A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần
5
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh
Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Huệ Trang và Đức
Phong
Tập 09
Xin xem A
Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang
thứ tám:
(Sớ)
Triệt giả, thông dă. Đỗng giả, triệt chi cực
dă. Nhật nguyệt tuy biến, bất chiếu phúc bồn,
thị triệt nhi vị triệt. Kim thử linh minh, huy
thiên địa, thấu kim thạch, tứ duy thượng
hạ, tằng vô chướng ngại, cái đỗng nhiên
chi triệt, mị sở bất triệt, phi đối
cách thuyết thông chi triệt, vân “đỗng triệt” dă.
(疏) 徹者通也,洞者徹之極也。日月雖遍,不照覆盆,是徹而未徹。今此靈明,輝天地,透金石,四維上下,曾無障礙,蓋洞然之徹,靡所不徹。非對隔說通之徹,云洞徹也。
(Sớ: “Triệt” là thông suốt. “Đỗng”
là thông suốt đến tột cùng. Mặt trời, mặt
trăng tuy trọn khắp, nhưng chẳng thể soi chậu
úp, nên tuy là “triệt” mà chưa “triệt”. Nay sự linh minh
này sáng ngời trời đất, xuyên suốt vàng, đá,
bốn phương, trên, dưới, chưa hề chướng
ngại. Ấy là v́ thấu suốt rỗng rang, không đâu
chẳng thấu triệt, chứ không phải là sự thấu
suốt do đối lập với ngăn cách mà nói là thông
suốt, nên bảo là “đỗng triệt”).
Chúng ta tiếp
tục xem phần giải thích câu “linh minh đỗng triệt” trong lời Sớ.
Hai chữ “linh minh” đă
được giảng trong phần trước, hôm nay bắt
đầu giảng từ hai chữ “đỗng triệt”. “Triệt”
(徹) có
nghĩa là triệt để, là thông đạt chẳng
chướng ngại. Lời chú giải giảng Triệt
có nghĩa là “thông”, tức
thông đạt; “đỗng”
(洞) là “triệt chi cực” (thấu
triệt đến cùng cực), tức là thông đạt
đến cùng cực. Tiếp đó, đại sư nêu
lên một tỷ dụ, “nhật
nguyệt tuy biến” (mặt trời, mặt trăng
tuy trọn khắp), quang minh chiếu trọn khắp, “bất chiếu phúc bồn”:
Chúng ta lật úp cái chậu th́ ánh sáng mặt trời, mặt
trăng chẳng thể chiếu vào ḷng chậu được,
bị chướng ngại, đấy là “triệt nhi vị triệt” (tuy là “thông suốt” mà
chưa “thông suốt”). Nói cách khác, chỉ cần có chướng
ngại chẳng thể xuyên qua được, th́ “triệt” đó hoàn toàn chẳng
phải là đă thật sự đạt đến viên
măn rốt ráo. Bổn tánh của chúng ta khác hẳn, giác tánh
linh minh là “huy thiên địa,
thấu kim thạch” (sáng ngời trời đất,
xuyên thấu vàng, đá). “Huy”
(輝) là sáng ngời, [câu “huy thiên địa”] có nghĩa là thấu trời tột
đất, trời lẫn đất đều chẳng
thể chướng ngại được. “Thấu kim thạch”: Vàng hay đá
cũng chẳng thể chướng ngại được.
(Diễn)
“Bất chiếu phúc bồn” giả, dĩ nhật nguyệt
chi quang thuộc Tướng, bất thuộc Tánh cố.
(演) 不照覆盆者,以日月之光屬相,不屬性故。
(Diễn: “Chẳng soi chậu úp” là v́ ánh
sáng của mặt trời, mặt trăng thuộc Tướng,
chẳng thuộc Tánh).
Lời
chú giải này rất quan trọng. Sự thấu triệt
của Tướng chẳng phải là rốt ráo viên măn, sự
thấu triệt của Tánh mới thật sự là rốt
ráo viên măn.
(Diễn)
“Huy thiên địa, thấu kim thạch” giả, dĩ tâm
quang biến hồ pháp giới, nhất thiết chư pháp
vô phi Phật pháp cố.
(演) 輝天地透金石者,以心光遍乎法界,一切諸法無非佛法故。
(Diễn: “Sáng ngời trời
đất, xuyên thấu vàng đá” là v́ tâm quang trọn khắp
pháp giới, hết thảy các pháp không ǵ chẳng phải
là Phật pháp).
Cũng có
những vị hỏi: “Tâm quang là như thế nào?” Chúng ta
thấy ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt
trăng cũng có thể thấy được, ánh sáng của
mấy ngọn đèn trong giảng đường hiện
thời chúng ta cũng trông thấy, nhưng chẳng thấy
tâm quang. H́nh dạng của tâm quang là như thế nào? Có
không ít người nghĩ như vậy, cách nghĩ ấy
có chính xác hay chăng? Không chính xác! V́ sao nói là không chính xác? Họ
chấp vào tướng! Quư vị thấy ánh sáng mặt trời,
ánh sáng mặt trăng, quư vị chấp vào tướng. Chẳng
chấp tướng sẽ kiến tánh. Chấp tướng
chướng ngại kiến tánh. Nếu ĺa hết thảy
tướng th́ “tâm quang biến
hồ pháp giới” (tâm quang trọn khắp pháp giới),
quư vị thấy đạo, nhà Thiền gọi là “kiến tánh”, minh tâm kiến
tánh. Khi ấy, quư vị sẽ hiểu “nhất thiết pháp vô phi Phật pháp”, [tức là]
không có pháp nào chẳng phải là Phật pháp. Nếu quư vị
chấp tướng, trong hết thảy pháp, không có pháp nào
là Phật pháp cả! Chẳng chấp tướng th́ là Phật
pháp, chấp vào tướng sẽ chẳng phải là Phật
pháp. Nếu chúng ta hỏi, rốt cuộc là có Phật pháp
hay không? Nếu quư vị nghĩ là “có Phật pháp”, sai rồi!
Quư vị nói “không có Phật pháp” cũng sai luôn, sai ở chỗ
nào? Sai ở chỗ quư vị chấp tướng! Quư vị
chấp vào tướng “có Phật pháp”, trật rồi! Quư
vị chấp vào tướng “không có Phật pháp”, cũng
trật luôn! Nếu quư vị chẳng chấp tướng,
quư vị nói “có Phật pháp”, đúng! Nói “không có Phật pháp”,
cũng đúng luôn! Từ chỗ này, quư vị phải thấu
hiểu, hễ trong tâm có một niệm phân biệt, chấp
trước sẽ hoàn toàn trật; ĺa hết thảy phân
biệt, chấp trước sẽ là đúng, phải thấu
hiểu chỗ này!
Trong đoạn
giải thích tiếp theo, bất luận là dùng pháp để
nói hay dùng tỷ dụ để nói, đều nói hết
sức rơ ràng, “tứ duy thượng
hạ, tằng vô chướng ngại” (bốn phương,
trên, dưới, chưa từng chướng ngại), đó
gọi “đỗng nhiên chi triệt,
mị vô sở triệt” (thấu triệt rỗng rang,
không đâu chẳng thấu triệt).
(Diễn)
Nhược thông dữ cách đối, thị thông hoàn thành
cách, phi đối cách thuyết thông chi triệt, năi chân triệt
dă.
(演) 若通與隔對,是通還成隔。非對隔說通之徹,乃真徹也。
(Diễn:
Nếu thông suốt là do so với ngăn cách [mà nói là “thông
suốt”] th́ sự thông suốt ấy vẫn trở thành
ngăn cách. Chẳng v́ so sánh với ngăn cách mà nói là “thấu
triệt” th́ mới là thấu triệt thật sự).
Mấy câu
này có ư nghĩa rất sâu, nhưng ngữ cú rất rơ ràng. Nói
đơn giản, rớt vào hai bên sẽ đều chẳng
phải là chân thật, đều là chướng ngại.
Chỉ cần hễ có chấp trước, rớt vào hai
bên, đều biến thành chướng ngại. Tách rời
hai bên th́ sẽ thông đạt. Thông đạt là khai ngộ.
Do vậy, nếu quư vị muốn khai ngộ, nhất
định phải ĺa hai bên. Ngày nay chúng ta gọi “hai bên” (nhị biên) là “tương đối”. Làm thế
nào để vượt thoát khỏi tương đối
mà sau khi vượt thoát cũng chẳng phải là tuyệt
đối? Nếu quư vị vượt thoát [tương đối]
mà đạt đến tuyệt đối, th́ tuyệt đối
và tương đối vẫn thuộc vào đối đăi,
vẫn chưa thể vượt thoát! Tuyệt đối
cũng không có. Tương đối đă không có, tuyệt
đối cũng chẳng tồn tại, đấy mới
thật sự là vượt thoát. Đấy là “thấu suốt rỗng rang” thật
sự được nói tới ở đây, do vậy gọi
là “đỗng triệt”. Tiếp
theo đó, lời Sớ giảng về “trạm tịch thường hằng”.
(Sớ)
Trạm giả bất nhiễm, tịch giả bất dao.
(疏) 湛者不染,寂者不搖。
(Sớ: “Trạm” là chẳng
nhiễm, “tịch” là chẳng lay động).
“Dao” (搖) là dao động, “trạm” (湛) là chẳng ô nhiễm, “tịch” (寂) là chẳng động tâm. Quư vị
đọc tiếp theo sẽ thấy lăo nhân gia nêu tỷ dụ.
(Sớ)
Đại địa tuy tịch, bất đắc
xưng trạm.
(疏) 大地雖寂,不得稱湛。
(Sớ: Đại địa tuy không
lay động, nhưng chẳng thể gọi là “trạm”).
Lấy cảnh
giới trước mắt để nói th́ chẳng thể
nói tới vật lư, chẳng thể nói tới hiện tượng
tự nhiên. Nói tới hiện tượng tự nhiên th́ địa
cầu ở giữa hư không, nó cũng vận động,
chẳng ngưng nghỉ một giây phút nào. Lấy chuyện
trước mắt để nói th́ đại địa
là bất động, nhưng đất ô nhiễm, nên “tuy Tịch mà chẳng thể gọi
là Trạm”.
(Sớ)
Kim duy chí tịch chi trung, oánh tịnh vô chỉ, Tịch bất
túc dĩ tận chi, cố viết “trạm tịch”.
(Diễn)
Bất nhiễm giả, tùng lai bất dữ nhiễm pháp
tương ứng, bất dữ chư trần tác đối.
Bất dao giả, vạn cổ như như, vô hữu biến
dị.
(疏) 今惟至寂之中,瑩淨無滓,寂不足以盡之,故曰湛寂。
(演) 不染者,從來不與染法相應,不與諸塵作對。不搖者,萬古如如,無有變異。
(Sớ:
Nay trong sự tịch đến tột bậc, sáng ngời
trong trẻo, không có cặn bă, chữ Tịch chẳng
đủ diễn tả trọn hết, nên bảo là “trạm
tịch”.
Diễn:
“Chẳng nhiễm” là từ trước đến nay chẳng
tương ứng với nhiễm pháp, chẳng ứng với
các trần. “Chẳng lay động” là muôn đời như
như, chẳng có thay đổi).
Đây là
nói về bổn tánh. Kinh Lăng Nghiêm nhắc tới căn
tánh của sáu căn, bất luận là trong ngộ hay mê, sáu
tánh ấy đều chẳng nhiễm, đều chẳng
lay động. Những câu này nhằm giải thích ư nghĩa
của từ ngữ “trạm
tịch”. Đại địa v́ sao chẳng thể gọi
là “trạm”?
(Diễn) Bất đắc
xưng “trạm” giả, đại địa tuy thường
tự tịch nhiên, nhi thổ thạch chư sơn uế
ác sung măn, bất trạm dă.
(演) 不得稱湛者,大地雖常自寂然,而土石諸山穢惡充滿不湛也。
(Diễn: Chẳng
được gọi là “trạm” v́ đại địa
tuy thường tự vắng lặng, nhưng các quả
núi đất hay núi đá nhơ bẩn đầy dẫy,
chẳng trong lặng vậy).
Nếu
quư vị hỏi: V́ đạo lư nào? Trong phần trước
đă có nói, v́ nó là Tướng Phần, chẳng phải là
Tánh Phần. Nếu là tự tánh sẽ chẳng có những
hiện tượng ấy. Phàm là tướng th́ đều
là hư vọng, đều chẳng phải là viên măn rốt
ráo. Kế đó là tỷ dụ nhằm sánh ví sự trong suốt
cả trong lẫn ngoài.
(Diễn)
Như tịnh lưu ly, nội ngoại oánh triệt, vị
chi oánh tịnh.
(演) 如淨琉璃,內外瑩徹,謂之瑩淨。
(Diễn: Giống như
lưu ly sạch, trong ngoài trong suốt sáng ngời, nên gọi
là “oánh tịnh”).
Không có cách
nào diễn tả, đành dùng tỷ dụ để nói. Nói
thật ra, không có cách nào để tỷ dụ thật khít
khao, chỉ có thể hơi gần giống, mong rằng từ
sự mường tượng ấy sẽ có thể thấu
hiểu, sẽ ngộ được Thật Tướng
của nó. Hiện nay, chúng ta gọi “lưu ly” là Phỉ Thúy (Jadeite), tức là một
loại ngọc màu xanh lá cây, trong suốt, có thể dùng nó để
làm tỷ dụ [sự trạm tịch], trong ngoài sạch
sẽ, chẳng nhiễm mảy trần, đó gọi là “oánh tịnh” tức là trong trẻo,
ánh sáng có thể chiếu qua được.
(Diễn)
Thốn ty bất quải, tiêm trần bất lập, vị
chi “vô chỉ”.
(演) 寸絲不挂,纖塵不立,謂之無滓。
(Diễn: Tấc tơ chẳng vướng,
mảy trần chẳng lập, th́ gọi là “không có cặn
bă”).
“Chỉ” (滓) là cặn bă. Sạch sẽ, chẳng có
tí ti cặn bă nào! “Thốn ty bất
quải” (tấc tơ chẳng vướng mắc)
h́nh dung không có tri kiến, không có vọng tưởng, chẳng
vướng mắc, tâm thanh tịnh. Lục Tổ nói: “Vốn không có một vật”.
Trong chân tâm không có vọng niệm, không có phân biệt, không
có chấp trước, không có vọng tưởng. Kinh luận
thường nói “Thể lộ
chân thường”, đấy chính là Phật tâm, là chân tâm
hiện tiền. “Tiêm trần bất
lập” (Mảy trần chẳng lập) là không ô nhiễm,
là dựa trên cảnh giới bên ngoài mà nói: Chân Như bổn
tánh quyết định chẳng bị sáu trần bên ngoài nhuốm
bẩn. Trong Duy Thức có nói: “Trong
A Lại Da Thức in dấu bóng dáng của Ngũ Trần”,
tức là [Ngũ Trần] có thể in dấu vào A Lại Da
Thức, chứ không thể in dấu trong Chân Như bổn
tánh. V́ thế nói trong chân tánh “mảy
trần chẳng lập”. Một là chẳng bị nhuốm
bẩn bởi ngoại cảnh, hai là như như bất động,
tấc tơ chẳng vướng. Đó là không có cặn,
tí ti cặn bă nào cũng không có. “Tịch
bất túc dĩ tận chi” (Chữ Tịch chẳng
đủ để diễn tả trọn hết): Chữ
Tịch không có cách nào bao quát viên măn ư nghĩa này, “cố viết Trạm Tịch”
(nên nói là Trạm Tịch), dùng hai chữ này (tức “trạm tịch”) để
h́nh dung Chân Như bổn tánh của chúng ta. Cả hai câu này
có lúc nói gộp lại một cách đơn giản là “trạm tịch linh minh”, cổ
đại đức thường dùng bốn chữ này
để h́nh dung chân tâm và bổn tánh của chúng ta. Bổn
tánh của chúng ta quả thật là trạm tịch linh
minh. Kế tiếp, [lời Sớ Sao] giảng về “thường hằng”.
(Sớ)
Hằng giả, cửu dă. Thường giả, hằng chi
cực dă.
(疏) 恆者久也,常者恆之極也。
(Sớ:
“Hằng” là lâu dài. “Thường” là hằng đến mức
tột bực).
Câu này ư nói:
Bổn tánh linh minh trạm tịch vĩnh viễn là như
vậy, từ vô thỉ kiếp trong quá khứ cũng như
vô lượng kiếp trong tương lai, nó vĩnh viễn
chẳng biến đổi. Thành Phật, thành Bồ Tát,
cho đến trong tam đồ lục đạo, nó vẫn
chẳng bị biến đổi, đó gọi là Chân Tánh.
Ví như vàng ṛng, vàng không biến đổi, đem nó chế
thành tượng Phật th́ giống như Phật pháp giới,
hoặc đúc thành con mèo nhỏ, con chó nhỏ, nó lại đọa
trong súc sanh pháp giới. Quư vị lấy vàng đúc thành h́nh
ngạ quỷ, nó lại biến thành ngạ quỷ pháp giới.
Tùy theo quư vị đúc tượng ấy như thế nào,
nó sẽ biến thành như thế ấy; nhưng vàng chẳng
biến đổi, vẫn là chính nó, chẳng bị biến
hóa, vĩnh viễn là trạm tịch linh minh, đó gọi
là “thường hằng”.
(Sớ)
Đại địa tuy kiên, nan đào Hoại kiếp, thị
hằng nhi vị hằng. Kim thử trạm tịch, thôi
chi vô thỉ, dẫn chi vô chung, cắng cổ cắng kim, tằng
vô biến dịch. Cái thường nhiên chi hằng, vô hằng
bất hằng, phi đối tạm thuyết cửu chi hằng,
vân “thường hằng” dă.
(Diễn)
“
(疏)
大地雖堅,難逃壞劫,是恆而未恆。今此湛寂,推之無始,引之無終,亙古亙今,曾無變易。蓋常然之恆,無恆不恆,非對暫說久之恆,云常恆也。
(演)
難逃壞劫者,以三災到時,劫火洞然,須彌七金悉為灰燼故。
(Sớ: Đại địa
tuy cứng, khó tránh khỏi Hoại Kiếp, nên đại
địa là “hằng” nhưng chưa “thường hằng”.
Nay sự trạm tịch này suy ngược lại th́ không
có khởi đầu, t́m không ra sự kết thúc, trải
suốt xưa nay, chưa hề biến đổi. Cho nên
nó là c̣n măi lâu dài , không có “hằng” hay “chẳng hằng”,
không phải là so với sự tạm bợ mà nói là “hằng”,
nên bảo là “thường hằng”.
Diễn:
“Khó tránh khỏi Hoại Kiếp” là khi Tam Tai xảy ra, Kiếp
Hỏa đốt sạch, bảy chất báu như vàng
v.v.. nơi núi Tu Di đều cháy tan thành tro).
Qua viễn
vọng kính của thiên văn học ngày nay, chúng ta có thể
thường thấy hiện tượng này. Tinh cầu có
thành, trụ, hoại, không. Mỗi ngày trong không gian luôn phát
hiện những ngôi sao mới, đó là “thế giới thành”.
Mỗi ngày cũng phát hiện nhiều tinh cầu bùng nổ,
cháy rụi, đấy chính là Đại Tam Tai như trong
kinh Phật nói. Vào thời Đại Tam Tai, Hỏa Tai cháy đến
trời Sơ Thiền. Sơ Thiền Thiên có Hỏa Tai, Sơ
Thiền là ǵ? Trong kinh nói tới “tam thiên đại thiên thế
giới”, trong ấy có Tiểu Thiên, Trung Thiên, Đại
Thiên, được hợp thành như vậy. Đấy
là nói về phạm vi thế giới lớn hay nhỏ. Tầng
trời ở trên đỉnh của đại thiên thế
giới là Tứ Thiền Thiên, tầng trời cao nhất
trong trung thiên thế giới là Tam Thiền Thiên, tầng trời
cao nhất trong tiểu thiên thế giới là Nhị Thiền
Thiên, tầng trời cao nhất trong một đơn vị
thế giới là Sơ Thiền Thiên. Một đơn vị
thế giới giống như một Thái Dương Hệ
hiện thời, nói tới Sơ Thiền Thiên là nói một
Thái Dương Hệ. Một Thái Dương Hệ hủy
diệt th́ các hành tinh và vệ tinh trong ấy đều bị
hủy diệt. Lửa có thể đốt cháy một Thái
Dương Hệ. Một hệ thống tinh cầu bị
bùng nổ, chúng ta có thể quan sát thấy hiện tượng
thiên văn này. Khi nó bùng nổ th́ cả một hệ thống
tinh cầu không c̣n nữa! Hiện tượng này rất dễ
hiểu, nhưng c̣n một hiện tượng khác rất
khó thể tưởng tượng, chính là Thủy Tai có thể
ngập đến Nhị Thiền Thiên. Thủy Tai như
thế nào? Nó có thể hủy hoại một tiểu thiên
thế giới, điều này chẳng thể nghĩ bàn.
Phong Tai có thể thổi tan Tam Thiền Thiên. Nói cách khác, nó
có thể thổi nát một trung thiên thế giới. Tứ
Thiền Thiên gọi là Phước Thiên, thật sự có phước
báo, không có Đại Tam Tai. Câu “Kiếp
Hỏa đỗng nhiên” (Kiếp Hỏa đốt sạch)
chỉ Hỏa Tai trong Đại Tam Tai, nó có thể thiêu hủy
một hệ thống tinh cầu, thiêu hủy một đơn
vị thế giới.
Do đây
có thể biết: Thế gian này không chỉ là “biển
xanh, ruộng dâu”[1],
thế giới này làm sao thường trụ được?
Thế giới chẳng thường hằng, sanh mạng
càng ngắn ngủi hơn. Lấy địa cầu để
nói th́ khoa học cận đại biết lịch sử
của địa cầu là mấy ức năm, chúng ta chẳng
sống trọn một trăm năm; nói đơn giản,
thẳng thừng là tỷ lệ chẳng cân xứng! Do đây
có thể biết: Trong thế gian không có một pháp nào tồn
tại vĩnh viễn, nhưng thế gian thật sự có
một thứ tồn tại vĩnh viễn, đó là tự
tánh. Nó vĩnh viễn tồn tại, vĩnh viễn chẳng
bị biến đổi. Chúng ta nói tới tinh cầu, nói
tới địa cầu, nói tới sanh mạng của chúng
ta, chúng đều là hữu h́nh, hữu tướng, những
tướng ấy do đâu có? Duy thức sở biến. Những
tướng hiện thời chúng ta thấy được
gọi là “thô tướng”, tâm cũng quá thô. Nếu quư vị
quán sát tỉ mỉ, hết thảy các tướng đều
biến đổi trong từng sát-na. Một giây trước
và một giây sau chắc chắn khác nhau, cách quan sát này vẫn
c̣n rất thô. Trong kinh dạy, trong khoảng khảy ngón tay
có sáu mươi sát-na. Thứ ǵ đang biến đổi?
Thức biến đổi, biến đổi trong từng
sát-na.
Khi Phật
pháp chưa truyền đến Trung Quốc, tổ tiên người
Trung Quốc cũng hết sức thông minh, họ biết
[thế gian vô thường]. Căn bản to lớn của
học thuật Trung Quốc là Dịch Kinh. Dịch Kinh nói
ǵ? Dịch Kinh giảng về sự biến hóa của các
quẻ. Suốt ngày từ sáng đến tối luôn biến
hóa, niệm niệm đều biến hóa, chẳng có ǵ bất
biến. Phật pháp nói “biến”,
nền văn hóa cố hữu của Trung Quốc cũng
nói tới biến đổi, không có thứ ǵ chẳng biến
đổi, chỉ có Chân Như bổn tánh bất biến.
Do vậy, nếu quư vị cầu nơi hiện tượng,
mong nó vĩnh hằng, thường trụ, chắc chắn
sẽ chẳng t́m được chuyện ấy; bởi
lẽ, nó là tướng hư vọng, chẳng phải chân
thật, tuyệt đối chẳng có đạo lư tồn
tại vĩnh hằng.
Trong quá
khứ, sau khi đă thật sự thành tựu, nói chung là [những vị đă thành tựu ấy sẽ]
giảng kinh, thuyết pháp hoặc trước thuật
kinh luận lưu truyền hậu thế, giúp đỡ người
đời sau, đấy là đúng. C̣n ngày nay th́ sao? Thưa
với quư vị, không đúng, hoàn toàn là sai lầm, v́ sao? Đă
biến đổi rồi. Biến hóa, hoàn toàn thay đổi.
V́ sao biến đổi? Ngày nay tà thuyết tràn ngập thế
gian, làm thế nào mới có thể diệt sạch những
tà thuyết ấy, khôi phục bổn lai diện mục của
chúng ta? Cổ nhân cũng có nói một câu: “Tận tín thư, bất như vô thư” (hoàn toàn
tin vào sách, chẳng bằng không có sách). Không có sách, tâm sẽ
thanh tịnh, v́ sao? Không có vọng niệm. Khi đọc sách
nhiều, vọng niệm quá đỗi! Quư vị thấy trong
cuộc triển lăm sách ở thành phố Đài Bắc, mấy
chục vạn cuốn sách được bày ra đó, thứ
đó gọi là ǵ? Là một đống rác tư tưởng
khiến cho đầu óc chúng ta u tối, ép chúng ta phải đi
tới núi rừng, tới bên ḍng nước cho yên tĩnh,
vứt sạch những thứ ấy, bỏ sạch sành
sanh. Có rất nhiều người khuyên tôi: “Pháp sư, thầy
nên viết chút ǵ đó. Thừa dịp bây giờ thầy c̣n
trẻ, đến lúc tuổi già, thầy sẽ chẳng
muốn viết nữa”. Tôi nói: “Về căn bản, tôi không
có ư nghĩ ấy. V́ sao? Từ xưa, cổ nhân đă viết
quá nhiều thứ khiến cho đầu óc chúng ta mê man, tôi
c̣n muốn tăng thêm một tí nữa cho người đời
sau è cổ gánh vác ư? Tội lỗi ấy lớn lắm.
Chẳng thể tăng thêm nữa, đă nhiều quá rồi!
Nếu chúng ta thật sự có chút ǵ vượt trỗi cổ
nhân, cổ nhân chưa từng nói tới, th́ có thể lưu
lại một chút. Nếu những điều chúng ta nghĩ
hay nói mà cổ nhân đă từng nói rồi, cần ǵ phải
vẽ rắn thêm chân?” Chẳng có ư nghĩa ǵ cả!
Nhiều
thêm một chuyện chẳng bằng giảm bớt một
chuyện; nhiều thêm một cuốn sách chẳng bằng
bớt đi một cuốn sách, khiến cho đầu óc
của chúng ta mới có thể nghỉ ngơi, mới được
thanh tịnh, mới được mở mang trí huệ.
Do vậy, cổ nhân dạy người ta đọc sách,
chỉ dạy quư vị đọc một thứ, chẳng
thể dạy quư vị đọc mười thứ hay tám
thứ, chẳng nên! Đọc một thứ sẽ mở
mang trí huệ. Trong cuốn Duy Thức Tân Tải Hiệt Vựng,
cư sĩ Đường Đại Viên đă nhắc tới
đạo lư này. Vào đầu thời Dân Quốc, ông ta phê
b́nh những khuyết điểm trong nền giáo dục hiện
đại là ở chỗ nào, ông ta đă chỉ ra: Giáo học
của Trung Quốc từ xưa đến nay, mà Phật pháp
cũng vậy, nhằm mục đích dạy người ta
mở mang Căn Bản Trí, dạy quư vị mở mang trí
huệ. Mục tiêu giáo dục ngày nay là chỉ sợ quư vị
tạp niệm và vọng tưởng chưa nhiều, nghĩ
đủ mọi phương pháp tăng trưởng tà
tri, tà kiến, tăng trưởng loạn tưởng cho
quư vị, mục đích là như vậy đó. Mọi người
lắm tri kiến, làm sao thế gian chẳng rối loạn?
Thế gian loạn lạc là do đâu? Từ tri kiến rối
loạn mà ra. Cách nh́n, cách nghĩ của mỗi người
khác nhau, họ phải căi cọ, cuối cùng là chiến
tranh, đến cuối cùng sẽ hủy diệt thế
giới, mọi người cùng chết sạch hết. Quư
vị nói xem: Những người ấy rất thông minh,
thông minh đến cực điểm, cuối cùng chết
sạch hết, quá ngốc nghếch! Người thông minh
chẳng làm chuyện ngu xuẩn ấy. Do vậy, tâm phải
thanh tịnh, quư vị thấy thiên thứ nhất trong sách
Sớ Sao hoàn toàn giảng về tâm thanh tịnh.
Ngoài Đại
Tam Tai ra, kinh c̣n nói tới Tiểu Tam Tai. Tiểu Tam Tai tuy
không nghiêm trọng như thế, chẳng đến nỗi
hủy diệt Thái Dương Hệ. Khoa học gia hiện
thời có khả năng hủy diệt địa cầu,
nhưng chưa có khả năng hủy diệt Thái Dương
Hệ, họ c̣n chưa đạt tới bản lănh ấy.
Nói cách khác, những tai nạn này là Tiểu Tam Tai. Trong quá
khứ, tôi đọc kinh, nghĩ không ra Tiểu Tam Tai là như
thế nào, v́ đức Phật nói có ba loại tai nạn:
- Thứ nhất là Đao
Binh Kiếp, đao binh là chiến tranh. Thời gian bao lâu? Bảy
ngày. Chiến tranh bảy ngày là loại thứ nhất trong
Tiểu Tam Tai.
- Loại thứ hai là ôn
dịch, thời gian ôn dịch bao lâu? Bảy tháng lẻ bảy
ngày.
- Loại thứ ba là đói
kém, tức là chết đói, thời gian bao lâu? Bảy năm
bảy tháng lẻ bảy ngày.
Kinh Phật dạy như
vậy. Khi ấy, tôi đọc cách nào cũng chẳng hiểu
được! Chiến tranh bảy ngày th́ tính là tai nạn
ǵ đây? Xưa kia, chiến tranh giữa Trung Hoa và Nhật
Bản kéo dài cả tám năm, dài hơn bảy ngày nhiều
lắm. Tám năm mà c̣n chưa được coi là tai nạn
lớn lao ǵ, v́ sao bảy ngày được coi là Tiểu
Tam Tai? Mười năm trước, tôi sang thăm Nhật
Bản, đến thăm Quảng Đảo (
Những
nơi bị trúng bom nguyên tử, sau tám năm đất mới
mọc cỏ, mới có cây cối. Há chẳng phải là như
kinh nói “bảy năm bảy tháng lẻ bảy ngày”, cây cỏ
chẳng mọc, làm sao con người chẳng đói? Đương
nhiên bị đói khát. Ngày nào đó, chiến tranh thế giới
thứ ba nổ ra, khi ấy chính là Tiểu Tam Tai như
trong kinh Phật đă nói. Đừng nói chi nhiều, trên địa
cầu nếu trong ṿng một tuần, hai ba trăm quả
bom nguyên tử nổ th́ xong luôn, bụi nguyên tử tràn ngập
hư không, rớt xuống chỗ nào, nơi ấy chết
sạch! Không nhất định phải là chỗ bị
thả bom nguyên tử, bụi nguyên tử trên hư không bị
gió cuốn đi, cuốn đến chỗ nào, người
nơi ấy khốn khổ. Chỗ bị ném bom, trong tám năm
cây cỏ không mọc được. Do vậy, kinh Phật
nói tới Tiểu Tam Tai chính là nói tới chiến tranh nguyên
tử, hết sức đáng sợ! Người Nhật Bản
biết sâu xa sự lợi hại của chiến tranh, nhưng
họ chẳng giác ngộ, vẫn mê hoặc, điên đảo,
những người học Phật chúng ta phải hiểu
rơ chuyện này. Do vậy, t́m kiếm sự vĩnh hằng
trong tướng thế gian, sẽ chẳng t́m được.
Thứ vĩnh hằng chính là chân tánh.
(Diễn)
“Thôi chi vô thỉ, dẫn chi vô chung” giả, dĩ Chân
Như tự thể, phi tiền tế sanh, phi hậu tế
diệt, tất cánh thường hằng, bất đoạn,
bất dị cố.
(演) 推之無始,引之無終者,以真如自體,非前際生,非後際滅,畢竟常恆,不斷不異故。
(Diễn: “Truy ngược lại th́ không
có khởi đầu, kéo dài ra chẳng có kết thúc” là v́ tự
thể của Chân Như chẳng sanh trong lúc trước,
chẳng diệt trong lúc sau, rốt ráo thường hằng,
chẳng đoạn, chẳng khác).
Nó là bất
sanh bất diệt, chẳng đến, chẳng đi, chẳng
nhơ, chẳng sạch. Mấy câu này nhằm bảo quư vị:
Tâm tánh hoàn toàn vượt khỏi tương đối, vượt
khỏi tương đối mà cũng chẳng phải là
tuyệt đối. Mầu nhiệm là mầu nhiệm ở
chỗ này!
(Diễn)
Vô hằng bất hằng giả, hằng ngoại hữu
bất hằng, thử hằng diệc phi hằng. Hằng,
bất hằng nhị biên câu khiển, năi chân hằng dă.
(演) 無恆不恆者,恆外有不恆,此恆亦非恆,恆不恆二邊俱遣,乃真恆也。
(Diễn: “Chẳng có hằng
và bất hằng”: Ở ngoài hằng mà có bất hằng
th́ hằng ấy cũng chẳng phải là hằng. Cả
hai bên “hằng” và “bất hằng” đều chẳng c̣n
th́ mới là chân hằng).
“Hằng ngoại hữu bất
hằng” (Ở ngoài hằng có bất hằng) là tương
đối. Hai bên đều phải tách ĺa, chẳng rớt
vào hai bên, đấy là pháp chân thật, đấy mới là
vĩnh hằng thật sự. Chúng ta phải rất chú tâm
thấu hiểu đạo lư này, phải đọc tụng
kinh văn nhiều lượt, thấu hiểu cặn kẽ
đạo lư trong ấy. Lại quán sát cảnh giới hiện
tiền, cảnh giới hiện tiền là sự tướng,
Sự chẳng ĺa Lư, Lư chẳng rời Sự, Lư - Sự
chẳng hai th́ quư vị mới thật sự có chỗ khế
nhập.
(Sớ) “Phi
trược” giả, vân hữu, tắc bất thọ nhất
trần. “Phi thanh” giả, vân vô, tắc bất xả nhất
pháp.
(Diễn)
“Vân hữu, bất thọ nhất trần” giả. Trược
giả, hữu dă.
(疏)
非濁者,云有則不受一塵。非清者,云無則不捨一法。
(演) 云有,不受一塵者。濁者,有也。
(Sớ:
“Chẳng đục”: Nếu nói là Có th́ chẳng nhận
mảy trần. “Chẳng trong”: Nếu nói là Không th́ chẳng
bỏ một pháp.
Diễn: “Nói là Có, chẳng nhận mảy trần”, Trược
là Có).
“Trong, đục” có nghĩa là Có và Không.
(Diễn)
Cụ túc chư pháp, phương vị chi hữu. Kim tự
tánh ly nhất thiết pháp sai biệt chi tướng, sở
vị phi hữu tướng, phi vô tướng, phi song diệc
tướng, phi song phi tướng, phi nhất tướng,
phi dị tướng, phi phi nhất phi dị tướng,
phi nhất dị câu tướng, thị bất lập nhất
trần phi hữu dă, hà trược chi hữu.
(演) 具足諸法,方謂之有。今自性離一切法差別之相,所謂非有相,非無相,非雙亦相,非雙非相,非一相,非異相,非非一非異相,非一異俱相,是不立一塵非有也,何濁之有。
(Diễn:
Đầy đủ các pháp th́ mới gọi là Có. Nay tự
tánh ĺa tướng sai biệt của hết thảy pháp, tức
là: Chẳng phải là tướng Có, chẳng phải là
tướng Không, chẳng phải là tướng cũng Có
cũng Không, chẳng phải là tướng chẳng phải
Có chẳng phải Không, chẳng phải là một tướng,
chẳng phải là khác tướng, chẳng phải là tướng
“chẳng phải một, chẳng phải khác”, chẳng phải
là tướng “vừa một vừa
khác”, do chẳng lập một trần nên chẳng có,
c̣n có ǵ để nhơ đục nữa ư?)
Mấy
câu này hoàn toàn giống với những câu đă dùng trong kinh
Bát Nhă, trực tiếp dạy quư vị hăy trừ sạch
những vọng niệm cực vi tế. Phải nhớ:
Chân Như bổn tánh là chân tâm của quư vị! Chân tâm của
quư vị sạch sẽ, vốn sẵn thanh tịnh, “chẳng nhận mảy trần”.
Nó vốn chẳng nhận nên chẳng nhiễm. “Trược” (濁) là ǵ? Trược
là trong tâm có [những thứ ǵ đó]. Hễ tâm có, nó sẽ
trược. Nay chúng ta chẳng những trong tâm đă có, lại
chỉ sợ có chẳng đủ nhiều, vậy là không
c̣n cách nào hết! Cổ đức từng nói: “Vị học nhật ích” (V́
học mà ngày càng tăng trưởng), đó là pháp thế
gian. Thế gian phải mong học hỏi, rất sợ chính
ḿnh hiểu biết chẳng đủ, pháp thế gian mà!
Pháp thế gian là trược pháp, ngũ trược ác thế,
trược pháp đấy! Chỉ sợ trược ác chẳng
nhiều, phải gắng học thêm. “Vị đạo nhật tổn” (v́ đạo mà
ngày càng giảm bớt): Học đạo th́ đạo là
tâm thanh tịnh, trong tâm thanh tịnh chẳng có bất cứ
thứ ǵ, mỗi ngày bỏ đi, giảm bớt những
thứ tạp nhạp, đấy là “học đạo”.
Người học đạo sợ có nhiều tri kiến.
Hễ phân biệt, chấp trước, vọng tưởng
nhiều sẽ chẳng thấy được đạo.
Nếu bỏ sạch phân biệt, chấp trước, vọng
tưởng th́ đạo tâm hiện tiền. Do vậy, v́
đạo th́ thanh cao (con người thanh cao), v́ học th́
ô trược. Đức Phật nói thế gian của chúng
ta gọi là “ngũ trược
ác thế”, lời nói ấy rất có lư. Tiếp theo, đối
với nhiều điều đă nói như thế, có thể
quy nạp lại thành chỉ c̣n một câu “lưỡng biên bất lập, trung đạo bất
tồn” (hai bên chẳng lập, trung đạo chẳng
tồn tại). Tách rời hai bên, trung đạo cũng chẳng
có. Khi ấy, tâm thanh tịnh hiện tiền, trược
c̣n đâu nữa?
(Diễn)
Vân vô, bất xả nhất pháp giả, thanh giả, vô dă.
(演) 云無,不捨一法者,清者,無也。
(Diễn:
“Nói là không, chẳng bỏ một pháp”: Thanh là không)
“Thanh” (清)
có nghĩa là ǵ? Khi trong tâm quư vị chẳng nhiễm mảy
trần, lúc ấy, bất đắc dĩ, phải đặt
cho nó cái tên là “thanh” (trong).
(Diễn) Bất lập nhất trần,
phương vị chi vô.
(演) 不立一塵,方謂之無。
(Diễn: Chẳng lập mảy trần mới gọi
là “không”).
Chữ “trần” (塵) ở đây tượng
trưng cho những ǵ rất ít, tức là một vi trần,
một vi trần cũng chẳng thể kiến lập. Nếu
quư vị lập ra một trần, sẽ gọi là “trên đầu chồng thêm đầu”,
kinh Lăng Nghiêm gọi đó là “tri
kiến lập tri” (từ nơi tri kiến đặt
ra một cái thấy biết nữa). Tri kiến là ǵ? “Thanh” là tri kiến, trên đó đặt
thêm một “trần”, tức là trên tri kiến lại chồng
thêm một cái biết, th́ cái biết ấy là ǵ? Cái biết
ấy là vô minh, là căn nguyên của Ngũ Trược. Chẳng
thể kiến lập, chẳng lập một trần, đó
gọi là Chân Vô, Chân Không.
(Diễn) Kim tự tánh măn túc nhất thiết công
đức, sở vị: Hữu đại trí
huệ quang minh
nghĩa cố, biến chiếu pháp giới nghĩa cố,
chân thật thức tri nghĩa cố, thường lạc
ngă tịnh nghĩa cố, năi chí măn túc vô hữu sở thiểu
nghĩa cố, danh vi Như Lai Tạng, thị bất xả
nhất pháp phi vô dă, hà thanh chi hữu?
(演) 今自性滿足一切功德,所謂有大智慧光明義故,遍照法界義故,真實識知義故,常樂我淨義故,乃至滿足無有所少義故,名為如來藏,是不捨一法非無也,何清之有。
(Diễn: Nay tự tánh trọn đủ hết thảy
công đức, nghĩa là: Có ư nghĩa đại trí huệ
quang minh, có ư nghĩa chiếu trọn khắp pháp giới,
có ư nghĩa chân thật nhận biết, có ư nghĩa thường
- lạc - ngă - tịnh, cho đến trọn đủ chẳng
sót nghĩa nào, nên gọi là Như Lai Tạng, là chẳng bỏ
một pháp, chẳng phải là không, đâu c̣n có thanh!)
Một đằng có, một đằng không,
một đằng thanh, một đằng trược. Có,
không, thanh, trược đều chẳng có. Khi ấy gọi
là “chân thanh”, tức là trong
trẻo thật sự. Phần trên đă nói “chẳng nhận mảy trần”,
là nói theo tự thể, “trược
c̣n đâu nữa” là nói theo Thể. Ở chỗ này nói: “Vân vô, bất xả nhất pháp
giả” (Nói là không, chẳng bỏ một pháp), là nói theo
tác dụng. Tác dụng của nó là có thể hiện ra y báo
và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới. Do vậy,
chẳng thể nói nó là không. Tuy hiện ra y báo và chánh báo
trang nghiêm trong mười pháp giới, quư vị phải hiểu
“đương thể giai không,
thật vô hữu nhất pháp khả đắc” (bản
thể của chúng đều là không, thật sự chẳng
có một pháp nào để có thể được). Do vậy,
nó lại là “phi hữu” (chẳng
phải có). Phi hữu là phi vô, phi vô là phi hữu, hữu và
vô có cùng một ư nghĩa, chứ không phải là hai ư nghĩa.
Nay chúng ta không có cách nào lư giải được, bèn chấp
chặt rằng hễ Có th́ chẳng phải là Không, hễ
Không th́ chẳng phải là Có. Cho rằng Có và Không là hai ư nghĩa,
chứ không phải một. Do vậy, chẳng thể vào được
cửa. Khi nào hiểu được chúng vốn là cùng một
ư nghĩa th́ sẽ nhập môn. Quư vị thấy hễ nói
tới hai bên, nói nó là Không, sẽ bèn có đạo lư của
một cái Không; nói nó là Có, th́ sẽ có đạo lư của
một cái Có. Nói Không là nói theo bản thể, nói theo thể
tánh. Nói Có là hoàn toàn dựa theo tác dụng để nói.
“Tự tánh măn túc nhất
thiết công đức” (Tự tánh đầy đủ
hết thảy công đức): “Măn”
là viên măn, “măn túc” có nghĩa
là không thiếu khuyết ǵ. “Công”
là công năng, “đức” là
tác dụng, đức dụng. Nó có công năng, có tác dụng,
công năng lẫn tác dụng đều viên măn, chẳng
thiếu khuyết mảy may nào. Đây là nói tổng quát. Tiếp
theo là nói riêng biệt, nêu lên mấy trường hợp để
giảng. Nó có “trí huệ quang
minh”, trí quang chiếu trọn khắp, trong phần trước
đă nói là “huy thiên địa,
thấu kim thạch” (sáng ngời trời đất, xuyên
thấu vàng đá). Đấy là trí huệ viên măn của chính
ḿnh, chẳng phải do bên ngoài mà có. Trí huệ ấy ai nấy
đều có, v́ sao? V́ quư vị có tự tánh. Hiện thời,
v́ sao quư vị chẳng có trí huệ? V́ quư vị chẳng
tin chính ḿnh có tự tánh. “Tôi chẳng tin tôi có tự tánh, chẳng
tin tôi có Phật tánh”, xong luôn! Quư vị tuy có, vẫn chẳng
thể hiện hữu. Ví như trong túi quư vị đựng
rất nhiều tiền, vào tiệm ăn, bụng đói
meo muốn ăn một bữa mà [cứ tưởng ḿnh] không
có tiền, đáng thương quá! Trong túi có tiền, [cứ
cho rằng ḿnh] “không có!”, đựng tiền đầy ắp,
“không có, chẳng tin ḿnh trong túi ḿnh có tiền”, c̣n có cách nào
nữa đây? Vậy là quư vị vẫn đói lả, vẫn
phải xin ăn. Cổ nhân ví von “y lư minh châu” (hạt châu trong chéo áo), chính ḿnh quên phứt!
Phàm phu chúng ta quên phứt tự tánh, cho nên mê, mê ǵ vậy? Mê
tự tánh. Tánh đă mê, đương nhiên Tướng cũng
mê! Một thứ mê, hết thảy đều mê. Một
ngộ, hết thảy đều ngộ. Nếu giác ngộ
được Tánh, Tướng quyết định chẳng
mê. V́ sao? Tánh và Tướng là một Thể, chẳng phải
là hai Thể, một ngộ, hết thảy ngộ!
“Biến chiếu pháp giới nghĩa,
chân thật thức tri nghĩa” (Ư nghĩa chiếu khắp
pháp giới, ư nghĩa nhận biết chân thật), Chân là
chẳng vọng, Thật là chẳng dối, chẳng giả,
“thức tri” là biết rơ hết
thảy các pháp, không có ǵ chẳng rơ ràng. “Thường, Lạc, Ngă, Tịnh” là chân thường,
Thường là vĩnh hằng, chân tâm là vĩnh hằng, có
chân thường, chân lạc, có chân ngă, có chân tịnh. Trong
Pháp Thân có “thường, lạc, ngă, tịnh”, bốn thứ
tịnh đức. Trong Bát Nhă cũng có “thường, lạc,
ngă, tịnh”, trong Giải Thoát cũng có “thường, lạc,
ngă, tịnh”, chẳng phải giả. “Năi chí măn túc vô hữu sở thiểu nghĩa” (Cho
đến đầy đủ chẳng thiếu sót ư
nghĩa nào): Không có ǵ chẳng đầy đủ. Do vậy
gọi là Như Lai Tạng, Tạng (藏) có nghĩa là chứa
đựng. Như Lai được cất chứa trong ấy,
chứa ở đâu? Chứa trong chân tánh của chính ḿnh.
Tuy chứa trong đó, nhưng v́ nó không có h́nh tích, nó chẳng
phải là ư niệm, cũng chẳng phải h́nh tướng,
quả thật là chẳng lập một trần, nhưng
lại đầy đủ hết thảy, mầu nhiệm
chẳng thể diễn tả được! Do vậy,
chẳng thể nói nó là Không, mà cũng chẳng thể nói nó
là Có. Hai bên Có và Không đều nói chẳng được,
hai đằng Thanh và Trược cũng chẳng nói được.
Đấy là nói về “phi
trược, phi thanh”, hai bên Thanh và Trược đều
chẳng nói được. Tiếp theo, lời Sớ giảng
về câu “vô bối, vô hướng”.
(Sớ) “Vô bối” giả, túng chi tắc vô sở
tùng khứ. “Vô hướng” giả, nghênh chi tắc vô sở
tùng lai. Ngôn tức thử linh minh trạm tịch giả, bất
khả dĩ thanh trược hướng bối cầu
dă. Cử thanh trược hướng bối, ư cai thiện,
ác, thánh, phàm, hữu, vô, sanh, diệt, tăng, giảm, nhất,
dị đẳng.
(疏) 無背者,縱之則無所從去。無向者,迎之則無所從來。言即此靈明湛寂者,不可以清濁向背求也。舉清濁向背,意該善惡聖凡有無生滅增減一異等。
(Sớ:
“Không trái nghịch” là buông ra th́ chẳng có ǵ để đi
tới. “Không hướng về” là đón nhận nó th́ chẳng
có ǵ để theo đến. Ư nói cái “linh minh trạm tịch”
này chẳng thể dùng thanh, trược, hướng về
hay trái nghịch để cầu được. Nêu ra
thanh, trược, hướng về, trái nghịch nhằm
bao hàm các ư nghĩa như thiện, ác, thánh, phàm, có, không,
sanh, diệt, tăng, giảm, một, khác v.v...)
Mấy câu
này hết sức quan trọng, có mức độ ư nghĩa
khá sâu. Có thể nói là rất sâu, câu nào cũng đều miêu
tả Chân Như bổn tánh. Chúng ta đọc rồi dẫu
chưa thể minh tâm kiến tánh, nhưng đối với
tâm tánh nói chung cũng biết được chút ít tin tức,
có một tí mường tượng, sau đấy mới
có thể tăng trưởng tín tâm.
(Diễn)
Xả thử nhi hữu sở khứ, phương khả
vị chi bối.
(演) 捨此而有所去,方可謂之背。
(Diễn: Bỏ điều
này rồi sẽ có cái để đạt đến th́ mới
có thể gọi là “trái nghịch”).
Kinh Kim
Cang giải thích chữ Như Lai có hai ư nghĩa: Một ư
nghĩa là “Như Lai giả,
chư pháp Như nghĩa” (Như Lai là các pháp có ư nghĩa
Như), đức Phật nói như vậy. Ư nghĩa khác
là “vô sở tùng lai, diệc vô sở
khứ, cố danh Như Lai” (chẳng từ đâu đến,
cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như
Lai). Hai ư nghĩa này thật ra vẫn là một. Ở đây,
[ư nghĩa này] được diễn tả bằng từ
ngữ “vô bối, vô hướng”,
Bối là đi, Hướng là đến. Kinh Kim Cang hễ
nói Như Lai th́ là nói về Chân Như bổn tánh. Trong kinh có
lúc nói Phật, có lúc nói Như Lai. Hễ nói tới Như
Lai là nói về Tánh. Hễ nói Phật là nói về Tướng.
Do vậy, cách sử dụng danh từ trong kinh bao hàm ư nghĩa
rất sâu, quyết chẳng thể lẫn lộn được,
chẳng phải là chỉ có một sự việc mà gọi
bằng hai danh từ, hai cách nói ấy nhất định có
hai ư nghĩa. Trước tiên, sách Diễn Nghĩa định
nghĩa hai chữ Bối và Hướng; sau đấy, quư
vị lắng ḷng quán sát, trong bổn tánh không có những ư
nghĩa này, không có những hiện tượng này.
(Diễn)
Kim tắc phỉ ly khuể bộ, dũng hiện bảo hoa,
bất xuất hộ đ́nh, vi nhiễu hàng thụ, tuy dục
túng chi, tương khứ hà sở? Cố vô bối.
(演) 今則匪離跬步,湧現寶花,不出戶庭,圍繞行樹,雖欲縱之,將去何所?故無背。
(Diễn: Nay chẳng rời một bước
chân, hoa báu vọt hiện, chẳng ra khỏi sân, khỏi cửa,
hàng cây bao quanh. Tuy muốn bỏ đi, chốn nào để
về? Cho nên không trái nghịch).
Câu
này trước hết dùng tỷ dụ để nói. Tỷ
dụ này chính là như kinh Lăng Nghiêm đă nói “đương xứ xuất
sanh, tùy xứ diệt tận”[2],
đó chính là ư nghĩa của hai câu này. Chẳng rời một
bước, có nghĩa là chẳng đi. “Dũng hiện bảo hoa” là xuất sanh ở
ngay nơi ấy. Chữ “hoa”
chỉ các tướng biến hiện. “Bất xuất hộ đ́nh”, Hộ (戶) là cánh cửa. Chúng
ta mở cái cửa này, cửa có hai cánh th́ gọi là Môn (門), một cánh th́ gọi là Hộ. Đ́nh
(庭) là
sân, [cửa và sân] đều là những thứ hết sức
gần gũi. Chẳng rời khỏi cửa mà “vi nhiễu hàng thụ” (hàng cây
bao quanh), tỷ dụ điều ǵ vậy? Tỷ dụ sâm
la vạn tượng[3].
Quả thật chẳng rời khỏi sân và cửa, sâm la
vạn tượng đă vây quanh. Những thứ ấy là
ǵ? Đều là Tướng Phần của Chân Như bổn
tánh. Có đi hay chăng? Không có ư nghĩa “đi”.
“Tuy dục túng chi” (dẫu muốn
bỏ đi), ta rất muốn tách rời nó, nhưng “tương khứ hà sở”
(sẽ đi về đâu), có thể tách ĺa được
hay chăng? Chân Như bổn tánh giống như thái hư,
chúng ta có trốn khỏi hư không được chăng?
Thật ra, nó c̣n lớn hơn hư không. Trong kinh Lăng
Nghiêm, đức Phật có nói một tỷ dụ, sánh ví hư
không như một đám mây, Chân Như bổn tánh ví như
hư không, rốt cuộc là mây lớn, hay hư không lớn?
[Nếu so với chân tánh], hư không chẳng lớn. Càng
nghĩ càng thấy tỷ dụ này đầy ư nghĩa, đức
Phật quả thật là người rất thông minh, so sánh
rất khéo. Làm sao mới có thể thấu hiểu ư nghĩa
này? Chúng ta đem hư không so với Chân Như bổn tánh,
nh́n vào đó, sẽ nhận biết được hư
không thật sự. Ban đêm quư vị nằm mộng,
trong mộng cũng có hư không th́ cái hư không [trong mộng]
của quư vị đem so với hư không [thật sự]
giống như một đám mây. Quư vị cũng cảm
thấy hư không [trong giấc mộng ấy] mênh mông không
ngằn mé, nhưng thật ra nó chỉ là một đám mây.
Suy xét cặn kẽ những điều trên đây, sẽ
thấu hiểu được ư nghĩa trong kinh Phật.
Nay chúng ta cảm thấy hư không [trong thực tế] là vô
lượng [nhưng đem so với Chân Như bổn tánh
sẽ] giống như hư không trong giấc mộng [đem
so với hư không thật sự], Chân Như bổn tánh của
chúng ta giống như hư không trong hiện thực. Cái hư
không do sáu căn của chúng ta cảm nhận, tiếp xúc, đúng
là một áng mây mê trong Chân Như bổn tánh, đúng là như
vậy đó, nhưng cái hư không ấy đă không có ngằn
mé rồi! Do vậy, chẳng thể tách ĺa [Chân Như bổn
tánh] được! Tây Phương Cực Lạc thế
giới tuy cách chúng ta mười vạn ức cơi Phật,
vẫn ở trong tự tánh. Nói cách khác, vẫn y như cũ
là “đương xứ xuất
sanh, tùy xứ diệt tận”. Sanh và diệt đồng
thời; do đồng thời nên chẳng t́m được
sanh diệt, đấy là bất sanh bất diệt. Bất
sanh bất diệt và sanh diệt lại có cùng một ư
nghĩa, chỗ này rất khó hiểu. Chúng ta luôn chấp
trước “sanh là chẳng diệt, diệt là chẳng
sanh”. V́ sao sanh diệt là chẳng sanh diệt? Nói theo Tướng
th́ có sanh diệt, nói theo Lư th́ chẳng có sanh diệt. Luận
theo Tướng, sanh diệt đồng thời. Đă là
đồng thời, hễ nói sanh th́ là đă diệt, nói diệt
th́ lại sanh rồi! Khi c̣n đang nói chưa xong th́ nó đă
biến đổi mất rồi, đấy đều là
tướng chân thật! Đó là ư nghĩa của từ ngữ
“vô bối”. Chúng ta lại
xem ư nghĩa của từ ngữ “vô hướng”.
(Diễn)
Nghênh chi nhi hữu tự lai, phương khả vị chi “hướng”.
(演) 迎之而有自來,方可謂之向。
(Diễn: Khi đón tiếp mà
có cái tự đến th́ mới có thể nói là “hướng
đến”).
“Hướng” (向)
có nghĩa là đến, có nghĩa là “chính là”. “Bối” (背)
nghĩa là đi, có nghĩa là tách ĺa. “Vô bối, vô hướng” là chẳng đến
chẳng đi, chẳng phải chính là, chẳng phải tách
ĺa, mang ư nghĩa này.
(Diễn) Kim tắc vô hành vô trụ.
(演) 今則無行無住。
(Diễn: Nay th́ không đi, không ở).
Tướng “hành” và “trụ” đều chẳng
thể được.
(Diễn) Như thị nhi lai, bất động, bất
khởi. Như thị nhi lai, nhược dục nghênh chi,
tùng hà sở nghênh? Cố vô hướng.
(演) 如是而來。不動不起。如是而來。若欲迎之,從何所迎?故無向。
(Diễn: Đến
như thế ấy, chẳng động, chẳng khởi.
Đến như thế ấy, muốn đón tiếp th́
đón ở chỗ nào? Cho nên “vô hướng”).
Hành, trụ, động, khởi: “Động” là động tâm,
“khởi” là khởi niệm,
“hành” là hành động, “trụ” là có nghĩa là không hành
động, chấm dứt. Khởi tâm động niệm
là Hành, chẳng khởi tâm động niệm là Trụ. Trụ
có nghĩa là Định, Hành có nghĩa là Động. V́
trong ấy (Chân Như bổn tánh) đă không có động,
tịnh, Hành, Trụ, vậy th́ [động, tịnh, hành,
trụ] từ đâu mà đến? “Tùng hà sở nghênh” (đón ở chỗ nào). Mấy
câu này quả thật là như Tâm Kinh đă nói: “Bất cấu, bất tịnh,
bất lai, bất khứ” đều nói hết ra, “cố vô hướng” (cho nên
không hướng đến). Những câu nói này đều
dùng phương pháp nói gián tiếp, tương cận, giống
như cách vẽ “đùn mây gợi trăng”[4]
trong hội họa, nhằm hé lộ đôi chút bóng dáng của
Chân Như bổn tánh cho chúng ta thấy, khiến cho chúng ta
thấu hiểu. Giống như chẳng thể vẽ vầng
trăng được, bèn vẽ một vài đám mây, trong
ấy lộ ra một ṿng tṛn rỗng, trắng, [nhằm
biểu thị] mặt trăng. Dùng phương pháp này [để
mô tả vầng trăng]. Chân Như bổn tánh cũng không
thể miêu tả được, bèn nói những thứ vụn
vặt nhằm bảo với quư vị bất cứ thứ
ǵ cũng chẳng phải [là Chân Như bổn tánh], qua những
điều này [người nghe] sẽ hiểu được
đôi chút Chân Như bổn tánh là như thế nào. H́nh dạng,
ư nghĩa như vậy chỉ có thể thấu hiểu,
chứ chẳng thể nói kể được, “ngôn ngữ dứt bặt, tâm
hành xứ diệt”, dạy chúng ta thấu hiểu chân tánh,
thấu hiểu chân tâm của chính ḿnh. Chân tâm là Phật tánh
của chính ḿnh.
Trong đây lại có một ư nghĩa sâu hơn
nữa, tức là dạy quư vị phương hướng
tu chứng. Chúng ta làm như thế nào để chứng đắc?
Tiếp theo đó, sách viết: “Cử
thanh, trược, hướng, bối” (Nêu lên trong, đục,
hướng về, trái nghịch), nêu lên những trường
hợp ấy là v́ ư nghĩa nào? Trong ấy bao gồm những
ư nghĩa “thiện, ác, thánh,
phàm, có, không, sanh, diệt, tăng, giảm, một, khác”,
bao gồm những thứ ấy. Những điều này
nhằm chỉ cho chúng ta một phương hướng
tu hành, những điều này hoàn toàn thuộc về tương
đối. Có hay không có chuyện ấy? Có, nếu quư vị
chấp vào các thứ sự tướng sẽ chẳng thấy
được Tánh. Ĺa những sự tướng ấy,
Tánh bèn hiện tiền; nhưng ở chỗ này phải chú
ư: Quư vị chấp “có ĺa” th́ “ĺa” vẫn là chấp, có hiểu
ư nghĩa này hay không? “Ta ĺa hết thảy tướng” vẫn
là chấp, chấp ǵ vậy? Chấp vào “ĺa hết thảy
tướng”, có thấy được Tánh hay không? Chẳng
thể thấy được Tánh v́ quư vị vẫn chấp
vào Tướng. Ta chấp vào hết thảy tướng, đó
là chấp tướng. Ta chẳng chấp hết thảy tướng
th́ “chẳng chấp hết thảy tướng” vẫn là
chấp tướng, chấp vào cái “chẳng chấp hết
thảy tướng”. Do vậy, vẫn chưa thấy được!
Chấp và chẳng chấp đều ĺa th́ mới thấy
được. Nếu quư vị ghi nhớ câu nói này, quư vị
lại trật rồi, bảo đảm quư vị chẳng
thể thấy được tánh, v́ sao? Quư vị lại
chấp vào “chấp và chẳng chấp, hết thảy
đều ĺa”. Quư vị lại chấp vào những điều
này, bất luận như thế nào quư vị đều chấp.
Đến cuối cùng nói như thế nào đây? Đem miệng
treo lên vách tường, không nói nữa! Ngôn ngữ dứt bặt,
tâm hạnh xứ diệt, sẽ thấy được tánh.
Một câu cũng chẳng nói, trong tâm chẳng có một ư
niệm nào, đó gọi là “thật sự chẳng chấp
trước”, như vậy mới là đúng.
Do vậy, quư vị thấy trong Thiền Tông,
thầy dạy học tṛ, thầy hỏi vài câu, bảo học
tṛ đáp. Tṛ vừa mới mở miệng, thầy liền
chặn họng, giộng cho ba mươi cây hương bản.
Trật rồi, v́ sao? Kẻ ấy khởi tâm động
niệm, toan nói năng; toan nói năng là chấp tướng.
Chẳng mở miệng th́ sao? Cũng bị đập ba
mươi cây, cũng là chấp vào tướng. Hóa ra, nói
th́ cũng bị đập ba mươi cây, ngậm miệng
cũng bị đánh ba mươi cây, giống như thầy
chẳng đếm xỉa lư lẽ, thật ra, thầy thật
sự có lư. V́ sao? Quư vị nói th́ cũng chấp tướng,
không nói cũng vẫn chấp tướng. Chấp tướng
đáng bị đ̣n, phải đập cho tan sự chấp
trước ấy, có ư nghĩa như vậy đó! Do vậy,
người thông minh vừa bị đập liền khai
ngộ, đại triệt đại ngộ, v́ sao? Phá sạch
vọng tưởng, chấp trước. Đây là phương
pháp dạy học gọi là “bổng
hát” (dùng gậy đập, quát nạt). Đây là một
phương pháp, phương tiện dạy học, thầy
cao minh lắm! Thiện tri thức thật sự! Nếu chẳng
phải là chân thiện tri thức cao minh mà cũng học đ̣i
sử dụng phương pháp này, hễ gặp ai đều
đánh, có đánh đến chết, người ta cũng
chẳng khai ngộ, sai mất rồi! Do vậy, phương
pháp này chẳng thể áp dụng cho hết thảy căn
tánh, chẳng thể thích hợp với hết thảy mọi
người. Người sử dụng phải có trí huệ,
phải biết dùng, người tiếp nhận cũng phải
có trí huệ, cũng có thể tiếp nhận. Thầy tṛ
hợp đạo th́ mới có thể thành tựu. Về
sau, có những thiền sư cũng học đ̣i cổ đại
đức, cầm gậy đập người, cũng
chẳng thấy đập cho một ai khai ngộ, vậy
là sao? Không biết dùng! Người dùng không có tư cách, không
đạt đến tŕnh độ, người học cũng
không có tŕnh độ ấy. Nói cách khác, chẳng nên đánh.
Nên đánh th́ phải có điều kiện để nên đánh,
nên chửi th́ cũng phải có điều kiện đáng
chửi, có những người chẳng đáng mắng đâu!
Nhạc phụ (bố vợ) của lăo cư
sĩ Châu Kính Vũ là tiên sinh Chương Thái Viêm. Cụ Chương
là một bậc đại sư về Quốc Học[5]
của Trung Quốc vào đầu thời Dân Quốc, cụ
từng bị Viên Thế Khải giam trong ngục hơn một
tháng. V́ sao Viên Thế Khải giam cụ Chương? Muốn
cụ chửi hắn một câu, nhưng cụ không chửi
Viên Thế Khải, hắn chẳng đáng chửi mà! Viên
Thế Khải tức gần chết, giam cụ trong ngục
hơn một tháng, cụ vẫn chẳng chửi hắn,
không có cách nào hết! Chửi vẫn phải có tư cách, nói
cách khác, chẳng đáng cho ta chửi, không có cách nào hết!
Chẳng đáng bị chửi, chẳng đáng để đánh,
xong rồi! Đấy chính là như Nho Gia đă nói: “Nhụ tử bất khả giáo
dă” (Trẻ ranh chẳng thể dạy được). Bởi
lẽ, đánh chửi là phương pháp dạy học. Chẳng
chịu đánh, chẳng chịu chửi v́ kẻ ấy chẳng
thể dạy. Chẳng thể dạy th́ xong rồi, bỏ
đi, bỏ mặc hắn. V́ nguyên nhân này, Viên Thế Khải
giam cụ Chương hơn một tháng. Do vậy, phương
thức “bổng hát” của nhà Thiền chẳng phổ biến
đối với hết thảy mọi người. Những
người có tư cách được tổ sư cầm
gậy đánh đều gần như là nếu không đại
ngộ th́ nói chung sẽ có chút tiểu ngộ. Kẻ mê hoặc
điên đảo chẳng đủ tư cách, tổ sư
cũng chẳng thể mắng hoặc đánh kẻ ấy.
Có chút tiểu ngộ, có một tí đại ngộ th́ mới
được nhận “bổng hát”, mới có tư cách. Ở
chỗ này, lời Sớ Sao đă hé lộ phương pháp
tu học, nói chung là phải rời ĺa.
(Diễn) Ư cai thiện ác phàm thánh đẳng giả.
(演) 意該善惡凡聖等者。
(Diễn: Bao gồm những ư nghĩa: thiện,
ác, phàm, thánh v.v... là....)
Chữ “đẳng”
chỉ những ư tiếp theo đó như “có, không, sanh, diệt, tăng, giảm, một, khác”.
(Diễn) Mạnh tử đạo “tánh thiện”,
Thiên Thai thuyết “tánh ác”, nhất tắc tựu Sự tạo
biên thuyết, nhất tắc tựu Lư cụ biên thuyết.
(演) 孟子道性善,天台說性惡,一則就事造邊說,一則就理具邊說。
(Diễn: Mạnh Tử nói “tánh thiện”, ngài Thiên
Thai nói “tánh ác” th́ một đằng dựa trên
phương diện “Sự tạo tác” để nói, một
đằng dựa trên phương diện “Lư đầy
đủ” để nói).
Mạnh Tử là thánh nhân thế gian, “nhân chi sơ, tánh bổn thiện”
(con người thuở đầu tánh vốn lành), Mạnh
Tử nói như vậy. Thiên Thai là Trí Giả đại
sư, Ngài nói tới “tánh ác”.
Nói thật ra, lời Trí Giả đại
sư dạy chẳng kém lời Mạnh Tử, hai vị
đều nói đúng, chẳng mâu thuẫn. Chúng ta thấy
hai cách nói này trái nghịch nhau một trăm tám mươi
độ, thật ra, cả hai vị đều nói về
cùng một chuyện. Vị này nói theo phương diện
“Sự tạo tác”. Vị kia nói theo phương diện
“Lư đầy đủ”. Vị nào nói theo phương diện
“Sự tạo tác”? Thiên Thai đại sư nói tới Ác là
nói theo phương diện “Sự tạo tác”. Mạnh Tử
nói theo phương diện Lư, “nhân
chi sơ, tánh bổn thiện”, “nhân giai hữu trắc ẩn
chi tâm” (ai cũng đều có ḷng trắc ẩn), cho thấy
tánh con người vốn lành. Nếu đổi ngược
lại để nói th́ sao? Mạnh Tử nói “tánh thiện”
là nói theo phương diện “Sự tạo tác”, ngài Thiên
Thai nói “tánh ác” là nói theo phương diện “Lư đầy đủ”,
nói như vậy có hợp lư hay không? Cũng hợp lư, chẳng
thể bảo là không hợp lư. Nói theo phương diện
“Sự tạo tác” th́ Ngũ Luân, Thập Nghĩa, Tứ
Duy, Bát Đức[6],
những điều lành thế gian, Ngũ Giới, Thập
Thiện, tỳ-kheo, Bồ Tát, Cụ Túc Giới là Thiện.
Nếu nói theo Lư để luận định tánh ác, th́ Phật,
Bồ Tát nếu chẳng phải là tánh ác th́ làm sao có thể
vào trong ác đạo độ chúng sanh? Vào trong ác đạo
cũng phải có điều kiện của ác đạo.
Ví như tôi muốn vào trong tù để độ chúng sanh,
th́ nhất định tôi phải phạm tội, làm chuyện
xấu ǵ đó, để tôi bị tống giam, vào trong ngục
sẽ đại chuyển pháp luân độ chúng sanh. Nếu
không, quư vị không có điều kiện để đến
đó. Nói chung là cố ư phạm một chút tội, để
bị bắt giam vào ngục th́ mới có thể ở cùng
một chỗ với tội nhân để hằng ngày giảng
kinh thuyết pháp cho họ.
Do vậy, quư vị
phải hiểu: Phiền năo chính là Bồ Đề. Bồ
Tát muốn vào ác đạo độ chúng sanh th́ từ
trong cái tâm thanh tịnh lại phải lôi ra phiền năo từ
khi c̣n là phàm phu trong vô lượng kiếp trước, lôi
ra để làm ǵ? Lôi ra để vào trong ba ác đạo giáo
hóa chúng sanh, để có tư cách vào trong ba ác đạo. Nếu
vị ấy hóa duyên (duyên hóa độ) viên măn, ngay lập
tức sẽ biến ác nghiệp thành Bồ Đề, vượt
thoát tam ác đạo, đó gọi là “thừa nguyện tái lai” (nương theo nguyện
để trở lại).
Phiền năo ấy biến thành Bồ Đề, Bồ
Đề biến thành phiền năo, tùy ḷng mong muốn mà
chuyển biến, tự tại! Chẳng giống như
phàm phu muốn biến mà biến chẳng được,
không có cách nào hết, lại biến thành định nghiệp.
Bồ Tát không có định nghiệp, mà là nguyện lực,
tự tại biến hiện. Do vậy, quư vị thấy
cách nói này, nói như thế nào cũng đều xuông, nói như
thế nào cũng viên dung, không có câu nào chết cứng. Câu
nào cũng đều hoạt bát sống động. Nay đă
hết giờ rồi!
Tập 10
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang thứ mười:
(Sớ) Cử thanh, trược, hướng, bối,
ư cai thiện, ác, thánh, phàm, hữu, vô, sanh, diệt, tăng,
giảm, nhất, dị đẳng.
(Diễn) “Ư cai thiện ác phàm thánh đẳng”
giả, Mạnh Tử đạo tánh thiện, Thiên Thai thuyết
tánh ác, nhất tắc tựu Sự tạo biên thuyết,
nhất tắc tựu Lư cụ biên thuyết.
(疏) 舉清濁向背,意該善惡聖凡有無生滅增減一異等。
(演) 意該善惡凡聖等者。孟子道性善,天台說性惡,一則就事造邊說,一則就理具邊說。
(Sớ: Nêu “thanh, trược,
hướng về, trái nghịch”, bao gồm những ư nghĩa
thiện, ác, thánh, phàm, có, không, sanh, diệt, tăng, giảm,
một, khác v.v...
Diễn: Bao gồm những ư nghĩa thiện,
ác, phàm, thánh v.v... Mạnh Tử nói tánh thiện, ngài Thiên
Thai nói tánh ác, một đằng là nói theo phương diện
“Sự tạo tác”, một đằng là nói theo phương
diện “Lư đầy đủ”).
Chúng ta đă từng thảo luận
những ư nghĩa này. Nói thật ra, pháp giới quả thật
là viên dung. Do vậy, cổ nhân nói “viên nhân thuyết pháp, vô pháp bất viên” (người
viên măn thuyết pháp, không pháp nào chẳng viên măn). Chúng ta bắt
chước nói theo kiểu ấy: “Viên nhân quán pháp, vô pháp bất viên”, “viên nhân thính pháp,
vô pháp bất viên”. Nói cách khác, sáu căn của người
viên măn tiếp xúc hết thảy cảnh giới đều
là viên dung tự tại, quyết định không bị chướng
ngại. Cảnh giới ấy là cảnh giới Hoa Nghiêm,
Lư - Sự vô ngại, Sự - Sự vô ngại, đấy
mới tính là người khỏe mạnh, không bệnh tật
ǵ! Nếu có chướng ngại, tức là có bệnh, chướng
ngại là có bệnh. Không bệnh, lẽ đâu có chướng
ngại? Giống như một người thân thể khỏe
mạnh, huyết khí thông suốt chẳng bị chướng
ngại. Nếu bộ phận nào đó trên thân thể bị
chướng ngại, huyết mạch chẳng thông, sẽ
đổ bệnh. Do vậy, người thật sự mạnh
khoẻ là Phật và các vị đại Bồ Tát, các Ngài
nhập Nhất Chân pháp giới. Từ đấy trở đi,
hết thảy chướng ngại đều không c̣n. Nếu
hiểu rơ đạo lư này, chẳng những chúng ta có thể
nắm vững một cương lănh trọng yếu trong
tu học mà đồng thời cũng có thể quán sát rất
nhiều chứng bệnh của người tu hành ở
chỗ nào. Nếu không thâm nhập các bộ kinh lớn, quả
thật hết sức khó nhận biết vấn đề
lớn này. Nói tới “tánh thiện” hay nói tới “tánh ác” đều
là nói lệch vào một bên, nên Nho gia nói “Mạnh Tử chủ trương tánh thiện”,
“Tuân Tử chủ trương tánh ác”, những cách nói như
vậy đều chẳng phải là Đệ Nhất Nghĩa.
V́ sao? Thiện và ác, trong tập tánh mới có, chứ trong bổn
tánh chẳng có. Khổng lăo phu tử cao minh hơn các vị
này một bậc, Phu Tử nói: “Tánh
tương cận, tập tương viễn” (Về
tánh th́ gần giống như nhau, do được rèn luyện
mà trở thành khác nhau). Ngài không nói thiện hay ác, “tương cận” là không khác
nhau lắm, Tánh là một, Trong Phật pháp cũng nói hoàn toàn
giống hệt như vậy. Khổng lăo phu tử nói “tánh gần giống như nhau”
[là nói về bổn tánh], nói
tánh thiện hay tánh ác là nói về “tập tánh” (cái tánh do được
huân tập, do được rèn luyện mà có), do huân tập nên khác nhau, chúng ta thường
gọi tập tánh là “tập quen thành bản tánh tự nhiên”,
“thiếu thành nhược thiên
tánh” (tập quen từ nhỏ nên trở thành giống như
bẩm tánh), đấy là tập tánh, chứ không phải bổn
tánh.
Trong Phật pháp nói tới cả chân tánh
lẫn tập tánh. Phật pháp nói Chân Như là nói đến
bổn tánh, nói A Lại Da Thức là nói tập tánh. V́ sao? Trong
A Lại Da Thức, thiện, ác, vô kư (không thiện, không ác)
đều có. Do đây có thể biết: Thiện, ác, vô kư đều
là tập tánh. Bổn tánh vốn sẵn có; tập tánh vốn
không. Tánh của bổn tánh vốn là Không, nên gọi là Chân
Không, bản thể của tập tánh là Không. V́ sao? Không có
tự tánh; tập tánh không có tự tánh. Chúng ta nhất
định phải nhận biết điều này. “Ngài Thiên Thai nói tánh ác” cũng
là nói theo tập tánh, chứ không phải nói theo bổn tánh.
Trong đoạn mở đầu lời Tựa này, Liên Tŕ
đại sư nói tới “tánh”
th́ tánh ấy là bổn tánh, chứ không phải tập tánh.
(Diễn) Kim tắc như thật
không trung, thiện kư bất lập, ác diệc hà tồn?
(演) 今則如實空中,善既不立,惡亦何存。
(Diễn: Nay như trong Thật
Không (Chân Không), thiện đă chẳng lập, ác cũng làm
sao c̣n?)
“Thật” là chân thật, chữ Không ở đây là Chân Không, do
vậy gọi là Thật Không, đấy chính là ư nghĩa của
chữ Không như trong Tâm Kinh đă nói: “Sắc chính là Không, Không chính là Sắc, Sắc chẳng
khác Không, Không chẳng khác Sắc”, nói đến cái Không
ấy. Nó chính là Chân Như bổn tánh. Trong Chân Như bổn
tánh, “thiện đă chẳng lập,
ác cũng làm sao c̣n?” Cả hai bên thiện và ác đều
t́m chẳng được, Thiền gia bảo “một pháp chẳng lập, vốn
chẳng có một vật”. Đấy là chân tánh. Chúng ta
phải tu, phải chứng điều này.
(Diễn) Tổ vân: “Khuếch nhiên vô
thánh”, phi thánh dă. Kinh vân: “Phàm phu giả tức phi phàm phu”,
phi phàm dă.
(演) 祖云,廓然無聖;非聖也。經云,凡夫者即非凡夫;非凡也。
(Diễn: Tổ sư nói: “Rành
rành là không có thánh”, nên chẳng phải là thánh. Kinh dạy:
“Phàm phu tức chẳng phải là phàm phu” nên chẳng phải
phàm).
Nói rơ ư nghĩa sau đây: Trong Chân
Như không có thánh mà cũng chẳng có phàm. Phàm và thánh b́nh
đẳng. B́nh đẳng được nói trong Phật
pháp là b́nh đẳng thật sự, “tâm, Phật, chúng sanh, ba pháp không sai biệt”. Kinh
Hoa Nghiêm nói tới sự b́nh đẳng thật sự, không
có pháp nào chẳng b́nh đẳng. Trong bổn tánh, thiện
- ác, phàm - thánh, đến - đi, tịnh - uế đều
chẳng thể được, vốn không có một vật.
Những thứ ấy đều không có. Những thứ ấy
đều sanh từ Đệ Nhị Nghĩa. Trong Đệ
Nhất Nghĩa, hoàn toàn không có.
(Diễn) Hữu vô như thượng.
(演)
有無如上。
(Diễn: Hữu và vô như trên đây [đă
nói]).
Phàm - thánh, hữu - vô như trong phần
trên đă nói.
(Diễn) Tánh vô tiền tế phi sanh
dă, tánh vô hậu tế phi diệt dă.
(演) 性無前際非生也,性無後際非滅也。
(Diễn: Tánh không có thời
gian trước nên chẳng sanh, tánh không có thời gian sau
nên chẳng diệt).
Sanh và diệt đều chẳng thể
được. Trong bổn tánh không có sanh hay diệt. Quư vị
phải nhớ kỹ: Không có sanh diệt sẽ không có sanh
tử. Phàm phu chúng ta chấp trước hiện tượng,
cho là “có sanh tử”, hết sức sợ hăi, hoảng hốt
đối với sanh tử. Nếu thấu triệt đạo
lư này, vốn không có sanh tử, quư vị sẽ đoạn
được ư niệm sợ hăi ấy, chẳng c̣n có ư niệm
ấy. Đó là sự thật. Hiện thời, khi chúng ta
thấy sanh, lăo, bệnh, tử đều là huyễn tướng,
chẳng phải là chân thật.
(Diễn) Bổn tự cụ
túc.
(演) 本自具足。
(Diễn: Vốn tự đầy
đủ).
Trong Chân Như bổn tánh có đầy đủ hết
thảy pháp, chẳng thiếu khuyết mảy may nào. Do vậy,
nói:
(Diễn) Vô pháp khả tăng,
phi tăng dă. Bổn vô nhất vật, vô pháp khả giảm,
phi giảm dă.
(演) 無法可增,非增也。本無一物,無法可減,非減也。
(Diễn: Không có pháp nào để
có thể tăng, nên chẳng tăng. Vốn chẳng có một
vật, chẳng có pháp nào để có thể giảm, nên chẳng
giảm).
Cổ đức nói: “Tại thánh chẳng tăng,
nơi phàm chẳng giảm”, chẳng tăng, chẳng
giảm.
(Diễn) Nhiễm tịnh
thiên sai, phi nhất dă.
(演)
染淨千差,非一也。
(Diễn: Do nhiễm và tịnh
ngàn phần sai khác, nên chẳng phải là một).
Đây là nói theo mặt
Tướng, trong mười pháp giới, tứ thánh pháp giới
thanh tịnh, lục phàm pháp giới ô nhiễm, thiên sai vạn
biệt, xét về Tướng th́ chẳng giống nhau nên
Tướng “phi nhất” (chẳng
phải một).
(Diễn) Nhất vị
b́nh đẳng, phi dị dă.
(演) 一味平等,非異也。
(Diễn:
Một vị b́nh đẳng, nên chẳng phải là
khác).
Thể là b́nh đẳng,
toàn là Tướng của Tánh [có biểu hiện sai khác]. Tướng
do đâu mà có? Tướng ấy là Tướng của Tánh.
Nh́n theo Tướng th́ thiên sai vạn biệt, nh́n theo Tánh
th́ “một vị b́nh đẳng”,
không hai, không khác. Cổ nhân nói: “Dùng vàng làm thành đồ vật, món nào cũng đều
là vàng”, chẳng khác nhau, “chẳng
phải là khác”. Nếu nói, sẽ nói chẳng hết. Nêu
lên mấy trường hợp, chúng ta hăy lắng ḷng đọc
kỹ vài lượt, tuy chẳng thể diễn tả Chân
Như bổn tánh được, nhưng nói chung là có một
phương cách để có t́m cầu, có thể biết đại
khái. Đúng là giống như phương
thức “đùn mây để biểu lộ trăng” trong hội
họa khiến cho chúng ta có được một chút ư tưởng,
ấn tượng. V́ sao chẳng thể nói được?
Hai câu tiếp theo đây giảng rất rơ ràng!
(Diễn) Dĩ nhất
thiết ngôn thuyết giả danh vô thật, đản tùy
vọng niệm bất khả đắc cố.
(演) 以一切言說假名無實,但隨妄念不可得故。
(Diễn: Do hết thảy
ngôn thuyết là giả danh, không thật, chỉ thuận
theo vọng niệm, nên chẳng thể đạt được).
“Dĩ nhất
thiết ngôn thuyết giả danh vô thật” (Do hết thảy ngôn thuyết là giả danh, không thật):
V́ lẽ này, ngôn ngữ dứt bặt, “đản tùy vọng niệm bất khả đắc
cố” (chỉ thuận theo vọng niệm nên chẳng
thể được), tâm hạnh xứ diệt. Cảnh
giới chân thật này ngôn ngữ chẳng thể diễn
tả được, tâm tư chẳng thể tưởng
tượng được. Chỉ cần quư vị khởi
tâm động niệm là sai mất rồi! Chỉ cần
quư vị kèm theo lời nói th́ cũng sai, chắc chắn là
chẳng thể được. Trong Khởi Tín Luận, Mă
Minh Bồ Tát đă dạy chúng ta một cương lănh tu
học, Ngài dạy chúng ta bất luận đọc kinh hay
nghe kinh đều có ba cương lănh quan trọng: Thứ
nhất là “ly ngôn thuyết
tướng”, tức là chẳng thể chấp vào ngôn
ngữ. Thứ hai là “ly danh tự
tướng” tức là đừng chấp vào những
danh từ, thuật ngữ. Thứ ba là “ly tâm duyên tướng”, tức là trong tâm đừng
suy lường những đạo lư ấy. Trong ấy không
có đạo lư th́ quư vị mới thấu hiểu được.
Hễ quư vị khởi tâm động niệm th́ đều
là vọng tưởng. Mọi người nghe kinh chẳng
thể khai ngộ là v́ chấp vào tướng, chấp vào
ǵ vậy? Chấp tướng ngôn thuyết, chấp tướng
danh tự, chấp tướng tâm duyên. Chấp tướng
nghe kinh, dẫu nghe suốt vô lượng lần ba đại
A-tăng-kỳ kiếp vẫn chẳng thể khai ngộ,
vẫn là phàm phu. Nếu ĺa tướng nghe kinh, thưa với
quư vị, nghe một lượt liền đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Khi nào thành Phật?
Không thể nói nhất định, khi nào quư vị ĺa tướng,
khi ấy sẽ thành tựu. Nếu quư vị vẫn chẳng
bỏ được, không chịu ĺa, thời gian [để
đạt đến khai ngộ] sẽ dài lắm. Do vậy,
thành tựu hay không, thời gian dài hay ngắn, hoàn toàn do chính
ḿnh quyết định, chẳng phải do người khác,
chẳng liên quan đến người hay cảnh, hoàn toàn
do chính ḿnh! Phật pháp gọi là “vô
y đạo nhân”, đúng là danh phù hợp với thật,
tùy thuộc chính ḿnh có thể bỏ ĺa phân biệt, chấp
trước hay là không?
Đoạn này nhằm giải thích ư
nghĩa được bao hàm trong “thanh, trược, hướng, bối”. Những
điều Ngài nói đều là tương đối, dùng
tương đối để hiển thị tuyệt đối,
đấy là một mánh khóe dạy học. Chỉ có dùng mánh
khóe này th́ bản thân chúng ta mới có thể khế nhập.
(Sớ) “Đại tai” nhị cú, tán từ.
(疏)
大哉二句,讚辭。
(Sớ: Hai câu “lớn thay...”
là lời ca ngợi).
Hai câu này là lời tán thán, ư nghĩa cũng
hết sức sâu. Trong lời Tựa có hai câu: “Đại tai chân thể, bất
khả đắc nhi tư nghị giả” (Chân thể
lớn lao thay! Chẳng thể nghĩ bàn được).
(Sớ) Đại giả,
đương Thể đắc danh, cụ “biến,
thường” nhị nghĩa, dĩ
hoành măn thập phương, thụ cực tam tế,
cánh vô hữu pháp khả dữ vi tỷ, phi đối tiểu
ngôn đại chi đại dă.
(疏) 大者,當體得名,具遍常二義。以橫滿十方,豎極三際,更無有法可與為比,非對小言大之大也。
(Sớ: Đại là căn cứ
trên Thể mà đặt tên, nó có hai nghĩa Trọn Khắp
và Thường Hằng, v́ theo chiều ngang trọn khắp
mười phương, theo chiều dọc tột cùng ba
đời, lại chẳng có pháp nào có thể sánh bằng.
Sự to lớn ấy chẳng phải là do so với nhỏ
mà nói là “lớn”).
Nêu rất rơ ư nghĩa của chữ Đại
này. V́ không có cách nào khác, bất đắc dĩ phải dùng
chữ Đại này để làm từ ngữ tán thán. Đại
ở đây không phải là lớn trong “lớn, nhỏ”. Chữ
“lớn” trong “lớn, nhỏ” là tương đối, vượt
thoát khỏi “lớn, nhỏ” mới thật sự là lớn!
Trong kinh Phật, chữ Đại trong Đại Phương
Quảng mang ư nghĩa này. Trong kinh Lăng Nghiêm, chữ Đại
trong Đại Phật Đảnh cũng mang ư nghĩa này,
đều là xưng tán, xưng tán bản thể, xưng tán
pháp tánh. Đều là “đương
Thể đắc danh” (dựa trên Thể để đặt
tên), “cụ biến thường
nhị nghĩa” (có hai nghĩa Trọn Khắp và Thường
Hằng), trong danh từ này, bao gồm hai ư nghĩa ấy.
(Diễn) Đương Thể đắc
danh giả, Thường ngôn Đại giả, đối
tiểu chi xưng, kim tắc bất nhiên, trực chỉ
Tánh Thể, danh chi viết Đại.
(演) 當體得名者,常言大者,對小之稱,今則不然,直指性體,名之曰大。
(Diễn: “Do Thể mà
được tên”: Do Thường Hằng mà nói là Đại,
ở đây không phải là do đối với nhỏ mà
nói là Đại, mà là nhằm chỉ thẳng cái Thể của
Tánh nên gọi là Đại).
Câu này vừa đọc
liền hiểu ngay, ư nghĩa đă giảng rồi.
(Diễn) “Cụ thường, biến
nhị nghĩa” giả, Niết Bàn vân, sở ngôn Đại
giả, danh chi vi Thường. Thử minh Thể vô biến
dịch.
(演) 具常遍二義者,涅槃云,所言大者,名之為常,此明體無變易。
(Diễn: “Có hai nghĩa Thường
Hằng và Trọn Khắp”: Kinh Niết Bàn nói: “Nói là Đại,
đó là tên gọi diễn tả ư nghĩa Thường Hằng,
nhằm chỉ rơ Thể này chẳng biến đổi”).
Trong kinh Niết Bàn có mấy câu kinh
văn giống như thế này, đại sư đặc
biệt nêu ra để ấn chứng ư nghĩa của chữ
Đại đang được nói ở đây. Kinh nói tới
Đại th́ có ư nghĩa là Thường, tức là nói: Thường
là vĩnh hằng chẳng biến đổi, vĩnh viễn
giống như thế. “Thánh
như thế, mà phàm cũng như thế”. Thành Phật
[th́ Tánh vẫn giống] như thế đó! Dẫu có tạo
vô lượng vô biên tội nghiệp, đọa trong địa
ngục A Tỳ, Tánh ấy vẫn là như thế, Thể
của nó vĩnh viễn chẳng biến đổi. Ở
đây, chớ có hiểu lầm; nếu hiểu lầm sẽ phiền phức lớn lắm!
Vừa nghe nói phàm và thánh đều như nhau, vậy th́ [đọa]
địa ngục A Tỳ và thành Phật cũng chẳng
khác nhau, ta tạo nhiều tội nghiệp hơn một
chút cũng đâu có sao? Về Lư th́ giống nhau, nhưng thụ
dụng khác hẳn. Ví như ta hằng ngày, buổi tối
đi ngủ nằm mộng, có người nằm mộng
rất vui sướng, có người hằng ngày gặp
ác mộng, toàn gặp phải yêu ma, quỷ quái, toàn là những
giấc mộng kinh hoàng. Vậy th́ cái tâm nằm mộng,
tâm nằm mộng đẹp và tâm sanh ác mộng đều
cùng là một cái tâm tạo ra giấc mộng, chẳng hai.
Mộng đẹp do tâm quư vị biến hiện ra, ác mộng
vẫn do tâm quư vị hiện ra. Nếu xét theo tâm để
nói th́ không hai, nhưng quư vị có thích hằng ngày gặp
ác mộng hay không? Nếu quư vị không thích bị ác mộng,
quư vị hăy nghĩ vào trong ba ác đạo giống như
ngủ gặp ác mộng, chẳng dễ chịu đâu! Nói
theo Lư th́ không hai, nhưng trên mặt Sự, thụ dụng
khác biệt lớn lắm. Sự thụ dụng trong ác
đạo rất đáng sợ, quư vị đọc
Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh sẽ hiểu
ngay. Đó là ác mộng, cơn ác mộng hết sức
đáng sợ. Do vậy, phải hiểu: Tánh là một, nhưng
Tướng có sai biệt. Do vậy, vẫn phải tu nhân,
vẫn phải đoạn ác tu thiện th́ mới có thể
tương ứng với Phật pháp.
(Diễn) Hựu ngôn Đại
giả, kỳ tánh quảng bác, do nhược hư không.
(演) 又言大者,其性廣博,猶若虛空。
(Diễn: Lại nói Đại là v́ tánh ấy rộng
răi, mênh mông dường như hư không).
Đây là ư nghĩa thứ
hai, tức là ư nghĩa “biến”
(遍:
trọn khắp),
tận hư không, trọn pháp giới. “Thường” là nói theo phương diện thời
gian, muôn đời chẳng biến đổi, chẳng cải
biến.
(Diễn) Thử minh thể tánh châu biến.
(演) 此明體性周遍。
(Diễn: Điều này nêu rơ thể tánh trọn
khắp).
Tận hư không, trọn pháp giới, mỗi
một pháp trong pháp giới đều là vật được
biến hiện bởi Tánh Thể (bản thể của
chân tánh). Nói cách khác, chúng là Tướng Phần của Tánh
Thể. Tánh Thể là con người thật sự của
chính ta, nhận biết Tánh Thể th́ mới thật sự
kiến lập được nhân sinh quan và vũ trụ
quan như các nhà khoa học hiện thời thường nói,
mới có thể thật sự t́m ra ư nghĩa sanh mạng
và ư nghĩa của đời người. Nếu chẳng
đạt đến cảnh giới này mà bàn đến vũ
trụ quan hay nhân sinh quan th́ trong Phật pháp có hai chữ để
phán định, tức là “hư luận”, nói đùa ấy mà! V́
sao vậy? Về căn bản, quư vị không có tŕnh độ,
bàn đến những vấn đề này th́ tŕnh độ
tối thiểu phải là bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo
mới được! Phá một phẩm vô minh, chứng một
phần Pháp Thân, mới có tư cách thảo luận những
vấn đề này. Nói cách khác, mang thân phận học sinh
lớp Một chỉ có thể lắng nghe để học
hỏi. Thảo luận những vấn đề này là
chuyện của Phật và các đại Bồ Tát; biên bản
ghi chép cuộc thảo luận của các Ngài là kinh điển
Nhất Thừa, là kinh điển Đại Thừa như
chúng ta thấy trong hiện tại.
Khi tôi chưa học Phật, rất thích đọc
các sách Triết Học và Tâm Lư Học, tôi cảm thấy rất
bội phục, rất tôn trọng; sau khi đọc kinh Phật,
bỏ sạch những sách ấy. Bây giờ quư vị bảo
tôi đọc lại một lượt, tôi không đọc,
v́ sao? Lăng phí thời gian, trong những sách ấy đều
là phỏng đoán, bịa đặt, đều là những
thứ Phật pháp gọi là “hư
luận”, đều là đoán ṃ, suy diễn. Tôi nghĩ
như thế này, anh nghĩ như thế nọ, không có một
ai nghĩ đúng cả. Nếu chúng ta hỏi: Những điều
trong kinh Phật nghĩ có đúng hay không? Thích Ca Mâu Ni Phật
có nghĩ đúng hay không? Cũng chẳng đúng! Nếu quư
vị bảo là đúng, quư vị lại trật rồi! Rốt
cuộc, ǵ mới là đúng? Đức Phật đă nói rồi
đó, trong một đời Ngài chưa nói một câu pháp nào.
Nếu ai nói Phật thuyết pháp tức là [kẻ đó] báng
Phật. Đúng vậy, chẳng sai tí nào! Trong bốn mươi
chín năm, đức Phật thật sự chưa từng
nói một chữ nào! Nói suốt ngày từ sáng đến tối,
nhưng không nói một chữ. Nếu quư vị hiểu được
ư nghĩa này, th́ đó là đúng. Nếu quư vị cho là Phật
đă nói này nói nọ, tức là chấp vào tướng ngôn
thuyết, chấp vào tướng danh tự, chấp vào tướng
tâm duyên, có khác ǵ học thuyết thế gian đâu? Biến
cả Đại Tạng Kinh thành hư luận! Bởi lẽ,
đức Phật thuyết pháp ư nằm ngoài lời. Nếu
quư vị hiểu được âm thanh nằm ngoài dây đàn,
quư vị mới được coi là bạn tri âm. Chỉ
có Phật, chỉ có Bồ Tát mới
là tri âm của Phật. Đấy là chỗ khó khăn của
Phật pháp, chỗ khó nhất trong tu học Phật pháp. Nếu
chúng ta có thể thấu hiểu chỗ này, hướng về
đây dụng công sẽ chẳng khó nữa. Do vậy, điều
khó khăn trong Phật pháp là buông xuống.
Hôm nay có một vị cư
sĩ đến chỗ tôi, gần đây, ông ta thường
đến một ngôi chùa nhỏ, nghe nói nơi ấy rất
vắng vẻ, tôi chưa từng đến đó, rất
ít người đến nơi ấy. Ông ta tính làm cho ngôi
chùa ấy được hưng vượng trở lại,
tôi lắc đầu: “Không cần thiết!” Ngôi chùa ấy
chỉ có một vị pháp sư, vị tỳ-kheo-ni ấy
đă cao tuổi lắm rồi, bà ta muốn lập Niệm
Phật Đường tại đó. Tôi nói: “Cần ǵ phải
làm vậy?” Bà ta xuống tóc với pháp sư Quảng Khâm.
Cụ Quảng Khâm là một vị cao tăng hữu đạo,
năm nay đă hơn chín mươi bốn tuổi,
thời gian Ngài trụ thế chẳng c̣n bao lâu nữa, v́
sao không đến thân cận lăo nhân gia? Chính ḿnh muốn tách
rời thầy để dựng một ngôi chùa nhỏ. Nếu
bà ta thật sự giác ngộ Pháp Thân huệ mạng là khẩn
yếu, sẽ nhanh chóng bỏ ngôi chùa nhỏ ấy. Ở
phương Nam, hiện thời lăo pháp sư đă lập
một ngôi Niệm Phật Đường, nghe nói có sáu bảy
chục người cùng tu ở đó, đến nơi đó
sẽ tốt hơn nhiều! Chính ḿnh dựng một ngôi
chùa nhỏ, trong chùa củi, gạo, dầu, muối thứ
ǵ cũng phải bận tâm. Bà ta đến nơi kia cùng đại
chúng niệm Phật, chuyện ǵ cũng chẳng phải bận
tâm. Suốt ngày từ sáng đến tối một câu A Di
Đà Phật, chắc chắn văng sanh, đấy mới là
người thông minh. Ông ta lắc đầu, buông xuống
không được! Buông xuống không được th́ Tây
Phương Cực Lạc thế giới chắc chắn
chẳng có phần. Sau khi chết đi, ở nơi ấy,
trên núi là nơi không có ai đến, cũng không có dân chúng
qua lại nơi đó, chuyển thế đầu thai lần
nữa, trên núi có những loài như sóc, chuột, rắn,
trong nhà có gián, chỉ đành là đầu thai vào những
loài ấy, v́ sao vậy? Bỏ không được nơi ấy,
đáng thương! Thật sự đáng thương!
Lăo ḥa thượng Hư Vân cả đời đi
khắp nơi dựng chùa, sửa miếu, tu bổ xong xuôi,
ngay lập tức kiếm người trẻ tuổi nào
không có chỗ trụ, mời đến giao lại, lăo nhân
gia bỏ đi. Chỉ cần xây dựng xong bèn bỏ đi,
không hỏi đến nữa, như vậy là đúng, quyết
định chẳng lưu luyến. Lập đạo tràng
cho ai? Nhằm tạo thuận tiện cho người khác
tu hành, cúng dường người tu hành trong mười
phương, chính ḿnh quyết định chẳng tiêm nhiễm,
thân tâm thanh tịnh, lăo nhân gia nêu tấm gương sáng cho chúng
ta, phải bỏ được, phải buông xuống
được! Người có thể buông xuống
được sẽ thật sự có phước! Suốt
ngày từ sáng đến tối đeo cơng cả đống
bao, bị, người ấy đáng thương, chẳng
có phước báo! Người có phước báo là người
một thân thong dong, thân tâm không vướng mắc, người
ấy có phước. Mê là ǵ? Ngộ là ǵ? Chúng ta phải có
năng lực phân biệt, chọn lựa, phải thường
tự ḿnh phản tỉnh, phá mê khai ngộ.
Tánh đă đầy đủ hết thảy pháp,
hết thảy pháp là vật được biến hiện
bởi chân tánh. Do vậy, chớ nên tham luyến, chớ nên
chấp trước. Năng biến (có thể biến hiện)
chẳng phải là khuyết điểm mà là công đức.
Sau khi biến hiện, người ta chấp trước,
tham luyến, đó là bệnh, bệnh ở chỗ này. Tổ
sư nói “có thể sanh ra vạn
pháp”, đấy là công đức của nó, “vốn sẵn thanh tịnh”, “vốn
sẵn đầy đủ”, “có thể sanh ra vạn pháp”,
đó là công đức. Vốn chẳng có chấp trước!
Ngài chẳng nói là vốn sẵn chấp trước, chẳng
nói là sẵn có phân biệt, chẳng nói là sẵn có vọng
tưởng, không hề có! “Vốn
sẵn thanh tịnh, vốn chẳng sanh diệt, vốn
không có một hay khác”, hăy quán sát từ những chỗ này
th́ nói chung sẽ giác ngộ đôi phần.
(Diễn) Vô pháp khả tỷ giả.
(演) 無法可比者。
(Diễn: “Không có pháp nào có thể sánh bằng” là...)
Pháp thế gian và xuất
thế gian không có một pháp nào có thể sánh bằng chân
tánh.
(Diễn) Thế gian tối đại,
mạc nhược hư không. Kinh vân: “Mê vọng hữu
hư không”.
(演) 世間最大,莫若虛空。經云,迷妄有虛空。
(Diễn: Lớn nhất trong thế gian, không ǵ bằng
hư không. Kinh dạy: “Do mê vọng nên có hư không”).
Câu này trích từ kinh Lăng Nghiêm, hư
không do đâu mà có? Sau khi mê bèn hiện ra vọng tướng
(tướng hư vọng), tướng hư không. Do vậy,
hư không có sanh diệt hay chăng? Có sanh diệt! Do hư
không có thời gian tồn tại quá dài nên quư vị chẳng
thể dễ dàng nhận biết được. Khi nào hư
không diệt, quư vị liền thành Phật đạo.
(Diễn) Không năi hữu thỉ,
thử pháp vô thỉ.
(演) 空乃有始,此法無始。
(Diễn: Hư không có khởi
đầu, nhưng pháp này không có bắt đầu).
Đây là nói hư không có khởi đầu,
có kết thúc. Hư không có sanh, có diệt. Hư không bắt
đầu từ lúc nào? Bắt đầu từ lúc chúng ta
mê mất bổn tánh, khi nào hư không chẳng c̣n? Khi nào hoàn
toàn giác ngộ bổn tánh, hư không sẽ chẳng c̣n nữa.
Trong hết thảy pháp, hư không sanh
đầu tiên; trong hết thảy pháp, hư không diệt
cuối cùng. Do vậy, hư không được gọi là
“ngoan không” (cái Không trơ trơ),
chẳng gọi là “chân không”.
Chân Không là nói tới tự tánh, không có sanh diệt, không đến
đi, không đổi khác. Chân Không là quang minh, ngoan không tối
tăm nên gọi là vô minh. Hư không của chúng ta là một
khối đen kịt, gọi là vô minh. Nói đến hư
không th́ nó cũng có khởi đầu, “không năi hữu thỉ”. “Thử pháp vô thỉ” (Pháp
này không có khởi đầu): Chân Như bổn tánh vô thỉ,
không khởi đầu đương nhiên cũng chẳng
có kết thúc. Hễ có khởi đầu ắt phải có
kết thúc.
(Diễn) Hựu vân: “Nhất nhân phát
chân quy nguyên, thập phương hư không tất giai tiêu vẫn”.
(演) 又云,一人發真歸元,十方虛空悉皆消殞。
(Diễn: Lại nói: “Một
người nhận ra lẽ chân, trở về nguồn
th́ mười phương hư không đều tiêu sạch”).
Đây cũng là câu trích từ kinh Lăng
Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm dạy: Một người thành Phật,
nhà Thiền gọi “phát chân”
là “kiến tánh”, chữ “nguyên” trong “quy nguyên” là bổn nguyên (nguồn cội gốc),
tức là tự tánh. Khi ấy, mười phương hư
không thảy đều tiêu sạch.
(Diễn) Không năi hữu chung.
(演)
空乃有終。
(Diễn: Hư không có kết
thúc).
Câu này có ư nghĩa giống như Vĩnh
Gia đại sư đă viết trong bài Chứng Đạo
Ca: “Giác hậu không không vô đại
thiên” (Giác rồi, tam giới rỗng tang hoang). “Phát chân quy nguyên” là giác ngộ,
đại triệt đại ngộ. Sau khi đại triệt
đại ngộ, đại thiên thế giới không c̣n nữa,
giống như người nằm mộng, chợt tỉnh
giấc, tỉnh rồi cảnh giới trong mộng không c̣n
nữa, hư không trong mộng cũng chẳng c̣n. Tất
cả hết thảy pháp trong mộng đều là pháp sanh
diệt, ngay cả hư không trong mộng cũng là pháp sanh
diệt. Cảnh tượng ấy hết sức gần
gũi [với những điều được diễn
tả sau khi giác ngộ].
(Diễn) Không năi hữu chung, thử
pháp vô chung, thị “thụ cùng vô pháp khả tỷ” dă.
(演) 空乃有終,此法無終,是豎窮無法可比也。
(Diễn: Hư không có kết
thúc, pháp này không kết thúc, tức là “theo tột cùng chiều
dọc, không có pháp nào sánh bằng”).
Trong phần trước nói đến
“trọn khắp”, là nói theo không gian, không có pháp nào có thể
sánh bằng chân tánh. Ở đây là nói theo thời gian, cũng
không có cách nào so sánh với chân tánh. Chân tánh không khởi đầu,
không kết thúc, không trong hay ngoài. Những câu kinh được
dẫn ở chỗ này đều trích từ kinh Lăng
Nghiêm.
(Diễn) Hựu vân: “Thập
phương hư không sanh nhữ tâm nội, do như phiến
vân điểm thái thanh lư”.
(演) 又云:十方虛空生汝心內,猶如片雲點太清裡。
(Diễn: Kinh lại nói:
“Mười phương hư không sanh trong tâm ngươi,
giống như áng mây điểm giữa hư không”).
So sánh giữa hai thứ “hư không” và “chân tánh”, chân tánh quá lớn. Chân tánh giống như
trọn hư không, c̣n hư không hiện thời của
chúng ta th́ giống như một áng mây giữa hư không. So sánh giữa hư không theo sự cảm
nhận của chúng ta và Chân Như bổn tánh th́ quả thật
rơ ràng là hư không quá bé nhỏ; nói đơn giản, thẳng
thừng th́ là tỷ lệ chẳng cân xứng.
(Diễn) Không năi hữu tế.
(演)
空乃有際。
(Diễn: Hư không có ngằn
mé).
Hư không có ngằn mé. Hiện thời,
có rất nhiều nhà khoa học nhận biết hiện tượng
này. Vũ trụ của chúng ta có ngằn mé. Khoa học thăm
ḍ vũ trụ trong nhiều năm như vậy, chẳng
thể không bội phục họ. Hư không quả thật
có ngằn mé. Trong kinh Phật đă nói rơ ràng điều này
từ lâu, nhưng ở ngoài ngằn mé lại có thứ khác,
chứ không phải là chẳng có ǵ, có ǵ vậy? Chân Như
bổn tánh không có ngằn mé. Khi nào quư vị có thể đột
phá vũ trụ, nói thật ra, nhà Thiền gọi hư không
là “vô minh khoa” (無明窠: cái ổ
vô minh). Vượt thoát cái ổ vô minh ấy sẽ kiến
tánh. Hiện thời, các nhà khoa học đă
biết hư không có ngằn mé, điều này đúng là chẳng
dễ dàng, họ thật sự rất thông minh. Tuy họ
biết nó có ngằn mé, nhưng hiện thời, rốt cuộc
ngằn mé là như thế nào, họ ṃ không ra! Chỉ là nói
theo lư luận th́ hư không có ngằn mé. Hiện thời, họ
vẫn chưa hiểu rơ, chỉ là dựa trên lư luận để
nói th́ hư không có ngằn mé, chứ chẳng biết ngằn
mé của nó nằm ở đâu! Có nhiều giả thiết
(假設, conjecture, hypothesis), nhưng những giả thiết ấy hoàn toàn
chưa khẳng định. Mai sau cũng sẽ có những
nhà khoa học hay triết gia lại lật đổ những
giả thiết ấy, lại có những thuyết mới
được lập ra. Do vậy, khoa học chỉ suy
luận, chứ chưa thể kết luận. Nói cách khác, đều
là suy đoán, suy đến đâu bèn phát hiện đến
đó, ṃ đến đâu bèn phát hiện tới đó, chưa
có kết luận. Phật pháp đă có kết luận, quyết
chẳng phải là đoán ṃ.
Những nhà khoa học hết sức thông
minh, đáng tiếc là họ chẳng đọc kinh Phật!
Nếu họ đọc kinh Phật, do họ trí huệ thông
minh hơn những kẻ tầm thường như chúng
ta rất nhiều, nếu họ học Phật sẽ dễ
dàng lắm. Họ không có thiện căn, phước đức,
nhân duyên, sanh trưởng trong những nơi không có Phật
pháp, không có cơ hội tiếp xúc. Chúng ta sanh trưởng
ở nơi có Phật pháp, đầu óc không được
thông minh như họ, năng lực giác ngộ thua người
ta. Do vậy, đem khoa học hiện đại đối
chiếu với kinh Phật, chúng ta đúng là chẳng thể
không bội phục Thích Ca Mâu Ni Phật, không nói được
câu nào! Những phát hiện của các nhà khoa học đều
chẳng thể vượt khỏi phạm vi Phật pháp.
Nhiều học thuyết được nêu ra trong thời
cận đại đều nằm trong Phật pháp!
(Diễn) Thử pháp vô tế, thị “hoành
biến vô pháp khả tỷ” dă. Dụ kim, dụ nguyệt,
diệc phục như thị vô khả tỷ dă.
(演) 此法無際,是橫遍無法可比也。喻金喻月,亦復如是無可比也。
(Diễn: Pháp này không bờ mé,
tức là “theo chiều ngang trọn khắp, không có pháp nào
có thể sánh bằng”. Ví như vàng, ví như mặt
trăng th́ cũng giống như vậy: Chẳng thể
sánh ví!)
Hết thảy các tỷ dụ chỉ
có thể sánh ví hơi giống, chắc chắn chẳng thể
sánh ví phù hợp khít khao được, tức là chẳng
thể so sánh được! Chúng ta chớ nên nghĩ tỷ
dụ là chân thật, phải từ tỷ dụ mà ngộ
nhập pháp chân thật th́ mới thật sự lănh hội
tác dụng của tỷ dụ ấy. Đến đây là
giảng về ư nghĩa của chữ Đại, nó có hai
ư nghĩa Trọn Khắp và Thường Hằng. Lại
coi phần giảng về “chân
thể”.
(Sớ) “Chân” giả, bất vọng.
Dĩ tam giới hư ngụy, duy thử chân thật.
(Diễn) “Tam giới hư ngụy,
duy thử chân thật” giả: Hư giả, bất thật,
như không trung hoa, bổn vô sở hữu.
(疏) 真者,不妄。以三界虛偽,唯此真實。
(演) 三界虛偽,唯此真實者:虛者不實,如空中花,本無所有。
(Sớ:
“Chân” là chẳng vọng. Do ba cơi hư dối, chỉ có
pháp này là chân thật.
Diễn: “Ba cơi hư dối, chỉ có pháp này chân thật”:
Hư là chẳng thật; như hoa đốm trên không vốn
chẳng có).
Đoạn này giảng chữ “hư” (虛). “Không trung hoa” là ǵ? Con mắt bị bệnh, thấy
trên hư không có rất nhiều đốm sáng (hoa đốm)
hiện ra, nh́n vào đèn, thấy đèn có quầng tṛn. Thấy
những hiện tượng ấy! Trên hư không có hoa đốm
hay không? Không có! Nhưng con mắt quư vị thấy quả
thật có hoa đốm. Khi mắt lành sẽ không thấy
nữa, khi mắt bệnh sẽ thấy có. Ngọn đèn
quả thật không có quầng tṛn, nhưng mắt bệnh
nh́n thấy đèn có quầng tṛn; người bị bệnh
mắt có kinh nghiệm ấy. Đó gọi là “hoa”. “Quầng sáng” là hư vọng,
hoàn toàn chẳng có, nhưng quư vị lại thấy là có. Đó
chính là ư nghĩa của chữ “hư”.
(Diễn) Ngụy giả, bất chân, như thâu tự
kim, tất cánh phi kim.
(演)
偽者不真,如鍮似金,畢竟非金。
(Diễn: Ngụy là không thật, như đồng
thau trông giống như vàng, nhưng rốt cuộc chẳng
phải là vàng).
“Ngụy” (偽) là không chân thật, thường nói gộp chung là “hư ngụy”. Một đằng
là về căn bản chẳng có, một đằng là quyết
định chẳng chân thật. Hiện thời, hai chữ
này h́nh dung điều ǵ? Tam giới! Trên sự thật, chúng
ta rất khó thể hiểu được, cũng khá khó
tiếp nhận. Trong tam giới gồm có lục đạo,
Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, ba cơi chẳng
chân thật, ba cơi là hư ngụy.
Các nhà khoa học cận đại có
một tỷ dụ, tỷ dụ rất
hay, gọi là Lịch Vũ Trụ (Cosmic Calendar), tức là
từ khi bắt đầu có vũ trụ, một mực
phát triển măi cho đến thời gần đây, đem
thời gian ấy chia thành một năm gồm ba trăm
sáu mươi ngày, trong tháng nào đó, năm nào đó, vũ
trụ phát triển như thế nào. Thời gian phát triển
như thế nào? Mấy trăm ức năm được
rút gọn thành ba trăm sáu mươi ngày. Trên địa cầu,
từ khi có nhân loại cho đến nay, chiếm bao nhiêu
thời gian trong Lịch Vũ Trụ? Trong ṿng mười
giây! Từ khi địa cầu có con người phát triển
măi cho đến ngày nay, từ thời gian ấy cho đến
hiện tại chưa đầy mười giây! Nếu rút
gọn thời gian như thế, sẽ rất gần gũi
với cách nói trong kinh Hoa Nghiêm: Phá một vi trần, hiện
ra vô lượng vô biên cơi nước, rất có ư vị,
cho thấy hết thảy pháp hư vọng, chẳng thật.
Đời người một trăm năm, [xét theo] Lịch
Vũ Trụ th́ chưa được một sát-na, mỗi
một sát-na của người ta là mấy vạn năm.
Đời người trăm năm, chưa đầy một
sát-na, đâu có chân thật để đáng nói tới! Chúng
ta phải giác ngộ.
Kinh Kim Cang giảng: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn
bào ảnh, như lộ, diệc như điển, ưng
tác như thị quán” (Hết thảy pháp hữu vi, như
mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương, cũng
như chớp, hăy nên quán như vậy). Lời nói này muôn vàn
chân thật, xác đáng! Pháp hữu vi chỉ cho điều
ǵ? Chính là tam giới. Tam giới là pháp hữu vi. Tam giới
đem phân tích, chẳng ngoài tâm pháp, sắc pháp, tâm sở hữu
pháp, bất tương ứng hành pháp. Lại thêm vào mấy
thứ vô vi pháp (những pháp này thật sự chẳng phải
là vô vi, chỉ là tương tự vô vi). Điều này cũng
cho thấy tam giới chẳng phải là chân thật. Đă
là hư ngụy, chẳng thật sự tồn tại th́
nếu chúng ta phân biệt, chấp trước, tham luyến,
há chẳng phải là lầm lẫn quá đỗi! Giống
như nằm mộng, trong mộng là hư ngụy, trong mộng
lo được, lo mất, trong mộng tranh danh, đoạt
lợi, đánh nhau vỡ đầu, tuôn máu, tỉnh giấc
bèn chẳng có ǵ hết, thứ ǵ cũng chẳng có, chuyện
là như vậy đó! Đời người như nằm
mộng, mê hoặc, điên đảo! Giác ngộ rồi
giống như tỉnh mộng. Đă tỉnh giấc mộng,
thấy những cảnh giới trong mộng rất thú vị,
du hư thần thông mà! Chính ḿnh chẳng có chuyện ǵ hết,
thấy người khác đang mơ giấc mộng lớn,
thấy người khác đang điên đảo, thị
phi, đấy chính là Phật, Bồ Tát. Tiếp theo, Ngài nêu
lên mấy thí dụ trong thực tế.
(Diễn) Sở vị Thái Sơn hữu
băng liệt.
(演)
所謂太山有崩裂。
(Diễn: Như nói Thái Sơn
có khi nứt sụp).
Trong các rặng núi tại
Trung Quốc, Thái Sơn (Đông Nhạc) là quả núi hết
sức nổi danh trong Ngũ Nhạc, là một quả núi
lớn. Thái Sơn có khi nứt sụp, hoàn toàn chẳng kiên
cố.
(Diễn) Đại hải hữu khô kiệt.
(演) 大海有枯竭。
(Diễn: Biển cả có khi
khô cạn).
Biển cả có lúc khô cạn, ở đâu
biển cả khô cạn? Có đấy! Ở Trung Quốc,
nổi tiếng nhất là Hàn Hải[7]
nằm giữa Mông Cổ và tỉnh Cam Túc, là nơi tiếp
cận tỉnh Sơn Tây, là một vùng sa mạc hết sức
rộng lớn. Theo lịch sử ghi chép, trước kia nơi
này là biển cả, hiện thời đă không c̣n nước
nữa. Hoàng Hà thường ngập lụt, nếu có thể
đem nước Hoàng Hà dẫn vào đó. Hiện thời,
khi nào công tŕnh thủy lợi có đủ sức sẽ dẫn
nước Hoàng Hà vào nơi đó, vùng sa mạc ấy lại
khôi phục, biến thành biển cả, có thể vĩnh
viễn chấm dứt nạn lụt lội của sông Hoàng
Hà, tạo thành một b́nh nguyên rộng lớn tại nơi
đó. Chúng ta nghĩ đến chuyện sa mạc Hàn Hải
vào thời cổ là biển cả. Hiện thời ở
Phi Châu có khá nhiều sa mạc, hoặc sa mạc Đại
Qua Bích (Gobi) ở Tân Cương, chỉ sợ rằng
trong quá khứ chúng đều là biển cả. Quư vị
nghĩ đến ngày nào đó biển cả khô cạn; đó
gọi là “thương hải,
tang điền” (biển xanh, ruộng dâu).
(Diễn) Nhất thiết vinh
hoa, giai hữu suy tạ.
(演) 一切榮華,皆有衰謝。
(Diễn: Hết thảy vinh
hoa, đều có lúc suy sụp).
Đây là nói về đời người.
Con người thọ mạng càng ngắn ngủi hơn nữa.
Nếu quư vị chú tâm suy nghĩ, vinh hoa, phú quư, như hoa Đàm
thoáng hiện. Hoa Đàm nở trong một thời gian rất
ngắn ngủi, nửa đêm hoa nở, ngày hôm sau đă không
thấy nữa, chẳng c̣n nữa.
(Diễn) Nhất thiết quyến thuộc,
giai hữu biệt ly dă.
(演) 一切眷屬,皆有別離也。
(Diễn: Hết thảy quyến
thuộc đều có lúc chia ĺa).
Phải giác ngộ! Tục ngữ có câu:
“Ân ái phu thê bất đáo đầu!”
[nghĩa là t́nh ân ái vợ chồng] chẳng thể tồn
tại măi được, rốt cuộc phải biệt
ly. Đời đời kiếp kiếp làm vợ chồng
là huyễn tưởng trong chuyện tiểu thuyết, chẳng
phải là sự thật. Đừng tưởng là thật,
quư vị tưởng là thật th́ sai mất rồi, chẳng
thật đâu! Truyện tiểu thuyết viết “bảy đời làm vợ chồng”,
tiểu thuyết gia bịa chuyện nói càn, họ chẳng
chịu trách nhiệm trước pháp luật, cũng chẳng
chịu trách nhiệm nhân quả. Phật pháp nói “duyên tụ, duyên tán”, đă có
tụ, lẽ đâu chẳng có tán? Do vậy, nhất định
phải giác ngộ. Điều này giảng rơ trong tam giới,
hữu t́nh và vô t́nh, sơn hà đại địa là vô t́nh,
chủ yếu là khoáng vật, vô thường. “Vinh hoa, suy tàn” có thể ví với
thực vật, “hết thảy
quyến thuộc đều phải chia ĺa” là động
vật. Nay chúng ta chia [mọi pháp hữu h́nh trong vũ trụ]
thành ba loại lớn: động vật, thực vật,
khoáng vật, chúng đều chẳng phải là chân thật,
đều phải hư hoại. Trong kinh Phật nói động
vật có “sanh, lăo, bệnh, tử”, thực vật có “sanh,
trụ, dị, diệt”, khoáng vật có “thành, trụ, hoại,
không”, đều là vô thường, đều chẳng phải
là chân thật, đều là tạm có, vốn là không!
(Diễn) Duy hữu Chân Như chư
pháp trung thật.
(演) 唯有真如諸法中實。
(Diễn: Trong các pháp, chỉ
có Chân Như là thật ).
Nói đến Chân Như bổn tánh, ở
trong hết thảy các pháp, bất luận động vật,
thực vật, hay khoáng vật, trong hết thảy các pháp,
chỉ có Chân Như bổn tánh là thật sự tồn tại,
chẳng giả!
(Diễn) Sở vị “hữu vật
tiên thiên địa, vô h́nh bổn tịch liêu, năng vi vạn
tượng chủ, bất trục tứ thời điêu”
thị dă.
(演) 所謂有物先天地,無形本寂寥,能為萬象主,不逐四時凋是也。
(Diễn: Nói “có một vật
tồn tại trước khi có trời đất, vô h́nh,
vốn vắng lặng, mênh mông, có thể làm chủ của
muôn h́nh tượng, chẳng bị tàn tạ theo bốn
mùa” chính là nói về nó đấy).
Chữ “vật”
(物) ở đây
chỉ Chân Như bổn tánh, nó có trước trời đất,
khi chưa có trời đất đă có nó. Nó là cái có thể
biến (Năng Biến), trời đất là cái được
biến hiện. “Vô h́nh, bổn
tịch liêu”. “Tịch” (寂) là bất động, “liêu”
(寥) là rộng lớn
không có bờ mé. Chân tánh không có h́nh tướng, không chỗ
nào chẳng trụ. “Năng vi
vạn tượng chủ, bất trục tứ thời
điêu”: Đây là bốn câu kệ của đại
sư Tăng Triệu đă viết trong Triệu Luận.
Ngài là đồ đệ của Cưu Ma La Thập đại
sư, cũng là một vị thiên tài vào thời cổ ở
Trung Quốc, là người thông minh tột bậc! Ngài tham
gia đạo tràng dịch kinh của La Thập đại
sư , là đệ tử đắc ư
của La Thập đại sư, qua đời khi c̣n rất
trẻ, ba mươi mấy tuổi đă khuất bóng, là
người thông minh tuyệt đỉnh. Bốn câu kệ
này miêu tả Chân Như bổn tánh. “Vạn tượng” chính là y báo và chánh báo trang
nghiêm trong mười pháp giới. “Năng vi vạn tượng chủ”: Y báo
và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều do
nó (Chân Như bổn tánh) biến hiện ra, nó là chủ thể
có khả năng biến hiện (năng biến). “Bất trục tứ thời
điêu”, “điêu” (凋) là điêu linh, biến đổi
hư hoại. Muôn h́nh tượng bị biến đổi
hư hoại, c̣n Chân Như bổn tánh chẳng biến đổi
hư hoại, nên gọi là Chân Như. Nói những lời này,
cho thấy căn cứ lư luận của kinh A Di Đà là
Chân Như, là bổn tánh. Đă dựa trên Chân Như bổn
tánh để kiến lập th́ sử dụng phương
pháp lư luận của bộ kinh này nhất định sẽ
có thể minh tâm kiến tánh, nhất định có thể
chứng được Chân Như. Chúng ta muốn kiến
lập tư lương Tín trong ba món tư lương của
bộ kinh này th́ đă có căn cứ lư luận xác thực.
Do vậy, mới nói: “Tam giới
hư ngụy, chỉ pháp này là chân thật”.
(Sớ) Sở vị phi
huyễn bất diệt, bất khả phá hoại, cố
vân Chân dă.
(疏) 所謂非幻不滅,不可破壞,故云真也。
(Sớ: Đă nói là “chẳng
phải huyễn, bất diệt” th́ chẳng thể phá hoại,
nên nói là Chân).
Dưới đây là phần chú giải
cho hai câu này, đại sư cũng nêu ra kinh luận để
chỉ dạy chúng ta.
(Diễn) Phi huyễn bất diệt,
xuất Viên Giác kinh.
(演) 非幻不滅,出圓覺經。
(Diễn: Chữ “phi
huyễn, bất diệt” lấy từ kinh Viên Giác).
“Phi huyễn
bất diệt” là một câu trong kinh Viên Giác.
(Diễn) Kinh vân: “Huyễn thân diệt
cố, huyễn tâm diệc diệt. Huyễn tâm diệt cố,
huyễn trần diệc diệt. Huyễn trần diệt
cố, huyễn diệt diệc diệt. Huyễn diệt
diệt cố, phi huyễn, bất diệt”.
(演) 經云:幻身滅故,幻心亦滅,幻心滅故,幻塵亦滅,幻塵滅故,幻滅亦滅,幻滅滅故,非幻不滅。
(Diễn: Kinh dạy: “Do huyễn
thân diệt, nên huyễn tâm cũng diệt. Do huyễn tâm
diệt, nên huyễn trần cũng diệt. Do huyễn trần
diệt nên sự hoại diệt hư huyễn cũng diệt.
Do sự hoại diệt hư huyễn đă diệt, nên
chẳng có huyễn mà cũng chẳng có diệt).
Mấy câu kinh này ư nghĩa mỗi tầng
một sâu hơn, có sự thú vị giống với phần
“lục kết tam không”[8]
trong kinh Lăng Nghiêm. Chữ “thân”
chỉ thân thể Tứ Đại của chúng ta, tức
nhục thân, đây là nêu lên một ví dụ nông cạn nhất
để nói. Cái thân của chúng ta có sanh diệt, dẫu thọ
mạng dài đến đâu vẫn có sanh diệt. Chư
thiên thọ mạng dài, người trong Tứ Thiền Thiên
thọ mạng càng dài hơn nữa, thân của họ có diệt
hay không? Diệt chứ! Vẫn là có sanh diệt! Thọ mạng
dài hay ngắn, thưa quư vị, cũng là hư vọng, chẳng
thật. Nếu quư vị thật sự hiểu rơ đạo
lư này, thọ mạng sẽ không có dài hay ngắn. Nếu quư
vị không tin tưởng, hăy tự thí nghiệm, sẽ hiểu
liền. Khi quư vị nằm mộng, trong mộng, cổ
nhân nói là “hoàng lương mộng”
(giấc mộng kê vàng): Một chàng Tú Tài nghèo khổ nằm
mộng thấy ḿnh lên kinh đô dự thi. Thi đậu, được
hoàng đế sủng ái, bổ làm Tri Huyện, làm quan khá lắm,
mấy năm sau lại được thăng chức. Dần
dần thăng đến chức Tể Tướng, dưới
một người, trên vạn người. Làm Tể Tướng
hai mươi năm cáo lăo hồi gia, trở về quê hương.
Quư vị hăy đọc chuyện Hoàng Lương Mộng.
Khi tỉnh giấc, nồi hoàng lương tức cao lương
mễ (hạt kê) nấu bên cạnh vẫn chưa chín, thời
gian ấy bất quá mấy phút, mà trong mộng đă trải
qua mấy chục năm. Trong mộng cảm thấy đúng
là mấy chục năm, tỉnh giấc mới được
vài phút, chẳng có dài hay ngắn ǵ hết!
Nay chúng ta thấy chư thiên thọ mạng
dài ngần ấy, rất hâm mộ! Nếu quư vị là chư
thiên, trong lúc hưởng thọ mạng ấy, sẽ cảm
thấy chẳng khác ǵ hiện thời, hoàn toàn giống hệt
nhau. Con phù du (con vờ) sống trên mặt nước, chạy
qua chạy lại trên mặt nước, sáng nở, tối
chết, tuổi thọ chỉ được mấy tiếng
đồng hồ. Chúng nó thấy thọ mạng của loài
người chúng ta giống như chúng ta quan sát thọ mạng
[của chư thiên] trong cơi trời Ma Hê Thủ La (Maheśhvara: Đại
Tự Tại Thiên), người ta thọ mạng
dài ngần ấy, thần tiên quá! Loài phù du nh́n con người
chúng ta, chẳng nghĩ là thần tiên ư? Chúng nó chỉ sống
được mấy tiếng đồng hồ, chúng ta thọ
mấy chục năm, [so với chúng nó] đâu khác ǵ thần
tiên, há chẳng giống hệt như chúng ta nh́n Sắc Giới
Thiên ư? Tuy vậy, cảm nhận của chúng nó hoàn toàn
giống như chúng ta, chúng nó cảm nhận mấy tiếng
đồng hồ là một đời, chúng ta sống mấy
chục năm cũng là một đời, chư thiên sống
mấy ngàn năm, mấy vạn năm, cũng cảm nhận
chỉ là một đời. Trong khi cảm nhận, dài hay
ngắn chẳng có ǵ khác biệt. Chúng ta so sánh th́ thấy dường
như khác biệt rất xa, nhưng sự cảm nhận
chắc chắn chẳng khác biệt cho mấy! Chúng ta cảm
thấy mấy chục năm như trong khoảng khảy
ngón tay, họ cảm nhận bao nhiêu đại kiếp cũng
giống như trong khoảng khảy ngón tay.
“Huyễn
thân diệt”: Thế nào là “huyễn thân diệt”? Duy Thức Luận nói rất
hay, “đệ bát thức tiên
lai, hậu khứ, tác chủ công” (Thức thứ tám đến
trước, đi sau, làm ông chủ). Khi đầu thai, thức
thứ tám đến trước, đến khi chết, nó
đi sau cùng. Quư vị phải hiểu: Năm thức trước,
thức thứ sáu, và thức thứ bảy diệt trước.
“Huyễn tâm diệc diệt”:
Chữ “huyễn tâm” chỉ
tâm phân biệt, tâm chấp trước, tâm vọng tưởng,
chỉ cho những thứ ấy, tức thức thứ sáu,
thứ bảy và năm thức trước. “Huyễn tâm diệt cố, huyễn
trần diệc diệt”: “Trần” là ǵ? Khi Tứ Đại,
Ngũ Uẩn phân tán, con người sau khi chết nhục
thân cũng phân tán, cũng dần dần bị tiêu mất,
huyễn trần cũng diệt luôn! “Huyễn trần diệt cố, huyễn diệt diệc
diệt”: Đây là nói về “diệt kết” trong lục
kết tam không, nói thật cặn kẽ.
Trong Phật pháp nói đến Lân Hư
Trần, tức là cái nhỏ nhất trong những thứ cực
vi, nó do đâu mà có? Nó là Tướng Phần, Tướng
Phần do Kiến Phần biến hiện ra. Kiến và Tướng
có cùng một nguồn. Trong Duy Thức nói Kiến và Tướng
đều do Tự Chứng Phần[9]
biến hiện. Tự Chứng Phần là bản thể,
Kiến Phần là tinh thần, là tâm pháp, Tướng Phần
là sắc pháp. Tâm pháp và sắc pháp vốn là một pháp. Chữ
“Kiến Phần” chỉ Kiến Phần của Thất
Chuyển Thức (bảy thức trước, tức Nhăn,
Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ư, Mạt Na) và A Lại Da Thức.
Tướng Phần bao gồm hết thảy sắc pháp.
Kiến Phần và Tướng Phần cũng diệt. Sự
hoại diệt ấy chính là như Vĩnh Gia đại
sư nói: “Giác hậu không không
vô đại thiên” (giác rồi ba cơi rỗng tan hoang). “Huyễn diệt diệt cố”:
Huyễn diệt cũng đă diệt rồi, cũng không
có, đến cuối cùng trở thành ǵ? “Phi huyễn, bất diệt”, Chân Như bổn tánh
chẳng phải là huyễn pháp, mà là ǵ? Nó chẳng phải
là pháp hữu vi, “hết thảy
pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Chân
Như bổn tánh chẳng phải là pháp hữu vi, cho nên nó
chẳng diệt.
(Diễn) Cái vị thử tánh vô hữu
biến dị, tất cánh thường trụ.
(演) 蓋謂此性無有變異,畢竟常住。
(Diễn: Ấy là nói tánh này chẳng
đổi khác, rốt ráo thường trụ).
Đây là nói về Chân
Tánh, nói tới năng lực sẵn có của chúng ta, đấy
mới là chính ḿnh. Nhà Thiền gọi nó là “bổn lai diện mục trước khi cha mẹ
sanh ra”, đấy là vị Phật sẵn có, là Như
Như Phật, là Tự Phật, chẳng phải là Tha Phật.
(Diễn) Bất đồng
chư huyễn chung tiêu diệt dă.
(演) 不同諸幻終消滅也。
(Diễn: Chẳng giống với
các huyễn, rốt cuộc bị tiêu diệt).
Chẳng giống với
hết thảy huyễn pháp, tức là chẳng giống hết
thảy pháp hữu vi. Hết thảy pháp hữu vi sanh diệt,
đổi khác, Chân Như bổn tánh quyết định không
có sanh diệt, đổi khác. Do vậy, kinh Viên Giác gọi
nó là “chân tâm thường trụ”,
kinh Lăng Nghiêm cũng sử dụng danh từ “chân tâm thường trụ”.
Kinh Viên Giác dùng những từ ngữ như “Viên Giác tánh” hoặc “tâm thanh tịnh” đều nhằm
chỉ nó. Trong kinh Di Đà, nó được gọi là “nhất tâm bất loạn”.
Quư vị phải nhớ, nhất tâm bất loạn là chân
tâm thường trụ, là Phật tánh của chính ḿnh, là bổn
lai diện mục của chính ḿnh. Chúng ta suốt ngày từ
sáng đến tối cầm xâu chuỗi niệm Phật,
cầu điều ǵ? Khôi phục bổn lai diện mục
của chúng ta, khôi phục vị Phật sẵn có như đức
Thế Tôn đă dạy, mang ư nghĩa này. “Bất đồng chư huyễn chung tiêu diệt
dă”. Câu này nói rơ chân tánh chẳng phải là huyễn, cho nên
nó chẳng diệt. “Chẳng
thể phá hoại”, quyết định chẳng hoại.
Hôm nay đă hết giờ rồi!
A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
Phần 5
hết
[1] Nguyên văn “thương
hải, tang điền” là một thành ngữ chỉ sự
biến đổi cực lớn. Điển tích này xuất
phát từ truyện Vương Viễn trong bộ Thần
Tiên Truyện do Cát Hồng viết vào đời Tấn.
Trong truyện ấy, tiên nữ Ma Cô nói tiên nhân Vương
Viễn: “Ta đă từng thấy
biển Đông ba lượt biến thành ruộng dâu”.
[2] Câu này có thể hiểu thô thiển là “từ ngay nơi đây sanh ra,
cũng sẽ diệt ở chính nơi đây”. Hiểu
sâu xa hơn th́ như đại sư Ngẫu Ích đă giảng:
“Nói theo thể tánh th́ gọi là
Đương Xứ, chữ Xứ chỉ một niệm
tâm tánh vốn sẵn thanh tịnh của chúng ta, trọn khắp
pháp giới, nhưng một niệm tâm tánh bị nghiệp
lực huân tập, khi nhân duyên đầy đủ sẽ
hiện rất nhiều tướng, rất nhiều quả
báo. Khi những cái nhân ấy kết thúc th́ quả báo
cũng chẳng c̣n nữa” (dẫn theo lời giảng
của pháp sư Tịnh Giới trong sách Lăng Nghiêm Tinh
Hoa).
[3] “Sâm la vạn
tượng” là thuật ngữ chỉ mọi hiện
tượng, mọi vật chất trong vũ trụ.
[4] Nguyên văn “hồng
vân thác nguyệt” là một cách vẽ trăng truyền
thống trong hội họa Trung Hoa (Quốc Họa). Để
diễn tả vầng trăng, người ta vẽ một
ṿng tṛn giữa các đám mây. Về sau, từ ngữ này
cũng được dùng để chỉ những cách
nói gián tiếp, tỷ dụ nhằm gợi ư cho người
nghe h́nh dung được sự vật muốn diễn tả.
[5] Quốc Học: Ngành học nghiên cứu
về văn hóa và tư tưởng của cổ Trung Quốc
bao gồm các lănh vực triết học, tư tưởng,
văn chương, thơ ca, hội họa, thư pháp, lễ
nhạc, nghi tiết v.v...
[6] Ngũ Luân: Năm mối quan hệ
căn bản giữa con người, tức là vua tôi, cha
con, anh em, chồng vợ, bè bạn.
Thập Nghĩa: Mười nguyên tắc
luân lư trong quan hệ giữa người với người,
tức là cha từ, con hiếu, anh đối xử tốt
với em, em kính trọng anh, chồng đối xử t́nh
nghĩa với vợ, vợ biết nghe lời chồng,
người lớn phải rộng răi, kẻ nhỏ tuổi
phải biết hiếu thuận, vua nhân từ, bầy tôi
trung tín.
Tứ Duy: Bốn chuẩn mực đạo
đức trọng yếu của con người, là Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ.
Bát Đức: Tám phẩm đức con
người cần phải có, tức là Hiếu, Đễ
(ḥa thuận với anh em), Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ.
Nói chung, đây là những chuẩn mực
đạo đức được mở rộng hay thu
gọn từ khái niệm Ngũ Thường trong Nho Gia.
[7] Đúng ra, tên gọi nguyên thủy là Hăn
Hăi (瀚海), Hăn có nghĩa
là mênh mông, bát ngát, lâu ngày bị đọc trại thành Hàn Hải
(寒海: biển lạnh). Hăn Hăi ở đây là
một tên cổ của sa mạc Qua Bích (
[8] Lục kết tam không: Lục kết là
động, tịnh, căn, giác, không, diệt. Tam không là
nhân không, pháp không, và nhân pháp câu không (nhân và pháp đều
không).
[9] Tự Chứng Phần (c̣n gọi là Tự
Thể Phần), Tự là Tự Thể, Chứng là chứng
biết. Tự Chứng Phần chính là tác dụng tự nhận
biết. Kiến Phần có tác dụng suy lường, nhận
biết Tướng Phần (bóng dáng của lục trần
được soi rọi vào các thức), nhưng chẳng
thể tự biết chính nó cũng
có những nhận thức sai lầm. Tự Chứng Phần
là bản thể của sự nhận biết, là bản
thể của Kiến Phần. Chia chẻ ra nhiều
như vậy, chỉ nhằm giải thích tỉ mỉ tác
dụng của tâm thức. Nhưng Kiến Phần, Tướng
Phần, Tự Chứng Phần, Chứng Tự Chứng
Phần đều là những thành phần của vọng
tâm nên chúng đều bị diệt. Do chúng hư huyễn,
nên sự hoại diệt ấy cũng là huyễn. V́ thế,
gọi là “huyễn diệt”.