A Di Đ Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 61

Chủ giảng: Lo php sư Thch Tịnh Khng

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ha

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang v Đức Phong

 

Tập 121

 

Xin xem A Di Đ Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang hai trăm su mươi hai:

 

(Sớ) Hựu bất độc tr vi năng tn, Phật quả thnh tựu, giai diu tr cố. () 又不獨智為能信,佛果成就,皆繇智故。

(Sớ: Lại nữa, chẳng phải chỉ l do tr bn c thể tin, m thnh tựu Phật quả cũng đều do tr).

 

Trong lời Sao, Lin Tr đại sư c giải thch mấy cu ny.

 

(Sao) Hoa Nghim nhị thập nhị, kinh vn.

() 華嚴二十二,經云。

(Sao: Trong kinh Hoa Nghim quyển thứ hai mươi hai c ni).

 

Chư vị đồng học phải nhớ những cu giống như vậy. Nhị thập nhị l quyển thứ hai mươi hai. Kinh Hoa Nghim c tm mươi quyển, trong quyển thứ hai mươi hai c ni...

 

(Sao) Nhất thiết chư Phật trang nghim thanh tịnh, mạc bất giai dĩ Nhất Thiết Tr cố, tắc tri A Di Đ Phật diệc dĩ thử tr thnh tựu Tịnh Độ cng đức, nhi chư chng sanh tu Tịnh Độ giả, dĩ tr sanh tn, tắc vi chnh tn, dĩ tr pht nguyện, tắc vi hoằng nguyện, dĩ tr khởi hạnh, tắc vi diệu hạnh.

() 德。而 者,以 信,以 願,則 願,以 行,則 行。

(Sao: Hết thảy chư Phật trang nghim thanh tịnh, khng vị no chẳng đều do Nhất Thiết Tr, nn biết A Di Đ Phật cũng dng tr ny để thnh tựu cng đức của Tịnh Độ, m cc chng sanh tu Tịnh Độ do tr m sanh lng tin th lng tin ấy l chnh tn, dng tr để pht nguyện th nguyện ấy l hoằng nguyện, dng tr để khởi hạnh th hạnh ấy l diệu hạnh).

Trong một cu ny bao gồm ba tư lương của php mn Tịnh Độ, [tức l] ba điều kiện tu hnh cơ bản Tn, Nguyện, Hạnh. Ba điều kiện ny đều được kiến lập trn tr huệ, nhằm phn biệt chẳng phải l m tn, chẳng phải l xử sự theo cảm tnh, n l l tnh, mong cc đồng tu phải đặc biệt ch điều ny, chng ta mới thật sự hiểu r niệm Phật chẳng phải l m tn. Trang nghim ci nước Phật nhất định phải dng tr huệ chn thật; do vậy, kinh V Lượng Thọ ni ba thứ chn thật, chn thật huệ, tức l tr huệ chn thật, chn thật chi tế, v huệ dĩ chng sanh chn thật chi lợi (ban cho chng sanh lợi ch chn thật), ni tới ba thứ chn thật, lấy chn thật huệ lm căn cứ bậc nhất. Ch giải kinh ny, Lin Tr đại sư cũng dng Nhất Thiết Tr, cho nn Ngi ni chẳng ring g Tn phải nương vo Tr, m thnh tựu Phật quả cũng nhờ vo tr huệ. Trong kinh V Lượng Thọ, chng ta thấy chuyện ny đặc biệt r rng. Do vậy, người tu Tịnh Độ chng ta, [hay ni rộng hơn] l hết thảy chng sanh tu tập php mn Tịnh Độ dĩ tr sanh Tn (do tr m sanh lng tin) th [lng tin ấy] gọi l Chnh Tn. Trong Yếu Giải, Ngẫu ch đại sư đ ni su thứ Tn, tn tự, tn tha, tn nhn, tn quả, tn Sự, tn L, ni đến su thứ. Do vậy, nhất định phải tin tưởng tm ny lm Phật, tm ny l Phật. Đy l căn cứ l luận của ton thể Phật php, bất luận tng no hay phi no, tm ny lm Phật, đặc biệt l php mn niệm Phật thnh Phật ny, niệm Phật thnh Phật đấy nh! Niệm Phật vng sanh, niệm Phật lm Phật; do vậy, phải tin tưởng chng sanh v Phật bất nhị! Chỉ sợ qu vị khng niệm Phật, chứ người niệm Phật quyết định lm Phật.

Mười php giới đều do tự tm của chng ta biến hiện, tm chng ta tưởng g liền biến ra cảnh giới ấy. Cho nn, y bo v chnh bo trang nghim trong mười php giới do đu m c? Từ trong tưởng tượng biến hiện, sức mạnh của tưởng tượng rất lớn, tưởng điều g liền biến hiện điều ấy! Chng ta phải c tr huệ v tn tm như vậy th mới được coi l chnh tn. Nếu chẳng c tr huệ, ni thật ra, chnh tn sẽ chẳng thể sanh khởi; dẫu c tn tm vẫn chẳng phải l chnh tn. Chẳng phải l chnh tn, người ấy sẽ thoi chuyển, sẽ thay đổi. Chng ti đ từng thấy khng t người niệm Phật, niệm vi chục năm, đến tuổi gi bn thay đổi, học php mn khc, điều ấy v cng đng tiếc! Đấy đều l v trong tn tm chẳng c tr huệ, l một thứ lng tin theo cảm tnh, ni kh nghe l m tn, nn kẻ ấy mới thay đổi! Người thật sự c tr huệ chắc chắn sẽ khng bị thay đổi!

Dĩ tr pht nguyện (dng tr để pht nguyện), nguyện ấy l hoằng nguyện, nguyện ấy cũng chẳng kiến lập trn cơ sở cảm tnh hay m tn! N l nguyện từ trong tr huệ Bt Nh, tức l nguyện pht sanh từ l tr, tuyệt đối chẳng phải l cảm xc nhất thời, nn nguyện ấy l chn nguyện. Người ấy hiểu r rng, minh bạch Sự v L của y bo v chnh bo trang nghim trong mười php giới, hiểu r v sao phải chọn lựa Ty Phương. Trong đại kinh, chuyện ny rất r rệt. Trong kinh Qun V Lượng Thọ Phật, phu nhn Vy Đề Hy gặp nạn, con ci bất hiếu, giam chặt b ta. B cảm thấy thống khổ, ở trong hong cung di nhn Linh Sơn. Khi ấy, đức Phật ở ni Linh Thứu, ni Linh Thứu ở ngoi thnh Vương X. B ở trong hong cung niệm Phật, cầu Phật đến cứu. B ta cảm thấy thế giới ny rất khổ, con ci bất hiếu, lm phản. Nếu lc ấy chẳng c mấy vị đại thần khuyn can, ngăn cản, con b ta sẽ giết mẹ! B ta cảm thấy thế giới ny chẳng c nghĩa g, cầu Phật: Cc ci Phật trong mười phương ci no tốt đẹp, con muốn sang đ, chẳng muốn ở trong thế gian ny nữa!

B ta c một niệm ấy, đức Phật liền biết. Do vậy, b Vy Đề Hy dẫn mấy cung nữ hướng về phương hướng ni Linh Thứu lễ bi, vừa ngẩng đầu ln, Thch Ca Mu Ni Phật đ dẫn nhiều người đến hong cung rồi, đến từ khng trung. Đy l đức Phật hiện Thần Tc Thng. Đức Phật đp ứng lời thỉnh cầu của b ta, dng thần lực của Phật hiện by cc ci Phật trong mười phương khiến b ta đều trng thấy. Sau khi b ta đ thấy cc ci Phật, bn hướng về Thch Ca Mu Ni Phật thưa: Con chọn lựa ci Phật A Di Đ, muốn sanh về ci Phật A Di Đ. Xin Thch Ca Mu Ni Phật dạy b ta cch sanh về đ. Kinh ghi chp như thế, chng ta phải tin tưởng điều ny. Thuở ấy, trong hong cung, chẳng phải l một mnh vua Ba Tư Nặc trng thấy, m cả mấy trăm cung nữ của b ta cũng đồng thời thấy, chuyện ấy chẳng phải l giả!

Trong kinh V Lượng Thọ, đức Phật giới thiệu Ty Phương Cực Lạc thế giới xong, bn hỏi A Nan: ng c muốn thấy Ty Phương A Di Đ Phật hay khng? Ngi thưa: Con xin được thấy. Kết quả l Thch Ca Mu Ni Phật dạy Ngi hướng về phương Ty lễ bi, xưng danh, nhất tm xưng danh niệm A Di Đ Phật. A Nan vừa niệm A Di Đ Phật, lạy xuống một lạy, ngẩng đầu ln, A Di Đ Phật đ hiện trn khng trung, Ngi được trng thấy. Khng chỉ ring A Nan trng thấy, m c đến hơn một vạn người nghe giảng kinh trong php hội V Lượng Thọ lần đ thảy đều trng thấy! Đy chẳng phải l giả, chẳng phải l một người thấy, m l nhiều người như thế trng thấy! Điều ny cũng chứng thực lời Đại Thế Ch Bồ Tt đ ni trong chương Niệm Phật Vin Thng: Hiện tiền, đương lai, tất định kiến Phật (hiện tại, tương lai, nhất định thấy Phật), ở đy l hiện tiền thấy Phật. Ngi A Nan vừa thấy A Di Đ Phật liền pht nguyện cầu sanh Ty Phương Cực Lạc thế giới. Do vậy, nếu cc vị hỏi: Hiện thời, ngi A Nan ở đu? Ngi ở trong Ty Phương Cực Lạc thế giới. Ngi l tổ sư đời thứ hai của Thiền Tng. Ma Ha Ca Diếp l sơ tổ Thiền Tng. Ma Ha Ca Diếp truyền cho Ngi, Ngi vng sanh Ty Phương Cực Lạc thế giới. Do vậy, sự pht nguyện ny l thật sự hiểu r, nguyện sanh Ty Phương, đấy mới l đại nguyện.

Qu vị pht nguyện phổ độ hết thảy chng sanh, đng như Tứ Hoằng Thệ Nguyện: Chng sanh v bin thệ nguyện độ, phiền no v tận thệ nguyện đoạn, cho đến nguyện cuối cng l Phật đạo v thượng thệ nguyện thnh, qu vị thnh bằng cch no? Nếu qu vị chẳng thể vng sanh Ty Phương Cực Lạc thế giới, thưa qu vị, bốn nguyện ấy đều l rỗng tuếch, hữu danh v thực. Qu vị mong độ chng sanh, nhưng chẳng c năng lực, độ khng được! Qu vị muốn đoạn phiền no, cũng chẳng đoạn phiền no được! Phiền no chẳng tăng trưởng th coi như cn kh, sợ l phiền no mỗi ngy một tăng trưởng. Nếu chẳng đoạn, n sẽ l tăng trưởng mỗi ngy, đng sợ qu! Qu vị học php mn th cũng chẳng học được! Trong thế gian hiện thời, chẳng c thầy tốt, đồng tham đạo hữu tốt đẹp cũng chẳng c, hon cảnh tốt đẹp cũng chẳng c, đến nơi đu để học? Chẳng c chỗ no để học! Chẳng cần phải ni đến chuyện thnh Phật nữa! Vẫn lun hồi trong lục đạo y như cũ, chẳng thể thnh Phật! Do vậy, muốn thực hiện Tứ Hoằng Thệ Nguyện, phương php duy nhất l cầu sanh Ty Phương Cực Lạc thế giới.

V thế, trong Yếu Giải, Ngẫu ch đại sư đ giải thch thẳng thừng về pht Bồ Đề tm, Ngi ni: Pht Bồ Đề tm l g? Tm cầu sanh Ty Phương Cực Lạc thế giới chnh l V Thượng Bồ Đề Tm. Từ xưa tới nay, cc tổ sư đại đức chưa hề ni như vậy. Chng ta hy suy nghĩ xem Ngi ni c l hay khng? Đng l c. V Khởi Tn Luận giảng Bồ Đề tm l trực tm, thm tm, đại bi tm; trong Qun Kinh, đức Phật giảng Bồ Đề tm l ch thnh tm, thm tm, pht nguyện hồi hướng tm. Một niệm cầu sanh Ty Phương Cực Lạc thế giới, ba tm ấy đều trọn đủ. Ngẫu ch đại sư thật tuyệt vời, một cu ni toạc ra, chng ta nghe xong liền hiểu r rng, minh bạch, chẳng c cht nghi hoặc no! Lại cn cảm thấy chng ta c thể lm được! Qu vị ni trực tm, thm tm, đại bi tm, ni cả nửa ngy, chng ta vẫn chẳng hiểu r rng, chẳng biết học từ chỗ no? Cng giảng cng mơ hồ, chẳng thể hiểu r như cch giảng đơn giản của Ngẫu ch đại sư, đấy l ưu điểm!

V vậy, trong thời cận đại, cc vị như Ấn Quang đại sư, cc vị tổ sư đại đức đều cng nhận sch Yếu Giải của Ngẫu ch đại sư l sch ch giải kinh Di Đ bậc nhất, l bản ch giải hay nhất, đơn giản, dễ hiểu nhất. Ấn Quang đại sư tn thn: Cổ Phật ti lai, A Di Đ Phật ti lai để soạn ch giải cho kinh A Di Đ cũng chẳng thể hay hơn được! Đ l tn thn Yếu Giải đến tột bậc! Yếu Giải đơn giản, dễ hiểu, Sớ Sao rộng lớn, tinh vi, su xa. Nếu qu vị muốn biết tỉ mỉ, hy học Sớ Sao; nếu muốn rất đơn giản nắm vững cương lnh của kinh A Di Đ, hy tm trong Yếu Giải. Hai loại ch giải ny hay nhất, c thể tham chiếu lẫn nhau.Trong giảng ta, chng ti cũng lun lưu giảng hai bản ch giải ny. Giảng xong Sớ Sao bn giảng Yếu Giải. Giảng Yếu Giải xong lại giảng Sớ Sao. Chng ti lun lưu gip vng giảng hai bản ch giải ny!

Nếu chẳng c tr huệ chn chnh, ni thật th, chn tr huệ l g? Ta c tr huệ ư? No ngờ l khim hư qu lố khi tự ni ta chẳng c tr huệ! Nếu lại học kinh gio, tng phi khc, quả thật ta chẳng c tr huệ, tr huệ của chng ta khng đủ; nhưng ni theo php mn Tịnh Độ, tr huệ l g? Qu vị c thể chọn lựa php mn Tịnh Độ, đ l tr huệ bậc nhất! Cch ni ny chẳng qu lố, chẳng sai t no! V sao? Mọi người cng nhận Văn Th Bồ Tt tr huệ bậc nhất, Ngi l vị tr huệ bậc nhất trong cc vị Bồ Tt; Văn Th Bồ Tt chọn lựa php mn tr danh niệm Phật vng sanh Tịnh Độ, chọn lựa bằng tr huệ! Ngy nay chng ta cũng chọn lựa php mn ny, chẳng khc g Văn Th Bồ Tt, Ngi chọn php ny, ta cũng chọn php ny! Ngoi chuyện chọn lựa ny ra, ta thấy chng ta chẳng c g snh bằng Văn Th Bồ Tt! Những thứ khc chẳng snh bằng khng sao cả! Chỉ cần điều ny chẳng sai khc cho mấy l được rồi, chắc chắn l kh lắm rồi! Do vậy, ta c thể biết: Chẳng chọn lựa php mn ny tức l chẳng c tr huệ!

Trong V Lượng Thọ Kinh Mi Ch, thầy L đ ch giải rất hay, thầy viết: Chẳng cầu đới nghiệp vng sanh, chẳng phải l ngu th cũng l cuồng. Đ l thiếu tr huệ, chẳng phải l ngu si th l cuồng vọng, đều l kẻ thiếu tr huệ! Một người c tr huệ chắc chắn chọn lựa php mn ny. Mấy hm nay, ti cũng ni với qu vị chẳng t, chọn lựa php mn ny th nhất định phải ghi nhớ l luận, phương php, v cảnh giới được giảng trong php mn, phải thường ghi [những điều ấy] trong lng, phải thời thời khắc khắc thực hiện, vận dụng vo cuộc sống của chng ta, p dụng vo việc xử sự, đi người, tiếp vật, đấy mới l người thật sự niệm Phật. Do vậy, chẳng c chn tr, nguyện sẽ chẳng thể pht khởi. Dẫu c pht nguyện, vẫn chẳng phải l đại nguyện, cho nn kẻ ấy sẽ bị thoi chuyển, hoi nghi, đnh mất tn tm!

Do vậy, một đạo trng niệm Phật v sao phải giảng kinh mỗi ngy? Nhằm khiến cho qu vị đoạn nghi sanh tn! Một đạo trng niệm Phật thật sự sẽ giảng năm kinh Tịnh Độ từ đầu một lượt, như đối với kinh Di Đ bn giảng Sớ Sao, giảng mỗi ngy th phải giảng suốt một năm mới c thể giảng vin mn. Năm kinh một luận đều giảng từ đầu đến cuối như vậy một lượt, t nhất cũng phải mất năm su năm [mới hon tất]; nhưng năm su năm ấy quyết chẳng phải l lng ph! Sau năm su năm ấy, tn tm của qu vị nhất định kin cố. Ni cch khc, nắm vững Ty Phương Tịnh Độ, quyết định chẳng c vấn đề g! V thế, chẳng thể khng giảng kinh ny! Chẳng thể khng niệm Phật! Niệm Phật quyết định phải c một Niệm Phật Đường, đạo trng của chng ta hiện thời bị thiếu st, c giảng đường, nhưng thiếu Niệm Phật Đường, nn đạo trng ny chỉ c một nửa, vẫn cn thiếu một nửa. Đạo trng ny kiện ton, tm mọi người đều định, dễ thnh tựu. Đạo trng chẳng kiện ton, tm vẫn lao chao, ni chung l bất định, kh thể thnh tựu!

Ni đến Hạnh, Hạnh cũng phải l dĩ tr khởi Hạnh, hạnh ấy mới l diệu hạnh. Trước hết, phải đại triệt đại ngộ, sự đại triệt đại ngộ ny chẳng phải l triệt ngộ trong Thiền Tng, m l thật sự hiểu r Ty Phương Tịnh Độ, hiểu r Sự v L ở hai nơi Sa B v Cực Lạc, đ gọi l đại triệt đại ngộ. V sao? Quyết tm muốn rời khỏi Sa B, muốn đạt đến thế giới Cực Lạc, tm ấy kin định, tm ấy quyết định chẳng thay đổi. Đ l sự triệt ngộ trong Tịnh Độ Tng. Sau đấy, qu vị niệm một cu Phật hiệu sẽ giống như trong Niệm Phật Vin Thng Chương, Đại Thế Ch Bồ Tt đ ni: Đ nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế, bất giả phương tiện, tự đắc tm khai (nhiếp trọn su căn, tịnh niệm tiếp nối, chẳng nhờ vo phương tiện m tự đạt tm khai), đ l diệu hạnh! Khăng khăng một mực niệm một cu Phật hiệu ny, khăng khăng một mực tu php mn ny, chng ta giữ lấy một bộ Tịnh Độ Ngũ Kinh ny l đủ rồi, quyết định đạt được Thượng Phẩm Thượng Sanh, đ l diệu hạnh. Những kinh điển khc đều c thể chẳng cần đến, Lin Tr đại sư ni: Tam Tạng mười hai bộ, nhường cho kẻ khc ngộ, ta chẳng cần đến, khăng khăng một mực c một thứ ny l được rồi, một bộ kinh A Di Đ l được rồi! Tm vạn bốn ngn hạnh, để cho người khc hnh, để cho những người khc tu hnh [cc hạnh khc]!

Chng ta chỉ chọn lấy tr danh niệm Phật, khăng khăng một mực, đ l diệu hạnh, l sự chọn lựa bằng tr huệ chn chnh. Chẳng c chn thật huệ thật sự, sẽ chẳng thể khăng khăng một mực! Nếu ci tm [so đo, chụp giật, toan tnh học php ny, php nọ] chưa nguội lạnh, sẽ chẳng thể khăng khăng một mực, dẫu c tu hnh, vẫn chẳng phải l diệu hạnh. Nếu kẻ ấy gặp duyn, vẫn bị thoi chuyển, vẫn thay lng đổi dạ! Nghe người ta ni mấy cu, khuyn qu vị mấy lời, ngay lập tức niệm xoay chuyển, thay đổi, hạnh kiểu đ chẳng diệu! Thật sự l chẳng diệu! niệm vừa chuyển, bn vo trong ba c đạo. [Chắc qu vị sẽ ci] niệm vừa chuyển cũng chẳng đến nỗi đọa trong ba c đạo, v sao [php sư] ni nghim trọng dường ấy? Ti thưa cng qu vị, niệm xoay chuyển sẽ thật sự đọa trong tam c đạo. Dẫu qu vị nhn phẩm, đạo đức, học vấn, phước bo tốt đẹp cch mấy, vẫn đọa trong ba c đạo, v nguyn nhn no? Qu vị đ ph hoại php Tịnh Độ!

Ph hoại như thế no? Người ta thấy người ấy niệm Phật vi chục năm, qu vị thấy kẻ ấy [đến lc] tuổi gi tu php khc, [bn tự nhủ] ni chung, chẳng thể học Tịnh Độ! Đấy l qu vị đ ph hoại Tịnh Độ, sẽ l kẻ đọa trong địa ngục A Tỳ. Nếu qu vị chẳng tu Tịnh Độ, sẽ chẳng tạo nghiệp nhn ny! Niệm Phật vi chục năm, lc tuổi gi đi học Thiền, học Mật, lm cho những kẻ học đạo khc trng thấy [hnh vi của] qu vị, [bn nghĩ]: Người ny đ hnh nhiều năm ngần ấy [m vẫn bỏ khng tu Tịnh Độ nữa], đại khi l Tịnh Độ khng được rồi, chẳng đng trng cậy, vẫn l Thiền hay Mật tốt đẹp hơn! Qu vị phải hiểu: Qu vị vừa chuyển đ ảnh hưởng tới bao nhiu người. Người đng ngần ấy chịu ảnh hưởng của qu vị, đều cng bị lạc lối, kẻ m dẫn lũ đui, qu vị phải chịu trch nhiệm nhn quả! V thế, phiền phức nẩy sanh từ chỗ ny!

Qu vị học Tịnh Độ vi ngy, chuyển sang học php khc, chẳng phạm lỗi lầm to tt dường ấy. Qu vị học đ lu, sau đ chuyển niệm, đng kinh hi lắm! Đ l thiếu tr huệ. Khng chỉ chnh mnh từ đường chnh đi vo nẻo t, m cn phải gnh lấy [trch nhiệm] nhn quả rất lớn. Nếu qu vị ảnh hưởng cng nhiều người, tội lỗi cng nặng, hết sức đng sợ. V vậy, Tn, Nguyện, Hạnh đều nương vo tr huệ chn thật.

 

(Sao) Ni ch thnh Phật, hằng tất diu chi.

() 乃 至 成 佛,恆 必 繇 之。

(Sao: Cho đến thnh Phật, vẫn lun cậy vo tr).

 

Từ Sơ Pht Tm mi cho đến lc thnh Phật đều phải nương vo tr huệ, tr huệ do đu m c? Tr huệ pht xuất từ tn tm thanh tịnh. Kinh Kim Cang ni: Tn tm thanh tịnh bn sanh Thật Tướng. Thật Tướng l chn thật huệ, tn tm thanh tịnh l g? Trong tn tm chẳng c mảy may hoi nghi, chẳng c mảy may đắm nhiễm, đ l thanh tịnh. Do vậy, cho đến khi thnh Phật đều phải cậy vo tr huệ, hằng tất diu chi (lun cậy vo), đều phải c tr huệ.

 

(Sao) Ci thng nhn triệt quả, thnh thỉ thnh chung chi yếu đạo d, khởi độc vi tn giải chi mn nhi dĩ tai!

() 蓋 通 因 徹 果,成 始 成 終 之 要 道 也,豈 獨 為 信 解 之 門 而 已 哉。

(Sao: Bởi lẽ, tr thng suốt nhn, thấu triệt quả, l đạo trọng yếu để thnh tựu từ đầu tới cuối, h c phải ring một mn Tn Giải m thi ư!)

 

Lời kết luận ny hay qu! Bởi lẽ, kinh ny do đức Phật gọi ngi X Lợi Phất để ni, trong cc vị Thanh Văn, ngi X Lợi Phất đại biểu tr huệ bậc nhất. Php mn ny l php kh tin, nếu chẳng phải l tr huệ bậc nhất, c giảng cho kẻ ấy cũng v ch! Kẻ ấy chẳng tin, chẳng thể tiếp nhận. Chư vị nhất định phải biết: Nếu trong tương lai, qu vị gặp phải đại php sư, lo ha thượng, hoặc thiện tri thức tu học đ lu bảo qu vị đừng nn niệm Phật: Php mn Niệm Phật khng được đu!, khuyn qu vị tu Thiền, hay khuyn qu vị học Mật, ti thấy rất nhiều kẻ như thế! Qu vị vừa nghe, [bn nghĩ] vị lo ha thượng ny đức cao vọng trọng, chắc l Ngi ni chẳng sai! Nếu qu vị nghe lời người đ liền bị mắc lừa to lớn! V sao những người đ tu hnh suốt đời m vẫn chẳng tin tưởng [Tịnh Độ]? Kinh ni [php mn Tịnh Độ] l php kh tin! Nếu những kẻ đ đều tin tưởng, lm sao đức Phật c thể ni kinh ny l php kh tin cho được! Php ny chẳng phải l rất dễ tin tưởng ư? Kh lắm! Thật sự l kh! Những người hữu tu hữu học, ắt phải thật sự học thng suốt rồi mới tin tưởng. Do vậy, cc vị Lin Tr, Ngẫu ch thường trch dẫn [lời dạy của cc ngi] M Minh, Long Thọ, Thin Thn Bồ Tt, Tr Giả, Vĩnh Minh, những vị ấy Tng lẫn Gio đều thng, thật sự thng đạt, cc Ngi chọn lấy php mn Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, thật sự thấu hiểu! Dẫu l người học Gio Hạ đ lu, kẻ ấy chẳng thật sự thng suốt. Chẳng thật sự thng suốt sẽ chẳng tin php mn ny, chuyện ny cũng chẳng kỳ l ạ cht no! Chưa thng hiểu, đch xc l chẳng tin.

Chnh bản thn ti l một th dụ, lc ti mới học Phật, chẳng tin tưởng Tịnh Độ. Vẫn kể như rất may mắn l [cuối cng] ti tin tưởng Tịnh Độ, chẳng phải l nghe người ta khuyn, ti tin liền, đu c đơn giản như vậy! Người đầu tin khuyn ti l php sư Sm Vn, ti chưa thể tiếp nhận; về sau l lo cư sĩ L Bỉnh Nam, ti bn tn bn nghi. V sao mới tin? Giảng kinh Hoa Nghim mười mấy năm rồi mới tin. Ti giảng kinh Hoa Nghim bắt đầu từ năm Dn Quốc 60 (1971) mi cho đến hiện thời chẳng gin đoạn. Năm nay l năm Dn Quốc 77 (1988), đ giảng mười bảy năm. Do kinh Hoa Nghim, ti thường ni: Ti đ khai ngộ, đại triệt đại ngộ! Ngộ g vậy? Ngộ tu php mn Tịnh Độ! V từ kinh Hoa Nghim, ti đ thấy r rng, rnh rẽ: Văn Th, Phổ Hiền, Thiện Ti đồng tử, bốn mươi mốt địa vị Php Thn đại sĩ ai nấy đều niệm Phật cầu sanh Ty Phương Cực Lạc thế giới! Chuyện ny đng l ging một gậy to vo đầu ti, đnh thức ti! Hoa Nghim l cảnh giới g? Đến cuối cng, thảy đều niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.

Do vậy, ti đọc ch giải kinh V Lượng Thọ của cư sĩ Hong Niệm Tổ, cụ trch dẫn lời cc vị đại đức đời Đường ni Hoa Nghim v Php Hoa đều nhằm dẫn đường cho kinh V Lượng Thọ, ti vừa đọc liền thừa nhận [lời đoan quyết ấy] chẳng sai t no! V sao? Ti tin tưởng php mn Tịnh Độ l nhờ kinh Hoa Nghim dẫn dắt. Chẳng c bộ kinh ấy dẫn dắt, dẫu như thế no đi nữa ti cũng chẳng thể tin tưởng, cũng chẳng chịu tu học. V thế, ti v cng cảm kch kinh Hoa Nghim. Nếu khng nhờ Hoa Nghim, ti sẽ chẳng tin tưởng php mn ny. Ni thật ra, kinh Hoa Nghim l Tự Phần của kinh V Lượng Thọ, l phần dẫn nhập của kinh V Lượng Thọ. Kinh V Lượng Thọ v kinh A Di Đ l Chnh Tng Phần của kinh Hoa Nghim. Thập đại nguyện Vương đạo quy Cực Lạc (mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc), chẳng sai, chỗ quy tc cuối cng trở về kinh Di Đ. Lin Tr đại sư bảo hai bộ kinh Di Đ v V Lượng Thọ l đồng bộ, được gọi l Đại Bổn v Tiểu Bổn. Tiểu Bổn giảng đơn giản, Đại Bổn giảng chi tiết, nhưng nội dung hon ton giống nhau, chẳng sai biệt!

Thng nhn triệt quả, từ tu nhn đến chứng quả đều cần đến tr huệ. Thnh thỉ thnh chung, thỉ () l qu vị bắt đầu tin tưởng, pht nguyện, tr danh, trọn đủ Tn, Nguyện, Hạnh, đấy l thnh thỉ; đến Ty Phương Cực Lạc thế giới, qu vị vin chứng ba thứ Bất Thoi, thnh Phật trong một đời, đ l thnh chung. Thảy đều phải cậy vo tr huệ! Qu vị mới hiểu v sao đức Phật gọi ngi X Lợi Phất để giảng [kinh Di Đ], chẳng gọi người khc. Đặc biệt l kinh Di Đ v vấn tự thuyết, trong kinh ny ton l Thch Ca Mu Ni Phật tự ni, những người khc chẳng ni xen vo một cu no! Khởi độc vi tn giải chi mn nhi dĩ tai (h c phải ring một mn Tn Giải m thi ư).

 

(Sớ) Xứng L.

() 稱 理。

(Sớ: Xt theo L).

 

Đoạn Xứng L ny l đoạn bn luận tương xứng với Tnh. V vậy, bản ch giải ny của Lin Tr đại sư chẳng giống với những bản ch giải thng thường, mỗi đoạn ngắn đều chỉ quy tự tnh. Xứng L thường được gọi l Tiu Quy Tự Tnh, điều ny rất t thấy trong cc bản ch giải thng thường, nhưng sau mỗi đoạn trong Sớ Sao đều c.

 

(Sớ) Tắc tự tnh tự nhin tr, thị Phật tự co X Lợi Phất nghĩa.

() 則自性自然智,是佛自告舍利弗義。

(Sớ: Tự nhin tr trong tự tnh chnh l nghĩa của việc Phật tự bảo X Lợi Phất).

 

Cch ni ny hon ton hội quy tự tnh, nghĩa l g? Chng ta hy nhn lời giải thch trong phần Sao.

 

(Sao) V duyn nhi chiếu, phất lự nhi tri, diệu tnh thin nhin, bất tng tha đắc. Thị cố kiền chy vị động, khải thỉnh v nhn, x nhin thuyết, v gin yết.

() 無 緣 而 照,弗 慮 而 知,妙 性 天 然,不 從 他 得。是 故 犍 椎 未 動,啟 請 無 人,熾 然 說,無 間 歇。

(Sao: V duyn m chiếu, chẳng suy nghĩ m biết, diệu tnh thin nhin chẳng do điều g khc m đạt được. Do vậy, kiền chy chưa động tới, chẳng

c người khải thỉnh m ni trn trề, chẳng gin đoạn, ngưng nghỉ).

 

Mấy cu ny c nghĩa rất su, v duyn nhi chiếu, Chiếu l tr huệ khởi tc dụng. Cng phu tu hnh của nh Thiền gồm ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất l Qun Chiếu, giai đoạn thứ hai l Chiếu Trụ, giai đoạn thứ ba l Chiếu Kiến. Chiếu Kiến l kiến tnh. Trong Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, lo cư sĩ Giang Vị Nng đ ni về ba cảnh giới ny rất r rng. Chng ta niệm Phật cũng c ba giai đoạn, ba giai đoạn ấy được ni theo cch khc, nhưng ni thật ra, nghĩa tương đồng. Qun Chiếu trong Thiền Tng được Tịnh Độ Tng gọi l cng phu thnh phiến. Chiếu Trụ trong Thiền Tng chnh l Sự nhất tm bất loạn trong Tịnh Độ. Chiếu Kiến như Thiền Tng đ ni chnh l L nhất tm bất loạn trong Tịnh Độ. Qun Tự Tại Bồ Tt trong Bt Nh Tm Kinh l Qun Thế m Bồ Tt, Ngi đ tu hnh tới giai đoạn cao tột, tức l Chiếu Kiến. Chiếu kiến Ngũ Uẩn giai Khng, Chiếu Kiến l minh tm kiến tnh. Chng ta niệm Phật đạt đến L nhất tm cũng l minh tm kiến tnh. Do vậy, danh từ, thuật ngữ khc nhau, nhưng cảnh giới giống nhau. V duyn nhi chiếu, những loại Chiếu thng thường ni chung l phải c duyn rồi sau đ mới khởi Qun Chiếu.

Ni tới Tri (: hiểu biết) th Tri ni chung l chng ta phải suy nghĩ mới biết. Lự () l suy nghĩ, suy xt, nghin cứu, [sau đ] chng ta hiểu r rng, minh bạch chuyện ny. [Phất lự nhi tri] ở đy l ni khng c duyn, chẳng cần đến duyn, Chiếu l tự nhin, chẳng cần phải suy xt m biết. V dụ như A La Hn c thần thng, Bch Chi Phật c thần thng, Quyền Gio Bồ Tt c thần thng, cc Ngi c Tha Tm Thng, nhưng nếu Ngi chẳng suy nghĩ, suy xt th trong tm người khc nghĩ g Ngi sẽ chẳng biết. Do vậy, nếu qu vị hỏi Ngi chuyện qu khứ hay tương lai, trước hết, Ngi phải nhập Định, sau đấy mới c thể bảo cho qu vị biết, tức l Ngi c duyn, c lự, chẳng thể lập tức ni với qu vị. Ngi phải nhập Định một chốc th mn thần thng ấy (Tha Tm Thng) mới c thể khởi tc dụng. Nếu Ngi chẳng tc , thần thng chẳng khởi tc dụng. Những vị ny chẳng bằng người sanh trong hạ hạ phẩm của Ty Phương Cực Lạc thế giới.

Người sanh trong hạ hạ phẩm của Ty Phương Cực Lạc thế giới, ở trong hoa sen cn chưa nở, nhưng người ta đ thấy thấu suốt, nghe thng suốt, thần thng v đạo lực đều chẳng khc biệt với Phật cho mấy, chắc chắn l Thanh Văn, Duyn Gic, Quyền Gio Bồ Tt trong cc thế giới phương khc chẳng thể snh bằng, phải km cỏi hơn! Người ấy ở trong bp sen chưa nở, mọi người đừng nghĩ bp sen chưa nở, ni chung rất mất tự nhin, chẳng c tự do, [hiểu như vậy l] sai mất rồi! Hoa sen ấy bao lớn? Kinh ni hoa sen b l một do-tuần, một do-tuần (yojana) l bốn mươi dặm Tu. Đ l nơi qu vị ở. Bốn mươi dặm! Gần như to bằng thnh phố Đi Bắc. Nếu qu vị ni: Một mnh ta ở trong đ, c phải l rất nhm chn hay khng? Chẳng phải vậy! Qu vị ở trong hoa sen ấy, A Di Đ Phật, Qun m, Thế Ch, đại chng trong Thanh Tịnh Hải Hội thảy đều ở trong ấy, ha thn ở trong ấy. V thế, trong ấy rất no nhiệt, mỗi ngy giảng kinh, thuyết php, niệm Phật, kinh hnh rất no nhiệt! Đ l hoa sen b. Hoa sen to sẽ lớn cả ngn do-tuần, hoặc một vạn do-tuần! Hoa sen to cn lớn hơn địa cầu của chng ta, bỏ địa cầu vo đ vẫn cn rộng thnh thang! Tnh hnh trong mỗi đa hoa sen đều l như vậy.

V vậy, trong mỗi hoa sen đều l một thế giới, khi hoa nở, qu vị liền thấy Bo Độ của Ty Phương Cực Lạc thế giới, thấy Bo Thn Phật của A Di Đ Phật. Bo Thn Phật v vị Phật được thấy trong hoa sen khc nhau. Bo Thn Phật c v lượng tướng, mỗi tướng c v lượng hảo, chẳng phải l ba mươi hai tướng, tm mươi thứ hảo. Bo Thn Phật to lớn, kệ Tn Phật c cu: Bạch ho uyển chuyển ngũ Tu Di, cm mục trừng thanh tứ đại hải. Đ l Bo Thn Phật. Trong hoa sen qu vị chẳng nhn thấy, chẳng thấy thn tướng Phật to dường ấy! Sau khi hoa nở, sẽ thấy thn tướng Phật lớn dường ấy, thn của chnh mnh cũng to, thn hnh của chnh mnh cũng cao lớn. Do vậy, trong hoa v ngoi hoa l hai thế giới. V lẽ đ, đến nơi ấy chắc chắn chẳng tịch mịch, m cũng v cng tự tại. Mỗi ngy c thể đi thăm viếng mười phương thế giới, cảnh giới được ni trong kinh Di Đ l ci Phm Thnh Đồng Cư, trọn chẳng phải l cảnh giới trong ci Thật Bo Trang Nghim. Đấy cũng l cảnh giới của hạng đới nghiệp vng sanh chng ta trong hoa sen nơi ao bảy bu, đng l đẹp đẽ khn xiết!

V vậy, người sanh trong hạ hạ phẩm của Ty Phương Cực Lạc thế giới cũng chẳng cần đến duyn m chiếu, chẳng cần suy nghĩ liền biết. Bởi lẽ, do duyn m chiếu, do suy nghĩ m biết đều l do ngoại cảnh m đạt được, đ l tr huệ hữu tc vi (tr huệ pht sanh tc dụng do duyn theo cảnh trần), chẳng phải l Tự Nhin Tr. Chẳng phan duyn, nhưng khng g chẳng chiếu, khng cần suy nghĩ m khng g chẳng biết, đấy l chn tr huệ, đ mới l Tự Nhin Tr, l V Sư Tr. Tr chẳng cần phải do thầy truyền dạy, m tự nhin khởi ln, khng cần cậy vo ngoại duyn, tr huệ ấy tự nhin hiện tiền, chẳng do ci khc m c! Đ c diệu huệ, tr huệ chn thật như vậy, qu vị nghĩ xem: Cần g m phải g dẫn khnh, ging chung để khải thỉnh Phật tới giảng kinh, thuyết php? Chẳng cần thiết! Thị cố kiền chy vị động (do vậy, kiền chy chưa động tới), kiền chy l php kh. Chng ta nghnh thỉnh php sư, nghnh thỉnh Phật, Bồ Tt thuyết php đều phải g hoặc đnh php kh, chẳng cần, khng dng đến, tr huệ của qu vị đ hiện tiền.

Khải thỉnh v nhn, x nhin thuyết, v gin yết (khng người khải thỉnh m ni trn trề, chẳng gin đoạn, chẳng ngừng nghỉ), chẳng cần phải khải thỉnh! X nhin v v gin l ni su trần tận hư khng khắp php giới đều đang thuyết php. Thế giới Ty Phương l như thế, c thế giới no chẳng phải l như vậy? Su trần trong thế giới ny của chng ta cũng thuyết php, điều đng tiếc l g? Chng ta chẳng c tr huệ, nn qu vị chẳng thể cảm nhận. Người trong Ty Phương Cực Lạc thế giới c tr huệ, tm địa thanh tịnh, nn su căn tiếp xc cảnh giới su trần [sẽ nhận biết] ton bộ đều đang thuyết php. Đoạn ny nhằm giải thch nghĩa được biểu hiện bởi chuyện đức Phật ni với ngi X Lợi Phất.

 

Nhị, thị php.

二、示法

(Hai l dạy php).

 

Thị l khai thị, [thị php] l khai thị php mn ny.

 

(Kinh) Tng thị Ty Phương, qu thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc.

() 從 是 西 方。過 十 萬 億 佛 土。有 世 界 名 曰 極 樂。

(Kinh: Từ phương Ty của thế giới ny, đi qua mười vạn ức ci Phật, c thế giới tn l Cực Lạc).

 

Mấy cu ny l cương lnh của cả bản kinh, hy ch trọng chữ Hữu. Nhn từ thế giới Sa B của chng ta về phương Ty, vượt qua mười vạn ức ci Phật, bn ấy c một thế giới tn l thế giới Cực Lạc.

 

(Sớ) Độ thị sở y, danh y bo.

() 土是所依,名依報。

(Sớ: Ci nước l sở y (chỗ để nương vo), gọi l y bo).

 

Chng ta sinh tồn phải nương cậy đại địa, đ l y bo. Bo l đền đp. Trong qu khứ, chng ta tu ci nhn ny, hiện tại được đền đp bằng điều ny. Chnh bo l thn thể của chng ta. Ngoi thn thể ra, những g chng ta nương nhờ vo để sống đều gọi l y bo. Y bo c hai loại lớn: Một l vật chất y bo, hai l nhn sự y bo. Chnh bo chỉ c một mnh ta, chẳng thể tnh nhiều người khc vo đ, người khc l y bo của ta. Chẳng thể ni chnh bo l hết thảy hữu tnh chng sanh, chẳng thể ni theo kiểu ấy. Chnh bo chỉ ni đến một mnh ta. Chng ta sống trong thế gian ny, c hon cảnh nhn sự, c hon cảnh vật chất, thảy đều l y bo. Nay chng ta ni về Ty Phương Cực Lạc thế giới, ni về A Di Đ Phật:

 

(Sớ) Phật thị năng y, danh chnh bo.

() 佛是能依,名正報。

(Sớ: Phật l năng y (chủ thể nương tựa), gọi l chnh bo).

 

Hon cảnh l sở y (đối tượng để chủ thể nương tựa); đấy l ni về y bo. Ci nước l sở y, gọi l y bo. Phật l năng y (chủ thể nương tựa), gọi l chnh bo. Nay ni về y bo trước. Cương lnh của cả bản kinh gồm ba cu kinh văn, đy l cu đầu tin. Cu thứ hai l kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đ, kim hiện tại thuyết php (ci ấy c Phật hiệu l A Di Đ, nay đang thuyết php), cu ny thuộc kinh văn trong phần sau.

 

(Sớ) Thị giả, chỉ thử giới ngn.

() 是者,指此界言。

(Sớ: Chữ Thị l ni đến ci ny).

 

Trong cu tng thị Ty Phương, chữ Thị chỉ thế giới ny, tức l thế giới Sa B, chng ta hiện đang ở trong thế giới ny. Chư vị phải nhớ, [ni tới thế giới ny] trọn chẳng phải l ni tới địa cầu. Nếu hiểu l địa cầu, trật mất rồi, sẽ c vấn đề to lớn. Nay chng ta biết địa cầu trn xoe, đi về phương Ty, đi hết một vng lại trở về [chỗ cũ], rốt cuộc Ty Phương ở chỗ no? Hiện thời my bay hết sức lẹ lng, loại my bay tn tiến nhất trong tương lai bay một vng quanh địa cầu chỉ cần su hoặc bảy giờ l đủ rồi! My bay tối tn nhất trong hiện thời, từ Mỹ bay sang Nhật Bản mất hai giờ, bay đến Nhật Bản hay [từ Mỹ] rồi lại bay sang Đi Loan, thời gian chẳng sai biệt cho mấy, hai giờ đ đến nơi rồi! Nước Mỹ hiện đang th nghiệm, trong tương lai, tốc độ my bay vận chuyển hnh khch đều nhanh chng như thế! Khoa học kỹ thuật pht triển, thế giới cng ngy cng b lại. Sau ny, sang Mỹ chỉ hai tiếng đồng hồ l đến rồi. Ty Phương được ni ở đy l phương Ty của thế giới Sa B.

 

(Sớ) Tng thử Sa B thế giới, hướng Ty nhi khứ.

() 從此娑婆世界,向西而去。

(Sớ: Từ thế giới Sa B ny, đi về hướng Ty).

 

Thế giới Sa B l tn của một đại thin thế giới. Địa cầu của chng ta thường được gọi l Dim Ph Đề (Jambudvipa). Nếu ni phương Ty của Dim Ph Đề chnh l ni tới địa cầu ny, cn ở đy l ni đến thế giới Sa B. Thế giới Sa B l một đại thin thế giới, l khu vực gio ha của Thch Ca Mu Ni Phật, đại khi giống như hệ Ngn H chng ta quan st thấy trong Thin Văn hiện thời. Nếu chng ta lấy hệ Ngn H lm đơn vị để ni [th Ty Phương trong đoạn kinh Di Đ ny] chnh l Ty Phương của hệ Ngn H [thuộc thế giới Sa B]. Ni như vậy sẽ hợp l, thật sự chẳng c vấn đề g! Ngn H cũng đang chuyển động, nhưng thời gian để hệ Ngn H xoay một vng cần phải dng quang nin (năm nh sng) để tnh ton. Php vận của Thch Ca Mu Ni Phật tổng cộng chỉ c một vạn hai ngn năm, khi đem so một vạn hai ngn năm với sự chuyển động của hệ Ngn H, e rằng độ số chỉ sai lệch một hai độ, nn phương hướng chẳng sai, quả thật l [ci Cực Lạc] ở Ty Phương, n di động rất nhỏ!

Đy l ni trong php vận di một vạn hai ngn năm của Thch Ca Mu Ni Phật, độ số chuyển động của hệ Ngn H qu nhỏ, nhỏ chẳng đng kể, trọn chẳng ảnh hưởng đến phương hướng. Nếu qu vị nghin cứu Thin Văn cận đại liền hiểu r, mới hiểu đức Phật thuyết php đng l chẳng thể nghĩ bn, ph hợp với khoa học cận đại. Do vậy, đy l ni về pha Ty của hệ Ngn H, đi về pha Ty như thế, đi theo hướng Ty.

 

(Sớ) Danh qu.

() 名過。

(Sớ: Gọi l vượt qua).

 

Vượt qua! Vượt qua bao nhiu? Vượt qua mười vạn ức ci Phật.

 

(Sớ) Phật độ giả, nhất đại thin giới danh nhất Phật độ.

() 佛土者,一大千界名一佛土。

(Sớ: Phật độ (ci Phật): Một đại thin thế giới gọi l một Phật độ).

 

Một đại thin thế giới l một khu vực gio ha của một vị Phật, được gọi l một Phật độ. Giả sử một Phật độ l một hệ Ngn H, từ hướng Ty của hệ Ngn H chng ta, phải vượt qua bao nhiu hệ Ngn H? Mười vạn ức hệ Ngn H. Cc nh Thin Văn học hiện thời chưa thể quan st tới, bất qu họ pht hiện vi trăm hệ Ngn H m thi, thua km qu xa! Viễn vọng knh được dng trong Thin Văn hiện thời l loại viễn vọng knh sử dụng sng v tuyến điện, vẫn chưa đạt đến một ức [hệ Ngn H]. Mười vạn ức nhiều qu sức! Năng lực khoa học kỹ thuật của chng ta chưa đạt được một phần vạn! Ở bn ấy c một thế giới.

 

(Sớ) Qu như thị Phật độ, ch thập vạn ức, ngn khứ thử phương viễn chi viễn d.

() 過如是佛土,至十萬億,言去此方遠之遠也。

(Sớ: Trải qua cc ci Phật như thế tới mười vạn ức, ni xa cch phương ny qu xa).

 

Khoảng cch ny kh xa!

 

(Sớ) Phi Đn Kinh thập vạn bt thin chi độ d.

() 非壇經十萬八千之土也。

(Sớ: Chẳng phải l ci nước ở ngoi mười vạn tm ngn dặm như trong Đn Kinh đ ni).

 

Đặc biệt nu ra v Đn Kinh rất phổ biến tại Trung Quốc, người đọc [kinh ấy] rất nhiều. Trong Đn Kinh, Lục Tổ bảo Ty Phương Cực Lạc thế giới cch chng ta mười vạn tm ngn dặm, Lin Tr đại sư giảng cặn kẽ cu ni ny. Lục Tổ đại sư khng biết chữ, Ngi chưa hề nghin cứu kinh Di Đ, chủ yếu l dạy người đến học đạt được sự lnh ngộ, thấu hiểu lẽ Thiền, chứ chẳng coi trọng Gio. V thế, Ngi ni kiểu đ cũng l ni ty tiện, chẳng dựa theo gio nghĩa để giảng. Lục Tổ chủ trương duy tm Tịnh Độ, tự tnh Di Đ, chẳng bn đến sự tướng. Chng ta phải liễu giải những nghĩa ny. Lời Tổ Sư ni hon ton chẳng sai, Ngi c kẻ đương cơ ring, c dụng . Ngi một phen ni như vậy khiến cho hng đương cơ ngộ nhập tự tnh, mục đch của Ngi l ở chỗ ny, khiến cho kẻ khc khai ngộ, chẳng nhằm khuyn kẻ khc cầu sanh Ty Phương. Đấy l do mn đnh thiết lập khc nhau, cho nn chẳng thể dng cch ni trong Đn Kinh để giải thch kinh Di Đ. V thế, Tổ Lin Tr mới ni: Chẳng phải l ni đến ci nước cch xa mười vạn tm ngn dặm như Lục Tổ đ ni trong Đn Kinh.

 

(Sớ) Nhược cứ Sự, cứ L, diệc vị vi viễn.

() 若據事據理,亦未為遠。

(Sớ: Nếu xt đến Sự lẫn L th [ci Cực Lạc cch Sa B] cũng chẳng xa).

 

Chng ta nghe mười vạn ức ci Phật thường l chẳng c cch no tưởng tượng được, khoảng cch qu xa! Nhưng cứ Sự, cứ L, chẳng thể coi l xa, v sao chẳng thể coi l xa? Cn c chỗ xa hơn ci ấy nữa! Kinh Hoa Nghim ni thế giới Hoa Tạng từ dưới ln trn c hai mươi tầng, giống như một cao ốc hai mươi tầng, thế giới Sa B của chng ta v Ty Phương Cực Lạc thế giới cng ở trong một tầng, tức tầng thứ mười ba. Qu vị nghĩ xem thế giới Hoa Tạng lớn ngần no? Thật sự chẳng thể nghĩ bn! Đức Phật ni tận hư khng khắp php giới, đ c phải l một thế giới Hoa Tạng hay khng? Chẳng phải! Trong vũ trụ c v lượng v bin những thế giới giống như thế giới Hoa Tạng. Đ l ni đại thế giới của chng ta được gọi l thế giới Hoa Tạng. Ni đến đại thin thế giới, ni đến thế giới Sa B th vẫn l một tiểu thế giới, l khu vực gio ha của một đức Phật. Nhn từ đại thế giới, [Cực Lạc] c xa hay khng? Rất gần, cng ở trong một tầng lầu, một ở pha Đng, một ở pha Ty, chẳng xa!

 

(Sớ) Thế dĩ thời ngn, giới dĩ xứ ngn.

() 世以時言,界以處言。

(Sớ: Thế l ni theo thời, Giới l ni theo xứ).

 

Thế giới: Thế l ni tới thời gian. Thế l ba con số mười[1]. Ba mươi năm l thế hệ, Trung Quốc cổ đại ni như vậy. Giới l giới hạn, bốn phương, bốn gc, trn, dưới, đấy l giới hạn. Đy l ni theo nơi chốn.

 

(Sớ) Cực Lạc giả, Phạn ngữ Tu Ma Đề.

() 極樂者,梵語須摩提。

(Sớ: Cực Lạc, tiếng Phạn l Tu Ma Đề).

 

Thế giới Cực Lạc l do chng ta dịch nghĩa, đọc theo m tiếng Phạn l Tu Ma Đề (Sukhāmatī, Sukhāvatī).

 

(Sớ) Thử vn An Lạc.

() 此云安樂。

(Sớ: Ci ny dịch l An Lạc).

 

nghĩa chnh xc của từ ngữ ấy l An Lạc. Thử l Trung Quốc, [Tu Ma Đề] dịch sang nghĩa tiếng Hn l An Lạc.

 

(Sớ) Diệc vn An Dưỡng, diệc vn Thanh Thi, diệc vn Diệu .

() 亦云安養,亦云清泰,亦云妙意。

(Sớ: Cn dịch l An Dưỡng, cn dịch l Thanh Thi, hoặc cn dịch l Diệu ).

 

C nhiều cch dịch như vậy, đều l dịch theo nghĩa.

 

(Sớ) Danh tuy tiểu th, giai Cực Lạc nghĩa.

() 名雖小殊,皆極樂義。

(Sớ: Danh xưng tuy sai khc đi cht, nhưng đều c nghĩa l Cực Lạc).

 

Tuy danh tự khc nhau, nghĩa đều tương thng. Hợp chung mấy nghĩa ny để xt, sẽ thấy cng vin mn, r rng hơn nghĩa được bao hm trong từ ngữ Tu Ma Đề. Cưu Ma La Thập đại sư dịch kinh đ dịch từ ngữ ny thnh Cực Lạc.

 

(Sớ) Nhin độ hữu đa chủng.

() 然土有多種。

(Sớ: Nhưng ci nước c nhiều thứ).

 

Thế giới Cực Lạc c bốn ci, nn ni c nhiều thứ.

 

(Sớ) Tứ độ chi trung, kim thử Cực Lạc thị Đồng Cư độ.

() 四土之中,今此極樂是同居土。

(Sớ: Trong bốn ci, ci Cực Lạc nay đang ni ở đy l ci Đồng Cư).

 

Kim thử l g? Chỉ kinh Di Đ. Thế giới Cực Lạc được ni trong kinh Di Đ l ci Đồng Cư trong bốn ci của thế giới Cực Lạc, chẳng phải l ci Thật Bo Trang Nghim, chẳng phải l ci Thường Tịch Quang. V sao ni l ci Đồng Cư? V chng ta đới nghiệp vng sanh đều sanh vo ci Đồng Cư, ni như vậy cng thm thn thiết. Tuy l ci Đồng Cư...

 

(Sớ) Nhi diệc thng tiền tam độ.

() 而亦通前三土。

(Sớ: Nhưng cũng thng với ba ci trước).

 

Trong cc thế giới của mười phương chư Phật chẳng c điều tuyệt diệu ny. Thế giới của mười phương chư Phật đều c bốn ci, giống như thế giới nay chng ta đang sống l ci Phm Thnh Đồng Cư của Thch Ca Mu Ni Phật. Ci Phương Tiện Hữu Dư v ci Thật Bo Trang Nghim [của thế giới Sa B] chẳng ở nơi đy, chng ta chẳng thấy được! Điều mầu nhiệm của Ty Phương Cực Lạc thế giới l: Tuy l ci Phm Thnh Đồng Cư, n thng với ba ci trước. Do vậy, vng sanh Ty Phương Cực Lạc thế giới l honh siu (vượt thot theo chiều ngang), chẳng phải l thụ xuất (thot ra theo chiều dọc), honh siu tam giới, tới Ty Phương Cực Lạc thế giới, sanh ngang vo bốn ci, tuyệt diệu chẳng thể diễn tả được! Sanh về một l sanh trong hết thảy, sanh vo ci Phm Thnh Đồng Cư đồng thời cũng giống như sanh vo ci Phương Tiện Hữu Dư, ci Thật Bo Trang Nghim, ci Thường Tịch Quang; v sao? V trong ci Phm Thnh Đồng Cư thấy trọn Bồ Tt, thin nhn đại chng trong ba ci trn. Ni cch khc, nếu cc vị đại Bồ Tt ấy sanh vo ci Thật Bo Trang Nghim th ci Thật Bo Trang Nghim v ci ny cũng dung thng, mỗi ngy cũng gặp mặt người trong ci Phm Thnh Đồng Cư, cũng l mỗi ngy sống với nhau, qu sức mầu nhiệm! Đng l php kh tin. Chng ta cũng chẳng c cch no tỷ dụ sự khc biệt ny!

Trước kia, ti giảng kinh ny, bất đắc dĩ chỉ đnh dng học tr học hnh trong nh trường lm tỷ dụ. Giống như ngi trường ny của chng ta, Tiểu Học chẳng phải l Trung Học, Trung Học chẳng phải Đại Học, trường học tch rời. Mỗi cấp lớp cũng tch rời, quyết định chẳng hỗn tạp. Tnh hnh trong Ty Phương Cực Lạc thế giới rất đặc th, học tr Tiểu Học, học tr Trung Học, sinh vin Đại Học đều cng học chung một phng học, mầu nhiệm đến cng cực! V thế, mọi người mỗi ngy gặp mặt, mỗi ngy cng nhau nắm tay, chẳng thể nghĩ bn! Trong cc thế giới của mười phương chư Phật thế giới chẳng c tnh hnh như thế! Chư Phật, Bồ Tt v mọi người đều ở cng một chỗ. Tuy mỗi c nhn c bo độ [khc nhau], phẩm vị mỗi c nhn khc nhau, nhưng cng sống một chỗ chẳng trở ngại g, hằng ngy qua lại chẳng trở ngại g! Trong cc thế giới của mười phương chư Phật chẳng c tnh hnh như vậy! Chỉ ring thế giới ấy (Cực Lạc) l c; v thế, v cng đặc biệt. Đ l ni thng tiền tam độ (thng với ba ci trước).

 

(Sớ) Hựu Thọ Dụng, Php Tnh, Biến Ha tam độ, diệc đồng thử .

() 又受用法性變化三土,亦同此意。

(Sớ: Lại nữa, ba ci Thọ Dụng, Php Tnh, Biến Ha cũng c cng nghĩa ny).

 

Trong lời Sao, Lin Tr đại sư sẽ giải thch rất tỉ mỉ nghĩa ny. Lời Sao cng giảng tỉ mỉ, chng ta cng biết r rng. Khng chỉ c thể đoạn nghi sanh tn, m cn c thể gip chng ta qun tưởng.

 

(Sớ) Hựu thập chủng độ, diệc đồng thử .

() 又十種土,亦同此意。

(Sớ: Lại nữa, mười loại ci cũng c cng nghĩa ny).

 

Mười loại ci được ni trong kinh Hoa Nghim. Kinh Hoa Nghim lun dng mười để biểu thị php.

 

(Sớ) Hựu Phật tuy v độ, vị ha chng sanh, bất phương thuyết độ.

() 又佛雖無土,為化眾生,不妨說土。

(Sớ: Lại nữa, tuy Phật khng c ci nước, nhưng v ha độ chng sanh, chẳng ngại ni đến ci nước).

 

Cu ny l ni xứng tnh, đng như Phật chẳng c tướng, v độ chng sanh, chẳng ngại hiện cc thứ tướng. Phật chẳng c danh hiệu, v độ chng sanh, cũng chẳng ngại thnh lập cc thứ danh hiệu. C thể thấy ci nước l để người khc thọ dụng, tự - tha bất nhị. V thế, chẳng ngại thuyết php như vậy, khng ngại thị hiện. Điều ny hiển thị L Sự v ngại, Sự Sự v ngại, chnh l cảnh giới trong kinh Hoa Nghim.

Bản Sớ Sao ch giải [kinh Di Đ] của Lin Tr đại sư hon ton dng cảnh giới Hoa Nghim để chứng tỏ Ty Phương Cực Lạc thế giới l tinh hoa của thế giới Hoa Tạng. V thế giới Cực Lạc chẳng rời khỏi thế giới Hoa Tạng, [thế giới Hoa Tạng] giống như một cao ốc, phần đặc sắc nhất trong cao ốc ấy chnh l một gian phng của A Di Đ Phật trong tầng thứ mười ba. Gian phng ấy l chỗ đặc sắc nhất, l nơi tinh hoa, gần như l c nghĩa ny. Ni về cả thế giới Hoa Tạng l kinh Hoa Nghim, cn Di Đ Tịnh Độ l một bộ phận tinh hoa nhất trong thế giới Hoa Tạng. Do vậy, bốn mươi mốt địa vị Php Thn đại sĩ trong thế giới Hoa Tạng đều pht nguyện cầu sanh về ci Tịnh Độ ấy.

 

(Sao) Y bo giả.

() 依報者。

(Sao: Y bo l...).

 

Nhằm giải thch chữ y bo trong phần trn.

 

(Sao) Thn tạ độ cư, cố danh sở y. Ty sở tc nghiệp, y hữu thắng liệt, cố danh vi Bo.

() 身 藉 土 居,故 名 所 依。隨 所 作 業,依 有 勝 劣,故 名 為 報。

(Sao: Thn nương vo ci nước để ở, nn gọi l sở y (chỗ để nương vo). Ty theo nghiệp đ tạo, m sở y c th thắng hay hn km, v thế gọi l Bo)

 

Chữ Độ c nghĩa dễ hiểu, chẳng dễ hiểu r chữ Bo. Chng ta ni thng tục, Ty Phương Cực Lạc thế giới sản vật phong ph ngần ấy, như bảy bu l những thứ thuộc loại hiếm c như vng trong thế giới ny của chng ta, chng ta coi những khong vật ấy l trn bảo, [c được] một t xu [những thứ ấy] đ l qu bu lắm, gi trị rất cao! Ty Phương Cực Lạc thế giới bảy bu qu nhiều, khắp nơi đều c, giống như đ tảng, bn đất trong thế giới ny, qu nhiều! Ngy nay chng ta coi vng rng l bảo vật, người ta coi vng rng l thứ để lt đường. Hiện thời chng ta nghĩ kim cương, phỉ thy, trn chu, m no l những thứ rất trn qu, người ta coi chng l vật liệu xy dựng, dng để cất nh! Chng ta đeo giắt những thứ ấy khắp thn, đến Ty Phương Cực Lạc thế giới người ta trng thấy sẽ cười qu vị! Đ l phước bo khc nhau.

Đừng ni chng sanh trong hai ci Sa B v Cực Lạc phước bo khc biệt, phước bo của người trong thế giới ny cũng khc nhau. Từ TV chng ta thấy bao nhiu người chết đi tại Phi Chu, qu vị thấy hnh tướng của họ l da bọc xương, chng ta ở đy dư dả, ấm no, cng sống trn địa cầu m phước bo khc biệt! V sao c hiện tượng ny? Đời trước tu phước khc nhau. Qu vị đời trước tu phước, đời ny nhất định sanh trong ci c phước; chẳng c phước bo, qu vị sẽ sanh về nơi chẳng c phước bo, nhất định phải hiểu đạo l ny, hiểu r chn tướng sự thật ny. V thế, cng l người một nh, do mỗi c nhn tu phước khc nhau, dẫu đời sau vẫn chưa thot khỏi lục đạo lun hồi, dẫu cho cng lm thn người như nhau, cũng chẳng thể sống cng một chỗ, [bởi] phước bo khc biệt. Lại nhn xưa nay, xưa nay phước bo khc nhau, ni thật th, phước bo của cổ nhn vượt xa người hiện tại chng ta. Chng ta đọc lịch sử, thấy cc đế vương thời cổ ban thưởng cng thần, thưởng mấy chục dật vng rng. Một dật () l hai mươi bốn lượng, nhn từ lịch sử, qu vị biết thuở ấy vng, bạc, chu bảo nhiều, hiện thời chẳng thấy nữa. Chng sanh phước bạc, những thứ bảo vật ấy dần dần t đi, chẳng cn nữa!

Kinh Phật ni Chuyển Lun Vương xuất thế, chng sanh phước bo lớn, bảy bu xuất hiện trn mặt đất, trồi ln. Quả thật l cảnh chuyển theo tm, chuyển theo phước đức v nhn duyn của qu vị. Hiện thời cc nh khoa học đ hiểu r sự tướng ny, v sao [những bảo vật] chẳng cn nữa? Đy l ni tới kết cấu ha học, chng bị biến ha, tiu mất. Khi con người c phước bo, n lại biến ha, lại kết tinh, hợp thnh [bảo vật]. Cảnh chuyển theo tm l thật, l sự thật ngn vạn phần xc đng! Y bo chuyển theo chnh bo l thật, ngn vạn phần xc đng! Tm chuyển theo cảnh l giả, l hiện tượng thỉnh thoảng, tạm thời xảy ra, chẳng phải l hiện tượng chn thật, cng chuyển cng tệ! Đ l thiếu phước. Thật sự c phước bo th xc thực l hon cảnh chuyển biến theo chnh bo của chng ta.

Do vậy, chng ta phải hiểu chữ Bo ny, đ biết quả bo ny, chng ta liền biết tu nhn. Chng ta mong quả bo tốt, nhất định phải tu nhn tốt, phải giữ tấm lng tốt, phải lm chuyện tốt, phải lm người tốt, phải tch thiện tu đức, quả bo của chng ta liền th thắng, bất luận chnh bo hay y bo thảy đều th thắng. V thế, quả bo do chnh mnh tu, chnh mnh thọ dụng, tự lm, tự chịu, chẳng thể on trời trch người, chẳng thể trch trời gi khng cng bằng, chẳng thể trch Phật, Bồ Tt chẳng ph hộ. Nếu qu vị on trời, trch người, trch Phật, Bồ Tt chẳng ph hộ, tội cng thm tội, lầm lẫn qu đỗi! Hon cảnh của chnh chng ta bất hảo, hy tu đức, tu thiện, nghim tc tu dăm ba năm, hon cảnh của qu vị nhất định chuyển biến, chuyển thnh mọi chuyện như , mọi chuyện vừa lng, c thể chuyển được! Như trong Liễu Phm Tứ Huấn, Vin Liễu Phm l một th dụ. Thuở ban đầu, ng ta bn tn bn nghi, cho nn pht tm lm ba ngn việc thiện. Lm mười năm mới xong, thật sự chuyển biến. Sau đ, lại pht tm lm việc thiện rất dễ dng, ng ta lại pht tm lm một vạn điều thiện, chỉ một vi ngy đ vin mn! Qu vị thấy trong Liễu Phm Tứ Huấn c chp [chuyện ny]!

Do vậy, cng c phước, lại cng tu phước dễ dng. Những năm qua chng ti cũng giống như thế. Thuở đầu in kinh, chng ti pht tm in một ngn bộ kh khăn lắm! Chẳng dễ g gom được một cht tiền để in một ngn bộ! Hiện thời, chng ti in kinh, ni in một vạn bộ, tiền ngay lập tức đưa tới, chưa đầy vi ngy đ thnh tựu. Do vậy ni: Ngy cng dễ dng! Đ l cảm ứng chẳng thể nghĩ bn. Trong qu khứ, qua sch vở, chng ta thấy sự cảm ứng của cổ nhn, hiện thời bản thn chng ti đ lm như vậy nhiều năm như thế, đch thn chng ti thể nghiệm, chẳng sai t no! Hm nay đ hết thời gian rồi, chng ti giảng tới chỗ ny!

 

Tập 122

 

Xin xem A Di Đ Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang hai trăm su mươi bốn.

 

(Sao) Y bo giả, thn tạ độ cư, cố danh sở y. Ty sở tc nghiệp, y hữu thắng liệt, cố danh vi bo. Ngn tng thị Sa B giả, Sa B, Cực Lạc tại Hoa Tạng trung, nhị độ tương vọng.

() 依 報 者,身 藉 土 居,故 名 所 依;隨 所 作 業,依 有 勝 劣 , 名 為 報。言 從 是 娑 婆 者,娑 婆 極 樂,在 華 藏 中,二 土 相 望。

(Sao: Y bo l thn nương vo ci nước để ở, nn gọi l sở y (chỗ để nương vo). Ty theo nghiệp đ tạo, m sở y th thắng hay hn km, v thế gọi l Bo. Ni từ ci Sa B ny l v hai ci Sa B v Cực Lạc đối diện nhau trong thế giới Hoa Tạng).

 

Chng ta xem tiếp từ chỗ ny.

 

(Sao) Kim vn qu giả, tng thử Ty hướng honh cắng nhi qu d, Nhất đại thin giả, tam thin đại thin thế giới d, ch hạ lục phương trung biện.

() 今 云 過 者,從 此 西 向 橫 亙 而 過 也。一 大 千 者,三 千 大 千 世 界 也,至 下 六 方 中 辨。

(Sao: Nay ni l vượt qua, tức l từ phương Ty ci ny hướng theo chiều ngang m đi. Một đại thin l một tam thin đại thin thế giới, đến phần Su Phương [Phật Tn Thn] trong phần sau sẽ biện định).

 

Trong đoạn ny đ ni đến vi chuyện, chng ta ni từng chuyện một. Kinh Hoa Nghim ni thế giới Hoa Tạng c hai mươi tầng, thế giới Cực Lạc v thế giới Sa B chng ta cng ở trong tầng thứ mười ba của thế giới Hoa Tạng. Dng viễn vọng knh tn tiến nhất của thin văn trong hiện thời, chng ta vẫn chưa thể quan st trọn hết tầng thứ mười ba, huống l bảy tầng pha trn v mười hai tầng pha dưới. Chng ta đang ở tầng thứ mười ba, c thể thấy thế giới v cng to lớn. Trong kinh, đức Phật dạy: Tuyệt đối chẳng phải l cả vũ trụ l một thế giới Hoa Tạng, chẳng phải vậy! Kinh Hoa Nghim ni trong hư khng c v lượng v bin thế giới giống như thế giới Hoa Tạng, ta liền hiểu thế giới to lớn, thật sự chẳng thể nghĩ bn. Những điều ny quả thật cn phải chờ khoa học chứng thực, hiện thời, đch xc l đ chứng thực đi cht.

Qu () l vượt qua, từ phương Ty của thế giới Sa B, chẳng phải l phương Ty của địa cầu. Chng ta tu Tịnh Độ, v sao hướng mặt về phương Ty l chỗ mặt trời lặn, đ chnh l phương Ty của địa cầu, v sao? Ni thật ra, đấy l buộc tm chuyn hướng đến một phương hướng, mang nghĩa ấy! Phương Ty của địa cầu chắc chắn chẳng phải l pha Ty của hệ Ngn H, chỉ cốt giữ lấy niệm ấy. Trn thực tế, chng ta vng sanh Ty Phương Cực Lạc thế giới, đối với phương hướng chng ta c thể chẳng cần lo ngại, v sao? Chắc chắn l A Di Đ Phật đến tiếp dẫn qu vị, mang qu vị đi. Rốt cuộc phương hướng ở nơi đu, qu vị chẳng cần phải tm kiếm! Nếu chng ta đi tm, chắc chắn sẽ khng tm được, vũ trụ to như thế, đến đu để tm? Tm chẳng ra! Nhất định l Qun m Bồ Tt, Đại Thế Ch Bồ Tt, A Di Đ Phật đến tiếp dẫn chng ta, dẫn dắt chng ta ra đi.

Nếu cc Ngi chẳng đến tiếp dẫn, sẽ chẳng thể vng sanh. V vậy, khi lm chung, thụy tướng vng sanh nhất định l thấy Tam Thnh đến tiếp dẫn. Lc vng sanh dẫu c cc thụy tướng khc, nếu chẳng c Phật đến tiếp dẫn, đều chẳng đng tin. Qu vị ni biết trước lc mất th người c phước bo trong thế gian cũng c thể biết trước lc mất. Biết trước lc mất l người c phước bo rất lớn, đời sau kẻ ấy sẽ sanh vo đu? Khng nhất định, c kẻ sanh ln trời, c kẻ sanh trong loi người, c kẻ thnh quỷ vương trong quỷ đạo. Phước bo rất lớn đều biết trước lc mất. Ni thật ra, biết trước lc mất chẳng nhất thiết l vng sanh. Vng sanh nhất định phải thấy Ty Phương Tam Thnh đến tiếp dẫn th mới l đng. Qu vị ni sau khi người ấy đ chết, chn tay rất mềm mại, đ cũng l hảo tướng. Ni ngắn gọn, từ những hảo tướng ấy đại đa số chng ta c thể chứng thực người ấy chắc l chẳng đọa tam c đạo, đời sau sanh trong hai đường nhn thin. Dẫu sanh trong c đạo cũng chẳng sao, người ấy phước bo to lớn, người thế gian chng ta ni người ấy đi lm thần, tối thiểu l hạng như Thổ Địa Cng, Thnh Hong Gia, l đại phước đức quỷ trong quỷ đạo, được gọi l Đa Ti Quỷ, người ấy cũng c rất nhiều thụy tướng. V thế, những thứ ấy chẳng đủ để chứng thực. Dẫu c lưu lại x-lợi, lưu lại nhục thn [khng hư hoại], vẫn chưa thể chứng thực. Thụy tướng vng sanh quyết định l Tam Thnh đến tiếp dẫn, chng ta phải nhớ điều ny!

Ti nhớ lc mới học Phật chưa được bao lu, quen biết lo cư sĩ Chu Knh Trụ. Vị lo cư sĩ ny đ vng sanh bốn năm rồi, thọ chn mươi su tuổi. Cụ cng một tuổi với thầy L, vng sanh trước thầy L một năm. Ti học Phật hết sức c duyn với cụ, cụ l đại biểu Quốc Hội. Thoạt đầu, mới vừa đến Đi Loan, cụ bn sng lập Đi Loan Ấn Kinh Xứ, người in kinh Phật sớm nhất tại Đi Loan l cụ. Cụ đi khắp nơi ha duyn in kinh Phật. Khi đ, số lượng in cũng t, bản in cũng kh km, nhưng đ l hết sức kh c! Do ti c cơ hội quen biết cụ như vậy, nn cụ thường tặng kinh sch cho ti đọc. Chỉ cần cụ in xong một cuốn sch, nhất định sẽ gởi ngay cuốn đầu tin cho ti. Cụ l con rể cụ Chương Thi Vim. Cụ Chương Thi Vim l Quốc Học đại sư đầu thời Dn Quốc, l một người rất lỗi lạc. Cụ Chương Thi Vim từng lm phn quan của Đng Nhạc Đại Đế. Thuở ấy, cụ Chu trọn chẳng tin Phật, nghe bố vợ ni những chuyện ấy, cụ bn tn bn nghi, coi như chuyện thần thoại.

Thuở trẻ, cụ Chu từng thấy nhiều chuyện kỳ qui, cụ thường kể cho ti nghe những chuyện cũ. Cụ ni c một lần, ti ghi nhớ rất su, cụ sanh vo những năm cuối nh Thanh. Trước cch mạng Tn Hợi, nhằm thời đại Tuyn Thống Hong Đế[2], đại khi l năm Tuyn Thống thứ ba (1911), cch cuộc khởi nghĩa Vũ Xương nhằm ngy mồng Mười thng Mười năm Tn Hợi (1911) độ nửa năm, nhằm đng năm Tuyn Thống thứ ba. Qu cụ c một vị Cử Nhn, cụ sống ở nng thn, cụ l người n Chu, tỉnh Chiết Giang. Tại qu nh, c một vị Cử Nhn l con một, sau khi thi đỗ, hon cảnh gia đnh cũng đủ sống, thuộc loại nh c của ăn của để đi cht, nn người ấy chẳng ra lm quan, sống với cha mẹ, v cng hiếu thuận.

C một hm, vo giữa trưa, trong khi nghỉ trưa, người ấy nằm mộng. Cảnh giới trong giấc mộng ấy hết sức r rng, ni thẳng l chẳng giống như trong cảnh mộng, m giống như cảnh giới trong hiện thực. ng ta mộng thấy c người đưa thiếp mời, cưỡi một thớt ngựa, g cửa. ng ta đang ngủ trưa, chỉ cảm thấy c người g cửa, bn tỉnh dậy ra mở cửa. Thật ra, ng ta vẫn cn trong giấc mộng, nhưng nghĩ mnh đ tỉnh giấc, chồm dậy mở cửa. Mở cửa bn thấy người ấy ăn mặc rất kỳ qui, khng giống cch ăn mặc của người thời ấy, m ăn vận giống như cổ nhn, cỡi ngựa, đưa thiếp mời cho ng ta. Trn thiếp mời đng l tn ng ta. Người ấy bn hỏi: Ở đy, c người ny hay khng? ng ta đp: Chnh l ti! Kết quả l người ấy bn bảo ng ta: Đại tướng qun của chng ti mời ng. ng ta nghe ni, cảm thấy lạ lng, ni: Tuy ti đỗ Cử Nhn, trước nay chẳng qua lại với giới quan trường, rất t người quen biết, ng c lầm hay khng? C lẽ l trng tn, trng họ! Kẻ đ ni: Địa chỉ lẫn tn họ khng sai, ng đi với ti l được rồi. Li phắt ng ta ln ngựa, ng ta cũng chẳng thể tự chủ, phải đi theo kẻ đ!

Kết quả l ng ta nhận thấy thớt ngựa ấy chẳng chạy trn mặt đất m giống như bay trong khng trung. Chừng độ nửa giờ đ tới nơi. Thấy một cung điện rất lớn, rất nhiều người đang chụm đầu kề tai bn luận, dường như đ nẩy sanh một biến cố trọng đại no đ, nn họ đang thảo luận tại đ. ng ta liền hỏi d người khc, rốt cuộc đại tướng qun tn họ l g? Kết quả người ta cho biết đại tướng qun l Nhạc Phi. ng ta vừa nghe, liền ni: Hỏng bt! Chẳng lẽ l ta đ chết rồi ư? Nhạc Phi l người đời Tống. Lc ấy, ng ta mới tỉnh ngộ, bảo: Khng được! Nh ta trn c mẹ gi, vợ cn trẻ qu, con cn b qu, ta chẳng thể chết được.

Một lt sau, ging trống, đại tướng qun thăng đường, liền triệu kiến ng ta. Nhạc Phi đối với ng rất khch so, rất lễ độ, cho ng ta biết: Họ chuẩn bị chinh phạt miền Bắc, mời ng ta trng coi văn thư, giống như l mời ng ta lm B Thư vậy, giao cho ng ta một chức vụ như thế. ng ta nghe xong cũng cảm thấy rất y ny, nhưng cũng cảm thấy rất vinh dự, c thể thay Nhạc Phi lo việc m! ng ta ni: Trong nh cn c mẹ gi, vợ, con, chẳng c cch no, hiện thời nhất định chẳng thể đi. Nhạc Phi liền ni: Hiện thời cch thời gian xuất binh hy cn bốn thng, ta lập tức đưa ng trở về. ng về nh lo liệu hậu sự, đến hạn kỳ ước định vo bốn thng sau, ta sẽ sai người đến đn ng. ng ta nghĩ thầm: Chuyện ny rất kh c! C thể theo chn vị anh hng dn tộc cũng rất vinh dự. V thế, ng ta đồng , bn được đưa về. Sau khi trở về, tỉnh giấc, kể lại chuyện ấy với cha mẹ. Cha mẹ ng ta ni: Chuyện chim bao! Suy nghĩ lung tung, h c thật! ng ta cảm thấy chẳng giả, v ng ta thấy cảnh giới qu chn thật, ghi nhớ qu r rng. Do vậy, liền nghim tc lo liệu hậu sự.

Tới ngy ước định, ng ta phải ra đi, bn bo tin cho thn thch, bằng hữu, mời khch đến nh, gi biệt mọi người để ra đi. ng ta sống ở đ, cch thn trang của cư sĩ Chu Knh Trụ chỉ c mười mấy dặm đường. Họ nghe chuyện ny, một người đang sống sờ sờ, tuổi trẻ măng lại chẳng c bệnh tật g. V thế, mọi người đều đến xem no nhiệt, xem rốt cuộc ng ta chết kiểu no? Chu lo cư sĩ cũng đến xem tnh hnh ấy. Trong nh ng ta cũng by tiệc rượu mời thn thch, bằng hữu. Cơm nước xong xui, ng ta thấy thời thần sắp đến, bn tắm rửa, thay y phục, ở trong phng. Đương nhin, bạn b ch thn cũng đều ở trong phng tr chuyện với ng ta. Rốt cuộc chuyện ny l thật hay giả? H lẽ no đng tin? C thể chẳng phải l sự thật! Chẳng mấy chốc, ng ta thưa với cha: Người đến đn con đ tới rồi, đang ở ngoi cửa, con trng thấy người ấy. Bố ng ta nổi cu: Tao chỉ c một thằng con ny, chắc chắn chẳng để cho n ra đi! Người con khuyn bố: Chớ nn chống đối! Chẳng chống lại được. Đ gọi l rượu mời chẳng uống, lại uống rượu phạt. Vẫn l ci được chẳng b nổi ci mất. ng ta vừa khuyn giải, người cha cũng cảm thấy người dẫu sống một trăm tuổi cuối cng cũng phải chết. Sau khi chết, nếu biết r rng, rnh mạch sẽ đi về đu th cũng l chuyện rất kh c! Bố ng ta chẳng cn c cch no khc, liền thốt một tiếng: Được! ng ta liền tắt thở, chết ngay!

Đch thn lo cư sĩ Chu Knh Trụ thấy chuyện ny, đ l g? Đến quỷ đạo. Như vậy l cho đến hiện thời Nhạc Phi vẫn cn ở trong quỷ đạo, lm quỷ vương! V sao Ngi chẳng thể sanh thin? Đại khi l do ci tm bo cừu rửa nhục qu nặng, nn chẳng thể sanh thin. Cụ kể cho ti nghe chuyện ny, bảo: Thế gian động loạn, quỷ thần loạn trước. Người Kim l tổ tin người Mn Thanh[3]. Lc cch mạng Tn Hợi lật đổ Mn Thanh, trước đ nửa năm, quỷ thần đ lật đổ quỷ Mn Thanh. Sau đấy, chng ta mới c thể lật đổ họ. Cụ giảng r một đạo l: Thế gian ny động loạn, quỷ thần loạn trước! Nếu quỷ thần chẳng loạn, thế gian ny sẽ thi bnh, nhất định l quỷ thần loạn trước. Theo cụ, những chuyện qui lạ như vậy rất nhiều, muốn kể, cũng kể chẳng hết, hết sức th vị, đều l sự thật.

Bản thn cụ tin Phật, cụ học Ti Chnh, trong thời Khng Chiến lm cục trưởng thuế vụ hai tỉnh Tứ Xuyn v Ty Khang. Sau khi thắng lợi, cụ lm ti chnh sảnh trưởng (gim đốc sở ti chnh) tỉnh Chiết Giang; về sau, theo chnh phủ đến nơi đy (Đi Loan). Đối với những chuyện quỷ thần, tuy thấy r rng như thế, cụ vẫn chẳng tin Phật. Cụ tin tưởng quỷ thần l thật, chẳng giả, chnh cụ đ thấy qu nhiều. Cụ kể nhn duyn học Phật l do tự mnh thấy quỷ, lc ấy mới pht tm học Phật. Cụ ni hồi ở Trng Khnh, tỉnh Tứ Xuyn, buổi tối cng mấy người bạn họp nhau đnh mạt chược, chơi rất khuya. Tới tận khuya mới về nh. Đm khuya, trn đường cũng chẳng c ai, trn đường tuy c đn đường, nhưng đn đường c khoảng cch rất xa. Hơn nữa, bng đn c độ sng l hai mươi watts, dường như c, dường như khng. Cụ thấy trn đường ở pha trước c một phụ nữ, cũng chẳng ch . Pha trước c người ấy, cụ cứ đi theo sau. Đi gần độ nửa tiếng, cụ bỗng nhin nghĩ: Đm khuya lơ khuya lắc như thế ny, cớ sao lại c một phụ nữ một mnh ra khỏi cửa? Cụ vừa nghĩ, bn rởn da g, thn tun mồ hi lạnh. Nhn kỹ, người phụ nữ đằng trước chỉ c nửa thn trn, chẳng c nửa người dưới, sợ gần chết! Chẳng mấy chốc, khng thấy người ấy đu nữa! Sau khi bị một mẻ hoảng hốt, cụ mới về nh, xem kinh Phật, niệm Phật, học Phật. Cụ ni: Đ c thể l Qun m Bồ Tt biến hiện. Nếu chẳng phải l tự mnh gặp phải, ta vẫn chưa thể tiến vo Phật mn. Cụ kể nhn duyn cụ học Phật như vậy, thật sự gặp gỡ. Nhn duyn học Phật của mỗi c nhn khc nhau.

V thế, cc thứ thụy tướng đều chẳng thể chứng tỏ [người đ mất] vng sanh, ắt phải thấy Ty Phương Tam Thnh đến tiếp dẫn. Do vậy, chng ta niệm Phật tm phải khẩn thiết, phải chn thnh th mới c thể c cảm ứng.

Nhất đại thin giả, tam thin đại thin thế giới (một đại thin l một tam thin đại thin thế giới). Tam thin đại thin thế giới, trn thực tế l ni tới một đại thin thế giới. Một đại thin, v sao gọi l tam thin? Tam thin l ni tới kết cấu, thnh phần của n. Cư sĩ Hong Niệm Tổ ni: Một hệ Ngn H l một đơn vị thế giới trong kinh Phật. Một ngn đơn vị thế giới gọi l một tiểu thin thế giới. Do vậy cũng biết: Một tiểu thin thế giới do một ngn hệ Ngn H hợp thnh, rồi lại lấy một tiểu thin thế giới lm đơn vị, một ngn tiểu thin thế giới l một trung thin thế giới. Lại lấy trung thin thế giới lm đơn vị, một ngn trung thin thế giới l một đại thin thế giới. Phật php ni một đại thin thế giới th hnh thức cấu thnh của n gồm c tiểu thin, trung thin, đại thin, do vậy gọi l tam thin đại thin thế giới. Trn thực tế, tam thin đại thin thế giới l một thế giới, l khu vực gio ha của một vị Phật, gồm mười ức hệ Ngn H, c phạm vi lớn ngần ấy! Đ l khu vực gio ha của một vị Phật, to dường ấy! C những kẻ chẳng nghin cứu Phật php, nhn vo văn tự đon xằng nghĩa, cho rằng Phật php ni chỉ c ba ngn thế giới, sai lầm rồi! Ch hạ lục phương trung biện nghĩa l rốt cuộc tới phần sau, trong đoạn kinh văn ni v su phương Phật sẽ giảng t mỉ!

 

(Sao) Thập vạn ức giả, tng thử qu Ty chi trnh, dĩ ức kế chi, đương hữu thập vạn. Vị qu nhất Phật độ, thập Phật độ, ni ch ức Phật độ. Hựu tng nhất ức Phật độ, thập ức Phật độ, ni ch thập vạn ức Phật độ, cố viết viễn chi viễn d.

() 十 萬 億 者,從 此 過 西 之 程,以 億 計 之,當 有 十 萬。謂 過 一 佛 土,十 佛 土,乃 至 億 佛 土。又 從 一 億 佛 土,十 億 佛 土,乃 至 十 萬 億 佛 土,故 曰 遠 之 遠 也。

(Sao: Mười vạn ức: Từ đy đi về phương Ty, dng con số ức để tnh, sẽ c mười vạn. Nghĩa l qua khỏi một ci Phật, mười ci Phật, cho đến một ức ci Phật, lại từ một ức ci Phật, mười ức ci Phật, cho đến mười vạn ức ci Phật, cho nn ni l đ xa xi lại cng xa xi hơn).

 

Ty Phương Cực Lạc thế giới tuy thuộc tầng thứ mười ba trong thế giới Hoa Tạng, diện tch của tầng ấy lớn bao nhiu? Thực tại l chẳng thể nghĩ bn. Từ pha Ty của thế giới Sa B chng ta đang sống đy, trải qua một Phật độ l mười ức hệ Ngn H, mười Phật độ cho đến một ức Phật độ, mười ức Phật độ, trăm ức Phật độ, mi cho đến mười vạn ức Phật độ, vẫn nằm trong tầng ny. Qu vị nghĩ xem thế giới Hoa Tạng lớn cỡ no? Qu ư l lớn, chẳng thể nghĩ bn! Cố viết viễn chi viễn d (cho nn ni đ xa lại cng xa).

 

(Sao) Nhin Ức hữu tứ chủng: Thập vạn, bch vạn, thin vạn, vạn vạn.

() 然 億 有 四 種:十 萬、百 萬、千 萬、萬 萬。

(Sao: Nhưng Ức c bốn loại: Mười vạn, trăm vạn, ngn vạn, vạn vạn).

 

Người Ấn Độ ni Ức c quan niệm khc với Trung Quốc. Ức [trong cch ni của người Ấn Độ] c bốn loại: Mười vạn l một Ức, đ l số nhỏ, trăm vạn cũng gọi l Ức, một ngn vạn cũng gọi l Ức, một vạn vạn cũng gọi l Ức. Theo con số tnh ton của người Hoa, một vạn vạn mới l Ức.

 

(Sao) Kim chi sở chỉ, vị khả tri d.

() 今 之 所 指,未 可 知 也。

(Sao: Nay kinh ny ni đến loại Ức no, cũng chưa thể biết được!)

 

Con số Ức ni trong kinh Phật, rốt cuộc l ni đến con số no? Một Ức l mười vạn, hay trăm vạn, ngn vạn, hay vạn vạn? Kinh trọn chẳng ni r rng. Ni cch khc, tối thiểu, mười vạn gọi l một Ức. Mười lần mười vạn th khoảng cch t nhất cũng l một trăm vạn ci Phật, v n l mười ức. Ni thật ra, đối với chuyện ny, chng ta chỉ hiểu l một khoảng cch kh xa xi, rốt cuộc xa bao nhiu, chng ta khng cần so đo.

Ni thật ra, vng sanh, tốc độ v cng nhanh chng! Trong qu khứ ni tốc độ nh sng lớn nhất, những pht hiện gần đy cho thấy quả thật c những thứ vượt trỗi tốc độ nh sng, vượt gấp mấy lần! Trong kinh Phật c ni tới Trung Ấm của con người, tục ngữ gọi l linh hồn, kinh Phật gọi l thần thức, tốc độ v cng lớn. Trong phần Hệ Từ Truyện của kinh Dịch, Khổng Tử đ ni: Du hồn vi biến, tinh kh vi vật, hai cu ny v cng ph hợp nguyn l v nguyn tắc trong Phật php. Hồn chẳng linh! Ni du hồn rất chnh xc, v sao? Tốc độ của n qu lớn, tột bậc chẳng ổn định, đi lung tung khắp nơi. Nếu n c thể định, tức l người c cng phu tu hnh rất cao, mới khng đến nỗi đi lung tung khắp nơi. Thần thức của người bnh phm lun đi lung tung bn ngoi, tốc độ lại cn lớn v cng. V thế, trong một khảy ngn tay đến ngay Ty Phương Cực Lạc thế giới; chẳng cần đến một giy đ đến nơi, tốc độ nh sng h c thể no snh bằng! Do vậy, khoảng cch dẫu xa tới mấy, chỉ trong khảy ngn tay bn tới ngay, c năng lực to như vậy.

 

(Sao) Đn Kinh thập vạn bt thin giả.

() 壇 經 十 萬 八 千 者。

(Sao: Ci nước cch xa mười vạn tm ngn dặm trong Đn Kinh).

 

Đy l một cch ni sai lầm!

 

(Sao) Ngoa chỉ kim Ty Vực d, diệc tường biện hạ lục phương trung.

() 訛 指 今 西 域 也,亦 詳 辨 下 六 方 中。

(Sao: Lầm chỉ xứ Ty Vực hiện thời, [chuyện ny] cũng được biện định tường tận trong phần Su Phương ở phần sau).

 

Lục Tổ ni tới [ci cch xa] mười vạn tm ngn [dặm] trong Đn Kinh chnh l ni về Ấn Độ thuở đ. Khi ấy, [cổ nhn cảm thấy] Ấn Độ cch Trung Quốc rất xa, thuở đ, giao thng chưa pht triển. Ni mười vạn tm ngn dặm để hnh dung sự xa xi, chẳng phải l ni tới Ty Phương Cực Lạc thế giới A Di Đ Phật Tịnh Độ. Đoạn ny cũng được Lin Tr đại sư giảng r tỉ mỉ trong đoạn Sớ Sao của phần Su Phương Phật.

 

(Sao) Ngn vị vi viễn giả, tự hữu nhị nghĩa.

() 言 未 為 遠 者,自 有 二 義。

(Sao: Ni chưa phải l xa c hai nghĩa).

 

Tuy ni Sa B v Cực Lạc cch xa mười vạn ức ci Phật, ni thật ra, trọn chẳng thể tnh l xa xi. Ở đy c hai nghĩa.

 

(Sao) Nhất giả, cứ Sự.

() 一 者 據 事。

(Sao: Một l xt theo Sự).

 

Ni theo mặt Sự.

 

(Sao) Php Hoa minh Đng phương thế giới chi đa, nhi dĩ mạt thổ điểm trần kế chi.

() 法 華 明 東 方 世 界 之 多,而 以 抹 土 點 塵 計 之。

(Sao: Kinh Php Hoa nhằm ni r cc thế giới ở phương Đng rất nhiều, bn dng cc hạt bụi nhỏ do đất bị mi nt ra để tnh ton).

 

Thật l xa. Thổ l bn đất, đem bn đất [trong cả một đơn vị thế giới] mi nt như bột, mi thật mịn, cứ mỗi hạt như vậy, [tức l] đối với mỗi hạt bụi như vậy, ở đy, khi tnh ton bn dng một hạt ấy, kinh Php Hoa ni: Coi mỗi hạt l một st độ (ci nước), tức một ci Phật. Ty Phương Cực Lạc thế giới cch chng ta chỉ c mười vạn ức ci Phật, chng ta vẫn c thể tnh ra, kinh Php Hoa ni cc thế giới phương Đng rất nhiều, lấy địa cầu mi thnh bột, mỗi hạt bụi tnh l một ci Phật, qu vị ni xem l bao nhiu? Nếu đem so với con số ấy, mười vạn ức qu t! Nhn từ tỷ lệ ny, sẽ l khoảng cch rất gần, chẳng thể tnh l xa!

 

(Sao) Tắc thập vạn ức giả, đặc ch thiểu nhĩ.

() 則 十 萬 億 者,特 至 少 耳。

(Sao: Vậy th mười vạn ức lại đặc biệt l t nhất!)

 

Qu ư l t, kinh Hoa Nghim ni:

 

(Sao) Hoa Nghim nhất thế giới chủng.

() 華 嚴 一 世 界 種。

(Sao: Một thế giới chủng trong Hoa Nghim).

 

Nhất thế giới chủng l ni đến thế giới Hoa Tạng.

 

(Sao) Sa B chi ngoại, vi nhiễu thập tam st trần thế giới, kim Cực Lạc chỉ qu thập vạn ức độ, h tc vi viễn.

() 娑 婆 之 外,圍 繞 十 三 剎 塵 世 界,今 極 樂 止 過 十 萬 億 土,何 足 為 遠。

(Sao: Bn ngoi Sa B c mười ba st trần[4] thế giới vy quanh, nay Cực Lạc chỉ cch [Sa B] mười vạn ức ci, no đng gọi l xa?)

Ni theo phẩm Thế Giới [Thnh Tựu] trong kinh Hoa Nghim, một thế giới chủng c tất cả hai mươi tầng, thế giới Sa B thuộc tầng thứ mười ba, thế giới Cực Lạc cũng thuộc tầng thứ mười ba, tnh ra chẳng xa! Trong vũ trụ, những thế giới chủng giống như vậy nhiều v lượng v bin, đấy mới l xa thật sự. Thứ hai, ni theo L.

 

(Sao) Nhị giả cứ L, tắc sở vị thập vạn ức giả, đối phm phu sanh tử tm lượng ngn nhĩ.

() 二 者 據 理,則 所 謂 十 萬 億 者,對 凡 夫 生 死 心 量 言 耳。

(Sao: Hai l xt theo L, ni mười vạn ức l ni ứng theo tm lượng sanh tử của phm phu).

 

V sao? Phm phu c phn biệt, c chấp trước, nn r rng l c khoảng cch xa xi như thế.

 

(Sao) Tịnh nghiệp nhược thnh, lm chung tại Định chi tm, tức Tịnh Độ thọ sanh chi tm d.

() 淨 業 若 成,臨 終 在 定 之 心,即 淨 土 受 生 之 心 也。

(Sao: Nếu Tịnh nghiệp thnh tựu, ci tm Định trong lc lm chung chnh l ci tm sanh vo Tịnh Độ vậy).

 

Lm chung tại Định chi tm l cch ni trong tng Thin Thai, [lời ấy do] Tr Giả đại sư ni. Tr Giả đại sư l tổ sư tng Thin Thai, thnh lập gio nghĩa Tam Chỉ Tam Qun. Thuở ấy, nhiều vị cao tăng Ấn Độ đến Trung Quốc, thấy Ngi ni cch ấy đều v cng khm phục. Đ chnh l kiến địa của Ngi, do chnh Ngi pht hiện. Cc vị cao tăng Ấn Độ thuở ấy nghe Ngi ni như vậy đ nghĩ tới kinh Lăng Nghim, bảo Tr Giả đại sư: Quan niệm, nghĩ, cch ni của Ngi hết sức gần gũi những điều được giảng trong hội Lăng Nghim. Do vậy, người Hoa mới biết Ấn Độ cn c một bộ php bảo l Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghim Kinh. Người Ấn Độ tiếc php, mọi người trn thế giới đến Ấn Độ du học, cầu Phật php, nhưng người Ấn Độ giấu kinh Lăng Nghim đi, khng cho người khc xem. V thế, người ngoại quốc chẳng biết trong cc kinh nh Phật c kinh Lăng Nghim. Thuở ấy, họ lỡ miệng tiết lộ c kinh Lăng Nghim. Qu vị nghĩ xem, trong qu khứ, cao tăng đến Trung Quốc chẳng đem kinh ny theo, v sao? Hải quan của họ kiểm sot rất nghim, kinh ny khng được php đem ra khỏi cửa ải, n l vật bị cấm! Php sư Trung Quốc đến Ấn Độ chẳng thấy [kinh Lăng Nghim], họ (người Ấn Độ) đ cất giấu rồi khng cho qu vị thấy. Quốc bảo của họ m! Khng chịu dễ di truyền cho người khc!

Tới khi ấy mới biết, sau khi đ biết, do Trung Quốc cch Ấn Độ xa xi như thế, đi đường bộ phải một hai năm mới c thể đến nơi, chẳng phải l chuyện dễ dng. Qua đ, chưa chắc người ta đ cho qu vị xem. V thế, lo nhn gia bn dựng một đi bi kinh tại ni Thin Thai, mỗi ngy hướng về pha Ấn Độ lễ bi, cầu cho bộ kinh ny sớm c ngy truyền đến Trung Quốc. Tr Giả đại sư lạy suốt mười tm năm, đ vin tịch, kinh vẫn chưa truyền đến Trung Quốc. Tinh thần bất phm như vậy, lạy suốt mười tm năm. Về sau, php sư Bt Lạt Mật Đế ln lt đem bộ kinh ấy vo Trung Quốc, Ngi chịu khổ nạn rất lớn. Thuở đầu, ln mang vi lần đều l bị hải quan xt thấy. Khi bị xt thấy, cũng phải chịu phạt, nhưng dẫu sao Sư l người xuất gia, xử tội nhẹ một cht!

Lần đem cuối cng, chẳng biết Sư dng thứ g để sao chp bộ kinh ấy. Sao chp trn một tấm vật liệu rất mỏng, hnh như chẳng phải l giấy, m l da d hay l chất g khng biết, [chỉ biết] l một thứ rất mỏng để sao. Sao xong, Ngi cuộn lại, mổ cnh tay mnh, giấu kinh vo đ, để cho vết thương liền lại. Lm như vậy để sang Trung Quốc, hải quan chẳng xt ra, Ngi giấu trong thịt m! Ngi theo đường biển đến Quảng Chu. Sau khi đến Quảng Chu, mổ cnh tay lấy kinh ra, chẳng biết dng chất thuốc g để tẩy rửa, vẫn rất tốt, kinh văn vẫn hiện ra r rng. V thế, kinh được dịch tại Quảng Chu. Sau khi dịch thnh cng, do kinh ny bị đưa ra khỏi nước, đem đến Trung Quốc, chnh Ngi lại trở về tiếp nhận quốc gia xử phạt, Ngi phải chịu trch nhiệm; đem quốc bảo l vật phẩm nghim cấm truyền sang Trung Quốc, trở về tiếp nhận php luật của quốc gia xt xử. Tr Giả đại sư lạy kinh ny suốt mười tm năm c cảm ứng. Do lẽ đ, kinh Lăng Nghim truyền đến Trung Quốc l chuyện kh khăn nhất.

Bản thn Thin Thai Tr Giả đại sư chuyn tu Tịnh Độ, Ngi cầu sanh Tịnh Độ. Ngi chọn phương php tu Tịnh Độ theo Qun V Lượng Thọ Phật Kinh, dng Qun Tưởng Niệm Phật, v Ngi c ch giải kinh Qun V Lượng Thọ Phật. Tc phẩm Qun V Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao cn gọi l Diệu Tng Sao, lời Sớ do chnh ngi Tr Giả viết, lời Sao do đồ đệ của Ngi l tn giả Tứ Minh soạn. Mi cho đến hiện thời, bộ Sớ Sao ny vẫn l tc phẩm ch giải Qun V Lượng Thọ Phật Kinh c uy tn nhất. Ngi sử dụng Qun Tưởng Niệm Phật thnh cng. Khi Ngi vng sanh, cc đệ tử hỏi Ngi: Lo nhn gia vng sanh, rốt cuộc phẩm vị cao đến đu? Ngi đp: Nếu ta khng lnh chng, sẽ l Thượng Phẩm vng sanh. V Ngi lnh chng, lnh chng l lm Trụ Tr tự miếu, Ngi phải quản sự, do quản sự nn phn tm, phải suy nghĩ. V thế, Ngi bảo mọi người Ngi chỉ l ngũ phẩm vị vng sanh.

Ngũ phẩm vị l g? L đới nghiệp vng sanh, sanh vo ci Phm Thnh Đồng Cư. Địa vị ấy chẳng cao, đ l bỏ mnh v người, hy sinh phẩm vị của chnh mnh để thnh tựu đại chng, ban cho bọn người đời sau như chng ta một khải thị rất lớn. Bỏ mnh v người, chnh mnh phải quyết định c thể vng sanh th mới được! Nếu bỏ mnh v người, được lắm, nhưng tương lai chnh mnh vẫn lun hồi trong lục đạo, vẫn l ba c đạo, như vậy l trật mất rồi! Ngi bỏ mnh v người, cn c thể vng sanh ci Phm Thnh Đồng Cư, c thể đảm bảo điều ny. C năng lực như vậy th mới c thể bỏ mnh v người. Chưa c năng lực như vậy th vẫn phải ngoan ngon, thật th niệm Phật. Qu vị mới biết những vị Trụ Tr, Đương Gia, chức sự trong cc tự viện, tng lm xưa kia đều l Bồ Tt ti lai. Phm phu lm những chuyện tạp nhạp ấy, lm sao c thể vng sanh cho được? Kẻ ấy tu g đều chẳng tu thnh cng! Kẻ ấy tu Thiền chẳng thể đắc Định, nghin cứu Gio chẳng thể khai ngộ, niệm Phật chẳng thể vng sanh, nhất định l như thế! Những vị thường trụ chấp sự thay đại chng phục vụ, bỏ mnh v người, l Bồ Tt ti lai, chẳng phải l phm phu. Bản thn chng ta hy suy nghĩ, chng ta l phm phu, chẳng phải l thnh nhn, chẳng dm lm những chuyện ấy, thật sự chẳng dm!

Ấn Quang đại sư l Bồ Tt ti lai, đ nu gương cho bọn chng ta trong thời cận đại. Điều thứ nhất l Ngi khng lm Trụ Tr. Thứ hai l Ngi khng xy dựng tự miếu, suốt đời chẳng dựng một ngi cha no, cũng chẳng tu bổ ngi cha no. Ngi chẳng lm Trụ Tr, chẳng lm Đương Gia, chẳng lm Chấp Sự. Thứ ba l Ngi khng thu nhận đồ đệ xuất gia. Thứ tư l khng truyền giới, khng lm thầy truyền giới. Nu gương cho chng ta, thật th niệm Phật, như vậy th chng ta mới c thể c tương lai, mới c thể vng sanh. Đch xc l chẳng thể dnh dng những sự vụ ấy được, nhưng người hiện thời liều mạng tranh ginh, lầm lẫn qu đỗi! Ginh được rồi, nếu qu vị lm chẳng tốt đẹp, sẽ vướng tội nghiệp suốt đời. Qu vị lm tốt đẹp, đ l bổn phận của qu vị, qu vị phải lm cho tốt! Lm chẳng tốt, qu vị mắc tội. Lm tốt đẹp th l bổn phận, l chuyện nn lm, cũng chẳng thể cậy cng được, chẳng c cng lao g để khoe khoang! V thế, đảm nhiệm chấp sự xc thực l phục vụ đại chng, nhất định phải hiểu r nhn quả. V thế, tổ Ấn Quang nu gương tốt nhất cho chng ta, chng ta phải nn học theo Ngi!

Thin Thai Tr Giả đại sư ni, lm chung tại Định chi tm, tức Tịnh Độ thọ sanh chi tm d (lc lm chung, tm định th tm ấy chnh l tm sanh về Tịnh Độ), hai cu ny rất trọng yếu. Ngi l bậc ti lai, vng sanh Tịnh Độ, trong Tịnh Độ Thnh Hiền Lục c chp truyện Ngi, trong Vng Sanh Truyện cũng c. Lm chung tm định l cng phu phải được bồi dưỡng trong lc bnh thường. Bnh thường tm chng ta khng định th lc lm chung lm sao định nổi? Lại thưa cng qu vị, bnh thường định dễ dng, lm chung kh định, v sao? Sanh ly tử biệt, qu vị c thể khng động tm hay chăng? Qu vị c thể thật sự chẳng c mảy may vướng mắc no ư? Ắt phải thật sự chẳng động tm, thật sự chẳng c vướng mắc, tm mới định được!

Khi ấy, cử niệm, cử niệm l niệm A Di Đ Phật, bn l lc vng sanh Tịnh Độ. Do vậy, ta c thể biết: Tịnh Độ thọ sanh, bất ly thử tm (Thọ sanh Tịnh Độ chẳng la tm ny). Tm chẳng c [so đo] đy kia, h cn c từ Sa B đến Cực Lạc! Đấy l ni theo L. Tổ sư Tịnh Độ Tng c một quyển sch nhỏ mang tựa đề Tịnh Độ Sanh V Sanh Luận, cổ nhn ni: Sanh tắc quyết định sanh, khứ tắc thật bất khứ (sanh bn quyết định sanh, đi th thật sự chẳng đi), [đ l] ni theo L! Sanh V Sanh Luận hết sức hay, nhất l bản ch giải của cư sĩ Qu Thnh Nhất, ch giải rất tỉ mỉ. Cổ đức c ch giải nhưng lời ch qu su, chng ta chẳng dễ g thấy r rng. Cư sĩ Qu Thnh Nhất ch giải rất r rng, rất dễ hiểu, Ấn Quang đại sư cũng rất tn thn, lại cn viết lời tựa [cho sch ấy]. Chng ti đem bộ sch ấy từ Hương Cảng về ti bản, hết sức c gi trị. V thế, cc đồng tu thật sự muốn nghin cứu Tịnh Độ, chng ta phải đổ cng nghin cứu những kinh luận trọng yếu ấy. Luận ấy chuyn giảng về việc vng sanh Tịnh Độ, d Sự hay L đều phải hiểu r rng!

Cổ nhn cũng c ni tỷ dụ, v những kẻ bnh phm nhờ vo tỷ dụ sẽ dễ hiểu. Giống như một người nằm mộng, trong mộng chng ta từ nơi ny đến nơi khc, khoảng cch rất xa! Thật ra, mộng do tm biến, chẳng rời khỏi ci tm ny! Sau khi qu vị tỉnh giấc, [những cảnh giới trong mộng] thảy đều do tm biến hiện, h c xa gần? Hiện thời khoa học pht triển, tiến bộ hơn xưa. Chng ta xem TV, trn mn hnh chiếu cảnh Đi Bắc, cảnh tiếp theo l u Chu, chưa đầy mấy giy chng ta thấy ton bộ thế giới. Tuy thấy khắp ton bộ thế giới, chẳng rời khỏi mn hnh, chẳng đến, chẳng đi! Ni theo L, xc thực l như thế.

Y bo v chnh bo trang nghim trong mười php giới duy tm sở hiện, duy thức sở biến, dẫu hư khng to đến mấy, giống như kinh Hoa Nghim đ ni, v lượng v bin thế giới chủng trong vũ trụ đều chẳng rời khỏi tự tnh của chng ta, ton l do tự tnh biến, ton l do tự tnh hiện. V thế, trong một khảy ngn tay đều c thể đạt đến, trong một niệm bn đạt ngay tới. Ni theo L, chẳng c xa hay gần, chẳng c cch ngăn, trở ngại.

 

(Sao) Hựu vị phn minh tại mục tiền thị d, diệc h thường viễn!

() 又 謂 分 明 在 目 前 是 也,亦 何 嘗 遠。

(Sao: Lại ni phn minh ở ngay trước mắt l nhằm ni về ny, cũng c bao giờ xa!)

 

Đy l ni theo L, giống như Sơ Tổ Viễn Cng đại sư, thuở sanh tiền, Ngi niệm Phật, ba lần thấy Ty Phương Cực Lạc thế giới, giống như ở ngay trước mặt, hiển hiện ngay trước mặt, c thể thấy l [Cực Lạc] chẳng xa! Tm đ thanh tịnh, [Cực Lạc] bn ở ngay trước mắt. Nếu tm chẳng thanh tịnh bn xa tt tắp. Thật ra, trong Đn Kinh, Lục Tổ đại sư ni mười vạn tm ngn, nhằm ni đến nghĩa ny, Ngi ni tm xa hay gần. Ngi ni mười vạn l so với điều g? Mười vạn l Thập c, tm ngn l Bt T (tương phản của Bt Chnh Đạo). So chng với những thứ ấy, rất c l! Trong tm chng ta rời khỏi Thập c, giống như mười vạn liền chẳng c, rời khỏi Bt T, tm ngn cũng chẳng c, cảnh giới ấy ở ngay trước mặt. V thế, xt theo dụng của Ngi, Lục Tổ cũng chẳng ni sai, m ni cũng rất c l, chủ yếu dạy chng ta trong tm phải rời khỏi mười c, tm t, Ty Phương Tịnh Độ ở ngay trước mắt. Nếu mười c, tm t trong tm qu vị khng trừ, thật sự chẳng phải chỉ l mười vạn tm ngn!

 

(Sao) Thời vị qu, hiện, vị lai, Xứ vị tứ duy, thượng, hạ.

() 時 謂 過 現 未 來,處 謂 四 維 上 下。

(Sao: Thời l qu khứ, hiện tại, tương lai; Xứ l bốn phương, trn, dưới).

 

Thời l ni đến thời gian, c qu khứ, hiện tại, tương lai. Xứ sở l ni đến bốn phương, trn, dưới.

 

(Sao) Đơn thời, đơn xứ, thế giới bất thnh. Hợp thời dữ xứ, danh thế giới d.

() 單 時 單 處,世 界 不 成,合 時 與 處,名 世 界 也。

(Sao: Chỉ c Thời hay chỉ c Xứ, thế giới chẳng thnh. Hợp Thời v Xứ lại, sẽ gọi l Thế Giới).

 

Đy l giải thch thế giới, Thế l thời gian, ba mươi năm gọi l một Thế (một thế hệ). Chữ Thế trong tiếng Hn thuộc loại Hội , Thế l ba chữ Thập. Ba mươi năm l một Thế. Giới l giới hạn.

 

(Sao) Cực Lạc dịch hữu đa danh.

() 極 樂 譯 有 多 名。

(Sao: Cực Lạc được dịch thnh nhiều danh xưng).

 

Thế giới Cực Lạc dịch [từ tiếng Phạn sang Hn] c rất nhiều danh xưng.

 

(Sao) Nhi cực chi vi ngn, hiển ch cực chi lạc.

() 而 極 之 為 言,顯 至 極 之 樂。

(Sao: Nhưng ni l Cực th đ chỉ r sự vui sướng [trong ci ấy] đạt đến tột bậc).

 

Nhưng trong nhiều danh xưng được phin dịch, hai chữ Cực Lạc được dng phổ biến nhất, v sao? Ở đy, đại sư cho chng ta biết, nghĩa của hai chữ ny c thể bao gồm tất cả những danh xưng phin dịch khc. [Cực Lạc] c nghĩa l vui sướng đến tột bậc!

 

(Sao) Phi nhn thin nhất thiết chư lạc chi tỷ.

() 非 人 天 一 切 諸 樂 之 比。

(Sao: Hết thảy niềm vui trong ci trời, ci người chẳng thể snh bằng).

 

Mọi thứ vui sướng trong nhn gian, thin thượng đều chẳng thể snh bằng!

 

(Sao) Cố đặc tiu d.

() 故 特 標 也。

(Sao: V thế, đặc biệt nu ra).

 

V thế, trong nhiều danh từ phin dịch, đặc biệt dng chữ Cực Lạc. Tiếp đ l giải thch bốn ci.

 

(Sao) Tứ độ giả, nhất viết Thường Tịch Quang độ. Kinh vn: Tỳ L Gi Na biến nhất thiết xứ. Kỳ Phật trụ xứ, danh Thường Tịch Quang, thị cực quả nhn sở cư.

() 四 土 者,一 曰 常 寂 光 土。經 云:毗 盧 遮 那 遍 一 切 處,其 佛 住 處,名 常 寂 光,是 極 果 人 所 居。

(Sao: Bốn ci, một l ci Thường Tịch Quang. Kinh dạy: Tỳ L Gi Na trọn khắp hết thảy mọi nơi, trụ xứ của đức Phật ấy được gọi l Thường Tịch Quang, l chỗ ở của bậc cực quả).

 

Cực quả l Phật. Thường Tịch Quang chnh l bản thể của vạn hữu trong vũ trụ như trong Triết Học đ ni. Đy l thật sự đạt đến rốt ro, đạt đến vin mn, rốt ro vin mn, nn gọi l cực quả, tức l quả vị tột đỉnh rốt ro vin mn trong tu hnh. Kinh dạy, đức Phật c danh hiệu l Tỳ L Gi Na. Kinh Hoa Nghim ni đến tam thn Phật: Tỳ L Gi Na l Php Thn Phật, L X Na l Bo Thn Phật, Thch Ca Mu Ni Phật l Ứng Thn Phật. Tỳ L Gi Na c hai nghĩa, một nghĩa đ được ni ở đy, tức l Biến Nhất Thiết Xứ (trọn khắp hết thảy cc chốn), nghĩa kia l Quang Minh Biến Chiếu (quang minh chiếu trọn khắp). Ni thật ra, Quang Minh Biến Chiếu v Biến Nhất Thiết Xứ nghĩa vẫn giống nhau. Tận hư khng khắp php giới l một L Thể, hết thảy vạn vật, vạn php đều chẳng rời khỏi n, đều do n biến hiện. Giống như chng ta xem TV, Php Thn l g? Mn hnh. Bất luận qu vị hiển lộ hnh tượng g, bất luận qu vị biến như thế no, qu vị chẳng thể rời khỏi mn hnh! Ngay cả thi hư khng (khng gian, hư khng) cũng chẳng rời khỏi n! Đy chnh l bản thể của vạn hữu trong vũ trụ, đng như nh Thiền đ ni: Diện mạo trước khi được cha mẹ sanh ra. Kinh thường ni: Thập phương nhất thiết Phật, cộng đồng nhất Php Thn (Mười phương hết thảy Phật, cng chung một Php Thn). Phật c chung một Php Thn, chng ta v Phật c chung một Php Thn hay khng? Đương nhin! Hết thảy chng sanh, cho đến ni, sng, đại địa, hư khng, đều l do n hiện. N l căn bản thật sự, l bản thể thật sự [của vạn php]. Trong php mn Tịnh Độ, n được gọi l ci Thường Tịch Quang, cũng c nghĩa l Quang Minh Biến Chiếu, khắp hết thảy chng sanh, khắp hết thảy quốc độ, khắp hết thảy thời gian v khng gian, mang nghĩa ny.

V sao gọi l Thường Tịch Quang? Trụ xứ của Phật, trn thực tế, Php Thn Phật chẳng c hnh tướng, Php Thn h c tướng? Nếu qu vị ni Php Thn c hnh dạng ra sao ư? Tận hư khng khắp php giới l dng vẻ của Php Thn, hư khng thế giới l dng vẻ của Php Thn. Nếu qu vị hiểu tận hư khng khắp php giới vốn l chnh mnh, qu vị liền chứng đắc Php Thn. Người chứng đắc Php Thn tm thanh tịnh, bnh đẳng, biết Tự v Tha l một, chẳng hai! Chng ti nu tỷ dụ, giống như nằm mộng. Trong mộng vừa gic ngộ ta nay đang nằm mộng, bản thn ta trong mộng do tm của chnh mnh biến hiện, tất cả mọi người trong mộng cũng do tm của chnh mnh biến hiện. Ngoi mộng chẳng c tm, ngoi tm chẳng c mộng. Ton thể mộng cảnh l chnh mnh, kể cả ni, sng, đại địa, hư khng trong mộng thảy đều l chnh mnh, mới hot nhin đại ngộ, nguyn lai tận hư khng khắp php giới l ta, trừ ta ra, chẳng c ai khc, đ gọi l triệt ngộ thanh tịnh Php Thn. Khi ấy, qu vị sẽ dấy ln Đồng Thể Đại Bi, V Duyn Đại Từ đối với hết thảy chng sanh. Tm qu vị thật sự bnh đẳng đối với hết thảy chng sanh, v sao? Nguyn lai đều l chnh mnh, trừ chnh mnh ra, chẳng c ai khc!

Thường Tịch Quang: Thường l ni tới Php Thn, Tịch l ni tới giải thot, Quang l ni tới tr huệ. Ba đức của Niết Bn l Php Thn, Bt Nh, Giải Thot. Php Thn l chn thn của chnh mnh, quyết định chẳng hư vọng, đ l chứng đắc chn thn của chnh mnh. Khẳng định đch xc y bo v chnh bo trang nghim trong mười php giới l chnh mnh, chẳng phải l ai khc, đ l chứng đắc Php Thn. Php l hết thảy cc php. Hiểu r triệt để hết thảy cc php l một mnh ta. Đng như đang nằm mộng, đột nhin gic ngộ ta đang nằm mộng, đến rốt cuộc, mộng l chuyện g, hon ton hiểu r! Chẳng cn so đo hết thảy cc cảnh giới trong mộng nữa, chẳng c chấp trước, phn biệt, kiến giải ấy gọi l Phật tri, Phật kiến, kinh Php Hoa gọi điều đ l nhập Phật tri kiến. Đ l Phật tri Phật kiến, tận hư khng khắp php giới l một, chẳng hai.

Kiến giải của phm phu phn chia Tự v Tha. Kinh Kim Cang ni: Tướng ta, tướng người, tướng chng sanh, tướng thọ giả, phn biệt, chấp trước mới c [cc tướng ấy]! Rời khỏi hết thảy phn biệt, chấp trước, h cn c? Thế giới ny vốn l một. V thế, sau khi chứng đắc Php Thn, thế giới ny l Nhất Chn php giới, vốn l một, khng hai. Một mới l thật, hai l giả, hai sẽ chẳng chn. Cảnh giới cao nhất của nh Thiền l thức đắc nhất, vạn sự tất (biết được một, mun sự hon thnh). Thức đắc l qu vị thật sự nhận biết Một, gic ngộ vạn php trong ton thể vũ trụ vốn l một, được lắm! Chuyện g đều chẳng c nữa, qu vị tu hnh đ đạt đến vin mn rốt ro, chẳng cn g nữa! Trong Đại Thừa, đ tốt nghiệp Nhất Thừa Phật php! Sở dĩ qu vị chẳng thể tốt nghiệp l do trong tm qu vị cn c hai, cn chưa đạt đến một! Đ đạt đến Một, tức l đ tốt nghiệp Phật php liễu nghĩa rốt ro trong Nhất Thừa! Đấy l cảnh giới cao nhất trong Phật php!

Danh từ ny hiển thị Tam Đức trong Nhất Chn php giới chẳng thể nghĩ bn. Thứ nhất l Thường, tức Php Thn, qu vị thật sự thấy chn tướng của vũ trụ v nhn sinh, tức l Thật Tướng. Triệt ngộ Thật Tướng, đ l L, l vĩnh hằng, cho nn Thường, vĩnh viễn khng thay đổi. Tịch l Giải Thot, đại tự tại, như Qun Tự Tại Bồ Tt được ni trong Tm Kinh, tự tại! Sự tự tại ấy do từ Tịch m đạt được! Tịch l g? Trong tm chẳng sanh một niệm, thanh tịnh, tịch diệt. Diệt g? Diệt hết thảy phn biệt, chấp trước, vọng tưởng, tm đ tịch. Đối với năm thứ Nhẫn trong kinh Nhn Vương, đức Phật chứng đắc Tịch Diệt Nhẫn, cn cao hơn V Sanh Php Nhẫn, v V Sanh Php Nhẫn cn c Tự v Tha, vẫn chưa phải l một. Tịch Diệt l một, l cảnh giới cao nhất.

Do vậy, bất luận tng no hay php mn no trong Phật php, v sao coi trọng Thiền Định như vậy l do đạo l ny! Thiền Định tương ứng với Tịch. Qu vị chẳng dng đến cng phu Định, lm sao đạt được tm thanh tịnh? V thế, Phật php nhất định phải tu Thiền Định, nhưng tu Thiền Định cũng chẳng nhất định l Phật php, phải biết điều ny, v sao? Thiền Định c su hay cạn khc nhau! Thế gian c Tứ Thiền, Bt Định, đ chẳng phải l Phật php. Tiểu Thừa c Cửu Thứ Đệ Định, chẳng phải l Phật php rốt ro. Trong Đại Thừa, cũng c nhiều thứ Định, như đại định vin mn rốt ro được kinh Lăng Nghim gọi l Thủ Lăng Nghim Đại Định, trong kinh Hoa Nghim lại đổi thnh một danh xưng khc, tức l Sư Tử Phấn Tấn tam-muội, trong php mn Niệm Phật l L nhất tm bất loạn. Danh xưng khc nhau, nhưng thật ra l cng một chuyện. Cng một cảnh giới, cng một chuyện, nhưng cc tng phi gọi bằng cc danh từ khc biệt. V thế, chng ta phải đặc biệt coi trọng tu Định, người niệm Phật phải đặc biệt coi trọng tu nhất tm. Người hiện thời tu hnh chẳng thể thnh cng, đng tiếc! V sao chẳng thể thnh cng? Tm chẳng định, chẳng thật th, đi lung tung mọi nơi, suy nghĩ nho nho!

Ấn Quang đại sư dạy cc đồ đệ của Ngi, hễ ai nghe lời đều c thnh tựu. Nếu chẳng nghe lời th đều chẳng thnh tựu. Kẻ nghe lời t, kẻ chẳng nghe lời đng đảo. Nghe lời l như thế no? Ấn Quang đại sư răn dạy cc đồ đệ tại gia quy y: Qu vị trở về nh hy thật th niệm Phật, chẳng cần đến cha, chẳng cần tới tham gia php hội, chuyện g cũng đều chẳng cần lm. Ngay cả đến cha miếu thăm lo nhn gia, nếu qu vị tới mấy lần, Ngi sẽ hỏi qu vị: Ngươi đến lm g? Con đến gặp sư phụ. Ngươi đ gặp sư phụ rồi, cn c g hay ho nữa đu m xem! Chửi qu vị, đuổi về! Kể cả sư phụ của chnh mnh cũng chẳng cần gặp nhiều, hy về nh thật th niệm Phật! Ngắm tượng Phật nhiều hơn, nghĩ tới Phật nhiều hơn, nhn sư phụ chẳng thể vng sanh, nhn tượng Phật c thể vng sanh. Trong tm lun nghĩ đến thầy sẽ l lục đạo lun hồi, niệm lục đạo lun hồi. Niệm A Di Đ Phật, qu vị c thể vng sanh Ty Phương Cực Lạc thế giới. Đ l một vị thiện tri thức chn chnh!

Bởi lẽ đ, hễ nhắc tới Ấn Quang đại sư, chẳng ai khng tn knh! Ai hoằng dương php của Ngi? Khng ai hoằng dương, v sao? V nếu hoằng dương, đạo trng chẳng c ai. Ngi chẳng bảo người khc đến đạo trng, ngay cả đạo trng của Ngi, Ngi cũng chẳng cho php. Về sau, Ngi lập Niệm Phật Đường tại cha Bo Quốc ở T Chu, qu vị đến đ để lm g? Đến Niệm Phật Đường niệm Phật, thật th niệm Phật. Qu vị đến niệm Phật, bn hoan nghnh qu vị tới, chấp thuận! Qu vị chẳng phải l niệm Phật, đến nơi đy, ni l thăm sư phụ, hay gặp ai đ, chẳng được, quyết định sẽ bị xua đuổi, quở mắng, Ngi chẳng lưu tnh mảy may no! Do vậy, nhắc tới php sư Ấn Quang mọi người đều rất tn knh, nhưng chẳng ai tn thn Ngi, ni thật đấy! Y theo phương php tu hnh của Ngi, chẳng c ai khng thnh cng! Thm nhập một mn trọng yếu hơn bất cứ điều g khc!

Do vậy, trong giảng ta bấy nhiu năm qua, ti nhiều lượt khch lệ cc đồng tu chng ta: Hy học một bộ kinh, niệm một bộ kinh tới rốt ro, chớ nn thay đổi! Chớ nn đi tham phỏng, hiện thời tham phỏng l g? Ai l thiện tri thức? Trước kia, người ta triều sơn nhằm tham phỏng thiện tri thức, hiện thời đến đu để tm? Hiện thời, qu vị tham phỏng một người, [người ấy] giảng một cch, chỉ dạy qu vị một con đường. Tham phỏng một vị thầy khc, lại l một cch giảng khc, lại l một con đường khc. Tham phỏng bốn, năm vị thiện tri thức sẽ trở thnh bốn, năm đường lối, kết quả chẳng biết đi theo con đường của người no mới tốt, xong lun! Khng giống như thời cổ, bậc đại đức thật sự vo thời cổ chỉ dạy qu vị tun theo một con đường. Tuy sở học của những vị đại đức ấy khc hẳn, mn đnh tu tập khc nhau, nhưng Ngi quan st căn cơ của qu vị, vẫn chỉ cho qu vị một con đường [ph hợp với căn tnh của qu vị]. Qu vị v Ngi c php mn khc biệt, Ngi quyết chẳng giữ qu vị lại, m sẽ giới thiệu nơi tương ứng với php mn của qu vị. Đấy l vị thiện tri thức chn chnh. Chnh mnh khim hư, tn thn người khc, chư vị phải hiểu r điều ny!

Chnh mnh thật sự mong thnh tựu, nhất định phải tu Định; hằng ngy đi lung tung, tm chẳng định được. Trong Ty Phương Xc Chỉ, Gic Minh Diệu Hạnh Bồ Tt c ni, niệm Phật kỵ nhất l xen tạp. Xen tạp l g? Ngi nu ra vi th dụ, đọc kinh l xen tạp. Chẳng phải l kinh điển của tng mnh, ta l người tu niệm Phật, ta lại muốn xem kinh Hoa Nghim, lại muốn niệm kinh Php Hoa, lại muốn niệm kinh Đại Bt Nh, lại muốn đọc Đại Tr Độ Luận, thi rồi, xen tạp, qu vị chẳng chuyn! Tu Tịnh Độ, ni cch khc, năm kinh một luận Tịnh Độ đ đủ cho qu vị niệm rồi! Cn muốn tham Thiền, cn muốn niệm ch, thấy người khc học ci ny cũng muốn học theo, [thấy người ta] học ci khc cũng mong học theo, xen tạp! Lại cn cử hnh php hội, lại cn tạp tm chuyện gẫu, gặp đạo hữu chẳng ni chnh kinh thoại. Chnh kinh thoại l g? Một cu A Di Đ Phật l chnh kinh thoại, trừ A Di Đ Phật ra, chẳng c cu no khc l chnh kinh thoại. Tạp tm chuyện gẫu! Lại cn ni những chuyện ct, hung, họa, phước chẳng khẩn yếu. Nhất tm nhất cầu sanh Tịnh Độ, bận tm g đến ct hung, họa phước, khng quan tm tới những chuyện ấy, những thứ đ đều l xen tạp. Xen tạp, tm qu vị sẽ khng thanh tịnh, chẳng đạt được nhất tm bất loạn, m cng phu thnh phiến cũng chẳng đạt được!

Chng ta khng chỉ niệm Phật muốn đắc nhất tm bất loạn, m niệm kinh vẫn cng một mục tiu cầu nhất tm bất loạn. Chng ta niệm Phật cầu khai ngộ, v sao? Ngộ l L nhất tm bất loạn, chng ta niệm kinh cũng nhằm cầu khai ngộ. Muốn cầu khai ngộ phải cầu từ đu? Cầu từ trong Định, cầu từ tm thanh tịnh. Trong tm qu vị suốt ngy từ sng đến tối suy nghĩ loạn xạ, h cầu được ư? Do những tạp niệm, vọng niệm của chng ta qu nhiều, phn biệt, chấp trước qu nặng; hy niệm Phật nhiều, niệm kinh nhiều. Chọn lấy một bộ kinh, mỗi ngy đều niệm kinh ấy, niệm đến nhuần nhuyễn, đừng cầu thng hiểu: Kinh ny c nghĩa g? Trước kia, ti đ từng ni với qu vị, ton l lời thật th, trong kinh chẳng c nghĩa g. Qu vị cầu thng hiểu điều g? Những g qu vị liễu giải ton l dấy vọng tưởng, chắc chắn chẳng liễu giải nghĩa chn thật. Bi kệ Khai Kinh c ni: Nguyện giải Như Lai chn thật nghĩa, những g qu vị hiểu đều l suy nghĩ lung tung, chắc chắn chẳng phải l nghĩa chn thật của Như Lai.

Như Lai chn thật nghĩa l g? Chẳng c nghĩa, đ l Như Lai chn thật nghĩa. Chẳng c nghĩa, tm thanh tịnh, tm đ định, đến lc khởi tc dụng sẽ l v lượng nghĩa; Trương Tam đến hỏi: Ci Thường Tịch Quang giảng như thế no? Qu vị giảng r rng cho ng ta, ng ta hiểu r. L Tứ đến hỏi: Thường Tịch Quang giảng như thế no? Qu vị lại giảng một cch khc, do cch giảng ấy, L Tứ khai ngộ, ng ta cũng hiểu r. Chẳng c nghĩa, nn khi khởi tc dụng bn c v lượng nghĩa. Mỗi nghĩa thch hợp đối với một người, c thể lm cho người ấy khai ngộ, khiến người ấy được thọ dụng. Nếu c nghĩa, hỏng rồi, kinh ny chỉ thch hợp với một người, trừ người ấy ra, những người khc đều chẳng dng được! Phật php mầu nhiệm l mầu nhiệm ở chỗ ny! Do vậy, qu vị quyết định chớ nn tm nghĩa của n. Qu vị niệm kinh th niệm kinh nhằm đắc Định, niệm kinh nhằm thanh tịnh tm, tm thanh tịnh sanh tr huệ. Kinh Kim Cang ni: Tn tm thanh tịnh bn sanh Thật Tướng, chng ta niệm kinh nhằm mục đch ny, cầu điều ny, cầu thẳng thừng, thỏa đng, tiến nhập ci Thường Tịch Quang. Tr danh niệm Phật l phương php niệm Phật cao nhất, c mấy ai hiểu? Mấy ai chịu thật th lm? Sau khi xếp kinh lại, vẫn suy nghĩ loạn xạ, vẫn l ci ny được, ci kia kh, cha ny kh lắm, php sư nọ rất tốt! Đều vẫn l tạo nghiệp lun hồi, phiền phức to lắm! Nếu qu vị nghe lời ti, cc php sư trong rất nhiều cha miếu sẽ hận ti thấu xương! Ti chẳng c cch no, chỉ đnh ngay lập tức đến Ty Phương Cực Lạc thế giới lnh nạn! Hm nay đ hết thời gian rồi!

A Di Đ Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 61

 



[1] Chữ Thế () do ba chữ Thập () ghp lại.

[2] Tuyn Thống (Gehungge Yoso) l nin hiệu của Phổ Nghi, hong đế cuối cng của nh Thanh. Nh vua chỉ tại vị ba năm ngắn ngủi (từ năm 1908 đến năm 1912), rồi bị lật đổ bởi cch mạng Tn Hợi. Về sau, Phổ Nghi được Nhật đưa ln lm vua b nhn Mn Chu Quốc sử dụng hai nin hiệu khc l Đại Đồng (1932-1934) v Khang Đức (1934-1945).

[3] Nh Thanh do người Mn Chu sng lập nn gọi l nh Mn Thanh. Mn Chu l tn gọi khc của dn tộc Nữ Chn (Juen, cn viết l Jurchen), tuy c thuyết cho Mn Chu v Nữ Chn l hai sắc tộc khc nhau. Đy l một dn tộc đ được sử sch nhắc đến kh sớm, đời Hn - Tấn gọi l Ấp Lu, thời Nam Bắc Triều gọi l Vật Ct, đời Ty - Đường gọi l Hắc Thủy Mạt Hạt. Danh xưng Nữ Chn (hoặc Nữ Trực) được sử dụng từ thời Liu - Kim trở đi. Nh Thanh thuộc bộ tộc Kiến Chu Nữ Chn. Vo thế kỷ 12, Hon Nhan A Cốt Đả (Wanyan Aguda) lm thủ lnh tộc Nữ Chn, sng lập ra nh Kim. Danh xưng Kim vốn l dịch nghĩa tn sng Anchuhu tại qu hương của họ. Dng họ Aisinjoro (i Tn Gic La) của hong đế nh Thanh cũng xuất pht từ chữ Anchuhu. Nh Kim bị Mng Cổ diệt quốc vo năm 1234 dưới đời Kim Mạt Đế (Hon Nhan Thừa Ln) vo năm 1234. Đến thế kỷ 16, Nỗ Nhĩ Cp Xch (Nurhaci) thống nhất cc bộ tộc Nữ Chn, thnh lập hệ thống qun đội Bt Kỳ, v lập ra nh Hậu Kim. Danh xưng Hậu Kim được đổi thnh Thanh dưới thời hong đế Hong Thi Cực.

[4] St trần: Số lượng vi trần trong một st-độ (một ci Phật).