A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 48
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức
Phong
Tập 95
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang một trăm bảy mươi
ba.
(Sao) Thánh trung thánh giả, Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, nhập thánh vực nhi vị
ưu, duy Phật cư cực quả, thị thánh nhi hựu
thánh dă.
(鈔) 聖中聖者,聲聞緣覺菩薩,入聖域而未優,惟佛居極果,是聖而又聖也。
(Sao: “Thánh trung thánh”: Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đă dự vào bậc thánh,
nhưng chưa đạt tới mức ưu việt, chỉ
có Phật thuộc quả vị tột cùng, nên là bậc
thánh của chư thánh).
Trong sự giáo học
của đức Phật, trước hết, chúng ta phải
hiểu rơ Phật giáo là nền giáo dục của đức
Phật, có khá nhiều chỗ hết sức tương tự
với cách giáo học hiện thời trong nền giáo dục
của chúng ta, chỉ là danh xưng khác nhau, trên thực tế
chẳng có ǵ khác biệt. Trong Phật pháp, chia ra Đại
Thừa và Tiểu Thừa, giống như trong giáo dục hiện
tại chia ra Tiểu Học, Trung Học, và Đại Học.
Thanh Văn là Tiểu Học, Duyên Giác như Trung Học, Bồ
Tát như Đại Học, chia thành ba giai đoạn, nhưng
tốt nghiệp “Tiểu Học” trong Phật pháp có tŕnh độ
khá cao!
Cái được Phật
pháp truy cầu là trí huệ tối cao, tối viên măn, trong
kinh Phật gọi [trí huệ ấy] là A Nậu Đa La
Tam Miệu Tam Bồ Đề (Anuttara-samyak-sambodhi). Đây là tiếng Phạn dịch âm, có nghĩa là Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong câu này cũng
chia thành ba giai đoạn. Thứ nhất là Chánh Giác. Người
đạt Chánh Giác đă tu học xong Tiểu Thừa, được
gọi là chứng đắc địa vị A La Hán. A La
Hán có một ư nghĩa là Vô Học. Vô Học nghĩa là vị
ấy đă học xong hết những thứ cần học,
chẳng c̣n học nữa, đă tốt nghiệp chương
tŕnh học, nên vô học. Phật pháp có ba giai đoạn,
giai đoạn thứ nhất, chứng đắc Chánh
Giác là A La Hán. Phật pháp thừa nhận chúng sanh trong thế
gian có giác, chẳng thể nói là không giác ngộ. Trong thế
gian hiện thời, những khoa học gia, triết học
gia, nhà tôn giáo, đối với vũ trụ và nhân sinh đă
có sự giác ngộ kha khá, tuy đă giác, nhưng chẳng thể
coi là Chánh, chưa thể coi là Chánh Giác được! Trong
tiêu chuẩn Chánh Giác của Phật pháp, điều kiện
thứ nhất là phải có sự giác ngộ kha khá đối
với vũ trụ và nhân sinh. Điều kiện thứ
hai là phải đoạn phiền năo, quư vị quả thật
có thể đoạn các duyên tham, sân, si, mạn, thật sự
phù hợp tiêu chuẩn “giác, chánh, tịnh” mới gọi là
Chánh Giác. Do vậy, A La Hán đă đạt tới mục
tiêu này.
Đức Phật giảng
nhiều hiện tượng trong vũ trụ, chúng ta có thể
lư giải, nhưng c̣n có nhiều hiện tượng mà với
năng lực hiện thời, chúng ta vẫn chưa thể
đạt được, thậm chí tư tưởng, học
thuật, khoa học kỹ thuật của chúng ta đều
chẳng đạt được, nhưng chẳng thể
nói là chúng không tồn tại. Thí dụ như người Ấn
Độ nói lục đạo luân hồi, lục đạo
luân hồi chẳng phải là quan niệm riêng của Phật
giáo. Tại Ấn Độ vào thời cổ, Bà La Môn giáo,
Số Luận (Sānkhyā), Du Già (Yoga)[1], ngoại đạo đều nói tới chuyện việc này. Nói cách khác, trước Thích Ca Mâu Ni Phật, người Ấn
Độ đă nói tới lục đạo luân hồi.
Hơn nữa, c̣n có nhiều nhà tôn giáo, năng lực tu hành
thật sự có thể đạt tới Sắc Giới Thiên
và Vô Sắc Giới Thiên. Những tôn giáo cao cấp Ấn
Độ có thể lư giải t́nh h́nh trong lục đạo
rất rơ ràng, họ biết những sự thật ấy
rất rơ ràng, nhưng rốt cuộc v́ sao sanh ra chuyện ấy?
Con người có thể vượt thoát lục đạo
hay chăng? Họ chẳng có cách nào! Đó gọi là “biết chuyện
đương nhiên, nhưng chẳng biết nguồn cội”,
[chỉ có] Thích Ca Mâu Ni Phật mới giải quyết vấn
đề này cho chúng ta!
Nguyên nhân căn bản
của lục đạo luân hồi là do mê mất chính ḿnh
nên mới có hiện tượng ấy. Mê ǵ? Mê mất Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chính ḿnh. Đức
Phật cho chúng ta biết: Hết thảy chúng sanh ai nấy
đều có Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác! Nói
cách khác, trí huệ viên măn, đức năng viên măn, tài nghệ
viên măn, hết thảy chúng sanh đều b́nh đẳng. V́
sao nay quư vị bị mất? Do quư vị mê mất chính
ḿnh. Phật pháp chẳng nói quư vị mê bên ngoài, mà là mê mất
tự tánh của chính ḿnh, nên hiện tượng này biến
thành hiện tượng lục đạo luân hồi. Nếu
quư vị thật sự giác ngộ, t́m luân hồi trọn
chẳng thể được, c̣n có lục đạo ở
đâu nữa? Đây là vấn đề mê hay giác. Mê th́ giống
như chúng ta nằm mộng, cổ nhân cũng nói: “Mộng lư minh minh hữu lục
thú, giác hậu không không vô đại thiên” (Trong mộng
rành rành phô sáu nẻo, giác rồi ba cơi rỗng toang hoang). Quư
vị tỉnh giấc, c̣n có mộng ở chỗ nào? T́m cũng
t́m chẳng được! Khi chúng ta mê bèn như nằm mộng,
có lục đạo luân hồi, có chuyện này, chẳng phải
là không có, thật sự có; tuy có, nó chẳng phải là thật,
giống như chúng ta nằm mộng, nhưng trong mộng,
quư vị chẳng biết là đang nằm mộng, cứ
ngỡ mộng cảnh là thật, chẳng biết đó
là giả, là hư vọng. Tới khi tỉnh giấc, mới
biết [những mộng cảnh ấy] đều là giả.
Nếu trong mộng hiểu được chính ḿnh đang
nằm mộng, giấc mộng ấy nhất định
rất thú vị, nhất định rất tự tại.
Do vậy, Phật pháp nói Phật, Bồ Tát du hư thần
thông trên thế gian, v́ sao? Các Ngài biết chính ḿnh đang nằm
mộng. Chúng ta nằm mộng mà chẳng biết ḿnh đang
nằm mộng, các Ngài biết chính ḿnh đang nằm mộng;
v́ thế, tâm t́nh và cảnh giới của chúng ta hoàn toàn khác
hẳn!
Đó là nói về giai
đoạn thứ nhất, tức Chánh Giác. Có thể nói A
La Hán là một danh xưng học vị của bậc Chánh
Giác giống như hiện thời chúng ta nói tới Học
Sĩ (Cử Nhân), Thạc Sĩ, Tiến Sĩ. Bồ Tát giống
như Thạc Sĩ, Phật giống như Tiến Sĩ,
học vị tối cao. Chánh Đẳng Chánh Giác là Bồ
Tát, Đẳng là bằng Phật, nhưng vẫn chưa
phải là Phật; nói cách khác, rất gần với viên
măn, nhưng vẫn chưa đạt tới viên măn thật
sự. Đạt tới rốt ráo viên măn sẽ là Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hoàn toàn chẳng mê, đấy
là Phật. Ba danh hiệu này giống như ba danh hiệu học
vị (degree).
V́ thế, đức Phật
dạy chúng ta: Ai nấy đều có thể thành Phật.
Ngài lại c̣n nói rất minh bạch như trong Hoa Nghiêm và
Viên Giác đă nói: “Hết thảy
chúng sanh vốn đă thành Phật”, vốn là Phật, vốn
đích xác là Phật; chỉ cần quư vị chẳng mê, quư
vị là Phật! Quư vị tuy mê, nhưng mê vẫn là Phật.
V́ mê là giả, chẳng phải là thật, giác là thật. Nếu
là thật, sẽ vĩnh viễn chẳng mất đi; giả
th́ chắc chắn có thể bỏ đi. V́ thế, trước
hết, chúng ta phải kiến lập tín tâm nơi đây:
Chính ḿnh chắc chắn có thể thành tựu! Chỗ khác
nhau giữa Phật pháp và các tôn giáo khác là Phật pháp nói đến
Tín th́ thứ nhất là tin vào chính ḿnh, kiến lập ḷng tự
tin kiên cường, tín tâm theo Lư tánh; đă tự tin rồi
th́ sẽ tin tưởng Phật, tin tưởng Bồ Tát,
tin tưởng thầy có thể giúp đỡ ḿnh. Nếu
chúng ta đánh mất ḷng tin vào chính ḿnh, dẫu Phật, Bồ
Tát thần thông lớn tới đâu, trí huệ cao tới
đâu đi nữa, vẫn chẳng thể giúp đỡ!
Phật, Bồ Tát có thể giúp đỡ ai? Giúp kẻ có ḷng
tự tin, người ấy thật sự tin tưởng
chính ḿnh có thể thành Phật, tin tưởng chính ḿnh có thể
tiêu nghiệp chướng. Do vậy, đầu tiên, nhất
định là chính ḿnh phải kiến lập tín tâm.
Chúng ta gọi A La Hán
là thánh nhân, Bồ Tát cao hơn A La Hán một cấp, đương
nhiên càng là thánh nhân, Phật là tối cao, được xưng
tụng là “thánh trung chi thánh”
do ư nghĩa này. Trong phần trên, đă tán thán Ngài là “thiên trung chi thiên” (vị trời
của chư thiên); ở đây, tán thán Phật là bậc
thánh của các thánh. Tuy chúng ta gọi Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ
Tát là thánh nhân, các Ngài chưa hoàn toàn đạt đến địa
vị viên măn rốt ráo, chỉ có Phật mới viên măn rốt
ráo. V́ thế, “thị thánh chi hựu
thánh” (lại là bậc thánh của các thánh). Những lời
khen ngợi này đều dành cho Thích Ca Mâu Ni Phật, nhằm
để xưng hô với Ngài.
(Sao) Tức Thích Ca giả, quá khứ,
vị lai, tu tiêu mỗ Phật.
(鈔) 即釋迦者,過去未來,須標某佛。
(Sao: “Tức là Phật Thích
Ca”: Nếu là Phật quá khứ và vị lai, cần phải
nêu rơ là vị Phật nào).
Trong kinh Phật, nếu
nói tới đức Phật khác, nhất định là nói
về quá khứ Phật, hoặc vị lai Phật. Chẳng
hạn như chúng ta nói tới Di Lặc Bồ Tát, bèn gọi
Ngài là Đương Lai Hạ Sanh Phật, Ngài là vị lai
Phật, hiện nay vẫn c̣n là Bồ Tát, vẫn chưa
thành Phật. Nếu trong kinh chẳng nói “quá khứ, vị lai” th́ [hễ chỉ nói “Phật”
th́ tức] là nói Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca
Mâu Ni Phật là vị thầy căn bản của chúng ta,
v́ nền giáo dục và sự giáo học [Phật pháp] lúc thoạt
đầu do Ngài khởi xướng, Ngài là người khởi
xướng, sáng lập Phật giáo.
(Sao) Thích Ca kiến
tọa đạo tràng, nhất độ chi trung, vô nhị
Phật cố. Dụ như tiền triều đế chúa,
tu xưng quốc hiệu, đương kim thiên tử, trực
viết Chí Tôn, diệc dĩ nhất quốc chi trung vô nhị
chủ cố. Thị tri đơn ngôn Phật giả, tức
Tất Đạt sở thành Hiền Kiếp đệ tứ
Phật dă.
(鈔) 釋迦見坐道場,一土之中,無二佛故。喻如前朝帝主,須稱國號,當今天子,直曰至尊,亦以一國之中無二主故。是知單言佛者,即悉達所成賢劫第四佛也。
(Sao: Đức Thích Ca ngồi
nơi đạo tràng. Trong một cơi nước, chẳng
có hai vị Phật. Giống như [nói tới] vua chúa trong
triều đại trước, cần phải gọi rơ
quốc hiệu, [c̣n nói tới] vị thiên tử hiện tại,
bèn gọi thẳng là đấng Chí Tôn, cũng giống như
trong một nước chẳng có hai chủ. Do vậy, chỉ
nói “Phật” th́ chính là nói tới vị Phật thứ
tư trong Hiền Kiếp do Thái Tử Tất Đạt
Đa tu thành).
Ư nghĩa này rất rơ
ràng, đại sư dùng tỷ dụ để giảng rơ.
Nhờ vào công cụ khoa học, chúng ta biết vũ trụ
to lớn phi thường, nhưng vẫn chẳng rộng
lớn, viên măn như trong kinh Phật đă nói. Khoa học đă
chứng thực đích xác một phần, tối thiểu
là đối với tam thiên đại thiên thế giới
như đức Phật đă dạy, các nhà khoa học đă
đồng ư. Nói “vô lượng
vô biên thế giới” th́ các nhà khoa học c̣n chưa chứng
thực được! Địa bàn giáo hóa của một
vị Phật là một đại vũ trụ, đấy
chẳng phải là quả địa cầu này, địa
cầu chỉ là một cứ điểm (foothold,
stronghold) trong khu vực giáo hóa của đức Phật mà
thôi. Trong Phật pháp, khu vực giáo hóa to lớn ấy được
gọi là “đại thiên thế
giới”, một đại thiên thế giới có mười
ức Ngân Hà Hệ. Một Ngân Hà Hệ là một đơn
vị thế giới, một ngàn đơn vị thế
giới là một tiểu thiên thế giới, một ngàn tiểu
thiên thế giới là một trung thiên thế giới, một
ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế
giới. Do đại thiên thế giới có ba thứ “thiên”,
tức là tiểu thiên, trung thiên, và đại thiên, nên trong Phật
pháp thường nói là “tam thiên
đại thiên thế giới”.
Trí huệ và năng lực
của Phật vô cùng lớn, chúng ta chẳng thể nào
tưởng tượng được. Chúng ta nói “thần thông” th́ thần thông là
năng lực. “Thông” (通) là thông đạt chẳng chướng ngại, bất
luận trí huệ, đức năng, hay tài nghệ đều
chẳng bị chướng ngại. Nói cách khác, Phật đa
tài, đa nghệ, điều ǵ cũng biết, điều
ǵ cũng đều có thể. “Thần”
(神) là vượt khỏi sự hiểu biết thông
thường của chúng ta. Những ǵ chúng ta không thể
tưởng tượng, Ngài đều biết, đều
có thể làm được, nên gọi là “thần thông”. Khu vực giáo hóa của Phật là một
đại thiên thế giới. Chúng sanh nơi này cơ
duyên chín muồi, Ngài bèn đến nơi đây. Chúng ta
trong cơi này chẳng chịu tiếp nhận, nghe lời, thầy
bèn bỏ đi, sang dạy bên thế giới khác. Thân Phật
không chỉ là một thân, Ngài có thể phân thân. Phân thân, nói
theo khoa học, cũng là một chuyện có thể được,
nhưng hiện thời chúng ta chẳng biết cách làm. Những
năng lực này của Phật do đâu mà có? Do định
công (công phu định lực) mà có. Trong phẩm Như Lai Xuất
Hiện của kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă dạy:
“Hết thảy chúng sanh đều
có trí huệ và đức tướng của Như Lai”.
Nói cách khác, hết thảy chúng sanh vốn đều là Phật,
nay v́ sao biến thành chúng sanh? V́ sao trí huệ, đức
tướng, năng lực của quư vị thảy đều
bị mất? “Đản
dĩ vọng tưởng, chấp trước, nhi bất
năng chứng đắc” (chỉ v́ vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước nên chẳng thể chứng
đắc). Đức Phật chỉ nói tới một nhân
tố quan trọng, đó là “vọng tưởng, chấp
trước”. Vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước là gốc bệnh của chúng sanh. Nếu hoàn
toàn không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
tâm của quư vị và toàn thể vũ trụ hợp thành
một, không có giới hạn.
Năng lực trí huệ
vốn sẵn có, chẳng do học được từ
bên ngoài. Một đời đức Phật dạy học
bốn mươi chín năm, giảng Bát Nhă hai mươi
hai năm. Bát Nhă là trí huệ. Trong toàn bộ giáo học, Bát
Nhă là khoa mục trung tâm trong sự giáo học của Phật
pháp, giảng lâu nhất. Trong kinh Bát Nhă có hai câu danh ngôn: “Bát Nhă vô tri, không ǵ chẳng biết”.
Nếu quư vị đạt được tâm thanh tịnh,
ĺa khỏi hết thảy vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước; lúc đó, trong cái tâm thanh tịnh ấy,
cái ǵ cũng đều chẳng có. Lục Tổ bảo: “Vốn chẳng có một vật”,
đấy là Bát Nhă vô tri. Khi nó khởi tác dụng, không ǵ chẳng
biết. V́ sao nó có thể không ǵ chẳng biết? V́ trong cảnh
giới vô tri ấy, tâm tĩnh lặng, giống như nước
lắng trong, chẳng dấy lên sóng ṃi, khi nước hết
sức tĩnh lặng sẽ soi bóng hết thảy cảnh
giới bên ngoài giống như một tấm gương
soi, soi rơ ràng, không có ǵ chẳng biết! V́ thế, “vô tri” là
trí huệ thật sự, hễ “có biết” là hỏng rồi!
Có biết, quư vị sẽ có vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước, giống như nước dậy sóng,
soi bóng cảnh giới bên ngoài sẽ vỡ thành từng mảnh
nhỏ, chẳng thể soi rất hoàn chỉnh. Quư vị nói
“có biết”, tức là sẽ có điều chẳng biết,
c̣n vô tri th́ không ǵ chẳng biết. V́ thế, đức Phật
mong chúng ta hăy học vô tri, chẳng mong chúng ta học hữu
tri. Vô tri chẳng phải là si ngốc, vô tri là trí huệ thật
sự, là tâm địa thanh tịnh. Trong tâm chẳng thể
có thứ ǵ, thường giữ ǵn cái tâm thanh tịnh, tâm thanh
tịnh là giác tâm, tâm thanh tịnh là chánh tâm.
Phật pháp tuy có rất
nhiều tông phái, pháp môn, nhưng trên thực tế, cuối
cùng là ba môn “giác, chánh, tịnh”.
Bất luận quư vị từ môn nào tiến nhập đều
được, đều như nhau. Thiền Tông theo Giác
môn, nên chẳng lập văn tự, khởi sự bằng
Thiền Định, đó gọi là “giáo ngoại biệt truyền” (truyền riêng ngoài
Giáo). Giáo Hạ, bao gồm bảy tông phái, theo Chánh môn. Chánh
môn là kiến giải chính xác, tư tưởng chính xác, đương
nhiên môn này tương đối chậm hơn một chút.
V́ Giác môn là toàn bộ thân, tâm, thế giới, hết thảy
buông xuống, cho nên ngay cả kinh điển cũng không cần,
pháp thế gian lẫn Phật pháp thảy đều buông
xuống, khôi phục cái tâm thanh tịnh, đi theo lộ tŕnh
ấy. Lộ tŕnh ấy nhanh chóng, là đốn siêu. Giáo Hạ
giống như chúng ta đi học, từ Tiểu Học,
Trung Học, tới Đại Học tuần tự thong
thả tiến từng bước, bồi dưỡng tư
tưởng và kiến giải đều chính xác, cuối
cùng vẫn đạt tới mục tiêu giống hệt!
Đi theo Tịnh môn có
hai tông phái: Tịnh Độ Tông và Mật Tông; nhưng nói
theo hiện thời, Mật chẳng bằng Tịnh Độ,
v́ sao? Hiện tại yêu ma quỷ quái đều vào trong Mật.
Hiện thời, Mật chẳng phải là Phật Mật,
mà là Ma Mật, Yêu Mật, Quỷ Mật, Quái Mật, chuyện
này phiền lắm! V́ thế, có người học Mật,
học chẳng bao lâu, học mấy tháng thường biến
thành bệnh thần kinh, bệnh tật ǵ cũng đều
phát sanh. Thật ra, Mật Tông đích xác là rất hay, chỉ
v́ hiện thời yêu ma quỷ quái xâm nhập, nguyên nhân v́ đâu?
Mật dễ dàng xâm nhập nhất! Mật qua lại với
quỷ thần hết sức mật thiết, nên rất dễ
biến chất. Tịnh Độ Tông chuyên niệm A Di
Đà Phật, chẳng dễ dàng biến chất, yêu ma quỷ
quái vào trong Tịnh Độ Tông cũng niệm A Di Đà Phật;
do vậy, biến thành chánh pháp, ma cũng biến thành chánh,
nên Tịnh Độ chẳng bị biến thành tà pháp. Sở
dĩ Mật rất dễ biến thành tà, chẳng phải
v́ Mật chẳng tốt đẹp, mà do hiện tại Mật
bị yêu ma quỷ quái xâm nhập, chúng ta chẳng có cách nào
phân biệt nó là thật hay giả. Như tôi thấy, tại
Trung Quốc và ngoại quốc tôi đă thấy rất nhiều,
chín mươi phần trăm là giả, chẳng thật!
Mật thật sự tôi cũng đă từng gặp rồi.
Lúc tôi mới học Phật, Chương Gia đại
sư là Mật thật sự, chắc chắn chẳng phải
là Tà Mật. Hiện thời, Mật có rất nhiều vấn
đề, mà lại c̣n là những vấn đề vô cùng nghiêm
trọng, chúng ta phải nhận biết chuyện này! Chúng
ta chọn lựa pháp môn Tịnh Độ, theo ngơ Tịnh,
chuyên môn bồi dưỡng cái tâm thanh tịnh; bởi lẽ,
trong tất cả các pháp môn, học pháp môn này đơn giản
nhất, dễ dàng nhất.
Chư vị phải nhớ,
pháp môn thù thắng nhất là pháp môn đơn giản nhất.
Nếu có ai nói: “Pháp này quá đơn giản, đâu có dễ
dàng như vậy?” Kẻ ấy chẳng tin tưởng, tức
là hắn thiếu phước báo, nghiệp chướng
sâu nặng! Nếu pháp môn này phức tạp, chẳng thể
coi là một pháp môn thật sự hay. Pháp thật sự hay
nhất định phải đơn giản, nhất
định phải rất dễ dàng, ai nấy đều
có thể tu, ai nấy đều tu thành công, khi ấy mới
là pháp môn bậc nhất. Do vậy, pháp môn Tịnh Độ
là pháp môn thù thắng nhất trong toàn bộ Phật pháp,
trong vô lượng vô biên pháp môn; v́ thế, được mười
phương chư Phật tán thán.
Nói tới cuối cùng
là ba môn “giác, chánh, tịnh”
này; trong ba môn ấy, chúng ta chọn một môn để nhập
đạo là được, đây là một mà ba, tuy ba mà
một. Thí dụ như quư vị từ Tịnh môn mà vào, quư
vị chẳng hề không chánh, chẳng hề không giác, Giác
lẫn Chánh đều đạt được. Giống
như giảng đường này có ba cửa, quư vị
theo bất luận cửa nào để tiến vào, đều
giống như nhau, toàn bộ đều đạt được.
Chẳng thể nói là ta theo Tịnh môn tiến vào, tới
khi đó, ta vẫn c̣n có vấn đề nơi Chánh và Giác,
ta c̣n phải tu học thêm, chẳng có đạo lư này. Giác
nhất định là Chánh, nhất định là Tịnh, Chánh
nhất định là Giác, nhất định là Tịnh, Tịnh
nhất định là Giác, nhất định là Chánh, là một
mà ba, tuy ba mà một; nhưng ba môn này khó dễ khác nhau, chúng
ta phải khéo chọn lựa!
Trong một khu vực
giáo hóa, chỉ có thể có một vị Phật, Phật giống
như hiệu trưởng. Một trường học chỉ
có thể có một hiệu trưởng, chẳng thể có
hai hiệu trưởng. Tuy có người đạo đức,
học vấn, trí huệ, thần thông hoàn toàn b́nh đẳng
giống hệt như Phật, nhưng trong khu vực giáo
hóa ấy, vẫn phải chọn ra một vị làm hiệu
trưởng, chẳng thể nào hết thảy mọi
người đều làm hiệu trưởng. Chúng ta gọi
những người ấy là Đẳng Giác Bồ Tát,
hoàn toàn b́nh đẳng với Phật. Trong nhà trường
ấy, các Ngài làm giáo sư, hoặc đảm nhiệm giáo
vụ, nhưng hiệu trưởng luôn luôn chỉ có một
người. Trên danh phận tuy là như thế, nhưng địa
vị của họ nhất định b́nh đẳng.
Không chỉ hiệu trưởng và giáo viên b́nh đẳng,
mà [ngay cả] địa vị học tṛ cũng b́nh đẳng.
Do vậy, Phật và chúng sanh cũng là b́nh đẳng, trong
Phật pháp quả thật không có cao thấp. Căn nguyên của
thuật ngữ “b́nh đẳng”
là do kinh Phật mà có, thanh tịnh, b́nh đẳng.
Mỗi cơi Phật là một
đại thiên thế giới. Quả địa cầu này
là một phần tử của đại thiên thế giới,
là một tinh cầu nhỏ bé mà thôi! Giáo khu (khu vực giáo
hóa) của Thích Ca Mâu Ni Phật là một đại thiên thế
giới. Do vậy, chúng ta nói Phật giáng sanh hay nhập diệt
là nh́n theo mặt h́nh tích, [tức là] nh́n từ h́nh tướng
bên ngoài, trên thực tế là chẳng sanh, chẳng diệt.
Không riêng ǵ đức Phật chẳng sanh, chẳng diệt,
mà mỗi cá nhân chúng ta đều là chẳng sanh, chẳng
diệt, những ǵ đức Phật có, chúng ta thảy
đều có. Do vậy, kinh điển toàn nói những chuyện
thuộc bổn phận của chính chúng ta. Như kinh Hoa
Nghiêm toàn là giảng về chính ḿnh, chắc chắn chẳng
có một câu nào nói đến chuyện ngoài chính ḿnh ra! Không
có! Chúng ta đọc kinh Phật, nhất định phải
hiểu được ư nghĩa này!
Đức Phật dạy,
trong “đại thời gian” hiện tại, cái “đại
thời gian” ấy cũng rất dài, chẳng thể dùng một
hai năm để tính toán, chỉ dùng Kiếp để tính
toán, [Kiếp ở đây] là đại kiếp. “Kiếp” (Kalpa) là đơn vị
thời gian, có tiểu kiếp, trung kiếp, và đại
kiếp, ở đây nói tới đại kiếp. Thông
thường chúng ta nói tiểu kiếp là “tăng giảm kiếp” (Antah-kalpa). Theo kinh dạy,
khi thọ mạng con người dài nhất là tám vạn bốn
ngàn năm, đây là tuổi thọ dài cực hạn của
con người. Từ tám vạn bốn ngàn năm, cứ mỗi
một trăm năm lại giảm một tuổi, giảm
như vậy tới mười tuổi, mười tuổi
là cực hạn thấp nhất của tuổi thọ con
người; sau đấy, cứ mỗi một trăm năm
lại tăng thêm một tuổi, tăng thêm cho đến
tám vạn bốn ngàn tuổi, chu kỳ một tăng một
giảm này được gọi là một “tiểu kiếp”.
Phật giáo tính toán đơn vị thời gian theo cách tính
như thế. Hai mươi tiểu kiếp là một trung
kiếp (Asankya-kalpa), bốn trung kiếp là một đại
kiếp (Maha-kalpa).
Trong một đại
kiếp này, đức Phật dạy: Trong thế giới
này, có một ngàn vị Phật xuất thế, Thích Ca Mâu
Ni Phật là vị Phật thứ tư trong đại kiếp
này. Kiếp này có tên là Hiền Kiếp (Bhadra-kalpa) v́ hiền
nhân rất nhiều, [tức là] Phật, Bồ Tát thành tựu
con người rất nhiều, do có nhiều người hiền
nên gọi là Hiền Kiếp. Thích Ca Mâu Ni Phật là vị
Phật thứ tư trong Hiền Kiếp, vị Phật thứ
năm là Di Lặc Phật, ngài Di Lặc hiện đang là
Bồ Tát. Di Lặc Bồ Tát giáng thế vào năm mươi
sáu ức bảy ngàn vạn năm sau. Tới chỗ này, chúng
ta đă giới thiệu xong chữ Phật trong tựa đề
“Phật Thuyết A Di Đà Kinh”.
Tiếp theo đây là giảng chữ “Thuyết” .
(Sớ) Thuyết giả, duyệt
dă.
(疏) 說者,悅也。
(Sớ: Thuyết là hoan hỷ).
Vào thời cổ, chữ
Duyệt (悅) trong Hỷ Duyệt (hoan hỷ) viết cùng một mặt
chữ với chữ Thuyết (說: nói) trong hiện tại. Nói th́ đương
nhiên hoan hỷ mới nói, chẳng hoan hỷ sẽ chẳng
thể nói. Nhất là nói kinh Di Đà, đức Phật hoan
hỷ tới tột bậc, v́ sao? Tất cả hết thảy
các pháp môn đều phải đi đường ṿng rồi
mới thành tựu, đều khiến cho chúng sanh phải
chịu đựng những nỗi khổ sở, đi theo
rất nhiều chặng đường oan uổng rồi
mới có thể thành tựu, chỉ riêng pháp môn này là thành tựu
trong một đời, trực tiếp thành tựu. Có thể
đem pháp môn này giới thiệu với chúng sanh, lẽ nào
đức Phật chẳng vui sướng? Đức Phật
mang tâm nguyện mong cho mọi người đều thành tựu
trí huệ viên măn, mọi người đều thành Phật.
Quư vị phải nhớ: “Thành Phật”, chẳng phải là
thành thần! Thành thần hay thành tiên đều chẳng thể
giải quyết vấn đề, v́ sao? Thần tiên c̣n có
mê hoặc, điên đảo. Phật, Bồ Tát chẳng
mê hoặc, chẳng điên đảo. Đức Phật
mong chúng ta thành tựu trí huệ, khôi phục năng lực
vốn có của chính ḿnh, đức Phật giáo học nhằm
mục đích này! Luôn mong chúng ta thành tựu sớm một
chút, giống như cha mẹ quan tâm, yêu thương con cái,
luôn mong muốn con học hành sớm ngày thành tựu, sự
nghiệp sớm có ngày viên măn. Đức Phật nói bộ
kinh này lợi ích chúng sanh chẳng ǵ có thể sánh bằng,
mà mọi người cũng phải chịu tiếp nhận,
chịu tin tưởng th́ mới có thể nói! Nói ra mà không
ai tin tưởng, nói uổng công rồi! Đức Phật
quan sát thấy học tṛ có thể tiếp nhận, cho nên Ngài
vô cùng hoan hỷ diễn nói. Bộ kinh này và kinh Vô Lượng
Thọ là đồng bộ, kinh Di Đà là giới thiệu
đơn giản, kinh Vô Lượng Thọ là thuyết
minh tỉ mỉ. Hai bộ kinh này có nội dung hoàn toàn
tương đồng.
(Sớ) Duyệt sở
hoài cố.
(疏) 悅所懷故。
(Sớ: Do thỏa thích điều
ấp ủ trong ḷng).
“Hoài” (懷) là “hoài băo” (điều
ôm ấp, kỳ vọng trong ḷng); nói thật ra là nguyện
vọng. Nguyện vọng thật sự có thể đạt
được, thật sự hoan hỷ, thật sự hỷ
duyệt .
(Sớ) Tứ Biện tuyên diễn
cố, thập nhị bộ đẳng, chí Tứ Tất
Đàn, giai thị Thuyết nghĩa.
(疏) 四辯宣演故,十二部等,至四悉檀,皆是說義。
(Sớ: Từ dùng Tứ Biện
Tài tuyên diễn mười hai bộ v.v... cho tới Tứ
Tất Đàn đều là ư nghĩa của chữ Thuyết).
Đối với mỗi
câu đều được giảng rơ tỉ mỉ trong
lời chú giải tiếp theo đây, nay chúng ta coi lời
chú giải, xin hăy xem lời Sao.
(Sao) Duyệt sở hoài giả.
(鈔) 悅所懷者。
(Sao: Do thỏa thích điều
ấp ủ trong ḷng).
V́ sao đức Phật
hoan hỷ dường ấy?
(Sao) Bổn nguyện độ sanh,
đắc cơ nhi thuyết, sở hoài sướng duyệt.
(鈔) 本願度生,得機而說,所懷暢悅。
(Sao: Bổn nguyện độ
sanh có cơ hội để nói, thỏa thích nỗi niềm
hằng ấp ủ).
Nói thật ra, đức
Phật chỉ có một nguyện vọng là giúp đỡ
chúng sanh, giúp cho chúng sanh khôi phục năng lực sẵn có,
khôi phục trí huệ vốn có, khôi phục th́ gọi là “thành
Phật”; chỉ có một mục đích rất đơn
thuần như vậy. Đức Phật quả thật
có năng lực giúp đỡ chúng ta, nhưng chúng ta không
chịu tiếp nhận, không tin, nên đức Phật chẳng
có cách nào cả! V́ thế, chẳng phải là Phật thiếu
từ bi, chẳng phải là Ngài không chịu giúp đỡ
chúng ta, mà do chúng ta bài xích, cự tuyệt, chẳng tin, Ngài chẳng
có cách ǵ hết! Chúng ta chịu tin tưởng, chịu tiếp
nhận, đức Phật liền hoan hỷ; kinh nói người
ấy có thiện căn, có phước đức. Thiện
căn và phước đức trọn đủ, nhất
định đức Phật chẳng bỏ lỡ cơ
hội ấy, nhất định tới giúp đỡ người
ấy. Nếu người ấy thiện căn và phước
đức trọn đủ, chịu tin, chịu phát nguyện,
chịu nỗ lực tu tập, mà nếu người ấy
cả đời chẳng gặp gỡ Phật pháp, Phật
sẽ có lỗi với kẻ ấy. “Phật thị môn trung, bất xả nhất nhân”
(trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai), Phật
có lỗi với người ấy. Nếu kẻ ấy
không tin, không chịu phát nguyện, không chịu khéo học,
mà nếu Phật tới độ kẻ ấy sẽ là
chuyện thừa thăi, vô dụng! Cơ cảm tương ứng,
Phật bèn đến. Nhất là nói bộ kinh này, sung sướng
quá, thẳng thừng giúp đỡ quư vị thành tựu,
thành tựu ấy là thành tựu rốt ráo viên măn. Việc này
hoàn toàn tương ứng với bổn nguyện giúp
đỡ chúng sanh, Ngài có thể t́m được những
người chịu tin, chịu học, bèn nói với họ
pháp môn này.
Tiếp đó, đại
sư trích dẫn kinh Đại Bổn, Đại Bổn
chính là kinh Vô Lượng Thọ, Ngài trích dẫn kinh văn
từ kinh Vô Lượng Thọ.
(Sao) Như Đại Bổn, Thế
Tôn dục thuyết thử kinh.
(鈔) 如大本世尊欲說此經。
(Sao: Như trong kinh Đại
Bổn, lúc đức Thế Tôn sắp nói kinh ấy).
“Thử kinh” là kinh Vô Lượng Thọ. Hai bộ
kinh Di Đà và Vô Lượng Thọ có ư nghĩa hoàn toàn
tương đồng, có thể dùng chung cho nhau.
(Sao) Tiên thả chư
căn duyệt dự, nhan sắc dị thường.
(鈔) 先且諸根悅豫,顏色異常。
(Sao: Trước hết, các
căn lộ vẻ vui sướng, vẻ mặt khác với
b́nh thường).
Trước khi giảng
kinh, trông đức Phật dung mạo rạng ngời, hết
sức vui sướng, hết sức hoan hỷ; khi ấy,
ngài A Nan thấy vậy, tự nhủ trước nay ta chưa
hề thấy đức Phật hoan hỷ, rạng rỡ
giống như hôm nay. “Nhan sắc
dị thường”: Chẳng giống lúc b́nh thường,
hoan hỷ phi thường! Trước khi nói kinh, đức
Phật hiện vẻ hỷ duyệt như vậy, chính là
v́ Ngài sắp giới thiệu pháp môn giúp đỡ chúng sanh
bậc nhất trong vô lượng vô biên pháp môn. Trong giảng
đường này, chúng tôi giảng kinh đă giảng thật
lâu, thấu hiểu sâu đậm pháp môn này là pháp môn bậc
nhất trong vô lượng pháp môn.
(Sao) Huống kim tŕ danh niệm
Phật, đắc cơ nhi thuyết, duyệt khả tri hỹ.
(鈔) 況今持名念佛,得機而說,悅可知矣。
(Sao: Huống chi nay pháp tŕ danh
niệm Phật gặp được căn cơ để
nói, có thể biết là đức Phật vui sướng
[dường nào])
Phương pháp tu hành
trong Tịnh Độ cũng rất nhiều, Tŕ Danh là bậc
nhất, đơn giản nhất, dễ dàng nhất, thẳng
chóng nhất, ổn thỏa nhất. Nói thật ra, pháp này tương
ứng với Thiền, mà cũng tương ứng với
Mật. Niệm một câu A Di Đà Phật là Thiền Tịnh
Mật Tam Tu. Quư vị đang tam tu mà chẳng biết! Vừa
mở đầu, kinh Vô Lượng Thọ đă biểu
thị pháp, ba ư nghĩa này hết sức rơ rệt, cho nên
chẳng cần tu pháp nào khác! Quư vị nói: “Cách tu như thế
nào?” Một câu A Di Đà Phật niệm đến cùng là
được rồi, tới lúc đó, sẽ tự nhiên hiểu
rơ, tự nhiên tâm khai ư giải, niệm tới mức cái tâm
thanh tịnh, niệm tới nhất tâm bất loạn. Nhất
tâm bất loạn là “minh tâm kiến tánh” trong Thiền Tông, là
“tam mật tương ứng” trong Mật Tông, nhưng phương
pháp [tŕ danh] này dễ hơn Thiền, mà cũng dễ
hơn Mật, thành tựu hoàn toàn giống như Thiền
và Mật. V́ thế, nó thật sự là một pháp môn chẳng
thể nghĩ bàn.
“Đắc cơ”: Cơ (機) là kẻ có căn khí, ở đây là kẻ có thể
tín, có thể nguyện, chịu niệm Phật, gặp
được người như vậy, đức Phật
bèn hoan hỷ. Gặp được người như vậy,
người ấy nhất định đắc độ
trong một đời, nhất định thành Phật
trong một đời. Lẽ đâu đức Phật chẳng
hoan hỷ? Đương nhiên là hoan hỷ phi thường.
Đây là nói chữ “duyệt”
có ư nghĩa thỏa thích bổn hoài. Cũng chính v́ như vậy,
nay chúng ta muốn giới thiệu Phật pháp với người
khác, kinh điển nhiều lắm, kinh điển Phật
giáo nổi tiếng là nhiều, phương pháp, đường
lối cũng quá nhiều, chúng ta giới thiệu với người
khác điều ǵ đây? Chúng ta chỉ giới thiệu pháp
môn này. V́ vậy, tôi giảng kinh trong ngoài nước, luôn giới
thiệu pháp môn này với mọi người, người
chịu tin sẽ đắc độ. Do đó, chúng ta chẳng
cần làm chuyện náo nhiệt, đừng phô trương
ầm ĩ, [khoe khoang] thính chúng của tôi đến mấy
trăm người, mấy ngàn người, không nên làm chuyện
ấy! Mấy ngàn người hay mấy trăm người
sau khi nghe, chẳng có một người nào tin tưởng,
chẳng có một ai chịu hành, vẫn chẳng phải là
uổng công giảng ư?
Chúng ta tới một
nơi nào có một người chịu tin tưởng, một
người phát nguyện, thật sự chịu tu hành, người
ấy sanh về thế giới Tây Phương, thấy Phật,
thành Phật, đấy là có ư nghĩa. Tới một nơi
độ được một người, giúp đỡ
người ấy thành Phật, nơi ấy là nơi chúng
ta phải đến. Nếu chẳng ai tin tưởng,
không ai bằng ḷng tu th́ mười vạn người, trăm
vạn người, chúng ta tới đó [giảng kinh, thuyết
pháp] cũng chẳng có ư nghĩa ǵ hết! V́ thế, chúng
ta chẳng cần phô trương, đừng nên chuộng
sĩ diện hăo, mà phải thật sự giúp đỡ người
khác. Tôi mỗi khi tới một nơi nào, nói chung có được
một hai người, thậm chí chỉ có một người
[chịu thật sự tu tập], tôi đều rất hoan
hỷ, v́ sao? Người ấy thật sự tin tưởng,
thật sự phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ, nói chung, kể như tôi đă giúp đỡ người
khác, chẳng uổng công tới! Thật sự hoan hỷ,
giúp đỡ một người thành Phật, đúng là nhân
duyên rất hiếm có, hết thảy các chuyện tốt đẹp
đều chẳng thể sánh bằng chuyện này. Người
ấy thành Phật, trong tương lai độ bao nhiêu chúng
sanh! Chúng ta phải chú trọng thực chất.
(Sao) Tứ Biện giả.
(鈔) 四辯者。
(Sao: Tứ Biện là...)
“Biện” là biện tài, trong kinh Phật thường
nói có bốn thứ, [gọi chung là] Tứ Vô Ngại Biện
Tài, thứ nhất là:
(Sao) Viết Nghĩa.
(鈔) 曰義。
(Sao: Là Nghĩa Biện Tài).
“Nghĩa” là nghĩa lư, là lư luận. [Nghĩa Vô Ngại
Biện Tài là] thông đạt lư luận chẳng chướng
ngại; nói thông tục là hiểu rành rẽ đạo lư,
chẳng bị chướng ngại. Thứ hai là...
(Sao) Viết Pháp.
(鈔)曰法。
(Sao: Pháp Biện Tài).
“Pháp” là phương pháp. Đức Phật giảng
tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn,
phương pháp vô ngại. Nếu Ngài có chướng ngại,
làm sao có thể nói nhiều dường ấy được?
Phương pháp này không được, bèn đổi sang
phương pháp khác. Phương pháp, đường lối
rất nhiều, nói chung nhằm dẫn dụ quư vị bước
vào chánh đạo. Đây là biện tài của Phật. Thứ
ba là...
(Sao) Viết Từ.
(鈔) 曰詞。
(Sao: Từ Biện Tài).
“Từ” là ngôn ngữ, [Từ Vô Ngại Biện Tài
là] ngôn ngữ chẳng bị chướng ngại. Kinh
thường nói: “Phật
dĩ nhất âm nhi thuyết pháp, chúng sanh tùy loại các
đắc giải” (đức Phật dùng một âm
thanh để thuyết pháp, chúng sanh tùy theo mỗi loài đều
hiểu). Đức Phật thuyết pháp tại nơi đó,
bất luận là người nào đến nghe, đều
nghe rất rơ ràng, đều nghe rất minh bạch, ngôn ngữ
quá xảo diệu. Nếu đức Phật ngự trên giảng
đài, người Hoa nghe [sẽ cảm thấy]: “Đức
Phật nói bằng tiếng Hoa, Ngài nói bằng tiếng quê
hương của chúng ta!” Người Nhật Bản nghe
[sẽ thấy] đức Phật giảng bằng tiếng
Nhật. Đức Phật cũng chẳng cần phiên dịch.
Một âm thanh thốt ra, người ở mỗi nơi
nghe thành tiếng địa phương của họ. Điều
này tuyệt diệu chẳng thể nói nổi, đức Phật
có năng lực ấy. Gần đây, các khoa học gia
nghiên cứu, trong tương lai có thể phát minh một loại
computer có thể tự động phiên dịch các thứ
ngôn ngữ bất đồng, mọi người đều
có thể nghe hiểu! Trong quá khứ, chúng ta rất khó tin tưởng
[chuyện này], các khoa học gia hiện thời chứng tỏ:
Đó là chuyện có thể làm được. V́ thế, chư
thiên đến nghe, [sẽ thấy Phật nói] bằng ngôn
ngữ của chư thiên. Từ quỷ đạo đến
nghe, [sẽ thấy đức Phật nói] bằng ngôn ngữ
của quỷ đạo. Súc sanh tới nghe, [sẽ thấy
đức Phật nói] bằng ngôn ngữ súc sanh. Quá kỳ
diệu! Đấy là Từ Vô Ngại. Thứ tư là:
(Sao) Viết Nhạo Thuyết dă.
(鈔) 曰樂說也。
(Sao: Nhạo Thuyết Vô Ngại).
Có ba thứ Biện Tài
trên đây, nhưng chẳng thích giảng, sẽ chẳng có
cách nào hết! “Nhạo Thuyết”
là người ấy thích giảng, chẳng ngại phiền,
không nề hà mệt mỏi. Chỉ cần gặp phải
đối tượng, bèn hết sức vui ḷng giúp đỡ,
dắt d́u người khác, giúp đỡ người khác vô
điều kiện. Chúng ta phải học tập điều
này.
(Sao) Tứ giai vô ngại,
danh chi viết Thuyết.
(鈔) 四皆無礙,名之曰說。
(Sao: Bốn điều ấy
đều vô ngại, nên gọi là Thuyết).
Ở đây, Thuyết
bao gồm bốn ư nghĩa vô ngại. Trong kinh điển
có [nói tới] rất nhiều vị Phật, Bồ Tát, [đối
với] trí huệ, thần thông, đức năng của
các Ngài, có những điều chúng ta chẳng thể học
theo, nhưng cũng có những điều chúng ta có thể
học tập. Có thể học tập th́ chúng ta phải tận
hết khả năng học tập. Như ở nơi đây,
bản thân chúng ta hiểu được Phật pháp bao nhiêu,
phải giới thiệu với mọi người bấy
nhiêu! Có người nói: “Nói sai Phật pháp, phải chịu
trách nhiệm nhân quả!” Gánh trách nhiệm nhân quả giống
như chỉ sai đường, báo hại người ta
phải đi bao nhiêu con đường oan uổng! Đây
là chuyện quư vị có lỗi với người ta. Phật
pháp là chỉ đường! Chúng ta tuân thủ nguyên tắc
do Khổng lăo phu tử đă dạy: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri” (biết th́
nói là biết, không biết bèn nói không biết), sẽ không
chỉ sai đường! Phàm kẻ chỉ sai đường
đều là phường ham cao xa, hiếu thắng, không
biết mà cứ nhận bừa là biết, nên mới phạm
lỗi! Tôi hiểu ư nghĩa này bèn giảng cho quư vị nghe,
chỗ kia không hiểu, không hiểu th́ tôi chẳng giảng,
đừng sợ tẽn ṭ, đừng sợ mất mặt,
chắc chắn quư vị sẽ chẳng giảng trật.
Từ xưa tới
nay đều là như vậy, người ta chuộng thể
diện! Học Phật chớ nên có chuyện này, phải
thật thà! Ta hiểu đoạn này ta có thể giảng, đoạn
kia ta không hiểu, ta đọc lướt qua, đọc
lướt qua chẳng bị khuyết điểm! Chúng tôi
đọc rất nhiều bản chú giải của cổ
nhân, phát hiện rất nhiều trường hợp kinh văn
có rất nhiều ư nghĩa trong ấy, nhưng v́ sao lời
chú giải chẳng giảng? Viết mấy câu đơn
giản, sơ sài cho xong, cớ sao chẳng chú giải cặn
kẽ? Về sau, chúng tôi hiểu: Đoạn ấy, Ngài cũng
không hiểu, nhưng chẳng mắc khuyết điểm!
Nếu Ngài dùng ư tưởng của chính ḿnh để giải,
sẽ có thể giảng sai. V́ thế, Ngài dè dặt, cẩn
thận, chính ḿnh không biết, chưa lănh ngộ được,
quyết định không dám tùy tiện nói lung tung! Chư vị
thuyết pháp cho hết thảy chúng sanh, tuân thủ nguyên tắc
này, bất cứ lúc nào, bất luận nơi đâu, đều
chẳng có khuyết điểm, chỉ có công đức,
không mắc khuyết điểm, phải ghi nhớ điều
này!
(Sao) Trung Luận vân.
(鈔) 中論云。
(Sao: Trung Quán Luận nói:)
Trích dẫn một đoạn
từ Trung Quán Luận.
(Sao) Chư Phật y Nhị Đế,
vị chúng sanh thuyết pháp.
(鈔) 諸佛依二諦,為眾生說法。
(Sao: Chư Phật
nương vào Nhị Đế để thuyết pháp cho
chúng sanh).
Nhị Đế là Chân
Đế và Tục Đế, Chân Tục nhị đế.
Chân Đế là chân thật, Lư chân thật, Sự chân thật,
nhưng chúng sanh chẳng thấy, Phật, Bồ Tát thấy
được, đó là thật. Tục Đế là thế
tục, tức kiến giải và hiểu biết thông thường
của người thế tục; chúng ta tùy thuận thế
tục để nói, mọi người sẽ rất dễ
hiểu. V́ sao? V́ thường thức và kiến giải của
quư vị có thể đạt đến. Do đó, đức
Phật thuyết pháp luôn chẳng rời khỏi hai nguyên tắc
sau đây:
- Một là cảnh giới do đích
thân Ngài chứng đắc.
- Hai là nói theo hoàn cảnh sống hiện
thực của chúng ta.
Chân và Tục có thể viên dung, chúng ta sẽ
sống rất hạnh phúc, rất mỹ măn.
Đức Phật
giáo hóa các chúng sanh tuân theo tiêu chuẩn: Nương vào Chân Tục
nhị đế. Tŕnh độ [của thính chúng] càng cao
th́ thành phần thuộc Chân Đế [trong lời giảng]
càng nhiều. Càng là kẻ mới học, thành phần Tục
Đế [trong lời Phật giảng] càng nhiều, phương
diện Chân Đế ít hơn. Dạy hàng đại Bồ
Tát th́ Chân nhiều, Tục ít. Nói theo Ngũ Thừa Phật
pháp th́ đức Phật dạy người, dạy trời,
Tục Đế chiếm phần hết sức quan trọng,
Chân chẳng qua là điểm thêm đôi chút mà thôi! Lên cao hơn
là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Chân sẽ dần dần
chiếm đa số, thành phần Tục chiếm ít hơn.
Đó là y Chân Tục nhị đế để thuyết
pháp.
Nhưng phải hiểu:
Chân và Tục chẳng hai. Trong cái nh́n của Phật mới
có thể thấy như vậy. Chân và Tục quả thật
là một, chẳng hai. Chẳng hạn như chúng ta nêu thí
dụ, kinh thường dạy: “Phiền
năo tức Bồ Đề”, Bồ Đề là Chân, phiền
năo là Tục, chúng là một, không hai. Trên thực tế, v́
sao trở thành có phiền năo và Bồ Đề? Do mê hay ngộ!
Mê th́ quư vị mê ǵ? Mê Bồ Đề. Bồ Đề bị
mê th́ sẽ không gọi là Bồ Đề, thay đổi
danh xưng thành phiền năo. Quư vị ngộ là ngộ ǵ?
Ngộ phiền năo. Nếu giác ngộ phiền năo, chẳng
c̣n gọi nó là phiền năo nữa, mà sửa tên thành Bồ
Đề, chuyện là như vậy đó. Do vậy, mê th́
có phiền năo, ngộ là Bồ Đề, chỉ đổi
danh xưng, chẳng thay đổi Sự, trên mặt Sự
là như nhau.
Nếu chúng ta hỏi:
Người giác ngộ c̣n có phiền năo hay không? Người
giác ngộ thật sự chẳng có phiền năo. Thích Ca Mâu
Ni Phật c̣n có tâm hoan hỷ, tâm hỷ duyệt, đấy
chẳng phải là phiền năo ư? Nơi Phật chẳng
gọi là phiền năo, mà gọi là Bồ Đề. Mừng,
giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham muốn đều là Bồ
Đề; đối với chúng ta, mừng, giận, buồn,
vui, yêu, ghét, ham muốn là phiền năo. V́ sao có sự sai biệt
ấy? Chúng ta bị mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét,
ham muốn ô nhiễm, tâm chúng ta chẳng thanh tịnh. Thích
Ca Mâu Ni Phật mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham muốn
bày ra trước mặt, tâm địa Ngài chẳng nhiễm,
mà thanh tịnh; sai biệt ở chỗ này! Nếu trong cuộc
sống hằng ngày, trong đăi người, tiếp vật,
mừng, giận, buồn, vui, mà chúng ta có thể giữ được
tâm địa thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần
th́ mừng, giận, buồn, vui là Bồ Đề.
Có người chẳng
hiểu, nghĩ học Phật là chuyện rất đáng
kinh sợ. V́ sao? Học Phật không có Ái nữa. Không có Ái
th́ làm sao được? Đáng sợ vô cùng! Thật ra, học
Phật th́ Phật là thật sự yêu thương, chẳng
giả! Người thế gian tuy cảm thấy Ái rất
đáng quư, nhưng đều là giả, hư t́nh giả
ư, chẳng phải là chân ái, mà là giả ái. Khi yêu nhau bèn kết
hôn, hai hôm sau nghe nói lại ly hôn, đó chẳng phải là chân
ái, v́ ḷng ái ấy bị biến đổi! Không giống như
Phật, Bồ Tát! Ḷng ái của Phật, Bồ Tát vĩnh
viễn bất biến. Quư vị tôn kính các Ngài, các Ngài yêu
thương, che chở quư vị; quư vị hủy báng, hăm
hại các Ngài, các Ngài vẫn yêu thương, che chở quư
vị, chẳng hề đổi dạ, đấy gọi
là Bồ Đề, là thật! V́ thế, ḷng Ái thật sự
ở trong Phật pháp, trong thế gian không có! Thế gian
hư t́nh giả ư, nhất định phải hiểu rơ
ràng, chớ bị lừa. V́ thế, bảo quư vị phải
dùng lư trí, chớ nên dễ dăi xử sự theo cảm t́nh.
Cảm t́nh là mê, lư trí là giác, phải lấy lư trí làm chủ.
Tuy có cảm t́nh, nhưng t́nh sanh từ lư trí, chẳng sanh từ
mê hoặc, điên đảo, chẳng sanh từ mê chấp,
mà sanh từ lư trí, Phật pháp nói tới chuyện này. Thông
thường, chúng ta chẳng nói Ái, mà thay đổi danh xưng
thành “từ bi”, từ bi là Ái. Nói cách khác, lư tánh ái (ḷng yêu thương
dựa trên lư tánh) là từ bi, c̣n [ḷng yêu thương] sanh từ
phân biệt, chấp trước, t́nh thức th́ gọi là Ái.
Một đằng là danh xưng khi mê, một đằng là
danh xưng lúc giác ngộ, khác nhau ở chỗ này!
Giáo học Phật
pháp là một nghệ thuật cao độ, ở đây nói
là “y Nhị Đế”. Kiến
trúc Phật giáo thể hiện ư nghĩa này. Đại điện
của Phật, tức Đại Hùng Bảo Điện, là
một kiến trúc chủ yếu nhất trong tự viện,
giống như một hội đường (ṭa nhà dùng để
nhóm họp)[2], hết thảy những cuộc nhóm họp trọng
yếu phải được cử hành tại đó. Chúng
ta thấy kiến trúc ấy bên ngoài là hai tầng, bên trong là
một tầng, v́ sao xây cất theo cách ấy? Hai tầng tượng
trưng Nhị Đế, một tầng bên trong tượng
trưng Nhất Như. Chân Tục nhất như, Nhị Đế
bất nhị. Ngay cả kiến trúc cũng đều biểu
thị pháp, thể hiện dụng ư này, chẳng phải là
xây cất tùy tiện. Đây là nói thêm cho quư vị hiểu!
(Sao) Từ Vô Ngại Trí,
dĩ thế trí sai biệt thuyết.
(鈔) 詞無礙智,以世智差別說。
(Sao: Từ Vô Ngại Trí, dựa
trên trí thế gian mà nói khác biệt [tùy theo hoàn cảnh, thời
điểm]).
Trong “Từ Vô Ngại” có rất nhiều ư nghĩa,
chúng ta vừa mới nói một ư nghĩa là “Phật dùng một âm thanh để thuyết pháp,
chúng sanh tùy theo từng loài đều hiểu”, đấy
là Từ Vô Ngại. Từ Vô Ngại kiểu này chúng ta không
thể học được, nhưng Từ Vô Ngại theo
nghĩa thứ hai, chúng ta có thể học được.
Học ǵ vậy? Nguyên lư, nguyên tắc, và tinh thần của
Phật pháp vĩnh viễn bất biến, nhưng thuyết
pháp có thể do tùy lúc, tùy chỗ mà nói khác nhau. Chẳng hạn
như người nghe giảng chúng ta đều là đồng
tu đang học Tịnh Độ, chúng tôi có cách nói theo kiểu
tu Tịnh Độ. Nếu tôi đến Thiền Đường
bèn giảng Thiền. Tôi có một người bạn thân là
pháp sư Thánh Nhất, Ngài tham Thiền, trong chùa của Ngài
có tới bốn mươi người hằng ngày đều
ngồi tham Thiền. Tôi tới Hương Cảng, Ngài cũng
mời tôi giảng khai thị; nói chung, tôi chẳng thể
giảng Tịnh Độ, chỉ đành giảng Thiền,
khế hợp căn cơ của bọn họ, giảng Đàn
Kinh, giảng kinh Kim Cang, lấy những tài liệu trong ấy
để nói với họ. Nếu thính chúng là người
kinh doanh, mua bán, tôi giảng kinh nhất định phải
dạy họ làm thế nào để phát tài, họ mới
hoan hỷ, đó là “vô ngại”. Nếu thính chúng là dân biểu,
đại biểu Quốc Hội, và ủy viên Lập Pháp,
nội dung ư nghĩa lời tôi nói phải là tham chánh như
thế nào, làm thế nào để thực hiện tốt
việc chính trị trong đất nước, làm sao khiến
cho dân chúng sống cuộc đời giàu có, khỏe mạnh,
an ổn, vui sướng, mà chẳng khuyên họ niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ, giảng theo cách ấy họ
chẳng thể tiếp nhận. V́ thế, trong lúc nào, đối
với hạng người nào, quyết định sẽ
nói khác nhau!
Cùng là một bộ
kinh, cùng một câu kinh, sẽ có nhiều cách giảng khác
nhau. Tuy khác nhau, nhưng tông chỉ quyết định chẳng
thay đổi, phương hướng, mục tiêu, tinh thần
quyết định chẳng thay đổi; do vậy, quyết
định chẳng giảng sai lệch Phật pháp. Phật
pháp sống động, chẳng chết cứng, khô khan,
chẳng phải là chỉ có thể giảng một cách, đấy
là chỗ khó khăn trong kinh Phật. Không riêng ǵ kinh là
như vậy, mà chú giải cũng đều là như vậy;
do vậy, [giảng kinh, giảng chú giải] chẳng dễ
dàng! Chú giải của cổ nhân câu nào cũng đều là
sống động, quư vị nói sao cũng hợp lư, chẳng
chết cứng, chẳng phải là câu này có ư nghĩa [nhất
định] như thế này, phải giảng theo cách này, đó
là văn chương chết ngắc! Phật pháp sống động,
không chỉ là kinh sống động, mà chú giải cũng
đều sống động, hết sức chẳng dễ
dàng! Nếu chính ḿnh chẳng thật sự chứng đến
cảnh giới ấy, sẽ nói không được, mà viết
cũng chẳng thành. Viết văn chương th́ ư nghĩa
chỉ có một, chẳng có ư nghĩa thứ hai. Viết một
bài văn hay th́ ai cũng có thể viết được;
nhưng nếu viết một bài văn sao cho “người nhân thấy là nhân,
người trí thấy là trí”, văn chương ấy
chẳng dễ viết. Đây là Từ Vô Ngại loại
thứ hai, đích xác là chúng ta có thể học được,
chúng ta nỗ lực sẽ có thể học được,
đấy là “dĩ thế trí sai
biệt thuyết”.
(Sao) Nhạo Thuyết Vô Ngại
Trí.
(鈔) 樂說無礙智。
(Sao: Nhạo Thuyết Vô Ngại
Trí).
Chữ “樂”phải đọc là Yào (âm Hán Việt tương ứng
là Nhạo), nghĩa là ưa thích, yêu chuộng. “Nhạo Thuyết”: Nay chúng ta bảo
là “thích nói”, không ngại phiền, chẳng sợ mệt nhọc.
Thích nói với người khác là Nhạo Thuyết Vô Ngại
Trí.
(Sao) Dĩ Đệ Nhất
Nghĩa Trí thiện xảo thuyết, bất ngôn nghĩa
pháp giả, hậu hậu kiêm ư tiền tiền, Từ
cập Nhạo Thuyết, nhiếp Nghĩa, Pháp cố.
(鈔) 以第一義智善巧說,不言義法者,後後兼於前前,詞及樂說,攝義法故。
(Sao: Dùng Đệ Nhất
Nghĩa Trí để khéo léo nói, chẳng nói tới Nghĩa
Vô Ngại Biện Tài và Pháp Vô Ngại Biện Tài, v́ những
điều sau bao gồm điều trước. Từ Vô
Ngại Biện Tài và Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện
Tài bao trùm Nghĩa Vô Ngại Biện Tài và Pháp Vô Ngại Biện
Tài).
Thứ tự của
bốn chữ “nghĩa, pháp, từ,
nhạo” này chẳng thể điên đảo, v́ sao? Chữ
sau có thể bao gồm chữ trước, nhưng chữ
trước chưa chắc đă bao gồm chữ sau. Đến
phần Nhạo Thuyết, đương nhiên toàn bộ ư
nghĩa của ba loại trước đều được
bao gồm trong ấy. Đệ Nhất Nghĩa Trí là trí huệ
chân thật, mà cũng chính là Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác như chúng ta đă nói trong phần trước.
Đấy mới là Đệ Nhất Nghĩa Trí. “Thiện xảo” là ứng dụng
vào hành vi, ứng dụng trong xử sự, đăi người,
tiếp vật, trong giáo hóa chúng sanh vô cùng xảo diệu!
Chẳng dùng từ ngữ “xảo
diệu” mà dùng từ ngữ “thiện
xảo”, hay quá! “Thiện”
là tốt, phương thức xảo diệu vô cùng tốt
đẹp, có thể khiến cho người ta tiếp nhận
rất dễ dàng, rất dễ hiểu rơ, rất dễ
đạt tới hiệu quả giáo học, đấy mới
gọi là “thiện xảo”.
(Sao) Thập nhị bộ
đẳng, chỉ sở thuyết dă.
(鈔) 十二部等,指所說也。
(Sao: “Mười hai bộ
v.v...” chỉ những kinh điển đă được
nói).
Nói theo cách bây giờ, “thập nhị bộ” là đức
Phật thuyết pháp có mười hai phương thức
khác nhau; nói theo văn chương hiện thời là “thể tài” (genre). [Kinh Phật]
có mười hai loại thể tài khác nhau. Có thể là dùng
thể tài văn xuôi, hoặc dùng thể tài thi ca. Chúng ta mở
bản kinh ra, trong kinh văn có Trường Hàng, Trường
Hàng là văn xuôi, như trong kinh Di Đà hoàn toàn là văn
xuôi. Có những kinh trong đó có kệ tụng, kệ tụng
là thi ca. Sau phần văn xuôi có thi ca. Lại c̣n có những
kinh điển phía sau có chú ngữ, đều là vận dụng
thể tài khác nhau. Thể tài có tất cả mười
hai loại, nhưng cũng không phải là mỗi bộ
kinh đều có mười hai loại này. Mười hai loại
đều có đủ th́ chỉ có một bộ kinh là Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Bộ kinh này lớn
nên có đủ mười hai loại thể tài. Kinh Pháp Hoa
cũng là kinh lớn, nhưng chỉ có chín loại thể
tài. Kinh Di Đà có hai loại: Một là văn xuôi, loại
kia là Vô Vấn Tự Thuyết, kinh này từ đầu đến
cuối không có ai khải thỉnh, do Thích Ca Mâu Ni Phật tự
nói ra. Trong mười hai loại, loại này khá đặc
biệt, Vô Vấn Tự Thuyết là không ai hỏi, tự
ḿnh nói.
“Thập nhị bộ” là toàn bộ Phật pháp. “Bộ” là bộ phận, chẳng
có nghĩa là kinh Phật chỉ có mười hai bộ! Về
sau, cổ nhân sợ người ta thấy danh từ này nẩy
sanh hiểu lầm, ngỡ là [kinh Phật chỉ có] mười
hai bộ kinh, nên đổi thành “thập
nhị phần giáo”. “Thập
nhị phần giáo” và “thập
nhị bộ kinh” ư nghĩa hoàn toàn tương đồng,
đều nhằm nói rơ đức Phật thuyết pháp theo
các thể lệ khác nhau. Mười hai loại thể tài
này, kinh Đại Tiểu Thừa đều có, nhưng kinh
Tiểu Thừa chỉ có chín loại thể tài. Cũng có
người nói Tiểu Thừa cũng có mười hai loại
thể tài này. Đấy là cổ nhân mỗi vị có cách nói
riêng biệt.
(Sao) Tất Đàn giả.
(鈔) 悉檀者。
(Sao: Tất Đàn là...)
Nương theo Tứ
Tất Đàn, Tứ Tất Đàn cũng nhằm nói rơ: Có
thể nói thiện xảo. Nói
cách khác, đây là một phương thức tiếp dẫn
chúng sanh. Tất Đàn (Siddhānta) là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Hán là
Biến Thí (bố thí trọn khắp).
(Sao) Hợp Hoa Phạm
vân Biến Thí.
(鈔) 合華梵云遍施。
(Sao: Ghép tiếng Hán và tiếng
Phạn lại [thành từ ngữ này], có nghĩa là Thí Trọn
Khắp).
“Tất” là chữ Hán, “Đàn”
là tiếng Ấn Độ. Danh từ này gồm một chữ
Hán và một âm tiếng Phạn gộp lại, Hoa Phạm
hợp dịch thành Tất Đàn. “Tất” có nghĩa là phổ biến, “đàn”
(Dāna) là bố thí. [Tất Đàn] có nghĩa là bố thí trọn khắp. Gồm có tất cả
bốn loại.
(Sao) Dĩ Thế Giới,
Vị Nhân, Đối Trị, Đệ Nhất Nghĩa, tứ
môn.
(鈔) 以世界、為人、對治、第一義,四門。
(Sao: Dùng bốn môn Thế Giới,
Vị Nhân, Đối Trị, Đệ Nhất Nghĩa ).
Đây là danh xưng của
Tứ Tất Đàn: Thế Giới Tất Đàn, Vị
Nhân Tất Đàn, Đối Trị Tất Đàn, Đệ
Nhất Nghĩa Tất Đàn.
(Sao) Tác hoan hỷ, sanh thiện,
diệt ác, nhập đạo, tứ ích.
(鈔) 作歡喜、生善、滅惡、入道,四益。
(Sao: Để tạo bốn
món lợi ích: Hoan hỷ, sanh thiện, diệt ác, nhập
đạo).
Đây là nội dung của
Tứ Tất Đàn. Thế Giới Tất Đàn nghĩa
là ǵ? Hoan hỷ. Điều cốt yếu trong Phật pháp
là khiến cho hết thảy chúng sanh sanh tâm hoan hỷ, đây
là điều kiện thứ nhất. Người ta chẳng
hoan hỷ th́ làm thế nào? Chẳng hoan hỷ, chúng ta hăy nhanh
chóng rời khỏi; rời khỏi họ sẽ hoan hỷ.
Bất luận thế nào, phải làm cho người ta hoan
hỷ. Người ta rất thích chúng ta ở với họ,
chúng ta bèn ở cùng một chỗ với họ. Họ chán
ghét chúng ta, muốn chúng ta rời khỏi, chúng ta mau mắn
rời khỏi. Đây là điều thứ nhất phải
tuân thủ; bởi lẽ, Phật pháp luôn khiến cho người
khác sanh tâm hoan hỷ. Chúng ta bước vào một ngôi chùa xây
đúng quy củ, tức là chùa theo đúng quy củ kiến
trúc trong Phật pháp, vừa bước vào sẽ thấy kiến
trúc đầu tiên là Thiên Vương Điện. Thiên Vương
Điện đối diện đại môn, đầu tiên
quư vị thấy Di Lặc Phật, Di Lặc Phật khiến
cho quư vị hoan hỷ: Mập mạp, cười h́ h́, đấy
là ư nghĩa Thế Giới Tất Đàn. Do vậy, người
nào mới có tư cách học Phật? Phải hoan hỷ đối
với người khác, trong bất luận thuận cảnh
hay nghịch cảnh, đều khiến cho người khác
sanh tâm hoan hỷ, người như vậy mới có thể
học Phật, người như vậy mới có thể
nhập Phật môn. Di Lặc Phật bụng rất lớn,
biểu thị chuyện ǵ cũng đều có thể bao
dung, chẳng so đo, chẳng phân biệt, chẳng chấp
trước, có thể sanh tâm hoan hỷ. Do vậy, Ngài biểu
thị pháp; đây cũng là nhằm bảo chúng ta phải
học tập.
Thứ hai là Vị Nhân
Tất Đàn, mang ư nghĩa “sanh
thiện”. Chúng ta đối đăi với người khác,
nhất định phải khơi gợi giác tánh của người
ta, phải giúp đỡ kẻ ấy sanh khởi thiện
tâm, trước hết, thực hiện từ chỗ này.
Thật ra, giáo học của cổ nhân Trung Quốc
cũng là như vậy, “ẩn
ác, dương thiện” (ẩn giấu điều ác,
tuyên dương điều lành). Chẳng hạn như trông
thấy người ta, tuy kẻ ấy chẳng phải
người tốt, lắm phen làm ác, nhưng hắn
cũng có điểm tốt, quư vị gặp mặt hắn
bèn tán dương chuyện tốt lành của hắn, chớ
nên nhắc tới điều ác. Kẻ ấy được
cổ vũ, khích lệ sẽ quay đầu, học theo điều
tốt.
Trong xă hội hiện
thời, nói thật ra, dư luận phải chịu trách
nhiệm rất lớn, v́ sao? Người tốt, chuyện
tốt chẳng nói tới, đối với kẻ ác bèn
thêm muối, thêm dấm, khiến cho kẻ ác nghĩ: “Ta làm
người tốt có ích ǵ, ai biết? Ta làm ác, người
nào cũng biết ta”. Nói cách khác, cổ vũ, khích lệ
con người hướng theo điều ác, dư luận
nhất định phải chịu trách nhiệm chuyện
này. Nếu chúng ta ca ngợi mặt thiện, về căn
bản là chẳng nhắc tới mặt ác, dẫu là kẻ
làm ác cũng sẽ sanh tâm hổ thẹn: “Ta làm chuyện ác
nhiều ngần ấy, người ta trọn chẳng nhắc
tới, người ta tha thứ cho ta”. Trong tâm hắn khổ
sở: “Làm một tí chuyện tốt lành nhỏ xíu, người
khác tán thán ta, cổ vũ khích lệ ta, đối với ta
tốt đẹp như thế đấy!” Hắn sẽ
quay đầu. Phật môn rất coi trọng giáo học,
đầu tiên là phải giúp cho kẻ khác sanh thiện, cổ
vũ, khích lệ người khác hướng thiện.
Thứ ba là Đối
Trị Tất Đàn, đấy là “diệt ác”. Diệt ác, chủ yếu là đối
với chính ḿnh mà nói. Giống như giới luật của
nhà Phật, giới luật nhằm răn dè chính ḿnh, chẳng
phải để ngăn cấm người khác. V́ thế,
giới luật trong Phật pháp thật sự đáng tán
thán. Phật khuyên chúng ta hăy tự tuân thủ giới luật,
đừng quan tâm đến người khác. Kẻ khác tuân
thủ hay không chẳng liên quan đến ta! Chính ḿnh giữ
giới là đúng, giới luật nhằm ngăn giữ
chính ḿnh! Đối trị là đối trị chính ḿnh, đối
trị phân biệt, chấp trước, vọng tưởng
của chính ḿnh. Đối trị chính ḿnh, tức là những
thứ như ghen ghét, sân khuể, chúng ta đều phải
sửa đổi. Sửa đổi là sám hối chân thật.
Trong sám trừ nghiệp
chướng của Phật pháp, điều được
coi trọng là sửa lỗi, đổi mới. Thực hiện
những nghi thức [sám hối] chẳng phải là điều
trọng yếu; nghi thức là làm cho người khác xem, giống
như diễn tuồng, diễn cho kẻ khác xem, nhằm dụng
ư nào? Nhằm dụng ư khuyên người khác quay đầu,
khuyên người khác hăy sửa lỗi, đổi mới,
mang ư nghĩa này. Bản thân quư vị thật sự hối
cải, cần ǵ phải làm những h́nh thức ấy?
Không cần thiết! Chúng ta phải biết điều này.
Chúng ta lạy Lương Hoàng Sám, lễ Thủy Sám nhằm
khuyên người khác. Do vậy, những chuyện như
thế chớ nên không biết! Sau khi đă biết, quư vị
mới hiểu giáo học Phật pháp thiện xảo, ứng
dụng những phương pháp vô cùng cao minh, dùng rất xảo
diệu.
Thứ tư là Đệ
Nhất Nghĩa Tất Đàn, đây là nói về Nhập Đạo.
Đệ Nhất Nghĩa là trí huệ rốt ráo viên măn;
trong bốn món Tất Đàn, điều này là mục tiêu
chủ yếu. Những điều trước đều
là “dụ đạo” (誘導:
khuyên dụ, hướng dẫn), “dụ đạo” tới
cuối cùng th́ phải giúp cho người ấy thành Phật,
phải cổ vũ, khích lệ người ấy. Thứ
nhất, phải khơi gợi ḷng tin nơi người ấy,
v́ sao chúng sanh chẳng thể thành Phật? Do không tin chính
ḿnh có thể thành Phật. Thậm chí tôi đă gặp những
đồng tu học Phật nhiều năm, tự cảm
thấy chính ḿnh nghiệp chướng quá nặng, tội
nghiệp quá sâu, đời sau ta chỉ cần có thể lại
được làm người là tốt rồi, thế giới
Tây Phương ta chẳng dám mong mỏi! Quan niệm ấy
sai lầm! Do vậy, chúng ta nhất định phải giúp
họ kiến lập ḷng tin, tạo tội nghiệp dẫu
lớn đến mấy đều có thể văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Quư vị thấy
Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh đă dạy: Ngũ Nghịch,
Thập Ác gặp nhân duyên tốt đẹp, gặp thiện
tri thức chân thật giảng giải lư luận,
phương pháp, quư vị thật sự hiểu rơ, giác ngộ,
tuân theo phương pháp ấy để tu hành, nhất định
có thể văng sanh. Chúng ta vẫn chưa tạo tội nghiệp
nặng nề dường ấy, v́ sao chẳng thể [văng
sanh]? Chắc chắn có thể! Tội nghiệp từ vô thỉ
kiếp dẫu nặng đến mấy, không có tội nào
chẳng thể hối cải, đều là trong một niệm
hồi tâm chuyển ư, phá mê khai ngộ, nghiệp chướng
bèn có thể tiêu trừ, phước huệ hiện tiền.
Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn là môn chánh yếu
nhất, thật sự giới thiệu Đại Thừa
Phật pháp cho người khác, khuyên lơn, cổ vũ họ
tu học, v́ thế là Nhập Đạo. Đó là bốn
thứ lợi ích.
(Sao) Thập nhị bộ kinh, nhất
thiết chư pháp, tùy nghi nhi thuyết, vô lượng
phương tiện, yếu quy tác Thế Giới đẳng
tứ thuyết, sử nhân đắc hoan hỷ đẳng
tứ ích nhi dĩ. Giám cơ thọ pháp, kỳ văn phồn
quảng, lược cử bất tất.
(鈔) 十二部經一切諸法,隨宜而說,無量方便,要歸作世界等四說,使人得歡喜等四益而已。鑒機授法,其文繁廣,略舉不悉。
(Sao: Mười hai bộ kinh,
hết thảy các pháp, tùy nghi mà nói, vô lượng
phương tiện đều phải quy về bốn
món Tất Đàn như Thế Giới v.v... nhằm khiến
cho người ta đạt được bốn thứ
lợi ích như hoan hỷ v.v... mà thôi. Xét căn cơ
để trao truyền giáo pháp. Lời văn rườm
rà, quá rộng, nên nêu đại lược, chẳng tŕnh
bày trọn hết).
Nói cặn kẽ, sẽ
quá nhiều, nên ở đây chỉ dùng phương pháp đơn
giản nhất ḥng giới thiệu. Pháp môn rất nhiều,
kinh điển rất nhiều, bất luận nói theo cách
nào, đều phải làm cho thính chúng đạt được
bốn món lợi ích. Bất luận giảng một bộ
kinh nào, bất luận giảng một bộ luận nào,
quư vị đều phải khiến cho người khác
sanh tâm hoan hỷ, sanh thiện, đoạn ác, nhập đạo.
Đức Phật thuyết pháp có nhiều nguyên tắc, nhưng
những nguyên tắc này chúng ta đều phải biết
th́ thuyết pháp mới chẳng luống uổng, thật
sự hữu ích cho chúng sanh. Hôm nay chúng tôi giảng tới đây!
Tập 96
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Hội Bản, trang một trăm bảy mươi bảy:
(Sớ) Phật thuyết
giả, thuyết giản ngũ nhân cố.
(疏) 佛說者,說揀五人故。
(Sớ: “Phật thuyết”: Nhằm
phân định rơ [trong] năm hạng người có thể
nói kinh, [kinh này do chính đức Phật nói]).
Trong đoạn trước
đă giới thiệu sơ lược những ư nghĩa
sâu xa được bao hàm trong chữ Thuyết. Đoạn
này nói về những bộ kinh Phật [có tựa đề]
được bắt đầu bằng hai chữ Phật
Thuyết. Cũng có nhiều kinh điển hoàn toàn không có hai
chữ này, [chẳng hạn như trong các tựa đề]
Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh đều không có
chữ “Phật Thuyết”. V́
sao có kinh điển ghi [tựa đề] là Phật Thuyết?
Có kinh điển chẳng ghi Phật Thuyết? Thật ra,
đều là kinh do đức Phật nói, v́ sao có sai biệt
như vậy? Có thói quen như sau: Hễ là kinh Vô Vấn Tự
Thuyết, như kinh Di Đà này, tên kinh phải bắt đầu
bằng Phật Thuyết. Một loại khác là trong phần
Chánh Tông, câu đầu tiên do đức Phật nói th́ tựa
đề kinh cũng bắt đầu bằng Phật Thuyết.
Do phân định [kinh này] chẳng phải do năm loại
người [nói ra], trong năm loại người này có cả
Phật trong ấy. Bởi lẽ, kinh điển không nhất
định đều do đức Phật nói, mà năm loại
người đều có thể giảng kinh.
(Sao) Ngũ nhân giả, nhất
Phật, nhị Bồ Tát, tam thiên nhân, tứ tiên, ngũ hóa
nhân, thử ngũ giai năng thuyết kinh.
(鈔)
五人者,一佛,二菩薩,三天人,四仙,五化人,此五皆能說經。
(Sao: Năm loại người
là: Một là Phật, hai là Bồ Tát, ba là chư thiên, bốn
là tiên, năm là hóa nhân. Năm loại này đều có thể
nói kinh).
Thứ nhất là Phật,
thứ hai là Bồ Tát, thứ ba là “thiên nhân” (chư thiên),
thứ tư là “tiên nhân”, thứ năm là “biến hóa nhân”,
năm loại này đều có thể nói kinh. Trừ Phật
ra, bốn loại kia đều phải được Phật
ấn chứng th́ mới có thể gọi là Kinh. Nếu chưa
được Phật ấn chứng, chẳng thể là
kinh, quư vị phải ghi nhớ điều này!
(Sao) Kim hiển thử
kinh thị Chí Thánh lập ngôn.
(鈔) 今顯此經是至聖立言。
(Sao: Nay chỉ rơ kinh này là lời
dạy của đấng Chí Thánh).
Kinh Di Đà từ đầu
đến cuối do một ḿnh Thích Ca Mâu Ni Phật nói. Tuy
đức Phật gọi Xá Lợi Phất để nói,
nhưng trong kinh này, ngài Xá Lợi Phất chẳng nói lời
nào, chỉ có nghe mà thôi, chẳng nêu ra câu hỏi nào. Từ đầu
tới cuối do một ḿnh Thích Ca Mâu Ni Phật nói, có thể
nói là chẳng có kinh nào khác thuần hơn [kinh này].
(Sao) Kim khẩu thân xuất, bất
đồng Bồ Tát tại nhân, thiên thuộc phàm loại.
(鈔)
金口親出,不同菩薩在因,天屬凡類。
(Sao: Miệng vàng đích thân
nói ra, chẳng giống như hàng Bồ Tát c̣n đang tu
nhân, chư thiên thuộc về phàm phu).
Bồ Tát tu nhân chưa
viên măn, Bồ Tát chưa thành Phật. Chư thiên vẫn là phàm
phu y như cũ, chẳng phải là thánh nhân.
(Sao) Tiên tạp ngoại
đạo, hóa nhân phi chân dă.
(鈔) 仙雜外道,化人非真也。
(Sao: Tiên xen tạp ngoại
đạo, hóa nhân chẳng phải là người thật).
Họ biến hóa, chẳng
phải là người thật sự.
(Sao) Như thiên tử chiếu, bất
đồng bách quan, tể tướng, chư vương đẳng
ngữ dă.
(鈔) 如天子詔,不同百官宰相諸王等語也。
(Sao: Giống như chiếu
chỉ của hoàng đế, chẳng giống lời lẽ
của trăm quan, tể tướng, các vương gia
v.v...)
Đây là dùng một tỷ
dụ, lời Phật nói giống như chiếu thư của
hoàng đế, chúng ta thường gọi là “thánh chỉ”, hơn hẳn mệnh
lệnh của tể tướng, trăm quan, vượt
trỗi quá nhiều! Đây là kiến thức thông thường,
chúng ta biết có năm loại người nói kinh.
(Sớ ) A Di Đà giả,
thị tiêu hiển bỉ Phật.
(疏)
阿彌陀者,是標顯彼佛。
(Sớ: “A Di Đà”: Nêu rơ đức
Phật ấy).
“Tiêu” là tiêu minh (標明: nêu rơ, chỉ rơ), “bỉ”
là giáo chủ Tây Phương Cực Lạc thế giới,
là vị Phật trong thế giới kia.
(Sớ) Phạm ngữ A,
thử vân Vô.
(疏)
梵語阿,此云無。
(Sớ: A là tiếng Phạn,
được cơi này dịch là Vô).
A là âm tiếng Phạn,
dịch sang nghĩa tiếng Hán là Vô.
(Sớ) Phạm ngữ Di
Đà, thử vân Lượng.
(疏) 梵語彌陀,此云量。
(Sớ: Tiếng Phạn Di
Đà, cơi này dịch là Lượng).
“Thử” là Trung Quốc, [Di Đà dịch sang tiếng
Hán] có nghĩa là Lượng. A Di Đà nghĩa là “vô lượng”.
(Sớ) Ngôn Phật công
đức bất khả cùng tận, cố vân Vô Lượng.
(疏)
言佛功德不可窮盡,故云無量。
(Sớ: Ư nói công đức của
Phật chẳng thể cùng tận, nên nói là Vô Lượng).
“Vô lượng” hàm nghĩa rộng bao la, chẳng
thể nói trọn. Tiếp đó là chữ Phật, Phật
là giác, [A Di Đà Phật] là Vô Lượng Giác. Thân, tâm, thế
giới, vạn sự vạn pháp vô lượng vô biên, Phật
không có ǵ chẳng giác, thứ ǵ cũng đều giác, giác
mà chẳng mê, lúc ấy mới gọi là A Di Đà Phật.
Những ư nghĩa được bao hàm trong danh hiệu này
rất nhiều, nên bảo là “bất
khả cùng tận”.
(Sớ) Như kinh thọ
mạng, quang minh, thị vô lượng trung cô cử nhị
sự, nhiếp dư công đức dă.
(疏) 如經壽命光明,是無量中姑舉二事,攝餘功德也。
(Sớ: Như trong kinh nói
đến thọ mạng và quang minh, chỉ là nêu lên hai
chuyện nhằm gồm thâu những công đức khác).
Trong kinh Di Đà, đức
Phật nói về “vô lượng”
đă nêu đại lược hai thứ là vô lượng
thọ và vô lượng quang. Trên thực tế, Thọ tượng
trưng thời gian, quá khứ, hiện tại, vị lai;
Quang tượng trưng không gian, quang minh chiếu khắp,
mang ư nghĩa này. Nói theo cách bây giờ là “thời không” (thời gian và không gian), những thứ
được bao hàm trong “thời
không” đúng là vô lượng vô biên, mang ư nghĩa này. Đức
Phật chẳng nói “thời
không”, mà nói “quang thọ”,
ư nghĩa này càng thân thiết, sống động hơn! V́
sao? Nói “thời không” th́ thời
gian và không gian là thứ chết cứng; nói “quang thọ” th́ quang thọ là sống động,
ư nghĩa này hết sức sâu mầu! Quang và thọ vô
lượng vô biên, chẳng thể cùng tận, hết thảy
công đức đều được bao gồm!
(Sao) Vô lượng giả, hữu
nhị nghĩa, nhất giả chúng đa vô hữu số
lượng.
(鈔)
無量者,有二義,一者眾多無有數量。
(Sao: “Vô lượng”: Có hai
nghĩa, một là rất nhiều, chẳng có số lượng).
Quá nhiều! “Chúng đa vô hữu số lượng”:
Đây là nói theo phương diện sự vật. Giống
như sâm la vạn tượng trong vũ trụ, những
vật hữu h́nh có số lượng quá nhiều, không thể
đếm được, nên gọi là “vô lượng”.
(Sao) Nhị giả, quảng
đại vô hữu hạn lượng.
(鈔)
二者廣大無有限量。
(Sao: Hai là rộng lớn chẳng
có hạn lượng).
Giống như hư không,
hư không quá lớn, ai có thể biết được bờ
mé của nó? Chẳng ai có thể biết! Chúng ta gọi nó
là “vô lượng”, đấy là nói theo phía hư không.
(Sao) Phục hữu nhị
nghĩa.
(鈔) 復有二義。
(Sao: Lại c̣n có hai nghĩa).
Trong kinh Phật c̣n có
hai ư nghĩa nữa, tức là nói theo cách khác.
(Sao) Nhất giả, thập
đại số trung chi vô lượng.
(鈔)
一者十大數中之無量。
(Sao: Một, “vô lượng”
chính là con số Vô Lượng trong mười con số lớn
[theo cách tính toán của cổ Ấn Độ]).
“Vô lượng” là tên gọi của một con số,
chẳng phải thật sự là vô lượng. Đơn
vị tính toán của Trung Quốc chỉ có hai mươi mấy
thứ, thông thường chúng ta nói một, mười, trăm,
ngàn, vạn, mười vạn, trăm vạn, ngàn vạn,
ức, triệu... Những con số của Ấn Độ
tính từ một, mười, trăm, ngàn, tổng cộng
có hơn năm mươi đơn vị, những con số
càng lên cao đúng là con số thiên văn. “Thập đại số” là mười con số
lớn cuối cùng [trong cách tính ấy].
Mười con số lớn
cuối cùng, thứ nhất là A-tăng-kỳ (Asamkhya), thứ
hai là Vô Lượng (Amita, Ananta), thứ ba là Vô Biên (Aprameya)[3]. Do vậy, Vô Lượng và Vô Biên danh xưng của
những con số. Bao nhiêu A-tăng-kỳ là một Vô Lượng?
A-tăng-kỳ lần A-tăng-kỳ là một Vô Lượng;
Vô Lượng lần Vô Lượng là một Vô Biên, tính toán
như vậy. Con số A-tăng-kỳ hết sức to. Nếu
quư vị muốn biết chuyện này, trong kinh Hoa Nghiêm có
chương Căn Tự Tại Đồng Tử, đă
giảng những tên gọi con số này rất nhiều. Trong
quá khứ, chúng ta đọc chương này, chỉ có thể
đọc theo văn tự, chứ không có biện pháp tính
toán, con số ấy quá lớn. Dẫu lớn đến mấy
th́ Vô Lượng vẫn là có hạn lượng.
Tây Phương Cực
Lạc thế giới A Di Đà Phật thọ mạng là
vô lượng, chúng ta phải hỏi: Rốt cuộc là vô
lượng nào? Có phải là Vô Lượng trong mười
con số lớn hay chăng? Chuyện này chúng ta chẳng cần
phải chia chẻ tận căn tơ kẽ tóc, dù là Vô Lượng
trong mười con số lớn, vẫn đủ dùng! V́
sao? Chẳng phải là nói để thành Phật phải mất
ba A-tăng-kỳ kiếp đó sao? Như vậy th́ thọ
mạng của quư vị là Vô Lượng, tức là A-tăng-kỳ
kiếp lần A-tăng-kỳ kiếp, ba A-tăng-kỳ kiếp
thấm vào đâu? Nói cách khác, văng sanh tới Tây
Phương Cực Lạc thế giới quyết định
thành Phật, không một ai chẳng thành Phật, thời
gian ấy đủ dùng rồi! Huống chi trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới lại chẳng
thoái chuyển, chỉ có tiến lên, từ rày về sau chẳng
thoái chuyển nữa. Nói cách khác, mọi người tới
đó tu hành, quư vị dụng công, sẽ thành Phật nhanh
hơn một chút; quư vị chẳng siêng năng dụng công,
thành Phật chậm hơn một tí, chỉ có tốc độ
khác nhau, quyết định chẳng thoái chuyển. Cho dù là
Vô Lượng có hạn lượng, đối với chúng
ta cũng đủ rồi! Nhưng sau khi thành Phật, thọ
mạng thật sự là vô lượng, chẳng phải là
con số Vô Lượng. Do vậy, chúng ta sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, thọ mạng
của chúng ta là vô lượng có hạn lượng. Cho đến
khi quư vị tới Tây Phương Cực Lạc thế
giới thành Phật, thọ mạng sẽ thật sự là
vô lượng, chẳng phải là vô lượng có hạn
lượng.
Niệm Phật, chúng
ta nhất định phải sốt sắng. Đại
chuyên giảng ṭa trong dịp nghỉ mùa Đông năm nay,
chúng tôi muốn giảng Quán Vô Lượng Thọ Phật
Kinh, nên hôm nay tôi mở Quán Vô Lượng Thọ Phật
Kinh ra xem, tôi c̣n giữ một quyển do pháp sư Đế
Nhàn viết lần đầu vào thời ấy, là bản được
khâu gáy bằng chỉ[4]. Chúng tôi đọc lời tựa bản ấy. Pháp
sư Đế Nhàn là một đại pháp sư lỗi lạc
thời cận đại, là người bậc nhất sống
vào cuối đời Thanh, đầu thời Dân Quốc,
chẳng một pháp sư nào có thể sánh bằng Ngài, Ngài
là tổ sư của tông Thiên Thai thời cận đại.
Trong lời tựa, Ngài đă viết: Chính ḿnh là kẻ hạ
hạ căn, chỉ có niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ. Theo lời tựa ấy, cả đời Ngài
chẳng có ngày nào không niệm Quán Vô Lượng Thọ Phật
Kinh, nhưng Ngài tu hành bằng phương pháp tŕ danh niệm
Phật, và cũng là một vị văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới trong thời cận đại. Do vậy,
đối với những vị đại đức giống
như Ngài, chúng ta thấy Ngẫu Ích đại sư, Ngẫu
Ích đại sư viết Yếu Giải nhằm chú giải
kinh Di Đà được Ấn Quang đại sư tán
thán đến tột bậc: “Dù
cổ Phật tái lai chú giải kinh Di Đà, cũng chẳng
có cách nào hay hơn được!” Quư vị xem lời
tán thán ấy, c̣n ǵ để nói nữa, nhưng chính Ngẫu
Ích đại sư tự nói về ḿnh như thế nào? Hạ
hạ phẩm văng sanh. Ngài viết thư cho bạn bè, trong
[Ngẫu Ích Đại Sư] Toàn Tập có lá thư ấy: “Hạ hạ phẩm văng sanh là
kết cục đă định của đệ”. Ngài đoan
quyết chính ḿnh quyết định văng sanh, nhưng phẩm
vị là Hạ Hạ Phẩm.
Sau khi đọc [lời
ấy], chúng ta phải khéo ngẫm lại ḿnh, chúng ta sanh
trong đời loạn này, đúng vậy, đọc những
tác phẩm của cổ đại đức, [nhận thấy]
quả thật chúng ta nghiệp chướng sâu nặng, chẳng
tu pháp môn này, sẽ chẳng có cách nào cứu cả! Lời
này do pháp sư Đế Nhàn đă nói: “Chẳng tu pháp môn này, chẳng có cách nào cứu cả!”
Chúng tôi nói tới chỗ này, quả thật lời ấy đă
khiến chúng ta rất phấn chấn: Sanh về nơi ấy
là quyết định thành tựu; sau khi thành tựu, sẽ
thật sự là vô lượng.
(Sao) Nhị giả, cánh vô cùng tận
chi vô lượng.
(鈔)
二者更無窮盡之無量。
(Sao: Hai là vô lượng chẳng
có cùng tận).
Thật sự vô
lượng, chẳng có cùng tận .
(Sao) “Cô cử nhị
sự” giả, dĩ vô lượng bất chỉ thọ mạng
quang minh dă, tường như hậu văn trung biện.
(鈔)
姑舉二事者,以無量不止壽命光明也,詳如後文中辯。
(Sao: “Chỉ nêu lên hai sự”: Do
chẳng phải chỉ có thọ mạng và quang minh là vô lượng,
trong phần kinh văn ở phía sau sẽ biện định
cặn kẽ).
Đến phần kinh
văn ở phía sau sẽ giảng rất tỉ mỉ.
(Sớ) Kinh giả, Phạm
ngữ Tu Đa La, thử vân Khế Kinh.
(疏)
經者,梵語脩多羅,此云契經。
(Sớ: “Kinh”: Tiếng Phạn
là Tu Đa La, cơi này dịch là Khế Kinh).
Tiếng Phạn của
Ấn Độ gọi Kinh là Tu Đa La (Sūtra), dịch sang
nghĩa tiếng Hán là Khế Kinh.
(Sớ) Hữu thông biệt
nhị nghĩa, Khế phục nhị nghĩa, Kinh phục
đa nghĩa. Kinh tuy đa nghĩa, bất xuất “quán,
nhiếp, thường, pháp” tứ nghĩa.
(疏) 有通別二義,契復二義,經復多義,經雖多義,不出貫攝常法四義。
(Sớ: Có hai nghĩa Thông và Biệt.
Chữ Khế lại có hai nghĩa. Kinh lại có nhiều
nghĩa. Chữ Kinh tuy có nhiều nghĩa, nhưng chẳng
ngoài bốn nghĩa Quán, Nhiếp, Thường, Pháp).
“Thông” là chung với những thứ khác, đều
gọi là Kinh. Như chúng ta thường niệm kinh Địa
Tạng, đó là kinh, kinh Kim Cang cũng là kinh, kinh Pháp Hoa cũng
là kinh, đều gọi là Kinh. Chữ Kinh này là Thông Đề
(tên gọi chung, tựa đề chung của các bản
kinh Phật). Phàm [những lời giảng dạy] do đức
Phật đă nói, hoặc do Bồ Tát, các vị tiên nhân đă
nói, được Phật ấn chứng, đều có thể
gọi là Kinh. V́ thế, Kinh là Thông Đề.
(Sao) Thông biệt giả, Phật sở
thuyết giáo, tổng danh Tu Đa La, thị chi vị Thông.
(鈔) 通別者,佛所說教,總名脩多羅,是之謂通。
(Sao: “Thông biệt”: Phàm những
giáo pháp do đức Phật đă nói, đều gọi là
Tu Đa La. Đấy là Thông).
“Thị chi vị Thông”: Đây là gọi chung.
(Sao) Tích chi tắc Kinh
danh Tu Đa La, Luật danh Tỳ Nại Da, Luận danh A Tỳ
Đàm (A Tỳ Đạt Ma), thị chi vị Biệt.
(鈔)
析之則經名修多羅,律名毘奈耶,論名阿毘曇(阿毘達摩),是之謂別。
(Sao: Chia chẻ ra th́ Kinh gọi
là Tu Đa La, Luật gọi là Tỳ Nại Da, Luận gọi
là A Tỳ Đàm (A Tỳ Đạt Ma), đó là Biệt).
Ba thứ này đều
do đức Phật nói. Thuở ấy, đức Phật
giảng kinh thuyết pháp chẳng hề chia thành lớp để
dạy học, đều là do các đệ tử xuất
gia hay tại gia có nghi vấn, hướng về đức
Phật thỉnh giáo, một hỏi một đáp như vậy;
về sau, kết tập lại, ghi chép xuống, bèn gọi
là Kinh. Mỗi lần đức Phật giảng, bất
luận nội dung cạn, sâu, ngắn, dài, nói chung cả
ba ư nghĩa ấy đều có. Kinh quá nửa giảng về
Định, nói cách khác, dạy quư vị tu tâm thanh tịnh,
loại này được kết tập lại bèn gọi
là Kinh. Dạy chúng ta đăi người, tiếp vật, vâng
giữ khuôn phép, đặt chính ḿnh vào khuôn khổ như thế
nào, loại này thuộc về Giới Luật. Làm thế nào
để có thể khơi gợi, phát khởi trí huệ của
chính ḿnh, loại này thuộc về Luận. Về sau, chúng
ta quy nạp chúng trở thành Tam Tạng kinh điển, tức
là Kinh, Luật, Luận. Tu Đa La là Kinh Tạng, Tỳ Nại
Da là Luật Tạng, A Tỳ Đàm là Luận Tạng.
Mỗi lần đức
Phật giảng kinh, thuyết pháp, trong nội dung đều
có ba phương diện này. Về sau, phân loại kinh
điển, bèn xét xem, trong bộ kinh này, phần nào trong ba
thứ ấy được giảng nhiều nhất? Dựa
trên phân lượng nhiều nhất để quy nạp,
phân loại. Chẳng hạn như đối với bộ
kinh này, hoàn toàn dạy chúng ta “nhất
tâm bất loạn, tâm chẳng điên đảo”, chẳng
hề nói tới Luật, cho nên vô cùng thuần! Kinh Lăng
Nghiêm, nửa sau quyển thứ sáu là “tứ chủng thanh tịnh minh hối” (bốn
thứ giáo huấn thanh tịnh, trong sáng) giảng giới
luật, giảng căn bản giới. Trong kinh Lăng
Nghiêm, đức Phật và các vị Bồ Tát thảo luận,
nên có luận. Trong mười quyển kinh văn, hầu
như bảy quyển giảng về Xa Ma Tha, Tam Ma và Thiền
Na, giảng về Định nhiều nhất, nên Lăng
Nghiêm được quy về Kinh Tạng. Như trong kinh Hoa
Nghiêm có luận, cũng có chỗ thảo luận, mà cũng
có chỗ nói về giới luật như phẩm Tịnh
Hạnh và phẩm Phạm Hạnh, đó là giới luật,
nhưng chiếm phần lớn vẫn là giảng Định,
nên vẫn y như cũ, quy nạp vào Kinh Tạng. Trong giới
kinh cũng có giảng Định, cũng có giảng Huệ,
nhưng giảng Giới khá nhiều, bèn quy nạp vào Luật
Tạng. Những điều này đều là Phật học
thường thức.
(Sao) “Khế phục nhị
nghĩa” giả, nhất giả khế lư, tắc hợp đạo
chi ngôn; nhị giả, khế cơ, tắc đậu căn
chi giáo
(鈔) 契復二義者,一者契理,則合道之言;二者契機,則逗根之教。
(Sao: “Khế lại
có hai nghĩa”: Một là khế lư, tức là nói lời hợp đạo; hai là khế cơ,
tức giáo pháp phù hợp căn cơ).
“Khế” (契) chứa đựng hai ư nghĩa, hai ư nghĩa ấy
chẳng thể thiếu, thường nói là: “Thượng khế chư Phật
sở chứng chi Lư, hạ khế chúng sanh khả độ
chi cơ” (trên khế hợp với Lư được chứng
bởi chư Phật, dưới khế hợp căn cơ
của chúng sanh đáng độ). Nói đơn giản, đức
Phật nói sâu hay cạn, nói dài hay ngắn, nhất định
chẳng thể trái nghịch chân lư, đó là Khế Lư. Chân
lư là Thật Tướng của các pháp, là chân tướng
của vũ trụ và nhân sinh. Do Khế Lư, nên lời nói chân
thật, chẳng dối gạt người khác, nhất
định phải đúng Lư. Hết thảy chư Phật
chứng cùng một Lư, cho nên chân lư chỉ có một, sở
chứng của hết thảy chư Phật nhất
định phải tương ứng, khế hợp điều
này. Đồng thời, nhất định phải thích hợp
căn tánh tức là tŕnh độ của chúng sanh trong hiện
đại th́ họ sẽ có thể tiếp nhận. Nếu
họ chẳng thể tiếp nhận, chẳng phải là
quư vị đă uổng công nói hay sao? Do vậy, nhất
định phải Khế Cơ.
Nhưng chư vị phải nhớ, nay
chúng ta chẳng gặp Phật. Nếu quư vị gặp Phật,
nhất định Phật sẽ chẳng giảng kinh Hoa
Nghiêm cho quư vị, mà cũng chẳng giảng kinh Pháp Hoa, Đại
Trí Độ Luận, Đại Thừa Khởi Tín Luận,
v́ sao? Chẳng khế cơ, giảng [những thứ kinh
luận ấy] cho quư vị sẽ vô ích, quư vị làm không
được. Hiện thời, nếu quư vị gặp Thích
Ca Mâu Ni Phật, đại khái ngay cả kinh Di Đà Thích
Ca Mâu Ni Phật cũng chẳng nói với quư vị, mà chỉ
nói một câu: “Hăy thật thà, trở về nhà niệm A Di
Đà Phật”. Như thế là được, quư vị
có thể thành công, thật đấy, chẳng giả tí nào!
Trong thời kỳ Mạt Pháp hiện thời, chúng ta là kẻ
nghiệp chướng sâu nặng, ngoài một câu A Di Đà
Phật ra, chẳng có cách nào cứu được! Nhưng
một câu A Di Đà Phật này: “Trên
khế hợp với Lư được chứng bởi
chư Phật, dưới khế hợp căn cơ của
chúng sanh đáng độ ”, quyết định có thể
thành tựu.
Ngày hôm qua có bốn vị
cư sĩ từ Cao Hùng tới, đại khái họ đă
nghe băng thâu âm rất lâu, đến đây t́m tôi. Tôi kể
với họ chuyện bà cụ ở làng Tướng Quân mười
năm trước, niệm Phật ba năm bèn đứng
văng sanh, mấy người họ hiểu được!
V́ thế, một câu Phật hiệu hăy khéo niệm, thành tựu
chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta nghe băng thâu âm lời
khai thị lăo pháp sư Đàm Hư trong Phật Thất,
Ngài có nói về một vị pháp sư đồ đệ
của ngài Đế Nhàn, coi như đồng học [của
pháp sư Đàm Hư], cũng niệm Phật ba năm, đứng
văng sanh, biết trước lúc mất, chẳng bị bệnh
khổ, đấy là gương tốt cho chúng ta. Do vậy,
một câu Phật hiệu thật sự khế cơ, khế
lư!
(Sao) Kim lược Khế
tự, đản danh viết Kinh giả, tỉnh văn
dă.
(鈔) 今略契字,但名曰經者,省文也。
(Sao: Nay lược bớt chữ
Khế, chỉ nói là Kinh, tức là tỉnh lược vậy).
Người Trung Quốc
có thói quen thích đơn giản, không thích rườm rà, chẳng
thích rắc rối; v́ thế, tỉnh lược chữ
Khế, chỉ gọi là Kinh.
(Sao) Kinh phục đa
nghĩa giả.
(鈔) 經復多義者。
(Sao: Kinh lại có nhiều
nghĩa).
Trong một chữ
Kinh, hàm chứa nhiều nghĩa.
(Sao) Hoa Nghiêm Sớ dẫn
Tạp Tâm ngũ nghĩa.
(鈔)
華嚴疏引雜心五義。
(Sao: Sách Hoa Nghiêm dẫn năm
ư nghĩa [của chữ Kinh] từ Tạp Tâm Luận).
Trong Hoa Nghiêm Kinh Sớ,
Thanh Lương đại sư giảng chữ Kinh này có
tất cả mười ư nghĩa, có mười cách giải
thích. Trong Tạp Tâm Luận[5]
giảng chữ Kinh có năm ư nghĩa.
(Sao) Vị: Nhất, xuất
sanh.
(鈔) 謂:一、出生。
(Sao: Nghĩa là: Một, sanh
ra).
“Xuất sanh” là sanh khởi, dùng ư nghĩa này để
giảng.
(Sao) Nhị, hiển thị.
(鈔) 二、顯示。
(Sao: Hai là chỉ bày rơ ràng).
“Hiển” là rơ ràng, “thị”
phô bày. Nói cách khác, Như Lai giảng hết thảy Pháp
Tướng, nói rơ ràng, rành rẽ, giống như trong pḥng
triển lăm, bày cho chúng ta thấy các món đồ, mang ư
nghĩa này.
(Sao) Tam, dũng tuyền.
(鈔) 三、涌泉。
(Sao: Ba là suối phun).
Ư nghĩa này khá dễ
hiểu, giống như nước suối phun lên, dùng ư
nghĩa này để diễn tả: Những ư nghĩa được
bao hàm trong kinh chẳng có cùng tận! Chẳng hạn như
bộ kinh này, quả thật chẳng giống sách vở thế
gian; quư vị đọc sách vở thế gian một lần
đă hiểu ư nghĩa, quư vị đọc lần thứ
hai vẫn thấy ư nghĩa ấy, đọc lần thứ
ba, vẫn là ư nghĩa đó. Do vậy, đọc đôi ba
lượt chẳng muốn đọc nữa, v́ sao? Chẳng
có ư nghĩa mới mẻ nào nữa! Đó là ǵ? Nước
tù đọng. Kinh Phật khác hẳn, kinh Phật quư vị
đọc mỗi lần đều có ư nghĩa [mới mẻ
của] mỗi lần, đọc lần sau lại có ư nghĩa
mới, ư nghĩa vĩnh viễn chẳng cùng tận. Sơ
phát tâm học một bộ kinh, trong tương lai học
tới khi thành Phật, vẫn có thể học một bộ
kinh ấy, ư nghĩa vẫn chẳng cùng tận. Do vậy,
trong kinh chứa đựng vô lượng nghĩa! Các đồng
tu sơ học, có những người thấy kinh văn quá
sâu, đọc không hiểu, chẳng muốn đọc nữa,
trật rồi! Đọc không hiểu bèn chẳng muốn
niệm, giống như nước suối ngầm ở
dưới đất, chẳng được đào bới.
Quư vị bỏ chút công phu đào ra, sau khi đă thấy nước,
nguồn nước vĩnh viễn chẳng khô cạn, lấy
măi chẳng hết, dùng măi chẳng hết, “Kinh” là như vậy. V́ thế,
cổ nhân nói: “Độc
thư thiên biến, kỳ nghĩa tự kiến” (đọc
sách ngàn lần, tự thấy được ư nghĩa).
Hiện tại học
thứ này thứ nọ khó lắm, không giống như thời
cổ, thời cổ thật sự có thiện tri thức,
hiện tại không có. V́ thế, chúng ta hiện thời chẳng
có phước báo lớn như cổ nhân, hiện tại
không có thiện tri thức chân chánh. Không có thiện tri thức,
chúng ta học với ai? Chúng ta chỉ c̣n cách học với
cổ nhân, chắc chắn sẽ không đi sai đường,
chắc chắn sẽ không lạc vào tà đạo. Nói cách
khác, học với cổ nhân nhất định đáng
tin cậy. Nay chúng ta mở Sớ Sao ra, học với Liên
Tŕ đại sư; đọc Sớ Sao là nghe Liên Tŕ đại
sư khai thị cho chúng ta. Ngài khai thị, chúng ta nghe không
hiểu, nghe không hiểu chẳng sao cả, lại nghe lần
thứ hai, lần thứ hai nghe vẫn không hiểu, lại
nghe lần thứ ba. Chỉ cần quư vị không ngừng
tiếp tục xem măi như vậy, nghiêm túc đọc bộ
Sớ Sao này từ đầu đến cuối, chẳng
cần nhiều, mỗi ngày đọc một giờ, đọc
ba năm hay năm năm, quư vị chắc chắn khai ngộ.
Quư vị không chịu làm th́ chẳng có cách nào hết!
“Ta dùng thời gian ba
năm để đọc Đại Tạng Kinh”, [làm như
vậy] chắc chắn quư vị chẳng thể khai ngộ,
v́ sao? Xem phần trước, chẳng biết phần sau,
xem phần sau, quên sạch phần trước, làm sao quư vị
có thể khai ngộ được? Không thể nào có chuyện
ấy được! Đấy đúng là như ngài Thanh
Lương đă nói: “Chẳng tăng trưởng vô minh, bèn
tăng trưởng tà kiến”, điều này hết sức
đáng sợ. Chúng ta muốn học đạo, rốt cuộc
đến cuối cùng đạt được hậu quả
trái ngược, chúng ta đi ngược đường,
sai lầm quá đỗi to lớn! Do vậy, tôi mong mỏi
các đồng tu, chúng ta đă phát đạo tâm mong thật
sự thành tựu, hăy dùng theo cách của cổ nhân, dồn
công sức nơi một bộ kinh th́ mới có thể
thành tựu. Kinh có ư nghĩa vĩnh viễn chẳng cùng tận,
đó là ư nghĩa của chữ “dũng
tuyền”.
(Sao) Tứ, thằng mặc.
(鈔) 四、繩墨。
(Sao: Bốn là dây mực).
“Thằng mặc”: Xưa kia, nếu thợ mộc
cưa gỗ, sẽ dùng “mặc đẩu”[6]
để kéo căng sợi dây, kéo thẳng sợi dây [đă
nhúng mực, rồi nắm sợi dây búng nhẹ] để
in một đường [nhằm đánh dấu chỗ sẽ
cưa trên gỗ], đấy là “thằng
mặc”. Đă vạch một đường thẳng,
cưa theo đó, cứ chiếu theo đường thẳng
ấy mà cưa. Hiện thời khoa học kỹ thuật
tiến bộ, không cần đến thứ này. “Thằng mặc” có thể vạch
một đường thẳng, nên cứ cưa theo đó
sẽ chẳng bị cong quẹo. Dùng ư nghĩa này nhằm
nói [kinh Phật là tiêu chuẩn để] phân biệt tà, chánh.
Lư luận, phương pháp và cảnh giới trong kinh đều
là chính xác, chẳng tà vạy, cho nên kinh có ư nghĩa “thằng mặc”. Chúng ta tu
hành phải có tiêu chuẩn, lấy ǵ làm tiêu chuẩn? Lấy
kinh điển làm tiêu chuẩn. Giống như thợ mộc,
ta phải cưa theo đường thẳng, đường
thẳng ấy dùng ǵ để làm chuẩn? Dùng dây mực để
vạch tiêu chuẩn, dùng ư nghĩa này.
(Sao) Ngũ, kết man.
(鈔) 五、結鬘。
(Sao: Năm là kết tràng hoa).
“Man” (鬘) là ṿng hoa, dùng nhiều hoa xâu lại thành ṿng khoác trên cổ.
Người Ấn Độ rất thích trang sức theo kiểu
này. Đức Phật cũng thường dùng chuyện này
làm tỷ dụ. Tràng hoa do [các thứ hoa] xâu kết lại,
dùng ư nghĩa này, giữ cho hoa chẳng đến nỗi rơi
mất. [Kinh Phật có thể] liên kết các pháp, dùng ư
nghĩa này.
(Sao) Phật Địa
nhị nghĩa, vị nhất quán xuyên, vị nhất nhiếp
tŕ.
(鈔) 佛地二義,謂一貫穿,謂一攝持。
(Sao: Theo Phật Địa Luận,
Kinh có hai nghĩa, một là xuyên suốt, hai là tóm giữ).
Phật Địa Luận
giải thích chữ Kinh bằng hai ư nghĩa Quán và Nhiếp.
Chữ “quán xuyên” giống với
ư nghĩa “kết man” trong phần
trên. “Nhiếp tŕ”: Các tác phẩm
văn chương thế gian không có sức [lôi cuốn], nắm
giữ tâm hồn con người. Văn chương thế
gian hay nhất, quư vị đọc một lần xong, hăy
c̣n muốn xem, xem hai lượt vẫn c̣n muốn xem, giống
như nam châm có thể thu hút quư vị. Tuy nó có thể thu hút,
nhưng sức mạnh hữu hạn, v́ sao? Quư vị xem liên
tục hai mươi lượt, ba mươi lượt,
chẳng muốn đọc nữa, có thể thấy sức
mạnh của nó cũng không mạnh mẽ lắm! Văn
chương chẳng hay, đương nhiên đọc một
lần c̣n chưa được, đọc mấy ḍng đầu
đă chẳng muốn xem tiếp. Văn chương hay có
thể đọc từ đầu tới cuối, rất
tán thưởng, c̣n có thể đọc lần thứ hai,
lần thứ ba, đọc thêm vài lần, sẽ chẳng
muốn coi nữa. Nhưng kinh Phật khác hẳn, quư vị
càng đọc càng ưa thích, sau khi xem đúng là chẳng thể
buông xuống, thật đúng như người ta thường
nói: Quư vị đắc “cá
trung tam muội” (đạt được ư nghĩa
tinh ṛng và bí quyết). Thường nếm được ư
vị ấy, ư nghĩa ào ạt xuất hiện, thật sự
được thụ dụng, kinh có sức [ảnh hưởng]
ấy khiến quư vị đọc suốt cả đời
cả kiếp vẫn chẳng chán. Dẫu là một bộ
kinh, nhưng quư vị thật sự thâm nhập, nó sẽ
có sức mạnh ấy! Quư vị có thể cả ngày không
ăn cơm, có thể suốt ngày chẳng ngủ, nhưng
một ngày chẳng thể không đọc kinh, sức mạnh
ấy được gọi là “nhiếp
tŕ”. Kinh Phật có sức mạnh ấy!
(Sao) Thử phương
tứ nghĩa.
(鈔) 此方四義。
(Sao: Phương này, dùng bốn
nghĩa).
“Thử phương” là Trung Quốc. Đối với
kinh điển của cổ nhân cũng có bốn ư
nghĩa, giống như chúng ta tôn xưng sách vở do cổ
thánh tiên hiền lưu lại là “kinh”. Nho gia Trung Quốc có
mười ba kinh, sách Trang Tử của Đạo Gia được
tôn xưng là Nam Hoa Kinh[7],
sách của Lăo Tử được tôn xưng là Đạo
Đức Kinh, những kinh ấy đều có bốn ư
nghĩa.
(Sao) Vị nhất
thường, nhị pháp, tam kính, tứ điển, cố
vân “đa nghĩa”. “Bất xuất tứ nghĩa” giả,
chỉ “quán, nhiếp, thường, pháp” tứ tự dă.
(鈔) 謂一常,二法,三逕,四典,故云多義。不出四義者,指貫攝常法四字也。
(Sao: Tức là một là thường,
hai là pháp, ba là đường lối, bốn là khuôn mẫu,
nên nói là “nhiều nghĩa”. “Chẳng ra ngoài bốn
nghĩa” tức là nói về bốn chữ “quán, nhiếp,
thường, pháp” vậy).
Thứ nhất là Thường,
siêu việt thời gian và không gian. Bộ Luận Ngữ của
Khổng lăo phu tử được chúng ta gọi là Kinh,
do Ngài đă nói từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước,
nay chúng ta mở ra đọc, vẫn sử dụng được.
Đó là vượt thời gian, vượt không gian. Người
Trung Quốc đọc sách ấy, thích hợp, vẫn có thể
sử dụng được. Người Nhật đọc
Luận Ngữ cũng có thể sử dụng được!
Hiện thời, người Nhật có nhiều ưu điểm
hơn người Hoa, nay người Hoa coi sách ấy như
đồ bỏ, nhưng người Nhật vẫn dùng.
Do vậy, tuy Nhật Bản bại trận trong Đệ
Nhị Thế Chiến, hiện nay họ là nước bậc
nhất trên thế giới. Quư vị muốn t́m nguyên nhân ư?
Họ chọn lựa, giữ lấy tinh thần Nho gia, tận
lực phát triển khoa học kỹ thuật Tây
Phương, cho nên hiện thời trên thế giới không
ai có thể sánh bằng họ, đạo lư ở chỗ này.
Cơ sở và cội nguồn văn hóa của người
Nhật đều là những thứ của Trung Quốc,
họ học từ Trung Quốc. Dân tộc họ có tánh chất
bảo tồn truyền thống rất mạnh, đó là ưu
điểm lớn nhất của họ. Họ học từ
Trung Quốc, măi cho đến ngày nay vẫn c̣n duy tŕ được.
Người Nhật mặc Ḥa phục, đấy là trang
phục của người Hoa thời cổ, người
Nhật chế ra y phục từ đâu? Lấy cách thức
từ Trung Hoa, chiếu theo kiểu đó mà may cắt. Ḥa
phục (Wafuku) c̣n gọi là Ngô phục (Gofuku), học ở
đâu ra? Từ nước Ngô thời Xuân Thu, tức tỉnh
Giang Tô [hiện tại]. Họ sống trong nhà lót nền bằng
chiếu tatami là cách thức kiến trúc của Trung Quốc
vào thời Xuân Thu, sau khi học được măi cho đến
hiện tại chẳng biến đổi, vẫn giữ
như thế.
Nay chúng ta đọc cổ
thư, nhất là đọc Lễ Kư, đúng là đọc
sách mà chẳng biết sách nói ǵ? Nhưng đến thăm
Nhật Bản, thấy giống hệt như trong Lễ Kư
đă nói. Chẳng hạn như trong Lễ Kư nói: Nếu quư
vị bước vào cổng nhà người ta, thấy ở
cửa đặt hai đôi giầy, chớ nên tùy tiện
bước vào. Nay chúng ta bước vào cửa, trong pḥng khách
đâu có đặt hai đôi giầy? Mới hiểu [bên
Nhật, nền nhà lót bằng thảm] tatami, đi trên
tatami th́ phải đặt giầy bên ngoài. Có lẽ hai người
họ đang bàn chuyện ǵ cơ mật, quư vị bước
vào sẽ khiến người ta rất ngượng ngùng,
đó là thất lễ. [Sách Lễ Kư nói] khách quư đến,
“trùng tịch” (chồng chiếu)
để ngồi, nay chúng ta chẳng hiểu “trùng tịch” là ǵ? Chúng ta
đều ngồi trên ghế. Hóa ra, trên thảm tatatami, có đặt
cái đệm để ngồi. Đối với khách quư,
nhằm đặc biệt tiếp đăi, xếp hai cái đệm
[chồng lên nhau], hai cái đệm thể hiện sự tôn
kính nhất. V́ thế, đến chỗ người ta, vừa
nh́n liền biết cách sống của họ hoàn toàn tuân
theo Lễ Kư. Người Nhật bắt đầu học
những thứ của Trung Quốc từ thời Xuân Thu, mỗi
triều đại đều cử du học sinh sang Trung
Hoa du học. V́ thế, văn hóa Trung Quốc quả thật
đều [được bảo tồn] tại Nhật Bản.
Tới Nhật Bản, thấy những phong tục, tập
quán, văn vật thuộc thời đại Xuân Thu của
Trung Hoa, chúng tôi rất khâm phục họ, họ có thể bảo
tồn. “Thường” là vượt
thời gian, vượt không gian. Hiện thời, tư tưởng
Nho gia được truyền bá sang Mỹ, Âu Châu, điều
ǵ có thể sử dụng, điều ǵ được họ
ưa thích, họ sẽ tiếp nhận rất dễ dàng.
Đây là ư nghĩa của chữ Thường, tức là vượt
thời gian, vượt không gian.
Thứ hai là Pháp, tức
là nguyên lư, nguyên tắc, phép tắc. Phép tắc ấy bất
biến, chiếu theo phương pháp ấy để làm,
nhất định sẽ thông suốt, đó là Pháp. Do vậy,
Pháp có nghĩa là “quỹ tắc”
(軌則:
khuôn khổ, đường lối).
Thứ ba là Kính (逕), tức con đường nhỏ, đường
gần, là đường của thánh hiền đi. Quư vị
noi theo con đường ấy để đi, sẽ
thành thánh, thành hiền.
Thứ tư là Điển (典), tức là điều được xưa lẫn
nay đề cao, hết thảy mọi người bằng
ḷng tuân thủ, tôn trọng, tôn sùng.
(Sao) Lương dĩ
Kinh tự, Tây Vực chánh phiên vi Tuyến. Tuyến hữu Quán
Tŕ nghĩa, Quán tắc quán xuyên sở thuyết chi lư, Tŕ tắc
nhiếp tŕ sở hóa chi sanh. Thử nhị túc cai xuất
sanh ngũ nghĩa.
(鈔)良以經字,西域正翻為線,線有貫持義,貫則貫穿所說之理,持則攝持所化之生,此二足該出生五義。
(Sao: Ấy là v́ chữ Kinh
trong tiếng Tây Vực dịch sát nghĩa là Tuyến (sợi
dây), v́ Tuyến có ư nghĩa Quán Tŕ: Quán là xuyên suốt, liên kết
Lư đă nói, Tŕ là giữ ǵn những chúng sanh được
hóa độ. Hai nghĩa này đủ để bao gồm
năm nghĩa như xuất sanh v.v...).
Kế đó, giải thích
hai ư nghĩa Quán và Nhiếp. Hai ư nghĩa Quán và Nhiếp ấy
có thể bao quát năm ư nghĩa được giảng
trong Tạp Tâm Luận. Nói cách khác, hai ư nghĩa Quán và Nhiếp
này có thể bao quát trọn vẹn rất nhiều cách cổ
nhân giải thích ư nghĩa của chữ Kinh. Ở đây,
rất rơ rệt là đại sư chỉ dùng hai chữ này
để bao gồm các ư nghĩa khác. V́ thế, hai chữ
này được đặc biệt coi trọng!
(Sao) Nhi thử phương kinh
điển, diệc danh viết Kinh.
(鈔) 而此方經典,亦名曰經。
(Sao: Nhưng kinh điển ở
phương này cũng được gọi là Kinh).
Kinh điển của
Trung Quốc cũng gọi là Kinh. Chúng ta cũng tôn xưng trước
thuật của cổ thánh tiên hiền là Kinh; nhưng trong kinh
điển của Trung Hoa không có ư nghĩa Tuyến, c̣n Tu Đa
La của nhà Phật có ư nghĩa Tuyến, Tuyến là xuyên
suốt.
(Sao) Kinh thị Tuyến nghĩa.
(鈔) 經是線義。
(Sao: Kinh có nghĩa là Tuyến).
Khế Kinh có nghĩa
gốc là Tuyến.
(Sao) Thử phương bất
quư Tuyến.
(鈔) 此方不貴線。
(Sao: Cơi này không coi trọng Tuyến).
Người Hoa đối
với chữ Tuyến chẳng coi trọng lắm, cho nên
lược bỏ chữ Khế [trong Khế Kinh].
(Sao) Cố trực thủ Kinh tự,
nhi gia dĩ Khế.
(鈔) 故直取經字,而加以契。
(Sao: Nên lấy ngay chữ Kinh,
thêm vào chữ Khế).
Khi phiên dịch th́ đối
với chữ Tu Đa La mới dịch thành Khế Kinh.
(Sao) Cổ xưng tối
vi doăn đáng.
(鈔) 古稱最為允當。
(Sao: Cách gọi theo lối cổ
là thích đáng nhất).
Thời cổ dùng danh
xưng Khế Kinh để dịch chữ Tu Đa La, mọi
người công nhận cách dịch ấy hết sức
thích đáng.
(Sao) Hựu, Thường
giả, cổ kim bất dịch. Pháp giả, cận viễn
đồng tôn.
(鈔) 又常者,古今不易。法者,近遠同尊。
(Sao:
Lại nữa, Thường là xưa nay chẳng thay
đổi. Pháp là xa gần cùng tôn trọng).
Đây là giải thích hai
ư nghĩa Thường và Pháp. Dùng hai chữ Thường và
Pháp có thể bao quát bốn ư nghĩa của [kinh điển]
Trung Quốc (tức là Thường, Pháp, Kính, Điển),
Kính và Điển có thể gộp trong hai chữ này. Thường
là xưa nay chẳng đổi, đó là Thường, đó
là “thường đạo”
(đạo thường hằng). Căn bản của văn
hóa Trung Quốc luân thường, Luân (倫) là tổ chức luân lư. [Do có] Ngũ Luân nên quan hệ
giữa con người với nhau vô cùng mật thiết.
Ngũ Luân bắt đầu từ vợ chồng, vợ
chồng sống chung một nhà, tối thiểu là chung một
pḥng, ngoài pḥng là gia đ́nh. Trong gia đ́nh có cha con, anh em.
Bên ngoài nhà là xă hội, quốc gia và xă hội. Trong quốc
gia có vua tôi, bằng hữu. Nói “quân
thần” th́ “quân” (君) là người lănh đạo, “thần” (臣) là người bị lănh đạo.
Chúng ta làm mọi chuyện trong xă hội, th́ cấp trên của
quư vị là Quân, quư vị là Thần. Nếu quư vị làm một
ông chủ nhỏ th́ quư vị là Quân, nhân viên của quư vị
là Thần. Do vậy, chữ Quân không nhất định chỉ
đế vương, trong xă hội có mối quan hệ giữa
trưởng quan (cấp trên) và bộ thuộc (nhân viên, thuộc
hạ); “b́nh bối” (bằng
vai phải lứa) là quan hệ bạn bè. Tổ chức xă
hội Trung Quốc là xă hội Ngũ Luân. Thời cổ, Trung
Quốc không có hai chữ “đoàn kết” v́ bản thân
Ngũ Luân đă là đoàn kết. “Tứ hải chi nội giai huynh đệ” (trong
bốn biển đều là anh em). Bạn của bạn bè,
hàng xóm của xóm giềng, mở rộng ra là một quốc
gia; quốc gia dân tộc đích xác là một chỉnh thể.
Ngũ Luân là tổ chức,
duy tŕ Ngũ Luân bằng Ngũ Thường, đấy là thường
đạo. “Thường”
là một tiêu chuẩn làm người của người
Hoa, tức tiêu chuẩn đạo đức, Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nhân Từ là từ ḿnh bèn nghĩ
đến người, hễ nghĩ đến ta bèn
cũng nghĩ tới người khác. Do vậy, chữ
Nhân là chữ Hội Ư[8].
Nhân (仁) là hai người, tức là khi quư vị nghĩ
đến ḿnh th́ cũng phải nghĩ tới người
khác, suy từ ḿnh mà nghĩ đến người khác,
đó là Nhân. Nghĩa (義) là trọn hết nghĩa vụ,
chẳng bàn tới quyền lợi. Chúng ta là địa vị
ǵ, mang thân phận ǵ, nên làm chuyện ǵ, đều phải
tận tâm tận lực thực hiện tốt đẹp,
trọn hết nghĩa vụ. Lễ (禮) là có chừng mực, chẳng quá lố, mà cũng chớ
nên dễ dăi, xă hội sẽ có trật tự, mọi
người đều yên tâm, Lễ có thể an tâm. Trí (智) là lư trí, hoàn toàn tương đồng với chủ
trương của Phật pháp, xử sự, đăi
người, tiếp vật phải dùng lư trí. Tín (信) là đáng tin cậy, đấy là đạo đức
cơ bản. Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín là Ngũ Thường, là thường đạo! Xưa
nay, trong ngoài nước, vĩnh viễn chẳng thể thay
đổi, ai nấy đều phải tuân thủ.
Sách Lễ Kư ghi: “Nhân khí thường, tắc yêu
hưng” (con người vứt bỏ lẽ thường,
ắt yêu quái dấy lên). Thường là ǵ? Chính là năm điều
ấy, tức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, chúng ta thảy đều
từ bỏ, cũng không nói tới, yêu ma quỷ quái trên thế
giới này thảy đều xuất hiện, v́ sao? V́ yêu
ma quỷ quái chẳng bàn tới Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
Con người nhất định phải nói tới Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, nay chúng ta gọi [năm điều
này là] “nhân cách”. Nhân cách là
tư cách làm người, tư cách làm người là ǵ? Chính
là năm điều ấy. Nếu không có năm điều
ấy, sẽ thiếu tư cách làm người! Thiếu tư
cách làm người, hiện thời vẫn mang h́nh dáng con người,
nhưng quư vị một hơi thở ra không hít vào được
sẽ đi vào tam ác đạo, chẳng thể được
làm thân người nữa! Nếu quư vị muốn đời
sau c̣n được làm thân người, quư vị hăy khéo
giữ ǵn nhân cách, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Muốn sanh
lên trời, phải tăng cường năm điều
kiện ấy, phải tu Thập Thiện Nghiệp Đạo
mới có thể sanh thiên, tư cách của thiên phải cao
hơn con người.
“Pháp giả, cận viễn đồng tôn” (Pháp là
xa gần cùng tôn trọng), “tôn”
là tôn trọng, mà cũng có thể hiểu là tuân thủ, đó
là Pháp, tức phép tắc, giống như pháp luật của
quốc gia, trên cả nước phải cùng nhau tuân thủ.
Pháp do cổ thánh tiên hiền đă lập, đích xác chẳng
hạn chế trong một nước, một dân tộc, mà
có thể nói: Đối với các phép tắc do tổ tiên đă
lập, hết thảy các quốc gia, dân tộc đều
phải tuân thủ, v́ sao? Quư vị tuân thủ th́ quốc
gia của quư vị sẽ ổn định lâu dài, thiên hạ
thái b́nh. Hiện thời, chính phủ đang nói tới chuyện
an ḥa lợi lạc. Nếu thật sự muốn đạt
tới an ḥa lợi lạc, nhất định phải
tuân thủ. Quư vị giữ đúng pháp của các bậc
thánh hiền, sẽ thành công. Phật pháp có phạm vi càng lớn
hơn nữa, đối tượng của nó là trọn
hết hư không khắp pháp giới, chẳng hạn chế
trong quả địa cầu này! Quư vị giữ vững
những phép tắc ấy của Phật th́ sẽ có thể
thành Phật, có thể thành Bồ Tát, lợi ích ấy các
pháp thế gian trọn chẳng thể sánh được.
(Sao) Thường tắc
cửu nhi hành chi.
(鈔) 常則久而行之。
(Sao: Thường là đă
được thực hành từ lâu).
“Thường” là vượt thời gian. Thánh nhân
lập pháp quả thật rất lỗi lạc. Trong quá khứ,
tiên sinh Phương Đông Mỹ đă bảo tôi rất
nhiều lần, cụ nói suốt một đời cụ,
đọc sách cụ bội phục Châu Lễ nhất. Khi
ấy, cụ khuyên tôi xem, nhưng tôi chẳng xem. Hiến
pháp đời Châu do Châu Công[9] chế định. Tại Trung Quốc, triều đại
nhà Châu có lịch sử dài nhất, tám trăm năm! Bất
luận triều đại nào của Trung Quốc, chẳng
có triều đại nào lâu dài như vậy. Đáng tiếc
là con cháu đời sau của triều đ́nh nhà Châu chẳng
làm đúng với hiến pháp. Nếu làm đúng hiến
pháp, thật sự là ngàn năm vạn đời chẳng
thể vong quốc! Phương tiên sinh bảo tôi: Xưa
nay, trong ngoài nước, hiến pháp của mỗi quốc
gia, dân tộc đều chẳng hoàn thiện bằng Châu
Lễ, quả thật là tuyệt diệu! Về sau, tôi học
Phật, chẳng học những chuyện ấy, cho nên cũng
chẳng đọc [Châu Lễ], nhưng lời thầy nói
với tôi đă tạo thành ấn tượng vô cùng sâu đậm,
cụ nói: “Tác phẩm ấy của Châu Công đúng là một
bộ hiến pháp vô cùng hoàn mỹ”. Đó là Thường,
có thể thật sự vượt thoát thời gian lẫn
không gian.
(Sao) Hữu cộng diêu
nghĩa, tức danh vi Kính.
(鈔) 有共繇義,即名為逕。
(Sao: Lại c̣n có ư nghĩa là
đường lối, duyên do chung, nên gọi là Kính).
Kính (逕) là con đường,
là nơi mọi người cùng đi. Diêu (繇) là “do” trong “căn do” (根由). Đức Phật
thành đạo, Bồ Tát thành đạo đều v́ nhân
duyên và nguyên nhân ấy. Chúng ta tu học nếu dùng nguyên nhân
này, đương nhiên cũng có thể thành tựu. Nếu
hiểu [Kính] có nghĩa là đường nẻo th́ cũng
hợp lư, người ta đi theo con đường ấy
có thể thành Phật, có thể thành Bồ Tát, nay chúng ta cũng
đi theo đường này, nhất định cũng có
thể thành Phật, thành Bồ Tát, mang ư nghĩa này. Chúng ta
thuộc thời cận đại, thời cổ lại
càng chẳng cần phải nói. Quư vị xem Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục, Văng Sanh Truyện, nh́n vào những người
văng sanh trong thời cận đại, hăy nên giác ngộ. Do
con đường Niệm Phật thật sự có thể
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng
phải là giả. Những người đó dùng phương
pháp này, họ thành công; nay chúng ta noi theo con đường
này để đi, nhất định cũng có thể
thành công, quyết định đừng nên hoài nghi.
Gần đây nhất,
chúng tôi in ba thứ bản dịch của kinh Di Đà, chư
vị hăy nên nghiên cứu kỹ càng, chắc chắn sẽ
chẳng hoài nghi kinh A Di Đà. Quư vị đọc bản
dịch của Huyền Trang đại sư, đọc bản
hội tập của cư sĩ Hạ Liên Cư, ư
nghĩa hết sức rơ ràng, sẽ hiểu chúng ta phải
biết cách đọc như thế nào, cách tu ra sao? V́ bản
chúng ta thường niệm là bản dịch của Cưu
Ma La Thập đại sư, Ngài dịch đơn giản,
có khá nhiều ư nghĩa trong ấy, nhưng do văn tự
giản lược, chúng ta nh́n không ra. Thí dụ như “A Di Đà Phật thành Phật dĩ
lai, ư kim thập kiếp” (từ khi A Di Đà Phật
thành Phật đến nay là mười kiếp), kiếp có
đại kiếp, trung kiếp, tiểu kiếp, rốt
cuộc là kiếp nào? Bản dịch của Huyền Trang
đại sư nói rơ là mười đại kiếp, chẳng
phải tiểu kiếp. Bản của La Thập đại
sư ghi “nhất tâm bất loạn”,
chúng ta cảm thấy rất khó khăn. Bản của Huyền
Trang đại sư không viết như vậy, Ngài bảo
chúng ta hăy “chuyên tâm hệ niệm”,
tức là quư vị chuyên tâm niệm Phật, tới lúc lâm
chung, Phật đến tiếp dẫn, Phật lực gia
tŕ, khiến quư vị đắc nhất tâm bất loạn,
điều này dễ dàng, ngay lập tức chúng ta an tâm, đúng
là tuyệt diệu chẳng thể diễn tả được!
Bản dịch của
La Thập đại sư văn phong rất lưu loát,
chúng ta đọc bản dịch ấy rất thoải
mái, giống như đọc Quốc Văn của Trung Quốc.
Bản dịch của Huyền Trang đại sư đọc
rất trúc trắc, v́ Ngài chiếu theo văn bản Ấn
Độ để dịch thẳng ra, rất nhiều cách
hành văn, cú pháp chúng ta không quen thuộc lắm, đọc
lên chẳng cảm thấy trôi chảy, thông suốt, nhưng
ư nghĩa vô cùng hoàn chỉnh. Ngài chiếu theo nguyên văn dịch
từng câu một, chẳng sót một ư nghĩa nào! Xét theo ư
nghĩa, pháp sư Huyền Trang dịch rất hay, nhưng
xét theo văn tự trôi chảy, thông suốt, bản dịch
của pháp sư La Thập hay hơn. Cư sĩ Hạ Liên
Cư hội tập hai bản ấy, vừa muốn văn
chương tốt đẹp, vừa muốn ư nghĩa hoàn
chỉnh. Lần này, tôi mang bản ấy từ Mỹ về,
chúng tôi in lại để lưu thông, cúng dường mọi
người, mong mọi người tăng trưởng tín
tâm, mọi người đều có thể văng sanh trong một
đời này. Nay ở trong hội này, tương lai tới
Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng ta lại
mở đại hội, thường ở cùng một chỗ.
(Sao) Pháp tắc quỹ nhi chánh
chi. Hữu định cứ nghĩa, tức danh vi Điển.
(鈔) 法則軌而正之。有定據義,即名為典。
(Sao: Pháp là đường lối
chánh đáng. Do [Kinh] mang ư nghĩa “là chứng cứ nhất
định” nên gọi là Điển).
“Hữu định cứ nghĩa” là có [chứng
cứ] xác định, có thể lấy nó làm bằng chứng.
Giống như pháp luật trong hiện thời, mọi người
có tranh chấp, bèn dùng điều ǵ làm tiêu chuẩn để
so sánh ai phải, ai trái? Có pháp luật để làm tiêu chuẩn,
pháp luật c̣n gọi là “pháp điển”.
(Sao) Diệc nhị túc
cai tứ.
(鈔) 亦二足該四。
(Sao: Cho nên hai chữ đủ
để gồm trọn bốn ư nghĩa).
Dùng hai chữ Thường
và Pháp có thể gồm trọn Kính và Điển.
(Sao) Tắc bỉ
phương Quán Nhiếp, thử phương Thường
Pháp, hợp nhi ngôn chi, tứ tự chi trung, tận Kinh
nghĩa hĩ.
(鈔) 則彼方貫攝,此方常法,合而言之,四字之中,盡經義矣。
(Sao: Cho nên hai chữ Quán và Nhiếp
của phương kia và Thường Pháp của
phương này, hợp lại để nói th́ bốn chữ
sẽ [bao gồm] trọn hết ư nghĩa của chữ
Kinh).
Từ xưa tới
nay, các vị đại đức chú kinh, giảng kinh, hễ
giải thích chữ Kinh này, thông thường đều
dùng bốn chữ Quán, Nhiếp, Thường, Pháp để
giải thích. Ở đây, giảng khá tỉ mỉ, nêu ra
nguồn gốc của bốn chữ này. Quán Nhiếp là cách
người Ấn Độ [dùng để] bao quát khá nhiều
ư nghĩa của chữ Kinh trong hai chữ này. Bốn ư nghĩa
[kinh điển] của Trung Quốc cũng có thể được
khái quát bởi Thường Pháp. V́ thế, dùng Quán, Nhiếp,
Thường, Pháp để bao gồm trọn hết.
(Sớ) Hựu Kinh phục
hữu thông biệt nhị nghĩa, Kinh chi nhất tự, thị
vi thông danh, Phật Thuyết A Di Đà ngũ tự, thị
vi biệt danh.
(疏) 又經復有通別二義,經之一字,是為通名;佛說阿彌陀五字,是為別名。
(Sớ: Lại nữa, kinh lại
có hai nghĩa Thông và Biệt, một chữ Kinh là tên chung
(thông danh), năm chữ Phật Thuyết A Di Đà là tên
riêng).
Biệt là chẳng giống
với bộ [kinh luận] khác, đó là Biệt. Thông là cùng
chung với các bộ khác, đó là Thông. Kinh là Thông Danh (tên
chung). Hễ là kinh tạng đều gọi là Kinh, như
kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cang, sau mỗi danh xưng đều
có chữ Kinh; nhưng [phần danh xưng riêng biệt] như
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, kinh khác chẳng
dùng danh xưng ấy, chỉ có một bộ này! Phật Thuyết
A Di Đà cũng chỉ có bộ kinh này dùng danh xưng này, bộ
khác không có, nên gọi là Biệt Đề (đề mục
riêng). Nhưng kinh dùng danh hiệu A Di Đà [để đặt
tên] th́ trừ bộ này ra c̣n có kinh Vô Lượng Thọ cổ
nhân cũng dịch là A Di Đà Kinh. [Thành ra] kinh A Di Đà có
hai loại, bất đắc dĩ thêm chữ Đại
[để phân biệt], Đại A Di Đà Kinh chính là kinh
Vô Lượng Thọ. Kinh Vô Lượng Thọ và kinh này cùng
bộ. Nói rơ tỉ mỉ là kinh Vô Lượng Thọ; nói đơn
giản, tóm tắt, giới thiệu đơn giản là bộ
kinh này. Hai bộ kinh này có nội dung hoàn toàn tương
đồng, đều có thể gọi là A Di Đà Kinh, mà
cũng đều có thể gọi là Vô Lượng Thọ
Kinh.
(Sớ) Như giáo, hành, lư, thông
biệt diệc nhĩ.
(疏) 如教行理通別亦爾。
(Sớ: Đối với Giáo,
Hành, Lư cũng có Thông và Biệt giống như vậy).
Kinh có Giáo kinh, có Hành
kinh, có Lư kinh; trong Giáo, Hành, Lư cũng có Thông và Biệt. Thông
là chung với những bộ khác, thông với các pháp môn khác,
Biệt là chẳng giống những pháp môn khác. Giáo là sự
giáo học của Phật, Hành là tu hành, Lư là căn cứ lư
luận của giáo học tu hành. Những kinh này cũng có
Thông và Biệt.
(Sớ) Thử tam tức
phối tam đức, viên dung cụ túc.
(疏) 此三即配三德,圓融具足。
(Sớ: Ba điều này (Giáo,
Hành, Lư) chính là phối hợp với Tam Đức, viên dung
trọn đủ).
Tam Đức là Pháp
Thân, Bát Nhă, và Giải Thoát, được gọi là Tam Đức
Bí Tạng.
(Sớ) Như Thiên Thai sở
xưng, văn thủ đề danh, công đức vô
lượng.
(疏) 如天台所稱,聞首題名,功德無量。
(Sớ: Như ngài Thiên Thai
đă ca ngợi: Nghe tựa đề của kinh, công đức
vô lượng).
“Thủ đề danh” chính là tên của bộ
kinh. Nghe tên kinh có vô lượng vô biên công đức, tông
Thiên Thai nói như vậy. Chính v́ tông Thiên Thai nói như vậy,
cho nên người Nhật chẳng niệm Phật, mà niệm
“Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”
tức là niệm tựa đề kinh[10], hễ nghe tựa đề kinh, công đức bèn vô
lượng vô biên. Nhưng nếu chẳng hiểu ư nghĩa
của tựa đề kinh, sẽ chẳng có công đức;
lấy đâu ra công đức? Chẳng sanh ra được!
Do vậy, nhất định phải hiểu rành rẽ tựa
đề kinh th́ tựa đề kinh sẽ có vô lượng
công đức. Người Nhật niệm “Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” tức
là niệm uổng công. Cách niệm ấy chẳng phải là
không có công đức, thật sự có công đức; nhưng
họ niệm không có công đức, ta niệm có công đức.
V́ sao? Họ chẳng hiểu được ư nghĩa trong
tựa đề. Họ niệm, tâm và miệng chẳng tương
ứng. Tâm, miệng, hạnh tương ứng sẽ có vô
lượng vô biên công đức. Do vậy, chẳng bằng
niệm một câu A Di Đà Phật. V́ quư vị chẳng
liễu giải A Di Đà Phật, nhưng thành tâm thành ư niệm
sẽ có công đức; niệm “Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh” phải thông đạt ư nghĩa trong tựa
đề mới có công đức.
Trong quá khứ, tôi đă
giảng đại ư kinh Pháp Hoa ở chỗ này, giảng “Quyền Thật thập diệu”,
chữ “Diệu” có hai
mươi ư nghĩa: Quyền Diệu có mười ư
nghĩa, Thật Diệu có mười ư nghĩa; chúng tôi tốn
rất nhiều thời gian giảng tựa đề kinh
Diệu Pháp Liên Hoa mà vẫn là nói đại lược! Nếu
nói tỉ mỉ th́ Thiên Thai đại sư “cửu tuần đàm diệu”,
tức là mỗi ngày giảng tám tiếng đồng hồ,
giảng suốt chín mươi ngày mới giảng xong chữ
Diệu! Bộ sách Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Thiêm in b́a cứng
dày như thế, gồm ba cuốn to. Ba cuốn sách to vốn
để giảng điều ǵ? Chính là Thiên Thai đại
sư thuở trước đă bỏ ra chín mươi ngày
giảng chữ “Diệu” thành ba cuốn sách to như thế
đó! Nếu chúng tôi chiếu theo ba cuốn sách to ấy để
giảng, giảng ba năm vẫn chưa xong,
đương nhiên là vô lượng công đức; nhưng
người Nhật chẳng hiểu, coi [tựa đề
kinh] như thần chú để niệm, vô ích, miệng có,
tâm không, chẳng có tí hữu dụng nào!
(Sớ) Nhược phối
Tam Đại, tắc Phật thị Thể Đại, Vô
Lượng Thọ thị Tướng Đại, Vô Lượng
Quang thị Dụng Đại, như giáo trung thuyết.
(疏) 若配三大,則佛是體大,無量壽是相大,無量光是用大,如教中說。
(Sớ: Nếu phối hợp
với Tam Đại th́ Phật là Thể Đại, Vô
Lượng Thọ là Tướng Đại, Vô Lượng
Quang là Dụng Đại, như trong giáo đă nói).
Đoạn này được
giải thích tỉ mỉ trong lời Sao, nhưng ngày hôm nay
đă hết thời gian rồi, lần sau chúng ta sẽ thảo
luận cặn kẽ: Phối hợp với Tam Đại
ra sao? Phối hợp với Tam Đức như thế nào?
V́ nếu hiểu rơ ư nghĩa tựa đề kinh, sau này, quư
vị niệm một câu A Di Đà Phật, công đức sẽ
vô lượng; so với quư vị niệm A Di Đà Phật
trước đây, ư nghĩa khác nhau. Nếu quư vị hiểu
ư nghĩa của Nam-mô A Di Đà Phật, quư vị sẽ niệm
chẳng mệt mỏi, sẽ niệm đầy hứng
thú, sẽ niệm phấn chấn tinh thần. Tinh thần
chẳng khá, niệm mấy câu Phật hiệu, tinh thần
bèn phấn chấn, thật sự có đại tác dụng
như thế. A! Chúng ta niệm Phật hồi hướng.
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 48 hết
[1] Số Luận là một trường
phái triết học cổ Ấn Độ, trong kinh thường
gọi họ là Ca Tỳ La ngoại đạo, hoặc
Vũ Chúng ngoại đạo, hay Vũ Tế ngoại
đạo. Khác với Lục Sư ngoại đạo
hoàn toàn chống đối Bà La Môn giáo, Số Luận có nhiều
điểm tương đồng và thậm chí vay mượn
một số luận điểm của Bà La Môn giáo. Theo
truyền thuyết, phái này do tiên nhân Ca Tỳ La (Kapila) sáng
nhập. Số Luận quan niệm vũ trụ do hai yếu
tố lớn tạo thành: Bổ Lô Sa (Purusha: tinh thần tối
cao) và nguyên chất (Prakriti: vật chất nguyên sơ). Khác
với Nhị Nguyên Luận của Tây Phương, Số
Luận quan niệm vật chất và tinh thần ḥa lẫn
vào nhau. Bổ Lô Sa c̣n tách ra vô số những đơn vị
tinh thần độc lập gọi Jiva. Nguyên chất lại
do ba yếu tố cấu thành: Sattva (hỷ), rajas (ưu),
và tamas (tối tăm). Thoạt đầu, Số Luận
không thừa nhận có một đấng sáng tạo do lập
luận: “Một Thượng Đế bất biến sẽ
không thể là cội nguồn của một thế giới
luôn thay đổi”. Sau này, do pha trộn với Yoga và các
phái triết học khác, Số Luận cũng thừa nhận
có thần Ishavar là đấng sáng tạo.
Du Già nói ở đây chính là trường
phái Yoga sáng lập bởi Phách Thản Già Lợi (Pantajali, sống
vào khoảng thế kỷ thứ hai trước Công
Nguyên). Pantajali đă hệ thống hóa, hoàn chỉnh học
thuyết lư luận của Yoga; trường phái của
Pantajali được gọi là Thắng Vương Du Già
(Raja Yoga) nhằm phân biệt với những trường
phái chỉ chú trọng tập luyện cơ thể hơn
quan tâm đến triết học. Mục tiêu Thiền
Định của Yoga là hợp nhất Tiểu Ngă của
mỗi cá nhân với Đại Ngă của Phạm Thiên. Các
tác phẩm của Pantajali đă được hệ thống
hóa thành Du Già Bát Phần Pháp (Ashtanga Yoga) và được
coi như là cơ sở lư luận chính yếu của các
trường phái Yoga khác như Cáp Đạt Du Già (Hatha
Yoga), Trí Huệ Du Già (Jhana Yoga), Chí Thiện Du Già (Bhakti Yoga),
Hành Động Du Già (Karma Yoga), Âm Thanh Du Già (Mantra Yoga), Mật
Truyền Du Già (Tantra Yoga) v.v...
[2] Ở đây, Ḥa Thượng dùng chữ
“hội đường” thay v́ “hội trường” nhằm
nhấn mạnh đến toàn thể kiến trúc
được dùng vào việc nhóm họp của tăng
chúng (tụng niệm công khóa hằng ngày, tác bạch, yết
ma, tấn sơn, nghị sự, truyền giới v.v...) v́
trong các đại tùng lâm, chánh điện được
xây tách biệt, không xây chung với giảng đường,
tổ đường như trong các chùa hiện thời),
chứ “hội trường” th́ có thể là một phần
của công tŕnh, hoặc có thể trưng dụng vào những
mục đích khác.
[3] Ở đây, ḥa
thượng nói theo cách giải thích Danh Số Ấn Độ
trong Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập. Theo sách ấy,
mười con số lớn trong cách tính toán của cổ Ấn
Độ là: 1) A Tăng Kỳ, 2) Vô Lượng, 3) Vô Biên,
4) Vô Tăng (Aparimita), 5) Xuất Biên (Aparimāva), 6) Vô Tỷ
(Atulya), 7) Bất Khả Tỷ (Amāpya), 8) Bất Khả
Tư Nghị (Acintya), 9) Bất Khả Thuyết (Anabhilāpya),
10) Bất Khả Thuyết Bất Khả Thuyết (Anabhilāpyabhilāpya).
Phẩm A Tăng Kỳ của kinh Hoa Nghiêm dịch những
tên gọi này hơi khác và từ A Tăng Kỳ đến
số cuối cùng có nhiều hơn nữa (gồm hai
mươi con số): A Tăng Kỳ, A Tăng Kỳ Chuyển,
Vô Lượng, Vô Lượng Chuyển, Vô Biên, Vô Biên Chuyển,
Vô Đẳng, Vô Đẳng Chuyển, Bất Khả Số,
Bất Khả Số Chuyển, Bất Khả Xưng, Bất
Khả Xưng Chuyển, Bất Tư Nghị, Bất
Tư Nghị Chuyển, Bất Khả Lượng, Bất
Khả Lượng Chuyển, Bất Khả Thuyết, Bát
Khả Thuyết Chuyển, Bất Khả Thuyết Bất
Khả Thuyết, Bất Khả Thuyết Bất Khả
Thuyết Chuyển.
[4] Đây là sách in theo lối cổ. Người
ta in toàn bộ cuốn sách thành nhiều trang trên một tờ
giấy dài, chỉ in một mặt, khi in xong, xếp sách
sao cho mặt không có chữ bị ép vào nhau, rồi dùng chỉ
khâu gáy những trang ấy lại, đóng b́a.
[5] Tạp Tâm Luận là tên gọi tắt của
bộ Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận, mười quyển,
do tôn giả Pháp Cứu soạn. Ngài Tăng Già Bạt Ma xứ
Nam Thiên Trúc dịch sang tiếng Hán vào năm Nguyên Gia 12 (435)
đời Lưu Tống. Trước đó, luận này
đă được dịch hai lần:
1. Pháp Hiển và Giác Hiền cùng dịch
vào cuối niên hiệu Nghĩa Hy (417-418) đời An Đế
nhà Đông Tấn.
2. Ngài Y Diệp Ba La dịch chín quyển
rưỡi vào năm Nguyên Gia thứ ba (426) đời
Đông Tấn, sau đó Tam Tạng Cầu Na Bạt Ma dịch
tiếp phần c̣n lại vào năm Nguyên Gia thứ tám.
Hai bản này đều đă thất
truyền. Luận này nhằm mục đích giảng rộng
những phần luận về tâm trong bộ A Tỳ
Đàm Tâm Luận của ngài Pháp Thắng, tham khảo rất
nhiều phần trong Đại Tỳ Bà Sa Luận để
bổ sung những chỗ giản lược trong tác phẩm
của ngài Pháp Thắng.
[6] “Mặc đẩu” (墨斗) theo tương truyền là một phát
minh của Lỗ Ban (tổ nghề mộc), gồm một
hộp tṛn, có chứa mực và một sợi dây đẫm
mực, quấn quanh một trục quay đặt trong hộp,
để có thể kéo dài hay rút gọn theo ư muốn. Dụng
cụ này được thợ mộc dùng để
đánh dấu vết cưa, cắt, đục v.v...
[7] Sách Trang Tử được gọi là
Nam Hoa Kinh hay Nam Hoa Chân Kinh v́ các vua cuối nhà Đường
mê thích thần tiên, ưa luyện đan, tu Đạo Giáo.
Đường Huyền Tông đă tôn xưng bốn vị
triết gia thời cổ là Tứ Đại Chân Nhân, và
đặt pháp hiệu cho họ. Trang Châu được
tôn là Nam Hoa Chân Nhân, Liệt Ngự Khấu là Xung Hư Chân
Nhân, Văn Tử (tương truyền là đệ tử
đắc ư của Lăo Tử) là Thông Huyền Chân Nhân, và
Canh Tang Sở (một nhân vật do Trang Châu bịa ra trong
sách Trang Tử, nhưng Đường Huyền Tông vẫn
tin Canh Tang Sở là nhân vật có thật) là Động Linh
Chân Nhân. V́ thế, sách Trang Tử được Đạo
Giáo gọi là Nam Hoa Kinh, sách Liệt Tử (do Liệt Ngự
Khấu viết) được gọi là Xung Hư Kinh.
[8] Hội Ư là một trong cách sáng tạo chữ
Hán thời cổ, thường là ghép hai chữ đơn
độc để tạo thành một chữ mới. Chẳng
hạn chữ Tửu (酒: rượu) là do
chữ Dậu (酉: cái b́nh sành để
ủ rượu) và chữ Thủy (水) hợp thành. Chữ
Hảo (好) do Nữ (女) và Tử (子) ghép lại, hàm ư, người đàn bà có con là chuyện
tốt đẹp.
[9] Châu Công, tên thật là Cơ Đán, con
trai thứ tư của Cơ Xương (Châu Văn
Vương), em trai của Bá Ấp Khảo (bị Trụ
Vương giết), Cơ Phát và Quản Thúc Tiên, nên c̣n gọi
là Thúc Đán, hoặc ghép thành Châu Công Đán, hoặc Lỗ
Châu Công (do được phong đất ở nước
Lỗ). Khi Cơ Phát (Châu Vũ Vương) hưng binh diệt
Trụ, Cơ Đán làm quan, giúp anh ổn định triều
chánh, phát triển quân đội nhà Châu. Khi Châu Vũ
Vương bệnh nặng, Cơ Đán đă lập
đàn tế trời, xin chết thay anh. Khi Cơ Phát sắp
mất, đă ủy thác Cơ Đán phụ chánh pḥ tá thái tử
Cơ Tụng (Châu Thành Vương) c̣n nhỏ lên ngôi vua. Ông
đă giúp vua dẹp tan nội loạn (do ba người em
là Quản Thúc Độ, Hoắc Thúc Xử và Sái Thúc Tiên dấy
loạn, toan giúp Vũ Canh khôi phục nhà Thương). Ông
định ra năm bậc quan chế: Công, Hầu, Bá, Tử,
Nam, lập đẳng cấp trong xă hội, phong đất
cho những công thần như phong đất Tề cho
Khương Tử Nha, lập ra quy định cha chết
truyền ngôi cho con trưởng để tránh tranh giành quyền
lực, quy định lễ nhạc như tang phục,
ngũ lễ, tam ṭng, tứ đức v.v... Khi Thành
Vương đă lớn, ông trao lại quyền hành, viết
những bức thư cảnh tỉnh Thành Vương khi
vua nghe lời gièm pha nghi ngờ ḷng trung của ông. Hậu
thế tôn xưng ông bằng nhiều danh hiệu; đời
Tống Chân Tông đă truy tặng ông là Văn Hiến
Vương, đời sau gọi ông bằng danh hiệu
Nguyên Thánh.
[10] Đây là quan điểm của Nhật
Liên (Nichiren, sáng tổ phái Nhật Liên Tông, tức Tân Pháp Hoa
Tông). Nhật Liên tự xưng ḿnh là Thượng Hạnh
Bồ Tát tái lai để giảng dạy chính xác kinh Pháp
Hoa, và coi quan điểm của tông Thiên Thai của Trí Giả
đại sư chỉ là pháp quyền biến thị hiện,
giáo pháp của ông ta mới là chân chánh hiểu đúng chân
nghĩa của kinh Pháp Hoa. Ông ta c̣n kịch liệt chủ
trương đả phá các tông phái khác, tuyên giảng chỉ
có Nhật Liên Tông của ông ta mới là chánh pháp chân truyền,
đặc biệt đả kích Thiền, Tịnh Độ
và Mật Tông. Ông ta chủ trương niệm đề
kinh Pháp Hoa gọi là Daimoku (đề mục), không thờ
Phật mà thờ Gohonzon (御本尊: Ngự
bổn tôn), tức Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh ở chính giữa,
chung quanh đề các danh hiệu các vị
Phật, Bồ Tát được nhắc tới trong kinh
Pháp Hoa (trừ A Di Đà Phật v́ ông ta đả kích Tịnh
Độ), và Tứ Thiên Vương. Điều đặc
biệt là tuy đả kích Mật Tông thậm tệ, trong
Gohonzon vẫn ghi tên hai vị Minh Vương quan trọng
trong Mật Tông là Ái Nhiễm Minh Vương và Bất Động
Minh Vương. Quan điểm của Nhật Liên về
các tông phái khác được người Nhật gọi
là “Shika no kakugen” (四箇の格言: Tứ Cá Cách Ngôn) như sau: “Niệm Phật vô gián, Thiền
thiên ma, Chân Ngôn vong quốc, Luật quốc tặc”. Theo
cách giải thích của Sáng Giá Học Hội (Soka Gakkai, đoàn
thể Nhật Liên Tông tại gia lớn nhất của Nhật),
điều đó có nghĩa là: “Niệm
Phật sẽ đọa địa ngục vô gián. Thiền
là sáng chế của các thiên ma, Chân Ngôn tông phá hủy đất
nước, giới luật là kẻ phản bội quốc
gia”.