A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 54

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

Tập 107

 

Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang hai trăm mười:

 

      (Sớ) Phật giả, Chủ Thành Tựu dă. Phật nghĩa giải kiến tiền văn, dĩ thị nhất kỳ chúng sanh sở cộng tông cố, danh chi viết Chủ. Hựu lục chủng thành tựu trung, tối vi Chủ cố.

      () 佛者,主成就也。佛義解見前文,以是一期眾生所共宗故,名之曰主。又六種成就中,最為主故。

      (Sớ: Phật là Chủ Thành Tựu. Xem lời giải thích ư nghĩa chữ Phật trong phần trước. Do được chúng sanh cùng tôn sùng trong một thời kỳ, nên gọi là Chủ. Lại nữa, trong sáu thứ thành tựu, Chủ là trọng yếu nhất).

 

      Đây là giải thích chữ Phật trong phần kinh văn “như thị ngă văn, nhất thời Phật”. Trong Lục Chủng Thành Tựu, chữ Phật thuộc Chủ Thành Tựu. “Như thị” là Tín Thành Tựu, “ngă văn” là Văn Thành Tựu, “nhất thời” là Thời Thành Tựu, “Phật” là Chủ Thành Tựu. Nói theo cách bây giờ, chữ “Chủ” này là chủ tịch trong đại hội, hoặc là vị chủ giảng trong giảng ṭa này, Thích Ca Mâu Ni Phật là chủ giảng. V́ sao gọi Ngài là Chủ Thành Tựu? Tiếp đó là hai câu giải thích, “thị nhất kỳ chúng sanh”, trong một thời kỳ. Nếu nói theo thuở ấy, đức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, bốn mươi chín năm ấy là một thời kỳ trụ thế giáo học của Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong thời kỳ ấy, mọi người đều coi đức Thế Tôn là thầy, đều coi Ngài là vị chủ giảng, tức là vị “thuyết pháp chủ”; do vậy, gọi Ngài là Chủ Thành Tựu. Nếu nói theo toàn thể pháp vận của đức Phật, pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật là một vạn hai ngàn năm. Một vạn hai ngàn năm chia thành ba thời kỳ: Chánh Pháp, Tượng Pháp, và Mạt Pháp; Chánh Pháp một ngàn năm, Tượng Pháp một ngàn năm, Mạt Pháp một vạn năm. Một vạn hai ngàn năm ấy là pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật, mà cũng là thời kỳ giáo hóa lâu dài của Ngài.

      Trong một vạn hai ngàn năm ấy, tuy hiện thời Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng tại thế, chúng ta đọc kinh điển, đọc ngữ lục của Ngài, vẫn giống như tiếp nhận sự giáo huấn của đức Phật. Ư nghĩa chữ Chủ cũng có thể hiểu là kéo dài đến tận thời kỳ Mạt Pháp. V́ vậy, trong sáu thứ thành tựu, Chủ Thành Tựu là điều trọng yếu nhất. Nếu chẳng có Phật, năm thứ khác đều chẳng thể nói là thành tựu được! Do có Phật, mới có năm thứ thành tựu trước đó. Trong lời Sao có giải thích.

 

      (Sao) Cộng tông giả.

      () 共宗者。

      (Sao: “Cùng tôn sùng”).

 

      “Cộng” là cùng chung.

 

      (Sao) Phật xuất thế vi nhất kỳ, nhất kỳ chi trung.

      () 佛出世為一期,一期之中。

      (Sao: Phật xuất thế là “một kỳ”, trong một kỳ).

 

      Nói theo nghĩa hẹp, đức Phật giảng kinh thuyết pháp bốn mươi chín năm; nói theo nghĩa rộng, toàn thể pháp vận của đức Phật là một vạn hai ngàn năm.

 

      (Sao) Lục phàm, tam thánh.

      () 六凡三聖。

      (Sao: Lục phàm, tam thánh).

 

      “Lục phàm” là lục đạo phàm phu, “tam thánh” là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chúng ta gọi họ là “tam thừa nhân”.

 

      (Sao) Nhất thiết chúng sanh, đồng sở tông chủ.

      () 一切眾生,同所宗主。

      (Sao: Hết thảy chúng sanh đều cùng tôn sùng vị Chủ).

 

      Hữu t́nh chúng sanh trong chín pháp giới đều tôn Phật làm thầy, đều nghe theo giáo huấn của đức Phật.

 

      (Sao) Như vạn tánh bách tích, quy nhất nhân cố.

      () 如萬姓百辟,歸一人故。

      (Sao: Như vạn họ, trăm quan[1] đều thuộc về một người).

 

      Trước kia, hoàng đế là chủ một nước. Dân chúng và chư hầu đều phải nghe lệnh thiên tử. Đây là dùng thiên tử để sánh ví đức Phật.

 

      (Sao) Lục thành tựu trung Chủ giả, vọng tiền, tắc tế Chủ chi hội thành Thời, linh Chủ chi ngữ thành Văn, thọ Chủ chi giáo thành Tín. Vọng hậu, tắc Chủ chi sở cư thành Xứ, Chủ chi sở hóa thành Chúng, thị lục chủng cộng thành, nhi quy trọng ư Phật, diệc ngôn Phật tiện châu ư dă.

      () 六成就中主者,望前,則際主之會成時,聆主之語成聞,受主之教成信。望後,則主之所居成處,主之所化成眾,是六種共成,而歸重於佛,亦言佛便周意也。

      (Sao: Đối với Chủ trong sáu thứ thành tựu, nếu xét những điều trước th́ lúc gặp gỡ Chủ sẽ thành Thời, nghe lời Chủ nói sẽ thành Văn, nhận lănh lời dạy của Chủ thành Tín. Nh́n vào những điều sau, nơi Chủ ở là Xứ, kẻ được Chủ hóa độ là Chúng, nên sáu thứ cùng được h́nh thành, nhưng đều quy kết Phật là trọng yếu nhất, nên hễ nói “Phật” th́ các ư nghĩa đều được trọn vẹn).

 

      “Tế Chủ chi hội thành Thời”: “Tế hội” (際會) là lúc nhân duyên tụ hội, cũng có thể nói là lúc cơ duyên chín muồi. Nếu cơ duyên chưa chín muồi, Phật xuất hiện trong thế gian này cũng vô ích. Trong thời đại hiện tại, v́ sao Phật, Bồ Tát không đến? Chắc cũng có kẻ nói, chúng sanh hiện thời quá khổ sở, lẽ ra Phật, Bồ Tát phải nên đại từ đại bi phổ độ chúng sanh, phải nên ngay lập tức tới thế gian này th́ mới đúng. Thật ra, Phật, Bồ Tát đúng là đại từ đại bi, hiện thời các Ngài cũng tới, không chỉ tới, mà c̣n tới rất nhiều, và cũng tới nhiều lần. Bất quá, chẳng dùng thân phận Phật, Bồ Tát để đến, v́ sao? Nếu dùng thân phận Phật, Bồ Tát để đến, không chỉ chẳng thể độ chúng sanh, mà c̣n đem đến tai nạn cho chúng sanh. Nói như vậy nghĩa là sao? Hiện thời, chúng sanh tin tà, chẳng tin chánh, nghe lừa gạt, chẳng nghe khuyên răn. Quư vị khuyên họ, họ chẳng nghe; lừa họ, họ nghe theo! Đó là do nghiệp chướng nặng nề! Phật, Bồ Tát chẳng thể lừa người! Nếu Phật, Bồ Tát lừa người, sẽ là phá giới, c̣n gọi là Phật, Bồ Tát ǵ nữa! Phật, Bồ Tát chẳng thể lừa người. Do vậy, Phật, Bồ Tát đến giáo hóa chúng sanh trong hiện thời khó khăn lắm, khá là khó khăn. Ngược lại, hiện thời, trong thế gian này, yêu ma, quỷ quái rất nhiều. Tôi nghe đồng tu kể: Pháp sư Khai Tâm ở Đài Nam bảo: “Tháng Bảy năm ngoái, Quỷ Môn Quan mở cửa, yêu ma thảy đều bước ra”. Sư thấy chuyện này rất lạ lùng, v́ sao yêu ma, quỷ quái đều được thả ra? Thả những loài ấy ra, chắc chắn đối với thế gian này chẳng có ǵ tốt đẹp, đó là điềm báo thế giới động loạn, chẳng phải là chuyện tốt lành. Điều này đương nhiên cũng chẳng phải là không có nguyên nhân. Nguyên nhân căn bản ở chỗ nào? Nguyên nhân căn bản là do ḷng người. Nếu tâm con người chánh đáng, những thứ yêu quỷ ấy sẽ không được thả ra, v́ thả ra cũng chẳng khởi tác dụng ǵ! Ḷng người tà, sẽ cảm ứng tà, chánh cảm ứng chánh. Hiện tại, chúng sanh trong thế gian này, kẻ tà tri tà kiến nhiều lắm, kẻ có chánh tri kiến ít ỏi; bởi lẽ, họ tin tưởng tà pháp, chẳng tin tưởng chánh pháp.

      Dẫu Phật, Bồ Tát đông đảo, cũng rải khắp trong các ngành nghề, giống như phẩm Phổ Môn đă nói: “Nên dùng thân ǵ để đắc độ, Ngài bèn hiện thân ấy”; nhưng nếu cơ duyên chưa chín muồi, Phật cũng chẳng thể độ kẻ ấy! Kẻ ấy chẳng tin, chẳng tiếp nhận, không có cách nào hết! Nếu tâm mọi người đều chánh, đều muốn thoát khỏi sanh tử, đều muốn sớm chứng Bồ Đề, nếu những người như vậy đông đảo, Phật sẽ đến. Trong Phật môn thường nói: “Phật thị môn trung, bất xả nhất nhân” (trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai). Chỉ cần có một người chánh tri chánh kiến, thật sự mong liễu sanh tử, thoát tam giới, thành Phật đạo, Phật cũng chẳng thể bỏ người ấy. Nếu Phật bỏ người ấy, Phật sẽ có lỗi đối với chúng sanh, một người cũng chẳng thể bỏ! Một người th́ Ngài có phương pháp độ một người, nhiều người, bèn có phương pháp độ nhiều người; phương pháp khác nhau! Trong hội này, cơ duyên đắc độ của chúng sanh đă chín muồi; do vậy, đức Phật thị hiện giáng sanh trong nhân gian, trụ thế tám mươi năm, v́ chúng ta thuyết pháp bốn mươi chín năm. Đấy là một kỳ “gia hội” (嘉會: hội tốt lành), tức là pháp hội vô cùng thù thắng.

      “Linh Chủ chi ngữ thành Văn” (nghe lời dạy của vị Chủ thành Văn Thành Tựu). Nếu chẳng do nghe Phật pháp mà khai ngộ th́ chẳng thể gọi là Văn Thành Tựu. Nghe Phật khai thị, hoảng nhiên đại ngộ th́ gọi là Văn Thành Tựu. “Thọ Chủ chi giáo thành Tín” (tiếp nhận sự giáo hóa của Chủ mà thành Tín Thành Tựu): Nghe lời Phật nói, thật sự ngộ nhập; sau khi ngộ nhập, tín tâm kiên cố, vĩnh viễn chẳng bị thoái chuyển, thật sự tin tưởng. Trước kia, con người căn tánh nhạy bén, nghe pháp dễ khai ngộ. Con người hiện thời thành kiến rất sâu, vọng tưởng đặc biệt nhiều, luôn luôn đều phải có chứng cứ, không có chứng cứ sẽ chẳng tin tưởng. Đương nhiên Phật thuyết pháp, họ cũng đ̣i hỏi phải đưa ra chứng cứ; v́ thế, [phải vận dụng] Tam Chuyển Pháp Luân. Tam Chuyển Pháp Luân là ba nguyên tắc thuyết pháp của đức Phật. Thứ nhất là Thị Chuyển, nói rơ sự thật, lư luận, người lợi căn vừa nghe liền khai ngộ. Người căn tánh độn vẫn chẳng ngộ, Phật lại phải khuyên dạy, khích lệ, đó là Khuyến Chuyển. Nếu người ấy giác ngộ, bèn có thể tiếp nhận. C̣n có một hạng người căn tánh rất độn, quư vị khuyên kẻ ấy, kẻ ấy cũng chẳng tiếp nhận. Khích lệ kẻ ấy, kẻ ấy cũng chẳng nghe lọt tai. Đối với người như vậy, Phật chỉ c̣n cách đưa chứng cứ cho kẻ ấy thấy, đó là Chứng Chuyển. Kẻ ấy vừa nh́n thấy chứng cứ, bèn tin tưởng, th́ vẫn c̣n cứu được, vẫn có thể độ. Loại người thứ tư, đưa ra chứng cứ, kẻ ấy vẫn không tin, chẳng c̣n cách nào, đó là kẻ vô duyên với Phật, Phật chẳng thể độ kẻ ấy. Ba loại người trước đều có thể độ, c̣n loại thứ tư, đối với người ấy, Phật chẳng biết làm sao, độ không được! Giống như những kẻ tin tà, chẳng tin chánh trong hiện thời, sẽ chẳng có cách nào tiếp nhận Phật pháp. Thật sự tin là Tín Thành Tựu. Ở đây nói là “thọ Chủ giáo” (tiếp nhận lời dạy của vị Chủ); tức là nói về Tam Chuyển Pháp Luân, Thị, Khuyến, Chứng đều có thể tiếp nhận, bèn thành Tín Thành Tựu.

      “Chủ chi sở cư thành Xứ”, Xứ Thành Tựu. “Chủ chi sở hóa thành Chúng”, “sở hóa” là những người được Ngài giáo hóa, là học tṛ của Ngài, tiếp nhận sự giáo hóa của Ngài. Đó là Chúng Thành Tựu, kinh thường liệt kê Thường Tùy Chúng gồm một ngàn hai trăm năm mươi người. Do vậy, trong sáu thứ thành tựu, Chủ Thành Tựu là điều trọng yếu nhất. Không có Chủ Thành Tựu, năm thứ kia cũng chẳng thể thành tựu. Kinh điển thường nói “ngôn Phật tiện châu”, [nghĩa là] nói một chữ Phật, hết thảy các ư nghĩa đều được bao gồm viên măn, chẳng sai sót một điều nào!

 

      (Sớ) Tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc viên giả, Xứ Thành Tựu dă.

      () 在舍衛國,祇樹給孤獨園者,處成就也。

      (Sớ: “Tại nước Xá Vệ, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc viên” là Xứ Thành Tựu).

 

      “Xá Vệ quốc, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc viên” là nơi Ngài trụ. Chúng ta thấy kinh nói “Phật tại”, chẳng nói Phật trụ ở nơi nào. “Tại”“trụ” khác nhau. “Trụ” là ở nơi đó, bất động; “tại” là hiện diện khắp nơi ấy, ngày mai có trụ ở đó hay không, chẳng nhất định. Trước kia, hoàng đế ở nơi nào chẳng thể nói là vua “trụ” nơi đó, mà gọi là “tại”. “Hành tại” là nói nhà vua đang ở nơi nào đó. V́ sao chẳng nói là “trụ”? V́ xưa kia, hoàng đế “quư vi thiên tử, phú hữu tứ hải” (quư hiển như thiên tử, giàu khắp bốn biển). Cả nước đă là nhà của vua th́ quư vị nghĩ xem vua phải trụ nơi đâu? Nước đă là nhà, là trụ xứ của vua! Do vậy, chỉ đành nói là vua ở tại nơi đâu. Ví như, nhà quư vị rất lớn, lúc quư vị ở nhà, hỏi quư vị đang ở chỗ nào? Ở pḥng khách hay đang ở trong pḥng? Chẳng thể nói quư vị trụ tại pḥng khách, trụ trong pḥng riêng, hoặc trụ trong bếp, chẳng thể nói kiểu đó! Khu vực giáo hóa của Phật so với lănh thổ của một quốc vương c̣n lớn hơn rất nhiều, khu vực giáo hóa của Phật là tam thiên đại thiên thế giới. Địa cầu của chúng ta là một tinh cầu trong tam thiên đại thiên thế giới mà thôi. Tam thiên đại thiên thế giới là khu vực giáo hóa của một đức Phật; nếu nói Thích Ca Mâu Ni Phật trụ ở đâu, chúng ta chỉ có thể nói Ngài trụ trong thế giới Sa Bà. Hiện thời, Ngài ở nơi đâu? Do vậy, nói là Tại, chẳng thể nói là Trụ.

     

      (Sớ) Tại giả, Thiên Thai vị tại tức trụ ư. Biệt chi hữu tứ, viết thiên trụ, phạm trụ, thánh trụ, Phật trụ. Tùy nghi Phật trụ, năi chí thiên trụ, thật tắc Phật thân vô tại, vô bất tại.

      () 在者,天台謂在即住意。別之有四:曰天住,梵住,聖住,佛住。隨宜佛住,乃至天住,實則佛身無在無不在。

      (Sớ: “Tại”: Tông Thiên Thai nói “tại” có nghĩa là “trụ”. Nói tách biệt th́ có bốn loại là thiên trụ, phạm trụ, thánh trụ, và Phật trụ. Tùy thời tiết, căn cơ thích hợp mà có Phật trụ cho đến thiên trụ, nhưng thật ra, thân Phật không ở nơi nào nhất định, mà cũng không nơi nào chẳng hiện diện).

 

      Bồ Tát đều là tùy loại hóa thân, nên dùng thân ǵ để đắc độ bèn hiện thân ấy, huống chi là Phật? “Phật thân vô tại, vô bất tại”, nơi nào có duyên, Phật sẽ hiện diện nơi đó. Không có duyên, Phật sẽ chẳng hiện diện. Đúng như kinh Lăng Nghiêm đă dạy: “Tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng” (thuận theo tâm chúng sanh, ứng với khả năng tiếp nhận của họ). Chúng sanh có cảm, Phật bèn có ứng, cảm ứng đạo giao. Lũ chúng sanh chúng ta có cảm là có tâm, Quán Kinh dạy chúng ta tưởng, c̣n kinh này dạy chúng ta niệm, ức Phật, niệm Phật, chúng ta có tâm, nhưng Phật ứng là vô tâm. Vô tâm th́ làm sao có thể ứng? Nói thật ra, chính v́ vô tâm nên mới có thể ứng, hữu tâm sẽ chẳng thể ứng. Quư vị thấy cái khánh này chẳng có tâm, bên trong trống rỗng. Quư vị gơ nó, đó là cảm, quư vị vừa gơ, nó liền ngân lên, ngân lên là ứng. Chính v́ nó vô tâm, cho nên “đại khấu tắc đại minh, tiểu khấu tắc tiểu minh” (gơ mạnh sẽ kêu to, gơ nhẹ sẽ kêu nhỏ). Nếu nó có tâm, quư vị gơ, chắc là nó chẳng kêu, chẳng đáp ứng. V́ Phật là vô tâm, nơi nào có cảm, bèn ứng nơi đó. Phật có đến đi hay không? Chẳng đến đi! Đúng như kinh đă dạy: “Đương xứ xuất sanh, đương xứ diệt tận” (sanh ra từ đâu sẽ diệt mất ở ngay nơi đó), chẳng có đến đi. Thật ra, đối với nguyên lư này, Phật là như thế, mà mỗi cá nhân chúng ta cũng đều là như vậy. Rất đáng tiếc, chính chúng ta chẳng biết chân tướng sự thật này; chúng ta mê, cho là có sanh, lăo, bệnh, tử, có đến, có đi, thảy đều là quan niệm sai lầm, thấy chân tướng sự thật sai lạc. Nếu quư vị thật sự giác ngộ, thấy chân tướng sự thật, th́ phàm phu chúng ta và Phật chẳng hai! Nếu nói khác nhau th́ chỉ là mê hay ngộ, trừ mê hay ngộ ra, quả thật chẳng có ǵ khác nhau!

      Đoạn này giảng về Xứ Sở Thành Tựu. Tông Thiên Thai bảo “tại” cũng có nghĩa là “trụ”. “Biệt chi hữu tứ” (nói tách biệt th́ có bốn loại), Biệt là nói theo Phật pháp, căn cứ trên những điều được giảng trong kinh điển, kinh quá nửa nói là “Phật trụ”, tông Thiên Thai chia thành bốn loại. V́ sao tông Thiên Thai phải nói như vậy? Đương nhiên là có đạo lư, họ muốn “hiển thị tâm pháp có thể trụ”, v́ người ta hễ nói đến “trụ” thường nghĩ đến thân, chúng ta nói: “Quư vị trụ ở đâu?” đều hàm ư thân quư vị đang trụ ở đâu, chẳng nói tâm quư vị trụ nơi đâu! Nhưng trong Phật pháp, nói thật ra, rất coi trọng tâm. Quư vị thấy Nhị Tổ Huệ Khả của Thiền Tông thỉnh giáo Đạt Ma Tổ Sư, nói thật ra là do Ngài chẳng hiểu phải an trụ tâm ở nơi đâu, phải an trụ cái tâm ở chỗ nào cho thỏa đáng. V́ chuyện ấy mà chặt tay cầu pháp. Trong kinh Kim Cang, cả một bộ kinh Kim Cang chỉ nhằm giảng hai vấn đề. Ngài Tu Bồ Đề thỉnh giáo Thích Ca Mâu Ni Phật hai vấn đề, thứ nhất là “vân hà hàng phục kỳ tâm?” (làm thế nào để hàng phục cái tâm). Vấn đề thứ hai là “ưng vân hà trụ?” (nên trụ như thế nào). Hàng phục cái tâm là do tâm chúng ta có quá nhiều tạp niệm, quá nhiều phiền năo, cần phải dùng phương pháp nào th́ mới có thể chế phục? Đấy là một vấn đề. Thứ hai là tâm an trụ ở chỗ nào? Do vậy, tông Thiên Thai nói bốn loại [trụ] v́ chú trọng cái tâm, điều này rất khẩn yếu, ư nghĩa rất sâu.

      Trong tâm quư vị thường xuyên suy tưởng, vướng mắc, đấy chính là tâm quư vị trụ vào đó, trong ấy sẽ chia ra thành mười pháp giới. Nếu tâm quư vị thường nghĩ đến tham lam, keo kiệt, quư vị sẽ trụ trong ngạ quỷ đạo. Hiện thời, thân vẫn chưa ở trong ngạ quỷ đạo, nhưng tâm đă an trụ trong ngạ quỷ đạo! Nếu thường ôm ḷng sân khuể, ganh ghét, đó là địa ngục đạo, tâm ở trong địa ngục đạo. Nếu muốn làm một thiện nhân, nhưng chuyện ǵ cũng chẳng nghe, chẳng hỏi tới, hồ đồ, chuyện ǵ cũng chẳng biết, tâm ấy sẽ trụ trong súc sanh đạo, súc sanh đạo ngu si! Trong tâm thường có tham, sân, si, những thứ ấy là tam ác đạo. Tuy thân chưa đến đó, tâm đă an trụ nơi đó, rất phiền phức!

      Do điều này biết rằng: Trong tâm thường nghĩ tới Ngũ Giới, Ngũ Thường, Nho gia nói Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Tứ Duy, Bát Đức; đấy là nhân đạo. Nếu trụ trong Thập Thiện, Tứ Vô Lượng Tâm (từ, bi, hỷ, xả), đó là thiên đạo, thiên trụ. Nếu thường nghĩ tới Tứ Đế, Ba Mươi Bảy Phẩm [trợ đạo], đó là A La Hán, tâm trụ trong Thanh Văn đạo. Thường nghĩ tới Mười Hai Nhân Duyên, đấy là Duyên Giác đạo. Thường nghĩ tới Lục Độ, vạn hạnh, là Bồ Tát đạo. Nếu thường nghĩ tới thanh tịnh, b́nh đẳng, đấy là Phật đạo, Phật tâm thanh tịnh, b́nh đẳng. Nay kinh này khuyên chúng ta niệm A Di Đà Phật, niệm A Di Đà Phật trụ ở chỗ nào? Trụ trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. V́ thế, dụng ư của Ngài ở chỗ này!

 

     (Sao) Tại tức trụ trước, Đại Phẩm luận: Minh Phật tại mỗ sở, dĩ nhi ngôn tạm tại cửu trụ, tổng thành tại ư.

      () 在即住著,大品論:明佛在某所,已而言暫在久住,總成在意。

      (Sao: “Tại” là ở lại. Kinh Đại Phẩm [Bát Nhă] luận định: “Nói rơ Phật ở chỗ nào, nói “tại” mang ư nghĩa tạm thời, nói “trụ” mang ư nghĩa lâu dài, nhưng đều là ư nghĩa của chữ “tại”).

 

      “Tại” là tạm thời, “trụ” là lâu dài. “Trụ” ở chỗ nào, tức là ở lâu dài nơi ấy; có một chút khác biệt như vậy.

 

      (Sao) Kim vị vô luận cửu tạm, đản tựu đương thời thuyết kinh chi xứ, tức danh vi tại, như thiên tử sở chí, tức danh “hành tại” dă.

      () 今謂無論久暫,但就當時說經之處,即名為在;如天子所至,即名行在也。

      (Sao: Nay bất luận là lâu dài hay tạm thời, hễ trong lúc ở chỗ nào thuyết kinh bèn nói là “tại” [nơi đó], như thiên tử đi tới đâu th́ nơi đó gọi là “hành tại”).

 

      Hiện thời, bất luận thời gian Ngài ở nơi nào lâu dài hay tạm thời, dài hay ngắn, chúng ta chỉ nói bộ kinh này được giảng ở nơi nào đó.

 

      (Sao) Tứ trụ giả, Phật nhiếp chúng sanh, tùy nghi nhi trụ. Hoặc hiện thiên trụ, vị Lục Dục thiên nhân, tức dĩ Thí, Giới thiện tâm trụ.

      () 四住者,佛攝眾生,隨宜而住。或現天住,謂六欲天因,即以施戒善心住。

      (Sao: “Bốn loại trụ”: Đức Phật nhiếp thọ chúng sanh, thuận theo cơ nghi để trụ, hoặc hiện thiên trụ, nghĩa là do cái nhân sanh vào cơi trời Lục Dục bèn trụ trong thiện tâm Thí Giới).

 

      Những điều tiếp theo đây, đều là nói theo phương diện nhân quả. V́ Phật giáo hóa chúng sanh, trong sự giáo hóa chúng sanh ấy, lấy nhân quả làm mệnh đề (proposition) chủ yếu để thảo luận. Chúng sanh chúng ta mong cầu quả báo, nhất định phải biết quả báo được h́nh thành như thế nào. Nói cách khác, nhất định phải biết nhân duyên của nó. Nhân duyên trọn đủ, quả báo đương nhiên sẽ hiện tiền; bởi lẽ, từ đầu đến cuối, Phật pháp chẳng ĺa nhân quả. Hiện tại có những kẻ chẳng tin nhân quả, đấy là ngu si! Nhân quả bày ra ngay trước mắt, nhưng kẻ ấy vẫn ương ngạnh nói chẳng tin, c̣n có cách nào nữa đây? Ví như nếu kẻ ấy muốn khỏi đói bụng, ăn cơm là nhân, ăn no sẽ khỏi đói bụng đấy là quả. Đó là nhân và quả rất đơn giản! “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”, hạt dưa là nhân, sanh ra quả dưa là quả. Bất luận chuyện ǵ trên thế gian cũng chẳng thể vượt khỏi nhân và quả, lẽ nào chẳng tin? V́ thế, trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă nói “ngũ châu nhân quả” (năm tầng lớp nhân quả)[2], trong kinh Pháp Hoa, nói “Nhất Thừa nhân quả”.

      Ở đây, chia thành bốn đoạn, cũng là giảng về bốn thứ nhân quả khác nhau. “Hoặc hiện thiên trụ”, [nghĩa là] đối với những chúng sanh cầu sanh lên cơi trời, họ biết cơi trời tốt đẹp, mong mỏi đời sau được sanh lên thiên đường. Quư vị nói thoát tam giới, liễu sanh tử, họ chẳng có hứng thú, nghe không lọt tai, mục đích của họ chỉ là mong sanh về thiên đường. Đức Phật nói: “Không sao! Quư vị mong đến thiên đường, ta sẽ dạy quư vị phương pháp đến thiên đường”, sẽ dạy họ an trụ cái tâm nơi Thập Thiện, Tứ Vô Lượng Tâm, trong tương lai, nhất định có thể sanh thiên, dạy họ tu Thập Thiện Nghiệp Đạo. “Thí Giới thiện tâm” là bố thí, tŕ giới, tu Thập Thiện, “thiện tâm” là Thập Thiện Nghiệp Đạo. Quư vị y theo những điều ấy để tu học, tương lai nhất định sanh thiên, tâm quư vị an trụ ở chỗ ấy!

 

     (Sao) Hoặc hiện Phạm trụ, vị Sơ Thiền chí Phi Tưởng nhân, tức dĩ Tứ Vô Lượng Tâm trụ.

       () 或現梵住,謂初禪至非想因,即以四無量心住。

      (Sao: Hoặc hiện Phạm Trụ, nghĩa là do cái nhân sanh từ Sơ Thiền cho đến cơi trời Phi Tưởng mà trụ trong Tứ Vô Lượng Tâm).

 

      “Phạm” là Sắc Giới thiên, Vô Sắc Giới thiên, Tứ Thiền, Bát Định, Phật dạy quư vị phương pháp ấy. Hiện thời, có không ít người thích tham Thiền, thích sanh về Phạm Thiên. “Phạm” có nghĩa là thanh tịnh. Đức Phật sẽ dạy họ phương pháp ấy, dạy họ Tứ Thiền, Bát Định, Tứ Vô Lượng Tâm, dạy họ hăy an trụ cái tâm nơi ấy. So với loại trước, loại này cao hơn rất nhiều, địa vị cao hơn rất nhiều. Những pháp này đều là pháp thế gian, chẳng vượt thoát tam giới, công phu đă khá lắm, nhưng vẫn là phàm phu sanh tử trong lục đạo.

 

      (Sao) Hoặc hiện thánh trụ, vị tam thừa nhân, tức dĩ tam tam-muội trụ.

      () 或現聖住,謂三乘因,即以三三昧住。

      (Sao: Hoặc hiện thánh trụ, nghĩa là do cái nhân tam thừa nên trụ trong ba thứ tam-muội).

 

      “Tam-muội” (Samādhi) là tiếng Phạn dịch âm, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Chánh Thọ, Tam là Chánh, Muội là Thọ. Chánh Thọ là sự hưởng thụ b́nh thường. “Tam tam-muội” là ba thứ hưởng thụ b́nh thường. Phàm phu chúng ta hưởng thụ bất b́nh thường, cớ sao không b́nh thường? Có mừng, giận, buồn, vui, thất t́nh, ngũ dục, nên sự hưởng thụ ấy không b́nh thường. Trong sự hưởng thụ b́nh thường, không có tham, sân, si, mạn, không có thất t́nh, ngũ dục, lúc đó mới gọi là hưởng thụ b́nh thường! Sự hưởng thụ b́nh thường ấy chính là Thiền Định. Tam-muội cũng có thể dịch là Thiền Định, mà cũng là nhất tâm bất loạn trong pháp môn Niệm Phật. Nhất tâm bất loạn được gọi là Niệm Phật tam-muội, là sự hưởng thụ đúng mực do niệm Phật. “Tam Thừa” là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, vượt thoát tam giới. Thanh Văn phải tu pháp Tứ Đế, phải tu ba mươi bảy đạo phẩm, Duyên Giác phải tu mười hai nhân duyên, Bồ Tát phải tu lục độ vạn hạnh, đó là “tam thừa nhân” (cái nhân của tam thừa).

      Ba thứ tam-muội là Không, Vô Tướng, Vô Tác, chúng được gọi là “đại tam không tam-muội”, chung cho cả ba thừa. Thanh Văn có, Duyên Giác cũng có, Bồ Tát cũng có, nhưng cảnh giới khác nhau. Danh từ “tam tam-muội” tương đồng, nhưng cảnh giới khác nhau, công phu sâu hay cạn khác biệt. Giống như học hành trong nhà trường: Sơ Trung (Trung Học Đệ Nhất Cấp, cấp hai), Cao Trung (Trung Học Đệ Nhị Cấp, cấp ba), Đại Học đều có giờ Quốc Văn, tên gọi môn học giống nhau, nhưng nội dung có sâu hay cạn khác nhau. Người thuộc tam thừa đều có đại tam không tam-muội, tâm phải an trụ chỗ này th́ mới có thể vượt thoát tam giới, siêu phàm nhập thánh.

      “Đại tam không tam-muội”, nói đơn giản là như trong Bát Nhă đă nói “tam luân thể không”, chẳng chấp tướng. “Không” là Huệ, là trí huệ chân thật, thật sự hiểu rơ hết thảy các pháp là Không. Nói thật ra, “hết thảy các pháp đều là Không” rất khó hiểu! Do giảng “hết thảy các pháp đều là Không” mà đức Phật giảng kinh Bát Nhă suốt hai mươi hai năm. Lăo nhân gia thuyết pháp bốn mươi chín năm, gần như tốn phân nửa thời gian để giảng giải cho chúng ta “hết thảy các pháp đều là Không”, hết thảy các pháp là không thể được. V́ sao phàm phu chúng ta có lắm phiền năo như thế? Những phiền năo ấy đều phát sanh từ sự cảm nhận sai lầm, ngỡ hết thảy các pháp đều là có, ngỡ hết thảy các pháp thật sự có, đối với hết thảy các pháp dấy lên vọng niệm, vọng niệm ǵ vậy? Được, mất. Không đạt được bèn mong đạt được; đạt được rồi lại sợ bị mất đi, lo được, lo mất; do vậy, hết thảy phiền năo đều sanh từ chỗ ấy. Thật sự liễu giải chân tướng sự thật, hết thảy các pháp là không thể được, vậy th́ ư niệm được - mất chẳng c̣n. Ư niệm được - mất chẳng c̣n, sẽ tự tại, chẳng c̣n phiền năo. V́ thế, điều này vô cùng trọng yếu.

      Nói theo luật nhân quả, trong cuộc đời mỗi người chúng ta, nói thật ra, số mạng quư vị đă được định trước, chẳng có cách nào vượt khỏi vận mạng! V́ thế, đại đa số con người khi đi xem tướng, quư vị thấy thầy tướng số đoán mạng rất chuẩn xác, người ta nói rành rọt quá khứ, hiện tại, vị lai chẳng sai chút nào, có thể thấy là đều đă được định sẵn! Quư vị đọc Liễu Phàm Tứ Huấn, sách Liễu Phàm Tứ Huấn vô cùng hay, có thể khiến quư vị khai ngộ, mới hiểu vận mạng suốt đời của mỗi người đă định sẵn, “một miếng ăn, một hớp uống, không ǵ chẳng được định trước”. Khổng tiên sinh đoán mạng cho Viên Liễu Phàm, mỗi năm ông Viên thu nhập bao nhiêu tiền, phê đoán Bát Tự[3] rành rẽ, kết toán [chi thu] mỗi năm chẳng sai tí nào, chẳng nhiều hơn, chẳng ít hơn, trong mạng đă định sẵn rồi. Trong mạng đă được định trước là có, sẽ luôn có. Trong mạng đă định sẵn không có, cầu cách nào cũng không được. V́ thế, Viên Liễu Phàm tin vào vận mạng, vọng tưởng ǵ cũng chẳng cần nghĩ tới, v́ sao? Trong mạng đă định sẵn rồi, ta có muốn cũng chẳng được! Trong mạng là có th́ ta chẳng muốn cũng không được luôn! Đến lúc, nó sẽ xảy tới. Thôi đi, đừng nghĩ tới nữa là tốt nhất! Tâm ông ta thanh tịnh, đắc Định rồi, mà cũng đắc tam-muội. Ông ta và ḥa thượng Vân Cốc hai người ngồi xếp bằng trong Thiền Đường suốt ba ngày ba đêm, trong tâm chẳng dấy lên một vọng tưởng nào! Ḥa thượng Vân Cốc thấy vậy bội phục vô cùng: Một người có công phu Thiền Định sâu như thế chẳng dễ có, ba ngày ba đêm ngồi trên bồ đoàn chẳng dấy lên một vọng tưởng nào! Do vậy, hết sức ca ngợi ông ta. Ông ta mới cho biết: “Mạng đă được Khổng tiên sinh đoán sẵn rồi, hết thảy đều biết”. Ông ta nói: “Tôi có suy tưởng cũng uổng công; nên đơn giản là chẳng nghĩ tới nữa”. Nghe xong, thiền sư Vân Cốc cười ha hả: “Tôi ngỡ ông là thánh nhân, [nào ngờ] vốn là phàm phu”. Thánh nhân là công phu thành tựu, c̣n ông ta là phàm phu, tin tưởng nhân quả, coi như chẳng cần nghĩ tới, có nghĩ tới cũng uổng công, suy tưởng đều là vọng tưởng, cớ ǵ chính ḿnh phải chịu khổ? V́ thế, chẳng nghĩ tới. V́ thế, ông ta chưa phải là định, mà là hiểu rơ nhân quả.

      Người thật sự hiểu rơ nhân quả, hết thảy vọng niệm chẳng có; nhưng c̣n kém người tu đạo. Người tu đạo có quán huệ. Người tin tưởng nhân quả chỉ biết chuyện đương nhiên, chẳng hiểu nguyên cớ, chưa có Huệ, vẫn bị vô minh bao trùm, cả đời vẫn nghe theo số mạng sắp xếp, không có cách nào vượt thoát số mạng. Trụ trong tam tam-muội, hoàn toàn chuyển biến vận mạng, có thể nói là giải thoát khỏi vận mạng, chính ḿnh hoàn toàn làm chủ tể, rất khác với Viên Liễu Phàm. Viên Liễu Phàm là phàm phu, người trụ trong tam tam-muội là thánh nhân, tuyệt đối chẳng phải là phàm phu, người ấy đă vượt thoát tam giới, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi.

      Do vậy, “Không” là quán huệ, chẳng chấp trước hết thảy các pháp, biết hết thảy các pháp giống như kinh Kim Cang đă nói. Kinh Kim Cang khai trí huệ. Kinh Kim Cang chẳng cần niệm nhiều, chỉ cần niệm hai câu là được, “Phàm những ǵ có tướng, đều là hư vọng”, quư vị phải nhớ kỹ câu ấy, hư vọng th́ c̣n có tốt đẹp ǵ nữa mà tranh giành? C̣n có được mất chi nữa? “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Pháp hữu vi là pháp sanh diệt, giống như con người chúng ta có sanh, lăo, bệnh, tử, thực vật có sanh, trụ, dị diệt, khoáng vật có thành, trụ, hoại, không, đều gọi là pháp hữu vi. Động vật, thực vật, khoáng vật thảy đều là pháp hữu vi, cho đến những ǵ tâm ta nghĩ cũng là pháp hữu vi, cũng chẳng thật, đều là giả, giống như mộng, huyễn, bọt, bóng, có cũng được, không có cũng được, về căn bản là đừng nên chấp trước.

      Thật sự nhập cảnh giới này, quư vị nói vọng tưởng dấy lên th́ có cần phải đoạn hay chăng? Vọng tưởng là hư vọng, đoạn nó để làm ǵ? Không cần đoạn nó! Chân chẳng cần cầu, vọng chẳng cần đoạn, tự nhiên thứ ǵ cũng đều không có. Vọng tưởng đă là vọng tưởng, mà vẫn nỗ lực đoạn vọng tưởng, há chẳng phải là trên vọng tưởng lại chồng thêm vọng tưởng, vĩnh viễn chẳng đoạn được! V́ vậy, Vĩnh Gia đại sư đă nói rất hay: “Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân, bất trừ vọng tưởng, bất cầu Chân” (Đạo nhân tuyệt học vô vi thật là nhàn, chẳng trừ vọng tưởng, chẳng cầu Chân), chẳng có chuyện ǵ! Nếu quư vị đoạn vọng tưởng, mong cầu Chân, sẽ c̣n có Sự, c̣n lo được, lo mất. Nói cách khác, tâm quư vị vẫn chưa thanh tịnh. Do vậy, thật sự nhập ba thứ Không tam-muội, tâm thanh tịnh, trong hết thảy cảnh giới có thể tùy duyên, đắc đại tự tại, thật sự chẳng lo nghĩ, không vướng mắc, tự do, tự tại.

      Do vậy, thánh nhân và phàm phu khác nhau, phàm phu không làm được. Tứ Thiền, Bát Định là dùng công phu định lực để khuất phục phiền năo, chưa thể đoạn phiền năo. Nhập Đại Tam Không tam-muội, chuyển phiền năo thành Bồ Đề, chuyển sanh tử thành Niết Bàn, đấy mới là trí huệ chân chánh. Đây là nói về Thánh Trụ, nếu quư vị phát nguyện muốn liễu sanh tử, thoát tam giới, chứng thánh quả, đức Phật có biện pháp để dạy cho quư vị. Quư vị thích thành A La Hán, sẽ thành A La Hán; thích thành Bồ Tát, sẽ trở thành Bồ Tát.

 

      (Sao) Hoặc hiện Phật trụ, tức dĩ Thủ Lăng Nghiêm bách bát tam-muội, lực, vô úy, bất cộng trụ.

  () 或現佛住,即以首楞嚴百八三昧,力無畏不共住。

      (Sao: Hoặc hiện Phật trụ, tức là dùng một trăm lẻ tám tam-muội trong Thủ Lăng Nghiêm, lực, vô úy, bất cộng để trụ).

 

      Đây là cảnh giới tối cao. “Bách bát tam-muội” là Thủ Lăng Nghiêm tam-muội như kinh Lăng Nghiêm đă giảng. Kinh Lăng Nghiêm giảng về chuyện này. Đức Phật chẳng thường nói tới loại tam-muội này. “Bách bát” chẳng phải là con số, mà là biểu thị pháp, do đối ứng với phiền năo mà nói. Trong Phật môn, thường quy nạp, phân loại phiền năo. Quy nạp để nói cho thuận tiện, v́ nói thật ra, phiền năo vô lượng vô biên; vô lượng vô biên sẽ khó nói, nói bằng cách nào đây? Do vậy, quy nạp lại, quy nạp thành tám vạn bốn ngàn. Thật sự có con số tám vạn bốn ngàn, nhưng phạm vi đă thu nhỏ rất nhiều. Nhưng nếu giảng giải tám vạn bốn ngàn th́ vẫn phiền phức, giảng giải từng điều một sẽ phiền phức khôn ngằn! Nhằm giảng giải thuận tiện, bèn quy nạp thành một trăm lẻ tám loại, dễ nói hơn! Do vậy, hiện thời tràng hạt (xâu chuỗi) có một trăm lẻ tám hạt, [ngụ ư] đoạn trừ một trăm lẻ tám phiền năo. V́ thế, trong tam-muội cũng nói “bách bát tam-muội”, ư nghĩa của “bách bát” là triển khai sẽ thành vô lượng vô biên. Danh xưng chung là Thủ Lăng Nghiêm tam-muội, nói tách ra là “bách bát tam-muội”. Giống như địa phương Đài Loan này có danh xưng chung là tỉnh Đài Loan, tách ra bèn có Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Trung, cũng có rất nhiều huyện thị. Do vậy, Thủ Lăng Nghiêm là danh xưng chung, là pháp được chứng đắc bởi Như Lai, cũng có thể nói là tam-muội rốt ráo viên măn.

      “Lực” là Thập Lực, tức là Như Lai có mười thứ năng lực đặc thù, ngay cả Bồ Tát cũng chẳng có, nhưng Như Lai có. Nói đơn giản, Lực là năng lực. Chúng ta thường tán thán Phật vạn đức, vạn năng, lời này cũng chẳng phải là tán thán tùy tiện, mà là thật. Phật có trí huệ viên măn, có năng lực viên măn, nh́n từ chỗ nào? Chúng ta đọc xong Quán Kinh sẽ hiểu rơ. Nếu có kẻ tạo tác Ngũ Nghịch, Thập Ác, tội nặng dường ấy, nếu chúng ta hỏi: Phật có năng lực khiến cho kẻ ấy lập tức thành Phật hay chăng? Nếu Phật chẳng có năng lực th́ “vạn đức, vạn năng” chỉ là lời tán thán, chẳng phải là thật sự. Thưa quư vị, Phật thật sự có năng lực này. Quư vị thấy trong chương Hạ Phẩm Hạ Sanh trong Thập Lục Quán Kinh, những chúng sanh Ngũ Nghịch, Thập Ác lâm chung, tướng địa ngục hiện tiền, nếu họ có duyên gặp thiện tri thức khuyên hăy niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, lâm chung một niệm hay mười niệm đều được văng sanh; hễ văng sanh sẽ đắc viên chứng ba thứ Bất Thoái, thành tựu Vô Thượng Bồ Đề. Có thể thấy: Chẳng phải là Phật không có năng lực, mà do chúng sanh chẳng tin tưởng, không chịu tiếp nhận! Đây chẳng phải là Phật có khuyết điểm, chẳng phải do Ngài không có năng lực làm được, Ngài muốn giúp quư vị, nhưng quư vị không tiếp nhận, vậy th́ có cách nào nữa đây? Do vậy, biết: Ngũ Nghịch, Thập Ác lâm chung sắp đọa địa ngục, đều có thể ngay lập tức thành Phật, nhiều người trong số chúng ta đang hiện diện tại đây vẫn chưa có nghiệp chướng nặng nề như thế! Nếu quư vị chịu tin tưởng, phẩm vị sẽ cao, ai nấy đều văng sanh trong bậc trung hoặc bậc thượng, chẳng thuộc trong ba phẩm Hạ.

      Thiện Đạo đại sư đă nói rất hay: “Ba bậc, chín phẩm là do chúng ta trong đời này gặp duyên khác nhau, cho nên văng sanh mới có sai khác”. Chẳng hạn tại Đài Loan, Tịnh Độ rất phổ biến, người niệm Phật rất đông, nhưng mỗi nơi niệm Phật, gặp duyên khác nhau. Ở nơi này, duyên của chúng ta khá thù thắng, nhưng vẫn chưa phải là tận thiện tận mỹ, v́ sao nói chưa phải là tận thiện, tận mỹ? Chúng ta c̣n thiếu một Niệm Phật Đường; [đạo tràng phải gồm] một giảng đường và một Niệm Phật đường, mới là tận thiện tận mỹ. Trong giảng đường, giảng giải Tịnh Độ tam kinh nhất luận, hoặc giảng giải Tịnh Độ ngũ kinh, những đạo lư ấy quư vị thảy đều hiểu rơ trọn hết, mới có tâm thực hiện, quyết định chẳng hoài nghi. Những câu Phật hiệu do quư vị niệm trong Niệm Phật Đường đều đắc lực, duyên ấy thù thắng bậc nhất. Duyên kém hơn một chút, hướng dẫn quư vị cùng nhau niệm Phật, nhưng chẳng hiểu đạo lư niệm Phật, tuy niệm suốt đời nhưng vẫn bán tín bán nghi, do duyên kém nên phẩm vị văng sanh thấp. Đối với lư luận thảy đều hiểu rơ, thông đạt, niệm Phật như vậy, phẩm vị văng sanh sẽ cao. Ba bậc chín phẩm chẳng phải do thiện căn, phước đức đời quá khứ, chẳng phải do những điều ấy quyết định, mà do duyên gặp được trong đời này quyết định. Lời ấy hay quá, Thiện Đạo đại sư bảo chúng ta như vậy. V́ thế, chúng ta phải quư trọng cái duyên này.

      Trong tương lai, nếu chúng ta thật sự có khả năng ấy, chúng ta lại t́m một nơi to như vậy, hoặc lớn hơn chỗ này một chút, có một Niệm Phật Đường. Có Niệm Phật Đường th́ hằng ngày khi niệm Phật chẳng cần phải dọn dẹp bàn ghế, cực nhọc quá, tâm bị khuấy loạn hết. Nếu có Niệm Phật Đường, chúng tôi giảng kinh ở đây xong, mọi người đến niệm Phật trong Niệm Phật Đường. Giảng đường và Niệm Phật Đường nhất định phải là hai nơi, như vậy th́ mới tốt đẹp. Nói thật ra, chuyện này cũng không phải là rất khó, mọi người thật sự có tâm, có ư niệm ấy, có nguyện vọng ấy, sẽ được thành tựu.

      “Vô úy”: Phật có bốn thứ vô úy:

- Thứ nhất là “tổng tŕ vô úy”, đối hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, lư luận, hiện tượng, tŕnh tự, chẳng có ǵ Phật không biết. Do vậy, trong bất luận trường hợp nào, Ngài cũng đều vô úy (không sợ hăi), không có ǵ chẳng biết. Chúng ta lên giảng đài sẽ chẳng tự nhiên như đức Phật, v́ sao? Sợ người ta bắt bí, bắt bí đến nỗi ta không biết làm sao giải quyết cho êm xuôi, mang nỗi sợ này! Phật không có, Phật thật sự là toàn trí, toàn năng.

- Thứ hai là “tri căn vô úy”, Phật có thần thông, căn tánh của mỗi chúng sanh Phật đều biết, Ngài biết đời quá khứ và cũng biết đời vị lai của quư vị. Quá khứ, hiện tại, vị lai của quư vị Ngài đều biết; do vậy, quư vị nghĩ ǵ, muốn hỏi ǵ, Ngài đều biết, không có ǵ chẳng biết. Do vậy, trên giảng đài Ngài vô úy.

- Thứ ba là “quyết nghi vô úy”, bất luận nan đề nào cũng chẳng thể làm khó được Ngài, Ngài đều có thể giải thích, giúp quư vị đoạn nghi sanh tín.

- Thứ tư là “đáp báo vô úy”, cũng là biện tài vô ngại. Quư vị có câu hỏi, chắc chắn Phật sẽ trả lời, nhất định sẽ đáp cho quư vị hài ḷng. Không chỉ đáp khiến cho quư vị đoạn nghi sanh tín, mà c̣n khiến quư vị phá mê khai ngộ. Đây là điều Bồ Tát chưa thể làm được viên măn, chỉ có Phật quả mới đạt đến rốt ráo viên măn bốn thứ [vô úy] ấy. V́ thế, chúng được gọi là “bốn thứ vô úy nơi quả địa”.

      “Bất cộng” là mười tám món bất cộng pháp. Từ ba nghiệp thân - khẩu - ư, chắc chắn không có khuyết điểm, cho đến điều thứ mười tám là “tri vị lai vô ngại”, tức là Phật biết hiện tại, quá khứ, vị lai thảy đều chẳng có chướng ngại, không có ǵ chẳng biết. Tiểu Thừa, Bồ Tát đều chưa thể làm được điều này; do vậy, Phật đích xác là toàn trí toàn năng. “Trụ” kế tiếp là Phật trụ.

 

      (Sao) Thượng tam tùy tha ư trụ, hậu nhất tùy tự ư trụ.

      () 上三隨他意住,後一隨自意住。

      (Sao: Ba món “tùy” trước là thuận theo ư của người khác mà trụ, món “tùy” sau cùng là Ngài tự trụ).

 

      Đức Phật trụ tại “nước Xá Vệ, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc viên”. Ba loại trước là Phật giáo hóa chúng sanh, loại cuối cùng, chúng sanh cũng làm không được, nên chính Phật an trụ. Chính ḿnh trụ trong một trăm lẻ tám Lăng Nghiêm tam-muội, Thập Lực, Tứ Vô Úy, mười tám pháp Bất Cộng, Phật trụ tại nơi đó. Đây là Thiên Thai đại sư giảng ư nghĩa riêng biệt của chữ “trụ”, cách giảng này cũng vô cùng hay, chúng ta cũng cần phải học tập. Dưới đây, Liên Tŕ đại sư giả lập một đoạn vấn đáp nhằm đoạn trừ nghi hoặc cho chúng ta.

 

      (Sao) Vấn: Phật hà dĩ thiên trụ?

      () 問:佛何以天住。

      (Sao: Hỏi: V́ sao Phật thiên trụ?)

 

      Phật trụ trong “Phật trụ”, đó là hợp lư; v́ sao Ngài trụ trong thiên trụ? Nói thật ra, Phật thị hiện trong nhân gian, vẫn chưa phải là thiên trụ, mà là nhân trụ. Ở trong nhân gian của chúng ta, so với cơi trời c̣n ủy khuất hơn nữa.

 

      (Sao) Đáp: Khuất chí tôn tại chí liệt xứ, vi độ sanh cố dă.

      () 答:屈至尊在至劣處,為度生故也。

      (Sao: Đáp: Khuất thân cao quư nhất nơi thấp hèn nhất là do độ sanh).

 

      Trả lời rất hay, cũng hết sức viên măn. Do chúng sanh có cảm, nên Phật bèn có ứng. Chúng sanh ở nơi nào, Phật nhất định phải thị hiện thân đồng loại, cùng ở chung một chỗ với họ th́ khi ấy mới có thể giáo hóa họ. Nếu chẳng thể ở cùng một chỗ, Phật sẽ chẳng có cách nào giáo hóa. Phải là tùy loại hiện thân, nên dùng thân ǵ để đắc độ, Phật bèn thị hiện thân phận như thế ấy!

 

      (Sao) Vô tại, vô bất tại giả.

      () 無在無不在者。

      (Sao: “Vô tại, vô bất tại”)

 

      Nói thật ra, Thể, Tướng, tác dụng đều là như vậy.

 

      (Sao) Thể tịch liêu, cố vô tại.

      () 體寂寥,故無在。

      (Sao: Thể vắng lặng, cho nên chẳng hiện diện).

 

      “Tịch liêu” là trống vắng, giống như hư không. Thể giống như hư không, chẳng có h́nh tướng, không có âm thanh, không có dấu vết, cho nên “vô tại”, nhưng nó hiện tướng, nên nó tồn tại.

 

      (Sao) Thể viên thông, cố vô bất tại.

      () 體圓通,故無不在。

      (Sao: Do Thể viên thông, nên không đâu chẳng tồn tại).

 

      “Viên” là viên măn, “thông” là thông đạt. Chúng sanh có cảm, Ngài sẽ có ứng. V́ có ứng, nên Ngài hiện diện, nói “vô bất tại” tức là có sự hiện hữu. V́ thế, nói “vô tại, vô bất tại”. Vô tại là nói theo Thể, vô bất tại là nói theo tướng được hiện.

 

      (Sao) Hoa Nghiêm vân: “Phật thân phi chí, phi bất chí”.

      () 華嚴云:佛身非至非不至。

      (Sao: Kinh Hoa Nghiêm nói: “Thân Phật chẳng đến, mà cũng không đâu chẳng đến”).

 

      “Chí” là đến, “phi chí, phi bất chí” là không đến, mà cũng chẳng không đến. V́ đấy là cảm ứng, ở đâu có cảm, bèn hiện tướng nơi ấy. Quư vị chẳng nói Phật có đến, cũng không thể nói Ngài không đến; đến và không đến đều chẳng thể nói được; đấy mới là chân tướng sự thật.

 

      (Sao) Hà dĩ cố? Hư không vô thân cố.

      () 何以故,虛空無身故。

      (Sao: V́ cớ sao? Do hư không chẳng có thân).

 

      Pháp Thân không có tướng, giống như hư không chẳng có một tướng ǵ! Không có tướng, làm sao có thể nói nó đến, làm sao có thể nói nó không đến?

 

      (Sao) Như Lai diệc nhĩ.

      () 如來亦爾。

      (Sao: Như Lai cũng giống như vậy).

 

      Pháp Thân của Phật giống như hư không.

 

      (Sao) Biến nhất thiết pháp, biến nhất thiết chúng sanh, quốc độ.

  () 遍一切法,遍一切眾生國土。

      (Sao: Trọn khắp hết thảy các pháp, trọn khắp hết thảy chúng sanh, cơi nước).

 

      Giống như hư không, quả thật là trọn khắp. Nói thật ra, chân tâm của chúng ta trọn khắp. Tâm là trọn khắp. Chẳng tin th́ có thể thí nghiệm, chúng ta mở căng mắt, những ǵ có thể thấy đều là trọn khắp. Chúng ta thấy ǵ tức là tâm ta đến nơi đó. Nếu tâm không đến, làm sao quư vị thấy được? Quư vị có thể thấy th́ chính là tâm quư vị đạt tới [chỗ đó]. Chủ thể để thấy (năng kiến) là ǵ? Tâm là năng kiến, mắt chẳng phải là năng kiến. Mắt chẳng phải là năng kiến, tâm là năng kiến. Tâm bao lớn? Quư vị thấy rộng chừng nào, tâm to chừng đó. Nói thật ra, phạm vi [mà mắt] chúng ta thấy được hăy c̣n nhỏ lắm, v́ chúng ta thấy đằng trước, chẳng thấy đằng sau. Chúng ta nghe có thể nghe phía trước, lại c̣n có thể nghe phía sau; nhưng phạm vi của nghe vẫn chưa đáng coi là lớn. Ư niệm trong tâm chúng ta, quư vị nghĩ tới chỗ nào, tâm ở ngay nơi đó. Tâm ấy có thể nói là “tâm bao thái hư, lượng châu sa giới” (tâm trùm khắp thái hư, dung lượng bằng với các cơi có số lượng nhiều như cát), quư vị thấy tâm ấy lớn ngần nào! Tâm có tướng hay chăng? Không có tướng. Tâm chẳng hiện tướng, tâm c̣n lớn hơn hư không rất nhiều! Tâm là Pháp Thân, tâm là bổn tánh, Chân Như bổn tánh, Pháp Thân Lư thể, [những danh từ ấy] đều nhằm nói về thứ này (tâm). Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đă giảng rất nhiều, rất tỉ mỉ, rất viên măn. Do vậy, “vô tại, vô bất tại” quả thật là “biến nhất thiết pháp, biến nhất thiết chúng sanh, quốc độ” (trọn khắp hết thảy các pháp, trọn khắp hết thảy chúng sanh, cơi nước). V́ thế, nói:

 

      (Sao) Phi chí, phi bất chí, tức thử ư dă.

      () 非至非不至,即此意也。

      (Sao: [Nói] “chẳng tới, chẳng không tới”, chính là [nói đến] ư này vậy).

 

      Hoàn toàn giống với ư nghĩa đang nói ở đây.

 

      (Sao) Nhiên tắc Phật tại Xá Vệ, dĩ tựu liệt cơ, cố danh “thiên trụ”.

      () 然則佛在舍衛,以就劣機,故名天住。

      (Sao: Nhưng đức Phật ngự tại Xá Vệ nhằm thích ứng với căn cơ kém hèn, nên gọi là “thiên trụ”).

 

      Đây là chúng ta coi Phật như chư thiên, tôn xưng Ngài. Phật nhận lấy thân phận chúng sanh, nhằm giáo hóa chúng sanh, nên phải thị hiện h́nh tướng ấy, trụ tại nước Xá Vệ mười mấy, hai mươi năm, trụ nơi ấy để giáo hóa.

 

      (Sao) Như thật nhi luận, tức Xá Vệ danh Phạm trụ, thánh trụ, Phật trụ, diệc hà bất khả.

      () 如實而論,即舍衛名梵住聖住佛住,亦何不可。

      (Sao: Nếu nói đúng theo sự thật th́ [đức Phật ngự tại] Xá Vệ vẫn có thể gọi là Phạm trụ, thánh trụ, hoặc Phật trụ, cũng đều chẳng có ǵ là không được!)

 

      Nói theo h́nh tích, Xá Vệ là một trụ xứ trong nhân gian chúng ta. Nếu nói theo cảnh giới, nói theo phương diện tâm lư, quư vị nói cách nào cũng đều được, nói ǵ cũng đều được, đều là nói có lư.

 

      (Sớ) Xá Vệ, Phạn ngữ, diệc vân Thất La Phiệt Tất Để.

      () 舍衛,梵語,亦云室羅筏悉底。

      (Sớ: Xá Vệ, tiếng Phạn, c̣n dịch âm là Thất La Phiệt Tất Để).

 

      Thất La Phiệt Tất Để (Śrāvastī)[4] là dịch âm tiếng Phạn, người Trung Quốc chuộng đơn giản, phiên dịch thường bỏ bớt âm cuối. Chẳng hạn như “Phật đà-da”, chúng ta bỏ âm cuối là “đà-da”, chỉ gọi là Phật.

 

      (Sớ) Hoa ngôn Văn Vật, dĩ đức danh cố; nhất vân văn giả, dĩ nhân danh cố.

      () 華言聞物,以德名故;一云聞者,以人名故。

      (Sớ: Tiếng Hán dịch là Văn Vật, đặt tên [nước ấy] dựa theo phẩm đức. Dịch chữ thứ nhất là Văn (được nghe danh khắp nơi) do [trong nước ấy] có nhiều người nổi tiếng).

 

      “Hoa” là tiếng Trung Quốc, [Xá Vệ] dịch theo nghĩa tiếng Hán là Văn Vật.

 

      (Sao) Đức giả, dĩ quốc phong tứ đức.

      () 德者,以國豐四德。

      (Sao : “Đức”: Do nước giàu có, hội đủ bốn đức).

 

      Nói theo cách hiện thời, quốc gia này đă phát triển, bất luận xét trên văn minh vật chất, hay kinh tế, văn hóa, chánh trị, đều là một quốc gia đă phát triển rất cao.

      (Sao) Nhất giả, trần đức, ngũ trần chi cảnh, đa mỹ lệ cố.

      () 一者塵德,五塵之境,多美麗故。

      (Sao: Một là trần đức (ưu điểm về mặt ngũ trần), do [xét theo] cảnh Ngũ Trần, [Xá Vệ] rất xinh đẹp).

 

      Nói theo cách bây giờ, Trần là kiến thiết vật chất. Ở nơi ấy, kiến thiết vật chất và kiến trúc vô cùng tốt đẹp, văn minh vật chất cũng vô cùng phát triển.

 

      (Sao) Nhị giả, tài đức, thất bảo trân kỳ, vô phất hữu cố.

      () 二者財德,七寶珍奇,無弗有故。

      (Sao: Hai là tài đức (ưu điểm về mặt tài chánh), do bảy báu quư lạ, chẳng thiếu món ǵ).

 

      Kinh tế phát triển. Ngày hôm nay, báo chí đă đặt tựa đề rất lớn cho biết hai năm nữa, tồn khoản ngoại hối (foreign exchange) của Đài Loan sẽ cao nhất thế giới. Đó là “tài đức”.

 

      (Sao) Tam giả, thánh đức, Tam Tạng thánh pháp, giai cụ túc cố.

      () 三者聖德,三藏聖法,皆具足故。

      (Sao: Ba là thánh đức (ưu điểm về mặt thánh giáo), do Tam Tạng thánh pháp đều trọn đủ).

 

      Chữ “thánh đức” chỉ Phật pháp, Phật pháp vô cùng hưng thịnh. Đức Phật ngự tại nơi ấy giảng kinh, tức là có Pháp Bảo, Phật có đông học tṛ dường ấy, đó là đệ tử của Phật, tức Tăng Bảo. Phật - Pháp - Tăng Tam Bảo đầy đủ; v́ thế, nơi ấy có “thánh đức”. Ở chỗ này, cũng có thể giải thích là tŕnh độ văn hóa vô cùng cao, tư tưởng học thuật phát triển.

 

      (Sao) Tứ giả, giải thoát đức, nhân đa giải thoát, bất nhiễm dục cố.

      () 四者解脫德,人多解脫,不染欲故。

      (Sao: Bốn là, giải thoát đức, do có nhiều người giải thoát, chẳng nhiễm dục).

 

      Điều này chẳng đơn giản. “Giải thoát” là nói người tu hành chứng quả đông đảo, có nhiều thánh nhân. Thuở Phật tại thế, Phật là bậc chí thánh, đại thánh, trong các đệ tử Phật, có không ít vị chứng Bồ Tát quả, chứng Bích Chi Phật quả, chứng A La Hán quả rất nhiều, thánh nhân rất đông! “Xá Vệ” dịch sang nghĩa tiếng Hán là “phong đức”, [nghĩa là] sản vật phong phú, người có đạo đức vô cùng đông; do vậy gọi là Văn Vật. Văn là nổi tiếng, nức tiếng xa gần, [Vật] là sản vật phong phú. [Danh xưng] Xá Vệ có ư nghĩa ấy. Hiện thời, nói thật ra, Đài Loan c̣n thua nước Xá Vệ một chút, hai điều trước (trần đức và tài đức) chẳng kém họ, nhưng hai điều sau (thánh đức và giải thoát đức) thua họ. Nói theo Phật pháp, Đài Loan là khu vực có Phật pháp hưng thịnh nhất trên cả thế giới trong hiện thời. Đáng tiếc là Phật chẳng trụ thế, Phật chẳng ở nơi đây, Bồ Tát, A La Hán cũng không có, phàm phu tăng không ít, c̣n tốt hơn những nơi khác một chút, nhưng chẳng thể sánh bằng nước Xá Vệ. Điều thứ tư ở chỗ chúng ta không có! Mong sao mọi người nỗ lực niệm Phật, niệm tới công phu thành phiến là thánh nhân, niệm tới nhất tâm bất loạn bèn chứng quả, điều này phải cậy vào sự nỗ lực của chúng ta. “Nhân đa giải thoát, bất nhiễm dục cố” (do có nhiều người giải thoát, chẳng nhiễm dục). Nhiều người chứng quả, cho nên quá nửa dân chúng tiếp nhận sự giáo hóa của đức Phật. Do đức Phật giáo hóa ở nơi ấy mười mấy, hai mươi năm, giảng rất nhiều bộ kinh lớn, cho nên người nơi ấy thật sự có phước báo, quá nửa đều là có thể thấy thấu suốt, buông xuống, người giải thoát đông đảo!

 

      (Sao) Dĩ thị dự động Ngũ Thiên, danh Văn Vật dă.

() 以是譽動五天,名聞物也。

(Sao: Do vậy, lừng danh năm xứ Thiên Trúc, nên gọi là Văn Vật).

 

      “Dự” () là vinh dự, là tiếng tăm. Ngũ Thiên là Ấn Độ. Thuở đó, Ấn Độ gọi là Thiên Trúc, chia thành năm khu vực: Bắc Ấn Độ, Nam Ấn Độ, Đông Ấn Độ, Tây Ấn Độ, Trung Ấn Độ, người Trung Quốc gọi là Ngũ Thiên Trúc. Từ đời Đường về trước, luôn gọi [Ấn Độ] là Thiên Trúc (Sindhu). Cả Ấn Độ không ai chẳng biết đến nước Xá Vệ, đều biết đến địa phương ấy, là một quốc gia có tŕnh độ văn hóa và vật chất phát triển nhất, nên gọi là Văn Vật.

 

      (Sao) Dĩ nhân danh giả, đa hiền nhân cố, quốc dĩ nhân vi trọng cố.

      () 以人名者,多賢人故,國以人為重故。

      (Sao: “Do có nhiều người nổi tiếng”: Do có nhiều người hiền, v́ đất nước tôn trọng con người).

 

      Cũng có người nói Xá Vệ “dĩ nhân danh” (do người dân trong nước mà được nổi tiếng), có những nhân vật nổi tiếng. Nói theo cách bây giờ, những người nổi tiếng quốc tế đặc biệt nhiều, cho nên gọi là Xá Vệ. “Đa hiền nhân cố” (do có lắm người hiền) như A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát đều là hiền nhân. Phật thường giảng kinh thuyết pháp ở nơi ấy, những người ấy đều là đệ tử Phật, cho nên vô cùng nhiều. “Quốc dĩ nhân vi trọng” (đất nước coi trọng con người), Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc đều đặc biệt coi trọng hiền nhân, hiền nhân là vật báu của đất nước! Nhiều người hiền, quốc gia nhất định cường thịnh, cuộc sống của dân chúng nhất định đạt được an ḥa, lợi lạc. Đó là giải thích hai chữ Xá Vệ.

      Tiếp theo đó là nói đến đạo tràng nơi Ngài cư trụ. Xá Vệ là một thành lớn, [Xá Vệ] là tên thành thị ấy, giống như nay chúng ta nói tới thành phố Đài Bắc, đó là tên một thành thị. Ngài trụ tại nơi nào trong thành thị ấy?

 

      (Sớ) Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên giả.

  () 祇樹給孤獨園者。

      (Sớ: Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên).

 

      Đấy là đạo tràng giảng kinh thuyết pháp của đức Phật thuở ấy.

 

      (Sớ) Phạn ngữ Kỳ Đà, diệc vân Thệ Đa.

      () 梵語祇陀,亦云逝多。

      (Sớ: Tiếng Phạn Kỳ Đà c̣n gọi là Thệ Đa).

 

      Kỳ Đà (Jetā, Jetakumāra) và Thệ Đa đều là dịch âm tiếng Phạn.

 

      (Sớ) Ngôn Kỳ giả, tỉnh văn dă.

  () 言祇者,省文也。

      (Sớ: Nói “Kỳ”[trong Kỳ viên] là tỉnh lược).

 

       Đây cũng là tỉnh lược, bỏ bớt âm cuối.

 

      (Sớ) Thử vân Chiến Thắng.

      () 此云戰勝。

      (Sớ: Cơi này dịch [Kỳ Đà] là Chiến Thắng).

 

       Chữ “thử” chỉ Trung Quốc. Kỳ Đà dịch nghĩa sang tiếng Hán là Chiến Thắng.

 

      (Sớ) Cấp Cô, biểu đức.

      () 給孤,表德。

      (Sớ: Cấp Cô, biểu thị đức hạnh).

 

      “Cấp” là bố thí, “Cô” là kẻ cô độc. Có thể thấy người này rất từ bi, thường cứu giúp kẻ bần khổ, là một nhà từ thiện thật sự. Do vậy, mọi người không gọi tên ông ta mà gọi là “trưởng giả Cấp Cô Độc” (Anāthapindada). Ông ta đặc biệt quan tâm kẻ cô độc, cho nên mới được gọi bằng ngoại hiệu như vậy, gọi ông ta như vậy là một cách xưng hô tôn kính. Vị này là ai? Chính là...

 

      (Sớ) Tu Đạt Đa.

      () 須達多。

      (Sớ: Tu Đạt Đa).

 

      “Tu Đạt Đa” (Sudatta) là tên ông ta, tức trưởng giả Tu Đạt Đa.

 

      (Sớ) Viên giả, Phạn ngữ Tăng-già-lam-ma, thử vân Chúng Viên.

() 園者,梵語僧伽藍摩,此云眾園。

      (Sớ: “Viên”: Tiếng Phạn là Tăng-già-lam-ma (Sanghārāma), cơi này dịch là Chúng Viên).

 

      Đây là tiếng Phạn dịch âm, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Chúng Viên. Tăng-già (Sanghā) là Chúng, Ḥa Hợp Chúng. Phải tuân thủ sáu điều kiện, tức Lục Ḥa Hợp, tuân thủ sáu điều kiện ấy, mọi người ở chung với nhau, v́ thế, đó là một viên lâm. Viên lâm ấy vốn của Thái Tử Kỳ Đà, Kỳ Đà là Thái Tử của vua nước Xá Vệ. [Viên lâm ấy] là một biệt thự, tức là một hoa viên biệt thự, có diện tích rất lớn.

      Trưởng giả Tu Đạt Đa thỉnh Thích Ca Mâu Ni Phật đến nước Xá Vệ giảng kinh, thuyết pháp, nhưng Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n có một nhóm thường tùy đệ tử đi theo Ngài. Phật đi tới đâu, những người ấy theo tới đó, bao nhiêu người? Là một ngàn hai trăm năm mươi lăm người. Do vậy, nhất định phải thỉnh nhiều người như thế. Thỉnh nhiều người như thế đến, đương nhiên phải t́m một nơi rộng răi để họ có thể trụ lại. Tu Đạt Đa đi khắp nơi trong nước Xá Vệ để kiếm chỗ, thấy biệt thự ấy của Thái Tử rất thích hợp, một ngàn hai trăm năm mươi lăm người trụ nơi đó không có vấn đề ǵ, ở rất thoải mái, bèn thương lượng với Thái Tử muốn mua chỗ ấy.

Vị Thái Tử ấy cũng chẳng biết Thích Ca Mâu Ni Phật là ai, trưởng giả nhất định đ̣i mua, xin Thái Tử ra giá, ông ta bèn nói giỡn: “Nghe nói nhà ông rất nhiều vàng, đất của ta là tấc đất tấc vàng, ông lót vàng được bao nhiêu, ta sẽ bán bấy nhiêu”. Tu Đạt Đa thật sự mở kho trong nhà lấy vàng ṛng trải đất. Thái Tử rất cảm động, liền hỏi trưởng giả: “Rốt cuộc là do chuyện ǵ? Ông mua để làm ǵ?” Tu Đạt Đa bèn kể rơ. Bản thân Thái Tử cũng rất kính nể, bội phục, nói: “Như vậy th́ hay lắm! Hai người chúng ta cùng làm công đức”. Trưởng giả cậy trong nhà có tiền, có vàng: “Tôi muốn làm một ḿnh, chẳng muốn ông góp phần”, nên nẩy sanh tranh chấp. Xảy ra tranh chấp, Thái Tử Kỳ Đà bèn làm khó: “Được rồi! Nếu vậy th́ ông không chịu cho ta làm, được lắm! Đất ta đă bán cho ông, ông đă lót vàng rồi, nhưng cây hoa, cỏ cây trong chỗ đó, ta đều sai người chặt sạch, v́ ông cũng chưa trải vàng tới đó. C̣n có nhà cửa, ta đều sai phá sạch, ông chỉ mua được băi đất trống!” Trưởng giả bị làm khó dễ, không c̣n cách nào, lúc ấy, mới đồng ư: “Được rồi! Hai người cùng làm công đức. Mỗi người phân nửa”. Chỗ ấy về sau được gọi là Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên (Jetavane Anāthapindikassa Ārāma). Coi như cây cối thuộc phần công đức của Thái Tử Kỳ Đà, viên lâm đă bán cho ông trưởng Cấp Cô Độc. Nơi ấy mang tên hai người. Đó là nơi đức Phật thuyết pháp trong thuở ấy. Ngày hôm nay giảng tới chỗ này!

 

Tập 108

     

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang hai trăm mười bốn:

 

       (Sao) Chiến Thắng giả, Ba Tư Nặc vương Thái Tử sanh thời, vương dữ ngoại quốc giao chiến đắc thắng, hỷ nhi lập danh.

       () 戰勝者,波斯匿王太子生時,王與外國交戰得勝,喜而立名

(Sao: Chiến Thắng: Khi vua Ba Tư Nặc sanh Thái Tử, vua cùng nước ngoài giao chiến thắng trận, nên vui mừng đặt tên như vậy).

 

       Nói rơ những ư nghĩa được bao hàm trong danh hiệu Kỳ Đà.

 

       (Sao) Tu Đạt Đa giả, Phạn ngữ, thử vân Nhạo Thí.

      () 須達多者,梵語,此云樂施。

      (Sao: Tu Đạt Đa, là tiếng Phạn, cơi này dịch là Nhạo Thí).

 

       Tức là vui vẻ bố thí.

     

      (Sao) Thắng Quân vương đại thần dă.

      () 勝軍王大臣也。

      (Sao: Là đại thần của vua Thắng Quân).

 

      “Thắng Quân vương” là vua Ba Tư Nặc (Prasenajit), [Tu Đạt Đa] là đại thần của vua Ba Tư Nặc.

     

      (Sao) Hỷ nhạo hành thí, toại thành lệnh danh.

      () 喜樂行施,遂成令名。

      (Sao: Ưa thích bố thí, nên thành mỹ danh).

 

      Danh hiệu do chuộng thiện, ưa thí mà thành tên.

     

      (Sao) Cấp Cô Độc giả.

      () 給孤獨者。

      (Sao: Cấp Cô Độc...)

 

“Cấp” có nghĩa là bố thí.

 

       (Sao) Ấu nhi vô phụ viết Cô, lăo nhi vô tử viết Độc.

() 幼而無父曰孤,老而無子曰獨。

      (Sao: Trẻ thơ không cha gọi là Cô, già cả không con là Độc).

      

       Do đây có thể biết: Tu Đạt Đa là một vị trưởng giả từ thiện, không chỉ có địa vị rất cao trong quốc gia, mà c̣n có tài sản rất lớn. Điều khó có nhất là ông ta chuộng thiện, ưa thí, thường cứu giúp những người già yếu, nghèo túng. V́ thế, thuở ấy, mọi người gọi ông là trưởng giả Cấp Cô Độc, chẳng gọi tên tục. Đấy là tôn kính ông ta.

 

      (Sao) Khổng ân châu cấp, Kỳ chánh tiên quỳnh[5], phi bất phổ từ, hữu hoăn cấp cố.

      () 孔恩周急,岐政先煢,非不普慈,有緩急故。

      (Sao: Châu cấp có chọn lựa như Khổng Tử [chẳng giúp đỡ kẻ giàu được giàu thêm], cai trị bằng ḷng nhân như Văn Vương giúp người đơn côi trước, chẳng phải là ḷng Từ không trọn khắp, nhưng chuyện cứu tế có hoăn đăi hay gấp rút khác biệt).

 

Tuy bố thí, cúng dường bằng tâm b́nh đẳng, nhưng quan tâm kẻ cô độc (cô nhi và người già sống trơ trọi một ḿnh) là những kẻ hết sức đáng thương và kẻ thiếu thốn, do vậy, trong lúc cứu tế, đă xếp họ vào mức ưu tiên bậc nhất. Đây là những người hết sức cần được cứu giúp. V́ thế, trưởng giả Cấp Cô Độc cũng đặc biệt chiếu cố những người đó.

 

(Sao) Chúng cư viết Viên giả.

() 眾居曰園者。

(Sao: Chỗ nhiều người ở gọi là Viên).

 

Giải thích chữ Viên trong từ ngữ Cấp Cô Độc Viên.

 

(Sao) Lâm ấm thanh u, học đạo chi nhân, ưng thê chỉ cố.

       () 林蔭清幽,學道之人,應棲止故。

(Sao: Nhiều cây cối xum xuê, thanh vắng, là nơi đáng để cho người học đạo ở).

      

      Hoàn cảnh cư trụ của “học đạo chi nhân” (người học đạo) rất nên “thanh u”, hoàn cảnh ấy sẽ tốt đẹp hơn một chút. Từ xưa đến nay, tự viện, tùng lâm đều được kiến tạo trong vùng núi rừng, cách xa thành thị, cách biệt khá xa những nơi dân cư ḥng tĩnh tâm dưỡng đạo, tu đạo.

 

      (Sao) Thí thụ măi viên giả, Niết Bàn Kinh thuyết: “Tu Đạt trưởng giả, bổn Xá Vệ nhân, sơ vị tri Phật, vị phinh phụ cố”.

      () 施樹買園者,涅槃經說:須達長者,本舍衛人,初未知佛,為娉婦故。

      (Sao: “Thí cây, mua vườn”: Kinh Niết Bàn nói: “Trưởng giả Tu Đạt vốn là người Xá Vệ, thoạt đầu chưa biết Phật, v́ cưới dâu mà...)

 

       Lúc ông ta nạp sính lễ cưới dâu cho con trai.

 

      (Sao) Nhập Vương Xá thành, nhân San Đàn Na kiến Phật sanh tín.

       () 入王舍城,因珊檀那見佛生信。

      (Sao: Vào thành Vương Xá, do ông San Đàn Na chỉ dẫn, được gặp Phật, sanh ḷng tin).

 

      Trưởng giả San Đàn Na ở thành Vương Xá (Rājagrha) là thông gia (sui gia) của Tu Đạt Đa. Họ đang cúng dường Thích Ca Mâu Ni Phật, thỉnh Thích Ca Mâu Ni Phật đến giảng kinh. Do cơ duyên ấy, nên Tu Đạt Đa được gặp Phật.

 

      (Sao) Thỉnh quy Xá Vệ, Phật lệnh Thân Tử tuyển chúng cư xứ.

      () 請歸舍衛,佛令身子選眾居處。

      (Sao: Thỉnh Phật đến Xá Vệ, đức Phật sai ngài Xá Lợi Phất chọn lựa chỗ cư trụ cho chúng tăng).

 

      Thuở ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật sai một vị thị giả, tức là tôn giả Xá Lợi Phất, “Thân Tử” là Xá Lợi Phất; sai ngài Xá Lợi Phất cùng sang nước Xá Vệ với trưởng giả Tu Đạt Đa để t́m hoàn cảnh cư trụ [thích hợp] bên ấy, do số người trong tăng đoàn của đức Phật khá đông, chẳng có hoàn cảnh cư trụ thích hợp th́ đối với họ cũng sẽ rất khó khăn.

 

      (Sao) Đắc Kỳ Đà viên, trưởng giả vấn giá, Thái Tử hư đáp: “Kim bố địa măn, tức đương mại dữ”. Trưởng giả bố kim, Thái Tử cảm thán, toại dữ dịch địa, địa sở hữu thụ, tịnh dĩ thí Phật, nhân lập tinh xá. Trưởng giả, Thái Tử giao tương phát tâm, thành thử mỹ sự, cố song tiêu dă.

      () 得祇陀園,長者問價,太子戲答:金布地滿,即當賣與。長者布金,太子感歎,遂與易地,地所有樹,并以施佛,因立精舍。長者太子交相發心,成此美事,故雙標也。

      (Sao: T́m được vườn cây của Kỳ Đà, trưởng giả hỏi giá, Thái Tử nói đùa: “Đem vàng lót khắp đất, ta sẽ bán cho ông”. Trưởng giả trải vàng, Thái Tử cảm thán, bèn giao đất, những cây mọc trên đất đều cúng dường Phật. Do vậy, lập tinh xá. Trưởng giả và Thái Tử cùng nhau phát tâm thành tựu chuyện tốt đẹp này, nên gọi nơi ấy bằng tên của hai người).

 

      Tôi nghĩ chuyện này chẳng cần phải giảng, mọi người đọc xong, nói chung đă hiểu rơ t́nh h́nh, bởi lẽ lai lịch của Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên đă có nhiều kinh chú giải rồi.

      Đoạn kế tiếp là nói xứng Lư. Đây là một điều đặc thù của Liên Tŕ đại sư trong bộ Di Đà Kinh Sớ Sao, đoạn kinh văn này tiêu quy tự tánh, cũng là hết sức khó có!

 

      (Sớ) Nhược dụ đương kinh giáo lư, các hữu sở biểu, như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm thích lệ.

       () 若喻當經教理,各有所表,如法華華嚴釋例。

      (Sớ: Nếu dựa theo giáo lư trong kinh này để nói, mỗi điều đều có ư nghĩa biểu thị pháp, giống như cách giải thích kinh Pháp Hoa và Hoa Nghiêm).

     

      “Đương kinh” là kinh này, nói theo lư luận giáo học trong kinh này, chỗ nào cũng đều mang ư nghĩa biểu thị pháp, như kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm, Trí Giả đại sư giải thích kinh Pháp Hoa, soạn Pháp Hoa Kinh Văn Cú, Thanh Lương đại sư soạn Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao, đều diễn giải rất nhiều sự tướng trong ấy thành sự biểu thị pháp, tức là những điều ấy biểu thị ư nghĩa nào. Dùng thể lệ ấy để xem xét kinh này, chúng ta có thể thấy rất nhiều nghĩa lư.

 

      (Sao) Dụ đương kinh giả, như Xá Vệ quốc, quốc chi thắng, biểu thử Tịnh Độ pháp môn, quảng đại hoằng viễn, pháp chi tối thượng cố.

      () 喻當經者,如舍衛國,國之勝,表此淨土法門,廣大宏遠,法之最上故。

      (Sao: “Dựa theo kinh này để nói”, như nước Xá Vệ là nước thù thắng nhất trong các nước, biểu thị pháp môn Tịnh Độ này rộng lớn, thênh thang, là pháp tối thượng).

 

      Kinh này nói đến thành Xá Vệ. Thuở ấy, thành Xá Vệ là một nước lớn nhất tại Ấn Độ, đô thị ấy là đô thị lớn nhất trong năm xứ Ấn Độ, bất luận tŕnh độ văn hóa, chính trị, giáo dục, hay kinh tế đều thuộc hạng nhất. V́ thế, đức Phật giảng kinh ở nơi đó, cũng nhằm biểu thị pháp môn này là pháp môn tối thượng trong hết thảy các pháp, giống hệt như nước Xá Vệ là thành thị lớn nhất, thù thắng nhất trong năm xứ Ấn Độ thuở ấy, dùng ư nghĩa này.

 

      (Sao) Tức Từ Ân ngôn, Vương Xá thành, thành chi thắng.

      () 即慈恩言,王舍城,城之勝。

      (Sao: Chính là như ngài Từ Ân (Khuy Cơ đại sư) nói: “Thành Vương Xá là thành thù thắng).

 

      “Thắng” là thù thắng.

 

      (Sao) Thành thắng dư thành, biểu Pháp Hoa pháp thắng dư pháp cố, hạ giai lệ thử.

      () 城勝餘城,表法華法勝餘法故,下皆例此。

      (Sao: Thành ấy thù thắng hơn các thành khác, biểu thị giáo pháp Pháp Hoa thù thắng hơn các pháp khác. Những điều sau đây đều tuân theo lệ này).

     

      Nói theo phương diện biểu thị pháp, kinh Pháp Hoa được người đời sau tôn xưng là “kinh trung chi vương” (vua của các kinh), bảo là “ngũ thời cực xướng, tối hậu cực đàm” (sự xướng suất tột bậc trong năm thời, là sự bàn luận tột bậc cuối cùng), là kinh điển Viên Giáo thuần nhất. Sự thù thắng của nước Xá Vệ đă được nói tới trong phần trên, giống như thành phố Nữu Ước là thành phố lớn bậc nhất trong thế giới hiện thời. Nữu Ước của Mỹ là thành phố lớn bậc nhất trên toàn thế giới, là trung tâm tài chánh của thế giới, cả thế giới chẳng ai không biết đến nó. Trong quan niệm của bọn họ, nước Xá Vệ thuở ấy tại Ấn Độ cũng giống như một đô thị lớn trên thế giới hiện thời, dùng chuyện này để làm tỷ dụ.

 

      (Sao) Kỳ Thụ, thụ chi thắng.

      () 祇樹,樹之勝。

      (Sao: “Cây của Thái Tử Kỳ Đà”: Cây thù thắng).

 

      Cây do Thái Tử Kỳ Đà trồng, cây do người trồng mà khác biệt. Cây cối cũng là loài hữu t́nh, nó có mối cảm ứng với ḷng người. Chẳng hạn như thuở Huyền Trang đại sư sang Ấn Độ thỉnh kinh, trước cửa chùa có một cái cây, Ngài sờ vào thân cây bảo: “Ta sang Tây Phương thỉnh kinh, ngươi hăy mọc dài về phía Tây. Đến năm nào ta trở về, ngươi sẽ mọc dài về phương Đông”. Cây ấy quả nhiên nghe lời. Sau khi Ngài ra đi, cây mỗi năm đều mọc dài về phía Tây, năm Ngài quay về, cây bèn chuyển phương hướng, mọc dài về phía Đông. Người trong chùa đều nói: “Chắc là Huyền Trang đại sư trở về, cây đă mọc dài sang phía này rồi!” Quả nhiên Ngài trở về trong năm ấy. Do vậy, cây cối quả thật có mối cảm ứng với ḷng người. Thái Tử Kỳ Đà chẳng phải là kẻ tầm thường, cây do ông ta trồng sẽ đặc biệt tươi tốt, thù thắng hơn cây do người khác trồng.

 

      (Sao) Biểu Tịnh Độ ấm cái chúng sanh.

      () 表淨土蔭蓋眾生。

      (Sao: Biểu thị Tịnh Độ che rợp chúng sanh).

     

       Cây to rợp bóng, mát mẻ, mùa Hè, hết thảy mọi người thích ngồi dưới gốc cây. Con người hiện tại ít rảnh rỗi, người thời cổ có nhiều thời gian rảnh rỗi; v́ thế, đều muốn cây to. Cửa nhà nào cũng đều có cây to, nhất là lúc mùa Hè, đấy là chỗ hóng mát rất tiện. V́ thế, sánh ví “Tịnh Độ che rợp chúng sanh”.

 

      (Sao) Vĩnh ly nhiệt năo cố.

  () 永離熱惱故。

      (Sao: Do vĩnh viễn ĺa khỏi nóng bức).

 

      Mười phương thế giới đều là uế nhiều, tịnh ít. Nói cách khác, phiền năo rất nhiều. Chỉ riêng thế giới Tây Phương thanh lương, tự tại. Chọn lấy Tịnh Độ trong các cơi Phật mười phương, giống như đặc biệt chọn nơi rợp bóng, mát mẻ, có thể đoạn phiền năo của hết thảy chúng sanh. Đấy là ư nghĩa được biểu thị bởi cây.

 

      (Sao) Cấp Cô Viên, viên chi thắng.

      () 給孤園,園之勝。

      (Sao: Vườn của ông Cấp Cô Độc là vườn thù thắng).

 

      “Viên” là thụ dụng tự tại. Ngôi viên lâm của ông ta rất lớn. Biệt thự của Thái Tử thuở ấy có kiến trúc cũng vô cùng xinh đẹp. Sống trong viên lâm ấy sướng ḷng khoái mắt!

 

      (Sao) Biểu Tịnh Độ an ổn chúng sanh, hằng thọ chư lạc cố.

   () 表淨土安穩眾生,恆受諸樂故。

      (Sao: Biểu thị Tịnh Độ an ổn chúng sanh, luôn hưởng các niềm vui).

 

      Chữ “viên” biểu thị ư nghĩa này!

 

      (Sao) Kỳ Đà Thái Tử, chủng chi thắng.

      () 祇陀太子,種之勝。

      (Sao: Thái Tử Kỳ Đà ḍng dơi thù thắng).

 

      Trong bốn chủng tánh tại Ấn Độ, Thái Tử thuộc chủng tánh Sát Đế Lợi (Kshatriyas), là vương tộc.

 

      (Sao) Biểu Tịnh Độ sanh giả, tất cánh thành Phật, thiệu long Phật chủng cố.

      () 表淨土生者,畢竟成佛,紹隆佛種故。

      (Sao: Biểu thị sanh về Tịnh Độ sẽ rốt ráo thành Phật, tiếp nối hưng thịnh ḍng giống nhà Phật).

 

      Đều mang ư nghĩa biểu thị pháp, đều nói rất viên măn. Phàm những ai văng sanh Tây Phương Tịnh Độ, có thể nói là “đều có thể gọi là Pháp Vương Tử”, v́ sao? Người ấy trong tương lai nhất định thành Phật, nối tiếp huệ mạng Phật, rộng độ chúng sanh, giống như Thái Tử trong tương lai sẽ kế thừa vương vị, thống trị quốc gia.

 

      (Sao) Tu Đạt trưởng giả, nhân chi thắng.

      () 須達長者,人之勝。

      (Sao: Trưởng giả Tu Đạt là người thù thắng).

     

Đây là bầy tôi, là người thù thắng.

 

      (Sao) Biểu Tịnh Độ sanh giả, nhập Chánh Định Tụ, câu thượng thiện nhân cố.

      () 表淨土生者,入正定聚,俱上善人故。

      (Sao: Biểu thị người sanh về Tịnh Độ, nhập Chánh Định Tụ đều là thượng thiện nhân).

 

      Phàm người văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới đều là thượng thiện nhân. V́ trưởng giả Tu Đạt Đa thuở ấy đích xác trọn đủ trí huệ và đức năng, lại là người vô cùng từ bi. Nghe Phật pháp, thật sự phát tâm, có thể bỏ ḿnh v́ người, thỉnh Phật đến nước Xá Vệ hoằng pháp lợi sanh. Ông ta thỉnh Phật đúng là chẳng tiếc giá nào, muốn cầu Phật sang nơi ấy giảng kinh, thuyết pháp. V́ thế, thật sự đáng gọi là thượng thiện nhân.

 

      (Sao) Như Hoa Nghiêm chủng chủng biểu pháp, dĩ hiển nhất tâm, giai thử ư dă.

      () 如華嚴種種表法,以顯一心,皆此意也。

      (Sao: Như kinh Hoa Nghiêm có các thứ biểu thị pháp nhằm chỉ rơ nhất tâm, đều nhằm ư này vậy).

 

      Những bộ kinh lớn như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa hoàn toàn giảng những nghĩa thú biểu thị pháp, chúng ta đọc kinh Phật phải chú ư điều này!

 

      (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh đỗng triệt thập phương, thị A Nan văn Phật nghĩa. Tự tánh bất ly đương xứ, thị Phật tại Kỳ Viên nghĩa.

  () 稱理,則自性洞徹十方,是阿難聞佛義。自性不離當處,是佛在祇園義。

      (Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh thấu suốt rỗng rang mười phương là ư nghĩa A Nan nghe đức Phật thuyết pháp. Tự tánh chẳng rời khỏi ngay chỗ ấy là ư nghĩa Phật ngự tại Kỳ Viên).

 

      Đây là hoàn toàn nói xứng tánh. “Tự tánh đỗng triệt thập phương” có nghĩa là: [Nếu hiểu] “A Nan văn Phật” [theo ư nghĩa sự tướng], vậy th́ chúng sanh đều không nghe được, có ư nghĩa như vậy. Nếu nói Phật ngự tại tinh xá Kỳ Viên, bản thân chúng ta là phàm phu, đương nhiên chẳng ở tinh xá Kỳ Viên, cho nên có phân biệt, có cách ngăn, chướng ngại. Nếu thật sự hiểu duy tâm, hăy nên quán hết thảy các pháp, chẳng có một pháp nào chẳng phải là tâm hiện, thức biến. Tâm thức biến hết thảy pháp giới, thử hỏi Phật có ở ngoài tâm chúng ta ư? Tinh xá Kỳ Viên lại ở ngoài tâm chúng ta ư? Nh́n vào tâm tánh, chẳng có một pháp nào ở ngoài tâm tánh, cho nên mới nói “đỗng triệt thập phương” (thấu suốt rỗng rang mười phương), đó mới là ư nghĩa chân thật của “A Nan văn Phật”. “Tự tánh bất ly đương xứ”, Pháp Tánh trạm nhiên, chẳng dời, chẳng biến, đó là ư nghĩa thật sự của “Phật trụ tại”.

 

      (Sao) Tâm văn đỗng thập phương, tắc Khánh Hỷ hiện kim phương kết tập, chân Phật ốc lư tọa, tắc Thích Ca nguyên bất trụ Tây Càn.

      () 心聞洞十方,則慶喜現今方結集,真佛屋裏坐,則釋迦原不住西乾。

      (Sao: Tâm nghe thấu suốt mười phương, nên nay ngài A Nan thị hiện kết tập [kinh điển], vị Phật thật sự ngồi trong nhà, nên Phật Thích Ca vốn chẳng trụ ở Tây Càn).

      “Tây Càn” là Ấn Độ. Có ư nghĩa là A Nan và Thích Ca Mâu Ni Phật trọn chẳng rời khỏi chúng ta, đấy là như trong chương Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm có nói: “Tâm văn đỗng thập phương, sanh ư đại nhân lực” (tâm nghe thông suốt mười phương, là do sức của cái nhân to lớn sanh ra), đó là kinh văn trong kinh Lăng Nghiêm. Cổ nhân có nói: “Kim Phật bất độ lô, mộc Phật bất độ hỏa, nê Phật bất độ thủy, chân Phật ốc lư tọa” (Phật bằng vàng chẳng bén mảng đến ḷ lửa, Phật bằng gỗ chẳng dính đến lửa, Phật đắp bằng đất chẳng dính đến nước, vị Phật thật sự ngồi trong nhà). “Chân Phật” là nói tới Chân Như bổn tánh. Tượng Phật đúc bằng kim loại chẳng bén mảng đến bên ḷ, v́ hễ bị lửa trong ḷ luyện thép nung đốt bèn chảy tan, chẳng c̣n nữa. Tượng Phật khắc bằng gỗ chẳng thể thiêu, hễ thiêu sẽ không c̣n ǵ. Tượng Phật bằng đất nặn chẳng thể bỏ vào nước, bỏ vào nước sẽ ră nát. Vị Phật thật ngồi trong nhà, “vị Phật thật” là nói tới tự tánh. Đấy là nói đến ư nghĩa “tâm văn đỗng thập phương”. Tiếp theo đó là hai câu trong Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương:

 

      (Sao) Phản văn tự văn, phản Phật, tự Phật.

      () 反聞自聞,反佛自佛。

      (Sao: Xoay trở lại cái Nghe để nghe chính ḿnh, xoay trở lại quán sát Phật để nhận biết vị Phật của chính ḿnh).     

 

      Từ “phản văn, văn tự tự tánh” (xoay trở lại cái Nghe để nghe tự tánh), chúng ta thấu hiểu “phản Phật tự Phật”. “Phản văn tự tánh” là bí quyết tu hành của Quán Thế Âm Bồ Tát, do chính Ngài tu hành. “Phản văn, văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo”, chính Ngài đă tự tŕnh bày Ngài từ phàm phu đă tu thành Quán Thế Âm Bồ Tát, tu thành Đẳng Giác Bồ Tát theo cách như vậy. Trong kinh đă nói rất rơ ràng, thầy của Ngài là Quán Thế Âm Phật, đó là cổ Phật, Ngài học với vị Phật ấy. Sau đấy, học thành, cũng có danh hiệu là Quán Thế Âm, chúng ta gọi Ngài là Quán Thế Âm Bồ Tát. Nói đơn giản, phương pháp của Ngài là do tâm của những kẻ b́nh phàm chúng ta thường rong ruổi bên ngoài, c̣n Ngài tu Nhĩ Căn Viên Thông. Phàm phu nghe âm thanh bên ngoài, tâm liền rong ruổi bên ngoài, duyên theo âm thanh, hễ dễ nghe bèn nghe nhiều hơn một chặp, tâm đă rong ruổi theo bên ngoài mất rồi. Phương pháp của Bồ Tát là chẳng rong ruổi bên ngoài, mà dơi vào trong, theo đuổi bên trong. Rong ruổi bên trong chẳng phải là nghe ngược lại hay sao? Hay là quay đầu lại ư? Chẳng phải! [Nói] trong và ngoài là [nói đến] Tánh và Tướng. Âm thanh phát ra là Tướng, nhưng Tướng nhất định có Tánh. Ngài nghe âm thanh bên ngoài chẳng giống như chúng ta, chúng ta nghe âm thanh, chẳng nghe được Tánh của âm thanh. Chúng ta chỉ chấp vào Tướng âm thanh, chẳng biết đến Tánh của âm thanh. Quán Thế Âm Bồ Tát nghe âm thanh bên ngoài, chẳng chấp Tướng của âm thanh, mà nghe thấy Tánh của âm thanh, Ngài kiến tánh. V́ thế, nói “phản văn, văn tự tánh”. Ngài nghe âm thanh trái ngược chúng ta. Phàm phu chúng ta nghe âm thanh bèn chấp tướng, người ta chẳng chấp tướng, mà nghe được tánh. Do vậy, Ngài có thể kiến tánh, “tánh thành vô thượng đạo”.

      Nay ở đây, đại sư muốn chúng ta hăy dùng theo cách ấy. Chúng ta “phản Phật” tức là thấy vị Phật của chính ḿnh, dùng cách thức ấy. Phật là sắc tướng, chúng ta dùng con mắt để thấy th́ cái thấy được là sắc tướng. Nếu chúng ta có thể xoay lại thấy sắc tánh th́ đó là đúng, quư vị sẽ thấy Phật. Lục căn của chư Phật, Bồ Tát tiếp xúc lục trần, các Ngài chẳng gọi chúng là lục trần. Chúng ta mắt đối trước Sắc Trần, do chấp tướng, chúng liền biến thành Sắc Trần, tai đối trước Thanh Trần, lục căn tiếp xúc lục trần, liền biến thành phàm phu, biến thành ô nhiễm. Mắt của chư Phật, Bồ Tát đối trước Sắc sẽ là Sắc Tánh, mắt các Ngài không gọi là Nhăn Căn, mà thay đổi danh tự, gọi là “Kiến tánh” (tánh Thấy). Tánh Thấy sẽ thấy Sắc Tánh. Nơi Nhĩ Căn, tánh Nghe nghe Thanh Tánh, đó gọi là “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”. Quán Thế Âm Bồ Tát dùng tánh Nghe để nghe Thanh Tánh. Ở đây, đại sư dạy chúng ta, chúng ta noi theo lệ ấy, vận dụng công thức ấy, dùng tánh Thấy để thấy Sắc Tánh là “phản Phật tự Phật”. Quư vị có thể quay đầu như vậy, trong Phật môn thường nói “quay đầu là bờ”. Quay đầu là quay theo kiểu như vậy!

 

      (Sao) Đương tri Kỳ Viên nhất hội, nghiễm nhiên vị tán, khởi độc Linh Sơn.

      () 當知祇園一會,儼然未散,豈獨靈山。

      (Sao: Hăy nên biết: Hội Kỳ Viên vẫn nghiễm nhiên chưa tan, há riêng ḿnh hội Linh Sơn!)

 

“Nghiễm nhiên vị tán” là nói Trí Giả đại sư niệm kinh Pháp Hoa tới phẩm Dược Vương Bổn Sự. Nói thật ra, trong kinh Pháp Hoa, Thích Ca Mâu Ni Phật đă dạy chúng ta hăy văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới[6], đoạn kinh văn ấy chính là phẩm Dược Vương Bổn Sự. Đại sư niệm tới phẩm này, nhập Định, tự thấy ḿnh đến núi Linh Thứu, đức Phật vẫn c̣n giảng kinh Pháp Hoa nơi ấy, Ngài ngồi nghe một buổi, sau khi xuất Định, bảo người khác: “Một hội Linh Sơn, nay vẫn c̣n chưa giải tán”. V́ thế, nghiễm nhiên chưa tan! Nói thật ra, về sau, tuy Trí Giả đại sư chuyên hoằng dương Pháp Hoa, bản thân Ngài tu hành là chuyên tu Tịnh Độ. Ngài tu theo bộ kinh nào? Trong ba kinh, Ngài nương theo Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh để tu hành. Lúc sắp văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, Ngài tự nói Ngài là trung bối văng sanh. Đến phần sau, chúng ta xem tới phép Quán thứ mười sáu, quư vị sẽ thấy trong mười sáu phép Quán đă giảng ba phẩm thượng, ba phẩm trung, ba phẩm hạ, Ngài là trung bối văng sanh.

      Ở đây, Liên Tŕ đại sư bảo chúng ta: Hội Kỳ Viên này, tức pháp hội Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh A Di Đà này cũng chưa tan; cũng chẳng phải là chỉ có hội Linh Sơn chưa tan, hội nào cũng đều chưa tan. Chỉ cần quư vị có công phu ấy, có năng lực ấy, đều có thể đến tham dự giống như Trí Giả đại sư. Trong sáu thứ thành tựu, năm thứ thành tựu trong phần trước đă nói xong. Tiếp theo đây là Chúng Thành Tựu:

 

      (Kinh) Dữ đại tỳ-kheo tăng, thiên nhị bách ngũ thập nhân câu.   

      () 與大比丘僧。千二百五十人俱。

      (Kinh: Cùng với các đại tỳ-kheo tăng, một ngàn hai trăm năm mươi người).

 

      Đấy là kinh văn.

 

      (Sớ) Tự thử nhi hạ, chí chư thiên đại chúng câu.

      () 自此而下,至諸天大眾俱。

      (Sớ: Tự đây trở xuống, cho đến đoạn “chư thiên đại chúng cùng tham dự”).

 

      Đoạn văn này thuộc về Chúng Thành Tựu.

 

      (Sớ) Dữ giả cộng nghĩa.

      () 與者共義。

      (Sớ: “Dữ” có nghĩa là “cùng”).

 

     Là Thích Ca Mâu Ni Phật và một ngàn hai trăm năm mươi người, trên thực tế, c̣n có năm người, tức một ngàn hai trăm năm mươi lăm người, bỏ bớt số lẻ, chỉ nói số tṛn. Đức Phật và những người ấy ở cùng một chỗ. Những người ấy là Thường Tùy Chúng của đức Phật. Nói cách khác, đức Phật đi đến đâu, họ theo đến đấy, chưa hề rời khỏi Phật. V́ thế, muốn thỉnh đức Phật giảng kinh, thuyết pháp cũng chẳng dễ dàng, chẳng phải thỉnh một ḿnh đức Phật, mà là thỉnh nhiều người như thế, tiếp đăi cũng chẳng phải là chuyện dễ. Tiếp theo đây là giải thích chữ “đại tỳ-kheo”.

 

      (Sớ) Đại giả, giản tiểu.

      () 大者揀小。

      (Sớ: “Đại”, nhằm phân biệt chẳng phải là Tiểu).

 

      “Đại” là Đại Thừa, [nói Đại] nhằm phân biệt chẳng phải là Tiểu Thừa. V́ b́nh thường chúng ta nói tỳ-kheo đều là Tiểu Thừa, Tiểu Thừa là Thanh Văn Thừa. Đây là nói rơ các Ngài tuy mang h́nh dáng tỳ-kheo, nhưng trên thực tế, chẳng phải là tỳ-kheo Tiểu Thừa, có thể nói họ là các tỳ-kheo hồi Tiểu hướng Đại. Nói kiểu đó là nói rất miễn cưỡng, thật ra, các Ngài đều là đại Bồ Tát, đại Bồ Tát thị hiện thân phận Thanh Văn.

 

      (Sớ) Cụ hữu tam nghĩa.

      () 具有三義。

      (Sớ: Trọn đủ ba ư nghĩa).

 

      “Đại” gồm ba ư nghĩa.

 

      (Sớ) Vị đại, đa, thắng.

      () 謂大、多、勝。

      (Sớ: Là lớn, nhiều, thù thắng).

 

      Trọn đủ ba ư nghĩa này, cho nên mới nói là “Đại”. “Đại” là nói các Ngài đức đại, trí huệ đại; “Đa” là nói các Ngài lắm tài nghệ, đa tài, đa nghệ, những vị ấy đều là như vậy. “Thắng” là siêu thắng; trong thuở ấy, những vị Tiểu Thừa hoặc là chín mươi sáu loại ngoại đạo đều chẳng bằng các Ngài. V́ thế, các Ngài trỗi vượt hết thảy mọi người. Do đủ ba ư nghĩa này nên gọi là “Đại”.

 

      (Sớ) Dị dư tỳ-kheo cố.

      () 異餘比丘故。

      (Sớ: Do chẳng giống với các tỳ-kheo khác).

 

      “Dư tỳ-kheo” là Tiểu Thừa, họ thua các Ngài rất xa!

 

      (Sớ) Phật Địa diệc cụ tam nghĩa.

      () 佛地亦具三義。

      (Sớ: Phật Địa Luận cũng nói [Đại] có ba nghĩa).

 

      “Phật Địa” là Phật Địa Luận. Chữ Đại cũng có ba ư nghĩa này.

 

      (Sớ) Tỳ-kheo, Phạn ngữ.

  () 比丘,梵語。

      (Sớ: Tỳ-kheo (Bhiksu) là tiếng Phạn).

 

      Đây là dịch âm tiếng Ấn Độ.

 

      (Sớ) Thử vân hữu tam.

      () 此云有三。

      (Sớ: [Dịch sang tiếng] cơi này th́ có ba...)

 

      Trong từ ngữ này chứa đựng ba ư nghĩa; cho nên, nếu chúng ta dịch ra, sẽ không thể dịch trọn vẹn. Nó có rất nhiều ư nghĩa, trong văn tự Trung Quốc không được t́m được chữ thích đáng để phiên dịch, chỉ đành dịch âm rồi giải thích.

 

      (Sớ) Nhất, khất sĩ.

      () 一、乞士。

      (Sớ: Một là khất sĩ).

 

      “Khất”: Phương thức sống thuở ấy là khất thực, “sĩ” là tiếng để gọi chung người có học vấn lẫn đạo đức. Mỗi ngày ra ngoài thác bát (khất thực), người khất thực ấy chẳng phải là kẻ ăn mày thông thường, mà là một người đi xin ăn, nhưng có học vấn, có đạo đức, cho nên dùng hai chữ này (Khất Sĩ) để dịch ư nghĩa thứ nhất. “Khất” bao gồm hai thứ ư nghĩa, thứ nhất là “khất thực dĩ tư sắc thân”, nghĩa là [xin ăn] để nuôi dưỡng nhục thân, thứ hai là cầu pháp nơi đức Phật, “khất pháp dĩ tư huệ mạng”, tức là mỗi ngày hướng về Phật cầu xin đức Phật giảng pháp nhằm nuôi nấng huệ mạng của chúng ta.

 

      (Sớ) Nhị, bố ma.

      () 二、怖魔。

      (Sớ: Hai là làm cho ma sợ hăi).

 

      “Ma” là ma vương. Ma vương thống trị tam giới. Trong tam giới lục đạo cũng có một vị đại vương thống trị khắp tam giới lục đạo. Nếu lục đạo chúng sanh tu hành vượt thoát tam giới, trong tâm Ma cũng rất khổ, v́ sao? Người thuộc quyền thống trị của hắn bỏ đi, số người sẽ dần dần giảm ít, hắn lo lắng v́ chuyện này. Nhưng quư vị thật sự đạt được năng lực vượt thoát tam giới, hắn mới ưu lự, mới cảm thấy kinh hoảng. Nếu quư vị chẳng có năng lực, tuy xuất gia tu hành, hắn vẫn cười cợt, v́ sao? Quư vị chẳng thoát được, không thoát khỏi ma chưởng của hắn! Ma chưởng của hắn là tam giới lục đạo, quư vị không có cách nào vượt thoát! Thật sự phát tâm tu hành, chứng A La Hán quả sẽ vượt thoát. V́ thế, “bố ma” là đạt tới A La Hán, ma vương mới lo lắng, v́ sao? Quư vị đă có năng lực vượt thoát.

 

      (Sớ) Tam, phá ác.

      () 三、破惡。

      (Sớ: Ba là phá ác).

 

     Chữ “ác” chỉ Kiến Tư phiền năo, A La Hán đoạn sạch Kiến Tư phiền năo, nên gọi là “phá ác”.

 

      (Sớ) Tăng giả, Phạn ngữ, cụ vân Tăng Già. Bất ngôn Già giả, tỉnh văn dă.

      () 僧者,梵語,具云僧伽。不言伽者,省文也。

      (Sớ: Tăng là tiếng Phạn, nói đầy đủ là Tăng Già. Không nói chữ Già là v́ tỉnh lược).

 

      Người Hoa thích tỉnh lược.

 

      (Sớ) Thử vân Chúng Ḥa Hợp.

  () 此云眾和合。

      (Sớ: Cơi này dịch là Chúng Ḥa Hợp).

 

      “Tăng Già” (Sangha) dịch sang nghĩa tiếng Hán là Ḥa Hợp Chúng. Trong “ḥa hợp” có Lư và Sự gồm bảy điều, Lư là cùng mang ư nghĩa “cùng chứng vô vi, đồng chứng Niết Bàn”. Đó là nói theo Lư. Trong pháp Đại Thừa, sẽ là cùng chứng Vô Thượng Bồ Đề, hoặc như chúng ta nói là “đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”, có cùng một mục tiêu. Nói theo Sự th́ gồm sáu điều, chúng ta gọi là Lục Ḥa Kính. Lục Ḥa Kính là nói theo mặt Sự, “kiến ḥa đồng giải, giới ḥa đồng tu, thân ḥa đồng trụ, khẩu ḥa vô tránh, ư ḥa đồng duyệt, lợi ḥa đồng quân”, phải tuân thủ sáu điều này th́ mới là được coi là một Tăng đoàn. Một Tăng đoàn phải từ bốn người trở lên. Từ bốn người trở lên ở cùng một chỗ, cùng nhau tu hành, tuân thủ bảy điều kiện ấy, tức là bảy giới điều th́ đoàn thể đó gọi là Tăng đoàn. Do vậy, Tăng đoàn tối thiểu là bốn người, c̣n nhiều hơn th́ không hạn chế, tối thiểu phải là bốn người! Nếu tu Tịnh Độ, trong pháp môn này, xét theo Lư là có cùng một kỳ vọng “cùng sanh về thế giới Tây Phương”, có chung một nguyện vọng ấy, c̣n trên mặt Sự th́ vẫn là sáu điều ấy.

      Trong kiến ḥa đồng giải, mấy hôm nay chúng tôi đọc kinh Quán Vô Lượng Thọ, có cảm xúc thật sâu. Ngày nay, chúng ta kiến giải chẳng ḥa hợp, chẳng thể có cùng kiến giải, nguyên nhân chủ yếu là v́ chẳng “đọc tụng Đại Thừa”. Tịnh nghiệp tam phước trong Quán Kinh là cơ bản, không chỉ là cơ bản để tu Tây Phương Tịnh Độ, mà có thể nói căn bản của sự tu học hết thảy Phật pháp, quyết định chẳng thể vi phạm. Tịnh nghiệp tam phước gồm ba điều, tổng cộng mười một câu; điều cuối cùng là “phát Bồ Đề tâm”. Nếu nói chuyện “phát Bồ Đề tâm” với người tu Tịnh Độ, Ngẫu Ích đại sư đă giải thích vô cùng hay, trong Di Đà Kinh Yếu Giải, Ngài đă nói: “Chân tâm muốn phát tâm văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ tâm ấy là Vô Thượng Bồ Đề tâm”, cách giải thích này rất đơn giản, rất dễ hiểu! “Tin sâu nhân quả”. Kiến ḥa đồng giải chẳng thể thành lập là v́ chúng ta coi nhẹ chuyện “đọc tụng Đại Thừa”, tức là mỗi ngày phải niệm kinh, chẳng thể không niệm kinh!

      Tu Tịnh Độ, niệm kinh ǵ? Niệm kinh Di Đà tốt lắm, nhưng kinh Di Đà mỗi ngày niệm một lần không đủ, v́ sao? Quá ngắn, chẳng thể nhiếp tâm. Nói thật ra, kinh Di Đà cũng quá đơn giản, tuy niệm, cũng chẳng hiểu ư nghĩa trong ấy. Nếu chúng ta niệm kinh Di Đà, tôi cảm thấy hay nhất là niệm Di Đà Kinh Yếu Giải, đọc kinh cùng với lời giải thích. Yếu Giải do Ngẫu Ích đại sư trước tác, Ấn Quang đại sư tán thán tác phẩm ấy: “Dẫu cổ Phật tái lai chú giải kinh Di Đà cũng không thể hay hơn được!” Quư vị nghĩ xem: Tán thán đến tột bậc, v́ thế, tôi cảm thấy đọc Yếu Giải tốt lắm! Nếu thời gian nhiều hơn, tốt nhất là đọc Yếu Giải Giảng Nghĩa, hoặc đọc Di Đà Kinh Sớ Sao, đọc cả lời Sớ lẫn lời Sao. Nay mọi người chúng ta thấy một cuốn sách to này có thể niệm được! Mỗi chữ, mỗi câu thảy đều chẳng bỏ sót, thảy đều niệm hết, niệm một quyển như vậy, đại khái, quư vị niệm một tuần sẽ có thể niệm hết. Sau khi niệm xong, lại niệm từ đầu, mỗi ngày đều phải niệm. Tối thiểu mỗi ngày niệm một giờ, quư vị niệm kinh này từ đầu đến cuối, sau khi niệm xong lại niệm từ đầu. Phương pháp niệm này là mọi người cùng niệm, chẳng phải là cá nhân niệm cho mỗi cá nhân, mọi người cùng nhau niệm sẽ có thể đạt được hiệu quả kiến ḥa đồng giải.

      Nếu có thể nghiên cứu, thảo luận th́ càng tốt. Phương pháp niệm giống như giảng kinh, có một người niệm trên giảng đài, mọi người ở dưới nghe, niệm một giờ được bao nhiêu trang. Sau khi niệm xong, có chút thời gian, hoặc là nửa giờ hay một giờ, mọi người nghiên cứu, thảo luận. Nói theo cách bây giờ là “thành lập nhận thức chung”, kiến ḥa đồng giải trong [sáu thứ] ḥa hợp chính là kiến lập nhận thức chung. Mọi người chúng ta có nhận thức chung, ở cùng một chỗ sẽ không nẩy sanh ư kiến tranh căi. Điều này vô cùng trọng yếu, ngàn vạn phần chớ nên coi nhẹ đọc tụng Đại Thừa! Đối với bản in này, phía trước là Sớ Sao, phần giữa là Yếu Giải, cuối cùng là Thông Tán Sớ, có tất cả ba thứ chú giải được in chung lại.

 

      (Sớ) Thiên nhị bách ngũ thập nhân giả.

  () 千二百五十人者。

      (Sớ: “Một ngàn hai trăm năm mươi người”).

 

      Nói rơ những vị ấy do đâu mà có.

 

      (Sớ) Tam Ca Diếp, Mục Liên, Xá Lợi, ngũ nhân đệ tử, cộng hợp thành cố.

  () 三迦葉,目連,舍利,五人弟子,共合成故。

      (Sớ: Đệ tử của năm vị là ba anh em Ca Diếp, Mục Liên, Xá Lợi cùng hợp thành [con số một hai trăm năm mươi người]).

 

      Đây là năm vị lănh tụ, các vị ấy và học tṛ của các Ngài cùng hợp thành con số trên đây.

 

      (Sớ) Thượng minh loại thuộc Thanh Văn, hạ minh số hữu nhược can dă. Câu giả, hợp thượng Cộng nghĩa.

      () 上明類屬聲聞,下明數有若干也。俱者,合上共義。

      (Sớ: Trước là nói tới thính chúng thuộc hàng Thanh Văn, sau là nói họ gồm có bao nhiêu người. Chữ “câu” tương hợp với ư nghĩa “cùng nhau” [của chữ Dữ ở đầu câu]).

 

      Đây là lời giải thích đơn giản trong phần Sớ.

 

      (Sao) Cộng nghĩa giả, Thiên Thai dĩ thất nhất thích Cộng.

      () 共義者,天台以七一釋共。

      (Sao: Ngài Thiên Thai dùng bảy chữ Nhất để giải thích ư nghĩa chữ Cộng).

 

      Chữ “cộng” này cũng chẳng thể tùy tiện dùng. Thiên Thai đại sư đă nói bảy điều kiện, bảy điều kiện ấy thảy đều trọn đủ th́ gọi là Cộng. Bảy điều kiện nào vậy? Tiếp theo đây bèn nói rất rơ ràng.

 

      (Sao) Vị xứ nhất.

      () 謂處一。

(Sao: Chính là ở cùng một chỗ).

 

      Các Ngài ở cùng một chỗ, cùng trụ một nơi.

 

      (Sao) Thời nhất.

      () 時一。

(Sao: Cùng một thời).

 

      Cùng một thời gian. Cùng một nơi chốn, nhưng thời gian không đồng nhất, chẳng thể gọi là “cộng”.

 

      (Sao) Tâm nhất.

       () 心一。

      (Sao: Cùng một tâm).

 

Trong Lư Sự ḥa hợp như đă nói trong phần trước, Lư ḥa và kiến ḥa đều là tâm, “tâm nhất” (cùng một tâm).

 

       (Sao) Giới nhất, đạo nhất, kiến nhất.

      () 戒一,道一,見一。

      (Sao: Cùng một giới, một đạo, một kiến giải).

 

      “Kiến” là kiến giải.

 

      (Sao) Giải thoát nhất.

      () 解脫一。

      (Sao: Cùng một giải thoát).

 

     “Giải thoát” là tự tại. Mỗi cá nhân đều trụ rất vui sướng, rất tự tại. Phải có đủ bảy điều kiện này, lúc đó mới có thể gọi “cộng trụ”, lúc đó mới là một Tăng đoàn ḥa hợp. Bảy ư nghĩa này và tinh thần Lục Ḥa Kính hoàn toàn tương đồng. Do vậy, cũng biết: Thuở ấy, Tăng đoàn hơn một ngàn hai trăm người của Thích Ca Mâu Ni Phật thật sự là một đại Tăng đoàn ḥa hợp.

 

      (Sao) Phật dữ đại chúng cộng cư Kỳ Viên, thị kinh chánh ư.

  () 佛與大眾共居祇園,是經正意。

      (Sao: Phật và đại chúng cùng ở Kỳ Viên là ư nghĩa chánh yếu trong kinh này).

     

Ư nghĩa thật sự của kinh này là nói đến điều ấy. Khi đó, đức Phật và đại chúng đều ở tại Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên.

 

      (Sao) Quảng chi như thượng.

       () 廣之如上。

      (Sao: Nói rộng ra th́ như trên).

 

      Phía trước đă nói.

 

      (Sao) Giản tiểu giả.

      () 揀小者。

      (Sao: Phân biệt chẳng phải là Tiểu).

 

      “Giản” là phân biệt, “Tiểu” là Tiểu Thừa, ư nói những vị ấy chẳng phải là tỳ-kheo Tiểu Thừa.

 

      (Sao) Minh phi sơ tâm tỳ-kheo.

      () 明非初心比丘。

      (Sao: Nói rơ những vị ấy chẳng phải là tỳ-kheo sơ tâm).

 

      Chẳng phải là tỳ-kheo Tiểu Thừa sơ phát tâm.

 

      (Sao) Tức hạ sở xưng trưởng lăo đẳng thị dă.

       () 即下所稱長老等是也。

      (Sao: Tức là những vị được gọi là các trưởng lăo trong phần dưới đây).

 

      Trong phần kinh văn dưới đây sẽ liệt kê danh xưng của các vị thượng thủ đại đức, nêu tên mười sáu vị. Mười sáu vị ấy đều được gọi là trưởng lăo hay tôn giả.

 

      (Sao) Đại đa thắng giả, thiên vương đại nhân, sở cộng kính ngưỡng, phi tiểu đức dă, danh Đại.

      () 大多勝者,天王大人,所共敬仰,非小德也,名大。

      (Sao: “Đại, đa, thắng”: Trời, quốc vương, đại nhân đều cùng kính ngưỡng, chẳng phải là đức nhỏ nhoi, nên gọi là Đại).

 

      Đây là nói đạo đức lẫn trí huệ của các Ngài đều to lớn. Do vậy, khi ấy, quốc vương, đại thần đều tôn kính. Các Ngài chẳng phải là Tiểu Thừa, mà là bậc đại đức, đức to lớn.

 

      (Sao) Nội điển, ngoại tịch, vô bất bác thông, phi quả giải dă, danh Đa.

      () 內典外籍,無不博通,非寡解也,名多。

      (Sao: Kinh điển nhà Phật, sách vở thế gian, không ǵ chẳng thông suốt rộng răi, chẳng phải là hiểu biết hạn hẹp, nên gọi là Đa).

 

      Học rộng, nghe nhiều, lắm tài nghệ, đó là ư nghĩa của chữ Đa.

 

      (Sao) Siêu xuất cửu thập lục chủng chi thượng, phi liệt khí dă, danh Thắng.

       () 超出九十六種之上,非劣器也,名勝。

      (Sao: Vượt trỗi chín mươi sáu thứ [ngoại đạo], chẳng phải là căn cơ kém hèn, nên gọi là Thắng).

 

      “Thắng” là thù thắng. Thuở ấy, Ấn Độ có chín mươi sáu thứ ngoại đạo, những ngoại đạo ấy cũng đều rất có học vấn, cũng có những người tu tŕ rất khá, họ được gọi là tôn giáo gia, triết học gia, các vị đại tỳ-kheo đều vượt trội họ.

 

      (Sao) Giai Tiểu Thừa trung cực dă.

      () 皆小乘中極也。

      (Sao: Đều là tột đỉnh trong hàng Tiểu Thừa).

 

      H́nh tướng bề ngoài của các Ngài là Tiểu Thừa, nhưng thật ra đă đạt tới tột đỉnh của Tiểu Thừa; bậc Đại Thừa cố ư khoác lấy dáng vẻ Tiểu Thừa. Đó gọi là “ngoại hiện Thanh Văn thân, nội bí Bồ Tát hạnh” (ngoài hiện thân Thanh Văn, bên trong ẩn kín hạnh Bồ Tát), trong là Bồ Tát, bề ngoài là Thanh Văn. V́ thế, gọi là đại tỳ-kheo.

 

      (Sao) Phật Địa tam nghĩa giả.

       () 佛地三義者。

      (Sao: Ba ư nghĩa trong Phật Địa Luận là...)

 

       Phật Địa Luận đă nêu ra ba ư nghĩa để giải thích “đại, đa, thắng”.

 

      (Sao) Nhất, tối cực lợi căn, Ba La Mật Đa chủng tánh, cố danh vi Đại.

      () 一、最極利根,波羅密多種性,故名為大。

      (Sao: Một là lợi căn cùng tột, là chủng tánh Ba La Mật Đa, nên gọi là Đại).

 

      Căn tánh vô cùng nhạy bén, là Ba La Mật Đa. Ba La Mật Đa (Pāramitā) là tiếng Ấn Độ, dịch nghĩa sang tiếng Hán là rốt ráo viên măn. Nếu dịch theo nghĩa gốc của từng chữ sẽ là “đáo bỉ ngạn” (đạt đến bờ kia). Người Trung Quốc nói “đáo gia” (đạt đến mức tột cùng) cũng nhằm vào ư nghĩa này! Bất luận chuyện ǵ người ấy làm cũng là tốt nhất, chúng ta bèn h́nh dung người ấy đă “đáo gia”. Chẳng hạn như quư vị viết chữ rất đẹp, công phu đă đạt đến mức tuyệt diệu, người Ấn Độ bèn nói là Ba La Mật, Ba La Mật là đă đạt đến mức tuyệt diệu! Nếu quư vị nấu ăn rất ngon, công phu của quư vị cũng đạt tuyệt mức. Ba La Mật là một thuật ngữ rất phổ biến tại Ấn Độ. Chẳng hạn như bố thí, tŕ giới, công phu đă đạt đến tột bậc, làm đến mức độ rốt ráo viên măn, bèn gọi là Ba La Mật. Những vị này bất luận trí huệ hay đức hạnh, điều ǵ cũng đều viên măn, đều đă đạt đến mức tuyệt diệu, nên gọi là Đại.

 

      (Sao) Nhị, giai đắc Vô Học quả vị, cố danh vi Đại.

      () 二、皆得無學果位,故名為大。

      (Sao: Hai là đều đă đắc quả vị Vô Học, nên gọi là Đại).

 

      Đều chứng A La Hán, đấy là Đại. Chẳng phải là đang học, mà đă đều tốt nghiệp, nên chúng ta gọi các Ngài là Đại. Đại A La Hán khác hẳn, Đại A La Hán là Đại Thừa A La Hán, đă tốt nghiệp Đại Thừa Phật pháp, đó là ai? Là Đệ Thập Địa Bồ Tát, tức Pháp Vân Địa ((Dharmameghā-bhūmi) Bồ Tát, được gọi là Đại A La Hán, Tiểu Thừa A La Hán thua các vị này rất xa. Giống như chúng ta nói đến “tốt nghiệp” th́ một đằng là tốt nghiệp Tiểu Học, một đằng là tốt nghiệp Đại Học, đều là tốt nghiệp, nhưng tŕnh độ sai khác rất lớn!

 

      (Sao) Tam, giai đắc Tiểu Quả dĩ, xu đại Bồ Đề, cố danh vi Đại.

      () 三、皆得小果已,趨大菩提,故名為大。

      (Sao: Ba, đều đă đắc Tiểu Quả, hướng đến đại Bồ Đề, nên gọi là Đại).

 

      Đây là hồi Tiểu hướng Đại. Các Ngài đă chứng quả Tiểu Thừa A La Hán, quay trở về học pháp Đại Thừa Bồ Tát, nên gọi là Đại.

 

      (Sao) Tắc thông Đại Thừa ngôn dă.

      () 則通大乘言也。

      (Sao: Nên là ư nói thông với Đại Thừa).

 

      Chữ Đại thông với Đại Thừa; ba ư nghĩa “đại, đa, thắng” thảy đều có thể dùng giáo nghĩa Đại Thừa để nh́n, đấy mới là chính xác. Dưới đây là giải thích chữ tỳ-kheo.

 

      (Sao) Tỳ-kheo tam giả, nhất, khất sĩ, vị khất thực, khất pháp.

      () 比丘三者,一、乞士,謂乞食乞法。

(Sao: Tỳ-kheo gồm ba nghĩa: Một là khất sĩ, ư nói khất thực và xin pháp).

 

      “Khất thực” nhằm nuôi nấng sắc thân, “khất pháp” nhằm nuôi nấng huệ mạng.

 

     (Sao) Khất thực, tắc ly tứ tà mạng, hợp tứ chánh mạng, vô sự kinh doanh, bất cần súc tích, vạn duyên đốn tức, nhất chí thanh tu, tăng nghi dĩ thử hoạt mạng, cố viết “khất thực tư thân” dă.

      () 乞食,則離四邪命,合四正命,無事經營,不勤畜積,萬緣頓息,一志清修,僧宜以此活命,故曰乞食資身也。

      (Sao: Khất thực là ĺa bốn thứ tà mạng, phù hợp bốn thứ chánh mạng, chẳng chú trọng kinh doanh, chẳng siêng năng tích cóp, nhanh chóng dứt muôn duyên, một dạ thanh tu. Tăng nên sống theo cách này, nên nói “khất thực để nuôi thân”).

 

      Ở đây, giảng tỉ mỉ. Ĺa bốn thứ tà mạng cũng là chuyện đáng chú ư. Nhưng hiện thời trong Phật môn chúng ta, quả thật đă vi phạm di giáo, làm bốn thứ tà mạng ấy. Tà mạng là phương thức sống không đúng pháp. Bốn thứ tà mạng ấy trái nghịch chế định của đức Phật.

1) Thứ nhất là “hạ khẩu thực”, tức là pha chế thuốc, trồng trọt ruộng vườn. Hiện thời c̣n có không ít người xuất gia học y, học châm cứu, đi học những thứ ấy. Cố nhiên là dường như có thể giúp người khác, người khác đến cúng dường một chút, nếu dùng những thứ cúng dường ấy để duy tŕ cuộc sống th́ là sai lầm, thuộc về tà mạng. C̣n có người tự ḿnh canh tác, trồng trọt, dùng h́nh thức ấy để sống cũng là sai lầm; nhưng hai loại này ở Trung Quốc rất phổ biến. Nếu nói đến lịch sử th́ đă có một ngàn hai trăm năm rồi! Bách Trượng đại sư, “Mă Tổ kiến tùng lâm, Bách Trượng lập Thanh Quy” (Mă Tổ lập tùng lâm, Bách Trượng lập Thanh Quy), đă đề xướng cày ruộng, chính ḿnh trồng lúa, trồng rau, đấy là một trong bốn loại tà mạng; nhưng tổ sư nói rất có lư. Ngài nói giống như Ngẫu Ích đại sư đă nói, sau triều đại Nam Tống, Trung Quốc không có tỳ-kheo thật sự, tỳ-kheo đă tuyệt tích tại Trung Quốc. Ngài đề xướng: “Một ngày không làm, một ngày chẳng ăn”, Ngài cấy cày, ra đồng gieo lúa, trồng rau, mỗi ngày đều đi làm, dùng cách này để duy tŕ cuộc sống của chính ḿnh, tham Thiền, tu đạo. V́ thế, chuyện này có lịch sử khá dài, gắng hết sức ít nhận [cúng dường] từ dân gian, mà tự lực cánh sinh.

      Đây là do t́nh h́nh Trung Quốc khác biệt. Thuở ấy, tại Ấn Độ thác bát (ôm bát đi xin), Trung Quốc chẳng có tập quán ấy, quư vị ra ngoài thác bát, người ta chẳng cho, không giống như Ấn Độ. Như trong hiện tại, ở Thái Lan, thác bát là truyền thống. Quư vị đi ra ngoài thác bát, mọi người rất cung kính cúng dường. Tại Trung Quốc, người xuất gia cầm bát đi xin bên ngoài, chắc là đi suốt cả ngày chẳng xin được một nắm cơm! [Do vậy], Ngài (tổ Bách Trượng) chẳng đề xướng [thác bát], người ta chẳng tán thành chuyện này. Đây là do tập tục mỗi quốc gia và địa phương khác nhau, cho nên tại Trung Quốc không thể chẳng đề xướng trồng trọt. Trước đây, tự viện ở Đại Lục đều có ruộng đồng, có rừng núi, họ dựa vào đó để duy tŕ lương thực cho đại chúng thường trụ, cho nên cuộc sống an định, chẳng bợ đỡ tín đồ. Tuy rất kham khổ, nhưng có thể sống qua ngày, mới có thể an tâm tu đạo! Nếu y theo [quy chế ở] Ấn Độ thuở ấy, chúng ta sẽ sai lầm, nhưng làm như chúng ta ở Trung Quốc lại chẳng phạm lỗi. V́ thế, hết thảy giới luật đều là sống động, đều có biến đổi cho thông suốt.

      V́ sao chúng ta không đặt nặng [sống rập khuôn theo] giới luật? V́ giới luật là quy định sống của Ấn Độ thuở đó, có rất nhiều điều đến hiện thời chẳng thích hợp, về căn bản là không dùng được! Cho nên, khi truyền sang Trung Quốc, giới luật được tu chỉnh lại. Sau khi tu chỉnh, sẽ không gọi là giới luật, mà gọi là Thanh Quy. Những điều giới luật ấy đă bảo lưu toàn bộ tinh thần giới luật, nhưng nhằm thích hợp với hoàn cảnh sống của người Trung Quốc, phải sửa đổi, như vậy bèn biến thành Thanh Quy. Do vậy, Thanh Quy là giới luật. Hiện thời chúng ta tụng giới mang ư nghĩa kỷ niệm, nhưng phải giữ Thanh Quy. Thanh Quy là văn bản giới luật đă được tu chỉnh tại Trung Quốc, mang ư nghĩa như thế đó. Tôi suy nghĩ [giới luật đă được] tu chỉnh vào đời Đường, thích hợp thời đại đó, phù hợp xă hội nông nghiệp; nay là thời đại công thương nghiệp; v́ thế, đến hiện thời, Thanh Quy cũng không thích hợp; nhưng trong thời đại này, chúng ta chẳng có một vị luật sư chân chánh xuất hiện. Nói thật ra, thời gian Hoằng Nhất đại sư trụ thế quá ngắn, nếu Ngài có thể sống lâu hơn hai mươi năm nữa, có lẽ sẽ sửa chữa bộ Thanh Quy lần nữa nhằm thích hợp sử dụng cho thời đại công thương hiện thời! Do vậy, quư vị phải hiểu: Nhiều thứ trong Phật pháp đều có thể tùy theo ư thức, h́nh thái và hoàn cảnh sinh hoạt khác biệt tại mỗi nơi mà tu chỉnh. V́ thế, nó chẳng phải là chết cứng, khô khan.

      2) Thứ hai là “ngưỡng khẩu thực”, ngửa xem tinh tú, mỗi ngày nói chuyện họa, phước, cát, hung cho người khác, làm theo kiểu ấy. Chuyện này Phật chẳng chấp nhận; dùng cách này để được cúng dường nhằm duy tŕ cuộc sống, sẽ là sai lầm, thuộc loại tà mạng.

3) Thứ ba là “phương khẩu thực”, mỗi ngày hoa ngôn xảo ngữ đi ra ngoài du thuyết, giao tế, ứng phó, thù tạc, kết giao kẻ quyền quư, chèo kéo tín đồ, đấy là sai lầm. Mỗi ngày làm chuyện đó, qua lại với người khác, đạo tâm mất tiêu!

4) Thứ tư là “duy khẩu thực”, vẽ bùa, niệm chú, coi bói, xem tướng, xem Phong Thủy, dùng cách ấy để được cúng dường th́ gọi là “duy khẩu thực”.

Những điều này đều thuộc loại tà mạng, Phật pháp quyết định cấm. Do vậy, thuở ấy, Bách Trượng đại sư chỉ đề xướng tự ḿnh canh tác. Đệ tử Phật gọi là “thanh tịnh khất sĩ”, bởi lẽ, họ chẳng làm những chuyện này, hoàn hoàn toàn dùng phương thức khất thực để duy tŕ cuộc sống của chính ḿnh. Khất thực chỉ được phép xin bảy nhà, trọn chẳng thể nhà nào cũng đều đến xin. Xin bảy nhà mà không được ǵ, bèn trở về sám hối, ngày hôm nay nghiệp chướng quá nặng, không ai cho! Nếu vượt hơn bảy nhà, người ta sẽ ghét bỏ, người xuất gia đi khắp nơi làm phiền kẻ khác! V́ thế, khất thực chỉ được phép xin bảy nhà!

      Ĺa khỏi bốn thứ tà mạng th́ gọi là “chánh mạng”. “Tứ chánh mạng” cũng có bốn điều: Thứ nhất là “vô sự kinh doanh” (chẳng chú trọng kinh doanh). V́ thế, thân tâm thanh tịnh, nên mới có thể tu đạo, mới có thể dưỡng đạo. [Nh́n vào] chế định của đức Phật thời cổ, [ta thấy] trước khi có chế độ tùng lâm và sau khi có chế độ tùng lâm khác nhau. Thành lập chế độ tùng lâm là một cuộc đại cách mạng trong Phật giáo Trung Quốc. V́ trước đó, mỗi cá nhân tu hành đều là chuyện cá nhân người đó, chẳng có cộng tu, đều là cá nhân tự ḿnh tu hành. Tối đa là pháp hội giảng kinh. Pháp sư giảng kinh, người từ nhiều nơi đến nghe kinh. Sau khi nghe xong, người nào tu cho người nấy, chẳng có cộng tu. Thuở đó, xuất hiện tệ trạng là mọi người đều chuộng nghe kinh, c̣n tu hành th́ qua quít, tùy tiện, chẳng chú trọng. Như vậy là biến thành “hữu giải, vô hạnh”, biến thành h́nh thức! Do vậy, hai vị đại sư là Mă Tổ và ḥa thượng Bách Trượng phát tâm từ bi. Mă Tổ được nói trong Phật môn[7] là tổ sư đời thứ tám của Thiền Tông, họ ngoài đời là Mă, nên người ta gọi Ngài là Mă Tổ; pháp danh của ngài là Đạo Nhất. Hai vị thiền sư Mă Tổ và Bách Trượng thuộc đời thứ tám của Thiền Tông, là đồ tôn của Lục Tổ đại sư. Hai vị thấy thói xấu của những người tu hành là “có giải, thiếu hạnh”, bèn vận động làm một cuộc cách mạng, tạo lập tùng lâm, đề xướng cộng tu.

      Nói theo ư nghĩa hiện thời, tùng lâm là thành lập trường đại học. Trước đó, truyền thừa trong Phật giáo giống như dạy học trong trường tư thục, là thầy dạy riêng biệt, không có chế độ! Tổ chức tùng lâm là chánh thức kiến lập chế độ, biến sự truyền thừa tản mạn của Phật giáo trước đây thành chế độ hóa. Mọi người ở cùng một chỗ tu học, đó gọi là “y chúng, kháo chúng” (nương theo đại chúng, trông cậy vào đại chúng). Trước đó, đúng là một nhúm người tấn tu, số người trong Tăng đoàn ḥa hợp rất ít, đều là mỗi chùa mấy người. Mười mấy người, hai mươi người, hai trăm người được coi là rất nhiều. Sau khi tùng lâm thành lập, đông người hơn, thường là trong một tùng lâm có đến mấy ngàn người trụ. V́ thế, có tổ chức vô cùng nghiêm ngặt, chặt chẽ. Cái gọi là “tam đại cương lănh chấp sự”, khá giống với cách chúng ta tổ chức nhà trường trong hiện tại, chỉ là danh xưng khác nhau. Ḥa Thượng tương đương Hiệu Trưởng, Ngài là Thân Giáo Sư. Dưới đó có Thủ Tọa, tương đương chủ nhiệm Giáo Vụ; Giám Viện là Đương Gia Sư, tương đương chủ nhiệm Tổng Vụ; Duy Na tương đương chủ nhiệm Huấn Đạo. Do vậy, quả thật là quy mô của một trường học, thật sự kiến lập và chế độ hóa đại học Phật giáo. Đây là điểm đặc sắc trong Phật giáo Trung Quốc, ngoại quốc không có. Trong tùng lâm, đề xướng trồng trọt, v́ số người đông, nếu cầu cạnh bên ngoài cúng dường sẽ chẳng dễ dàng cho lắm. Quư vị nghĩ xem: Trong một tùng lâm, trụ mấy ngàn người, mỗi ngày ăn bao nhiêu? Nếu bản thân quư vị chẳng làm, ai tới cúng dường quư vị? Quư vị ra ngoài thác bát chẳng dễ dàng cho lắm! [Tùng lâm] cư trụ mấy ngàn người, mỗi ngày ăn cơm [đều do khất thực], nơi ấy sẽ gặp khó khăn, ai cũng ngán quư vị, sợ quá! V́ thế, đề xướng canh tác là nỗi khổ tâm bất đắc dĩ!

      Tứ chánh mạng, thứ nhất là không theo đuổi kinh doanh; thứ hai là “bất cần súc tích” (chẳng siêng tích cóp) tức là không tích trữ, thứ ba là “vạn duyên đốn tức” (muôn duyên nhanh chóng dứt), đó gọi là thân, tâm, thế giới thảy đều buông xuống. Thứ tư là “nhất chí thanh tu”. Bốn câu ấy là tứ chánh mạng của người xuất gia. “Tăng” là người xuất gia, “nghi dĩ thử hoạt mạng, cố viết khất thực tư thân dă” (hăy nên sống theo cách ấy, nên nói là khất thực để nuôi dưỡng cái thân), đấy là phương thức sống của người xuất gia!

 

      (Sao) Khất pháp, tắc tham sư phỏng hữu, khẩn khổ kiều thành, tuân cầu diệu pháp, kỳ thành thánh quả, cố ước khất pháp tư tâm dă.

() 乞法,則參師訪友,懇苦翹誠,詢求妙法,期成聖果,故約乞法資心也。

      (Sao: Khất pháp là tham học với thầy, học hỏi nơi bạn, sốt sắng, siêng khổ, thành kính, cầu t́m diệu pháp, để mong thành thánh quả, nên thuộc về khất pháp để nuôi nấng cái tâm vậy).

 

      Người xuất gia, trừ [khất thực để duy tŕ] cuộc sống ra, c̣n mong cầu pháp. Chúng ta thấy trong sách Thiền Lâm Bảo Huấn có nói người xuất gia chọn lựa đạo tràng, chọn lựa như thế nào? Phải chọn lựa đạo tràng nào mà cuộc sống chẳng có vấn đề, có thể ăn no, mặc ấm là được rồi, lại c̣n có thể nghe pháp, có tu, có học, đấy là đạo tràng bậc nhất. Có đạo tràng như vậy, quư vị chớ nên rời khỏi, hăy khéo tu học ở đó. Thứ nh́ là đạo tràng phước báo nhỏ hơn, cuộc sống rất gian khổ, nhưng họ có đạo, có tu, có học, cũng đáng nên chọn lựa. Chính ḿnh phải chịu đựng khổ sở, nhẫn nại. Phải chịu đựng khổ, hứng chịu khổ, v́ sao? Có đạo! Chúng ta đă xuất gia, muốn thành đạo nghiệp, lấy đạo nghiệp làm chủ yếu, dẫu cuộc sống khổ sở vẫn không sợ. Chỗ chẳng nên chọn lựa là đạo tràng hết sức giàu có, ăn cũng sướng, mặc cũng sướng, ở cũng sướng, trong ấy chẳng có đạo, chẳng có giảng kinh, cũng chẳng tu hành, đạo tràng như vậy chớ nên đến. V́ sao? Đạo tràng như vậy cũng là đạo, nhưng đạo ǵ vậy? Địa ngục đạo, ngạ quỷ đạo, toàn là tu những đạo ấy! Trong tương lai, nếu quư vị chứng quả, sẽ chứng quả ngạ quỷ, quả địa ngục, chứng các quả ấy, chuyện này phiền lắm! Trong Thiền Lâm Bảo Huấn, tổ sư đă dạy chúng ta chọn lựa đạo tràng như thế nào, đạo tràng nào có thể trụ, đạo tràng nào chẳng thể trụ, chính chúng ta phải hiểu rơ ràng, [v́ điều này] sẽ có quan hệ rất lớn đối với tương lai!

      “Tham sư phỏng hữu”, tham học với thầy th́ quư vị phải rất thận trọng chọn lựa một vị thầy, v́ sao? Vị thầy ấy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự thành tựu của quư vị trong tương lai. Nếu quư vị chọn được một vị thiện tri thức tốt đẹp để theo, vị thầy ấy dạy quư vị có kỳ hạn; một vị thầy thật sự tốt chắc chắn sẽ không bảo quư vị: “Ngươi suốt đời ở nơi đây, đừng nên đi ra ngoài”, nếu [nói như vậy] th́ tuyệt đối chẳng phải là một vị thầy tốt. V́ sao? Quư vị sẽ có ngày tốt nghiệp! Quư vị đă tốt nghiệp, phải rời đi, t́m người cao minh hơn th́ mới có thể thành tựu. Do vậy, một vị thầy thật sự tốt đẹp sẽ chẳng khiến cho tiền đồ của quư vị bị lỡ làng. Ngài đem những ǵ chính ḿnh [đă biết] dạy cho quư vị xong, sẽ không có cách nào để dạy tiếp nữa, bèn mời quư vị đi t́m người khác, t́m người cao hơn Ngài, đấy là một vị thầy tốt!

Quư vị thấy Thiện Tài đồng tử tham học năm mươi ba lần, Ngài đến tham phỏng một vị thiện tri thức, vị thiện tri thức ấy dạy hết cho Ngài, không c̣n ǵ để dạy nữa, bèn giới thiệu một vị thiện tri thức khác: “Người ấy cao hơn ta, ngươi hăy đi t́m vị ấy”, đấy mới là một vị thiện tri thức thật sự. V́ thế, chúng ta theo một vị thầy tốt có kỳ hạn. Đương nhiên cũng có những học tṛ cảm ơn thầy, cảm tạ ân đức ấy, chẳng muốn rời khỏi, gần như thường là đến khi thầy viên tịch mới rời khỏi. Họ sang nơi khác cầu pháp, hoặc là chủ tŕ giáo hóa, hoằng hóa một phương. Có người như vậy, nhưng là thiểu số, đa số sau khi học thành, sẽ ra ngoài tham học, giống như Thiện Tài đồng tử rời khỏi thầy ra ngoài tham học năm mươi ba lần. Nhưng khi quư vị chưa có năng lực tham học, thầy quyết định chẳng cho quư vị rời khỏi. Nếu để cho quư vị rời khỏi, tức là thầy có lỗi với quư vị. Thầy phải bảo vệ quư vị, phải giúp cho quư vị thành tựu, khiến cho quư vị có năng lực tham học, năng lực ǵ vậy? Năng lực phân biệt chân - vọng! Quư vị nghe người ta giảng điều ǵ, vừa nghe liền biết đó là chánh pháp hay tà pháp, có năng lực ấy. Có thể phân biệt đúng, sai, thiện, ác, có năng lực như vậy, thầy sẽ cho quư vị ra ngoài tham học.

      Nếu quư vị chưa có năng lực ấy, thầy chắc chắn chẳng cho quư vị rời khỏi Ngài một bước, nhất định không chấp thuận cho quư vị ra khỏi cửa chùa. V́ sao? Nếu quư vị nghe người bên ngoài giảng, mỗi người giảng một cách, nghe ba người [giảng ba cách khác nhau], trong tâm liền đánh dấu hỏi, rốt cuộc ai đúng? Càng học càng mê hoặc, càng học càng điên đảo, học tới cuối cùng ngay cả Phật pháp cũng không tin. Vị này giảng Đông, vị kia giảng Tây, rốt cuộc ta đi đến đâu? Đơn giản là coi như xong, chẳng cần học nữa! Đấy là do chính ḿnh thiếu năng lực phân biệt, giống như chưa xuất sư, chưa có tư cách đi ra ngoài tham học. Có năng lực mà thầy chẳng cho quư vị ra ngoài, thầy sẽ có lỗi với quư vị; chưa có năng lực mà thầy đă cho quư vị đi, thầy cũng có lỗi với quư vị. Do vậy, sư đạo quả thật rất khó khăn! Thầy phải tuyệt đối chịu trách nhiệm đối với học tṛ; tṛ thành công hay thất bại, thầy phải gánh trách nhiệm! “Tham sư phỏng hữu” nhằm thành tựu đạo nghiệp của chính ḿnh, phải phát tâm chí thành đến thỉnh giáo các vị thiện tri thức, nhằm mục đích thành tựu “thánh quả” của chính ḿnh. Đấy là “khất pháp tư tâm” tức là [thỉnh cầu giáo pháp] để nuôi dưỡng Pháp Thân huệ mạng của chính ḿnh.

 

      (Sao) Nhị, bố ma giả, nhược nhân phát tâm xuất gia, Ma Vương văn chi, sanh đại bố úy, dĩ ma nhạo sanh tử, xuất gia ly dục, xu hướng Vô Sanh, ma thất đảng dữ, sanh bố úy cố.

  () 二、怖魔者,若人發心出家,魔王聞之,生大怖畏,以魔樂生死,出家離欲,趨向無生,魔失黨與,生怖畏故。

      (Sao: Hai là khiến ma sợ hăi. Nếu có người phát tâm xuất gia, Ma Vương nghe thấy sẽ sanh ḷng sợ hăi to lớn v́ ma ưa sanh tử, kẻ xuất gia ĺa dục, tiến hướng Vô Sanh sẽ khiến cho bè đảng của ma bị giảm thiểu, nên hắn sanh ḷng sợ hăi).

 

      Điều này tôi vừa mới nói qua.

 

      (Sao) Tam, phá ác giả, năng phá phiền năo cửu thập bát Sử, tất giai đoạn tuyệt cố.

      () 三、破惡者,能破煩惱九十八使,悉皆斷絕故。

      (Sao: Ba là phá ác, do có thể phá phiền năo chín mươi tám Sử, thảy đều đoạn tuyệt).

     

“Chín mươi tám Sử” là Kiến Tư phiền năo, Kiến Hoặc có tám mươi tám Sử, và Tư Hoặc gồm mười Sử.

 

      (Sao) Hoặc gia tịnh giới, tịnh mạng, tắc thành ngũ nghĩa. Kim tam nghĩa giả, dĩ khất thực nhiếp tịnh mạng, dĩ phá ác nhiếp tịnh giới cố.

  () 或加淨戒、淨命,則成五義。今三義者,以乞食攝淨命,以破惡攝淨戒故。

      (Sao: Hoặc có người thêm vào hai nghĩa tịnh giới và tịnh mạng thành năm nghĩa [của chữ tỳ-kheo], nay nói ba nghĩa, v́ khất thực bao gồm tịnh mạng, phá ác bao gồm tịnh giới).

 

      Thêm tịnh giới và tịnh mạng vào khất thực, bố ma, phá ác, nên tỳ-kheo có năm ư nghĩa ấy, nhưng đại đa số đều giảng theo cách nêu ra ba ư nghĩa. Trong khất thực đă bao gồm tịnh mạng, trong phá ác bao gồm tịnh giới. Nói thật ra, ba ư nghĩa đă bao gồm năm ư nghĩa ở trong ấy.

 

      (Sao) Chúng ḥa hợp giả, tứ nhân dĩ thượng, đa chí vô lượng, tất giai đồng nhất Yết Ma, bất tương vi tránh, như thủy nhũ hợp, danh Ḥa Hợp Chúng.

      () 眾和合者,四人以上,多至無量,悉皆同一羯磨,不相違諍,如水乳合,名和合眾。

      (Sao: “Chúng ḥa hợp” là từ bốn người trở lên, [có thể] nhiều đến vô lượng, thảy đều cùng Yết Ma, chẳng tranh chấp với nhau, như sữa ḥa lẫn vào nước, gọi là Ḥa Hợp Chúng).

 

      Trong phần trước đă nói tới “Lư Sự thất ḥa” (bảy điều ḥa hợp về Lư và Sự), đấy là điều kiện cơ bản; ngoài ra c̣n có một thứ nữa là Yết Ma. Yết Ma (Karma) là tiếng Ấn Độ, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Tác Pháp. Nay chúng ta vẫn không hiểu, tôi nói bằng danh từ hiện đại quư vị sẽ hiểu, đó là hội nghị để ban hành nghị quyết. Bởi lẽ, Phật giáo là dân chủ; trong Tăng đoàn hễ có chuyện lớn hay nhỏ đều phải họp lại, thiểu số phục tùng đa số. Cùng Yết Ma với nhau, nhất định phải tuân thủ nghị quyết của hội nghị, chẳng tranh căi với nhau, đó là Ḥa Hợp Chúng.

 

      (Sao) Tam Ca Diếp giả.

  () 三迦葉者。

      (Sao: Ba vị Ca Diếp).

 

       Tôn giả Ca Diếp có ba vị, Ca Diếp (Kāśyapa) là họ, có ba vị cùng mang họ Ca Diếp, vị thứ nhất là:

 

      (Sao) Nhất, Ưu Lâu Tần Loa, ư hỏa long quật, hữu ngũ bách đệ tử.

      () 一、優樓頻螺,於火龍窟,有五百弟子。

(Sao: Thứ nhất là Ưu Lâu Tần Loa, ở hang rồng lửa, có năm trăm đệ tử).

 

      Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvilvā Kāśyapa) vốn là ngoại đạo, học ngoại đạo tại hang rồng lửa, rồng ấy là độc long, Ngài tu đạo nơi ấy, có năm trăm đồ đệ, rất nổi danh trong các ngoại đạo. Vị thứ hai là:

 

      (Sao) Nhị, Già Da, ư Tượng Đầu sơn, hữu tam bách đệ tử.

       () 二、伽耶,於象頭山,有三百弟子。

      (Sao: Thứ hai là Già Da, ở núi Đầu Voi, có ba trăm đệ tử).

 

      Già Da Ca Diếp (Gayā Kāśyapa) hướng dẫn một nhóm người tu hành tại núi Tượng Đầu (Gayāśiras), có ba trăm đệ tử. Vị thứ ba là:

 

      (Sao) Tam, Na Đề, ư Hy Liên hà, hữu nhị bách đệ tử. Hậu giai quy Phật, cố hữu thiên chúng.     

      () 三、那提,於希連河,有二百弟子。後皆歸佛,故有千眾。

      (Sao: Ba là Na Đề, ở sông Hy Liên, có hai trăm đệ tử. Về sau, đều quy y Phật, nên có một ngàn vị).

 

      Na Đề Ca Diếp (Nadī-Kāśyapa) ở sông Hy Liên (Nairañjanādi), có hai trăm đệ tử. Sau này, ba vị này đều bị Thích Ca Mâu Ni Phật hàng phục. Thích Ca Mâu Ni Phật t́m đến họ biện luận, họ đều biện luận thua Ngài. Sau khi biện luận thua cuộc bèn xuất gia theo Thích Ca Mâu Ni Phật. Họ đă theo Thích Ca Mâu Ni Phật xuất gia, các đồ đệ cũng theo một đường lối, thầy đă làm học tṛ Thích Ca Mâu Ni Phật, mọi người chúng ta cũng đều chẳng muốn giải tán, tâm tu đạo rất thiết tha, cho nên đều theo Thích Ca Mâu Ni Phật. Trước hết, ba người họ là thầy, về sau đều biến thành bạn học, đều là học tṛ của Thích Ca Mâu Ni Phật. Thầy tṛ ba vị ấy tổng cộng là một ngàn người.

 

      (Sao) Mục Liên, Xá Lợi giả, nhị nhân cộng hữu nhị bách ngũ thập đệ tử, diệc lai quy Phật. Thành thiên nhị bách ngũ thập nhân dă.

       () 目連舍利者,二人共有二百五十弟子,亦來歸佛。成千二百五十人也。

      (Sao: Hai vị Mục Liên và Xá Lợi có tất cả hai trăm năm mươi đệ tử, cũng quy y Phật, [tổng cộng] thành một ngàn hai trăm năm mươi người).

 

      Mục Liên và Xá Lợi Phất là đầu lănh ngoại đạo, vốn cũng tu ngoại đạo. Mỗi người đều có một trăm đồ đệ, thầy tṛ sau này cũng đều quy y Thích Ca Mâu Ni Phật, nên lại ghép thành một ngàn hai trăm năm mươi người.

 

      (Sao) Nhất thuyết độ Da Xá đẳng ngũ thập nhân, cập Trần Như đẳng ngũ nhân, cộng thành thử số.

      () 一說度耶舍等五十人,及陳如等五人,共成此數。

      (Sao: Một thuyết nói Phật độ nhóm ông Da Xá năm mươi người và nhóm Kiều Trần Như năm người, cộng thành con số ấy).

 

      Da Xá đồng tử (Yaśas) có năm mươi người. Trước hết, Phật độ nhóm Kiều Trần Như (Ajñāta Kaundinya) năm người tại Lộc Dă Uyển, tổng cộng là một ngàn hai trăm năm mươi lăm người. Tăng đoàn của đức Phật có nhiều người như thế. Đây là nói rơ nguồn gốc số người trong Tăng đoàn.

 

      (Sớ) Độc cử thiên nhị bách ngũ thập nhân giả, dĩ thường tùy cố.

      () 獨舉千二百五十人者,以常隨故。

      (Sớ: Riêng nêu ra một ngàn hai trăm năm mươi người v́ họ là thường tùy).

 

      Thật ra, đức Phật bất luận giảng kinh ở nơi nào, thính chúng không chỉ có ngần ấy người, số người [nghe giảng] luôn vô cùng nhiều, tại gia lẫn xuất gia đều rất nhiều; nhưng không cần nói tới những người khác, v́ một ngàn hai trăm năm mươi lăm vị này, bất luận là hội nào do đức Phật giảng kinh, họ đều luôn hiện diện, thường tùy đệ tử mà! Đức Phật đến nơi đâu, họ cũng theo đến đó, suốt đời chẳng tách rời, măi cho đến khi đức Phật viên tịch, những vị ấy chẳng giải tán. Về sau, kết tập kinh điển, hễ nói đến Chúng Thành Tựu, thảy đều lấy các Ngài làm đại biểu. Ngày hôm nay, chúng tôi giảng tới đây!

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 54 hết

 



[1] Theo nghĩa gốc, “Tích” () là tiếng để gọi chư hầu (theo từ điển Khang Hy, khi dùng theo nghĩa này, phải đọc là Tích). Sách Nhĩ Nhă Thích Huấn giảng: “Thiên tử dữ chư hầu thông xưng Tích dă” (thiên tử và các chư hầu đều gọi chung là Tích). Về sau, “Tích” được hiểu theo nghĩa rộng là các quan.

[2] “Ngũ châu nhân quả” do Thanh Lương đại sư phán định các phẩm trong kinh Hoa Nghiêm, tức là:

1. Sở tín nhân quả: từ phẩm một đến phẩm thứ sáu.

2. Sai biệt nhân quả: gồm hai mươi chín phẩm kế tiếp.

3. B́nh đẳng nhân quả: gồm hai phẩm kế đó.

4. Hạnh thành nhân quả: gồm một phẩm, tức phẩm Ly Thế Gian.

5. Chứng nhập nhân quả: tức phẩm Nhập Pháp Giới.

[3] Bát Tự c̣n gọi là Tứ Trụ hoặc Tử B́nh, là một cách đoán vận mạng dựa trên Thiên Can và Địa Chi của năm, tháng, ngày, giờ sanh, đem phối hợp Ngũ Hành Âm Dương tương sanh, tương khắc để luận đoán. Quan niệm này đă có từ rất lâu đời, được bổ sung và hệ thống hóa bởi Lư Hư Trung vào đời Đường và Từ Tử B́nh vào đời Ngũ Đại. Người có công hệ thống hóa cũng như bổ sung lư luận thấu đáo nhất là Từ Tử B́nh nên môn này được gọi là Tử B́nh Bát Tự từ đó.

[4] Thành Xá Vệ (kinh điển Nam Truyền thường ghi theo âm Pali là Sāvatthī). Thành này nằm trên bờ sông Aciravati (nay là sông Rapti), là thủ đô của đại quốc Kiều Tát La (Kosala). Thuở đức Phật, thành này có đến hơn năm mươi ngàn gia đ́nh sinh sống, tức là đông dân bậc nhất bậc nh́ Ấn Độ thời ấy. Đây cũng là nơi đức Phật an cư kiết hạ đến hai mươi lăm lần. Những vị hộ pháp nổi tiếng thời ấy như vua Ba Tư Nặc, ông Cấp Cô Độc, bà Tỳ Xá Khư (Visakha), và hoàng hậu Suppavasa đều ở thành này.

[5] “Khổng ân châu cấp”: Theo sách A Di Đà Kinh Sớ Sao Sự Nghĩa, câu này dựa theo lời Khổng Tử đă nói trong Luận Ngữ: “Quân tử châu cấp bất kế phú”. Để hiểu câu này, lại phải đọc cả đoạn dài trong thiên Ung Dă sách Luận Ngữ: “Tử Hoa sứ ư Tề, Nhiễm Tử vị kỳ mẫu thỉnh túc. Tử viết: “Dữ chi phủ”, thỉnh ích, viết: “Dữ chi dữu”. Nhiễm Tử dữ chi túc ngũ thặng, Tử viết: “Xích chi quát Tề dă, thừa ph́ mă, y khinh cừu, ngô văn chi dă, quân tử châu cấp bất kế phú”. Đoạn này được cụ Lư Bỉnh Nam giảng như sau: “Tử Hoa là tên tự của Công Tây Xích, đệ tử của Khổng Tử. Nhiễm Tử là Nhiễm Hữu, cũng là môn đệ của Khổng Tử. Tử Hoa đi sứ nước Tề, Nhiễm Tử bèn xin Khổng Tử giúp cho mẹ Tử Hoa một ít hạt kê để ăn. Khổng Tử bảo hăy cho bà ta sáu hộc bốn thăng. Nhiễm Tử cho là ít, xin thêm, Khổng Tử bảo: ‘Cho bà ta thêm mười sáu đấu’. Nhiễm Tử vẫn cho là ít bèn tự cho thêm năm thặng (một thặng là mười sáu hộc). Khổng Tử bèn quở: ‘Công Tây Xích đi nước Tề, ngồi xe do ngựa béo kéo, mặc áo cừu mềm mại, sang trọng, ta từng nghe nói quân tử chẳng giúp cho kẻ giàu được giàu thêm”. “Kỳ chánh tiên quỳnh”: Trong A Di Đà Kinh Sớ Sao Sự Nghĩa, tổ Liên Tŕ giảng: “Mạnh Tử học theo cách cai trị đất Kỳ Châu của Văn Vương, nói: “Già mà không có vợ th́ gọi là Quan, già mà không có chồng gọi là Quả, già mà không con gọi là Độc, trẻ mà không cha gọi là Cô. Bốn loại người ấy là dân nghèo trong thiên hạ, không ai nương tựa. Văn Vương cai trị, thi thố ḷng nhân, ắt sẽ giúp đỡ những người ấy trước. Kinh Thi có câu: ‘Cả hỹ phú nhân, ai thử quỳnh độc’ (kẻ giàu sướng thay, xót thay kẻ cô quạnh)”. Quỳnh () là không có anh em. Do vậy, “Kỳ chánh tiên quỳnh” có nghĩa là những người cầm quyền nhân từ luôn chăm lo, cứu giúp những kẻ nghèo cùng, cô độc trước. Cả hai câu đều hàm nghĩa người trí huệ khi cứu tế sẽ cứu vớt những người cần được cứu giúp trước, luôn thực hành hạnh bố thí bằng trí huệ.

[6] Trong phẩm ấy có chép rơ: “Nhược hữu nữ nhân, văn thị kinh điển như thuyết tu hành, ư thử mạng chung, tức văng An Lạc thế giới A Di Đà Phật đại Bồ Tát chúng vi nhiễu trụ xứ, sanh liên hoa trung bảo tọa chi thượng, bất phục vị tham dục sở năo, diệc phục bất vị sân khuể, ngu si sở năo, diệc phục bất vị kiêu mạn tật đố chư cấu sở năo, đắc Bồ Tát thần thông vô sanh pháp nhẫn” (Nếu có nữ nhân, nghe kinh điển này, tu hành đúng như lời dạy, khi mạng chung liền được văng sanh thế giới An Lạc, là nơi A Di Đà Phật ngự giữa đại chúng vây quanh, sanh trên ṭa báu giữa hoa sen, chẳng bị tham dục gây năo, mà cũng chẳng bị sân khuể, ngu si bức năo, cũng chẳng kiêu mạn, ganh ghét năo hại, đắc thần thông Vô Sanh Pháp Nhẫn của Bồ Tát).

[7] Do Thiên Hậu Nguyên Quân của Đạo giáo c̣n được người Hoa gọi là Ma Tổ (媽祖) nên rất nhiều người lầm lẫn Mă Tổ (馬祖) của Thiền Tông chính là Ma Tổ; v́ thế phải nói rơ “Mă Tổ trong Phật môn”.