A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 49
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức
Phong
Tập 97
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm tám mươi
mốt:
(Sao)
Giáo Hành Lư giả, bổn Lư lập Giáo, y Giáo tu Hành, tùng Hành
hiển Lư, chư kinh giai cụ Giáo Hành Lư tam, cố danh vi Thông.
(鈔) 教行理者,本理立教,依教修行,從行顯理,諸經皆具教行理三,故名為通。
(Sao: “Giáo,
Hành, Lư”: Vốn dựa trên Lư để lập Giáo,
nương theo Giáo để tu hành, từ tu hành mà hiển
Lư. Các kinh đều trọn đủ ba món Giáo, Hành, Lư, nên
gọi là Thông).
Những
điều được nói trong mấy câu này cũng là những
ư nghĩa trọng yếu trong tựa đề kinh. Hết
thảy các kinh Phật, bất luận Đại Thừa hay
Tiểu Thừa, nhất định trọn đủ ba ư
nghĩa “Giáo, Hành, Lư”. Có ba điều
ấy th́ mới thấy rơ chỗ khác biệt giữa kinh Phật
và sách vở thế gian. Nay chúng ta gọi Giáo là sách giáo khoa.
Thuở Phật tại thế không có sách, cũng chẳng
có giảng nghĩa, đó gọi là “dĩ âm thanh vi Phật sự” (dùng âm thanh để
làm Phật sự), lời Phật giảng diễn là Giáo. Đời
sau kết tập kinh điển, bèn gọi [kinh điển]
là Giáo, giống như đức Phật nói bộ kinh A Di
Đà này chính là Giáo, những điều do đức Phật
đă nói là Giáo. Trong ấy, nhất định có đạo
Lư, lư luận trong kinh ấy là ǵ? Những ǵ là cách tu hành
trong kinh ấy? Tựa đề bản kinh này do La Thập
đại sư dùng thiện xảo phương tiện nhất
để chọn lựa, lấy danh hiệu của A Di
Đà Phật làm đề mục. Thật ra, tựa đề
gốc của kinh này là Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị
Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ
Niệm Kinh, đó là tên gốc của kinh; nhưng danh hiệu
A Di Đà Phật đúng là hết sức kỳ diệu, bốn
chữ ấy trọn đủ cả ba món Giáo, Hành, Lư, thật
sự tuyệt diệu chẳng thể diễn tả được!
“Bổn Lư lập Giáo, y Giáo tu Hành”:
Giáo nhất định phải kiến lập từ Lư. Lư
là ǵ? Lư là Chân Như Thật Tướng. Hết thảy các
kinh Đại Thừa đều lấy Thật Tướng
làm Thể, trong phần trước, chúng ta đă thảo
luận [điều này]. Trong phần đầu bộ Sớ
Sao, Liên Tŕ đại sư sử dụng Thập Môn Khai Khải
[để thảo luận thể tánh của kinh này], giảng
hết sức tỉ mỉ. Phật từ Chân Như bổn
tánh lưu lộ giáo học, mà cũng từ chân tánh lưu
lộ hết thảy các kinh. Hết thảy các kinh lưu
lộ từ chân tánh. Chân tánh là Lư, Chân Như bổn tánh là Lư,
nương vào Lư ấy để kiến lập giáo học.
“Y giáo tu hành”, nói theo ư nghĩa
thông thường sẽ là nương theo Văn Tự Bát
Nhă, kinh điển là văn tự, là sách giáo khoa, chúng ta phải
nương theo lư luận và phương pháp trong sách giáo
khoa để tu hành, tu ǵ vậy? Khôi phục tự tánh của
chúng ta, tu điều này, chẳng phải điều nào khác,
khôi phục tự tánh mà thôi! Trong tự tánh có Pháp Thân, Giải
Thoát, Bát Nhă. Giáo Hạ thiên trọng Bát Nhă, tức là nương
vào Văn Tự Bát Nhă để tu Quán Chiếu Bát Nhă, nương
theo lư luận và phương pháp ấy để tu hành.
Tu hành phải
có mục tiêu, mục tiêu ấy là ǵ? Là “tùng Hành hiển Lư” (do Hành mà hiển Lư), Hành là tu
hành. Nói thật ra, Hiển là hiển lộ Chân Như bổn
tánh, Thiền gia nói là “minh tâm kiến
tánh”. Minh tâm kiến tánh là hiển lộ Lư. Thiền nhằm
mục đích minh tâm kiến tánh, Giáo Hạ vẫn nhằm
mục đích minh tâm kiến tánh, chúng ta niệm Phật
cũng không ngoài minh tâm kiến tánh. Niệm tới Lư nhất
tâm bất loạn bèn minh tâm kiến tánh. Có thể thấy bất
luận tông nào, phái nào, tuy phương pháp, kỹ xảo khác
biệt, có các cách [tu tập] sai khác, nhưng mục tiêu là
nhất trí, chỗ để đạt tới hoàn toàn tương
đồng. V́ thế mới nói pháp môn vô nhị, pháp môn
b́nh đẳng, mới nói ra ư nghĩa này. “Chư kinh giai cụ Giáo, Hành, Lư tam” (các kinh đều
đủ ba món Giáo, Hành, Lư), hết thảy các kinh đều
đầy đủ ba yếu tố này. Đó là Thông Đề,
hết thảy các kinh phải trọn đủ ba ư
nghĩa này. Tiếp đó, [chuyên] nói về kinh [A Di Đà] này:
(Sao)
Chuyên chỉ thử kinh, tắc Phật Thuyết thị Giáo.
(鈔) 專指此經,則佛說是教。
(Sao:
Chuyên nói về kinh này, th́ Phật Thuyết là Giáo).
Trong tựa
đề kinh th́ Phật Thuyết là Giáo.
(Sao)
Chấp tŕ danh hiệu thị Hành, A Di Đà thị Lư.
(鈔) 執持名號是行,阿彌陀是理。
(Sao: Chấp tŕ danh hiệu là
Hành, A Di Đà là Lư).
Giáo là A Di
Đà, chấp tŕ danh hiệu (Hành) vẫn là A Di Đà, Lư được
chứng đắc vẫn là A Di Đà; do vậy, A Di
Đà Phật chẳng thể nghĩ bàn. Trong những kinh
điển khác, mỗi chuyện đều có thể phân
biệt, nhưng kinh này rất lạ lùng: Một câu A Di
Đà Phật có đủ các ư nghĩa ấy (Giáo, Hành, Lư),
thật sự chẳng thể nghĩ bàn. Trong kinh Vô Lượng
Thọ, mỗi chuyện đều [tách bạch] rơ rệt;
nhưng kinh này hết sức lạ lùng, đặc biệt,
A Di Đà Phật dịch sang nghĩa tiếng Hán là Vô Lượng
Giác. Vô Lượng Giác là tự tánh của chúng ta. Nói cách khác,
[A Di Đà Phật] là danh hiệu của tự tánh. Danh hiệu
Phật đồng thời cũng là danh hiệu của tự
tánh; do vậy, nó là Lư, chúng ta niệm Phật phải chứng,
chứng ǵ? Phải đích thân chứng đắc A Di
Đà.
(Sao)
Cục thử dị dư, cố danh vi Biệt.
(鈔) 局此異餘,故名為別。
(Sao: Hạn cuộc trong kinh
này th́ [trong tựa đề kinh] có chỗ khác biệt với
những với kinh khác, nên gọi là Biệt).
“Cục thử”: Chữ “thử” (此) chỉ kinh này, bộ kinh này không giống
những kinh khác, những kinh khác chẳng lấy A Di Đà
làm tên kinh.
(Sao)
Phối Tam Đức giả, Lư tức Pháp Thân, Giáo tức
Bát Nhă, Hành tức Giải Thoát.
(鈔) 配三德者,理即法身,教即般若,行即解脫。
(Sao: Phối hợp với Tam
Đức th́ Lư là Pháp Thân, Giáo tức Bát Nhă, Hành tức Giải
Thoát).
Lư là Pháp
Thân, điều này dễ hiểu. Lư là Chân Như Lư Thể,
là Thanh Tịnh Pháp Thân của chính chúng ta. Giáo là Bát Nhă; chữ
“Bát Nhă” chỉ hết thảy
các kinh điển do Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói, thường
gọi là Văn Tự Bát Nhă. Từ Văn Tự cho tới
Quán Chiếu Bát Nhă vẫn thuộc về Giáo. Trong mùa Đông
năm nay, chúng tôi sẽ tổ chức đại chuyên giảng
ṭa, giảng kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, trong ấy
sẽ đặc biệt giảng về quán chiếu, [giảng
theo] chú giải của Thiên Thai đại sư, phải từ
Lục Tức Phật để giảng, từ Danh Tự
Tức, Quán Hạnh Tức, Tướng Tự Tức, Phần
Chứng Tức cho đến Cứu Cánh Phật, chúng ta sẽ
lại thảo luận cặn kẽ vấn đề này.
Hành là Giải
Thoát. Nói thật ra, Hành là hành vi sinh hoạt. Hiện thời,
hành vi sinh hoạt của chúng ta chẳng tự tại, thường
nói là “chẳng tự do”, chính ḿnh không thể làm chủ, chỗ
nào cũng bị bó buộc! V́ sao không thể làm chủ? V́
thiếu trí huệ, hễ có trí huệ sẽ làm chủ được.
Hiện thời, chúng ta thiếu trí huệ, bị phiền
năo khống chế, cho nên chúng ta cảm thấy chỗ nào
cũng chẳng tự tại! Học Phật phải cầu
trí huệ, Phật pháp chẳng cầu chi khác, quư vị nhất
định phải nhớ điều này! Phật pháp nhằm
cầu trí huệ, có trí huệ th́ vấn đề ǵ cũng
đều có thể giải quyết. Do vậy, Phật
pháp là phương pháp trí huệ, Phật học là học
vấn trí huệ. Các đồng tu phải lưu ư điều
này!
Ngày hôm
qua, chúng ta có hội giảng diễn; giảng diễn xong,
có một người đến hỏi tôi nhiều vấn
đề. Nghe nói ông ta là một giáo sư đại học
có tiếng, nhưng những vấn đề ông ta hỏi
đều thiếu trí huệ. Chẳng hạn như ông ta
nêu ra câu hỏi thứ nhất là: “Nếu người trên thế
giới này đều xuất gia hết, chẳng phải
là người trên thế giới này đều bị diệt
chủng ư?” Tôi hỏi ngược lại ông ta: “Nếu
người trên cả thế giới đều làm giáo sư
đại học th́ vẫn bị diệt chủng, đúng
không?” Đều là giáo sư đại học, cũng
không có ai cày ruộng, cũng không có ai dệt vải, chẳng
phải vẫn là một con đường chết hay sao?
Quư vị hăy suy nghĩ thử xem, người trên thế
giới này đều có thể xuất gia hết hay chăng?
Có thể đều làm giáo sư đại học hay không?
Không thể nào có chuyện ấy! Đấy là thiếu trí
huệ! Do vậy, trí huệ có thể giải quyết hết
thảy vấn đề, trí huệ có thể đem đến
cuộc sống tự tại mỹ măn; đấy là giải
thoát. V́ thế, hành vi sinh hoạt của người học
Phật quả thật là giải thoát tự tại, v́ người
ấy có Quán Huệ.
(Sao)
Hựu Lư thông Hành, Giáo, Pháp Thân tức Bát Nhă, Giải Thoát, năi
chí Hành thông Lư, Giáo, Giáo thông Lư, Hành. Cử nhất tức
tam, lệ thượng khả tri.
(鈔) 又理通行教,法身即般若解脫,乃至行通理教,教通理行,舉一即三,例上可知。
(Sao: Lại nữa, Lư thông với
Hành và Giáo. Pháp Thân tức là Bát Nhă và Giải Thoát; cho đến
Hành thông với Lư và Giáo, Giáo thông với
Lư và Hành. Nêu một điều sẽ chính là ba, cứ dựa
theo trên đây sẽ biết).
Đây là
một mà ba, tuy ba mà một, quả thật là như vậy.
Pháp Thân là Bát Nhă và Giải Thoát, đó gọi là “toàn tánh khởi tu”, cho nên Lư thông
với Hành. “Tánh” là Chân
Như bổn tánh. Điều này tuy là nói đến Phật
pháp cao cấp, tu tŕ cao cấp, nhưng khi mỗi cá nhân chúng
ta tu tập, nhất là pháp môn Niệm Phật, hễ quư vị
tu tập sẽ là toàn tánh khởi tu. Tuy toàn tánh khởi tu, nhưng
chính quư vị không biết! Người thấu hiểu sẽ
biết rơ điều này, nhưng chính quư vị chẳng biết
chính ḿnh đang toàn tánh khởi tu. Ở đây, có một điều
phải nhận thức rơ ràng: Hiện thời, trước
hết, chúng tôi buông cái Tánh ấy xuống, chẳng bàn đến,
mà luận về tâm, mọi người sẽ dễ hiểu.
Trong tâm suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ
loạn xạ, khởi tâm vọng tưởng.
Chúng ta vọng
niệm ǵ cũng chẳng có, toàn tâm toàn ư niệm một câu
Phật hiệu này, có phải là toàn tâm khởi tu hay không? Trọn
chẳng biết tâm là tánh! Nhất là quư vị toàn tâm toàn ư niệm
một câu Phật hiệu này, nếu chẳng phải là tánh
th́ là ǵ vậy? A Di Đà Phật là đức hiệu lưu
lộ từ tự tánh của Như Lai; nay quư vị dốc
toàn bộ cái tâm để niệm Phật hiệu, nếu
chẳng phải là toàn tánh khởi tu th́ là ǵ vậy? Vừa
niệm Phật, vừa dấy vọng tưởng, sẽ
chẳng phải là [toàn tánh khởi tu]. Nếu vọng
tưởng ǵ cũng đều buông xuống, toàn tâm toàn ư
niệm Phật, thưa quư vị, đấy là toàn tánh khởi
tu. Các pháp môn khác chưa chắc là như vậy, nhưng
pháp môn Niệm Phật chắc chắn là như vậy, v́
sao? V́ một câu Phật hiệu chính là đức hiệu
của tự tánh. V́ vậy, quư vị tham thiền, tŕ chú, không
nhất định có thể đạt tới cảnh giới
này, nhưng niệm Phật quyết định tương
ứng, quyết định là cảnh giới này. V́ thế,
pháp này chẳng thể nghĩ bàn. Cái hay của niệm Phật
thật sự chẳng thể nói trọn! Thật sự
thông đạt, quả thật điều ǵ cũng đều
buông xuống, chúng ta thấy bậc cổ đại đức
thông Tông thông Giáo, thuở trẻ học rộng nghe nhiều;
về sau, đă học thông suốt, bèn phát hiện thật
sự có những thứ tốt đẹp trong pháp môn này, đối
với những thứ kém tốt đẹp khác đều
chẳng cần nữa, đều gạt bỏ! V́ vậy,
tới cuối cùng [các Ngài] nhất tâm nhất ư niệm A Di
Đà Phật, biết pháp môn niệm A Di Đà Phật mới
là pháp môn bậc nhất trong ngàn kinh vạn luận, những
pháp môn khác đều chẳng cần tới nữa!
Nếu chúng
ta nhận biết “toàn tánh khởi tu”, tuy là sơ học niệm
Phật, nói thật ra, công phu ấy đúng là công phu thượng
thừa, là cách tu của các vị đại Bồ Tát.
Trong bản chú giải kinh Vô Lượng Thọ, cư sĩ
Hoàng Niệm Tổ đă trích dẫn cách nói ấy của cổ
nhân, chúng tôi càng nghĩ càng thấy có lư! Pháp môn Niệm Phật
này nhằm tiếp dẫn bậc thượng thượng
căn; chúng ta vừa nghe [nói như vậy, bèn tự nhủ]:
Bậc thượng thượng căn th́ chúng ta chẳng
có phần, chúng ta là kẻ hạ căn, chính ḿnh cũng chẳng
dám gánh vác, rất khiêm hư, rất khách sáo. Tiếp đó,
người ta đă nói rất rơ ràng, chỉ cần có thể
tin tưởng pháp môn này, chịu phát nguyện văng sanh, kẻ
ấy là bậc thượng thượng căn. Chúng ta nghe
lời ấy lại [cảm thấy] như thế nào? Chúng
ta nghe xong, suy nghĩ, tin tưởng, thật sự phát
nguyện, đó chính là bậc thượng thượng
căn. Kẻ căn cơ trung hạ nghe xong sẽ hoài
nghi, chẳng tin tưởng, chẳng chịu cầu sanh Tịnh
Độ, chẳng chịu niệm Phật. Đó là kẻ
căn cơ trung hạ!
Do vậy,
“thượng thượng căn” tuyệt đối chẳng
phải là nói về kẻ thông minh tài trí, mà là nói tới người
trọn đủ Tín, Nguyện, Hạnh; chỉ cần quư
vị trọn đủ ba điều kiện ấy, sẽ
là bậc thượng thượng căn. Thượng thượng
căn như vậy được mười
phương chư Phật, Bồ Tát thừa nhận là hạng
thượng thượng căn; [cách nói ấy] rất có lư,
v́ sao? V́ người ấy sẽ văng sanh trong một đời
này, văng sanh là thành Phật. Nếu người này chẳng
gọi là thượng thượng căn, ai mới xứng
là thượng thượng căn? Kẻ thông Tông thông Giáo
vẫn phải luân hồi trong sáu nẻo, vẫn chẳng
thể thoát khỏi tam giới trong một đời này, làm
sao coi là thượng thượng căn cho được?
V́ thế, nghĩ ra, lời cổ đức nói có lư lắm,
chẳng phải là vô lư! Sau đấy, chúng
ta suy nghĩ: Có nhiều bà cụ niệm Phật văng sanh
trong một đời, đúng là bậc thượng
thượng căn. Chúng ta tự nghĩ ḿnh thông minh tài trí
ghê gớm lắm; so ra, thua kém những người ấy!
Người ta có thể thành Phật, c̣n chúng ta sống cả
đời rồi vẫn luân hồi trong lục đạo.
Đấy là nói “Pháp Thân chính là
Bát Nhă và Giải Thoát”. Chiếu theo Lư này để suy luận,
Bát Nhă cũng là Pháp Thân và Giải Thoát, Giải Thoát cũng là
Pháp Thân và Bát Nhă; một chính là ba, ba chính là một!
“Năi chí Hành thông Lư, Giáo, Giáo thông Lư,
Hành” (cho đến Hành thông với Lư và Giáo, Giáo thông với
Lư và Hành): Giáo là văn tự, văn tự tánh Không, đó
là Thật Tướng, giống như kinh Kim Cang đă nói:
“Phàm những ǵ có h́nh tướng
đều là hư vọng”. Quư vị biết nó là
hư vọng, đó chính là Thật Tướng. Tới khi
ấy, có thể bảo quư vị: Thật Tướng và hư
vọng là một, không hai, quư vị thật sự giác ngộ.
Đó gọi là “dùng vàng chế
các vật, món nào cũng đều là vàng”, chúng tôi dùng tỷ
dụ này cho mọi người dễ hiểu. Các món vật
là hư vọng, vàng là chân thật, đồ vật có phải
là vàng hay không? Đồ vật là vàng; đồ vật hư
vọng và vàng chân thật là một, không hai. Hết thảy vạn vật trong vũ trụ là
đồ vật, có h́nh, có tướng. Những thứ có
h́nh có tướng sẽ là tướng hư vọng, Thể
của tướng hư vọng là Chân Không. Chân Không là tên
gọi khác của bổn tánh; nói Chân Không hay nói bổn tánh
đều là nói về cùng một thứ. Do vậy, văn
tự tánh Không là Thật Tướng, là Chân Như bổn tánh.
Do vậy, “Giáo thông Lư”.
Chính v́ Giáo
và Lư là một, không hai; do vậy, chúng ta chớ nên chấp
trước tướng văn tự, đừng nên chấp
trước nó. Hễ quư vị chấp trước là trật
mất rồi! Chẳng chấp trước nó, quư vị sẽ
thông đạt, đắc tự tại đối với
văn tự, đắc Bát Nhă, đắc giải thoát. Nếu
quư vị chấp trước nó, sẽ mê, mê nơi văn
tự, Giáo cũng chẳng thông, trí huệ cũng chẳng
có, Giải Thoát cũng không có, tự tại lẫn trí huệ
đều không có. Đó là chết cứng nơi câu văn,
chẳng biết văn tự tánh Không, chẳng biết
văn tự là Thật Tướng. Mọi người phải
chú tâm lănh hội ư nghĩa này, chớ nên suy tưởng; nếu
suy tưởng sẽ nghĩ không ra. Nếu quư vị suy xét,
càng nghĩ càng hỏng bét, chớ nên suy tưởng, mà phải
lănh hội. Không thể lănh hội th́ cũng chẳng sao! Niệm
A Di Đà Phật là được rồi; quư vị niệm
ba năm, sẽ tự nhiên hiểu. Chuyện này rất kỳ
diệu, niệm ba năm bèn hiểu. Đúng như [lời
Sao] đă viết: “Cử nhất
tức tam, lệ thượng khả tri” (Nêu lên một
điều chính là ba điều, dựa theo những điều
trên đây sẽ có thể suy ra).
(Sao)
Thể Tướng Dụng giả.
(鈔) 體相用者。
(Sao:
Thể, Tướng, Dụng).
Đây là
dùng Tam Đại để xét.
(Sao)
Thể giả, tổng thể, ngôn Phật tiện châu, cố
Phật vi Thể. Tướng giả, Thể trung sở cụ
chi Tướng. Thể vô tận, Tướng diệc vô tận,
cố Vô Lượng Thọ vi Tướng. Dụng giả,
Thể trung sở phát chi Dụng. Thể vô bất chiếu,
Dụng diệc vô bất chiếu, cố Vô Lượng Quang
vi Dụng. Nhược thông, nhược biệt đẳng,
diệc như thượng lệ.
(鈔)
體者,總體,言佛便周,故佛為體;相者,體中所具之相,體無盡,相亦無盡,故無量壽為相;用者,體中所發之用,體無不照,用亦無不照,故無量光為用。若通若別等,亦如上例。
(Sao: Thể là tổng thể, nói Phật liền
trọn đủ. V́ thế, Phật là Thể. Tướng
là tướng sẵn đủ trong Thể. Thể vô tận,
nên Tướng cũng vô tận. V́ thế, Vô Lượng
Thọ là Tướng. Dụng là tác dụng do Thể phát
ra. Thể không ǵ chẳng chiếu, nên Dụng cũng không
ǵ chẳng chiếu. V́ thế, Vô Lượng Quang là Dụng.
[Các nghĩa] dù thông, hay biệt cũng đều theo lệ
trên đây).
Thể là
bản thể. Nói “Phật”,
bản thể bèn trọn đủ viên măn, chẳng khuyết
thiếu mảy may. “Phật”
ở đây, tự nhiên là nói về Pháp Thân Phật. Chúng ta
nghe nói Pháp Thân Phật, [chẳng cảm thấy] có vấn
đề ǵ, nhưng Báo Thân và Ứng Thân lại như thế
nào? Cũng như vậy ư? Cũng thế! Nhưng ư
nghĩa này chẳng dễ hiểu cho lắm, giống như
kinh Hoa Nghiêm đă dạy: “Phá
nhất vi trần, xuất đại thiên kinh quyển”
(phá một vi trần, hiện ra quyển kinh to bằng tam
thiên đại thiên), lại nói: “Giới
tử nạp Tu Di” (núi Tu Di nhét vào hạt cải), tức
là nói một và nhiều chẳng hai, lớn nhỏ như
nhau. Nếu hiểu rơ đạo lư này, lẽ đâu Ứng
Thân chẳng phải là Pháp Thân? Kinh Hoa Nghiêm nói như vậy.
Cuối chương Truyền Hương Sám Hối của
Đàn Kinh, Lục Tổ đại sư đă giảng “nhất thể tam thân”,
cũng là giảng rơ ràng, minh bạch ư nghĩa “một tức
là ba, ba chính là một” trong kinh Hoa Nghiêm.
V́ thế,
đối với chữ “Phật”
ở đây, quư vị nói là Pháp Thân, Báo Thân, hay Ứng Thân đều
được. Nói “Phật”
liền “châu”, “châu” (周) là viên măn. Nếu nói cái thân này của phàm
phu chúng ta [cũng viên măn] th́ có được hay không? Giống
hệt! Không hề chẳng trọn khắp! Thánh phàm chẳng
hai, chúng sanh và Phật chẳng hai! Do vậy, trong các kinh Hoa
Nghiêm, Viên Giác, Niết Bàn cũng có ư nghĩa này: “Hết thảy chúng sanh vốn đă
thành Phật”. Phật và chúng sanh khác biệt ở chỗ
mê hay ngộ, nhưng tự tánh chẳng có mê hay ngộ, Phật
Tánh chẳng có mê hay ngộ! Nói thật ra, Thể và Tướng
đều không có mê hay ngộ, trong Thể chẳng có mê hay
ngộ, trong Tướng cũng chẳng có mê hay ngộ. Mê
và ngộ do đâu mà có? Trong Dụng có mê hay ngộ! Thể,
Tướng và Dụng là Tam Đại, hai thứ đầu
đều chẳng có tướng mê hay ngộ; Phật ngộ,
ngộ ǵ vậy? Ngộ Thể, ngộ Tướng. Lũ
chúng sanh chúng ta mê, mê ǵ vậy? Mê Thể, mê Tướng. Bản
thân Thể và Tướng không có mê hay ngộ, cho nên chúng
sanh và Phật chẳng hai. Hễ nói tới Phật liền
trọn vẹn, tùy tiện nêu ra một pháp nào, nêu ra một
pháp sẽ trọn khắp, cho đến nêu ra một vi trần
cũng trọn khắp, nhất định phải hiểu
ư nghĩa này, đấy là nói về bản thể.
Tướng
là hiện tướng, Thể nhất định hiện
Tướng, chẳng thể nói Thể không có Tướng,
quyết định là có Tướng. Hư không cũng có Tướng,
hư không cũng là Tướng Phần của Chân Như
bổn tánh. Có h́nh sắc th́ chúng ta gọi nó là Tướng;
nhưng không có h́nh sắc vẫn là Tướng, tức là
“hư không tướng”. Nói có h́nh sắc, mọi người
dễ hiểu tướng ấy, nhưng nói đến [điều
ǵ] không có h́nh sắc, chúng ta chẳng hiểu cho lắm. Cớ
sao không có h́nh sắc mà gọi là Tướng? Nó cũng do tự
tánh biến hiện, cũng chẳng rời khỏi tự
tánh. Chúng tôi nêu tỷ dụ để nói th́ ban đêm quư vị
nằm mộng, trong giấc mộng có hư không hay chăng?
Nếu trong mộng chẳng có hư không, quư vị sẽ chẳng
thể chuyển động; quư vị muốn hoạt động
th́ luôn luôn phải có hư không. Hư không trong giấc mộng
do đâu mà có? Có phải là do cái tâm của quư vị biến
hiện hay không? Có thể thấy hư không cũng do tự
tánh biến hiện; hết thảy vạn pháp trong hư không
cũng do tự tánh biến hiện. V́ thế, hư không là
một thứ thuộc về Tướng Phần của
tự tánh. Nó vẫn là Tướng Phần, chẳng thể
nào không có tướng, giống như chúng ta nói tới vàng,
vàng nhất định có tướng. Quư vị làm thành một
cái nhẫn, sẽ có tướng nhẫn; làm thành ṿng đeo
tay, sẽ có tướng ṿng đeo tay. Hết thảy đều
chẳng cần tới nữa, ta ép cho những thứ ấy
dẹp lép, nó bèn có tướng dẹp lép, kéo dài ra bèn có tướng
dài ngoằng. Quư vị nói: “Tôi chẳng cần tướng”,
không cần tướng th́ vàng cũng chẳng có. Đă có
vàng, nhất định có tướng. Điều này cho
thấy: Hễ có Thể, nhất định có Tướng.
Quư vị phải hiểu: Kiến tánh chẳng phải là
diệt Tướng rồi quư vị mới kiến tánh.
Diệt Tướng, chẳng thấy Tánh; giống như
vàng, tướng ǵ cũng chẳng cần tới nữa
th́ vàng cũng không có, quư vị cũng không có được
vàng!
Do vậy,
nói “ĺa hết thảy tướng”
nghĩa là trong tâm, ĺa [ư niệm] chấp trước tướng,
chẳng phải là ĺa tướng bên ngoài. Ví như kinh Kim
Cang có dạy: “Nếu Bồ
Tát có tướng ta, tướng người, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả, bèn chẳng phải là
Bồ Tát”, Bồ Tát nhất định phải ĺa bốn
tướng ấy. Nhân tướng và ngă tướng chúng
ta đều chẳng cần, đâu có đạo lư ấy!
Ĺa ǵ vậy? Trong tâm ĺa rời [ư niệm] “tôi chấp
trước có người, có ta, có kẻ khác”. Quư vị ĺa
cái tướng phân biệt, chấp trước ấy, chứ
không phải là bên ngoài chẳng có [tướng]. Tướng
Phần bên ngoài chắc chắn tồn tại. Hiện thời,
căn bệnh nặng của chúng ta là ǵ? Căn bệnh nặng
là trong tâm quư vị có tướng chấp trước, có tướng
phân biệt! Những thứ ấy phiền lắm, chúng khiến
cho quư vị chẳng thể kiến tánh. Kinh Hoa Nghiêm giảng
rất hay: Ĺa khỏi hết thảy vọng tưởng,
chấp trước, Tướng là Tánh, Tánh là Tướng.
Khi ấy, minh tâm kiến tánh, Tánh ở nơi đâu? Tướng
là Tánh; giống như nói: “Vàng ở nơi đâu? Đồ
vật là vàng”. Thuận tay cầm lấy [bất cứ vật
nào], không có ǵ chẳng phải là vàng; đấy cũng là
kiến tánh.
Ngày nay, sở
dĩ chúng ta không có cách nào thực hiện “Tánh - Tướng
như một”, chẳng thể kiến tánh, là v́ trong tâm chính
ḿnh có một thứ vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. Vọng tưởng ấy gọi là tướng
hư vọng. Rời khỏi tướng hư vọng này,
tất cả hết thảy cảnh giới bên ngoài đều
là tướng chân thật, gọi là “Thật Tướng
của các pháp”. Do vậy, đạt đến cảnh giới
ấy, đức Phật lại nói theo một cách khác: “Phàm những ǵ có h́nh tướng,
đều là Thật Tướng”. Đối với câu
đă nói trong phần trước “phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư
vọng”, hai câu này có mâu thuẫn hay không? Chẳng mâu thuẫn!
Chúng có cùng một ư nghĩa, tướng hư vọng là Thật
Tướng, Thật Tướng là tướng hư vọng,
chẳng mâu thuẫn tí nào! Quư vị mới hiểu chân, vọng
chẳng hai, phàm thánh giống như nhau; nhưng nếu tâm
quư vị chẳng thanh tịnh, sẽ chẳng thấy
được. Ắt cần phải tâm thanh tịnh hiện
tiền th́ chân tướng ấy mới có thể hiện
tiền.
Đây là
nói về Tướng, tức là Tướng được
hiện bởi Thể. “Thể
vô tận”, đương nhiên Tướng vô tận. V́
vậy, kinh này lấy Vô Lượng Thọ làm đại diện.
Tác dụng là mê hay ngộ. Dụng của phàm phu là mê, Dụng
của Phật, Bồ Tát là ngộ, khác nhau ở chỗ
này, những điều khác giống hệt như nhau! “Thể vô bất chiếu, Dụng
diệc vô bất chiếu” (Thể không ǵ chẳng chiếu,
Dụng cũng không ǵ chẳng chiếu). Do vậy, Vô Lượng
Quang là đại dụng của chư Phật, Bồ Tát.
Các Ngài có trí chiếu, giác ngộ, chẳng mê. Nay [những điều]
chúng ta phải học, nói thật ra là học điều
này. V́ vậy, toàn thể giáo học trong Phật pháp, quả
thật lấy Bát Nhă làm chủ. Trong sự giáo hóa cả một
đời đức Phật, kinh Hoa Nghiêm chỉ nói trong mười
bốn ngày, cũng có người bảo là hai mươi mốt
ngày; nếu tính là ba thất, th́ cũng chẳng hơn hai mươi
mốt ngày. Kinh Hoa Nghiêm do đức Phật giảng trong Định,
phàm phu chúng ta chẳng thể hiểu cảnh giới ấy.
Giảng A Hàm mười hai năm, [A Hàm] giống như Tiểu
Học; Phương Đẳng tám năm; Bát Nhă hai
mươi hai năm, dài nhất. Đức Phật giảng
kinh tổng cộng bốn mươi chín năm, Bát Nhă chiếm
hai mươi hai năm, gần như là chiếm phân nửa
[thời gian], quư vị mới biết Phật pháp lấy trí
huệ Bát Nhă làm chủ. Chúng ta nhất định phải
biết điều này.
Nếu Bát
Nhă trọng yếu như vậy, nay chúng ta có phải học
kinh Bát Nhă hay không? Học cũng được, mà không học
càng tốt hơn, v́ sao? Niệm một câu A Di Đà Phật
này, [chính là] phước huệ song tu. Một câu A Di Đà Phật
bao gồm vô lượng Bát Nhă. Niệm một câu Phật
hiệu này cho tới khi tâm thanh tịnh, Bát Nhă trong bản tánh
sẽ hiện tiền. Cách này tuyệt diệu lắm, tuyệt
diệu ở chỗ này! Phương cách của Thiền
Tông rất đặc biệt, Thiền Tông là “bất lập văn tự, giáo
ngoại biệt truyền”, “giáo”
là giáo học. Họ chẳng dốc sức nơi giáo học;
nói cách khác, chẳng đổ công nơi kinh điển, chẳng
dốc sức nơi giảng kinh, thuyết pháp; họ dồn
sức chỗ nào? Trực tiếp bảo quư vị tu Định.
Thuở đầu, khi Đạt Ma Tổ Sư đến
[Trung Hoa], đă dạy người khác phương pháp quán
tâm, dùng phương pháp ấy. Sau đấy, do chúng sanh
nghiệp chướng tập khí nặng nề, dùng phương
pháp ấy công phu chẳng đắc lực. V́ thế, tổ
sư mới đổi sang một phương pháp gọi
là “tham thoại đầu”,
nhằm mục đích cầu đắc tâm thanh tịnh.
Tâm địa thanh tịnh, trí huệ Bát Nhă khai, khi ấy,
lại đọc kinh. Do vậy, chẳng phải là họ
không cần đến kinh điển, họ cần kinh
điển, nhưng đặt kinh điển vào nửa
giai đoạn sau, trước hết, cầu đắc
Thiền Định, đắc Thiền Định rồi
mới đọc kinh, mở quyển kinh ra bèn hiểu rơ ư
nghĩa. Do vậy, tốc độ [lănh hội kinh điển]
của họ vô cùng nhanh chóng!
V́ thế,
chẳng phải là Thiền gia không cần kinh, họ cần!
Những tổ sư đại đức trong Thiền
Tông có vị nào chẳng thông đạt hết thảy các
kinh? Quư vị thấy ngữ lục, trước tác của
các Ngài dẫn kinh điển làm chứng, chẳng có pháp thế
gian hay xuất thế gian nào các Ngài không biết. Không chỉ
thông thạo kinh Phật, mà bá gia chư tử của Trung
Quốc, các Ngài đều thông hiểu. Các Ngài sau khi ngộ
mới xem sách; trước khi khai ngộ, quyết định
chẳng đọc sách, quyết định
chẳng nghe kẻ khác giảng diễn, dùng phương
pháp ấy. Nhưng niệm Phật càng thuận tiện
hơn tham thoại đầu của Thiền Tông. Nói thật
thà, hiện thời, tham thoại đầu của nhà Thiền
cũng chẳng dễ dàng. Hiện thời, nói thật ra, tham
thoại đầu là dấy vọng tưởng, đâu
có ǵ là tham thoại đầu? Làm ra vẻ, chứ chẳng
khai ngộ! Tham thoại đầu tâm phải rất vi tế,
quư vị chẳng có cách nào thực hiện công phu này!
Thoại
đầu là ǵ? Nếu khi câu nói ấy khởi lên, nó đă
trở thành thoại vĩ mất rồi, chẳng phải
là thoại đầu! Thoại đầu không có ư nghĩa,
chẳng hạn như nhà Thiền thường nói: “Tham phụ mẫu vị sanh tiền
bổn lai diện mục” (tham cứu diện mạo vốn
có trước khi được cha mẹ sanh ra), quư vị
bèn nghĩ: Khi cha mẹ chưa sanh ra ta, ta vốn là như
thế nào? Đó gọi là khởi vọng tưởng, có
ǵ là tham thoại đầu? Quư vị có thể t́m ra câu trả
lời ở nơi ấy hay chăng? Nó chẳng có ư
nghĩa, mà cũng chẳng có câu trả lời! Nhằm dạy
quư vị dùng một phương pháp, [câu tham thoại đầu
ấy khiến cho quư vị khởi nghi, mối nghi ấy]
gọi là “nghi t́nh”. Khi ư niệm
dấy lên, quư vị bèn bí mật t́m ṭi, niệm ấy do đâu
mà có? Đó gọi là “thoại đầu”. Quư vị t́m nguồn
gốc, cội nguồn của nó, quan sát nó, tâm sẽ đắc
Định. Cách này đ̣i hỏi tâm hành nhân phải rất
vi tế, kẻ hời hợt sẽ không hành được,
chẳng có cách nào! Nếu quư vị muốn t́m câu trả lời
cho câu hỏi ấy, đó là khởi vọng tưởng,
chẳng gọi là tham thoại đầu. Nhưng quư vị
truy ngược lại coi ư niệm ấy do đâu mà có? Tất
nhiên ư niệm ấy không có, khi nó không có, quư vị bèn chú ư, niệm
ấy đi đâu rồi? Quư vị dơi theo câu ấy, t́m kiếm
nó, chỉ quan sát nó, tâm sẽ đắc Định. Thiền
giả dùng phương pháp này th́ gọi là “tham thoại đầu”.
Vận dụng
công phu đắc lực, sẽ chẳng trở ngại
công việc; đi, đứng, nằm, ngồi đều
tham Thiền. Trong Thiền Tông, Thiền ḥa tử[1] mỗi ngày làm lụng, gánh nước, bửa
củi, luôn làm những việc cực nhọc ấy, nhưng
tham cứu quyết định chẳng gián đoạn. Nhưng
quư vị hăy suy nghĩ: Phương pháp ấy chẳng đơn
giản, thuận tiện như niệm Phật. Nếu nói
về sự thành tựu th́ niệm Phật cao hơn. Nếu
họ (hành giả nhà Thiền) chẳng đại triệt
đại ngộ, sẽ chẳng có một tí tác dụng ǵ!
Sau khi đại triệt đại ngộ, chưa chắc
đă có thể vượt thoát tam giới, v́ sao? Nếu chẳng
đoạn Kiến Tư phiền năo, dẫu là đại
triệt đại ngộ, quả báo bất quá là Tứ
Thiền Thiên mà thôi!
Ở
đây, chúng tôi có một cuốn băng thâu âm lời khai thị
của lăo pháp sư Đàm Hư, quư vị có thể thỉnh
về nhà nghe nhiều lần. Có những đồng tu nói:
“Sư là người phương Bắc, chúng tôi nghe không
hiểu giọng địa phương của Ngài!” Cuốn
băng ấy là bảo bối, không nghe không được!
Quư vị nghe tới hai mươi lần, ba mươi lần,
sẽ nghe hiểu, phải kiên tŕ nghe. Tôi nghe lời giảng
của Ngài có thể hiểu tám, chín phần, tôi c̣n nghe ba
mươi mấy lần. Do cuốn băng của Ngài dài
một tiếng rưỡi, gần như tôi có thể nhớ
nằm ḷng, tôi nghe quá nhiều lượt! Thật là hay,
Sư giảng khai thị, giảng về tham Thiền. Bởi
lẽ, quả báo tham Thiền là Tứ Thiền Thiên, chẳng
thể thoát tam giới, công phu ấy kể như rất
khá, khi người ấy đến được Tứ
Thiền Thiên, đă đạt công phu là khuất phục
phiền năo. Nếu chưa thể khuất phục phiền
năo, chẳng thể đến Tứ Thiền Thiên. Tuy có thể
chế phục phiền năo, [nhưng v́] tập khí phiền
năo chưa đoạn, nên chẳng ra khỏi tam giới. Nếu
chúng ta niệm Phật, niệm tới mức vừa mới
có thể khuất phục phiền năo đôi chút th́ đă
có thể văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Hễ văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
bèn viên chứng ba thứ Bất Thoái, một đời thành
Phật; tham Thiền làm sao có thể sánh bằng niệm Phật?
Chẳng sánh bằng! Nếu có công phu định lực của
Thiền Tông, thưa quư vị, văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, phẩm vị sẽ rất cao.
Quán Kinh và kinh Vô Lượng Thọ
giảng hết sức thấu triệt. Đối với
pháp môn Tịnh Độ, hai lời nguyện, tức nguyện
mười tám và nguyện mười chín trong bốn
mươi tám nguyện của A Di Đà Phật là tinh túy của
đại nguyện. Nguyện mười tám nói ǵ? Kẻ Ngũ
Nghịch Thập Ác lúc lâm chung mười niệm văng sanh;
[đối với hạng người này] Thiền chẳng
có một tí ti biện pháp nào cả! Kẻ Ngũ Nghịch
Thập Ác lâm chung gặp thiện tri thức, khuyên kẻ ấy
niệm Phật bèn có thể văng sanh. Quư vị hăy nghĩ xem,
c̣n có ai chẳng thể văng sanh? Không có ai chẳng thể
văng sanh! Nguyện mười chín bảo [hành nhân] hăy phát Bồ
Đề tâm. Chúng ta nghe nói tới Bồ Đề tâm cũng
ngán, chúng ta chẳng thể phát nổi tâm ấy! Nhưng Ngẫu
Ích đại sư đă nói một câu huỵch toẹt: Chỉ
cần quư vị thật sự chịu phát nguyện cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đó là
Vô Thượng Bồ Đề tâm. Chúng ta nghe Ngài nói câu ấy,
tảng đá [đè trĩu trong ḷng] rơi phịch xuống
đất, chúng ta dấy lên Vô Thượng Bồ Đề
tâm, v́ sao? Tâm cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới là tâm Vô Thượng Bồ Đề. Chúng tôi càng
nghĩ càng thấy có lư, thật vậy! V́ người ấy
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thành Phật
trong một đời, tâm ấy chẳng phải là Vô Thượng
Bồ Đề tâm, th́ tâm ǵ mới là Vô Thượng Bồ
Đề tâm? Đấy là chỗ chẳng thể nghĩ
bàn của Tịnh Độ, trong hết thảy các kinh khác
không có, trong các thế giới của mười
phương chư Phật cũng không có. V́ thế, quư vị
phải thật thà nắm chắc nhân duyên đúng là khó thể
gặp gỡ từ vô lượng kiếp tới nay, thế
mà chúng ta được gặp gỡ trong một đời
này!
Người
bên ngoại quốc mời tôi đi giảng kinh, tôi chẳng
thể không đi, đấy là nhân duyên trong vô lượng
kiếp, tôi phải nói với họ. Người nào tin sẽ
thành Phật, chỉ cần văng sanh sẽ thành Phật. Đối
với người không tin, cũng gieo chủng tử cho họ.
V́ thế, nhất định phải đi.
Chúng tôi
ra nước ngoài giảng kinh, các đồng tu ở
đây phải niệm Phật, chớ nên gián đoạn.
Tôi lại kính khuyên quư vị, hy vọng các đồng tu phải
thật sự nỗ lực, để làm ǵ? Đọc
kinh. Điều trọng yếu nhất trong Quán Kinh là ba phước.
Quán hạnh có ba thứ: Quán Tưởng Niệm Phật, Quán
Tượng Niệm Phật, và Tŕ Danh Niệm Phật, [Quán
Kinh] giảng ba phương pháp ấy. Từ phép Quán thứ
nhất tới phép Quán thứ mười hai là Quán Tưởng
Niệm Phật, phép Quán thứ mười ba trở đi
là Quán Tượng Niệm Phật, phép Quán thứ mười
sáu là Tŕ Danh Niệm Phật. Quán Kinh chủ yếu giảng
về phương pháp niệm Phật và tam phước. Đối
với tam phước, chúng ta nhất định phải nhớ
kỹ, nói thật ra, tam phước là ba tầng lớp:
1) Thứ nhất, chúng
ta phải tu phước báo nhân thiên. Phước thứ nhất
là “hiếu dưỡng phụ
mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng
giết”. Nếu quư vị chưa thể ăn chay, ăn
thịt cũng không sao, nhưng đừng sát sanh, mua ngoài
chợ những thứ đă bị giết rồi, mua về
ăn, đừng mua thứ c̣n sống đem về nhà giết,
hăy từ tâm chẳng giết! “Tu
Thập Thiện Nghiệp Đạo”, đấy là phước
thứ nhất, nhân thiên phước.
2) Phước thứ
hai là phước báo Tiểu Thừa, đấy là [phước
tu] trong nhà Phật: “Thọ tŕ
Tam Quy, trọn đủ các giới, chẳng phạm oai
nghi”, Tam Quy, Ngũ Giới, oai nghi là nghi biểu, nói theo
cách bây giờ là lễ nghi, chúng ta phải giữ lễ tiết.
3) Phước
thứ ba là phước Đại Thừa, tức phước
của Đại Thừa Bồ Tát. Câu đầu tiên là “phát Bồ Đề tâm”, chúng
ta phát tâm văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới
tức là phát Bồ Đề tâm. “Tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa”,
câu tiếp theo là “khuyến tấn
hành giả”, khuyến tấn là ǵ? Phải giảng cho người
khác nghe, khuyên người khác tu pháp môn Tịnh Độ.
V́ vậy,
đọc tụng rất quan trọng, đọc tụng
giống như nghe đức Phật răn dạy. Chúng
ta đọc bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại
sư, sẽ giống như nghe Liên Tŕ đại sư khai
thị. Quư vị thấy cổ đức, chúng ta đọc
kinh luận, ngữ lục thường thấy các Ngài nghe
giảng kinh, nghe chưa xong bộ kinh, đă khai ngộ, chứng
quả. Quư vị đồng tu từ lúc học Phật,
nghe cho tới nay vẫn chẳng khai ngộ, v́ sao chẳng
khai ngộ? V́ b́nh thường, quư vị chẳng đọc
tụng, nguyên nhân đơn giản như thế đó!
Trong Lục Tổ Đàn Kinh, quư vị thấy: Nếu thiền
sư Pháp Đạt chẳng niệm ba ngàn bộ kinh Pháp
Hoa, Lục Tổ giảng giải như thế, Sư có
thể khai ngộ hay chăng? Chẳng thể ngộ! V́
sao Sư khai ngộ? V́ Sư niệm ba ngàn bộ. Kinh Pháp
Hoa có bảy quyển, mỗi ngày niệm một biến, niệm
ba ngàn bộ gần như là niệm mười năm. Sư
có căn cơ mười năm đọc tụng Đại
Thừa; v́ thế, Lục Tổ vừa giảng một tí,
Sư đă hoảng nhiên đại ngộ.
Nếu
hiện thời quư vị cũng niệm Di Đà Kinh Sớ
Sao ba ngàn biến, nghe tôi giảng kinh ở nơi đây, sẽ
khai ngộ hay không? Nhất định có người khai
ngộ. V́ vậy, cổ nhân nghe kinh khai ngộ, chẳng phải
là không có đạo lư. Người ta căn tánh nhạy
bén, v́ sao nhạy bén? Niệm nhiều nên nhạy bén! So với
họ, quư vị c̣n thông minh hơn, nhưng không chịu làm,
c̣n có cách nào nữa? Trong nhà bị trở ngại, chẳng
thể đọc tụng th́ đến đây, tới chỗ
này để làm. Nếu chẳng ngừng niệm măi
như vậy, đối với quư vị sẽ rất có
lợi. Quư vị niệm nhuần nhuyễn, giảng phần
trước, quư vị biết phần sau, giảng tới
phần sau, quư vị nghĩ đến phần trước,
sẽ xuyên suốt ư nghĩa của cả bộ kinh. Tâm
địa thanh tịnh, đích xác sẽ có ngộ xứ. Do
vậy, đọc tụng Đại Thừa vô cùng trọng
yếu.
Chúng ta có
thể thường xuyên niệm, thường xuyên nghe, thường
xuyên giảng cho người khác, nhất định phải
giảng cho người khác, thật sự là một ngày khó
gặp gỡ trong vô lượng kiếp. Bản thân chúng
ta đạt được lợi ích này, nếu chẳng
lần lượt bảo với người khác, chúng ta sẽ
có lỗi với Phật, có lỗi với tổ sư.
Chúng ta nói cho họ biết, họ chẳng tin, chẳng tiếp
nhận, đó là v́ chính kẻ ấy nghiệp chướng
nặng nề, chúng ta đă tận hết tâm lực rồi!
Chính kẻ ấy không chịu tu, đó là chuyện của kẻ
ấy, chúng ta xét ḷng chẳng thẹn, tâm địa thản
nhiên. Tuyệt đối chẳng phải là chúng ta đă đạt
được, nhưng chẳng bảo với kẻ khác,
[như vậy là] không được!
Bản
thân tôi đă học Phật hơn ba mươi năm, nay
tôi hiểu thật sâu pháp môn này, nên tôi dám khuyên người
khác hăy đều buông xuống tất cả các pháp môn khác!
Quư vị chỉ cần học một môn này, chắc chắn
sẽ thành công. Quư vị tu thêm những thứ khác, chắc
chắn bị chướng ngại. Hiện thời, chúng
ta hăy toàn tâm toàn lực đi theo pháp môn
này, chắc chắn sẽ đi thông suốt. Nếu quư vị
thông đạt môn này, bất luận trong tương lai quư
vị học pháp môn nào, hết thảy pháp môn đều
đạt được. “Một
kinh thông, hết thảy các kinh đều thông”. Một
pháp môn thành tựu, hết thảy các pháp môn thành tựu, đúng
là Thiền, Giáo, Mật, Luật, không có môn nào quư vị chẳng
thành tựu. Do vậy, đây là pháp môn đơn giản nhất,
dễ dàng nhất, ổn thỏa nhất, đáng tin cậy
nhất; nếu chúng ta chẳng tu pháp môn này, quả thật
quá đáng tiếc!
(Sớ)
Chư kinh lập danh, giai dĩ Nhân, Pháp, Dụ, hoặc
đơn, hoặc phức. Thử kinh đơn Nhân, Nhân
phục hữu nhị, lưỡng độ quả nhân cố,
thật tắc tam giai dung thông cố.
(疏) 諸經立名,皆以人法喻,或單或複。此經單人,人復有二,兩土果人故,實則三皆融通故。
(Sớ:
Đặt tên cho các kinh đều dùng Nhân, Pháp, Dụ, hoặc
đơn, hoặc phức. Kinh này chỉ dùng Nhân. Nhân lại
có hai, tức là bậc đă chứng quả trong hai cơi. Quả
thật là ba thứ này (Nhân, Pháp, Dụ) đều dung
thông).
Đây là
nói về cách đặt tên trong kinh Phật có một nguyên
tắc, đề mục (tên kinh) chẳng phải là tùy tiện
thành lập, mà dùng Nhân, Pháp, và Tỷ Dụ. Tất cả các
kinh đều chẳng tách rời ba nguyên tắc này. Ba loại
đơn là chỉ dùng Nhân làm đề mục, hoặc chỉ
dùng Pháp, hay chỉ dùng Dụ (tỷ dụ), đó là ba loại.
Ngoài ba loại này, c̣n có hai loại trùng điệp, tức
là “Nhân Pháp, Nhân Dụ, Pháp Dụ”, biến thành ba thứ trùng
phức, gọi [gộp chung] là “tam
đơn tam phức”; c̣n có một loại gọi đủ
là “cụ túc”, tức là trong
tựa đề ấy, Nhân, Pháp, Dụ đều có. V́ thế,
có tất cả bảy thứ. Kiến lập đề mục
của hết thảy các kinh Phật đều chẳng
ra ngoài phạm vi của bảy loại này. V́ thế, gọi
là “thất lập tuyển
đề” (bảy cách chọn lựa để đặt
tựa đề một bản kinh).
Trong bảy
cách chọn lựa để đặt tên kinh, kinh này thuộc
loại nào? Đơn nhân, Phật Thuyết A Di Đà Kinh.
Trong tên kinh này, chỉ có Nhân, không có Pháp, mà cũng không có tỷ
dụ (Dụ), hoàn toàn dùng Nhân để đặt tên. Nhân
lại có hai người: “Phật
Thuyết” th́ Phật là Thích Ca Mâu Ni Phật, là vị thuộc
thế giới Sa Bà, vị được nói đến là
“A Di Đà” thuộc về Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Do vậy, trong
nhân có cơi này và cơi kia. “Quả
nhân” là người chứng đắc Phật rốt
ráo. Kinh này thuộc loại “đơn
nhân lập đề”.
(Sao)
Đơn phức giả, như Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm Kinh, cụ túc Nhân, Pháp, Dụ tam.
(鈔) 單複者,如大方廣佛華嚴經,具足人法喻三。
(Sao: “Đơn phức”:
Như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
trọn đủ ba thứ Nhân, Pháp, Dụ).
Trong đề
mục của kinh Hoa Nghiêm, ba thứ Nhân, Pháp, Dụ đều
có. Đại Phương Quảng là Pháp, Phật là Nhân, Hoa
Nghiêm là tỷ dụ, Hoa là đóa hoa, Nghiêm là trang nghiêm, giống
như trong vườn hoa, các thứ hoa đều có, hoa nở
hết sức tươi thắm, dùng điều này làm tỷ
dụ. V́ thế, gọi là Hoa Nghiêm, đó là tỷ dụ.
(Sao)
Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh, Nhân Pháp vô
Dụ.
(鈔)
大方便佛報恩經,人法無喻。
(Sao: Tựa đề của
Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh có Nhân và
Pháp, không có Dụ).
Trong đề
mục này, có Nhân và Pháp, không có tỷ dụ. Đại Phương
Tiện là Pháp, Báo Ân cũng là Pháp, Phật là Nhân. Trong đề
mục này, không có tỷ dụ. Đề mục này thuộc
loại “Nhân Pháp lập đề”.
(Sao)
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Pháp Dụ vô Nhân.
(鈔) 妙法蓮華經,法喻無人。
(Sao: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh có
Pháp và Dụ, không có Nhân).
Diệu Pháp
là Pháp, Liên Hoa là tỷ dụ. Trong đây, không có Nhân, v́ thế,
là Pháp Dụ Vô Nhân, dùng Pháp và Dụ để đặt tên
kinh.
(Sao) Bồ
Tát Anh Lạc Kinh, Nhân Dụ, vô Pháp.
(鈔) 菩薩瓔珞經,人喻無法。
(Sao:
Bồ Tát Anh Lạc Kinh, có Nhân và Dụ, không có Pháp).
Bồ
Tát là Nhân, Anh Lạc là tỷ dụ. Anh Lạc là những
thứ trang sức đeo trên người, do châu ngọc hoặc
các thứ hoa kết thành. Chúng ta thấy trước ngực
của tượng Phật, Bồ Tát đeo rất nhiều,
đầy ắp, đó là anh lạc. Bồ Tát Anh Lạc
Kinh không có Pháp, tên kinh thuộc loại “Nhân Dụ vô Pháp”.
(Sao)
Đại Bát Nhă Kinh, đơn Pháp, vô Nhân Dụ.
(鈔) 大般若經,單法無人喻。
(Sao: Đại Bát Nhă Kinh, chỉ
có Pháp, không có Nhân và Dụ).
Đại
Bát Nhă là Pháp, không có tỷ dụ, cũng không có Nhân, đây
là “đơn Pháp lập đề”.
(Sao)
Phạm Vơng Kinh, đơn Dụ, vô Nhân Pháp.
(鈔) 梵網經,單喻無人法。
(Sao: Phạm Vơng Kinh, chỉ có
Dụ, không có Nhân và Pháp).
Phạm
Vơng là tỷ dụ, tức là cái lưới của Đại
Phạm Thiên, trong đề mục này không có Nhân, mà cũng
chẳng có Pháp, dùng tỷ dụ để đặt tên
kinh.
(Sao)
Kim thử kinh giả, đơn Nhân, vô Pháp Dụ, tha giai lệ
thử.
(鈔) 今此經者,單人無法喻,他皆例此。
(Sao: Nay kinh này chỉ có Nhân,
không có Pháp và Dụ, đối với tên gọi của những
bộ kinh khác, cứ dựa theo những điều đă
tŕnh bày ở đây để biết).
“Tha” (他) là hết thảy những kinh khác. [Tựa
đề của] hết thảy các kinh Phật khác cũng
chẳng ngoài bảy cách đặt tên này!
(Sao)
Lưỡng độ quả nhân giả, Bồ Tát tại
nhân, Như Lai tại quả, cố Phật hiệu “quả
nhân”.
(鈔) 兩土果人者,菩薩在因,如來在果,故佛號果人。
(Sao: “Quả nhân thuộc hai
cơi”: Bồ Tát đang tu nhân, Như Lai đă chứng quả,
nên Phật được gọi là “quả nhân”).
“Hiệu” (號) là danh hiệu, chúng ta gọi Ngài là “quả nhân”. Bồ Tát c̣n đang
tu nhân, vẫn đang tu hành, vẫn chưa viên măn; viên măn gọi
là kết quả.
(Sao)
Kim thị thử phương chi Phật.
(鈔) 今是此方之佛。
(Sao:
Nay là vị Phật ở phương này).
“Thử phương chi Phật”
là Thích Ca Mâu Ni Phật.
(Sao) Thuyết
bỉ phương Phật cố.
(鈔)
說彼方佛故。
(Sao: Nói tới vị Phật ở
phương kia).
“Bỉ phương Phật” là
Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. Do vậy,
trong tựa đề kinh là “lưỡng
độ quả nhân” (bậc đă chứng đắc
Phật quả ở hai cơi).
(Sao)
Dung thông giả, cử nhất tức tam cố.
(鈔) 融通者,舉一即三故。
(Sao: “Dung thông”: Nêu lên một
chính là ba).
Nói thật
ra, ư nghĩa này phát xuất từ kinh Hoa Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm quả
thật chẳng thể nghĩ bàn. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Hàng bố chẳng trở ngại
viên dung, viên dung chẳng trở ngại hàng bố”, “hàng bố” là theo thứ tự,
c̣n “viên dung” là không có thứ
tự, “một tức là nhiều,
nhiều tức là một”. Chiếu theo Lư ấy trong
kinh Hoa Nghiêm để nh́n, chẳng có một pháp nào không viên
dung, đó gọi là “viên nhân
thuyết pháp, chẳng pháp nào không viên”, viên nhân quán pháp, cũng
chẳng pháp nào không viên! Có thể thấy: Đối với
viên và chẳng viên, pháp không có viên hay chẳng viên, tùy thuộc
vào tầm nh́n của người ấy là viên hay chẳng
viên, vấn đề ở chỗ này! Viên là như vậy,
mà nhiễm, tịnh, cấu, uế, không pháp nào chẳng phải
là như vậy. Do vậy, tâm tịnh th́ hết thảy các
pháp đều tịnh; tâm ô nhiễm, hết thảy các pháp
bị ô nhiễm. Pháp có tịnh hoặc uế hay không? Chẳng
có! Nhiễm hay tịnh là do tâm, chẳng do pháp. Đấy là
nguyên lư chân thật được giảng trong kinh Hoa
Nghiêm.
Liên Tŕ
đại sư chú giải kinh Di Đà, chọn dùng
phương thức [chú giải kinh điển] của tông
Hoa Nghiêm; v́ thế, mở đầu Ngài dùng Thập Môn Khai
Khải. Lại c̣n khắp mọi chỗ đều trích dẫn
kinh Hoa Nghiêm để giải thích kinh Di Đà, Ngài dụng
tâm rất nhọc nhằn, dụng ư rất sâu, nhằm mục
đích bảo chúng ta kinh Di Đà và kinh Hoa Nghiêm là một,
không hai, dụng ư ở chỗ này. V́ thế, cổ đức
nói: Kinh Di Đà là kết luận của kinh Hoa Nghiêm, là chỗ
quy túc của Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Trong bản chú giải kinh Vô
Lượng Thọ của lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ,
chúng ta cũng thấy cụ trích dẫn lời cổ đức,
chứ chẳng phải do chính cụ nói, [cổ đức]
nói Hoa Nghiêm và Pháp Hoa bất quá nhằm dẫn khởi kinh Di
Đà mà thôi, nhằm hướng dẫn quư vị. [Có thể
sánh ví kinh Hoa Nghiêm và Pháp Hoa] giống như lời tựa
cho một cuốn sách mà thôi! Từ những kinh ấy, [đức
Phật] dẫn dắt chúng ta vào kinh Di Đà. Lời ấy
càng nghĩ càng thấy có lư! Do vậy, quư vị phải nghĩ
kinh này quan trọng lắm. Hoa Nghiêm và Pháp Hoa được
mọi người trong thiên hạ công nhận là vua trong các
kinh, nhưng vua các kinh lại dẫn về Cực Lạc.
Điều này đáng để chúng ta suy nghĩ sâu xa!
(Sao)
Như kim kinh tuy thuộc đơn nhân, nhi Pháp tùng Nhân thuyết,
Dụ dĩ Nhân cử.
(鈔) 如今經雖屬單人,而法從人說,喻以人舉。
(Sao: Như [tựa đề]
kinh này tuy thuộc loại đơn Nhân, nhưng Pháp do
người nói, tỷ dụ do người nêu ra).
Nói đến
Nhân th́ đương nhiên Pháp và Dụ cũng được
bao gồm trong ấy!
(Sao)
Ngôn thiên, nghĩa viên, thông dung giao triệt, Lư cố nhiên dă.
(鈔) 言偏義圓,通融交徹,理固然也。
(Sao: Lời nói có thiên
lệch, nhưng nghĩa viên dung, dung thông thấu triệt,
Lư vốn là như vậy).
Nói tới
Pháp Thân th́ Pháp Thân, Bát Nhă và Giải Thoát là ba đức, hễ
nói tới Phật liền trọn khắp. Ba món ấy cũng
giống như vậy, bất luận nói tới Nhân, nói tới
Pháp, hay nói tới Dụ, nhất định sẽ là “một
mà ba, tuy ba mà một”. Nói tới Nhân, th́ Pháp là do Nhân nói, Dụ
do Nhân nêu ra; đương nhiên Nhân bao gồm Pháp và Dụ.
Nếu chỉ nói tới Dụ, Dụ do Nhân tỷ dụ,
Nhân có thể thuyết pháp, cho nên trong Dụ cũng bao gồm
Nhân và Pháp. Pháp cũng như vậy, Pháp do Nhân nói,
đương nhiên chẳng ĺa Nhân, Nhân lại nêu tỷ dụ
để hiển thị pháp, Dụ cũng được
bao gồm bên trong, quả thật là một mà ba, ba mà một.
Nếu chúng ta hiểu, tách ra th́ nói như thế nào, viên
dung th́ như thế nào, khi đáng chia th́ chia, khi nên viên dung
th́ nên viên dung. Khi đáng chia là nhằm khiến cho người
khác dễ lănh ngộ, dễ hiểu. Khi viên dung là nhằm
khiến cho người khác đừng chấp trước;
chẳng chấp trước th́ mới có thể hiểu
được ư nghĩa viên dung. Nếu quư vị có phân biệt,
chấp trước, quư vị chỉ có thể hiểu ư
nghĩa một bên, ư nghĩa ấy chẳng viên; ắt phải
đạt đến đừng chấp trước, ư
nghĩa sẽ viên măn. Do vậy, phải dùng hai cách nói khiến
cho quư vị có thể thật sự thấu hiểu! Ngày
hôm nay chúng tôi giảng tới đây.
Tập 98
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm tám mươi
lăm:
(Sớ)
Thử kinh bổn danh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị
Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ
Niệm Kinh.
(疏)
此經本名:稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
(Sớ: Kinh này vốn
có tên là Kinh Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ
Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm).
Tên kinh này
do chính Thích Ca Mâu Ni Phật nói ra. Trong phần sau, trong đoạn
Sáu Phương Phật sẽ nêu ra tên gốc của kinh này.
Tên này hết sức trọng yếu. Từ tên kinh này, chúng
ta có thể nhận biết pháp môn này chẳng thể
nghĩ bàn. Xưng Tán là ai khen ngợi? Mười phương
ba đời hết thảy chư Phật, không vị Phật
nào chẳng khen ngợi, khen ngợi điều ǵ? Khen ngợi
Bất Khả Tư Nghị Công Đức. Công là ǵ? Đức
là ǵ? Công là tín nguyện tŕ danh, công phu, công tu hành ấy. Đức
là ǵ? Đức và Đắc (đạt được) có
cùng một ư nghĩa, thời cổ, hai chữ này dùng lẫn
lộn; v́ thế, Đức là cái ta đạt được!
Quư vị nương theo công phu này để tu, sẽ đạt
được ǵ? Văng sanh bất thoái. “Tín nguyện tŕ danh, văng sanh bất
thoái” là công đức của bộ
kinh này!
V́
sao nói chẳng thể nghĩ bàn? Thật sự chẳng thể
nghĩ bàn. Sự thật này “chỉ
có Phật và Phật mới có thể thấu đạt rốt
ráo”, Đẳng Giác Bồ Tát cũng chẳng thể hiểu
rất rơ ràng, do nguyên nhân nào? Chúng ta thường tán thán Phật
là vạn đức vạn năng, giác hạnh viên măn. Có rất
nhiều người nói khen ngợi như vậy chính là
cách nói tượng trưng, v́ Phật há có năng lực
to lớn ngần ấy? Phật chẳng thể làm
được rất nhiều chuyện như thế.
Chúng ta không chỉ nghe tục
nhân phê b́nh như thế, thậm chí các đại pháp
sư xuất gia cũng phê b́nh như vậy! Họ phê b́nh
đúng hay sai? Họ phê b́nh chẳng đúng, nói thật ra,
họ chẳng thấy được mọi mặt trong Phật
pháp!
Nói cách
khác, nếu người ấy thật sự liễu giải
kinh Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, và pháp môn Tịnh
Độ, sẽ thừa nhận Phật thật sự vạn
đức vạn năng, đúng là giác hạnh viên măn, chẳng
c̣n tranh căi ǵ nữa. V́ sao? Chúng sanh tội nghiệp cực
nặng, Ngũ Nghịch, Thập Ác, tạo những trọng
tội ấy ngay lập tức phải đọa địa
ngục, nếu chúng ta hỏi, đức Phật có bản
lănh khiến cho những kẻ như vậy chẳng đọa
địa ngục hay chăng? Không chỉ chẳng đọa
địa ngục, mà c̣n có thể khiến cho kẻ ấy
ngay lập tức thành Phật hay không? Nếu đức Phật
có bản lănh ấy, đức Phật là vạn đức
vạn năng, là giác hạnh viên măn. Nếu đức Phật
chẳng có năng lực ấy, tức là năng lực của
Phật vẫn c̣n khiếm khuyết, chúng ta nói Ngài vạn
đức vạn năng chỉ là lời ca ngợi, chẳng
thật, chẳng phải là sự thật. Thật ra, từ
kinh này, chúng ta đă có được kết luận, Phật
vạn đức vạn năng là sự thật, tức
là nói chúng sanh Ngũ Nghịch, Thập Ác phải đọa
địa ngục, đức Phật không chỉ có thể
khiến cho họ chẳng đọa địa ngục, mà
c̣n có thể khiến cho họ lập tức thành Phật.
Đức Phật dùng phương pháp ǵ? Bảo họ niệm
Phật.
Từ Thập
Lục Quán Kinh, tức là từ kinh Quán Vô Lượng Thọ
Phật, có mười sáu phép Quán [để quán] Vô Lượng
Thọ Phật. Mười sáu phép Quán ấy bao gồm trọn
hết: Mười hai phép Quán đầu là Quán Tưởng
Niệm Phật, [phép Quán thứ] mười ba, mười
bốn và mười lăm là Quán Tượng Niệm Phật;
[phép Quán] thứ mười sáu là Tŕ Danh Niệm Phật. Quư
vị phải ghi nhớ: Kinh Di Đà và kinh Vô Lượng
Thọ đều chú trọng tŕ danh niệm Phật. Tŕ Danh
Niệm Phật là phép Quán thứ mười sáu trong kinh Quán
Vô Lượng Thọ Phật. Độ hạng chúng sanh nào?
Kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác, khi lâm chung, một niệm
hay mười niệm đều có thể văng sanh. Hễ văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ viên
chứng ba thứ Bất Thoái, c̣n có ǵ để nói hay chăng?
Viên chứng ba thứ Bất Thoái là thành Phật!
Nếu chẳng
thành Phật, làm sao có thể viên chứng ba thứ Bất
Thoái? Trong phần trước, chúng tôi đă nói: Tiểu Thừa
Sơ Quả mới chứng Vị Bất Thoái; thuộc về
Đại Thừa là hàng Tứ Quả A La Hán hồi Tiểu
hướng Đại. Nếu nói theo Viên Giáo, Bồ Tát thuộc
địa vị Thất Tín chứng Hạnh Bất Thoái,
tức loại Bất Thoái thứ hai. Minh tâm kiến tánh,
phá một phẩm vô minh, phần chứng Pháp Thân th́ mới
có thể chứng đắc Niệm Bất Thoái, nhưng đó
là mới vừa chứng đắc, chưa viên măn. Viên măn
ba thứ Bất Thoái là ai? Là Đẳng Giác Bồ Tát trong
Viên Giáo, tức là những vị như Quán Thế Âm, Đại
Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc, các Ngài mới
là viên chứng ba thứ Bất Thoái. Do vậy, công đức
ấy chẳng thể nghĩ bàn, v́ sao? Quư vị thấy các
Ngài chẳng cần tu ba đại A-tăng-kỳ kiếp,
chẳng cần phải trải qua nhiều tầng cấp,
địa vị như vậy, từ Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, lại
đạt đến Đẳng Giác, không cần phải
trải qua như thế, từ phàm phu ngay lập tức đạt
lên cao như vậy, lại là trong một niệm hay mười
niệm trong khoảng sát-na bèn đạt được, điều
này chẳng thể nghĩ bàn! Thật vậy, Bồ Tát
đều nghĩ chẳng thông suốt, đây là đạo
lư ǵ? Trong Tịnh Độ Tam Kinh đă giảng cặn kẽ
đạo lư này, giảng cho chúng ta biết đạo lư này.
V́ vậy, đấy là công đức chẳng thể
nghĩ bàn. Do đó, mười phương chư Phật
không vị nào chẳng tán thán, không vị nào chẳng hoằng
dương, quư vị phải biết [như vậy]!
V́ lẽ đó,
pháp môn này thù thắng nhất, là pháp môn bậc nhất. Các pháp
môn khác chẳng thể độ, chẳng có cách nào độ,
nhưng pháp môn này có thể độ, đấy mới là
bậc nhất. Quư vị nghĩ đến Thiền hay Mật,
bất luận một pháp môn nào, có thể độ kẻ
Ngũ Nghịch Thập Ác hay không? Chẳng độ được!
Dẫu là có thể độ th́ cũng phải mất một
thời gian rất dài, phải mất ba đại A-tăng-kỳ
kiếp, hay vô lượng kiếp, chẳng thể khiến
kẻ ấy đắc độ ngay lập tức! Trong
kinh này đă nói: “Hoặc một
ngày, hoặc hai ngày, cho đến hoặc bảy ngày”. Một
ngày bèn độ được! Trong một ngày độ
kẻ phàm phu trong địa ngục thành Phật, pháp này chẳng
phải là pháp môn bậc nhất để chư Phật
độ chúng sanh th́ pháp môn nào mới gọi là bậc nhất?
Quư vị hăy suy nghĩ cặn kẽ! Do vậy, [pháp này được]
mười phương chư Phật xưng tán.
Mười
phương chư Phật đă xưng tán, chúng ta lại
hỏi: Mười phương chư Phật có giảng kinh
này hay không? Đương nhiên là giảng! Căn tánh của
chúng sanh trong mười phương thế giới khác
nhau, nên chư Phật trong mười phương thế
giới giảng kinh cũng khác nhau, chỉ riêng bộ kinh
này là giống nhau. Mười phương ba đời tất
cả chư Phật không vị nào chẳng giảng kinh Di
Đà, không vị nào chẳng giảng kinh Vô Lượng Thọ.
Tịnh Độ Tam Kinh Nhất Luận chắc chắn
giống nhau, vị Phật nào cũng đều phải
giảng, v́ sao? Nếu Phật chẳng giảng kinh này, sẽ
chẳng thể phổ độ chúng sanh, sẽ chẳng
thể triệt để viên măn độ thoát chúng sanh trong
một thời gian ngắn nhất, đức Phật sẽ
chẳng thể [làm được]; chỉ có ḿnh pháp môn này!
Do vậy, chư vị phải hiểu: Quư vị có thể
gặp gỡ pháp môn này, đến rốt ráo là phước
khí như thế nào? Chẳng có cách nào diễn tả được!
Bất khả thuyết bất khả thuyết [phước
báo], không có cách nào nói được! Từ vô lượng
kiếp tới nay, trong một đời này, quư vị có
thể gặp pháp môn này, đúng là lạ lùng, phước
báo do đâu mà có? Từ đề mục này, chúng ta có thể
hiểu thật sâu ư nghĩa này.
Do vậy,
tôi khuyên mọi người, quư vị học kinh bèn học
ba kinh là đủ rồi, học giảng kinh bèn học giảng
ba kinh, chính ḿnh nương theo kinh này để tu hành, dùng kinh
này hóa độ chúng sanh, giảng cho người khác nghe,
không nên giảng ǵ khác, những kinh khác đều là kinh hạng
hai, hạng ba, kinh này là bậc nhất. Kinh bậc nhất
chỉ có một bộ này, không có bộ thứ hai! Ngay cả
Hoa Nghiêm và Pháp Hoa đều là Tự Phần của kinh này,
dẫn đường, hướng dẫn [tới kinh này],
quư vị có thể suy nghĩ mà biết tầm quan trọng
của kinh này. Quả thật chẳng dễ ǵ gặp gỡ,
cho nên công đức chẳng thể nghĩ bàn, hết thảy
chư Phật đều nói đây là công đức chẳng
thể nghĩ bàn, có thể khiến cho chúng sanh tội nghiệp
cực nặng thành Phật trong một ngày.
Nay chúng
ta nghiệp chướng chẳng nặng như vậy, chẳng
tạo trọng tội Ngũ Nghịch, Thập Ác, chúng ta
chẳng thành Phật hay sao? Chắc chắn có thể thành
tựu. Nhưng hiện thời vẫn chưa thành tựu,
quư vị chẳng thành tựu là do nguyên nhân nào? Quư vị
đối với kinh này, đối với pháp môn này vẫn
chưa thể khăng khăng một mực, v́ sao? Chưa
nhận thức rơ ràng, kinh nói “pháp khó tin”, quư vị có tin hay
không? Tin! Tuy tin, nhưng chưa đủ chân thật, tin chưa
triệt để. Quư vị có phát nguyện hay không? Có phát
nguyện, nhưng nguyện chẳng thiết tha. Quư vị
có hành hay không? Có, cũng niệm Phật, nhưng niệm chẳng
đủ sức, niệm chưa đến mức! Do vậy,
tuy Tín, Nguyện, Hạnh đều có, nhưng rất dễ
duôi, biếng nhác. Bộ kinh này rốt ráo [giảng dạy]
chuyện ǵ, quư vị chẳng triệt để hiểu
rơ. Thật sự triệt để hiểu rơ th́ điều
ǵ cũng đều buông xuống. Xưng Tán Bất Khả
Tư Nghị Công Đức, phải hiểu điều này! “Xưng tán” là được
mười phương chư Phật xưng tán, mười
phương ba đời hết thảy chư Phật đều
xưng tán.
Trong
Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh cũng
có rất nhiều ư nghĩa này.
Nhất Thiết Chư Phật chỉ
mười phương ba đời hết thảy
chư Phật. [Kinh này] được hết thảy
chư Phật hộ tŕ, trong tâm hết thảy chư Phật
đều nghĩ tới. Nói lời thật thà, Phật có
phải niệm kinh này hay không? Phải niệm, v́ sao? Nếu
Ngài chẳng niệm kinh này, sẽ chẳng thể thành Phật.
Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật như thế nào? Niệm
A Di Đà Phật thành Phật, chư vị phải biết
điều này. Không chỉ Thích Ca Mâu Ni Phật, mà hết
thảy chư Phật đều do niệm A Di Đà Phật
mà thành Phật, đạo lư này cũng rất sâu xa. Đối
với ư nghĩa của A Di Đà Phật, A là Vô, Di Đà là
Lượng, Phật là Giác, quư vị hăy suy nghĩ: Hết
thảy chư Phật có phải là Vô Lượng Giác hay không?
Nếu các Ngài chẳng phải là Vô Lượng Giác, làm sao thành
Phật cho được? V́ thế, A Di Đà Phật là danh
hiệu chung của hết thảy chư Phật. Nếu
các Ngài không thành Vô Lượng Giác, sẽ chẳng thể
thành Phật. Do vậy, các Ngài phải niệm tự tánh A Di
Đà, niệm Vô Lượng Giác trong tự tánh, chứng
đắc Vô Lượng Giác trong tự tánh, sẽ thành Phật
viên măn. Do vậy, mới hiểu chư Phật do niệm A
Di Đà Phật mà thành Phật.
Đồng
thời, qua kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy Văn Thù, Phổ Hiền
là Đẳng Giác Bồ Tát trong Viên Giáo, trong hội Hoa
Nghiêm, [các Ngài] vẫn phải phát nguyện văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, v́ sao?
Đương nhiên là v́ muốn thành Phật. Thành vị Phật
nào? Thành Viên Giáo Phật, là Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác. Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là Vô Lượng
Giác. Không chỉ chính các Ngài phát nguyện văng sanh, c̣n dùng mười
đại nguyện vương để khuyên dạy trọn
khắp những vị Bồ Tát minh tâm kiến tánh, tức
là bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại
sĩ trong Hoa Tạng hải hội, thảy đều cầu
sanh Tây Phương thế giới. Bốn mươi mốt
địa vị là Thập Trụ gồm mười địa
vị, Thập Hạnh gồm mười địa vị,
Thập Hồi Hướng gồm mười địa
vị, Thập Địa gồm mười địa vị;
[tổng cộng] bốn mươi địa vị, kể
cả Đẳng Giác Bồ Tát thành bốn mươi mốt
địa vị Bồ Tát. Trong mỗi một địa
vị chẳng biết có bao nhiêu người? Chẳng có cách
nào tính toán! Thảy đều văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, để làm ǵ? Sang bên kia để
thành Phật quả trong Viên Giáo.
C̣n có pháp
hội nào thù thắng, trang nghiêm hơn pháp hội này? Chúng
ta t́m không được. V́ thế, nói “kinh Hoa Nghiêm là Tự
Phần của kinh Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ”, chẳng
sai tí nào! Do vậy, một bộ Hoa Nghiêm tới cuối
cùng trở về Tịnh Độ, trở về kinh này, được
hết thảy chư Phật hộ niệm. Hộ pháp th́
pháp môn này là pháp môn bậc nhất, nhưng quư vị chẳng
biết giá trị, chẳng quư mến nó. Quư vị thật
sự biết giá trị, sẽ hết sức quư trọng,
yêu mến nó, chớ nên để nó thất truyền, phải
hoằng dương rạng rỡ, thật sự nhận
biết. Huống chi kinh c̣n dạy chúng ta: Một người
thật sự phát tâm cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, A Di Đà Phật sẽ phái hai mươi
lăm vị Bồ Tát ngày đêm bảo vệ, hộ tŕ quư
vị. Quư vị sẽ chẳng gặp những tai nạn
xấu ác, chẳng bị nguy hiểm, thật ḷng sanh về
Tịnh Độ, hoằng dương Tịnh Độ.
Không chỉ phải phát tâm cầu sanh Tịnh Độ, mà
chúng ta c̣n phải phát tâm hoằng dương Tịnh Độ,
v́ sao? Tương ứng với bổn nguyện của Phật.
Có rất
nhiều đồng tu cũng có lúc nói với tôi, muốn tôi
dạy họ giảng kinh. Tôi giảng ở nơi đây
là dạy quư vị giảng kinh, quư vị hăy chú ư nghe, nghe kỹ
càng, nghe xong, quư vị sẽ biết giảng. Sau khi quư vị
đă nghe, có thể giảng được
bao nhiêu bèn giảng bấy nhiêu, chỉ cần chẳng giảng
sai là được rồi! Chỗ nào không biết giảng,
đừng giảng; biết giảng th́ giảng, [như
vậy] th́ sẽ chẳng sai! Tôi dạy quư vị giảng
một bộ kinh Di Đà, đừng lôi Sớ Sao ra, v́
một bộ sách lớn như vậy sẽ dọa kẻ
khác chết khiếp! Ta biết giảng đề mục,
bèn giảng một câu ấy là được rồi. Ta biết
giảng kinh văn bèn giảng mấy câu cũng được.
V́ thế, giảng những thứ đơn giản, dễ
hiểu, nhất là đối với con người hiện
thời, mọi người công việc đều rất
bận rộn, đâu có thời gian dài như vậy để
nghe quư vị giảng một bộ kinh lớn? Đó là
chuyện không thể nào được! Càng đơn giản
càng hay! Nói ra những ư nghĩa trọng yếu trong ấy
là được rồi! Chúng ta nhắm đến mục
đích làm cho người khác tin tưởng pháp môn Niệm
Phật, khiến cho họ phát nguyện, chịu niệm
th́ mục đích đă đạt. Giảng cho họ tin
tưởng, khiến họ thật sự phát nguyện cầu
sanh Tịnh Độ, thật sự chịu niệm Phật,
hoằng dương Tịnh Độ nhằm mục
đích này! Do vậy, đây là kinh được hết thảy
chư Phật hộ niệm.
Do điều
này có thể biết: Chúng ta là người thật sự đọc
tụng bộ kinh điển này, nhất định sẽ
được hết thảy chư Phật hộ niệm.
“Niệm” ở đây là Phật
thường nhớ đến chúng ta, thường nghĩ
nhớ chúng ta, Phật thường che chở chúng ta, v́ sao?
Ngài phải bảo vệ pháp môn này. Chúng ta muốn cầu Phật,
Bồ Tát bảo vệ, cầu Phật, Bồ Tát phù hộ
th́ hăy niệm kinh này. Quư vị niệm A Di Đà Phật,
nhất định được hết thảy chư
Phật gia hộ. Do vậy, có thể thấy sự thù thắng
của pháp môn này.
V́ sao khi
Cưu Ma La Thập đại sư dịch kinh chẳng
dùng tên gốc của bản kinh, mà đổi đề mục
thành Phật Thuyết A Di Đà Kinh? V́ sao phải sửa
như vậy?
(Sớ)
Kim danh thị Thập Sư cải định.
(疏) 今名是什師改定
(Sớ: Tên kinh hiện thời
do La Thập đại sư sửa đổi).
“Kim danh” là tên hiện
thời của kinh này, chính là Phật Thuyết A Di Đà Kinh.
Tựa đề kinh này chẳng phải do đức Phật
nói, mà do chính La Thập đặt ra tên gọi ấy. Ngài đặt
tên này cũng có dụng ư rất sâu, v́ kinh này chủ yếu
dạy quư vị hăy chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất
loạn, rành rành là dùng ngay danh hiệu để làm tựa đề
của kinh. Do vậy, vừa nh́n thấy kinh này, tự nhiên
quư vị niệm một câu A Di Đà Phật, dụng ư ấy
rất ư là sâu! Do vậy, người đời sau cũng
hết sức tán thán trí huệ của La Thập đại
sư, cũng rất bội phục, chẳng nói đề
mục do Ngài đặt ra chẳng đúng, v́ Ngài đặt
ra đề mục này phù hợp rất sâu với ư đức
Phật: Khuyên con người hăy niệm A Di Đà Phật.
(Sớ)
Tự hữu nhị nghĩa.
(疏) 自有二義。
(Sớ:
Tự có hai nghĩa).
Nêu ra hai đạo
lư [trong việc La Thập đại sư chọn tên kinh như
vậy].
(Sớ)
Nhất giả, Phật nhiếp vô tận nghĩa cố.
(疏) 一者佛攝無盡義故。
(Sớ:
Một là do Phật nhiếp thọ vô tận ư nghĩa).
Trong bốn
chữ A Di Đà Phật bao hàm vô lượng nghĩa.
(Sớ)
Nhị giả, bỉ Phật nhân sở nhạo văn cố.
(疏) 二者彼佛人所樂聞故。
(Sớ: Hai là con người
thích nghe [danh hiệu] đức Phật ấy).
“樂” đọc
là Yào (âm Hán Việt tương ứng là Nhạo), nghĩa
là ưa thích, vui thích. “Bỉ Phật” là A Di Đà Phật.
A Di Đà Phật đặc biệt có duyên rất sâu với
chúng sanh trong thế gian này, mọi người thích nghe tên
Ngài. Do vậy, La Thập đại sư dùng danh hiệu Phật
để làm tên kinh với dụng ư ấy. Trong lời Sao
tiếp theo đây, [Liên Tŕ đại sư] đă giải
thích hai ư nghĩa của việc La Thập đại
sư lập ra đề mục này.
(Sao)
Nhiếp nghĩa vô tận giả, như tiền vân “ngôn Phật
tiện châu”.
(鈔) 攝義無盡者,如前云言佛便周。
(Sao: “Nhiếp thọ vô tận
nghĩa” là như trong phần trước đă nói: “Nói tới
Phật liền trọn khắp”).
“Ngôn Phật tiện châu”: Nói tới
Phật, hết thảy các ư nghĩa đều viên măn, trọn
đủ.
(Sao) Tắc nhất thiết
công đức giai tùng Phật xuất, Phật tức bất
tư nghị cố.
(鈔) 則一切功德皆從佛出,佛即不思議故。
(Sao: Tức là hết thảy
công đức đều phát xuất từ Phật, Phật
là chẳng thể nghĩ bàn).
Ư
nghĩa này cũng rất rơ ràng.
(Sao)
Hựu Di Đà vạn đức hồng danh, thập
phương tam thế nhất thiết chúng sanh chi sở hỷ
nhạo, thượng chí chư Phật tán thán, hạ chí quỷ
súc quy y, chánh vị bất tư nghị công đức cố.
(鈔) 又彌陀萬德洪名,十方三世一切眾生之所喜樂,上至諸佛讚歎,下至鬼畜歸依,正謂不思議功德故。
(Sao: Lại nữa, vạn
đức hồng danh Di Đà được mười
phương ba đời hết thảy chúng sanh ưa
thích, trên là được chư Phật tán thán, dưới
là ngạ quỷ, súc sanh đều quy y, nên bảo là “công
đức chẳng thể nghĩ bàn”).
Ư
nghĩa này cũng hết sức hay. Như vừa mới
nói, mười phương ba đời hết thảy
chư Phật, không vị nào chẳng tán thán A Di Đà Phật,
không vị nào chẳng khuyên con người cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, không vị nào
chẳng khuyên con người niệm A Di Đà Phật. Do
vậy, quư vị niệm A Di Đà Phật, chư Phật
hoan hỷ. Đức Phật chẳng nói: “Cớ sao các ngươi
niệm A Di Đà Phật, mà chẳng niệm ta?” [Nếu
nghĩ] Phật sẽ tức giận, th́ đó là tâm lượng
của người trong thế gian chúng ta, chẳng phải
là tâm Phật. V́ sao? Đức Phật biết: “Quư vị
niệm ta sẽ chẳng thành Phật, chẳng thể văng
sanh. Chỉ có niệm A Di Đà Phật, mới có thể
văng sanh, mới có thể thành Phật”. Chúng ta phải hiểu
rơ điều này.
Nguyện vọng lớn
nhất của mười phương chư Phật là
mong mỏi chúng ta ngay lập tức thành Phật, đó là
nguyện vọng của Phật. Chúng ta làm như thế nào
th́ mới có thể ngay lập tức thành Phật? Quư vị
niệm A Di Đà Phật, sẽ nhanh chóng thành Phật. Đúng
như Thiện Đạo đại sư đă dạy,
Ngài bảo chúng ta hăy chuyên niệm, thứ nhất là thân
chuyên lễ, mỗi ngày thân chúng ta lễ bái, lễ bái vị
nào? Lạy A Di Đà Phật, thân chuyên lễ A Di Đà Phật.
Miệng chẳng niệm điều ǵ khác, những điều
khác thảy đều chẳng niệm, chuyên niệm A Di
Đà Phật. Trong tâm cũng chẳng tưởng ǵ khác, điều
ǵ cũng chẳng nghĩ tới, chuyên tưởng A Di
Đà Phật. Thân này cũng chẳng cần lạy vị
Phật nào khác, chẳng cần lạy vị Bồ Tát nào
khác, thân, khẩu, ư tam nghiệp của quư vị có thể
chuyên chú vào A Di Đà Phật. Thiện Đạo đại
sư nói: Một trăm người tu, một trăm
người văng sanh. Một ngàn người tu, một ngàn
người văng sanh. Vạn người tu, vạn người
đến. Có thật hay chăng? Thật đấy! Chẳng
giả tí nào!
Chúng ta thấy
khá nhiều chuyện thật sự; chẳng hạn như
những câu chuyện do lăo pháp sư Đàm Hư đă kể
trong lời khai thị Phật Thất. Đó là thật, chẳng
giả! Một đồ đệ của pháp sư Đế
Nhàn niệm Phật ba năm bèn đứng văng sanh, biết
trước lúc mất. Chết rồi vẫn đứng
sững ba ngày, chờ lăo ḥa thượng đến lo liệu
hậu sự cho ông ta. Quư vị thấy bản lănh của
người ta lớn cỡ nào? Người ấy chẳng
biết chữ, tuy xuất gia, pháp sư Đế Nhàn cho ông
ta xuống tóc, nhưng chẳng cho thọ giới, lăo ḥa thượng
chẳng cần ông ta phải thọ giới. Ông ta đă già
khọm rồi mới xuất gia, chẳng cần thọ
giới. Chính ông ta đương nhiên chẳng thể xem
kinh, trước nay cũng chưa hề nghe giảng kinh lần
nào! Sau khi [ông ta] xuất gia, lăo ḥa thượng dạy: “Ông
cứ niệm miết một câu Nam-mô A Di Đà Phật”. Ông
thật sự mỗi ngày lễ bái A Di Đà Phật, niệm
A Di Đà Phật, tưởng A Di Đà Phật, thực hiện
ba năm, bèn thành công. Quư vị hỏi ông ta điều ǵ
khác, ông ta cũng không biết. Đại Bi, Thập Tiểu
Chú đều không biết. Gơ dẫn khánh, gơ mơ ra sao, ông ta cũng
không biết. Điều ǵ cũng không biết, chỉ ôm
chặt một câu Nam-mô A Di Đà Phật, niệm ba năm
[bèn văng sanh].
Lúc ông ta
văng sanh, pháp sư Đế Nhàn lo liệu hậu sự, vô
cùng bội phục ông ta, rất tán thán, lại c̣n nói: Sự
thành tựu của ông ta cao hơn những vị đại
pháp sư giảng kinh, thuyết pháp, và các vị phương
trượng trụ tŕ những ngôi chùa nổi tiếng. Đấy
là “chuyên”, không có ǵ khác! Mấy câu ấy của Thiện Đạo
đại sư được chép trong chú giải kinh Quán
Vô Lượng Thọ Phật, bộ Quán Vô Lượng Thọ
Phật Kinh Tứ Thiếp Sớ do Thiện Đạo đại
sư soạn. Do vậy, chúng ta làm nhiều thứ, làm rất
nhiều chuyện hoa dạng sẽ vô dụng, chẳng đắc
lực! Thật sự đắc lực là một câu A Di
Đà. Quư vị nhất định phải biết, nhất
định phải hiểu rơ, một câu danh hiệu A Di
Đà Phật thật sự chẳng thể nghĩ bàn. V́
thế, ngài Cưu Ma La Thập dùng nó làm tựa đề
kinh này!
(Sớ)
Vân Sớ Sao giả, Sớ dĩ thích kinh, Sao dĩ thích Sớ, kư dị hiểu dă.
(疏)
云疏鈔者,疏以釋經,鈔以釋疏,冀易曉也。
(Sớ: Nói Sớ Sao th́ Sớ
là giải thích kinh, Sao nhằm giải thích Sớ, mong cho
[độc giả] dễ hiểu).
“Sớ Sao” nói theo cách bây giờ
là “chú giải”. Chú giải có
rất nhiều tên gọi. Trong Phật môn, [chú giải có
thể] gọi là Luận, như Đại Trí Độ Luận
là chú giải của kinh Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật, được
gọi là Luận, do Long Thọ Bồ Tát soạn. Phàm [những
tác phẩm nào] dùng chữ Luận đều hàm ư rất kiên
định, rất khẳng định: [Những ư nghĩa
được nêu lên trong] bản chú giải này của tôi
là ư nghĩa của Phật, quyết
định chẳng sai, th́ mới có thể gọi là Luận,
chẳng khác ǵ đức Phật đă giảng. Các đại
đức về sau chẳng dám gọi [tác phẩm chú giải
của ḿnh] theo kiểu ấy, lời tôi giảng chưa
chắc đă là ư Phật, chỉ có thể dâng lên quư vị
tham khảo, quư vị có thể chọn lọc [những ư
kiến nào phù hợp], có thể sửa sai tôi, chứ Luận
th́ không thể. Luận là lời tôi nói và lời Phật
dạy chẳng hai, quư vị chỉ có thể tuân theo, chẳng
thể nào không tôn sùng, quyết định chẳng thể
thay đổi. Tôi nói một chữ cũng chẳng sai, [dùng
chữ Luận nhằm tỏ] thái độ như vậy
đó. “Sớ” khách sáo, khiêm
hư hơn. Sớ có nghĩa là “khai
thông”.
Tại
Trung Quốc vào thời cổ, chú giải cũng giống như
vậy. Như Xuân Thu Tam Truyện, kinh Xuân Thu do Khổng lăo
phu tử nói, Tả Khâu Minh soạn một bản chú giải
gọi là Tả Truyện. Công Dương Truyện, Cốc
Lương Truyện [cùng với Tả Truyện là chú giải
của ba người khác nhau[2]]
dành cho bộ kinh Xuân Thu của Khổng lăo phu tử. Gọi
là Truyện th́ Truyện có nghĩa là truyền lại, ư
nghĩa này cũng kiên định: [Ư nghĩa trong] bản
chú giải này của tôi là ư nghĩa của Khổng lăo phu
tử, chẳng sai! Một câu cũng chẳng thể sửa,
có thể truyền măi đến đời sau, khẩu khí
rất lớn! Người đời sau chẳng dám dùng
chữ này; v́ thế, [các bản] chú giải dùng chữ Chú,
Giải, Sớ hay Sao, dùng những từ ngữ ấy đều
là lời lẽ khiêm hư. Có nghĩa là tôi [giảng giải]
không nhất định có thể hoàn toàn phù hợp ư Phật,
có thể sửa chữa, có thể dùng làm [tài liệu] tham
khảo cho mọi người, chẳng khẳng định
như vậy. [Dùng các chữ Chú, Giải, Sớ, Sao có] ư
nghĩa như vậy đó.
“Sớ” là chú giải “Kinh”. Trong kinh văn có chỗ
nào văn tự hay nghĩa lư sâu xa, khó hiểu, sẽ khai
thông, khiến cho quư vị dễ liễu giải. Nhưng
đôi khi Sớ vẫn c̣n rất sâu, vẫn cần phải
chú giải lời Sớ, tức là chú giải lời chú giải,
đó là “Sao”. Sao tức là chú
giải của lời chú giải, nghĩa là Sớ vẫn
c̣n rất khó hiểu, bèn dùng Sao để giải thích Sớ.
Hiện thời, chúng ta đọc Sao vẫn chưa hiểu,
vẫn thấy [lời Sao] rất sâu, vẫn cần phải
chú giải thêm, tức là vẫn phải giải thích thêm lời
chú giải của chú giải, lời giải thích ấy gọi
là Diễn Nghĩa. Do vậy có Sớ Sao Diễn Nghĩa. Diễn
Nghĩa là chú giải lời Sao. Càng chú giải, ư nghĩa càng
nhiều, ư nghĩa vĩnh viễn chẳng cùng tận, mục
đích là mong cho chúng ta dễ hiểu rơ, dễ thấu hiểu
ư nghĩa trong kinh. V́ thế, soạn Sớ, soạn Sao, hay
viết Diễn Nghĩa, cho đến chúng tôi giảng giải,
đều nhằm [cùng một] mục đích [như đă
được nói] ở đây: Giúp cho chúng ta lư giải kinh
này. Tiếp theo đây là định nghĩa nhằm giải
thích chữ Sớ Sao:
(Sao)
Sớ giả, cổ vân Điều Trần dă, hựu Kư Chú
dă.
(鈔) 疏者,古云條陳也,又記注也。
(Sao:
“Sớ”: Cổ gọi là Điều Trần hoặc Kư Chú).
Trong kinh
văn có những ư nghĩa rất sâu, ư nghĩa sâu thẳm,
chúng ta có thể hiểu được, có thể thấy đôi
chút, bèn ghi chú bên cạnh. Hoặc dùng một cuốn vở
riêng để viết xuống, ghi chép, đó gọi là Điều
Trần, viết xuống từng điều một. Cũng
có nghĩa là “kư chú”, “kư” là bút kư, ghi chú minh bạch
chỗ tâm đắc, cảm tưởng, ngộ xứ, lănh
ngộ của chính ḿnh.
(Sao)
Kim vị kinh nghĩa đắc thử, điều trần
nhi bất ẩn hối.
(鈔) 今謂經義得此,條陳而不隱晦。
(Sao: Nay [Sớ] có nghĩa là do
nhờ vào đấy mà ư nghĩa của kinh được
nêu bày từng điều, chẳng bị ẩn khuất).
Ư
nghĩa rơ rệt, qua chú giải, chúng ta thấy ư nghĩa hết
sức rơ rệt.
(Sao)
Kư chú nhi bất di vong dă.
(鈔) 記注而不遺忘也。
(Sao: Ghi chú để chẳng
quên sót)
Đây là
sợ sau này chúng ta sẽ quên mất, nên viết lại, viết
thành bút kư để ghi nhớ, sau này sẽ không quên mất.
Những điều ấy đều là ư nghĩa của
chữ Sớ.
(Sao)
Sao giả, cổ vân Lược Thủ dă, hựu Tả Lục
dă. Lược Thủ, tắc Điều Trần chi thiết
yếu; Tả Lục, tức Kư Chú chi hiển minh.
(鈔) 鈔者,古云略取也,又寫錄也。略取,則條陳之切要;寫錄,即記注之顯明。
(Sao:
Cổ nhân nói “Sao” là Lược Thủ, hoặc Tả Lục.
Lược Thủ là [chọn lấy] những điều
thiết yếu trong phần Điều Trần (Sớ). Tả
Lục là giảng rơ phần Kư Chú).
“Lược Thủ, tắc Điều
Trần chi thiết yếu”: Đặc biệt nêu ra, đặc
biệt tŕnh bày những ư nghĩa hay câu văn trọng yếu
khiến cho những ư nghĩa ấy càng thêm rơ rệt, chọn
lấy những điều trọng yếu [trong lời Sớ].
Chẳng hạn như Hoa Nghiêm Kinh Sớ Luận Toản Yếu,
Pháp Hoa Kinh Văn Cú Toản Yếu, những tác phẩm ấy
đều thuộc loại Lược Thủ. V́ Sớ và
Luận có phân lượng quá lớn, cho nên chọn lấy
những chỗ trọng yếu. Chỗ không trọng yếu
sẽ không sao lục, chỉ trích lục những điểm
trọng yếu, bèn gọi là Toản Yếu. Hai bộ sách
ấy đều do thiền sư Đạo Bái biên tập
trong niên hiệu Khang Hy đời Thanh, là tác phẩm trích lục.
Đối với kẻ nghiên cứu Sớ Luận kinh Hoa
Nghiêm như chúng ta, có thể nói [hai bộ sách ấy] đă
giúp đỡ rất lớn. Hoa Nghiêm Sớ Luận phân
lượng lớn, ư nghĩa cũng sâu, chẳng dễ đọc!
Pháp Hoa Kinh Văn Cú Kư cũng giống như vậy, cũng
vô cùng sâu, phân lượng khá nhiều! Do Sư thực hiện
công tác này, đối với kẻ sơ học chúng ta, quả
thật là hết sức có ích. Chúng ta đọc phần
tinh hoa, đọc phần lược thuật trọng
điểm. Đó chính là ư nghĩa của chữ Lược
Thủ.
Tả Lục
là viết bút kư, nghe giảng, đọc sách đều phải
viết bút kư, mang ư nghĩa này. Trước đây gọi là
Kư Chú, nay gọi là “viết bút kư”. Giúp quư vị ghi nhớ
chẳng quên, lại c̣n viết rơ ràng, minh bạch những
chỗ quan trọng. Đấy là định nghĩa của
hai chữ Sớ Sao.
(Sao)
Kư, vọng dă.
(鈔) 冀,望也。
(Sao: “Kư” là mong mỏi).
“Kư” là mong muốn, là ḷng mong mỏi
của chúng ta đối với một chuyện ǵ đó.
(Sao)
Kinh nan minh.
(鈔) 經難明。
(Sao:
Kinh khó thể hiểu rơ).
Kinh có ư
nghĩa rất sâu, chẳng dễ hiểu rơ!
(Sao)
Sớ thông chi.
(鈔) 疏通之。
(Sao: [Chú giải] cho
thông suốt).
Khai thông
[những ư nghĩa ẩn kín bằng cách sớ giải],
chúng ta sẽ hiểu rơ ư nghĩa trong kinh.
(Sao)
Sớ nan minh.
(鈔) 疏難明。
(Sao:
Lời Sớ khó hiểu rơ)
Sớ
cũng chú giải rất sâu!
(Sao) Sao xuất chi.
(鈔)
鈔出之。
(Sao: Lời Sao bèn nêu
rơ ra).
Sao là viết
rơ ràng, phơi bày ư nghĩa.
(Sao)
Vọng nhân nhân hiểu liễu kinh nghĩa dă.
(鈔) 望人人曉了經義也。
(Sao:
Mong cho ai nấy hiểu rơ ư nghĩa của kinh).
Mục đích
ở đây là mong sao mọi người đều có thể
hiểu rơ nghĩa lư trong kinh.
Nói nhiều
ngần ấy! Chỗ hay trong bản chú giải này của
Liên Tŕ đại sư là: Không chỉ là giảng rơ ràng giáo
tướng, mà mỗi đoạn đều có lời bàn
luận xứng tánh. Đoạn xứng tánh ấy [nhằm
tŕnh bày] những nghĩa lư rất sâu trong kinh, thường
nói là “huyền ngoại chi âm”
(âm thanh nằm ngoài dây đàn, ư nằm ngoài lời), nh́n theo
văn tự bề ngoài sẽ chẳng thấy được.
Trên thực tế, đoạn văn tự [Xứng Tánh] này
nhằm hiển thị đạo lư ấy.
(Sớ)
Xứng Lư.
(疏) 稱理。
(Sớ:
Xứng Lư).
Sau mỗi
một đoạn đều có phần Xứng Lư. Lư là Chân
Như bổn tánh, [“xứng Lư”]
là nói theo Chân Như bổn tánh.
(Sớ)
Tắc tự tánh giác, thị Phật nghĩa.
(疏) 則自性覺,是佛義。
(Sớ:
Tự tánh giác là ư nghĩa của chữ Phật).
Đó gọi
là “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh
Độ”, hoàn toàn trở về tự tánh.
(Sớ)
Tự tánh giác vô lượng, thị A Di Đà nghĩa; tự
tánh Bổn Thỉ nhị giác, thị lưỡng độ
quả nhân nghĩa.
(疏)自性覺無量,是阿彌陀義;自性本始二覺,是兩土果人義。
(Sớ: Tự tánh giác vô lượng
là ư nghĩa của A Di Đà, Bổn Giác và Thỉ Giác trong
tự tánh là ư nghĩa của “quả nhân hai cơi”).
“Quả nhân” là Phật. “Lưỡng độ” là thế
giới Cực Lạc và thế giới Sa Bà của chúng
ta. Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật là Bổn
Giác, Thích Ca Mâu Ni Phật ở cơi này là Thỉ Giác, Bổn và
Thỉ chẳng hai.
(Sớ) Tự tánh giác thể
biến chiếu, thị thuyết kinh nghĩa, hậu giai
lệ thử.
(疏)自性覺體遍照,是說經義,後皆例此。
(Sớ: Giác thể của tự
tánh chiếu trọn khắp là ư nghĩa của sự “nói
kinh”, trong những đoạn kế tiếp sau đây đều
phỏng theo cách thức này).
Từ đây
trở đi, sau mỗi đoạn đều có phần bàn
luận xứng tánh, đây là chỗ tuyệt diệu trong
bản chú giải này. Tự tánh giác là Phật, “Phật” là tiếng Phạn dịch
âm, dịch sang chữ Hán là Giác. Mỗi cá nhân chúng ta cũng
đều có giác, có ai chẳng giác? Đều giác. V́ sao
không gọi là Phật? V́ quư vị chưa phải là tự
tánh giác. Nếu quư vị là tự tánh giác, sẽ được
gọi là Phật. Cái giác hiện thời của quư vị là
ǵ? Giác của quư vị trong hiện tại là vọng tâm giác,
chẳng là chân tâm, mà là vọng tâm! Suốt ngày từ sáng đến
tối khởi vọng tưởng, tưởng Đông, nghĩ
Tây, đó là tâm vọng tưởng, tâm ấy cũng đang
giác, nhưng những ǵ tâm ấy giác đều là “thác giác”
(giác sai lầm), chẳng phải là chân giác. V́ sao? V́ chẳng
phải là chân tâm, làm sao quư vị chân giác cho được?
Quư vị dùng vọng tâm, [nên sự giác ngộ của quư vị
là] vọng tâm giác, đó là thác giác, chẳng phải là chân giác.
Do vậy, nếu quư vị giác ngộ bằng chân tâm, sẽ
gọi là Phật; nếu giác ngộ bằng vọng tâm, sẽ
chẳng gọi là Phật.
Trong kinh Kim Cang có một
câu, ư nói: Chúng ta học Phật, nếu cầu từ sắc
tướng và âm thanh của Phật, sắc tướng là
ǵ? Là oai nghi. Đức Phật ngồi th́ ngồi như
thế nào? Đứng th́ đứng ra sao? Ngủ như
thế nào? Bốn oai nghi “đi, đứng, nằm, ngồi”
là sắc tướng. Cầu từ âm thanh, âm thanh là đức
Phật thuyết pháp, quư vị nghe, chiếu theo lời Phật
nói để cầu. Đức Phật bảo: “Thị nhân hành tà đạo”
(người ấy hành tà đạo). Y giáo phụng hành, cớ
sao vẫn là tà đạo? Quư vị phải hiểu: Sắc
tướng và âm thanh của Phật đều nhằm dạy
chúng ta khải phát tự tánh giác, chứ không phải là bảo
chúng ta học [rập khuôn] dáng vẻ đức Phật, mà
là nh́n vào h́nh dáng, nghe pháp ngữ của Ngài,
bèn khơi mở tự tánh giác của chúng ta, đức Phật
nhắm tới mục đích ấy, chẳng muốn chúng
ta học theo dáng vẻ và cách ăn nói của Ngài.
Trong thuở ấy,
[lời giảng ấy] quả thật rất khó hiểu,
hiện thời dễ hiểu hơn. V́ sao nói hiện thời dễ hiểu hơn? Nay chúng ta đă cách
Phật ba ngàn năm, h́nh thái ư thức và cách sống của
chúng ta hoàn toàn khác [thời] Phật. Nếu chúng ta vẫn học
theo dáng vẻ, âm thanh của Ngài, đúng là quư vị lội
ngược ḍng, lạc hậu trong xă hội này, không thể
thực hiện được! Do vậy, Phật pháp bảo
quư vị cầu tự tánh giác. Nếu quư vị thật sự
giác ngộ tự tánh, Phật pháp là sống động, chẳng
chết cứng, mà sống động, hoạt bát. Phật
pháp là ǵ? Phật pháp là cuộc sống hiện thực, là xử
sự, đăi người, tiếp vật trong cuộc sống,
giác chứ không mê, đó là Phật pháp. V́ vậy, chẳng cần
phải làm ra vẻ kiểu cọ ǵ, chẳng phải vậy!
[Nếu làm như vậy] sẽ là chết cứng trong Phật
pháp. V́ thế, đức Phật nói: “Kẻ ấy hành tà đạo”. V́ sao? Thấy Thích
Ca Mâu Ni thành Phật, chính ḿnh biến thành ma! Phật dạy
chúng ta hăy tự ḿnh thành Phật, đừng biến chính
ḿnh thành ma, có ư nghĩa này. V́ thế, câu kinh Kim Cang ấy có
ư nghĩa rất sâu.
Quư vị
thấy Phật giáo truyền đến Trung Quốc, lập
tức liền bị Hán hóa. Ở Ấn Độ, ba y, một
bát, mỗi ngày ăn một bữa Ngọ, ngủ dưới
gốc cây. Truyền đến Trung Quốc, hoàng đế
Trung Hoa cúng dường cung điện, hoặc nơi cư
ngụ rất tốt đẹp, các tăng sĩ chẳng
cần phải ra ngoài ngủ nơi trống trải. Mỗi
ngày đều được cúng dường chu đáo, chẳng
cần ra ngoài khất thực. Lại c̣n được cúng
dường y phục rất tốt, ăn uống, quần
áo, chỗ ở, cuộc sống toàn bộ đều được
Hán hóa. Do vậy, hiện thời c̣n có những người
học Phật, nhất định phải mặc theo kiểu
y phục Tiểu Thừa đắp y. Nếu quư vị thật
sự muốn học, hiện thời học điều
ǵ? Học theo người xuất gia ở Thái Lan, chứ đâu
phải là [học theo] Phật. V́ sao? V́ Phật chỉ có ba
y, quư vị c̣n mặc quần lót, quư vị chẳng [ăn
mặc giống như] Phật, ngay cả quần lót cũng
không mặc. Đức Phật khất thực, giữa trưa
ăn một bữa, hiện thời quư vị ăn ba bữa,
chưa học được! Thuở ấy, đức Phật
và các đệ tử ngồi xếp bằng dưới gốc
cây, chẳng có nhà để ở, nay quư vị c̣n có nhà để
ở, quư vị vẫn chưa học được! Quư vị
thấy đó: Học chẳng giống, chẳng ra thể
thống ǵ, chẳng gọi là “hành tà đạo” th́ gọi
là ǵ?
Những
người đó nghe nói như vậy, nhất định
sẽ phản đối, nói tôi chửi họ, nói tôi chẳng
tuân thủ giáo huấn của Phật, lại c̣n chửi rủa
họ! Chính bọn họ tưởng đó là Phật pháp
th́ trật mất rồi! Bởi lẽ, Phật pháp thuộc
thời đại nào, nhất định sẽ hoàn toàn tương
đồng với thời đại ấy. Ở nơi
nào hay thuộc quốc gia nào, nhất định cũng sẽ
hoàn toàn tương đồng với phong tục, tập
quán nơi đó, mọi người mới vui vẻ, mới
hoan hỷ tiếp nhận. Do vậy, Phật giáo truyền
đến Trung Quốc dường như là bị Hán hóa,
nhưng thật ra, đó là ǵ? Hằng thuận chúng sanh, tùy
hỷ công đức. Mọi người nhất định
phải hiểu rơ đạo lư này, chớ nên chết cứng
trong Phật pháp, đừng học chết cứng, mà phải
phát khởi tự tánh giác. Đây là một chút ư nghĩa.
“Tự tánh giác vô lượng là ư
nghĩa của A Di Đà”, A là Vô, Di Đà là Lượng,
Phật là Giác, dịch toàn bộ danh hiệu ấy sang tiếng
Hán sẽ là Vô Lượng Giác. Giác tánh của chúng ta là một,
giác tánh khởi tác dụng vô lượng vô biên. Vô lượng
vô biên tác dụng là A Di Đà. Quư vị phải nhớ kỹ
điều này! Giác tánh là ǵ? Rất khó giảng! Giác tánh là
như thế nào? Nếu giảng [giác tánh] là như thế
nào, có lẽ cũng có thể hiểu được đôi
chút. Lục Tổ đă nói ra h́nh dáng của tự tánh. Lục
Tổ đă tŕnh bày rơ h́nh trạng của tự tánh giác, Ngài nói: “Vốn chẳng có một vật,
chỗ nào nhuốm bụi trần”, đó là h́nh trạng
của giác tánh. V́ thế, giác tánh chẳng có phân biệt, chẳng
có chấp trước. Quư vị có phân biệt, có chấp
trước, sẽ là bất giác, là mê! Không chỉ chẳng
có phân biệt, chấp trước, mà tâm địa thanh sạch,
chắc chắn không lưu giữ ấn tượng. Đó
là giác thật sự. Chẳng phân biệt, chẳng chấp
trước, không ghi ấn tượng, tâm thanh tịnh lắm!
Tâm ấy rộng lớn không ngằn mé! Tâm có phân biệt sẽ
có giới hạn, hễ có chấp trước, tâm lượng
bèn hẹp ḥi, có lớn và nhỏ. Vô phân biệt, vô chấp
trước, không ghi ấn tượng chính là trạng huống
của giác!
Khởi
tác dụng, có phân biệt, có chấp trước, nhưng
không giữ lại ấn tượng. V́ sao có phân biệt?
V́ chúng sanh có phân biệt! Thuận theo chúng sanh mà phân biệt,
chính ḿnh chẳng có phân biệt; thuận theo chúng sanh chấp
trước mà chấp trước, chính ḿnh chẳng chấp
trước. V́ thế, người ấy chấp trước
mà chẳng chấp trước, phân biệt nhưng không phân
biệt. Trong Đàn Kinh, thiền sư Hoài Nhượng và
Lục Tổ hỏi đáp. Khi câu trả lời của Hoài
Nhượng có lời biện bác, Lục Tổ nói: “Có phải là ngươi có phân biệt
hay chăng?” Hoài Nhượng đáp rất hay: “Phân biệt cũng chẳng phải
là Ư”, [nghĩa là: Lời đáp mang
tính chất phân biệt ấy] chẳng thuộc vào tâm ư thức.
Đó chính là tùy thuận Ngài phân biệt mà tôi phân biệt, chẳng
phải là trong tâm tôi thật sự có phân biệt. Lục Tổ
bèn ấn chứng, ấn khả. Chẳng phải là chính
ḿnh thật sự có phân biệt, chẳng phải là chính
ḿnh thật sự có chấp trước, đối với
chính ḿnh th́ phân biệt lẫn chấp trước thảy
đều không có! Do tùy thuận chúng sanh mà phân biệt, tùy
thuận chúng sanh mà chấp trước, nhưng tâm địa
người ấy thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy
trần. Đấy là trạng huống của tự tánh. Điều
này không dễ ǵ làm được, đấy là công phu thật
sự.
“Tự tánh Bổn Thỉ nhị
giác, thị lưỡng độ quả nhân nghĩa”
(Bổn Giác và Thỉ Giác trong tự tánh là nghĩa của vị
chứng quả trong hai cơi). Bổn Giác là đối với
Thỉ Giác mà nói. Thỉ Giác và Bổn Giác tương đồng,
đó là quư vị bắt đầu giác ngộ. Do vậy, quư
vị phải biết: Công đức niệm Phật chẳng
thể nghĩ bàn, bất luận pháp môn nào chẳng thể
sánh bằng công phu niệm Phật! Ví dụ như tham Thiền,
học Mật, học chú, chắc chắn chẳng bằng
niệm Phật, v́ sao? Chúng ta niệm một câu A Di Đà Phật,
cái tâm năng niệm là Thỉ Giác, một câu Phật hiệu
được niệm là Bổn Giác, Thỉ, Bổn tương
ứng, Thỉ, Bổn chẳng hai. Thỉ Giác hợp với
Bổn Giác, “nhất niệm tương
ứng nhất niệm Phật, niệm niệm tương
ứng niệm niệm Phật”, dùng cách niệm này để
đồng thời đoạn Kiến Tư, Trần Sa, Vô
Minh phiền năo. Quư vị nói pháp môn nào có thể đồng
thời đoạn ba thứ phiền năo ấy? Không thể
nào! Các pháp môn thông thường đều là trước hết
phải đoạn Kiến Tư, rồi đoạn Trần
Sa, cuối cùng phá Vô Minh, chúng chia thành tầng lớp, chẳng
thể đồng thời; chỉ riêng pháp môn Niệm Phật
là đồng thời. Chư vị hăy suy nghĩ, nếu chẳng
đồng thời, v́ sao vừa văng sanh liền được
viên chứng ba thứ Bất Thoái? Nói theo Lư chẳng xuôi!
Đấy là v́ khi niệm Phật, chúng là đồng thời,
Thỉ Giác hợp với Bổn Giác, Thỉ và Bổn chẳng
hai. Do vậy, một câu Phật hiệu này đồng thời
đoạn Kiến Tư phiền năo, phá Trần Sa phiền
năo, phá căn bản vô minh. Những chỗ hay của pháp
môn này đúng là nói chẳng tận, nhưng người biết
tới quá ư là ít.
V́ thế,
pháp môn này thù thắng chẳng c̣n phải tranh căi nữa, mười
phương chư Phật tán thán là có lư, chẳng phải là
tùy tiện tán thán. Quư vị thấy các kinh khác có được
mười phương chư Phật tán thán hay không? Không
có, t́m không ra! Chỉ có bộ kinh này được mười
phương hết thảy chư Phật tán thán. Do vậy,
b́nh thường chính chúng ta niệm nhưng chẳng biết
đến công phu này. Nói thật ra, chính quư vị là người
niệm Phật nhưng niệm cũng chẳng đúng pháp,
tuy niệm nhưng công phu chẳng đắc lực. Quư vị
thật sự đắc lực th́ pháp Niệm Phật thật
sự hữu hiệu, phiền năo nhất định mỗi
ngày một nhẹ hơn, vô minh nhất định mỗi
ngày một giảm ít, giác tánh bèn thấu lộ. Tới lúc
mạng chung, Phật đến tiếp dẫn quư vị, Phật
quang chiếu soi, Phật lực gia tŕ, khi ấy, quư vị
sẽ đắc nhất tâm bất loạn. Do vậy, hễ
văng sanh bèn viên chứng ba thứ Bất Thoái, đạo lư là
như thế đó!
V́ thế,
pháp này mới gọi là pháp môn Nhị Lực, nhưng chính
chúng ta làm phân nửa, đến khi ấy, Phật lực
sẽ gia bị được! Pháp môn thù thắng như vậy,
phải cực lực tuyên dương. Do tuyên dương,
một chúng sanh tin tưởng th́ chúng sanh ấy được
thành Phật. Không chỉ là đắc độ, người
ấy c̣n thành Phật! Hai người tin tưởng, hai người
thành Phật. Thật sự tin tưởng, đó là đại
thiện căn, đại phước báo, kinh dạy: “Bất khả dĩ thiểu thiện
căn, phước đức, nhân duyên đắc sanh bỉ
quốc” (chẳng thể do chút ít thiện căn, phước
đức, nhân duyên mà được sanh về cơi ấy).
Chúng ta có thể tạo nhân duyên cho chúng sanh, tức là giới
thiệu sự thù thắng và công đức lợi ích của
pháp môn này với người khác, giảng giải cho người
khác nghe. Kẻ ấy tin tưởng, tức là người
ấy có đại thiện căn, có đại phước
đức. Nếu kẻ ấy không tin, tức là chẳng
có thiện căn, chẳng có phước đức. Tuy thiếu
thiện căn, phước đức, nhưng “nhất lịch nhĩ căn,
vĩnh vi đạo chủng” (một phen thoảng qua
tai, vĩnh viễn là hạt giống đạo), đă
gieo một chủng tử, tuy chưa thể thành tựu
trong đời này, trong tương lai vẫn c̣n có thể
thành tựu! Có thể thực hiện tốt đẹp
chuyện này tức là báo đền ân Phật.
“Tự tánh giác thể biến chiếu,
thị thuyết kinh nghĩa” (Giác thể trong tự tánh
chiếu trọn khắp là ư nghĩa của việc “nói
kinh”), chúng sanh mê mà chẳng giác, v́ vậy, đức Phật
đến khai thị cho họ, làm cho họ giác ngộ. Có
thể khiến cho hết thảy chúng sanh giác ngộ chính là
mục đích của việc nói kinh. “Giác thể biến chiếu” cũng là ư nghĩa của
việc “thuyết kinh”. Nói đơn
giản, “biến chiếu”
là đối với hết thảy người, hết thảy
sự, hết thảy vật, hết thảy thời gian và không gian, không có ǵ chẳng rơ ràng, không có ǵ
chẳng hiểu rơ, đấy là “biến chiếu”. Quyết định chẳng
mê, biết rơ ràng, rành rẽ, biết được chính
ḿnh phải nên xử lư như thế nào, biết chính ḿnh
phải nên dùng phương thức ǵ, làm với thái độ
ǵ, tuy không nói kinh mà cũng giống như nói kinh. Quư vị
giác mà chẳng mê. Những kẻ khác có thiện căn và phước
đức sâu dầy ra, do thấy quư vị đăi người
tiếp vật với thái độ như thế, sự
giác ngộ của họ được dẫn khởi,
chúng ta gọi đó là “thân giáo”. Thân giáo và ngôn giáo thảy
đều phải trọn đủ, đương nhiên tâm
quư vị thanh tịnh, đấy là ư giáo, [tức là] trong
tâm đă thuyết kinh, miệng chẳng thuyết kinh, nhưng
tâm đă thuyết kinh, chẳng lúc nào, không chỗ nào chẳng
nói kinh, mang ư nghĩa này! Đấy là ư nghĩa “biến chiếu”. Hôm nay
đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng tới chỗ
này!
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 49 hết
[1] “Thiền ḥa tử” là tiếng gọi
chung những người tham Thiền, “ḥa tử” mang ư
nghĩa đồng tham đạo hữu, cùng nhau tu tập
thân ái.
[2] Công Dương Truyện do Công
Dương Cao, người nước Tề, biên soạn.
Ông này là một đệ tử của Tử Hạ. Tử
Hạ là một đệ tử trứ danh của Khổng
Tử, có tên thật là Bốc Thương, quê ở Ôn Ấp,
nước Tấn. Tử Hạ được xếp vào
Thập Triết, tức mười đại học giả
của Khổng Giáo. Thông thường, người ta coi
Công Dương Truyện là những ghi chép của Công
Dương Cao đối với lời dạy của Tử
Hạ về kinh Xuân Thu.
Cốc Lương Truyện do Cốc
Lương Tử, ông này cũng ghi chép những lời dạy
của Tử Hạ về kinh Xuân Thu mà viết thành sách
này. Nhận định về ba tác phẩm chú giải này,
Trịnh Huyền nhận xét: “Tả
Thị giỏi về Lễ, Công Dương giỏi về
Sấm (dự đoán), Cốc Lương giỏi về
Kinh”. Phạm Ninh cho rằng Tả Truyện phong phú nhưng
có khuyết điểm chứa nhiều chuyện huyền
hoặc, Cốc Lương Truyện trong sáng nhưng quá ngắn
gọn, c̣n Công Dương Truyện có quá nhiều biện
luận, phán đoán, và cách hành văn quá thông tục, thiếu
tao nhă.