A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 64

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 127

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang hai trăm bảy mươi tám.

 

      (Sao) Trí Giác vân: “Tổng tŕ giáo trung, thuyết tam thập thất Phật, giai Tỳ Lô Giá Na nhất Phật sở hiện. Vị Giá Na nội tâm, chứng Tự Thọ Dụng, thành ư Ngũ Trí, tự đương trung ương Pháp Giới Thanh Tịnh Trí. Thứ tùng tứ trí, lưu xuất tứ phương tứ Như Lai, kỳ Diệu Quán Sát Trí, lưu xuất Tây Phương Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Như Lai, tắc nhất Phật nhi song hiện nhị độ dă”. Cố Thanh Lương vân: “Tức Bổn Sư dă”.

      () 智 覺 云:總 持 教 中,說 三 十 七 佛,皆 毗 盧 遮 那 一 佛 所 現。謂 遮 那 內 心,證 自 受 用,成 於 五 智,自 當 中 央 法 界 清 淨 智。次 從 四 智,流 出 四 方 四 如 來,其 妙 觀 察 智,流 出 西 方 極 樂 世 界 無 量 壽 如 來,則 一 佛 而 雙 現 二 土 也。故 清 涼 云:即 本 師 也。

      (Sao: Ngài Trí Giác nói: “Trong giáo pháp Tổng Tŕ có nói ba mươi bảy vị Phật đều do Tỳ Lô Giá Na Phật hiện ra. Nghĩa là từ trong nội tâm, Tỳ Lô Giá Na Phật chứng Tự Thọ Dụng, thành tựu Ngũ Trí, tự đảm nhiệm Pháp Giới Thanh Tịnh Trí ở trung ương. Kế đó, từ bốn trí kia lưu xuất bốn vị Như Lai ở bốn phương. Diệu Quán Sát Trí lưu xuất Tây Phương Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Như Lai, tức là một vị Phật mà hiện trong hai cơi”. V́ vậy, ngài Thanh Lương nói: “Chính là Bổn Sư vậy”)

 

       Trí Giác chính là Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư, đoạn văn trên đây do Ngài viết trong quyển hai mươi bốn của bộ Tông Kính Lục, Tông Kính Lục tổng cộng một trăm quyển. Trong giáo pháp Đại Thừa thường nói: “Thập phương tam thế Phật, cộng đồng nhất Pháp Thân” (Mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân), hoàn toàn tương ứng với ư nghĩa trong cách nói này. Đại thế giới của chúng ta là thế giới Hoa Tạng, thế giới Sa Bà là một tiểu thế giới trong thế giới Hoa Tạng, chúng ta gọi [thế giới Sa Bà] là một tam thiên đại thiên thế giới. So với thế giới Hoa Tạng để nói th́ tam thiên đại thiên thế giới này là một tiểu thế giới. Giáo chủ của đại thế giới này là Tỳ Lô Giá Na Như Lai, chúng ta gọi Ngài là Pháp Thân Phật. Kinh Hoa Nghiêm lấy Tỳ Lô Giá Na Phật làm chủ. Pháp Thân chẳng thuyết pháp, Pháp Thân chẳng có h́nh tướng, là bản thể của vạn pháp trong vũ trụ, nên Ngài chẳng có ngôn thuyết. Chúng ta thấy trong kinh Hoa Nghiêm các vị Bồ Tát thuyết pháp, nhưng trên thực tế, các vị Bồ Tát ấy là Hóa Thân của Tỳ Lô Giá Na Phật. Pháp Thân chẳng thuyết pháp, bản thể chẳng thuyết pháp. Từ Thể khởi Dụng, hiện thân, hiện tướng, lúc ấy sẽ có ngôn thuyết, sẽ có thuyết pháp. Do vậy, kinh Hoa Nghiêm từ đầu đến cuối đều là Bồ Tát thuyết pháp.

      Kinh dạy, đă lấy Tỳ Lô Giá Na Phật làm bản thể, tức Chân Như bổn tánh, sau đấy, “tùng tứ trí” (từ bốn trí) “lưu xuất tứ phương Như Lai” (lưu xuất các vị Như Lai ở bốn phương). Bốn trí là Đại Viên Kính Trí, B́nh Đẳng Tánh Trí, Diệu Quán Sát Trí, và Thành Sở Tác Trí. Tỳ Lô Giá Na ở trung ương. Chúng ta nói đến Ngũ Phật th́ trung ương là Tỳ Lô Giá Na Phật, tức Pháp Thân Phật. Từ Đại Viên Kính Trí lưu xuất Đông Phương A Súc Phật, từ B́nh Đẳng Tánh Trí lưu xuất Nam Phương Bảo Sanh Như Lai, từ Diệu Quán Sát Trí lưu xuất Tây Phương A Di Đà Phật, từ Thành Sở Tác Trí lưu xuất Bắc Phương Bất Không Thành Tựu Như Lai. Đó là nói tới Ngũ Phương Phật, gồm năm vị Phật. Mỗi vị trong năm vị Phật đều có “tứ đại Bồ Tát”, bốn lần năm là hai mươi, cộng thêm năm vị Phật là hai mươi lăm. Lại c̣n có Tứ Nhiếp, Bát Cúng Dường, tức là thêm mười hai vị nữa, do đó biến thành ba mươi bảy. Ba mươi bảy vị Phật do đó mà có! [Trong ấy], năm vị là Phật, hai mươi vị là Bồ Tát, nay chúng ta gọi Tứ Nhiếp và Bát Cúng Dường là “đạo cụ”, trong Phật pháp gọi [đạo cụ] là “pháp khí”. Những thứ Bồ Tát cầm trong tay được gọi là “pháp khí”, v́ chúng đều nhằm biểu thị nghĩa lư giáo hóa chúng sanh rất sâu. Do vậy, đều được tính vào đây.

      “Nhất Phật nhi song hiện nhị độ” (một vị Phật mà hiện trong hai cơi), “nhất Phật” là A Di Đà Phật, “nhị độ” là thế giới Cực Lạc và thế giới Sa Bà của chúng ta. Thanh Lương đại sư nói, Phật Thích Ca là Bổn Sư của chúng ta, A Di Đà Phật cũng là Bổn Sư. Vị thầy căn bản thật sự là A Di Đà Phật, Thích Ca Phật bất quá thay mặt A Di Đà Phật chiêu sinh trong thế giới Sa Bà mà thôi, hy vọng chúng sanh thật sự giác ngộ trong thế giới Sa Bà sẽ ngay lập tức cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Do vậy, A Di Đà Phật quả thật là Bổn Sư của chúng ta. Ư nghĩa này được thấy rơ ràng nhất trong kinh Hoa Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng là “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, có thể thấy A Di Đà Phật trong thế giới Cực Lạc thật sự là vị thầy căn bản của chúng ta.

 

      (Sớ) Nhiên chư Phật thuyết pháp, đa chủng bất đồng, kim thị y chánh giai thuyết, tường như thử kinh, cập Đại Bổn, Quán Kinh trung thuyết.

      () 然 諸 佛 說 法,多 種 不 同,今 是 依 正 皆 說,詳 如 此 經,及 大 本 觀 經 中 說。

      (Sớ: Nhưng chư Phật thuyết pháp có nhiều thứ khác nhau, nay là y báo và chánh báo đều cùng nói, nói chi tiết [về chuyện y báo và chánh báo đều cùng thuyết pháp] th́ như trong kinh này, Đại Bổn và Quán Kinh đă nói).

 

       “Đa chủng bất đồng” (nhiều thứ khác nhau), tức là thuyết pháp không nhất định phải dùng ngôn ngữ; sáu căn, sáu trần đều có thể thuyết pháp. Do vậy, căn căn, trần trần chẳng có cùng tận. Ở đây chỉ là nêu thí dụ để nói. Nói tỉ mỉ th́ như trong kinh này, đấy là nói sáu trần trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đều thuyết pháp. Đại Bổn là kinh Vô Lượng Thọ. Quán Kinh là kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. Tịnh Độ Tam Kinh đều nói “y báo và chánh báo trong Tây Phương Cực Lạc thế giới thảy đều đang thuyết pháp”. Trong lời Sao có giải thích đoạn văn này:

 

      (Sao) Đa chủng giả, như ngôn thuyết, chiêm thị.

  () 多 種 者,如 言 說 瞻 視。

      (Sao: “Nhiều thứ” là như ngôn thuyết, chiêm ngưỡng, nh́n ngó).

 

      “Ngôn thuyết”: Đối với chúng sanh Nhĩ Căn nhạy bén bèn dùng ngôn thuyết. Nhĩ Căn của đại đa số chúng sanh trong thế giới Sa Bà nhạy bén, đây là nói theo đại đa số. Có những người Nhăn Căn nhạy bén hơn Nhĩ Căn, quư vị nói với kẻ ấy, kẻ ấy nghe mà chẳng hiểu rơ cho lắm. Quư vị viết cho kẻ ấy đọc, kẻ ấy vừa nh́n liền hiểu rơ. Có những kẻ dẫu quư vị viết rơ ràng cách mấy, họ đọc rồi cũng chẳng hiểu rơ, nhưng quư vị giảng giải, họ nghe bèn hiểu ngay! Đó là do căn tánh của chúng sanh khác nhau. V́ vậy, đức Phật xuất hiện trong thế giới này, giống như trong kinh Lăng Nghiêm, Văn Thù Bồ Tát chọn lựa pháp Viên Thông đă nói: “Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn” (Chân giáo thể phương này, thanh tịnh nơi nghe tiếng). Thuở ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật hóa độ chúng sanh sử dụng ngôn thuyết, giảng kinh, thuyết pháp mỗi ngày. So với Thích Ca Mâu Ni Phật, thời gian Khổng lăo phu tử xuất hiện [trên thế gian] chẳng sai biệt mấy! Khổng Tử xuất hiện tại Trung Quốc, lăo nhân gia dạy học cũng sử dụng ngôn ngữ; thuở đó, chẳng dùng văn tự để viết tài liệu giảng dạy. Sau khi phu tử khuất bóng, các đệ tử mới ghi chép lại những lời Ngài đă nói trong một đời, t́nh h́nh chẳng khác Thích Ca Mâu Ni Phật cho lắm! Học tṛ của Thích Ca Phật đông đảo, ghi chép tường tận; đệ tử của Khổng Tử chỉ ghi lại những nét chánh yếu, như từng điều trong Luận Ngữ [chỉ là] đại cương! Phu tử giảng mấy tiếng đồng hồ, giảng mười mấy tiếng đồng hồ, giảng hơn một trăm tiếng đồng hồ, giảng những điều ǵ? Giống như ghi chép đề mục, chỉ có mấy chữ, nói đại cương. Luận Ngữ có ư nghĩa ấy, đều là đề mục, giảng đề (chủ đề giảng dạy), cương yếu trong sự giảng giải của phu tử. Chẳng giống như đức Phật giảng kinh, có thể nói kinh do đức Phật đă giảng đều được ghi lại toàn bộ đại ư, khá tường tận, điều này rất khó có.

      “Chiêm thị”: Chẳng dùng ngôn thuyết, mà chúng ta dùng mắt để nh́n, xem sắc tướng, xem động tác, bèn hiểu rơ ư nghĩa, đó là người Nhăn Căn nhạy bén. Thiền Tông thường dùng phương pháp này, chẳng giảng nói, giơ nắm tay lên, cuộn các ngón tay thành nắm đấm, giơ ngón tay bảo quư vị hăy nh́n, đối phương vừa nh́n bèn giác ngộ. Đó là do một động tác, hay ra hiệu khiến cho đối phương nhận biết ư nghĩa. Thuở ấy, trong pháp hội, Thích Ca Mâu Ni Phật “niêm hoa vi tiếu” (giơ cành hoa lên, mỉm cười), đó là động tác, đại chúng nh́n nhưng chẳng hiểu ư Phật, chỉ có Ma Ha Ca Diếp hiểu được. Ma Ha Ca Diếp trông thấy bèn cười, Ngài đă hiểu. Do vậy, đức Phật trao cành hoa ấy cho Ngài: “Ta có Niết Bàn diệu tâm truyền cho Ma Ha Ca Diếp”, đó là tổ sư đời thứ nhất của Thiền Tông. Do vậy, Thiền Tông “chẳng lập văn tự, chỉ thẳng tâm người”, tức là từ sắc tướng, động tác, quư vị bèn thấu hiểu ư nghĩa ấy. Do vậy, họ chẳng dùng ngôn thuyết, mà là “chiêm thị” (nh́n ngắm), dùng phương cách như vậy!

 

      (Sao) Năi chí hương phạn đẳng.

      () 乃 至 香 飯 等。

      (Sao: Cho đến cơm thơm v.v...)

 

      “Hương phạn” là mời quư vị ăn cơm. Ăn cơm là Thiệt Căn tiếp xúc Vị Trần, người ấy vừa ăn bèn giác ngộ. Trong cơi Hương Tích, Hương Tích Như Lai độ chúng sanh trong thế giới ấy rất lạ lùng. Chính Ngài chẳng thuyết pháp, vị Phật ấy mỗi ngày sắp đặt nhiều món ăn ngon mời mọi người ăn. Ăn xong, ai nấy đều khai ngộ. Trong sáu căn, Thiệt Căn của chúng sanh nơi ấy rất nhạy bén!

      Trong kinh Lăng Già có một đoạn kinh văn, đức Phật bảo Đại Huệ Bồ Tát: Hoàn toàn chẳng phải là tất cả các thế giới Phật đều giảng kinh, thuyết pháp. Nếu chúng sanh trong thế giới ấy Nhĩ Căn nhạy bén, đức Phật mới dùng ngôn thuyết; Nhăn Căn nhạy bén, đức Phật sẽ dùng sắc tướng, hoặc động tác, chẳng dùng ngôn thuyết.

 

      (Sao) Cố Cực Lạc thế giới, bất đản kim khẩu thuyết pháp, y chánh tất nhĩ.

      () 故 極 樂 世 界,不 但 金 口 說 法,依 正 悉 爾。

       (Sao: V́ lẽ đó, thế giới Cực Lạc không chỉ là kim khẩu thuyết pháp, mà y báo và chánh báo đều là như thế).

 

      Thế giới Cực Lạc là một thế giới b́nh đẳng. Người trong thế giới Cực Lạc là chúng sanh từ vô lượng vô biên sát độ trong mười phương di dân tới. Do vậy, các đại chúng trong thế giới Cực Lạc, chư thượng thiện nhân từ các thế giới đến, căn tánh ǵ cũng đều có. Nếu Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật cũng giống như Sa Bà thế giới Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh hơn ba trăm hội, thuyết pháp bốn mươi chín năm, sẽ không thể phổ độ chúng sanh. Dùng phương pháp ấy chỉ có thể tiếp dẫn [các chúng sanh đến từ] thế giới Sa Bà. [Chúng sanh từ] các thế giới phương khác văng sanh [Cực Lạc] quá nhiều; v́ thế, Tây Phương Cực Lạc thế giới thuyết pháp nhiệt náo, sáu căn và sáu trần thảy đều thuyết pháp, y báo lẫn chánh báo đều thuyết pháp. Đạo lư ở chỗ này.

 

      (Sao) Như Đại Bổn vân.

  () 如 大 本 云。

      (Sao: Như kinh Đại Bổn nói).

 

      Đại Bổn là kinh Vô Lượng Thọ.

 

      (Sao) A Di Đà Phật, vị chư Bồ Tát, Thanh Văn, chư thiên, thế nhân, quảng tuyên đại giáo, phu diễn diệu pháp, mạc bất hân nhiên duyệt thích, tâm đắc giải ngộ, các hữu sở đắc.

       () 阿 彌 陀 佛,為 諸 菩 薩 聲 聞 諸 天 世 人,廣 宣 大 教,敷 演 妙 法,莫 不 欣 然 悅 適,心 得 解 悟,各 有 所 得。

      (Sao: A Di Đà Phật, v́ các Bồ Tát, Thanh Văn, chư thiên, người đời rộng tuyên đại giáo, diễn bày diệu pháp, không ai chẳng vui sướng, thoải mái, tâm được giải ngộ, ai nấy đều có sở đắc).

 

      Đoạn này nói A Di Đà Phật v́ đại chúng, “Bồ Tát, Thanh Văn, chư thiên, người đời”, đó là thân phận của họ trước khi đến Tây Phương Cực Lạc thế giới. Sau khi đă đến thế giới Tây Phương, thân phận giống nhau, đều là Bồ Tát. Từ kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta thấy Tây Phương Cực Lạc thế giới tuyệt đối chẳng c̣n có Tiểu Thừa, nhân, thiên, không có! Chư vị phải biết điều này! “Phu diễn diệu pháp”: Đức Phật thuyết pháp bên ấy. “Các hữu sở đắc”: Mỗi cá nhân do căn tánh, tŕnh độ tinh tấn khác nhau mà ngộ nhập có sâu hay cạn.

 

      (Sao) Hựu vân: “Đông phương Hằng hà sa số chư Phật, các khiển vô lượng Bồ Tát, Thanh Văn, chí A Di Đà Phật sở, thính thuyết diệu pháp”.

      () 又 云:東 方 恆 河 沙 數 諸 佛,各 遣 無 量 菩 薩 聲 聞,至 阿 彌 陀 佛 所,聽 說 妙 法。

      (Sao: Lại nói: “Hằng hà sa số chư Phật ở phương Đông, mỗi vị đều sai vô lượng Bồ Tát và Thanh Văn đến chỗ A Di Đà Phật nghe giảng diệu pháp”).

 

      Đây là nói cặn kẽ một phương, những phương sau đó đều nói tỉnh lược.

 

      (Sao) Tứ duy, thượng hạ, diệc phục như thị.

      () 四 維 上 下,亦 復 如 是。

      (Sao: Bốn phương, trên, dưới cũng đều như thế).

 

      Chư Phật trong các thế giới Phật khắp mười phương, mỗi vị đều sai các vị Bồ Tát, A La Hán và Bích Chi Phật đến Tây Phương Cực Lạc thế giới để nghe A Di Đà Phật thuyết pháp.

 

      (Sao) Thị chánh báo thuyết pháp.

       () 是 正 報 說 法。

      (Sao: Đó là chánh báo thuyết pháp).

 

      Những điều này được nói trong kinh Đại Bổn.

 

      (Sao) Thử kinh thủy, điểu, thụ lâm diễn sướng diệu pháp.

      () 此 經 水 鳥 樹 林 演 暢 妙 法。

      (Sao: Trong kinh này, chim, rừng cây diễn nói thông suốt diệu pháp).

 

       Nước là vô t́nh, chim là hữu t́nh, rừng cây cũng là vô t́nh. T́nh và vô t́nh thảy đều thuyết pháp. Đó là sáu trần thuyết pháp.

 

      (Sao) Cập Đại Bổn, Quán Kinh, như hậu văn trung tường dẫn, thị y báo thuyết pháp.

       () 及 大 本 觀 經,如 後 文 中 詳 引,是 依 報 說 法。

      (Sao: Và Đại Bổn, Quán Kinh như sẽ trích dẫn tường tận trong phần sau. Đó là y báo thuyết pháp).

 

       “Y báo” là hoàn cảnh vật chất.

 

      (Sao) Hựu Đại Bổn vân: “Bỉ quốc liên hoa xuất vô lượng quang”.

  () 又 大 本 云:彼 國 蓮 華 出 無 量 光。

      (Sao: Lại nữa, kinh Đại Bổn nói: “Hoa sen trong cơi ấy tỏa vô lượng quang minh”).

 

      Hoa sen tỏa ánh sáng, trong quang minh xuất hiện vô lượng Phật. Những vị Phật ấy là hóa Phật, từ trong hoa sen biến hóa ra.

 

      (Sao) Nhất nhất chư Phật, giai thuyết diệu pháp, thị y chánh câu thời thuyết dă.

      () 一 一 諸 佛,皆 說 妙 法,是 依 正 俱 時 說 也。

      (Sao: Mỗi một vị Phật đều nói diệu pháp, đó là y báo và chánh báo đồng thời thuyết pháp).

 

      Đây là y báo và chánh báo đều thuyết pháp. Hoa sen là y báo, trong y báo hiện Phật, Phật là chánh báo, chánh báo xuất hiện từ y báo. Đức Phật lại thuyết pháp, y báo đồng thời thuyết pháp.

      Trong Sớ Sao, Liên Tŕ đại sư trích dẫn kinh Vô Lượng Thọ, đại đa số chọn lựa trích dẫn [kinh văn] từ bản hội tập của cư sĩ Vương Long Thư, nay chúng ta gọi [bản hội tập ấy] là Đại A Di Đà Kinh. Bản hội tập ấy của Vương Long Thư tuy không hoàn toàn, đối với năm bản dịch gốc, ông ta chỉ chọn lựa từ bốn bản, chẳng chọn lọc kinh văn từ hội Vô Lượng Thọ của kinh Đại Bảo Tích, nhưng văn tự [trong bản hội tập ấy] hay hơn các bản dịch gốc.

 

      (Sớ) Hữu vị thuyết pháp thị Ứng Thân, Báo Thân, hữu vị tam thân tề thuyết, các tùy cơ kiến.

       () 有 謂 說 法 是 應 身 報 身,有 謂 三 身 齊 說,各 隨 機 見。

      (Sớ: Có người nói Ứng Thân và Báo Thân thuyết pháp, có người nói ba thân cùng thuyết pháp, [những cách nói ấy] đều là kiến giải thuận theo căn cơ).

 

      Có người nói Ứng Thân Phật hoặc Báo Thân Phật thuyết pháp, Pháp Thân Phật chẳng thuyết pháp; cũng có người nói ba thân đều cùng thuyết pháp. Giảng giải điều này như thế nào? Dưới đây, [Liên Tŕ đại sư] đă chú giải rất tỉ mỉ:

 

      (Sao) Ứng Thân thuyết giả.

      () 應 身 說 者。

      (Sao: Ứng Thân nói là...)

     

      Đây là những người có kiến giải chủ trương Ứng Thân và Hóa Thân thuyết pháp.

 

      (Sao) Hữu vân: Pháp Thân nhất hướng bất thuyết, Báo Thân cụ thuyết bất thuyết, Ứng Thân định thuyết.

      () 有 云:法 身 一 向 不 說,報 身 具 說 不 說,應 身 定 說。

      (Sao: Có người nói: Pháp Thân một mực không nói, Báo Thân hoặc nói, hoặc chẳng nói, Ứng Thân nhất định nói).

 

       “Pháp Thân nhất hướng bất thuyết” (Pháp Thân luôn luôn không nói); đây là nói về ngôn ngữ, văn tự. Văn tự là phù hiệu ngôn ngữ, tương đồng với ngôn ngữ. Pháp Thân là lư thể, Pháp Thân không có h́nh tướng, không có h́nh tướng th́ thuyết pháp bằng cách nào? Do vậy, nói “Pháp Thân nhất hướng bất thuyết”, ư nghĩa ở chỗ này. Chúng ta phải thấu hiểu kỹ càng những chỗ này. Cách nói của mỗi vị cổ nhân đều rất có đạo lư, nhưng quư vị hăy suy xét cặn kẽ, [sẽ thấy nói theo kiểu này] đạo lư chẳng viên măn, đều lệch lạc một bên, người nói như vậy chẳng ít!

      “Báo Thân cụ thuyết, bất thuyết”: Cụ () là trọn đủ, [Báo Thân] có thuyết hoặc chẳng thuyết. Thế nào là có thuyết và chẳng thuyết? Báo Thân có Tự Thọ Dụng thân và Tha Thọ Dụng thân. Tự Thọ Dụng thân chẳng nói, nhưng Tha Thọ Dụng thân có thuyết pháp. Tha Thọ Dụng thân là như kinh thường nói: “Phật v́ hàng Thập Địa Bồ Tát hiện Báo Thân”. Thập Địa, từ Sơ Địa đến Đẳng Giác, mười một địa vị ấy, thân của Báo Thân to lớn. Trong kệ Tán Phật có câu: “Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di. Cám mục trừng thanh tứ đại hải”, đó là nói về Báo Thân Phật. Nếu [thân] Phật ấy ở trước mặt chúng ta, chúng ta sẽ chẳng nh́n thấy, v́ sao? Thân Ngài c̣n to hơn địa cầu, quư vị làm sao trông thấy Ngài cho được? Chẳng thấy được! Giống như con kiến ḅ trên thân chúng ta, kiến chẳng biết người là như thế nào. Nó không biết, chẳng thấy, tướng ấy quá ư to lớn. Do vậy, Phật muốn độ Địa Thượng Bồ Tát, phải hiện thân to lớn giống như họ để thuyết pháp cho họ. Hiện thân giống như họ, đó là thân Tha Thọ Dụng. Đúng như trong ba mươi hai Ứng Thân đă nói: “Nên dùng thân ǵ để độ, Phật bèn hiện thân tướng ấy”. V́ thế, Ngài (Báo Thân Phật) có nói và chẳng nói.

      “Ứng Thân định thuyết” (Ứng Thân nhất định nói). “Ứng Thân” ứng hóa trên thế gian, v́ Tam Hiền, Nhị Thừa, lục đạo phàm phu mà thuyết pháp. Như Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện trong thế gian này, tướng mạo, thân h́nh chẳng khác người thế gian chúng ta cho mấy. Tuy vóc dáng cao hơn một chút, nhưng cũng không cao lắm. Nếu rất cao, sẽ biến thành quái nhân mất rồi. Trong kinh thường nói thân Phật là “trượng lục kim thân”, thân Phật cao một trượng sáu thước. “Trượng lục” là một trượng sáu thước tính theo thước đời Châu, chẳng phải là thước hiện thời. Hoằng Nhất đại sư biên soạn tác phẩm Luật Học Tam Thập Tam Chủng, trong ấy có một chương là Châu Xích Khảo (khảo cứu về thước đời Châu), đối với thước đời Châu, Ngài đă khảo cứu công phu. Một trượng sáu thước, gần như là một trăm chín mươi xăng-ti-mét hiện thời, dáng vóc cao như vậy.

      Tướng hảo của Phật là quả báo do Ngài nhiều đời nhiều kiếp tu phước mà đạt được, Ngài có đầy đủ ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo. Đấy là những tướng tốt theo sách coi tướng của thế gian Ngài đều có, tất cả tướng tốt đều do Ngài tu được. Mỗi cá nhân chúng ta đều hy vọng chính ḿnh tướng hảo, đều có thể tu được. Ngay cả thầy xem tướng cũng nói: “Tướng chuyển theo tâm”. Phải tu tướng hảo theo cách nào? Tuyệt đối chẳng phải là đến thẩm mỹ viện. Dựa vào thẩm mỹ viện để tu tướng hảo, vấn đề sẽ nghiêm trọng, sẽ thường là một thân đầy bệnh tật, về sau, chẳng có thuốc nào chữa được! Chúng tôi đă thấy rất nhiều trường hợp [như vậy]. Đức Phật dạy chúng ta tu tướng hảo từ chỗ nào? Tu từ tâm địa. Tâm quư vị thật sự từ bi, thanh tịnh, b́nh đẳng, tướng tự nhiên tốt đẹp. Các nhà tướng số thường nói: Một người trước khi tṛn bốn mươi tuổi, tướng mạo là bẩm sanh, tiên thiên, sau bốn mươi tuổi, tướng mạo là hậu thiên[1], do tâm lư và hành vi của quư vị trong một đời này đă biến tiên thiên thành hậu thiên. Do vậy, tướng mạo sau bốn mươi tuổi là hậu quả của một đời này.

      Trên thực tế, tướng mạo do tâm chính ḿnh biến hiện, mỗi cá nhân tướng mạo bất đồng là v́ khi kẻ ấy đầu thai, trong kinh, đức Phật đă nói rất hay: “Ái chẳng nặng, chẳng sanh Sa Bà”, quư vị đến thế gian này đầu thai như thế nào? Quư vị có ái dục! Lúc đầu thai, quá nửa là chọn lấy tướng mạo của cha mẹ, v́ kẻ ấy ưa thích tướng mạo đó, nên biến thành dáng vẻ ấy. Tướng mạo ấy in hằn khá sâu trong tâm kẻ ấy. V́ thế, tướng sanh từ tâm tưởng! Tâm tưởng bèn hiện tướng. Tướng mạo do chính ḿnh biến hiện, cha mẹ chỉ làm Tăng Thượng Duyên cho quư vị, làm khuôn mẫu. Quư vị trông thấy, ưa thích tướng này bèn chọn lấy tướng này, ưa thích tướng kia bèn chọn lấy tướng kia, tướng do đó mà có, chẳng phải do di truyền. Người b́nh phàm chúng ta hiện thời thường nói là “di truyền”, nói theo Phật pháp, điều này chẳng suông, không có đạo lư ấy! Sau tuổi trưởng thành, chính ḿnh hiểu chuyện, trong tâm có thiện, ác, tướng mạo bèn biến đổi theo tâm hạnh của quư vị. Do vậy, tướng mạo tuổi tráng niên và lăo niên là do quư vị tu tích trong đời này. Đối với người học Phật [chuyện này] càng rơ ràng hơn, biến đổi rất nhanh, người ấy hiểu phương pháp và lư luận. Đó là nói về tu tướng hảo và quang minh, nhất định phải thực hiện từ nơi tâm. Ứng Thân Phật điều ǵ cũng giống như chúng sanh trong thế gian này, nên Ngài nhất định phải thuyết pháp.

 

      (Sao) Tắc bỉ Phật thuyết pháp, đương thị Ứng Thân, nhiên diệc kiêm Báo, như Đại Bổn, cao xuất nhất thiết thế gian chi thân, Quán Kinh, lục thập vạn ức na-do-tha hằng sa do-tuần chi thân, tắc khởi định trượng lục.

      () 則 彼 佛 說 法,當 是 應 身,然 亦 兼 報,如 大 本,高 出 一 切 世 間 之 身,觀 經,六 十 萬 億 那 由 他 恆 沙 由 旬 之 身,則 豈 定 丈 六。

      (Sao: Nên đức Phật ấy thuyết pháp sẽ là Ứng Thân, nhưng cũng có cả Báo Thân, như trong Đại Bổn có nói [thân Phật] cao vượt hết thảy thân trong thế gian, hoặc Quán Kinh nói thân cao sáu mươi vạn ức na-do-tha hằng sa do-tuần, há cứ nhất định phải là thân trượng sáu).

 

      Chúng ta thấy những điều này từ kinh Đại Bổn và Quán Vô Lượng Thọ Phật. Thân tướng của Phật vô cùng cao lớn, “lục thập vạn ức na-do-tha hằng sa do-tuần chi thân” (thân cao sáu mươi vạn ức na-do-tha hằng sa do-tuần), thân tướng ấy chẳng thể nghĩ bàn. Trong kệ Tán Phật có câu: “Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di, cám mục trừng thanh tứ đại hải”, nói như thế vẫn là quá nhỏ. Trên thực tế, hai mắt đức Phật và tướng bạch hào vượt xa những lời chúng ta tán thán, nhưng nếu nói lớn hơn nữa, chúng ta sẽ chẳng nói được, v́ trên địa cầu này, chúng ta thấy biển lớn nhất là đại dương, núi cao nhất là núi Hỷ Mă Lạp Nhă, đó chính là núi Tu Di trên địa cầu này, không có ǵ cao hơn nữa! Nêu những ǵ chúng ta có thể trông thấy trước mắt để làm tỷ dụ, trên thực tế không phải chỉ có vậy. Có thể thấy thân tướng của Phật to lớn [dường nào]!

 

      (Sao) Nhiên kinh vân: “Báo, Hóa phi chân Phật, diệc phi thuyết pháp giả”, hà đắc định ngôn Pháp Thân bất thuyết, đương thị tùy cơ sở kiến, tự bất đồng nhĩ.

      () 然 經 云:報 化 非 真 佛,亦 非 說 法 者。何 得 定 言 法 身 不 說,當 是 隨 機 所 見,自 不 同 耳。

      (Sao: Nhưng kinh nói Báo Thân và Hóa Thân chẳng phải là Chân Phật, cũng chẳng là người thuyết pháp, làm sao có thể nói khẳng định Pháp Thân chẳng thuyết pháp. [Do vậy] phải là tùy theo cái nh́n của từng căn cơ mà thấy khác biệt).

 

      Câu này nói rất hợp lư, v́ sao nói Báo Thân và Hóa Thân chẳng phải là Chân Phật? Trong kinh nói “Báo Hóa phi Chân Phật, diệc phi thuyết pháp giả” (Báo Thân và Hóa Thân chẳng phải là Chân Phật, cũng chẳng phải là người thuyết pháp), ở đây bao hàm hai ư nghĩa: Thứ nhất, Báo Thân Phật và Hóa Thân Phật đều do Pháp Thân biến hiện, từ Thể khởi Dụng, là tác dụng của Pháp Thân lư thể. Dụng không có tự tánh, tức là Dụng không có tự thể, cho nên nói “vạn pháp đều là Không”; v́ sao nói “vạn pháp đều là Không”? V́ hết thảy vạn pháp chẳng có tự tánh, toàn bộ Thể chính là Chân. Báo Thân, Ứng Thân, Hóa Thân đều không có tự thể, bản thể của chúng vẫn là Pháp Thân. Đây là một ư nghĩa.

      Thứ hai, đối với hết thảy các pháp do Báo Thân và Hóa Thân đă nói, chúng ta quan sát sâu hơn một tầng, [sẽ thấy] ngôn thuyết, văn tự cũng chẳng có tự tánh. Trong Khởi Tín Luận, Mă Minh Bồ Tát đă bảo: “Ly ngôn thuyết tướng, ly danh tự tướng, ly tâm duyên tướng”. Xem kinh, nghe pháp như thế th́ mới có nhập xứ, nhập xứ là ngộ xứ, quư vị mới có thể thật sự nghe [pháp] này nọ. Nói cách khác, khi quư vị đọc tụng, nghe giảng, nếu trong tâm quư vị chấp trước ngôn thuyết, chấp trước danh tướng, trong tâm c̣n có phan duyên, “tâm duyên” là trong tâm có phan duyên, trong tâm có ư nghĩ, có cách nh́n và cách nghĩ của ta, có đủ thứ kiến giải, những điều ấy gọi là “tâm duyên tướng”, quư vị chẳng có hy vọng khai ngộ! Quyết định chẳng thể khai ngộ, v́ sao? Ngộ môn đă bị bít chặt rồi. Khai ngộ th́ tâm nhất định phải thanh tịnh, tâm thanh tịnh mới có thể khai ngộ! Trong tâm có đôi chút chướng ngại sẽ chẳng thể khai ngộ.

      Chúng ta đọc Đàn Kinh, thiền sư Pháp Đạt niệm ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa, công phu rất sâu, v́ sao Sư chẳng thể khai ngộ? Ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa niệm mười năm, mỗi ngày niệm một lượt th́ gần như ba ngàn biến là mười năm. Kinh Pháp Hoa bảy quyển, văn tự khá dài. Nguyên nhân khiến Sư chẳng thể khai ngộ là do có chấp trước, cảm thấy chính ḿnh giỏi giang hơn người khác, đáng để kiêu ngạo, hỏng bét rồi! Sư nhân duyên thù thắng, gặp gỡ Lục Tổ. Nếu Sư không gặp Lục Tổ, cả một đời chẳng thể khai ngộ, cuối cùng biến thành kiêu căng, ngă mạn. Niệm cả ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa như vậy, thưa quư vị, đời sau chỉ thuộc vào phước báo hữu lậu trong tam giới lục đạo, Sư có thể sanh trong đường trời người hay không? Không chắc! Nếu tâm ngạo mạn rất nặng, sẽ chẳng sanh trong đường trời, người! Nhiều lắm là sanh trong Tu La đạo th́ đă là tột bậc rồi! Hiếu thắng, ngă mạn, xem thường kẻ khác, tự cho ḿnh là đúng, phước báo rất lớn, sanh trong Tu La đạo đă khá lắm rồi! Kẻ ấy thiếu đức hạnh của người, trời. Phước trời nhất định phải là trọn đủ từ, bi, hỷ, xả, tứ vô lượng tâm. Từ kinh điển Đại Tiểu Thừa, chúng ta thấy chư thiên từ Sắc Giới trở lên chẳng ngạo mạn, không có loại phiền năo ấy, tâm địa luôn từ bi; tu từ, bi, hỷ, xả. Mạn chỉ có trong Dục Giới, chứ Sắc Giới và Vô Sắc Giới đều không có.

      Có thể thật sự ĺa khỏi tướng ngôn thuyết, tướng danh tự, tướng tâm duyên, tâm bèn thanh tịnh. Tâm thanh tịnh nghe pháp có thể khai ngộ. Không chỉ nghe kinh có thể khai ngộ, mà thưa cùng quư vị, tâm thật sự thanh tịnh, nghe tiếng gió lùa, nghe lá rụng đều có thể khai ngộ, trong Thiền Tông có rất nhiều trường hợp [giống như vậy]. Chẳng phải là nói nhất định phải tham Thiền th́ mới ḥng khai ngộ! Không nhất định, chỉ cần tâm thanh tịnh sẽ có ngộ xứ. Trong quá khứ, tại Trung Quốc, một số các nhà văn, thi nhân, nghệ thuật gia, khá nhiều người thuận theo linh cảm, tâm địa thanh tịnh, thấy sắc, nghe tiếng trong thiên nhiên bèn đạt được linh cảm. Trong Phật môn, linh cảm được gọi là “ngộ xứ”. Do có chỗ lănh ngộ, nên có thể viết ra văn chương bất hủ, soạn thành nhạc khúc hay thi từ bất hủ, đều do tâm thanh tịnh được cảm vời bởi ngoại vật, đạo lư là như thế đó! Do vậy có thể biết tâm thanh tịnh trọng yếu như thế nào! Hiểu rơ tánh của văn tự là Không, tánh của ngôn thuyết cũng là Không, vậy th́ chúng ta lấy ǵ làm pháp? Nhất định là tâm có sở ngộ, ngộ nhập Pháp Tánh là có pháp, nhập Pháp Tánh là có pháp, nhà Thiền gọi đó là “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”.

      “Đương thị tùy cơ sở kiến, tự bất đồng nhĩ” (phải nên là tùy theo cách nh́n của từng căn cơ mà khác biệt). Phàm phu, Tiểu Thừa, Quyền Giáo chỉ thấy Ứng Thân Phật thuyết pháp; Đại Thừa, Biệt Giáo th́ bậc Địa Thượng Bồ Tát, Viên Giáo th́ từ Sơ Trụ trở lên, thấy Báo Thân Phật thuyết pháp. Nếu là viên đốn Bồ Tát, thưa cùng quư vị, sẽ thấy Pháp Thân cũng thuyết pháp, tuyệt diệu! Pháp Thân thuyết pháp như thế nào? Tây Phương Cực Lạc thế giới hữu t́nh và vô t́nh đều thuyết pháp, đó là Pháp Thân thuyết pháp. V́ thế, trước hết, chúng ta phải liễu giải Pháp Thân là ǵ? Ư nghĩa này rất khó hiểu. Có ai trong chúng ta chẳng có Pháp Thân? Tuy có Pháp Thân, nhưng chúng ta không nhận biết. Tuy có Pháp Thân, nhưng không thừa nhận, chẳng có cách nào cả! “Pháp” là vũ trụ vạn pháp, “Thân” là tự thân, toàn thể vũ trụ là tự thể, ai thừa nhận? Chẳng có ai thừa nhận! Nếu quư vị thừa nhận, quư vị đă là Pháp Thân Bồ Tát rồi.

      Tôi thường dùng chuyện nằm mộng để tỷ dụ chuyện này, chỉ có dùng mộng cảnh để tỷ dụ, lănh ngộ khá dễ dàng, do thời gian nằm mơ ngắn ngủi mà! Mỗi cá nhân đều có kinh nghiệm nằm mộng, mộng do tâm biến hiện. Cái tâm có thể nằm mộng ví như Chân Như bản thể, nó không có tướng, nó là Pháp Thân bản thể. Tuy nó chẳng có tướng, nhưng có thể hiện tướng, tùy duyên hiện tướng. B́nh thường ta không hiểu, chẳng biết tâm có h́nh dạng ra sao? Lúc nằm mơ, nếu quư vị giác ngộ một thoáng, tâm ta giống như ǵ? Toàn thể cảnh trong mộng là Tướng Phần của cái tâm quư vị. H́nh dáng của tâm quư vị trong khi ấy chính là những tướng trạng nơi mộng cảnh. Quư vị thật sự giác ngộ, cảnh trong mộng là h́nh trạng của cái tâm, vậy th́ quư vị hăy xét xem, có thứ ǵ trong mộng cảnh chẳng phải là chính ḿnh? Ngoài tâm chẳng có mộng, ngoài mộng chẳng có tâm! Toàn thể tâm biến thành mộng, toàn bộ giấc mộng là tự tâm của quư vị, là một, chẳng hai! Hễ giác ngộ, toàn thể mộng cảnh vốn là chính ta, điều này giống như quư vị đă chứng Pháp Thân. Quư vị mới biết đều là chính ḿnh! Trong mộng có tự thân của chính ḿnh th́ tự thân ấy là chính ḿnh, mà cả đống người trong mộng vẫn là chính ḿnh. Núi, sông, đại địa trong mộng vẫn là chính ḿnh, chẳng có ǵ không phải là chính ḿnh! Chắc chắn chẳng thể nào có thứ ǵ từ bên ngoài đi vào trong mộng cảnh của quư vị được, không thể nào có chuyện đó! Đều do chính quư vị biến ra!

      Nếu bây giờ quư vị hỏi, Chân Như bổn tánh của chúng ta có h́nh dạng ra sao? Nay chúng ta thấy tận hư không khắp pháp giới, h́nh tướng ấy chính là Tướng Phần của Chân Như bổn tánh. Thế giới này, vũ trụ này, có pháp nào chẳng phải là chính ḿnh? Thảy đều là! Do vậy, chúng sanh đáng thương, chúng sanh điên đảo, vốn là chính ḿnh mà phân chia ta, người, hư vọng phân biệt, khởi phân biệt, chấp trước, tạo đủ mọi nghiệp trong ấy, hứng chịu đủ thứ quả báo, hoàn toàn do chính ḿnh biến hiện! Sau khi đă thật sự giác ngộ, quư vị mới hiểu!

      Người chứng đắc Pháp Thân, mức độ thấp nhất là quyết định không có bốn tướng, “ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng” như kinh Kim Cang đă nói, v́ sao? Người ấy thật sự nhập cảnh giới Hoa Nghiêm, “t́nh dữ vô t́nh, đồng viên chủng trí”. Đó là thật sự chứng đắc Pháp Thân, nói theo người niệm Phật là Lư nhất tâm bất loạn. Khi ấy, kẻ mê tự vạch giới hạn trong đó, c̣n người tự ḿnh đă ngộ, chẳng c̣n vạch giới hạn với người khác, mà là người khác vạch giới hạn đối với người đó. Những kẻ khác vạch giới hạn với người ấy, người ấy bèn có thể tùy thuận giới hạn của chúng sanh, chính ḿnh chắc chắn chẳng có giới hạn. Nói cách khác, chính ḿnh quyết định không có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, không có một vọng niệm nào, có thể tùy thuận sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng của hết thảy chúng sanh, hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức. Công đức ở chỗ nào? Trong tâm của chính ḿnh hiểu rơ!

       Trong kinh Pháp Hoa cũng có một tỷ dụ, tức là tỷ dụ về một vị trưởng giả, con ông ta bỏ trốn từ nhỏ, về sau lớn lên, ăn mày bên ngoài, nghèo khổ khôn cùng! Trưởng giả biết gă ấy là con ḿnh, nhưng gă nghèo ấy thấy vị trưởng giả bèn sợ hăi, chẳng dám nh́n, chẳng dám nhận. Quư vị nói với hắn, hắn chẳng thể tin tưởng. Chính ông trưởng giả hiểu rất rơ. Vị trưởng giả trong kinh Pháp Hoa ví như đức Phật, hoặc ví như hàng đại Bồ Tát đă kiến tánh. Đứa con bỏ trốn ví như lục đạo chúng sanh, hoặc Quyền Giáo, Nhị Thừa, họ chẳng biết vạn pháp trong vũ trụ là một, chẳng hai, chẳng biết hết thảy vạn pháp là chính ḿnh. Khi nào quư vị thật sự hiểu rơ, thật sự giác ngộ, chuyển đổi quan niệm ấy, trong hết thảy các pháp giới, bốn tướng đều chẳng có, bốn kiến cũng không có, quư vị chứng đắc Thanh Tịnh Pháp Thân, sẽ thuộc vào địa vị nào? Quư vị là Pháp Thân đại sĩ, là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo. Hàng Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo khác chúng ta ở chỗ này. Trừ điều đó ra, chẳng có ǵ khác biệt, Ngài cũng mặc quần áo, ăn cơm, đi ra ngoài phải ngồi xe, đều giống hệt, nhưng tư tưởng, kiến giải, quan niệm khác nhau. Điều khác biệt rất lớn so với người b́nh phàm chúng ta là Ngài thật sự chẳng có phiền năo, không có tham, sân, si, ngă mạn, chẳng có tập khí phiền năo! Chúng ta lại xem đoạn tiếp theo.

 

      (Sớ) Sở tích giả, vạn lư bách thành, vị tham tri thức, thê sơn hàng hải, vân lễ đạo tràng. Khởi khả vạn đức Như Lai hiện tại thuyết pháp, mạc nhiên bất cố, cam đọa thành Đông, thị tắc danh vi lân mẫn giả.

  () 所 惜 者,萬 里 百 城,為 參 知 識,梯 山 航 海,云 禮 道 場。豈 可 萬 德 如 來 現 在 說 法,漠 然 不 顧,甘 墮 城 東,是 則 名 為 憐 憫 者。

      (Sớ: Điều đáng tiếc là vượt muôn dặm, trăm thành để tham bái tri thức, trèo non, vượt biển ḥng lễ bái đạo tràng, há đành đối với vạn đức Như Lai hiện đang thuyết pháp lại hờ hững chẳng đoái hoài, cam phận đọa lạc ở phía Đông ṭa thành, nên được gọi là “kẻ đáng thương xót” vậy!)

 

      Trong đoạn này bao hàm rất nhiều điển cố. “Vạn lư bách thành” là nói về sự tham học, muôn dặm t́m thầy, đi qua trăm thành tham phỏng thiện hữu.

 

      (Sao) Vạn lư giả.

      () 萬 里 者。

      (Sao: “Muôn dặm”).

 

      Đây là công án “vạn lư tầm sư” (muôn dặm t́m thầy).

 

      (Sao) Tăng vấn Đại Tùy.

  () 僧 問 大 隨。

      (Sao: Tăng hỏi ngài Đại Tùy).

 

      “Tăng” là người xuất gia, cũng là người đi khắp nơi tham học, hỏi ḥa thượng Đại Tùy.

 

      (Sao) “Kiếp hỏa đỗng nhiên, vị thẩm giá cá hoại bất hoại?” Đáp vân: “Hoại!”

      () 劫 火 洞 然,未 審 這 個 壞 不 壞?答 云:壞。

      (Sao: “Kiếp hỏa cháy rụi, chẳng biết là cái này hoại hay không?” Sư (ngài Đại Tùy) đáp: “Hoại”).

 

      Đây là ǵ? Nói về thân thể này. Kiếp hỏa cháy rụi, thân này có hoại hay không? Hoại!

 

      (Sao) Tăng viết: “Nhẫm ma tắc tùy tha khứ dă”.

      () 僧 曰:恁 麼 則 隨 他 去 也。

      (Sao: Tăng viết: “Như vậy là để tùy ư nó ư”?)

 

      “Nhẫm ma” nói như bây giờ là “như vậy”. Vậy th́ để mặc nó, Hoại th́ sao? Hoại th́ để mặc nó đi!

 

      (Sao) Đáp viết: Tùy tha khứ.

   () 答 曰:隨 他 去。

      (Sao: Sư đáp: “Để mặc nó”).

 

      Ḥa thượng Đại Tùy trả lời: “Để mặc nó”.

 

      (Sao) Tăng nghi bất quyết.

      () 僧 疑 不 決。

      (Sao: Vị Tăng ấy nghi ngờ, không giải quyết được!)

 

      Một hỏi, một đáp, trả lời thật sự chẳng sai, nhưng người hỏi đối với lời đáp bèn hoài nghi. Nói cách khác, lần tham phỏng này chẳng đạt được yếu lănh!

 

      (Sao) Văng hoàn vạn lư, quảng tham tri thức, thỉ đắc đại ngộ.

      () 往 還 萬 里,廣 參 知 識,始 得 大 悟。

      (Sao: Qua lại vạn dặm, tham phỏng rộng khắp tri thức, mới đắc đại ngộ).

 

      Đây là một công án nổi danh trong Thiền Tông Trung Quốc. Trong một ngàn bảy trăm bài công án của sách Ngũ Đăng Hội Nguyên có ghi câu chuyện này. Sau khi người tham học ấy rời ngài Đại Tùy, đến phương Nam gặp ḥa thượng Đầu Tử, vị này cũng là một vị thiền sư đại triệt đại ngộ. Ngài Đầu Tử hỏi vị ấy: “Ông từ chỗ ḥa thượng Đại Tùy đến đây, Tùy ḥa thượng nói với ông điều ǵ?” Vị Tăng ấy bèn nhắc lại đoạn vấn đáp trên đây. Ḥa thượng Đầu Tử sau khi nghe xong bèn hướng về phương Tây lễ bái (v́ ngài Đại Tùy trụ tại Tứ Xuyên), nói: “Tứ Xuyên có cổ Phật xuất thế”. Bảo người xuất gia ấy: “Ông đến gặp tôi làm ǵ? Ngài [Đại Tùy] là bậc lỗi lạc, ông hăy trở về”. Người ấy ra đi, trở về, “vạn lư” là từ ngữ h́nh dung, [trên thực tế] vẫn chưa đến vạn dặm, nhưng vài ngàn dặm th́ có. Nhất là xưa kia chẳng có phương tiện giao thông [thuận tiện như hiện thời], người xuất gia tham học đều là đi bộ. Một lần đi về phải mất mấy tháng, vô cùng vất vả! Nghe lời ngài Đầu Tử, vị Tăng ấy trở về, sau khi trở lại Tứ Xuyên th́ ḥa thượng Đại Tùy đă viên tịch, chẳng c̣n trụ thế nữa! Vị ấy vẫn hoài nghi y như cũ, chẳng thể giải quyết mối nghi t́nh], nghe những vị thiền sư ấy nói không đầu không đuôi, chẳng hiểu các Ngài nói ǵ!

      Sau này, vị Tăng ấy lại tham phỏng thiền sư Long Nha, tŕnh lên Sư những lời vấn đáp trước kia của các vị Đại Tùy và Đầu Tử. Nhà Thiền nói: “Đại nghi ắt đại ngộ, tiểu nghi ắt tiểu ngộ”. Trong tâm có nghi t́nh, nghi t́nh khác với hoài nghi. Hoài nghi là phiền năo, [hoài nghi chính là “nghi” trong Ngũ Độn Sử] tham, sân, si, mạn nghi, v́ sao? Hoài nghi là không tin, c̣n nghi t́nh là tin, tin tưởng lời hai vị ấy nói chắc chắn chẳng sai, nhưng ta không hiểu, chẳng biết các Ngài nói ǵ. Thường ghi nhớ những lời ấy trong ḷng, nhà Thiền gọi chuyện này là “tham thoại đầu”, thường nghĩ đến. Nếu người ấy không tin, căn bản là sẽ chẳng nghĩ đến. Thiền sư Long Nha bảo: “Giống như đại thiên”. Nghe xong câu ấy, vị Tăng bỗng nhiên ngộ nhập, nói: “Nhất cú tùy tha ngữ, thiên sơn tẩu nạp tăng”, [nghĩa là] chỉ có một câu nói “để mặc nó” ấy khiến cho ta phải đi ngàn vạn sơn thủy, khổ gần chết! Trước khi ngộ, vị Tăng ấy hỏi: “Lúc kiếp hỏa cháy rụi, chẳng biết cái này có hoại hay không?” Sau khi ngộ, vị ấy soạn một bài kệ: “Kiếp hỏa quang trung lập vấn đoan” (trong ánh lửa kiếp hỏa, đứng hỏi nguồn cơn), ta nêu ra nghi vấn này, “nạp tăng do trệ lưỡng trùng quan” (ông tăng vẫn bị vướng mắc nơi hai tầng ải), chẳng hiểu thấu, “chỉ nhân nhất cú tùy tha ngữ, vạn lư khu khu độc văng hoàn” (chỉ v́ một câu “để mặc nó” mà một thân mải miết qua lại vạn dặm). Một ḿnh đi khắp nơi tầm sư phỏng đạo, mong giải quyết vấn đề này. Kể ra cũng khá lắm, thật sự giải quyết được vấn đề này, ngộ nhập, đó là cảnh giới minh tâm kiến tánh.

      Ngài Long Nha nói: “Giống như đại thiên”, câu này đă nói xuyên suốt, mộng cảnh đấy! Thảy đều thuộc về mộng cảnh. Nếu quư vị hiểu đều là mộng cảnh, há có sanh diệt? Há có đến, đi? Người ta nói chẳng sai, để mặc nó! Để mặc nó th́ hết thảy đều buông xuống. Trong hết thảy hiện tượng, hết thảy sự vật, chớ nên chấp trước, đừng nên phân biệt. Quư vị có thể thứ ǵ cũng để mặc nó, tâm quư vị thanh tịnh, thản nhiên, tự tại giải thoát lắm! Hết thảy chúng sanh không chịu để mặc nó, nên tự t́m phiền phức, lúc ấy mới khổ năo ngàn muôn, mới có lục đạo luân hồi. Quư vị hết thảy đều có thể để mặc nó, một câu “để mặc nó” chính là “tùy hỷ công đức” được nói trong mười đại nguyện vương, hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức, tự tại ngần nào! Người thật sự ngộ nhập cảnh giới mới hiểu rơ.

 

      (Sao) Bách thành giả, Thiện Tài Nam du bách nhất thập thành, tham ngũ thập tam thiện tri thức, dẫn thử dĩ huống A Di Đà Phật thị tối thượng tri thức dă.

      () 百 城 者,善 財 南 遊 百 一 十 城,參 五 十 三 善 知 識,引 此 以 況 阿 彌 陀 佛 是 最 上 知 識 也。

      (Sao: “Trăm thành”: Thiện Tài đi về phương Nam qua một trăm mười thành, tham bái năm mươi ba vị thiện tri thức, dẫn điều này để sánh ví A Di Đà Phật là bậc tri thức tối thượng).

 

      Trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử tham phỏng năm mươi ba vị thiện tri thức, đi qua tất cả một trăm mười thành thị. “Nam du”: Nam không có nghĩa là phương hướng, mà Nam tượng trưng trí huệ, quang minh. Hễ đại thiện tri thức cư trụ nơi nào, nơi đó có người trí huệ, nơi đó được gọi là “Nam phương”, trọn chẳng phải là nói đến [các phương vị] Đông, Nam, Tây, Bắc, mà [Nam phương] tượng trưng trí huệ. Ở đây, đại sư trích dẫn đoạn công án này, nhằm tỷ dụ A Di Đà Phật là bậc tri thức tối thượng. Quư vị mong tham phỏng thiện tri thức, sao quư vị không tới thế giới Tây Phương? Đây là nói: “Thập phương nhất thiết Như Lai, A Di Đà đệ nhất” (mười phương hết thảy Như Lai, A Di Đà đệ nhất)! Trên thực tế, A Di Đà Phật vượt trỗi hết thảy chư Phật, Ngài chẳng phải là thiện tri thức bậc nhất th́ là ǵ? Đáng tiếc rất nhiều người chẳng nhận biết Ngài. Phải thật sự nhận biết Ngài, phải tham phỏng vị đại thiện tri thức ở Tây Phương này! Cách tham phỏng như thế nào? Ngay lập tức ra đi, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Như thế nào mới có thể ra đi thành công? Ở đây nói, đối với hết thảy mọi thứ trong thế giới này hăy tùy thuận chúng là được, quư vị sẽ đến được Tây Phương Cực Lạc thế giới thành công. Trên thế giới này, nếu thứ ǵ quư vị cũng c̣n so đo, sẽ tạo thành chướng ngại cho việc cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Do vậy, đối với thế giới này, hăy đừng bận tâm, hăy để mặc nó! Chúng sanh có phước cũng thế, mà thiếu phước cũng thế, thảy đều để mặc, chẳng cần phải bận tâm đến!

      Tuy là như vậy, đối với người hữu duyên, chúng ta vẫn giúp họ. Trong Phật môn có một câu nói thông dụng: “Tố nhất thiên ḥa thượng, chàng nhất thiên chung” (làm ḥa thượng một ngày, gơ chuông suốt một ngày). Trọn hết bổn phận, trách nhiệm của chính ḿnh. Bổn phận, trách nhiệm là hoằng dương Tịnh Độ. Giới thiệu pháp môn này với hết thảy chúng sanh, dâng lên hết thảy chúng sanh, chúng sanh nghe rồi, có thể tin, hiểu, hành, tức là duyên của người ấy đă chín muồi. Dẫu cho người ấy chẳng tin, chẳng hiểu, chẳng hành, th́ cũng đă gieo một chủng tử A Di Đà Phật vào A Lại Da Thức của kẻ ấy. Chúng ta có thể làm điều này trong hiện tiền, đó cũng là chuyện chúng ta nên nỗ lực thực hiện trong hiện tại. Đối với chính ḿnh mà nói, công đức viên măn. Công đức viên măn, tâm địa vô cùng sung sướng, niệm niệm viên măn công đức, phải tận tâm tận lực làm chuyện này. Hôm nay đă hết thời gian rồi!

 

Tập 128

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang thứ hai trăm tám mươi mốt:

 

      (Sao) Nhiên cổ chi bạt thiệp, cái vị thân chá thánh hiền, kim nhật bôn tŕ, chi thị dao chiêm ảnh tượng, nhi thả bị kinh hiểm trở, bất đạn cù lao, hà đắc hiện tại từ tôn, xả chi bất văng.

  () 然 古 之 跋 涉,蓋 為 親 炙 聖 賢,今 日 奔 馳,祗 是 遙 瞻 影 像,而 且 備 經 險 阻,不 憚 劬 勞,何 得 現 在 慈 尊,捨 之 不 往。

      (Sao: Nhưng thời cổ bôn ba ngơ hầu thân cận thánh hiền, ngày nay bươn bả chỉ là nh́n ngắm h́nh bóng từ xa, lại c̣n trải qua đủ mọi nỗi hiểm trở, chẳng sợ nhọc nhằn, cớ sao lại bỏ qua, chẳng t́m đến đấng Từ Tôn trong hiện tại?)

 

      Đoạn này tiếp tục nói về sự tham học, trong quá tŕnh tu học, tham học là chuyện vô cùng trọng yếu! Không chỉ người xuất gia phải tham học, mà trước đây kẻ tại gia cầu học cũng phải nhấn mạnh chuyện tầm sư phỏng đạo, chẳng khác ǵ tham học trong Phật môn. V́ sư đạo là tôn kính nhất, đó gọi là “chỉ văn lai học, vị văn văng giáo” (chỉ nghe nói tṛ t́m đến học, chưa nghe nói thầy phải đi đến dạy). Nghe nói chỗ nào có bậc hiền đức, chúng ta nhất định phải tự ḿnh tới đó để hướng về vị ấy thỉnh giáo, chẳng thể tùy tiện mà mời người ấy: “Ông hăy đến chỗ này để dạy chúng tôi”. Đấy là rất khinh suất, chính ḿnh nhất định phải đến tham cứu, bái phỏng. Mục đích tham học của cổ đức đều là như thế, nhằm thân cận thánh hiền.

      Hiện thời xu hướng triều sơn (triều bái danh sơn) rất thịnh hành. Triều sơn là di phong của sự tham học, triều bái thiện tri thức; nhưng hiện thời chúng sanh phước bạc, bậc thánh hiền chẳng c̣n nữa. Tại Đài Loan, khoảng cách giữa mấy đạo tràng đều chẳng xa lắm, triều sơn chỉ cần một, hai ngày là đủ thời gian rồi. Nếu ở Đại Lục, giao thông rất bất tiện! Liên Tŕ đại sư sống vào cuối đời Minh, lăo nhân gia là người thuộc niên hiệu Vạn Lịch, Ngài nói những lời này v́ thuở ấy Phật giáo đă khá suy. Các vị được gọi là Minh Mạt Tứ Đại Sư (bốn vị đại sư vào cuối đời Minh), chính là bốn vị pháp sư Liên Tŕ, Ngẫu Ích, Tử Bách, Hám Sơn đă tái chấn hưng Phật giáo, đấy là nhân duyên hy hữu rất khó có. Thuở ấy, triều sơn đă trở thành hiện tượng như vậy, hiện tại c̣n ǵ để nói nữa đây? C̣n nói ǵ được nữa! Toàn là du lịch ngắm nh́n phong cảnh, ngắm nh́n h́nh tượng, pháp tướng trang nghiêm của Phật, Bồ Tát. Trong quá khứ, người triều sơn quả thật vô cùng nhọc nhằn!

      Chúng ta đọc Hư Vân Lăo Ḥa Thượng Niên Phổ, Ngài triều bái Ngũ Đài Sơn phải mất ba năm mới đến nơi. Tuổi tác cũng đă cao, thân thể cũng chẳng khỏe. Trên đường đi ngă bệnh, có lúc bệnh nặng đến mức gần như không trở dậy được, bệnh t́nh nghiêm trọng như thế ấy. Ngài có hằng tâm nghị lực, đáng khiến cho người khác bội phục. Cuối cùng, Ngài đạt được mục đích, đến tham lễ đạo tràng của Văn Thù Bồ Tát. Trên đường, Ngài bị bệnh nặng, gặp Văn Thù Bồ Tát đến cứu giúp. Lúc ấy, Ngài hoàn toàn chẳng biết đó là Văn Thù Bồ Tát. Văn Thù Bồ Tát hóa thành một người xuất gia nghèo khổ, nhếch nhác, mặc quần áo rách nát, tả tơi, giống như kẻ ăn xin bên ngoài. Mỗi lần Sư ngă bệnh, hoặc khi gặp đại nạn, người ấy đều xuất hiện trước mặt, đến giúp đỡ Sư, chăm sóc Ngài, cho Ngài uống thuốc, măi cho đến khi hết bệnh mới ra đi. Người ấy bảo Ngài: “Tôi ở núi Ngũ Đài, có tên là Văn Cát”. Sau này, Ngài đến núi Ngũ Đài, hỏi ḍ về người ấy, có vị lăo ḥa thượng bảo: “Đó là Văn Thù Bồ Tát hóa thân”, Ngài mới biết!

      Ở đây, Liên Tŕ đại sư khuyên chúng ta, chúng ta tham học là tham lễ thiện tri thức, nay A Di Đà Phật ở Tây Phương là hiện tại Phật, là vị thiện tri thức bậc nhất trong mười phương thế giới, v́ sao quư vị không đến tham phỏng Ngài? Có nghĩa là: V́ sao chẳng cầu văng sanh? V́ sao chẳng đến gặp A Di Đà Phật? Quư vị phải hứng chịu khổ cực nhiều ngần ấy, đi ra ngoài triều sơn bái Phật, đi tham lễ, kết quả là điều ǵ quư vị cũng chẳng đạt được, đúng là đă tốn công triều bái vô ích! Có lúc không chỉ là triều bái suông, mà c̣n đạt hiệu quả trái ngược! Quư vị tham phỏng một vị thiện tri thức, Ngài chỉ dạy quư vị một đường lối. Quư vị tham phỏng hai vị thiện tri thức, bèn được chỉ dạy hai con đường. Quư vị tham phỏng ba bốn vị, sẽ đứng ở ngă tư, chẳng biết phải đi theo đường lối nào mới nên? Vậy là khổ rồi!

      Rốt cuộc chúng ta học điều ǵ mới nên? Liên Tŕ đại sư nêu ra ư nghĩa này, nói thật ra, chẳng khác ǵ thái độ tiếp dẫn học tṛ của pháp sư Ấn Quang, bảo quư vị hăy thật thà niệm Phật, chẳng cần phải chạy Đông rảo Tây, khiến thời gian lẫn tinh lực đều bị lăng phí. Quư vị đă có thời gian và tinh lực như vậy, cớ sao chẳng khéo niệm Phật? Chúng ta phải thấu hiểu điều này, đoạn tiếp theo là nói...

 

      (Sao) Thành Đông lăo mẫu.

      () 城 東 老母。

      (Sao: Một bà cụ ở phía Đông thành).

 

      Công án này nhằm thời Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế.

 

      (Sao) Dữ Phật đồng sanh nhi bất kiến Phật, phi thử chi lưu da?    

      () 與 佛 同 生 而 不 見 佛,非 此 之 流 耶。

      (Sao: Sanh cùng thời đức Phật mà chẳng thấy Phật, chẳng phải là loại người ấy ư?)

 

      Bà cụ ở phía Đông thành sống cùng thời đại đức Phật, cũng ở không xa [tinh xá nơi đức Phật trụ], nhưng vô duyên với Phật, chẳng thích thấy Thích Ca Mâu Ni Phật. Trông thấy Thích Ca Mâu Ni Phật đi đằng trước, bà ta liền quay đầu, đi sang chỗ khác, luôn tránh né, chẳng gặp. Tuy bà ta không muốn thấy Phật, nhưng đức Phật thường hiện ra trước mặt bà. Hiện ra trước mặt, bà ta bèn tránh né. Bà già ấy từ phía Đông đi đến, đức Phật liền hiện tại phía Đông. Bà ta thấy Phật liền ngoảnh mặt, đi về phương Nam. Đức Phật lại hóa một thân khác tại phía Nam để chặn bà ta. Bà ta lại chạy về phía Tây, đức Phật lại hóa thân ở phương Tây, khiến cho bốn phía đều là Phật. Kết quả, bà ta khóc rống lên, lấy tay bưng mặt chẳng nh́n Phật. Kết quả là mỗi đầu ngón tay đều hóa hiện một vị Phật, mười đầu ngón tay là mười tượng Phật. Nghiệp chướng nặng nề dường ấy! Đây là giải thích câu “tự cam đọa lạc, bất nguyện kiến Phật” (tự cam đọa lạc, chẳng mong thấy Phật). “Thị tắc danh vi khả lân mẫn giả” (do vậy, gọi là kẻ đáng thương xót), thật sự đáng thương. Chẳng có duyên với Phật, đích xác là Phật cũng chẳng có cách nào độ bà ta. Bà cụ ở phía Đông ṭa thành cũng là một thí dụ rất hay!

 

      (Sao) Quá vị chi Phật, thế sở nan phùng.

       () 過 未 之 佛,勢 所 難 逢。

      (Sao: Phật quá khứ và vị lai, đương nhiên khó gặp).

 

       “Quá” là quá khứ, “vị” là vị lai. Quá khứ Phật, vị lai Phật, quả thật chúng ta rất khó gặp gỡ!

 

      (Sao) Hiện tại không quá, cố khả lân mẫn.

      () 現 在 空 過,故 可 憐 憫。

      (Sao: Bỏ qua vị Phật hiện tại, nên rất đáng thương xót).

 

      A Di Đà Phật là hiện tại Phật. Nếu quư vị bỏ lỡ hiện tại Phật, thật sự là “kẻ đáng thương xót”! Do vậy, một người thật sự niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, trong mười hai thời, tâm quyết định chớ nên rời khỏi A Di Đà Phật. Phật hiệu chớ nên gián đoạn, miệng có thể gián đoạn, nhưng trong tâm chớ nên gián đoạn. Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: “Ức Phật, niệm Phật, hiện tiền, đương lai, tất định kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật). Ức Phật là trong tâm phải nghĩ tới Phật, chúng ta đọc kinh là nghĩ tới Phật. Đọc chú giải như bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư, hoặc chú giải kinh Vô Lượng Thọ đều là “ức Phật”, trong tâm chúng ta chẳng ĺa Phật. V́ người khác diễn nói cũng là niệm Phật, ta giảng giáo lư Tịnh Độ cho người khác nghe, khuyên người khác tin tưởng, khuyên người khác phát nguyện, thảy đều là niệm Phật. Ắt phải làm như vậy th́ trong mười hai thời, trong tâm chúng ta đích xác chẳng hề rời ĺa A Di Đà Phật. Như vậy th́ trong tâm chúng ta mới chẳng có hoài nghi, mới nắm chắc chúng ta quyết định thành tựu trong một đời này, quyết định chẳng bỏ lỡ một đời này, chẳng có ǵ khẩn yếu bằng chuyện này. Đoạn cuối cùng là xứng lư, tức là bàn luận xứng tánh.

 

      (Sao) Xứng lư, tắc tự tánh thể tự linh tri, thị “kỳ độ hữu Phật” nghĩa; tự tánh tức kim hiển hiện, thị “hiện tại thuyết pháp” nghĩa.

       () 稱 理,則 自 性 體 自 靈 知,是 其 土 有 佛 義;自 性 即 今 顯 現,是 現 在 說 法 義。

      (Sao: Xứng lư th́ Thể của tự tánh vốn linh tri chính là ư nghĩa “cơi ấy có Phật”, tự tánh nay hiển hiện là ư nghĩa “hiện tại thuyết pháp”).

 

      Đây là nói xứng tánh. Tự tánh của chúng ta vốn là linh minh giác tri, cổ đức thường nói “trạm tịch linh minh” để h́nh dung tự tánh của chúng ta. Đó là “kỳ độ hữu Phật” (cơi ấy có Phật), cơi ở đây là cơi Pháp Tánh. Tận hư không, khắp pháp giới, thường nói là “theo chiều ngang trọn khắp mười phương, theo chiều dọc cùng tột ba đời”, nơi nào chẳng có Phật? Có! Nơi đâu cũng đều có, lúc nào cũng hiện diện, đó là tự tánh giác. Bất giác th́ chúng ta sẽ mê mất vị Phật ấy, t́m Phật chẳng ra!

      Tự tánh không mê là ư nghĩa “hiện tại thuyết pháp”. Câu cuối cùng là “tự tánh tức kim hiển hiện” (tự tánh nay bèn hiển hiện), “hiển hiện” là chẳng mê. Hiển hiện bằng cách nào? Trong tác phẩm chú giải kinh Lăng Nghiêm, Giao Quang đại sư đă bảo chúng ta hăy “bỏ Thức dùng Căn” th́ sẽ chẳng mê. Thức là mê, nhưng tánh của Căn chẳng mê. Nếu chúng ta có thể sử dụng tánh của Căn, sẽ chẳng khác ǵ chư Phật, Bồ Tát. Thấy sắc, chúng ta dùng tánh Thấy để thấy, nghe tiếng, chúng ta dùng tánh Nghe để nghe, chẳng giống như phàm phu, Nhị Thừa, Quyền Giáo Bồ Tát, họ dùng Nhăn Thức thấy Sắc Trần, dùng Nhĩ Thức nghe Thanh Trần, đều là mê, chẳng giác. Phật, Bồ Tát khác chúng ta. Phật, Bồ Tát dùng tánh Thấy để thấy Sắc Tánh, minh tâm kiến tánh, dùng tánh Nghe để nghe Thanh Tánh, bên ngoài sẽ chẳng phải là sáu trần, mà là sáu tánh. Điều này gọi là “minh tâm kiến tánh”. Nói rất huyền, không chỉ là chúng ta chẳng có cách nào làm được, mà sợ rằng nghe cũng nghe không hiểu! Chúng tôi nói ư nghĩa này nông cạn hơn một chút để chư vị hiểu đại khái.

      Lúc mắt chúng ta thấy sắc bèn có phân biệt, tâm phân biệt dấy lên, đó là Nhăn Thức, thức thứ sáu là Ư Thức. Đó là thấy bằng Thức, trông thấy Sắc Trần. Trong sự thấy Sắc, dấy lên chấp trước, chấp trước là Mạt Na Thức, Mạt Na Thức chấp trước. Lúc thấy sắc bèn liên tưởng, nghĩ tới quá khứ, nghĩ tới tương lai, suy nghĩ liên tục nối tiếp dấy lên. Đó là cái Thấy do chủng tử trong A Lại Da Thức hiện hành, thấy bằng vọng tưởng, đó là t́nh thức, chẳng phải là tánh. Thấy bằng tánh Thấy là thấy như thế nào? Thấy rơ ràng, minh bạch, trong ấy chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có vọng tưởng. Nói cách khác, ĺa hết thảy phân biệt, chấp trước, vọng tưởng là thấy bằng tánh Thấy. Thấy bằng tánh Thấy, sẽ thấy sắc tánh bên ngoài, tánh là b́nh đẳng, tánh là nhất như. Nếu trong ấy quư vị phân biệt xấu - đẹp th́ trong thức mới có phân chia, trong tánh không có, trong tánh chẳng t́m được tốt - xấu! Tốt - xấu do tâm phân biệt và tâm chấp trước sanh khởi. Ĺa khỏi hết thảy phân biệt, chấp trước, há chỗ nào c̣n có [phân biệt, chấp trước]? Chẳng c̣n nữa!

      Cho nên nh́n bằng tánh Thấy, nghe bằng tánh Nghe, thế gian này sẽ là b́nh đẳng, thế giới đó gọi là Nhất Chân pháp giới. Do vậy, Nhất Chân pháp giới ở chỗ nào? Ở ngay trước mặt. V́ sao quư vị chẳng thấy? V́ quư vị có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, nên quư vị chẳng thấy. Quư vị ĺa khỏi hết thảy phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, cảnh giới hiện tiền là Nhất Chân pháp giới. V́ vậy, Phật, Bồ Tát khác với chúng ta, [các Ngài] vĩnh viễn chẳng có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, chẳng có! Đó là như trong [chú giải] kinh Lăng Nghiêm, pháp sư Giao Quang đă dạy chúng ta “bỏ Thức dùng Căn”. Bỏ hết thảy phân biệt là bỏ thức thứ sáu (Ư Thức). Thức thứ sáu tức Ư Thức phân biệt, thức thứ bảy chấp trước, thức thứ tám là căn nguyên của vọng tưởng.

      Trong phẩm [Như Lai] Xuất Hiện của kinh Hoa Nghiêm, đức Phật cũng nói rơ ràng: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai”. Nói cách khác, hết thảy chúng sanh và Phật giống nhau, b́nh đẳng, chẳng có mảy may sai biệt nào! Trí huệ, thần thông, đạo lực chẳng có thứ ǵ bất b́nh đẳng. “Nhưng do vọng tưởng, chấp trước, nên chẳng thể chứng đắc”, đây là đă nói rơ gốc bệnh của hết thảy chúng sanh. V́ sao quư vị không thể chứng đắc? Do quư vị có vọng tưởng, chấp trước. V́ thế, sau đó, đức Phật có nói: Chỉ cần quư vị có thể ĺa vọng tưởng, chấp trước th́ tự nhiên trí, vô sư trí, trí huệ Bát Nhă thảy đều hiện tiền. Trong cảnh giới, sáu căn tiếp xúc sáu trần là chỗ chúng ta tu hành, v́ sao vẫn muốn khởi phân biệt, chấp trước? Rốt cuộc người giác ngộ đă giác điều ǵ? Giác điều này. Giác rồi khởi tu, sau khi ngộ bèn bắt đầu tu, tu ǵ vậy? Tu sửa những sai lầm trong dĩ văng, từ đó trở đi, thấy sắc, nghe tiếng, sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, chẳng c̣n phân biệt, chấp trước nữa, như vậy th́ sẽ chẳng khác ǵ Phật.

      Trong hết thảy các pháp chẳng có lỗi, mà cũng chẳng có công. Công và lỗi là đối lập. Đă không có lỗi, lấy đâu ra công? Ác đă không có, lấy đâu ra thiện? Hết thảy thiện - ác tương đối thảy đều chẳng c̣n, do tương đối chẳng c̣n, nên mới gọi là Nhất Chân pháp giới. Do vậy, pháp giới chỉ có Nhất Chân. Vừa mới khởi tâm động niệm, Nhất Chân pháp giới liền biến thành đối lập, biến thành tương đối.

 

      (Sao) Chung triêu thị Phật trắc, bất kiến kim dung, cánh nhật tọa pháp diên, vơng văn diệu đạo. Toại sử Ma Vương hỗn ư Phật điện, tà pháp loạn hồ chân tông, đản năng phản chiếu tâm nguyên, Phật pháp nhất thời song túc.

      () 終 朝 侍 佛 側,不 見 金 容,竟 日 坐 法 筵,罔 聞 妙 道。遂 使 魔 王 混 於 佛 殿,邪 法 亂 乎 真 宗,但 能 返 照 心 源,佛 法 一 時 雙 足。

      (Sao: Trọn ngày chầu hầu bên Phật, chẳng thấy kim dung; suốt ngày ngồi nơi giảng ṭa, chẳng nghe đạo mầu, khiến cho Ma Vương trà trộn Phật điện, tà pháp rối loạn chân tông. Chỉ cần phản chiếu nguồn tâm, Phật và pháp sẽ cùng lúc trọn đủ).

 

      Đoạn này giải thích vô cùng hay. “Chung triêu thị Phật trắc” (trọn ngày chầu hầu bên Phật), đây là tỷ dụ, như tôn giả A Nan là thị giả của Thích Ca Mâu Ni Phật, suốt ngày từ sáng đến tối chẳng rời khỏi Phật Đà. Trong tỷ dụ này, Phật là ǵ? Là Chân Như bổn tánh của chính ḿnh, chúng ta có lúc nào ĺa khỏi Chân Như bổn tánh? C̣n thân thiết hơn ngài A Nan hầu Phật, chẳng có phút, giây, hay sát-na nào rời ĺa! Trước nay chưa hề rời ĺa, mang ư nghĩa này. “Bất kiến kim dung” (chẳng thấy dung mạo vàng ṛng), tức là quư vị chưa ngộ! V́ sao quư vị chẳng thấy tánh? “Cánh nhật tọa pháp diên, vơng văn diệu đạo” (Suốt ngày ngồi nơi giảng ṭa, chẳng nghe đạo mầu): “Cánh nhật” là suốt ngày, “pháp diên” là giảng ṭa, mỗi ngày đều nghe giảng trong giảng đường vẫn chẳng khai ngộ, tức là có mắt như mù, có tai như điếc, chẳng thấy, chẳng nghe. Chẳng thấy, chẳng nghe tức là quư vị chưa thể ngộ nhập tâm tánh, chưa thể minh tâm kiến tánh. V́ sao chẳng kiến tánh? Nếu dùng pháp môn Niệm Phật [để nói], sẽ rất đơn giản: Chưa thể đắc nhất tâm! Quư vị chưa thể đắc nhất tâm [nên chưa kiến tánh]. Hễ đắc nhất tâm sẽ thấy Phật, đắc nhất tâm bèn nghe diệu đạo, bèn ngộ đạo.

      Nguyên nhân ấy là như chúng tôi vừa mới nói, chúng ta nh́n, nhưng chẳng thể thấy, nghe mà chẳng thể nghe. V́ sao? Thấy th́ chúng ta dùng Nhăn Thức để thấy, dùng thức thứ sáu tức Ư Thức và thức thứ bảy để thấy, vĩnh viễn chẳng thấy “kim dung”. Nghe th́ chúng ta dùng Nhĩ Thức để nghe, dùng thức thứ sáu tức Ư Thức và thức thứ bảy để nghe; do vậy, vĩnh viễn chẳng khai ngộ. Mắc khuyết điểm ở chỗ này! Trong Khởi Tín Luận và kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đều dạy chúng ta như thế này: Phải “ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng danh tự, ĺa tướng tâm duyên”. Thấy như vậy, nghe như thế, chẳng khác ǵ Phật, Bồ Tát! Ĺa ngôn thuyết, ĺa danh tự, ĺa tâm duyên, tâm duyên là vọng tưởng, tức là trong tâm phan duyên (nắm níu), liên tưởng, những thứ ấy đều tách ĺa. Nói cách khác, chẳng khác ǵ “bỏ Thức dùng Căn” như Giao Quang đại sư đă nói, quư vị hoàn toàn tương đồng! Nhưng chúng ta biết, tuy biết mà chẳng làm được, v́ thế, vẫn là vô dụng! Biết là “giải ngộ”, làm được là “chứng ngộ”, như vậy th́ mới hữu dụng. Giải ngộ vô dụng, ắt phải là chứng ngộ th́ mới có thể thật sự làm được.

      Hai câu kế đó nói về trạng huống hiện tại của chúng ta. “Toại sử Ma Vương hỗn ư Phật điện” (khiến cho Ma Vương trà trộn nơi Phật điện), Ma Vương là ǵ? Ma phiền năo tham, sân, si, mạn, Ngũ Ấm ma, sanh tử ma, đó là Ma Vương. Ma Vương lén chiếm Phật điện. Trạng huống hiện tiền của chúng ta là như thế, chẳng phải là Phật nắm quyền, mà là ma nắm quyền. V́ “vơng văn diệu đạo” (chẳng nghe diệu đạo), nên “tà pháp loạn hồ chân tông” (tà pháp rối loạn chân tông), “tà pháp” là tà tri tà kiến. Tà tri tà kiến là ǵ? Chỉ cần quư vị có tư tưởng, có kiến giải, thảy đều gọi là tà tri tà kiến. Nếu chúng ta hỏi: Phật có tư tưởng hay không? Có kiến giải hay không? Thưa với quư vị, Phật không có. [Nghe nói như vậy, quư vị bèn bắt bẻ]: Đức Phật nói các pháp, nói kinh điển nhiều ngần ấy, chẳng phải là có rất nhiều tư tưởng, kiến giải trong ấy hay sao? Quư vị đọc kinh Kim Cang, [sẽ thấy] đức Phật chẳng thuyết pháp, Ngài phủ nhận hết thảy. Nếu kẻ nào nói Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, kẻ đó được gọi là “báng Phật”! Đức Phật chẳng thuyết pháp. Lời này là thật, chẳng giả. Do vậy, sự thuyết pháp của đức Phật thường được nói là “chẳng nói mà nói, nói nhưng chẳng nói” quư vị phải hiểu ư nghĩa này.

      V́ sao là “chẳng nói”? V́ Phật không có tư tưởng, chẳng có kiến giải, đối với bất cứ vấn đề ǵ, Phật đều không có cách nh́n [riêng biệt]. Quư vị nh́n như thế nào, Ngài nh́n như thế ấy, Phật chẳng có cách nh́n [của riêng ḿnh]. Tâm Phật thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần, há Phật có pháp? Há có pháp để có thể nói? Ma mới có pháp để có thể nói, Phật chẳng có pháp nào để có thể nói. Chẳng có pháp? V́ sao thuyết pháp nhiều dường ấy? Đức Phật v́ chúng sanh tháo khằn, cởi trói[2]. Nói cách khác, giống như thầy thuốc chữa bệnh, thấy kẻ này có bệnh, được rồi! Tôi kê một toa thuốc, cho quư vị một ít thuốc, quư vị uống vào bèn khỏi bệnh. Đă khỏi bệnh th́ thuốc cũng chẳng c̣n! Người khỏe mạnh há dùng thuốc? Người bệnh mới dùng thuốc! Người khỏe mạnh chẳng dùng thuốc. Đức Phật tùy thuận chúng sanh, kê toa cho những kẻ bị bệnh, Phật có phải dùng thuốc hay không? Chẳng có!

      Nói cho quư vị biết phương pháp này, quư vị nghe xong, đă ngộ, quư vị cũng chẳng có chuyện ǵ, mà Phật cũng chẳng có chuyện ǵ! Nếu quư vị chưa ngộ, chuyện của quư vị chẳng giải quyết, nhưng Phật vẫn chẳng có chuyện ǵ! Đức Phật quyết định chẳng nói: “Quư vị chưa xong th́ ta vẫn c̣n có chuyện này nọ”. Chẳng có! Phật vẫn là chẳng có chuyện ǵ. Từ đầu đến cuối, Phật đều chẳng có chuyện ǵ. V́ thế, Phật chẳng có pháp nào để có thể nói, xác thực là như thế! Chính v́ như thế, nên người nghe kinh chúng ta phải biết nghe, biết nghe là nghe như thế nào? “Thính nhi vô thính, vô thính nhi thính” (nghe mà chẳng nghe, chẳng nghe mà nghe) th́ mới có thể tiến nhập. Chúng ta có nghe, hỏng rồi! Có nghe sẽ ra sao? Rơi vào trong Ư Thức, rơi vào tri kiến. Hễ có nghe bèn tăng trưởng tà tri tà kiến. Vậy th́ được rồi, tôi chẳng nghe ǵ hết, tức là “vô thính”. “Vô thính” như thế cũng không được! Vô thính bèn đọa trong vô minh, tăng trưởng vô minh. Đây là chỗ khó khăn trong Phật pháp!

      Thiên Thai đại sư giảng Tam Đế Tam Quán, tức là “tức Không, tức Giả, tức Trung”. Tam Đế Tam Quán đồng thời, chẳng có trước, sau, nên mới có thể tương ứng với chân tướng sự lư của tâm tánh. Chuyện này vô cùng khó khăn! Kẻ b́nh phàm chúng ta luôn tách Không, Giả, Trung thành ba chuyện, chẳng coi chúng là một chuyện. Hơn nữa, c̣n luôn coi chúng gồm ba giai đoạn, chẳng biết chúng là đồng thời. Do vậy, chẳng dễ dàng khế nhập, nguyên nhân là ở chỗ này. Trong cuộc sống, đối với đức Phật, Không, Giả, Trung như nhau, diệu là diệu ở chỗ này! Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, trong hết thảy thời, hết thảy chỗ đều là tức Không, tức Giả, tức Trung. Nói Không là nói theo Thể, như Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết pháp, nói mà chẳng nói, chẳng nói là Không, nói là Giả, giả hữu, chân không (Có là giả, Không là thật). Không và Có đồng thời, nói và chẳng nói là một, chẳng hai. Phàm phu chúng ta nghĩ “có nói” chẳng phải là “không nói”, “không nói” bèn chẳng phải là “có nói”, biến Có và Không thành hai điều đối lập, chẳng biết Có và Không chẳng phải là đối lập, Có và Không đồng thời, Có và Không là một Thể, đó là Trung Đạo. Đúng như kinh Hoa Nghiêm đă nói “Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”. Vô ngại là Trung Đạo, hữu ngại chẳng phải là Trung Đạo, v́ nó có chướng ngại. Do vậy, hết thảy các pháp đều không có chướng ngại.

      Nếu chúng ta nhập từ chỗ này, sẽ có thể tiến nhập, sẽ có thể thấu hiểu. Do đó, chúng ta mới đạt được Chân Như bổn tánh, Pháp Thân lư thể, nhất tâm bất loạn. Nếu chẳng hiểu chân lư này, không biết phương pháp này, chúng ta muốn nhập cảnh giới này, rất khó! V́ thế, “nói mà chẳng nói, chẳng nói mà nói”, “nghe mà chẳng nghe, chẳng nghe mà nghe” là một nguyên tắc rất cao. Nếu hiểu rơ nguyên tắc này, vận dụng vào sáu căn, áp dụng vào cuộc sống hằng ngày, thấy mà chẳng thấy, chẳng thấy mà thấy, tiếp xúc mà chẳng tiếp xúc, chẳng tiếp xúc mà tiếp xúc th́ sẽ không ǵ chẳng tự tại! Đó là thật sự giải thoát, chân thật tự tại. Tâm địa quyết định thanh tịnh, chẳng có vướng mắc, tâm và cảnh giống nhau! Vừa mới có phân biệt, chấp trước, bèn rơi vào tà kiến, rơi vào vô minh.

       “Tà pháp loạn hồ chân tông” (tà pháp rối loạn chân tông), chữ “tà pháp” trọn chẳng phải là nói về các pháp ở ngoài Phật giáo. Nếu quư vị chẳng hiểu ư nghĩa này, tất cả hết thảy kinh điển đều gọi tà pháp! Thí dụ như niệm Phật, chúng ta niệm Phật chưa thể đạt đến tâm địa thanh tịnh, nói cách khác, chưa thể niệm đến mức độ công phu thành phiến th́ chúng ta niệm Phật cũng gọi tà pháp. Nếu niệm Phật là chánh pháp, quư vị nhất định phải niệm đến mức công phu thành phiến, niệm đến nhất tâm bất loạn, đi vào khuôn khổ, nhất định có thể đạt đến mục tiêu ấy. Quư vị niệm Phật vài chục năm, chẳng đạt tới mục tiêu ấy, nhất định là đă lạc lối mất rồi! Do vậy, [nói tới] Phật pháp th́ Pháp có nghĩa là “quỹ tŕ”, giống như “quỹ đạo”. Xe lửa chạy trên quỹ đạo (đường rầy). Chỉ cần nó đừng trật đường rầy, chúng ta biết xe lửa lái từ nơi đây, mấy giờ, mấy phút sau sẽ nhất định đến trạm kế tiếp. Quư vị lái xe ở đây, lái bao nhiêu năm, chẳng đến trạm kế tiếp, điều này đúng là có vấn đề, vấn đề to lớn. Chắc chắn là đă trật quỹ đạo rồi. Do vậy, chắc chắn là tà pháp, chẳng phải là chánh pháp. Chư vị nhất định phải hiểu rơ đạo lư này. Các pháp môn khác đều nói “minh tâm kiến tánh”, nếu quư vị chưa thể minh tâm kiến tánh th́ sẽ là tà pháp. Trong pháp môn Niệm Phật th́ nói văng sanh Tịnh Độ; nếu quư vị chưa văng sanh th́ cũng là tà pháp, chẳng phải là chánh pháp. Tà và chánh phân định theo cách như vậy.

      Do đó, mục tiêu thứ nhất của niệm Phật là niệm đến mức tâm chúng ta thanh tịnh, trong “mười hai thời” là suốt ngày từ sáng đến tối, trong tâm niệm Phật chẳng ngừng, “chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, chẳng hoài nghi”, thật sự làm được chín chữ ấy, đó là công phu thành phiến, đới nghiệp văng sanh, quyết định văng sanh. Trong công phu thành phiến cũng có ba bậc, chín phẩm. Ba phẩm thượng không chỉ biết trước lúc mất, mà c̣n sanh tử tự tại, muốn đi lúc nào th́ đi lúc đó, muốn trụ thêm mấy năm cũng chẳng trở ngại ǵ, sanh tử tự tại! Công phu thành phiến bèn có thể sanh tử tự tại. Nhất tâm bất loạn th́ càng chẳng cần phải nói nữa. Từ đó (công phu thành phiến) lại nâng cao hơn sẽ là nhất tâm bất loạn. Trong nhất tâm bất loạn có Sự nhất tâm, Sự nhất tâm bất loạn là đoạn Kiến Tư phiền năo. Nếu nói theo công phu tu chứng th́ bằng với A La Hán, Bích Chi Phật. Tiểu Thừa sau khi tu thành Tu Đà Hoàn phải qua lại trong nhân gian hoặc cơi trời bảy lần mới có thể chứng quả A La Hán. Người niệm Phật chúng ta có thể chứng đắc trong một đời, hàng Tiểu Thừa chẳng thể sánh bằng. Do vậy, pháp môn này là đại pháp viên đốn. Công phu vẫn không phải chỉ là như vậy, mà c̣n nâng cao hơn một tầng là Lư nhất tâm bất loạn. Lư nhất tâm là phá một phẩm vô minh, thấy một phần chân tánh, ở đây nói là quư vị thấy “kim dung”, nghe “diệu đạo”. Nếu không, sẽ là “Ma Vương hỗn ư Phật điện, tà pháp loạn hồ chân tông” (Ma Vương trà trộn trong điện Phật, tà pháp rối loạn chân tông), nhất định là hiện tượng này. Hàng phàm phu, Nhị Thừa, Quyền Giáo Bồ Tát đều có hiện tượng như vậy.

      Hai câu tiếp đó dạy chúng ta cách đối trị như thế nào. Bất luận tà ma nhiễu loạn như thế nào, tâm tánh và chánh pháp của chúng ta quyết định chẳng bị dao động. Nếu nó thật sự bị nhiễu loạn, dao động, sẽ chẳng gọi là Chân Như hay bổn tánh. Chẳng động! Đại sư dạy chúng ta “đản năng phản chiếu tâm nguyên” (chỉ nên phản chiếu nguồn tâm), “phản chiếu” là hồi quang phản chiếu, quư vị chịu quay đầu. Đó là phương pháp! Phương pháp này tuyệt diệu! Đặc biệt là kẻ sơ học hăy nên hiểu, nên biết sử dụng. Phương pháp này thường được nói là “quay đầu là bờ”, quay ǵ vậy? Quay tâm niệm lại, tức là xoay chuyển ư niệm. Hữu niệm th́ niệm ấy bèn hướng ra ngoài rong ruổi, rong ruổi bên ngoài là phan duyên. Quay đầu là thâu hồi ư niệm ấy, đó là “quay đầu”. Tam Quy Y mang ư nghĩa này: Quy y Phật, từ mê quay về nương theo giác. Hễ quay lại bèn giác. Tà, quay trở lại bèn là chánh; nhiễm, quay trở lại bèn là thanh tịnh, tức là quư vị có thể hồi quang phản chiếu hay không!

      Chiếu theo tâm nguyên của quư vị, tâm nguyên là bổn tánh. Chân Như bổn tánh là như Lục Tổ đă nói: “Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi trần”. Vốn chẳng có một vật, cũng là lúc một niệm chẳng sanh. Một niệm chẳng sanh, hiểu rơ ràng, rành rẽ bên ngoài, đó là “tâm nguyên”. Nếu một niệm chẳng sanh, nhưng thứ ǵ bên ngoài đều chẳng hay biết, đó là vô minh, chẳng phải là tâm nguyên. Một niệm chẳng sanh, thứ ǵ bên ngoài cũng đều biết rơ ràng, thứ ǵ cũng đều hiểu rơ; không chỉ hiểu rơ chuyện trước mắt, mà quá khứ, tương lai thảy đều hiểu rơ, đó là tự tánh giác. Chúng ta muốn phản chiếu, nhưng phản chiếu chẳng được, chẳng thể phản chiếu, làm thế nào đây? Thưa cùng quư vị, pháp môn này tuyệt diệu, thù thắng, quả thật chẳng giống những pháp môn khác. V́ sao? Dễ dàng! Các pháp môn khác khó khăn. Pháp môn này hồi quang phản chiếu tức là quư vị ngay lập tức quay trở lại nghĩ đến một câu A Di Đà Phật, [như vậy là đă] quay về rồi!

      Khi sáu căn của chúng ta tiếp xúc sáu trần, dấy lên tham, sân, si, mạn, đó là mê, tà, nhiễm. Trong khi ấy, bỗng nhiên một niệm giác ngộ, niệm một tiếng A Di Đà Phật bèn là quay về, phản chiếu. Cổ đức bảo: Chúng ta khởi tâm niệm một câu A Di Đà Phật th́ niệm ấy là Thỉ Giác, tức là bắt đầu giác ngộ. Câu A Di Đà Phật được niệm chính là tâm nguyên, là Bổn Giác của chúng ta. Thỉ Giác và Bổn Giác là một, chẳng hai, được gọi là Cứu Cánh Giác. Bản thân năng niệm (cái tâm niệm Phật) và sở niệm A Di Đà Phật (đức Phật A Di Đà được niệm) cũng chẳng tách rời, trong ấy chẳng có giới hạn. V́ thế, xác thực là Pháp Tánh, là bản thể, là tâm nguyên. Trong pháp môn Niệm Phật, điều này dễ hiểu, dễ làm. Nói cách khác, ngay trong lúc chúng ta khởi tâm động niệm chính là cửa ải trọng yếu, có thể lập tức giác ngộ, lập tức chuyển niệm ấy thành A Di Đà Phật, như vậy là được rồi, đó chính là “phản chiếu tâm nguyên”.

      Khi ấy “Phật pháp nhất thời song túc” (Phật và pháp đồng thời trọn đủ). “Phật” là đại trí đại giác, “Pháp” là chánh tri chánh kiến. Đại trí đại giác và chánh tri chánh kiến đồng thời hiện tiền. Hai thứ ấy đều cùng viên măn, trọn đủ. Ở đây toàn là nói về tâm niệm của chúng ta, đừng để tâm niệm chạy rong bên ngoài. Đại Thế Chí Bồ Tát bảo: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” chính là chú giải câu “phản chiếu tâm nguyên”. Chúng ta nhiếp trọn sáu căn, chẳng để cho sáu căn rong ruổi, phan duyên theo cảnh giới sáu trần bên ngoài, thâu hồi chúng, thâu tóm tất cả trong một câu Phật hiệu là được rồi!

 

      Nhị, biệt thích. Sơ y báo, nhị chánh báo.

      Sơ, tổng minh Cực Lạc

      (Kinh) Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc. Cố danh Cực Lạc.

      二、別 釋。初 依 報,二 正 報。

  初、總 明 極 樂。   

  () 舍 利 弗。彼 土 何 故 名 為 極 樂。其 國 眾 生。無 有 眾 苦。但 受 諸 樂。故 名 極 樂。

      (Hai, giải thích riêng biệt, một là y báo, hai là chánh báo.

      Trước tiên, giảng tổng quát về [danh xưng] Cực Lạc.

      Kinh: Này Xá Lợi Phất! Cơi ấy v́ sao tên là Cực Lạc? Chúng sanh trong cơi ấy chẳng có các nỗi khổ, chỉ hưởng niềm vui, nên [cơi ấy] tên là Cực Lạc).

 

      Đoạn này trước hết giới thiệu tổng quát thế giới Cực Lạc. Chúng ta xem lời chú giải:

 

      (Sớ) Tiên thích y giả, thuận thượng văn cố, diệc linh chúng sanh sanh hân nhạo cố. Khổ giả, bức năo chi nghĩa, vi Tứ Đế thủ.

  () 先 釋 依 者,順 上 文 故,亦 令 眾 生 生 忻 樂 故。苦 者,逼 惱 之 義,為 四 諦 首。

      (Sớ: Trước hết, giải thích về y báo là thuận theo [thứ tự] trong đoạn văn trước, mà cũng nhằm làm cho chúng sanh sanh trưởng ḷng ưa thích. Khổ có nghĩa là bức năo, đứng đầu trong Tứ Đế).

 

      Y báo là hoàn cảnh, chánh báo là bản thân chúng ta. Đây là kiến thức Phật học thông thường, là thuật ngữ Phật giáo, chúng ta phải hiểu ư nghĩa chánh xác. Hễ nói đến chánh báo tức là nói đến một ḿnh ta, một cái thân thể của ta. Người khác sẽ được gọi là y báo của ta, chẳng phải là chánh báo. Y báo là hoàn cảnh sống của chúng ta, trong hoàn cảnh sống có hoàn cảnh nhân sự và hoàn cảnh vật chất. Nói cách khác, người khác thuộc vào hoàn cảnh sống của chúng ta, chẳng phải là bản thân ta! Ngàn vạn phần đừng nên nghĩ chánh báo đại khái là hữu t́nh chúng sanh! Cách nh́n ấy, cách hiểu đó, ư nghĩ ấy đă trật mất rồi! Từ ngữ “chánh báo” chỉ là một ḿnh ta. Trước hết, nói về y báo và chánh báo trang nghiêm. Đầu tiên nói đến hoàn cảnh trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong hoàn cảnh bao gồm hoàn cảnh vật chất và hoàn cảnh nhân sự.

       “Linh chúng sanh sanh hân nhạo cố” (khiến cho chúng sanh sanh tâm vui thích), khiến cho chúng sanh hoan hỷ, yêu chuộng. Trước tiên nói đến y báo, rồi mới giới thiệu chánh báo. Thế giới ấy chẳng có các nỗi khổ, chỉ có vui, không khổ, chỉ hưởng những niềm vui. Khổ có nghĩa là bức bách, áo năo. Trong pháp Tứ Đế, tức Khổ, Tập, Diệt, Đạo, Khổ xếp hàng đầu.

 

      (Sớ) Chúng khổ giả, chư kinh luận khai hữu tam khổ, bát khổ, thập khổ, bách nhất thập khổ.

      () 眾 苦 者,諸 經 論 開 有 三 苦、八 苦、十 苦、百 一 十 苦。

      (Sớ: “Các khổ”: Các kinh luận giảng rộng ra th́ có ba khổ, tám khổ, mười khổ, một trăm mười nỗi khổ).

 

      Đây là cách giảng “khai hợp” khác nhau. “Khai” là nói triển khai, nói cặn kẽ. “Hợp” là quy nạp lại, nói giản lược.

 

      (Sớ) Hựu ước nhị chủng sanh tử.

  () 又 約 二 種 生 死。

      (Sớ: Lại nữa, nói ước lược th́ có hai thứ là sanh và tử).

     

      Sanh tử là nỗi khổ to lớn. Trong các nỗi khổ, chẳng có ǵ khổ hơn sanh tử. Phật pháp nói có hai loại sanh tử, một loại là Biến Dịch sanh tử, loại kia là Phần Đoạn sanh tử.

     

      (Sớ) Tắc biến dịch diệc khổ.

      () 則 變 易 亦 苦。

      (Sớ: Biến Dịch [sanh tử] cũng khổ).

 

      Không chỉ Phần Đoạn là khổ, mà Biến Dịch sanh tử cũng khổ. Dưới đây có giải thích:

 

      (Sớ) Huống kỳ dư giả, dĩ khổ sự phi nhất, cố viết “chúng khổ” dă.

       () 況 其 餘 者,以 苦 事 非 一,故 曰 眾 苦 也。

      (Sớ: Huống hồ các thứ khác. Do chuyện khổ chẳng phải chỉ là một, nên nói là “các khổ”).

 

      Chuyện khổ quá nhiều, chẳng phải chỉ là một chuyện, nên gọi là “chúng khổ”. Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có [những sự khổ ấy]. Những chuyện khổ mà quư vị có thể chỉ ra, nghĩ đến, trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đều chẳng có. Không chỉ là chẳng có những chuyện ấy, mà tên gọi của chúng cũng chẳng nghe tới. Chỉ hưởng các sự vui, sự vui cũng rất nhiều, cũng chẳng phải chỉ là một điều!

 

      (Sớ) Chư lạc giả, như kinh sở trần nhị chủng thanh tịnh trang nghiêm. Diệc dĩ lạc sự phi nhất, cố viết “chư lạc” dă. Cực Lạc giả, dĩ chư quốc khổ lạc hữu kỳ tứ chủng: Hữu khổ đa lạc thiểu giả, hữu khổ lạc tương bán giả, hữu khổ thiểu lạc đa giả, hữu vô khổ thuần lạc giả, kim đương đệ tứ cố.

      () 諸 樂 者,如 經 所 陳 二 種 清 淨 莊 嚴。亦 以 樂 事 非 一,故 曰 諸 樂 也。極 樂 者,以 諸 國 苦 樂 有 其 四 種:有 苦 多 樂 少 者,有 苦 樂 相 半 者,有 苦 少 樂 多 者,有 無 苦 純 樂 者,今 當 第 四 故。

     (Sớ: “Chư lạc”: Như kinh đă nêu bày hai thứ thanh tịnh trang nghiêm. Cũng do chuyện vui chẳng phải chỉ có một nên nói là “chư lạc”. Cực Lạc: Do các cơi nước khổ vui gồm bốn loại, có cơi khổ nhiều vui ít, có cơi khổ vui ngang ngửa, có cơi khổ ít vui nhiều, có cơi chẳng có khổ, thuần là vui. Nay Cực Lạc thuộc loại thứ tư).

 

      Đây là nói tới các thế giới của chư Phật. Đại đa số các thế giới của chư Phật chẳng khác thế giới Sa Bà cho mấy. Thế giới Sa Bà là khổ vui xen lẫn, hoặc có thể nói là “khổ nhiều, vui ít”, là một thế giới như vậy.

 

      (Sao) Tứ Đế giả, Khổ, Tập, Diệt, Đạo, Khổ cư tối tiên.

      () 四 諦 者,苦 集 滅 道,苦 居 最 先。

      (Sao: Tứ Đế là Khổ, Tập, Diệt, Đạo, Khổ đứng trước tiên).

 

      Pháp Tứ Đế là hai tầng nhân quả ba đời. Khổ và Tập là nhân quả thế gian, Diệt và Đạo là nhân quả xuất thế gian. Chúng ta nhất định phải hiểu đức Phật thuyết pháp luôn nói quả trước rồi mới nói tới nhân, v́ [nói tới] quả chúng ta liền hiểu, ấn tượng khắc sâu nhất, vừa nói liền lập tức cảm nhận. Nay chúng ta trong thế gian này chỉ hứng chịu khổ, chẳng vui sướng. Phải giác ngộ điều này! Nếu quư vị nghĩ trong thế gian này hăy c̣n có vui, như vậy là quư vị mê hoặc, điên đảo, chẳng giác ngộ. Người thật sự giác ngộ hiểu thế gian này là khổ. Không chỉ loài người chúng ta khổ sở, mà lục đạo đều khổ. Trước mắt dường như vẫn sống khá lắm, c̣n tự tại lắm, nhưng trong thực tế là ǵ? Sự khổ tạm thời ngưng dứt chốc lát, quư vị cảm thấy vui là do khổ tạm dừng, trọn chẳng phải là ngưng dứt vĩnh cửu, chẳng c̣n khổ nữa, chẳng phải vậy! Thí dụ như chúng ta hiện thời cảm thấy rất tự tại, ta ăn no, ăn ngon lắm, ăn rất thoải mái, nhưng có thể duy tŕ bao lâu? Mấy tiếng đồng hồ. Trong mấy tiếng đồng hồ ấy, quư vị chẳng cảm thấy khổ. Sau mấy tiếng đồng hồ ấy, quư vị chẳng ăn tiếp một bữa nữa sẽ bị khổ liền, khổ v́ đói. Mỗi cá nhân đều có bệnh, bệnh ǵ vậy? Bệnh đói! Ba bữa cơm là ba bữa thuốc, Phật pháp gọi chúng là “dược thạch”. Quư vị một bữa chẳng ăn, bệnh đói liền phát tác, hai bữa chẳng ăn, bệnh t́nh nghiêm trọng, ba bữa chẳng ăn, bệnh càng nặng nề! Quư vị hăy suy nghĩ kỹ lưỡng, có ai chẳng khổ? Không có ai chẳng khổ! V́ thế, chúng ta phải tự ḿnh giác ngộ, thế gian này thật sự là khổ.

      Nhất là có sanh ắt có tử, mỗi cá nhân không thể tránh được sanh, lăo, bệnh, tử. Lăo khổ, bệnh khổ, quư vị có thể tránh khỏi hay chăng? Có những người xem sanh tử rất nhạt, chết cũng chẳng bận ḷng, kể như khá lắm, có thể thấy thông suốt rồi! Nhưng sau đấy c̣n có nỗi khổ luân hồi, quư vị chết là hết chuyện ư? Nếu chết là hết chuyện th́ cũng được lắm! Vậy th́ chúng ta chẳng cần phải học Phật, chết là hết mà! Trên thực tế th́ sao? Chết chẳng phải là hết! Rắc rối ở chỗ này! Trong kinh Địa Tạng có nói, trong bốn mươi chín ngày sau khi chết, lại đầu thai. Tuyệt đại đa số chẳng lâu hơn bốn mươi chín ngày. Bốn mươi chín ngày đầu thai th́ đầu thai trong đường nào? Chẳng biết! Không biết, nghiệp lực dắt quư vị đi. Ba thiện đạo, ba ác đạo, [đầu thai trong đường nào không biết]. Quư vị phải hiểu rơ chân tướng này, hết thảy chúng sanh trong lục đạo gọi là “sanh tử b́ lao” (sống chết nhọc nhằn), chẳng ngưng dứt, khổ quá! Chẳng phải là khi chúng ta chết, phiền năo sẽ được giải quyết. Chẳng có cách nào hết! Vĩnh viễn chẳng thể giải quyết. Đời đời kiếp kiếp chẳng có cách nào giải quyết.

      Khổ do đâu mà có? Tập. Tập là phiền năo, tức cái nhân, tham, sân, si, mạn, khởi Hoặc, tạo nghiệp, nên quư vị mới có quả báo. Khổ và Tập là nhân quả thế gian, Khổ là quả, Tập là nhân. Diệt và Đạo là nhân quả xuất thế gian, Diệt là quả. Tiếng Phạn gọi Diệt là Niết Bàn, Niết Bàn dịch sang nghĩa tiếng Hán là Diệt, diệt ǵ vậy? Diệt sanh tử, diệt phiền năo, diệt vô minh, diệt tà kiến. Phật và các vị đại Bồ Tát đắc quả báo ấy, quả báo ấy do đâu mà đạt được? Phải tu Đạo. Đạo là nhân. Nương theo các lư luận và phương pháp do Phật Đà đă dạy, chúng ta phải nghiêm túc thực hiện. Tuy Khổ, Tập, Diệt, Đạo là pháp Tiểu Thừa, nhưng nó thông với Đại Thừa, là giáo nghĩa căn bản trong Phật pháp. Các học giả tông Thiên Thai đă phối hợp pháp Tứ Đế với bốn giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên. Khổ, Tập, Diệt, Đạo trong Tạng Giáo là Tiểu Thừa; Khổ, Tập, Diệt, Đạo của Thông Giáo, Biệt Giáo và Viên Giáo là pháp Đại Thừa thuần túy. Do vậy, [Tứ Đế] trọn chẳng phải là pháp riêng biệt của Tiểu Thừa.

 

      (Sao) Tri Khổ, năi đoạn Tập, tu Đạo, chứng Diệt dă.

      () 知 苦,乃 斷 集 修 道 證 滅 也。

      (Sao: Biết Khổ là đoạn Tập, tu Đạo, chứng Diệt).

 

      Nhất định là trước hết phải “tri Khổ” (biết Khổ). Chúng ta biết cái quả khổ th́ mới thật sự phát tâm đoạn cái nhân của sự Khổ. Đức Phật dạy chúng ta tŕ giới, tŕ giới là đoạn khổ nhân. Giết, trộm, dâm, dối, uống rượu là khổ nhân lớn nhất, là căn bản của sanh tử luân hồi. Giới luật nhà Phật chẳng phải là cố ư bó buộc chúng ta, khiến chúng ta nghe rồi sợ hăi, chẳng tự do, chẳng được tự tại, chẳng phải vậy! Giới luật nhằm làm cho quư vị thật sự liễu giải, nếu chẳng ngưng dứt những thứ ấy, sẽ chẳng có cách nào miễn trừ khổ quả, tự làm tự chịu! Quư vị thật sự dẹp trừ chúng từ trong tâm, tâm quư vị bèn thanh tịnh. Chẳng sát sanh, chẳng trộm cắp, chẳng tà dâm, chẳng nói dối, chẳng uống rượu, làm khá lắm, nhưng tâm địa chẳng thanh tịnh, có tác dụng hay không? Vô dụng! Vẫn chẳng tránh khỏi sanh tử luân hồi. Quư vị mới hiểu v́ sao hàng Tiểu Thừa chẳng bằng Đại Thừa Bồ Tát? Nguyên nhân là do Tiểu Thừa tu giới nơi mặt Sự, tức là trên mặt sự tướng. Hàng Tiểu Thừa luận sự, chẳng luận tâm. Trong tâm khởi vọng niệm, họ chẳng màng đến, giống như pháp luật trong thế gian. Pháp luật thế gian luận sự, chẳng luận tâm. Tâm ta nghĩ muốn giết ai đó, nhưng ta chưa giết kẻ ấy, quyết định chẳng phạm pháp! Quư vị thật sự giết kẻ ấy th́ mới bị phán tội, chịu phạt, đấy là luận sự, chẳng luận tâm. Đại Thừa Bồ Tát giới luận tâm, bất luận sự, nên Bồ Tát giới khó khăn!

      Bồ Tát giới kết tội từ nơi khởi tâm động niệm, chẳng kết tội nơi hành tŕ, nên khó khăn! Trong các vị cổ đức, vị rất quen thuộc đối với đại chúng là Đạo Tuyên Luật Sư núi Chung Nam vào đời Đường, Ngài tŕ giới Tiểu Thừa. Khuy Cơ đại sư hành tŕ rất tùy tiện. Trong mắt Đạo Tuyên luật sư, [ngài Khuy Cơ] chẳng phải là kẻ tŕ giới, nhưng người ta (tức ngài Khuy Cơ) tŕ tâm địa giới, khác hẳn! Quả báo khác nhau. Lúc Đạo Tuyên luật sư thấy Khuy Cơ đại sư đến [thăm viếng], rất muốn khoe khoang một chút cho Sư thấy, v́ Ngài tự nghĩ chính ḿnh giới hạnh rất lỗi lạc. Ư niệm ấy là sai mất rồi, thiếu tâm cung kính, dấy tâm ngạo mạn. [Ngài Đạo Tuyên] biết ngài Khuy Cơ học vấn khá lắm, nhưng thiếu đức hạnh, cảm thấy Sư chẳng coi trọng giới luật, thiếu đức hạnh, chính ḿnh giới hạnh tinh nghiêm cảm động chư thiên đến cúng dường. Ngài mỗi ngày ăn một bữa giữa Ngọ, bữa ăn ấy do một vị trời dâng cúng. Ngài rất muốn khoe khoang trước mặt pháp sư Khuy Cơ một chút: “Ông thấy đó, chư thiên đến cúng dường ta”. Nào ngờ hôm ấy chẳng có vị trời nào dâng cúng. Ngày hôm sau, Ngài hỏi vị trời ấy: “V́ sao hôm qua ông chẳng đến cúng dường?” Vị trời ấy trả lời: “Ngày hôm qua có bậc Đại Thừa Bồ Tát trên núi này, khắp núi toàn là thần hộ pháp hộ vệ, chẳng dám tiến vào”. Đạo Tuyên luật sư nghe xong, ḿnh mẩy đẫm mồ hôi, thật sự sám hối, biết chính ḿnh sai quấy. Do vậy [chuyện này] chứng tỏ giới Đại Thừa và giới Tiểu Thừa khác nhau. Giới Đại Thừa khó khăn, rất ư là khó, tâm địa thật sự thanh tịnh, quang minh.

      Ở đây, chúng ta phải giác ngộ, nói thật ra, giới Đại Thừa kẻ sơ học chẳng thể làm được, mà người b́nh phàm cũng chẳng thể làm được! Do vậy, chúng ta nhất định phải thực hiện trên mặt sự tướng. Từ Ngũ Giới, Thập Thiện, thực hiện từ chỗ này. Có thể tu tập tốt đẹp Ngũ Giới, Thập Thiện, tôi cảm thấy coi như đă khá lắm rồi. C̣n như Sa Di giới, tỳ-kheo giới, Bồ Tát giới đều là có cái tên mà thôi! Trên thực tế, làm không được! Chính chúng ta phải hiểu rơ, đừng tự gạt ḿnh, đó là thật sự chẳng vọng ngữ! Chính ḿnh lừa gạt chính ḿnh, c̣n nói ǵ đến giới luật nữa? Điều ǵ cũng chẳng cần phải bàn đến nữa! V́ thế, đầu tiên là học chẳng dối gạt chính ḿnh.

      Chúng ta thật thà thực hiện Ngũ Giới, có thể niệm tốt đẹp một câu Phật hiệu, niệm đến mức tâm ta thanh tịnh, thành tựu Niệm Phật tam-muội. Đắc Niệm Phật tam-muội, giới luật của quư vị viên măn, v́ sao? Có Định Cộng Giới. Tất cả giới luật đều nhằm giúp quư vị đắc Định. Nay quư vị đă đắc Định, đă đạt được, thảy đều trọn đủ, nên có Định Cộng Giới. Có thể niệm đến Lư nhất tâm bất loạn, bèn có Đạo Cộng Giới. V́ thế, chỉ cần niệm đến mức công phu thành phiến, quư vị trọn đủ giới luật. Một thiên Niệm Phật Khai Thị của Ngẫu Ích đại sư nói như thế, chẳng phải là giả, mà là thật. Do vậy, niệm tốt đẹp một câu Phật hiệu, sẽ như Liên Tŕ đại sư đă nói: “Viên nhiếp ngũ tông, cai la bát giáo” (nhiếp trọn năm tông, bao trùm tám giáo). Năm tông là [năm pháp phái trong] Thiền Tông, tám giáo là hóa nghi tứ giáo và hóa pháp tứ giáo, bao gồm trọn vẹn Phật pháp. Niệm tốt đẹp một câu Phật hiệu này, nghiêm túc tu Ngũ Giới, Thập Thiện Nghiệp Đạo, đó là chuyện rất quan trọng, phải tận tâm tận lực thực hiện. Ngày hôm nay chúng tôi giảng tới chỗ này.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 64 hết



[1] Tiên thiên (先天) là những ǵ do bẩm sinh, được thừa hưởng từ cha mẹ (Trung Y c̣n dùng từ ngữ “thai nguyên” (胎元) để chỉ điều này), c̣n hậu thiên (後天) là những ǵ đạt được do quá tŕnh nuôi dưỡng, bồi bổ, tập luyện.

[2] Nguyên văn “giải niêm khử phược”. Thuở xưa viết thư, nhằm bảo đảm người chuyển thư không lén xem thư, người viết thường dán lại bằng sáp rồi đóng dấu lên. Đó gọi là Niêm (, ta thường gọi là “dấu khằn”).