A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 50
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt:
Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong
Tập
99
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Hội Bản, trang một trăm tám mươi lăm:
(Sớ) Xứng lư, tắc tự
tánh giác, thị Phật nghĩa; tự tánh giác vô lượng,
thị A Di Đà nghĩa; tự tánh Bổn Thỉ nhị
giác, thị lưỡng độ quả nhân nghĩa; tự
tánh giác thể biến chiếu, thị thuyết kinh nghĩa.
Hậu giai lệ thử.
(疏) 稱理,則自性覺,是佛義;自性覺無量,是阿彌陀義;自性本始二覺,是兩土果人義;自性覺體遍照,是說經義。後皆例此。
(Sớ:
Xứng Lư th́ tự tánh giác là ư nghĩa của chữ Phật.
Tự tánh giác vô lượng là nghĩa của A Di Đà. Bổn
Giác và Thỉ Giác trong tự tánh là ư nghĩa người
đă chứng quả trong hai cơi. Thể của tự tánh
giác chiếu khắp là ư nghĩa “nói kinh”. Những điều
sau đó cứ dựa theo đấy [mà suy ra ư nghĩa]).
Đoạn văn này khá quan trọng.
Cổ nhân thường dạy chúng ta, nghe kinh phải “tiêu quy tự tánh”, tu hành phải
“chuyển Thức thành Trí”,
dạy chúng ta hai cương lănh trọng yếu ấy.
Chúng ta tu học đến rốt ráo sẽ đạt
được ǵ, mấu chốt ở ngay trong hai câu này.
Liên Tŕ đại sư viết tác phẩm chú giải này, mỗi
đoạn văn đều tiêu quy tự tánh; những bản
chú giải khác dẫu có, cũng chẳng nêu bày rơ rệt
dường ấy. Đây là nêu gương nhằm dạy
chúng ta một phương pháp học tập.
Do vậy, Phật pháp cầu từ
nơi đâu? Phải cầu từ tự tánh, đấy
mới là Phật pháp chân chánh, Phật pháp chẳng ở
bên ngoài. Kinh văn là bên ngoài, là ngôn thuyết, đức Phật
đă tỷ dụ, kinh Lăng Nghiêm ghi “do như chỉ nguyệt” (giống như ngón tay
chỉ mặt trăng), ngón tay ấy là ngôn giáo của
đức Phật, hết thảy kinh điển đều
là ngón tay để chỉ điều ǵ? Chỉ vầng
trăng, mục đích nhằm dạy quư vị hăy nh́n vầng
trăng, chớ nên nh́n ngón tay. Nh́n ngón tay là trật mất
rồi, ngỡ ngón tay là mặt trăng, lầm lẫn quá
đỗi! Do ngón tay ấy, quư vị bèn thấy vầng
trăng, vầng trăng tượng trưng tự tánh. V́
thế, đoạn xứng tánh này nhằm giảng về
tự tánh, nhắc nhở chúng ta học Phật phải học
theo cách như thế ấy. Đoạn này nhằm giảng
tựa đề kinh, tức là [giảng giải] Phật
Thuyết A Di Đà Kinh, làm thế nào để biến Phật
Thuyết A Di Đà thành tự tánh của chính ḿnh th́ quư vị
mới thật sự đạt được. Đạt
được điều ǵ vậy? Minh tâm kiến tánh, tức
là những ǵ do tự tánh lưu lộ và những điều
Phật đă giảng chẳng khác nhau.
“Phật”
là “tự tánh giác”. Trong
Đàn Kinh, Lục Tổ đại sư đă giảng
cương lănh tu hành. Tuy Ngài thuộc Thiền Tông, nhưng
nói đến cương lănh tu hành trên thực tế cũng
có tầng lớp, Ngài giảng năm tầng lớp. Đầu
tiên Ngài nói đến “Nhất
Thể Tam Bảo”, đây là điều những kẻ
học Phật chúng ta mong cầu. Đối với
cương lănh tu học, lăo nhân gia nêu ra Tam Quy. Tam Quy của
Ngài chẳng phải là “quy y Phật,
quy y Pháp, quy y Tăng”, mà là “quy
y Giác, quy y Chánh, quy y Tịnh”, nói rơ ràng; những câu này
thuần túy nói về Tự Tánh Tam Bảo. Thật ra, ư nghĩa
của “Phật, Pháp, Tăng” viên măn hơn “Giác, Chánh, Tịnh”,
v́ Phật - Pháp - Tăng Tam Bảo, có thể giảng là Nhất
Thể Tam Bảo, mà cũng có thể giảng là Biệt
Tướng Tam Bảo, hoặc có thể giảng là Trụ
Tŕ Tam Bảo, đều có thể nói như thế, ư nghĩa
viên măn đều được bao gồm trong ấy. Tôi
nghĩ, Thiền Tông nói “giáo ngoại
biệt truyền, trực chỉ nhân tâm” (truyền riêng
ngoài Giáo, chỉ thẳng tâm người), Ngài trực tiếp
chỉ rơ “Giác, Chánh, Tịnh” trong tự tánh là Tam Bảo, là
chỗ quy y chân thật của chúng ta. Cách giảng này chẳng
hàm hồ chút nào, mà rơ rệt, minh bạch. Giáo Hạ cũng
không ra ngoài lệ ấy, hết thảy đều lấy
Tự Tánh Tam Bảo làm chỗ quy y chân thật cho chúng ta. Ở
đây, [Liên Tŕ đại sư dạy]: “Xứng Lư, tắc tự tánh giác thị Phật nghĩa”
(Tương xứng với Lư, tự tánh giác là ư nghĩa của
chữ Phật).
Kinh Kim Cang nói: Nếu quư vị cầu
Phật nơi sắc tướng, hoặc cầu Phật
nơi âm thanh, sẽ là “thị
nhân hành tà đạo” (người ấy hành tà đạo).
Sắc tướng là ǵ? Quư vị nghĩ ba mươi hai
tướng, tám mươi vẻ đẹp của đức
Phật chính là Phật, sai rồi! Cầu nơi âm thanh: Thuở
ấy, đức Phật thuyết pháp, âm thanh bao gồm
kinh điển nhà Phật. Cầu từ nơi kinh điển,
cầu từ lời thuyết pháp th́ có thể cầu Phật
được hay không? Chẳng cầu được, v́
sao? Cầu pháp ngoài tâm! Sắc tướng và âm thanh đều
là lục trần bên ngoài, trong ấy đâu có Tam Bảo? V́
thế, nhất định phải biết quay đầu.
Nói tới Phật là nói tới
vị Phật trong tự tánh của chúng ta th́ bản thân
quư vị mới thật sự được thụ dụng.
Nếu quư vị nghĩ “ở ngoài tâm ta thật sự có một
đức Phật đang thuyết pháp”, chính ḿnh th́ sao? Chẳng
phải là chính ḿnh biến thành ma ư? Nhất định
phải biết: Tự và Tha chẳng hai, Tánh và Tướng
như một, đức Phật trong tâm của chính ḿnh
thuyết pháp cho chính ḿnh, thuyết pháp nhằm đánh thức
tự tánh giác của chúng ta th́ mới ḥng đạt
được mục đích. Do vậy, nhất định
phải nhận biết rơ ràng ư nghĩa chữ Phật, quyết
định chẳng nói tới ai khác, mà là nói đến tự
tánh giác.
Tự tánh vốn là giác, nay chúng
ta đang mê, có đúng là thật sự mê hay không? Chẳng
thật sự mê! Nếu tự tánh bị mê, sẽ chẳng
thể nói nó là thật, v́ sao? Phật pháp nói đến
“Chân” th́ định nghĩa của Chân là “vĩnh viễn
không thay đổi, vĩnh viễn bất diệt, vĩnh
viễn chẳng biến đổi”, đấy mới là
Chân. Nếu tự tánh có mê hay ngộ, tức là nó bị biến
đổi; bị biến đổi sẽ chẳng thể
gọi là tự tánh! Bị biến đổi sẽ chẳng
thể gọi là Giác. Trong các kinh Hoa Nghiêm và Viên Giác, đức
Phật nói: “Hết thảy
chúng sanh vốn thành Phật”, chẳng sai! Vốn đă
thành Phật! Hiện thời có đúng là Phật hay
chăng? Đúng là Phật. Có khác với Thích Ca Mâu Ni Phật
và A Di Đà Phật hay không? Chẳng sai biệt! Một tí
sai biệt cũng chẳng có! Nh́n từ chỗ nào mà thấy
chẳng sai biệt? Nh́n từ tự tánh “Giác, Chánh, Tịnh”,
quả thật chẳng sai biệt. Sai biệt ở chỗ
nào? Sai biệt là do bản thân chúng ta chẳng nhận biết
chính ḿnh, vấn đề ở chỗ này, đó gọi là
“mê”.
Tự tánh của chúng ta có mê hay
không? Tự tánh chẳng mê. Chẳng mê mà nói là mê, cái mê ấy
là giả lập, chẳng thật!
Chẳng hạn như chúng ta vừa
thấy một vật rơ ràng, chẳng phân biệt; niệm
thứ hai bèn: “Đây là một quyển sách”, mê rồi! V́
sao? Nó chẳng có tên, quư vị đặt tên cho nó, trật
mất rồi! Cổ đại đức Trung Quốc
đă hiểu: “Danh khả danh,
phi thường danh”. Nó chẳng có tên, đấy là quư vị
thấy diện mục sẵn có của nó. Thêm vào một
cái tên, sẽ chẳng c̣n là diện mục sẵn có nữa!
Nếu lại chấp: “Đây nhất định là sách,
chắc chắn chẳng sai!”, thêm chấp trước vào,
đă trật lại càng trật hơn! Mê pháp như thế
đó; đấy gọi là “mê t́nh”. Mê là ǵ? Phân biệt, chấp
trước, giữ ấn tượng; đó gọi là
“tâm ư thức”. Ghi ấn tượng trong A Lại Da, thức
thứ bảy chấp trước, thức thứ sáu phân
biệt. Tôi vừa mới nói, tu hành phải chuyển Thức
thành Trí. Quư vị chuyển biến thức thứ sáu, thức
thứ bảy và thức thứ tám, đó gọi là tự
tánh giác. Đối với tự tánh giác, nhằm nói cho tiện,
bèn dùng thức thứ tám để nói, chúng ta gọi thức
thứ tám [khi đă chuyển thành trí] là Đại Viên Kính
Trí (Ādarsha-jñāna); thức thứ bảy được
gọi là B́nh Đẳng Tánh Trí (Samatā-jñāna); thức
thứ sáu gọi là Diệu Quán Sát Trí
(Pratyaveksanā-jñāna). Cách chuyển ra sao? Nói thật ra,
trong hết thảy cảnh giới, lục căn tiếp
xúc lục trần, chỉ cần quư vị chẳng phân biệt,
không dùng tới phân biệt, bèn chuyển thức thứ sáu
thành Diệu Quán Sát Trí. V́ vậy, chúng ta vừa nh́n, chẳng
có tí phân biệt, chấp trước nào, đó là Diệu
Quán Sát. V́ sao? Dùng tánh Thấy để thấy!
Chẳng có tí chấp trước
nào tức là tánh b́nh đẳng. Quư vị phải hiểu:
Có chấp trước nên mới có bất b́nh đẳng;
chẳng chấp trước, vạn pháp sẽ b́nh đẳng.
Tập khí phân biệt và chấp trước của chúng ta
quá nặng, quư vị thấy trẻ nhỏ vẫn chưa
biết phân biệt, chấp trước ǵ! Người
khác cho nó uống nước đường, nó uống
ngon lành; nó bốc phân của chính ḿnh, ăn vào cũng thấy
rất thơm. V́ sao? Nó chẳng có phân biệt. Nếu nó
phân biệt, sẽ chẳng bao giờ ăn phân nữa, v́
sao? Bổn Giác mê rồi, do mê nên có phân biệt. Lúc chẳng
mê, nó chẳng phân biệt, hết thảy đều là b́nh
đẳng, chẳng có đẹp, xấu, chẳng có
ưa, ghét. Sâu hơn một tầng nữa, chẳng giữ
lại ấn tượng, tâm địa vĩnh viễn
thanh tịnh, đó gọi là “chuyển
Thức thành Trí”. Nếu quư vị hỏi chuyển theo
cách nào th́ cách chuyển như vậy đó. Quư vị phân biệt,
chấp trước, giữ ấn tượng rất sâu,
sẽ rất phiền phức, đó là chướng ngại
rất lớn đối với tu hành. Do vậy, thật
sự dụng công là khi lục căn tiếp xúc cảnh giới
lục trần, phân biệt, chấp trước, giữ lại
ấn tượng càng ngày càng phải giảm thiểu, nhạt
bớt. Như vậy mới là tốt, mới có thể
khôi phục tự tánh giác.
“Tự
tánh giác vô lượng thị A Di Đà nghĩa” (tự
tánh giác vô lượng là ư nghĩa của A Di Đà), tự
tánh giác quả thật vô lượng, nó có công năng vô
lượng. Hết thảy cảnh giới vô lượng,
vô biên, nên đối tượng nhận biết là vô
lượng vô biên, chúng được gọi là “y báo và
chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới”, không ǵ chẳng
giác. Công năng của giác tánh cũng là vô lượng,
đó là ư nghĩa của A Di Đà. A Di Đà là tiếng Phạn,
A là Vô, Di Đà là Lượng, Phật là Giác. A Di Đà Phật
dịch trọn vẹn là Vô Lượng Giác. Tự tánh
giác, bất luận năng giác hay sở giác đều là
vô lượng vô biên.
“Tự
tánh Bổn Thỉ nhị giác thị lưỡng độ
quả nhân nghĩa” (Bổn Giác và Thỉ Giác trong tự
tánh là ư nghĩa của người chứng quả trong hai
cơi). Bổn Giác là đối với Thỉ Giác mà nói. Thỉ
Giác và Bổn Giác tương đồng, v́ sao có Thỉ
Giác? V́ chúng sanh lúc mê bèn bất giác. Tuy bất giác, Bổn
Giác vẫn khởi tác dụng y như cũ. Bất giác là
chẳng giác Bổn Giác, chẳng biết chính ḿnh có Bổn
Giác, đó gọi là mê, là bất giác. Trong Khởi Tín Luận,
Mă Minh Bồ Tát đă nói rất rơ ràng: “Do bất giác, nên mới kiến lập Thỉ Giác”.
Nay quư vị bắt đầu giác ngộ. Trong câu “lưỡng độ quả
nhân nghĩa”, “quả nhân”
(người đă chứng quả) là Phật, coi A Di
Đà Phật như Bổn Giác, Bổn Giác của ai? Bổn
Giác trong tự tánh của chúng ta. Coi Thích Ca Mâu Ni Phật
như Thỉ Giác trong tự tánh của chúng ta, có đúng
hay không? Đúng! Nếu Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng thuyết
pháp, làm sao chúng ta biết chính ḿnh có Bổn Giác, có tự
tánh giác? Chúng ta chẳng biết, chưa hề biết. Nhờ
Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết pháp, chúng ta mới giác ngộ,
suy nghĩ, nhận thấy tự tánh của chính ḿnh quả
thật là giác. Trong niệm thứ nhất, chúng ta thấy
sắc, ngửi hương, chẳng khởi tâm, động
niệm, đích xác là giác tánh, tức là tự tánh giác của
chúng ta khởi tác dụng; niệm thứ hai vẫn là tự
tánh giác khởi tác dụng. Nếu tự tánh giác chẳng
khởi tác dụng, quư vị hăy nghĩ xem, tám thức do
đâu mà có? Nói cách khác, khởi tâm, động niệm, phân
biệt, chấp trước, cũng do tự tánh giác khởi
tác dụng.
Trong tác dụng ấy, chia ra mê
và ngộ. Mê gọi là phàm phu, mê là đối với hết
thảy tác dụng đều hoàn toàn không biết, đấy
là phàm phu. Nếu hiểu rơ ràng hết thảy các tác dụng,
sẽ là Bồ Tát. Chẳng hạn như kinh được
mở đầu bằng “như
thị ngă văn”, chúng ta hỏi: Ngài có phân biệt hay
không? Có chấp trước hay không? Nếu Ngài chẳng
phân biệt, chẳng chấp trước, cớ sao Ngài nói
“ta”? Nếu Ngài đă nói có ta, đương nhiên là có quư vị,
có kẻ khác. Đấy là có phân biệt, có chấp trước;
nhưng Ngài vẫn hiểu rơ ràng, chẳng mê, chẳng mê tức
là ngộ. Do vậy, Ngài nói “ta”, chẳng trở ngại Sự,
v́ sao? Ngài chẳng chấp ngă! Chúng ta nói “ta” bèn chấp ngă,
ta chẳng phải là ngươi, ngươi chẳng phải
là kẻ khác, đúng là như vậy đó! Miệng Ngài nói
“ta”, trong tâm Ngài b́nh đẳng, chẳng có phân biệt, chấp
trước. V́ thế, nói chính là không nói, phân biệt là chẳng
phân biệt, chẳng phân biệt là phân biệt, đồng
thời! Phân biệt là do tùy thuận chúng sanh mà phân biệt,
chính ḿnh quả thật chẳng phân biệt, chẳng chấp
trước. Do vậy, bản thân Ngài quả thật
đă sử dụng tự tánh giác, sử dụng căn
tánh của sáu căn, trọn chẳng dùng tám thức,
nhưng biểu lộ ra ngoài thành tám thức, phân biệt,
chấp trước, chẳng khác ǵ chúng ta. Đấy gọi
là “tùy thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức”. Quư vị
phân biệt ra sao, tôi phân biệt theo quư vị [như thế
ấy]. Quư vị chấp trước như thế nào, tôi
chấp trước theo quư vị [như thế đó]. Hết
thảy đều thuận theo chúng sanh, chính ḿnh quả thật
chẳng có [phân biệt, chấp trước], Phật, Bồ
Tát là như vậy đó! Phàm phu chúng ta [bề ngoài] phân biệt,
chấp trước, trong tâm thật sự có phân biệt,
thật sự có chấp trước, nên gọi là phàm phu.
V́ thế, nh́n bề ngoài, Phật, Bồ Tát và phàm phu chẳng
khác nhau, nhưng bên trong hoàn toàn không giống nhau. Ngộ là
bên trong chẳng có [phân biệt, chấp trước, vọng
tưởng], bên trong thật sự là “giác, chánh, tịnh”. Kẻ mê hoặc, bên ngoài và bên
trong giống hệt nhau! Bên ngoài có phân biệt, bên trong thật
sự phân biệt; bên ngoài chấp trước, trong tâm cũng
thật sự có chấp trước, đó là mê.
Từ chỗ này, chúng ta hiểu
một chuyện, công đức niệm Phật chẳng
thể nghĩ bàn, v́ sao? Cái tâm năng niệm của chúng
ta là Thỉ Giác, đức Phật được niệm,
tức là A Di Đà Phật được
ta niệm, chính là Bổn Giác. Chúng ta phát tâm niệm một
câu A Di Đà Phật, tức là Bổn Giác và Thỉ Giác
trong tự tánh. Người biết đến Lư này và sự
thật này chẳng nhiều! V́ thế, pháp môn Niệm Phật
thành tựu chẳng thể nghĩ bàn. Quư vị nghĩ
xem, pháp môn nào thành tựu thù thắng như pháp môn Niệm
Phật? Điều này bày ra ngay trước mặt chúng
ta. Phật pháp thường nói “tam
chuyển pháp luân”:
- Thị Chuyển: Thị (示) là khai thị, giảng cho quư vị
nghe. Người căn tánh bậc thượng vừa nghe
liền tin tưởng, hiểu rơ.
- Loại người thứ hai cần
phải khuyên. Phải vất vả khuyên lơn th́ kẻ ấy
mới tin tưởng, đó là loại người thứ
hai. [Điều này gọi là Khuyến Chuyển].
- C̣n có một hạng người, khuyên
họ, họ cũng chẳng tin, người ấy phải
thật sự trông thấy sự thật th́ mới tin
tưởng. Do vậy, đối với loại thứ
ba phải thực hiện Chứng Chuyển, [tức là]
nêu ra bằng chứng cho người ấy thấy,
người ấy mới tin tưởng. Nêu ra chứng cứ
cho kẻ ấy thấy mà kẻ ấy vẫn chẳng tin
th́ không có cách nào hết! Phật cũng chẳng có cách nào
độ kẻ ấy!
Pháp môn Niệm Phật có chứng
cớ rất nhiều. [Hành nhân niệm Phật] biết
trước lúc mất, tự tại văng sanh rất nhiều.
Chúng tôi chính mắt trông thấy, tự ḿnh nghe thấy, quyết
định chẳng phải là giả, rất ư là nhiều!
Đă Chứng Chuyển mà vẫn chẳng tin th́ kẻ ấy
nghiệp chướng quá nặng! Cứ thong thả, chẳng
biết là đời nào, kiếp nào, người ấy mới
có thể đắc độ. Cam lăo cư sĩ ở Cựu
Kim Sơn (San Francisco) có kể cho tôi nghe chuyện một
người thân thích của cụ, cũng là một bà cụ,
lúc niệm Phật văng sanh bèn ngồi xếp bằng, biết
trước lúc mất. Cụ biết trước lúc mất
ra sao? Cụ mất trong đêm, sáng ngày hôm sau, người
nhà phát hiện bà cụ ngồi xếp bằng trên giường,
đă văng sanh. Từng bộ tang phục của mỗi
người trong nhà đều xếp sẵn trước
giường, cụ đă may sẵn từ lâu rồi. Cụ
biết sẽ đi lúc nào, đó là chuyện thật, chẳng
giả!
Pháp sư Sướng Hoài ở
Hương Cảng nói người độ thầy ấy
là một vị lăo cư sĩ. Sư trông thấy [chuyện
ấy] mới niệm Phật, Sư thuộc loại
người thứ ba. Sư là học tṛ của cụ
Đàm Hư. Cụ Đàm Hư kể bao nhiêu chuyện,
Sư chẳng tin, ắt phải chính mắt trông thấy một
trường hợp mới tin tưởng. Năm trước,
pháp sư kể với tôi: Vị lăo cư sĩ ấy
thường đến Đồ Thư Quán của Sư
mượn kinh. Sư thấy vị lăo cư sĩ ấy
văng sanh, mới tin tưởng niệm Phật, nay Sư niệm
A Di Đà Phật chẳng hoài nghi. Kể ra cũng khá lắm,
vẫn có thể đắc độ. Vị lăo cư sĩ
ấy họ Âu Dương, tám mươi mấy tuổi.
Trước đây từng làm quan; sau này, chánh phủ [Trung
Hoa Dân Quốc] dời sang Đài Loan, cụ sang Hương
Cảng ở với con gái. Con gái chẳng hiếu thuận,
cụ chẳng mong nhờ cậy được ǵ, chỉ
đành niệm Phật, chỉ đành cầu Phật, phải
tự ḿnh lo toan mọi điều trong cuộc sống.
Lúc cụ sắp văng sanh, cụ nói với pháp sư Sướng
Hoài, [tức là] lúc cụ mượn Đại Tạng
Kinh về xem, có nói cụ sắp ra đi, đem kỳ hạn
nói với Sư: Ngày Hai Mươi Hai tháng Chạp sẽ ra
đi. Pháp sư Sướng Hoài ghi nhớ rất rơ ràng.
Lúc cụ nói lời ấy là ngày mồng Một tháng Chạp,
tức là đă nói với Sư ba tuần trước khi
văng sanh, bảo Sư ngày Hai Mươi Hai sai người
đến nhà cụ lấy Đại Tạng Kinh về,
v́ cụ chẳng thể đem trả được, cụ
phải ra đi. Pháp sư Sướng Hoài nghe nói vậy, sửng
sốt, “đi” là văng sanh ư? Coi bộ không giống, chẳng
tin được, thôi kệ như thế nào đi nữa,
cứ ghi ngày giờ lên phiếu ghi nhớ, tới hôm Hai
Mươi Hai, sai người đến nhà cụ lấy
kinh về là được rồi!
Tới hôm ấy, Sư sai
người đến lấy kinh về. [Người ấy]
đến nhà cụ, lăo tiên sinh c̣n đang xem kinh. Thấy
nhân viên từ Đồ Thư Quán đến, cụ hỏi
anh ta: “Cháu đến làm ǵ?” Anh ta thưa: “Chẳng phải
là lăo nhân gia bảo hôm nay đến lấy kinh về
đó sao?” Lăo nhân gia bảo: “Đúng thế, tôi bảo anh
hôm nay đến lấy, chứ đâu có bảo anh đến
trong lúc này, tôi vẫn c̣n đang xem mà!” Người trẻ
tuổi đương nhiên cũng chẳng muốn đôi
co với cụ già, cũng tôn trọng cụ, quay về.
Hai hôm sau, đến nhà cụ, người nhà cho biết:
“Lăo tiên sinh đă văng sanh”. Anh ta hỏi: “Khi nào?” “Hai tiếng
đồng hồ sau khi anh trở về”. Anh ta hỏi: “Cụ
mất như thế nào?” “Ngay trong lúc đang ngồi bó gối
xem kinh”. Đi như vậy đó. Tiêu sái, thật sự tự
tại! Khi pháp sư Sướng Hoài tới đó thấy
vậy, chẳng nói năng ǵ, trở về nhà niệm Phật.
Thiên Thai Tinh Xá của pháp sư
Sướng Hoài, đại điện thờ Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, hai bên là tôn giả Ca Diếp và A
Nan, b́nh thường Sư luôn niệm Nam-mô Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật, chẳng niệm A Di Đà Phật. Tôi
đến thăm tinh xá của Sư, Sư dùng một bức
h́nh Tây Phương Tam Thánh do chúng ta in, lấy băng keo
trong dán lên lồng kiếng của tượng Phật.
Sư nói: “Nay tôi tin tưởng, nhưng nhất thời
không t́m được tượng Phật, xảy ra chuyện
mới ôm chân Phật, niệm A Di Đà Phật”, chuyện
này là thật, chẳng giả. Do vậy, Sư nói vị
lăo tiên sinh ấy đă độ Sư! Sư bảo: “Vị
lăo tiên sinh ấy nhất định là Bồ Tát hóa thân
đến độ tôi. Nếu chẳng làm cho tôi đích
thân trông thấy, tôi vẫn chẳng niệm A Di Đà Phật”.
Chuyện này là chuyện thật! Có lần tôi ở Tân Gia
Ba, ở Tân Gia Ba cũng có một bà cụ biết trước
lúc văng sanh. V́ thế, trong thời đại hiện tại,
chúng ta thấy [các trường hợp] niệm Phật
văng sanh vẫn nhiều dường ấy. Hơn nữa,
lại có nhiều trường hợp văng sanh tướng
lành hết sức tốt đẹp, quá nửa là những
kẻ chẳng biết chữ! Bà cụ làng Tướng
Quân ở Đài Nam chỉ niệm Phật ba năm, bèn biết
trước lúc mất, đứng mất.
Các vị hăy nghĩ xem, pháp môn
nào thù thắng như vậy? Người ta không biết bí
mật trong một câu Phật hiệu này, bí mật ấy
chính là Thỉ Giác hợp với Bổn Giác, tâm năng niệm
là Thỉ Giác, Phật hiệu được niệm là Bổn
Giác; Thỉ Giác và Bổn Giác chẳng hai, Thỉ Giác và Bổn
Giác tương ứng. Do vậy, công đức của niệm
Phật không chỉ có thể chế phục Kiến Tư
phiền năo, mà đồng thời c̣n có thể phá Trần
Sa và Vô Minh. Thông thường, tu hành phá phiền năo, đoạn
Kiến Tư trước, rồi mới đoạn Trần
Sa, rồi lại phá Vô Minh, theo thứ tự; c̣n niệm Phật
là cùng một lúc. Câu danh hiệu này có sức mạnh ấy,
có công đức ấy. V́ thế, văng sanh sẽ viên chứng
ba món Bất Thoái. Nếu quư vị không thật sự hiểu
thấu triệt, rơ ràng đạo lư này, thật sự chẳng
tin, nói theo phương diện giáo lư sẽ chẳng suông!
Thật ra, những kẻ nói theo giáo lư chẳng thể
thông suốt, th́ nói thật ra là do chưa thấu triệt
giáo lư; nếu thật sự thấu triệt, lẽ
đâu nói chẳng suông? Tây Phương Cực Lạc thế
giới đă có Sự này, đương nhiên sẽ có
đạo lư. Có Lư nhất định có Sự, có Sự nhất
định có Lư, quư vị đều hiểu rơ ràng, sẽ
chẳng hoài nghi, mới hiểu niệm Phật thù thắng,
niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn!
Do vậy, chúng ta phải học
kinh, học kinh ǵ? Kinh Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ,
kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, ba kinh là đủ rồi,
chớ nên học những kinh khác nữa. Học những
thứ khác, nói thật thà là xen tạp, thật sự chẳng
cần phải học! Ba bộ kinh ấy có thể nói là
tinh hoa của hết thảy các pháp môn do mười
phương ba đời hết thảy chư Phật
đă nói. Kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng
đều quy về pháp môn Tịnh Độ. Trong kinh Hoa
Nghiêm, mười đại nguyện vương dẫn về
Cực Lạc. Cổ đại đức nói Hoa Nghiêm và
Pháp Hoa là Tự Phần của kinh Di Đà mà thôi, Chánh Tông
Phần là kinh A Di Đà, chúng ta nên nhận biết điều
này!
“Tự
tánh giác thể biến chiếu thị thuyết kinh nghĩa”
(Thể của tự tánh giác chiếu trọn khắp là ư
nghĩa của việc nói kinh). Nói kinh là do chúng sanh mê hoặc,
bất giác, mới cảm chư Phật Như Lai dùng quang
minh của tự tánh, thường gọi là “Bát Nhă trí
quang”, chiếu trọn khắp hết thảy chúng sanh, khiến
cho hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, đấy là ư
nghĩa của việc “thuyết kinh”. Bản thân chúng ta
đă giác ngộ, giác ngộ chẳng khác chư Phật
Như Lai, cùng là một giác, chẳng phải hai giác. V́ sao?
Giác tánh là một, không hai. Kinh thường dạy: “Thập phương tam thế
Phật, cộng đồng nhất Pháp Thân” (mười
phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân),
chính là đạo lư này. Giác tánh giống nhau, do vậy, vạn
pháp b́nh đẳng, chúng ta phải giác ngộ, tu hành từ
chỗ này. Nay chúng ta thấy vạn pháp có tốt, có xấu,
có vui thích, có chán ghét, có bất b́nh đẳng trong ấy. Bất
b́nh là mê, giác ngộ là b́nh đẳng, v́ sao? Điều tốt
đẹp, đáng ưa thích do tự tánh giác của quư vị
biến hiện, mà điều ác, bất hảo, đáng
ghét, vẫn do tự tánh giác của quư vị biến hiện.
Cái có thể biến hiện là một, tướng
được biến hiện có sai biệt, nhưng giác
tánh có thể biến hiện là một, chẳng hai!
Ví như ban đêm chúng ta ngủ
nằm mộng, cũng có giấc mộng rất ngọt
ngào, cũng có khi nằm mộng rất kinh khủng, tướng
trong mộng đương nhiên có sai biệt, nhưng cái
tâm nằm mộng là một tâm, chẳng phải hai tâm. Nh́n
từ Thể, chẳng sai biệt; nhưng Tướng có
phân biệt. Thật sự nhận biết Thể vô sai biệt,
sẽ hoát nhiên giác ngộ: Tướng cũng vốn chẳng
sai biệt. Ví như vàng ṛng, đấy là Thể, vàng ṛng
đúc thành một tượng Phật, quư vị rất
cung kính tượng ấy. Dùng vàng ṛng đúc thành tượng
La Sát hay tượng ngạ quỷ, quư vị trông thấy
rất sợ hăi. Tượng khác nhau mà! Nhưng thảy
đều là vàng ṛng, phân lượng bằng nhau, giá trị
cũng bằng nhau, chẳng sai biệt. Do vậy, tướng
có thể biến đổi, Thể chẳng biến đổi!
Tướng do đâu mà biến? Tướng do tâm phân biệt
mà biến, hết thảy các pháp đều từ phân biệt
biến hiện. Nếu quư vị chẳng có tâm phân biệt,
sẽ chẳng có hết thảy các pháp. Chúng ta ban đêm nằm
mộng, cũng là do phân biệt, chấp trước nên mới
có! Nếu quư vị chẳng phân biệt, chấp trước,
sẽ chẳng nằm mộng. Vẫn c̣n nằm mộng tức
là quư vị chưa hoàn toàn đoạn sạch phân biệt,
chấp trước. Hoàn toàn đoạn sạch, chắc
chắn không nằm mộng. “Tự
tánh giác thể biến chiếu” chính là ư nghĩa của
“thuyết kinh”. Thuyết
kinh cũng nhằm dụng ư giúp đỡ chúng ta khôi phục
Bổn Giác, khôi phục tự tánh giác.
“Hậu
giai lệ thử”: Sau mỗi đoạn chú giải,
Liên Tŕ đại sư đều có phần Xứng Lư, nhằm
giảng đoạn kinh văn ấy theo cách tiêu quy tự
tánh, khiến cho chúng ta đạt được rất
nhiều lợi ích từ đoạn ấy.
(Sao) Xứng Lư giả, dĩ tức
Sự tức Lư, sở vị tổng cai vạn hữu, tức
thị nhất tâm, tắc y báo, chánh báo, hà phi tự tánh?
(鈔) 稱理者,以即事即理,所謂總該萬有,即是一心,則依報正報,何非自性。
(Sao:
“Xứng Lư”: Sự chính là Lư, Lư chính là Sự, có nghĩa là
toàn thể vạn hữu chính là nhất tâm, cho nên y báo và
chánh báo, có thứ nào chẳng phải là tự tánh?)
Sao nhằm giải thích Sớ,
nhằm nói rơ ràng hơn, ư nghĩa càng phong phú.“Xứng Lư” là ǵ? Người
tu hành thường nói là “xứng
tánh khởi tu”, xứng tánh khởi tu là chuyện như
thế nào? Chính là Xứng Lư! Quư vị hiểu rơ đoạn
này, thật sự biến đoạn này thành quan niệm,
kiến giải, tư tưởng, hành vi của chính ḿnh
th́ gọi là “xứng tánh khởi
tu”. Người xứng tánh khởi tu chẳng phải
là phàm nhân, mà là Bồ Tát, chúng ta gọi người ấy
là vị Bồ Tát thật sự, danh xứng với thực.
Kinh Kim Cang dạy: “Nhược
Bồ Tát hữu ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh
tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ
Tát” (Nếu Bồ Tát có tướng ta, tướng
người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả
th́ chẳng phải là Bồ Tát), v́ sao? V́ vị ấy chẳng
xứng tánh. Người xứng tánh khởi tu nhất
định là “vô ngă tướng,
vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả
tướng”, xứng tánh sẽ là Bồ Tát chân thật.
“Tổng
cai vạn hữu, tức thị nhất tâm” (toàn thể vạn hữu chính là nhất
tâm), hai câu này là cương lănh. Pháp giới tuy rộng lớn,
nhưng y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới,
mười phương, ba đời, do đâu mà có? Từ
nhất tâm của chính ḿnh, nhất tâm biến hiện các vật.
Nhất tâm [nói ở đây] là nhất tâm của chính ḿnh.
V́ thế, “y báo, chánh báo, hà phi tự
tánh” (y báo và chánh báo, có thứ nào chẳng phải là tự
tánh), có ǵ chẳng phải là tự tánh? Thật sự giác
ngộ, tâm lượng sẽ to lớn, “tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”, giác
ngộ là như vậy. Khi chưa giác ngộ, tâm lượng
rất nhỏ, chẳng thể dung kẻ khác. Người
giác ngộ là Phật, Bồ Tát, thật sự biết chân
tướng sự thật. Kẻ chưa giác ngộ, chẳng
hiểu rơ chân tướng sự thật. V́ vậy, “giác”
là hiểu rơ triệt để chân tướng sự thật,
chân tướng của nhân sinh và vũ trụ là nhất
tâm sở hiện, sở biến.
Kinh Hoa Nghiêm giảng rất hay: “Duy tâm sở hiện, duy thức
sở biến”, tâm có thể hiện tướng, tướng
là cái được hiện. Trong kinh thường nói: “Chư pháp Thật Tướng”,
[Thật Tướng là các pháp đều do] tâm hiện. Thức
biến hóa, nên Thức là mê. Do đă mê nên mới có tâm ư thức,
mới có phân biệt, chấp trước. Phân biệt và
chấp trước là thức. V́ có phân biệt, chấp
trước, nên mới biến hiện mười pháp giới.
Nếu chẳng có phân biệt, chấp trước,
thưa quư vị, pháp giới vốn là nhất, cái “nhất”
ấy mới là thật! Kinh Hoa Nghiêm nói Nhất Chân pháp giới,
pháp giới vốn là Nhất Chân, chẳng phải là mười
pháp giới. Mười pháp giới ở đâu ra? Do quư vị
phân biệt và chấp trước mới có. Nếu quư vị
chẳng phân biệt, chấp trước, lấy đâu ra
mười pháp giới? Giống như trên quả địa
cầu này có nhiều quốc gia; biên giới giữa các
nước do đâu mà có? Do con người vạch ra, do
con người chấp trước: Chỗ này là của
ta, nơi kia là của ngươi, nên mới có [biên giới].
Nếu ĺa khỏi hết thảy phân biệt, chấp
trước, quư vị t́m khắp địa cầu cũng
chẳng thấy biên giới nào hết, t́m không ra, không có!
“Không có” là thật; “có” là giả! V́ thế, có phân biệt,
chấp trước, có giới hạn là giả, chẳng
có giới hạn là thật. Do đó, mười pháp giới
là giả, lúc mê mới có, khi giác ngộ chẳng c̣n nữa.
Khi giác ngộ, pháp giới là Nhất Chân.
Đại Chuyên Giảng Ṭa lần
này, chúng tôi muốn giảng kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
(c̣n gọi là Thập Lục Quán Kinh). Mấy hôm nay, tôi
đang đọc bộ Quán Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
của pháp sư Đế Nhàn. Trí Giả đại sư
tu Quán Kinh văng sanh, Ngài y theo phương pháp ấy để
tu hành, được văng sanh. Ngài là tổ sư tông Thiên
Thai, bản chú giải ấy của Ngài hết sức nổi
tiếng. Bộ Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Diệu
Tông Sao quá sâu, những người b́nh phàm hiện thời
tuyệt đối chẳng thể đọc được;
nhưng tác phẩm ấy vô cùng hay! Trước kia, khi thầy
Lư tại thế đă khuyên tôi in nhiều một chút để
lưu thông, tôi in bốn ngàn bộ. Bộ Diễn Nghĩa
của pháp sư Đế Nhàn giống như phần Tiết
Yếu (trích lục những phần trọng yếu) của
bộ Diệu Tông Sao; đối với mỗi đoạn,
Ngài thêm đôi chút ư kiến của chính ḿnh, những ư kiến
này dễ hiểu hơn rất nhiều [so với nguyên
văn lời Sao]. Ngài bảo tuy có mười sáu phép Quán, nhưng trên thực tế, chẳng
ra ngoài nhất tâm, chẳng khác ǵ câu nói “tổng cai vạn hữu, tức thị nhất
tâm” (toàn thể vạn hữu chính là nhất tâm) ở
đây, hoàn toàn tương đồng. Trong bản chú giải
của Ngài, mỗi phép Quán trong mười sáu phép Quán
đều dùng phương pháp Nhất Tâm Tam Quán để
tu Tây Phương Tịnh Độ, chúng ta có thể hợp
cả hai kinh lại để xem.
Nhưng chúng ta tu pháp môn này, chẳng
chọn cách quán tưởng, mà dùng tŕ danh. Mười hai
phép Quán đầu trong Quán Kinh là Quán Tưởng Niệm Phật;
các phép Quán mười ba, mười bốn, và mười
lăm là Quán Tượng Niệm Phật, phép Quán cuối
cùng, tức phép Quán thứ mười sáu, là Tŕ Danh Niệm
Phật. Tuy nói cuối cùng, nói về Hạ Phẩm Hạ
Sanh, nhưng tôi thưa với chư vị đồng tu:
Hạ Phẩm Hạ Sanh giống như màn chót trong một
tuồng hát, màn chót là màn hay nhất. Quư vị chớ nên coi
rẻ Hạ Phẩm Hạ Sanh, Hạ Phẩm Hạ Sanh
và Thượng Phẩm Thượng Sanh chẳng khác nhau,
đúng là chẳng thể nghĩ bàn, là pháp khó tin. Cớ sao
nói “chẳng khác nhau”? Quư vị hăy nghiên cứu kỹ lưỡng
kinh văn, Hạ Phẩm Hạ Sanh là hạng người
nào? Ngũ Nghịch, Thập Ác, ngay lập tức đọa
vào A Tỳ địa ngục, đức Phật có
năng lực khiến cho người ấy trong lúc lâm
chung có thể một niệm hoặc mười niệm
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới do Phật
có trí huệ viên măn, đức năng viên măn, chẳng khiếm
khuyết tí nào. Nếu là một kẻ tội nghiệt cực
nặng nề, lập tức phải đọa địa
ngục, mà đức Phật chẳng thể khiến cho
kẻ ấy lập tức thành Phật, tức là năng
lực của Phật vẫn c̣n khiếm khuyết, vẫn
chưa thể nói Phật là vạn đức vạn
năng. [Nếu như vậy, nói] Phật vạn đức
vạn năng là chúng ta ca ngợi Ngài, chẳng phải là sự
thật. Nếu là sự thật, kẻ ấy tội nặng
như thế, lập tức đọa địa ngục,
đức Phật có thể ngay lập tức khiến cho
kẻ ấy thành Phật, chúng ta chẳng c̣n bàn căi ǵ nữa!
Phật đúng là vạn đức vạn năng. Phật
có làm được hay không? Làm được! Thật vậy,
chẳng sai tí nào! Nh́n từ chỗ nào? Phép Quán thứ
mười sáu trong Quán Kinh! Quư vị mới hiểu pháp môn
này chẳng thể nghĩ bàn. Bởi lẽ, hết thảy
các pháp môn khác chẳng độ được, pháp môn này
có thể lập tức độ kẻ ấy thành Phật,
nên pháp môn này mới gọi là pháp môn bậc nhất, pháp môn
vô thượng, pháp môn không ǵ sánh bằng, chúng ta mới thật
sự thấy rơ ràng! Công đức tŕ danh niệm Phật
chẳng thể nghĩ bàn!
Tuy là Hạ Phẩm Hạ Sanh, sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng
viên chứng ba thứ Bất Thoái. Nói cách khác, hạng
người nào viên chứng ba thứ Bất Thoái? Đẳng
Giác Bồ Tát viên chứng ba thứ Bất Thoái. Người
ấy sanh về bên đó, tuy là Hạ Phẩm Hạ Sanh,
là phàm phu, nhưng viên chứng ba thứ Bất Thoái. Trong
sách Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đă nói:
Tây Phương Cực Lạc thế giới là thế giới
vô cùng lạ lùng, đặc biệt! Quư vị nói người
[văng sanh] ấy là phàm phu, nhưng người ấy đă
viên chứng ba thứ Bất Thoái, đó là Bồ Tát. Nếu
quư vị bảo người ấy là Bồ Tát, người
ấy chưa đoạn một phẩm phiền năo nào,
nên người ấy là phàm phu. V́ thế, chẳng thể
nói người ấy là phàm phu, mà cũng chẳng thể bảo
là Bồ Tát. Người ấy loại nào cũng không phải,
mà loại nào cũng đều phải, nói người ấy
là Bồ Tát cũng được, mà bảo là kẻ phàm
phu cũng được luôn! Quư vị nói người ấy
Bồ Tát cũng không được, gọi là phàm phu cũng
không xong! Thật sự chẳng thể nghĩ bàn! Do nguyên
nhân nào vậy? Công đức xưng danh niệm Phật chẳng
thể nghĩ bàn! Khi chúng ta thảo luận Quán Kinh sẽ
nói cặn kẽ vấn đề này. Bất quá, trong kinh
Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ đều có thảo
luận rất tỉ mỉ, thảo luận rất sâu xa.
Chúng ta biết đấy là sự thật, Phật thật
sự có năng lực ấy, mỗi cá nhân chúng ta đều
có thể làm được!
Nhưng quyết định chớ
nên hiểu lầm ư nghĩa này. Nếu quư vị nghĩ kẻ
Ngũ Nghịch, Thập Ác, lâm chung mười niệm hoặc
một niệm đều có thể văng sanh, lại c̣n viên
chứng ba thứ Bất Thoái, nay ta làm thêm một chút chuyện
xấu cũng chẳng sao! Chờ tới lúc lâm chung, ta lại
niệm Phật vẫn có thể [văng sanh], vẫn c̣n kịp;
nếu quư vị nghĩ kiểu đó, hoàn toàn sai bét rồi!
Trong tương lai, quư vị đọa A Tỳ địa
ngục, chẳng thể trách tôi nói không rơ ràng! Tôi giảng
rơ ràng, rành rẽ, quư vị nhất định đừng
nên có tâm lư cầu may! Đó là t́nh h́nh ǵ? Những kẻ ác ấy
suốt đời chẳng nghe Phật pháp, hoặc nghe
pháp môn khác, chẳng nghe pháp môn Niệm Phật, lúc lâm chung
tiếp xúc pháp môn này là tiếp xúc lần đầu. C̣n quư
vị nay đă tiếp xúc pháp môn Tịnh Độ, chẳng
c̣n cơ hội [giống như người Hạ Phẩm
Hạ Sanh nữa đâu]. Nay quư vị hăy khéo thật thà niệm
Phật, đừng nên giữ tâm lư cầu may! Phải học
theo phương pháp do Thiện Đạo đại sư
đă dạy, tức là chúng ta thân chuyên lễ A Di Đà Phật,
mỗi ngày lạy A Di Đà Phật; miệng chuyên niệm
A Di Đà Phật; tâm chuyên tưởng A Di Đà Phật. Nếu
thân khẩu ư tam nghiệp đều có thể hệ niệm
A Di Đà Phật, Thiện Đạo đại sư nói: “Một trăm người tu,
một trăm người văng sanh, một ngàn người
tu, một ngàn người văng sanh, vạn người tu, vạn
người đến, chẳng sót một ai!”, quư vị
phải chuyên!
Nhưng trong thế gian này, có một
số người rất chấp trước, đầu
óc đông cứng. Trước đây, thầy Lư đă gọi
họ là “đầu óc cứng
ngắc như khúc gỗ vuông vức”, chẳng xoay chuyển
được! Ở Hương Cảng, tôi cũng
đem câu nói ấy khuyên các đồng tu. Giảng xong, có mấy
người đến hỏi: “Sau này, chúng con thấy Thích
Ca Mâu Ni Phật cũng không cần lạy, thấy Quán Âm Bồ
Tát cũng không cần lạy, v́ tổ sư nói phải
chuyên lễ, thân chuyên lễ A Di Đà Phật!” Tôi nói: “Sao
mà lại chấp chết cứng như thế?” Tôi nói: - Tổ
nói chuyên lễ chẳng sai, nhưng quư vị phải hiểu,
ai dạy chúng ta pháp này? Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta.
Chẳng thể nào quên Thích Ca Mâu Ni Phật
được! Quên Ngài tức là có lỗi đối với
Ngài rồi!
Do vậy, chúng ta
lạy Phật, trước hết, lạy ba lạy, lạy
Thích Ca Mâu Ni Phật, lạy Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
ba lạy. Sau đấy, lạy A Di Đà Phật. Lạy
A Di Đà Phật càng nhiều càng tốt, thông thường
chúng ta lạy tối thiểu bốn mươi tám lạy.
Lạy một trăm lạy, hai trăm lạy, ba trăm
lạy, đều là rất phổ biến. Khi chúng ta niệm
Phật, mở đầu nhất định niệm Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ba lần,
rồi mới niệm A Di Đà Phật. Niệm Nam-mô A Di
Đà Phật, niệm sáu chữ hoặc bốn chữ
đều được, niệm một trăm câu, niệm
một ngàn câu, hoặc niệm một vạn câu. Sau khi niệm
A Di Đà Phật xong, chúng ta niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát ba lần, niệm Đại Thế Chí Bồ Tát ba lần,
niệm Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát ba lần,
sau đó hồi hướng. Từ xưa đến nay,
cách này được gọi là nghi thức chuyên niệm.
Trong tâm thường tưởng
cảnh giới Tây Phương Cực Lạc thế giới,
thường nghĩ tới A Di Đà Phật. Nghĩ tới
cảnh giới Tây Phương, phải niệm kinh Di
Đà rất thuần thục, hoặc niệm kinh Vô Lượng
Thọ rất thuần thục. Quư vị phải biết:
Thuở ấy, Huệ Viễn đại sư kiến lập
Tịnh Độ Tông, kiến lập Lô Sơn Liên Xă, một
trăm hai mươi ba người ai nấy đều
văng sanh, hội ấy đúng là quá thù thắng. Tổ kiến
lập Đông Lâm Niệm Phật Đường, tức
Lô Sơn Liên Xă. Khi ấy, kinh Di Đà và kinh Quán Vô Lượng
Thọ đều chưa được phiên dịch,
chưa truyền tới Trung Quốc, chỉ có kinh Vô Lượng
Thọ. Do vậy, đạo tràng niệm Phật ấy tu
học hoàn toàn căn cứ trên kinh Vô Lượng Thọ.
Kinh Vô Lượng Thọ là kinh bậc
nhất trong Tịnh Độ Tông, nhưng kinh Vô Lượng
Thọ và kinh Di Đà đồng bộ. Kinh kia nói rộng,
nói rất tỉ mỉ; kinh này nói đại lược,
đơn giản, nhưng nội dung hoàn toàn tương
đồng. V́ thế, chúng ta gọi hai kinh ấy là Đại
Bổn và Tiểu Bổn. Đại Bổn là kinh Vô Lượng
Thọ, Tiểu Bổn là kinh Di Đà, nội dung hoàn toàn
tương đồng. Kinh niệm rất thuần thục,
lúc ấy mới có thể tưởng, phải thường
tưởng ư nghĩa trong kinh, Nếu không thuộc kinh, sẽ
chẳng có cách nào quán tưởng, sẽ không thể tưởng
được!
Nhất là kinh Vô Lượng Thọ
vô cùng hay, phân lượng rất vừa phải, không nhiều,
không ít. V́ thế, thật sự muốn tu pháp môn Tịnh
Độ, mong muốn có thể văng sanh trong một đời
này, tốt nhất là học thuộc ḷng bộ kinh ấy,
nhưng cũng không cần phải cố ư học thuộc!
Quư vị niệm nhiều, niệm thuần thục, sẽ
tự nhiên thuộc. Chẳng hạn như quư vị mỗi
ngày niệm một lần, niệm hằng ngày chẳng
gián đoạn, niệm mười năm hoặc tám
năm, lẽ nào chẳng thuộc? Nếu có thể thuộc,
quán tưởng sẽ vô cùng thuận tiện. Đồng
thời, văn chương trong kinh ấy hết sức
hay! Nếu có thể thật sự niệm hiểu và niệm
thuộc bộ kinh ấy, quư vị cũng học
được Cổ Văn. Quư vị đọc hết
thảy các kinh, đọc hết thảy văn
chương thời cổ như Tứ Khố Toàn Thư
hoặc Đại Tạng Kinh, sẽ chẳng bị
chướng ngại nơi văn tự! V́ thế, có thể
coi kinh Vô Lượng Thọ như Cổ Văn để
niệm. Kinh ấy chỉ có tất cả bốn
mươi tám chương, giống như bốn
mươi tám bài. Xưa kia, thầy Lư dạy Cổ
Văn, lăo nhân gia thường nói: Tối thiểu phải
thuộc năm mươi bài cổ văn th́ quư vị mới
có cơ sở vững vàng về văn chương Văn
Ngôn, đọc loại văn Văn Ngôn sẽ chẳng bị
trở ngại. Quư vị có thể thuộc một trăm
bài cổ văn, sẽ có thể viết lách bằng
Văn Ngôn. Do vậy, Ngài hết sức coi trọng chuyện
đọc thuộc ḷng. Chúng ta là người học Phật,
nếu học thuộc kinh Vô Lượng Thọ sẽ là
vừa học kinh mà cũng học Cổ Văn luôn, nhất
cử lưỡng tiện!
(Sao) Hựu “tức Lư” giả, Sự
y Lư thành, như Tịnh Danh vân: “Tùy kỳ tâm tịnh, tắc
Phật độ tịnh”.
(鈔) 又即理者,事依理成,如淨名云:隨其心淨,則佛土淨。
(Sao:
Lại nữa, “tức Lư”: Sự nương vào Lư mà thành,
như kinh Tịnh Danh đă nói: “Hễ tâm tịnh, cơi Phật
sẽ tịnh”).
Hiện thời,
ḷng người chẳng quay về nương náu [Nho và Phật],
không có ǵ để noi theo. V́ vậy, thế giới đại
loạn, dân chúng phải hứng chịu khổ sở.
Trong quá khứ, tại phương Tây, tuy phương Tây
không có học thuật[2], nhưng phương Tây có tôn
giáo, tư tưởng của Cơ Đốc Giáo và Thiên
Chúa Giáo ảnh hưởng ḷng người Tây
Phương, gần như là cả hai ngàn năm. Hiện
thời, người Tây Phương chẳng tin Thượng
Đế, người Đông Phương chẳng cần
đến Khổng Tử và Phật, đấy là căn
nguyên khiến thế giới đại loạn. Tướng
loạn lạc ấy mọi người đều thấy,
mỗi năm một rơ rệt hơn, điều này tuyệt đối chẳng phải là
chuyện tốt đẹp. V́ thế, tôi giảng kinh các
nơi ở hải ngoại, mọi người rất
quan tâm đến sự động loạn trên thế giới.
Tôi thật thà bảo họ: Chúng ta có thể tu hành, khéo niệm
Phật, niệm kinh, ước chừng trong năm năm
chẳng có vấn đề. Lâu hơn chút nữa là thêm hai
năm thành bảy năm, chứ sau đấy tôi không dám
nói. Đại tai nạn trên thế giới ngày một sát
nút, trong ṿng từ năm năm đến bảy năm,
chúng ta chẳng tự chuẩn bị đường thoát
thân cho tốt đẹp th́ sau này chẳng thể nào tưởng
tượng được! Trong thời gian ngắn ngủi
như thế, dùng phương pháp ǵ để cứu chính
ḿnh? Trừ thật thà niệm Phật ra, chẳng có con
đường thứ hai nào! Trước lúc ra đi, thầy
Lư nói: “Thế giới loạn
chẳng thể cứu được, hăy mau chóng sang Tây
Phương”. Thầy luôn khuyên học tṛ hăy mau chóng di
dân sang Tây Phương Cực Lạc thế giới, đừng
di dân sang ngoại quốc. Ngoại quốc càng rối ren
hơn, chẳng tốt đẹp bằng Đài Loan. Tại
Đài Loan, thật thà chuẩn bị văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, đấy mới
là đường ngay, đấy mới là sự tính toán
thông minh!
Hiện thời, ḷng người
chẳng thanh tịnh, đương nhiên cơi nước chẳng
thanh tịnh. Ḷng người thanh tịnh, cơi nước sẽ
thanh tịnh. Quư vị hiểu rơ đạo lư này, người
một nhà ḥa thuận, người một nhà tâm thanh tịnh,
nhà người ấy thanh tịnh; trong một đoàn thể
mà ḷng người thanh tịnh th́ đoàn thể ấy sẽ
thanh tịnh; một xă hội, một quốc gia mà ḷng
người thanh tịnh, nơi ấy sẽ thanh tịnh;
nhưng quư vị hăy suy nghĩ, dùng phương pháp ǵ để
tịnh hóa ḷng người? Hiện thời, người
thật sự tin vào đạo lư Phật pháp có mấy ai?
Tiếng tăm, lợi dưỡng vừa bày ra trước
mặt sẽ lại lập tức thoái lui.
Lần này, ở Tân Gia Ba, pháp
sư Diễn Bồi hết sức cảm khái nói với
tôi: Mắt thấy Phật pháp không có người kế tục,
do nguyên nhân ǵ? Người trẻ tuổi xuất gia chẳng
ít, nhưng sức dụ dỗ mê hoặc của tiếng
tăm lợi dưỡng bên ngoài quá lớn, kinh sám Phật
sự tiêu diệt Phật pháp! Có rất nhiều pháp sư
trẻ tuổi chẳng chăm chỉ học kinh, học
kinh rất khổ, họ đi niệm kinh [cho người
khác kiếm tiền]. Niệm nửa năm hoặc là một
năm, chính ḿnh sẽ mua được nhà, tự ḿnh dựng
một ngôi chùa. Dựng chùa để làm ǵ? Lại tiếp
tục làm kinh sám Phật sự, làm ông chủ! Trước
kia [các pháp sư trẻ tuổi ấy ở trong chùa miếu
của các vị ḥa thượng hay pháp sư đại
đức lớn tuổi hơn] là làm công, làm công một
thời gian, có tiền bèn mở tiệm làm chủ, lăo ḥa
thượng có đồ đệ hay không? Có chứ,
đồ đệ đâu cả rồi? Đi hết rồi,
bên ḿnh chẳng có một ai!
Hiện thời, đối với
tin tức trong thế gian này, biết ít một chút cũng
chẳng sao! Tin tức nơi Tây Phương Cực Lạc
thế giới phải biết nhiều hơn một tí mới
tốt. Trong tâm thường nghĩ đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới, đừng nghĩ
tới chuyện trong thế giới này. Chúng ta có thể rời
khởi thế giới này sớm một chút là có phước
nhất. Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới
sớm một chút. Ngày hôm nay đă hết thời gian rồi,
tôi giảng tới chỗ này. Lời chú giải trong đoạn
này rất dài, vô cùng trọng yếu!
Tập
100
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Hội Bản, trang một trăm tám mươi sáu:
(Sao) Xứng Lư giả, dĩ tức
Sự tức Lư. Sở vị, tổng cai vạn hữu, tức
thị nhất tâm, tắc y báo chánh báo, hà phi tự tánh? Hựu,
tức Lư giả, Sự y Lư thành, như Tịnh Danh vân: “Tùy
kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh”.
(鈔) 稱理者,以即事即理。所謂總該萬有,即是一心,則依報正報,何非自性。又即理者,事依理成,如淨名云:隨其心淨,則佛土淨。
(Sao: “Xứng Lư”: Sự chính là
Lư, Lư chính là Sự, có nghĩa là toàn thể vạn hữu
chính là nhất tâm, cho nên y báo và chánh báo, có thứ nào chẳng
phải là tự tánh? Lại nữa, “tức Lư”: Sự
nương vào Lư mà thành, như kinh Tịnh Danh đă nói: “Hễ
tâm tịnh, cơi Phật sẽ tịnh”).
Đây là trích dẫn một câu
rất nổi tiếng trong kinh Duy Ma để chứng thực.
(Sao) Kim kinh ngôn nhất tâm bất
loạn.
(鈔) 今經言一心不亂。
(Sao:
Nay kinh này nói “nhất tâm bất loạn”).
[Chữ “kim kinh”] chỉ bộ kinh A Di Đà đang
được chúng tôi giảng.
(Sao) Tức tự tánh Di Đà,
duy tâm Tịnh Độ, vi nhất kinh đại chỉ dă.
Minh lư nhi đàm, vân “xứng Lư” dă.
(鈔) 即自性彌陀,惟心淨土,為一經大旨也。冥理而談,云稱理也。
(Sao:
“Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ” là tông chỉ
chánh yếu của kinh này; ngầm nói đến Lư nên gọi
là “xứng Lư”).
Tông chỉ quan trọng nhất của
kinh này là “tự tánh Di Đà,
duy tâm Tịnh Độ”.
(Sao) Giác thị tổng nghĩa,
giác thể chi trung, quảng đại tất bị, vô
cùng vô tận, thị vi biệt nghĩa.
(鈔) 覺是總義,覺體之中,廣大悉備,無窮無盡,是為別義。
(Sao:
Giác là nghĩa tổng quát, trong giác thể rộng lớn
trọn đủ, vô cùng, vô tận; đấy là nghĩa
riêng biệt).
Những điều này đều
nhằm giải thích [những ư nghĩa] trong lời Sớ.
“Giác” là tổng nghĩa, [tức
là] nói tổng quát. Trong đoạn trước, lời Sớ
đă giảng: “Tự tánh giác
thị Phật nghĩa” (tự tánh giác là ư nghĩa của
chữ Phật). Câu tiếp theo là “giác thể chi trung” (trong giác thể) nhằm giải
thích câu “tự tánh giác vô lượng,
thị A Di Đà nghĩa” (tự tánh giác vô lượng
là ư nghĩa của A Di Đà) [trong lời Sớ]. “Quảng đại”: Quảng
là nói theo tác dụng; cho nên nó bao gồm các ư nghĩa “rộng
nhiều, rộng răi mênh mông”. “Giác
thể” là chân tâm của chúng ta, chân tâm vốn giác; v́ thế,
nó được gọi là Bổn Giác. Phật môn thường
nói tới mê, mê ǵ vậy? Mê mất Bổn Giác. Nói cách khác
là mê bổn tâm, hoặc có thể nói là mê bổn tánh. Bổn
Tâm, Bổn Tánh và Bổn Giác đều có cùng một ư nghĩa.
Chúng ta mê là mê điều này, nên mới biến thành bất
giác. Mê như thế nào? Nói thật ra, điều này cũng
hoàn toàn chẳng khó hiểu! Trong tâm chúng ta có ư niệm,
đó là mê. V́ sao? Trong chân tâm chẳng có ư niệm. Trong kinh
Đại Thừa, đức Phật thường dạy:
“Chân tâm ly niệm”, chẳng
có ư niệm. “Có niệm” là vọng tâm. Nói cách khác, có niệm
là bất giác, là mê; vô niệm là giác. Chúng ta nghe nói như vậy,
được rồi, tất cả hết thảy các vọng
niệm đều dứt trừ, điều ǵ cũng chẳng
nghĩ tới, vậy th́ quư vị có giác hay không? Vẫn là
bất giác! V́ sao nói là “bất giác?” V́ quư vị vẫn c̣n
có “vô niệm”. Quư vị có vô niệm, tức là vẫn c̣n
có ư niệm [“ta nay đă vô niệm”], chuyện này phiền
lắm. “Có niệm” là bất giác, vô niệm cũng là bất
giác. Do vậy, trong sự ĺa ấy, chẳng những không
thể có hữu niệm, mà vô niệm cũng chẳng cần
đến. Hữu niệm lẫn vô niệm thảy đều
ĺa, chân tâm bèn hiện tiền.
Bởi lẽ, có những kẻ
hiểu lầm, ngỡ “ĺa hết thảy niệm” là niệm
ǵ cũng đều chẳng cần đến, rốt cuộc
vẫn giữ chặt một cái “vô niệm”. Quư vị có
niệm hay không? Tôi chẳng có ư niệm th́ “chẳng có ư niệm”
vẫn là một niệm, vẫn là một vọng niệm!
V́ thế, người ấy chẳng có cách nào hiển lộ
chân tâm, chẳng có cách nào khôi phục giác thể, đạo
lư ở chỗ này. Đấy là “tu
Vô Tưởng Định” như trong nhà Phật thường
nói. “Vô tưởng” vẫn là một thứ tưởng, tức
là suy tưởng đến sự “vô tưởng” ấy.
Do vậy, người ấy vẫn c̣n một niệm, cho
nên chẳng phải là công phu thật sự, quả báo là
[sanh trong] Vô Tưởng Thiên (Asamjñisattvāh), tu hành đến
cuối cùng biến thành ngoại đạo. Vô Tưởng
Thiên là ngoại đạo. Chúng ta phải hiểu đạo
lư này, tu hành đúng là khó, thật sự chẳng phải là
chuyện dễ dàng! Đến khi quư vị có công phu tu hành
kha khá, sẽ thường xuất hiện nhiều cảnh
giới, quá nửa những cảnh giới ấy [thoạt
nh́n] rất giống [thánh cảnh], nhưng chẳng phải
[là thánh cảnh thật sự]. V́ thế, [nếu hành nhân
không biện định, hiểu rơ], sẽ thường bị
rơi vào cảnh ma.
Tôi thường nghe các đồng
tu nói, họ cũng quen biết các đồng tham đạo
hữu hoặc bạn bè, nói tu hành nửa tháng hoặc một
năm bèn đổ bệnh; mà bệnh cũng chẳng nhẹ.
Nói cách khác, đó là chuyện đáng tiếc trong cả
đời người ấy, chẳng có cách nào khôi phục
b́nh thường. Nói thông tục là tu đến nỗi mắc
bệnh thần kinh, chuyện này rất phiền, không ai có
sức cứu người ấy được! Nếu
người ấy chẳng sốt sắng, chẳng dụng
công tu hành, không sao hết, chẳng sanh ra chuyện. Vừa
thật sự dụng công, nẩy sanh phiền phức liền!
Đừng nói là tu Thiền, tu Mật, tu những pháp môn
khác dễ bị trục trặc, [ngay cả] niệm Phật
mà nếu niệm không đúng pháp cũng bị trục trặc,
chỉ là ít hơn một chút mà thôi. Lúc tôi mới học Phật,
vừa mới đến Đài Trung thân cận thầy Lư;
thầy Lư bảo chúng tôi, thầy có hai người học
tṛ niệm Phật trong Tinh Tấn Phật Thất bèn đổ
bệnh. Cụ hết sức hao tổn tâm sức, gần
như phải mất tám tháng mới trị cho một
người trở lại b́nh thường, tốn thời
gian hơn một năm để trị cho người
kia. Đây là nói nếu quư vị thật sự dụng
công, một niệm sai lầm sẽ sanh ra sai lầm. V́ thế,
niệm Phật chẳng thể không hiểu đạo lư
và phương pháp, nhất định phải giữ vững
nguyên tắc.
Nói cách khác, hễ đổ bệnh
tức là tâm người ấy không đúng mực, cầu
nhanh chóng, hiếu thắng, muốn vượt trội
người khác, đều do các vọng niệm này nên
người ấy mới đổ bệnh! Nếu không,
dùng cái tâm b́nh thường để tu hành, chẳng tham cầu
cảnh giới, cũng chẳng đ̣i hỏi thành tựu
nhanh chóng, cứ thật thà niệm măi một câu A Di Đà
Phật, chắc chắn chẳng có khuyết điểm
ǵ! V́ thế, cái tâm hiếu thắng là chuyện phiền phức;
trong Phật môn gọi là “cống cao, ngă mạn”; hiếu
thắng cũng thuộc loại ngă mạn. Nếu quư vị
chẳng thật sự dụng công th́ không sao; nhưng thật
sự dụng công sẽ xảy ra chuyện. Tâm hiếu thắng
là đại chướng ngại, ngạo mạn trong
“tham, sân, si, mạn” là đại phiền năo, hiếu thắng,
hiếu cường, muốn vượt trội người
khác, ư niệm ấy chẳng tốt! V́ thế, Phật, Bồ
Tát dạy chúng ta phải khiêm hư, người khác ở
đằng trước, chúng ta ở đằng sau.
Như Ngẫu Ích đại sư là một người lỗi
lạc; lăo nhân gia niệm Phật cầu văng sanh, Ngài nói: “Ta chỉ cần hạ hạ phẩm
văng sanh là đủ rồi, thỏa măn rồi”. Quyết
định chẳng có chút tâm niệm hiếu thắng hiếu
cường, Ngài chẳng có [tâm niệm ấy]! Thông thường,
người như vậy thành tựu thù thắng chẳng
thể nghĩ bàn. Phàm những kẻ hiếu thắng hiếu
cường đến cuối cùng đều thất bại.
Chúng ta phải chú ư, cảnh giác điều này.
Chân tâm có tác dụng vô lượng,
vô biên; v́ thế, gọi nó là Quảng. “Đại” là lời tán thán, giống như chữ
Đại trong Đại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm Kinh, hoặc Đại Phật Đảnh Thủ
Lăng Nghiêm Kinh đều thuộc về lời lẽ
tán thán. Trong Đại Kinh đă giải thích ư nghĩa của
chữ ấy, tán thán điều ǵ? Tán thán Chân Như bổn tánh, mà cũng là tán thán giác thể của
Bổn Giác; nhà Thiền gọi nó là “phụ mẫu vị sanh tiền bổn lai diện
mục” (diện mạo vốn có trước khi
được cha mẹ sanh ra), [Chân Như bổn tánh]
đúng là to lớn! V́ vậy, Đại ở đây
chẳng phải là Đại trong Đại Tiểu (lớn
hay nhỏ), mà là chẳng có cách nào h́nh dung, quả thật
chẳng có lời lẽ nào để có thể tán thán, bất
đắc dĩ miễn cưỡng dùng chữ Đại
này, mượn chữ này để tán thán nó. “Quảng đại tất bị,
vô cùng, vô tận” chính là ư nghĩa riêng biệt.
(Sao) Bổn Thỉ hữu
nhị
(鈔) 本始有二。
(Sao: Bổn Giác và Thỉ
Giác có hai cách nói).
“Hữu
nhị” là có hai cách để nói.
(Sao) Ước tiên hậu,
tắc Di Đà cổ Phật, thử Phật tân thành, thị
bỉ Bổn thử Thỉ.
(鈔) 約先後,則彌陀古佛,此佛新成,是彼本此始。
(Sao:
Xét theo thứ tự trước sau, Di Đà là cổ Phật,
c̣n vị Phật [trong cơi] này là mới thành, nên gọi [vị
Phật kia] Bổn, vị này là Thỉ Giác).
Nói theo thứ tự trước
và sau, hoàn toàn nói theo tướng. A Di Đà Phật tại
Tây Phương Cực Lạc thế giới thành Phật
tới nay đă mười kiếp. Thích Ca Mâu Ni Phật thành
Phật trong thế giới này là vị Phật mới
thành, Ngài trụ thế tám mươi năm (bảy
mươi chín tuổi nhập diệt, tính từ đầu
đến cuối là tám mươi năm). A Di Đà Phật
thành Phật trước, Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật
sau. A Di Đà Phật thành Phật từ mười kiếp
trước, Phật Thích Ca thành Phật trong hiện tại.
“Thị bỉ Bổn thử
Thỉ giả”, vị thành Phật trước là Bổn,
vị thành Phật sau là Thỉ. Thích Ca Mâu Ni Phật là Thỉ,
tức Thỉ Giác, A Di Đà Phật là Bổn Giác.
(Sao) Tức tự tánh bổn lai
thị Phật vi Bổn. Vô minh sở phú, kim phương
phá Hoặc chứng trí vi Thỉ dă.
(鈔) 即自性本來是佛為本,無明所覆,今方破惑證智為始也。
(Sao:
Tự tánh vốn sẵn là Phật, đó là Bổn; bị
vô minh che lấp, nay mới phá Hoặc, chứng trí, đó
là Thỉ).
Thật sự nói đến ư
nghĩa của Bổn và Thỉ, th́ Bổn là nói đến
tự tánh, Chân Như tự tánh; đó là Bổn. Bổn và
Thỉ đều là nói phương tiện, chẳng Chân.
Trong Chân, đâu có Bổn và Thỉ! Có Bổn và Thỉ,
đó là giả, chẳng phải là Nhất Chân, đă biến
thành hai pháp, làm sao có thể gọi là Nhất Chân cho
được? V́ thế, đây là nói phương tiện.
V́ chúng ta mê, sau khi mê, lại phá mê khai ngộ, nên gọi là
Thỉ. Cái mê ấy có phải là thật sự mê hay không?
Chẳng phải là mê thật sự. Nếu thật sự
mê, làm sao c̣n có thể phá cái mê ấy? Không thể phá
được! Mê là hư vọng, chúng ta thường gọi
là “vọng t́nh”, mê vọng. Do vậy, mê chẳng phải là
thật, giác là thật.
Trong Khởi Tín Luận, Mă Minh Bồ
Tát đă nói rất hay: “Bổn
Giác vốn có”, vốn sẵn có, “bất giác vốn không”, bất giác là mê, mê vốn
chẳng có. Hiện thời có [bất giác] hay không? Hiện
tại vẫn chẳng có. Nếu hiện tại là thật
sự có, sẽ chẳng thể phá mê được! Giống
như tối tăm, có tối tăm hay chăng? Chẳng
có tối tăm, v́ sao? Đèn vừa bật lên, tối
tăm chẳng c̣n nữa! Nếu có tối tăm th́ bật
đèn lên, tối tăm cũng chẳng mất đi, nó mới
là thật sự có! Đèn vừa bật lên, tối tăm
chẳng c̣n nữa, có thể thấy tối tăm là vọng,
chẳng thật. V́ thế, mê là quư vị chưa ngộ. Hễ
quư vị giác ngộ, mê chẳng c̣n nữa! Phá mê khai ngộ,
hễ giác ngộ, mê chẳng c̣n nữa. Do vậy, dẫu
thời gian mê lâu dài đến mấy, chúng ta cũng chẳng
sợ. Cổ đức tỷ dụ “thiên niên ám thất”, [tức là] căn pḥng ấy
đă tối tăm cả ngàn năm, thời gian ấy rất
dài, nhưng quư vị thắp một ngọn đèn, liền
sáng sủa, chẳng c̣n tối tăm nữa! Từ vô thỉ
kiếp tới nay, chúng ta luôn mê hoặc. Chớ sợ! Chỉ
cần hiện tại quư vị ngộ th́ vô lượng
kiếp mê t́nh thảy đều chẳng c̣n nữa, đều
tiêu mất, chỉ sợ quư vị chẳng ngộ!
Lư ấy có thể nói là chẳng
khó hiểu, nhưng chuyện ấy chẳng dễ dàng
như thế. Cũng có đồng tu tới nói với
tôi: “Khi con niệm Phật th́ cũng được lắm,
lúc đọc kinh cảnh giới cũng rất tốt,
nhưng hễ đụng chuyện, phiền năo lại dấy
lên, làm thế nào đây?” Phiền năo dấy lên là mê hoặc,
mê t́nh lại dấy lên! Do đó, chúng ta hiểu rơ: Công phu
giác vào lúc nào th́ mới là thật sự giác ngộ? Trong lúc
gặp chuyện! Nói cách khác, xử sự, đăi người,
tiếp vật, tâm quư vị thanh tịnh, không bị xoay
chuyển bởi ngoại cảnh th́ quư vị thật sự
giác ngộ. Vẫn c̣n bị ngoại cảnh xoay chuyển,
tuy niệm Phật, dù mỗi ngày niệm nhiều đến
đâu đi nữa, quư vị vẫn là bất giác! Do vậy,
giác phải được khảo nghiệm trong xử sự,
đăi người, tiếp vật, khảo nghiệm xem
quư vị đă thật sự giác ngộ hay chưa?
Do điều này biết rằng:
Chúng ta b́nh thời niệm Phật nhằm bồi dưỡng
giác tánh. Chúng ta thường đang mê, bất giác, [niệm
Phật nhằm] huân tập khí phận Thỉ Giác, lúc gặp
chuyện quư vị chẳng mê th́ mới
hữu dụng. Chúng ta niệm một câu A Di Đà Phật
này, phải hiểu ư nghĩa của câu danh hiệu này. A Di
Đà Phật là tiếng Phạn dịch âm, dịch sang tiếng
Hán là Vô Lượng Giác. Niệm một câu A Di Đà Phật
là niệm niệm giác, chẳng mê, có ư nghĩa ấy, tức
là ư nghĩa “vô lượng giác”. Bất luận lúc nào, bất
luận ở nơi đâu, bất luận cảnh giới
thuận hay nghịch, ta đều phải giác chứ không
mê. Giác chứ không mê, sẽ giữ được tâm
thanh tịnh bất động. Ta thấy rơ ràng, nghe rơ rệt,
thứ ǵ cũng rơ ràng, minh bạch, đấy là trí huệ.
Tuy điều ǵ cũng rơ ràng, nhưng trong tâm như
như bất động; bất động là ǵ? Chẳng
khởi tham, sân, si, mạn, nghi, chẳng dấy động
những thứ ấy. Trong thuận cảnh, chẳng khởi
tâm tham ái, chẳng có ư niệm ấy. Trong nghịch cảnh,
tâm chẳng sân khuể, tâm cảnh b́nh đẳng, chẳng
có tâm ngạo nghễ, ngă mạn, thứ ǵ cũng rơ ràng, chắc
chắn chẳng có tâm nghi hoặc. Tham, sân, si, mạn, nghi,
tà kiến, trong tâm thảy đều chẳng có. Đấy
là như như bất động, lại hiểu rơ ràng
bên ngoài, cái tâm khi ấy mới thật sự là giác ngộ,
đó là Thỉ Giác.
Thỉ Giác niệm niệm
đều là Thỉ Giác. Chẳng hạn như quư vị
tu hành chứng quả, chứng đạo, lấy Viên Giáo
để nói th́ Bồ Tát thuộc địa vị Sơ
Tín là Thỉ Giác, quư vị đă đắc địa vị
Sơ Tín. Từ Sơ Tín đến Nhị Tín vẫn là Thỉ
Giác, tức là Thỉ Giác của địa vị Nhị
Tín. Từ Nhị Tín đạt lên Tam Tín, vẫn là Thỉ
Giác, tức là Thỉ Giác của Tam Tín, măi cho đến
địa vị Đẳng Giác Bồ Tát, vẫn là Thỉ
Giác. Do vậy, đối với Thỉ Giác, hằng ngày
đều là Thỉ Giác, qua kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy
Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật vẫn
là “thỉ thành Chánh Giác” (mới
thành Chánh Giác). Do vậy, biết: Thỉ và Bổn chẳng
hai, mang ư nghĩa này. Niệm niệm đều là Thỉ
Giác; Thỉ Giác và Bổn Giác là một, không hai. V́ thế,
phải hiểu vô minh chẳng thật, nhưng có vô minh hay
không? Có! Tuy có, nhưng chẳng thật, chẳng phải là
thật sự. V́ nó là pháp sanh diệt; có sanh, có diệt, nên
nó chẳng thật. Bổn Giác là thật, v́ Bổn Giác là
pháp bất sanh, bất diệt. Do Bổn Giác bất sanh, bất
diệt, cho nên nó là thật.
“Kim
phương phá Hoặc, chứng trí, vi Thỉ” (nay mới
phá Hoặc, chứng trí, nên là Thỉ Giác). So với kẻ
chưa hiểu Phật th́ người học Phật chúng
ta là Thỉ Giác. Tuy chúng ta vẫn chưa phá một phẩm
vô minh phiền năo nào, nhưng chúng ta biết chính ḿnh có Phật
Tánh, biết niệm Phật có thể văng sanh Tịnh Độ,
người khác vẫn chưa biết; đấy là Thỉ
Giác. Lại thưa cùng quư vị, đấy là Thỉ Giác
chân chánh, Thỉ Giác rốt ráo. So với hết thảy các
pháp môn Đại Thừa khác, tác dụng sẽ khác nhau. V́
trong hết thảy các pháp môn khác, muốn liễu sanh tử
và viên chứng Bồ Đề trong một đời, nói
thật sự là chuyện chẳng thể nào xảy ra
được. Chỉ riêng pháp môn Niệm Phật là có thể
quyết định thành công trong một đời, ổn
thỏa, thích đáng. Do vậy, bất cứ pháp môn nào cũng
đều chẳng thể sánh bằng!
Nhưng thật sự có thể
lănh hội, nhận biết pháp môn này, quả thật chẳng
dễ dàng cho lắm, v́ sao không dễ dàng? Nói ngược lại,
tâm chúng sanh chẳng thanh tịnh, họ có tâm phân biệt,
tâm chấp trước, tâm [phân chia] cao thấp, có những
tâm ấy nên họ coi thường pháp môn Niệm Phật.
Họ chẳng hiểu pháp môn Niệm Phật, chẳng
nghiên cứu kinh luận thuộc về pháp môn Niệm Phật,
[nhưng vẫn khăng khăng] cho [niệm Phật] là mê
tín, là giáo pháp dành cho mấy bà già! Thật ra, những bà cụ
già niệm Phật đứng mất, ngồi mất, nhiều
lắm! C̣n kẻ kia rất thông minh, tới cuối cùng sợ
rằng vẫn thua bà cụ già, đấy gọi là “thông minh bị thông minh gây lầm
lạc”. Đấy là nói người học Phật tự
ḿnh mê hoặc, điên đảo, giống hệt như những
kẻ chẳng học Phật lại phê b́nh Phật giáo, bảo
Phật giáo là mê tín. Quư vị hỏi họ: “Phật giáo là
ǵ?” Kẻ ấy không biết. [Đă
không biết] v́ sao [anh dám bạo miệng nói Phật giáo là
mê tín]? “Hết thảy mọi người đều nói Phật
giáo là mê tín!” Mọi người chê là mê tín, kẻ ấy cũng
nói là mê tín, điều này rất nguy hiểm! Quư vị nghĩ
Phật giáo là mê tín, nếu nói nó là mê tín th́ phải nghiên cứu
triệt để một phen để xem nó có đúng là
mê tín hay không? Nhất định chớ nên hàm hồ,
lơ mơ, mà cứ tùy tiện phê phán, chẳng tránh khỏi
gây tạo tội nghiệp! Chính quư vị tự lầm
lẫn trong một đời, đó là chuyện nhỏ,
quư vị tự làm tự chịu; nhưng quư vị làm cho
người khác lỡ làng, tội lỗi ấy lớn lắm!
Người ấy học pháp môn này sẽ thành Phật
trong một đời; thế mà quư vị khuyên người
ấy đừng nên học pháp môn này, lôi người ấy
trở vào lục đạo, tội lỗi ấy quá lớn,
phá hoại Pháp Thân huệ mạng của người khác.
Do vậy, những kẻ phê b́nh Tịnh Độ; nói thật
ra, toàn là những kẻ chẳng hề nghiên cứu Tịnh
Độ.
Trong quá khứ, tôi chẳng nghiên cứu,
cũng coi thường Tịnh Độ, cũng nói pháp ấy
là giáo pháp dành cho mấy bà già! [Hiện thời] tôi hoàn toàn
liễu giải nên mới tin tưởng, nhưng để
thật sự liễu giải đến mức tin tưởng
pháp môn này, gần như phải mất ba mươi
năm công phu, chẳng dễ dàng! Ngày nay, tôi đem tâm đắc
ba mươi năm thật thà thưa cùng quư vị; nếu
quư vị tin tưởng, sẽ khỏi phải phí ba
mươi năm. Nếu quư vị không tin, quư vị tu tập
ba mươi năm, chưa chắc đă có thành tựu
như tôi! Tôi không phải là kẻ người khác nói sao
bèn tin như vậy! Thuở đầu, pháp sư Sám Vân
khuyên tôi, khi đó, tôi mới học Phật chưa
được bao lâu, c̣n chưa xuất gia; về sau, thầy
Lư khuyên tôi, tuy tôi không phản đối, nhưng vẫn
chưa thể tin tưởng hoàn toàn, vẫn không chịu
dụng công tu học. Sau nhiều năm như thế,
nghiên cứu một số kinh điển Đại Thừa,
đặc biệt là mười sáu, mười bảy
năm giảng kinh Hoa Nghiêm mới thật sự hiểu
rơ, hiểu pháp môn này là pháp môn bậc nhất để
mười phương ba đời hết thảy
chư Phật độ chúng sanh. Hiểu được
điều ấy quả thật chẳng đơn giản,
chẳng dễ dàng; v́ thế, tôi vô cùng quư trọng pháp môn
này!
Giảng kinh th́ tôi chuyên giảng
kinh Di Đà; hiện thời, những kinh luận khác tôi cũng
không giảng. Kinh Lăng Nghiêm tôi cũng không giảng. Nay
quư vị hăy học theo tôi, học kinh Di Đà, hăy xếp
kinh Lăng Nghiêm lại, chẳng cần phải học
kinh ấy nữa. Kinh Lăng Nghiêm có tuyệt diệu hay
chăng? Tuyệt diệu, nhưng rất khó, quả thật
chẳng dễ dàng. Thật sự giúp quư vị văng sanh,
giúp quư vị thành Phật, pháp môn này đă đủ rồi!
Ta rất biết chọn lọc, chọn lấy món nào hạng
nhất, chẳng cần tới hạng nh́. Quư vị phải
hiểu kinh Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ đều
là kinh bậc nhất, ta không cần đến kinh bậc
hai nữa. V́ thế, kinh Hoa Nghiêm tôi cũng không muốn giảng!
(Sao) Ước nhân quả, tắc
thử Phật giáo linh văng sanh, năi đắc kiến A Di
Đà Phật, thị thử Bổn bỉ Thỉ.
(鈔) 約因果,則此佛教令往生,乃得見阿彌陀佛,是此本彼始。
(Sao: Nếu xét theo nhân quả,
vị Phật này dạy [hành nhân] văng sanh bèn được
thấy A Di Đà Phật, nên vị Phật này là Bổn, vị
Phật kia là Thỉ).
[Đến đây], Bổn và Thỉ
đảo ngược [vị trí], đây là nói theo
phương diện nhân quả. Làm sao chúng ta biết có Tây
Phương Cực Lạc thế giới? Làm sao biết
thế giới Cực Lạc tốt đẹp ngần ấy?
Đều do Thích Ca Mâu Ni Phật dạy cho biết. Cả
đời Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh suốt bốn
mươi chín năm, Ngài giảng rất nhiều kinh.
Chuyên giảng Tịnh Độ có ba bộ kinh là kinh Vô
Lượng Thọ, kinh Di Đà và kinh Quán Vô Lượng Thọ
Phật. Trong đó, kinh Vô Lượng Thọ rất đặc
biệt, thuở tại thế, Thích Ca Mâu Ni Phật không chỉ
giảng một lần, mà giảng rất nhiều lần,
đây là một pháp môn đặc biệt. Những kinh khác
đức Phật chỉ giảng một lần trong một
đời Ngài, chẳng giảng lại, chỉ riêng kinh Vô
Lượng Thọ được giảng rất nhiều
lượt!
Nguyên bản kinh Vô Lượng Thọ
được truyền đến Trung Quốc rất sớm,
từ thời Đông Hán, kinh đă được truyền
đến Trung Quốc, do ngài An Thế Cao
dịch, đáng tiếc là bản dịch ấy đă thất
truyền. Từ đời Hán đến đời Tống,
tổng cộng có mười hai lần phiên dịch. Sau
này, nhiều học giả, chuyên gia đă khảo chứng,
thấy trong Đại Tạng Kinh c̣n năm bản dịch.
Cổ đức phán đoán tối thiểu phải có ba bản
gốc khác nhau. Từ chỗ này, ta biết thuở tại
thế, Thích Ca Mâu Ni Phật đă nhiều lần tuyên giảng
kinh Vô Lượng Thọ, đây là pháp môn đặc biệt,
đặc biệt quan trọng!
Ngày nay, chúng ta phải thật sự
phát dương quang đại pháp môn này, đấy là trách
nhiệm của chúng ta. Nếu chúng ta không biết th́ thôi,
chúng ta không có trách nhiệm ấy. Nếu đă biết,
đă nhận thức, phải có trách nhiệm phát
dương quang đại. Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu
[pháp môn này] cho chúng ta, Ngài là Bổn. Chúng ta y theo giáo huấn
của Thích Ca Mâu Ni Phật để hành phương pháp
này, tu hành, trong tương lai nhất định sẽ thấy
A Di Đà Phật, thấy A Di Đà Phật là “Thỉ”. Nói
theo phương diện nhân quả, đức Bổn
Sư của chúng ta là Bổn, A Di Đà Phật là Thỉ.
Tu nhân là Bổn, chứng quả là Thỉ. Tu nhân mới
ḥng chứng quả, văng sanh là chứng quả. Đó là nói
theo phương diện nhân quả,
(Sao) Tức tự tánh bổn hữu
thành Phật chi trí vi Bổn, y Bổn Trí nhi cầu Phật
Trí, năi đắc thành Phật vi Thỉ dă.
(鈔) 即自性本有成佛之智為本,依本智而求佛智,乃得成佛為始也。
(Sao:
Tự tánh vốn sẵn có trí thành Phật, đó là Bổn;
nương vào Bổn Trí để cầu Phật Trí, sẽ
được thành Phật, th́ đó là Thỉ).
Đây là dựa trên nhân quả
để luận định Bổn và Thỉ. Bổn có
thể gọi là Thỉ, mà Thỉ cũng có thể gọi
là Bổn, tùy thuộc quư vị nh́n từ góc độ nào!
(Sao) Bổn Thỉ hỗ dung,
thường giác bất muội, huy thiên giám địa, diệu
cổ đằng kim, thường thuyết như thị
kinh, bách thiên vạn ức ṭa.
(鈔) 本始互融,常覺不昧,輝天鑑地,耀古騰今,常說如是經,百千萬億座。
(Sao: Bổn Giác và Thỉ Giác
dung nhập lẫn nhau, thường giác chẳng mê, rạng
trời, chiếu đất, chói ngời suốt từ
xưa đến nay, trăm ngàn vạn ức pháp hội
thường thuyết kinh như thế).
Dùng hai ư nghĩa trong phần
trước (tức là từ hai góc độ khác nhau) để
quan sát Bổn và Thỉ, sẽ thấy Bổn và Thỉ có
thể dung thông lẫn nhau. Khi chúng ta dấy lên vô minh, hay
lúc có mê t́nh, bèn gọi tự tánh là Bổn Giác. Chúng ta phá mê t́nh,
[tự tánh hiển lộ], bèn gọi là Thỉ Giác. Đó
là ư nghĩa [đă được diễn tả] trong phần
trước. Vô minh là giả, là hư vọng, chẳng thật.
V́ vậy, bất luận tự tánh giác có vô minh hay không, nói
thật ra, nó “thường giác
bất muội”. Giống như chúng ta nói trời âm u,
là do mặt trời bị mây che kín, mây có thật sự che
nổi mặt trời hay không? Thật ra, mây chẳng che lấp
mặt trời. Hiện thời, rất dễ hiểu rơ
điều này! Quư vị ở thành phố Đài Bắc,
mây che lấp thái dương, nhưng đến Cơ Long,
nơi ấy không có mây, thái dương chẳng bị che
khuất. Do vậy biết: Thái dương thường tỏa
ánh sáng, không ai có thể che được, mây dường
như che lấp, nhưng thời gian ấy rất ngắn
ngủi, tạm bợ, là giả, chẳng thật! Vô minh
che khuất bổn tánh của chúng ta giống như mây che
lấp thái dương, có thể thấy là nó chẳng thật,
mà là giả! Do vậy, mê chắc chắn có thể phá, giác
chắc chắn có thể hiện tiền. Trước hết,
chúng ta phải kiến lập ḷng tin này.
Trong Phật pháp nói đến
Tín, th́ niềm tin thứ nhất là phải tin vào đạo
lư này, phải tin vào sự thật này. Quư vị có thể
kiến lập ḷng tin trên đây th́ mới tin tưởng
“chính ḿnh chắc chắn có thể thành Phật, bản thân
ta nhất định có thể phá vô minh, có thể khôi phục
Bổn Giác”, mới có những tín tâm ấy. Y báo và chánh báo
trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
cũng do cái tâm này biến hiện, đó gọi là “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh
Độ”. Tự tánh giác là Tây Phương Di Đà Tịnh
Độ, tự tánh mê là thế giới Sa Bà dơ ác, thảy
đều là vật được biến hiện bởi
tự tánh. Đấy chính là “ngoài
tâm không có pháp, ngoài pháp không có tâm”. Chúng ta tin tưởng, đặc biệt là đối
với ba món tư lương, tức là ba điều kiện
trọng yếu được nói đến trong Tịnh
Độ là Tín, Nguyện, Hạnh; Ngẫu Ích đại
sư đă dạy, trước hết hăy Tín Tự. Tín Tự
chính là như tôi vừa mới nói, nhất định phải
tin tưởng những đạo lư ấy.
Mấy câu tiếp theo đều
nhằm tŕnh bày ư nghĩa “Thỉ
Giác và Bổn Giác dung thông bất nhị”. “Thường giác
bất muội, huy thiên giám địa” (thường
giác ngộ, chẳng mê muội, rạng trời, chiếu
đất) nhằm tỷ dụ quang minh của Bổn
Giác và Thỉ Giác, quang minh chiếu trọn khắp, câu này
nói đến không gian, “diệu
cổ đằng kim” (suốt từ xưa đến
nay) là nói tới thời gian. [Thỉ Giác và Bổn Giác] siêu
việt thời gian và không gian!
“Thường
thuyết như thị kinh, bách thiên vạn ức ṭa” (thường nói kinh như thế,
trăm ngàn vạn ức pháp hội). “Thuyết kinh” nhằm dụng ư phá mê khai ngộ;
v́ vậy, phá mê khai ngộ chính là “thuyết kinh”. Tự tánh quang minh chiếu khắp;
đó chính là ư nghĩa thuyết kinh. Hiểu rơ đạo
lư này, thuyết kinh chưa hề gián đoạn, về mặt
thời gian bèn chẳng gián đoạn, trong không gian bèn trọn
khắp hết thảy các nơi, không lúc nào, không chỗ
nào chẳng nói kinh. Đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới, lục trần thuyết pháp, cũng là sự
thật được hiển hiện dựa trên nguyên lư
này. Thật ra, người trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới thanh tịnh, nên họ thấy lục trần
thuyết pháp, chẳng bị thời gian và không gian ngăn
ngại. Trong thế giới này, trước mắt chúng
ta, có bao giờ chẳng phải là lục trần thuyết
pháp? V́ sao trong cơi này, chúng ta chẳng nói “lục trần thuyết
pháp”? V́ tâm không thanh tịnh! Tuy lục trần phóng quang rúng
động cơi đất suốt măi từ xưa cho đến
tận nay, nhưng quư vị có mắt mà chẳng thấy,
có tai nhưng chẳng nghe, nên [dẫu lục trần
thường thuyết pháp vẫn giống như] chẳng
thuyết pháp, nguyên nhân là như vậy đó.
Do vậy, Phật pháp bất luận nói
tới pháp môn hay tông phái nào, thảy đều dùng tâm thanh
tịnh để nhập; tâm quư vị chẳng thanh tịnh,
nhập pháp môn nào cũng chẳng được! Nếu
muốn nhập Phật môn, Phật môn có tám vạn bốn
ngàn môn, có vô lượng vô biên môn, dùng phương pháp nào
để có thể nhập? Tâm thanh tịnh có thể nhập.
Trước đây, tôi cũng nói với các vị đồng
tu ba nguyên tắc: Giác, Chánh, Tịnh. Giác tâm có thể nhập,
chánh tri chánh kiến có thể nhập, tâm thanh tịnh có thể
nhập, ba điều kiện ấy. Quư vị có một
điều, sẽ có thể nhập. Hễ nhập môn th́
“một chính là ba, ba chính là một”, đấy chính là “pháp
môn Bất Nhị”. Nhưng trong ba điều kiện ấy,
giác khó, chánh tri chánh kiến cũng khó, thanh tịnh dễ
hơn. Tịnh Độ do tâm thanh tịnh mà nhập, theo
môn này mà nhập. Thiền là từ giác tâm mà nhập, Giáo từ
chánh tâm mà nhập, pháp môn Niệm Phật từ tâm thanh tịnh
mà nhập. So trong ba môn, [môn Tịnh] dễ hơn rất
nhiều. Huống chi, trong cái tâm thanh tịnh ấy, ở
đây lại là pháp môn Nhị Lực, bản thân chúng ta có
công phu, lại có Phật lực giúp đỡ. V́ vậy,
pháp môn này được gọi là pháp môn Nhị Lực, Phật
lực có thể giúp đỡ và gia tŕ chúng ta. Dưới
đây, đại sư lập ra một cuộc vấn
đáp giả định:
(Sao) Vấn: Sớ Sao thử
kinh, chánh vị phát huy tŕ danh công đức, phổ khuyến
chư nhân cầu sanh bỉ độ dă, hà năi nhất nhất
tiêu quy tự tánh, phiên thành cực tắc chi đàm, y nhiên Tịnh
Độ thị tâm, hề tất xả thử nguyện
bỉ?
(鈔) 問:疏鈔此經,正為發揮持名功德,普勸諸人求生彼土也,何乃一一消歸自性,翻成極則之談,依然淨土是心,奚必捨此願彼?
(Sao:
Hỏi: Viết lời Sớ và lời Sao cho kinh này, chính
là v́ để giảng rơ công đức tŕ danh, khuyên khắp
mọi người cầu sanh về cơi ấy, cớ sao lại
đối với mỗi điều đều gồm
thâu về tự tánh, [khiến cho pháp này] trở thành lời
đàm luận cùng cực [về Lư], Tịnh Độ vẫn
là tâm như cũ, cần ǵ phải bỏ cơi này, nguyện
sanh sang cơi kia?)
Câu hỏi này vô
cùng hay, v́ sao? Tôi tin trong các đồng tu, quả thật có
những người nghe những lời được
nói trong các đoạn trên, bèn nẩy sanh nghi vấn này. Nếu
hết thảy đều nói tới duy tâm, hết thảy
đều nói tới tự tánh,
chúng ta c̣n cần ǵ phải niệm Phật về Tây
Phương Cực Lạc thế giới nữa? Chúng ta cứ
ở đây là được rồi. Câu hỏi này nhắm
vào ư nghĩa ấy, chất vấn Liên Tŕ đại
sư: Ngài giảng bộ kinh Di Đà này, viết chú giải
là dùng văn tự để giảng, mục đích không
ǵ chẳng nhằm khuyên người khác niệm Phật cầu
sanh Tây Phương Tịnh Độ, cần ǵ phải bàn
đến những vấn đề [thuộc về Lư
tánh] này? Càng bàn càng sâu, đều là nói tới tự tánh, có
khác ǵ Tánh Tông đâu? “Nhất
nhất tiêu quy tự tánh” (mỗi mỗi đều quy
về tự tánh) là “cực tắc
chi đàm” (lời bàn luận tột cùng), đấy là
đại thừa Phật pháp tối cao. “Duy hữu Nhất Thừa pháp, vô nhị, diệc vô
tam” (chỉ có pháp Nhất Thừa, không hai, cũng không
ba); đấy là Phật pháp tối cao. V́ sao đại
sư nói như vậy? Tiếp theo đây, Ngài sẽ giải
thích, trên thực tế, Ngài nói cách ấy chẳng sai lầm,
chỉ có cách giảng triệt để rốt ráo như
vậy mới có thể khiến cho người ta sanh ḷng
tôn trọng pháp môn Niệm Phật, chẳng c̣n coi rẻ nữa,
v́ họ biết pháp môn này chẳng đơn giản,
vượt trỗi hết thảy các pháp môn thuộc các
tông, các phái. V́ vậy, Liên Tŕ đại sư trong mỗi một
tiết đều chỉ rơ sự xứng Lư.
(Sao) Đáp: Thử chánh song bị
nhị căn, song phá nhị Hoặc, như tiền Tự
trung sở minh. Lương dĩ độn căn giả,
thủ sự tướng nhi tự túc.
(鈔) 答:此正雙被二根,雙破二惑,如前序中所明。良以鈍根者,守事相而自足。
(Sao: Đáp: Đây là nhằm
thích hợp với hai loại căn cơ, nhằm phá cả
hai thứ Hoặc giống như đă nói rơ trong lời Tựa
ở phần trước. Ấy là v́ kẻ độn
căn bèn chấp sự tướng tự cho là đủ).
Phía sau đoạn này có câu: “Lợi căn giả, sùng Lư tánh
nhi trước Không” (Kẻ lợi căn tôn sùng Lư tánh,
chấp Không). “Nhị căn”
là độn căn và lợi căn, hai loại người
này quả thật rất đông. Đối với hai loại
người này, trong lời mi chú kinh Vô Lượng Thọ,
thầy Lư đă phê: “Chẳng cầu
đới nghiệp văng sanh, chẳng ngu, ắt cuồng”,
độn căn là ngu si, lợi căn là cuồng vọng;
hai hạng người ấy chẳng tin Tịnh Độ.
Đại sư viết đoạn này nhằm chuyên đối
phó hai hạng người ấy.
“Thủ
sự tướng nhi tự túc giả” (chấp sự
tướng tự cho là đủ), nói thật ra, hạng
người này c̣n thường có thành tựu, chứ kẻ
cuồng vọng đúng là hỏng bét! Kẻ độn căn
tâm lượng chẳng lớn, đạt được
chút ít đă thỏa măn. Nếu quư vị dạy họ niệm
một câu A Di Đà Phật, họ cũng thỏa măn, chẳng
c̣n mong muốn ǵ nữa, nhưng người như vậy
thật sự có thể thành công, Chúng tôi cũng thấy rất
nhiều trường hợp thực tế. V́ vậy, cổ
nhân nói: “Duy thượng trí dữ
hạ ngu bất di” (chỉ có bậc thượng trí và
kẻ hạ ngu là không thay đổi chí hướng). Hai hạng
người sau đây dễ đắc độ nhất,
một là ǵ? [Một là người] trí huệ tối cao,
thông đạt, hiểu rơ hết thảy, chẳng có vấn
đề ǵ. Quư vị vừa nói với họ, họ liền
ngay lập tức phát tâm, giống như những vị
Đại Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền; Ngẫu Ích
đại sư đă nói:
“Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ, Trí Giả
đại sư là những nhân vật hạng nhất”,
đấy là bậc thượng căn lợi trí, các Ngài
vừa nghe, chẳng bàn căi ǵ nữa, thấu hiểu, tin
tưởng. Kẻ hạ ngu không biết chữ, chẳng
có kiến thức ǵ, tâm lượng rất nhỏ, dạy
họ một câu A Di Đà Phật, họ bèn thật thà suốt
ngày từ sáng đến tối niệm A Di Đà Phật,
những thứ khác họ cũng chẳng muốn biết
đến. Hai loại người ấy nhất định
văng sanh.
Tuy hai hạng người ấy
hễ tu đều văng sanh, nhưng sẽ văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới với phẩm
vị sai khác. Người thông đạt lư sẽ Thượng
Phẩm Thượng Sanh, hoa nở thấy Phật; người
chẳng hiểu lư cũng có thể văng sanh, quyết định
sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Tuy sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư, nhưng v́ người ấy
chẳng hiểu lư, trí huệ kém hơn bậc lợi
căn, nhưng xét về phước đức, nhân duyên
th́ chẳng khác bậc đại Bồ Tát cho mấy,
đây là pháp môn thù thắng chẳng thể nghĩ bàn.
Nhưng chư vị phải biết: Người độn
căn nếu học pháp môn khác sẽ chẳng có cách
nào thành tựu. Chẳng hạn như học Tiểu Thừa,
sẽ vĩnh viễn chết cứng trong pháp Tiểu Thừa,
chắc chắn chẳng tin pháp Đại Thừa, v́ sao? Kẻ
ấy cố chấp, thành kiến rất sâu, điều
ǵ được tiếp xúc trước sẽ là chủ yếu
mà! Nếu người ấy gặp Tịnh Độ th́
tốt lắm, cố chấp cũng được, thành
kiến sâu cũng được, kẻ ấy chẳng muốn
học pháp môn khác, tốt lắm! Nhưng cơ duyên này
không dễ ǵ gặp gỡ! V́ vậy, phải biết,
trong pháp môn Niệm Phật có đạo lư rất sâu. Đại
sư giảng kinh, đặc biệt nêu ra đoạn này
nhằm phá trừ nỗi chấp trước sự tướng
của những kẻ độn căn chẳng hiểu
rơ đạo lư Tịnh Độ. V́ thế, Ngài đặc
biệt dùng cách Xứng Lư để nói. Nói cách khác, nâng cao
phẩm vị văng sanh Tịnh Độ, tăng tấn tín
nguyện cho người ấy.
Người lợi căn
thường được thế gian gọi là kẻ
thông minh, nhạy bén, những người ấy thường
sùng bái lư luận, thiên chấp lư luận, đối với
sự tu hành trong thực tế và sự tướng
thường sơ sót, thường chấp Không. Nhà Thiền
dễ mắc bệnh này, Tánh Tông như Tam Luận Tông chẳng
hạn, cũng dễ mắc bệnh này, chấp Không. V́
người ấy chấp trước lư Không, căn bản
là chẳng tin tưởng Tây Phương có Tịnh Độ,
không tin có thế giới Cực Lạc, càng không tin đới
nghiệp có thể văng sanh. Loại người này hết
sức đáng sợ. Trong kinh, đức Phật từng
dạy: “Ninh khả chấp Hữu
như Tu Di sơn, bất khả chấp Không như giới
tử” (Thà chấp Có như núi Tu Di, đừng chấp
Không chừng bằng hạt cải). “Giới tử” (芥子) là hạt cải, tỷ dụ sự nhỏ nhoi. Chấp
Không dẫu một chút tí, cũng làm hỏng chuyện lớn.
V́ sao? Chẳng cứu được! V́ sao nói chẳng cứu
được? Kẻ ấy chẳng tin Phật pháp, chẳng
thể cứu! Chấp trước Có, dẫu chấp
trước nghiêm trọng đến mấy đi nữa,
vẫn c̣n cứu được, Phật c̣n có thể
độ người ấy. Người ấy chấp
Có, có nhân quả báo ứng, tối thiểu sẽ chẳng
dám làm chuyện xấu; có Tây Phương Tịnh Độ,
người ấy niệm Phật cũng thật sự
có thể văng sanh, người ấy chấp Có! Nếu chẳng
tin nhân quả báo ứng, chuyện ǵ xấu cũng đều
dám làm, v́ sao? Kẻ ấy chẳng tin có quả báo. Chuyện
ấy chẳng phải là “quư vị tin th́ có, không tin bèn chẳng
có”. Nếu [đúng là] như vậy, ta thà chẳng tin c̣n
hơn. Không tin, vẫn có [nhân quả báo ứng]! Do vậy,
nhất định phải biết chân tướng sự
thật. Kẻ lợi căn càng đáng sợ, họ có thể
khéo ăn nói, thế trí biện thông, và cũng có biện
tài kha khá, cũng nói khiến cho hoa trời rơi tứ
tung, người nghe cũng cảm thấy rất có lư; thật
ra, kẻ ấy đă nói sai be bét!
Chúng ta thấy các vị cổ
đại đức, tổ sư các tông, các phái, các Ngài thật
sự thông đạt, tuy nói Không, nhưng chẳng phá Có.
Tông Thiên Thai nói Không, nhưng Thiên Thai đại sư niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ. Tông Hiền Thủ
giảng Có, tông Hoa Nghiêm giảng Có, từ Hữu môn mà nhập;
tông Thiên Thai (tông Pháp Hoa) từ Không môn mà nhập. Quư vị
thấy các vị tổ sư tông Thiên Thai, kể từ Trí
Giả đại sư, cho tới sau này, quá nửa đều
là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Cận
đại, pháp sư Đế Nhàn, pháp sư Đàm Hư
đều cầu sanh Tịnh Độ. Pháp sư Bảo
Tĩnh[3] cũng là học tṛ của pháp sư
Đế Nhàn, Ngài viết bộ Di Đà Kinh Yếu Giải
Thân Văn Kư rất hay, cũng niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ. Tổ sư Pháp Tướng Duy Thức
Tông là Khuy Cơ đại sư chú giải kinh Di Đà, bộ
Di Đà Kinh Thông Tán Sớ do Ngài soạn, cực lực tán
thán pháp môn này.
Những vị đại
sư ấy tuy nói Không, nhưng chẳng phá Có, vẫn từ
Hữu Môn để thật sự tu tập, thật sự
hành tŕ, chẳng giống người hiện thời! Nói
thật ra, con người hiện thời tuy nói Không,
nhưng chẳng thể thật sự là Không. Nếu quư vị
không tin, chửi họ mấy câu, họ sẽ cáu giận
đôi ba ngày không nguôi! “Không” ở chỗ nào? Họ chẳng
có Không! Họ muốn Không, cũng chẳng
Không được, mà chẳng cần đến Có, hỏng
bét rồi! Vấn đề ấy nghiêm trọng lắm; cả
hai bên Có và Không đều hỏng bét, hết sức dễ
bị đọa lạc. Đại sư nói cách này nhằm
khiến cho kẻ lợi căn chẳng ĺa sự tướng,
chẳng rơi vào Ngoan Không (cái Không trơ trơ, chẳng
có ǵ, không phải là Chân Không). Đây là phá trừ mê hoặc
“chấp Lư, mê Sự” cho hàng lợi căn vậy!
(Sao) Quán thử,
sử tri Sự hữu Lư tồn, vô trệ Sự nhi mê Lư.
(鈔) 觀此,使知事有理存,毋滯事而迷理。
(Sao: Do thấy
điều này, nên làm cho kẻ ấy biết trong Sự có
Lư, chẳng vướng mắc nơi Sự rồi mê Lư).
Đối với kẻ thiên trọng
Sự tu, chẳng chú trọng nghiên cứu lư luận, bèn
khuyến khích họ, nếu có thời gian, có cơ hội,
hăy học nhiều hơn một chút sẽ có lợi. Nếu
chẳng có cơ duyên, quư vị chú trọng sự tướng
để tu tŕ cũng được. Giống như chúng
tôi trước đây thường nhắc tới một
đồ đệ của pháp sư Đế Nhàn, niệm
Phật văng sanh, đứng ra đi, đă chết rồi
vẫn đứng ba ngày, chờ thầy đến lo liệu
hậu sự. V́ ông ta không biết chữ,
tuổi tác cũng quá lớn, nên chẳng có cơ duyên nghe
kinh, nhưng là người rất thật thà, pháp sư
Đế Nhàn dạy ông ta niệm A Di Đà Phật, ông ta
liền thật thà niệm câu A Di Đà Phật này, niệm
ba năm bèn thành công. Thành tựu phi thường thù thắng,
nói thật ra, ông ta chỉ làm được bốn chữ
“thật thà niệm Phật”,
đúng là thật thà, thật sự làm được “chẳng
hoài nghi, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp”, đấy
mới gọi là “thật thà”. V́ thế, người ta niệm
ba năm bèn niệm thành công.
(Sao) Lợi căn giả, sùng lư
tánh nhi trước Không. Quán thử, sử tri Lư tại Sự
trung, vô việt Sự nhi cầu Lư.
(鈔) 利根者,崇理性而著空。觀此,使知理在事中,毋越事而求理。
(Sao: Kẻ lợi căn tôn
sùng Lư tánh, chấp Không. Do thấy điều này nên khiến
cho biết Lư ở trong Sự, chẳng bỏ qua Sự
để cầu Lư).
Khiến cho những người
ấy giác ngộ, Lư ở nơi đâu? Lư chẳng phải
là Không, nếu Lư ĺa khỏi Sự, sẽ chẳng thể
tồn tại. Sau khi quư vị hiểu rơ, sẽ càng thêm nỗ
lực nơi mặt Sự, đấy mới là người
thật sự hiểu Lư. Nếu hiểu rơ Lư, mà vứt bỏ
tu hành nơi mặt Sự, nhất định là đă hiểu
lầm Lư ấy, chẳng thật sự hiểu rơ Lư. Thật
sự hiểu rơ Lư, chắc chắn người ấy tu
hành chẳng khác ǵ người thật thà niệm Phật.
V́ sao? Người ấy triệt để liễu giải
chân tướng sự thật; v́ thế, “vô việt Sự nhi cầu Lư” (chẳng bỏ qua
Sự để cầu Lư), hăy cầu Lư ngay trong Sự. Lư
và Sự chẳng hai.
(Sao) Hựu thử kinh bổn vi
thác bỉ danh hiệu, hiển ngă tự tâm, dữ Thập
Lục Quán Kinh đồng ư.
(鈔) 又此經本為託彼名號,顯我自心,與十六觀經同意。
(Sao:
Hơn nữa, kinh này vốn nhờ vào danh hiệu ấy
để hiển lộ tự tâm của ta, có cùng một
ư nghĩa với Thập Lục Quán Kinh).
Có đoạn này là v́ sợ lại
có kẻ sẽ nêu nghi vấn: Nếu pháp môn Tịnh Độ
đều mong quy vào lư tánh, người tu hành chỉ cần
giác ngộ Lư trong tự tánh, chẳng phải là chuyện
có thể giải quyết xong xuôi hay sao? Cần ǵ phải
niệm Phật cầu sanh! Đại sư nói: “Thử kinh bổn vi thác bỉ
danh hiệu, hiển ngă tự tâm” (kinh này vốn nhờ
vào danh hiệu ấy để hiển lộ tự tâm của
ta), có thể thấy tín nguyện tŕ danh là một biện
pháp, là một phương pháp, nhằm mục đích minh
tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật, có cùng một đạo
lư, nguyên lư, mục tiêu, phương hướng với Thiền,
Giáo, và các tông. Đó chính là “pháp
môn tuy nhiều, chẳng hai, chẳng khác, môn nào cũng là bậc
nhất, chẳng có hạng nh́!”
Trong kinh Lăng Nghiêm, chúng ta thấy hai
mươi lăm vị Bồ Tát [nêu ra tâm đắc tu chứng];
trong hai mươi lăm môn Viên Thông, Đại Thế Chí
Bồ Tát đại diện pháp môn Niệm Phật, người
ta là đệ nhất, chẳng phải là đệ nhị.
Sau khi chúng ta đọc xong chương
Hai Mươi Lăm Môn Viên Thông phải giác ngộ. Đọc
kinh Lăng Nghiêm, hết thảy mọi người đều
biết Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông
Chương bậc nhất. Quư vị thấy Văn Thù Bồ
Tát chọn lọc, chẳng phải là chọn [pháp Viên
Thông] của Quán Thế Âm Bồ Tát hay chăng? Thật ra,
Ngài đă đặc biệt v́ chúng sanh trong thế giới
Sa Bà chúng ta mà chọn lựa pháp môn Nhĩ Căn của
Quán Thế Âm Bồ Tát. Trừ pháp ấy ra, pháp môn Niệm
Phật cũng được chọn lựa. Quư vị phải
nh́n cho ra [điều này]; nh́n từ chỗ nào? Nh́n ở
chỗ thứ tự sắp theo chiều thuận. Nếu
chiếu theo cách sắp xếp thông thường, thứ tự
sẽ là lục căn, lục trần, lục thức, bảy
đại, hai mươi lăm môn ấy. Theo thứ tự
thuận, pháp Nhĩ Căn Viên Thông của Quán Thế Âm Bồ
Tát phải xếp vào môn thứ hai, nhưng quư vị thấy
Ngài được xếp cuối cùng, ghép vào màn biểu diễn
chót. Đấy là ǵ? Pháp môn đặc biệt.
Pháp môn Niệm Phật cũng
chẳng theo thứ tự thuận, cũng được
xếp vào cuối cùng. Nói cách khác, kết thúc gồm hai màn.
Trong bảy đại, Đại Thế Chí Bồ Tát là
Căn Đại. Theo thứ tự thuận, bảy đại
tất nhiên là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến,
Thức; Căn là Kiến. Nếu theo thứ tự thuận,
Ngài phải xếp trước Di Lặc Bồ Tát, Di Lặc
Bồ Tát là người cuối cùng (tức Thức). Phải
biết Di Lặc Bồ Tát được xếp trước
Ngài, vị trí của hai Ngài đảo ngược, chúng ta
biết nó là pháp môn đặc biệt, chẳng phải là
pháp môn thông thường. V́ vậy, trong [sáu căn và] bảy
đại, chỉ có Quán Âm và Thế Chí là chẳng xếp
hàng theo thứ tự thuận, hai Ngài được xếp
vào hàng cuối cùng. Xếp vào cuối cùng, Đại Thế
Chí được xếp phía trước, Quán Thế Âm Bồ
Tát xếp đằng sau, do đạo lư nào? V́ pháp môn Niệm
Phật được mười phương vô lượng
vô biên thế giới, thập phương tam thế tất
cả hết thảy chư Phật, Bồ Tát hoằng
dương, hết thảy chúng sanh cùng tu, nên là pháp đệ
nhất. Nhĩ Căn Viên Thông, đặc biệt là đối
với thế giới Sa Bà chúng ta, xét theo hiện tiền
chúng sanh để giảng th́ trong sáu căn của chúng ta,
Nhĩ Căn nhạy bén nhất. Bởi lẽ đó, thuở
ấy đức Phật thuyết pháp chẳng dùng văn
tự, mà dùng ngôn ngữ. Mọi người đến
nghe giảng, nghe dễ hiểu rơ, nhưng nh́n th́ chẳng
dễ ǵ nh́n mà hiểu rơ được! Nhĩ Căn nhạy
bén hơn Nhăn Căn, [nên ngài Văn Thù] chọn lựa
như vậy, cho nên phải hiểu rơ!
Kinh Lăng Nghiêm tuyên
dương điều ǵ? Tuyên dương pháp môn Niệm
Phật. Pháp môn Niệm Phật phải dùng phương
pháp Nhĩ Căn Viên Thông của Quán Thế Âm Bồ Tát
để niệm, cách niệm ra sao? Phật hiệu từ
trong tâm sanh ra, miệng niệm ra tiếng, tai nghe [từng
âm thanh niệm Phật lọt] vào, đó gọi là “phản văn văn tự tánh,
tánh thành vô thượng đạo” (xoay cái Nghe để
nghe nơi tự tánh, tánh trở thành vô thượng đạo)
trong pháp môn Niệm Phật. Trước tiên, khuyên quư vị
niệm Phật, sau đấy, dạy quư vị
phương pháp dụng công, đó là tinh tủy của kinh
Lăng Nghiêm. Bao nhiêu người đọc tụng kinh
điển Đại Thừa đă sơ sót, chẳng biết
kinh Lăng Nghiêm giảng ǵ! Kinh Lăng Nghiêm thật sự
giảng về chuyện này! Kinh Hoa Nghiêm giảng ǵ? Kinh Hoa
Nghiêm đến cuối cùng khuyên quư vị niệm Phật
cầu sanh Tây Phương thế giới, giảng điều
này, mười đại nguyện vương dẫn về
Cực Lạc. V́ thế, quư vị đọc kinh Đại
Thừa, đối với những chỗ này, phải thấy
được đường nẻo, chỗ mấu chốt,
đừng nh́n vào chỗ náo nhiệt! Nắm được
đường nẻo, chúng ta mới hiểu: Đến
rốt ráo là dạy chúng ta làm ǵ? Tịnh Độ Tam Kinh
chuyên giảng Tây Phương Cực Lạc thế giới;
cho nên cổ đức nói: “Pháp
Hoa và Hoa Nghiêm đều là Tự Phần của kinh Di
Đà”. Cách nói ấy rất đúng, những kinh ấy
dẫn quư vị về Tịnh Độ. Kinh Lăng Nghiêm
cũng dẫn chúng ta về Tịnh Độ.
“Dữ
Thập Lục Quán Kinh đồng ư” (có cùng một ư nghĩa
với Thập Lục Quán Kinh), trong Quán Kinh Sớ Sao có nói:
Người tu hành cần phải biết, tu Quán th́ phải
dùng ǵ để Quán? Phải dùng tâm tánh, dùng tự tánh để
quán th́ mười sáu phép Quán mới có thể thành công, y báo
và chánh báo của Tây Phương Cực Lạc thế giới
mới có thể hiển thị rất rơ rệt. Nhờ
vào cảnh giới y báo và chánh báo của Tây Phương
để quán tâm tánh của chúng ta th́ tâm tánh mới có thể
hiển lộ. Đạo lư này đă được Trí Giả
đại sư viết trong bản chú giải Quán Vô
Lượng Thọ Phật Kinh Sớ, tôn giả Tứ
Minh (Tri Lễ đại sư) đă chú giải bản chú
giải ấy, tức bộ Quán Vô Lượng Thọ Phật
Kinh Sớ Diệu Tông Sao; đây là bản chú giải Quán
Kinh có uy tín nhất, nhưng bản [Quán Kinh] Sớ Sao ấy
khá sâu.
Lần này chúng ta in [Quán Kinh] Sớ
Sao Diễn Nghĩa, pháp sư Đế Nhàn đă hoàn toàn dựa
trên bộ Sớ Sao để viết ra cuốn sách này,
trích yếu những phần trọng yếu trong bộ
[Quán Kinh] Sớ Sao (Quán Kinh Diệu Tông Sao), lược bớt
những phần rườm rà, phức tạp, thêm vào những
ư nghĩa giải thích của chính Ngài để giảng
rơ. V́ vậy, trước hết, chúng ta đọc Sớ
Sao Diễn Nghĩa, sau đấy mới đọc Diệu
Tông Sao sẽ chẳng khó. Đây là sách rất hay để
tiếp dẫn hàng sơ cơ. Những đạo lư
như vậy, chúng ta đều đọc được.
Nói đến lư luận của Tịnh Độ th́ Diệu
Tông Sao giảng hết sức thấu triệt; v́ vậy,
người niệm Phật chẳng thể không đọc
Quán Kinh Diệu Tông Sao!
Pháp môn Niệm Phật, nói thật
ra là phát dương quang đại phép Quán cuối cùng trong
Thập Lục Quán Kinh, v́ phép Quán thứ mười sáu nói
về tŕ danh niệm Phật. Quán Kinh có tất cả
mười sáu phép Quán, mười hai phép Quán đầu là
quán tưởng, hoàn toàn có quan hệ vô cùng mật thiết
với tự tánh giác; v́ thế, đúng là nói về “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh
Độ”, Lư Sự viên dung. Phép Quán mười bốn,
mười lăm và mười sáu giảng về Tam Bối
Văng Sanh nói về Quán Tượng Niệm Phật. Cuối
cùng là Tŕ Danh Niệm Phật; v́ vậy, tŕ danh niệm Phật
cũng phát sanh từ lư luận trong Quán Kinh. Kinh Vô Lượng
Thọ và Tiểu Bổn Di Đà Kinh cực lực đề
xướng tŕ danh niệm Phật. Trong pháp môn Niệm Phật,
coi tŕ danh niệm Phật là bậc nhất.
Pháp Quán thứ mười sáu
tuy giảng về Hạ Phẩm Hạ Sanh, nhưng chư
vị phải biết: Nói đúng ra, tuy đức Phật
có tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn,
nhưng chẳng thể độ kẻ Hạ Phẩm Hạ
Sanh, chẳng có cách nào! Hạng người này nghiệp chướng quá nặng, lập tức sẽ
đọa A Tỳ địa ngục. Tội nghiệp sâu
nặng như vậy, chẳng có cách nào, pháp môn nào cũng
chẳng độ được, vẫn c̣n có pháp môn này
có thể độ họ, quư vị sẽ hiểu pháp môn
này tốt đẹp, pháp môn này mới là pháp môn bậc nhất.
Do vậy, chương Hạ Phẩm Hạ Sanh trong mười
sáu phép Quán là màn chót, mới là pháp môn bậc nhất
trong hết thảy các pháp môn. V́ có pháp môn này th́ mới có thể
độ trọn hết thảy chúng sanh. Nếu chẳng
có pháp môn này, vẫn có những chúng sanh không độ
được, chẳng có cách cứu! Quư vị mới biết
sự thù thắng và chỗ hay của pháp môn này.
V́ vậy, kinh Vô Lượng Thọ
và kinh Di Đà đă đặc biệt phát dương quang
đại pháp môn này. Sử dụng pháp môn này, có thể nói
là chẳng có ai không được độ, chẳng có
ai không thành Phật. Từ xưa, các vị tổ sư
đại đức đă tán thán pháp môn này là Bi Tâm triệt
để của Phật, hiển thị trí huệ viên
măn, đức năng viên măn của Phật, vạn đức
vạn năng là thật, chẳng giả, chẳng phải
là lời lẽ tán thán, mà xác thực là như vậy. Từ
hai bộ kinh này, chúng ta có thể thấy tŕ danh niệm Phật
quả thật là pháp môn bậc nhất trong tất cả
các pháp môn. V́ nó có thể phổ độ hết thảy
chúng sanh, tất cả các pháp môn khác chẳng độ
được, pháp môn này có thể độ. Nay chúng ta chọn
lựa pháp môn này, quyết định chẳng chọn lầm.
Ngày hôm nay đă hết thời gian rồi!
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 50 hết
[1] Kinh Duy Ma (Vimalakīrti Nirdeśa
Sūtra), c̣n gọi là Bất Tư Nghị Giải Thoát
Kinh, tường thuật cuộc thảo luận pháp môn Bất
Nhị giữa cư sĩ Duy Ma với các vị Thanh
Văn và đại Bồ Tát. Cư sĩ Duy Ma gọi
đầy đủ là Duy Ma Cật, vốn là Kim Túc Như
Lai hóa thân, thị hiện trong nước Tỳ Xá Ly (Vesāli) của thế giới Sa Bà
giúp Thích Ca Mâu Ni Phật giáo hóa. Chữ Duy Ma Cật có nghĩa
là “danh xưng không bị ô nhiễm”, nên thường
được dịch sang tiếng Hán là Tịnh Danh hoặc
Vô Cấu Xưng. Kinh này có đến bảy bản dịch,
nhưng đă thất truyền bốn bản. Bản
được lưu truyền rộng nhất là bản
Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh do ngài Cưu Ma La Thập dịch,
c̣n bản Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh của ngài Huyền
Trang dịch hầu như chỉ dành để tham khảo.
[2] Chữ “học
thuật” được dùng ở đây để chỉ
những quan điểm luân lư, đạo đức giống
như Nho và Phật, chứ không có nghĩa là những
trường phái triết học, khoa học như trong hiện
thời.
[3] Pháp sư Bảo Tĩnh (寶靜), thường bị đọc trại
thành Bảo Tịnh trong các dịch phẩm lưu hành từ
trước đến nay, là người Ngu Huyện, tỉnh
Chiết Giang. Sư sanh năm 1899 (năm Quang Tự 25), cha
Ngài là doanh nhân, từng đảm nhiệm chức vụ
khoa trưởng huyện Cẩn đầu thời Dân Quốc.
Từ bé, Sư đă tỏ ra đĩnh đạc, điềm
đạm, trầm mặc, ít nói, thường mang ư tưởng
xuất gia. Đến năm Sư mười chín tuổi,
nhằm ngày mồng Tám tháng Chạp bèn xuất gia tại
chùa Linh Ẩn huyện Phụng Hóa. Xuống tóc chỉ một
năm, Ngài được thầy ưu ái cho thọ Cụ
Túc giới tại chùa Phương Quảng núi Thiên