A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 51

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 101

 

Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm tám mươi chín:

 

      (Sao) Hựu Bồ Tát do nghi cận Phật, như tiền Giáo Khởi trung thuyết, tắc dĩ ngộ tâm giả, diệc chánh ưng niệm Phật cầu sanh, hà túc nghi dă.

      () 又菩薩猶宜近佛,如前教起中說,則已悟心者,亦正應念佛求生,何足疑也。

      (Sao: Lại nữa, Bồ Tát vẫn c̣n nên thân cận Phật, như trong phần Giáo Khởi ở phía trước đă nói: Người đă ngộ tâm cũng phải nên niệm Phật cầu sanh, há c̣n ngờ ư?)

 

       Theo Quán Kinh, người tu hành phải biết phép Quán hoàn toàn nương vào tâm tánh, dùng tâm tánh của chúng ta để quán y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ cảnh giới Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ có thể hiển thị rơ ràng, minh bạch. Ngược lại, qua sự hiển thị cảnh giới y báo và chánh báo, cũng có thể thấy được tâm tánh của chính chúng ta hiện tiền, nhà Thiền gọi [điều ấy] là “minh tâm kiến tánh”. Đây là lư luận hết sức trọng yếu trong Quán Kinh. Phương pháp trong kinh Vô Lượng Thọ và kinh Di Đà c̣n thiện xảo và thuận tiện hơn Quán Kinh, chẳng cần dùng đến y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Cách ấy (cách quán trong Quán Kinh) cũng khá rắc rối, [c̣n kinh Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ] dùng một câu danh hiệu, do một câu danh hiệu ấy mà hiển lộ chân tánh của chính ḿnh. Do vậy, kinh dạy quư vị phải “hệ tâm bất loạn” để niệm câu danh hiệu ấy. Xét về ư nghĩa chung th́ [quán tưởng và tŕ danh] giống nhau, nhưng khó hay dễ khác biệt rất lớn. Tŕ danh niệm Phật dễ hơn quán tưởng rất nhiều!

      Giảng tới đoạn này, sợ sẽ có người muốn hỏi: “Minh tâm kiến tánh là người khai ngộ. Kẻ chưa khai ngộ đáng nên niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ; người đă khai ngộ dường như không cần thiết, không cần phải cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ?” V́ vậy, đại sư mới viết một đoạn như thế này: Bồ Tát vẫn phải thường thân cận Phật Đà! Từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy Văn Thù, Phổ Hiền và bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ đều là hạng minh tâm kiến tánh, các Ngài vẫn cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới thân cận A Di Đà Phật; có thể thấy ở đây Liên Tŕ đại sư đă nói chẳng sai. Trong phần Giáo Khởi Nhân Duyên ở phía trước cũng nói rất nhiều. “Tắc dĩ ngộ tâm giả”, tức là người đă minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ, “chánh ưng niệm Phật cầu sanh, hà túc nghi dă” (cũng nên niệm Phật cầu văng sanh, há c̣n ngờ ư). Kẻ chưa kiến tánh mê hoặc, điên đảo, có lúc cũng chẳng mong văng sanh Tịnh Độ; hàng kiến tánh Bồ Tát tuyệt đại đa số đều mong văng sanh Tịnh Độ; từ hội Hoa Nghiêm, chúng ta thấy được điều này. Bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ trong thế giới Hoa Tạng đều văng sanh; đây là một chứng cứ rất rơ rệt!

 

      (Sao) Hựu Duy Ma kinh vân: “Tuy tri chư Phật quốc, cập dữ chúng sanh không, nhi thường tu Tịnh Độ, giáo hóa ư chúng sanh”.

      () 又維摩經云:雖知諸佛國,及與眾生空,而常修淨土,教化於眾生。

      (Sao: Hơn nữa, kinh Duy Ma dạy: “Tuy biết các cơi Phật, và chúng sanh đều Không, nhưng thường tu Tịnh Độ, giáo hóa các chúng sanh”).

 

     Đây là dẫn chứng, dẫn bốn câu kinh văn từ kinh Duy Ma để làm chứng. “Tuy tri chư Phật quốc, cập dữ chúng sanh Không”, đấy là như kinh Bát Nhă thường nói: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”, đấy là tinh tủy của kinh Bát Nhă. Đó là nói về Lư, Sự có phải là như vậy hay chăng? Sự thật xác thực là như vậy. Thế nhưng, chẳng phải là hàng kiến tánh Bồ Tát không thấy chân tướng sự thật ấy, chân tướng sự thật quả thật đúng như hai câu kinh ấy đă nói; thế mà Bồ Tát vẫn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, dùng phương pháp ấy để tự hành, dạy người. Từ hai câu ấy, chúng ta hiểu rơ mười phương ba đời hết thảy chư Phật, Bồ Tát dùng phương pháp ǵ để tự ḿnh thành Phật và giúp đỡ chúng sanh thành Phật? Chính là pháp môn Niệm Phật! Bốn câu kinh văn ấy đă giảng rơ ràng. Do vậy biết Tánh và Tướng chẳng mâu thuẫn nhau, mà viên dung, là một, chẳng hai. Chúng ta thường thấy Không Tông và Hữu Tông dường như xung đột, đó là cái nh́n của phàm phu chúng ta, chứ đối với người thật sự nhập cảnh giới, thông đạt sẽ chẳng như vậy! Một chính là hai, hai chính là một, Tánh và Tướng quả thật là một.

 

      (Sao) Cố hoạn bất ngộ tự tâm nhĩ.

      () 故患不悟自心耳。

      (Sao: Cho nên lo chẳng ngộ tự tâm mà thôi!)

 

      Chúng ta lo là lo chẳng khai ngộ. C̣n đang mê hoặc, điên đảo, điều này đáng để chúng ta lo âu!

 

      (Sao) Ngộ tâm, tắc vô nhất pháp xuất ư tâm ngoại, tức tâm, tức cảnh, tức cảnh, tức tâm, văng sanh Tịnh Độ, nguyện kiến Di Đà, bất ngại duy tâm, hà phương tự tánh?

      () 悟心,則無一法出於心外,即心即境,即境即心,往生淨土,願見彌陀,不礙唯心,何妨自性。

      (Sao: Ngộ tâm th́ không có pháp nào ở ngoài tâm, tâm chính là cảnh, cảnh chính là tâm. Văng sanh Tịnh Độ, nguyện thấy Di Đà, chẳng trở ngại duy tâm, há trở ngại tự tánh?)

 

      Nói thật ra, tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị thấy y báo và chánh báo trang nghiêm trong thế giới Tây Phương là thấy tự tánh. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong thế giới ấy chính là Tướng Phần trong tự tánh của chúng ta; chúng chính là h́nh dạng của Chân Như bổn tánh, điều ấy cũng được kinh gọi là “chư pháp Thật Tướng” (Thật Tướng của các pháp). Thật Tướng: Tướng tức là Tánh, Tánh tức là Tướng. “Tức tâm tức cảnh”, tâm và cảnh như một, tâm và cảnh chẳng hai. Chuyện này thật sự rất khó lănh hội, v́ sao khó lănh hội? Chúng ta mê nơi Tướng, đối với cả hai bên Tánh và Tướng đều mê, cho nên chẳng dễ ǵ lănh hội được! Trong các buổi giảng, chúng tôi thường dùng chuyện nằm mộng để tỷ dụ, v́ thời gian nằm mộng ngắn ngủi, sau khi tỉnh giấc, quư vị giác ngộ, nhưng trong khi nằm mơ, quư vị chẳng giác ngộ. Nếu giác ngộ trong mộng sẽ rất thú vị, sẽ giống như người đă khai ngộ. Quư vị nghĩ xem: Tất cả cảnh giới trong mộng có phải do tâm quư vị biến ra hay chăng? Nếu chúng ta coi cảnh giới như mộng cảnh để nói th́ cái có thể tạo ra giấc mộng là tâm của chính quư vị, cảnh giới trong mộng là Tướng Phần do tâm biến hiện trong khi đang nằm mộng; toàn bộ mộng cảnh chẳng phải là tâm của quư vị hay sao? Toàn bộ cái tâm chẳng phải là mộng cảnh hay sao? Tâm và mộng cảnh là một, chẳng hai! Ĺa mộng chẳng có tâm, ĺa tâm không có mộng, tâm và cảnh như nhau. Chúng ta suy nghĩ những điều này thấy cũng có lư một chút, vẫn c̣n có thể nghĩ thông suốt.

      Quư vị thật sự nghĩ thông suốt, lại dùng Lư ấy để quan sát cảnh giới hiện thực; cảnh giới ấy cũng giống như thế. Nếu trong cảnh giới, quư vị thấy tất cả các cảnh đều do tâm ta biến, cảnh chẳng ĺa tâm, tâm chẳng ĺa cảnh, quư vị sẽ khai ngộ, minh tâm kiến tánh. Nói cách khác, không cần đợi về Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị đă kiến tánh. Nhưng minh tâm kiến tánh trong thế giới này, chỉ thấy được một phía là uế độ trong tánh của chúng ta. Nói cách khác, [chỉ thấy] được phía hiện tượng ác trong tâm tánh. Tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ thấy trong tâm tánh chúng ta c̣n có phương diện tốt đẹp. Giống như chúng ta nằm mộng, có lúc giấc mộng rất ngọt ngào, có lúc gặp ác mộng. Chúng ta kiến tánh trong thế giới này, giống như gặp ác mộng, trong ác mộng, hiểu tâm và cảnh như nhau; văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là giấc mộng ngọt ngào, cũng biết tâm và cảnh như nhau. Khi ấy, quả thật, tận hư không trọn pháp giới là một tâm. Phật pháp nói đến tột cùng là dạy chúng ta nhập cảnh giới ấy. Bất đắc dĩ, đặt tên cho cảnh giới ấy là Nhất Chân pháp giới. Hiện thời, chúng ta không thấy được, do đang mê nơi cảnh giới nên cũng chẳng có cách nào khai ngộ; đó là v́ tâm chúng ta không thanh tịnh, trong tâm phân biệt, chấp trước, có vọng tưởng, có phiền năo. V́ thế, quư vị chẳng thể thấy chân tướng sự thật.

      Ở đây, đại sư bảo: “Văng sanh Tịnh Độ, nguyện kiến Di Đà, bất ngại duy tâm” (Văng sanh Tịnh Độ, nguyện thấy Di Đà, chẳng trở ngại duy tâm). Nói thật ra, ở nơi ấy, không chỉ chẳng trở ngại duy tâm, mà c̣n sẽ chứng “duy tâm Tịnh Độ”, chứng thực “tự tánh Di Đà”, nói thông tục là “thành Phật chứng quả”. Chứng quả là chứng ǵ vậy? Chứng đắc rơ rệt Nhất Chân, tâm và tánh là một, chẳng hai, chứng điều ấy, thấy điều ấy. Đấy là quư vị đă chứng đắc.

 

      (Sao) Hựu vấn: Tích nhân vị Hoa Nghiêm cực giáo, khả đắc giai ước Quán Hạnh, minh chư pháp môn. Phương Đẳng nhi hạ, hà đắc diệc ước Quán Hạnh?

      () 又問:昔人謂華嚴極教,可得皆約觀行,明諸法門,方等而下,何得亦約觀行。

(Sao: Lại hỏi: Người xưa nói Hoa Nghiêm là giáo pháp cùng tột, nên [khi giảng giải kinh ấy] có thể dựa vào Quán Hạnh để giảng rơ các pháp môn, c̣n đối với các kinh thuộc loại Phương Đẳng trở xuống, cớ sao cũng dùng Quán Hạnh [để giải thích]?)

 

      Hỏi hay lắm! Câu hỏi này là giả thiết, giả sử có một người nêu ra câu hỏi như vậy! Trong kinh Phật, Hoa Nghiêm là Nhất Thừa Viên Giáo, được gọi là “xứng tánh nhi đàm” (稱性而談: đàm luận xứng tánh), hoàn toàn là ngôn ngữ, văn tự lưu lộ từ Chân Như bổn tánh sau khi đức Phật đă chứng đắc chân tánh, từng câu, từng chữ đều là chân tánh, nên gọi là “xứng tánh chi đàm” (稱性之談: lời luận định xứng tánh). Cũng chính v́ lẽ đó, hết thảy các pháp có thể “quán tâm xứng Lư”, trong mỗi đoạn [chú giải kinh văn], Liên Tŕ đại sư đều có viết một đoạn Xứng Lư, chẳng hạn như đoạn này là Xứng Lư. Xứng Lư nghĩa là nói tương ứng với tánh. Kinh Hoa Nghiêm được nói tương xứng với tánh, mọi người chẳng bàn căi điều này, họ đều biết, đều tôn trọng kinh Hoa Nghiêm là đại pháp Nhất Thừa Viên Giáo.

      “Phương Đẳng nhi hạ” (từ Phương Đẳng trở xuống): Những kinh Đại Thừa thông thường dường như chẳng cao sâu như thế, cớ sao cũng có thể xếp vào loại Quán Hạnh giống như Hoa Nghiêm để nói? Kinh Di Đà thuộc thời Phương Đẳng; nói cách khác, chớ nên dùng cung cách phán định kinh Hoa Nghiêm để giảng bộ kinh này! [Ở đây, cớ sao Liên Tŕ đại sư] đàm luận xứng tánh, sau mỗi đoạn [chú giải kinh văn] đều có một đoạn Xứng Lư, tức là [giải thích đoạn ấy] tương xứng với Tánh [như thế nào]. Nói thật ra, đối với chuyện này, Liên Tŕ đại sư đă tốn rất nhiều tâm tư, Ngài sống vào cuối đời Minh, cách chúng ta gần sáu trăm năm. Trong các tự viện tùng lâm tại Trung Quốc thuở ấy, phong khí nhà Thiền rất thịnh hành, nếu trực tiếp phê b́nh sẽ khiến cho rất nhiều người khó chịu, nhưng những kẻ b́nh phàm lại coi thường, rẻ rúng Tịnh Độ. V́ thế, Ngài phải một phen khổ tâm, hoàn toàn dùng kinh Hoa Nghiêm để giải thích kinh Di Đà. Do lẽ đó, trong Di Đà Kinh Sớ Sao có rất nhiều chỗ trích dẫn kinh Hoa Nghiêm. Nói cách khác, Ngài đă ngấm ngầm, chẳng công khai, đề cao kinh Di Đà, dùng ǵ để đề cao? Dùng Hoa Nghiêm để đề cao, đề cao đến mức [kinh Di Đà] c̣n cao hơn kinh Hoa Nghiêm, khiến cho mọi người hiểu được tầm quan trọng của pháp môn này, hy vọng những kẻ học Thiền sẽ tỉnh ngộ. Thiền chẳng thể thành công, bèn quay về niệm Phật, chắc chắn thành tựu! Đấy là một phen khổ tâm của Ngài.

      V́ thế, Ngài viết Sớ Sao quả thật đă hết sức mềm dẻo, nhân nhượng, ngơ hầu đạt được lợi ích toàn cuộc, khác hẳn Ngẫu Ích đại sư. Ngẫu Ích đại sư sống vào thời đại trễ hơn Ngài. Liên Tŕ đại sư hoằng dương Tịnh Độ đă tạo thành cơ sở tương đối khá, Ngẫu Ích đại sư thừa dịp phát huy rực rỡ, thuận tiện hơn nhiều! Chẳng giống như thời đại của tổ Liên Tŕ, trong thời đại ấy, áp lực bên ngoài rất lớn; do vậy, lúc soạn Sớ Sao, Tổ phải cực lực dùng Nhất Thừa Viên Giáo Hoa Nghiêm và Pháp Hoa để chỉ bày sự vĩ đại và chẳng thể nghĩ bàn của pháp môn này. [Từ chuyện này], ta cũng có thể thật sự thấy được học vấn và đạo đức của Tổ, nếu Ngài chẳng phải là bậc đại thông gia, quả thật sẽ không thể làm được! Có thể thấy Liên Tŕ đại sư tin sâu Tịnh Độ, y theo phương pháp này để tu hành, hoằng dương pháp môn này, chẳng phải là mù quáng! Từ hết thảy các kinh luận Đại Thừa, Ngài đă quyết trạch[1] pháp môn này. Chúng ta đọc truyện kư của Ngài cũng có thể thấy được chuyện ấy. Dưới đây là câu trả lời:

 

      (Sao) Cổ đức đáp vân: Chư liễu nghĩa bất liễu nghĩa giáo, giai thị liễu nghĩa, dĩ duy nhất tâm cố. Cứ thử, tắc viên cơ đối giáo, hà giáo bất viên? Lư tâm thiệp Sự, hà Sự bất Lư?

      () 古德答云:諸了義不了義教,皆是了義,以唯一心故。據此,則圓機對教,何教不圓,理心涉事,何事不理。

      (Sao: Cổ đức đáp: “Các giáo pháp liễu nghĩa và bất liễu nghĩa đều là liễu nghĩa, v́ chỉ là nhất tâm”. Dựa trên điều ấy, đối với người căn cơ viên măn, có giáo pháp nào chẳng viên? Dùng cái tâm xứng Lư để lănh hội Sự, có Sự nào chẳng phải là Lư?)

 

      Đoạn này đă giảng trọn hết Phật pháp. Nếu hỏi Phật pháp là ǵ, dùng mấy câu này để đáp, sẽ trả lời rất viên măn. Nói theo cách này, không chỉ kinh Phương Đẳng, mà chẳng có một pháp nào không phải là Phật pháp. Quư vị nói xem: Có pháp nào chẳng phải là Phật pháp? Phật pháp là ǵ? Duy tâm sở hiện gọi là Phật pháp. Có pháp nào chẳng do duy tâm sở hiện? Pháp nào cũng đều là! Giống như nằm mộng, tất cả cảnh giới trong mộng hoàn toàn do tâm biến hiện, tuyệt đối chẳng có cảnh giới nào không do tâm quư vị biến hiện. Có cảnh giới nào đến từ bên ngoài cái tâm của quư vị hay chăng? Không có! Toàn là vật do tâm của chính quư vị biến hiện. Nếu trong mộng, quư vị bỗng nhiên giác ngộ, tâm ta là ǵ? Tâm ở trong thân thể ta, những ǵ ở ngoài thân thể chẳng phải là tâm, [hiểu như vậy] th́ sai mất rồi! Hết thảy mọi người trong giấc mộng do chính quư vị biến ra, tuyệt đối không thể nói họ chẳng dính líu ǵ đến quư vị! Quư vị nằm mộng thấy hết thảy mọi người, kẻ ta ưa thích lẫn kẻ ta chán ghét đều do chính quư vị biến ra! Trong mộng, quư vị mộng thấy hết thảy mọi vật, chúng cũng do chính quư vị biến ra, chẳng có ǵ không do chính ḿnh biến! Do vậy, nói: Ngoài pháp chẳng có tâm, ngoài tâm chẳng có pháp.

      Tận hư không, trọn pháp giới mười phương ba đời hết thảy vạn pháp toàn là vật được biến hiện bởi tự tâm của chúng ta. Quư vị nói xem: Chân Như bổn tánh ở chỗ nào? Tùy tiện, lấy bất cứ pháp nào cũng đều được, chẳng có một pháp nào không phải! Giống như hỏi chúng ta về kiến tánh, tánh ở nơi đâu? Giống như quư vị nằm mơ, đang trong lúc nằm mơ, hỏi quư vị “tâm của anh ở đâu?” Tùy tiện lấy vật nào cũng được! Bởi lẽ, hết thảy các pháp thảy đều do tâm tánh của quư vị biến ra! Đó gọi là “dĩ kim tác khí, khí khí giai kim” (dùng vàng chế đồ vật, món nào cũng đều là vàng). Chúng ta dùng vàng ṛng chế thành mấy ngàn món, có đến mấy vạn h́nh thức, h́nh dạng, đủ mọi thứ khác biệt, vàng ở nơi đâu? Tùy tiện lấy bất cứ vật nào cũng đều là vàng, chẳng có ǵ không phải! Do vậy, có kẻ hỏi: “Chân Như bổn tánh ở đâu?” Không có một pháp nào chẳng do Chân Như bổn tánh biến ra, hết thảy các pháp đều là Tướng Phần, tức là h́nh trạng của Chân Như bổn tánh. Tướng là Tánh, Tánh là Tướng, cho nên chẳng có pháp nào chẳng phải là Chân Như bổn tánh! Nếu quư vị đă hiểu th́ đó là “kiến tánh” được nói trong kinh Phật, sách vở thế gian có giống như vậy hay không? Đương nhiên cũng là như vậy. Phật giáo giảng như vậy, các giáo pháp ngoại đạo có giảng như vậy hay không? Thảy đều là như vậy, chẳng có một pháp nào không phải. V́ thế, đối với cảnh giới, tâm quư vị b́nh đẳng, tâm b́nh đẳng liền phóng quang minh, trí huệ liền sanh khởi.

      Hiện nay, chúng ta bất b́nh đẳng trong hết thảy cảnh giới, đấy là mê, bất giác. Giác là ǵ? Tâm b́nh đẳng là giác. Chẳng mê là ǵ? Tâm b́nh đẳng chẳng mê. Vẫn c̣n bất b́nh đẳng th́ là mê hoặc, điên đảo. V́ vậy, bản thân chúng ta phải giác ngộ, đăi người, xử sự, tiếp vật, tâm chúng ta có b́nh đẳng hay không? B́nh đẳng th́ quư vị là Bồ Tát, là Phật, thật sự hành Bồ Tát đạo. Do vậy, trong tâm chính ḿnh phải thật sự b́nh đẳng; nhưng đăi người, tiếp vật, xử sự, phải dùng cái tâm b́nh đẳng để tùy thuận sự bất b́nh đẳng trong thế gian. Chẳng hạn như người ta hỏi: “Cái ǵ đây?” [Quư vị trả lời]: “Đấy là một quyển sách”. Nói “một quyển sách” tức là chẳng b́nh đẳng, nó không có tên mới là b́nh đẳng! Ta dấy lên một niệm sẽ chẳng b́nh đẳng; nhưng tâm ta b́nh đẳng; v́ kẻ khác gọi nó là sách, ta thuận theo kẻ khác mà gọi nó là sách, chẳng phải là ta phân biệt, chấp trước. [Nói] “đây là sách” là v́ kẻ khác phân biệt, chấp trước thứ này là sách, nên ta cũng thuận theo sự phân biệt và chấp trước của người ấy mà phân biệt, chấp trước, chính ḿnh chẳng phân biệt, chấp trước. Do vậy, tâm địa tỏa quang minh, tâm địa thanh tịnh, thấy chân tướng sự thật. Nếu trong tâm chính ḿnh thật sự có chấp trước, phân biệt, hỏng rồi! Đó là mê, chắc chắn là chưa ngộ, chắc chắn tâm và cảnh, Tánh và Tướng chưa thể dung hợp thành một! Phật pháp phải học từ chỗ này, mà cũng cầu từ chỗ này!

     Cổ nhân nói: “Viên nhân thuyết pháp, vô pháp bất viên” (người căn tánh viên măn thuyết pháp, không pháp nào chẳng viên), hết thảy các kinh hoàn toàn là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Trong khi giảng tựa đề kinh Hoa Nghiêm, chúng tôi đă nói điều này: Kinh Hoa Nghiêm là danh xưng chung của hết thảy các kinh, không chỉ gồm trọn những ǵ đức Phật đă nói, mà hết thảy các pháp thế gian không do đức Phật nói cũng đều được bao gồm toàn bộ trong danh từ này th́ ư nghĩa ấy mới được nói rất viên măn. Ngài (tổ Liên Tŕ) đă dùng đoạn thứ nhất để tŕnh bày [các ư nghĩa trong tựa đề kinh], ư nghĩa ấy rất sâu. Giảng tựa đề Phật Thuyết A Di Đà Kinh đến đây là hết một đoạn.

 

      Nhị, dịch nhân.

      二、譯人。

      (Hai, người dịch).

 

      Giảng về người phiên dịch [được ghi trong phần tựa đề].

 

      Diêu Tần Tam Tạng pháp sư Cưu Ma La Thập dịch.

      秦三藏法師鳩摩羅什譯。

      (Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch vào thời Diêu Tần).

 

      Phần Nhân Đề (tựa đề nói về người phiên dịch) gồm có bốn đoạn: Đoạn thứ nhất là Diêu Tần, chỉ thời đại, niên đại. Trong lịch sử Trung Quốc, có tất cả bốn triều đại chọn Tần làm quốc hiệu; v́ thế, phải lấy họ của hoàng đế đặt trước [chữ Tần] th́ mới biết là triều đại Tần nào! Tại Trung Quốc, người đầu tiên lấy chữ Tần làm quốc hiệu chính là Tần Thủy Hoàng. Tần Thủy Hoàng họ Doanh nên [triều đại của ông ta] gọi là Doanh Tần. Người thứ hai là Phù Kiên thành lập một nước Tần tại địa bàn Sơn Tây, Thiểm Tây và Cam Túc, lịch sử gọi triều đại này là Phù Tần. Sau khi thua trận Ph́ Thủy, Phù Kiên bị thuộc hạ là tướng quân Diêu Trành phát động chánh biến giành ngôi hoàng đế, quốc hiệu vẫn gọi là Tần, nên [sử gọi triều đại này là] Diêu Tần, thuộc thời đại Đông Tấn.

      “Tam Tạng pháp sư” là học vị; nay chúng ta nói đến các danh xưng học vị như Tiến Sĩ, Học Sĩ (Cử Nhân) v.v... Vị pháp sư này có khả năng thông đạt Tam Tạng; nói cách khác, Ngài là bậc chuyên gia về Phật học, thông đạt Kinh, Luật, Luận Tam Tạng. Chỉ hiểu giới luật, chúng ta sẽ gọi Ngài là Luật Sư. Chỉ hiểu Luận, chúng ta gọi Ngài là Luận Sư, đều là chưa thể hoàn toàn thông đạt. Vị hoàn toàn thông đạt được gọi là Tam Tạng Pháp Sư, có địa vị cao nhất trong Phật giáo. Tam Tạng Pháp Sư đúng là Tiến Sĩ, học rộng, nghe nhiều, học vị như vậy đó. Phàm những vị dịch kinh đều là Tam Tạng Pháp Sư, thông đạt hết thảy, chẳng đến nỗi dịch sai ư nghĩa. Cưu Ma La Thập là tên của pháp sư, “dịch” là phiên dịch.

 

      (Sớ) Diêu Tần tiêu đại.

      () 姚秦標代。

      (Sớ: Chữ Diêu Tần chỉ rơ thời đại).

 

      Chỉ ra thời đại.

 

      (Sớ) Tam Tạng hiển đức.

      () 三藏顯德。

      (Sớ: Chữ “Tam Tạng” nêu rơ đức hạnh của Ngài).

 

      Nêu bày đức năng: Ngài thông đạt Tam Tạng.

 

      (Sớ) La Thập xuất danh.

      () 羅什出名。

      (Sớ: “La Thập” là nói ra tên của Ngài)

 

      “La Thập” là nêu rơ danh hiệu của Ngài.

 

      (Sớ) Dịch chi nhất tự, kết thành năng phiên nhân dă.

      () 譯之一字,結成能翻人也。

      (Sớ: Một chữ “dịch” để kết thúc, nhằm chỉ rơ người phiên dịch [kinh này là ai]).

 

      Chữ “dịch” chỉ người phiên dịch.

 

      (Sao) Xuất xứ thỉ mạt bị tiền, tư bất trùng lục.

      () 出處始末備前,茲不重錄。

      (Sao: Xuất xứ [của bản dịch này] đă được tŕnh bày cặn kẽ từ đầu đến đuôi trong phần trước, ở đây chẳng lặp lại).

 

      Kinh này được dịch hai lượt: Lần đầu tiên do Cưu Ma La Thập đại sư dịch, lần thứ hai do Huyền Trang đại sư dịch dưới đời Đường, trong phần trước đă từng nói rồi, không cần lặp lại.

 

      (Sao) Cổ xưng Thập sư, thất Phật dĩ lai dịch kinh sư dă, do thị lược cử, thả dĩ thất Phật vi ngôn nhĩ.

() 古稱什師,七佛以來譯經師也,猶是略舉,且以七佛為言耳。

      (Sao: Cổ nhân xưng tụng La Thập đại sư là vị thầy dịch kinh của bảy đức Phật th́ vẫn là nói đại lược, nên mới nói “bảy đức Phật” mà thôi).

 

      Trong phần Huyền Nghĩa thuộc quyển thứ nhất của bộ Sớ Sao đă giới thiệu tỉ mỉ tiểu sử La Thập đại sư, ở đây chẳng nhắc lại; nhưng giảng vào kinh văn, trong phần Nhân Đề, chẳng thể không giới thiệu, cho nên bổ sung thêm vài ư nghĩa. Cổ đức nói Cưu Ma La Thập đại sư trong quá khứ là người phiên dịch [kinh điển] của bảy đức Phật, đời đời kiếp kiếp phát tâm hoằng pháp lợi sanh, làm công tác phiên dịch; cho nên Ngài dịch vô cùng hay! Nói như vậy vẫn là nói đại lược, v́ chỉ nêu ra bảy vị Phật gần nhất.

 

      (Sao) Phù Tỳ Bà chí ư Thích Ca, thủ vĩ chỉ kinh nhị kiếp.

      () 夫毗婆至於釋迦,首尾止經二劫。

     (Sao: Do từ Tỳ Bà Thi Phật cho đến Thích Ca Mâu Ni Phật, từ đầu đến đuôi chỉ là hai kiếp).

 

      Từ Tỳ Bà Thi Phật (Vipasyin) cho đến Thích Ca Phật, ba vị Phật cuối cùng trong kiếp trước đó (tức Trang Nghiêm Kiếp), khởi đầu kiếp này (Hiền Kiếp) có bốn vị Phật, hợp thành bảy vị Phật, kể từ đầu đến đuôi là hai kiếp. Tỳ Bà Thi Phật: Tỳ Bà Thi dịch sang tiếng Hán là Thắng Quán, nghĩa là “quán chiếu thù thắng”. Vị Phật thứ hai là Thi Khí Phật (Sikhin), Thi Khí dịch sang tiếng Hán là Tŕ Kế, Kế () là đầu tóc kết thành búi, Tŕ () có nghĩa là ǵn giữ. Vị thứ ba là Tỳ Xá Phù Phật (Visvabhu), Tỳ Xá Phù dịch sang tiếng Hán là Biến Nhất Thiết Tự Tại (trọn khắp hết thảy đều tự tại). Vị thứ tư, tức vị Phật thứ nhất trong Hiền Kiếp (Bhadra-kalpa) là Câu Lưu Tôn Phật (Krakucchanda), Câu Lưu Tôn dịch nghĩa tiếng Hán là Sở Ưng Đoạn Dĩ Đoạn (những ǵ đáng đoạn đă đoạn xong), như Kiến Tư, Trần Sa, Vô Minh phiền năo, Ngài đều đoạn hết, [danh hiệu Phật] có ư nghĩa ấy. Vị Phật thứ hai [trong Hiền Kiếp, tức vị Phật thứ năm trong bảy vị Phật] là Câu Na Hàm Mâu Ni Phật (Kanakamuni), dịch nghĩa là Kim Sắc Tiên (vị tiên thân vàng). Vị Phật thứ ba [trong Hiền Kiếp] là Ca Diếp Phật (Kasyapa), dịch nghĩa là Ẩm Quang Phật. Quang minh của Ngài vô cùng chói lọi, khi Phật hiện diện, hết thảy những ánh sáng khác đều chẳng thể thấy, giống như ban ngày dưới ánh mặt trời mà bật đèn điện, chẳng thấy ánh sáng của đèn, chỉ thấy ánh sáng mặt trời. V́ quang minh của Phật quá lớn, gồm thâu những ánh sáng khác, nên gọi là Ẩm Quang (nuốt mất ánh sáng). Vị thứ tư [trong Hiền Kiếp] là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, dịch nghĩa là Năng Nhân Tịch Mặc. La Thập đại sư là vị phiên dịch [kinh điển] của bảy vị Phật ấy, Ngài đă phát nguyện ấy. V́ sao ở đây đại sư nói là “lược cử” (nêu đại lược)? Quư vị đọc đoạn văn tiếp theo sẽ biết.

 

      (Sao) Nhi Di Đà thành Phật thập kiếp.

  () 而彌陀成佛十劫。

      (Sao: Nhưng đức Di Đà đă thành Phật mười kiếp).

 

      A Di Đà Phật đă thành Phật mười kiếp.

 

      (Sao) Tắc Trang Nghiêm kiếp tiền, cánh thượng cửu kiếp, sở lịch dĩ kỷ vạn Phật.

  () 則莊嚴劫前,更上九劫,所歷已幾萬佛。

      (Sao: Tức là đă hơn chín kiếp trước kiếp Trang Nghiêm, đă trải qua mấy vạn vị Phật).

 

      Có thể thấy rằng: Nói Ngài là vị sư dịch kinh của bảy đức Phật đích xác là nói đại lược, chỉ giới thiệu mấy vị gần nhất, chẳng nói tới mấy vị trước đó. Nếu kể cả những vị trước đó th́ Ngài đời đời kiếp kiếp phát nguyện dịch kinh Phật. Dịch kinh Phật đều là sau khi đức Phật đă diệt độ, lúc đức Phật tại thế chẳng cần phải dịch. “Phật dĩ nhất âm nhi thuyết pháp, chúng sanh tùy loại các đắc giải” (Phật dùng một âm thanh để thuyết pháp, chúng sanh tùy theo mỗi loại đều hiểu). Ngôn ngữ của Phật vô cùng kỳ diệu, Ngài ở nơi ấy thuyết pháp, chúng ta là hạng người nào nghe giảng cũng đều [cảm thấy] giống hệt như [đức Phật đang sử dụng] ngôn ngữ ở quê hương ta. Bất luận người nào thân cận Phật, chẳng có ai nghe mà không hiểu lời đức Phật nói. Sau khi đức Phật diệt độ, hàng Bồ Tát đều không có năng lực ấy, cho nên phải theo đuổi công tác phiên dịch.

 

      (Sao) Kư lục phương chư Phật, mị bất tán thán thử kinh.

      () 既六方諸佛,靡不讚歎此經。

      (Sao: Nên sáu phương chư Phật, không vị nào chẳng tán thán kinh này).

 

Trong kinh này, La Thập đại sư dịch là “lục phương Phật”, [sáu phương là nói rút gọn của mười phương], tức là mười phương hết thảy chư Phật, không có vị Phật nào chẳng tán thán bộ kinh này.

 

      (Sao) Tắc vạn Phật dĩ lai, diệc tất giai thuyết thử kinh, diệc tất giai hữu dịch giả.

  () 萬佛以來,亦必皆說此經,亦必皆有譯者。

      (Sao: Cho nên [kể từ] một vạn vị Phật cho tới nay, vị nào cũng đều nói kinh này, mà ắt cũng đều có người dịch kinh này).

 

      Đây là suy đoán dựa theo Lư, t́nh h́nh nhất định phải là như thế. Chúng ta đối chiếu cẩn thận kinh Vô Lượng Thọ với kinh này để nghiên cứu, sẽ hiểu rơ một sự thật: Mười phương thế giới chúng sanh căn tánh khác nhau, đức Phật thuyết pháp là ứng cơ thuyết pháp (thuyết pháp thuận theo căn cơ). Mỗi vị Phật trong mỗi thế giới đối với chúng sanh trong mỗi thế giới ấy sẽ nói các pháp môn khác nhau, chỉ có một bộ kinh Di Đà này là tương đồng! Mười phương ba đời hết thảy chư Phật không vị Phật nào chẳng nói, chẳng hộ tŕ, chẳng hoằng dương. Bộ kinh này chính là khoa mục mà chư Phật, Bồ Tát trong hết thảy thế giới thuộc mười phương ba đời cùng tu. Không chỉ là cùng tu, thưa quư vị, nó lại c̣n là khoa mục bắt buộc phải tu của hết thảy chư Phật. Bất luận tông phái nào ở Trung Quốc, khóa tụng kinh tối đều niệm kinh Di Đà, có thể thấy bộ kinh này vô cùng trọng yếu, nó là pháp môn bậc nhất và bộ kinh bậc nhất để chư Phật, Bồ Tát độ chúng sanh, chúng ta nhất định phải biết điều này!

      Nhưng hiện thời, người học Phật chuyên môn học kinh Di Đà vẫn chẳng nhiều lắm, do nguyên nhân nào? Kinh đă nói rất rơ ràng: “Chẳng thể do chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cơi ấy”, đó là do thiện căn, phước đức, nhân duyên của người ấy ít ỏi! Người ấy tu những thứ khác. Nếu người ấy có nhiều thiện căn, phước đức, nhân duyên th́ chuyện ǵ cũng không làm, chuyên tu bộ kinh này. Do vậy, phải hiểu: Suốt đời chuyên tu bộ kinh này, đó là thiện căn, phước đức, nhân duyên thảy đều trọn đủ, người ấy nhất định văng sanh trong một đời này, sau khi văng sanh, nhất định thành Phật. Do vậy, người ấy không nghiên cứu tràn lan những kinh điển khác, mà chọn lấy pháp môn bậc nhất và kinh điển bậc nhất đă được mười phương chư Phật đề xướng, chúng ta nhất định phải nhận biết điều này.     

Đại sư nói hết thảy chư Phật đều giảng kinh này. Sau khi đức Phật diệt độ, trong thời kỳ Tượng Pháp hoặc Mạt Pháp, [kinh này] nhất định phải được phiên dịch. V́ thế, có những vị Bồ Tát phát tâm đời đời kiếp kiếp làm công tác dịch thuật này, đại khái La Thập đại sư thuộc loại nhân vật ấy, tuyệt đối chẳng phải là phàm nhân.

 

      (Sao) Nhi kinh xưng mẫu Phật giả viết.

  () 而經稱母佛者曰。

      (Sao: Nhưng trong kinh, vị được gọi là mẹ đức Phật đă nói).

 

      “Kinh xưng mẫu Phật” là Ma Da phu nhân, tức là mẹ của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ma Da (Māyā) dịch sang tiếng Hán là Huyễn Sanh, v́ Ma Da phu nhân đă dùng pháp môn Như Huyễn để huyễn sanh[2] ra đức Phật. Kinh dạy, trước khi Thích Ca Mâu Ni Phật giáng sanh, mười phương chư Phật mỗi ngày ba thời thuyết pháp trong bụng Ma Da phu nhân. Đức Phật và các vị đại Bồ Tát thị hiện giáng sanh trong nhân gian, tuy hoài thai mười tháng giống như chúng ta, các Ngài chẳng hứng chịu nỗi khổ thai ngục. Ở trong thai mẹ, Ngài khai đại pháp hội, mỗi ngày giảng kinh, thuyết pháp trong ấy, chư Phật, Bồ Tát đều đến nghe. Bọn phàm phu chúng ta ở trong thai mẹ mười tháng, giống như ở trong địa ngục, khổ chẳng thể nói nổi! Trong kinh, đức Phật đă h́nh dung nỗi khổ ấy giống như địa ngục, nên gọi là “thai ngục khổ”. Sau khi đầu thai bèn mê hoặc, điên đảo, giống như bị nhốt trong tù ngục. Mẹ ăn chút ǵ nóng, con như đang ở trong Bát Nhiệt địa ngục; mẹ uống một chén nước lạnh, con giống như ở trong Bát Hàn địa ngục, khổ gần chết! Đức Phật giáng sanh, khác hẳn, nên gọi là Như Huyễn là do ư nghĩa này.  

Chúng ta thấy trong kinh Hoa Nghiêm, Ma Da phu nhân có nói, Ngài cũng là bậc đại quyền thị hiện, phát nguyện đời đời kiếp kiếp muốn làm Phật mẫu. Do vậy, không chỉ Thích Ca Mâu Ni Phật là do Ngài hoài thai sanh ra, mà một ngàn vị Phật xuất thế trong Hiền Kiếp đều do Ngài hoài thai sanh ra, đời đời kiếp kiếp làm Phật mẫu.

 

      (Sao) Thế thế Phật sanh, ngă vi kỳ mẫu.

  () 世世佛生,我為其母。

      (Sao: Đời đời chư Phật giáng sanh, ta làm mẹ của các Ngài).

 

      Ma Da phu nhân nói như vậy.

 

      (Sao) Tử Phật giả viết.

  () 子佛者曰。

      (Sao: Con của đức Phật nói).

 

      “Tử Phật” là La Hầu La (Rāhula), Ngài là con của Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng là bậc đại quyền thị hiện.

 

      (Sao) Thế thế Phật xuất, ngă vi kỳ tử.

      () 世世佛出,我為其子。

      (Sao: Đời đời Phật xuất thế, ta làm con các Ngài).

 

      Đại sư nêu hai trường hợp trong kinh ấy (kinh Hoa Nghiêm) để nói.

 

      (Sao) Dĩ thị lệ chi, Thập sư dịch kinh, hà xí thất Phật.

      () 以是例之,什師譯經,何啻七佛。

     (Sao: Phỏng theo đó [để suy đoán], há phải La Thập đại sư chỉ dịch kinh của bảy đức Phật).

 

      Tôi nghĩ có thể là Ngài cũng đời đời kiếp kiếp, hễ Phật xuất thế, Ngài bèn dịch kinh, Ngài đều tiến hành phiên dịch. Nêu lên thí dụ này để nói rơ, nh́n từ mặt h́nh tướng, La Thập đại sư là người dịch kinh của bảy đức Phật, nhưng bổn lai diện mục của Ngài chẳng thể nghĩ bàn, có thể là Ngài cũng phát nguyện đời đời kiếp kiếp theo đuổi công tác dịch kinh.

 

      (Sao) Nhi thử kinh lưu thông cửu viễn, ư thị ích tín.

  () 而此經流通久遠,於是益信。

      (Sao: Nhưng kinh này được lưu thông đă lâu; do vậy, càng thêm tin tưởng).

 

      Chúng ta càng tin tưởng bộ kinh này được lưu thông trong hết thảy các cơi Phật khắp mười phương ba đời. Nói tới các kinh khác, chưa chắc mỗi thế giới đều giống nhau, nhưng kinh Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ chắc chắn giống nhau, đến bất cứ thế giới nào đều thấy [hai kinh này].

 

 

(Sao) Xứng Lư, tắc tự tánh dung thông ẩn hiển, thị Hoa Phạm phiên dịch nghĩa.

() 稱理,則自性融通隱顯,是華梵翻譯義。

(Sao: Xứng Lư th́ tự tánh dung thông, ẩn tàng, hay hiển lộ, chính là ư nghĩa dịch từ Phạn sang Hán).

 

      “Dung thông” trùng trùng vô ngại. “Ẩn hiển” là h́nh tướng của sự dung thông, đúng như kinh Pháp Hoa đă nói “bách giới thiên như”. Trí Giả đại sư đọc kinh Pháp Hoa, đă nêu tỏ tinh nghĩa (nghĩa lư tinh vi) của kinh Pháp Hoa qua [khái niệm] bách giới thiên như. Nói cách khác, không có một pháp nào chẳng Như! “Như” là Chân Như, tức là nói về bổn tánh, hết thảy các pháp là Tướng, Tướng như Tánh, Tánh như Tướng. Chúng ta dùng một tỷ dụ để nói th́ màn h́nh TV có thể hiển hiện tướng. Chúng ta sánh ví màn h́nh với Chân Như, h́nh tướng [hiển hiện trên màn h́nh] giống như vạn pháp. Tướng được hiển thị có rời khỏi màn h́nh hay chăng? Chẳng rời khỏi. Suốt ngày từ sáng đến tối hiển lộ tướng, hiển lộ các tướng hoàn toàn bất đồng, nhưng chẳng hề rời khỏi màn h́nh. Màn h́nh là năng hiển (chủ thể có thể hiển lộ), vạn pháp là sở hiển (đối tượng được hiển lộ). Sở hiển là Tướng, năng hiển là Tánh, quư vị nghĩ xem có tướng nào chẳng Như? Trong những tướng được hiển lộ ấy, có tướng nào chẳng phải là màn h́nh? Bất luận tướng nào cũng đều là như vậy! Nếu quư vị hiểu rơ đạo lư này, nay chúng ta đă thấy sâm la vạn tượng, có tướng nào chẳng phải là Chân Như bổn tánh của chính ḿnh? Thảy đều là [Chân Như bổn tánh], hết thảy đều do Chân Như bổn tánh hiển lộ; v́ thế, gọi là “bách giới thiên như”, chẳng có pháp nào không Như. Trí Giả đại sư đă phát minh đạo lư này từ kinh Pháp Hoa. Nếu chính Ngài chẳng kiến đạo, sẽ không thể nói ra được. Do vậy, ta biết Trí Giả đại sư là một vị Bồ Tát minh tâm kiến tánh, chẳng phải là phàm nhân! Minh tâm kiến tánh nói theo Biệt Giáo là từ Sơ Địa trở lên, trong Viên Giáo là từ Sơ Trụ trở lên. Lăo nhân gia cũng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ mà văng sanh, trong Văng Sanh Truyện có chép tên Ngài. “Dung thông” là Tánh Tướng như nhau, Tánh Tướng bất nhị.

 

      (Sao) Tức Phạm khả dĩ thành Hoa.

      () 即梵可以成華。

      (Sao: Tức là Phạn văn có thể trở thành Hoa văn).

 

      “Phạm” là Phạn ngữ (Sankrit), tức ngôn ngữ của Ấn Độ cổ đại; “Hoa” là ngôn ngữ của Trung Quốc. Kinh điển được dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán. Tuy câu nào cũng là tiếng Phạn, nhưng câu nào cũng đều là tiếng Hoa.

 

      (Sao) Tắc Hiển phi Mật ngoại.

      () 則顯非密外。

      (Sao: Hiển chẳng ở ngoài Mật).

 

      Người Hoa nh́n vào văn tự tiếng Hán, nghe tiếng Hán, vừa nghe liền hiểu. Chúng ta nghe người Ấn Độ nói chuyện, đọc văn tự Ấn Độ chẳng hiểu. Không hiểu [nên nghĩ là] Mật, c̣n hiểu sẽ là minh hiển (rơ rệt). Hiển và Mật là một, chẳng hai. Dịch ra sẽ hiểu được ư nghĩa, chẳng c̣n là Mật nữa, chẳng dịch th́ là Mật. Người khác nói, chúng ta không hiểu, [những điều người ấy nói] liền biến thành Mật. Người ta nói, chúng ta đă hiểu, sẽ không c̣n là Mật. Đấy chính là Phạn có thể trở thành Hoa, Hiển chẳng ở ngoài Mật.

 

      (Sao) Phương Hoa vị thường bất Phạm, tắc Mật tại Hiển biên.

       () 方華未嘗不梵,則密在顯邊

(Sao: Th́ mới là Hoa chưa hề chẳng phải là Phạn, Mật ở ngay nơi Hiển).

 

      Hiển và Mật chẳng hai, Hiển Mật viên dung. Có những thứ được truyền từ Ấn Độ vào Trung Quốc, như Đại Thừa Khởi Tín Luận do Mă Minh Bồ Tát soạn, sau khi được truyền sang Trung Quốc, bị thất truyền tại Ấn Độ. Huyền Trang đại sư lại dịch ngược từ tiếng Hán sang Phạn văn. Do vậy, tiếng Hán có thể dịch sang tiếng Phạn, mà tiếng Phạn có thể dịch sang tiếng Hán. Vào thuở ấy, những vị đại sư dịch kinh thường làm chuyện này. V́ thế, Mật ở nơi Hiển, Hiển ở nơi Mật, Hiển và Mật là một, chẳng hai.

 

      (Sao) Đương ám trung hữu minh, đương minh trung hữu ám, hỗ tương yểm ánh, thiệp nhập trùng trùng, diệu thể dung thông, bất nhất, bất dị.

      () 當暗中有明,當明中有暗,互相掩映,涉入重重,妙體融通,不一不異。

      (Sao: Trong tối có sáng, trong sáng có tối, che khuất và rọi sáng lẫn nhau, xen lẫn vào nhau trùng trùng, diệu thể dung thông, chẳng một, chẳng khác).

 

      Thật ra, những câu này đều nói theo Tánh Tông, nhất là trong cảnh giới rất cao của Thiền Tông. Từ những chỗ này, chúng ta có thể thấy rất rơ dụng tâm của Liên Tŕ đại sư; Ngài luôn ngầm nói niệm Phật chính là Thiền. Những huyền nghĩa tối cao được giảng trong Thiền Tông đều là những ư nghĩa trong kinh Di Đà, đều nhằm khuyên người tham Thiền niệm Phật. Nếu không, Ngài nói những lời này đâu có ư nghĩa ǵ? Đọc những lời chú giải này, có thể đoán được dụng tâm của đại sư, biết thuở ấy, trong hoàn cảnh đó, Ngài đă khéo léo, uyển chuyển giải thích bộ kinh này nhằm phổ độ chúng sanh. Những ư nghĩa của Thiền, Giáo, Mật, Luật đều được nêu tỏ trong kinh này. Nói thật ra, nếu chẳng phải là một vị Tam Tạng pháp sư, quả thật cũng rất khó làm được. Trước kia, Tam Tạng pháp sư dịch kinh, nay Tổ chẳng dịch, Ngài chú giải, cũng phải thông đạt Tam Tạng mới có thể hoàn thành. V́ thế, Ngẫu Ích đại sư hết sức tán thán bộ Sớ Sao này là “bác đại tinh thâm” (rộng lớn mênh mông, tinh tường, sâu xa). Trước kia, thầy Lư đă nói: “Nếu chẳng thông đạt hơn nửa bộ Đại Tạng Kinh, đọc Sớ Sao sẽ không hiểu”, lời ấy cũng rất có lư!

      “Đương ám trung hữu minh, đương minh trung hữu ám” nói rơ: Sáng và tối đối lập lẫn nhau, sáng đến tối lui, tối lui sáng đến. Giống như người Hoa nói về kinh Dịch: “Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm”. Quư vị nh́n vào h́nh vẽ Thái Cực, màu đen tượng trưng cho Âm, màu trắng tượng trưng cho Dương. Trong phần đen có một điểm trắng, [biểu thị] trong Âm có Dương; trong phần trắng có một điểm đen, [biểu thị] trong Dương có Âm, sử dụng ư nghĩa này. Tối và sáng chính là Âm Dương. Nói theo mặt hiện tượng, sau nửa đêm, trời sáng dần, sẽ thấu lộ quang minh; đấy là thấy “ám trung hữu minh”, đó là một hiện tượng rất rơ rệt, nhất là trên mặt biển đặc biệt dễ thấy hiện tượng này. Hiện thời giao thông nhanh chóng, tiện lợi, nếu ngồi máy bay đường dài, rất dễ thấy hiện tượng này, hết sức dễ thấy “ám trung hữu minh, minh trung hữu ám”.

      “Hỗ tương yểm ánh” (che lấp và chiếu rọi lẫn nhau), nói tới sự xuyên suốt giữa hai pháp, tối vào sáng, sáng vào tối. “Thiệp nhập trùng trùng” (xen nhập lẫn nhau trùng trùng), có ư nghĩa giống như những tấm gương [phản chiếu lẫn nhau]. Trong quá khứ, vào đời Đường, Hiền Thủ quốc sư (thầy của Thanh Lương đại sư) giảng Nhất Chân pháp giới, giảng về cảnh giới xen nhập lẫn nhau trùng trùng trong Thập Huyền Môn, hoàng đế nghe chẳng hiểu ư nghĩa này. Sư bảo hoàng đế hăy dựng một cái đ́nh bát giác. Sau khi đ́nh đă được cất xong, mỗi mặt đ́nh đặt một tấm gương rất lớn. Sư nói: “Nếu bệ hạ không hiểu xen nhập lẫn nhau trùng trùng là như thế nào, hăy tới đứng giữa đ́nh nh́n xem”. Vua vừa nh́n, thấy giống như nơi nào cũng phản chiếu, giống như một người biến thành vô lượng phân thân, cảnh giới ấy hiện tiền, vua bèn hoảng nhiên đại ngộ! Do vậy, tạo thành một cảnh giới như thế để nhà vua thể nghiệm, đương nhiên [cảnh giới] thể nghiệm vẫn chưa phải là cảnh giới chân thật, chỉ là cảnh giới tương tự, nhưng từ chỗ ấy sẽ có thể ngộ nhập.

      Kinh thường dùng cái lưới (la vơng) của Thiên Đế làm tỷ dụ. Hiện nay rất ít thấy “la vơng”, nhưng trong các đại tự viện của Nhật Bản hăy c̣n có [la vơng]. Quá nửa la vơng được kết bằng sợi đồng, căng trên các kèo, xà khắc vẽ trong cung điện, [nhằm mục đích] ngăn ngừa chim làm tổ, phá hư những tác phẩm nghệ thuật ấy. [Mỗi mắt lưới] trong la vơng của trời Đế Thích đều buộc một viên dạ minh châu[3], có tên là Ma Ni Bảo Châu. Châu ấy tỏa ánh sáng, giống như các ngọn đèn treo của chúng ta trong hiện tại tỏa ánh sáng. Khi ánh sáng của mỗi ngọn đèn chiếu rọi lẫn nhau, các ánh sáng xen nhập lẫn nhau, chẳng thể tách bạch, giống như trong giảng đường này, tuy đèn không nhiều lắm, có mười mấy cái đèn thôi, nhưng quư vị có biết ánh sáng này do ngọn đèn nào phát ra hay không? Ánh sáng của mỗi ngọn đèn đều gộp trong ấy, đều xen lẫn. Tuy xen lẫn, nhưng chẳng hỗn độn, hay khéo là hay khéo ở chỗ này. V́ sao biết chúng chẳng hỗn độn? V́ quư vị tắt ngọn đèn nhỏ này, ánh sáng của nó sẽ chẳng c̣n nữa. Nếu xen lộn th́ lẽ ra chẳng thể tắt được, nó vẫn c̣n ở nơi đây. Tuy xen nhập lẫn nhau, nhưng vẫn chẳng hỗn độn, tướng ấy vô cùng vi diệu. Do cổ nhân chẳng có nhiều đèn như thế, nên dùng la vơng của Đế Thích Thiên làm tỷ dụ. “Đế vơng thiên châu” (ngàn hạt châu nơi cái lưới của Thiên Đế) nghĩa là giống như một ngàn ngọn đèn gộp chung lại, ánh sáng xen lẫn, diệu ảnh trùng trùng, vô tận.

      “Diệu thể dung thông, bất nhất, bất dị”: Diệu thể là nói đến Chân Như bổn tánh của chúng ta. Kinh Đại Thừa dạy: “Tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ chẳng sai biệt”. Tâm là Thể, là cái Thể có thể biến hiện, Phật là tướng giác ngộ được biến hiện [bởi cái Thể ấy], chúng sanh là tướng mê được biến hiện [cũng bởi cái Thể ấy]. Chúng ta lại lấy chuyện nằm mộng làm tỷ dụ, cái tâm nằm mộng ví như cái Tâm ấy. Chúng ta mơ một giấc mộng đẹp đẽ th́ giấc mộng đẹp ví như Phật, chúng ta gặp ác mộng, ác mộng ví như chúng sanh. Mộng đẹp hay ác mộng đều do cái tâm ấy biến hiện. Tâm giác liền hiện tứ thánh pháp giới, tâm mê liền hiện lục phàm pháp giới. Tứ thánh và lục phàm đều do tâm này biến hiện. Nói cách khác, tâm năng hiện và tứ thánh lục phàm được hiện là một, chẳng hai, cả ba thứ không sai biệt, là cùng một chuyện, là một, chẳng hai! Năng hiện (chủ thể biến hiện, tức cái tâm) là một, chỉ v́ trong sở hiện (cái được biến hiện, tức tứ thánh lục phàm) có mê hay ngộ sai khác, nhưng mê cũng là Chân Như bổn tánh, mà ngộ vẫn là Chân Như bổn tánh.

      Chư vị phải biết: Hết thảy chúng sanh là vật được hiện trong tâm chúng ta, hết thảy các hiện tượng vật chất cũng là vật được hiện trong tâm ta. Nếu quư vị chú tâm sẽ thấu hiểu các hiện tượng ấy, nói thật ra, [điều này] có thể thấu hiểu được! Ví dụ như khi chúng ta ngủ, nhắm mắt lại, tướng ấy có hay không? Chẳng có! Thật sự không có. Đức Phật dạy chúng ta: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, đúng là chẳng thật! Mở banh con mắt, tùy theo sự phân biệt, chấp trước của quư vị mà hiện những tướng ấy. Nhắm mắt lại, những tướng ấy đều chẳng c̣n! Tuy mở toang mắt, trong tâm chúng ta dấy lên một niệm, tướng bên ngoài sẽ biến hóa theo ư niệm, tướng chuyển theo tâm. Ưa thích th́ càng nh́n càng thích; chán ghét th́ càng nh́n càng thấy đáng ghét. Tướng có thật sự đáng ưa hay đáng ghét hay chăng? Không có, mà do tâm của quư vị xoay chuyển. Tâm quư vị xoay chuyển, cảnh giới bên ngoài bị chuyển theo, có thể thấy “tướng chuyển theo tâm”, lời nói ấy rất chính xác, chẳng sai! V́ tướng là vật được biến hiện trong tâm quư vị, cho nên nó cũng chuyển biến theo tâm.

      Quư vị hiểu ư nghĩa này, sẽ hiểu vận mạng do chính ḿnh nắm giữ, không thuộc quyền thao túng của kẻ khác. Chính ḿnh có thể chuyển, Phong Thủy cũng do chính ḿnh xoay chuyển, sẽ chẳng bị lừa đảo, gạt gẫm. Sửa đổi Phong Thủy th́ sửa từ chỗ nào? Sửa từ trong tâm, tâm có thể chuyển cảnh. Sửa bên ngoài nhất định chẳng thể đổi được, chẳng có ích ǵ! Quư vị thấy cảnh giới bên ngoài đáng ghét, chẳng vui thích, bèn sửa sao cho rất thuận mắt, nhưng quư vị sửa trên cảnh giới, chẳng phải sửa trong nội tâm, vẫn là mê chưa ngộ, chẳng thể giải quyết vấn đề. Dẫu dễ nh́n, nh́n lâu lại thấy đáng ghét; có thể thấy là sửa đổi ngoại cảnh th́ chẳng thể sửa được! Nếu thật sự sửa từ nội tâm, sẽ giống như Phật, Bồ Tát, thật sự đại từ đại bi, chẳng bỏ một ai, v́ sao? Kiến lập từ nội tâm, chẳng kiến lập nơi ngoại cảnh. Kiến lập trên ngoại cảnh, chắc chắn chẳng thể lâu dài. Kiến lập trong nội tâm th́ mới thật sự trường viễn. [Kiến lập nơi] ngoại cảnh sẽ không thể [lâu dài], v́ nó có biến hóa.

      Hiểu rơ chân tướng sự thật, hiểu tâm năng biến là thật, tướng sở biến là giả; giống như chúng ta nằm mơ: Cái tâm nằm mộng là thật, giấc mộng là giả. Mỗi đêm nằm mộng khác nhau, đủ thấy mộng là giả tướng; nhưng giả tướng do chân tâm biến hiện, là h́nh dạng của chân tâm. Tâm chúng ta biến đổi, phân biệt, chấp trước trong từng sát-na, tâm ấy bất định, nên mộng cảnh mỗi đêm khác nhau. Hăy nên biết: Nếu tâm định, sẽ nằm mơ giống hệt như nhau. Tâm quư vị bất định, cho nên tâm có h́nh dạng khác nhau. Tâm có h́nh dạng như thế nào? Trong khi nằm mơ sẽ thấy, mộng cảnh là h́nh dạng của tâm. Tâm quư vị như thế nào, cảnh trong mộng sẽ phơi bày rơ rệt, nhưng cái tâm ấy là vọng tâm, không phải là chân tâm.

      Chân tâm có h́nh dạng ra sao? Hiện tại, h́nh dạng của y báo và chánh báo trang nghiêm của mười pháp giới chính là h́nh dạng của chân tâm. Nếu quư vị có thể thấu hiểu h́nh dạng của chân tâm, trong hết thảy cảnh giới sẽ như như bất động, tự tại vô ngại, thật sự đắc Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát. Pháp Thân: Hoàn toàn liễu giải chân tướng sự thật th́ gọi là Pháp Thân, tuyệt đối chẳng c̣n chấp trước thân này là ta. Thân ta là ǵ? Hết thảy vạn pháp là thân ta. Đúng như trong mộng, bỗng nhiên giác ngộ “ta nay đang nằm mơ”, những ǵ là ta? Toàn bộ mộng cảnh đều là ta, bản thân ta trong mộng cũng là ta, hết thảy nhân vật trong mộng cũng là ta, núi sông, đại địa cũng là ta, chẳng có một pháp nào không phải là ta, v́ sao? Thảy đều do tâm ta biến hiện. Ĺa tâm, chẳng có hết thảy các pháp! Người đại triệt đại ngộ Phật pháp sẽ biết hết thảy nhân vật, hết thảy vạn pháp, vũ trụ, trời đất là một ḿnh ta, là cảnh giới được hiển hiện bởi chân tâm của chính ta. Giống như nằm mơ, hoàn toàn hiểu rơ, cho nên trong cảnh giới ấy sẽ như như bất động; đấy là chứng đắc Pháp Thân. Bát Nhă là trí huệ, triệt để liễu giải là trí huệ, đạt được giải thoát nơi ấy, giải thoát là đắc tự tại. Không có mừng, giận, buồn, vui, thứ ǵ cũng đều chẳng có, tâm địa thanh tịnh chẳng nhiễm mảy trần, đó là đắc đại tự tại. Trong Phật pháp gọi chúng là “tam đức mật tạng”.

      “Bất nhất, bất dị”, v́ tự tánh tùy duyên, cho nên chẳng phải là nhất. Tuy tùy duyên, nó chẳng thay đổi, cho nên “bất dị”, tức là chẳng khác, là một. Nơi hữu t́nh, gọi là Phật Tánh, nơi vô t́nh gọi là Pháp Tánh. Thay đổi danh từ, Phật Tánh và Pháp Tánh là một, chẳng hai, nhưng hữu t́nh và vô t́nh có sai biệt, một đằng là động vật, một đằng là thực vật và khoáng vật. Diện mạo bên ngoài quả thật có sai biệt. Có sai biệt th́ “bất nhất”, nhưng xét theo Tánh th́ “bất dị”. Tâm năng biến là một, chẳng hai, hoặc là nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba vô sai biệt”. Chuyện này cũng rất rơ rệt, người giác ngộ và kẻ mê hoặc, điên đảo, tứ thánh và lục phàm chẳng một, nhưng nói theo phương diện bổn tánh, tức là nói theo Phật Tánh, tứ thánh và lục phàm bất dị, tánh của chúng ta và tánh của chư Phật là một tánh, nhất tánh, vô nhị tánh.

     Liên Tŕ đại sư đă dùng đại đạo lư này để chỉ rơ văn tự Ấn Độ và văn tự Trung Quốc “bất nhất, bất dị”. Nh́n từ h́nh tướng bên ngoài, văn tự chẳng giống nhau. Văn tự Ấn Độ và văn tự Trung Quốc hoàn toàn khác nhau; nhưng xét theo phương diện biểu đạt ư nghĩa, bất dị! Dịch ra sẽ có cùng một ư nghĩa, cho nên bất dị. Từ âm thanh dùng phù hiệu để viết khác nhau, nhưng ư nghĩa giống nhau, bất nhất, bất dị. Dùng điều này để chỉ rơ: Chữ “dịch” trong “phiên dịch” cũng là lời đàm luận xứng tánh. Nếu mở rộng Lư này vào cuộc sống của chúng ta, áp dụng vào xử sự, đăi người, tiếp vật, hết thảy Sự Lư đều có thể dùng xứng tánh để giải thích. Nếu dùng xứng tánh để giải thích, sẽ đều là Nhất Chân pháp giới, đều là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.

      Sau khi chúng ta học xong bộ Di Đà Kinh Sớ Sao này, sẽ có tác dụng rất lớn, nếu quư vị biết dùng, sẽ đại tự tại trong hiện tiền. Tuy chưa thể đích thân chứng đắc Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát, vẫn có một chút bóng dáng, chứng tương tự, có một chút ư vị tương tự. Từ Tương Tự tiến đến Phần Chứng; không có Tương Tự, lấy đâu ra Phần Chứng? Tương Tự được bồi dưỡng thành thói quen, sẽ bất tri bất giác đạt đến địa vị Phần Chứng, rất hữu ích đối với việc niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ của chúng ta, giúp chúng ta đạt nhất tâm bất loạn, giúp chúng ta tăng cao phẩm vị. Phần giới thiệu người phiên dịch đă xong. Lần sau, tôi sẽ bắt đầu từ đoạn kinh văn “như thị ngă văn”, hôm nay đă hết thời gian rồi!

 

Tập 102

 

Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang một trăm chín mươi hai.

 

      Thập, biệt giải văn nghĩa.

      十、別解文義。

      (Mười, giải thích ư nghĩa của từng đoạn kinh văn riêng biệt).

 

      Khoa mục lớn này là cả một đoạn lớn; đoạn lớn này là đoạn thứ mười, chín đoạn trước đều là Huyền Đàm, nói theo cách bây giờ là phần Khái Luận, c̣n ở đây là giảng giải kinh văn. Trong đoạn này, toàn bộ kinh văn được chia thành ba phần, tức là ba đoạn:

 

      Sơ Tự Phần, nhị Chánh Tông Phần, tam Lưu Thông Phần.

      初序分,二正宗分,三流通分。

      (Thứ nhất, Tự Phần; thứ hai, Chánh Tông Phần; thứ ba, Lưu Thông Phần).

 

      Ba phần này cũng cần phải giới thiệu đại lược cùng quư vị. Thể tài trong kinh Phật chẳng giống sách vở trong thế gian. Thế gian có những người viết sách, tự ḿnh viết lời tựa, hoặc cậy người khác viết lời tựa. Lời tựa nhằm dụng ư giới thiệu cuốn sách ấy. Kinh Phật rất đặc biệt, bản thân cuốn kinh có lời Tựa, tức Tự Phần, chẳng cần nhờ người khác viết lời tựa! Kinh có Chánh Tông Phần, Chánh Tông là nói thẳng vào vấn đề, phần chủ yếu nhất nằm trong Chánh Tông Phần. V́ thế, kinh văn của phần này đặc biệt dài, những ư nghĩa chủ yếu đều được giảng rơ trong ấy. Cuối cùng, kinh có một phần được gọi là Lưu Thông Phần, trong các sách thông thường cũng không có phần này. Lưu Thông Phần mang ư nghĩa khuyên người ta sau khi đọc xong, phải giới thiệu kinh này cho người khác, đối với hiện tại phải lưu thông mười phương, chúng ta phổ biến, giới thiệu kinh điển cho đại chúng; đối với người mai sau, phải lưu truyền hậu thế. Phương pháp lưu truyền hậu thế trước kia là in kinh, chép kinh. Thời cổ chưa có [kỹ thuật] ấn loát, chỉ có chép tay; v́ thế, chép kinh để truyền cho hậu thế. Đấy là chỗ đặc biệt trong kinh Phật.

      Nhưng ba phần này đều rất trọng yếu, cổ nhân nói: “Như nhân thực mật, trung biên giai điềm” (Như người ăn mật, ở chính giữa hay chung quanh đều ngọt ngào). Mang ư nghĩa này, cân nhắc giữa ba phần có thể nói là chúng [quan trọng] như nhau. Tự Phần lại chia làm hai đoạn, đoạn thứ nhất là Chứng Tín Tự, đoạn thứ hai là Phát Khởi Tự. Chứng Tín Tự c̣n gọi là Thông Tự, trong hết thảy các kinh đều có Thông Tự; phàm là kinh Phật đều có, phần này gọi là Thông Tự, [Thông nghĩa là] chung cho hết thảy các kinh. Biệt Tự của mỗi bộ kinh khác nhau; phần này nhằm nêu rơ nhân duyên khiến đức Phật giảng bộ kinh này, do duyên cớ nào mà giảng bộ kinh này, nên được gọi là Biệt Tự. Chứng Tín Tự gồm sáu thứ chứng tín, c̣n gọi là Lục Chủng Thành Tựu.

 

      Sơ Tự Phần, sơ ngũ cú chứng; nhị liệt chúng chứng.

      初序分。初五句證。二列眾證。

      (Thứ nhất, Tự Phần, trước hết là năm câu làm chứng, kế đó, liệt kê các vị thánh giả tham dự pháp hội để làm chứng).

 

      Tổng cộng có sáu câu chứng tín, chúng ta đọc kinh văn.

 

      (Kinh) Như thị ngă văn, nhất thời, Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên.

       () 如是我聞。一時。佛在舍衛國。祇樹給孤獨園。

      (Kinh: Tôi nghe như thế này, một thời, đức Phật ngự tại nước Xá Vệ, trong vườn của ông Cấp Cô Độc, cây của thái tử Kỳ Đà).

 

      Trong một ḍng kinh văn này, có năm thứ chứng tín. “Như thị” là Tín Thành Tựu; “ngă văn” là Văn Thành Tựu. Chúng tôi giảng đơn giản: [Nói] “như thị” là v́ thuở ấy, đức Phật giảng kinh không ghi chép, sau khi đức Phật diệt độ, do tôn giả A Nan lặp lại một lượt những kinh đức Phật đă nói khi Ngài c̣n tại thế. Ngài A Nan có trí nhớ vô cùng mạnh, nghe một lần sẽ vĩnh viễn chẳng quên mất, nên [đại chúng] thỉnh Ngài nhắc lại, tức là lặp lại lần nữa những kinh do đức Phật đă giảng trước đây. Vừa nói vừa có người ghi chép, chỉnh lư, gọi [những biên bản ghi chép ấy] là kinh điển. Hai chữ “như thị” nhằm nói rơ những lời nhắc lại của ngài A Nan quả thật đă dựa trên những ǵ Thích Ca Mâu Ni Phật đă giảng thuở ấy, chẳng thêm, chẳng bớt, nên gọi là “như thị”. Lặp lại những lời đức Phật đă nói, giống hệt như lời Phật nói. Chẳng phải do chính ngài A Nan nói, mà hoàn toàn là nhắc lại lời Phật dạy. Đấy là Tín Thành Tựu. Giống như vậy, mỗi chữ, mỗi câu trong bộ kinh này đều do A Nan đích thân nghe đức Phật giảng, chẳng phải là nghe kể lại, nên cũng gọi là “như thị”. “Ngă văn” là nhận trách nhiệm đối với người đời sau, A Nan tôi đích thân nghe đức Phật dạy, nên gọi là Ngă Văn (tôi nghe), chẳng phải lần lượt được nghe kể lại, mà là đích thân tôi tự nghe đức Phật nói. Đấy là Văn Thành Tựu.

      “Nhất thời” là Thời Thành Tựu. Lúc mới học Phật, đối với câu kinh này, tôi hết sức không cho là đúng; ngài A Nan có trí nhớ mạnh như vậy, lẽ nào quên mất ngày tháng? Phải nên là năm nào đó, tháng nào đó, ngày nào đó, nói rất tỉ mỉ. Cớ sao chẳng ghi chép như vậy, mà nói mơ hồ, mờ mịt là “nhất thời”? Điều này khiến người đời sau có đôi chút chẳng phục, có đúng là A Nan có trí nhớ tốt như thế hay không? Sau này mới hiểu được, cách nói ấy do đức Phật dạy Ngài.

      Lúc đức Phật trụ thế, xă hội Ấn Độ và xă hội Trung Quốc không hoàn toàn giống nhau. Thuở ấy, Ấn Độ toàn là các bộ lạc, tiểu quốc, đại quốc sợ c̣n chưa to bằng Đài Bắc. Ở Trung Quốc, vào đời Châu, đại quốc rộng một trăm dặm. Một trăm dặm (lư) thuở ấy so với chúng ta hiện thời, lớn bằng khu Cảnh Mỹ. Đó là đại quốc. Do đơn vị đo lường đời Châu nhỏ hơn chúng ta hiện thời; thước đời Châu rất nhỏ, đem so với thước Đài Loan, sợ rằng chưa tới sáu tấc. Một dặm thuở ấy sợ chưa bằng nửa dặm hiện thời. Những quốc gia, tiểu bộ lạc thuở trước rất nhỏ, một thôn, một trấn là một nước. V́ quốc gia hoàn toàn chưa thống nhất, từ sách lịch sử, chúng ta thấy nhà Châu có tám trăm chư hầu[4], tức là tám trăm nước. Nhưng ở Trung Quốc, tuy Châu cũng là một nước, rất nhiều nước tôn trọng nhà Châu; vô h́nh trung nhà Châu là trung tâm lănh đạo của hết thảy các quốc gia, giống như chánh phủ Liên Hiệp Quốc vậy. [Các chư hầu] hết sức tôn trọng thiên tử nhà Châu. Các tiểu quốc đối với thiên tử nhà Châu rốt cuộc là quan hệ ǵ? Có thể nói là quan hệ thật sự rất nhỏ nhoi, không đáng kể, chỉ là ba năm tiến cống một lần. “Tiến cống” là tặng một chút lễ vật, chẳng phải là tặng mỗi năm. V́ thuở ấy, giao thông chẳng thuận tiện, những nơi gần mỗi năm tiến cống một lần, những nơi xa xôi ba năm tiến cống một lần, có nghĩa vụ như thế: Biếu tặng một ít thổ sản, tặng một chút lễ vật. Đối với những tiểu quốc ấy, thiên tử nhà Châu có ràng buộc ǵ không? Không có! Chỉ là ban truyền nhật lịch, các nước đều dùng lịch pháp của nhà Châu, lịch pháp thống nhất, năm tháng ngày giờ đều thống nhất, có mối quan hệ như thế. Ngoài ra, hết thảy đều là độc lập, tự chủ.

      Nhưng tại Ấn Độ, vẫn chưa có một trung tâm [quyền lực] được mọi người cùng tôn kính. Đă là không có, chúng ta có thể suy ra là mỗi quốc gia có lịch pháp riêng của nước ấy, lịch pháp khác nhau. Thuở ấy, đức Phật giảng kinh, thuyết pháp, dấu chân trọn khắp năm xứ Ấn Độ, mỗi quốc gia Ngài đều đến giảng, nhưng mỗi quốc gia có lịch pháp khác nhau. Nếu quư vị ghi chép năm nọ, tháng nọ, ngày nọ, rốt cuộc là [theo lịch pháp] của nước nào? Trên thực tế sẽ gặp khó khăn. Khổng lăo phu tử chép kinh Xuân Thu, đấy là bộ lịch sử đầu tiên của Trung Quốc, Ngài ghi chép năm, tháng, ngày [rơ rệt] v́ xă hội đời Châu và xă hội Ấn Độ khác nhau, tuy là thời đại bộ lạc, nhưng lịch pháp đă thống nhất, năm, tháng, ngày, giờ thống nhất. Đây là theo hoàn cảnh thực tế [của Ấn Độ thuở ấy] nên gặp khó khăn trong ghi chép năm, tháng, ngày, giờ. Mặt khác, c̣n có ư nghĩa sâu xa hơn; sau này, trong phần chú giải, chúng ta sẽ thảo luận [cặn kẽ hơn].

      Chữ “nhất thời” vô cùng hay khéo. Nói nông cạn một chút, khi thầy tṛ hợp đạo, thầy ưa thích giảng, tṛ ưa thích nghe, hết thảy mọi người đều rất hoan hỷ, khi ấy, chính là lúc nói ra kinh này. Nếu giảng sâu hơn, sẽ là “khi nhất tâm”, kinh này nói đến “nhất tâm bất loạn”, người nói lẫn kẻ nghe tâm đều thanh tịnh, đều là nhất niệm bất sanh. Nói thật ra, đấy mới là ư nghĩa thật sự của “nhất thời”. “Phật thuyết” là từ Chân Như bổn tánh lưu lộ âm thanh, người nghe dùng Chân Như bổn tánh để tiếp nhận. V́ thế, vừa nghe bèn khai ngộ, vừa nghe bèn minh tâm kiến tánh, chứng quả. Do đó, đây là ư nghĩa thật sự của “nhất thời”.

      Khi tâm chúng ta thật sự đạt đến thanh tịnh, chuyên nhất, sẽ mầu nhiệm chẳng thể diễn tả được! Thích Ca Mâu Ni Phật giảng bộ kinh này vẫn chưa tan, quư vị c̣n có thể tự ḿnh tham gia pháp hội này. Ở Trung Quốc, vào đời Tùy, Trí Giả đại sư đọc kinh Pháp Hoa tới phân nửa, nhập Định. Trong Định, Ngài tới núi Linh Thứu ở Ấn Độ; kinh Pháp Hoa được giảng tại núi Linh Thứu, thành Vương Xá, Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n đang giảng kinh Pháp Hoa tại đó. Ngài nghe xong một buổi, xuất Định bảo mọi người: Pháp hội kinh Pháp Hoa của Thích Ca Mâu Ni Phật vẫn chưa tan. Đấy là đạo lư ǵ vậy? Đấy là sự thật. Khoa học hiện tại cũng thừa nhận, nhưng chưa làm được, đó gọi là “ngược ḍng thời gian”! Trong Định có thể thấy quá khứ, có thể thấy được vị lai. Trong kinh này, Định ấy được gọi là “nhất tâm bất loạn”. Nếu quư vị thật sự đạt đến nhất tâm bất loạn, sẽ thấy rơ ràng quá khứ, vị lai, chẳng có ǵ không biết! Đấy là cảnh giới Hiện Lượng, khôi phục năng lực vốn sẵn có, biết quá khứ, hiện tại, tương lai. Chúng ta thường nói thông tục là “thần thông”, đấy là bản năng (năng lực vốn sẵn có). V́ thế, quư vị chẳng cần cầu thần thông, đạt đến nhất tâm bất loạn sẽ khôi phục năng lực ấy.

      Do vậy, có thể biết: Dùng chữ “nhất thời” rất xảo diệu. Nếu nói năm, tháng, ngày, giờ [cụ thể] th́ [thời điểm ấy] đă là quá khứ, quá khứ sẽ vĩnh viễn chẳng trở lại. Nói “nhất thời”, chúng ta c̣n có thể tự ḿnh tham dự, chỉ cần khi nào chúng ta đạt đến nhất tâm bất loạn là sẽ có thể tham gia pháp hội này, có thể đích thân nghe Phật giảng kinh; Phật vẫn giảng kinh ở nơi ấy, vẫn tồn tại nơi ấy. Đúng như kinh Pháp Hoa đă nói: “Thị pháp trụ pháp vị” (pháp ấy trụ nơi pháp vị), [nghĩa là] hết thảy các pháp đều trụ đúng vị trí của chúng, “thế gian tướng thường trụ” (tướng thế gian thường trụ), tướng thế gian bất hoại. Nếu tướng thế gian bị hoại, quư vị sẽ vĩnh viễn chẳng t́m được quá khứ. Tất cả những h́nh tướng quá khứ đều tồn tại, tướng thế gian bất hoại, câu này hết sức khó hiểu; nhưng các khoa học gia hiện thời đă dần dần hiểu điều này. Nếu có thể đảo ngược thời gian, thứ ǵ trong quá khứ cũng đều có thể thấy được; khoa học cận đại thừa nhận sự thật này, có thể thấy quá khứ vẫn tồn tại. Do vậy, dùng chữ “nhất thời” quá xảo diệu. Cách này cao minh hơn ghi chép năm, tháng, ngày, giờ [cụ thể] rất nhiều!

      “Phật” là Thuyết Pháp Chủ, nay chúng ta gọi Ngài là “vị chủ giảng”, tức là người giảng chính yếu trong một đại hội giảng diễn, Phật ở đây là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Tiếp đó là địa điểm thuyết pháp, “tại Xá Vệ quốc”, Xá Vệ Quốc là tên cái thành ấy, “Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên” là đạo tràng.

      “Như thị” là Tín Thành Tựu, “ngă văn” là Văn Thành tựu, “nhất thời” là Thời Thành Tựu, “Phật” là Chủ Thành Tựu, “Xá Vệ quốc, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên” là Xứ Thành Tựu. Trong câu này đă bao gồm năm món thành tựu, giống như mở cuộc họp, cuộc họp sẽ có biên bản ghi rơ thời gian, địa điểm, nhằm chứng tỏ kinh này chẳng phải là ngụy tạo, quả thật do đức Phật đă nói vào lúc ấy. Chúng ta đọc lời Sớ.

 

      (Sớ) Biệt giải văn nghĩa giả.

      () 別解文義者。

      (Sớ: Giải thích ư nghĩa riêng biệt của kinh văn).

 

      Giải thích [ư nghĩa] tựa đề của khoa này.

 

      (Sớ) Dĩ tri nhất đề tổng ư.

      () 已知一題總意。

      (Sớ: Đă biết ư nghĩa chung của tựa đề kinh này).

 

      Trong phần trước đă giới thiệu tựa đề kinh và người phiên dịch.

 

(Sớ) Vị thẩm kinh trung, tự thỉ chí chung, vi hà đẳng văn, xiển hà đẳng nghĩa. Kim năi chương phân cú giải, tỷ Văn Tự Bát Nhă đạt hồ Thật Tướng, dĩ hữu tận chi ngôn, lược chương vô tận cố.

       () 未審經中,自始至終,為何等文,闡何等義。今乃章分句解,俾文字般若達乎實相,以有盡之言,略彰無盡故。

(Sớ: Chưa biết trong kinh từ đầu tới cuối, văn tự như thế nào, xiển dương những ư nghĩa như thế nào. Nay chia thành từng đoạn, giải thích từng câu, ngơ hầu do Văn Tự Bát Nhă sẽ thấu đạt Thật Tướng. Dùng lời lẽ hữu hạn để nêu bày đại lược sự vô tận vậy).

 

      Đây là giải thích ư nghĩa của tựa đề khoa mục này. Phần Huyền Nghĩa là đại ư, đă giới thiệu các tựa đề khoa mục rồi, nhưng vẫn chưa biết văn tự trong bộ kinh ra sao, “vi hà đẳng văn” (văn tự như thế nào), v́ trong văn chương kinh Phật có mười hai loại thể tài, không biết [văn tự trong kinh này] thuộc loại nào. Trong Phật pháp nói đến văn Trường Hàng, hiện thời gọi là Văn Xuôi; Kệ Tụng nay được gọi là thi ca, câu cú rất chỉnh tề, có gieo vần. Lại c̣n có Mật Chú; đấy là ba loại văn tự khác nhau, có h́nh thức văn tự hoàn toàn không giống nhau. Trong Văn Xuôi, lại c̣n có nhiều thứ thể tài, trong Kệ Tụng lại có Trùng Tụng và Cô Khởi Tụng sai khác. Chưa biết văn tự trong bộ kinh này thuộc loại thể tài nào, nghĩa lư là như thế nào, đều phải dùng Khoa Phán để phân tích, đấy chính là “chương phân cú giải”.

     Người đời sau chia sách của cổ nhân thành chương cú (phân đoạn thành từng chương, từng câu). Hiện thời, mọi người đọc Tứ Thư, quá nửa tuân theo cách phán định chương cú của Châu Hy. Nói đơn giản, “chương cú” là chia thành từng đoạn, tức các đoạn lớn, đoạn vừa, đoạn ngắn, nh́n vào sẽ hiểu rơ ràng minh bạch. [Cách phân định] chương cú xuất phát từ khoa phán trong kinh Phật. V́ thế, biết rằng: Kinh Phật có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học Trung Quốc. Nho gia dùng phương pháp khoa phán trong kinh Phật để phân tích Tứ Thư, Ngũ Kinh, mười ba kinh.

      Khoa phán trong kinh Phật phân tích vô cùng tinh vi, chặt chẽ, người hiện đại nói cách [phân tích ấy] là khoa học, có thứ lớp, có hệ thống, chẳng rối loạn tí nào. Dẫu là một bộ kinh lớn, quư vị xem Biểu Giải kinh Hoa Nghiêm; đấy chính là khoa phán, từ đầu đến đuôi, một bộ kinh lớn dường ấy mà một câu là một ư nghĩa, hai câu là một ư nghĩa khác, Ngài (Thanh Lương đại sư) đă phán định rơ ràng, rành mạch. Bề ngoài là phân tích kết cấu văn chương, nhưng cũng đồng thời tŕnh bày những nghĩa lư [hàm tàng] trong văn chương; do vậy, khoa phán chính là chú giải kinh. Hiểu khoa phán, nhất định sẽ hiểu rơ kinh. V́ thế, học giảng kinh, trước hết phải học khoa phán. Trước hết, đem bộ kinh này từ đầu đến đuôi chia ra thành ba phần: Tự Phần, Chánh Tông Phần, Lưu Thông Phần. Trong Tự Phần lại có ba phần, tức là trong Tự Phần lại có Tự, có Chánh Tông, có Lưu Thông, dùng phương pháp này để chia ra dần dần. Càng chia ra càng tinh tế, quư vị sẽ thấy kinh văn rơ ràng, rành mạch. Trong kinh Phật, như trong bản in cuốn kinh này, những chỗ phía trước có h́nh tṛn, những chữ ghi sau h́nh tṛn đều là khoa phán[5]; trong kinh Phật, [cách khoa phán như vậy] gọi là Bán Khoa. Bán Khoa là ǵ? Là [khoa phán] được ghi kèm vào phía trước mỗi đoạn kinh văn. Toàn Khoa là ǵ? Vẽ cả bản kinh thành biểu giải, đặt đầu cuốn kinh, đó là Toàn Khoa. Có kinh có, có kinh không, như phần Khoa Văn Biểu Giải trong kinh Hoa Nghiêm Kinh do chúng tôi đă in chính là Toàn Khoa.

      Phân tích như vậy để từ Văn Tự Bát Nhă đạt tới Thật Tướng Bát Nhă. Nói đơn giản, Văn Tự Bát Nhă có ba ư nghĩa:

- Thứ nhất, “văn tự từ Bát Nhă lưu xuất”. Bản thân văn tự chẳng phải là Bát Nhă, nó là phù hiệu, nhưng loại phù hiệu ấy được sáng tạo bởi trí huệ Bát Nhă. Đặc biệt là văn tự Trung Quốc được sáng tạo bởi trí huệ. Văn tự Trung Quốc có sáu cách tạo chữ, gọi là Lục Thư[6]. Chữ tượng h́nh ngoại quốc cũng có; nhưng chữ Hội Ư th́ văn tự ngoại quốc[7] không có. Hội Ư là thấy mặt chữ liền thấu hiểu ư nghĩa trong ấy, có trí huệ rất sâu trong đó. Chẳng hạn như chữ Gia (), quư vị nh́n chữ Gia viết theo kiểu chữ Triện sẽ thấy được ư vị trong đó, sẽ hiểu ư nghĩa rất sâu trong chữ ấy. Chẳng thể nào không cần đến Gia, nhưng chớ nên mê, quư vị phải giác ngộ! Trong cách viết chữ Gia (), phía trên vẽ “một h́nh” [tượng trưng] cho cái nhà, nay chúng ta viết [thành bộ Miên ()] giống như nét chữ che trên đầu chữ Bảo (), nếu nh́n chữ Gia được viết theo lối chữ Triện, quư vị sẽ thấy đó là nhà ở. Ở trong nhà là ǵ? Vừa nh́n liền biết ngay, [chữ Thỉ () dưới bộ Miên ()] là một con lợn nhỏ, lợn là ngu si! Bảo quư vị phải thấy điều này, phải giác ngộ, đừng bị mê hoặc bởi nó! V́ thế, văn tự Trung Quốc quả thật từ trí huệ lưu lộ. Quư vị thấy chữ ấy, sẽ khai trí huệ, phải mở mang trí huệ chân chánh.

      Có một năm nọ, cư sĩ Tiêu Quốc Bảo viết thư cho tôi kể anh ta quen biết một người bạn gái, muốn kết hôn, hỏi tôi có nên hay không? Tôi gởi cho anh ta một tấm bưu thiếp, viết một chữ Hôn (), bảo anh ta hăy xem kỹ. Anh ta cũng hiểu được ư nghĩa ấy, gởi thư trả lời: “Con chẳng kết hôn”. Quư vị thấy chữ Hôn ấy, trông thấy người nữ (), đầu óc liền hôn mê (hôn (): hôn mê, mê muội, thiếu sáng suốt). Nếu anh ta chẳng mê muội, sẽ chẳng kết hôn; nếu mê muội bèn kết hôn. Theo cổ lễ Trung Quốc, hôn lễ cử hành sau hoàng hôn, tuyệt đối chẳng cử hành lúc ban ngày ban mặt. Quư vị đọc Lễ Kư sẽ biết nếp sống của người Hoa trong quá khứ vô cùng ư vị, quả thật đă phối hợp cùng thiên nhiên. Do vậy, cuộc sống của người Trung Quốc [thời cổ] quả thật hết sức t́nh tứ.

      Anh ta (cư sĩ Tiêu Quốc Bảo) làm theo cách như vậy có đúng hay không? Vẫn chẳng đúng, vẫn sai! Phật pháp nói Trung Đạo, chớ nên rớt vào hai bên! Quư vị mê hoặc, điên đảo, “hôn” là rơi vào bên này. Nếu quư vị chẳng kết hôn, sẽ ngă vào bên kia. Điều này dạy quư vị điều ǵ? Khi quư vị kết hôn, chớ nên mê muội, đấy mới là đúng, lúc ấy mới là Trung Đạo! Do vậy, anh ta vẫn hiểu lầm ư nghĩa, cho đến hiện tại vẫn chẳng kết hôn. Văn tự Trung Quốc đúng là có trí huệ rất sâu, chẳng hạn như quư vị “thành gia” (lập gia đ́nh), lập gia đ́nh nhưng đừng mê trong cái nhà ấy, mang ư nghĩa đó. Nhắc nhở quư vị, chứ chẳng phải là bảo quư vị đừng lập gia đ́nh, đừng kết hôn, mà là bảo quư vị chớ mê! Chẳng mê ở trong ấy, đấy mới là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa được nói trong Phật pháp.

      - Thứ hai, “văn tự có thể sanh ra Bát Nhă”, từ văn tự có thể sanh ra trí huệ. Như tôi vừa mới nói, khi quư vị thấy văn tự ấy, có thể sanh khởi trí huệ, văn tự được sáng tạo từ trí huệ. Do vậy, văn tự cũng có thể sanh ra trí huệ. Đức Phật v́ chúng ta mà nói các thứ văn tự, kinh điển, chúng ta gọi những thứ ấy là Văn Tự Bát Nhă. Văn tự có thể sanh ra Bát Nhă. V́ vậy, chúng ta nương theo kinh điển nhà Phật, vâng theo lời Phật dạy, có thể khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật.

      - Thứ ba, “văn tự chính là Bát Nhă”. Văn tự là phù hiệu, phù hiệu ấy chính là Không, chính là Giả, chính là Trung, bản thân nó chẳng phải là Bát Nhă th́ là ǵ? Nh́n từ h́nh tướng của văn tự, nó là giả tướng. Nh́n từ bản thể, nó là Không, chẳng có tự tánh, vô tự tánh. Nó do nhân duyên ḥa hợp mà hiện ra tướng, bản thân nó chẳng có tự tánh, bản thể của nó chính là Không. Nhưng nó có thể truyền lại trí huệ, lư luận, kinh nghiệm, và phương pháp của những bậc đă giác ngộ. Từ văn tự, người đời sau chúng ta có thể hoàn toàn tiếp nhận [những điều ấy]. Do vậy, có thể nói văn tự là Bát Nhă. Bởi đó, từ Văn Tự Bát Nhă đạt đến Thật Tướng Bát Nhă. T́nh h́nh này tạo thuận tiện rất lớn, thuận tiện ǵ vậy? Tức là ngôn ngữ, văn tự đơn giản, hữu hạn, mà lại có thể hiển thị, khiến cho chúng ta thấu hiểu, giác ngộ nghĩa lư chẳng có cùng tận. Văn tự hữu hạn, nhưng nghĩa lư trong ấy chẳng có cùng tận.

 

      (Sớ) Ư trung phân tam.

      () 於中分三。

      (Sớ: Trong ấy, chia ra làm ba).

 

      Trong đoạn này, bộ kinh [Di Đà] này được chia thành ba phần.

 

      (Sớ) Kim thuộc Tự Phần.

      () 今屬序分。

      (Sớ: Nay [đoạn đang được thảo luận ở đây] thuộc về Tự Phần).

 

      Đoạn chúng ta đang đọc này thuộc vào Tự Phần.

 

      (Sớ) Tự giả tự dă.

       () 序者敘也。

      (Sớ: Tự là trần thuật).

 

      Là tŕnh bày, tường thuật.

 

      (Sớ) Hựu tự dă.

      () 又緒也。

      (Sớ: C̣n có nghĩa là đầu mối).

 

      Là đầu mối.

 

      (Sớ) Vị nhập chánh văn, tiên tự liệt thử kinh chi đoan tự dă.

       () 未入正文,先敘列此經之端緒也。

      (Sớ: Chưa bước vào phần chánh văn, trước hết, nêu bày đầu mối của kinh này).

 

      Trước hết, tŕnh bày nhân duyên giảng kinh.

 

      (Sớ) Hữu Chứng Tín, Phát Khởi nhị tự.

  () 有證信發起二序。

      (Sớ: Có hai loại tự phần là Chánh Tín và Phát Khởi).

 

      Tự Phần có hai đoạn: Đoạn thứ nhất là Chứng Tín Tự, đoạn thứ hai là Phát Khởi Tự. Chứng Tín Tự là Lục Chủng Thành Tựu. Phát Khởi Tự ở sau [Chứng Tín Tự, tŕnh bày] nhân duyên của bộ kinh và pháp hội lần này. Nhân duyên pháp hội [lần này] nhất định chẳng giống những pháp hội khác; v́ thế, c̣n gọi là Biệt Tự.

 

      (Sớ) Kim duy chứng tín, phàm chứng tín giả, giai dĩ lục chủng thành tựu. Kim thuận văn tiện, quân kỳ phồn giản, thả phân vi nhị, tiên minh ngũ cú, hậu minh liệt chúng, hợp chi thành lục.

      () 今唯證信,凡證信者,皆以六種成就。今順文便,均其繁簡,且分為二,先明五句,後明列眾,合之成六。

      (Sớ: Nay riêng đối với phần Chứng Tín. Phàm là Chứng Tín, đều dùng sáu món thành tựu [để chứng minh tính chân thật của một bộ kinh]. Nay thuận theo lời văn cho tiện, cân nhắc mức độ phức tạp hay đơn giản, bèn chia thành hai phần, trước hết là giảng năm câu [thuộc năm điều Thành Tựu đầu tiên], sau là nêu rơ thính chúng [tham dự pháp hội], hợp thành sáu [thứ Thành Tựu]).

 

      Liên Tŕ đại sư gộp chung năm món thành tựu đầu lại để giảng, hợp thành một đoạn. Phần liệt kê thính chúng, v́ có nhiều người, nên Ngài chia thành một đoạn khác. Trước hết, nói về năm câu này, sau đó sẽ giảng về đại chúng.

 

      (Sớ) Tư phục lệ, tiền thống quát đại ư, thứ năi ly thích.

      () 茲復例前統括大意,次乃離釋。

      (Sớ: Ở đây, lại theo thông lệ, trước hết nêu tổng quát đại ư rồi kế đó mới tách ra từng điều để giải thích).

 

      Trước hết là nói chung, sau đấy mới giới thiệu từng điều.

 

      (Sớ) Ngôn như thị chi pháp.

() 言如是之法。

      (Sớ: Nói “pháp như thế”).

 

      “Như thị chi pháp” là chỉ bộ kinh này.

 

      (Sớ) Ngă tùng Phật văn.

      () 我從佛聞。

      (Sớ: [Nhằm biểu thị pháp này] ta nghe từ đức Phật nói).

 

      “Ta” là tôn giả A Nan tự xưng. Kinh do tôn giả A Nan kết tập, do Ngài giảng lại, nhắc lại.

 

      (Sớ) Bỉ nhất thời Thích Ca Mâu Ni Phật, tại Xá Vệ quốc chi Kỳ Viên dă, cái thị Phật thị A Nan cố.

      () 彼一時釋迦牟尼佛,在舍衛國之祇園也,蓋是佛示阿難故。

      (Sớ: V́ trong một thời nọ, Thích Ca Mâu Ni Phật ngự tại Kỳ Viên thuộc nước Xá Vệ, dạy cho A Nan [pháp ấy]).

 

      Phía trước hết thảy kinh có ghi thêm mấy lời dẫn nhập này, chép thêm mấy câu này là v́ đức Phật đă bảo ngài A Nan [làm như thế]. Lúc đức Phật sắp diệt độ, A Nan quá đau xót, v́ A Nan chỉ chứng Sơ Quả, chưa đoạn Kiến Tư phiền năo, Ngài đă đoạn Kiến Hoặc, nhưng chưa đoạn Tư Hoặc (tham, sân, si, mạn, nghi). V́ thế, đức Phật diệt độ, Ngài rất đau khổ, vẫn ứa nước mắt. Lúc ấy, ngài A Nậu Lâu Đà bảo Ngài: “Đức Phật sắp diệt độ, có những vấn đề rất trọng yếu ông cần phải thỉnh giáo, há có nên khóc lóc?” Ngài được cảnh tỉnh, bèn đáp: “Vấn đề ǵ vậy? Nay tâm tôi đang loạn, tôi nghĩ cũng chẳng ra phải nên hỏi những ǵ? Những ǵ chẳng cần hỏi?” Ngài A Nậu Lâu Đà dạy ngài A Nan hỏi bốn câu. Bốn câu hỏi ấy vô cùng trọng yếu, liên quan đến Tăng đoàn.

      Thứ nhất là lúc Phật tại thế, mọi người chúng con ở cùng chỗ với đức Phật, đức Phật lănh đạo chúng con. Đức Phật chẳng trụ thế, chúng con nương tựa vào ai để làm thầy? Chúng con trụ nơi đâu? Hai câu hỏi ấy. Trong tương lai, chúng con kết tập những kinh điển do đức Phật đă giảng, đầu kinh có cần phải thêm những câu chữ nào hay không? V́ phía trước kinh điển của ngoại đạo Ấn Độ đều có lời dẫn nhập, chúng ta cần thêm hay không? Nên thêm theo cách nào? Câu hỏi thứ tư là đức Phật tại thế, đương nhiên đồ đệ rất nhiều, trong các môn đệ cũng có những kẻ quậy phá, càn quấy, đức Phật có thể chế phục họ. Đức Phật nhập diệt, chúng con đều là bạn học, họ nhiễu loạn Tăng đoàn, nên làm như thế nào? Nêu lên bốn câu hỏi ấy.

      Đức Phật trả lời, câu thứ nhất là “dĩ giới vi sư” (lấy giới làm thầy). Phật chẳng tại thế, nhưng giới luật do đức Phật chế định vẫn c̣n, nương theo giới luật để tu hành sẽ chẳng khác ǵ thầy vẫn c̣n. “Y Tứ Niệm Xứ trụ” (nương vào Tứ Niệm Xứ để trụ), ta trụ vào đâu? Nương vào Tứ Niệm Xứ. Tứ Niệm Xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngă. Tâm chúng ta an trụ nơi Tứ Niệm Xứ, chẳng khác ǵ Phật vẫn trụ thế. Trong tương lai, kết tập kinh điển, trước hết thảy các kinh phải thêm: “Tôi nghe như thế này, một thời Phật ngự tại nơi nào đó, cùng với những người nào đó”, đấy là lời giới thiệu. V́ thế, hết thảy các kinh trong hiện thời đều có câu này. Thứ tư, đối phó những ác tỳ-kheo đầu ḅ đầu bướu như thế nào? Đức Phật dạy hăy Mặc Tẫn; Mặc Tẫn (Brahma-danda) là không quan tâm tới bọn họ, để mặc họ. “Phật thị A Nan”, [nghĩa là] đức Phật chỉ dạy A Nan như thế.

 

      (Sớ) Như thị ngă văn hữu tam nghĩa: Nhất, đoạn nghi cố; nhị, tức tránh cố, tam, giản tà cố.

      () 如是我聞有三義:一斷疑故,二息諍故,三揀邪故。

      (Sớ: “Như thị ngă văn” có ba ư nghĩa: Một là để đoạn nghi; hai là nhằm dứt mọi tranh căi; ba là để phân biệt kinh này chẳng phải do kẻ tà vạy bịa đặt).

 

      Thuở ấy, khi tôn giả A Nan kết tập kinh điển, vừa lên ṭa, được Tam Bảo gia tŕ, tướng mạo A Nan biến đổi, trở nên giống như Phật, cho nên thính chúng ở dưới đều hoài nghi. Có kẻ hoài nghi: Có phải là Thích Ca Mâu Ni Phật trở lại hay không? Thích Ca Mâu Ni Phật đă diệt độ, đương nhiên sẽ không trở lại. Có phải là Phật từ phương khác đến hay chăng? Cũng có người hoài nghi A Nan đă thành Phật. V́ vậy, ngài A Nan vừa xướng “như thị ngă văn”, mọi người chẳng c̣n nghi hoặc. Đó là ư nghĩa thứ nhất, tức là “đoạn nghi cố” (nhằm đoạn nghi).

Thứ hai là “tức tránh luận” (dứt tranh căi), nếu bảo là do A Nan nói, mọi người chẳng phục. Ngài A Nan nói: “Những lời này chẳng phải do tôi nói, mà đều do đức Phật nói”, mọi người chẳng dị nghị, chẳng tranh căi.

Thứ ba là “giản tà”, “tà” là ngoại đạo Ấn Độ. Kinh sách của ngoại đạo Ấn Độ đều mở đầu bằng chữ A Ưu. A Ưu là hữu vô, nghĩa là “hoặc hữu, hoặc vô”, phỏng chừng, bất định. Kinh Phật chẳng dùng cách ấy, kinh Phật dùng “như thị ngă văn, nhất thời”, dùng cách mở đầu như vậy. Đây là chỗ nhằm phân biệt sự sai khác [giữa kinh Phật] với hết thảy các kinh sách tôn giáo của Ấn Độ. Vừa mở ra đă thấy h́nh thức khác hẳn.

 

      (Sao) Văn Tự Bát Nhă, vị Bát Nhă vô ngôn, lại ngôn nhi hiển. Cố Phật dĩ văn tự thuyết kinh, kim hoàn dĩ văn tự giải thích.

      () 文字般若,謂般若無言,賴言而顯。故佛以文字說經,今還以文字解釋。

      (Sao: Văn Tự Bát Nhă ư nói: Bát Nhă vô ngôn, nhưng dựa vào ngôn ngữ để hiển lộ. V́ thế, đức Phật dùng văn tự để nói kinh, nay lại dùng văn tự để giải thích).

 

      Cổ nhân bảo: “Đạo bổn vô ngôn, nhân ngôn hiển đạo” (Đạo vốn chẳng có ngôn ngữ, do ngôn ngữ mà hiển lộ Đạo). Thánh nhân Trung Quốc cũng nói: “Đạo khả đạo, phi thường đạo. Danh khả danh, phi thường danh” (Đạo mà có thể nói ra được th́ chẳng phải là đạo thường hằng, cái tên mà có thể gọi ra được th́ chẳng phải là cái tên thường hằng). Quan điểm này tương xứng với kiến giải của đức Phật; nói cách khác, đều hiểu rơ Thật Tướng, chân tướng của vạn pháp trong vũ trụ vốn chẳng nói được. Kinh Đại Bát Nhă tuy là bộ kinh Phật lớn nhất, có tới sáu trăm quyển, nhưng cốt lơi của bộ kinh rất đơn giản: “Bất sanh, bất diệt”, “Bát Nhă vô tri”. Bát Nhă vốn vô tri, vô tri là Thể của Bát Nhă, khi ứng dụng sẽ là “không ǵ chẳng biết”. Thể của Bát Nhă là ǵ? Nói thật ra là tâm thanh tịnh. Quư vị muốn cầu Bát Nhă, cầu ở nơi đâu? Không phải là niệm kinh Bát Nhă hay niệm kinh Kim Cang sẽ có Bát Nhă, chẳng có đạo lư ấy! Niệm kinh Đại Bát Nhă, quư vị có Bát Nhă hay không? Càng niệm càng mê muội, mơ hồ, càng niệm càng hồ đồ. Bát Nhă nhất định phải cầu từ trong Định, Thiền gia nói “Thiền Định rất sâu”. Người ấy đắc Thiền Định thật sâu, nên trí huệ mở mang. Đấy là “vốn chẳng có một vật” như Lục Tổ đă nói. Nó chính là Bát Nhă, là Thể của Bát Nhă. Trong Tịnh Độ gọi nó là “nhất tâm bất loạn”. Nhất tâm bất loạn có Sự nhất tâm và Lư nhất tâm. Ở đây nói tới Lư nhất tâm, chứ Sự nhất tâm vẫn chưa được! Sự nhất tâm là Định, nó có thể chế phục phiền năo, nhưng chẳng thể chuyển phiền năo thành Bồ Đề. Quư vị phải hiểu: Phiền năo và trí huệ Bát Nhă là cùng một chuyện, là một, chẳng hai. Định có thể chế phục phiền năo, nhưng chẳng thể chuyển phiền năo, chẳng thể chuyển biến! Tới khi khai trí huệ th́ mới được, sẽ chuyển phiền năo thành Bồ Đề, chuyển sanh tử thành Niết Bàn, chúng là một, chẳng phải hai!

      Quư vị phải hiểu: Nói “đoạn phiền năo” th́ “đoạn” ấy chẳng phải là thật sự đoạn. Nếu thật sự đoạn phiền năo th́ Bát Nhă cũng đoạn luôn, vẫn chưa được! Nói “đoạn” thật ra là “chuyển”, phiền năo chẳng c̣n, phiền năo đều biến thành trí huệ. Lúc mê, chuyển Bát Nhă thành phiền năo; đó là phàm phu, mê rồi! Bậc giác ngộ chuyển hết phiền năo tập khí của quư vị thành đại trí huệ. Kinh thường dạy: “Phiền năo tức Bồ Đề, sanh tử tức Niết Bàn”. V́ chúng là một Thể. Do vậy, đức Phật dạy chúng ta phải chuyển biến, quư vị phải biết chuyển biến. Do điều này, biết rằng: Phật pháp quả thật sống động, hoạt bát, chẳng phải là chết cứng. Căn tánh người Tiểu Thừa quả thật kém cỏi, chết cứng nơi chữ nghĩa, chết cứng trong giáo pháp, chẳng chuyển được! Tối đa là họ có thể chế phục, chế phục đến mức cao nhất cũng bất quá chứng A La Hán mà thôi. A La Hán thiếu trí huệ, Tam Đức Bí Tạng là Bát Nhă, Pháp Thân, Giải Thoát; A La Hán chưa chứng đắc Pháp Thân, cũng chẳng có Bát Nhă. A La Hán chỉ có một chút giải thoát nhỏ nhoi, sự giải thoát ấy do Định mà đạt được, chẳng đắc đại giải thoát. Đại giải thoát nhất định phải do trí huệ Bát Nhă chuyển phiền năo thành Bồ Đề th́ mới được. Do vậy, biết trí huệ ấy vô cùng trọng yếu.

      Trí huệ là mục tiêu truy cầu tối hậu trong Phật pháp, mà cũng là mục tiêu chân chánh. Phương pháp cầu trí huệ tuyệt đối là Thiền Định, chẳng có cách nào thay đổi điều này! Chẳng do Định sẽ chẳng đạt được trí huệ; nhưng tuyệt đối chẳng thể nói Thiền Tông mới tu Thiền Định, các tông khác chẳng tu, [nếu hiểu như vậy] th́ đă sai bét rồi! Cố nhiên Thiền Tông tu Thiền Định, nhưng tất cả hết thảy các tông phái khác, tám vạn bốn ngàn pháp môn thảy đều tu Thiền Định! Có thể không gọi là Thiền Định, nhưng xét theo ư nghĩa th́ là Thiền Định, giống như Tịnh Độ chúng ta đề xướng “nhất tâm bất loạn”, nhất tâm bất loạn là Thiền Định! Giáo Hạ, như tông Thiên Thai tu Chỉ Quán, Chỉ Quán là Thiền Định. Thiền Định (Dhyāna-samādhi) là từ Phạn văn của Ấn Độ dịch ra, Thiền là Tĩnh Lự. Tĩnh () là “tĩnh chỉ” (lặng lẽ, dứt bặt), ngưng dứt tất cả hết thảy vọng tưởng, đó là Chỉ. Quán là trong Định có cảnh giới, quư vị phải hiểu rơ ràng. Tĩnh Lự chính là Chỉ Quán do người Hoa phát minh ra. V́ thế, Chỉ Quán là Thiền. Do điều này, biết: Không có một tông phái, không một pháp môn nào chẳng tu Thiền Định, chẳng qua phương pháp khác nhau, cách thực hiện khác biệt, nhưng thảy đều cùng tu Định. Phương pháp của Tịnh Độ Tông là dùng một câu Phật hiệu A Di Đà Phật để tu Thiền Định, phù hợp ư nghĩa Thiền Định, mà cũng phù hợp với Chỉ Quán. Niệm một câu Phật hiệu này nhằm ngưng dứt hết thảy những vọng niệm khác, đó là Chỉ. Quư vị niệm một câu Phật hiệu này rơ ràng, rành rẽ, đó là Quán.

      Thiền gia tham thoại đầu, tham thoại đầu là Quán, dứt vọng niệm là Chỉ. Họ niệm niệm phải cảnh tỉnh bằng câu thoại đầu ấy. Người niệm Phật chúng ta niệm niệm cảnh tỉnh bằng câu Phật hiệu này; người tham Thiền dùng thoại đầu để cảnh tỉnh, nhưng nếu kẻ ấy chưa đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, sẽ chẳng có cách nào, không thể thụ dụng, con đường ấy rất khó khăn! C̣n chúng ta do một câu Phật hiệu này, dẫu chưa thể đắc Thiền Định rất sâu, chỉ cần niệm tới mức tương ứng là có thể văng sanh, đấy là pháp môn Nhị Lực. Người niệm Phật dễ thành tựu, thành tựu bèn văng sanh. Thiền chẳng dễ ǵ thành tựu, vô cùng khó khăn! Giáo Hạ tu Chỉ Quán, cũng chẳng phải là chuyện dễ dàng. V́ vậy, tông Thiên Thai từ sau Trí Giả đại sư trở đi, rất nhiều vị tổ sư tông Thiên Thai chẳng tu Chỉ Quán mà đều niệm Phật. Chỉ Quán do Trí Giả đại sư phát minh. Ma Ha Chỉ Quán và Tiểu Chỉ Quán đều do Ngài phát minh, nhưng chính Ngài chẳng tu, bản thân Ngài niệm Phật, cuối cùng vẫn là niệm Phật văng sanh. Quư vị mới biết pháp môn Niệm Phật thù thắng, pháp môn Niệm Phật đáng tin cậy, Chỉ Quán chẳng đáng tin cậy bằng niệm Phật. Nếu muốn khai trí huệ, nhất định phải tu tâm thanh tịnh, mà cũng là nói “phải tu nhất tâm”, quư vị mới biết điều này thật sự trọng yếu! Tâm thanh tịnh khởi tác dụng là trí huệ Bát Nhă, tâm chúng ta không thanh tịnh, cho nên chẳng có cách nào. Dẫu quư vị thông minh cách mấy, có trí huệ cách mấy, đều là Thế Trí Biện Thông, chẳng phải là trí huệ Bát Nhă.

      “Bát Nhă vô ngôn, lại ngôn nhi hiển” (Bát Nhă không có ngôn ngữ, dựa vào ngôn ngữ để hiển lộ). Đức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, tôn giả A Nan đă kết tập, lưu lại những kinh điển này. Thậm chí, những kinh điển ấy lại được các vị cổ đức Trung Quốc dịch sang tiếng Hán, văn tự Trung Quốc cũng thuộc Bát Nhă, có thể hiển lộ những đạo lư do đức Phật đă nói. “Cố Phật dĩ văn tự thuyết kinh, kim hoàn dĩ văn tự giải thích” (v́ thế, đức Phật dùng văn tự để nói kinh; nay vẫn dùng văn tự để giải thích): Những bản chú giải của các tổ sư vẫn dùng văn tự để giải thích kinh điển nhà Phật, giúp chúng ta thâm nhập cảnh giới Phật.

 

      (Sao) Nhiên văn tự tánh Không, tức thị Thật Tướng. Cố tam chủng Bát Nhă, tương vi dung thông, bất ngại văn tự dă.

  () 然文字性空,即是實相。故三種般若,相為融通,不礙文字也。

      (Sao: Nhưng văn tự tánh Không, chính là Thật Tướng. V́ thế, ba thứ Bát Nhă dung thông lẫn nhau, chẳng trở ngại văn tự).

 

      Giải thích ư nghĩa câu “Văn Tự Bát Nhă đạt hồ Thật Tướng” trong phần trước. “Văn tự tánh Không là Thật Tướng”, Thật Tướng là chân tướng của nó. Do vậy, biết: Văn tự cũng thuộc loại giải thoát tướng, giải thoát là ǵ? Nói theo cách bây giờ, [giải thoát] là tự do, tự tại, chẳng bị trói buộc tí nào, chẳng chướng ngại tí nào! Văn tự xác thực là như vậy. Văn tự cũng chẳng ở trong, cũng chẳng ở ngoài, mà cũng chẳng ở chặng giữa, giống như trong kinh Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật gạn hỏi tôn giả A Nan về cái tâm đến bảy chỗ. Trên mặt Sự tuy có, về Lư xác thực chẳng có. Đấy là văn tự tánh Không, tương ứng với Thật Tướng. Hiểu rơ Thật Tướng, chân tướng sự thật, đối với văn tự, cũng có thể nói là đối với kinh điển, chúng ta phải dùng thái độ ǵ để quan sát? Bất ly, bất tức (chẳng rời ĺa, chẳng chấp trước), thái độ ấy là đúng. “Bất ly” là chẳng rời khỏi kinh điển, đọc tụng mỗi ngày. “Bất tức” là ta chẳng chấp trước nó, đó là quư vị thật sự nhận biết nó. Quư vị rời ĺa văn tự, nói văn tự tánh Không, ta chẳng cần đến nó, vậy là quư vị chấp Không. Quư vị chấp trước nó, không buông xuống được, bèn là chấp trước Có. Điều đáng quư trong Đại Thừa Phật pháp là hai bên Có và Không đều chẳng chấp trước: Chẳng rời khỏi kinh điển, mỗi ngày đọc kinh điển, chẳng rơi vào Không; nhưng chẳng chấp trước kinh điển, ta chẳng chấp Có. Hai bên đều chẳng chấp trước. Có như vậy, quư vị mới có thể thấu hiểu nghĩa thú trong kinh điển. Nhất quyết đừng chết cứng nơi kinh văn, quư vị đồng tu phải hiểu rơ chuyện này! Phải biết ngôn ngữ, văn tự do đức Phật đă nói nhằm khơi gợi bổn tánh của chúng ta, nếu quư vị chấp trước, sẽ biến thành chướng ngại.

      Phải như thế nào mới khai hiển bổn tánh? Một pháp chẳng lập mới khai hiển, lúc đạt tới “chẳng có một vật nào”, bổn tánh sẽ khai hiển. Nói cách khác, tất cả hết thảy phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, vướng mắc trong tâm quư vị thảy đều buông xuống, bổn tánh của quư vị sẽ khai hiển. Hễ có một chuyện vướng mắc là không được, bổn tánh liền bị nhiễm dơ, bị chướng ngại. Nếu nói tới Phật pháp, th́ nói thật ra, nó đơn giản như vậy đó. Hiện thời, chúng ta chẳng thể kiến tánh là do trong ḷng vướng mắc quá nhiều chuyện, đă nghe Phật pháp nói ta phải buông bỏ, nhưng có buông xuống được hay chăng? Bỏ không nổi! Bỏ không nổi sẽ chẳng thể kiến tánh! Chân tánh đă bị những thứ ấy trói buộc. Nếu quư vị thật sự có thể hạ quyết tâm, hết thảy đều gạt bỏ, đều bỏ sạch, sẽ kiến tánh, sẽ minh tâm kiến tánh.

      Lại nữa, đối với chuyện “bỏ” th́ tôi lại phải nhắc quư vị, chẳng phải là bỏ trên mặt Sự! Bỏ sạch trên mặt Sự, vẫn chẳng thể kiến tánh. Nếu bỏ hết trên mặt Sự sẽ kiến tánh, người đă chết chẳng có ǵ không bỏ, thứ ǵ cũng chẳng mang theo, thân thể cũng chẳng mang theo, lẽ ra phải minh tâm kiến tánh! Sau khi kẻ ấy đă chết, cớ sao vẫn phải đầu thai luân hồi? Do vậy, quư vị phải hiểu: Chẳng phải là bỏ trên mặt Sự, mà là bỏ trong tâm. V́ sao đức Phật lại bảo chúng ta bỏ nơi Sự? Bỏ nơi Sự nhằm mong giúp cho quư vị bỏ trong tâm, mang ư nghĩa này! Trong tâm thật sự có thể bỏ sạch sành sanh, dẫu trên mặt Sự là có, chắc chắn chẳng trở ngại Sự. Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, làm sao có chướng ngại cho được? V́ vậy, thành Phật là tâm thành Phật, chẳng phải là thân thành Phật.

      Phật dạy chúng ta tŕ giới luật, tức là phải bỏ những thứ bất thiện; bỏ sạch hết thảy các thứ bất thiện. Dạy kẻ sơ học dùng phương pháp ấy. Bởi vậy, chúng ta tŕ giới cũng chớ nên chấp chết cứng giới điều. Chết cứng trong giới điều, không chỉ chẳng thể khai trí huệ, mà cũng chẳng thể đắc Định. Vốn chẳng có một vật, lấy đâu ra giới? Nếu c̣n có một điều giới luật, tức là c̣n có một vật! C̣n có “chẳng sát sanh” tức là trong bổn tánh của quư vị c̣n có “chẳng sát sanh”, c̣n có một vật, chẳng thể gọi là “chẳng có một vật nào”! C̣n có “chẳng trộm cắp”, tức là quư vị có hai vật, chẳng phải là “không có một vật nào”! V́ thế, phải hiểu: Trong tâm thanh tịnh, thứ ǵ cũng đều không có, hoàn toàn do bổn tánh hiển lộ.

      Nhưng từ vô thỉ kiếp tới nay, chúng ta mê mất bổn tánh, nay đức Phật dạy chúng ta một phương pháp để từ từ khôi phục bổn tánh từng bước một. Khởi đầu bằng tŕ giới, từ tŕ giới sẽ đắc định, từ đắc định khai trí huệ, khai trí huệ sẽ hiển lộ Chân Như bổn tánh của chúng ta, dùng phương pháp và cách thức này. Những phương pháp và cách thức ấy là cần thiết trong quá tŕnh tu hành, nhưng tiến lên một bước, nhất định phải bỏ bước dưới. Đắc Định sẽ không cần tŕ giới, v́ sao? Định cộng giới. Một người đắc Định, có thể phạm giới hay chăng? Chẳng thể nào! V́ thế, gọi là Định cộng giới, cho nên chẳng cần phải tŕ giới từng điều một. Tới khi chứng quả, sẽ là đạo cộng giới, quyết định chẳng phạm giới.

      Do vậy, có thể biết rất nhiều thứ do đức Phật đặt ra nhằm giúp đỡ chúng ta tu tâm, tu tâm là chánh yếu. Tâm đă thanh tịnh, lẽ đâu thân chẳng thanh tịnh? Thân nhất định thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh, cảnh giới bèn thanh tịnh, thế giới sẽ thanh tịnh. Chúng ta muốn biết thế giới ấy là tốt hay xấu, hăy nh́n từ đâu? Nh́n từ ḷng người. Tâm con người bất hảo, thế giới ấy nhất định có tai nạn, tâm chẳng thanh tịnh mà! V́ sao thế giới Cực Lạc tốt đẹp? Chẳng cần nh́n vào điều nào khác, tâm người nơi ấy thanh tịnh, mỗi người đến Tây Phương Cực Lạc thế giới đều do tâm thanh tịnh mà văng sanh, cho nên cảnh giới của họ tốt đẹp! Tâm chẳng thanh tịnh, sẽ không thể văng sanh, tâm nhất định phải thanh tịnh th́ mới có thể văng sanh; chẳng giống thế giới này, tâm chẳng thanh tịnh, vấn đề này nghiêm trọng lắm.

      “Tam chủng Bát Nhă, tương vi dung thông” (ba thứ Bát Nhă dung thông lẫn nhau). Ba thứ Bát Nhă là Văn Tự, Quán Chiếu, Thật Tướng. Nương theo văn tự, khởi quán chiếu, chứng Thật Tướng. “Y văn tự” là nương theo kinh điển, chúng ta đọc kinh phải dựa vào văn tự. Không có văn tự, chẳng có cách ǵ tiếp nhận giáo huấn của đức Phật, đức Phật dạy người đời sau hoàn toàn phải nhờ vào văn tự. Chúng ta đọc kinh, điều khẩn yếu là phải “khởi quán chiếu”, đấy là biết đọc, chẳng chết cứng nơi văn tự. Quán chiếu là ǵ? Nói nghiêm ngặt, Quán là đừng phân biệt, chấp trước; nói theo cách bây giờ, chỉ là nói tương tự, chỉ có thể nói tương tự, vẫn chưa phải là chân thật; [Quán] được gọi là trực giác, trực giác là không thông qua phân biệt, tư duy, tưởng tượng, mắt chúng ta thấy cảnh giới bên ngoài, tai nghe âm thanh th́ gọi là Quán. Chiếu nghĩa là hiểu rơ, chiếu kiến có nghĩa là hiểu rơ. Mắt chúng ta vừa thấy [cảnh giới] bên ngoài sẽ hiểu rơ ràng, đấy là Quán Chiếu. Giống như chúng ta mở cuốn kinh ra, thấy chữ rơ ràng, rành rẽ, ư nghĩa cũng hiểu rất rơ rệt; đấy là Quán Chiếu. Nếu chúng ta mở kinh điển ra, đối với mỗi câu bèn suy nghĩ ư nghĩa trong ấy, trật rồi! V́ sao? Quư vị vừa nghĩ, ư thức, tức thức thứ sáu, bèn làm chủ. Nói đơn giản, Quán Chiếu là chẳng dùng tới tâm ư thức. Chúng ta nói đơn giản hơn chút nữa, sẽ là đừng dùng thức thứ sáu, tức ư thức, đừng dùng thức thứ bảy; đấy là Quán Chiếu. Thức thứ sáu là phân biệt, ta chẳng phân biệt; thức thứ bảy là chấp trước, ta cũng đừng chấp trước, ta chẳng phân biệt, chẳng chấp trước, mà hiểu rơ ràng, rành rẽ, đấy là Quán Chiếu. Vận dụng công phu ấy lâu ngày, Thật Tướng sẽ hiện tiền.

      V́ vậy, đọc kinh, tôi thường nói với các vị đồng tu, người biết đọc kinh, nói thật ra, đọc chú giải cũng giống như vậy, tôi nói [đọc kinh, hay đọc chú giải] là Tam Học Giới - Định - Huệ được hoàn thành một lượt, đấy là nói theo Tam Học. Nếu nói theo Bát Nhă, sẽ là Quán Chiếu Bát Nhă nhập Thật Tướng Bát Nhă. Ngay trong lúc lục căn tiếp xúc lục trần, chúng ta chẳng khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước, không lưu lại ấn tượng, sẽ là Thật Tướng, nên nói theo kiểu kinh Kim Cang sẽ là: “Phàm những ǵ có tướng đều là Thật Tướng”. Chúng ta vừa mới khởi tâm động niệm, [bèn tự nhắc nhở] “phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”, tướng bên ngoài có c̣n biến động hay không? Không có.

      Tướng hư vọng và tướng chân thật khác nhau ở chỗ nào? Từ tâm niệm của chúng ta. Chúng ta dùng chân tâm nh́n cảnh giới bên ngoài, cảnh giới bên ngoài là tướng chân thật, là Thật Tướng; chúng ta dùng tâm vọng tưởng để nh́n cảnh giới bên ngoài, cảnh giới bên ngoài là tướng hư vọng; đạo lư như thế đấy. Trong chân tâm không có ư niệm. Đại Thừa Khởi Tín Luận đă nói rất rơ ràng: “Chân tâm ly niệm”, không có niệm! V́ thế, cái tâm chúng ta không có ư niệm sẽ là chân tâm. Cái tâm không có niệm ấy thấy hết thảy vạn vật sẽ là Thật Tướng của các pháp, thưa quư vị, đấy là Nhất Chân pháp giới. V́ sao? Trong tâm quư vị có phân biệt, do không có phân biệt, chẳng có tốt xấu, liền b́nh đẳng. Không chấp trước sẽ chẳng yêu ghét. Không có tốt xấu sẽ chẳng ưa ghét, không ưa thích, không ghét bỏ, hết thảy các pháp b́nh đẳng, cảnh giới này là Nhất Chân pháp giới.

      Do Phật và các vị đại Bồ Tát trụ Nhất Chân pháp giới, Nhất Chân pháp giới cũng chẳng phải là rời khỏi thế giới này mà có riêng một Nhất Chân pháp giới, [nếu hiểu như vậy] quư vị đă trật rồi! Chẳng hề có! Nhất Chân pháp giới và mười pháp giới đều do tâm của chính chúng ta biến ra. Khi trong tâm chúng ta chẳng có phân biệt, chấp trước, không có ư niệm, pháp giới ấy là thật, Nhất Chân, đó là thật. Hễ khởi tâm động niệm, tâm chúng ta bèn là tâm vọng tưởng; dấy lên vọng tưởng, quư vị thấy cảnh giới ấy sẽ thiên biến vạn hóa. V́ thế, nói thật thà, cảnh giới ấy là cảnh chuyển theo tâm! Đức Phật nói lời chân thật, chẳng phải là tâm chuyển theo cảnh! V́ vậy, người học Phật nhất định phải học ǵ? Cảnh chuyển theo tâm, phải tự tại; đấy là người học Phật.

      Kẻ chẳng học Phật, khổ lắm! Tâm chuyển theo cảnh. Trong thế gian này, có những kẻ xem Phong Thủy, Phong Thủy là ǵ? Cảnh giới! [Quư vị coi Phong Thủy] tức là bị cảnh giới xoay chuyển! Cảnh giới ảnh hưởng đến quư vị. Người ta ca tụng quư vị mấy câu, quư vị vui vẻ lắm, tâm bị động rồi! Bị kẻ khác chuyển, bị cảnh giới bên ngoài xoay chuyển! Người ta chửi quư vị mấy câu, nếu quư vị nổi cáu vài ngày, quư vị đă bị cảnh giới chuyển, bị xoay chuyển bởi mối quan hệ với con người, bị xoay chuyển bởi hoàn cảnh vật chất th́ mới nhấn mạnh Phong Thủy. Phong Thủy xét theo Phật pháp sẽ chẳng thông! Phật pháp là ǵ? Tâm ta chuyển cảnh giới, lấy đâu ra Phong Thủy? Không có! Lúc ấy mới là rốt ráo, lúc ấy mới là triệt để, chính ḿnh xoay chuyển quan hệ con người, chính ḿnh xoay chuyển hoàn cảnh vật chất. Hết thảy do chính ḿnh làm chủ, chẳng do ngoại cảnh làm chủ. Chính ḿnh làm chủ th́ lúc đó mới gọi là Phật, là Bồ Tát.

      Trong Phật pháp nói tu hành, tu ǵ vậy? Tu điều này! Chư vị nhất định phải biết: Rời khỏi hết thảy quan hệ giữa con người với nhau, rời khỏi hết thảy hoàn cảnh vật chất, quư vị tới đâu để tu? Chẳng có chỗ nào để tu cả! Ở ngay trong cảnh giới, dấy lên Quán Chiếu Bát Nhă. Thiền gia nói chớ nên bỏ mất quán chiếu, hễ bỏ mất quán chiếu sẽ mê hoặc. Quán chiếu là niệm niệm nhắc nhở chính ḿnh cảnh giác, chẳng bị cảnh giới chuyển. Người khác ca tụng ta, tâm ta sáng suốt, rơ ràng, đó là trí huệ chiếu trụ, chẳng phải là ta hồ đồ! Kẻ khác ca tụng ta, ta chẳng hiểu, tức là đă biến thành chai đá, vô cảm mất rồi! Kẻ khác ca tụng ta, ta biết rơ ràng! Nhưng trong tâm ta như thế nào? Chẳng hào hứng, tâm b́nh lặng, yên tĩnh. Bề ngoài th́ cũng tỏ ra khách sáo, đó là ứng phó bề ngoài đối với người ấy [chứ trong tâm chẳng bận ḷng v́ lời khen đó]. Đấy chính là trí huệ Bát Nhă khởi tác dụng; cho nên nói: “Không ǵ chẳng biết”, khởi tác dụng mà! Người ta chửi ḿnh mấy câu, ta cũng hiểu rơ ràng, rành rẽ, trong tâm ta th́ sao? Chẳng tức giận, không bị cảnh giới chuyển, tâm thanh tịnh. Từ đầu đến cuối, trong cảnh giới giữ ǵn cái tâm thanh tịnh; đấy gọi là học Phật, học Phật là học theo cách này!

      Quư vị mỗi ngày niệm A Di Đà Phật, nếu ở trong cảnh giới vẫn bị cảnh giới xoay chuyển, tức là niệm Phật hiệu chẳng đắc lực! Niệm Phật hiệu thật sự đắc lực, sẽ không bị cảnh giới chuyển. Không bị cảnh giới chuyển, sẽ tương ứng với Bát Nhă. Nói cách khác, quư vị có thể làm chủ trong cảnh giới, trong tương lai văng sanh thế giới Cực Lạc chắc chắn sẽ tự làm chủ. Chẳng thể làm chủ cảnh giới, th́ trong tương lai văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đó cũng là cảnh giới, quư vị vẫn chẳng thể làm chủ được. Thật sự tu hành, chẳng thể rời khỏi xă hội. Hàng Tiểu Thừa lánh ḿnh trong núi thẳm, nơi không dấu chân người, khoét hang động để trụ trong đó khổ tu; vô dụng! Tu mười năm hay tám năm, bảo người ấy đến thành phố Đài Bắc đi dạo một ṿng, ngay lập tức xong đời, hết thảy hỏng bét, có ích ǵ đâu? Không chịu nổi khảo nghiệm! V́ vậy, thật sự tu hành phải tu nơi đô thị, phải ở trong chốn hồng trần để trải qua sự việc ḥng luyện tâm, nắm vững một câu A Di Đà Phật để luyện cái tâm thanh tịnh của chính ḿnh, luyện tâm thanh tịnh trong cảnh giới. Đó là thật sự học Phật! Hôm nay, chúng tôi giảng tới chỗ này!

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 51 hết



[1] Quyết Trạch (Pravicāra): Chọn lựa, quyết định.

 

[2] Huyễn sanh: Thị hiện dường như có hoài thai, hạ sanh, chứ không phải thật sự đức Phật đầu thai vào bụng mẹ như phàm nhân.

[3] Dạ Minh Châu là một thứ bảo thạch, c̣n gọi là Dạ Quang Bích, Tùy Châu, Huyền Châu, Thùy Cức, Minh Nguyệt Châu, Hỏa Quang Thạch, Thạch Lân Ngọc v.v... là thổ sản của vùng Đại Lư (Vân Nam). Loại đá này thường tỏa ánh sáng trong bóng tối. Tuy nó có thể tỏa sáng lung linh, nhưng không thể nào dùng để soi sáng các hang động hoặc địa cung như trong các truyện chưởng hay các truyện cổ Trung Hoa thường bịa đặt. Do hiếm lạ nên trong truyền thống Trung Quốc, Dạ Minh Châu đă được thêu dệt rất nhiều huyền thoại. Dạ Minh Châu thật ra chỉ là một loại đá quư, trong suốt, có lẫn nhiều nguyên tố thuộc loại đất hiếm (Rare earth metals, tức những nguyên tố như Lanthanide, Thulium, Ytterbium, Lutenium v.v...). Khi bị tác động bởi hoàn cảnh bên ngoài, các điện tử đất hiếm di chuyển, thay đổi trạng thái, tương tác với lớp cấu trúc trong suốt của Dạ Minh Châu, khiến cả khối đá tỏa sáng; nhưng ánh sáng này chẳng chói lọc rực rỡ đến nỗi đủ sức soi đường! Thật ra, Dạ Minh Châu vẫn có thể tỏa sáng trong nhiều giờ liền, nhưng không thể thấy được dưới ánh sáng ban ngày; có lúc Dạ Minh Châu cũng chẳng tỏa sáng ban đêm do hoàn toàn phụ thuộc vào sự tương tác của các điện tử trong đá! Nói la vơng của Thiên Đế buộc Dạ Minh Châu cũng là cách nói tỷ dụ cho dễ hiểu, chứ Ma Ni Bảo Châu chỉ có trong cơi trời, Dạ Minh Châu không thể nào sánh bằng!

[4] Chư hầu là danh xưng chỉ các chế độ phong kiến cát cứ trước thời Tần Thủy Hoàng. Các vị Cộng Chủ (có danh xưng là Thiên Tử hoặc Hoàng Đế), thật ra là một vị tù trưởng hoặc lănh tụ bộ tộc mạnh nhất, được các tù trưởng khác tuân phục, coi như thủ lănh tối cao. Khi lên ngôi, vị Cộng Chủ sẽ phong lănh địa và tước hiệu cho con, em, người trong gia tộc hoặc công thần, đất phong (phong địa) ấy sẽ được gọi là “hầu quốc” hoặc “chư hầu quốc”. Đôi khi cũng phong cho con cháu của các đời Cộng Chủ trước, chẳng hạn, Châu Vũ Vương phong cho con cháu họ Thần Nông đất Tiêu, con cháu Hoàng Đế ở đất Chúc, con cháu vua Nghiêu ở đất Kế, con cháu vua Thuấn ở đất Trần v.v... Châu Vũ Vương cũng phong cho Khương Tử Nha đất Doanh Khâu (nước Tề), phong cho em là Quản Thúc Tiên đất Quản, phong cho em trai là Cơ Đán (Châu Công) làm vua nước Lỗ, phong cho em họ là Triệu Công Thích làm vua nước Yên, chú là Thúc Chấn Đạc làm vua đất Tào, Sái Thúc Độ làm vua đất Dung (nước Sái)... Châu Công đă thiết lập năm tước vị Công, Hầu, Bá, Tử, Nam và tùy theo tước vị mà địa vị của các nước chư hầu cũng khác nhau; cũng như quy định chặt chẽ như chư hầu không được cúng tế tông miếu của Thiên Tử, không được tiếm dụng lễ nhạc, nghi trượng dành cho thiên tử, con trưởng vĩnh viễn kế tục ngôi cha giữ ngôi chư hầu, các con thứ chỉ làm Khanh, Đại Phu, chư hầu chỉ được xưng cao nhất là Công, chữ Vương dành riêng cho thiên tử. Đồng thời, quy định đất của Thiên Tử rộng mười ngàn dặm, đất của Công rộng một ngàn dặm, đất của Hầu rộng năm trăm dặm v.v... Thoạt đầu, chế độ chư hầu nhằm mục đích cử người nhà, thân thích, trấn giữ những nơi quan trọng, nhưng cuối cùng, các chư hầu hoàn toàn độc lập, không c̣n nghe theo lệnh nhà Châu nữa, nên Ḥa Thượng mới nói “chẳng có ràng buộc ǵ”. Khi Cộng Chủ mạnh, các nước c̣n tiến cống đều đặn, nghe theo lệnh Cộng Chủ đóng góp người ngựa, tiền của khi Cộng Chủ phải đối phó với chư hầu làm phản hay Cộng Chủ dẹp nội loạn tại các nước chư hầu khác. Từ sau thời Châu B́nh Vương trở đi, nhà Châu mất dần thế lực, dần dần chỉ c̣n hư vị. Thậm chí, các chư hầu xưng Bá (như Tề Hoàn Công, Tấn Tương Công, Tần Mục Công) c̣n thao túng, bắt vua Châu phải nghe theo lệnh. Các “Bá” chinh phục, chiếm đóng, tiêu diệt các nước chư hầu khác, mà Thiên Tử nhà Châu chẳng làm được ǵ!

[5] Trong bản in cuốn A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, những khoa đề (tựa đề của từng khoa trong bản Sớ Sao Diễn Nghĩa) được mở đầu bằng chấm tṛn trắng bao lấy một chấm đen, những tựa đề ghi sau đó thuộc phần Khoa Phán. Chẳng hạn như trong phần này, có ba câu được đánh dấu bằng chấm tṛn đen là “Thập Biệt Giải Văn Nghĩa”, “Sơ Tự Phần, Sơ ngũ cú chứng, nhị liệt thánh chúng” và “Sơ Ngũ Cú Chứng”.

[6] Lục Thư là sáu cách tạo chữ trong văn tự chữ Hán, gồm Tượng H́nh (mô phỏng h́nh dáng của sự vật), Chỉ Sự (mô phỏng, nêu đặc tính của sự vật, chẳng hạn chữ Xuyên dùng ba vạch để h́nh dung các ḍng nước), H́nh Thanh (mô phỏng âm thanh), Hội Ư (ghép hai hay nhiều chữ lại để diễn tả ư nghĩa), Chuyển Chú (dùng một chữ này để giải thích chữ kia), Giả Tá (vận dụng chữ đồng âm để thay thế cho những phức tạp hơn). Khái niệm Lục Thư đă thấy ghi sớm nhất trong sách Châu Lễ (thiên Địa Quan), do vậy, khái niệm Lục Thư đă xuất hiện tối thiểu từ cuối thời Chiến Quốc, nhưng người đă hệ thống hóa, có nhiều cống hiến lớn đối với cách phân định Lục Thư là Hứa Thận (58-147) sống vào đời Hán Ḥa Đế nhà Đông Hán qua tác phẩm Thuyết Văn Giải Tự.

[7] Ở đây, ḥa thượng nói tới các loại văn tự không dùng chữ Hán, chứ trong chữ Nôm của Việt Nam hai cách tạo chữ bằng Giả Tá và Hội Ư được sử dụng rất rộng răi; chẳng hạn con số Ba dùng chữ Ba () và Tam () ghép lại, chữ Chén (cái chén ăn cơm) có hai cách viết: Dùng ngay chữ Trản () nhưng đọc là Chén (đấy là cách viết Giả Tá), hoặc ghép chữ Thạch () và chữ Chiến (); có lẽ đây là một cách độc đáo riêng trong cách sáng tạo chữ Nôm. Trong lối viết Kanji, người Nhật cũng sáng tạo nhiều chữ Hán mới bằng cách Hội Ư.