật nói. Tuy đức Phật gọi Xá Lợi Phất để nói, nhưng trong kinh này, ngài Xá Lợi Phất chẳng nói lời nào, chỉ có nghe mà thôi, chẳng nêu ra câu hỏi nào. Từ đầu tới cuối do một ḿnh Thích Ca Mâu Ni Phật nói, có thể nói là chẳng có kinh nào khác thuần hơn [kinh này].

 

      (Sao) Kim khẩu thân xuất, bất đồng Bồ Tát tại nhân, thiên thuộc phàm loại.

      () 金口親出,不同菩薩在因,天屬凡類。

      (Sao: Miệng vàng đích thân nói ra, chẳng giống như hàng Bồ Tát c̣n đang tu nhân, chư thiên thuộc về phàm phu).

 

      Bồ Tát tu nhân chưa viên măn, Bồ Tát chưa thành Phật. Chư thiên vẫn là phàm phu y như cũ, chẳng phải là thánh nhân.

 

      (Sao) Tiên tạp ngoại đạo, hóa nhân phi chân dă.

() 仙雜外道,化人非真也。

      (Sao: Tiên xen tạp ngoại đạo, hóa nhân chẳng phải là người thật).

 

      Họ biến hóa, chẳng phải là người thật sự.

 

      (Sao) Như thiên tử chiếu, bất đồng bách quan, tể tướng, chư vương đẳng ngữ dă.

() 如天子詔,不同百官宰相諸王等語也。

      (Sao: Giống như chiếu chỉ của hoàng đế, chẳng giống lời lẽ của trăm quan, tể tướng, các vương gia v.v...)

 

      Đây là dùng một tỷ dụ, lời Phật nói giống như chiếu thư của hoàng đế, chúng ta thường gọi là “thánh chỉ”, hơn hẳn mệnh lệnh của tể tướng, trăm quan, vượt trỗi quá nhiều! Đây là kiến thức thông thường, chúng ta biết có năm loại người nói kinh.

 

      (Sớ ) A Di Đà giả, thị tiêu hiển bỉ Phật.

      () 阿彌陀者,是標顯彼佛。

      (Sớ: “A Di Đà”: Nêu rơ đức Phật ấy).

 

      “Tiêu” là tiêu minh (標明: nêu rơ, chỉ rơ), “bỉ” là giáo chủ Tây Phương Cực Lạc thế giới, là vị Phật trong thế giới kia.

 

      (Sớ) Phạm ngữ A, thử vân Vô.

      () 梵語阿,此云無。

      (Sớ: A là tiếng Phạn, được cơi này dịch là Vô).

 

      A là âm tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Vô.

 

      (Sớ) Phạm ngữ Di Đà, thử vân Lượng.

   () 梵語彌陀,此云量。

      (Sớ: Tiếng Phạn Di Đà, cơi này dịch là Lượng).

 

      “Thử” là Trung Quốc, [Di Đà dịch sang tiếng Hán] có nghĩa là Lượng. A Di Đà nghĩa là “vô lượng”.

 

      (Sớ) Ngôn Phật công đức bất khả cùng tận, cố vân Vô Lượng.

      () 言佛功德不可窮盡,故云無量。

      (Sớ: Ư nói công đức của Phật chẳng thể cùng tận, nên nói là Vô Lượng).

 

      “Vô lượng” hàm nghĩa rộng bao la, chẳng thể nói trọn. Tiếp đó là chữ Phật, Phật là giác, [A Di Đà Phật] là Vô Lượng Giác. Thân, tâm, thế giới, vạn sự vạn pháp vô lượng vô biên, Phật không có ǵ chẳng giác, thứ ǵ cũng đều giác, giác mà chẳng mê, lúc ấy mới gọi là A Di Đà Phật. Những ư nghĩa được bao hàm trong danh hiệu này rất nhiều, nên bảo là “bất khả cùng tận”.

 

      (Sớ) Như kinh thọ mạng, quang minh, thị vô lượng trung cô cử nhị sự, nhiếp dư công đức dă.

   () 如經壽命光明,是無量中姑舉二事,攝餘功德也。

(Sớ: Như trong kinh nói đến thọ mạng và quang minh, chỉ là nêu lên hai chuyện nhằm gồm thâu những công đức khác).

 

      Trong kinh Di Đà, đức Phật nói về “vô lượng” đă nêu đại lược hai thứ là vô lượng thọ và vô lượng quang. Trên thực tế, Thọ tượng trưng thời gian, quá khứ, hiện tại, vị lai; Quang tượng trưng không gian, quang minh chiếu khắp, mang ư nghĩa này. Nói theo cách bây giờ là “thời không” (thời gian và không gian), những thứ được bao hàm trong “thời không” đúng là vô lượng vô biên, mang ư nghĩa này. Đức Phật chẳng nói “thời không”, mà nói “quang thọ”, ư nghĩa này càng thân thiết, sống động hơn! V́ sao? Nói “thời không” th́ thời gian và không gian là thứ chết cứng; nói “quang thọ” th́ quang thọ là sống động, ư nghĩa này hết sức sâu mầu! Quang và thọ vô lượng vô biên, chẳng thể cùng tận, hết thảy công đức đều được bao gồm!

 

      (Sao) Vô lượng giả, hữu nhị nghĩa, nhất giả chúng đa vô hữu số lượng.

      () 無量者,有二義,一者眾多無有數量。

      (Sao: “Vô lượng”: Có hai nghĩa, một là rất nhiều, chẳng có số lượng).

 

      Quá nhiều! “Chúng đa vô hữu số lượng”: Đây là nói theo phương diện sự vật. Giống như sâm la vạn tượng trong vũ trụ, những vật hữu h́nh có số lượng quá nhiều, không thể đếm được, nên gọi là “vô lượng”.

 

      (Sao) Nhị giả, quảng đại vô hữu hạn lượng.

      () 二者廣大無有限量。

      (Sao: Hai là rộng lớn chẳng có hạn lượng).

 

      Giống như hư không, hư không quá lớn, ai có thể biết được bờ mé của nó? Chẳng ai có thể biết! Chúng ta gọi nó là “vô lượng”, đấy là nói theo phía hư không.

 

      (Sao) Phục hữu nhị nghĩa.

      () 復有二義。

      (Sao: Lại c̣n có hai nghĩa).

 

      Trong kinh Phật c̣n có hai ư nghĩa nữa, tức là nói theo cách khác.

 

      (Sao) Nhất giả, thập đại số trung chi vô lượng.

      () 一者十大數中之無量。

      (Sao: Một, “vô lượng” chính là con số Vô Lượng trong mười con số lớn [theo cách tính toán của cổ Ấn Độ]).

 

      “Vô lượng” là tên gọi của một con số, chẳng phải thật sự là vô lượng. Đơn vị tính toán của Trung Quốc chỉ có hai mươi mấy thứ, thông thường chúng ta nói một, mười, trăm, ngàn, vạn, mười vạn, trăm vạn, ngàn vạn, ức, triệu... Những con số của Ấn Độ tính từ một, mười, trăm, ngàn, tổng cộng có hơn năm mươi đơn vị, những con số càng lên cao đúng là con số thiên văn. “Thập đại số” là mười con số lớn cuối cùng [trong cách tính ấy].

     Mười con số lớn cuối cùng, thứ nhất là A-tăng-kỳ (Asamkhya), thứ hai là Vô Lượng (Amita, Ananta), thứ ba là Vô Biên (Aprameya)[3]. Do vậy, Vô Lượng và Vô Biên danh xưng của những con số. Bao nhiêu A-tăng-kỳ là một Vô Lượng? A-tăng-kỳ lần A-tăng-kỳ là một Vô Lượng; Vô Lượng lần Vô Lượng là một Vô Biên, tính toán như vậy. Con số A-tăng-kỳ hết sức to. Nếu quư vị muốn biết chuyện này, trong kinh Hoa Nghiêm có chương Căn Tự Tại Đồng Tử, đă giảng những tên gọi con số này rất nhiều. Trong quá khứ, chúng ta đọc chương này, chỉ có thể đọc theo văn tự, chứ không có biện pháp tính toán, con số ấy quá lớn. Dẫu lớn đến mấy th́ Vô Lượng vẫn là có hạn lượng.

      Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật thọ mạng là vô lượng, chúng ta phải hỏi: Rốt cuộc là vô lượng nào? Có phải là Vô Lượng trong mười con số lớn hay chăng? Chuyện này chúng ta chẳng cần phải chia chẻ tận căn tơ kẽ tóc, dù là Vô Lượng trong mười con số lớn, vẫn đủ dùng! V́ sao? Chẳng phải là nói để thành Phật phải mất ba A-tăng-kỳ kiếp đó sao? Như vậy th́ thọ mạng của quư vị là Vô Lượng, tức là A-tăng-kỳ kiếp lần A-tăng-kỳ kiếp, ba A-tăng-kỳ kiếp thấm vào đâu? Nói cách khác, văng sanh tới Tây Phương Cực Lạc thế giới quyết định thành Phật, không một ai chẳng thành Phật, thời gian ấy đủ dùng rồi! Huống chi trong Tây Phương Cực Lạc thế giới lại chẳng thoái chuyển, chỉ có tiến lên, từ rày về sau chẳng thoái chuyển nữa. Nói cách khác, mọi người tới đó tu hành, quư vị dụng công, sẽ thành Phật nhanh hơn một chút; quư vị chẳng siêng năng dụng công, thành Phật chậm hơn một tí, chỉ có tốc độ khác nhau, quyết định chẳng thoái chuyển. Cho dù là Vô Lượng có hạn lượng, đối với chúng ta cũng đủ rồi! Nhưng sau khi thành Phật, thọ mạng thật sự là vô lượng, chẳng phải là con số Vô Lượng. Do vậy, chúng ta sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thọ mạng của chúng ta là vô lượng có hạn lượng. Cho đến khi quư vị tới Tây Phương Cực Lạc thế giới thành Phật, thọ mạng sẽ thật sự là vô lượng, chẳng phải là vô lượng có hạn lượng.

      Niệm Phật, chúng ta nhất định phải sốt sắng. Đại chuyên giảng ṭa trong dịp nghỉ mùa Đông năm nay, chúng tôi muốn giảng Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, nên hôm nay tôi mở Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh ra xem, tôi c̣n giữ một quyển do pháp sư Đế Nhàn viết lần đầu vào thời ấy, là bản được khâu gáy bằng chỉ[4]. Chúng tôi đọc lời tựa bản ấy. Pháp sư Đế Nhàn là một đại pháp sư lỗi lạc thời cận đại, là người bậc nhất sống vào cuối đời Thanh, đầu thời Dân Quốc, chẳng một pháp sư nào có thể sánh bằng Ngài, Ngài là tổ sư của tông Thiên Thai thời cận đại. Trong lời tựa, Ngài đă viết: Chính ḿnh là kẻ hạ hạ căn, chỉ có niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Theo lời tựa ấy, cả đời Ngài chẳng có ngày nào không niệm Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, nhưng Ngài tu hành bằng phương pháp tŕ danh niệm Phật, và cũng là một vị văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới trong thời cận đại. Do vậy, đối với những vị đại đức giống như Ngài, chúng ta thấy Ngẫu Ích đại sư, Ngẫu Ích đại sư viết Yếu Giải nhằm chú giải kinh Di Đà được Ấn Quang đại sư tán thán đến tột bậc: “Dù cổ Phật tái lai chú giải kinh Di Đà, cũng chẳng có cách nào hay hơn được!” Quư vị xem lời tán thán ấy, c̣n ǵ để nói nữa, nhưng chính Ngẫu Ích đại sư tự nói về ḿnh như thế nào? Hạ hạ phẩm văng sanh. Ngài viết thư cho bạn bè, trong [Ngẫu Ích Đại Sư] Toàn Tập có lá thư ấy: “Hạ hạ phẩm văng sanh là kết cục đă định của đệ”. Ngài đoan quyết chính ḿnh quyết định văng sanh, nhưng phẩm vị là Hạ Hạ Phẩm.

      Sau khi đọc [lời ấy], chúng ta phải khéo ngẫm lại ḿnh, chúng ta sanh trong đời loạn này, đúng vậy, đọc những tác phẩm của cổ đại đức, [nhận thấy] quả thật chúng ta nghiệp chướng sâu nặng, chẳng tu pháp môn này, sẽ chẳng có cách nào cứu cả! Lời này do pháp sư Đế Nhàn đă nói: “Chẳng tu pháp môn này, chẳng có cách nào cứu cả!” Chúng tôi nói tới chỗ này, quả thật lời ấy đă khiến chúng ta rất phấn chấn: Sanh về nơi ấy là quyết định thành tựu; sau khi thành tựu, sẽ thật sự là vô lượng.

 

      (Sao) Nhị giả, cánh vô cùng tận chi vô lượng.

      () 二者更無窮盡之無量。

      (Sao: Hai là vô lượng chẳng có cùng tận).

 

      Thật sự vô lượng, chẳng có cùng tận .

 

      (Sao) “Cô cử nhị sự” giả, dĩ vô lượng bất chỉ thọ mạng quang minh dă, tường như hậu văn trung biện.

      () 姑舉二事者,以無量不止壽命光明也,詳如後文中辯。

      (Sao: “Chỉ nêu lên hai sự”: Do chẳng phải chỉ có thọ mạng và quang minh là vô lượng, trong phần kinh văn ở phía sau sẽ biện định cặn kẽ).

 

      Đến phần kinh văn ở phía sau sẽ giảng rất tỉ mỉ.

 

      (Sớ) Kinh giả, Phạm ngữ Tu Đa La, thử vân Khế Kinh.

      () 經者,梵語脩多羅,此云契經。

      (Sớ: “Kinh”: Tiếng Phạn là Tu Đa La, cơi này dịch là Khế Kinh).

 

      Tiếng Phạn của Ấn Độ gọi Kinh là Tu Đa La (Sūtra), dịch sang nghĩa tiếng Hán là Khế Kinh.

 

      (Sớ) Hữu thông biệt nhị nghĩa, Khế phục nhị nghĩa, Kinh phục đa nghĩa. Kinh tuy đa nghĩa, bất xuất “quán, nhiếp, thường, pháp” tứ nghĩa.

   () 有通別二義,契復二義,經復多義,經雖多義,不出貫攝常法四義。

      (Sớ: Có hai nghĩa Thông và Biệt. Chữ Khế lại có hai nghĩa. Kinh lại có nhiều nghĩa. Chữ Kinh tuy có nhiều nghĩa, nhưng chẳng ngoài bốn nghĩa Quán, Nhiếp, Thường, Pháp).

 

      “Thông” là chung với những thứ khác, đều gọi là Kinh. Như chúng ta thường niệm kinh Địa Tạng, đó là kinh, kinh Kim Cang cũng là kinh, kinh Pháp Hoa cũng là kinh, đều gọi là Kinh. Chữ Kinh này là Thông Đề (tên gọi chung, tựa đề chung của các bản kinh Phật). Phàm [những lời giảng dạy] do đức Phật đă nói, hoặc do Bồ Tát, các vị tiên nhân đă nói, được Phật ấn chứng, đều có thể gọi là Kinh. V́ thế, Kinh là Thông Đề.

 

(Sao) Thông biệt giả, Phật sở thuyết giáo, tổng danh Tu Đa La, thị chi vị Thông.

() 通別者,佛所說教,總名脩多羅,是之謂通。

(Sao: “Thông biệt”: Phàm những giáo pháp do đức Phật đă nói, đều gọi là Tu Đa La. Đấy là Thông).

 

      “Thị chi vị Thông”: Đây là gọi chung.

 

      (Sao) Tích chi tắc Kinh danh Tu Đa La, Luật danh Tỳ Nại Da, Luận danh A Tỳ Đàm (A Tỳ Đạt Ma), thị chi vị Biệt.

      () 析之則經名修多羅,律名毘奈耶,論名阿毘曇(阿毘達摩),是之謂別。

      (Sao: Chia chẻ ra th́ Kinh gọi là Tu Đa La, Luật gọi là Tỳ Nại Da, Luận gọi là A Tỳ Đàm (A Tỳ Đạt Ma), đó là Biệt).

 

      Ba thứ này đều do đức Phật nói. Thuở ấy, đức Phật giảng kinh thuyết pháp chẳng hề chia thành lớp để dạy học, đều là do các đệ tử xuất gia hay tại gia có nghi vấn, hướng về đức Phật thỉnh giáo, một hỏi một đáp như vậy; về sau, kết tập lại, ghi chép xuống, bèn gọi là Kinh. Mỗi lần đức Phật giảng, bất luận nội dung cạn, sâu, ngắn, dài, nói chung cả ba ư nghĩa ấy đều có. Kinh quá nửa giảng về Định, nói cách khác, dạy quư vị tu tâm thanh tịnh, loại này được kết tập lại bèn gọi là Kinh. Dạy chúng ta đăi người, tiếp vật, vâng giữ khuôn phép, đặt chính ḿnh vào khuôn khổ như thế nào, loại này thuộc về Giới Luật. Làm thế nào để có thể khơi gợi, phát khởi trí huệ của chính ḿnh, loại này thuộc về Luận. Về sau, chúng ta quy nạp chúng trở thành Tam Tạng kinh điển, tức là Kinh, Luật, Luận. Tu Đa La là Kinh Tạng, Tỳ Nại Da là Luật Tạng, A Tỳ Đàm là Luận Tạng.

      Mỗi lần đức Phật giảng kinh, thuyết pháp, trong nội dung đều có ba phương diện này. Về sau, phân loại kinh điển, bèn xét xem, trong bộ kinh này, phần nào trong ba thứ ấy được giảng nhiều nhất? Dựa trên phân lượng nhiều nhất để quy nạp, phân loại. Chẳng hạn như đối với bộ kinh này, hoàn toàn dạy chúng ta “nhất tâm bất loạn, tâm chẳng điên đảo”, chẳng hề nói tới Luật, cho nên vô cùng thuần! Kinh Lăng Nghiêm, nửa sau quyển thứ sáu là “tứ chủng thanh tịnh minh hối” (bốn thứ giáo huấn thanh tịnh, trong sáng) giảng giới luật, giảng căn bản giới. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật và các vị Bồ Tát thảo luận, nên có luận. Trong mười quyển kinh văn, hầu như bảy quyển giảng về Xa Ma Tha, Tam Ma và Thiền Na, giảng về Định nhiều nhất, nên Lăng Nghiêm được quy về Kinh Tạng. Như trong kinh Hoa Nghiêm có luận, cũng có chỗ thảo luận, mà cũng có chỗ nói về giới luật như phẩm Tịnh Hạnh và phẩm Phạm Hạnh, đó là giới luật, nhưng chiếm phần lớn vẫn là giảng Định, nên vẫn y như cũ, quy nạp vào Kinh Tạng. Trong giới kinh cũng có giảng Định, cũng có giảng Huệ, nhưng giảng Giới khá nhiều, bèn quy nạp vào Luật Tạng. Những điều này đều là Phật học thường thức.

 

(Sao) “Khế phục nhị nghĩa” giả, nhất giả khế lư, tắc hợp đạo chi ngôn; nhị giả, khế cơ, tắc đậu căn chi giáo

() 契復二義者,一者契理,則合道之言;二者契機,則逗根之教。

      (Sao: “Khế lại có hai nghĩa”: Một là khế lư, tức là nói lời hợp đạo; hai là khế cơ, tức giáo pháp phù hợp căn cơ).

 

      “Khế” () chứa đựng hai ư nghĩa, hai ư nghĩa ấy chẳng thể thiếu, thường nói là: “Thượng khế chư Phật sở chứng chi Lư, hạ khế chúng sanh khả độ chi cơ” (trên khế hợp với Lư được chứng bởi chư Phật, dưới khế hợp căn cơ của chúng sanh đáng độ). Nói đơn giản, đức Phật nói sâu hay cạn, nói dài hay ngắn, nhất định chẳng thể trái nghịch chân lư, đó là Khế Lư. Chân lư là Thật Tướng của các pháp, là chân tướng của vũ trụ và nhân sinh. Do Khế Lư, nên lời nói chân thật, chẳng dối gạt người khác, nhất định phải đúng Lư. Hết thảy chư Phật chứng cùng một Lư, cho nên chân lư chỉ có một, sở chứng của hết thảy chư Phật nhất định phải tương ứng, khế hợp điều này. Đồng thời, nhất định phải thích hợp căn tánh tức là tŕnh độ của chúng sanh trong hiện đại th́ họ sẽ có thể tiếp nhận. Nếu họ chẳng thể tiếp nhận, chẳng phải là quư vị đă uổng công nói hay sao? Do vậy, nhất định phải Khế Cơ.

Nhưng chư vị phải nhớ, nay chúng ta chẳng gặp Phật. Nếu quư vị gặp Phật, nhất định Phật sẽ chẳng giảng kinh Hoa Nghiêm cho quư vị, mà cũng chẳng giảng kinh Pháp Hoa, Đại Trí Độ Luận, Đại Thừa Khởi Tín Luận, v́ sao? Chẳng khế cơ, giảng [những thứ kinh luận ấy] cho quư vị sẽ vô ích, quư vị làm không được. Hiện thời, nếu quư vị gặp Thích Ca Mâu Ni Phật, đại khái ngay cả kinh Di Đà Thích Ca Mâu Ni Phật cũng chẳng nói với quư vị, mà chỉ nói một câu: “Hăy thật thà, trở về nhà niệm A Di Đà Phật”. Như thế là được, quư vị có thể thành công, thật đấy, chẳng giả tí nào! Trong thời kỳ Mạt Pháp hiện thời, chúng ta là kẻ nghiệp chướng sâu nặng, ngoài một câu A Di Đà Phật ra, chẳng có cách nào cứu được! Nhưng một câu A Di Đà Phật này: “Trên khế hợp với Lư được chứng bởi chư Phật, dưới khế hợp căn cơ của chúng sanh đáng độ ”, quyết định có thể thành tựu.

      Ngày hôm qua có bốn vị cư sĩ từ Cao Hùng tới, đại khái họ đă nghe băng thâu âm rất lâu, đến đây t́m tôi. Tôi kể với họ chuyện bà cụ ở làng Tướng Quân mười năm trước, niệm Phật ba năm bèn đứng văng sanh, mấy người họ hiểu được! V́ thế, một câu Phật hiệu hăy khéo niệm, thành tựu chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta nghe băng thâu âm lời khai thị lăo pháp sư Đàm Hư trong Phật Thất, Ngài có nói về một vị pháp sư đồ đệ của ngài Đế Nhàn, coi như đồng học [của pháp sư Đàm Hư], cũng niệm Phật ba năm, đứng văng sanh, biết trước lúc mất, chẳng bị bệnh khổ, đấy là gương tốt cho chúng ta. Do vậy, một câu Phật hiệu thật sự khế cơ, khế lư!

 

      (Sao) Kim lược Khế tự, đản danh viết Kinh giả, tỉnh văn dă.

      () 今略契字,但名曰經者,省文也。

      (Sao: Nay lược bớt chữ Khế, chỉ nói là Kinh, tức là tỉnh lược vậy).

 

      Người Trung Quốc có thói quen thích đơn giản, không thích rườm rà, chẳng thích rắc rối; v́ thế, tỉnh lược chữ Khế, chỉ gọi là Kinh.

 

      (Sao) Kinh phục đa nghĩa giả.

      () 經復多義者。

      (Sao: Kinh lại có nhiều nghĩa).

 

      Trong một chữ Kinh, hàm chứa nhiều nghĩa.

 

      (Sao) Hoa Nghiêm Sớ dẫn Tạp Tâm ngũ nghĩa.

      () 華嚴疏引雜心五義。

      (Sao: Sách Hoa Nghiêm dẫn năm ư nghĩa [của chữ Kinh] từ Tạp Tâm Luận).

 

      Trong Hoa Nghiêm Kinh Sớ, Thanh Lương đại sư giảng chữ Kinh này có tất cả mười ư nghĩa, có mười cách giải thích. Trong Tạp Tâm Luận[5] giảng chữ Kinh có năm ư nghĩa.

 

      (Sao) Vị: Nhất, xuất sanh.

   () 謂:一、出生。

      (Sao: Nghĩa là: Một, sanh ra).

 

      “Xuất sanh” là sanh khởi, dùng ư nghĩa này để giảng.

 

      (Sao) Nhị, hiển thị.

      () 二、顯示。

      (Sao: Hai là chỉ bày rơ ràng).

 

      “Hiển” là rơ ràng, “thị” phô bày. Nói cách khác, Như Lai giảng hết thảy Pháp Tướng, nói rơ ràng, rành rẽ, giống như trong pḥng triển lăm, bày cho chúng ta thấy các món đồ, mang ư nghĩa này.

 

      (Sao) Tam, dũng tuyền.

      () 三、涌泉。

      (Sao: Ba là suối phun).

 

      Ư nghĩa này khá dễ hiểu, giống như nước suối phun lên, dùng ư nghĩa này để diễn tả: Những ư nghĩa được bao hàm trong kinh chẳng có cùng tận! Chẳng hạn như bộ kinh này, quả thật chẳng giống sách vở thế gian; quư vị đọc sách vở thế gian một lần đă hiểu ư nghĩa, quư vị đọc lần thứ hai vẫn thấy ư nghĩa ấy, đọc lần thứ ba, vẫn là ư nghĩa đó. Do vậy, đọc đôi ba lượt chẳng muốn đọc nữa, v́ sao? Chẳng có ư nghĩa mới mẻ nào nữa! Đó là ǵ? Nước tù đọng. Kinh Phật khác hẳn, kinh Phật quư vị đọc mỗi lần đều có ư nghĩa [mới mẻ của] mỗi lần, đọc lần sau lại có ư nghĩa mới, ư nghĩa vĩnh viễn chẳng cùng tận. Sơ phát tâm học một bộ kinh, trong tương lai học tới khi thành Phật, vẫn có thể học một bộ kinh ấy, ư nghĩa vẫn chẳng cùng tận. Do vậy, trong kinh chứa đựng vô lượng nghĩa! Các đồng tu sơ học, có những người thấy kinh văn quá sâu, đọc không hiểu, chẳng muốn đọc nữa, trật rồi! Đọc không hiểu bèn chẳng muốn niệm, giống như nước suối ngầm ở dưới đất, chẳng được đào bới. Quư vị bỏ chút công phu đào ra, sau khi đă thấy nước, nguồn nước vĩnh viễn chẳng khô cạn, lấy măi chẳng hết, dùng măi chẳng hết, “Kinh” là như vậy. V́ thế, cổ nhân nói: “Độc thư thiên biến, kỳ nghĩa tự kiến” (đọc sách ngàn lần, tự thấy được ư nghĩa).

      Hiện tại học thứ này thứ nọ khó lắm, không giống như thời cổ, thời cổ thật sự có thiện tri thức, hiện tại không có. V́ thế, chúng ta hiện thời chẳng có phước báo lớn như cổ nhân, hiện tại không có thiện tri thức chân chánh. Không có thiện tri thức, chúng ta học với ai? Chúng ta chỉ c̣n cách học với cổ nhân, chắc chắn sẽ không đi sai đường, chắc chắn sẽ không lạc vào tà đạo. Nói cách khác, học với cổ nhân nhất định đáng tin cậy. Nay chúng ta mở Sớ Sao ra, học với Liên Tŕ đại sư; đọc Sớ Sao là nghe Liên Tŕ đại sư khai thị cho chúng ta. Ngài khai thị, chúng ta nghe không hiểu, nghe không hiểu chẳng sao cả, lại nghe lần thứ hai, lần thứ hai nghe vẫn không hiểu, lại nghe lần thứ ba. Chỉ cần quư vị không ngừng tiếp tục xem măi như vậy, nghiêm túc đọc bộ Sớ Sao này từ đầu đến cuối, chẳng cần nhiều, mỗi ngày đọc một giờ, đọc ba năm hay năm năm, quư vị chắc chắn khai ngộ. Quư vị không chịu làm th́ chẳng có cách nào hết!

      “Ta dùng thời gian ba năm để đọc Đại Tạng Kinh”, [làm như vậy] chắc chắn quư vị chẳng thể khai ngộ, v́ sao? Xem phần trước, chẳng biết phần sau, xem phần sau, quên sạch phần trước, làm sao quư vị có thể khai ngộ được? Không thể nào có chuyện ấy được! Đấy đúng là như ngài Thanh Lương đă nói: “Chẳng tăng trưởng vô minh, bèn tăng trưởng tà kiến”, điều này hết sức đáng sợ. Chúng ta muốn học đạo, rốt cuộc đến cuối cùng đạt được hậu quả trái ngược, chúng ta đi ngược đường, sai lầm quá đỗi to lớn! Do vậy, tôi mong mỏi các đồng tu, chúng ta đă phát đạo tâm mong thật sự thành tựu, hăy dùng theo cách của cổ nhân, dồn công sức nơi một bộ kinh th́ mới có thể thành tựu. Kinh có ư nghĩa vĩnh viễn chẳng cùng tận, đó là ư nghĩa của chữ “dũng tuyền”.

 

      (Sao) Tứ, thằng mặc.

      () 四、繩墨。

      (Sao: Bốn là dây mực).

 

      “Thằng mặc”: Xưa kia, nếu thợ mộc cưa gỗ, sẽ dùng “mặc đẩu”[6] để kéo căng sợi dây, kéo thẳng sợi dây [đă nhúng mực, rồi nắm sợi dây búng nhẹ] để in một đường [nhằm đánh dấu chỗ sẽ cưa trên gỗ], đấy là “thằng mặc”. Đă vạch một đường thẳng, cưa theo đó, cứ chiếu theo đường thẳng ấy mà cưa. Hiện thời khoa học kỹ thuật tiến bộ, không cần đến thứ này. “Thằng mặc” có thể vạch một đường thẳng, nên cứ cưa theo đó sẽ chẳng bị cong quẹo. Dùng ư nghĩa này nhằm nói [kinh Phật là tiêu chuẩn để] phân biệt tà, chánh. Lư luận, phương pháp và cảnh giới trong kinh đều là chính xác, chẳng tà vạy, cho nên kinh có ư nghĩa “thằng mặc”. Chúng ta tu hành phải có tiêu chuẩn, lấy ǵ làm tiêu chuẩn? Lấy kinh điển làm tiêu chuẩn. Giống như thợ mộc, ta phải cưa theo đường thẳng, đường thẳng ấy dùng ǵ để làm chuẩn? Dùng dây mực để vạch tiêu chuẩn, dùng ư nghĩa này.

 

      (Sao) Ngũ, kết man.   

   () 五、結鬘。

      (Sao: Năm là kết tràng hoa).

 

      “Man” () là ṿng hoa, dùng nhiều hoa xâu lại thành ṿng khoác trên cổ. Người Ấn Độ rất thích trang sức theo kiểu này. Đức Phật cũng thường dùng chuyện này làm tỷ dụ. Tràng hoa do [các thứ hoa] xâu kết lại, dùng ư nghĩa này, giữ cho hoa chẳng đến nỗi rơi mất. [Kinh Phật có thể] liên kết các pháp, dùng ư nghĩa này.

 

      (Sao) Phật Địa nhị nghĩa, vị nhất quán xuyên, vị nhất nhiếp tŕ.

   () 佛地二義,謂一貫穿,謂一攝持。

(Sao: Theo Phật Địa Luận, Kinh có hai nghĩa, một là xuyên suốt, hai là tóm giữ).

 

      Phật Địa Luận giải thích chữ Kinh bằng hai ư nghĩa Quán và Nhiếp. Chữ “quán xuyên” giống với ư nghĩa “kết man” trong phần trên. “Nhiếp tŕ”: Các tác phẩm văn chương thế gian không có sức [lôi cuốn], nắm giữ tâm hồn con người. Văn chương thế gian hay nhất, quư vị đọc một lần xong, hăy c̣n muốn xem, xem hai lượt vẫn c̣n muốn xem, giống như nam châm có thể thu hút quư vị. Tuy nó có thể thu hút, nhưng sức mạnh hữu hạn, v́ sao? Quư vị xem liên tục hai mươi lượt, ba mươi lượt, chẳng muốn đọc nữa, có thể thấy sức mạnh của nó cũng không mạnh mẽ lắm! Văn chương chẳng hay, đương nhiên đọc một lần c̣n chưa được, đọc mấy ḍng đầu đă chẳng muốn xem tiếp. Văn chương hay có thể đọc từ đầu tới cuối, rất tán thưởng, c̣n có thể đọc lần thứ hai, lần thứ ba, đọc thêm vài lần, sẽ chẳng muốn coi nữa. Nhưng kinh Phật khác hẳn, quư vị càng đọc càng ưa thích, sau khi xem đúng là chẳng thể buông xuống, thật đúng như người ta thường nói: Quư vị đắc “cá trung tam muội” (đạt được ư nghĩa tinh ṛng và bí quyết). Thường nếm được ư vị ấy, ư nghĩa ào ạt xuất hiện, thật sự được thụ dụng, kinh có sức [ảnh hưởng] ấy khiến quư vị đọc suốt cả đời cả kiếp vẫn chẳng chán. Dẫu là một bộ kinh, nhưng quư vị thật sự thâm nhập, nó sẽ có sức mạnh ấy! Quư vị có thể cả ngày không ăn cơm, có thể suốt ngày chẳng ngủ, nhưng một ngày chẳng thể không đọc kinh, sức mạnh ấy được gọi là “nhiếp tŕ”. Kinh Phật có sức mạnh ấy!

 

      (Sao) Thử phương tứ nghĩa.

      () 此方四義。

      (Sao: Phương này, dùng bốn nghĩa).

       

      “Thử phương” là Trung Quốc. Đối với kinh điển của cổ nhân cũng có bốn ư nghĩa, giống như chúng ta tôn xưng sách vở do cổ thánh tiên hiền lưu lại là “kinh”. Nho gia Trung Quốc có mười ba kinh, sách Trang Tử của Đạo Gia được tôn xưng là Nam Hoa Kinh[7], sách của Lăo Tử được tôn xưng là Đạo Đức Kinh, những kinh ấy đều có bốn ư nghĩa.

 

      (Sao) Vị nhất thường, nhị pháp, tam kính, tứ điển, cố vân “đa nghĩa”. “Bất xuất tứ nghĩa” giả, chỉ “quán, nhiếp, thường, pháp” tứ tự dă.

     () 謂一常,二法,三逕,四典,故云多義。不出四義者,指貫攝常法四字也。

      (Sao: Tức là một là thường, hai là pháp, ba là đường lối, bốn là khuôn mẫu, nên nói là “nhiều nghĩa”. “Chẳng ra ngoài bốn nghĩa” tức là nói về bốn chữ “quán, nhiếp, thường, pháp” vậy).

 

      Thứ nhất là Thường, siêu việt thời gian và không gian. Bộ Luận Ngữ của Khổng lăo phu tử được chúng ta gọi là Kinh, do Ngài đă nói từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước, nay chúng ta mở ra đọc, vẫn sử dụng được. Đó là vượt thời gian, vượt không gian. Người Trung Quốc đọc sách ấy, thích hợp, vẫn có thể sử dụng được. Người Nhật đọc Luận Ngữ cũng có thể sử dụng được! Hiện thời, người Nhật có nhiều ưu điểm hơn người Hoa, nay người Hoa coi sách ấy như đồ bỏ, nhưng người Nhật vẫn dùng. Do vậy, tuy Nhật Bản bại trận trong Đệ Nhị Thế Chiến, hiện nay họ là nước bậc nhất trên thế giới. Quư vị muốn t́m nguyên nhân ư? Họ chọn lựa, giữ lấy tinh thần Nho gia, tận lực phát triển khoa học kỹ thuật Tây Phương, cho nên hiện thời trên thế giới không ai có thể sánh bằng họ, đạo lư ở chỗ này. Cơ sở và cội nguồn văn hóa của người Nhật đều là những thứ của Trung Quốc, họ học từ Trung Quốc. Dân tộc họ có tánh chất bảo tồn truyền thống rất mạnh, đó là ưu điểm lớn nhất của họ. Họ học từ Trung Quốc, măi cho đến ngày nay vẫn c̣n duy tŕ được. Người Nhật mặc Ḥa phục, đấy là trang phục của người Hoa thời cổ, người Nhật chế ra y phục từ đâu? Lấy cách thức từ Trung Hoa, chiếu theo kiểu đó mà may cắt. Ḥa phục (Wafuku) c̣n gọi là Ngô phục (Gofuku), học ở đâu ra? Từ nước Ngô thời Xuân Thu, tức tỉnh Giang Tô [hiện tại]. Họ sống trong nhà lót nền bằng chiếu tatami là cách thức kiến trúc của Trung Quốc vào thời Xuân Thu, sau khi học được măi cho đến hiện tại chẳng biến đổi, vẫn giữ như thế.

      Nay chúng ta đọc cổ thư, nhất là đọc Lễ Kư, đúng là đọc sách mà chẳng biết sách nói ǵ? Nhưng đến thăm Nhật Bản, thấy giống hệt như trong Lễ Kư đă nói. Chẳng hạn như trong Lễ Kư nói: Nếu quư vị bước vào cổng nhà người ta, thấy ở cửa đặt hai đôi giầy, chớ nên tùy tiện bước vào. Nay chúng ta bước vào cửa, trong pḥng khách đâu có đặt hai đôi giầy? Mới hiểu [bên Nhật, nền nhà lót bằng thảm] tatami, đi trên tatami th́ phải đặt giầy bên ngoài. Có lẽ hai người họ đang bàn chuyện ǵ cơ mật, quư vị bước vào sẽ khiến người ta rất ngượng ngùng, đó là thất lễ. [Sách Lễ Kư nói] khách quư đến, “trùng tịch” (chồng chiếu) để ngồi, nay chúng ta chẳng hiểu “trùng tịch” là ǵ? Chúng ta đều ngồi trên ghế. Hóa ra, trên thảm tatatami, có đặt cái đệm để ngồi. Đối với khách quư, nhằm đặc biệt tiếp đăi, xếp hai cái đệm [chồng lên nhau], hai cái đệm thể hiện sự tôn kính nhất. V́ thế, đến chỗ người ta, vừa nh́n liền biết cách sống của họ hoàn toàn tuân theo Lễ Kư. Người Nhật bắt đầu học những thứ của Trung Quốc từ thời Xuân Thu, mỗi triều đại đều cử du học sinh sang Trung Hoa du học. V́ thế, văn hóa Trung Quốc quả thật đều [được bảo tồn] tại Nhật Bản. Tới Nhật Bản, thấy những phong tục, tập quán, văn vật thuộc thời đại Xuân Thu của Trung Hoa, chúng tôi rất khâm phục họ, họ có thể bảo tồn. “Thường” là vượt thời gian, vượt không gian. Hiện thời, tư tưởng Nho gia được truyền bá sang Mỹ, Âu Châu, điều ǵ có thể sử dụng, điều ǵ được họ ưa thích, họ sẽ tiếp nhận rất dễ dàng. Đây là ư nghĩa của chữ Thường, tức là vượt thời gian, vượt không gian.

      Thứ hai là Pháp, tức là nguyên lư, nguyên tắc, phép tắc. Phép tắc ấy bất biến, chiếu theo phương pháp ấy để làm, nhất định sẽ thông suốt, đó là Pháp. Do vậy, Pháp có nghĩa là “quỹ tắc” (軌則: khuôn khổ, đường lối).

Thứ ba là Kính (), tức con đường nhỏ, đường gần, là đường của thánh hiền đi. Quư vị noi theo con đường ấy để đi, sẽ thành thánh, thành hiền.

Thứ tư là Điển (), tức là điều được xưa lẫn nay đề cao, hết thảy mọi người bằng ḷng tuân thủ, tôn trọng, tôn sùng.

 

      (Sao) Lương dĩ Kinh tự, Tây Vực chánh phiên vi Tuyến. Tuyến hữu Quán Tŕ nghĩa, Quán tắc quán xuyên sở thuyết chi lư, Tŕ tắc nhiếp tŕ sở hóa chi sanh. Thử nhị túc cai xuất sanh ngũ nghĩa.

      ()良以經字,西域正翻為線,線有貫持義,貫則貫穿所說之理,持則攝持所化之生,此二足該出生五義。

      (Sao: Ấy là v́ chữ Kinh trong tiếng Tây Vực dịch sát nghĩa là Tuyến (sợi dây), v́ Tuyến có ư nghĩa Quán Tŕ: Quán là xuyên suốt, liên kết Lư đă nói, Tŕ là giữ ǵn những chúng sanh được hóa độ. Hai nghĩa này đủ để bao gồm năm nghĩa như xuất sanh v.v...).

 

      Kế đó, giải thích hai ư nghĩa Quán và Nhiếp. Hai ư nghĩa Quán và Nhiếp ấy có thể bao quát năm ư nghĩa được giảng trong Tạp Tâm Luận. Nói cách khác, hai ư nghĩa Quán và Nhiếp này có thể bao quát trọn vẹn rất nhiều cách cổ nhân giải thích ư nghĩa của chữ Kinh. Ở đây, rất rơ rệt là đại sư chỉ dùng hai chữ này để bao gồm các ư nghĩa khác. V́ thế, hai chữ này được đặc biệt coi trọng!

 

      (Sao) Nhi thử phương kinh điển, diệc danh viết Kinh.

   () 而此方經典,亦名曰經。

      (Sao: Nhưng kinh điển ở phương này cũng được gọi là Kinh).

 

      Kinh điển của Trung Quốc cũng gọi là Kinh. Chúng ta cũng tôn xưng trước thuật của cổ thánh tiên hiền là Kinh; nhưng trong kinh điển của Trung Hoa không có ư nghĩa Tuyến, c̣n Tu Đa La của nhà Phật có ư nghĩa Tuyến, Tuyến là xuyên suốt.

 

      (Sao) Kinh thị Tuyến nghĩa.

   () 經是線義。

      (Sao: Kinh có nghĩa là Tuyến).

 

      Khế Kinh có nghĩa gốc là Tuyến.

 

      (Sao) Thử phương bất quư Tuyến.

      () 此方不貴線。

      (Sao: Cơi này không coi trọng Tuyến).

 

      Người Hoa đối với chữ Tuyến chẳng coi trọng lắm, cho nên lược bỏ chữ Khế [trong Khế Kinh].

 

      (Sao) Cố trực thủ Kinh tự, nhi gia dĩ Khế.

   () 故直取經字,而加以契。

      (Sao: Nên lấy ngay chữ Kinh, thêm vào chữ Khế).

 

      Khi phiên dịch th́ đối với chữ Tu Đa La mới dịch thành Khế Kinh.

 

      (Sao) Cổ xưng tối vi doăn đáng.

      () 古稱最為允當。

      (Sao: Cách gọi theo lối cổ là thích đáng nhất).

 

      Thời cổ dùng danh xưng Khế Kinh để dịch chữ Tu Đa La, mọi người công nhận cách dịch ấy hết sức thích đáng.

 

      (Sao) Hựu, Thường giả, cổ kim bất dịch. Pháp giả, cận viễn đồng tôn.

      () 又常者,古今不易。法者,近遠同尊。

      (Sao: Lại nữa, Thường là xưa nay chẳng thay đổi. Pháp là xa gần cùng tôn trọng).

 

      Đây là giải thích hai ư nghĩa Thường và Pháp. Dùng hai chữ Thường và Pháp có thể bao quát bốn ư nghĩa của [kinh điển] Trung Quốc (tức là Thường, Pháp, Kính, Điển), Kính và Điển có thể gộp trong hai chữ này. Thường là xưa nay chẳng đổi, đó là Thường, đó là “thường đạo” (đạo thường hằng). Căn bản của văn hóa Trung Quốc luân thường, Luân () là tổ chức luân lư. [Do có] Ngũ Luân nên quan hệ giữa con người với nhau vô cùng mật thiết. Ngũ Luân bắt đầu từ vợ chồng, vợ chồng sống chung một nhà, tối thiểu là chung một pḥng, ngoài pḥng là gia đ́nh. Trong gia đ́nh có cha con, anh em. Bên ngoài nhà là xă hội, quốc gia và xă hội. Trong quốc gia có vua tôi, bằng hữu. Nói “quân thần” th́ “quân” () là người lănh đạo, “thần” () là người bị lănh đạo. Chúng ta làm mọi chuyện trong xă hội, th́ cấp trên của quư vị là Quân, quư vị là Thần. Nếu quư vị làm một ông chủ nhỏ th́ quư vị là Quân, nhân viên của quư vị là Thần. Do vậy, chữ Quân không nhất định chỉ đế vương, trong xă hội có mối quan hệ giữa trưởng quan (cấp trên) và bộ thuộc (nhân viên, thuộc hạ); “b́nh bối” (bằng vai phải lứa) là quan hệ bạn bè. Tổ chức xă hội Trung Quốc là xă hội Ngũ Luân. Thời cổ, Trung Quốc không có hai chữ “đoàn kết” v́ bản thân Ngũ Luân đă là đoàn kết. “Tứ hải chi nội giai huynh đệ” (trong bốn biển đều là anh em). Bạn của bạn bè, hàng xóm của xóm giềng, mở rộng ra là một quốc gia; quốc gia dân tộc đích xác là một chỉnh thể.

      Ngũ Luân là tổ chức, duy tŕ Ngũ Luân bằng Ngũ Thường, đấy là thường đạo. “Thường” là một tiêu chuẩn làm người của người Hoa, tức tiêu chuẩn đạo đức, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nhân Từ là từ ḿnh bèn nghĩ đến người, hễ nghĩ đến ta bèn cũng nghĩ tới người khác. Do vậy, chữ Nhân là chữ Hội Ư[8]. Nhân () là hai người, tức là khi quư vị nghĩ đến ḿnh th́ cũng phải nghĩ tới người khác, suy từ ḿnh mà nghĩ đến người khác, đó là Nhân. Nghĩa () là trọn hết nghĩa vụ, chẳng bàn tới quyền lợi. Chúng ta là địa vị ǵ, mang thân phận ǵ, nên làm chuyện ǵ, đều phải tận tâm tận lực thực hiện tốt đẹp, trọn hết nghĩa vụ. Lễ () là có chừng mực, chẳng quá lố, mà cũng chớ nên dễ dăi, xă hội sẽ có trật tự, mọi người đều yên tâm, Lễ có thể an tâm. Trí () là lư trí, hoàn toàn tương đồng với chủ trương của Phật pháp, xử sự, đăi người, tiếp vật phải dùng lư trí. Tín () là đáng tin cậy, đấy là đạo đức cơ bản. Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là Ngũ Thường, là thường đạo! Xưa nay, trong ngoài nước, vĩnh viễn chẳng thể thay đổi, ai nấy đều phải tuân thủ.

      Sách Lễ Kư ghi: “Nhân khí thường, tắc yêu hưng” (con người vứt bỏ lẽ thường, ắt yêu quái dấy lên). Thường là ǵ? Chính là năm điều ấy, tức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, chúng ta thảy đều từ bỏ, cũng không nói tới, yêu ma quỷ quái trên thế giới này thảy đều xuất hiện, v́ sao? V́ yêu ma quỷ quái chẳng bàn tới Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Con người nhất định phải nói tới Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, nay chúng ta gọi [năm điều này là] “nhân cách”. Nhân cách là tư cách làm người, tư cách làm người là ǵ? Chính là năm điều ấy. Nếu không có năm điều ấy, sẽ thiếu tư cách làm người! Thiếu tư cách làm người, hiện thời vẫn mang h́nh dáng con người, nhưng quư vị một hơi thở ra không hít vào được sẽ đi vào tam ác đạo, chẳng thể được làm thân người nữa! Nếu quư vị muốn đời sau c̣n được làm thân người, quư vị hăy khéo giữ ǵn nhân cách, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Muốn sanh lên trời, phải tăng cường năm điều kiện ấy, phải tu Thập Thiện Nghiệp Đạo mới có thể sanh thiên, tư cách của thiên phải cao hơn con người.

     “Pháp giả, cận viễn đồng tôn” (Pháp là xa gần cùng tôn trọng), “tôn” là tôn trọng, mà cũng có thể hiểu là tuân thủ, đó là Pháp, tức phép tắc, giống như pháp luật của quốc gia, trên cả nước phải cùng nhau tuân thủ. Pháp do cổ thánh tiên hiền đă lập, đích xác chẳng hạn chế trong một nước, một dân tộc, mà có thể nói: Đối với các phép tắc do tổ tiên đă lập, hết thảy các quốc gia, dân tộc đều phải tuân thủ, v́ sao? Quư vị tuân thủ th́ quốc gia của quư vị sẽ ổn định lâu dài, thiên hạ thái b́nh. Hiện thời, chính phủ đang nói tới chuyện an ḥa lợi lạc. Nếu thật sự muốn đạt tới an ḥa lợi lạc, nhất định phải tuân thủ. Quư vị giữ đúng pháp của các bậc thánh hiền, sẽ thành công. Phật pháp có phạm vi càng lớn hơn nữa, đối tượng của nó là trọn hết hư không khắp pháp giới, chẳng hạn chế trong quả địa cầu này! Quư vị giữ vững những phép tắc ấy của Phật th́ sẽ có thể thành Phật, có thể thành Bồ Tát, lợi ích ấy các pháp thế gian trọn chẳng thể sánh được.

 

      (Sao) Thường tắc cửu nhi hành chi.

      () 常則久而行之。

      (Sao: Thường là đă được thực hành từ lâu).

 

      “Thường” là vượt thời gian. Thánh nhân lập pháp quả thật rất lỗi lạc. Trong quá khứ, tiên sinh Phương Đông Mỹ đă bảo tôi rất nhiều lần, cụ nói suốt một đời cụ, đọc sách cụ bội phục Châu Lễ nhất. Khi ấy, cụ khuyên tôi xem, nhưng tôi chẳng xem. Hiến pháp đời Châu do Châu Công[9] chế định. Tại Trung Quốc, triều đại nhà Châu có lịch sử dài nhất, tám trăm năm! Bất luận triều đại nào của Trung Quốc, chẳng có triều đại nào lâu dài như vậy. Đáng tiếc là con cháu đời sau của triều đ́nh nhà Châu chẳng làm đúng với hiến pháp. Nếu làm đúng hiến pháp, thật sự là ngàn năm vạn đời chẳng thể vong quốc! Phương tiên sinh bảo tôi: Xưa nay, trong ngoài nước, hiến pháp của mỗi quốc gia, dân tộc đều chẳng hoàn thiện bằng Châu Lễ, quả thật là tuyệt diệu! Về sau, tôi học Phật, chẳng học những chuyện ấy, cho nên cũng chẳng đọc [Châu Lễ], nhưng lời thầy nói với tôi đă tạo thành ấn tượng vô cùng sâu đậm, cụ nói: “Tác phẩm ấy của Châu Công đúng là một bộ hiến pháp vô cùng hoàn mỹ”. Đó là Thường, có thể thật sự vượt thoát thời gian lẫn không gian.

 

      (Sao) Hữu cộng diêu nghĩa, tức danh vi Kính.

      () 有共繇義,即名為逕。

      (Sao: Lại c̣n có ư nghĩa là đường lối, duyên do chung, nên gọi là Kính).

 

      Kính () là con đường, là nơi mọi người cùng đi. Diêu () là “do” trong “căn do” (根由). Đức Phật thành đạo, Bồ Tát thành đạo đều v́ nhân duyên và nguyên nhân ấy. Chúng ta tu học nếu dùng nguyên nhân này, đương nhiên cũng có thể thành tựu. Nếu hiểu [Kính] có nghĩa là đường nẻo th́ cũng hợp lư, người ta đi theo con đường ấy có thể thành Phật, có thể thành Bồ Tát, nay chúng ta cũng đi theo đường này, nhất định cũng có thể thành Phật, thành Bồ Tát, mang ư nghĩa này. Chúng ta thuộc thời cận đại, thời cổ lại càng chẳng cần phải nói. Quư vị xem Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Văng Sanh Truyện, nh́n vào những người văng sanh trong thời cận đại, hăy nên giác ngộ. Do con đường Niệm Phật thật sự có thể văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng phải là giả. Những người đó dùng phương pháp này, họ thành công; nay chúng ta noi theo con đường này để đi, nhất định cũng có thể thành công, quyết định đừng nên hoài nghi.

      Gần đây nhất, chúng tôi in ba thứ bản dịch của kinh Di Đà, chư vị hăy nên nghiên cứu kỹ càng, chắc chắn sẽ chẳng hoài nghi kinh A Di Đà. Quư vị đọc bản dịch của Huyền Trang đại sư, đọc bản hội tập của cư sĩ Hạ Liên Cư, ư nghĩa hết sức rơ ràng, sẽ hiểu chúng ta phải biết cách đọc như thế nào, cách tu ra sao? V́ bản chúng ta thường niệm là bản dịch của Cưu Ma La Thập đại sư, Ngài dịch đơn giản, có khá nhiều ư nghĩa trong ấy, nhưng do văn tự giản lược, chúng ta nh́n không ra. Thí dụ như “A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp” (từ khi A Di Đà Phật thành Phật đến nay là mười kiếp), kiếp có đại kiếp, trung kiếp, tiểu kiếp, rốt cuộc là kiếp nào? Bản dịch của Huyền Trang đại sư nói rơ là mười đại kiếp, chẳng phải tiểu kiếp. Bản của La Thập đại sư ghi “nhất tâm bất loạn”, chúng ta cảm thấy rất khó khăn. Bản của Huyền Trang đại sư không viết như vậy, Ngài bảo chúng ta hăy “chuyên tâm hệ niệm”, tức là quư vị chuyên tâm niệm Phật, tới lúc lâm chung, Phật đến tiếp dẫn, Phật lực gia tŕ, khiến quư vị đắc nhất tâm bất loạn, điều này dễ dàng, ngay lập tức chúng ta an tâm, đúng là tuyệt diệu chẳng thể diễn tả được!

      Bản dịch của La Thập đại sư văn phong rất lưu loát, chúng ta đọc bản dịch ấy rất thoải mái, giống như đọc Quốc Văn của Trung Quốc. Bản dịch của Huyền Trang đại sư đọc rất trúc trắc, v́ Ngài chiếu theo văn bản Ấn Độ để dịch thẳng ra, rất nhiều cách hành văn, cú pháp chúng ta không quen thuộc lắm, đọc lên chẳng cảm thấy trôi chảy, thông suốt, nhưng ư nghĩa vô cùng hoàn chỉnh. Ngài chiếu theo nguyên văn dịch từng câu một, chẳng sót một ư nghĩa nào! Xét theo ư nghĩa, pháp sư Huyền Trang dịch rất hay, nhưng xét theo văn tự trôi chảy, thông suốt, bản dịch của pháp sư La Thập hay hơn. Cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập hai bản ấy, vừa muốn văn chương tốt đẹp, vừa muốn ư nghĩa hoàn chỉnh. Lần này, tôi mang bản ấy từ Mỹ về, chúng tôi in lại để lưu thông, cúng dường mọi người, mong mọi người tăng trưởng tín tâm, mọi người đều có thể văng sanh trong một đời này. Nay ở trong hội này, tương lai tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng ta lại mở đại hội, thường ở cùng một chỗ.

 

      (Sao) Pháp tắc quỹ nhi chánh chi. Hữu định cứ nghĩa, tức danh vi Điển.

      () 法則軌而正之。有定據義,即名為典。

      (Sao: Pháp là đường lối chánh đáng. Do [Kinh] mang ư nghĩa “là chứng cứ nhất định” nên gọi là Điển).

 

      “Hữu định cứ nghĩa” là có [chứng cứ] xác định, có thể lấy nó làm bằng chứng. Giống như pháp luật trong hiện thời, mọi người có tranh chấp, bèn dùng điều ǵ làm tiêu chuẩn để so sánh ai phải, ai trái? Có pháp luật để làm tiêu chuẩn, pháp luật c̣n gọi là “pháp điển”.

 

      (Sao) Diệc nhị túc cai tứ.

   () 亦二足該四。

      (Sao: Cho nên hai chữ đủ để gồm trọn bốn ư nghĩa).

 

      Dùng hai chữ Thường và Pháp có thể gồm trọn Kính và Điển.

 

      (Sao) Tắc bỉ phương Quán Nhiếp, thử phương Thường Pháp, hợp nhi ngôn chi, tứ tự chi trung, tận Kinh nghĩa hĩ.

   () 則彼方貫攝,此方常法,合而言之,四字之中,盡經義矣。

      (Sao: Cho nên hai chữ Quán và Nhiếp của phương kia và Thường Pháp của phương này, hợp lại để nói th́ bốn chữ sẽ [bao gồm] trọn hết ư nghĩa của chữ Kinh).

 

      Từ xưa tới nay, các vị đại đức chú kinh, giảng kinh, hễ giải thích chữ Kinh này, thông thường đều dùng bốn chữ Quán, Nhiếp, Thường, Pháp để giải thích. Ở đây, giảng khá tỉ mỉ, nêu ra nguồn gốc của bốn chữ này. Quán Nhiếp là cách người Ấn Độ [dùng để] bao quát khá nhiều ư nghĩa của chữ Kinh trong hai chữ này. Bốn ư nghĩa [kinh điển] của Trung Quốc cũng có thể được khái quát bởi Thường Pháp. V́ thế, dùng Quán, Nhiếp, Thường, Pháp để bao gồm trọn hết.

 

      (Sớ) Hựu Kinh phục hữu thông biệt nhị nghĩa, Kinh chi nhất tự, thị vi thông danh, Phật Thuyết A Di Đà ngũ tự, thị vi biệt danh.

      () 又經復有通別二義,經之一字,是為通名;佛說阿彌陀五字,是為別名。

      (Sớ: Lại nữa, kinh lại có hai nghĩa Thông và Biệt, một chữ Kinh là tên chung (thông danh), năm chữ Phật Thuyết A Di Đà là tên riêng).

 

      Biệt là chẳng giống với bộ [kinh luận] khác, đó là Biệt. Thông là cùng chung với các bộ khác, đó là Thông. Kinh là Thông Danh (tên chung). Hễ là kinh tạng đều gọi là Kinh, như kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cang, sau mỗi danh xưng đều có chữ Kinh; nhưng [phần danh xưng riêng biệt] như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, kinh khác chẳng dùng danh xưng ấy, chỉ có một bộ này! Phật Thuyết A Di Đà cũng chỉ có bộ kinh này dùng danh xưng này, bộ khác không có, nên gọi là Biệt Đề (đề mục riêng). Nhưng kinh dùng danh hiệu A Di Đà [để đặt tên] th́ trừ bộ này ra c̣n có kinh Vô Lượng Thọ cổ nhân cũng dịch là A Di Đà Kinh. [Thành ra] kinh A Di Đà có hai loại, bất đắc dĩ thêm chữ Đại [để phân biệt], Đại A Di Đà Kinh chính là kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Vô Lượng Thọ và kinh này cùng bộ. Nói rơ tỉ mỉ là kinh Vô Lượng Thọ; nói đơn giản, tóm tắt, giới thiệu đơn giản là bộ kinh này. Hai bộ kinh này có nội dung hoàn toàn tương đồng, đều có thể gọi là A Di Đà Kinh, mà cũng đều có thể gọi là Vô Lượng Thọ Kinh.

 

      (Sớ) Như giáo, hành, lư, thông biệt diệc nhĩ.

   () 如教行理通別亦爾。

      (Sớ: Đối với Giáo, Hành, Lư cũng có Thông và Biệt giống như vậy).

 

      Kinh có Giáo kinh, có Hành kinh, có Lư kinh; trong Giáo, Hành, Lư cũng có Thông và Biệt. Thông là chung với những bộ khác, thông với các pháp môn khác, Biệt là chẳng giống những pháp môn khác. Giáo là sự giáo học của Phật, Hành là tu hành, Lư là căn cứ lư luận của giáo học tu hành. Những kinh này cũng có Thông và Biệt.

 

      (Sớ) Thử tam tức phối tam đức, viên dung cụ túc.         

   () 此三即配三德,圓融具足。

      (Sớ: Ba điều này (Giáo, Hành, Lư) chính là phối hợp với Tam Đức, viên dung trọn đủ).

 

      Tam Đức là Pháp Thân, Bát Nhă, và Giải Thoát, được gọi là Tam Đức Bí Tạng.

 

      (Sớ) Như Thiên Thai sở xưng, văn thủ đề danh, công đức vô lượng.

   () 如天台所稱,聞首題名,功德無量。

      (Sớ: Như ngài Thiên Thai đă ca ngợi: Nghe tựa đề của kinh, công đức vô lượng).

 

      “Thủ đề danh” chính là tên của bộ kinh. Nghe tên kinh có vô lượng vô biên công đức, tông Thiên Thai nói như vậy. Chính v́ tông Thiên Thai nói như vậy, cho nên người Nhật chẳng niệm Phật, mà niệm “Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” tức là niệm tựa đề kinh[10], hễ nghe tựa đề kinh, công đức bèn vô lượng vô biên. Nhưng nếu chẳng hiểu ư nghĩa của tựa đề kinh, sẽ chẳng có công đức; lấy đâu ra công đức? Chẳng sanh ra được! Do vậy, nhất định phải hiểu rành rẽ tựa đề kinh th́ tựa đề kinh sẽ có vô lượng công đức. Người Nhật niệm “Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” tức là niệm uổng công. Cách niệm ấy chẳng phải là không có công đức, thật sự có công đức; nhưng họ niệm không có công đức, ta niệm có công đức. V́ sao? Họ chẳng hiểu được ư nghĩa trong tựa đề. Họ niệm, tâm và miệng chẳng tương ứng. Tâm, miệng, hạnh tương ứng sẽ có vô lượng vô biên công đức. Do vậy, chẳng bằng niệm một câu A Di Đà Phật. V́ quư vị chẳng liễu giải A Di Đà Phật, nhưng thành tâm thành ư niệm sẽ có công đức; niệm “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” phải thông đạt ư nghĩa trong tựa đề mới có công đức.

      Trong quá khứ, tôi đă giảng đại ư kinh Pháp Hoa ở chỗ này, giảng “Quyền Thật thập diệu”, chữ “Diệu” có hai mươi ư nghĩa: Quyền Diệu có mười ư nghĩa, Thật Diệu có mười ư nghĩa; chúng tôi tốn rất nhiều thời gian giảng tựa đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà vẫn là nói đại lược! Nếu nói tỉ mỉ th́ Thiên Thai đại sư “cửu tuần đàm diệu”, tức là mỗi ngày giảng tám tiếng đồng hồ, giảng suốt chín mươi ngày mới giảng xong chữ Diệu! Bộ sách Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Thiêm in b́a cứng dày như thế, gồm ba cuốn to. Ba cuốn sách to vốn để giảng điều ǵ? Chính là Thiên Thai đại sư thuở trước đă bỏ ra chín mươi ngày giảng chữ “Diệu” thành ba cuốn sách to như thế đó! Nếu chúng tôi chiếu theo ba cuốn sách to ấy để giảng, giảng ba năm vẫn chưa xong, đương nhiên là vô lượng công đức; nhưng người Nhật chẳng hiểu, coi [tựa đề kinh] như thần chú để niệm, vô ích, miệng có, tâm không, chẳng có tí hữu dụng nào!

 

      (Sớ) Nhược phối Tam Đại, tắc Phật thị Thể Đại, Vô Lượng Thọ thị Tướng Đại, Vô Lượng Quang thị Dụng Đại, như giáo trung thuyết.

      () 若配三大,則佛是體大,無量壽是相大,無量光是用大,如教中說。

      (Sớ: Nếu phối hợp với Tam Đại th́ Phật là Thể Đại, Vô Lượng Thọ là Tướng Đại, Vô Lượng Quang là Dụng Đại, như trong giáo đă nói).

 

      Đoạn này được giải thích tỉ mỉ trong lời Sao, nhưng ngày hôm nay đă hết thời gian rồi, lần sau chúng ta sẽ thảo luận cặn kẽ: Phối hợp với Tam Đại ra sao? Phối hợp với Tam Đức như thế nào? V́ nếu hiểu rơ ư nghĩa tựa đề kinh, sau này, quư vị niệm một câu A Di Đà Phật, công đức sẽ vô lượng; so với quư vị niệm A Di Đà Phật trước đây, ư nghĩa khác nhau. Nếu quư vị hiểu ư nghĩa của Nam-mô A Di Đà Phật, quư vị sẽ niệm chẳng mệt mỏi, sẽ niệm đầy hứng thú, sẽ niệm phấn chấn tinh thần. Tinh thần chẳng khá, niệm mấy câu Phật hiệu, tinh thần bèn phấn chấn, thật sự có đại tác dụng như thế. A! Chúng ta niệm Phật hồi hướng.

 

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 48 hết

 

 

 



[1] Số Luận là một trường phái triết học cổ Ấn Độ, trong kinh thường gọi họ là Ca Tỳ La ngoại đạo, hoặc Vũ Chúng ngoại đạo, hay Vũ Tế ngoại đạo. Khác với Lục Sư ngoại đạo hoàn toàn chống đối Bà La Môn giáo, Số Luận có nhiều điểm tương đồng và thậm chí vay mượn một số luận điểm của Bà La Môn giáo. Theo truyền thuyết, phái này do tiên nhân Ca Tỳ La (Kapila) sáng nhập. Số Luận quan niệm vũ trụ do hai yếu tố lớn tạo thành: Bổ Lô Sa (Purusha: tinh thần tối cao) và nguyên chất (Prakriti: vật chất nguyên sơ). Khác với Nhị Nguyên Luận của Tây Phương, Số Luận quan niệm vật chất và tinh thần ḥa lẫn vào nhau. Bổ Lô Sa c̣n tách ra vô số những đơn vị tinh thần độc lập gọi Jiva. Nguyên chất lại do ba yếu tố cấu thành: Sattva (hỷ), rajas (ưu), và tamas (tối tăm). Thoạt đầu, Số Luận không thừa nhận có một đấng sáng tạo do lập luận: “Một Thượng Đế bất biến sẽ không thể là cội nguồn của một thế giới luôn thay đổi”. Sau này, do pha trộn với Yoga và các phái triết học khác, Số Luận cũng thừa nhận có thần Ishavar là đấng sáng tạo.

Du Già nói ở đây chính là trường phái Yoga sáng lập bởi Phách Thản Già Lợi (Pantajali, sống vào khoảng thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên). Pantajali đă hệ thống hóa, hoàn chỉnh học thuyết lư luận của Yoga; trường phái của Pantajali được gọi là Thắng Vương Du Già (Raja Yoga) nhằm phân biệt với những trường phái chỉ chú trọng tập luyện cơ thể hơn quan tâm đến triết học. Mục tiêu Thiền Định của Yoga là hợp nhất Tiểu Ngă của mỗi cá nhân với Đại Ngă của Phạm Thiên. Các tác phẩm của Pantajali đă được hệ thống hóa thành Du Già Bát Phần Pháp (Ashtanga Yoga) và được coi như là cơ sở lư luận chính yếu của các trường phái Yoga khác như Cáp Đạt Du Già (Hatha Yoga), Trí Huệ Du Già (Jhana Yoga), Chí Thiện Du Già (Bhakti Yoga), Hành Động Du Già (Karma Yoga), Âm Thanh Du Già (Mantra Yoga), Mật Truyền Du Già (Tantra Yoga) v.v...

[2] Ở đây, Ḥa Thượng dùng chữ “hội đường” thay v́ “hội trường” nhằm nhấn mạnh đến toàn thể kiến trúc được dùng vào việc nhóm họp của tăng chúng (tụng niệm công khóa hằng ngày, tác bạch, yết ma, tấn sơn, nghị sự, truyền giới v.v...) v́ trong các đại tùng lâm, chánh điện được xây tách biệt, không xây chung với giảng đường, tổ đường như trong các chùa hiện thời), chứ “hội trường” th́ có thể là một phần của công tŕnh, hoặc có thể trưng dụng vào những mục đích khác.

[3] Ở đây, ḥa thượng nói theo cách giải thích Danh Số Ấn Độ trong Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập. Theo sách ấy, mười con số lớn trong cách tính toán của cổ Ấn Độ là: 1) A Tăng Kỳ, 2) Vô Lượng, 3) Vô Biên, 4) Vô Tăng (Aparimita), 5) Xuất Biên (Aparimāva), 6) Vô Tỷ (Atulya), 7) Bất Khả Tỷ (Amāpya), 8) Bất Khả Tư Nghị (Acintya), 9) Bất Khả Thuyết (Anabhilāpya), 10) Bất Khả Thuyết Bất Khả Thuyết (Anabhilāpyabhilāpya). Phẩm A Tăng Kỳ của kinh Hoa Nghiêm dịch những tên gọi này hơi khác và từ A Tăng Kỳ đến số cuối cùng có nhiều hơn nữa (gồm hai mươi con số): A Tăng Kỳ, A Tăng Kỳ Chuyển, Vô Lượng, Vô Lượng Chuyển, Vô Biên, Vô Biên Chuyển, Vô Đẳng, Vô Đẳng Chuyển, Bất Khả Số, Bất Khả Số Chuyển, Bất Khả Xưng, Bất Khả Xưng Chuyển, Bất Tư Nghị, Bất Tư Nghị Chuyển, Bất Khả Lượng, Bất Khả Lượng Chuyển, Bất Khả Thuyết, Bát Khả Thuyết Chuyển, Bất Khả Thuyết Bất Khả Thuyết, Bất Khả Thuyết Bất Khả Thuyết Chuyển.

[4] Đây là sách in theo lối cổ. Người ta in toàn bộ cuốn sách thành nhiều trang trên một tờ giấy dài, chỉ in một mặt, khi in xong, xếp sách sao cho mặt không có chữ bị ép vào nhau, rồi dùng chỉ khâu gáy những trang ấy lại, đóng b́a.

[5] Tạp Tâm Luận là tên gọi tắt của bộ Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận, mười quyển, do tôn giả Pháp Cứu soạn. Ngài Tăng Già Bạt Ma xứ Nam Thiên Trúc dịch sang tiếng Hán vào năm Nguyên Gia 12 (435) đời Lưu Tống. Trước đó, luận này đă được dịch hai lần:

1. Pháp Hiển và Giác Hiền cùng dịch vào cuối niên hiệu Nghĩa Hy (417-418) đời An Đế nhà Đông Tấn.

2. Ngài Y Diệp Ba La dịch chín quyển rưỡi vào năm Nguyên Gia thứ ba (426) đời Đông Tấn, sau đó Tam Tạng Cầu Na Bạt Ma dịch tiếp phần c̣n lại vào năm Nguyên Gia thứ tám.

Hai bản này đều đă thất truyền. Luận này nhằm mục đích giảng rộng những phần luận về tâm trong bộ A Tỳ Đàm Tâm Luận của ngài Pháp Thắng, tham khảo rất nhiều phần trong Đại Tỳ Bà Sa Luận để bổ sung những chỗ giản lược trong tác phẩm của ngài Pháp Thắng.

[6] “Mặc đẩu” (墨斗) theo tương truyền là một phát minh của Lỗ Ban (tổ nghề mộc), gồm một hộp tṛn, có chứa mực và một sợi dây đẫm mực, quấn quanh một trục quay đặt trong hộp, để có thể kéo dài hay rút gọn theo ư muốn. Dụng cụ này được thợ mộc dùng để đánh dấu vết cưa, cắt, đục v.v...

[7] Sách Trang Tử được gọi là Nam Hoa Kinh hay Nam Hoa Chân Kinh v́ các vua cuối nhà Đường mê thích thần tiên, ưa luyện đan, tu Đạo Giáo. Đường Huyền Tông đă tôn xưng bốn vị triết gia thời cổ là Tứ Đại Chân Nhân, và đặt pháp hiệu cho họ. Trang Châu được tôn là Nam Hoa Chân Nhân, Liệt Ngự Khấu là Xung Hư Chân Nhân, Văn Tử (tương truyền là đệ tử đắc ư của Lăo Tử) là Thông Huyền Chân Nhân, và Canh Tang Sở (một nhân vật do Trang Châu bịa ra trong sách Trang Tử, nhưng Đường Huyền Tông vẫn tin Canh Tang Sở là nhân vật có thật) là Động Linh Chân Nhân. V́ thế, sách Trang Tử được Đạo Giáo gọi là Nam Hoa Kinh, sách Liệt Tử (do Liệt Ngự Khấu viết) được gọi là Xung Hư Kinh.

[8] Hội Ư là một trong cách sáng tạo chữ Hán thời cổ, thường là ghép hai chữ đơn độc để tạo thành một chữ mới. Chẳng hạn chữ Tửu (: rượu) là do chữ Dậu (: cái b́nh sành để ủ rượu) và chữ Thủy () hợp thành. Chữ Hảo () do Nữ () và Tử () ghép lại, hàm ư, người đàn bà có con là chuyện tốt đẹp.

[9] Châu Công, tên thật là Cơ Đán, con trai thứ tư của Cơ Xương (Châu Văn Vương), em trai của Bá Ấp Khảo (bị Trụ Vương giết), Cơ Phát và Quản Thúc Tiên, nên c̣n gọi là Thúc Đán, hoặc ghép thành Châu Công Đán, hoặc Lỗ Châu Công (do được phong đất ở nước Lỗ). Khi Cơ Phát (Châu Vũ Vương) hưng binh diệt Trụ, Cơ Đán làm quan, giúp anh ổn định triều chánh, phát triển quân đội nhà Châu. Khi Châu Vũ Vương bệnh nặng, Cơ Đán đă lập đàn tế trời, xin chết thay anh. Khi Cơ Phát sắp mất, đă ủy thác Cơ Đán phụ chánh pḥ tá thái tử Cơ Tụng (Châu Thành Vương) c̣n nhỏ lên ngôi vua. Ông đă giúp vua dẹp tan nội loạn (do ba người em là Quản Thúc Độ, Hoắc Thúc Xử và Sái Thúc Tiên dấy loạn, toan giúp Vũ Canh khôi phục nhà Thương). Ông định ra năm bậc quan chế: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam, lập đẳng cấp trong xă hội, phong đất cho những công thần như phong đất Tề cho Khương Tử Nha, lập ra quy định cha chết truyền ngôi cho con trưởng để tránh tranh giành quyền lực, quy định lễ nhạc như tang phục, ngũ lễ, tam ṭng, tứ đức v.v... Khi Thành Vương đă lớn, ông trao lại quyền hành, viết những bức thư cảnh tỉnh Thành Vương khi vua nghe lời gièm pha nghi ngờ ḷng trung của ông. Hậu thế tôn xưng ông bằng nhiều danh hiệu; đời Tống Chân Tông đă truy tặng ông là Văn Hiến Vương, đời sau gọi ông bằng danh hiệu Nguyên Thánh.

[10] Đây là quan điểm của Nhật Liên (Nichiren, sáng tổ phái Nhật Liên Tông, tức Tân Pháp Hoa Tông). Nhật Liên tự xưng ḿnh là Thượng Hạnh Bồ Tát tái lai để giảng dạy chính xác kinh Pháp Hoa, và coi quan điểm của tông Thiên Thai của Trí Giả đại sư chỉ là pháp quyền biến thị hiện, giáo pháp của ông ta mới là chân chánh hiểu đúng chân nghĩa của kinh Pháp Hoa. Ông ta c̣n kịch liệt chủ trương đả phá các tông phái khác, tuyên giảng chỉ có Nhật Liên Tông của ông ta mới là chánh pháp chân truyền, đặc biệt đả kích Thiền, Tịnh Độ và Mật Tông. Ông ta chủ trương niệm đề kinh Pháp Hoa gọi là Daimoku (đề mục), không thờ Phật mà thờ Gohonzon (御本尊: Ngự bổn tôn), tức Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh ở chính giữa, chung quanh đề các danh hiệu các vị Phật, Bồ Tát được nhắc tới trong kinh Pháp Hoa (trừ A Di Đà Phật v́ ông ta đả kích Tịnh Độ), và Tứ Thiên Vương. Điều đặc biệt là tuy đả kích Mật Tông thậm tệ, trong Gohonzon vẫn ghi tên hai vị Minh Vương quan trọng trong Mật Tông là Ái Nhiễm Minh Vương và Bất Động Minh Vương. Quan điểm của Nhật Liên về các tông phái khác được người Nhật gọi là “Shika no kakugen” (四箇の格言: Tứ Cá Cách Ngôn) như sau: “Niệm Phật vô gián, Thiền thiên ma, Chân Ngôn vong quốc, Luật quốc tặc”. Theo cách giải thích của Sáng Giá Học Hội (Soka Gakkai, đoàn thể Nhật Liên Tông tại gia lớn nhất của Nhật), điều đó có nghĩa là: “Niệm Phật sẽ đọa địa ngục vô gián. Thiền là sáng chế của các thiên ma, Chân Ngôn tông phá hủy đất nước, giới luật là kẻ phản bội quốc gia”.