A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 54
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt:
Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong
Tập 107
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang hai trăm mười:
(Sớ) Phật
giả, Chủ Thành Tựu dă. Phật nghĩa giải kiến
tiền văn, dĩ thị nhất kỳ chúng sanh sở
cộng tông cố, danh chi viết Chủ. Hựu lục chủng
thành tựu trung, tối vi Chủ cố.
(疏) 佛者,主成就也。佛義解見前文,以是一期眾生所共宗故,名之曰主。又六種成就中,最為主故。
(Sớ: Phật là Chủ Thành
Tựu. Xem lời giải thích ư nghĩa chữ Phật
trong phần trước. Do được chúng sanh cùng tôn
sùng trong một thời kỳ, nên gọi là Chủ. Lại
nữa, trong sáu thứ thành tựu, Chủ là trọng yếu
nhất).
Đây là
giải thích chữ Phật trong phần kinh văn “như thị ngă văn, nhất
thời Phật”. Trong Lục Chủng Thành Tựu, chữ
Phật thuộc Chủ Thành Tựu. “Như thị” là Tín Thành Tựu, “ngă văn” là Văn Thành Tựu, “nhất thời” là Thời Thành Tựu, “Phật” là Chủ Thành Tựu.
Nói theo cách bây giờ, chữ “Chủ”
này là chủ tịch trong đại hội, hoặc là vị
chủ giảng trong giảng ṭa này, Thích Ca Mâu Ni Phật là
chủ giảng. V́ sao gọi Ngài là Chủ Thành Tựu? Tiếp
đó là hai câu giải thích, “thị
nhất kỳ chúng sanh”, trong một thời kỳ. Nếu
nói theo thuở ấy, đức Phật thuyết pháp bốn
mươi chín năm, bốn mươi chín năm ấy là
một thời kỳ trụ thế giáo học của
Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong thời kỳ ấy, mọi
người đều coi đức Thế Tôn là thầy,
đều coi Ngài là vị chủ giảng, tức là vị
“thuyết pháp chủ”; do vậy,
gọi Ngài là Chủ Thành Tựu. Nếu nói theo toàn thể
pháp vận của đức Phật, pháp vận của
Thích Ca Mâu Ni Phật là một vạn hai ngàn năm. Một
vạn hai ngàn năm chia thành ba thời kỳ: Chánh Pháp,
Tượng Pháp, và Mạt Pháp; Chánh Pháp một ngàn năm,
Tượng Pháp một ngàn năm, Mạt Pháp một vạn
năm. Một vạn hai ngàn năm ấy là pháp vận của
Thích Ca Mâu Ni Phật, mà cũng là thời kỳ giáo hóa lâu
dài của Ngài.
Trong một
vạn hai ngàn năm ấy, tuy hiện thời Thích Ca Mâu Ni
Phật chẳng tại thế, chúng ta đọc kinh
điển, đọc ngữ lục của Ngài, vẫn
giống như tiếp nhận sự giáo huấn của đức
Phật. Ư nghĩa chữ Chủ cũng có thể hiểu
là kéo dài đến tận thời kỳ Mạt Pháp. V́ vậy,
trong sáu thứ thành tựu, Chủ Thành Tựu là điều
trọng yếu nhất. Nếu chẳng có Phật, năm
thứ khác đều chẳng thể nói là thành tựu
được! Do có Phật, mới có năm thứ thành tựu
trước đó. Trong lời Sao có giải thích.
(Sao)
Cộng tông giả.
(鈔) 共宗者。
(Sao:
“Cùng tôn sùng”).
“Cộng” là cùng chung.
(Sao)
Phật xuất thế vi nhất kỳ, nhất kỳ chi
trung.
(鈔) 佛出世為一期,一期之中。
(Sao: Phật xuất thế là
“một kỳ”, trong một kỳ).
Nói theo
nghĩa hẹp, đức Phật giảng kinh thuyết
pháp bốn mươi chín năm; nói theo nghĩa rộng, toàn
thể pháp vận của đức Phật là một vạn
hai ngàn năm.
(Sao)
Lục phàm, tam thánh.
(鈔) 六凡三聖。
(Sao:
Lục phàm, tam thánh).
“Lục phàm” là lục đạo
phàm phu, “tam thánh” là Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chúng ta gọi họ là “tam thừa nhân”.
(Sao)
Nhất thiết chúng sanh, đồng sở tông chủ.
(鈔) 一切眾生,同所宗主。
(Sao: Hết thảy chúng sanh
đều cùng tôn sùng vị Chủ).
Hữu
t́nh chúng sanh trong chín pháp giới đều tôn Phật làm thầy,
đều nghe theo giáo huấn của đức Phật.
(Sao)
Như vạn tánh bách tích, quy nhất nhân cố.
(鈔) 如萬姓百辟,歸一人故。
(Sao: Như vạn họ,
trăm quan[1] đều
thuộc về một người).
Trước
kia, hoàng đế là chủ một nước. Dân chúng và
chư hầu đều phải nghe lệnh thiên tử.
Đây là dùng thiên tử để sánh ví đức Phật.
(Sao)
Lục thành tựu trung Chủ giả, vọng tiền, tắc
tế Chủ chi hội thành Thời, linh Chủ chi ngữ
thành Văn, thọ Chủ chi giáo thành Tín. Vọng hậu, tắc
Chủ chi sở cư thành Xứ, Chủ chi sở hóa thành
Chúng, thị lục chủng cộng thành, nhi quy trọng
ư Phật, diệc ngôn Phật tiện châu ư dă.
(鈔) 六成就中主者,望前,則際主之會成時,聆主之語成聞,受主之教成信。望後,則主之所居成處,主之所化成眾,是六種共成,而歸重於佛,亦言佛便周意也。
(Sao: Đối với Chủ
trong sáu thứ thành tựu, nếu xét những điều trước
th́ lúc gặp gỡ Chủ sẽ thành Thời, nghe lời
Chủ nói sẽ thành Văn, nhận lănh lời dạy của
Chủ thành Tín. Nh́n vào những điều sau, nơi Chủ
ở là Xứ, kẻ được Chủ hóa độ
là Chúng, nên sáu thứ cùng được h́nh thành, nhưng
đều quy kết Phật là trọng yếu nhất, nên
hễ nói “Phật” th́ các ư nghĩa đều được
trọn vẹn).
“Tế Chủ chi hội thành Thời”:
“Tế hội” (際會) là lúc nhân
duyên tụ hội, cũng có thể nói là lúc cơ duyên chín
muồi. Nếu cơ duyên chưa chín muồi, Phật xuất
hiện trong thế gian này cũng vô ích. Trong thời đại
hiện tại, v́ sao Phật, Bồ Tát không đến? Chắc
cũng có kẻ nói, chúng sanh hiện thời quá khổ sở,
lẽ ra Phật, Bồ Tát phải nên đại từ
đại bi phổ độ chúng sanh, phải nên ngay lập
tức tới thế gian này th́ mới đúng. Thật ra, Phật,
Bồ Tát đúng là đại từ đại bi, hiện
thời các Ngài cũng tới, không chỉ tới, mà c̣n tới
rất nhiều, và cũng tới nhiều lần. Bất
quá, chẳng dùng thân phận Phật, Bồ Tát để
đến, v́ sao? Nếu dùng thân phận Phật, Bồ Tát
để đến, không chỉ chẳng thể độ
chúng sanh, mà c̣n đem đến tai nạn cho chúng sanh. Nói
như vậy nghĩa là sao? Hiện thời, chúng sanh tin tà,
chẳng tin chánh, nghe lừa gạt, chẳng nghe khuyên
răn. Quư vị khuyên họ, họ chẳng nghe; lừa họ,
họ nghe theo! Đó là do nghiệp chướng nặng nề!
Phật, Bồ Tát chẳng thể lừa người! Nếu
Phật, Bồ Tát lừa người, sẽ là phá giới,
c̣n gọi là Phật, Bồ Tát ǵ nữa! Phật, Bồ
Tát chẳng thể lừa người. Do vậy, Phật,
Bồ Tát đến giáo hóa chúng sanh trong hiện thời khó
khăn lắm, khá là khó khăn. Ngược lại, hiện
thời, trong thế gian này, yêu ma, quỷ
quái rất nhiều. Tôi nghe đồng tu kể: Pháp sư
Khai Tâm ở Đài
Dẫu Phật,
Bồ Tát đông đảo, cũng rải khắp trong các
ngành nghề, giống như phẩm Phổ Môn đă nói: “Nên
dùng thân ǵ để đắc độ, Ngài bèn hiện
thân ấy”; nhưng nếu cơ duyên chưa chín muồi, Phật
cũng chẳng thể độ kẻ ấy! Kẻ ấy
chẳng tin, chẳng tiếp nhận, không có cách nào hết!
Nếu tâm mọi người đều chánh, đều
muốn thoát khỏi sanh tử, đều muốn sớm
chứng Bồ Đề, nếu những người
như vậy đông đảo, Phật sẽ đến.
Trong Phật môn thường nói: “Phật
thị môn trung, bất xả nhất nhân” (trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai). Chỉ
cần có một người chánh tri chánh kiến, thật
sự mong liễu sanh tử, thoát tam giới, thành Phật
đạo, Phật cũng chẳng thể bỏ người
ấy. Nếu Phật bỏ người ấy, Phật sẽ
có lỗi đối với chúng sanh, một người
cũng chẳng thể bỏ! Một người th́ Ngài
có phương pháp độ một người, nhiều
người, bèn có phương pháp độ nhiều
người; phương pháp khác nhau! Trong hội này, cơ
duyên đắc độ của chúng sanh đă chín muồi;
do vậy, đức Phật thị hiện giáng sanh trong
nhân gian, trụ thế tám mươi năm, v́ chúng ta thuyết
pháp bốn mươi chín năm. Đấy là một kỳ
“gia hội” (嘉會: hội tốt lành), tức là pháp hội vô cùng thù thắng.
“Linh Chủ chi ngữ thành
Văn” (nghe lời dạy của vị Chủ thành
Văn Thành Tựu). Nếu chẳng do nghe Phật pháp mà
khai ngộ th́ chẳng thể gọi là Văn Thành Tựu.
Nghe Phật khai thị, hoảng nhiên đại ngộ th́
gọi là Văn Thành Tựu. “Thọ
Chủ chi giáo thành Tín” (tiếp nhận sự giáo hóa của
Chủ mà thành Tín Thành Tựu): Nghe lời Phật nói, thật
sự ngộ nhập; sau khi ngộ nhập, tín tâm kiên cố,
vĩnh viễn chẳng bị thoái chuyển, thật sự
tin tưởng. Trước kia, con người căn tánh
nhạy bén, nghe pháp dễ khai ngộ. Con người hiện
thời thành kiến rất sâu, vọng tưởng đặc
biệt nhiều, luôn luôn đều phải có chứng cứ,
không có chứng cứ sẽ chẳng tin tưởng.
Đương nhiên Phật thuyết pháp, họ cũng
đ̣i hỏi phải đưa ra chứng cứ; v́ thế,
[phải vận dụng] Tam Chuyển Pháp Luân. Tam Chuyển Pháp
Luân là ba nguyên tắc thuyết pháp của đức Phật.
Thứ nhất là Thị Chuyển, nói rơ sự thật, lư
luận, người lợi căn vừa nghe liền khai
ngộ. Người căn tánh độn vẫn chẳng
ngộ, Phật lại phải khuyên dạy, khích lệ,
đó là Khuyến Chuyển. Nếu người ấy giác
ngộ, bèn có thể tiếp nhận. C̣n có một hạng
người căn tánh rất độn, quư vị khuyên kẻ
ấy, kẻ ấy cũng chẳng tiếp nhận. Khích
lệ kẻ ấy, kẻ ấy cũng chẳng nghe lọt
tai. Đối với người như vậy, Phật chỉ
c̣n cách đưa chứng cứ cho kẻ ấy thấy,
đó là Chứng Chuyển. Kẻ ấy vừa nh́n thấy
chứng cứ, bèn tin tưởng, th́ vẫn c̣n cứu
được, vẫn có thể độ. Loại người
thứ tư, đưa ra chứng cứ, kẻ ấy vẫn
không tin, chẳng c̣n cách nào, đó là kẻ vô duyên với Phật,
Phật chẳng thể độ kẻ ấy. Ba loại
người trước đều có thể độ,
c̣n loại thứ tư, đối với người ấy,
Phật chẳng biết làm sao, độ không được!
Giống như những kẻ tin tà, chẳng tin chánh trong
hiện thời, sẽ chẳng có cách nào tiếp nhận Phật
pháp. Thật sự tin là Tín Thành Tựu. Ở đây nói là “thọ Chủ giáo” (tiếp
nhận lời dạy của vị Chủ); tức là nói
về Tam Chuyển Pháp Luân, Thị, Khuyến, Chứng
đều có thể tiếp nhận, bèn thành Tín Thành Tựu.
“Chủ chi sở cư thành Xứ”,
Xứ Thành Tựu. “Chủ chi
sở hóa thành Chúng”, “sở
hóa” là những người được Ngài giáo hóa, là
học tṛ của Ngài, tiếp nhận sự giáo hóa của
Ngài. Đó là Chúng Thành Tựu, kinh thường liệt kê
Thường Tùy Chúng gồm một ngàn hai trăm năm
mươi người. Do vậy, trong sáu thứ thành tựu,
Chủ Thành Tựu là điều trọng yếu nhất.
Không có Chủ Thành Tựu, năm thứ kia cũng chẳng
thể thành tựu. Kinh điển thường nói “ngôn Phật tiện châu”,
[nghĩa là] nói một chữ Phật, hết thảy các ư
nghĩa đều được bao gồm viên măn, chẳng
sai sót một điều nào!
(Sớ)
Tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc
viên giả, Xứ Thành Tựu dă.
(疏) 在舍衛國,祇樹給孤獨園者,處成就也。
(Sớ: “Tại nước Xá
Vệ, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc viên” là Xứ
Thành Tựu).
“Xá Vệ quốc, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc
viên” là nơi Ngài trụ. Chúng ta thấy kinh nói “Phật tại”, chẳng nói Phật
trụ ở nơi nào. “Tại”
và “trụ” khác nhau. “Trụ” là ở nơi đó,
bất động; “tại”
là hiện diện khắp nơi ấy, ngày mai có trụ ở
đó hay không, chẳng nhất định. Trước
kia, hoàng đế ở nơi nào chẳng thể nói là vua “trụ” nơi đó, mà gọi
là “tại”. “Hành tại” là
nói nhà vua đang ở nơi nào đó. V́ sao chẳng nói là “trụ”? V́ xưa kia, hoàng
đế “quư vi thiên tử, phú
hữu tứ hải” (quư hiển như thiên tử, giàu
khắp bốn biển). Cả nước đă là nhà của
vua th́ quư vị nghĩ xem vua phải trụ nơi đâu?
Nước đă là nhà, là trụ xứ của vua! Do vậy,
chỉ đành nói là vua ở tại nơi đâu. Ví
như, nhà quư vị rất lớn, lúc quư vị ở nhà, hỏi
quư vị đang ở chỗ nào? Ở pḥng khách hay đang
ở trong pḥng? Chẳng thể nói quư vị trụ tại
pḥng khách, trụ trong pḥng riêng, hoặc trụ trong bếp,
chẳng thể nói kiểu đó! Khu vực giáo hóa của Phật
so với lănh thổ của một quốc vương c̣n
lớn hơn rất nhiều, khu vực giáo hóa của Phật
là tam thiên đại thiên thế giới. Địa cầu
của chúng ta là một tinh cầu trong tam thiên đại
thiên thế giới mà thôi. Tam thiên đại thiên thế giới
là khu vực giáo hóa của một đức Phật; nếu
nói Thích Ca Mâu Ni Phật trụ ở đâu, chúng ta chỉ
có thể nói Ngài trụ trong thế giới Sa Bà. Hiện thời,
Ngài ở nơi đâu? Do vậy, nói là Tại, chẳng thể
nói là Trụ.
(Sớ)
Tại giả, Thiên Thai vị tại tức trụ ư. Biệt
chi hữu tứ, viết thiên trụ, phạm trụ, thánh
trụ, Phật trụ. Tùy nghi Phật trụ, năi chí thiên
trụ, thật tắc Phật thân vô tại, vô bất tại.
(疏) 在者,天台謂在即住意。別之有四:曰天住,梵住,聖住,佛住。隨宜佛住,乃至天住,實則佛身無在無不在。
(Sớ: “Tại”: Tông Thiên Thai
nói “tại” có nghĩa là “trụ”. Nói tách biệt th́ có bốn
loại là thiên trụ, phạm trụ, thánh trụ, và Phật
trụ. Tùy thời tiết, căn cơ thích hợp mà có Phật
trụ cho đến thiên trụ, nhưng thật ra, thân Phật
không ở nơi nào nhất định, mà cũng không
nơi nào chẳng hiện diện).
Bồ
Tát đều là tùy loại hóa thân, nên dùng thân ǵ để đắc
độ bèn hiện thân ấy, huống chi là Phật? “Phật thân vô tại, vô bất
tại”, nơi nào có duyên, Phật sẽ hiện diện
nơi đó. Không có duyên, Phật sẽ chẳng hiện diện.
Đúng như kinh Lăng Nghiêm đă dạy: “Tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri
lượng” (thuận theo tâm chúng sanh, ứng với khả
năng tiếp nhận của họ). Chúng sanh có cảm, Phật
bèn có ứng, cảm ứng đạo giao. Lũ chúng sanh
chúng ta có cảm là có tâm, Quán Kinh dạy chúng ta tưởng,
c̣n kinh này dạy chúng ta niệm, ức Phật, niệm Phật,
chúng ta có tâm, nhưng Phật ứng là vô tâm. Vô tâm th́ làm sao
có thể ứng? Nói thật ra, chính v́ vô tâm nên mới có thể
ứng, hữu tâm sẽ chẳng thể ứng. Quư vị
thấy cái khánh này chẳng có tâm, bên trong trống rỗng.
Quư vị gơ nó, đó là cảm, quư vị vừa gơ, nó liền
ngân lên, ngân lên là ứng. Chính v́ nó vô tâm, cho nên “đại khấu tắc đại
minh, tiểu khấu tắc tiểu minh” (gơ mạnh sẽ
kêu to, gơ nhẹ sẽ kêu nhỏ). Nếu nó có tâm, quư vị
gơ, chắc là nó chẳng kêu, chẳng đáp ứng. V́ Phật
là vô tâm, nơi nào có cảm, bèn ứng nơi đó. Phật
có đến đi hay không? Chẳng đến đi!
Đúng như kinh đă dạy: “Đương
xứ xuất sanh, đương xứ diệt tận”
(sanh ra từ đâu sẽ diệt mất ở ngay nơi
đó), chẳng có đến đi. Thật ra, đối
với nguyên lư này, Phật là như thế, mà mỗi cá nhân
chúng ta cũng đều là như vậy. Rất đáng tiếc,
chính chúng ta chẳng biết chân tướng sự thật
này; chúng ta mê, cho là có sanh, lăo, bệnh, tử, có đến,
có đi, thảy đều là quan niệm sai lầm, thấy
chân tướng sự thật sai lạc. Nếu quư vị
thật sự giác ngộ, thấy chân tướng sự
thật, th́ phàm phu chúng ta và Phật chẳng hai! Nếu nói
khác nhau th́ chỉ là mê hay ngộ, trừ mê hay ngộ ra, quả
thật chẳng có ǵ khác nhau!
Đoạn
này giảng về Xứ Sở Thành Tựu. Tông Thiên Thai bảo
“tại” cũng có nghĩa
là “trụ”. “Biệt chi hữu tứ” (nói tách biệt th́ có bốn
loại), Biệt là nói theo Phật pháp, căn cứ trên những
điều được giảng trong kinh điển, kinh
quá nửa nói là “Phật trụ”,
tông Thiên Thai chia thành bốn loại. V́ sao tông Thiên Thai phải
nói như vậy? Đương nhiên là có đạo lư, họ
muốn “hiển thị tâm pháp
có thể trụ”, v́ người ta hễ nói đến
“trụ” thường nghĩ đến thân, chúng ta nói: “Quư
vị trụ ở đâu?” đều hàm ư thân quư vị
đang trụ ở đâu, chẳng nói tâm quư vị trụ
nơi đâu! Nhưng trong Phật pháp, nói thật ra, rất
coi trọng tâm. Quư vị thấy Nhị Tổ Huệ Khả
của Thiền Tông thỉnh giáo Đạt Ma Tổ Sư,
nói thật ra là do Ngài chẳng hiểu phải an trụ tâm
ở nơi đâu, phải an trụ cái tâm ở chỗ
nào cho thỏa đáng. V́ chuyện ấy mà chặt tay cầu
pháp. Trong kinh Kim Cang, cả một bộ kinh Kim Cang chỉ
nhằm giảng hai vấn đề. Ngài Tu Bồ Đề
thỉnh giáo Thích Ca Mâu Ni Phật hai vấn đề, thứ
nhất là “vân hà hàng phục kỳ
tâm?” (làm thế nào để hàng phục cái tâm). Vấn
đề thứ hai là “ưng
vân hà trụ?” (nên trụ như thế nào). Hàng phục
cái tâm là do tâm chúng ta có quá nhiều tạp niệm, quá nhiều
phiền năo, cần phải dùng phương pháp nào th́ mới
có thể chế phục? Đấy là một vấn đề.
Thứ hai là tâm an trụ ở chỗ nào? Do vậy, tông
Thiên Thai nói bốn loại [trụ] v́ chú trọng cái tâm,
điều này rất khẩn yếu, ư nghĩa rất sâu.
Trong tâm
quư vị thường xuyên suy tưởng, vướng mắc,
đấy chính là tâm quư vị trụ vào đó, trong ấy
sẽ chia ra thành mười pháp giới. Nếu tâm quư vị
thường nghĩ đến tham lam, keo kiệt, quư vị
sẽ trụ trong ngạ quỷ đạo. Hiện thời,
thân vẫn chưa ở trong ngạ quỷ đạo,
nhưng tâm đă an trụ trong ngạ quỷ đạo! Nếu
thường ôm ḷng sân khuể, ganh ghét, đó là địa
ngục đạo, tâm ở trong địa ngục đạo.
Nếu muốn làm một thiện nhân, nhưng chuyện ǵ
cũng chẳng nghe, chẳng hỏi tới, hồ đồ,
chuyện ǵ cũng chẳng biết, tâm ấy sẽ trụ
trong súc sanh đạo, súc sanh đạo ngu si! Trong tâm
thường có tham, sân, si, những thứ ấy là tam ác
đạo. Tuy thân chưa đến đó, tâm đă an trụ
nơi đó, rất phiền phức!
Do điều
này biết rằng: Trong tâm thường nghĩ tới
Ngũ Giới, Ngũ Thường, Nho gia nói Nhân, Nghĩa, Lễ,
Trí, Tín, Tứ Duy, Bát Đức; đấy là nhân đạo.
Nếu trụ trong Thập Thiện, Tứ Vô Lượng
Tâm (từ, bi, hỷ, xả), đó là thiên đạo, thiên
trụ. Nếu thường nghĩ tới Tứ Đế,
Ba Mươi Bảy Phẩm [trợ đạo], đó là A
La Hán, tâm trụ trong Thanh Văn đạo. Thường
nghĩ tới Mười Hai Nhân Duyên, đấy là Duyên
Giác đạo. Thường nghĩ tới Lục Độ,
vạn hạnh, là Bồ Tát đạo. Nếu thường
nghĩ tới thanh tịnh, b́nh đẳng, đấy là Phật
đạo, Phật tâm thanh tịnh, b́nh đẳng. Nay kinh
này khuyên chúng ta niệm A Di Đà Phật, niệm A Di Đà
Phật trụ ở chỗ nào? Trụ trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới. V́ thế, dụng
ư của Ngài ở chỗ này!
(Sao)
Tại tức trụ trước, Đại Phẩm luận:
Minh Phật tại mỗ sở, dĩ nhi ngôn tạm tại
cửu trụ, tổng thành tại ư.
(鈔) 在即住著,大品論:明佛在某所,已而言暫在久住,總成在意。
(Sao: “Tại” là ở lại. Kinh
Đại Phẩm [Bát Nhă] luận định: “Nói rơ Phật
ở chỗ nào, nói “tại” mang ư nghĩa tạm thời,
nói “trụ” mang ư nghĩa lâu dài, nhưng đều là ư
nghĩa của chữ “tại”).
“Tại” là tạm thời, “trụ” là lâu dài. “Trụ” ở chỗ nào, tức
là ở lâu dài nơi ấy; có một chút khác biệt
như vậy.
(Sao)
Kim vị vô luận cửu tạm, đản tựu
đương thời thuyết kinh chi xứ, tức danh
vi tại, như thiên tử sở chí, tức danh “hành tại”
dă.
(鈔) 今謂無論久暫,但就當時說經之處,即名為在;如天子所至,即名行在也。
(Sao: Nay bất luận là lâu
dài hay tạm thời, hễ trong lúc ở chỗ nào thuyết
kinh bèn nói là “tại” [nơi đó], như thiên tử đi
tới đâu th́ nơi đó gọi là “hành tại”).
Hiện
thời, bất luận thời gian Ngài ở nơi nào lâu
dài hay tạm thời, dài hay ngắn, chúng ta chỉ nói bộ
kinh này được giảng ở nơi nào đó.
(Sao)
Tứ trụ giả, Phật nhiếp chúng sanh, tùy nghi nhi
trụ. Hoặc hiện thiên trụ, vị Lục Dục
thiên nhân, tức dĩ Thí, Giới thiện tâm trụ.
(鈔) 四住者,佛攝眾生,隨宜而住。或現天住,謂六欲天因,即以施戒善心住。
(Sao: “Bốn loại trụ”:
Đức Phật nhiếp thọ chúng sanh, thuận theo
cơ nghi để trụ, hoặc hiện thiên trụ,
nghĩa là do cái nhân sanh vào cơi trời Lục Dục bèn trụ
trong thiện tâm Thí Giới).
Những
điều tiếp theo đây, đều là nói theo
phương diện nhân quả. V́ Phật giáo hóa chúng sanh,
trong sự giáo hóa chúng sanh ấy, lấy nhân quả làm mệnh
đề (proposition) chủ yếu để thảo luận.
Chúng sanh chúng ta mong cầu quả báo, nhất định phải
biết quả báo được h́nh thành như thế
nào. Nói cách khác, nhất định phải biết nhân duyên
của nó. Nhân duyên trọn đủ, quả báo đương
nhiên sẽ hiện tiền; bởi lẽ, từ đầu
đến cuối, Phật pháp chẳng ĺa nhân quả. Hiện
tại có những kẻ chẳng tin nhân quả, đấy
là ngu si! Nhân quả bày ra ngay trước mắt, nhưng kẻ
ấy vẫn ương ngạnh nói chẳng tin, c̣n có cách
nào nữa đây? Ví như nếu kẻ ấy muốn khỏi
đói bụng, ăn cơm là nhân, ăn no sẽ khỏi
đói bụng đấy là quả. Đó là nhân và quả rất
đơn giản! “Trồng
dưa được dưa, trồng đậu được
đậu”, hạt dưa là nhân, sanh ra quả dưa là
quả. Bất luận chuyện ǵ trên thế gian cũng
chẳng thể vượt khỏi nhân và quả, lẽ
nào chẳng tin? V́ thế, trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật
đă nói “ngũ châu nhân quả”
(năm tầng lớp nhân quả)[2], trong kinh Pháp Hoa, nói “Nhất Thừa nhân quả”.
Ở đây,
chia thành bốn đoạn, cũng là giảng về bốn
thứ nhân quả khác nhau. “Hoặc
hiện thiên trụ”, [nghĩa là] đối với những
chúng sanh cầu sanh lên cơi trời, họ biết cơi trời
tốt đẹp, mong mỏi đời sau được
sanh lên thiên đường. Quư vị nói thoát tam giới, liễu
sanh tử, họ chẳng có hứng thú, nghe không lọt
tai, mục đích của họ chỉ là mong sanh về thiên
đường. Đức Phật nói: “Không sao! Quư vị mong
đến thiên đường, ta sẽ dạy quư vị
phương pháp đến thiên đường”, sẽ dạy
họ an trụ cái tâm nơi Thập Thiện, Tứ Vô Lượng
Tâm, trong tương lai, nhất định có thể sanh
thiên, dạy họ tu Thập Thiện Nghiệp Đạo.
“Thí Giới thiện tâm” là bố
thí, tŕ giới, tu Thập Thiện, “thiện tâm” là Thập Thiện Nghiệp Đạo.
Quư vị y theo những điều ấy để tu học,
tương lai nhất định sanh thiên, tâm quư vị an
trụ ở chỗ ấy!
(Sao)
Hoặc hiện Phạm trụ, vị Sơ Thiền chí
Phi Tưởng nhân, tức dĩ Tứ Vô Lượng Tâm
trụ.
(鈔) 或現梵住,謂初禪至非想因,即以四無量心住。
(Sao: Hoặc hiện Phạm
Trụ, nghĩa là do cái nhân sanh từ Sơ Thiền cho
đến cơi trời Phi Tưởng mà trụ trong Tứ
Vô Lượng Tâm).
“Phạm” là Sắc Giới
thiên, Vô Sắc Giới thiên, Tứ Thiền, Bát Định,
Phật dạy quư vị phương pháp ấy. Hiện thời,
có không ít người thích tham Thiền, thích sanh về Phạm
Thiên. “Phạm” có nghĩa là thanh
tịnh. Đức Phật sẽ dạy họ phương
pháp ấy, dạy họ Tứ Thiền, Bát Định, Tứ
Vô Lượng Tâm, dạy họ hăy an trụ cái tâm nơi ấy.
So với loại trước, loại này cao hơn rất
nhiều, địa vị cao hơn rất nhiều. Những
pháp này đều là pháp thế gian, chẳng vượt thoát
tam giới, công phu đă khá lắm, nhưng vẫn là phàm
phu sanh tử trong lục đạo.
(Sao)
Hoặc hiện thánh trụ, vị tam thừa nhân, tức
dĩ tam tam-muội trụ.
(鈔) 或現聖住,謂三乘因,即以三三昧住。
(Sao: Hoặc hiện thánh trụ,
nghĩa là do cái nhân tam thừa nên trụ trong ba thứ
tam-muội).
“Tam-muội” (Samādhi) là tiếng
Phạn dịch âm, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Chánh
Thọ, Tam là Chánh, Muội là Thọ. Chánh Thọ là sự hưởng
thụ b́nh thường. “Tam
tam-muội” là ba thứ hưởng thụ b́nh thường.
Phàm phu chúng ta hưởng thụ bất b́nh thường,
cớ sao không b́nh thường? Có mừng, giận, buồn,
vui, thất t́nh, ngũ dục, nên sự hưởng thụ
ấy không b́nh thường. Trong sự hưởng thụ
b́nh thường, không có tham, sân, si, mạn, không có thất
t́nh, ngũ dục, lúc đó mới gọi là hưởng
thụ b́nh thường! Sự hưởng thụ b́nh
thường ấy chính là Thiền Định. Tam-muội
cũng có thể dịch là Thiền Định, mà cũng
là nhất tâm bất loạn trong pháp môn Niệm Phật. Nhất
tâm bất loạn được gọi là Niệm Phật
tam-muội, là sự hưởng thụ đúng mực do niệm
Phật. “Tam Thừa” là Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, vượt thoát tam giới. Thanh
Văn phải tu pháp Tứ Đế, phải tu ba
mươi bảy đạo phẩm, Duyên Giác phải tu mười
hai nhân duyên, Bồ Tát phải tu lục độ vạn hạnh,
đó là “tam thừa nhân” (cái
nhân của tam thừa).
Ba thứ
tam-muội là Không, Vô Tướng, Vô Tác, chúng được
gọi là “đại tam không
tam-muội”, chung cho cả ba thừa. Thanh Văn có, Duyên
Giác cũng có, Bồ Tát cũng có, nhưng cảnh giới khác
nhau. Danh từ “tam tam-muội”
tương đồng, nhưng cảnh giới khác nhau, công
phu sâu hay cạn khác biệt. Giống như học hành
trong nhà trường: Sơ Trung (Trung Học Đệ Nhất
Cấp, cấp hai), Cao Trung (Trung Học Đệ Nhị Cấp,
cấp ba), Đại Học đều có giờ Quốc
Văn, tên gọi môn học giống nhau, nhưng nội
dung có sâu hay cạn khác nhau. Người thuộc tam thừa
đều có đại tam không tam-muội, tâm phải an trụ
chỗ này th́ mới có thể vượt thoát tam giới,
siêu phàm nhập thánh.
“Đại tam không tam-muội”,
nói đơn giản là như trong Bát Nhă đă nói “tam luân thể không”, chẳng
chấp tướng. “Không”
là Huệ, là trí huệ chân thật, thật sự hiểu
rơ hết thảy các pháp là Không. Nói thật ra, “hết thảy các pháp đều
là Không” rất khó hiểu! Do giảng “hết thảy các pháp đều là Không” mà đức
Phật giảng kinh Bát Nhă suốt hai mươi hai năm.
Lăo nhân gia thuyết pháp bốn mươi chín năm, gần
như tốn phân nửa thời gian để giảng giải
cho chúng ta “hết thảy các
pháp đều là Không”, hết
thảy các pháp là không thể được. V́ sao phàm phu chúng
ta có lắm phiền năo như thế? Những phiền năo
ấy đều phát sanh từ sự cảm nhận sai lầm,
ngỡ hết thảy các pháp đều là có, ngỡ hết
thảy các pháp thật sự có, đối với hết
thảy các pháp dấy lên vọng niệm, vọng niệm ǵ
vậy? Được, mất. Không đạt được
bèn mong đạt được; đạt được
rồi lại sợ bị mất đi, lo được,
lo mất; do vậy, hết thảy phiền năo đều
sanh từ chỗ ấy. Thật sự liễu giải chân
tướng sự thật, hết thảy các pháp là không thể
được, vậy th́ ư niệm được - mất
chẳng c̣n. Ư niệm được - mất chẳng c̣n,
sẽ tự tại, chẳng c̣n phiền năo. V́ thế, điều
này vô cùng trọng yếu.
Nói theo luật
nhân quả, trong cuộc đời mỗi người chúng
ta, nói thật ra, số mạng quư vị đă được
định trước, chẳng có cách nào vượt khỏi
vận mạng! V́ thế, đại đa số con người
khi đi xem tướng, quư vị thấy thầy tướng
số đoán mạng rất chuẩn xác, người ta nói
rành rọt quá khứ, hiện tại, vị lai chẳng
sai chút nào, có thể thấy là đều đă được
định sẵn! Quư vị đọc Liễu Phàm Tứ
Huấn, sách Liễu Phàm Tứ Huấn vô cùng hay, có thể
khiến quư vị khai ngộ, mới hiểu vận mạng
suốt đời của mỗi người đă định
sẵn, “một miếng
ăn, một hớp uống, không ǵ chẳng được
định trước”. Khổng tiên sinh đoán mạng
cho Viên Liễu Phàm, mỗi năm ông Viên thu nhập bao nhiêu
tiền, phê đoán Bát Tự[3] rành rẽ, kết toán [chi thu] mỗi năm
chẳng sai tí nào, chẳng nhiều hơn, chẳng ít hơn,
trong mạng đă định sẵn rồi. Trong mạng đă
được định trước là có, sẽ luôn có.
Trong mạng đă định sẵn không có, cầu cách nào
cũng không được. V́ thế, Viên Liễu Phàm tin vào
vận mạng, vọng tưởng ǵ cũng chẳng cần
nghĩ tới, v́ sao? Trong mạng đă định sẵn
rồi, ta có muốn cũng chẳng được! Trong mạng
là có th́ ta chẳng muốn cũng không được luôn! Đến
lúc, nó sẽ xảy tới. Thôi đi, đừng nghĩ tới
nữa là tốt nhất! Tâm ông ta thanh tịnh, đắc Định
rồi, mà cũng đắc tam-muội. Ông ta và ḥa thượng
Vân Cốc hai người ngồi xếp bằng trong Thiền
Đường suốt ba ngày ba đêm, trong tâm chẳng dấy
lên một vọng tưởng nào! Ḥa thượng Vân Cốc
thấy vậy bội phục vô cùng: Một người
có công phu Thiền Định sâu như thế chẳng dễ
có, ba ngày ba đêm ngồi trên bồ đoàn chẳng dấy
lên một vọng tưởng nào! Do vậy, hết sức
ca ngợi ông ta. Ông ta mới cho biết: “Mạng đă được
Khổng tiên sinh đoán sẵn rồi, hết thảy
đều biết”. Ông ta nói: “Tôi có suy tưởng cũng
uổng công; nên đơn giản là chẳng nghĩ tới
nữa”. Nghe xong, thiền sư Vân Cốc cười ha hả:
“Tôi ngỡ ông là thánh nhân, [nào ngờ] vốn là phàm phu”. Thánh
nhân là công phu thành tựu, c̣n ông ta là phàm phu, tin tưởng
nhân quả, coi như chẳng cần nghĩ tới, có nghĩ
tới cũng uổng công, suy tưởng đều là vọng
tưởng, cớ ǵ chính ḿnh phải chịu khổ? V́ thế,
chẳng nghĩ tới. V́ thế, ông ta chưa phải là định,
mà là hiểu rơ nhân quả.
Người
thật sự hiểu rơ nhân quả, hết thảy vọng
niệm chẳng có; nhưng c̣n kém người tu đạo.
Người tu đạo có quán huệ. Người tin
tưởng nhân quả chỉ biết chuyện đương
nhiên, chẳng hiểu nguyên cớ, chưa có Huệ, vẫn
bị vô minh bao trùm, cả đời vẫn nghe theo số
mạng sắp xếp, không có cách nào vượt thoát số
mạng. Trụ trong tam tam-muội, hoàn toàn chuyển biến
vận mạng, có thể nói là giải thoát khỏi vận
mạng, chính ḿnh hoàn toàn làm chủ tể, rất khác với
Viên Liễu Phàm. Viên Liễu Phàm là phàm phu, người trụ
trong tam tam-muội là thánh nhân, tuyệt đối chẳng
phải là phàm phu, người ấy đă vượt thoát
tam giới, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi.
Do vậy,
“Không” là quán huệ, chẳng
chấp trước hết thảy các pháp, biết hết
thảy các pháp giống như kinh Kim Cang đă nói. Kinh Kim
Cang khai trí huệ. Kinh Kim Cang chẳng cần niệm nhiều,
chỉ cần niệm hai câu là được, “Phàm những ǵ có tướng,
đều là hư vọng”, quư vị phải nhớ kỹ
câu ấy, hư vọng th́ c̣n có tốt đẹp ǵ nữa
mà tranh giành? C̣n có được mất chi nữa? “Hết thảy pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Pháp hữu vi là pháp
sanh diệt, giống như con người chúng ta có sanh,
lăo, bệnh, tử, thực vật có sanh, trụ, dị diệt,
khoáng vật có thành, trụ, hoại, không, đều gọi
là pháp hữu vi. Động vật, thực vật, khoáng vật
thảy đều là pháp hữu vi, cho đến những
ǵ tâm ta nghĩ cũng là pháp hữu vi, cũng chẳng thật,
đều là giả, giống như mộng, huyễn, bọt,
bóng, có cũng được, không có cũng được,
về căn bản là đừng nên chấp trước.
Thật
sự nhập cảnh giới này, quư vị nói vọng tưởng
dấy lên th́ có cần phải đoạn hay chăng? Vọng
tưởng là hư vọng, đoạn nó để làm ǵ?
Không cần đoạn nó! Chân chẳng cần cầu, vọng
chẳng cần đoạn, tự nhiên thứ ǵ cũng đều
không có. Vọng tưởng đă là vọng tưởng, mà
vẫn nỗ lực đoạn vọng tưởng, há chẳng
phải là trên vọng tưởng lại chồng thêm vọng
tưởng, vĩnh viễn chẳng đoạn được!
V́ vậy, Vĩnh Gia đại sư đă nói rất hay: “Tuyệt học vô vi nhàn đạo
nhân, bất trừ vọng tưởng, bất cầu Chân”
(Đạo nhân tuyệt học vô vi thật là nhàn, chẳng
trừ vọng tưởng, chẳng cầu Chân), chẳng
có chuyện ǵ! Nếu quư vị đoạn vọng tưởng,
mong cầu Chân, sẽ c̣n có Sự, c̣n lo được, lo
mất. Nói cách khác, tâm quư vị vẫn chưa thanh tịnh.
Do vậy, thật sự nhập ba thứ Không tam-muội,
tâm thanh tịnh, trong hết thảy cảnh giới có thể
tùy duyên, đắc đại tự tại, thật sự
chẳng lo nghĩ, không vướng mắc, tự do, tự
tại.
Do vậy,
thánh nhân và phàm phu khác nhau, phàm phu không làm được. Tứ
Thiền, Bát Định là dùng công phu định lực để
khuất phục phiền năo, chưa thể đoạn phiền
năo. Nhập Đại Tam Không tam-muội, chuyển phiền
năo thành Bồ Đề, chuyển sanh tử thành Niết
Bàn, đấy mới là trí huệ chân chánh. Đây là nói về
Thánh Trụ, nếu quư vị phát nguyện muốn liễu
sanh tử, thoát tam giới, chứng thánh quả, đức
Phật có biện pháp để dạy cho quư vị. Quư vị
thích thành A La Hán, sẽ thành A La Hán; thích thành Bồ Tát, sẽ
trở thành Bồ Tát.
(Sao)
Hoặc hiện Phật trụ, tức dĩ Thủ
Lăng Nghiêm bách bát tam-muội, lực, vô úy, bất cộng
trụ.
(鈔) 或現佛住,即以首楞嚴百八三昧,力無畏不共住。
(Sao: Hoặc hiện Phật
trụ, tức là dùng một trăm lẻ tám tam-muội
trong Thủ Lăng Nghiêm, lực, vô úy, bất cộng để
trụ).
Đây là
cảnh giới tối cao. “Bách
bát tam-muội” là Thủ Lăng Nghiêm tam-muội như
kinh Lăng Nghiêm đă giảng. Kinh Lăng Nghiêm giảng về
chuyện này. Đức Phật chẳng thường nói tới
loại tam-muội này. “Bách bát”
chẳng phải là con số, mà là biểu thị pháp, do đối
ứng với phiền năo mà nói. Trong Phật môn, thường
quy nạp, phân loại phiền năo. Quy nạp để nói
cho thuận tiện, v́ nói thật ra, phiền năo vô lượng
vô biên; vô lượng vô biên sẽ khó nói, nói bằng cách nào đây?
Do vậy, quy nạp lại, quy nạp thành tám vạn bốn
ngàn. Thật sự có con số tám vạn bốn ngàn,
nhưng phạm vi đă thu nhỏ rất nhiều.
Nhưng nếu giảng giải tám vạn bốn ngàn th́ vẫn
phiền phức, giảng giải từng điều một
sẽ phiền phức khôn ngằn! Nhằm giảng giải
thuận tiện, bèn quy nạp thành một trăm lẻ
tám loại, dễ nói hơn! Do vậy, hiện thời
tràng hạt (xâu chuỗi) có một trăm lẻ tám hạt,
[ngụ ư] đoạn trừ một trăm lẻ tám phiền
năo. V́ thế, trong tam-muội cũng nói “bách bát tam-muội”, ư nghĩa của “bách bát” là triển khai sẽ
thành vô lượng vô biên. Danh xưng chung là Thủ Lăng
Nghiêm tam-muội, nói tách ra là “bách
bát tam-muội”. Giống như địa phương Đài
Loan này có danh xưng chung là tỉnh Đài Loan, tách ra bèn có Đài
Bắc, Cao Hùng, Đài Trung, cũng có rất nhiều huyện
thị. Do vậy, Thủ Lăng Nghiêm là danh xưng chung, là
pháp được chứng đắc bởi Như Lai, cũng
có thể nói là tam-muội rốt ráo viên măn.
“Lực” là Thập Lực, tức
là Như Lai có mười thứ năng lực đặc
thù, ngay cả Bồ Tát cũng chẳng có, nhưng Như
Lai có. Nói đơn giản, Lực là năng lực. Chúng
ta thường tán thán Phật vạn đức, vạn
năng, lời này cũng chẳng phải là tán thán tùy tiện,
mà là thật. Phật có trí huệ viên măn, có năng lực viên
măn, nh́n từ chỗ nào? Chúng ta đọc xong Quán Kinh sẽ
hiểu rơ. Nếu có kẻ tạo tác Ngũ Nghịch, Thập
Ác, tội nặng dường ấy, nếu chúng ta hỏi:
Phật có năng lực khiến cho kẻ ấy lập tức
thành Phật hay chăng? Nếu Phật chẳng có năng
lực th́ “vạn đức, vạn năng” chỉ là lời
tán thán, chẳng phải là thật sự. Thưa quư vị,
Phật thật sự có năng lực này. Quư vị thấy
trong chương Hạ Phẩm Hạ Sanh trong Thập Lục
Quán Kinh, những chúng sanh Ngũ Nghịch, Thập Ác lâm
chung, tướng địa ngục hiện tiền, nếu
họ có duyên gặp thiện tri thức khuyên hăy niệm Phật
cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
lâm chung một niệm hay mười niệm đều
được văng sanh; hễ văng sanh sẽ đắc viên
chứng ba thứ Bất Thoái, thành tựu Vô Thượng
Bồ Đề. Có thể thấy: Chẳng phải là Phật
không có năng lực, mà do chúng sanh chẳng tin tưởng,
không chịu tiếp nhận! Đây chẳng phải là Phật
có khuyết điểm, chẳng phải do Ngài không có
năng lực làm được, Ngài muốn giúp quư vị,
nhưng quư vị không tiếp nhận, vậy th́ có cách nào nữa
đây? Do vậy, biết: Ngũ Nghịch, Thập Ác lâm
chung sắp đọa địa ngục, đều có thể
ngay lập tức thành Phật, nhiều người trong số
chúng ta đang hiện diện tại đây vẫn chưa
có nghiệp chướng nặng nề như thế! Nếu
quư vị chịu tin tưởng, phẩm vị sẽ cao,
ai nấy đều văng sanh trong bậc trung hoặc bậc
thượng, chẳng thuộc trong ba phẩm Hạ.
Thiện
Đạo đại sư đă nói rất hay: “Ba bậc, chín phẩm là do chúng
ta trong đời này gặp duyên khác nhau, cho nên văng sanh mới
có sai khác”. Chẳng hạn tại Đài Loan, Tịnh
Độ rất phổ biến, người niệm Phật
rất đông, nhưng mỗi nơi niệm Phật, gặp
duyên khác nhau. Ở nơi này, duyên của chúng ta khá thù thắng,
nhưng vẫn chưa phải là tận thiện tận mỹ,
v́ sao nói chưa phải là tận thiện, tận mỹ? Chúng ta c̣n thiếu một Niệm Phật
Đường; [đạo tràng phải gồm] một giảng
đường và một Niệm Phật đường,
mới là tận thiện tận mỹ. Trong giảng
đường, giảng giải Tịnh Độ tam kinh
nhất luận, hoặc giảng giải Tịnh
Độ ngũ kinh, những đạo lư ấy quư vị
thảy đều hiểu rơ trọn hết, mới có tâm
thực hiện, quyết định chẳng hoài nghi. Những
câu Phật hiệu do quư vị niệm trong Niệm Phật
Đường đều đắc lực, duyên ấy
thù thắng bậc nhất. Duyên kém hơn một chút, hướng
dẫn quư vị cùng nhau niệm Phật, nhưng chẳng
hiểu đạo lư niệm Phật, tuy niệm suốt đời
nhưng vẫn bán tín bán nghi, do duyên kém nên phẩm vị văng
sanh thấp. Đối với lư luận thảy đều
hiểu rơ, thông đạt, niệm Phật như vậy,
phẩm vị văng sanh sẽ cao. Ba bậc chín phẩm chẳng
phải do thiện căn, phước đức đời
quá khứ, chẳng phải do những điều ấy
quyết định, mà do duyên gặp được trong đời
này quyết định. Lời ấy hay quá, Thiện Đạo
đại sư bảo chúng ta như vậy. V́ thế, chúng
ta phải quư trọng cái duyên này.
Trong tương
lai, nếu chúng ta thật sự có khả năng ấy, chúng
ta lại t́m một nơi to như vậy, hoặc lớn
hơn chỗ này một chút, có một Niệm Phật Đường.
Có Niệm Phật Đường th́ hằng ngày khi niệm
Phật chẳng cần phải dọn dẹp bàn ghế,
cực nhọc quá, tâm bị khuấy loạn hết. Nếu
có Niệm Phật Đường, chúng tôi giảng kinh ở
đây xong, mọi người đến niệm Phật trong
Niệm Phật Đường. Giảng đường và
Niệm Phật Đường nhất định phải
là hai nơi, như vậy th́ mới tốt đẹp. Nói
thật ra, chuyện này cũng không phải là rất khó, mọi
người thật sự có tâm, có ư niệm ấy, có nguyện
vọng ấy, sẽ được thành tựu.
“Vô úy”: Phật có bốn thứ
vô úy:
- Thứ nhất là “tổng tŕ vô úy”, đối hết
thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, lư luận,
hiện tượng, tŕnh tự, chẳng có ǵ Phật không
biết. Do vậy, trong bất luận trường hợp
nào, Ngài cũng đều vô úy (không sợ hăi), không có ǵ chẳng
biết. Chúng ta lên giảng đài sẽ chẳng tự
nhiên như đức Phật, v́ sao? Sợ người ta bắt
bí, bắt bí đến nỗi ta không biết làm sao giải
quyết cho êm xuôi, mang nỗi sợ này! Phật không có, Phật
thật sự là toàn trí, toàn năng.
- Thứ hai là “tri căn vô úy”, Phật có thần
thông, căn tánh của mỗi chúng sanh Phật đều
biết, Ngài biết đời quá khứ và cũng biết
đời vị lai của quư vị. Quá khứ, hiện tại,
vị lai của quư vị Ngài đều biết; do vậy,
quư vị nghĩ ǵ, muốn hỏi ǵ, Ngài đều biết,
không có ǵ chẳng biết. Do vậy, trên giảng đài Ngài
vô úy.
- Thứ ba là “quyết nghi vô úy”, bất luận
nan đề nào cũng chẳng thể làm khó được
Ngài, Ngài đều có thể giải thích, giúp quư vị
đoạn nghi sanh tín.
- Thứ tư là “đáp báo vô úy”, cũng là biện
tài vô ngại. Quư vị có câu hỏi, chắc chắn Phật
sẽ trả lời, nhất định sẽ đáp cho
quư vị hài ḷng. Không chỉ đáp khiến cho quư vị
đoạn nghi sanh tín, mà c̣n khiến quư vị phá mê khai ngộ.
Đây là điều Bồ Tát chưa thể làm được
viên măn, chỉ có Phật quả mới đạt đến
rốt ráo viên măn bốn thứ [vô úy] ấy. V́ thế, chúng
được gọi là “bốn
thứ vô úy nơi quả địa”.
“Bất cộng” là mười
tám món bất cộng pháp. Từ ba nghiệp
thân - khẩu - ư, chắc chắn không có khuyết điểm,
cho đến điều thứ mười tám là “tri vị lai vô ngại”, tức
là Phật biết hiện tại, quá khứ, vị lai thảy
đều chẳng có chướng ngại, không có ǵ chẳng
biết. Tiểu Thừa, Bồ Tát đều chưa thể
làm được điều này; do vậy, Phật đích
xác là toàn trí toàn năng. “Trụ”
kế tiếp là Phật trụ.
(Sao)
Thượng tam tùy tha ư trụ, hậu nhất tùy tự ư
trụ.
(鈔) 上三隨他意住,後一隨自意住。
(Sao: Ba món “tùy” trước là
thuận theo ư của người khác mà trụ, món “tùy” sau
cùng là Ngài tự trụ).
Đức
Phật trụ tại “nước
Xá Vệ, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc viên”. Ba loại
trước là Phật giáo hóa chúng sanh, loại cuối cùng,
chúng sanh cũng làm không được, nên chính Phật an trụ.
Chính ḿnh trụ trong một trăm lẻ tám Lăng Nghiêm tam-muội,
Thập Lực, Tứ Vô Úy, mười tám pháp Bất Cộng,
Phật trụ tại nơi đó.
Đây là Thiên Thai đại sư giảng ư nghĩa riêng biệt
của chữ “trụ”, cách
giảng này cũng vô cùng hay, chúng ta cũng cần phải
học tập. Dưới đây, Liên Tŕ đại sư giả
lập một đoạn vấn đáp nhằm đoạn
trừ nghi hoặc cho chúng ta.
(Sao)
Vấn: Phật hà dĩ thiên trụ?
(鈔) 問:佛何以天住。
(Sao: Hỏi: V́ sao Phật thiên
trụ?)
Phật trụ
trong “Phật trụ”, đó
là hợp lư; v́ sao Ngài trụ trong thiên trụ? Nói thật
ra, Phật thị hiện trong nhân gian, vẫn chưa phải
là thiên trụ, mà là nhân trụ. Ở trong nhân gian của chúng
ta, so với cơi trời c̣n ủy khuất hơn nữa.
(Sao)
Đáp: Khuất chí tôn tại chí liệt xứ, vi độ
sanh cố dă.
(鈔) 答:屈至尊在至劣處,為度生故也。
(Sao: Đáp: Khuất thân cao quư
nhất nơi thấp hèn nhất là do độ sanh).
Trả lời
rất hay, cũng hết sức viên măn. Do chúng sanh có cảm,
nên Phật bèn có ứng. Chúng sanh ở nơi nào, Phật nhất
định phải thị hiện thân đồng loại,
cùng ở chung một chỗ với họ th́ khi ấy mới
có thể giáo hóa họ. Nếu chẳng thể ở cùng một
chỗ, Phật sẽ chẳng có cách nào giáo hóa. Phải là
tùy loại hiện thân, nên dùng thân ǵ để đắc
độ, Phật bèn thị hiện thân phận như thế
ấy!
(Sao)
Vô tại, vô bất tại giả.
(鈔) 無在無不在者。
(Sao: “Vô tại, vô bất tại”)
Nói thật ra, Thể,
Tướng, tác dụng đều là như vậy.
(Sao)
Thể tịch liêu, cố vô tại.
(鈔) 體寂寥,故無在。
(Sao: Thể vắng lặng,
cho nên chẳng hiện diện).
“Tịch liêu” là trống vắng,
giống như hư không. Thể giống như hư không,
chẳng có h́nh tướng, không có âm thanh, không có dấu vết,
cho nên “vô tại”, nhưng nó
hiện tướng, nên nó tồn tại.
(Sao)
Thể viên thông, cố vô bất tại.
(鈔) 體圓通,故無不在。
(Sao:
Do Thể viên thông, nên không đâu chẳng tồn tại).
“Viên” là viên măn, “thông” là thông đạt. Chúng sanh có cảm, Ngài sẽ
có ứng. V́ có ứng, nên Ngài hiện diện, nói “vô bất tại” tức là có
sự hiện hữu. V́ thế, nói “vô tại, vô bất tại”. Vô tại là nói theo Thể,
vô bất tại là nói theo tướng được hiện.
(Sao)
Hoa Nghiêm vân: “Phật thân phi chí, phi bất chí”.
(鈔) 華嚴云:佛身非至非不至。
(Sao: Kinh Hoa Nghiêm nói: “Thân Phật
chẳng đến, mà cũng không đâu chẳng đến”).
“Chí” là đến, “phi chí, phi bất chí” là không đến,
mà cũng chẳng không đến. V́ đấy là cảm ứng,
ở đâu có cảm, bèn hiện tướng nơi ấy.
Quư vị chẳng nói Phật có đến, cũng không thể
nói Ngài không đến; đến và không đến đều
chẳng thể nói được; đấy mới là chân
tướng sự thật.
(Sao)
Hà dĩ cố? Hư không vô thân cố.
(鈔) 何以故,虛空無身故。
(Sao: V́ cớ sao? Do hư không
chẳng có thân).
Pháp Thân
không có tướng, giống như hư không chẳng có một
tướng ǵ! Không có tướng, làm sao có thể nói nó đến,
làm sao có thể nói nó không đến?
(Sao)
Như Lai diệc nhĩ.
(鈔) 如來亦爾。
(Sao:
Như Lai cũng giống như vậy).
Pháp Thân của
Phật giống như hư không.
(Sao)
Biến nhất thiết pháp, biến nhất thiết chúng
sanh, quốc độ.
(鈔) 遍一切法,遍一切眾生國土。
(Sao: Trọn khắp hết thảy
các pháp, trọn khắp hết thảy chúng sanh, cơi nước).
Giống
như hư không, quả thật là trọn khắp. Nói thật
ra, chân tâm của chúng ta trọn khắp. Tâm là trọn khắp.
Chẳng tin th́ có thể thí nghiệm, chúng ta mở căng
mắt, những ǵ có thể thấy đều là trọn
khắp. Chúng ta thấy ǵ tức là tâm ta đến nơi đó.
Nếu tâm không đến, làm sao quư vị thấy được?
Quư vị có thể thấy th́ chính là tâm quư vị đạt
tới [chỗ đó]. Chủ thể để thấy (năng
kiến) là ǵ? Tâm là năng kiến, mắt chẳng phải
là năng kiến. Mắt chẳng phải là năng kiến,
tâm là năng kiến. Tâm bao lớn? Quư vị thấy rộng
chừng nào, tâm to chừng đó. Nói thật ra, phạm vi
[mà mắt] chúng ta thấy được hăy c̣n nhỏ lắm,
v́ chúng ta thấy đằng trước, chẳng thấy
đằng sau. Chúng ta nghe có thể nghe phía trước, lại
c̣n có thể nghe phía sau; nhưng phạm vi của nghe vẫn
chưa đáng coi là lớn. Ư niệm trong tâm chúng ta, quư vị
nghĩ tới chỗ nào, tâm ở ngay nơi đó. Tâm ấy
có thể nói là “tâm bao thái
hư, lượng châu sa giới” (tâm trùm khắp thái hư,
dung lượng bằng với các cơi có số lượng
nhiều như cát), quư vị thấy tâm ấy lớn ngần
nào! Tâm có tướng hay chăng? Không có tướng. Tâm chẳng
hiện tướng, tâm c̣n lớn hơn hư không rất
nhiều! Tâm là Pháp Thân, tâm là bổn tánh, Chân Như bổn
tánh, Pháp Thân Lư thể, [những danh từ ấy] đều
nhằm nói về thứ này (tâm). Trong kinh Lăng Nghiêm, đức
Phật đă giảng rất nhiều, rất tỉ mỉ,
rất viên măn. Do vậy, “vô tại,
vô bất tại” quả thật là “biến nhất thiết pháp, biến nhất thiết
chúng sanh, quốc độ” (trọn khắp hết thảy
các pháp, trọn khắp hết thảy chúng sanh, cơi nước).
V́ thế, nói:
(Sao)
Phi chí, phi bất chí, tức thử ư dă.
(鈔) 非至非不至,即此意也。
(Sao: [Nói] “chẳng tới, chẳng
không tới”, chính là [nói đến] ư này vậy).
Hoàn toàn
giống với ư nghĩa đang nói ở đây.
(Sao)
Nhiên tắc Phật tại Xá Vệ, dĩ tựu liệt
cơ, cố danh “thiên trụ”.
(鈔) 然則佛在舍衛,以就劣機,故名天住。
(Sao: Nhưng đức Phật
ngự tại Xá Vệ nhằm thích ứng với căn
cơ kém hèn, nên gọi là “thiên trụ”).
Đây là
chúng ta coi Phật như chư thiên, tôn xưng Ngài. Phật
nhận lấy thân phận chúng sanh, nhằm giáo hóa chúng sanh,
nên phải thị hiện h́nh tướng ấy, trụ tại
nước Xá Vệ mười mấy, hai mươi
năm, trụ nơi ấy để giáo hóa.
(Sao)
Như thật nhi luận, tức Xá Vệ danh Phạm trụ,
thánh trụ, Phật trụ, diệc hà bất khả.
(鈔) 如實而論,即舍衛名梵住聖住佛住,亦何不可。
(Sao: Nếu nói đúng theo sự
thật th́ [đức Phật ngự tại] Xá Vệ vẫn
có thể gọi là Phạm trụ, thánh trụ, hoặc Phật
trụ, cũng đều chẳng có ǵ là không được!)
Nói theo h́nh
tích, Xá Vệ là một trụ xứ trong nhân gian chúng ta. Nếu
nói theo cảnh giới, nói theo phương diện tâm lư, quư
vị nói cách nào cũng đều được, nói ǵ cũng
đều được, đều là nói có lư.
(Sớ)
Xá Vệ, Phạn ngữ, diệc vân Thất La Phiệt Tất
Để.
(疏) 舍衛,梵語,亦云室羅筏悉底。
(Sớ: Xá Vệ, tiếng Phạn,
c̣n dịch âm là Thất La Phiệt Tất Để).
Thất
La Phiệt Tất Để (Śrāvastī)[4]
là dịch âm tiếng Phạn, người Trung Quốc chuộng
đơn giản, phiên dịch thường bỏ bớt
âm cuối. Chẳng hạn như “Phật đà-da”, chúng ta bỏ âm cuối là “đà-da”, chỉ gọi là Phật.
(Sớ)
Hoa ngôn Văn Vật, dĩ đức danh cố; nhất
vân văn giả, dĩ nhân danh cố.
(疏) 華言聞物,以德名故;一云聞者,以人名故。
(Sớ: Tiếng Hán dịch là
Văn Vật, đặt tên [nước ấy] dựa
theo phẩm đức. Dịch chữ thứ nhất là
Văn (được nghe danh khắp nơi) do [trong nước
ấy] có nhiều người nổi tiếng).
“Hoa” là tiếng Trung Quốc,
[Xá Vệ] dịch theo nghĩa tiếng Hán là Văn Vật.
(Sao)
Đức giả, dĩ quốc phong tứ đức.
(鈔) 德者,以國豐四德。
(Sao
: “Đức”: Do nước giàu có, hội đủ bốn
đức).
Nói theo cách
hiện thời, quốc gia này đă phát triển, bất luận
xét trên văn minh vật chất, hay kinh tế, văn hóa,
chánh trị, đều là một quốc gia đă phát triển
rất cao.
(Sao)
Nhất giả, trần đức, ngũ trần chi cảnh,
đa mỹ lệ cố.
(鈔) 一者塵德,五塵之境,多美麗故。
(Sao: Một là trần đức
(ưu điểm về mặt ngũ trần), do [xét theo]
cảnh Ngũ Trần, [Xá Vệ] rất xinh đẹp).
Nói theo cách
bây giờ, Trần là kiến thiết vật chất. Ở
nơi ấy, kiến thiết vật chất và kiến trúc
vô cùng tốt đẹp, văn minh vật chất cũng
vô cùng phát triển.
(Sao)
Nhị giả, tài đức, thất bảo trân kỳ, vô
phất hữu cố.
(鈔) 二者財德,七寶珍奇,無弗有故。
(Sao: Hai là tài đức (ưu
điểm về mặt tài chánh), do bảy báu quư lạ,
chẳng thiếu món ǵ).
Kinh tế
phát triển. Ngày hôm nay, báo chí đă đặt tựa đề
rất lớn cho biết hai năm nữa, tồn khoản
ngoại hối (foreign exchange) của Đài Loan sẽ cao
nhất thế giới. Đó là “tài
đức”.
(Sao)
Tam giả, thánh đức, Tam Tạng thánh pháp, giai cụ
túc cố.
(鈔) 三者聖德,三藏聖法,皆具足故。
(Sao: Ba là thánh đức
(ưu điểm về mặt thánh giáo), do Tam Tạng
thánh pháp đều trọn đủ).
Chữ “thánh đức” chỉ Phật
pháp, Phật pháp vô cùng hưng thịnh. Đức Phật ngự
tại nơi ấy giảng kinh, tức là có Pháp Bảo, Phật
có đông học tṛ dường ấy, đó là đệ
tử của Phật, tức Tăng Bảo. Phật - Pháp
- Tăng Tam Bảo đầy đủ; v́ thế, nơi ấy
có “thánh đức”. Ở chỗ
này, cũng có thể giải thích là tŕnh độ văn hóa
vô cùng cao, tư tưởng học thuật phát triển.
(Sao)
Tứ giả, giải thoát đức, nhân đa giải
thoát, bất nhiễm dục cố.
(鈔) 四者解脫德,人多解脫,不染欲故。
(Sao: Bốn là, giải thoát
đức, do có nhiều người giải thoát, chẳng
nhiễm dục).
Điều
này chẳng đơn giản. “Giải
thoát” là nói người tu hành chứng quả đông đảo,
có nhiều thánh nhân. Thuở Phật tại thế, Phật
là bậc chí thánh, đại thánh, trong các đệ tử Phật,
có không ít vị chứng Bồ Tát quả, chứng Bích Chi Phật
quả, chứng A La Hán quả rất nhiều, thánh nhân rất
đông! “Xá Vệ” dịch
sang nghĩa tiếng Hán là “phong
đức”, [nghĩa là] sản vật phong phú, người
có đạo đức vô cùng đông; do vậy gọi là Văn
Vật. Văn là nổi tiếng, nức tiếng xa gần,
[Vật] là sản vật phong phú. [Danh xưng] Xá Vệ có ư
nghĩa ấy. Hiện thời, nói thật ra, Đài Loan c̣n
thua nước Xá Vệ một chút, hai điều trước
(trần đức và tài đức) chẳng kém họ, nhưng
hai điều sau (thánh đức và giải thoát đức)
thua họ. Nói theo Phật pháp, Đài Loan là khu vực có Phật
pháp hưng thịnh nhất trên cả thế giới trong
hiện thời. Đáng tiếc là Phật chẳng trụ
thế, Phật chẳng ở nơi đây, Bồ Tát, A La
Hán cũng không có, phàm phu tăng không ít, c̣n tốt hơn những
nơi khác một chút, nhưng chẳng thể sánh bằng
nước Xá Vệ. Điều thứ tư ở chỗ
chúng ta không có! Mong sao mọi người nỗ lực niệm
Phật, niệm tới công phu thành phiến là thánh nhân, niệm
tới nhất tâm bất loạn bèn chứng quả, điều
này phải cậy vào sự nỗ lực của chúng ta. “Nhân đa giải thoát, bất
nhiễm dục cố” (do có nhiều người giải
thoát, chẳng nhiễm dục). Nhiều người chứng
quả, cho nên quá nửa dân chúng tiếp nhận sự giáo
hóa của đức Phật. Do đức Phật giáo hóa ở
nơi ấy mười mấy, hai mươi năm, giảng
rất nhiều bộ kinh lớn, cho nên người nơi
ấy thật sự có phước báo, quá nửa đều
là có thể thấy thấu suốt, buông xuống, người
giải thoát đông đảo!
(Sao)
Dĩ thị dự động Ngũ Thiên, danh Văn Vật
dă.
(鈔) 以是譽動五天,名聞物也。
(Sao: Do vậy, lừng
danh năm xứ Thiên Trúc, nên gọi là Văn Vật).
“Dự” (譽) là vinh dự, là tiếng tăm. Ngũ
Thiên là Ấn Độ. Thuở đó, Ấn Độ gọi
là Thiên Trúc, chia thành năm khu vực: Bắc Ấn Độ,
Nam Ấn Độ, Đông Ấn Độ, Tây Ấn
Độ, Trung Ấn Độ, người Trung Quốc
gọi là Ngũ Thiên Trúc. Từ đời Đường
về trước, luôn gọi [Ấn Độ] là Thiên Trúc
(Sindhu). Cả Ấn Độ không ai chẳng biết đến
nước Xá Vệ, đều biết đến địa
phương ấy, là một quốc gia có tŕnh độ văn
hóa và vật chất phát triển nhất, nên gọi là Văn
Vật.
(Sao)
Dĩ nhân danh giả, đa hiền nhân cố, quốc
dĩ nhân vi trọng cố.
(鈔) 以人名者,多賢人故,國以人為重故。
(Sao: “Do có nhiều người
nổi tiếng”: Do có nhiều người hiền, v́ đất
nước tôn trọng con người).
Cũng có
người nói Xá Vệ “dĩ
nhân danh” (do người dân trong nước mà được
nổi tiếng), có những nhân vật nổi tiếng. Nói
theo cách bây giờ, những người nổi tiếng quốc
tế đặc biệt nhiều, cho nên gọi là Xá Vệ.
“Đa hiền nhân cố”
(do có lắm người hiền) như A La Hán, Bích Chi Phật,
Bồ Tát đều là hiền nhân. Phật thường giảng
kinh thuyết pháp ở nơi ấy, những người ấy
đều là đệ tử Phật, cho nên vô cùng nhiều.
“Quốc dĩ nhân vi trọng”
(đất nước coi trọng con người), Ấn
Độ cổ đại và Trung Quốc đều đặc
biệt coi trọng hiền nhân, hiền nhân là vật báu của
đất nước! Nhiều người hiền, quốc
gia nhất định cường thịnh, cuộc sống
của dân chúng nhất định đạt được
an ḥa, lợi lạc. Đó là giải thích hai chữ Xá Vệ.
Tiếp
theo đó là nói đến đạo tràng nơi Ngài cư
trụ. Xá Vệ là một thành lớn, [Xá Vệ] là tên thành
thị ấy, giống như nay chúng ta nói tới thành phố
Đài Bắc, đó là tên một thành thị. Ngài trụ tại
nơi nào trong thành thị ấy?
(Sớ)
Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên giả.
(疏) 祇樹給孤獨園者。
(Sớ: Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên).
Đấy là đạo
tràng giảng kinh thuyết pháp của đức Phật thuở
ấy.
(Sớ)
Phạn ngữ Kỳ Đà, diệc vân Thệ Đa.
(疏) 梵語祇陀,亦云逝多。
(Sớ: Tiếng Phạn Kỳ
Đà c̣n gọi là Thệ Đa).
Kỳ
Đà (Jetā, Jetakumāra) và Thệ Đa đều là dịch
âm tiếng Phạn.
(Sớ)
Ngôn Kỳ giả, tỉnh văn dă.
(疏) 言祇者,省文也。
(Sớ:
Nói “Kỳ”[trong Kỳ viên] là tỉnh lược).
Đây cũng là tỉnh lược,
bỏ bớt âm cuối.
(Sớ)
Thử vân Chiến Thắng.
(疏) 此云戰勝。
(Sớ:
Cơi này dịch [Kỳ Đà] là Chiến Thắng).
Chữ “thử”
chỉ Trung Quốc. Kỳ Đà dịch nghĩa sang tiếng
Hán là Chiến Thắng.
(Sớ)
Cấp Cô, biểu đức.
(疏) 給孤,表德。
(Sớ:
Cấp Cô, biểu thị đức hạnh).
“Cấp” là bố thí, “Cô” là kẻ cô độc. Có
thể thấy người này rất từ bi, thường
cứu giúp kẻ bần khổ, là một nhà từ thiện
thật sự. Do vậy, mọi người không gọi tên
ông ta mà gọi là “trưởng
giả Cấp Cô Độc” (Anāthapindada). Ông ta đặc
biệt quan tâm kẻ cô độc, cho nên mới được
gọi bằng ngoại hiệu như vậy, gọi ông
ta như vậy là một cách xưng hô tôn kính. Vị này là
ai? Chính là...
(Sớ)
Tu Đạt Đa.
(疏) 須達多。
(Sớ: Tu Đạt Đa).
“Tu Đạt Đa” (Sudatta) là tên ông ta, tức trưởng
giả Tu Đạt Đa.
(Sớ)
Viên giả, Phạn ngữ Tăng-già-lam-ma, thử vân Chúng
Viên.
(疏) 園者,梵語僧伽藍摩,此云眾園。
(Sớ: “Viên”: Tiếng Phạn
là Tăng-già-lam-ma (Sanghārāma), cơi này dịch là Chúng
Viên).
Đây là
tiếng Phạn dịch âm, dịch sang nghĩa tiếng Hán
là Chúng Viên. Tăng-già (Sanghā) là Chúng, Ḥa Hợp Chúng. Phải
tuân thủ sáu điều kiện, tức Lục Ḥa Hợp,
tuân thủ sáu điều kiện ấy, mọi người
ở chung với nhau, v́ thế, đó là một viên lâm. Viên
lâm ấy vốn của Thái Tử Kỳ Đà, Kỳ Đà
là Thái Tử của vua nước Xá Vệ. [Viên lâm ấy]
là một biệt thự, tức là một hoa viên biệt
thự, có diện tích rất lớn.
Trưởng
giả Tu Đạt Đa thỉnh Thích Ca Mâu Ni Phật đến
nước Xá Vệ giảng kinh, thuyết pháp, nhưng
Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n có một nhóm thường tùy đệ
tử đi theo Ngài. Phật đi tới đâu, những người
ấy theo tới đó, bao nhiêu người? Là một ngàn hai
trăm năm mươi lăm người. Do vậy, nhất
định phải thỉnh nhiều người như thế.
Thỉnh nhiều người như thế đến, đương
nhiên phải t́m một nơi rộng răi để họ có
thể trụ lại. Tu Đạt Đa đi khắp nơi
trong nước Xá Vệ để kiếm chỗ, thấy
biệt thự ấy của Thái Tử
rất thích hợp, một ngàn hai trăm năm mươi
lăm người trụ nơi đó không có vấn đề
ǵ, ở rất thoải mái, bèn thương lượng với
Thái Tử muốn mua chỗ ấy.
Vị Thái Tử ấy
cũng chẳng biết Thích Ca Mâu Ni Phật là ai, trưởng
giả nhất định đ̣i mua, xin Thái Tử ra giá, ông
ta bèn nói giỡn: “Nghe nói nhà ông rất nhiều vàng, đất
của ta là tấc đất tấc vàng, ông lót vàng được
bao nhiêu, ta sẽ bán bấy nhiêu”. Tu Đạt Đa thật
sự mở kho trong nhà lấy vàng ṛng trải đất. Thái
Tử rất cảm động, liền hỏi trưởng
giả: “Rốt cuộc là do chuyện ǵ? Ông mua để
làm ǵ?” Tu Đạt Đa bèn kể rơ. Bản thân Thái Tử
cũng rất kính nể, bội phục, nói: “Như vậy
th́ hay lắm! Hai người chúng ta cùng làm công đức”.
Trưởng giả cậy trong nhà có tiền, có vàng: “Tôi muốn
làm một ḿnh, chẳng muốn ông góp phần”, nên nẩy
sanh tranh chấp. Xảy ra tranh chấp, Thái Tử Kỳ Đà
bèn làm khó: “Được rồi! Nếu vậy th́ ông không
chịu cho ta làm, được lắm! Đất ta
đă bán cho ông, ông đă lót vàng rồi, nhưng cây hoa, cỏ
cây trong chỗ đó, ta đều sai người chặt
sạch, v́ ông cũng chưa trải vàng tới đó. C̣n
có nhà cửa, ta đều sai phá sạch, ông chỉ mua
được băi đất trống!” Trưởng giả
bị làm khó dễ, không c̣n cách nào, lúc ấy, mới đồng
ư: “Được rồi! Hai người cùng làm công đức.
Mỗi người phân nửa”. Chỗ ấy về sau
được gọi là Kỳ Thụ Cấp Cô Độc
Viên (Jetavane Anāthapindikassa Ārāma). Coi như cây cối
thuộc phần công đức của Thái Tử Kỳ Đà,
viên lâm đă bán cho ông trưởng Cấp Cô Độc. Nơi
ấy mang tên hai người. Đó là nơi đức Phật
thuyết pháp trong thuở ấy. Ngày hôm nay giảng tới
chỗ này!
Tập 108
Xin xem A
Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang
hai trăm mười bốn:
(Sao) Chiến
Thắng giả, Ba Tư Nặc vương
Thái Tử sanh
thời, vương dữ ngoại quốc giao chiến
đắc thắng, hỷ nhi
lập danh.
(鈔) 戰勝者,波斯匿王太子生時,王與外國交戰得勝,喜而立名。
(Sao: Chiến
Thắng: Khi vua Ba Tư Nặc sanh Thái Tử, vua cùng nước
ngoài giao chiến thắng trận, nên vui mừng đặt
tên như vậy).
Nói rơ những
ư nghĩa được bao hàm trong danh hiệu Kỳ Đà.
(Sao) Tu
Đạt Đa giả, Phạn ngữ, thử
vân Nhạo Thí.
(鈔) 須達多者,梵語,此云樂施。
(Sao: Tu Đạt Đa, là tiếng Phạn, cơi này
dịch là Nhạo Thí).
Tức
là vui vẻ bố thí.
(Sao) Thắng Quân vương
đại thần dă.
(鈔) 勝軍王大臣也。
(Sao: Là đại thần của
vua Thắng Quân).
“Thắng
Quân vương” là vua Ba Tư Nặc (Prasenajit), [Tu Đạt
Đa] là đại thần của vua Ba Tư Nặc.
(Sao) Hỷ nhạo hành thí, toại
thành lệnh danh.
(鈔) 喜樂行施,遂成令名。
(Sao:
Ưa thích bố thí, nên thành mỹ danh).
Danh hiệu do chuộng thiện,
ưa thí mà thành tên.
(Sao) Cấp Cô Độc giả.
(鈔) 給孤獨者。
(Sao:
Cấp Cô Độc...)
“Cấp” có nghĩa là
bố thí.
(Sao) Ấu
nhi vô phụ viết Cô, lăo
nhi vô tử viết Độc.
(鈔) 幼而無父曰孤,老而無子曰獨。
(Sao: Trẻ thơ không cha gọi là Cô, già cả
không con là Độc).
Do đây có thể biết: Tu Đạt
Đa là một vị trưởng giả từ thiện,
không chỉ có địa vị rất cao trong quốc gia,
mà c̣n có tài sản rất lớn. Điều khó có nhất
là ông ta chuộng thiện, ưa thí, thường cứu giúp
những người già yếu, nghèo túng. V́ thế, thuở
ấy, mọi người gọi ông là trưởng giả
Cấp Cô Độc, chẳng gọi tên tục. Đấy
là tôn kính ông ta.
(Sao) Khổng ân châu cấp,
Kỳ chánh tiên quỳnh[5], phi bất phổ từ,
hữu hoăn cấp cố.
(鈔) 孔恩周急,岐政先煢,非不普慈,有緩急故。
(Sao: Châu cấp
có chọn lựa như Khổng Tử [chẳng giúp đỡ
kẻ giàu được giàu thêm], cai trị bằng ḷng nhân
như Văn Vương giúp người đơn côi trước,
chẳng phải là ḷng Từ không trọn khắp, nhưng
chuyện cứu tế có hoăn đăi hay gấp rút khác biệt).
Tuy
bố thí, cúng dường bằng tâm b́nh đẳng, nhưng
quan tâm kẻ cô độc (cô nhi và người già sống
trơ trọi một ḿnh) là những kẻ hết sức
đáng thương và kẻ thiếu thốn, do vậy,
trong lúc cứu tế, đă xếp họ vào mức ưu
tiên bậc nhất. Đây là những người hết sức
cần được cứu giúp. V́ thế, trưởng
giả Cấp Cô Độc cũng đặc biệt chiếu
cố những người đó.
(Sao) Chúng cư viết Viên giả.
(鈔) 眾居曰園者。
(Sao: Chỗ nhiều người
ở gọi là Viên).
Giải thích chữ Viên trong từ
ngữ Cấp Cô Độc Viên.
(Sao) Lâm ấm thanh u, học đạo
chi nhân, ưng thê chỉ cố.
(鈔) 林蔭清幽,學道之人,應棲止故。
(Sao: Nhiều cây cối xum xuê,
thanh vắng, là nơi đáng để cho người học
đạo ở).
Hoàn cảnh
cư trụ của “học
đạo chi nhân” (người học đạo) rất
nên “thanh u”, hoàn cảnh ấy sẽ tốt đẹp hơn
một chút. Từ xưa đến nay, tự viện, tùng
lâm đều được kiến tạo trong vùng núi rừng,
cách xa thành thị, cách biệt khá xa những nơi dân cư
ḥng tĩnh tâm dưỡng đạo, tu đạo.
(Sao)
Thí thụ măi viên giả, Niết Bàn Kinh thuyết: “Tu Đạt
trưởng giả, bổn Xá Vệ nhân, sơ vị tri Phật,
vị phinh phụ cố”.
(鈔) 施樹買園者,涅槃經說:須達長者,本舍衛人,初未知佛,為娉婦故。
(Sao: “Thí
cây, mua vườn”: Kinh Niết Bàn nói: “Trưởng giả
Tu Đạt vốn là người Xá Vệ, thoạt đầu
chưa biết Phật, v́ cưới dâu mà...)
Lúc ông ta
nạp sính lễ cưới dâu cho con trai.
(Sao)
Nhập Vương Xá thành, nhân San Đàn Na kiến Phật
sanh tín.
(鈔) 入王舍城,因珊檀那見佛生信。
(Sao: Vào thành Vương Xá, do
ông San Đàn Na chỉ dẫn, được gặp Phật,
sanh ḷng tin).
Trưởng
giả San Đàn Na ở thành Vương Xá (Rājagrha) là
thông gia (sui gia) của Tu Đạt Đa. Họ đang cúng
dường Thích Ca Mâu Ni Phật, thỉnh Thích Ca Mâu Ni Phật
đến giảng kinh. Do cơ duyên ấy, nên Tu Đạt
Đa được gặp Phật.
(Sao)
Thỉnh quy Xá Vệ, Phật lệnh Thân Tử tuyển
chúng cư xứ.
(鈔) 請歸舍衛,佛令身子選眾居處。
(Sao: Thỉnh Phật đến
Xá Vệ, đức Phật sai ngài Xá Lợi Phất chọn
lựa chỗ cư trụ cho chúng tăng).
Thuở ấy,
Thích Ca Mâu Ni Phật sai một vị thị giả, tức
là tôn giả Xá Lợi Phất, “Thân
Tử” là Xá Lợi Phất; sai ngài Xá Lợi Phất cùng
sang nước Xá Vệ với trưởng giả Tu Đạt
Đa để t́m hoàn cảnh cư trụ [thích hợp] bên
ấy, do số người trong tăng đoàn của đức
Phật khá đông, chẳng có hoàn cảnh cư trụ thích
hợp th́ đối với họ cũng sẽ rất khó
khăn.
(Sao)
Đắc Kỳ Đà viên, trưởng giả vấn
giá, Thái Tử hư đáp: “Kim bố địa măn, tức
đương mại dữ”. Trưởng giả bố
kim, Thái Tử cảm thán, toại dữ dịch địa,
địa sở hữu thụ, tịnh dĩ thí Phật,
nhân lập tinh xá. Trưởng giả, Thái Tử giao
tương phát tâm, thành thử mỹ sự, cố song tiêu
dă.
(鈔) 得祇陀園,長者問價,太子戲答:金布地滿,即當賣與。長者布金,太子感歎,遂與易地,地所有樹,并以施佛,因立精舍。長者太子交相發心,成此美事,故雙標也。
(Sao: T́m
được vườn cây của Kỳ Đà, trưởng
giả hỏi giá, Thái Tử nói đùa: “Đem vàng lót khắp
đất, ta sẽ bán cho ông”. Trưởng giả trải
vàng, Thái Tử cảm thán, bèn giao đất, những cây mọc
trên đất đều cúng dường Phật. Do vậy, lập tinh
xá. Trưởng giả và Thái Tử cùng nhau phát tâm thành tựu
chuyện tốt đẹp này, nên gọi nơi ấy bằng
tên của hai người).
Tôi nghĩ
chuyện này chẳng cần phải giảng, mọi người
đọc xong, nói chung đă hiểu rơ t́nh h́nh, bởi lẽ
lai lịch của Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên đă
có nhiều kinh chú giải rồi.
Đoạn
kế tiếp là nói xứng Lư. Đây là một điều
đặc thù của Liên Tŕ đại sư trong bộ Di Đà
Kinh Sớ Sao, đoạn kinh văn này tiêu quy tự tánh, cũng
là hết sức khó có!
(Sớ)
Nhược dụ đương kinh giáo lư, các hữu sở
biểu, như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm thích lệ.
(疏) 若喻當經教理,各有所表,如法華華嚴釋例。
(Sớ: Nếu dựa theo giáo
lư trong kinh này để nói, mỗi điều đều
có ư nghĩa biểu thị pháp, giống như cách giải
thích kinh Pháp Hoa và Hoa Nghiêm).
“Đương kinh” là kinh này,
nói theo lư luận giáo học trong kinh này, chỗ nào cũng đều
mang ư nghĩa biểu thị pháp, như kinh Pháp Hoa và kinh Hoa
Nghiêm, Trí Giả đại sư giải thích kinh Pháp Hoa, soạn
Pháp Hoa Kinh Văn Cú, Thanh Lương đại sư soạn
Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao, đều diễn giải rất
nhiều sự tướng trong ấy thành sự biểu
thị pháp, tức là những điều ấy biểu thị
ư nghĩa nào. Dùng thể lệ ấy để xem xét kinh này,
chúng ta có thể thấy rất nhiều nghĩa lư.
(Sao)
Dụ đương kinh giả, như Xá Vệ quốc,
quốc chi thắng, biểu thử Tịnh Độ pháp
môn, quảng đại hoằng viễn, pháp chi tối
thượng cố.
(鈔) 喻當經者,如舍衛國,國之勝,表此淨土法門,廣大宏遠,法之最上故。
(Sao: “Dựa theo kinh này để
nói”, như nước Xá Vệ là nước thù thắng
nhất trong các nước, biểu thị pháp môn Tịnh
Độ này rộng lớn, thênh thang, là pháp tối thượng).
Kinh này nói
đến thành Xá Vệ. Thuở ấy, thành Xá Vệ là một
nước lớn nhất tại Ấn Độ, đô
thị ấy là đô thị lớn nhất trong năm xứ
Ấn Độ, bất luận tŕnh độ văn hóa,
chính trị, giáo dục, hay kinh tế đều thuộc hạng
nhất. V́ thế, đức Phật giảng kinh ở nơi
đó, cũng nhằm biểu thị pháp môn này là pháp môn tối
thượng trong hết thảy các pháp, giống hệt như
nước Xá Vệ là thành thị lớn nhất, thù thắng
nhất trong năm xứ Ấn Độ thuở ấy,
dùng ư nghĩa này.
(Sao)
Tức Từ Ân ngôn, Vương Xá thành, thành chi thắng.
(鈔) 即慈恩言,王舍城,城之勝。
(Sao: Chính là như ngài Từ Ân
(Khuy Cơ đại sư) nói: “Thành Vương Xá là thành
thù thắng).
“Thắng” là thù thắng.
(Sao)
Thành thắng dư thành, biểu Pháp Hoa pháp thắng dư
pháp cố, hạ giai lệ thử.
(鈔) 城勝餘城,表法華法勝餘法故,下皆例此。
(Sao: Thành ấy thù thắng
hơn các thành khác, biểu thị giáo pháp Pháp Hoa thù thắng
hơn các pháp khác. Những điều sau đây đều
tuân theo lệ này).
Nói theo phương
diện biểu thị pháp, kinh Pháp Hoa được người
đời sau tôn xưng là “kinh
trung chi vương” (vua của các kinh), bảo là “ngũ thời cực xướng,
tối hậu cực đàm” (sự xướng suất
tột bậc trong năm thời, là sự bàn luận tột
bậc cuối cùng), là kinh điển Viên Giáo thuần nhất.
Sự thù thắng của nước Xá Vệ đă được
nói tới trong phần trên, giống như thành phố Nữu
Ước là thành phố lớn bậc nhất trong thế
giới hiện thời. Nữu Ước của Mỹ là
thành phố lớn bậc nhất trên toàn thế giới,
là trung tâm tài chánh của thế giới, cả thế giới
chẳng ai không biết đến nó. Trong quan niệm của
bọn họ, nước Xá Vệ thuở ấy tại Ấn
Độ cũng giống như một đô thị lớn
trên thế giới hiện thời, dùng chuyện này để
làm tỷ dụ.
(Sao)
Kỳ Thụ, thụ chi thắng.
(鈔) 祇樹,樹之勝。
(Sao: “Cây của Thái Tử Kỳ Đà”: Cây thù thắng).
Cây do Thái Tử Kỳ
Đà trồng, cây do người trồng mà khác biệt. Cây
cối cũng là loài hữu t́nh, nó có mối cảm ứng
với ḷng người. Chẳng hạn như thuở Huyền
Trang đại sư sang Ấn Độ thỉnh kinh, trước
cửa chùa có một cái cây, Ngài sờ vào thân cây bảo: “Ta
sang Tây Phương thỉnh kinh, ngươi hăy mọc dài về
phía Tây. Đến năm nào ta trở về, ngươi sẽ
mọc dài về phương Đông”. Cây ấy quả nhiên
nghe lời. Sau khi Ngài ra đi, cây mỗi năm đều
mọc dài về phía Tây, năm Ngài quay về, cây bèn chuyển
phương hướng, mọc dài về phía Đông. Người
trong chùa đều nói: “Chắc là Huyền Trang đại
sư trở về, cây đă mọc dài sang phía này rồi!”
Quả nhiên Ngài trở về trong năm ấy. Do vậy,
cây cối quả thật có mối cảm ứng với ḷng
người. Thái Tử Kỳ Đà chẳng phải là kẻ
tầm thường, cây do ông ta trồng sẽ đặc
biệt tươi tốt, thù thắng hơn cây do người
khác trồng.
(Sao)
Biểu Tịnh Độ ấm cái chúng sanh.
(鈔) 表淨土蔭蓋眾生。
(Sao: Biểu thị Tịnh
Độ che rợp chúng sanh).
Cây to rợp bóng, mát mẻ, mùa Hè, hết
thảy mọi người thích ngồi dưới gốc
cây. Con người hiện tại ít rảnh rỗi, người
thời cổ có nhiều thời gian rảnh rỗi; v́ thế,
đều muốn cây to. Cửa nhà nào cũng đều có
cây to, nhất là lúc mùa Hè, đấy là chỗ hóng mát rất
tiện. V́ thế, sánh ví “Tịnh
Độ che rợp chúng sanh”.
(Sao)
Vĩnh ly nhiệt năo cố.
(鈔) 永離熱惱故。
(Sao:
Do vĩnh viễn ĺa khỏi nóng bức).
Mười
phương thế giới đều là uế nhiều, tịnh ít. Nói cách khác, phiền năo rất
nhiều. Chỉ riêng thế giới Tây Phương thanh
lương, tự tại. Chọn lấy Tịnh Độ
trong các cơi Phật mười phương, giống như
đặc biệt chọn nơi rợp bóng, mát mẻ, có
thể đoạn phiền năo của hết thảy chúng
sanh. Đấy là ư nghĩa được biểu thị
bởi cây.
(Sao)
Cấp Cô Viên, viên chi thắng.
(鈔) 給孤園,園之勝。
(Sao: Vườn của ông Cấp
Cô Độc là vườn thù thắng).
“Viên” là thụ dụng tự tại. Ngôi viên lâm của ông
ta rất lớn. Biệt thự của Thái Tử thuở
ấy có kiến trúc cũng vô cùng xinh đẹp. Sống
trong viên lâm ấy sướng ḷng khoái mắt!
(Sao)
Biểu Tịnh Độ an ổn chúng sanh, hằng thọ
chư lạc cố.
(鈔) 表淨土安穩眾生,恆受諸樂故。
(Sao: Biểu thị Tịnh
Độ an ổn chúng sanh, luôn hưởng các niềm
vui).
Chữ “viên” biểu thị ư nghĩa
này!
(Sao)
Kỳ Đà Thái Tử, chủng chi thắng.
(鈔) 祇陀太子,種之勝。
(Sao:
Thái Tử Kỳ Đà ḍng dơi thù thắng).
Trong bốn
chủng tánh tại Ấn Độ, Thái Tử thuộc chủng
tánh Sát Đế Lợi (Kshatriyas), là vương tộc.
(Sao)
Biểu Tịnh Độ sanh giả, tất cánh thành Phật,
thiệu long Phật chủng cố.
(鈔) 表淨土生者,畢竟成佛,紹隆佛種故。
(Sao: Biểu thị sanh về
Tịnh Độ sẽ rốt ráo thành Phật, tiếp nối
hưng thịnh ḍng giống nhà Phật).
Đều
mang ư nghĩa biểu thị pháp, đều nói rất viên
măn. Phàm những ai văng sanh Tây Phương Tịnh Độ,
có thể nói là “đều có thể gọi là Pháp Vương
Tử”, v́ sao? Người ấy trong tương lai nhất
định thành Phật, nối tiếp huệ mạng Phật,
rộng độ chúng sanh, giống như Thái Tử trong tương
lai sẽ kế thừa vương vị, thống trị
quốc gia.
(Sao)
Tu Đạt trưởng giả, nhân chi thắng.
(鈔) 須達長者,人之勝。
(Sao:
Trưởng giả Tu Đạt là người thù thắng).
Đây là bầy tôi, là người
thù thắng.
(Sao)
Biểu Tịnh Độ sanh giả, nhập Chánh Định
Tụ, câu thượng thiện nhân cố.
(鈔) 表淨土生者,入正定聚,俱上善人故。
(Sao: Biểu thị người
sanh về Tịnh Độ, nhập Chánh Định Tụ
đều là thượng thiện nhân).
Phàm người
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới đều
là thượng thiện nhân. V́ trưởng giả Tu Đạt
Đa thuở ấy đích xác trọn đủ trí huệ
và đức năng, lại là người vô cùng từ bi.
Nghe Phật pháp, thật sự phát tâm, có thể bỏ ḿnh v́
người, thỉnh Phật đến nước Xá Vệ
hoằng pháp lợi sanh. Ông ta thỉnh Phật đúng là chẳng
tiếc giá nào, muốn cầu Phật sang nơi ấy giảng
kinh, thuyết pháp. V́ thế, thật sự đáng gọi
là thượng thiện nhân.
(Sao)
Như Hoa Nghiêm chủng chủng biểu pháp, dĩ hiển
nhất tâm, giai thử ư dă.
(鈔) 如華嚴種種表法,以顯一心,皆此意也。
(Sao: Như kinh Hoa Nghiêm có các thứ
biểu thị pháp nhằm chỉ rơ nhất tâm, đều
nhằm ư này vậy).
Những
bộ kinh lớn như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa hoàn toàn giảng những
nghĩa thú biểu thị pháp, chúng ta đọc kinh Phật
phải chú ư điều này!
(Sớ)
Xứng Lư, tắc tự tánh đỗng triệt thập
phương, thị A Nan văn Phật nghĩa. Tự tánh
bất ly đương xứ, thị Phật tại Kỳ
Viên nghĩa.
(疏) 稱理,則自性洞徹十方,是阿難聞佛義。自性不離當處,是佛在祇園義。
(Sớ: Xứng Lư th́ tự
tánh thấu suốt rỗng rang mười phương là
ư nghĩa A Nan nghe đức Phật thuyết pháp. Tự
tánh chẳng rời khỏi ngay chỗ ấy là ư nghĩa Phật
ngự tại Kỳ Viên).
Đây là
hoàn toàn nói xứng tánh. “Tự
tánh đỗng triệt thập phương” có nghĩa
là: [Nếu hiểu] “A Nan
văn Phật” [theo ư nghĩa sự tướng], vậy th́ chúng sanh đều
không nghe được, có ư nghĩa như vậy. Nếu
nói Phật ngự tại tinh xá Kỳ Viên, bản thân chúng
ta là phàm phu, đương nhiên chẳng ở tinh xá Kỳ
Viên, cho nên có phân biệt, có cách ngăn, chướng ngại.
Nếu thật sự hiểu duy tâm, hăy nên quán hết thảy
các pháp, chẳng có một pháp nào chẳng phải là tâm hiện,
thức biến. Tâm thức biến hết thảy pháp giới,
thử hỏi Phật có ở ngoài tâm chúng ta ư? Tinh xá Kỳ
Viên lại ở ngoài tâm chúng ta ư? Nh́n vào tâm tánh, chẳng
có một pháp nào ở ngoài tâm tánh, cho nên mới nói “đỗng triệt thập
phương” (thấu suốt rỗng rang mười
phương), đó mới là ư nghĩa chân thật của “A Nan văn Phật”. “Tự tánh bất ly
đương xứ”, Pháp Tánh trạm nhiên, chẳng dời,
chẳng biến, đó là ư nghĩa thật sự của “Phật trụ tại”.
(Sao)
Tâm văn đỗng thập phương, tắc Khánh Hỷ
hiện kim phương kết tập, chân Phật ốc
lư tọa, tắc Thích Ca nguyên bất trụ Tây Càn.
(鈔) 心聞洞十方,則慶喜現今方結集,真佛屋裏坐,則釋迦原不住西乾。
(Sao: Tâm nghe thấu suốt
mười phương, nên nay ngài A Nan thị hiện kết
tập [kinh điển], vị Phật thật sự ngồi
trong nhà, nên Phật Thích Ca vốn chẳng trụ ở Tây
Càn).
“Tây Càn” là Ấn Độ. Có ư
nghĩa là A Nan và Thích Ca Mâu Ni Phật trọn chẳng rời
khỏi chúng ta, đấy là như trong chương Quán Thế
Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm có
nói: “Tâm văn đỗng thập
phương, sanh ư đại nhân lực” (tâm nghe thông
suốt mười phương, là do sức của cái nhân
to lớn sanh ra), đó là kinh văn trong kinh Lăng Nghiêm. Cổ
nhân có nói: “Kim Phật bất
độ lô, mộc Phật bất độ hỏa, nê Phật
bất độ thủy, chân Phật ốc lư tọa”
(Phật bằng vàng chẳng bén mảng đến ḷ lửa,
Phật bằng gỗ chẳng dính đến lửa, Phật
đắp bằng đất chẳng dính đến nước,
vị Phật thật sự ngồi trong nhà). “Chân Phật” là nói tới Chân
Như bổn tánh. Tượng Phật đúc bằng kim loại
chẳng bén mảng đến bên ḷ, v́ hễ bị lửa
trong ḷ luyện thép nung đốt bèn chảy tan, chẳng c̣n
nữa. Tượng Phật khắc bằng gỗ chẳng
thể thiêu, hễ thiêu sẽ không c̣n ǵ. Tượng Phật
bằng đất nặn chẳng thể bỏ vào nước,
bỏ vào nước sẽ ră nát. Vị Phật thật ngồi
trong nhà, “vị Phật thật” là nói tới tự tánh. Đấy
là nói đến ư nghĩa “tâm
văn đỗng thập phương”. Tiếp theo đó
là hai câu trong Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương:
(Sao)
Phản văn tự văn, phản Phật, tự Phật.
(鈔) 反聞自聞,反佛自佛。
(Sao: Xoay trở lại cái Nghe
để nghe chính ḿnh, xoay trở lại quán sát Phật
để nhận biết vị Phật của chính ḿnh).
Từ “phản văn, văn tự tự
tánh” (xoay trở lại cái Nghe để nghe tự tánh),
chúng ta thấu hiểu “phản
Phật tự Phật”. “Phản văn tự tánh” là bí
quyết tu hành của Quán Thế Âm Bồ Tát, do chính Ngài tu
hành. “Phản văn, văn tự
tánh, tánh thành vô thượng đạo”, chính Ngài đă tự
tŕnh bày Ngài từ phàm phu đă tu thành Quán Thế Âm Bồ
Tát, tu thành Đẳng Giác Bồ Tát theo cách như vậy. Trong
kinh đă nói rất rơ ràng, thầy của Ngài là Quán Thế
Âm Phật, đó là cổ Phật, Ngài học với vị
Phật ấy. Sau đấy, học thành, cũng có danh hiệu
là Quán Thế Âm, chúng ta gọi Ngài là Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nói đơn giản, phương pháp của Ngài là do tâm của
những kẻ b́nh phàm chúng ta thường rong ruổi bên
ngoài, c̣n Ngài tu Nhĩ Căn Viên Thông. Phàm phu nghe âm thanh bên
ngoài, tâm liền rong ruổi bên ngoài, duyên theo âm thanh, hễ
dễ nghe bèn nghe nhiều hơn một chặp, tâm đă rong
ruổi theo bên ngoài mất rồi. Phương pháp của Bồ
Tát là chẳng rong ruổi bên ngoài, mà dơi vào trong, theo đuổi
bên trong. Rong ruổi bên trong chẳng phải là nghe ngược
lại hay sao? Hay là quay đầu lại ư? Chẳng phải!
[Nói] trong và ngoài là [nói đến] Tánh và Tướng. Âm thanh
phát ra là Tướng, nhưng Tướng nhất định
có Tánh. Ngài nghe âm thanh bên ngoài chẳng giống như chúng
ta, chúng ta nghe âm thanh, chẳng nghe được Tánh của
âm thanh. Chúng ta chỉ chấp vào Tướng âm thanh, chẳng
biết đến Tánh của âm thanh. Quán Thế Âm Bồ
Tát nghe âm thanh bên ngoài, chẳng chấp Tướng của âm
thanh, mà nghe thấy Tánh của âm thanh, Ngài kiến tánh. V́ thế,
nói “phản văn, văn tự
tánh”. Ngài nghe âm thanh trái ngược chúng ta. Phàm phu chúng ta
nghe âm thanh bèn chấp tướng, người ta chẳng
chấp tướng, mà nghe được tánh. Do vậy, Ngài
có thể kiến tánh, “tánh thành
vô thượng đạo”.
Nay ở
đây, đại sư muốn chúng ta hăy dùng theo cách ấy.
Chúng ta “phản Phật” tức
là thấy vị Phật của chính ḿnh, dùng cách thức ấy.
Phật là sắc tướng, chúng ta dùng con mắt để
thấy th́ cái thấy được là sắc tướng.
Nếu chúng ta có thể xoay lại thấy sắc tánh th́ đó
là đúng, quư vị sẽ thấy Phật. Lục căn của
chư Phật, Bồ Tát tiếp xúc lục trần, các Ngài
chẳng gọi chúng là lục trần. Chúng ta mắt đối
trước Sắc Trần, do chấp tướng, chúng liền
biến thành Sắc Trần, tai đối trước Thanh
Trần, lục căn tiếp xúc lục trần, liền biến
thành phàm phu, biến thành ô nhiễm. Mắt của chư Phật,
Bồ Tát đối trước Sắc sẽ là Sắc Tánh,
mắt các Ngài không gọi là Nhăn Căn, mà thay đổi danh
tự, gọi là “Kiến tánh” (tánh Thấy). Tánh Thấy sẽ
thấy Sắc Tánh. Nơi Nhĩ Căn, tánh Nghe nghe Thanh Tánh,
đó gọi là “minh tâm kiến
tánh, kiến tánh thành Phật”. Quán Thế Âm Bồ Tát dùng
tánh Nghe để nghe Thanh Tánh. Ở đây, đại
sư dạy chúng ta, chúng ta noi theo lệ ấy, vận dụng
công thức ấy, dùng tánh Thấy để thấy Sắc
Tánh là “phản Phật tự Phật”.
Quư vị có thể quay đầu như vậy, trong Phật
môn thường nói “quay đầu
là bờ”. Quay đầu là quay theo kiểu như vậy!
(Sao)
Đương tri Kỳ Viên nhất hội, nghiễm nhiên
vị tán, khởi độc Linh Sơn.
(鈔) 當知祇園一會,儼然未散,豈獨靈山。
(Sao: Hăy nên biết: Hội Kỳ
Viên vẫn nghiễm nhiên chưa tan, há riêng ḿnh hội Linh
Sơn!)
“Nghiễm nhiên vị tán” là nói Trí Giả đại sư niệm kinh Pháp Hoa tới
phẩm Dược Vương Bổn Sự. Nói thật
ra, trong kinh Pháp Hoa, Thích Ca Mâu Ni Phật đă dạy chúng ta
hăy văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới[6], đoạn kinh văn ấy chính là phẩm
Dược Vương Bổn Sự. Đại sư niệm
tới phẩm này, nhập Định, tự thấy ḿnh đến
núi Linh Thứu, đức Phật vẫn c̣n giảng kinh Pháp
Hoa nơi ấy, Ngài ngồi nghe một buổi, sau khi xuất
Định, bảo người khác: “Một hội Linh Sơn, nay vẫn c̣n chưa giải
tán”. V́ thế, nghiễm nhiên chưa tan! Nói thật ra, về
sau, tuy Trí Giả đại sư chuyên hoằng dương
Pháp Hoa, bản thân Ngài tu hành là chuyên tu Tịnh Độ. Ngài
tu theo bộ kinh nào? Trong ba kinh, Ngài nương theo Quán Vô Lượng
Thọ Phật Kinh để tu hành. Lúc sắp văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, Ngài tự nói Ngài
là trung bối văng sanh. Đến phần sau, chúng ta xem tới
phép Quán thứ mười sáu, quư vị sẽ thấy trong
mười sáu phép Quán đă giảng ba phẩm thượng,
ba phẩm trung, ba phẩm hạ, Ngài là trung bối văng sanh.
Ở đây,
Liên Tŕ đại sư bảo chúng ta: Hội Kỳ Viên này,
tức pháp hội Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh A Di
Đà này cũng chưa tan; cũng chẳng phải là chỉ
có hội Linh Sơn chưa tan, hội nào cũng đều
chưa tan. Chỉ cần quư vị có công phu ấy, có
năng lực ấy, đều có thể đến tham dự
giống như Trí Giả đại sư. Trong sáu thứ thành
tựu, năm thứ thành tựu trong phần trước
đă nói xong. Tiếp theo đây là Chúng Thành Tựu:
(Kinh)
Dữ đại tỳ-kheo tăng, thiên nhị bách ngũ
thập nhân câu.
(經) 與大比丘僧。千二百五十人俱。
(Kinh: Cùng với các đại
tỳ-kheo tăng, một ngàn hai trăm năm mươi
người).
Đấy
là kinh văn.
(Sớ)
Tự thử nhi hạ, chí chư thiên đại chúng câu.
(疏) 自此而下,至諸天大眾俱。
(Sớ: Tự đây trở
xuống, cho đến đoạn “chư thiên đại
chúng cùng tham dự”).
Đoạn
văn này thuộc về Chúng Thành Tựu.
(Sớ)
Dữ giả cộng nghĩa.
(疏) 與者共義。
(Sớ:
“Dữ” có nghĩa là “cùng”).
Là Thích Ca
Mâu Ni Phật và một ngàn hai trăm năm mươi
người, trên thực tế, c̣n có năm người, tức
một ngàn hai trăm năm mươi lăm người,
bỏ bớt số lẻ, chỉ nói số tṛn. Đức
Phật và những người ấy ở cùng một chỗ.
Những người ấy là Thường Tùy Chúng của đức
Phật. Nói cách khác, đức Phật đi đến
đâu, họ theo đến đấy, chưa hề rời
khỏi Phật. V́ thế, muốn thỉnh đức Phật
giảng kinh, thuyết pháp cũng chẳng dễ dàng, chẳng
phải thỉnh một ḿnh đức Phật, mà là thỉnh
nhiều người như thế, tiếp đăi cũng chẳng
phải là chuyện dễ. Tiếp theo đây là giải thích
chữ “đại tỳ-kheo”.
(Sớ)
Đại giả, giản tiểu.
(疏) 大者揀小。
(Sớ:
“Đại”, nhằm phân biệt chẳng phải là Tiểu).
“Đại” là Đại Thừa,
[nói Đại] nhằm phân biệt chẳng phải là Tiểu
Thừa. V́ b́nh thường chúng ta nói tỳ-kheo đều
là Tiểu Thừa, Tiểu Thừa là Thanh Văn Thừa. Đây
là nói rơ các Ngài tuy mang h́nh dáng tỳ-kheo, nhưng trên thực
tế, chẳng phải là tỳ-kheo Tiểu Thừa, có thể
nói họ là các tỳ-kheo hồi Tiểu hướng Đại.
Nói kiểu đó là nói rất miễn cưỡng, thật
ra, các Ngài đều là đại Bồ Tát, đại Bồ
Tát thị hiện thân phận Thanh Văn.
(Sớ)
Cụ hữu tam nghĩa.
(疏) 具有三義。
(Sớ:
Trọn đủ ba ư nghĩa).
“Đại” gồm ba ư nghĩa.
(Sớ)
Vị đại, đa, thắng.
(疏) 謂大、多、勝。
(Sớ:
Là lớn, nhiều, thù thắng).
Trọn đủ
ba ư nghĩa này, cho nên mới nói là “Đại”. “Đại”
là nói các Ngài đức đại, trí huệ đại; “Đa” là nói các Ngài lắm tài
nghệ, đa tài, đa nghệ, những vị ấy đều
là như vậy. “Thắng”
là siêu thắng; trong thuở ấy, những vị Tiểu
Thừa hoặc là chín mươi sáu loại ngoại đạo
đều chẳng bằng các Ngài. V́ thế, các Ngài trỗi
vượt hết thảy mọi người. Do đủ
ba ư nghĩa này nên gọi là “Đại”.
(Sớ)
Dị dư tỳ-kheo cố.
(疏) 異餘比丘故。
(Sớ:
Do chẳng giống với các tỳ-kheo khác).
“Dư tỳ-kheo” là Tiểu Thừa,
họ thua các Ngài rất xa!
(Sớ)
Phật Địa diệc cụ tam nghĩa.
(疏) 佛地亦具三義。
(Sớ:
Phật Địa Luận cũng nói [Đại] có ba
nghĩa).
“Phật Địa” là Phật
Địa Luận. Chữ Đại cũng có ba ư nghĩa
này.
(Sớ)
Tỳ-kheo, Phạn ngữ.
(疏) 比丘,梵語。
(Sớ:
Tỳ-kheo (Bhiksu) là tiếng Phạn).
Đây là
dịch âm tiếng Ấn Độ.
(Sớ)
Thử vân hữu tam.
(疏) 此云有三。
(Sớ:
[Dịch sang tiếng] cơi này th́ có ba...)
Trong từ
ngữ này chứa đựng ba ư nghĩa; cho nên, nếu chúng
ta dịch ra, sẽ không thể dịch trọn vẹn. Nó
có rất nhiều ư nghĩa, trong văn tự Trung Quốc
không được t́m được chữ thích đáng để
phiên dịch, chỉ đành dịch âm rồi giải thích.
(Sớ)
Nhất, khất sĩ.
(疏) 一、乞士。
(Sớ:
Một là khất sĩ).
“Khất”: Phương thức
sống thuở ấy là khất thực, “sĩ” là tiếng để gọi chung người
có học vấn lẫn đạo đức. Mỗi ngày ra
ngoài thác bát (khất thực), người khất thực ấy
chẳng phải là kẻ ăn mày thông thường, mà là một
người đi xin ăn, nhưng có học vấn, có đạo
đức, cho nên dùng hai chữ này (Khất Sĩ) để
dịch ư nghĩa thứ nhất. “Khất” bao gồm hai thứ ư nghĩa, thứ nhất
là “khất thực dĩ tư
sắc thân”, nghĩa là [xin ăn] để nuôi dưỡng
nhục thân, thứ hai là cầu pháp nơi đức Phật,
“khất pháp dĩ tư huệ
mạng”, tức là mỗi ngày hướng về Phật
cầu xin đức Phật giảng pháp nhằm nuôi nấng
huệ mạng của chúng ta.
(Sớ)
Nhị, bố ma.
(疏) 二、怖魔。
(Sớ:
Hai là làm cho ma sợ hăi).
“Ma” là ma vương. Ma
vương thống trị tam giới. Trong tam giới lục
đạo cũng có một vị đại vương
thống trị khắp tam giới lục đạo. Nếu
lục đạo chúng sanh tu hành vượt thoát tam giới,
trong tâm Ma cũng rất khổ, v́ sao? Người thuộc
quyền thống trị của hắn bỏ đi, số
người sẽ dần dần giảm ít, hắn lo lắng
v́ chuyện này. Nhưng quư vị thật sự đạt
được năng lực vượt thoát tam giới,
hắn mới ưu lự, mới cảm thấy kinh hoảng.
Nếu quư vị chẳng có năng lực, tuy xuất gia
tu hành, hắn vẫn cười cợt, v́ sao? Quư vị chẳng
thoát được, không thoát khỏi ma chưởng của
hắn! Ma chưởng của hắn là tam giới lục
đạo, quư vị không có cách nào vượt thoát! Thật
sự phát tâm tu hành, chứng A La Hán quả sẽ vượt
thoát. V́ thế, “bố ma” là
đạt tới A La Hán, ma vương mới lo lắng,
v́ sao? Quư vị đă có năng lực vượt thoát.
(Sớ)
Tam, phá ác.
(疏) 三、破惡。
(Sớ:
Ba là phá ác).
Chữ “ác” chỉ Kiến Tư phiền
năo, A La Hán đoạn sạch Kiến Tư phiền năo, nên
gọi là “phá ác”.
(Sớ)
Tăng giả, Phạn ngữ, cụ vân Tăng Già. Bất
ngôn Già giả, tỉnh văn dă.
(疏) 僧者,梵語,具云僧伽。不言伽者,省文也。
(Sớ: Tăng là tiếng Phạn, nói đầy
đủ là Tăng Già. Không nói chữ Già là v́ tỉnh lược).
Người
Hoa thích tỉnh lược.
(Sớ)
Thử vân Chúng Ḥa Hợp.
(疏) 此云眾和合。
(Sớ:
Cơi này dịch là Chúng Ḥa Hợp).
“Tăng Già” (Sangha) dịch sang
nghĩa tiếng Hán là Ḥa Hợp Chúng. Trong “ḥa hợp” có Lư và Sự gồm bảy điều,
Lư là cùng mang ư nghĩa “cùng chứng
vô vi, đồng chứng Niết Bàn”. Đó là nói theo Lư.
Trong pháp Đại Thừa, sẽ là cùng chứng Vô Thượng
Bồ Đề, hoặc như chúng ta nói là “đồng chứng
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”,
có cùng một mục tiêu. Nói theo Sự th́ gồm sáu điều,
chúng ta gọi là Lục Ḥa Kính. Lục Ḥa Kính là nói theo mặt
Sự, “kiến ḥa đồng
giải, giới ḥa đồng tu, thân ḥa đồng trụ,
khẩu ḥa vô tránh, ư ḥa đồng duyệt, lợi ḥa
đồng quân”, phải tuân thủ sáu điều này th́ mới là được
coi là một Tăng đoàn. Một Tăng đoàn phải
từ bốn người trở lên. Từ bốn người
trở lên ở cùng một chỗ, cùng nhau tu hành, tuân thủ
bảy điều kiện ấy, tức là bảy giới
điều th́ đoàn thể đó gọi là Tăng
đoàn. Do vậy, Tăng đoàn tối thiểu là bốn
người, c̣n nhiều hơn th́ không hạn chế, tối
thiểu phải là bốn người! Nếu tu Tịnh
Độ, trong pháp môn này, xét theo Lư là có cùng một kỳ vọng
“cùng sanh về thế giới
Tây Phương”, có chung một nguyện vọng ấy,
c̣n trên mặt Sự th́ vẫn là sáu điều ấy.
Trong kiến
ḥa đồng giải, mấy hôm nay chúng tôi đọc kinh
Quán Vô Lượng Thọ, có cảm xúc thật sâu. Ngày nay,
chúng ta kiến giải chẳng ḥa hợp, chẳng thể
có cùng kiến giải, nguyên nhân chủ yếu là v́ chẳng
“đọc tụng Đại
Thừa”. Tịnh nghiệp tam phước trong Quán Kinh là
cơ bản, không chỉ là cơ bản để tu Tây
Phương Tịnh Độ, mà có thể nói căn bản
của sự tu học hết thảy Phật pháp, quyết
định chẳng thể vi phạm. Tịnh nghiệp
tam phước gồm ba điều, tổng cộng
mười một câu; điều cuối cùng là “phát Bồ Đề tâm”. Nếu
nói chuyện “phát Bồ Đề tâm” với người tu
Tịnh Độ, Ngẫu Ích đại sư đă giải
thích vô cùng hay, trong Di Đà Kinh Yếu Giải, Ngài đă nói:
“Chân tâm muốn phát tâm văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới th́ tâm ấy là
Vô Thượng Bồ Đề tâm”, cách giải thích này
rất đơn giản, rất dễ hiểu! “Tin sâu nhân quả”. Kiến ḥa
đồng giải chẳng thể thành lập là v́ chúng ta
coi nhẹ chuyện “đọc
tụng Đại Thừa”, tức là mỗi ngày phải
niệm kinh, chẳng thể không niệm kinh!
Tu Tịnh
Độ, niệm kinh ǵ? Niệm kinh Di Đà tốt lắm,
nhưng kinh Di Đà mỗi ngày niệm một lần không
đủ, v́ sao? Quá ngắn, chẳng thể nhiếp tâm. Nói
thật ra, kinh Di Đà cũng quá đơn giản, tuy niệm,
cũng chẳng hiểu ư nghĩa trong ấy. Nếu chúng
ta niệm kinh Di Đà, tôi cảm thấy hay nhất là niệm
Di Đà Kinh Yếu Giải, đọc kinh cùng với lời
giải thích. Yếu Giải do Ngẫu Ích đại sư
trước tác, Ấn Quang đại sư tán thán tác phẩm
ấy: “Dẫu cổ Phật
tái lai chú giải kinh Di Đà cũng không thể hay hơn
được!” Quư vị nghĩ xem: Tán thán đến
tột bậc, v́ thế, tôi cảm thấy đọc Yếu
Giải tốt lắm! Nếu thời gian nhiều hơn,
tốt nhất là đọc Yếu Giải Giảng Nghĩa,
hoặc đọc Di Đà Kinh Sớ Sao, đọc cả
lời Sớ lẫn lời Sao. Nay mọi người chúng
ta thấy một cuốn sách to này có thể niệm được!
Mỗi chữ, mỗi câu thảy đều chẳng bỏ
sót, thảy đều niệm hết, niệm một quyển
như vậy, đại khái, quư vị niệm một tuần
sẽ có thể niệm hết. Sau khi niệm xong, lại
niệm từ đầu, mỗi ngày đều phải niệm.
Tối thiểu mỗi ngày niệm một giờ, quư vị
niệm kinh này từ đầu đến cuối, sau khi
niệm xong lại niệm từ đầu. Phương
pháp niệm này là mọi người cùng niệm, chẳng
phải là cá nhân niệm cho mỗi cá nhân, mọi người
cùng nhau niệm sẽ có thể đạt được
hiệu quả kiến ḥa đồng giải.
Nếu
có thể nghiên cứu, thảo luận th́ càng tốt. Phương
pháp niệm giống như giảng kinh, có một người
niệm trên giảng đài, mọi người ở dưới
nghe, niệm một giờ được bao nhiêu trang. Sau
khi niệm xong, có chút thời gian, hoặc là nửa giờ
hay một giờ, mọi người nghiên cứu, thảo
luận. Nói theo cách bây giờ là “thành lập nhận thức
chung”, kiến ḥa đồng giải trong [sáu thứ] ḥa hợp
chính là kiến lập nhận thức chung. Mọi người
chúng ta có nhận thức chung, ở cùng một chỗ sẽ
không nẩy sanh ư kiến tranh căi. Điều này vô cùng trọng
yếu, ngàn vạn phần chớ nên coi nhẹ đọc
tụng Đại Thừa! Đối với bản in này,
phía trước là Sớ Sao, phần giữa là Yếu Giải,
cuối cùng là Thông Tán Sớ, có tất cả ba thứ chú
giải được in chung lại.
(Sớ)
Thiên nhị bách ngũ thập nhân giả.
(疏) 千二百五十人者。
(Sớ:
“Một ngàn hai trăm năm mươi người”).
Nói rơ những
vị ấy do đâu mà có.
(Sớ)
Tam Ca Diếp, Mục Liên, Xá Lợi, ngũ nhân đệ tử,
cộng hợp thành cố.
(疏) 三迦葉,目連,舍利,五人弟子,共合成故。
(Sớ: Đệ tử của
năm vị là ba anh em Ca Diếp, Mục Liên, Xá Lợi cùng
hợp thành [con số một hai trăm năm mươi
người]).
Đây là
năm vị lănh tụ, các vị ấy và học tṛ của
các Ngài cùng hợp thành con số trên đây.
(Sớ)
Thượng minh loại thuộc Thanh Văn, hạ minh số
hữu nhược can dă. Câu giả, hợp thượng Cộng
nghĩa.
(疏) 上明類屬聲聞,下明數有若干也。俱者,合上共義。
(Sớ: Trước là nói tới thính chúng thuộc
hàng Thanh Văn, sau là nói họ gồm có bao nhiêu người.
Chữ
“câu” tương hợp với ư nghĩa “cùng nhau” [của
chữ Dữ ở đầu câu]).
Đây là
lời giải thích đơn giản trong phần Sớ.
(Sao)
Cộng nghĩa giả, Thiên Thai dĩ thất nhất thích
Cộng.
(鈔) 共義者,天台以七一釋共。
(Sao: Ngài Thiên Thai dùng bảy chữ
Nhất để giải thích ư nghĩa chữ Cộng).
Chữ “cộng” này cũng chẳng
thể tùy tiện dùng. Thiên Thai đại sư đă nói bảy
điều kiện, bảy điều kiện ấy thảy
đều trọn đủ th́ gọi là Cộng. Bảy điều
kiện nào vậy? Tiếp theo đây bèn nói rất rơ ràng.
(Sao) Vị xứ nhất.
(鈔) 謂處一。
(Sao: Chính là ở cùng
một chỗ).
Các Ngài ở
cùng một chỗ, cùng trụ một nơi.
(Sao)
Thời nhất.
(鈔) 時一。
(Sao: Cùng một thời).
Cùng một
thời gian. Cùng một nơi chốn, nhưng thời gian
không đồng nhất, chẳng thể gọi là “cộng”.
(Sao)
Tâm nhất.
(鈔) 心一。
(Sao:
Cùng một tâm).
Trong Lư Sự ḥa hợp
như đă nói trong phần trước, Lư ḥa và kiến ḥa
đều là tâm, “tâm nhất”
(cùng một tâm).
(Sao) Giới
nhất, đạo nhất, kiến nhất.
(鈔) 戒一,道一,見一。
(Sao:
Cùng một giới, một đạo, một kiến giải).
“Kiến” là kiến giải.
(Sao)
Giải thoát nhất.
(鈔) 解脫一。
(Sao:
Cùng một giải thoát).
“Giải thoát” là tự tại.
Mỗi cá nhân đều trụ rất vui sướng, rất
tự tại. Phải có đủ bảy điều kiện
này, lúc đó mới có thể gọi “cộng trụ”, lúc đó mới là một Tăng
đoàn ḥa hợp. Bảy ư nghĩa này và tinh thần Lục
Ḥa Kính hoàn toàn tương đồng. Do vậy, cũng biết:
Thuở ấy, Tăng đoàn hơn một ngàn hai trăm người
của Thích Ca Mâu Ni Phật thật sự là một đại
Tăng đoàn ḥa hợp.
(Sao)
Phật dữ đại chúng cộng cư Kỳ Viên, thị
kinh chánh ư.
(鈔) 佛與大眾共居祇園,是經正意。
(Sao: Phật và đại chúng
cùng ở Kỳ Viên là ư nghĩa chánh yếu trong kinh này).
Ư nghĩa thật sự
của kinh này là nói đến điều ấy. Khi đó,
đức Phật và đại chúng đều ở tại
Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên.
(Sao)
Quảng chi như thượng.
(鈔) 廣之如上。
(Sao:
Nói rộng ra th́ như trên).
Phía
trước đă nói.
(Sao)
Giản tiểu giả.
(鈔) 揀小者。
(Sao:
Phân biệt chẳng phải là Tiểu).
“Giản” là phân biệt, “Tiểu” là Tiểu Thừa, ư
nói những vị ấy chẳng phải là tỳ-kheo Tiểu
Thừa.
(Sao)
Minh phi sơ tâm tỳ-kheo.
(鈔) 明非初心比丘。
(Sao:
Nói rơ những vị ấy chẳng phải là tỳ-kheo
sơ tâm).
Chẳng
phải là tỳ-kheo Tiểu Thừa sơ phát tâm.
(Sao)
Tức hạ sở xưng trưởng lăo đẳng thị
dă.
(鈔) 即下所稱長老等是也。
(Sao: Tức là những vị
được gọi là các trưởng lăo trong phần
dưới đây).
Trong phần
kinh văn dưới đây sẽ liệt kê danh xưng của
các vị thượng thủ đại đức, nêu tên
mười sáu vị. Mười sáu vị ấy đều
được gọi là trưởng lăo hay tôn giả.
(Sao)
Đại đa thắng giả, thiên vương đại
nhân, sở cộng kính ngưỡng, phi tiểu đức
dă, danh Đại.
(鈔) 大多勝者,天王大人,所共敬仰,非小德也,名大。
(Sao: “Đại, đa, thắng”:
Trời, quốc vương, đại nhân đều cùng
kính ngưỡng, chẳng phải là đức nhỏ
nhoi, nên gọi là Đại).
Đây là
nói đạo đức lẫn trí huệ của các Ngài đều
to lớn. Do vậy, khi ấy, quốc vương, đại
thần đều tôn kính. Các Ngài chẳng phải là Tiểu
Thừa, mà là bậc đại đức, đức to lớn.
(Sao)
Nội điển, ngoại tịch, vô bất bác thông, phi
quả giải dă, danh Đa.
(鈔) 內典外籍,無不博通,非寡解也,名多。
(Sao: Kinh điển nhà Phật,
sách vở thế gian, không ǵ chẳng thông suốt rộng
răi, chẳng phải là hiểu biết hạn hẹp, nên gọi
là Đa).
Học rộng,
nghe nhiều, lắm tài nghệ, đó là ư nghĩa của
chữ Đa.
(Sao)
Siêu xuất cửu thập lục chủng chi thượng,
phi liệt khí dă, danh Thắng.
(鈔) 超出九十六種之上,非劣器也,名勝。
(Sao: Vượt trỗi chín
mươi sáu thứ [ngoại đạo], chẳng phải
là căn cơ kém hèn, nên gọi là Thắng).
“Thắng” là thù thắng. Thuở
ấy, Ấn Độ có chín mươi sáu thứ ngoại
đạo, những ngoại đạo ấy cũng
đều rất có học vấn, cũng có những người
tu tŕ rất khá, họ được gọi là tôn giáo gia,
triết học gia, các vị đại tỳ-kheo đều
vượt trội họ.
(Sao) Giai Tiểu
Thừa trung cực dă.
(鈔) 皆小乘中極也。
(Sao: Đều là tột đỉnh trong hàng Tiểu
Thừa).
H́nh tướng
bề ngoài của các Ngài là Tiểu Thừa, nhưng thật
ra đă đạt tới tột đỉnh của Tiểu
Thừa; bậc Đại Thừa cố ư khoác lấy dáng
vẻ Tiểu Thừa. Đó gọi là “ngoại hiện Thanh Văn thân, nội bí Bồ Tát hạnh”
(ngoài hiện thân Thanh Văn, bên trong ẩn kín hạnh Bồ
Tát), trong là Bồ Tát, bề ngoài là Thanh Văn. V́ thế, gọi
là đại tỳ-kheo.
(Sao)
Phật Địa tam nghĩa giả.
(鈔) 佛地三義者。
(Sao:
Ba ư nghĩa trong Phật Địa Luận là...)
Phật Địa Luận đă nêu
ra ba ư nghĩa để giải thích “đại, đa, thắng”.
(Sao)
Nhất, tối cực lợi căn, Ba La Mật Đa chủng
tánh, cố danh vi Đại.
(鈔) 一、最極利根,波羅密多種性,故名為大。
(Sao: Một là lợi căn
cùng tột, là chủng tánh Ba La Mật Đa, nên gọi là
Đại).
Căn tánh
vô cùng nhạy bén, là Ba La Mật Đa. Ba La Mật Đa (Pāramitā)
là tiếng Ấn Độ, dịch nghĩa sang tiếng Hán
là rốt ráo viên măn. Nếu dịch theo nghĩa gốc của
từng chữ sẽ là “đáo
bỉ ngạn” (đạt đến bờ kia). Người
Trung Quốc nói “đáo gia” (đạt
đến mức tột cùng) cũng nhằm vào ư nghĩa
này! Bất luận chuyện ǵ người ấy làm cũng
là tốt nhất, chúng ta bèn h́nh dung người ấy đă
“đáo gia”. Chẳng hạn
như quư vị viết chữ rất đẹp, công phu đă
đạt đến mức tuyệt diệu, người
Ấn Độ bèn nói là Ba La Mật, Ba La Mật là đă đạt
đến mức tuyệt diệu! Nếu quư vị nấu
ăn rất ngon, công phu của quư vị cũng đạt
tuyệt mức. Ba La Mật là một thuật ngữ rất
phổ biến tại Ấn Độ. Chẳng hạn như
bố thí, tŕ giới, công phu đă đạt đến tột
bậc, làm đến mức độ rốt ráo viên măn, bèn
gọi là Ba La Mật. Những vị này bất luận trí
huệ hay đức hạnh, điều ǵ cũng đều
viên măn, đều đă đạt đến mức tuyệt
diệu, nên gọi là Đại.
(Sao)
Nhị, giai đắc Vô Học quả vị, cố danh
vi Đại.
(鈔) 二、皆得無學果位,故名為大。
(Sao: Hai là đều đă
đắc quả vị Vô Học, nên gọi là Đại).
Đều
chứng A La Hán, đấy là Đại. Chẳng phải là
đang học, mà đă đều tốt nghiệp, nên chúng
ta gọi các Ngài là Đại. Đại A La Hán khác hẳn,
Đại A La Hán là Đại Thừa A La Hán, đă tốt
nghiệp Đại Thừa Phật pháp, đó là ai? Là Đệ
Thập Địa Bồ Tát, tức Pháp Vân Địa ((Dharmameghā-bhūmi)
Bồ Tát, được gọi là Đại A La Hán, Tiểu
Thừa A La Hán thua các vị này rất xa. Giống như chúng
ta nói đến “tốt nghiệp” th́ một đằng là
tốt nghiệp Tiểu Học, một đằng là tốt
nghiệp Đại Học, đều là tốt nghiệp,
nhưng tŕnh độ sai khác rất lớn!
(Sao)
Tam, giai đắc Tiểu Quả dĩ, xu đại Bồ
Đề, cố danh vi Đại.
(鈔) 三、皆得小果已,趨大菩提,故名為大。
(Sao: Ba,
đều đă đắc Tiểu Quả, hướng
đến đại Bồ Đề, nên gọi là Đại).
Đây là
hồi Tiểu hướng Đại. Các Ngài đă chứng
quả Tiểu Thừa A La Hán, quay trở về học pháp
Đại Thừa Bồ Tát, nên gọi là Đại.
(Sao)
Tắc thông Đại Thừa ngôn dă.
(鈔) 則通大乘言也。
(Sao:
Nên là ư nói thông với Đại Thừa).
Chữ Đại
thông với Đại Thừa; ba ư nghĩa “đại, đa, thắng” thảy đều có
thể dùng giáo nghĩa Đại Thừa để nh́n, đấy
mới là chính xác. Dưới đây là giải thích chữ tỳ-kheo.
(Sao)
Tỳ-kheo tam giả, nhất, khất sĩ, vị khất
thực, khất pháp.
(鈔) 比丘三者,一、乞士,謂乞食乞法。
(Sao: Tỳ-kheo gồm
ba nghĩa: Một là khất sĩ, ư nói khất thực và
xin pháp).
“Khất thực” nhằm nuôi
nấng sắc thân, “khất
pháp” nhằm nuôi nấng huệ mạng.
(Sao)
Khất thực, tắc ly tứ tà mạng, hợp tứ
chánh mạng, vô sự kinh doanh, bất cần súc tích, vạn
duyên đốn tức, nhất chí thanh tu, tăng nghi dĩ
thử hoạt mạng, cố viết “khất thực
tư thân” dă.
(鈔) 乞食,則離四邪命,合四正命,無事經營,不勤畜積,萬緣頓息,一志清修,僧宜以此活命,故曰乞食資身也。
(Sao: Khất thực là ĺa bốn
thứ tà mạng, phù hợp bốn thứ chánh mạng, chẳng
chú trọng kinh doanh, chẳng siêng năng tích cóp, nhanh chóng dứt
muôn duyên, một dạ thanh tu. Tăng nên sống theo cách
này, nên nói “khất thực để nuôi thân”).
Ở đây,
giảng tỉ mỉ. Ĺa bốn thứ tà mạng cũng
là chuyện đáng chú ư. Nhưng hiện thời trong Phật
môn chúng ta, quả thật đă vi phạm di giáo, làm bốn
thứ tà mạng ấy. Tà mạng là phương thức sống
không đúng pháp. Bốn thứ tà mạng ấy trái nghịch
chế định của đức Phật.
1) Thứ nhất là “hạ khẩu thực”, tức là pha chế thuốc,
trồng trọt ruộng vườn. Hiện thời c̣n có
không ít người xuất gia học y, học châm cứu,
đi học những thứ ấy. Cố nhiên là dường
như có thể giúp người khác, người khác đến
cúng dường một chút, nếu dùng những thứ cúng
dường ấy để duy tŕ cuộc sống th́ là
sai lầm, thuộc về tà mạng. C̣n có người tự
ḿnh canh tác, trồng trọt, dùng h́nh thức ấy để
sống cũng là sai lầm; nhưng hai loại này ở Trung
Quốc rất phổ biến. Nếu nói đến lịch
sử th́ đă có một ngàn hai trăm năm rồi! Bách
Trượng đại sư, “Mă
Tổ kiến tùng lâm, Bách Trượng lập Thanh Quy”
(Mă Tổ lập tùng lâm, Bách Trượng lập Thanh Quy), đă
đề xướng cày ruộng, chính ḿnh trồng lúa, trồng
rau, đấy là một trong bốn loại tà mạng; nhưng
tổ sư nói rất có lư. Ngài nói giống như Ngẫu
Ích đại sư đă nói, sau triều đại Nam Tống,
Trung Quốc không có tỳ-kheo thật sự, tỳ-kheo
đă tuyệt tích tại Trung Quốc. Ngài đề xướng:
“Một ngày không làm, một ngày
chẳng ăn”, Ngài cấy cày, ra đồng gieo lúa, trồng
rau, mỗi ngày đều đi làm, dùng cách này để duy
tŕ cuộc sống của chính ḿnh, tham Thiền, tu đạo.
V́ thế, chuyện này có lịch sử khá dài, gắng hết
sức ít nhận [cúng dường] từ dân gian, mà tự
lực cánh sinh.
Đây là
do t́nh h́nh Trung Quốc khác biệt. Thuở ấy, tại Ấn
Độ thác bát (ôm bát đi xin), Trung Quốc chẳng có tập
quán ấy, quư vị ra ngoài thác bát, người ta chẳng
cho, không giống như Ấn Độ. Như trong hiện
tại, ở Thái Lan, thác bát là truyền thống. Quư vị
đi ra ngoài thác bát, mọi người rất cung kính cúng
dường. Tại Trung Quốc, người xuất gia cầm
bát đi xin bên ngoài, chắc là đi suốt cả ngày chẳng
xin được một nắm cơm! [Do vậy], Ngài (tổ
Bách Trượng) chẳng đề xướng [thác bát], người
ta chẳng tán thành chuyện này. Đây là do tập tục mỗi
quốc gia và địa phương khác nhau, cho nên tại
Trung Quốc không thể chẳng đề xướng trồng
trọt. Trước đây, tự viện ở Đại
Lục đều có ruộng đồng, có rừng núi, họ
dựa vào đó để duy tŕ lương thực cho đại
chúng thường trụ, cho nên cuộc sống an định,
chẳng bợ đỡ tín đồ. Tuy rất kham khổ,
nhưng có thể sống qua ngày, mới có thể an tâm tu đạo!
Nếu y theo [quy chế ở] Ấn Độ thuở ấy,
chúng ta sẽ sai lầm, nhưng làm như chúng ta ở Trung Quốc lại chẳng phạm lỗi.
V́ thế, hết thảy giới luật đều là sống
động, đều có biến đổi cho thông suốt.
V́ sao chúng
ta không đặt nặng [sống rập khuôn theo] giới
luật? V́ giới luật là quy định sống của
Ấn Độ thuở đó, có rất nhiều điều
đến hiện thời chẳng thích hợp, về căn
bản là không dùng được! Cho nên, khi truyền sang Trung
Quốc, giới luật được tu chỉnh lại.
Sau khi tu chỉnh, sẽ không gọi là giới luật, mà gọi
là Thanh Quy. Những điều giới luật ấy đă
bảo lưu toàn bộ tinh thần giới luật, nhưng
nhằm thích hợp với hoàn cảnh sống của người
Trung Quốc, phải sửa đổi, như vậy bèn biến
thành Thanh Quy. Do vậy, Thanh Quy là giới luật. Hiện
thời chúng ta tụng giới mang ư nghĩa kỷ niệm,
nhưng phải giữ Thanh Quy. Thanh Quy là văn bản giới
luật đă được tu chỉnh tại Trung Quốc,
mang ư nghĩa như thế đó. Tôi suy nghĩ [giới luật
đă được] tu chỉnh vào đời Đường,
thích hợp thời đại đó, phù hợp xă hội nông
nghiệp; nay là thời đại công thương nghiệp;
v́ thế, đến hiện thời, Thanh Quy cũng không
thích hợp; nhưng trong thời đại này, chúng ta chẳng
có một vị luật sư chân chánh xuất hiện. Nói
thật ra, thời gian Hoằng Nhất đại sư trụ
thế quá ngắn, nếu Ngài có thể sống lâu hơn
hai mươi năm nữa, có lẽ sẽ sửa chữa
bộ Thanh Quy lần nữa nhằm thích hợp sử dụng
cho thời đại công thương hiện thời! Do vậy,
quư vị phải hiểu: Nhiều thứ trong Phật pháp
đều có thể tùy theo ư thức, h́nh thái và hoàn cảnh
sinh hoạt khác biệt tại mỗi nơi mà tu chỉnh.
V́ thế, nó chẳng phải là chết cứng, khô khan.
2) Thứ
hai là “ngưỡng khẩu thực”,
ngửa xem tinh tú, mỗi ngày nói chuyện họa, phước,
cát, hung cho người khác, làm theo kiểu ấy. Chuyện
này Phật chẳng chấp nhận; dùng cách này để được
cúng dường nhằm duy tŕ cuộc sống, sẽ là sai
lầm, thuộc loại tà mạng.
3) Thứ ba là “phương khẩu thực”,
mỗi ngày hoa ngôn xảo ngữ đi ra ngoài du thuyết,
giao tế, ứng phó, thù tạc, kết giao kẻ quyền
quư, chèo kéo tín đồ, đấy là sai lầm. Mỗi
ngày làm chuyện đó, qua lại với người khác, đạo
tâm mất tiêu!
4) Thứ tư là “duy khẩu thực”, vẽ bùa,
niệm chú, coi bói, xem tướng, xem Phong Thủy, dùng cách ấy
để được cúng dường th́ gọi là “duy khẩu thực”.
Những điều này
đều thuộc loại tà mạng, Phật pháp quyết
định cấm. Do vậy, thuở ấy, Bách Trượng
đại sư chỉ đề xướng tự ḿnh
canh tác. Đệ tử Phật gọi là “thanh tịnh khất sĩ”, bởi lẽ, họ
chẳng làm những chuyện này, hoàn hoàn toàn dùng phương
thức khất thực để duy tŕ cuộc sống của
chính ḿnh. Khất thực chỉ được phép xin bảy
nhà, trọn chẳng thể nhà nào cũng đều đến
xin. Xin bảy nhà mà không được ǵ, bèn trở về
sám hối, ngày hôm nay nghiệp chướng quá nặng,
không ai cho! Nếu vượt hơn bảy nhà, người
ta sẽ ghét bỏ, người xuất gia đi khắp nơi
làm phiền kẻ khác! V́ thế, khất thực chỉ được
phép xin bảy nhà!
Ĺa khỏi
bốn thứ tà mạng th́ gọi là “chánh mạng”. “Tứ chánh mạng” cũng có bốn
điều: Thứ nhất là “vô
sự kinh doanh” (chẳng chú trọng kinh doanh). V́ thế,
thân tâm thanh tịnh, nên mới có thể tu đạo, mới
có thể dưỡng đạo. [Nh́n vào] chế định
của đức Phật thời cổ, [ta thấy] trước
khi có chế độ tùng lâm và sau khi có chế độ tùng
lâm khác nhau. Thành lập chế độ tùng lâm là một cuộc
đại cách mạng trong Phật giáo Trung Quốc. V́ trước
đó, mỗi cá nhân tu hành đều là chuyện cá nhân người
đó, chẳng có cộng tu, đều là cá nhân tự ḿnh tu
hành. Tối đa là pháp hội giảng kinh. Pháp sư giảng
kinh, người từ nhiều nơi đến nghe kinh.
Sau khi nghe xong, người nào tu cho người nấy, chẳng
có cộng tu. Thuở đó, xuất hiện tệ trạng
là mọi người đều chuộng nghe kinh, c̣n tu hành
th́ qua quít, tùy tiện, chẳng chú trọng. Như vậy là
biến thành “hữu giải, vô hạnh”, biến thành h́nh
thức! Do vậy, hai vị đại sư là Mă Tổ và
ḥa thượng Bách Trượng phát tâm từ bi. Mă Tổ được
nói trong Phật môn[7] là tổ sư đời thứ tám của
Thiền Tông, họ ngoài đời là Mă, nên người ta
gọi Ngài là Mă Tổ; pháp danh của ngài là Đạo Nhất.
Hai vị thiền sư Mă Tổ và Bách Trượng thuộc
đời thứ tám của Thiền Tông, là đồ tôn của
Lục Tổ đại sư. Hai vị thấy thói xấu
của những người tu hành là “có giải, thiếu hạnh”,
bèn vận động làm một cuộc cách mạng, tạo
lập tùng lâm, đề xướng cộng tu.
Nói theo ư
nghĩa hiện thời, tùng lâm là thành lập trường
đại học. Trước đó, truyền thừa
trong Phật giáo giống như dạy học trong trường
tư thục, là thầy dạy riêng biệt, không có chế
độ! Tổ chức tùng lâm là chánh thức kiến lập
chế độ, biến sự truyền thừa tản
mạn của Phật giáo trước đây thành chế độ
hóa. Mọi người ở cùng một chỗ tu học, đó
gọi là “y chúng, kháo chúng” (nương
theo đại chúng, trông cậy vào đại chúng). Trước
đó, đúng là một nhúm người tấn tu, số người
trong Tăng đoàn ḥa hợp rất ít, đều là mỗi
chùa mấy người. Mười mấy người,
hai mươi người, hai trăm người được
coi là rất nhiều. Sau khi tùng lâm thành lập, đông người
hơn, thường là trong một tùng lâm có đến mấy
ngàn người trụ. V́ thế, có tổ chức vô cùng nghiêm
ngặt, chặt chẽ. Cái gọi là “tam đại cương lănh chấp sự”, khá
giống với cách chúng ta tổ chức nhà trường
trong hiện tại, chỉ là danh xưng khác nhau. Ḥa Thượng
tương đương Hiệu Trưởng, Ngài là Thân
Giáo Sư. Dưới đó có Thủ Tọa, tương
đương chủ nhiệm Giáo Vụ; Giám Viện là Đương
Gia Sư, tương đương chủ nhiệm Tổng
Vụ; Duy Na tương đương chủ nhiệm Huấn
Đạo. Do vậy, quả thật là quy mô của một
trường học, thật sự kiến lập và chế
độ hóa đại học Phật giáo. Đây là điểm
đặc sắc trong Phật giáo Trung Quốc, ngoại quốc
không có. Trong tùng lâm, đề xướng trồng trọt,
v́ số người đông, nếu cầu cạnh bên ngoài
cúng dường sẽ chẳng dễ dàng cho lắm. Quư vị
nghĩ xem: Trong một tùng lâm, trụ mấy ngàn người,
mỗi ngày ăn bao nhiêu? Nếu bản thân quư vị chẳng
làm, ai tới cúng dường quư vị? Quư vị ra ngoài
thác bát chẳng dễ dàng cho lắm! [Tùng lâm] cư trụ mấy
ngàn người, mỗi ngày ăn cơm [đều do khất
thực], nơi ấy sẽ gặp khó khăn, ai cũng
ngán quư vị, sợ quá! V́ thế, đề xướng
canh tác là nỗi khổ tâm bất đắc dĩ!
Tứ chánh
mạng, thứ nhất là không theo đuổi kinh doanh; thứ
hai là “bất cần súc tích”
(chẳng siêng tích cóp) tức là không tích trữ, thứ ba là
“vạn duyên đốn tức”
(muôn duyên nhanh chóng dứt), đó gọi là thân, tâm, thế
giới thảy đều buông xuống. Thứ tư là “nhất chí thanh tu”. Bốn câu
ấy là tứ chánh mạng của người xuất
gia. “Tăng” là người
xuất gia, “nghi dĩ thử
hoạt mạng, cố viết khất thực tư thân
dă” (hăy nên sống theo cách ấy, nên nói là khất thực
để nuôi dưỡng cái thân), đấy là phương
thức sống của người xuất gia!
(Sao)
Khất pháp, tắc tham sư phỏng hữu, khẩn khổ
kiều thành, tuân cầu diệu pháp, kỳ thành thánh quả,
cố ước khất pháp tư tâm dă.
(鈔) 乞法,則參師訪友,懇苦翹誠,詢求妙法,期成聖果,故約乞法資心也。
(Sao: Khất pháp là tham học
với thầy, học hỏi nơi bạn, sốt sắng,
siêng khổ, thành kính, cầu t́m diệu pháp, để mong
thành thánh quả, nên thuộc về khất pháp để
nuôi nấng cái tâm vậy).
Người
xuất gia, trừ [khất thực để duy tŕ] cuộc
sống ra, c̣n mong cầu pháp. Chúng ta thấy trong sách Thiền
Lâm Bảo Huấn có nói người xuất gia chọn lựa
đạo tràng, chọn lựa như thế nào? Phải
chọn lựa đạo tràng nào mà cuộc sống chẳng
có vấn đề, có thể ăn no, mặc ấm là được
rồi, lại c̣n có thể nghe pháp, có tu, có học, đấy
là đạo tràng bậc nhất. Có đạo tràng như
vậy, quư vị chớ nên rời khỏi, hăy khéo tu học
ở đó. Thứ nh́ là đạo tràng phước báo nhỏ
hơn, cuộc sống rất gian khổ, nhưng họ có
đạo, có tu, có học, cũng đáng nên chọn lựa.
Chính ḿnh phải chịu đựng khổ sở, nhẫn
nại. Phải chịu đựng khổ, hứng chịu
khổ, v́ sao? Có đạo! Chúng ta đă xuất gia, muốn
thành đạo nghiệp, lấy đạo nghiệp làm chủ
yếu, dẫu cuộc sống khổ sở vẫn không sợ.
Chỗ chẳng nên chọn lựa là đạo tràng hết
sức giàu có, ăn cũng sướng, mặc cũng sướng,
ở cũng sướng, trong ấy chẳng có đạo,
chẳng có giảng kinh, cũng chẳng tu hành, đạo
tràng như vậy chớ nên đến. V́ sao? Đạo
tràng như vậy cũng là đạo, nhưng đạo
ǵ vậy? Địa ngục đạo, ngạ quỷ
đạo, toàn là tu những đạo ấy! Trong tương
lai, nếu quư vị chứng quả, sẽ chứng quả
ngạ quỷ, quả địa ngục, chứng các quả
ấy, chuyện này phiền lắm! Trong Thiền Lâm Bảo
Huấn, tổ sư đă dạy chúng ta chọn lựa đạo
tràng như thế nào, đạo tràng nào có thể trụ, đạo
tràng nào chẳng thể trụ, chính chúng ta phải hiểu
rơ ràng, [v́ điều này] sẽ có quan hệ rất lớn
đối với tương lai!
“Tham sư phỏng hữu”,
tham học với thầy th́ quư vị phải rất thận
trọng chọn lựa một vị thầy, v́ sao? Vị
thầy ấy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
sự thành tựu của quư vị trong tương lai. Nếu
quư vị chọn được một vị thiện tri
thức tốt đẹp để theo, vị thầy ấy
dạy quư vị có kỳ hạn; một vị thầy thật
sự tốt chắc chắn sẽ không bảo quư vị:
“Ngươi suốt đời ở nơi đây, đừng
nên đi ra ngoài”, nếu [nói như vậy] th́ tuyệt
đối chẳng phải là một vị thầy tốt.
V́ sao? Quư vị sẽ có ngày tốt nghiệp! Quư vị đă
tốt nghiệp, phải rời đi, t́m người cao
minh hơn th́ mới có thể thành tựu. Do vậy, một
vị thầy thật sự tốt đẹp sẽ chẳng
khiến cho tiền đồ của quư vị bị lỡ
làng. Ngài đem những ǵ chính ḿnh [đă biết] dạy
cho quư vị xong, sẽ không có cách nào để dạy tiếp
nữa, bèn mời quư vị đi t́m người khác, t́m người
cao hơn Ngài, đấy là một vị thầy tốt!
Quư vị thấy Thiện
Tài đồng tử tham học năm mươi ba lần,
Ngài đến tham phỏng một vị thiện tri thức,
vị thiện tri thức ấy dạy hết cho Ngài, không
c̣n ǵ để dạy nữa, bèn giới thiệu một
vị thiện tri thức khác: “Người ấy cao hơn
ta, ngươi hăy đi t́m vị ấy”, đấy mới
là một vị thiện tri thức thật sự. V́ thế,
chúng ta theo một vị thầy tốt có kỳ hạn. Đương
nhiên cũng có những học tṛ cảm ơn thầy, cảm
tạ ân đức ấy, chẳng muốn rời khỏi,
gần như thường là đến khi thầy viên tịch
mới rời khỏi. Họ sang nơi khác cầu pháp, hoặc
là chủ tŕ giáo hóa, hoằng hóa một phương. Có người
như vậy, nhưng là thiểu số, đa số sau
khi học thành, sẽ ra ngoài tham học, giống như Thiện
Tài đồng tử rời khỏi thầy ra ngoài tham học
năm mươi ba lần. Nhưng khi quư vị chưa có
năng lực tham học, thầy quyết định chẳng
cho quư vị rời khỏi. Nếu để cho quư vị
rời khỏi, tức là thầy có lỗi với quư vị.
Thầy phải bảo vệ quư vị, phải giúp cho quư
vị thành tựu, khiến cho quư vị có năng lực
tham học, năng lực ǵ vậy? Năng lực phân biệt
chân - vọng! Quư vị nghe người ta giảng điều
ǵ, vừa nghe liền biết đó là chánh pháp hay tà pháp, có
năng lực ấy. Có thể phân biệt đúng, sai, thiện,
ác, có năng lực như vậy, thầy sẽ cho quư vị
ra ngoài tham học.
Nếu quư
vị chưa có năng lực ấy, thầy chắc chắn
chẳng cho quư vị rời khỏi Ngài một bước,
nhất định không chấp thuận cho quư vị ra khỏi
cửa chùa. V́ sao? Nếu quư vị nghe người bên ngoài
giảng, mỗi người giảng một cách, nghe ba người
[giảng ba cách khác nhau], trong tâm liền đánh dấu hỏi,
rốt cuộc ai đúng? Càng học càng mê hoặc, càng học
càng điên đảo, học tới cuối cùng ngay cả
Phật pháp cũng không tin. Vị này giảng Đông, vị
kia giảng Tây, rốt cuộc ta đi đến đâu? Đơn
giản là coi như xong, chẳng cần học nữa! Đấy
là do chính ḿnh thiếu năng lực phân biệt, giống
như chưa xuất sư, chưa có tư cách đi ra ngoài
tham học. Có năng lực mà thầy chẳng cho quư vị
ra ngoài, thầy sẽ có lỗi với quư vị; chưa có
năng lực mà thầy đă cho quư vị đi, thầy
cũng có lỗi với quư vị. Do vậy, sư đạo
quả thật rất khó khăn! Thầy phải tuyệt
đối chịu trách nhiệm đối với học
tṛ; tṛ thành công hay thất bại, thầy phải gánh trách nhiệm!
“Tham sư phỏng hữu”
nhằm thành tựu đạo nghiệp của chính ḿnh, phải
phát tâm chí thành đến thỉnh giáo các vị thiện tri
thức, nhằm mục đích thành tựu “thánh quả” của chính ḿnh. Đấy là “khất pháp tư tâm” tức
là [thỉnh cầu giáo pháp] để nuôi dưỡng Pháp
Thân huệ mạng của chính ḿnh.
(Sao)
Nhị, bố ma giả, nhược nhân phát tâm xuất
gia, Ma Vương văn chi, sanh đại bố úy, dĩ
ma nhạo sanh tử, xuất gia ly dục, xu hướng Vô
Sanh, ma thất đảng dữ, sanh bố úy cố.
(鈔) 二、怖魔者,若人發心出家,魔王聞之,生大怖畏,以魔樂生死,出家離欲,趨向無生,魔失黨與,生怖畏故。
(Sao: Hai là khiến ma sợ
hăi. Nếu có người phát tâm xuất gia, Ma Vương nghe
thấy sẽ sanh ḷng sợ hăi to lớn v́ ma ưa sanh tử,
kẻ xuất gia ĺa dục, tiến hướng Vô Sanh sẽ
khiến cho bè đảng của ma bị giảm thiểu,
nên hắn sanh ḷng sợ hăi).
Điều
này tôi vừa mới nói qua.
(Sao)
Tam, phá ác giả, năng phá phiền năo cửu thập bát Sử,
tất giai đoạn tuyệt cố.
(鈔) 三、破惡者,能破煩惱九十八使,悉皆斷絕故。
(Sao: Ba là phá ác, do có thể phá
phiền năo chín mươi tám Sử, thảy đều
đoạn tuyệt).
“Chín mươi tám Sử” là Kiến Tư phiền năo, Kiến Hoặc có tám
mươi tám Sử, và Tư Hoặc gồm mười Sử.
(Sao)
Hoặc gia tịnh giới, tịnh mạng, tắc thành
ngũ nghĩa. Kim tam nghĩa giả, dĩ khất thực
nhiếp tịnh mạng, dĩ phá ác nhiếp tịnh giới
cố.
(鈔) 或加淨戒、淨命,則成五義。今三義者,以乞食攝淨命,以破惡攝淨戒故。
(Sao: Hoặc có người
thêm vào hai nghĩa tịnh giới và tịnh mạng thành
năm nghĩa [của chữ tỳ-kheo], nay nói ba nghĩa,
v́ khất thực bao gồm tịnh mạng, phá ác bao gồm
tịnh giới).
Thêm tịnh
giới và tịnh mạng vào khất thực, bố ma, phá
ác, nên tỳ-kheo có năm ư nghĩa ấy, nhưng đại
đa số đều giảng theo cách nêu ra ba ư nghĩa.
Trong khất thực đă bao gồm tịnh mạng, trong phá
ác bao gồm tịnh giới. Nói thật ra, ba ư nghĩa đă
bao gồm năm ư nghĩa ở trong ấy.
(Sao)
Chúng ḥa hợp giả, tứ nhân dĩ thượng, đa
chí vô lượng, tất giai đồng nhất Yết Ma,
bất tương vi tránh, như thủy nhũ hợp,
danh Ḥa Hợp Chúng.
(鈔) 眾和合者,四人以上,多至無量,悉皆同一羯磨,不相違諍,如水乳合,名和合眾。
(Sao: “Chúng ḥa hợp” là từ
bốn người trở lên, [có thể] nhiều đến
vô lượng, thảy đều cùng Yết Ma, chẳng
tranh chấp với nhau, như sữa ḥa lẫn vào nước,
gọi là Ḥa Hợp Chúng).
Trong phần
trước đă nói tới “Lư
Sự thất ḥa” (bảy điều ḥa hợp về
Lư và Sự), đấy là điều kiện cơ bản;
ngoài ra c̣n có một thứ nữa là Yết Ma. Yết Ma (Karma)
là tiếng Ấn Độ, dịch sang nghĩa tiếng Hán
là Tác Pháp. Nay chúng ta vẫn không hiểu, tôi nói bằng danh từ
hiện đại quư vị sẽ hiểu, đó là hội
nghị để ban hành nghị quyết. Bởi lẽ, Phật
giáo là dân chủ; trong Tăng đoàn hễ có chuyện lớn
hay nhỏ đều phải họp lại, thiểu số
phục tùng đa số. Cùng Yết Ma với nhau, nhất
định phải tuân thủ nghị quyết của hội
nghị, chẳng tranh căi với nhau, đó là Ḥa Hợp Chúng.
(Sao)
Tam Ca Diếp giả.
(鈔) 三迦葉者。
(Sao:
Ba vị Ca Diếp).
Tôn giả Ca Diếp có ba vị, Ca Diếp
(Kāśyapa) là họ, có ba vị cùng mang họ
Ca Diếp, vị thứ nhất là:
(Sao)
Nhất, Ưu Lâu Tần Loa, ư hỏa long quật, hữu
ngũ bách đệ tử.
(鈔) 一、優樓頻螺,於火龍窟,有五百弟子。
(Sao: Thứ
nhất là Ưu Lâu Tần Loa, ở hang rồng lửa, có
năm trăm đệ tử).
Ưu Lâu
Tần Loa Ca Diếp (Uruvilvā Kāśyapa) vốn là ngoại đạo, học
ngoại đạo tại hang rồng lửa, rồng ấy
là độc long, Ngài tu đạo nơi ấy, có năm
trăm đồ đệ, rất nổi danh trong các ngoại
đạo. Vị thứ hai là:
(Sao)
Nhị, Già Da, ư Tượng Đầu sơn, hữu
tam bách đệ tử.
(鈔) 二、伽耶,於象頭山,有三百弟子。
(Sao: Thứ hai là Già Da, ở núi
Đầu Voi, có ba trăm đệ tử).
Già Da Ca
Diếp (Gayā Kāśyapa) hướng
dẫn một nhóm người tu hành tại núi Tượng
Đầu (Gayāśiras), có ba trăm đệ tử. Vị
thứ ba là:
(Sao)
Tam, Na Đề, ư Hy Liên hà, hữu nhị bách đệ
tử. Hậu giai quy Phật, cố hữu thiên chúng.
(鈔) 三、那提,於希連河,有二百弟子。後皆歸佛,故有千眾。
(Sao: Ba là Na Đề, ở
sông Hy Liên, có hai trăm đệ tử. Về sau, đều
quy y Phật, nên có một ngàn vị).
Na Đề
Ca Diếp (Nadī-Kāśyapa)
ở sông Hy Liên (Nairañjanādi), có hai trăm đệ tử.
Sau này, ba vị này đều bị Thích Ca Mâu Ni Phật
hàng phục. Thích Ca Mâu Ni Phật t́m đến họ biện
luận, họ đều biện luận thua Ngài. Sau khi biện
luận thua cuộc bèn xuất gia theo Thích Ca Mâu Ni Phật. Họ
đă theo Thích Ca Mâu Ni Phật xuất gia, các đồ đệ
cũng theo một đường lối, thầy đă làm
học tṛ Thích Ca Mâu Ni Phật, mọi người chúng ta cũng
đều chẳng muốn giải tán, tâm tu đạo rất
thiết tha, cho nên đều theo Thích Ca Mâu Ni Phật.
Trước hết, ba người họ là thầy, về
sau đều biến thành bạn học, đều là học
tṛ của Thích Ca Mâu Ni Phật. Thầy tṛ ba vị ấy tổng
cộng là một ngàn người.
(Sao)
Mục Liên, Xá Lợi giả, nhị nhân cộng hữu nhị
bách ngũ thập đệ tử, diệc lai quy Phật.
Thành thiên nhị bách ngũ thập nhân dă.
(鈔) 目連舍利者,二人共有二百五十弟子,亦來歸佛。成千二百五十人也。
(Sao: Hai vị Mục Liên và Xá
Lợi có tất cả hai trăm năm mươi đệ
tử, cũng quy y Phật, [tổng cộng] thành một
ngàn hai trăm năm mươi người).
Mục Liên
và Xá Lợi Phất là đầu lănh ngoại đạo, vốn
cũng tu ngoại đạo. Mỗi người đều
có một trăm đồ đệ, thầy tṛ sau này cũng
đều quy y Thích Ca Mâu Ni Phật, nên lại ghép thành một
ngàn hai trăm năm mươi người.
(Sao)
Nhất thuyết độ Da Xá đẳng ngũ thập
nhân, cập Trần Như đẳng ngũ nhân, cộng
thành thử số.
(鈔) 一說度耶舍等五十人,及陳如等五人,共成此數。
(Sao: Một thuyết nói Phật
độ nhóm ông Da Xá năm mươi người và nhóm
Kiều Trần Như năm người, cộng thành con
số ấy).
Da Xá
đồng tử (Yaśas) có năm
mươi người. Trước hết, Phật độ
nhóm Kiều Trần Như (Ajñāta Kaundinya) năm người
tại Lộc Dă Uyển, tổng cộng là một ngàn hai
trăm năm mươi lăm người. Tăng đoàn
của đức Phật có nhiều người như thế.
Đây là nói rơ nguồn gốc số người trong Tăng
đoàn.
(Sớ)
Độc cử thiên nhị bách ngũ thập nhân giả,
dĩ thường tùy cố.
(疏) 獨舉千二百五十人者,以常隨故。
(Sớ: Riêng nêu ra một ngàn
hai trăm năm mươi người v́ họ là thường
tùy).
Thật
ra, đức Phật bất luận giảng kinh ở nơi
nào, thính chúng không chỉ có ngần ấy người, số
người [nghe giảng] luôn vô cùng nhiều, tại gia lẫn
xuất gia đều rất nhiều; nhưng không cần
nói tới những người khác, v́ một ngàn hai trăm
năm mươi lăm vị này, bất luận là hội
nào do đức Phật giảng kinh, họ đều luôn
hiện diện, thường tùy đệ tử mà! Đức
Phật đến nơi đâu, họ cũng theo đến
đó, suốt đời chẳng tách rời, măi cho đến
khi đức Phật viên tịch, những vị ấy chẳng
giải tán. Về sau, kết tập kinh điển, hễ
nói đến Chúng Thành Tựu, thảy đều lấy các
Ngài làm đại biểu. Ngày hôm nay, chúng tôi giảng tới
đây!
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 54 hết
[1] Theo nghĩa gốc, “Tích” (辟) là
tiếng để gọi chư hầu (theo từ điển
Khang Hy, khi dùng theo nghĩa này, phải đọc là Tích). Sách
Nhĩ Nhă Thích Huấn giảng: “Thiên
tử dữ chư hầu thông xưng Tích dă” (thiên tử
và các chư hầu đều gọi chung là Tích). Về sau,
“Tích” được hiểu
theo nghĩa rộng là các quan.
[2] “Ngũ châu nhân quả” do Thanh
Lương đại sư phán định các phẩm
trong kinh Hoa Nghiêm, tức là:
1. Sở tín nhân quả: từ phẩm một
đến phẩm thứ sáu.
2. Sai biệt nhân quả: gồm hai
mươi chín phẩm kế tiếp.
3. B́nh đẳng nhân quả: gồm hai
phẩm kế đó.
4. Hạnh thành nhân quả: gồm một
phẩm, tức phẩm Ly Thế Gian.
5. Chứng nhập nhân quả: tức phẩm
Nhập Pháp Giới.
[3] Bát Tự c̣n gọi là Tứ Trụ hoặc
Tử B́nh, là một cách đoán vận mạng dựa trên
Thiên Can và Địa Chi của năm, tháng, ngày, giờ
sanh, đem phối hợp Ngũ Hành Âm Dương
tương sanh, tương khắc để luận
đoán. Quan niệm này đă có từ rất lâu đời,
được bổ sung và hệ thống hóa bởi Lư
Hư Trung vào đời Đường và Từ Tử
B́nh vào đời Ngũ Đại. Người có công hệ
thống hóa cũng như bổ sung lư luận thấu đáo
nhất là Từ Tử B́nh nên môn này được gọi
là Tử B́nh Bát Tự từ đó.
[4] Thành Xá Vệ (kinh điển Nam Truyền thường ghi theo âm Pali là Sāvatthī). Thành này nằm trên bờ sông Aciravati (nay là sông Rapti), là thủ đô của đại quốc Kiều Tát La (Kosala). Thuở đức Phật, thành này có đến hơn năm mươi ngàn gia đ́nh sinh sống, tức là đông dân bậc nhất bậc nh́ Ấn Độ thời ấy. Đây cũng là nơi đức Phật an cư kiết hạ đến hai mươi lăm lần. Những vị hộ pháp nổi tiếng thời ấy như vua Ba Tư Nặc, ông Cấp Cô Độc, bà Tỳ Xá Khư (Visakha), và hoàng hậu Suppavasa đều ở thành này.
[5] “Khổng ân
châu cấp”: Theo sách A Di Đà Kinh Sớ Sao Sự
Nghĩa, câu này dựa theo lời Khổng Tử đă nói
trong Luận Ngữ: “Quân tử
châu cấp bất kế phú”. Để hiểu câu này, lại
phải đọc cả đoạn dài trong thiên Ung Dă sách
Luận Ngữ: “Tử Hoa sứ
ư Tề, Nhiễm Tử vị kỳ mẫu thỉnh
túc. Tử viết: “Dữ chi phủ”, thỉnh ích, viết:
“Dữ chi dữu”. Nhiễm Tử dữ chi túc ngũ thặng,
Tử viết: “Xích chi quát Tề dă, thừa ph́ mă, y khinh cừu,
ngô văn chi dă, quân tử châu cấp bất kế phú”.
Đoạn này được cụ Lư Bỉnh Nam giảng
như sau: “Tử Hoa là tên tự
của Công Tây Xích, đệ tử của Khổng Tử.
Nhiễm Tử là Nhiễm Hữu, cũng là môn đệ của
Khổng Tử. Tử Hoa đi sứ nước Tề,
Nhiễm Tử bèn xin Khổng Tử giúp cho mẹ Tử
Hoa một ít hạt kê để ăn. Khổng Tử bảo
hăy cho bà ta sáu hộc bốn thăng. Nhiễm Tử cho là
ít, xin thêm, Khổng Tử bảo: ‘Cho bà ta thêm mười
sáu đấu’. Nhiễm Tử vẫn cho là ít bèn tự cho
thêm năm thặng (một thặng là mười sáu hộc).
Khổng Tử bèn quở: ‘Công Tây Xích đi nước Tề,
ngồi xe do ngựa béo kéo, mặc áo cừu mềm mại,
sang trọng, ta từng nghe nói quân tử chẳng giúp cho kẻ
giàu được giàu thêm”. “Kỳ
chánh tiên quỳnh”: Trong A Di Đà Kinh Sớ Sao Sự
Nghĩa, tổ Liên Tŕ giảng: “Mạnh
Tử học theo cách cai trị đất Kỳ Châu của
Văn Vương, nói: “Già
mà không có vợ th́ gọi là Quan, già mà không có chồng gọi
là Quả, già mà không con gọi là Độc, trẻ mà không
cha gọi là Cô. Bốn loại người ấy là dân
nghèo trong thiên hạ, không ai nương tựa. Văn
Vương cai trị, thi thố ḷng nhân, ắt sẽ giúp
đỡ những người ấy trước. Kinh Thi
có câu: ‘Cả hỹ phú nhân, ai thử quỳnh độc’
(kẻ giàu sướng thay, xót thay kẻ cô quạnh)”.
Quỳnh (煢) là
không có anh em. Do vậy, “Kỳ
chánh tiên quỳnh” có nghĩa là những người cầm
quyền nhân từ luôn chăm lo, cứu giúp những kẻ
nghèo cùng, cô độc trước. Cả hai câu đều
hàm nghĩa người trí huệ khi cứu tế sẽ cứu
vớt những người cần được cứu
giúp trước, luôn thực hành hạnh bố thí bằng
trí huệ.
[6]
Trong phẩm ấy có chép rơ: “Nhược
hữu nữ nhân, văn thị kinh
điển như thuyết tu hành,
ư thử mạng chung, tức văng An Lạc thế
giới A Di Đà Phật đại
Bồ Tát chúng vi nhiễu trụ xứ, sanh liên hoa
trung bảo tọa chi thượng, bất phục vị
tham dục sở năo, diệc phục bất vị sân khuể,
ngu si sở năo, diệc phục bất vị kiêu mạn tật
đố chư cấu sở năo, đắc
Bồ Tát thần thông vô sanh pháp nhẫn” (Nếu
có nữ nhân, nghe kinh điển này, tu hành đúng như lời
dạy, khi mạng chung liền được văng sanh thế
giới An Lạc, là nơi A Di Đà Phật ngự giữa
đại chúng vây quanh, sanh trên ṭa báu giữa hoa sen, chẳng
bị tham dục gây năo, mà cũng chẳng bị sân khuể,
ngu si bức năo, cũng chẳng kiêu mạn, ganh ghét năo hại,
đắc thần thông Vô Sanh Pháp Nhẫn của Bồ
Tát).
[7] Do Thiên Hậu Nguyên Quân của Đạo
giáo c̣n được người Hoa gọi là Ma Tổ (媽祖) nên rất nhiều người lầm
lẫn Mă Tổ (馬祖) của
Thiền Tông chính là Ma Tổ; v́ thế phải nói rơ “Mă Tổ trong Phật môn”.