A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 56

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 111

 

Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang hai trăm hai mươi lăm:

 

      Tam, xuất danh hiệu.

      Sơ, chúng danh.

      (Kinh) Trưởng lăo Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà.

       三、出名號。

初、眾名。

() 長老舍利弗。摩訶目犍連。摩訶迦葉。摩訶迦旃延。摩訶俱絺羅。離婆多。周利槃陀伽。難陀。阿難陀。羅睺羅。憍梵波提。賓頭盧頗羅墮。迦留陀夷。摩訶劫賓那。薄拘羅。阿耨樓馱。

      (Ba, nêu danh hiệu.

      Thứ nhất, danh hiệu của thánh chúng.

      Kinh: Trưởng lăo Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà).

 

      Đây là nêu ra [danh hiệu] của mười sáu vị thượng thủ trong kinh Di Đà.

 

      (Sớ) Trưởng lăo giả, đức trưởng, lạp lăo, hựu đức lạp cụ nhất, diệc thông xưng trưởng lăo, quán hạ thập lục tôn túc.

      () 長老者,德長臘老,又德臘具一,亦通稱長老,貫下十六尊宿。

      (Sớ: “Trưởng lăo”: Đức cao, tuổi hạ cao. Lại nữa, nếu giữa đức hạnh và tuổi hạ, chỉ hội đủ một thứ, cũng đều gọi là trưởng lăo. Chữ “trưởng lăo” chỉ chung cả mười sáu vị tôn túc [được liệt kê trong đoạn chánh kinh trên đây]).

 

      Trong Phật môn, “trưởng lăo” (Āyuśmat) là cách xưng hô vô cùng tôn kính; vị ấy ắt phải xuất gia khá lâu, thông thường, theo thói quen tại Trung Quốc, xuất gia ba mươi năm mới có thể xưng là “trưởng lăo”, đồng thời c̣n phải là một vị hữu học, hữu đức.

 

      (Sao) Lạp giả, xuất gia nhất tuế danh nhất lạp. Châu tuế chi trung, duy nhất lạp cố.

      () 臘者,出家一歲名一臘。周歲之中,惟一臘故。

      (Sao: “Lạp”: xuất gia mỗi năm là một lạp, bởi lẽ, trong một năm chỉ có một tháng Chạp).

 

      Người xuất gia theo thói quen gọi Lạp là một năm. “Châu tuế” là một năm, trong một năm chỉ có một tháng Chạp[1]. Nói bao nhiêu Lạp, trên thực tế là nói bao nhiêu năm.

 

      (Sao) Diệc vân “nhất hạ”, ư chánh đồng dă.

       () 亦云一夏,意正同也。

      (Sao: C̣n nói là một Hạ, ư nghĩa tương đồng).

 

      C̣n gọi là “một Hạ”, ư nghĩa tương đồng. Hạ là mùa Hè, gọi là “nhất Hạ” v́ trong Phật giáo có quy chế An Cư mùa Hạ, An Cư quả thật là một chế độ vô cùng hay. Lúc đức Phật tại thế, sống theo lối khất thực. Mùa Hè tại Ấn Độ là mùa mưa, từ Rằm tháng Tư đến Rằm tháng Bảy là mùa mưa, mùa mưa đi ra ngoài khất thực khá khó khăn. Trời mưa lắm nước, trên mặt đất rất nhiều trùng, đi khất thực thường là không chú ư, mỗi ngày sẽ đạp chết mấy con trùng, cũng là vô ư sát sanh. Đồng thời, bọn ngoại đạo tại Ấn Độ cũng khất thực, trong ba tháng mùa mưa, họ cũng không ra ngoài khất thực, cũng có thể nói là họ đều an cư. Nếu đệ tử Phật đi khất thực trong ba tháng ấy, người thế gian sẽ xầm x́: “Bọn họ h́nh như chẳng giống kẻ tu đạo. Người khác tu đạo đều rất tuân thủ quy củ, chứ bọn họ không giống kẻ tu đạo”. V́ thế, có rất nhiều định chế về tập quán sinh hoạt trong nhà Phật chịu ảnh hưởng từ những tôn giáo ở Cổ Ấn Độ.

      Nhưng đức Phật đă ban [cho tập tục an cư mùa Hạ] một ư nghĩa đặc biệt, thù thắng! Ư nghĩa đặc biệt là ngoài những đệ tử thường tùy hằng ngày theo Phật, thân cận Phật mỗi ngày ra, đức Phật c̣n có rất nhiều đệ tử, số lượng c̣n nhiều hơn các vị thường tùy đệ tử, họ đều chủ tŕ các đạo tràng, giảng kinh, thuyết pháp tại mỗi địa phương. Những vị này có cơ hội thân cận Phật rất ít, hàng năm chỉ có một lần trong ba tháng An Cư mùa Hạ, thảy đều trở về gặp đức Phật, tức là mỗi năm họ có ba tháng ở cùng một chỗ với đức Phật, tiếp nhận tái giáo dục. Quy chế này vô cùng hay, mới thật sự có thể khiến cho dạy và học đều tiến triển. Do vậy, hằng năm, Phật có ba tháng để giáo dục nâng cao tŕnh độ, gom các môn đệ trụ tŕ hoằng pháp các nơi về. Một mặt là t́m các vị ấy về nghe đức Phật thuyết pháp, mặt khác là những đồng học cùng nhau nghiên cứu thảo luận, chẳng hạn như vị ấy ở nơi này hóa độ chúng sanh, gặp những vấn đề khó khăn, gặp phải những kẻ kỳ quái, đối phó ra sao, có những nỗi khó khăn nào, các đồng học sẽ cùng nhau trao đổi ư kiến, khiến cho trí huệ tăng trưởng, tăng trưởng kỹ năng ứng xử với tín đồ. V́ thế, đây là một quy chế giáo dục vô cùng tốt đẹp.

      Trên thế gian này, trong mấy năm gần đây, do khoa học kỹ thuật mỗi tháng mỗi ngày đều mới lạ, cho nên hiện thời mới có giáo dục nâng cao tŕnh độ. Nếu quư vị chẳng được nâng cao tŕnh độ, nói cách khác, quư vị sẽ lạc hậu, sẽ bị đào thải! Chúng tôi ở Mỹ, thấy có nhiều kỹ sư, nhân viên kỹ thuật trong các công xưởng của Mỹ, hằng năm thường được gởi đi huấn luyện, thời gian huấn luyện không dài, có khi là mười ngày, hay nửa tháng, nhằm học tập khoa học kỹ thuật mới mẻ, mới có thể đuổi kịp [đà tiến bộ trong ngành nghề của chính ḿnh]. Giáo viên trong trường học cũng phải được giáo dục nâng cao tŕnh độ giống như vậy, nếu họ chẳng được giáo dục nâng cao tŕnh độ, cứ áp dụng phương pháp cũ kỹ, cũng chẳng theo kịp thời đại. Khoa học kỹ thuật đổi khác mỗi tháng, mỗi ngày, thúc đẩy toàn bộ xă hội tiến bộ, phồn vinh, nếu quư vị chẳng thể hấp thâu kiến thức mới, chắc chắn sẽ lạc hậu, chắc chắn bị xă hội đào thải!

      Từ ba ngàn năm trước, Thích Ca Mâu Ni Phật đă đề xướng quy chế tấn tu, kết hạ an cư là giáo dục nâng cao tŕnh độ. Do vậy, nhà Phật thường nói: “Quư vị được bao nhiêu tuổi Hạ?” Bao nhiêu tuổi Hạ là quư vị đă an cư được mấy lần; đấy là tuổi xuất gia, quư vị đă xuất gia bao nhiêu năm?

 

      (Sao) Thông xưng giả, thượng vân đức lạp câu tôn.

       () 通稱者,上云德臘俱尊。

      (Sao: “Gọi chung”: Trong phần trên đă nói là đức hạnh lẫn tuổi lạp đều đáng tôn trọng [mới được gọi là trưởng lăo]).

 

      Một đằng là nói vị ấy có học vấn, có đạo đức, một đằng là nói vị ấy xuất gia khá lâu. Trong Phật môn, xuất gia mười năm là Hạ Tọa, hai mươi năm là Trung Tọa, ba chục năm là Thượng Tọa, trưởng lăo được gọi là Thượng Tọa. Tôi và pháp sư Tường Vân[2] c̣n thiếu một năm để gọi là Thượng Tọa, chúng tôi xuất gia hai mươi chín năm, phải là ba mươi năm mới có thể gọi là Thượng Tọa, sang năm mới tṛn ba mươi năm.

 

      (Sao) Thử vị độc đức quán chúng, đơn lạp tiên nhân, diệc đắc danh vi “trưởng lăo”.

       () 此謂獨德冠眾,單臘先人,亦得名為長老。

      (Sao: Ở đây có ư nói: Chỉ riêng đức hạnh đứng đầu đại chúng, hoặc chỉ tuổi hạ cao hơn người khác th́ cũng được gọi là “trưởng lăo”).

 

      Ở đây, đều gọi chung là trưởng lăo do có ư nghĩa như sau: Tuy tuổi tác chẳng lớn, xuất gia chưa lâu, nhưng nếu như vị ấy hữu đức hữu học th́ cũng tôn xưng là Thượng Tọa. Chẳng hạn như vị ấy mới xuất gia, tuy chưa lâu, nhưng đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, hoặc đă chứng quả, chứng đắc quả A La Hán; đấy là “đức tôn” (đức hạnh đáng tôn trọng), chẳng luận định tuổi tác của vị ấy. Có những vị tuy vẫn chưa khai ngộ, cũng chưa chứng quả, nhưng xuất gia rất lâu năm, cũng có thể gọi vị ấy là Thượng Tọa. Giống như mười sáu vị tôn giả ở đây, trừ ngài A Nan và La Hầu La ra, những vị khác tuổi tác đều rất cao. Tuy hai vị này trẻ tuổi, A Nan là tiểu đệ của Phật, tức là em họ trẻ nhất. Ngài sanh nhằm ngày đức Phật thành đạo. Đức Phật thành đạo lúc ba mươi tuổi, A Nan nhỏ hơn Phật ba mươi tuổi, La Hầu La là con trai Thích Ca Mâu Ni Phật; hai vị này tuổi tác tương đối trẻ, nhưng đều chứng quả, đức đáng tôn trọng, nên cũng gọi là trưởng lăo.

 

      (Sao) Như Tỳ Bà Sa Luận, Pháp Tánh Thượng Tọa, Sanh Niên Thượng Tọa chi loại, thị dă.

      () 如毗婆沙論,法性上座,生年上座之類是也。

      (Sao: Như trong luận Tỳ Bà Sa, phân loại Pháp Tánh Thượng Tọa và Sanh Niên Thượng Tọa là do ư nghĩa này).

 

       Pháp Tánh là hữu đức, minh tâm kiến tánh, được gọi là Thượng Tọa, xưng là trưởng lăo. Loại khác là Sanh Niên, tức là vị tăng có tuổi tác rất cao.

 

      (Sao) Hựu Đường dịch Cụ Thọ, tắc song bị đức lạp.

       () 又唐譯具壽,則雙備德臘。

      (Sao: Lại nữa, bản Đường dịch [ghi trưởng lăo] là Cụ Thọ, tức là đức lẫn tuổi Hạ đều cao).

 

      Bản “Đường dịch” là bản dịch của Huyền Trang đại sư. Trong bản dịch kinh này, Huyền Trang đại sư [dịch chữ “trưởng lăo”] thành Cụ Thọ. Hiện thời, ít dùng Cụ Thọ, chứ thời cổ thường sử dụng. Cụ Thọ cũng có nghĩa là học tṛ. Chúng ta thường thấy thầy tặng quà cho tṛ, trên ấy thường ghi tên “Mỗ mỗ hiền cụ thọ” (học tṛ X....). Thuở ấy, đức Phật gọi đệ tử bằng danh từ này, gọi họ là Cụ Thọ. Trong chữ Cụ Thọ, ư nghĩa Đức và Lạp thảy đều có.

 

      (Sao) Ngụy dịch Huệ Mạng, tắc chuyên tựu đức ngôn.

      () 魏譯慧命,則專就德言。

      (Sao: Bản dịch [kinh Vô Lượng Thọ] đời Ngụy ghi [trưởng lăo] là Huệ Mạng, tức là chuyên nói về đức).

 

      Trong kinh Vô Lượng Thọ, “Ngụy dịch” là bản dịch của ngài Khang Tăng Khải, [trưởng lăo] được gọi là Huệ Mạng, kinh Kim Cang cũng viết “Huệ Mạng Tu Bồ Đề”.

 

      (Sao) Tuy viết nhị khả thông xưng, vưu tất dĩ đức vi trọng.

      () 雖曰二可通稱,尤必以德為重。

      (Sao: Tuy nói cả hai loại này đều có thể gọi [là trưởng lăo], nhưng ắt coi trọng đức hơn).

 

      Có Sanh Niên và Pháp Tánh, nhưng vẫn coi đức tánh là chánh yếu, coi trọng đức tánh.

 

      (Sao) Kim kinh sở liệt, cái hữu hữu đức nhi vô lạp giả, vị hữu hữu lạp nhi vô đức giả dă.

      () 今經所列,蓋有有德而無臘者,未有有臘而無德者也。

      (Sao: Nay [mười sáu vị tôn giả] được nêu tên trong kinh này, có vị hữu đức thiếu lạp, nhưng chưa hề có vị nào có lạp thiếu đức).

 

      Đây là nói tới mười sáu vị tôn giả được nêu tên ở đây. Mười sáu vị tôn giả ấy, có vị hữu đức vô lạp, “vô lạp” là tuổi rất trẻ, có hai vị (A Nan và La Hầu La), nhưng chẳng có vị nào hữu lạp vô đức, đều là đức cao vọng trọng!

 

      (Sao) “Quán hạ” giả, trưởng lăo chi xưng, bất độc Xá Lợi Phất, năi chí A Nậu Lâu Đà, giai danh trưởng lăo, giai thượng thủ đệ tử dă.

  () 貫下者,長老之稱,不獨舍利弗,乃至阿耨樓馱,皆名長老,皆上首弟子也。

      (Sao: “Áp dụng chung” là danh xưng trưởng lăo không chỉ gọi riêng ngài Xá Lợi Phất, mà cho đến ngài A Nậu Lâu Đà đều gọi là trưởng lăo, đều là bậc thượng thủ trong các vị đệ tử).

 

      Trong kinh này, những vị ấy đều mang ư nghĩa biểu thị pháp, tượng trưng pháp môn này “thích hợp khắp ba căn, gồm thâu lợi căn lẫn độn căn”. Vị được nêu tên đầu tiên là tôn giả Xá Lợi Phất. Tôn giả Xá Lợi Phất trí huệ bậc nhất, biểu thị pháp môn này nếu chẳng phải là người trí huệ bậc nhất sẽ chẳng thể tin tưởng, chẳng thể phát nguyện cầu sanh Tây Phương. Nếu một người thật sự thông đạt Phật pháp, thật sự hiểu rơ sanh tử luân hồi đáng kinh sợ, không ai chẳng chọn lựa pháp môn Niệm Phật, v́ sao? Niệm Phật quyết định thành Phật, không chỉ quyết định thành Phật, mà c̣n quyết định thành Phật trong một đời, không cần đợi đến đời sau! Thật sự phát tâm niệm Phật tức là quư vị đối với lư luận, phương pháp, và cảnh giới của pháp môn này đều có thể hiểu rơ, thông đạt, y giáo phụng hành.

      Trong các buổi giảng, chúng tôi đă nói nhiều lần, điều ấy cũng chẳng phải là giả! [Do tu pháp môn này, đối với] tám nỗi khổ chen nhau nung nấu, chúng ta đều có thể diệt trừ, tuyệt diệu, thật sự ĺa khổ được vui! Chẳng cần nói tương lai văng sanh Tây Phương ĺa khổ được vui, mà là ĺa khổ được vui ngay trong hiện tại. Do vậy, người thật sự niệm Phật có thể đạt được “chẳng già, chẳng bệnh, chẳng chết”. Lúc văng sanh, sáng suốt, tỉnh táo, biết trước lúc mất, chẳng bị bệnh khổ, khi mất như nhập Thiền Định, đó là chẳng có tử khổ, lúc ra đi chẳng ngă bệnh. Chúng ta thấy nhiều người đă làm được, phải suy nghĩ: V́ sao họ có thể làm được? Cũng có chẳng ít người tuy niệm Phật, nhưng không làm được, quư vị hăy quan sát cặn kẽ, v́ sao họ chẳng làm được? Nếu chúng ta tự ḿnh quan sát rơ ràng, tiêu trừ nguyên nhân khiến cho chúng ta không thể làm được, học tập những người đă làm được, th́ chúng ta cũng sẽ làm được, cũng sẽ thành công! Phàm là người có thể làm được, tất nhiên là một trăm phần trăm y giáo phụng hành, công đức lợi ích ấy chẳng thể nghĩ bàn, v́ sao chúng ta không chọn lấy? V́ sao chẳng cần đến [pháp môn Niệm Phật này]? V́ thế, con người nói đến giác ngộ th́ người ấy giác ngộ điều ǵ? Giác ngộ điều này, đó mới gọi là thật sự giác ngộ, triệt để giác ngộ, đấy là trí huệ. Người giác ngộ có trí huệ, có thể chọn lựa, trong hết thảy các pháp môn, chọn lựa pháp môn thù thắng, chọn lựa pháp môn bậc nhất. Chúng ta sẽ thảo luận tỉ mỉ nghĩa lư này trong kinh Vô Lượng Thọ v́ kinh Vô Lượng Thọ vừa mở đầu bèn thảo luận vấn đề này!

 

      (Sớ) Xá Lợi Phất giả, Phạn ngữ Xá Lợi, thử vân Thu Lộ.

      () 舍利弗者,梵語舍利,此云鶖鷺。

      (Sớ: Xá Lợi Phất (Śāriputra), tiếng Phạn Xá Lợi, cơi này dịch là Thu Lộ).

 

      Dịch sang nghĩa tiếng Hán là Lộ Tư[3], Đài Loan có loại chim này!

 

      (Sớ) Phạn ngữ Phất, thử vân Tử, cố vân Thu Tử, diệc vân Thân Tử, diệc vân Châu Tử, cánh hữu đa hiệu, khủng phiền bất dẫn. Chư đệ tử trung, trí huệ đệ nhất. Xưng đệ nhất giả, cô hiển nhất đức, Ngữ vân: “Quân tử bất khí”, huống phục La Hán.

  () 梵語弗,此云子,故云鶖子,亦云身子,亦云珠子,更有多號,恐繁不引。諸弟子中,智慧第一。稱第一者,姑顯一德,語云:君子不器,況復羅漢。

      (Sớ: Tiếng Phạn “Phất” (Putra), cơi này dịch là Tử (con), nên [Xá Lợi Phất] được dịch là Thu Tử, hoặc Thân Tử, hoặc c̣n dịch là Châu Tử, có nhiều danh hiệu, sợ rườm rà nên chẳng nêu ra. Trong các vị đệ tử, Ngài có trí huệ bậc nhất. Nói “đệ nhất” chỉ là hiển lộ một đức. Sách Luận Ngữ nói: “Quân tử chẳng chỉ có một tài nghệ”, huống hồ bậc La Hán ư?)

 

      Huống ǵ những vị ấy đều là Đại A La Hán, chẳng phải là A La Hán thông thường.

 

      (Sao) Thu Tử giả.

       () 鶖子者。

      (Sao: Thu Tử)

 

      V́ sao Ngài có tên là Xá Lợi Phất? Cổ nhân đặt tên, Ấn Độ và Trung Quốc có rất nhiều chỗ tương tự. Có người đặt tên theo đức tánh, có người đặt tên dựa theo thân thể, chẳng hạn như những điểm đặc trưng đặc thù. Thí dụ như có người đầu rất lớn, chúng ta gọi là Đại Đầu, trọn chẳng phải là không dễ nghe. Cổ nhân thường có lệ này. Tôn giả Câu Hy La đầu gối rất lớn, to hơn người khác, nên [tên Ngài] dịch sang nghĩa tiếng Hán là Đại Tất Cái (đầu gối to). Cho nên có rất nhiều trường hợp đặt tên theo cách như vậy. Một loại khác, quá nửa là cha mẹ biểu lộ ḷng kỳ vọng nơi con cái, mong con cái mai sau khôn lớn sẽ danh xứng với thật. Chẳng giống như hiện thời, đặt tên lung tung xèng, chỉ quan tâm tới nét bút, Âm Dương cát hung[4], đều chẳng hợp t́nh hợp lư.

 

      (Sao) Kỳ mẫu sanh h́nh đoan chánh.

      () 其母生形端正。

      (Sao: Mẹ Ngài thân h́nh đoan chánh).

 

      Dung mạo của mẹ ngài Xá Lợi Phất vô cùng đoan chánh.

     

(Sao) Nhăn tịnh như Thu Lộ, liên mẫu đắc danh, vân thị Thu Lộ chi tử dă.

       () 眼淨如鶖鷺,連母得名,云是鶖鷺之子也。

(Sao: Mắt trong như mắt chim Thu Lộ, do mẹ mà Ngài có tên ấy, [Xá Lợi Phất] nghĩa là con bà Thu Lộ).

 

      Mắt của mẹ Ngài rất đẹp, giống như mắt chim Thu Lộ. Do vậy, mọi người gọi Ngài là “con bà Thu Lộ”, do gọi tên theo mẹ mà có danh hiệu như vậy.

 

      (Sao) Thân Tử tức thân đoan ư.

      () 身子即身端意。

      (Sao: Thân Tử: Ư nói thân thể đoan chánh).

 

      Mẹ Ngài thân h́nh đoan chánh, nên [Ngài được gọi theo đặc điểm của mẹ] thành Thân Tử.

 

      (Sao) Châu Tử tức nhăn tịnh ư.

() 珠子即眼淨意。

(Sao: Châu Tử có nghĩa là mắt trong veo).

 

      “Châu”“nhăn châu” (眼珠: tṛng mắt). Tṛng mắt của mẹ Ngài hết sức đẹp đẽ, nên gọi Ngài là Châu Tử. “Nhăn tịnh ư” có nghĩa là con mắt thanh tịnh.

 

      (Sao) Cánh hữu đa hiệu, phi kim sở cấp, cố bất phiền dẫn.

       () 更有多號,非今所急,故不繁引。

      (Sao: Ngài c̣n có nhiều danh hiệu nữa, nhưng nay những điều ấy chẳng cần thiết, nên chẳng cần nêu ra để khỏi rườm rà).

 

      Ngài có rất nhiều danh hiệu.

 

      (Sao) Hạ giai lệ thử.

  () 下皆例此。

      (Sao: Những vị sau đó đều theo lệ này).

 

      Mỗi vị tôn giả đều có rất nhiều danh hiệu, không chỉ là một tên.

 

(Sao) Trí huệ giả, tại mẫu thai thời, dĩ năng linh mẫu biện thắng kỳ cữu.

() 智慧者,在母胎時,已能令母辯勝其舅。

(Sao: “Trí huệ”: Lúc c̣n ở trong thai mẹ, đă có thể khiến cho mẹ tranh biện thắng cậu).

 

      Cậu của Ngài là tôn giả Câu Hy La; lúc Ngài chưa sanh ra, c̣n đang nằm trong bụng mẹ, b́nh thường mẹ Ngài biện luận với em trai luôn thua cuộc, em trai bà ta rất thông minh. Kể từ khi mang thai Xá Lợi Phất, mẹ Ngài biện tài vô ngại, mỗi lần cùng em trai biện luận, em trai đều thua. Người em suy nghĩ: “Đây chẳng phải là năng lực của chị ta! Trước đây, chị chẳng bằng ta, nhất định là do đứa bé trong bụng chị, tức cháu trai ta. Trong tương lai, nó ra đời, ta làm cậu mà chẳng tranh biện thắng nổi nó, mất mặt lắm”. Do vậy, tôn giả liền đi tham học. Đến Nam Thiên Trúc, tham phỏng các đại đức, nghiêm túc học tập, đọc mười tám loại kinh, chuẩn bị cho mai sau, khi trở về, đứa cháu đă lớn lên, chẳng đến nỗi thua nó, Ngài có ư niệm như thế! Trong thời gian cầu học, tôn giả vô cùng dụng công, chẳng có thời gian cắt móng tay, nên móng tay cũng rất dài, người ta gọi Ngài là Trường Trảo Phạm Chí (thầy tu Bà La Môn móng tay dài). Trường Trảo Phạm Chí là cậu của ngài Xá Lợi Phất.

      Đến khi Ngài trở về, Xá Lợi Phất đă bảy tám tuổi, đă theo Thích Ca Mâu Ni Phật xuất gia, Ngài cũng rất không phục, nói: “Cháu ta thông minh như thế, làm sao có thể theo Thích Ca Mâu Ni Phật xuất gia? Chẳng có lẽ nào?” Ngài t́m Thích Ca Mâu Ni Phật để biện luận. T́m được Thích Ca Mâu Ni Phật, liền hỏi: “Cháu ta là Xá Lợi Phất có thuộc trong hội của Phật hay không?” Đức Phật đáp: “Có, ở chỗ này của ta”. Ngài nghĩ muốn đem cháu về, đức Phật chẳng chấp thuận, bảo hăy biện luận, đức Phật bảo: “Nếu ông tranh biện thắng, ta sẽ cho ông mang Xá Lợi Phất về”. Tôn giả nói: “Tôi tranh biện thua, sẽ dâng đầu cho Ngài, chặt đầu đưa cho Ngài”. Đức Phật nói: “Được! Ông hăy đưa ra một đề tài”. Tôn giả bèn nói: “Tông chỉ của ta là chẳng thọ hết thảy các pháp”. Đức Phật liền hỏi: “Ông có thọ câu nói ấy hay không? Nếu ông thọ, tức là thua rồi. Hết thảy các pháp chẳng thọ th́ đối với pháp ấy ông thọ hay chẳng thọ?” Tôn giả nghe đức Phật nói như vậy, tự hiểu chẳng xong rồi, quay đầu bỏ đi. Đi không bao xa, bèn quay trở lại, đại trượng phu một khi đă thốt ra lời, ngựa kéo xe cặp bốn[5] khó đuổi theo được, đă hứa chặt đầu bèn chặt đầu, quay trở lại chỗ Thích Ca Mâu Ni Phật, thừa nhận đă thua, chuẩn bị chặt đầu dâng cho Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật nói: “Ta cũng chẳng cần ông chặt đầu, ông hăy ngoan ngoăn bái ta làm thầy trong hội này, làm đệ tử của ta là được rồi”. Do vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật cũng thu nhận cậu của ngài Xá Lợi Phất làm đệ tử. Chuyện này được Trí Độ Luận chép rất tỉ mỉ, tức là chuyện của Trường Trảo Phạm Chí[6]. Đây là nói khi Ngài ở trong thai, cũng có thể biện luận thắng cậu ḿnh.

 

      (Sao) Bát tuế đăng tọa, thập lục đại quốc, nghị luận vô song, thất nhật chi nội, biến đạt Phật pháp, cố viết trí huệ đệ nhất.

      () 八歲登座,十六大國,議論無雙,七日之內,遍達佛法,故曰智慧第一。

      (Sao: Năm tám tuổi lên giảng ṭa, trong mười sáu nước lớn[7], không ai nghị luận bằng được Ngài, [sau khi xuất gia với Phật], trong ṿng bảy ngày, thông đạt trọn khắp Phật pháp, nên gọi là trí huệ bậc nhất).

 

      Trong kinh, đức Phật đă nói rất rơ ràng: Xá Lợi Phất là cổ Phật tái lai, cố ư thị hiện. Mục Kiền Liên cũng thế, hai vị này là cổ Phật tái lai.

 

      (Sao) Cô hiển nhất đức giả.

      () 姑顯一德者。

(Sao: Chỉ hiển lộ một đức).

 

      “Cô” là tạm thời, cho thấy Ngài có quá nhiều đức, chỉ nêu lên một điều!

 

      (Sao) Minh phi Thân Tử chi ngoại, chư A La Hán giai vi liệt huệ.

      () 明非身子之外,諸阿羅漢皆為劣慧。

      (Sao: Nói rơ: Chẳng phải là ngoài ngài Xá Lợi Phất ra, các vị A La Hán khác đều là trí huệ kém cỏi).

 

      Nói thật ra, mười sáu vị này, không ai chẳng phải trí huệ đệ nhất, ai nấy đều có trí huệ, nhưng nhằm biểu thị pháp, nên mỗi cá nhân đại diện một thứ, thật ra, mỗi vị tôn giả đều là trí huệ đức năng vô lượng vô biên.

 

      (Sao) Diệc phi Thân Tử chỉ cụ trí huệ, dư tắc bất kiêm, cái thị các cử nhất đức, dĩ biểu pháp môn vô lượng.

      () 亦非身子止具智慧,餘則不兼,蓋是各舉一德,以表法門無量。

      (Sao: Mà cũng chẳng phải là ngài Xá Lợi Phất chỉ có trí huệ, chẳng có những đức năng khác, ấy là v́ đối với mỗi vị chỉ nêu một đức, nhằm biểu thị pháp môn vô lượng).

 

      Nhằm dụng ư biểu thị pháp, đại biểu pháp môn này.

 

      (Sao) Hựu dĩ dẫn chư thiên hảo nhĩ.

      () 又以引諸偏好耳。

      (Sao: Lại [nhằm dụng ư] tiếp dẫn những kẻ riêng ưa thích [một phẩm đức nào đó]).

 

      “Dẫn” là tiếp dẫn. Thế gian này có rất nhiều người ham mê khác nhau, có người ưa trí huệ, có kẻ chuộng thần thông, có người thích biện luận, mỗi cá nhân ham mê khác nhau. Ngài Xá Lợi Phất chuyên hướng dẫn loại người ưa chuộng trí huệ. Quư vị cầu trí huệ bậc nhất th́ đến đâu để học trí huệ đệ nhất? Trong kinh này, Ngài đại diện trí huệ đệ nhất, đại biểu ư nghĩa này. Có rất nhiều người nói “kinh Di Đà nhằm độ mấy bà già”, để độ bà già th́ cần ǵ phải kể tên Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên ở đây? Chẳng cần! Những kẻ đọc kinh Phật chẳng nghiên cứu [kỹ càng] đại ư của bản kinh thường nghĩ như vậy, quá sức ơ hờ! Người thật sự thông đạt Phật pháp, chẳng cần đọc kinh văn, nh́n thấy những vị nào được nêu tên trong kinh văn liền hiểu tánh chất và nội dung của bộ kinh ấy. Đây là v́ hướng dẫn những kẻ ưa chuộng riêng một môn nào đó!

 

      (Sao) Như kinh ngôn: Xá Lợi Phất yến tọa, Mục Liên dục khởi kỳ định, kiệt tận thần lực, bất năng động kỳ y chi nhất đới. Thường ngôn Mục Liên thần thông đệ nhất, thục tri Xá Lợi Phất thần thông, năi chí thị hồ!

      () 如經言:舍利弗晏座,目連欲起其定,竭盡神力,不能動其衣之一帶。常言目連神通第一,孰知舍利弗神通,乃至是乎。

      (Sao: Như kinh đă nói: Ngài Xá Lợi Phật ngồi yên, Mục Liên muốn Ngài xuất Định, bèn dốc cạn thần lực, nhưng chẳng thể động một chéo y của ngài [Xá Lợi Phất]. Thường nói “Mục Liên thần thông bậc nhất”, nào biết ngài Xá Lợi Phất thần thông đến thế!)

 

      Đây là nói đức năng trọn chẳng phải chỉ có một, nêu lên một thí dụ về sự thị hiện thần thông của ngài Xá Lợi Phất. Chúng ta hiểu: Trong các đệ tử đức Phật, ngài Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất, nhưng Mục Kiền Liên vẫn chẳng thể làm ǵ ngài Xá Lợi Phất được! Có một hôm, Xá Lợi Phất tịnh tọa, Mục Liên muốn Ngài xuất Định, đă dùng hết thần thông vẫn chẳng thể lay động Ngài, ngay cả đối với y phục của Ngài mà c̣n chẳng có cách nào lay động, huống ǵ những thứ khác? Quư vị mới hiểu ngài Xá Lợi Phất thần thông chẳng thể nghĩ bàn!

 

      (Sao) Quân tử bất khí giả, Khổng Tử ngữ.

  () 君子不器者,孔子語。

      (Sao: “Quân tử bất khí” là lời Khổng Tử nói).

 

      Đây là lời Khổng lăo phu tử nói[8], “khí” là khí cụ (器具: vật dụng), quân tử là người lắm tài, có rất nhiều sở trường. Chữ “Khí” hàm ư chỉ có một tài năng chuyên biệt, bởi lẽ, các vật dụng chỉ có một công dụng, chẳng thể có rất nhiều công dụng được. “Bất khí” nghĩa là lắm tài, lắm nghề, thứ ǵ cũng đều có thể làm được. Dưới đây là nêu một tỷ dụ:

 

      (Sao) Như châu bất khả lục, xa bất khả thủy, thị khí dă.

      () 如舟不可陸,車不可水,是器也。

      (Sao: Như thuyền chẳng thể lướt trên mặt đất, xe chẳng thể chạy dưới nước, đó là Khí (một công dụng chuyên biệt)).

 

      Thuyền chẳng thể đi trên đất, thuyền chỉ có thể bơi dưới nước, chỉ có một cách sử dụng.

 

      (Sao) Quân tử cụ túc đa năng, bất trệ nhất khí, khởi đắc vị Nhan Mẫn vô văn, Du Hạ khuyết hạnh.

      () 君子具足多能,不滯一器,豈得謂顏閔無文、游夏缺行。

      (Sao: Quân tử trọn đủ nhiều tài năng, chẳng vướng mắc nơi một tài năng nào. Há có thể nói Nhan Hồi và Mẫn Tử Khiên chẳng hiểu văn chương, Tử Du và Tử Hạ thiếu đức hạnh ư?)

 

      “Nhan” là Nhan Hồi, “Mẫn” là Mẫn Tử Khiên[9], họ đều là đệ tử nhập thất của Khổng lăo phu tử, tức là trong số những người được gọi Thất Thập Nhị Hiền (bảy mươi hai hiền nhân). Nhan Hồi được kể tên trong số những vị đức hạnh, chẳng lẽ Ngài chẳng hiểu ǵ về văn học ư? Hiểu chứ! Đặc biệt nêu gương đức hạnh của Ngài. “Du” là Tử Du, “Hạ” là Tử Hạ[10], Khổng lăo phu tử thường thường ca ngợi họ về tài nghệ, chẳng lẽ họ thiếu đức hạnh ư? Họ có chứ, bất quá chẳng nêu ra đó thôi!

 

      (Sao) Quân tử thượng nhĩ, huống siêu phàm nhập thánh, tam minh kiểu nhiên, lục thông thanh triệt, hiệu Lậu Tận A La Hán da? Cố viết “cô hiển nhất đức” dă.

       () 君子尚爾,況超凡入聖,三明皎然,六通清徹,號漏盡阿羅漢耶,故曰姑顯一德也。

      (Sao: Quân tử c̣n như thế, huống bậc siêu phàm nhập thánh, tam minh rạng ngời, lục thông thấu suốt, được gọi là Lậu Tận A La Hán ư? V́ thế, nói “chỉ hiển thị một đức”).

 

      Tam Minh và Lục Thông có cùng một ư nghĩa. Lục Thông là sáu thứ thần thông. Tam Minh là sáu thứ thần thông được nâng cao hơn, thù thắng hơn, nên gọi là Tam Minh. Tam Minh (Tri-vidyā) là Túc Mạng Minh (Pūrva Nivāsānusmrti Jñāna-sāksāt-kriya Vidyā), Thiên Nhăn Minh (Cyuty-upapatti Jñāna-sāksāt-kriya Vidyā) và Lậu Tận Minh (Āsrava-ksaya Jñāna-sāksāt-kriya Vidyā).

 

      (Sớ) Thủ cử Xá Lợi Phất, dĩ thử kinh duy trí sở giải cố.

      () 首舉舍利弗,以此經惟智所解故。

      (Sớ: Nêu tên ngài Xá Lợi Phất đầu tiên v́ chỉ có người trí mới hiểu kinh này).

 

      Ở đây, Liên Tŕ đại sư đặc biệt nhắc nhở chúng ta, kinh xếp ngài Xá Lợi Phất đầu tiên v́ nói thật ra, chỉ có bậc đại trí huệ mới có thể hiểu, tin, bằng ḷng y giáo phụng hành bộ kinh này!

 

      (Sao) Kinh trung Phật vị chúng sanh thuyết thử nan tín chi pháp, nan tín, tắc duy trí huệ thâm viễn giả, thỉ tín bất nghi, thị dĩ thủ cử.

      () 經中佛為眾生說此難信之法,難信,則惟智慧深遠者,始信不疑,是以首舉。

      (Sao: Trong kinh, đức Phật v́ chúng sanh mà nói pháp khó tin này. Khó tin th́ chỉ có người trí huệ sâu xa mới tin tưởng chẳng nghi; v́ thế, nêu tên Ngài đầu tiên).

 

      Đặt tôn giả Xá Lợi Phất ở đầu kinh, nhất là kinh này từ đầu tới cuối, đức Phật đều gọi ngài Xá Lợi Phất để nói, chẳng gọi người khác, ngụ ư chỉ có thể nói với người có đại trí huệ. Kẻ chẳng phải là bậc đại trí huệ sẽ chẳng tin tưởng, đây là pháp khó tin mà! Pháp môn này là pháp thành Phật ngay trong một đời; chúng ta đọc sách Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư [sẽ thấy] Ngài giải thích chữ Phật Thuyết trong tựa đề kinh, Thuyết là “duyệt sở hoài dă” (thỏa thích điều ấp ủ). Đức Phật lấy độ chúng sanh làm bổn hoài, đức Phật có nguyện vọng muốn độ trọn hết thảy chúng sanh, mong muốn hết thảy chúng sanh mau chóng thành Phật. Nay cơ duyên thành Phật của chúng sanh đă chín muồi, quư vị nghĩ xem: Đức Phật có vui sướng hay chăng? Thật sự là một ngày hiếm có khó gặp từ vô lượng kiếp tới nay, cơ hội khiến nhiều người dường ấy được thành Phật đă tới, đức Phật thật sự hoan hỷ, vui sướng, giảng cho chúng ta pháp khó tin này, tức là phương pháp quyết định thành Phật ngay trong một đời. Thưa quư vị, [do hành theo] những kinh điển khác, thành Bồ Tát, thành Duyên Giác, thành La Hán tuyệt vời lắm, nhưng chẳng có bộ kinh nào thành Phật! Quư vị đi kiếm, chẳng có bộ nào cả! Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, thành Phật như thế nào? Đến cuối cùng, “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, đến thế giới Cực Lạc thành Phật. Bộ kinh này từ đầu đến cuối giảng về thế giới Cực Lạc, chẳng phải là nói kèm theo, mà là toàn bộ đều nói! Hoa Nghiêm và Pháp Hoa là nói kèm theo, chẳng phải là chuyên nói, c̣n kinh này là kinh điển để thành Phật.

      Trong phần trước, chúng tôi đă một đôi lần nhắc nhở quư vị, niệm Phật thành Phật, niệm Bồ Tát thành Bồ Tát, niệm La Hán bèn thành La Hán, “tâm này là Phật, tâm này làm Phật”, tâm chúng ta muốn làm ǵ sẽ làm nấy. Do vậy, trong vô lượng pháp môn, chẳng có pháp môn nào thù thắng bằng pháp môn Niệm Phật! Kinh Hoa Nghiêm đă nói: “Thập Địa Bồ Tát, từ đầu tới cuối chẳng ĺa niệm Phật”, chúng ta tin tưởng. Qua năm mươi ba lần tham học trong Tứ Thập Hoa Nghiêm, chúng ta thấy Thiện Tài đồng tử đi tham phỏng, vị thiện tri thức thứ nhất là tỳ-kheo Đức Vân, trong Tứ Thập Hoa Nghiêm gọi Ngài là tỳ-kheo Cát Tường Vân, dạy Thiện Tài pháp môn Niệm Phật. Vị thiện tri thức cuối cùng, tức vị thiện tri thức thứ năm mươi ba là Phổ Hiền Bồ Tát, mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Do vậy, có thể biết: Thiện Tài đồng tử từ đầu tới cuối chẳng ĺa pháp môn Niệm Phật, Thiện Tài đồng tử tu pháp môn ǵ? Pháp môn tín nguyện tŕ danh, chúng ta thấy được điều này từ kinh Hoa Nghiêm. Giữa năm mươi mốt vị thiện tri thức ấy, bao gồm Tông, Giáo, Hiển, Mật, ngoại đạo, trong tất cả hết thảy các pháp môn, Niệm Phật là bậc nhất, Niệm Phật là thành Phật trong một đời. Thật sự hiểu rơ đạo lư này, các kinh khác, chẳng cần niệm Phật, Bồ Tát khác, quư vị mới là thật sự tin tưởng.

      Ta muốn tiêu tai vẫn niệm phẩm Phổ Môn, mắc bệnh vẫn niệm kinh Dược Sư, nghiệp chướng nặng nề bèn niệm kinh Địa Tạng, đấy là ǵ? Quư vị vẫn chưa tin tưởng! Thật sự tin tưởng, kinh này là kinh bậc nhất, pháp môn này là pháp môn đệ nhất. Nói tới tiêu tai th́ nói thật ra, Quán Âm Bồ Tát chẳng tiêu được, A Di Đà Phật có thể tiêu! Tiêu tội nghiệp, Địa Tạng Bồ Tát làm không được, nhưng A Di Đà Phật có thể thực hiện. Kẻ ấy chẳng tin A Di Đà Phật, cho nên đức Phật nói là pháp khó tin, chẳng sai! Kẻ ấy không tin, khó tin mà! Có bệnh tật bèn t́m Dược Sư Như Lai, chẳng biết t́m A Di Đà Phật, niệm như vậy hữu hiệu hay chăng? Hữu hiệu; nhưng hiệu quả chẳng lớn, nguyên nhân v́ sao? V́ tâm quư vị chẳng chuyên, nếu chuyên tâm sẽ có sức mạnh to lớn, tâm chẳng chuyên mà!

      Do vậy, một đạo tràng thật sự tu Tịnh Độ là khó có, từ thời Dân Quốc tới nay chỉ có đạo tràng của Ấn Quang đại sư chuyên tu Tịnh Độ, họ chỉ niệm một bộ kinh A Di Đà, trong mười hai thời một câu A Di Đà Phật chẳng gián đoạn, trong Niệm Phật Đường, Phật hiệu chẳng gián đoạn, đạo tràng ấy là đạo tràng của người thật sự thành tựu. Do vậy, chúng ta thấy pháp khó tin, vừa mở đầu bèn đặt Xá Lợi Phất vào vị trí thứ nhất, ư nghĩa ấy vô cùng sâu!

 

      (Sao) Hoặc nạn.

       () 或難。

      (Sao: Nếu cật vấn).

 

      “Nạn” là vấn nạn.

 

      (Sao) Bát Nhă Tâm Kinh, độc cáo Thân Tử, tắc tri Thân Tử chi trí, tại hồ giải Không, bất tại Tịnh Độ.

      () 般若心經,獨告身子,則知身子之智,在乎解空,不在淨土。

      (Sao: Bát Nhă Tâm Kinh chỉ nói riêng với ngài Xá Lợi Phất, nên biết trí của ngài Xá Lợi Phất chú trọng nơi giải Không, chẳng tại Tịnh Độ).

 

      Nếu có người đưa ra vấn đề này để tranh luận, trí huệ của ngài Xá Lợi Phất là giải Không, trong kinh Bát Nhă nêu tên Ngài, làm sao Ngài có biết Hữu? Tịnh Độ là Hữu! Dưới đây là câu trả lời của Liên Tŕ đại sư:

 

      (Sao) Y! Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, độc bất viết Tịnh Độ tức Không, Không tức Tịnh Độ hồ? Nhược bát Tịnh Độ, tắc phi Chân Không, bất giải Chân Không, tắc phi chánh trí, Thân Tử chi trí, tất bất như thị.

      () 噫!色即是空,空即是色,獨不曰淨土即空,空即淨土乎。若撥淨土,則非真空,不解真空,則非正智,身子之智,必不如是。

(Sao: Ôi! Sắc chính là Không, Không chính là Sắc, lẽ nào chẳng phải “Tịnh Độ chính là Không, Không chính là Tịnh Độ” hay sao? Nếu bài bác Tịnh Độ th́ sẽ chẳng phải là Chân Không, chẳng hiểu Chân Không sẽ chẳng phải là Chánh Trí, trí của ngài Xá Lợi Phất quyết chẳng phải là như thế).

 

      Đây là nói tới hai câu trong Tâm Kinh, cũng là hai câu trọng yếu trong Tâm Kinh. Sắc là ǵ? Nay chúng ta nói “vật chất” th́ trong Phật pháp dùng một chữ Sắc để đại diện. Sắc có phạm vi vô cùng rộng lớn, y báo và chánh báo đều bao gồm trong ấy. Trong Tâm Kinh nói “Sắc tức là Không”, lời này là thật, chẳng giả, v́ sao? Bản thể của hết thảy Sắc pháp là Không, trọn chẳng thể được. Phàm phu chúng ta mê mất chân tướng, tưởng những thứ ấy là thật; do vậy, dấy lên vọng tưởng trong ấy, có được, mất, có tốt, xấu, có phân biệt, có chấp trước, dấy lên vô minh, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chịu thua thiệt to lớn, chẳng biết chân tướng của hết thảy các Sắc pháp là không tịch.

      Thật ra, những hiện tượng này thường ở trước mắt, nhưng chúng ta chẳng giác ngộ. Những điều kinh giảng, quư vị càng nghĩ càng thấy có lư, Sắc là ǵ? Kinh thường giảng: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”, xác thực là mộng cảnh, đúng là mộng. Đang trong lúc chúng ta nằm mơ, cảnh giới trong mộng rơ ràng, quư vị tưởng là chân thật, tỉnh giấc toàn là rỗng không! Nay chúng ta mở toang con mắt, đấy là nằm mộng, quư vị đến tối nhắm mắt ngủ, chẳng phải là một mực đều Không, thứ ǵ cũng đều không có ư? Cảnh giới ấy hoàn toàn không có, quư vị tưởng cảnh giới ấy là thật ư? Giả! Ngày hôm sau, khi thức dậy, lại tiếp tục nằm mộng. Quư vị mơ giấc mộng ấy vài chục năm, mơ vài chục năm vẫn chẳng giác ngộ! Nằm mơ một hai ngày, chẳng giác ngộ, chẳng đáng trách, nhưng nằm mơ mấy chục năm vẫn chẳng giác ngộ? Người giác ngộ, nhắm mắt lại, hết thảy sắc tướng bên ngoài là Không, chẳng có nữa, Sắc tướng đă Không rồi!

      Có thể thấy sắc tướng bên ngoài là giả, chẳng thật. Chư vị thấu hiểu cặn kẽ, thấu hiểu chân tướng sự thật, chân tướng sự thật được gọi là “Thật Tướng của các pháp” như trong kinh đă nói. Sau khi thấu hiểu, lợi ích to lớn lắm, chẳng có phiền năo, v́ sao? Ư niệm lo được, lo mất chẳng c̣n, được và mất chẳng hai! Giống như quư vị nằm mơ, quư vị đạt được, mất đi, sau khi tỉnh giấc, thảy đều như không, thảy đều là không, được và mất chẳng hai, không có tâm được mất! Do không có tâm được mất, phiền năo mất đi chín mươi phần trăm! Hiện thời, chín mươi phần trăm phiền năo của chúng ta đều là do được mất mà có, lo được, lo mất. Ư niệm được mất chẳng có, tâm tự tại; đấy là tâm khai ư giải! Hiểu vạn pháp là không, vạn pháp là giả.

      Người thật sự giác ngộ, thông minh có trí huệ sẽ giống như Bồ Tát, chúng ta nắm chắc cơ duyên này, tự lợi, lợi tha, lợi ích thù thắng nhất trong các thứ lợi ích chính là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, không có lợi ích nào lớn hơn được! Đấy là thật sự giác ngộ, triệt để giác ngộ. Kẻ chẳng giác ngộ gặp Phật pháp chẳng tin, gặp pháp môn này chẳng muốn học, tu tập pháp môn khác. Người thật sự giác ngộ, nhất định chọn lựa pháp môn này. Chẳng chọn lựa pháp môn này, khăng khăng chẳng tu học pháp môn này, tức là chưa giác ngộ! Thật sự ngộ, buông xuống vạn duyên, nhất tâm tŕ danh, chính ḿnh thành Phật, mà cũng giúp cho người khác thành Phật.

      Tu học pháp môn này, đúng như kinh Vô Lượng Thọ đă nói: Pháp môn bậc nhất, là đệ tử bậc nhất của Như Lai; v́ thế, vị biểu thị pháp thứ nhất trong kinh Vô Lượng Thọ là tôn giả Kiều Trần Như, là người được Thích Ca Mâu Ni Phật độ đầu tiên sau khi thành Phật. Do vậy, pháp môn này là pháp môn đệ nhất, chúng ta y theo kinh điển này tu hành, sẽ là đệ tử bậc nhất của Phật. Trong kinh, đức Phật đă giảng rơ ràng, giống như đă thọ kư cho chúng ta vậy!

      “Sắc tức thị Không”, chúng ta phải hiểu: “Sắc” là nói về hiện tướng, “Không” là nói tới bản thể. Tánh và tướng chẳng hai, tánh, tướng như nhau, tánh như tướng, tướng như tánh. Chúng ta vẫn lấy chuyện nằm mộng làm tỷ dụ, tâm có thể nằm mộng là Không, cảnh giới trong mộng là Sắc, trong khi nằm mộng, toàn bộ cái tâm chúng ta biến thành mộng cảnh. “Không tức thị Sắc”, toàn thể mộng cảnh là tâm. “Sắc tức thị Không” Sắc và Không là một, chẳng hai. Nếu quư vị nói Sắc và Không là hai, trật rồi, chúng là một. “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”, là một, chẳng hai! Hiểu rơ đạo lư này, sáu căn của chúng ta tiếp xúc cảnh giới sáu trần cũng là “Sắc, Không bất nhị, Tánh, Tướng như một”. Đó là nhập Phật pháp. Nhập Phật pháp bèn thật sự giác ngộ; nhập cảnh giới ấy, vạn pháp b́nh đẳng, v́ sao? Toàn là sắc tướng hiển hiện từ Không. Cầm lấy một viên kim cương, mọi người coi như bảo bối, nó từ trong Không hiển hiện; lấy một cục đất bẩn thỉu, mọi người chẳng cần tới, đều chán ghét, nhưng nó cũng do tâm tánh hiển hiện, có cùng một tâm tánh, chúng là một, không hai!

      Trong hết thảy cảnh giới, quyết định chẳng có phân biệt, chấp trước hư vọng, tâm quư vị b́nh đẳng, tâm b́nh đẳng là Phật tâm! Nhân hạnh của mười pháp giới, Phật tâm là tâm b́nh đẳng. V́ sao Phật b́nh đẳng? V́ Ngài thấy hết thảy các pháp vốn b́nh đẳng. Hết thảy các pháp bất b́nh đẳng th́ sao? Bất b́nh đẳng là do quư vị nghĩ chúng bất b́nh đẳng, chẳng phải là hết thảy các pháp bất b́nh đẳng, do quư vị phân biệt, chấp trước hư vọng, tự nghĩ chúng là bất b́nh đẳng, bất b́nh đẳng là giả, chẳng phải là tướng chân thật. Tướng chân thật là b́nh đẳng, tướng chân thật là bất nhị. Điều này đích xác cần phải có trí huệ cao độ th́ mới có thể hiểu rơ chân tướng sự thật. Tịnh Độ là Sắc, lấy bốn câu trong Tâm Kinh làm công thức để áp dụng th́ “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, Tịnh Độ là không, không tức Tịnh Độ”.

 

      (Sớ) Ma Ha Mục Kiền Liên giả. Ma Ha, thử vân Đại. Mục Kiền Liên, thử vân Thái Thục Thị, nhất vân Lai Bặc, thần thông đệ nhất.

      () 摩訶目犍連者。摩訶,此云大。目犍連,此云采菽氏,一云萊菔,神通第一。

      (Sớ: Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha, cơi này dịch là Đại. Mục Kiền Liên, cơi này dịch là Thái Thục Thị, c̣n dịch là Lai Bặc, thần thông bậc nhất).

 

       Ma Ha (Mahā) là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Đại.

 

      (Sao) Mục Kiền Liên, tánh dă, danh Câu Luật Đà. Câu Luật Đà giả, thụ danh, đảo thụ thần nhi sanh, nhân dĩ vi danh.

  () 目犍連,姓也,名拘律陀。拘律陀者,樹名,禱樹神而生,因以為名。

      (Sao: Mục Kiền Liên (Maudgalyāyana) là họ, tên Ngài là Câu Luật Đà (Kolita). Câu Luật Đà là tên một loài cây, do cầu đảo thần cây mà sanh Ngài, nên đặt tên như vậy).

 

      Đây là do cha mẹ Ngài cầu khẩn nơi thần cây mà sanh ra đứa con ấy, nên đặt tên đó. Mục Kiền Liên là họ của Ngài.

 

      (Sao) Kỳ tộc chúng đa, cố biệt dĩ Đại.

      () 其族眾多,故別以大。

      (Sao: Ḍng họ Ngài đông đúc, nhằm phân biệt nên gọi là Đại).

 

      Gia tộc của Ngài vô cùng hưng vượng, nhân số rất đông; v́ thế, thêm chữ Đại vào trước tên họ để phân biệt, gọi Ngài là Đại Mục Kiền Liên.

 

      (Sao) Thần thông giả, như Phật thăng Đao Lợi, độc long chướng Phật, chư tỳ-kheo thỉnh hàng long, Phật giai bất hứa, Mục Liên hóa thân đại tiểu, long cụ toại phục. Hựu như ngoại đạo di sơn, chế chi bất động; nhất thành Thích Chủng, cử chi Phạm Thiên, cập chỉ xa, thiêu đường đẳng, cố vân thần thông đệ nhất.

      () 神通者,如佛昇忉利,毒龍障佛,諸比丘請降龍,佛皆不許,目連化身大小,龍懼遂服;又如外道移山,制之不動;一城釋種,舉之梵天,及止車燒堂等,故云神通第一。

      (Sao: “Thần thông” như Phật lên cơi trời Đao Lợi, độc long chướng ngại Phật, các tỳ-kheo xin phép hàng phục rồng, đức Phật đều không cho. Mục Liên hóa thân to, nhỏ, rồng sợ hăi liền hàng phục. Lại như ngoại đạo dời núi, Ngài ngăn trở chẳng cho lay động. Đem những người họ Thích trong cả một thành lên cơi Phạm Thiên, và ngăn xe, đốt điện đường v.v... nên nói là “thần thông bậc nhất”).

 

      Ở đây, nêu lên những chuyện thị hiện thần thông nổi tiếng nhất của ngài Mục Kiền Liên. Chuyện thứ nhất là Ngài hàng phục rồng. Đây là nói ở bên cạnh núi Tu Di, có hai long vương ở đó, tức Nan Đà long vương (Nanda) và Bạt Nan Đà (Updananda) long vương, hai long vương ấy là huynh đệ. Khi đức Phật lên trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ, tức là giảng kinh Địa Tạng, chuyên v́ mẹ Ngài mà giảng [kinh ấy] nhằm độ mẹ Ngài. Đi qua chỗ long vương ở, long vương thấy Thích Ca Mâu Ni Phật bay qua, bay lại, bèn nổi ḷng sân hận, miệng phun khói đen che lấp quang minh của mặt trời và mặt trăng, biến hiện thân h́nh rất lớn, quấn quanh núi Tu Di bảy ṿng. Quư vị thấy thân rồng to lắm, đuôi duỗi ngoài biển, đầu gác lên đỉnh núi, một con rồng to dường ấy! “Mục Liên hóa thân đại tiểu”: Mục Kiền Liên thấy con rồng ấy hóa thân to như thế, Ngài bèn biến ra thân lớn hơn nữa, dài gấp đôi, quấn quanh núi Tu Di mười bốn ṿng, rồng sợ hăi, thần thông của rồng chẳng hơn Ngài, bị Ngài hàng phục. Rồng cũng biết biến thân nhỏ, Mục Kiền Liên hóa thân vi tế, nhỏ hơn rồng, xục xạo trong tai và mũi rồng, rồng khó chịu lắm, nhưng chẳng làm thế nào được! Đấy là “biến đại, biến tiểu”!

      “Hựu như ngoại đạo di sơn, chế chi bất động” (Lại như ngoại đạo dời núi, ngăn trở chẳng cho lay động). Kinh nói: Thầy tṛ ngoại đạo hơn năm trăm người, nhất tâm nhất ư niệm chú để dời núi, niệm một tháng, quả nhiên chân núi lay động. Mục Liên thấy chuyện ấy, tâm nghĩ: “Nếu núi này động, chẳng biết bao nhiêu tiểu trùng trong ấy đều phải chết!” Do vậy, lăo nhân gia lên đỉnh núi tịnh tọa. Ngài vừa tịnh tọa th́ ngoại đạo niệm cách nào cũng chẳng thể lay động núi được. Đấy là “chế chi bất động”.

      Chúng ta hiểu chú thuật quả thật hữu hiệu. Xă hội hiện thời vô cùng rối loạn, yêu ma quỷ quái đầy rẫy trong xă hội này. Nghe pháp sư Khai Tâm nói thật đáng sợ, Ngài nói: “Chúng ta thường đi ngoài đường, mỗi ngày chen vai sát cánh với yêu ma, quỷ quái quá nhiều”. Ngày nay xă hội đại loạn, tà thuật quá nhiều, phàm là kẻ có thần thông thấy thần, thấy quỷ cũng chẳng phải là chuyện tốt lành! Thần thông có phải do người ấy tu được hay chăng? Không phải, chẳng bằng ngoại đạo trước kia. Trước kia, thần thông do ngoại đạo tự tu, thật sự chịu trọn nỗi khổ để tu thành thần thông. Hiện thời, có rất nhiều kẻ, chưa đầy vài ngày bèn có thần thông, thần thông của họ cũng chẳng phải là giả, họ đến nói với ta th́ ta cũng tin tưởng, nhưng thần thông của họ do đâu mà có? Do yêu ma quỷ quái dựa thân, chẳng phải thần thông của chính kẻ ấy! Lũ yêu ma, quỷ quái rời bỏ họ, ngay lập tức họ mất năng lực đó, chuyện là như vậy đó! Ngàn muôn phần đừng nên mong tưởng thần thông. Nếu quư vị mong thần thông, quỷ sẽ đến t́m quư vị, v́ sao? Quư vị có ư nghĩ ấy, chúng sẽ t́m đến quư vị. Quư vị chẳng có ư niệm ấy, chúng chẳng dám t́m tới. Quư vị có ư niệm ấy, nói cách khác, quư vị lôi kéo chúng nó, chúng nó sẽ đến. Quư vị chẳng dấy lên ư niệm ấy, mà chúng đến t́m sẽ là phạm pháp! Quư vị dấy lên ư niệm ấy, chúng sẽ đến t́m quư vị, chúng có lư do, chẳng bị coi là phạm pháp. Sau đó, quư vị gặp xui xẻo là đáng đời! Quư vị chèo kéo hắn, chứ hắn đâu có chèo kéo quư vị.

      Do vậy, pháp môn Tịnh Độ là y pháp, chúng ta biến lư luận, đạo lư, cảnh giới, và phương pháp trong tam kinh hoặc ngũ kinh thành tư tưởng, kiến giải, và hành vi của chính ḿnh, quyết định là thượng phẩm thượng sanh. Tam kinh phân lượng không nhiều lắm, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật hai quyển, kinh Di Đà một quyển, kinh Vô Lượng Thọ một quyển, [tất cả là] bốn quyển chẳng nhiều lắm! Bốn quyển kinh ấy, chúng ta thật sự thống thiết dốc công sức, quả thật biến chúng thành tư tưởng, kiến giải, hành vi của chính ḿnh, chẳng lẽ nào không thượng phẩm thượng sanh! Điều này rất trọng yếu. Kinh đă thấu triệt thuần thục, chúng ta có thể nắm vững cương lănh. Từ kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta học tập A Di Đà Phật, học tập tỳ-kheo Pháp Tạng, biến bốn mươi tám nguyện thành bổn nguyện của chúng ta, đồng nguyện, đồng chí với A Di Đà Phật th́ mới được! Chớ nên nói bốn mươi tám nguyện là của A Di Đà Phật; phải biến nguyện của A Di Đà Phật thành nguyện của chính chúng ta, biến hạnh của A Di Đà Phật thành hạnh của chính chúng ta, điều này chẳng phải là không làm được, ai nấy đều có thể làm được!

      Sau khi chúng ta đọc kinh này, đầy đủ Tín, Nguyện, Hạnh, hiểu rơ nguyên lư và nguyên tắc trong kinh Vô Lượng Thọ không chỉ là nguyên tắc và nguyên lư để tu Tịnh Độ, mà là nguyên lư của y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, “tâm này là Phật, tâm này làm Phật”, đấy là nguyên lư của toàn thể Phật pháp, quá mầu nhiệm. Hai câu tám chữ đă giảng rơ ràng, rành rẽ, quả thật là mầu nhiệm đến tột cùng! Phải thiết thực thực hiện Tịnh nghiệp tam phước, thật sự phát Bồ Đề tâm, nương theo nhân quả của chín phẩm để tu hành, lẽ đâu chẳng thành công? Tu các pháp môn khác thật sự khó, thật sự phức tạp. Pháp môn này đơn giản, dễ dàng, ai nấy đều có thể làm được, ai nấy đều có thể cầu được Thượng Phẩm, chúng ta quyết định chớ nên coi thường điều này. Người khác chẳng đồng ư với cách nói này, chẳng thể tiếp nhận, chúng ta chắp tay hoan hỷ, chớ nên biện luận với họ. Lục Tổ đại sư nói như vậy đấy! Người ta có thể nghe lọt tai th́ chúng ta khuyên lơn, khích lệ họ. Họ chẳng nghe lọt tai, muốn học pháp môn khác, chúng ta chắp tay cung kính, hoan hỷ, pháp môn khác cũng hết sức tốt đẹp, hết thảy các pháp môn đều do đức Phật nói, đâu có pháp nào chẳng tốt đẹp, pháp môn b́nh đẳng chẳng hai, chẳng khác, nhưng trong các pháp môn, quả thật có khó và dễ, đó là sự thật. Nói thật ra, khó hay dễ chẳng do pháp môn, mà do căn tánh của chúng sanh chúng ta; nhưng dẫu căn tánh nhạy bén tu các pháp môn khác, vẫn phải văng sanh Tịnh Độ. Trong Vô Lượng Thọ Kinh Huyền Nghĩa, chúng tôi đă nói: “Pháp môn này chuyên tiếp độ thượng căn”, thượng căn là ǵ? Quư vị có thể tin, phát nguyện, chịu niệm Phật, người ấy là thượng căn, nói thật ra là thượng thượng căn! Thượng thượng căn trong nhà Thiền là “minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ”, nói thật ra, vẫn thua người niệm Phật hạ phẩm hạ sanh, v́ sao? Người hạ phẩm hạ sanh văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ b́nh đẳng với Quán Âm, Thế Chí; người thượng thượng căn đại triệt đại ngộ minh tâm kiến tánh trong nhà Thiền, nói thật thà chẳng qua là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo, hoặc Sơ Địa Bồ Tát trong Biệt Giáo, chẳng dễ ǵ thấy Quán Thế Âm Bồ Tát, vẫn chưa thấy được! Quán Âm Bồ Tát là Đẳng Giác Bồ Tát, chẳng thấy được! Nếu quư vị thấy rơ chân tướng sự thật này, người chịu niệm Phật, người chịu phát tâm văng sanh quả thật là thượng thượng căn, Thiền chẳng sánh bằng!

      Mật lại càng chẳng cần phải nói nữa. Đối với thuyết “tức thân thành Phật” (thành Phật ngay trong thân này) của Mật giáo, trong Văn Sao, Ấn Quang đại sư đă giảng rất nhiều, đấy chỉ là liễu sanh tử, thoát tam giới mà thôi, cũng chỉ bằng A La Hán! Huống chi hiện thời Mật chẳng phải là chân thật, đều là giả, v́ sao? V́ trong Mật nói tới thần thông, cảm ứng, nên hết sức dễ bị yêu ma, quỷ quái xen tạp lợi dụng. Trong tâm người học Mật có một chút bất chánh, tà liền tiến nhập, chẳng phải là Phật, Bồ Tát đến, mà là yêu ma, quỷ quái tới. Do vậy, Mật hiện thời là yêu Mật, quỷ Mật, ma Mật, quái Mật, quư vị phải hiểu rơ ràng! Chẳng phải là Mật bất hảo, nhưng trong Mật có yêu ma, quỷ quái [xen tạp], quư vị chẳng thể phân biệt rơ ràng! Quư vị chẳng học được Phật Mật, mà học theo yêu ma, quỷ quái, phiền phức to! Nếu thật sự nói tới Phật Mật, quư vị lại chẳng chịu học, v́ sao? Phiền quá! Lắm quy củ quá! Nếu thật sự học Phật Mật, giới luật trong Mật Tông c̣n khó khăn và nghiêm ngặt hơn Hiển Tông rất nhiều! Ngày nay chúng ta thấy trên cả thế giới, rất nhiều kẻ học Mật cũng chẳng tuân thủ giới luật, ta liền biết Mật của họ là yêu ma, quỷ quái, chẳng phải là Mật chánh đáng, họ chẳng tŕ giới luật, chẳng đọc kinh điển Hiển Giáo, không được rồi!

      Mật Tông Tây Tạng xưa kia và hiện thời chẳng giống nhau, trước đây c̣n tương tự, hiện tại hỏng bét, không giống nữa! Trong Văn Sao, Ấn Quang đại sư đă phê b́nh Mật giáo Tây Tạng vô cùng nghiêm ngặt, trong Văn Sao có [những đoạn văn như vậy]. Ấn Quang đại sư là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai, chúng ta chẳng thể coi thường. Nếu Bậc Đẳng Giác Bồ Tát tái lai nói mà chúng ta vẫn không tin, chẳng c̣n biết làm sao nữa, cũng chẳng có cách nào! Ngay như Đạt Lại hay Ban Thiền cũng đều chưa phải là Đẳng Giác Bồ Tát. Theo ghi chép trong truyện kư, thân phận các vị ấy cũng chỉ là A La Hán! A La Hán chuyển thế, c̣n thua Đẳng Giác Bồ Tát rất xa! Do vậy, chúng ta nhất định phải hiểu rơ chân tướng sự thật trước mắt này, đừng bị bịt mắt, đừng bị mắc lừa! Chúng ta có thể gặp được pháp môn này, đúng như cổ nhân đă nói: “Một ngày hiếm có khó gặp từ vô lượng kiếp đến nay”, chúng ta đă gặp. Nếu chẳng thể nắm vững cơ duyên này, quả thật quá đáng tiếc!

      “Nhất thành Thích Chủng, cử chi Phạm Thiên, cập chỉ xa, thiêu đường đẳng” (Đem những người họ Thích trong cả một thành lên cơi Phạm Thiên, và ngăn xe, đốt điện đường v.v...), những câu chuyện này cũng là những chuyện xưa, quư vị xem trong Diễn Nghĩa đều có[11]. Ngày hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng tới đây.

 

Tập 112

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang hai trăm ba mươi mốt:

 

      (Sớ) Ma Ha Ca Diếp giả, thử vân Đại Quy Thị, nhất vân Ẩm Quang, Đầu Đà đệ nhất.

      (Sao) Đại Quy giả, tiên thế học đạo, hữu linh quy phụ đồ nhi xuất, nhân dĩ vi tánh.

       () 摩訶迦葉者,此云大龜氏,一云飲光,頭陀第一。

() 大龜者,先世學道,有靈龜負圖而出,因以為姓。

      (Sớ: Ma Ha Ca Diếp (Mahākāśyapa), cơi này dịch là Đại Quy Thị, c̣n dịch là Ẩm Quang, Đầu Đà bậc nhất.

Sao: Đại Quy: Tổ tiên Ngài học đạo, có con rùa thiêng đội đồ h́nh xuất hiện, do vậy lấy [Đại Quy] làm họ).

 

      Có điển cố ấy, nguyên do là như vậy.

 

      (Sao) Danh Tất Bát La, diệc thụ dă.

  () 名畢鉢羅,亦樹也。

      (Sao: Tên là Tất Bát La, cũng là tên một loài cây).

 

      Tất Bát La (Pippalā) là tên cây.

 

      (Sao) Xưng Đại, dĩ biệt đồng danh, như tam Ca Diếp đẳng.

      () 稱大,以別同名,如三迦葉等。

      (Sao: Gọi là Đại nhằm phân biệt với các vị cùng tên, như ba anh em Ca Diếp v.v...)

 

      V́ thị tộc Ca Diếp có rất nhiều người, người có tiếng tăm, có địa vị cũng khá nhiều, nhằm thuận tiện phân biệt, nên gọi Ngài là Ma Ha Ca Diếp, tức là Đại Ca Diếp. Ma Ha nghĩa là Đại.

 

      (Sao) Ẩm Quang giả.

      () 飲光者。

      (Sao: Ẩm Quang là...)

 

      Ma Ha Ca Diếp cũng được gọi là Ẩm Quang (nuốt mất ánh sáng).

 

      (Sao) Diêu túc sanh vi dă kim sư, dữ nhất nữ nhân, đồng dĩ kim nghiêm Phật tượng, toại cảm thế thế thân như kim sắc.

      () 繇宿生為冶金師,與一女人,同以金嚴佛像,遂感世世身如金色。

      (Sao: Do đời trước làm thợ kim hoàn đă cùng với một người nữ dùng vàng trang nghiêm tượng Phật, nên cảm quả báo đời đời thân như sắc vàng ṛng).

 

      Bản thân Ngài là một người thợ kim hoàn. Có một nữ nhân đem một bức tượng Phật đến nhờ Ngài thếp vàng. Ngài cảm thấy đây là chuyện rất tốt, bèn chẳng lấy tiền công. Công đức do hai người cùng làm, cho nên cảm quả báo đời đời kiếp kiến thân tướng vô cùng tốt đẹp, thân như sắc vàng ṛng.

 

      (Sao) Kim sắc hoảng diệu, thôn hồ dư sắc, danh Ẩm Quang dă.

      () 金色晃耀,吞乎餘色,名飲光也。

      (Sao: Sắc vàng chói ngời, nuốt mất các sắc khác, nên gọi là Ẩm Quang).

 

      Quang minh của Ngài mạnh hơn những người khác, giống như ban ngày chúng ta ở dưới ánh mặt trời, hết thảy các ánh đèn đều mờ mịt chẳng thấy. Đây là ư nghĩa quang minh rực rỡ vậy!

 

      (Sao) Đầu Đà giả, Phạn ngữ, thử vân Đẩu Tẩu, hoặc vân Đào Thải.

      () 頭陀者,梵語,此云抖擻,或云淘汰。

      (Sao: Đầu Đà (Dhūta) là tiếng Phạn, cơi này dịch là Đẩu Tẩu, hoặc dịch là Đào Thải).

 

      Đẩu Tẩu là trừ sạch sành sanh những trần lao trên thân.

 

      (Sao) Hữu thập nhị hạnh, vị nhất A Lan Nhă, nhị thường khất thực, năi chí thập nhị đản tam y.

      () 有十二行,謂一阿蘭若,二常乞食,乃至十二但三衣。

      (Sao: Có mười hai hạnh, nghĩa là: Một, trụ trong A Lan Nhă, hai là thường khất thực, cho đến hạnh thứ mười hai là chỉ có ba y).

 

      “Năi chí” (cho đến) là tỉnh lược những điều ở giữa. Chúng ta thường gọi Đầu Đà là khổ hạnh; trong các đệ tử Phật, Ngài khổ hạnh bậc nhất. Khi Ngài xuất gia, thân thế hết sức tốt đẹp, sanh trong một gia đ́nh phú quư; sau khi xuất gia, mà có thể tu khổ hạnh, cho nên đức Phật hết sức tán thán Ngài. A Lan Nhă (Āranya): Lan Nhă là chỗ nhiệt náo, A dịch là Vô, “vô nhiệt náo” là nơi rất thanh tĩnh; A Lan Nhă là chốn thanh tĩnh. Nói thật ra, xă hội trong quá khứ thanh tĩnh hơn xă hội hiện tại, nhất là người xuất gia đều ở tại núi rừng, chẳng phải ở trong đô thị. Nông dân sống trong làng quê, nông dân nuôi trâu ḅ nhiều nhất, tại Ấn Độ, trâu ḅ được mọi người rất tôn trọng, chỗ không nghe tiếng trâu ḅ kêu th́ cũng rất an tĩnh. A Lan Nhă lấy “không nghe tiếng trâu ḅ kêu” làm tiêu chuẩn thanh tĩnh. Hiện tại, rất nhiều âm thanh hỗn tạp c̣n lớn hơn tiếng trâu ḅ kêu, hiện nay, muốn t́m một nơi yên tĩnh khá khó khăn. [A Lan Nhă là] trụ xứ vô cùng u tĩnh, mang ư nghĩa ấy.

      Thứ hai là “thường khất thực”, mỗi ngày ra ngoài ôm bát khất thực.

Thứ ba là “thứ đệ khất” (khất thực theo thứ tự), tức là theo thứ tự thuận khất thực từng nhà, chẳng thể khất thực nhiều hơn bảy nhà. Nếu bảy nhà đều xin không được, ngày hôm ấy chỉ đành trở về nhịn đói cả ngày để hôm sau đi xin nữa. Chẳng thể chọn nhà có tiền để đến nhà người ta khất thực, ăn những món ngon hơn một chút, nếu như vậy là quư vị có tâm phân biệt. Người ấy (người hành hạnh Đầu Đà) không có tâm phân biệt, b́nh đẳng khất thực, dựa theo thứ tự thuận ấy.

Thứ tư là “nhất thực”, tức là ăn một bữa trưa, quá giữa trưa, quyết định chẳng thể ăn ǵ khác. Hiện thời, tuy nói là “tŕ ngọ”, nhưng thật ra chẳng phải là “tŕ ngọ”, mà là “quá trung bất thực” (qua khỏi giữa trưa chẳng ăn); giờ Ngọ là từ mười một giờ đến một giờ, hai tiếng đồng hồ. Giữa trưa, thời gian mỗi ngày đều khác nhau. Vào thời cổ, dùng nhật quỹ (đồng hồ mặt trời, sundial) để đo lường bóng nắng, phải ăn trước giữa trưa. Nếu gặp hôm trời âm u, th́ không có cách nào hết. Trước kia cũng không có đồng hồ, dẫu có đồng hồ cũng chẳng chuẩn xác. Hiện thời thuận tiện hơn trước kia, hiện nay có lịch thiên văn hằng ngày, ghi chép thời gian đúng giữa trưa là mấy giờ, mấy phút, mấy giây, rất rơ ràng. Sau giữa trưa chỉ có thể uống nước. Theo giới luật, thứ nào không trầm lắng th́ có thể uống được. Nước chẳng trầm lắng, mật ong, mật đường chẳng trầm lắng. Sữa đậu nành, nước trái cây có thể trầm lắng, phàm những thứ ǵ có thể trầm lắng đều chẳng được ăn. Hiện thời, chúng ta thấy rất nhiều người tŕ ngọ, nhưng buổi chiều trái cây cũng ăn, sữa ḅ, sữa đậu nành chẳng cần phải nói nữa! Uống một chén sữa, sữa ḅ có thể trầm lắng. Nói theo giới luật, hoàn toàn là phá trai, công đức tŕ ngọ hoàn toàn bị phá hoại!

      Thứ năm là “tiết lượng thực”, [tức là] người ấy ăn có hạn lượng, tuyệt đối chẳng phải dồn thức ăn ba bữa lại để ăn hết trong một bữa. Người ấy sợ đói đặc biệt ăn nhiều một chút, như vậy là không được, trật rồi! Chúng ta cũng thấy nhiều người tŕ ngọ, ngày nào chẳng tŕ ngọ sẽ ăn ít, ngày nào tŕ ngọ, bữa trưa ăn cơm đặc biệt nhiều, làm theo kiểu đó sẽ phá hỏng hệ thống tiêu hóa! Nói thật ra, tu hành không cần làm theo cách như vậy, chẳng phải là nói không ăn thứ ǵ bèn có thể thành đạo. Không ăn ǵ th́ rắn ngủ suốt mấy tháng mùa Đông chẳng ăn ǵ, quư vị có thể bằng chúng hay không? Chẳng sánh bằng! Chúng cũng chẳng thể thành đạo!

      V́ vậy, nhất định phải hiểu đạo lư của rất nhiều chế định, nghi quy trong kinh Phật. V́ thuở đức Phật tại thế, thói quen sinh hoạt của người xuất gia ngoại đạo đều là đi khất thực bên ngoài. Nếu đệ tử Phật không đi khất thực, người ta sẽ x́ xầm, nói Phật chẳng phải là người tu đạo, chẳng có cách nào, chỉ đành đi khất thực bên ngoài. Quá giữa trưa không ăn, là vào thời đại xưa kia, những đệ tử thường tùy của Phật quá nửa đều tịnh tọa tu Định ở đấy, tâm các Ngài đều thanh tĩnh. Thứ ǵ cũng đều không có, ba y một bát, thứ ǵ cũng đều buông xuống, tâm các Ngài thanh tĩnh. Người hiện tại chúng ta phiền năo quá nhiều, vọng tưởng quá nhiều, nếu quư vị tu mỗi ngày chỉ ăn bữa trưa, chẳng thể nào không sanh bệnh! V́ sao? Nói thật ra, thân thể này là một bộ máy, sở dĩ máy móc có thể vận hành th́ phải được bổ sung năng lượng. Bổ sung chẳng đủ, máy móc phải tổn hoại. Chẳng hạn như xe hơi, đổ không đủ xăng, nếu quư vị chạy với tốc độ cao, xe chẳng thể nào không hỏng, chẳng thể nào không bị trục trặc! Thân thể chúng ta là một cỗ máy, ẩm thực, dinh dưỡng là năng lượng! Đến lúc th́ quư vị phải cung cấp đầy đủ cho nó mới được, nó mới có tinh thần, mới có thể làm việc.

      V́ sao đệ tử Phật mỗi ngày ăn một bữa là đủ, chúng ta ăn ba bữa vẫn không đủ? Vẫn phải ăn nhẹ trước khi ngủ? Nguyên nhân là v́ máy móc của họ ít hao xăng, máy móc của ta tốn xăng, chẳng có cách nào, chẳng thể so sánh! Mọi người phải hiểu, năng lượng tiêu hao ở chỗ nào? Tiêu hao nơi vọng niệm, quư vị vọng tưởng càng nhiều, tiêu hao năng lượng càng lắm! Thuở trước, người xuất gia không có vọng tưởng, chẳng phan duyên, suốt ngày từ sáng đến tối chẳng suy tưởng, chỉ có nhập định, do vậy, tiêu hao năng lượng ít. Chứng đắc quả A La Hán, bảy ngày ăn một bữa, Ngài ở trong Định, tiêu hao càng ít. Kinh nói Bích Chi Phật nửa tháng đi khất thực một lần, nửa tháng ăn một bữa, công phu định lực càng sâu, tiêu hao năng lượng càng ít. Ngài ăn một bữa là đủ dinh dưỡng, nửa tháng ăn thêm một lần nữa là đủ. Chúng ta không được, vọng niệm quá nhiều, chẳng chịu tăng thêm [năng lượng] cho cơ thể, chẳng phải là quư vị tự chuốc phiền ư? Do vậy, mọi người phải hiểu rơ đạo lư này, chắc chắn chẳng phải là chuyện giữ thể diện, chẳng phải là chuyện làm cho dễ coi, mà tùy thuộc chúng ta có sức để làm được hay không, chớ nên miễn cưỡng.

      Do vậy, chúng ta phải học ăn có hạn lượng, đó là đúng. Cổ nhân Trung Quốc nói về đạo dưỡng sinh: Buổi sáng phải ăn ngon miệng, buổi trưa ăn no, buổi tối ăn ít. Rất hợp lư, giúp cho dưỡng sinh trên phương diện ẩm thực; nhưng đích xác là lượng ẩm thực tỷ lệ thuận với ư niệm của chính ḿnh. Ư niệm của chúng ta càng thanh tĩnh, niệm càng thanh tĩnh, càng ăn ít, đó là đạo lư tự nhiên. V́ thế, người tu hạnh Đầu Đà cũng ăn uống có chừng mực, cũng chẳng phải là ăn một bữa rồi ăn đặc biệt nhiều!

      Thứ sáu là “quá trung bất ẩm tương” (qua khỏi giữa trưa không uống chất tương), phàm là những thứ tương, [tức các thứ nước uống] có vật chất trầm lắng cũng chẳng ăn. Người tŕ ngọ khi quá Ngọ, tối đa là uống nước, có thể uống chút nước đường, quyết định chẳng uống những thứ trầm lắng!

    Thứ bảy là “trước phấn tảo y” (mặc y phấn tảo). V́ sao y phục người ấy mặc gọi là phấn tảo y? Đó là y phục cũ rách của người khác vứt bỏ, chẳng cần đến nữa, người ấy nhặt nhạnh, loại bỏ những chỗ hư nát, giữ lại những chỗ c̣n tốt, gom góp lại được nhiều, từng mảnh một, ca-sa là do từng mảnh chằm lại thành. Hiện thời mua một tấm vải, cắt vụn ra, may lại, đă sai ư nghĩa mất rồi. Nếu Phật tại thế, trông thấy, phải mắng người ấy chẳng biết tiếc phước. Phước điền y của người xuất gia làm theo cách đó là chuyện bất đắc dĩ. Quư vị nhặt nhạnh chất liệu vải vóc khác nhau, màu sắc cũng khác nhau, sau khi may xong, đem nhuộm màu để chẳng đến nỗi năm sáu màu, mặc áo nhiễm sắc. Quư vị phải hiểu phương thức sống trước đây là như vậy, khác với hiện thời! Tấm y hiện thời may theo cách đó chỉ mang tánh chất kỷ niệm mà thôi, chứ trước kia th́ không thể, nhất định phải nhặt nhạnh những rẻo vải bên ngoài ghép lại, lúc ấy mới có thể may thành một tấm y.

      Thứ tám là “đản tam y” (chỉ có ba y), chẳng thể có nhiều y phục, chỉ có ba y. V́ bên Ấn Độ trời nóng, ba y là đủ. Thật ra, y là một tấm vải lớn khoác trên người mà thôi!

      Thứ chín là “trủng gian tọa” (ngồi nơi mồ mả), người ấy muốn ngồi xuống nghỉ ngơi, phải đến đâu để ngồi? Đến ngồi nơi mộ phần, nhằm thường nhắc nhở chính ḿnh cảnh giác, mạng người vô thường, thường nghĩ đến chuyện này sẽ chẳng lưu luyến hết thảy các pháp thế gian.

Thứ mười là “thụ hạ chỉ” (nghỉ dưới gốc cây), buổi tối đi ngủ, chẳng phải là ngủ, mà t́m một gốc cây để có thể che sương, đến tịnh tọa dưới gốc cây, để qua đêm. Đức Phật quy định, chỉ nghỉ dưới mỗi gốc cây một đêm [hôm sau phải nghỉ dưới cây khác] để tránh tâm tham. Nếu cây này rất to, mỗi tối đều có thể đến đây, thôi rồi, tâm tham tăng trưởng! Do vậy, cây này chỉ có thể trú một đêm, đêm sau quyết định chẳng thể đến ở dưới cùng một gốc cây! Quư vị phải đi t́m chỗ khác, nên nói là “thụ hạ nhất túc” (nghỉ dưới gốc cây một đêm), để tuyệt đối chẳng tham luyến hoàn cảnh.

Thứ mười một là “lộ địa tọa” (ngồi nơi đất trống), công phu này cao hơn một chút, không cần ngồi dưới gốc cây, nơi đất trống cũng có thể ngồi!

Thứ mười hai là “đản tọa bất ngọa” (chỉ ngồi không nằm), sẽ chẳng nằm xuống ngủ. Mười hai thứ này gọi là hạnh Đầu Đà, tôn giả Ca Diếp thường tu khổ hạnh như vậy.

 

      (Sao) Dĩ tư khổ hạnh, tảo trừ trần lụy, trừng tịnh thân tâm dă.

      () 以斯苦行,掃除塵累,澄淨身心也。

      (Sao: Dùng các khổ hạnh ấy để trừ trần lụy, lắng trong thân tâm).

 

Đấy là mục đích tu hành.

 

      (Sao) Ca Diếp niên lăo, bất xả Đầu Đà, Phật mẫn kỳ suy, khuyến linh hưu tức, Ca Diếp Đầu Đà như cố. Phật năi thâm tán, hữu Đầu Đà hạnh, ngă pháp cửu tồn; cố vân Đầu Đà đệ nhất.

    () 迦葉年老,不捨頭陀,佛憫其衰,勸令休息,迦葉頭陀如故。佛乃深讚,有頭陀行,我法久存,故云頭陀第一。

      (Sao: Ngài Ca Diếp tuổi già chẳng bỏ hạnh Đầu Đà, đức Phật thương xót Ngài suy yếu, khuyên hăy nghỉ ngơi, Ca Diếp vẫn hành Đầu Đà như cũ, đức Phật hết sức tán thán: “Có hạnh Đầu Đà, pháp của ta tồn tại lâu dài”. V́ thế, nói Ngài là Đầu Đà bậc nhất).

 

      Tôn giả Ca Diếp lúc tuổi già, đức Phật khuyên Ngài đừng nên tu khổ hạnh như vậy, có thể thoải mái một chút, Ngài không chịu, vẫn tiếp tục tu khổ hạnh; do vậy, đức Phật đặc biệt tán thán Ngài.

      Hiện thời tu đạo khó khăn hơn xưa kia rất nhiều! Người hiện thời tu hành, nói thật ra, nếu có thể thành tựu thật sự cũng là chuyện chẳng thể nghĩ bàn, v́ sao? Hết thảy những phương cách lập ra cũng chẳng đúng pháp, sống chẳng đúng pháp. Nói cách khác, trong cuộc sống hằng ngày, không chỉ chẳng thể khiến cho quư vị đoạn tham, sân, si, mà c̣n là tăng trưởng tham, sân, si mạn, làm sao có thể tu thành đạo cho được? Tu chẳng thành công! Trong tự viện hiện thời, liêu pḥng là mỗi người một gian, mỗi người một gian sẽ chẳng thể tu đạo, chắc chắn tu chẳng thành công. Trong quá khứ, liêu pḥng tại tùng lâm tự viện là một pḥng ngủ tập thể, giống như trong quân đội, không có pḥng đơn. Trong tự miếu, chỉ có Trụ Tŕ Phương Trượng là có một căn pḥng nhỏ, những vị cương lănh chấp sự có một căn pḥng. Lại c̣n những vị già cả, thể lực suy yếu, có thể có một pḥng riêng. Những người trẻ tuổi nhất định không được, phải ngủ trong pḥng ngủ tập thể. Đó gọi là nương tựa vào đại chúng, như vậy th́ mới có thể thành tựu. Hiện thời, không chỉ là mỗi người một pḥng, mà c̣n có pḥng xép, nói thẳng thừng là hưởng phước, người ấy phước báo rất lớn! Hưởng xong rồi, đời sau dễ sợ lắm, v́ sao? Trong Phật môn thường nói: “Kim sanh bất liễu đạo, phi mao đới giác hoàn” (Đời này chẳng liễu đạo, đeo lông, đội sừng đền). Tương lai phải trả nợ, quư vị thiếu nợ bao nhiêu thí chủ, trả chưa xong, chuyện này phiền phức lắm! Do vậy, tu học trong hiện tại hoàn toàn phải dựa vào sự cảnh giác của chính ḿnh, chính ḿnh chẳng cảnh giác, chắc chắn bị đọa lạc.

 

      (Sớ) Ma Ha Ca Chiên Diên, tánh dă, thử vân Văn Sức, nhất vân Bất Định, nhất vân Phiến Thằng, nhất vân Ly Hữu Vô đẳng.

  () 摩訶迦旃延,姓也,此云文飾,一云不定,一云扇繩,一云離有無等。

      (Sớ: Ma Ca Ca Chiên Diên, là họ, cơi này dịch là Văn Sức, hoặc dịch là Bất Định, hoặc dịch là Phiến Thằng, hoặc dịch là Ly Hữu Vô v.v....)

 

       Ca Chiên Diên (Kātyāyana) là tiếng Phạn, chữ Phạn này bao hàm rất nhiều ư nghĩa trong ấy.

 

      (Sớ) Nam Thiên Trúc Bà La Môn tộc dă.

      () 南天竺婆羅門族也。

(Sớ: Ngài thuộc chủng tộc Bà La Môn ở Nam Thiên Trúc).

 

      Đây là nói đến xuất thân và gia thế của Ngài, Ngài thuộc chủng tộc Bà La Môn ở Nam Ấn Độ, trong bốn chủng tánh[12] của Ấn Độ, thuộc giai cấp tối cao.

 

      (Sớ) Luận nghị đệ nhất.

      () 論議第一。

      (Sớ: Luận nghị bậc nhất).

 

      Ngài có biện tài, trong các đệ tử Phật, Ngài là bậc luận nghị đệ nhất.

 

      (Sao) Văn Sức giả, văn thái tu sức dă.

  () 文飾者,文采修飾也。

(Sao: Văn Sức là văn vẻ, chải chuốt, bóng bảy).

 

      Chúng ta vừa nh́n đă thấy vị này b́nh thường rất trọng h́nh thức bề ngoài, rất coi trọng ăn mặc chải chuốt, dáng vẻ bề ngoài vô cùng đoan chánh.

 

      (Sao) Phàm nhân luận nghị, tâm tuy hiểu liễu thử lư, nhược trực toại nhi bất văn, hăn mạn nhi bất sức, tắc từ bất đạt ư, phi thiện ư luận nghị giả dă.

      () 凡人論議,心雖曉了此理,若直遂而不文,汗漫而不飾,則辭不達意,非善於論議者也。

      (Sao: Phàm là người luận nghị, tâm tuy hiểu rơ lư ấy, nhưng nếu nói thẳng thừng, lời lẽ chẳng tao nhă, câu chữ lan man, chẳng trau chuốt, ắt lời lẽ chẳng thể diễn đạt ư tưởng, chẳng phải là người luận nghị giỏi).

     

Ngài không chỉ trau chuốt dáng vẻ bề ngoài, mà ngay cả lời ăn tiếng nói cũng biết trau chuốt, gọt giũa. V́ thế, cùng người khác nói năng, lời lẽ hết sức ôn nhu, tao nhă, trang trọng.

 

      (Sao) Bất Định giả, tung hoành thiện xảo, thị thiện luận nghị ư.

       () 不定者,縱橫善巧,是善論議意。

      (Sao: Bất Định là ngang dọc khéo léo, ư nói khéo luận nghị).

 

      Bất Định mang ư nghĩa này, chính là như nay chúng ta nói “biện tài vô ngại”.

 

      (Sao) Phiến Thằng giả, tử hệ mẫu cố, hựu phá nhiệt đàn khúc vi Phiến Thằng.

      () 扇繩者,子繫母故,又破熱彈曲為扇繩。

      (Sao: Phiến Thằng: Do con ràng buộc mẹ, lại do phá nhiệt năo, trừ bỏ những lư lẽ cong vạy, nên gọi là Phiến Thằng).

 

      Những ư nghĩa được nói ở đây đều là nói về lúc Ngài cùng người khác biện luận. “Tử hệ mẫu” (con ràng buộc mẹ), trong đây cũng có một nhân duyên: Lúc tôn giả c̣n nhỏ, cha qua đời, Ngài là một cô nhi, mẹ Ngài cải giá (tái giá), Ngài một mực đi theo mẹ, nên nói là “tử hệ mẫu cố” (do con ràng buộc mẹ). Trưởng thành trong hoàn cảnh gia đ́nh như vậy, đương nhiên có nhiều chuyện chẳng thể vừa ư, phải chịu rất nhiều hạn chế. “Phá nhiệt đàn khúc”: “Nhiệt” () là nhiệt năo (nóng bức, chỉ phiền năo), “khúc” () là cong quẹo, chỉ tà tri tà kiến. Ngài có năng lực bài trừ phiền năo, phá trừ tà tri tà kiến cho người khác, [nên nói là “phá nhiệt đàn khúc”, “đàn” () là dùng cái ná để bắn đạn]. “Phiến thằng” là tỷ dụ, giống như phía đuôi cây quạt có buộc tua[13] [để trang trí], đây cũng là ư nghĩa “tử hệ mẫu” (con ràng buộc mẹ), Ngài theo mẹ đi tái giá, giống như sợi dây [trang trí] buộc vào cây quạt, mang ư nghĩa này.

 

      (Sao) Bất đọa đoạn thường, phát huy Trung Đạo, vi Ly Hữu Vô dă.

  () 不墮斷常,發揮中道,為離有無也。

      (Sao: Chẳng đọa vào đoạn kiến hay thường kiến, nêu rơ Trung Đạo, là Ly Hữu Vô).

 

      Ư nghĩa này dễ hiểu. Những nghĩa này đều được bao hàm trong danh hiệu Ca Chiên Diên.

 

      (Sao) Như ngoại đạo vấn: “Nhân tử bất hoàn, tri vô tha thế. Vị nhân tử thọ khổ, ưng đương hồi hoàn, cam thọ bất hoàn, cố vô tha thế”.

  () 如外道問:人死不還,知無他世。謂人死受苦,應當回還,甘受不還,故無他世。

     (Sao: Như ngoại đạo hỏi: “Người chết rồi chẳng trở về, nên biết là không có đời khác. Bởi lẽ, con người chết đi, chịu khổ, phải nên quay về, nay cam chịu, chẳng quay về, cho nên không có đời khác”).

 

Đây là nêu thí dụ, có ngoại đạo thỉnh giáo tôn giả. Kẻ ngoại đạo ấy chẳng tin có đời sau, v́ sao không tin? Người sau khi đă chết, chưa hề nghe nói người chết ấy trở về [báo tin], vậy th́ lẽ nào có đời sau? Đem vấn đề ấy hỏi Ngài.

 

      (Sao) Đáp ngôn: “Như thế tội nhân, bị trú lao ngục, ninh đắc quy phủ?”

      () 答言:如世罪人,被駐牢獄,寧得歸否。

      (Sao: Ngài đáp: “Như tội nhân trong cơi đời, bị giam trong ngục, có trở về được chăng?”)

 

      Ngài nêu tỷ dụ này cũng rất hay, giống như một kẻ phạm tội, bị bắt giam trong ngục, hắn có thể quay về hay chăng? Chẳng thể trở về được!

 

      (Sao) Hựu vấn: “Thiên hà diệc bất quy?”

      () 又問:天何亦不歸。

      (Sao: Lại hỏi: “[Kẻ sanh lên] cơi trời sao cũng không trở về?”)

 

      Người đă chết, sanh lên trời, cơi trời tự tại, v́ sao kẻ ấy chẳng trở về?

 

      (Sao) Đáp ngôn: “Đọa xí đắc xuất, khẳng tái nhập phủ?”

      () 答言:墮廁得出,肯再入否。

      (Sao: Đáp rằng: “Té xuống hầm cầu, được thoát ra rồi có chịu trở vào hay chăng?”)

 

      Thế gian của loài người [đối với chư thiên] giống như hầm phân, người ấy rất vất vả mới thoát ra khỏi hầm phân, người ấy có c̣n tiến vào nữa hay chăng? Người ấy sẽ chẳng tiến vào. Sanh lên cơi trời giống như thoát ra [khỏi hầm phân]. V́ thế, lời nghị luận của Ngài quả thật có thể khiến cho người khác chịu phục; đây là nêu ra vài thí dụ để nói.

 

      (Sao) Như thị chủng chủng diệu thuyết chư nghĩa, Tăng Nhất A Hàm tán vân: “Thiện phân biệt nghĩa, phu diễn giáo đạo, cố viết luận nghị đệ nhất”.

      () 如是種種妙說諸義,增一阿含讚云:善分別義,敷演教道,故曰論議第一。

      (Sao: Đủ mọi cách khéo nói các nghĩa như thế, kinh Tăng Nhất A Hàm[14] khen ngợi: “Khéo phân biệt nghĩa, diễn bày giáo đạo, nên nói là luận nghị bậc nhất”).

 

      Chúng ta lại xem vị tôn giả thứ năm:

 

      (Sớ) Ma Ha Câu Hy La, thử vân Đại Tất.

      () 摩訶俱絺羅,此云大膝。

      (Sớ: Ma Ha Câu Hy La, cơi này dịch là Đầu Gối To).

 

      Câu Hy La (Kaustthila) là tiếng Phạn, cơi này dịch là Đại Tất. Đầu gối của Ngài to hơn người khác, cho nên người ta gọi Ngài bằng tên này, dịch sang nghĩa tiếng Hán là “đầu gối to”, nên tên của Ngài gọi là Đại Tất Cái.

 

      (Sớ) Xá Lợi Phất cữu, đáp vấn đệ nhất.

      () 舍利弗舅,答問第一。

      (Sớ: Là cậu của ngài Xá Lợi Phất, trả lời câu hỏi bậc nhất).

 

      Ngài là cậu của Xá Lợi Phất. Trong các đệ tử của đức Phật, Ngài là bậc trả lời các câu hỏi bậc nhất.

 

      (Sao) Đại Tất giả, tùng trạng đắc danh.

      () 大膝者,從狀得名。

      (Sao: Do h́nh trạng mà có tên là Đại Tất).

 

      Do h́nh dạng mà Ngài có danh hiệu ấy.

 

      (Sao) Cữu giả, dữ Thân Tử mẫu, thị tỷ đệ cố.

      () 舅者,與身子母,是姊弟故。

      (Sao: “Cậu”: Ngài với mẹ ngài Xá Lợi Phất là chị em).

 

      Mẹ ngài Xá Lợi Phất là chị của tôn giả Câu Hy La, ngài Câu Hy La là cậu của ngài Xá Lợi Phất.

 

      (Sao) Văng luận thắng tỷ.

      () 往論勝姊。

      (Sao: Thường tranh luận thắng chị).

 

      B́nh thường hễ tranh luận với chị, Ngài luôn luôn thắng, chị chẳng thể căi giỏi hơn Ngài.

 

      (Sao) Tỷ hoài Thân Tử.

      () 姊懷身子。

      (Sao: Chị có mang Xá Lợi Phất).

 

      Lúc chị Ngài có thai, tức là hoài thai Xá Lợi Phất.

 

      (Sao) Cơ biện tấn phát, đệ bất năng cập.

       () 機辯迅發,弟不能及。

(Sao: Khả năng tranh biện cao hẳn lên, em trai chẳng thể sánh bằng).

 

Khi chị Ngài mang thai Xá Lợi Phất, đột nhiên biện tài vô ngại; mỗi lần biện luận, Ngài đều bị thua. Ngài nghĩ, trong tương lai đứa cháu trai này ra đời, nếu chẳng biện luận thắng nó, sẽ là chuyện rất mất mặt. V́ thế, Ngài phát phẫn tu học, đến nhiều nơi trên xứ Ấn Độ để tham học.

 

      (Sao) Phát phẫn du học, thệ bất tiễn trảo, độc thập bát chủng kinh.

       () 發憤遊學,誓不剪爪,讀十八種經。

(Sao: Phát phẫn du học, thề chẳng cắt móng tay, đọc mười tám loại kinh).

 

      Không có thời gian cắt móng tay, phát phẫn đọc sách, cầu học, cho nên móng tay rất dài, người ta gọi Ngài là Trường Trảo Phạm Chí.

 

      (Sao) Đáp vấn giả, diêu tinh cần cố, đắc tứ biện tài, xúc vấn năng đáp, cố vân đáp vấn đệ nhất.

       () 答問者,繇精勤故,得四辯才,觸問能答,故云答問第一。

      (Sao: “Đáp vấn”: Do siêng năng chuyên ṛng cầu học, đạt được bốn món biện tài, hễ được hỏi liền có thể đáp ngay, nên gọi là đáp vấn bậc nhất).

 

      Trong các đệ tử Phật, Ngài trả lời các câu hỏi bậc nhất. Vị tôn giả thứ sáu:

 

       (Sớ) Ly Bà Đa giả, thử vân Tinh Tú, nhất vân Thất Tú, vô đảo loạn đệ nhất.

   () 離婆多者,此云星宿,一云室宿,無倒亂第一。

      (Sớ: Ly Bà Đa (Revata), cơi này dịch là Tinh Tú, hoặc dịch là Thất Tú (sao Thất), không điên đảo, loạn tưởng bậc nhất).

 

      “Đảo” là điên đảo, “loạn” là loạn tưởng, vô đảo loạn bậc nhất.

 

      (Sao) Tinh Tú giả, tùng tinh khất tử nhi sanh, nhân dĩ vi danh. Thất Tú giả, Thất vi nhị thập bát tú trung, đệ thập tam tú, hoặc đảo thử tinh cố.

      () 星宿者,從星乞子而生,因以為名。室宿者,室為二十八宿中,第十三宿,或禱此星故。

      (Sao: Tinh Tú là do cha mẹ cầu đảo ngôi sao mà sanh ra, nên đặt tên như thế. “Thất Tú”: Sao Thất là ngôi sao thứ mười ba trong Nhị Thập Bát Tú[15], chắc là cầu đảo ngôi sao này).

 

      Có thể là cha mẹ Ngài cầu đảo ngôi sao ấy mà sanh ra đứa con này, nên Ngài có tên là Tinh Tú.

 

      (Sao) Vô đảo loạn giả, tâm chánh, cố bất điên đảo; tâm định, cố bất tán loạn, cố vân “vô đảo loạn đệ nhất”.

       () 無倒亂者,心正,故不顛倒;心定,故不散亂,故云無倒亂第一。

      (Sao: Vô đảo loạn là tâm chánh, nên chẳng điên đảo, tâm định nên chẳng tán loạn. V́ thế nói là chẳng đảo loạn bậc nhất).

      Trong các vị đệ tử, Ngài biểu thị vô đảo loạn đệ nhất .

 

      (Sớ) Châu Lợi Bàn Đà Già giả, thử vân Kế Đạo, nhất vân Đại Lộ Biên, cẩn tŕ bán kệ, đắc ngộ chứng quả.

      () 周利槃陀伽者,此云繼道,一云大路邊,僅持半偈,得悟證果。

      (Sao: Châu Lợi Bàn Đà Già (Ksudrapanthaka), cơi này dịch là Kế Đạo, c̣n dịch là Đại Lộ Biên, chỉ tŕ nửa bài kệ, đắc ngộ, chứng quả).

 

      Trong các vị đệ tử Phật, Ngài là người đần độn nhất. Do vậy, mười sáu vị tôn giả ở đây thảy đều là biểu thị pháp.

 

      (Sao) Kế Đạo giả, kỳ mẫu dựng thời hoàn gia, ư trung lộ đản tử, kế tục ư đồ lộ chi gian, cố vân Kế Đạo.

      () 繼道者,其母孕時還家,於中路誕子,繼續於途路之間,故云繼道。

      (Sao: Kế Đạo: Mẹ Ngài lúc mang thai, trở về nhà [mẹ đẻ], sanh con giữa đường, sau đó, [sanh ra Ngài] cũng trên đường nên đặt tên là Kế Đạo).

 

      Mẹ Ngài có thai lần đầu, sanh con trên đường [trở về nhà cha mẹ ruột], có thai lần này lại sanh trên đường đi. Do vậy, gọi là Kế Đạo.

 

(Sao) Đại Lộ giả, mẫu sanh nhị tử, giai ư lộ biên, ngôn đại dĩ biệt tiểu dă.

() 大路者,母生二子,皆於路邊,言大以別小也。

(Sao: Đại Lộ: Mẹ sanh hai con đều ở bên đường, nói Đại nhằm phân biệt với Tiểu).

     

Đây là Đại Lộ Biên.

 

      (Sao) Bán kệ giả, xuất gia ngu ám, cửu vô sở giải, huynh tiên nhập đạo, quái kỳ vô tri, khiển sử quy tục, ỷ Phật tự môn, ta thán lưu thế. Phật liên nhi lục chi, sử tụng “tảo trửu”, mỗi nhật tụng chi, kư nhất vong nhất, cửu chi hốt ngộ, cấu tịnh hoặc trừ, đắc A La Hán.

      () 半偈者,出家愚暗,久無所解,兄先入道,怪其無知,遣使歸俗,倚佛寺門,嗟歎流涕。佛憐而錄之,使誦掃箒,每日誦之,記一忘一,久之忽悟,垢淨惑除,得阿羅漢。

      (Sao: “Nửa bài kệ”: Ngài xuất gia, căn tánh ngu độn, tối tăm, tu học đă lâu mà chẳng hiểu biết ǵ, anh Ngài đă nhập đạo trước, quở Ngài vô tri, đuổi Ngài hoàn tục, Ngài đứng dựa cửa chùa, than khóc, trào lệ, đức Phật thương xót, giữ lại, bảo tụng câu “chổi quét”, mỗi ngày tụng đọc, nhớ được chữ này, quên chữ kia, lâu ngày bỗng ngộ, cấu sạch, Hoặc trừ, đắc A La Hán).

 

      Kinh dạy: Do có nhân duyên, Châu Lợi Bàn Đà Già kiếp trước là Tam Tạng pháp sư, là một người rất lỗi lạc. Vị pháp sư này tiếc pháp, dạy người khác chỉ dạy phân nửa, giữ lại phần sau, v́ sao? Sợ tương lai người khác học trỗi vượt ḿnh, cho nên đời này mắc quả báo ngu si. Do vậy, thảy đều là có nhân quả: Tiếc của mắc quả báo bần cùng; tiếc pháp mắc quả báo ngu si. Hai anh em Ngài đều xuất gia, anh Ngài thấy Ngài rất đáng thương, nghe kinh thật lâu mà vẫn chẳng hiểu, không chỉ chẳng hiểu ư nghĩa, mà một chữ cũng chẳng nhớ được, Do vậy, người anh khuyên Ngài: “Ngươi hăy về nhà cho xong, hoàn tục đi, đừng xuất gia nữa!” Ngài khóc nức lên, đương nhiên cũng là vừa hận chính ḿnh ngu si, vừa hận là phải rời khỏi đức Phật. Sau khi đức Phật trông thấy, biết nhân duyên trong kiếp trước của Ngài, nên giữ lại, dạy Ngài niệm hai chữ “tảo trửu” (chổi quét). Ngài niệm Tảo, quên mất Trửu, niệm Trửu quên bẵng Tảo, người đần độn như thế đấy! Nhưng niệm lâu ngày, Ngài bỗng nhiên khai ngộ, đó là do thiện căn trong đời quá khứ hiện tiền, khai ngộ, cũng chứng quả A La Hán. Nếu chẳng gặp Phật, cả đời này sẽ bị luống uổng! Do đức Phật biết nhân quả kiếp trước, biết dùng phương pháp ǵ để tảo trừ nghiệp chướng, khiến cho tôn giả khôi phục. Vị tôn giả thứ tám là...

 

      (Sớ) Nan Đà giả, thử vân Thiện Hoan Hỷ, Phóng Ngưu Nan Đà dă.

      (Sao) Phóng Ngưu Nan Đà giả, Nan Đà hữu tam, A Nan Đà, Tôn Đà La Nan Đà, kiêm thử vi tam, dĩ Phóng Ngưu biệt dư nhị dă.

      () 難陀者,此云善歡喜,放牛難陀也。

() 放牛難陀者,難陀有三,阿難陀,孫陀羅難陀,兼此為三,以放牛別餘二也。

      (Sớ: Nan Đà, cơi này dịch là Thiện Hỷ, tức Phóng Ngưu Nan Đà.

      Sao: Phóng Ngưu Nan Đà: Có ba vị Nan Đà, tức A Nan Đà, Tôn Đà La Nan Đà, và vị này là ba. Gọi là Phóng Ngưu để phân biệt với hai vị kia).

 

      Nan Đà (Nanda), trong các đệ tử Phật có tất cả ba vị [cùng tên Nan Đà] là Phóng Ngưu Nan Đà, A Nan Đà (chính là tôn giả A Nan), Tôn Đà La Nan Đà (Sundara-nanda). Dùng chữ Phóng Ngưu nhằm phân biệt với hai người kia, Phóng Ngưu có nghĩa là chăn trâu[16].

 

      (Sớ) A Nan Đà giả, thử vân Khánh Hỷ.

      () 阿難陀者,此云慶喜。

      (Sớ: A Nan Đà, cơi này dịch là Khánh Hỷ).

 

      Vị này là tôn giả A Nan, sau này kết tập Kinh Tạng, gọi đầy đủ là A Nan Đà (Ānanda), người Trung Quốc thường lược bỏ âm cuối, nên gọi Ngài là A Nan.

 

      (Sớ) Hựu vân Vô Nhiễm, Phật chi tùng đệ, đa văn đệ nhất. Tựu đương kinh, tắc A Nan dữ chúng, đồng văn Tịnh Độ chi giáo, nhi độc dĩ tổng tŕ lực, ức niệm bất vong, thành kết tập dă.

      () 又云無染,佛之從弟,多聞第一。就當經,則阿難與眾,同聞淨土之教,而獨以總持力,憶念不忘,成結集也。

      (Sớ: C̣n dịch là Vô Nhiễm, là em họ đức Phật, đa văn bậc nhất. Chính trong kinh này, ngài A Nan và đại chúng cùng nghe giáo pháp Tịnh Độ, nhưng riêng Ngài do sức tổng tŕ nên nhớ nghĩ chẳng quên, mới kết tập thành kinh điển).

 

      Về sau, ngài A Nan là người kết tập, lưu thông Kinh Tạng của đức Phật. V́ thế, vị này là vô cùng trọng yếu trong Phật môn. V́ sao gọi Ngài là Khánh Hỷ?

 

      (Sao) Khánh Hỷ giả, Phật thành đạo nhật đản sanh.

      () 慶喜者,佛成道日誕生。

      (Sao: Khánh Hỷ là v́ Ngài hạ sanh nhằm ngày Phật thành đạo).

 

      Ngày hôm ấy, ḍng họ Thích Ca song hỷ lâm môn.

 

      (Sao) Vương cập thần dân, kư văn thái tử thành Phật.

       () 王及臣民,既聞太子成佛。

      (Sao: Vua và thần dân nghe tin thái tử thành Phật).

 

      Đây là một chuyện vui, tin tức truyền tới.

 

      (Sao) Hựu văn cung trung đản tử.

       () 又聞宮中誕子。

(Sao: Lại nghe trong cung sanh hoàng tử).

 

      Cha của A Nan và cha của Thích Ca Mâu Ni Phật là anh em ruột. Tôn giả A Nan là con của người chú Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

      (Sao) Song mỹ nhị nan, nhất thời tất cụ, cử quốc hăn khánh, nhân dĩ lập danh.

       () 雙美二難,一時畢具,舉國忻慶,因以立名。

      (Sao: Hai điều tốt đẹp, hai điều khó khăn mà nay cùng lúc đạt được, cả nước vui mừng; do vậy, đặt tên cho Ngài là [A Nan]).

 

      Do như vậy mà Ngài có danh hiệu ấy, cho nên gọi là Khánh Hỷ.

 

(Sao) Hựu kiến kỳ tướng giả, văn kỳ thanh giả, đổ kỳ oai nghi giả, vô bất hoan hỷ cố.

       () 又見其相者,聞其聲者,睹其威儀者,無不歡喜故。

(Sao: Lại nữa, do người thấy h́nh tướng Ngài, nghe tiếng Ngài, thấy oai nghi của Ngài, không ai chẳng hoan hỷ).

 

      Tướng mạo của A Nan rất đẹp đẽ, đức Phật có ba mươi hai tướng, A Nan có ba mươi tướng, chẳng sai khác Phật cho mấy; v́ thế, người ta thấy Ngài đều hoan hỷ. Nghe tiếng Ngài, trông thấy oai nghi của Ngài, đều sanh tâm hoan hỷ. Điều này có liên quan đến danh hiệu.

 

      (Sao) Vô Nhiễm giả, tùy Phật nhập thiên cung, long cung, tâm vô nhạo trước, diệc kỳ sự dă.

      () 無染者,隨佛入天宮龍宮,心無樂著,亦其事也。

      (Sao: Vô Nhiễm: Theo Phật vào cung trời hoặc cung rồng, tâm chẳng ham đắm, cũng do chuyện ấy [mà được gọi là Vô Nhiễm]).

 

      Ngài chẳng nhiễm đắm, thường theo đức Phật. Đức Phật lên trời giảng kinh, Ngài cũng đi theo, Phật giảng kinh ở long cung, Ngài cũng đi theo, chẳng bị động tâm bởi sự phú quư. “Diệc kỳ sự dă” là nói tới chuyện vô nhiễm này.

 

(Sao) Phật tùng đệ giả, Phật, Tịnh Phạn vương tử; A Nan, Bạch Phạn vương tử, nhị vương côn quư cố.

() 佛從弟者,佛,淨飯王子;阿難,白飯王子,二王昆季故。

      (Sao: “Em họ của Phật”: Phật là con vua Tịnh Phạn (Śuddhodana), A Nan là con vua Bạch Phạn (Śuklodana), hai vua là anh em).

 

      Phụ thân họ là anh em ruột[17].

 

      (Sao) Đa văn giả, A Nan thị Phật nhị thập ngũ niên.

      () 多聞者,阿難侍佛二十五年。

      (Sao: Đa văn: A Nan hầu Phật hai mươi lăm năm).

 

      A Nan hai mươi tuổi xuất gia, Thích Ca Mâu Ni Phật đă giảng kinh hai mươi năm rồi. Năm A Nan hai mươi tuổi, [Thích Ca Mâu Ni Mâu Ni Phật đă năm mươi], Thích Ca Mâu Ni Phật vừa thành đạo bèn bắt đầu giảng kinh, Phật thành đạo đúng ngày A Nan sanh ra. V́ thế, đức Phật giảng kinh hai mươi năm, A Nan mới xuất gia. Đức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm tất cả. Sau khi A Nan xuất gia, sau năm năm mới làm thị giả của đức Phật. V́ thế nói Ngài hầu Phật hai mươi lăm năm. “Thị Phật” là làm thị giả của đức Phật. Vừa mới xuất gia chẳng phải là thị giả của Phật, sau năm năm, [đức Phật] mới chọn Ngài làm thị giả.

 

      (Sao) Phật sở thuyết pháp, bất vong nhất tự, Niết Bàn xưng A Nan đa văn sĩ.

       () 佛所說法,不忘一字,涅槃稱阿難多聞士。

      (Sao: Những pháp do đức Phật thuyết, Ngài chẳng quên một chữ, kinh Niết Bàn gọi A Nan là “bậc đa văn”).

 

Trong kinh Niết Bàn gọi A Nan là “đa văn sĩ”.

 

      (Sao) Hựu Ca Diếp tán viết: “Phật pháp đại hải thủy, lưu nhập A Nan tâm”.

      () 又迦葉讚曰:佛法大海水,流入阿難心。

      (Sao: Lại nữa, ngài Ca Diếp khen ngợi: “Nước biển cả Phật pháp, chảy vào tâm A Nan”).

 

      Ngài A Nan có trí nhớ vô cùng tốt, nghe qua một lần, vĩnh viễn ghi nhớ, chẳng quên mất. Do vậy, sau khi đức Phật diệt độ, kết tập kinh điển do ngài A Nan lên ṭa phức giảng (複講), tức là nhắc lại những điều đức Phật đă giảng một lượt, mọi người ghi chép lại rồi mới kết tập thành kinh điển.

 

      (Sao) Đồng văn độc ức giả, chánh biểu cường kư siêu hồ đẳng di dă. Cố viết đa văn đệ nhất.

       () 同聞獨憶者,正表強記超乎等夷也。故曰多聞第一。

      (Sao: “Cùng nghe, riêng nhớ”: Biểu thị Ngài có trí nhớ mạnh mẽ vượt trỗi đồng bạn, nên nói là đa văn bậc nhất).

     

“Đẳng di” là đồng bạn. Vị thứ mười:

 

      (Sớ) La Hầu La giả, thử vân Phú Chướng, hoặc viết Chấp Nhật, mật hạnh đệ nhất.

       () 羅睺羅者,此云覆障,或曰執日,密行第一。

      (Sớ: La Hầu La, cơi này dịch là Phú Chướng, hoặc là Chấp Nhật, mật hạnh bậc nhất).

     

Vị này là con trai Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

      (Sao) Phú Chướng giả, bổn A Tu La danh, khả dĩ thủ chướng nhật nguyệt, cố danh Phú Chướng, diệc viết Chấp Nhật.

  () 覆障者,本阿脩羅名,能以手障日月,故名覆障,亦曰執日。

      (Sao: Phú Chướng (ngăn lấp) vốn là tên của một vị A Tu La v́ vị ấy có thể dùng tay che lấp mặt trời hay mặt trăng, nên gọi là Phú Chướng hoặc Nắm Mặt Trời).

 

       La Hầu La (Rāhula) dịch sang nghĩa tiếng Hán là Phú Chướng; vốn là tên của một A Tu La. A Tu La ấy thần thông rất lớn, có thể dùng tay che khuất thái dương hay mặt trăng, cho nên gọi là Phú Chướng hoặc Chấp Nhật (cầm nắm mặt trời).

 

      (Sao) Chướng hữu nhị nghĩa.

       () 障有二義。

      (Sao: Chướng có hai nghĩa).

     

“Chướng” gồm có hai ư nghĩa.

 

      (Sao) Nhất vân: Phật vị sở chướng, bất tức xuất gia, dĩ vị hữu tử, phụ vương bất hứa xuất gia.

       () 一云:佛為所障,不即出家,以未有子,父王不許出家。

      (Sao: Một thuyết nói đức Phật bị Ngài chướng ngại, chẳng thể xuất gia ngay, do chưa có con nên phụ vương chẳng chấp thuận cho Phật xuất gia).

 

Quư vị đọc Thích Ca Phổ, hoặc xem truyện kư về Thích Ca Mâu Ni Phật sẽ hiểu: Thuở ấy, Tịnh Phạn Vương chẳng bằng ḷng cho Thích Ca Mâu Ni Phật xuất gia, v́ chưa có người nối dơi. Thích Ca Mâu Ni Phật phải sanh con trai rồi mới có tư cách xuất gia.

 

      (Sao) Hậu dĩ chỉ phúc hoài nhâm, phương toại bổn chí, tắc Phật bị kỳ chướng dă.

       () 後以指腹懷姙,方遂本志,則佛被其障也。

      (Sao: Về sau, chỉ vào bụng [vương phi] khiến [bà ta] hoài thai mới được toại chí, tức là Phật bị chuyện này ngăn trở vậy).

 

      Khi ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật bèn chỉ phi tử nói: “Cô ta đă có mang”, Da Thâu Đà La (Yasodharā) mang thai La Hầu La sáu năm mới sanh ra Ngài, nên gặp nạn rất lớn, không chỉ chướng ngại cha xuất gia, mà đồng thời c̣n khiến mẹ gặp tai nạn oan khuất.

 

      (Sao) Nhất vân lục niên tại thai.

   () 一云:六年在胎。

      (Sao: Thuyết kia là Ngài ở trong thai sáu năm).

 

      Thời gian Ngài ở trong thai lâu hơn người khác; người khác mười tháng bèn sanh, c̣n Ngài sáu năm, ở đây có nhân quả.

 

      (Sao) Dĩ túc sanh tằng tắc thử huyệt, u chi lục nhật, kim báo lục niên, tắc kỷ tự bị chướng dă.

  () 以宿生曾塞鼠穴,幽之六日,今報六年,則己自被障也。

      (Sao: Do đời trước từng lấp hang chuột, khiến [chuột] bị nhốt trong hang sáu ngày, nay mắc quả báo [ở trong thai] sáu năm, tức là chính ḿnh bị chướng lấp).

 

      Trong đời quá khứ nghịch ngợm, lấp hang chuột, lấp sáu ngày, khiến trong sáu ngày, chuột chẳng ra khỏi hang được. Kiếp này mắc quả báo phải ở trong thai mẹ sáu năm mới sanh ra. Nhân quả báo ứng, tự làm tự chịu, chẳng có cách nào! Tuy Ngài xuất gia, tập khí nghịch ngợm vẫn chưa trừ hết. Từ chuyện trước kia, Ngài lấp hang chuột, có thể biết Ngài rất nghịch ngợm. Sau khi xuất gia, Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài bái Xá Lợi Phất làm sư phụ, Ngài là đồ đệ của Xá Lợi Phất, suốt ngày từ sáng đến tối chơi đùa mà thôi!

 

      (Sao) Mật hạnh giả, kinh vân: “La Hầu La mật hạnh, duy ngă năng tri chi”. Duy Phật năng tri, tắc Bồ Tát, Thanh Văn giai sở bất tri, huống phàm phu hồ. Tích hạnh nhi nhân bất tri, cố viết mật hạnh đệ nhất.

  () 密行者,經云:羅睺羅密行,惟我能知之。惟佛能知,則菩薩聲聞皆所不知,況凡夫乎。積行而人不知,故曰密行第一。

      (Sao: Mật hạnh là như kinh nói: “Mật hạnh của La Hầu La, chỉ ḿnh ta có thể biết”. Chỉ ḿnh Phật có thể biết, th́ Bồ Tát, Thanh Văn thảy đều chẳng biết, huống hồ phàm phu! Tích lũy công hạnh nhưng người khác chẳng biết, nên gọi là mật hạnh đệ nhất).

 

      Tuy Ngài chơi đùa mỗi ngày, nhưng tu hành ngay trong chơi đùa, chỉ có đức Phật biết, người khác chẳng biết, chỉ thấy Ngài rất nghịch ngợm, suốt ngày từ sáng đến tối chơi giỡn, chẳng ai biết Ngài đang tu hành. Công phu tu hành ấy cao hơn người khác một bậc. Đấy là Phật tử La Hầu La.

 

      (Sớ) Kiều Phạm Ba Đề giả, thử vân Ngưu Ty, thọ thiên cúng dường đệ nhất.

  () 憍梵波提者,此云牛呞,受天供養第一。  

(Sớ: Kiều Phạm Ba Đề (Gavāmpati), cơi này dịch là Ngưu Ty, được chư thiên cúng dường bậc nhất).

     

Vị tôn giả này cũng có quả báo.

 

      (Sao) Ngưu Ty giả, quá khứ thế trung, khinh lộng sa-môn, kim báo ngưu ty.

      () 牛呞者,過去世中,輕弄沙門,今報牛呞。

      (Sao: Ngưu Ty: Trong đời quá khứ, khinh mạn, bỡn cợt sa-môn, đời này mắc quả báo nhai nhóp nhép như trâu nhơi).

 

      Trong đời quá khứ, Ngài nghe một vị tỳ-kheo già niệm kinh, nghe xong, Ngài ở bên cạnh, cười ghẹo vị ấy, nói âm thanh của vị ấy niệm kinh khó nghe, giống như [tiếng] một con trâu già. Vị tỳ-kheo già ấy bảo Ngài: “Ta đă chứng quả A La Hán, ông vô lễ đối với ta, trong tương lai sẽ mắc quả báo”. Ngài cực lực sám hối, kết quả vẫn đọa trong súc sanh đạo, biến thành trâu, làm trâu suốt năm trăm đời. Đấy là do bỡn cợt một vị tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ấy chẳng phải là sa-môn tầm thường, mà là A La Hán; cho nên mắc tội nặng như thế.

 

      (Sao) Hựu ngũ bách thế tằng vi ngưu cố, ngưu tuy bất thực, hằng sự hư tiếu, dư báo vị tận, cố xưng thử danh.

      () 又五百世曾為牛故,牛雖不食,恆事虛哨,餘報未盡,故稱此名。

      (Sao: Lại từng làm trâu năm trăm đời. Trâu tuy chẳng ăn, vẫn luôn nhơi nhóp nhép, dư báo chưa hết, nên được gọi bằng tên ấy).

 

      Tuy đời này, Ngài được làm thân người, xuất gia, vẫn c̣n tập khí của một con trâu. Miệng trâu luôn nhóp nhép, khi chẳng ăn cỏ cũng nhóp nhép. Dư báo chưa hết, do vậy, trực tiếp dùng tập khí ấy để đặt tên cho Ngài là Kiều Phạm Ba Đề, khiến cho người ta liễu giải, chẳng dám khinh mạn Ngài.

 

      (Sao) Thiên cúng giả, mă mạch chi báo, bỉ độc ư thiên thượng Thi Lợi Sa viên thọ cúng. Hựu phàm phu đổ h́nh, bất tri quán đức, khủng nhân cơ tiếu tao khiên, thường cư thiên thượng, chư thiên kính phụng, cố vân thọ thiên cúng dường đệ nhất.

      () 天供者,馬麥之報,彼獨於天上尸利沙園受供。又凡夫睹形,不知觀德,恐人譏笑遭愆,常居天上,諸天敬奉,故云受天供養第一。

      (Sao: “Chư thiên cúng dường”: Trong quả báo [Phật và tăng đoàn] phải ăn lúa mạch của ngựa, riêng Ngài ngự trên vườn Thi Lợi Sa cơi trời nhận cúng dường. Lại do phàm phu nh́n h́nh tướng, chẳng biết quán đức, sợ người ta sẽ chê cười chuốc lấy tội khiên nên Ngài thường ngự trên cơi trời, chư thiên tôn kính, phụng sự, nên nói là được chư thiên cúng dường bậc nhất).

 

      Phàm phu thế gian chẳng nhận biết Ngài. Nếu cũng có kẻ chê cười Ngài, tương lai kẻ ấy lại mắc quả báo năm trăm đời làm trâu, tức là chẳng từ bi! Do vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài đừng đi khất thực, sợ có kẻ chê cười Ngài, bảo Ngài hăy lên cơi trời thọ trai, chư thiên cúng dường Ngài. V́ chư thiên có Thiên Nhăn, nhận biết Ngài là bậc A La Hán, sẽ chẳng khinh mạn Ngài, sẽ khởi tâm cung kính đối với Ngài, cho nên Ngài được chư thiên cúng dường bậc nhất. Ở đây, cũng có một điển cố, tức là “mă mạch chi báo”. Phật và các đệ tử, tổng cộng một ngàn hai trăm năm mươi lăm người, là một đoàn thể rất lớn, từng ở ấp Tỳ Lan (Vairantya) suốt ba tháng chẳng có ǵ ăn. Đại khái là nơi ấy cũng có thiên tai, bất đắc dĩ người ta phải lấy lương thực cho ngựa ăn để cúng dường Tăng đoàn. V́ thế, có quả báo ba tháng ăn lúa mạch nuôi ngựa, thảy đều là có nhân quả báo ứng. V́ ngài Kiều Phạm Ba Đề được chư thiên cúng dường, nên Ngài không bị tai nạn ấy, mỗi ngày vẫn lên trời thọ trai, [trong khi] hết thảy mọi người đều phải chịu quả báo ăn lúa mạch dành cho ngựa, Ngài không bị, riêng Ngài ngự trên vườn Thi Lợi Sa (Serīsaka-vimāna) trong cung trời [Tứ Thiên Vương].

 

(Sớ) Tân Đầu Lô Phả La Đọa, thượng tam tự, thử vân Bất Động, danh dă; hạ tam tự, thử vân Lợi Căn, tánh dă.

      () 賓頭盧頗羅墮,上三字,此云不動,名也;下三字,此云利根,姓也。

      (Sớ: Tân Đầu Lô Phả La Đọa, ba chữ đầu cơi này dịch là Bất Động, là tên; ba chữ sau, cơi này dịch là Lợi Căn, là họ).

 

     Tân Đầu Lô Phả La Đọa (Pindola-bhāradvāja) là tiếng Phạn, tên và họ đều [được nêu ra] đầy đủ.

 

      (Sao) Tiên danh hậu tánh giả, kỳ tộc phàm thập bát, xưng danh tại tiền, biệt kỳ dư dă.

       () 先名後姓者,其族凡十八,稱名在先,別其餘也。

(Sao: “Nêu tên trước họ”: Ḍng họ ấy có đến mười tám người [nổi tiếng] nên nêu tên trước họ để phân biệt với những vị khác).

 

      Gia tộc của Ngài cũng vô cùng phồn thịnh.

 

      (Sao) Nại Da Luật vân: Thụ Đề trưởng giả, dĩ chiên-đàn bát trí sát đảnh thượng, hiệu ư chúng vân: “Thần lực năng thủ giả tức dữ”. Tôn giả hiện thông thủ bát, Phật ha trách dĩ, sắc linh bất đắc nhập diệt, lưu thân cửu trụ, ứng mạt thế cúng, vi đại phước điền dă.

  () 奈耶律云,樹提長者,以栴檀缽置剎頂上,號於眾云:神力能取者即與。尊者現通取缽,佛呵責已,敕令不得入滅,留身久住,應末世供,為大福田也。

      (Sao: Nại Da Luật chép: “Trưởng giả Thụ Đề (Jyotis), đem bát bằng chiên đàn đặt trên đầu cột phướn, rồi bảo đại chúng: “Ai có thần lực có thể lấy được sẽ tặng cho người đó”. Tôn giả hiện thần thông, lấy bát, đức Phật quở trách, truyền chẳng được nhập diệt, lưu thân ở măi trên thế gian để nhận cúng dường [của chúng sanh] trong đời Mạt, làm đại phước điền vậy).

 

       Nại Da Luật là Tỳ Nại Da Tạng (Vinaya), tức Luật Tạng. Ngài Tân Đầu Lô Phả La Đọa có thần thông; nói thật ra, thuở Phật tại thế, các vị đệ tử ai nấy đều có thần thông, nhưng Phật cấm ngặt, quyết định chẳng cho phép các Ngài tùy tiện thị hiện thần thông, chẳng thể được! Chỉ trong nhân duyên đặc biệt, nhưng vẫn phải được Phật đồng ư, chẳng thể dễ dăi thị hiện thần thông. Do Ngài dễ dăi thị hiện thần thông, nên Phật quở trách, lại c̣n trừng phạt, phạt Ngài ở lâu dài trên nhân gian, chẳng được phép diệt độ. Do vậy, tôn giả Tân Đầu Lô vẫn c̣n ở trên thế gian. Ngài có h́nh dạng ra sao, chính Ngài cũng chẳng nói, quư vị cũng chẳng nhận ra, Ngài biến hóa mà! Có người cúng trai, cúng Thiên Tăng Trai (trai tăng ngàn vị), Ngài cũng đến nhận cúng dường. Ngài đến nhận cúng dường th́ quư vị có phước; v́ thế, gọi là phước điền. Nay chúng ta cúng trai tăng, nếu người đến nhận cúng dường toàn là phàm phu, chẳng có thánh nhân, phước chúng ta tu ấy sẽ chẳng lớn. Nếu trong số các vị nhận cúng dường có thánh nhân, phước báo ấy sẽ rất lớn!

      Giống như thuở trước, vua Tiền Liêu[18] cúng dường trai tăng một ngàn vị, nhằm lúc Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư trụ thế, Định Quang Cổ Phật đến ứng cúng, vua có phước báo to lớn. Chúng ta biết Vĩnh Minh Diên Thọ là A Di Đà Phật tái lai, do Định Quang Phật nói ra. Vĩnh Minh Diên Thọ là tổ sư Tịnh Độ đời thứ sáu, quốc vương cử hành Thiên Tăng Trai, tức là cúng dường một ngàn người xuất gia đến thọ trai, ứng cúng. Khi đó tiếng tăm lớn nhất là ngài Vĩnh Minh Diên Thọ. Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ là quốc sư, tức là thầy của quốc vương. Trong lúc ứng cúng, trong khi thọ trai, ghế chủ tọa cứ nhường tới nhường lui, ai cũng chẳng chịu ngồi! Mọi người đang nhường nhau, có một vị ḥa thượng chẳng khách sáo chi hết, bước tới ghế chủ tọa, ăn mặc cũng rất xốc xếch, rất lôi thôi, chẳng có một ai quen biết Sư, mà cũng chẳng biết Sư từ đâu đến. Sư ngồi ghế chủ tọa, quốc vương tuy trong ḷng rất khó chịu, nhưng vị ấy cũng là người xuất gia, cũng chẳng tiện lôi xuống, mọi người ngồi vào vị trí như vậy. Sau khi thọ trai xong, Sư đột nhiên bỏ đi, quốc vương liền hỏi Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư: “Hôm nay trẫm cúng trai tăng, bậc thánh hiền có tới ứng cúng hay chăng?” Ngài nói: “Có chứ! Định Quang Cổ Phật tới ứng cúng”. Quốc vương hỏi: “Vị nào vậy?” “Là ḥa thượng ngồi ghế chủ tọa”. Vị ḥa thượng ấy tai rất lớn nên mọi người gọi Ngài là Đại Nhĩ ḥa thượng. Quốc vương vừa nghe nói Định Quang Cổ Phật tới ứng cúng, tuyệt quá! Vốn trước đó, trong tâm là cả một đống bực bội, [nay biết] vị ấy là cổ Phật đến ứng cúng, vội vă sai người truy t́m dấu vết, đi khắp nơi ḍ hỏi xem Ngài đi theo đường nào, khi t́m được th́ Ngài đang tịnh tọa trong hang động.

Những kẻ ấy biết Ngài là Định Quang Cổ Phật, mọi người tới lạy Phật, Ngài nói một câu: “Di Đà lẻo mép”, A Di Đà Phật nhiều chuyện! V́ sao lại nói ra thân phận của ta? Ngài bèn đi, [tức là] bèn nhập diệt. Mọi người thấy Định Quang Cổ Phật đă viên tịch, nhưng nghe nói “Di Đà lẻo mép”, vậy th́ Vĩnh Minh Diên Thọ là A Di Đà Phật. Do vậy, lúc trở về, không sao, Định Quang Cổ Phật đă viên tịch, A Di Đà Phật vẫn c̣n, quay về lạy A Di Đà Phật, biết Vĩnh Minh Diên Thọ là A Di Đà Phật. Vội vă quay về cung tâu tŕnh: “Đại Nhĩ ḥa thượng đă nhập diệt”. Quốc vương nghe tin rất áo năo, nhưng lại nghe Vĩnh Minh Diên Thọ là A Di Đà Phật tái lai, vô cùng hoan hỷ, vội vă đến gặp ngài Vĩnh Minh Diên Thọ, c̣n đi chưa được mấy bước, bên ngoài có người đến tâu: “Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư đă viên tịch”. Do vậy, quư vị phải hiểu, chẳng thể bộc lộ thân phận, hễ thân phận bại lộ, bèn phải viên tịch ngay lập tức!

Hiện thời, tôi nghe nói tại Trung Quốc lẫn ngoại quốc có rất nhiều kẻ nói họ là Bồ Tát chi đó tái lai, Phật ǵ đó tái lai, nói rồi vẫn chẳng đi, điều này chẳng thể tin tưởng, hễ nói ra phải tịch! Người khác nói cũng được, mà chính ḿnh nói cũng được, nhưng hễ nói xong phải tịch! Quư vị thấy Di Lặc Bồ Tát tự ḿnh nói, chẳng do người khác nói. Chính Ngài nói Ngài là Di Lặc Bồ Tát, nói xong, bèn ra đi. Nay chúng ta tạc tượng Di Lặc Bồ Tát là tượng Bố Đại ḥa thượng, Ngài là người đời Tống, nhằm thời Tống Cao Tông, cùng thời với Nhạc Phi. Lúc Ngài viên tịch, tự nói ḿnh chính là Di Lặc Bồ Tát, nói xong bèn mất. Do vậy, trong Phật môn, hễ thân phận bị bộc lộ, phải ra đi ngay lập tức, chẳng thể nào thân phận đă bộc lộ mà vẫn không đi, đó chắc chắn là gạt người, chắc chắn chẳng đáng tin cậy. Bởi lẽ đó, tôn giả Tân Đầu Lô tới nay vẫn c̣n trên thế gian.

 

      (Sớ) Ca Lưu Đà Di, thử vân Hắc Quang.

       () 迦留陀夷,此云黑光。

      (Sớ: Ca Lưu Đà Di (Kālodāyin), cơi này dịch là Hắc Quang).

 

      Vị tôn giả này, nhất định là một người đen đúa, v́ da Ngài rất đen. Người da đen cũng có thể học Phật, cũng chứng quả A La Hán, chúng ta cũng chẳng thể khinh dễ Ngài! Hiện thời, trên thế giới này, có chuyện kỳ thị chủng tộc, thường rẻ rúng người đa đen. Người da đen cũng có thể chứng quả A La Hán, cũng có thể thành Phật, có thể thấy Phật pháp b́nh đẳng.

 

      (Sao) Hắc Quang giả, nhan dung thô hắc cố, hựu hắc sắc quang diệu, dị thường hắc cố, dạ hành khất thực, nhân kiến kinh hăi, Phật cấm dạ hành, diêu thử chế dă.

       () 黑光者,顏容粗黑故,又黑色光耀,異常黑故,夜行乞食,人見驚駭,佛禁夜行,繇此制也。

      (Sao: Hắc Quang là dung mạo thô kệch, đen đúa, lại do sắc đen chói ngời, do đen đúa dị thường, ban đêm đi khất thực, người khác trông thấy kinh hăi. Đức Phật cấm [tỳ-kheo] đi ban đêm, cũng là do chuyện này mà chế định).

 

      Ngài đă có một ngày đi khất thực buổi tối, khiến một bà bầu hoảng hồn, người ta tưởng Ngài là quỷ. Do vậy, đức Phật mới chế định giới luật sau đây: Tỳ-kheo buổi tối chẳng được phép ra khỏi cửa, chẳng được phép đi lại [ngoài phạm vi tinh xá]. Giới điều này do Ngài mà chế định.

 

      (Sớ) Ma Ha Kiếp Tân Na giả, thử vân Pḥng Tú, tri tinh tú đệ nhất.

      (Sao) Pḥng Tú giả, nhị thập bát tú trung, đệ tứ tú dă. Phụ mẫu đảo thử tinh nhi sanh tử, nhất vân sơ xuất gia thời, tương dục nghệ Phật.

   () 摩訶劫賓那者,此云房宿,知星宿第一。

  () 房宿者,二十八宿中,第四宿也。父母禱此星而生子,一云初出家時,將欲詣佛。

      (Sớ: Ma Ha Kiếp Tân Na (Mahākalpina), cơi này dịch là Pḥng Tú, biết tinh tú bậc nhất.

Sao: Pḥng Tú[19] là ngôi sao thứ tư trong Nhị Thập Bát Tú. Cha mẹ cầu đảo ngôi sao này mà sanh ra Ngài, có thuyết nói lúc Ngài mới xuất gia, sắp đến chỗ Phật).

 

      Đi đến chỗ Thích Ca Mâu Ni Phật, muốn theo Phật xuất gia.

 

      (Sao) Trung lộ trị vũ, kư thực đào xá, nga hữu tỳ-kheo lai cộng túc chỉ. Bỉ tỳ-kheo giả, tức Phật hóa hiện, văn pháp đắc đạo. Tắc Pḥng Tú giả, dĩ ư đào gia pḥng xá nhi lữ túc cố, diệc nhất nghĩa dă.

      ()中路值雨,寄食陶舍,俄有比丘來共宿止。彼比丘者,即佛化現,聞法得道。則房宿者,以於陶家房舍而旅宿故,亦一義也。

      (Sao: Giữa đường mắc mưa, phải ở nhờ nhà người thợ gốm, chợt có một vị tỳ-kheo đến cùng nghỉ lại. Vị tỳ-kheo ấy chính là đức Phật hóa hiện. Tôn giả nghe pháp đắc đạo, nên [gọi là] Pḥng Tú là do nghỉ chân nơi nhà của người thợ gốm, đây cũng là một ư nghĩa).

      Có hai ư nghĩa như sau: Một ư nghĩa là cha mẹ Ngài cầu đảo nơi tinh tú mà sanh ra đứa con ấy. Ư nghĩa thứ hai là khi Ngài xuất gia, muốn theo Phật xuất gia, đương nhiên đường sá khá xa xôi, trên đường bèn tá túc trong nhà một người thợ làm đồ gốm. Lúc ấy, cũng có một vị tỳ-kheo đến nơi ấy. Vị tỳ-kheo ấy do Thích Ca Mâu Ni Phật hóa thân, giống như đến tiếp dẫn tôn giả, thấy Ngài xuất gia tâm rất kiền thành, liền thuyết pháp cho Ngài, Ngài chứng quả ngay nơi ấy. Trong ấy (trong danh hiệu Ngài) cũng có ư nghĩa Pḥng Tú (nghỉ đêm trong nhà).

 

      (Sao) Tri tinh tú giả, bất giả cơ hành, thông hiểu thiên tượng, cố vân tri tinh tú đệ nhất.

      () 知星宿者,不假璣衡,通曉天象,故云知星宿第一。

      (Sao: Tri tinh tú: Chẳng nhờ vào các dụng cụ thiên văn, mà thông hiểu các hiện tượng thiên văn, nên nói là tri tinh tú bậc nhất).

 

       “Cơ hành”[20] là các dụng cụ hay máy móc dùng trong thiên văn, Ngài không cần dùng những dụng cụ, máy móc đó, vẫn có thể biết thiên văn. Trong các đệ tử đức Phật, Ngài là một nhà thiên văn học. Vị thứ mười lăm:

 

      (Sớ) Bạc Câu La giả, thử vân Thiện Dung, thọ mạng đệ nhất.

      () 薄拘羅者,此云善容,壽命第一。

      (Sớ: Bạc Câu La (Vakkula), cơi này dịch là Thiện Dung, thọ mạng bậc nhất).

 

      Đây là một vị có tuổi tác lớn nhất trong các đệ tử Phật.

 

      (Sao) Thiện Dung giả, nhan mạo đoan chánh cố.

      () 善容者,顏貌端正故。

      (Sao: Thiện Dung là vẻ mặt đoan chánh).

 

      Trong các tỳ-kheo, Ngài lớn tuổi nhất, là một vị tỳ-kheo già, tướng mạo vô cùng đoan chánh, hết sức đoan nghiêm.

 

      (Sao) Thọ mạng giả, thọ mạng bách hữu lục thập, cố vân Thọ Mạng đệ nhất.

  () 壽命者,壽命百有六十,故云壽命第一。

      (Sao: “Thọ mạng”: Tuổi thọ đến một trăm sáu mươi, nên nói là thọ mạng bậc nhất).

 

      Thọ mạng một trăm sáu mươi tuổi, thọ mạng bậc nhất.

 

      (Sao) Diêu tích tŕ bất sát giới, cửu thập nhất kiếp, thọ bất trung yểu.

      () 繇昔持不殺戒,九十一劫,壽不中夭。

      (Sao: Do kiếp xưa giữ giới chẳng giết, nên chín mươi mốt kiếp, sống thọ, chẳng chết yểu).

 

      Đây là nói tới nhân quả, v́ sao Ngài khỏe mạnh trường thọ như vậy? Trong đời quá khứ, Ngài đời đời kiếp kiếp tŕ giới chẳng sát sanh, giữ rất nghiêm, cho nên được quả báo này. Quư vị phải hiểu: Phàm là quả, nhất định luôn có nhân; chẳng thể nào có quả mà thiếu nhân! Có nhân mà chẳng có quả, chẳng có chuyện ấy! Nhân và quả nhất định tương ứng. Đức Phật dạy chúng ta, quả báo đều do tu được, của cải là do trong đời quá khứ tu Tài Bố Thí mà đạt được. Có người phát tài rất khó, rất vất vả mới có của cải. Có người rất dễ phát tài, hầu như là chẳng bận tâm, tiền từ trên trời rơi xuống! Đó là trong quá khứ, lúc tu nhân, người ấy tu Tài Bố Thí. Có kẻ tu Tài Bố Thí bèn bố thí rất miễn cưỡng, trong tương lai kẻ ấy có được quả báo hay không? Có quả báo, nhưng quả báo là có được [của cải] cũng chẳng dễ dàng! Có người bố thí rất nhanh nhẹn, căn bản là chẳng để ư, cứ việc bố thí, trong tương lai đạt được quả báo cũng rất dễ dàng, cũng là vô ư mà có được của cải, đúng là “một miếng ăn, một hớp uống, không ǵ chẳng định trước”, chẳng có mảy may miễn cưỡng được! Pháp bố thí đắc thông minh, trí huệ, vô úy bố thí đắc khỏe mạnh, trường thọ. Chẳng sát sanh là vô úy bố thí; v́ thế, Ngài đắc quả báo khỏe mạnh, trường thọ.

 

      (Sao) Hựu tích tằng thí nhất bệnh tăng Ha Lê Lặc quả.

      () 又昔曾施一病僧訶梨勒果。

      (Sao: Lại xưa kia từng bố thí một vị tăng mắc bệnh một trái Ha Lê Lặc[21]).

 

      Đây là bố thí cho vị xuất gia bị bệnh, chăm sóc vị ấy.

 

      (Sao) Cảm ngũ bất tử.

  () 感五不死。

      (Sao: Cảm được năm loại không chết).

 

      Được quả báo tốt lành, năm thứ bất tử.

 

      (Sao) Sơ sanh hiện dị, mẫu dĩ vi quái, trí chi ngao bàn bất tử.

       () 初生現異,母以為怪,置之熬盤不死。

      (Sao: Lúc mới sanh, hiện tướng lạ, mẹ cho là yêu quái, bỏ trong mâm đem nướng, chẳng chết).

 

      Lúc mới sanh, Ngài chẳng giống người b́nh thường cho lắm. V́ thế, mẹ Ngài chẳng hoan hỷ, người nhà chẳng hoan hỷ, cho là yêu quái, nên bỏ trong mâm đem nướng, Ngài chẳng chết.

 

      (Sao) Phục trí phủ trung bất tử.

       () 復置釜中不死。

      (Sao: Lại bỏ trong nồi [đem nấu] không chết).

 

      Bỏ trong nồi Ngài cũng chẳng chết.

 

      (Sao) Phục trí thủy trung.

       () 復置水中。

(Sao: Lại quăng xuống nước).

      Bỏ Ngài dưới nước.

 

      (Sao) Cự ngư thôn chi.

      () 巨魚吞之。

      (Sao: Cá to nuốt lấy).

 

      Bị cá lớn nuốt trộng, cá bị người ta bắt được.

 

      (Sao) Đao phá, tử hiện, nhất vô sở tổn.

      () 刀破子現,一無所損。

      (Sao: Dùng dao mổ cá, con hiện ra, chẳng bị tổn hại ǵ!)

     

Ngài cũng không chết!

 

      (Sao) Hỏa bất năng pháo, thang bất năng chử, thủy bất năng yêm, ngư bất năng phệ, đao bất năng cát, danh ngũ bất tử.

       () 火不能炮,湯不能煮,水不能淹,魚不能噬,刀不能割,名五不死。

      (Sao: Lửa chẳng nướng được, nước sôi chẳng thể nấu được, nước chẳng nhấn ch́m được, cá chẳng cắn xé được, dao chẳng cắt được, nên gọi là Ngũ Bất Tử).

     

      Ngài vừa ra đời, gặp nạn rất lớn, đều chẳng chết. Do đời quá khứ bố thí, chiếu cố một vị xuất gia, nên đắc quả báo ấy.

 

      (Sao) Hựu nhàn tĩnh thiểu dục, thâu nhiếp lục căn, diệt độ chi hậu, tháp do khước bối. Cố thường nhạo nhàn cư, bất xử chúng trung, diệc xưng đệ nhất.

       () 又閒靜少欲,收攝六根,滅度之後,塔猶却貝。故常樂閒居,不處眾中,亦稱第一。

      (Sao: Lại nữa, Ngài nhàn tĩnh, ít ham muốn, thâu nhiếp sáu căn, sau khi diệt độ, tháp của Ngài c̣n từ chối [tiền bằng] vỏ ṣ [do nhà vua dâng cúng]. Do thường thích nhàn cư, chẳng thích ở trong đại chúng, cũng gọi là đệ nhất).

 

      Vị này thích thanh tĩnh, chẳng ưa náo nhiệt, chẳng thích đa sự. Sau khi diệt độ, người ta dựng tháp để cúng dường Ngài. Vua A Dục là đại hộ pháp trong Phật môn, cũng đến cúng dường tháp của Ngài. Khi đó, dùng vỏ ṣ để cúng dường tháp [v́ vỏ ṣ được dùng làm tiền tệ thời ấy], vua dùng hai mươi chiếc vỏ ṣ để cúng dường Ngài. Vỏ ṣ đặt nơi đó tự nhiên bay đi, Ngài chẳng cần, chẳng tiếp nhận, vỏ ṣ sau khi từ tháp bay ra, c̣n rơi chạm vào chân vua A Dục. Thuở tại thế, Ngài chẳng tiếp nhận người khác cúng dường quá mức, chẳng ưa thích náo nhiệt; sau khi Ngài khuất bóng, tháp của Ngài vẫn c̣n có thần lực ấy. Quư vị muốn đến cúng dường Ngài, Ngài chẳng tiếp nhận. Vị thứ mười sáu là:

 

      (Sớ) A Nậu Lâu Đà giả, nhất danh A Na Luật Đà, thử vân Vô Bần, diệc vân Vô Diệt, diệc vân Như Ư, Thiên Nhăn đệ nhất.

      () 阿耨樓馱者,一名阿那律陀,此云無貧,亦云無滅,亦云如意,天眼第一。

      (Sớ: A Nậu Lâu Đà (Aniruddha), c̣n gọi là A Na Luật Đà, cơi này dịch là Vô Bần, cũng gọi là Vô Diệt, hoặc c̣n gọi là Như Ư, Thiên Nhăn đệ nhất).

 

      Vị tôn giả này cũng là em họ Thích Ca Mâu Ni Phật[22].

 

      (Sao) Vô Bần giả, tích ư cơ thế, tằng dĩ tắc phạn thí Bích Chi Phật, cửu thập nhất kiếp, tư dụng sung túc.

    () 無貧者,昔於饑世,曾以稷飯施辟支佛,九十一劫資用充足。

(Sao: Vô Bần: Xưa kia trong đời đói kém, Ngài từng đem cơm bằng gạo Tắc[23] thí cho một vị Bích Chi Phật nên chín mươi mốt kiếp tiêu dùng sung túc).

 

      Đó là một năm mất mùa, gặp lúc hạn hán dữ dội, hết thảy mọi người chẳng có ǵ ăn. Khi ấy, Ngài là nông phu, nông phu đương nhiên mang theo chút cơm để ăn buổi trưa ngoài ruộng. Cơm ấy chẳng phải là thứ ngon lành, chỉ nấu bằng hạt kê, gặp Bích Chi Phật đi khất thực. Trong tâm, Ngài nghĩ Bích Chi Phật nửa tháng mới đi khất thực một lần, nếu ngày hôm nay Ngài chẳng xin được ǵ, phải nhịn đói nửa tháng. Ngài nói: “Ta bố thí cho vị ấy, tối đa là ta nhịn đói một ngày”. Do vậy, Ngài tự đem chút cơm ấy cúng dường Bích Chi Phật, được quả báo chín mươi mốt kiếp chẳng bần cùng, tiêu dùng sung túc, tức là ăn, mặc, đi, ở, chẳng bị thiếu khuyết.

 

      (Sao) Chí kim bất diệt, sở cầu như ư, cố hữu Vô Bần đẳng tam dịch.

       () 至今不滅,所求如意,故有無貧等三譯。

      (Sao: Đến nay bất diệt, sở cầu như ư, nên mới có ba cách dịch như Vô Bần v.v...)

 

      Quả báo ấy chẳng thể nghĩ bàn! [Danh hiệu] của Ngài có ba ư nghĩa ấy.

 

      (Sao) Thiên Nhăn đệ nhất giả, xuất gia hỷ miên.

  () 天眼第一者,出家喜眠。

      (Sao: Thiên Nhăn bậc nhất, Ngài xuất gia, thích ngủ).

 

      Ngài hôn trầm, thích ngủ gà ngủ gật.

 

      (Sao) Phật thuyết pháp thời, hôn thụy bất giác.

       () 佛說法時,昏睡不覺。

      (Sao: Lúc Phật thuyết pháp, tôn giả ngủ mê mệt, chẳng tỉnh).

 

      Đức Phật giảng kinh, thuyết pháp, Ngài ngồi ở dưới nghe, ngủ gục.

 

      (Sao) Phật năi ha trách, tỷ chi loa cáp.

  () 佛乃呵責,比之螺蛤。

      (Sao: Phật bèn quở trách, sánh ví như ốc, hàu).

 

      Bị Phật quở một trận dữ dội, Phật mắng Ngài: “Loa sư bạng cáp loại, nhất thụy nhất thiên niên, bất văn Phật danh tự” (Như ṣ, nghêu, hàu, hến, hễ ngủ, ngủ ngàn năm, chẳng nghe danh hiệu Phật).

 

      (Sao) Phát phẫn tinh tấn, kinh thất trú dạ, nhăn bất giao tiệp, thất kỳ song mục.

       () 發憤精進,經七晝夜,眼不交睫,失其雙目。

      (Sao: Ngài phát phẫn tinh tấn, trải qua bảy ngày đêm, mắt chẳng nhắm lại, nên mù cả hai mắt).

 

      Sau khi bị Phật quở một trận, Ngài cũng rất khá, biết hổ thẹn, bèn nỗ lực tinh tấn. Suốt bảy ngày đêm, Ngài không ngủ. Mệt nhọc quá độ, hỏng cả mắt, về sau bị mù.

 

      (Sao) Phật giáo tu tập Nhạo Kiến Chiếu Minh Kim Cang tam-muội, toại đắc Thiên Nhăn.      

      () 佛教修習樂見照明金剛三昧,遂得天眼。

      (Sao: Đức Phật dạy Ngài tu tập Nhạo Kiến Chiếu Minh Kim Cang tam-muội, bèn đắc Thiên Nhăn).

 

      Đức Phật thương xót, dạy Ngài tu tập Nhạo Kiến Chiếu Minh Kim Cang tam-muội, dạy Ngài tu môn Định ấy. Sau khi tu Định ấy thành công, Ngài đắc Thiên Nhăn. Sở dĩ Ngài được gọi là Bán Đầu Thiên Nhăn, v́ Ngài chẳng dùng mắt để nh́n, mà cả đầu đều có thể nh́n, bốn phương tám hướng đều có thể thấy. Hơn nữa, lại là Thiên Nhăn đệ nhất trong các vị A La Hán. La Hán thông thường chỉ có thể thấy một tiểu thiên thế giới, Thiên Nhăn của Ngài có thể thấy tam thiên đại thiên thế giới, tu thành Định ấy. V́ thế, Ngài là Thiên Nhăn đệ nhất trong các đệ tử Phật. Ngài là chân thật tinh tấn, thật sự chịu làm.

 

      (Sao) Quán đại thiên giới như đổ chưởng quả.

  () 觀大千界如睹掌果。

      (Sao: Nh́n cơi đại thiên như thấy trái cây đang nắm trong tay).

 

      Ngài thấy tam thiên đại thiên thế giới giống như quả Am La Ma trong ḷng bàn tay. Quả Am La Ma như kinh thường nói chính là quả ổi[24] ta ăn hiện thời. Trước kia, chúng tôi thấy kinh nói “Am La Ma quả”, chẳng hiểu là ǵ? Kinh nói “đề hồ quán đảnh”, chẳng hiểu Đề Hồ là ǵ? Ḥa thượng Đạo Nguyên từng sang Ấn Độ thăm viếng, do Ngài là pháp sư giảng kinh, đến Ấn Độ đặc biệt hỏi ḍ Đề Hồ là ǵ? Am La Ma quả là ǵ? Các vị hăy đem cho ta xem! Kết quả họ cầm đến, quả ổi, Đài Loan có; đó là quả Am La Ma. C̣n Đề Hồ là ǵ? Đề Hồ là sa-lạp (salad)[25].

      Đoạn kinh này thường được gọi là “lưu thủy văn chương”[26], chúng ta đă đọc xong, rất dài. Đến buổi sau, chúng ta sẽ thảo luận về phương diện nghĩa lư. Đây là giới thiệu mười sáu vị tôn giả, ngày hôm nay chúng tôi giảng tới đây.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 56 hết

 



[1] Sách Thuyết Văn Giải Tự giải thích chữ Lạp trong Lạp Nguyệt (tháng Chạp) như sau: “Lạp, hợp dă, hợp tế chư thần giả” (Lạp là hợp, v́ cúng tế chung các vị thần). Các nhà chú giải cho rằng: Lạp theo nghĩa cổ là cúng tế chư thần và tổ tiên sau khi đă kết thúc gặt hái cuối năm.

[2] Pháp sư Tường Vân (1917-1999) họ Lư, tên là Mạnh Tuyền, quê ở huyện Hải Thành, tỉnh Liêu Ninh, thuộc gia đ́nh thư hương. Tuổi vừa mới lớn, Sư đă cảm nhận thế sự vô thường, ba cơi không yên, luôn mang chí nguyện xuất trần. Năm hai mươi tuổi, Sư tự nguyện trường trai, thờ Phật, xin đến dự thính tại Bát Nhă Phật Học Viện ở thành phố Trường Xuân để học nội điển. Sư đă từng làm kư giả, giáo viên,  nhập ngũ. Sau khi sang Đài Loan, Sư luôn ôm chí nguyện xuất gia, nhưng chưa gặp nhân duyên, măi đến năm Dân Quốc 50 (1961), Sư mới gặp nhân duyên y chỉ ḥa thượng Huyền Diệu chùa Viên Giác ở Đài Bắc xin xuống tóc, pháp danh Hội Nguyên, hiệu Viên Định, nhưng ḥa thượng phần nhiều dùng danh hiệu Tường Vân trong các trước tác. Sư được thọ Cụ Túc Giới dưới ṭa trưởng lăo Đạo Nguyên tại chùa Hải Hội (thành phố Cơ Long) cùng năm ấy. Sau khi xuất gia, Sư càng siêng gắng học nội điển, tu tŕ, giảng diễn, trước thuật. Sư từng được mời làm Bí Thư Trưởng Trung Quốc Phật Giáo Hội, rồi lần lượt ủy viên Văn Hiến, uỷ viên xúc tiến quan hệ Phật giáo Trung Hoa - Hàn Quốc và Trung Hoa - Nhật Bản. Sư từng làm Đổng Sự Trưởng Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội, xă trưởng Phật Đà Giáo Dục Tạp Chí Xă, ủy viên cố vấn biên tập hoặc chủ bút các tờ báo Phật giáo như Từ Minh, Giác Thế, Sư Tử Hống, Từ Vân, Thiên Hoa, từng lănh vai tṛ tôn chứng A Xà Lê trong các đàn truyền giới tại các chùa Thanh Lương, Linh Nham v.v... và chuyên dạy nội điển tại các Phật học viện Hải Minh và Tịnh Giác.

[3] Lộ Tư (鷺鷥) là tiếng gọi chung những loài diệc hay c̣ trắng, có đến mười bảy loài khác nhau. Đẹp nhất là loài Bạch Lộ, lông trắng muốt, mỏ đen, sau đầu có hai sợi lông dài trắng phau. Tuy vậy, có sách dịch chữ Thu Lộ thành Hoàng Ly là một loài chim bé, lông vàng, cánh đen, ta thường gọi là chim Vàng Anh. Trong Yếu Giải, tổ Ngẫu Ích đă dẫn lời thiền sư Sở Phạm Thạch Kỳ nói Xá Lợi là chim Xuân Oanh.

[4] Đây là một môn bói toán, theo đó, thầy bói sẽ đếm tên họ viết theo chữ Hán có mấy nét, thuộc bộ nào để gán cho tên gọi ấy thuộc hành nào trong Ngũ Hành, để lập thành quẻ Bát Quái Âm Dương rồi tiên đoán mạng vận của đứa trẻ. Do vậy, nhiều khi cha mẹ cầu kỳ đặt tên con sao cho số nét phối hợp thành quẻ tốt, chẳng cần quan tâm đến ư nghĩa thật sự.

[5] Tứ mă (駟馬) là ngựa thắng xe bốn con chung một cỗ. Ngựa thắng cặp bốn như vậy phải là ngựa thuần thục, khỏe đều, chạy đều, bền sức.

[6] Phạm Chí (Brahmacārin) có nghĩa gốc là chàng thanh niên thuộc chủng tánh Bà La Môn đang trong giai đoạn tu học thánh điển và giữ ḿnh sống đời độc thân trong sạch. Đây là giai đoạn đầu trong bốn giai đoạn (Āśrama) bắt buộc của thanh niên Bà La Môn. Nói theo nghĩa rộng, chữ Phạm Chí chỉ chung những người tu theo đạo Bà La Môn (Ấn Độ Giáo về sau này), thậm chí, về sau này, tất cả những tu sĩ ngoại đạo đều được gọi chung là Phạm Chí.

[7] Theo kinh Xà Ni Sa trong kinh Trường A Hàm, mười sáu đại quốc là Ương Già (Anga), Ma Kiệt Đà (Magadha), Ca Thi (Kāśi), Câu Tát La (Kośala), Bạt Kỳ (Vrji), Mạt La (Malla), Chi Đề (Cedi), Bạt Sa (Vatsa), Cư Lâu (Kuru), Bàn Xà La (Pañcāla), A Thấp Ba (Aśvaka), A Ban Đề (Avanti), Bà Tha (Matsya), Tô La Sa (Śūrasena), Càn Đà La (Gandhāra), và Kiếm B́nh Sa (Kambboja). Trong kinh Phật thường nhắc tới những đại thành như Xá Vệ, Vương Xá, Chiêm Bà, Tỳ Xá Ly, Kiều Diễm Di v.v.. đó là thủ đô của những nước lớn, chẳng hạn như Xá Vệ là thủ đô của Câu Tát La (c̣n phiên âm là Kiều Tát La), Vương Xá là thủ đô của Ma Kiệt Đà, Chiêm Bà (Campā) là thủ đô của nước Ương Già, Tỳ Xá Ly (Vaishali) là thủ đô của Bạt Kỳ, Kiều Diễm Di (Kausambi) là thủ đô của Bạt Sa...

[8] Câu này trích từ thiên Vi Chánh sách Luận Ngữ.

[9] Nhan Hồi (521-481 trước Công Nguyên), tự là Tử Uyên, nên thường gọi là Nhan Uyên, được tặng mỹ hiệu Phục Thánh, người nước Lỗ, là học tṛ đắc ư của Khổng Tử, được xếp hàng thứ tư trong Thập Triết (mười môn đệ đứng đầu), được coi là người đức hạnh nhất trong số các môn đệ. Ngài gia cảnh thanh bần, nhưng vẫn an bần lạc đạo, giữ vững đức hạnh. Ngài là người cực thông minh, nhưng yểu thọ, mất sớm, nên khi Nhan Hồi mất, Khổng Tử đă cảm thán khôn cùng. Đến đời Hán, Nhan Hồi được tôn xưng là người đứng đầu trong Thất Thập Nhị Hiền. Ngài cũng là người có miếu thờ riêng tại Khúc Phụ (quê Khổng Tử), nơi ấy gọi là Phục Thánh Miếu.

Mẫn Tử Khiên (536-487 trước Công Nguyên), tên thật là Mẫn Tổn, Tử Khiên là tên tự, người nước Lỗ, đứng đầu Thập Triết, đức hạnh chẳng kém ǵ Nhan Uyên, được tôn là người chí hiếu, bị mẹ ghẻ ngược đăi vẫn một mực hiếu thuận. Trời lạnh, mẹ ghẻ ác độc, không cho mặc áo bông, phải độn lau vào áo để giữ ấm. Khi đẩy xe cho cha ra ngoài, do lạnh quá, run tay, đẩy xe xuống mương, cha tức giận cầm gậy vụt, áo rách, hoa lau bay lả tả. Cha hiểu rơ nguồn cơn, giận dữ, toan bỏ vợ. Mẫn Tử Khiên van xin cha nguôi giận: “Mẹ c̣n chỉ ḿnh con lạnh, nếu cha đuổi mẹ, hai em con cũng phải chịu cảnh côi cút”. Mẹ kế nghe chuyện cũng cảm động từ đó sửa đổi tính t́nh. Ông nổi tiếng là người ít nói, cẩn trọng, đến nỗi Khổng Tử khen ngợi: “Phù nhân bất ngôn, ngôn tất hữu trúng” (Ôi! Người này chẳng nói, chứ nói ắt phải trúng). Họ Mẫn ở Đại Hàn tự xưng là hậu duệ của Mẫn Tử Khiên.

[10] Tử Du là tên tự của Ngôn Yển (506-443 trước Công Nguyên), là người xứ Thưởng Thục, nước Ngô. Ông là người phương Nam duy nhất trong bảy mươi hai môn đệ hàng đầu của Khổng Tử. Sau khi học thành tài, ông trở về Nam, truyền bá Nho giáo, cống hiến rất lớn trong việc phát triển văn hóa vùng Giang Nam, nên được hậu thế tôn xưng là Nam Phương Phu Tử. Các triều đại Đường, Tống, Nguyên lần lượt được truy tặng ông những danh hiệu Ngô Hầu, Đan Dương Công rồi Ngô Công. Tử Du từng làm Ấp Tể ấp Vũ Thành nước Lỗ, lừng danh về tài văn học, chủ trương dùng lễ nhạc giáo hóa dân chúng.

Tử Hạ là tên tự của Bốc Thương (507-420 trước Công Nguyên), quê ở Ôn Ấp (nước Tấn), tài văn học sánh ngang Tử Du. Ông đóng góp nhiều trong công việc giáo dục thời ấy, chủ trương lấy ḷng Nhân để thay đổi con người. Về già, ông sang xứ Tây Hà nước Ngụy dạy học, sáng lập Tây Hà Học Phái nhằm bồi dưỡng nhân tài. Không may, tuổi già, con chết trẻ, ông thương khóc đến nỗi mù mắt. Do đó, trong Văn Sao, Ấn Quang đại sư mới dùng điển tích “Tây Hà thất minh” (Tây Hà mù mắt) khi nói về tật mắt kém của ḿnh.

[11] Sách Diễn Nghĩa trang hai trăm ba mươi ghi những chuyện ấy như sau: Lưu Ly đại vương diệt ḍng họ Thích Ca, Mục Liên muốn cứu, nhưng đức Phật bảo là định nghiệp khó trốn, chẳng chấp nhận lời thỉnh của Mục Liên. Mục Liên liền dùng thần lực đem năm trăm người họ Thích đựng trong bát, cất lên cơi Phạm Thiên. Sau khi họ Thích đă bị diệt, Mục Liên mở bát ra xem, chỉ thấy toàn là máu mà thôi; cho nên biết là định nghiệp, Phật cũng chẳng thể cứu được.

“Ngăn xe”: Y vương Kỳ Bà đă sanh lên trời Đao Lợi, do v́ một vị tỳ-kheo bị bệnh, nên ngài Mục Liên dùng thần thông lên trời hỏi cách chữa trị, gặp lúc chư thiên ra ngoài chơi, Kỳ Bà ngồi trên xe không chịu xuống, chỉ chắp tay chào mà thôi. Ngài Mục Liên dùng thần lực, ngăn xe lại. Kỳ Bà mới xuống xe chào hỏi Ngài muốn ǵ. Ngài Mục Liên bèn nói lư do, Kỳ Bà đáp: “Nhịn ăn là ổn”. Mục Liên buông ra, xe mới đi tiếp được.

“Đốt điện đường”: Đế Thích kiến tạo Đắc Thắng Đường, trang nghiêm đẹp đẽ, ngài Mục Liên đến xem, các thiên nữ đều tránh mặt chẳng ra. Mục Liên nghĩ Đế Thích tham khoái lạc, chẳng tu gốc đạo, bèn dùng thần thông, thiêu Đắc Thắng Đường cháy tan tành, rồi v́ Đế Thích nói những lời lẽ về vô thường, Đế Thích hoan hỷ, sau đấy điện đường vẫn y như cũ, chẳng có dấu vết khói tro nào!

 

[12] Chữ Chủng Tánh hay Chủng Tộc được kinh Phật dùng để dịch chữ Varna hoặc Jāti trong tiếng Phạn. Khái niệm Varna đă được đề xướng từ thời rất xa xưa, có thể thấy khái niệm này sớm nhất trong bộ Rig Veda. Theo đó, bốn chủng tánh chính yếu của xă hội Ấn Độ thời cổ là Bà La Môn (Brahmins), Sát Đế Lợi (Ksatriya), Phệ Xá (Vaishya) và Thủ Đà La (Shudra). Ngoài ra c̣n có một chủng tánh được coi là hèn hạ nhất, gọi là Dalit, hoặc Panchamas, hoặc Asprushya, ta thường gọi là “giai cấp cùng đinh”. Thông thường, chữ Varna thường được dịch là Giai Cấp, không chính xác lắm, v́ trong mỗi chủng tánh lại chia ra vô số giai cấp.

[13] Nguyên văn là “phiến trụy” (扇墜), tức là theo lối xưa, đuôi những cây quạt thường được kết tua bằng chỉ màu, thắt thành các nút Cát Tường, Hồ Điệp, Song Ngư v.v... Đôi khi c̣n kết những miếng ngọc nhỏ.

[14] Tăng Nhất A Hàm (Ekottaragama-sutra) là một trong bốn bộ A Hàm của Tiểu Thừa. Bộ kinh này gồm có mười một quyển do ngài Đàm Ma Nan Đề (Dharmanandi) truyền đọc, ngài Trúc Phật Niệm dịch ra Hán văn vào năm Kiến Nguyên 20 (384) đời Phù Tần, ngài Đàm Tung làm bút thọ. Kinh này lại được dịch lần nữa bởi ngài Cù Đàm Tăng Già Đề Bà (Samghadeva) vào năm Long An thứ hai (398) đời Đông Tấn. Kinh này chủ yếu giảng về pháp số. Kinh này tương ứng với Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikāya) trong Phật giáo Nam Truyền.

[15] Nhị Thập Bát Tú (c̣n gọi là Nhị Thập Bát Xá hoặc Nhị Thập Bát Tinh) thật ra không phải là hai mươi tám ngôi sao, mà là hai mươi tám cḥm sao (tinh cung). Theo thiên văn cổ của người Hán, vào thời Hạ và Châu, một tháng âm lịch chỉ có hai mươi tám ngày, nên cổ nhân gom các tinh tú có thể thấy trên bầu trời Trung Hoa thành hai mươi tám tinh cung, quy định mỗi tinh cung ứng với một ngày (lệ này vẫn giữ dù sau đó tháng Âm Lịch có đến ba mươi ngày). Họ đă chia bầu trời thành bốn khu vực gọi là Huyền Vũ (Bắc), Bạch Hổ (Tây), Châu Tước (Nam) và Thanh Long (Đông), hai mươi tám tinh cung nằm trên đường Hoàng Đạo (quỹ đạo biểu kiến của mặt trời so với trái đất) được chia thành bốn nhóm (tứ tổ) tương ứng với bốn phương trên đây. Thanh Long gồm các sao Giác, Cang, Đê, Pḥng, Tâm, Vĩ, Cơ; Huyền Vũ gồm các sao Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích; Bạch Hổ gồm Khuê, Lâu, Vị, Măo, Tất, Chủy, Sâm; Châu Tước gồm Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Họ lại c̣n chia bầu trời thành chín khu vực gọi là Cửu Dă (Quân Thiên, Thương Thiên, Biến Thiên, Huyền Thiên, U Thiên, Hạo Thiên, Châu Thiên, Viêm Thiên và Dương Thiên) nhằm ứng với chín châu, và ghép Nhị Thập Bát Tú tương ứng với chín khu vực đó (mỗi khu vực như vậy gọi là Phần Dă; mỗi khi có sao lạ chuyển dời vào một phần dă, sẽ được coi là điềm báo hung tinh, tai nạn, hay chiến tranh sắp xảy ra). Sao Thất, có tên gọi đầy đủ là Thất Hỏa Trư, thuộc phần dă Huyền Thiên (phương Bắc) là một cḥm sao (tinh cung) gồm nhiều nhóm sao nhỏ (tinh ṭa, hoặc tinh quan) nhỏ hơn như Thất, Ly Cung, Lôi Điện, Lũy Bích Trận, Vũ Lâm Quân, Phu Việt, Bắc Lạc Sư Môn, Bát Khôi, Thiên Cang, Thổ Công Sứ, Đằng Xà. Tinh ṭa có nhiều ngôi nhất là Đằng Xà (22 ngôi) và ít nhất là Thiên Cang (chỉ có một ngôi). Nếu nh́n theo cách phân loại của thiên văn hiện thời, chùm sao Thất bao gồm các nhóm sao (hoặc một phần) Phi Mă (Pegasus), Song Ngư (Pisces), Bảo B́nh (Aquarius), Ma Kết (Capricornus, ta thường gọi là Nam Dương), Nam Ngư (Piscis Austrinus), Ḱnh Ngư (Cetus), Tiên Nữ (Andromedae), Yết Hổ (Lacerta), Tiên Hậu (Cassiopeia), Tiên Vương (Cepheus) và Thiên Nga (Cygnus). Người Hoa cho rằng chùm sao này có h́nh dáng giống như cái nhà nên gọi là Thất. Do vậy, nó được coi là Đại Cát Đại Lợi, nên theo cách bói toán mê tín, những ngày có sao Thất sẽ rất may mắn cho cưới gả, tế lễ, nhóm bạn, khai trương v.v... nếu không có hung tinh hoặc bại tinh khác xen vào.

[16] Theo Pháp Hoa Huyền Tán, quyển một: “Tiếng Phạn là Nan Đà, Hán dịch là Hỷ, vị này về căn bản là người chăn trâu, do hỏi Phật mười một điều về cách chăn trâu mà biết Phật có trọn đủ Nhất Thiết Trí, bèn chứng quả A La Hán, là người cực thông minh, âm thanh tuyệt diệu”. Ngài Tôn Đà La Nan Đà chính là em ruột cùng cha khác mẹ của Phật (vị này là con của di mẫu (d́) Ma Ha Ba Xà Ba Đề), dung mạo, oai nghi đẹp đẽ nhất, có đủ ba mươi tướng (chỉ thiếu tướng bạch hào và trái tai không tṛn đầy như Phật). Vị này do cưới vợ là Tôn Đà La (Sundrarī), nên gọi là Tôn Đà La Nan Đà. Phật độ Ngài xuất gia tại vườn Ni Câu Luật, ngay trong ngày cưới, đức Phật đến hoàng cung thọ trai, thọ trai xong trao bát cho ngài Tôn Đà La Nan Đà. Do kính mến, Ngài cứ ôm bát đi theo, đức Phật đi măi về đến tinh xá Ni Câu Luật; đức Phật bèn truyền tăng chúng cho ngài Nan Đà xuất gia. Không dám căi lại, Ngài vẫn nhớ vợ. Đức Phật bèn thị hiện thần thông, dẫn Ngài lên cung trời cho thấy các thiên nữ đẹp hơn Tôn Đà La rất nhiều để khuyến dụ, Nan Đà hăm hở tu tập để được lên cơi trời. Do bị chư tăng chê trách là v́ tham dục mà tinh tấn tu tập nên hết sức hổ thẹn, lại được đức Phật dùng thần thông dẫn xuống địa ngục, quỷ sứ chỉ cái gông to, vạc dầu đang đun sùng sục, bảo: Để chờ sẵn khi ngài Nan Đà hưởng hết phước báo cơi trời sẽ xuống đó chịu tội. Ngài Nan Đà tỉnh ngộ, lại được đức Phật chỉ điểm thêm, nên cuối cùng đoạn được tham dục, chứng quả La Hán.

[17] Tịnh Phạn Vương có ba người em trai là Bạch Phạn Vương (Śuklodana), Hộc Phạn Vương (Dronodana) và Cam Lộ Phạn Vương (Amrtodana).

[18] Tiền Liêu (850-932) là vua nước Ngô Việt thời Ngũ Đại, hiệu là Vũ Túc Vương, nhiệt thành hộ tŕ Phật pháp, khiến vùng Ngô Việt được gọi là Phật Quốc.

[19] Sao Pḥng có tên đầy đủ là Pḥng Nhật Thố, là tinh ṭa thứ tư trong phương Đông, thuộc phần dă Thương Thiên, c̣n được gọi là Thiên Tứ. Tinh cung này gồm các nhóm sao (tinh quan) nhỏ hơn là Pḥng, Câu Linh, Kiện Bế, Phạt, Đông Hàm, Tây Hàm, và Tùng Quan, tương ứng với các cḥm sao (constellation) Thiên Yết (Scorpius, Hổ Cáp), Thiên Xứng (Libra), Sài Lang (Lupus) và Xà Phu (Ophiuchus) hiện thời. Do sao này được coi nằm đúng bụng rồng, tức là nơi vạn vật bị tiêu mất, nên theo quan điểm bói toán mê tín của cổ Trung Hoa, sao này là hung tinh. Họ quan niệm những ngày có sao này mà tiến hành làm ǵ sẽ khó thành công, dễ bị thất bại nửa chừng, nhà nào xây cất nhằm ngày này sau ba năm sẽ bị tai ương!

[20] Cơ hành vốn là một dụng cụ đo lường thiên văn thời cổ, có tên gọi đầy đủ là Tuyền Cơ Ngọc Hành (玉衡) thường được trang hoàng bằng ngọc. Dụng cụ này được nhắc đến lần đầu tiên trong phần Thuấn Điển của sách Thượng Thư. Trịnh Huyền giải thích: “Do chuyển động nên gọi là Cơ, nhận định, đo lường đúng mực nên gọi là Hành, dùng ngọc để chế tạo, nhằm biết được đường lối vận chuyển của tinh tú”. Có người giải thích Cơ Hành chính là tiền thân của Hỗn Nghi Khí (Armillary sphere) về sau này. Hỗn Nghi Khí tức là một dụng cụ để xác định vị trí của các tinh tú trong chiêm tinh và thiên văn học. Bộ máy này gồm những ṿng thép hoặc đồng có đồng tâm gắn trên một trục có thể xoay chỉnh cho khớp với các hiện tượng quan sát trên bầu trời. Mỗi ṿng tượng trưng cho một số đặc điểm thiên văn như đường Hoàng Đạo, thiên nguyên Tư Ngọ tuyến, thiên xích đạo, vị trí và phương hướng các chùm sao chủ yếu như sao Bắc Đẩu, sao Nam Đẩu... rất phức tạp.

[21] Ha Lê Lặc (Harītaki), c̣n phiên âm là Ha Lê Đát Kê, hoặc Ha Lê Đảm Kê, là một loại trái cây có tác dụng làm thuốc tại Ấn Độ; do vậy, tượng Dược Sư Phật theo truyền thống Tây Tạng thường được vẽ hoặc tạc tay trái ôm b́nh bát đặt trước bụng, bên trong bát có đặt một quả Ha Lê Lặc, tay phải đặt trên đầu gối, cầm một nhánh cây Ha Lê Lặc. Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh giảng: “Trái Ha Lê Lặc trọn đủ sáu vị, có thể trừ hết thảy bệnh, là vua trong các loài thuốc chẳng phải kiêng kỵ ǵ”. Theo các bản dịch kinh Mật Tông tiếng Anh đang lưu hành hiện thời th́ Ha Lê Lặc chính là quả Chebulic Myrobalan (có tên khoa học là Terminalia Chebula), cây rất cao, có thể tới 39 mét, lá mọc đối xứng. Trái Ha Lê Lặc có thịt mọng, h́nh bầu dục, nhưng thon dài, trông hơi giống trái Thanh Trà của Việt Nam, có hạt cứng ở giữa.

[22] Ngài A Nậu Lâu Đà là con trai của Cam Lộ Phạn Vương (Amrtodana, em út của Tịnh Phạn Vương).

[23] Tắc là tên một loài lúa quư, hạt ăn rất ngon, nên cổ nhân coi là vua trong các loài ngũ cốc, thậm chí người Hán cổ đại c̣n coi gạo Tắc là hiện thân của vị thần nông nghiệp, hoặc thần lương thực, và dùng chữ Xă Tắc để chỉ đất nước; cũng như mỗi năm đều tế lễ. Do vậy, chúng tôi đoán bản đang lưu hành đă in sai chữ này, v́ trong một bản khác, ghi là Bại (), nh́n vào mặt chữ khá giống với chữ Tắc (), nhưng ư nghĩa hoàn toàn khác biệt. Bại là một loại cỏ, có hạt ăn được, vị đắng, chẳng ngon lành ǵ, nhưng có thể nấu thành cháo ăn đỡ ḷng của người nghèo. Theo ngu ư, phải ghi là chữ Bại v́ hợp với t́nh cảnh đói kém do hạn hán lúc đó, cũng như hợp với lời giảng của Ḥa Thượng là người nông dân nghèo ăn cơm nấu bằng hạt kê.

[24] Chúng tôi nghĩ ở đây có sự nhầm lẫn trong sự phiên dịch giữa pháp sư Đạo Nguyên và người dân Ấn Độ, v́ các tự điển đều ghi Am La Ma, hoặc Am Ma, Am La, Am Một La là những cách phiên âm khác nhau của chữ Āmra, hoặc Amara, nghĩa là quả xoài.

[25] Tuy nói là Salad, nhưng ở đây ngụ ư các loại nước xốt dùng cho salad. Theo từ điển Phật Học cũng như mô tả về Đề Hồ trong kinh Phật, nhất là kinh Đại Bát Niết Bàn, ta có thể suy đoán Đề Hồ là phó-mát (phô mai, cheese, fromage).

[26] Lưu thủy văn chương: Từ ngữ sánh ví văn chương lưu loát, hàm ngụ rất nhiều ư nghĩa, mỗi người đọc cảm nhận mỗi khác. Từ ngữ này dựa theo ư một câu nói cổ “lạc hoa hữu ư, lưu thủy vô t́nh” (hoa rơi hữu ư, nước chảy vô t́nh).