A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 65
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Giảo duyệt:
Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong
Tập
129
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang hai trăm tám mươi ba:
(Sao) Tam Khổ giả, nhất, Khổ
Khổ, vị thọ hữu lậu thân, dĩ danh vi Khổ,
cánh gia chủng chủng bức năo, tắc khổ nhi
phục khổ dă, thị vi Dục Giới Khổ.
(鈔) 三 苦 者,一、苦 苦,謂
受 有 漏 身,已 名 為 苦,更
加 種 種 逼 惱 則 苦 而 復
苦 也,是 為 欲 界 苦。
(Sao: Ba khổ là: Một, Khổ
Khổ, ư nói mang thân hữu lậu nên gọi là Khổ,
lại c̣n thêm đủ mọi thứ bức bách, năo hại,
nên đă khổ lại càng thêm khổ. Đó là nỗi
khổ trong Dục Giới).
Giải thích Khổ, Tập, Diệt,
Đạo trong Tứ Đế, trước hết nói về
Tam Khổ. Đức Thế Tôn quy nạp khổ báo trong tam
giới thành ba loại lớn. Trong Dục Giới, ba thứ
khổ ấy đều có, tức là Khổ Khổ, Hoại
Khổ và Hành Khổ, ba loại khổ này đều trọn
đủ. Cách giải thích này rất đơn giản,
nhưng hết sức ngắn gọn. Chúng ta nhận quả
báo trong tam giới, đương nhiên trọng yếu nhất
là thân thể, thân thể này là “hữu
lậu thân”, Lậu (漏) là ǵ? Đây
là một thuật ngữ trong Phật học, nó là tên gọi
khác của phiền năo. Nói cách khác, quư vị có thân bèn có
phiền năo, có thân thể bèn có đau khổ. Đạo
gia Lăo Trang của Trung Quốc đă hiểu đến tŕnh
độ này nên nói: “Ngô hữu
đại hoạn, vị ngô hữu thân” (ta có mối lo
âu lớn v́ ta có thân). Ta có nỗi lo âu lớn nhất là ǵ?
Có thân thể! Có thân thể bèn có ưu hoạn. Có thể
thấy khi Phật giáo chưa truyền đến Trung
Quốc, cổ thánh tiên hiền Trung Quốc cũng nhận
biết vấn đề này. “Lậu”
là tỷ dụ, thí dụ như một chén trà. Nếu cái
chén này hư nứt, đem nó đựng nước sẽ
bị ṛ rỉ mất. Đức Phật sánh ví thân thể
như một thứ pháp khí chẳng toàn vẹn, dẫu chúng
ta hằng ngày tu công tích đức đều bị rỉ
mất!
Trong kinh, đức Phật
thường nói “hỏa thiêu
công đức lâm” (đốt trụi rừng công
đức), mọi người phải nhớ điều
này: Quư vị vừa nổi nóng, công đức liền cháy
sạch. Do vậy, quư vị phải nghĩ rốt cuộc
ta tu tập, tích lũy bao nhiêu công đức? Quư vị phải
suy tính từ lúc ta chẳng nổi nóng cho đến hiện
tại. Nếu trong một sát-na lâm chung, quư vị vẫn nổi
nóng một trận th́ chuyện ǵ cũng coi như xong, đă
thiêu sạch rừng công đức! Do vậy, người
tu hành sợ sân khuể nhất, như thường nói: “Nhất niệm sân tâm khởi, bách
vạn chướng môn khai” (một niệm sân tâm dấy,
trăm vạn cửa chướng mở), tất cả
hết thảy chướng ngại đều cùng kéo đến,
nghiệp chướng đều hiện tiền; nhưng
có mấy ai có thể chẳng nổi nóng? Nh́n từ chỗ
này, như thường nói “người
niệm Phật nhiều, kẻ văng sanh ít” là v́ lẽ nào?
Hễ nổi nóng là không được rồi, sẽ trở
thành chướng ngại. Do vậy, người niệm Phật
sau khi thật sự giác ngộ, đối với hết
thảy những người và sự trên thế gian này đều
để mặc, tốt cũng được, xấu cũng
xong, dẫu như thế nào cũng đều chẳng liên
can đến ta. Ta khuyên nhủ họ, họ nghe lời th́
ta khuyên. Họ không nghe th́ thôi, chẳng cần phải quan
tâm đến nữa, phải giữ ǵn sự thanh tịnh
nơi thân tâm của chính ḿnh. Kinh thường nói “tích công lũy đức”, công
đức ấy mới có thể tích lũy.
Trong quá khứ, tôi có một người
bạn. Ông ta tuổi trẻ đă bị bệnh phổi,
chẳng thể tức giận. Hễ nổi nóng, căn bệnh
ấy sẽ phát ra. V́ thế, suốt đời ông ta giữ
cho tâm ḿnh chẳng nóng giận, v́ sao? “Ta chẳng có sức nóng
giận”. Đến cuối cùng, chuyện ấy quả thật
rất hữu ích cho sự tu hành của ông ta. Về sau, ông
ta học Phật. Tuy ông ta mất sớm, nhưng lúc chết
cũng chẳng rất đơn giản. Ông ta thân mang bệnh
nặng, tự ḿnh ngồi xe bus đến bệnh viện
Vinh Dân vào pḥng cấp cứu. Sau khi ghi danh xin nằm pḥng cấp
cứu, vào pḥng cấp cứu chưa đầy nửa giờ
bèn mất, tỉnh táo, sáng suốt, đó là chuyện hết
sức chẳng dễ dàng
Do vậy, nói cách khác, đối
với cái thân này, hễ có cảm t́nh th́ cảm t́nh là
phiền năo, là hữu lậu, rất khổ! Nói cách khác, chẳng
có cách nào tích lũy công đức, khá là khổ sở. Lại
c̣n thêm “chủng chủng
bức năo”, “chủng
chủng bức năo” (các thứ bức bách, khổ năo) là
nói tám thứ khổ trong phần sau. Nếu nói chi tiết,
Khổ Khổ gồm tám loại lớn: Sanh, lăo, bệnh,
tử, ái biệt ly (yêu thương mà phải chia ĺa), oán
tăng hội (oán ghét mà phải gặp gỡ), cầu
không được, Ngũ Ấm lừng lẫy. Có thể
nói là đối với tám loại lớn này, mỗi chúng
sanh trong Dục Giới đều phải hứng chịu,
chẳng ai có thể trốn tránh. Đây là loại thứ
nhất, là sự khổ trong Dục Giới.
(Sao) Nhị, Hoại Khổ,
vị đương lạc hoại thời, bất
thắng ưu năo dă, thị vi Sắc Giới Khổ.
(鈔) 二、壞 苦,謂
當 樂 壞 時,不 勝 憂 惱 也,是
為 色 界 苦。
(Sao: Hai là Hoại Khổ, ư nói
trong lúc vui sướng mà bị hư hoại bèn ưu năo
khôn xiết, đó là nỗi khổ trong Sắc Giới).
Trong Dục Giới tuy cũng
có sáu tầng trời, phước trời cũng rất
lớn, thọ mạng cũng khá dài, nhưng chỉ cần
ở trong Dục Giới sẽ chẳng thể tránh khỏi
tám nỗi khổ ấy. Đến Sắc Giới Thiên, nói
cách khác, nếu kẻ ấy chẳng có một chút công
đức, sẽ chẳng đến được Sắc
Giới Thiên. Chúng ta thấy kinh luận Đại Thừa
nói: Trong Kiến Tư phiền năo của chư thiên Sắc
Giới và Vô Sắc Giới chẳng có sân khuể, điều
này đáng để cho chúng ta phản tỉnh thật sâu!
Nếu quư vị có tâm sân khuể, dẫu quư vị tu tập
tốt đẹp cách mấy, chẳng thể đến Sắc
Giới Thiên. Sắc Giới Thiên mà c̣n chưa đến được,
huống ǵ những nơi khác? Nói cách khác, đạo
nghiệp của quư vị không thể thành tựu. Do
vậy, có thể biết, phiền năo sân khuể thật sự
vô cùng nặng nề, nhất định phải ngăn ngừa,
dứt trừ. Sanh vào Sắc Giới phải cậy vào
Thiền Định, Tứ Thiền, Bát Định, bốn
thứ Thiền Định từ Sơ Thiền, Nhị Thiền,
Tam Thiền, đến Tứ Thiền. Tu Thiền
Định thành công xong lại phải tu Tứ Vô
Lượng Tâm, tức Từ, Bi, Hỷ, Xả th́ mới
có thể sanh vào mười tám tầng trời thuộc Sắc
Giới. Mười tám tầng ấy cũng tùy thuộc công
phu của mỗi cá nhân, tùy thuộc công phu Thiền Định
của quư vị. Do Tứ Vô Lượng Tâm cạn hay sâu sẽ
sanh lên các tầng trời khác nhau. Chư thiên Sắc Giới
chẳng có tám khổ, họ hóa sanh, nên chẳng có sanh, lăo,
bệnh, tử, cũng chẳng có cầu bất đắc,
oán tăng hội, ái biệt ly, chẳng có những thứ
ấy, nên rất tự tại. Tuy rất tự tại, nhưng
thọ mạng vẫn có hạn. Khi hết tuổi thọ,
vẫn phải chết, vẫn phải đọa lạc.
Khi ấy, họ cảm thấy khổ sở. Lúc b́nh
thường, họ chẳng cảm thấy, đến
khi công phu định lực mất đi, lúc sắp đọa
lạc xuống dưới, lúc đó sẽ bắt đầu
cảm thấy rất khổ. Đó là Hoại Khổ.
(Sao) Tam, Hành Khổ, thử
khổ xử trung, tức bất khổ, bất lạc, niệm
niệm thiên lưu dă, thị vi Vô Sắc Giới Khổ.
(鈔) 三、行 苦,此 苦 處 中,即
不 苦 不 樂,念 念 遷 流 也,是
為 無 色 界 苦。
(Sao: Ba là Hành Khổ, ở trong
loại khổ này, sẽ chẳng khổ, chẳng vui,
nhưng niệm niệm đổi dời, là nỗi
khổ trong Vô Sắc Giới).
“Bất
khổ, bất lạc”: Đối với ba thứ khổ,
đem phối hợp với ba thứ cảm nhận để
nói, Khổ Khổ ứng với Khổ Thọ, Hoại Khổ
ứng với Lạc Thọ mà sanh ra, c̣n Hành Khổ tương
ứng với chẳng khổ, chẳng vui. Chẳng khổ,
chẳng vui tốt lắm, cái tâm b́nh lặng, an tĩnh, hết
sức tốt đẹp, v́ sao người ấy cảm
thấy khổ? Do cảnh giới ấy chẳng thể vĩnh
viễn duy tŕ, sẽ dần dần bị mất đi. V́
vậy, kẻ ấy cảm thấy đau khổ.
(Sao) Hựu, Dục Giới cụ
tam.
(鈔) 又 欲 界 具 三。
(Sao: Lại nữa, Dục
Giới có đủ cả ba).
Trong Dục Giới, cả ba thứ
khổ đều có.
(Sao) Sắc kiêm hậu nhị.
(鈔) 色 兼 後 二。
(Sao: Sắc Giới có hai
thứ sau).
Sắc Giới có Hoại
Khổ và Hành Khổ; Vô Sắc Giới chỉ có Hành
Khổ, kể cả Hoại Khổ cũng chẳng có, v́
sao? V́ họ chẳng có thân.
Đối với Khổ Khổ,
chúng tôi nêu một thí dụ đơn giản, sanh, lăo, bệnh,
tử, ái biệt ly, oán tăng hội, nào ngờ oan gia đối
đầu ở cùng một chỗ, chẳng có cách nào cả,
sống trong cùng một nhà, chẳng tách ĺa được,
chán ghét mà cứ phải gặp gỡ! Cầu chẳng được,
Ngũ Ấm lừng lẫy, đó là những khổ báo hết
sức thô thiển, rơ ràng. Đối với Hoại
Khổ, chúng tôi nêu một tỷ dụ, giống như nay đang
làm quan, được thăng chức, hỷ sự ùa vào
cửa, vui sướng lắm! Đến ngày nào đó ngă
ngựa, khổ lắm! Hễ mất chức tước,
cửa nhà liền quạnh quẽ[1],
thân thích, bằng hữu nào cũng đều chẳng đặt
chân đến. Có thể thấy thói đời bạc bẽo,
kẻ ấy lập tức cảm nhận khi thăng chức
và khi ngă ngựa hoàn toàn khác hẳn nhau! Hoại Khổ đấy!
Đối với Hành Khổ,
thí dụ rơ rệt nhất là chúng ta không thể giữ măi
tuổi thanh xuân. Mỗi người đều muốn mỗi
năm đều là mười tám, nhưng đâu có được!
Già th́ chẳng phải là mỗi mười năm mỗi
già, chẳng phải vậy! Cũng chẳng phải là mỗi
năm mỗi già, mà là mỗi ngày một già hơn, chẳng
có cách nào cả, ai ḥng giữ măi [tuổi xuân]! Nói thực
tại, mọi người phải giác ngộ điều
này, đời người trên thế giới chẳng có ư
nghĩa ǵ. Từ ngày quư vị được sanh ra, chỉ
có một mục tiêu, một phương hướng, đi
tới đâu? Tiến đến mộ phần! Mỗi ngày
đều tinh tấn, chẳng chịu chừa một phút,
một giây nào, chẳng chịu ngừng nghỉ tí nào! Quư
vị nghĩ xem có ư nghĩa ǵ hay không? Tuy người thế
gian nói ba điều “bất hủ” (không hư nát) là lập
công, lập đức, lập ngôn, nhưng nói theo Phật pháp,
những điều ấy đều là hư vọng, v́ sao?
Thế giới có Thành, Trụ, Hoại, Không, thứ ǵ cũng
chẳng giữ lại được! Đúng như kinh
luận đă nói: “Vạn ban
tương bất khứ, duy hữu nghiệp tùy thân”
(muôn thứ chẳng mang được, chỉ có nghiệp
theo thân). Cần ǵ phải tạo tội nghiệp? Cái quư
vị có thể mang theo được là quư vị tạo
một ít thiện quả. Tạo thiện nghiệp sẽ
có thiện báo, tạo ác nghiệp ắt có ác báo, quyết
định chẳng thể tránh được. Người
thật sự giác ngộ hiểu rơ. Đức Phật dạy:
“Thân người khó
được, Phật pháp khó nghe”, được thân người
chẳng dễ dàng. Được làm thân người
đáng quư nhất là nghe Phật pháp. Phật pháp giảng rơ
ràng cho chúng ta biết chân tướng của vũ trụ
và nhân sinh. Đă hiểu rơ chân tướng, chúng ta sẽ biết
cách nên làm như thế nào, sống cuộc đời trước
mắt ra sao, xử sự, đăi người, tiếp
vật như thế nào? Đă hiểu rơ, từ nay trở
đi quyết định chẳng tạo ác nghiệp.
Trong Phật pháp, pháp thù
thắng bậc nhất là niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ, pháp môn này quá thù thắng! Rất đáng tiếc
là quá ít người biết đến pháp môn thù thắng
hy hữu như vậy. Không chỉ người thế
gian chẳng biết, mà người tu Phật pháp đă lâu,
những vị đại đức xuất gia lẫn tại
gia thật sự hiểu rơ cũng chẳng nhiều! Cổ
nhân thấy sự tướng này đều hết
sức cảm thán! Liên Tŕ đại sư nhọc nhằn
viết một bộ chú giải kinh Di Đà vĩ đại
như vậy, nhằm mục đích khuyên chúng ta hăy nên tin
tưởng pháp môn này, y chiếu pháp môn này để tu
học, có công huân không ǵ lớn hơn đối với Tịnh
Độ giáo. Nhưng Liên Tŕ đại sư là người
sống vào cuối đời Minh, văn tự [trong tác phẩm
này viết bằng] thể văn Văn Ngôn, người hiện
thời chẳng đọc văn chương Văn Ngôn nữa,
điều này rất đáng tiếc!
Trong tương lai, thể văn
Văn Ngôn dần dần thất truyền, đó là nỗi
bất hạnh cho toàn thể dân
tộc. Tôi cảm thấy tổ tiên lưu lại di
sản lớn nhất, kho báu phong phú nhất là văn
chương Văn Ngôn, bất cứ dân tộc nào thuộc
quốc gia nào trên toàn thế giới đều chẳng có
điều này. Phát minh này thật sự lỗi lạc! Tổ
tiên biết ngôn ngữ, văn tự sẽ biến
đổi theo thời đại, nếu muốn lưu
truyền trí huệ và kiến thức của người
đương thời cho người đời sau làm tham
khảo, dùng phương pháp ǵ mới có thể bảo
tồn, khiến cho người đời sau đọc đến
sẽ giống như đối diện đàm thoại, nên
mới sáng chế thể văn Văn Ngôn. Ngôn ngữ có
thể biến đổi theo thời đại, nhưng
thể văn Văn Ngôn vĩnh viễn chẳng thay
đổi.
Ngày nay, chúng ta đọc sách của
Khổng Tử, giống như bạn bè viết thư cho
nhau. Tuy đọc sách vở đă lâu hơn hai ngàn năm,
vẫn giống như đối diện tṛ chuyện, chẳng
đến nỗi hiểu sai ư nghĩa, đó là chỗ tuyệt
diệu của thể văn Văn Ngôn. Chúng ta xem cổ
văn của các quốc gia khác, xem những văn tự từ
hai ngàn năm trước, đều phải cần đến
những nhà khảo cổ học và chuyên viên th́ mới có
thể đọc hiểu, chẳng tiện lợi nhiều
bề như người Trung Quốc. Đó là tổ tiên người
Trung Quốc đă nghĩ thật chu đáo cho con cháu đời
sau, cả thế giới chẳng có chuyện này! Nếu
ngày nay chúng ta vứt bỏ thể văn Văn Ngôn, há chẳng
có lỗi với tổ tiên? Đối với tư
tưởng, kiến giải, và trí huệ trong mấy ngàn
năm của các bậc thánh hiền, nếu chúng ta có
thể thông đạt thể văn Văn Ngôn, kho báu ấy
sẽ thuộc về bản thân chúng ta, quả thật sẽ
tăng trưởng học vấn và kiến thức.
Nói thật ra, tu học thể
văn Văn Ngôn chẳng có bí quyết ǵ, từ xưa
tới nay chỉ có một phương pháp là học thuộc
ḷng. Trong quá khứ, thầy Lư dạy học tại Đài
Trung, lăo nhân gia bảo chúng tôi: “Các
anh có thể học thuộc năm mươi bài trong
bộ Cổ Văn Quán Chỉ, sẽ có khả năng đọc
được văn chương Văn Ngôn. Có thể
đọc thuộc ḷng một trăm bài Văn Ngôn, sẽ
có thể viết bằng Văn Ngôn”. Có thể thấy từ
xưa tới nay, Tiểu Học của Trung Quốc dạy
ǵ? Học thuộc sách. Lợi ích của việc thuộc
sách là ở chỗ này, tạo lập cơ sở về thể
văn Văn Ngôn. Thời đầu Dân Quốc, trẻ nhỏ
mười một, mười hai tuổi viết văn
chương Văn Ngôn đều viết hết sức trôi
chảy. Hiện thời sinh viên đại học khoa Hán văn
viết không nổi!
Tôi nhớ có một lần trong
khóa Đại Chuyên Giảng Ṭa, tôi photopcopy bài văn mẫu
của học tṛ Tiểu Học thời đầu Dân Quốc
thành mấy bản dán ở nơi ấy cho các sinh viên đại
học xem. V́ sao chúng nó viết khá như thế? Do học
thuộc cổ văn rất nhiều! Con người hiện
thời chẳng chịu học thuộc sách, hễ nghe nói
phải học thuộc sách bèn nhức đầu! Chẳng
có cách nào, nhất định phải học thuộc sách.
Hiện thời, chúng tôi cổ vũ, khích lệ các đồng
tu học Phật phải xem trọng văn chương Văn
Ngôn. V́ sao? Tất cả kinh điển đều viết
bằng văn chương Văn Ngôn. Nếu chúng ta lười
nhác, chẳng muốn đọc văn chương Văn
Ngôn, mà đọc những kinh điển được dịch
sang Bạch Thoại của người hiện thời th́
những bản kinh điển dịch sang Bạch Thoại
ấy sai sót trăm bề, tuyệt đối chẳng
phải là ư nghĩa gốc. V́ thế, quư vị muốn thật
sự đạt được lợi ích từ Phật
pháp, chính ḿnh phải cần đến công cụ này.
Chúng ta có phải học thuộc
ḷng cổ văn hay không? Tôi cảm thấy chẳng cần.
Kinh điển đều là cổ văn, học thuộc
kinh điển là được rồi. Nhất là kinh Vô Lượng
Thọ, phân lượng chẳng dài, chẳng ngắn, tất
cả chỉ có bốn mươi tám thiên, tức bốn
mươi tám chương, thầy Lư định tiêu
chuẩn là năm mươi bài [cổ văn], kinh này có bốn
mươi tám thiên, hết sức gần gũi. Có thể
học thuộc ḷng kinh Vô Lượng Thọ từ
đầu đến cuối, quư vị sẽ chẳng có
vấn đề ǵ đối với thể văn Văn
Ngôn. V́ văn tự trong kinh Vô Lượng Thọ là Hán
văn tiêu chuẩn, kinh được phiên dịch từ
thời đại Hán - Đường. Học văn
chương Văn Ngôn lẫn học kinh đều
được, lại c̣n là kinh bậc nhất trong các kinh
Phật, công đức lợi ích thật sự chẳng
thể nghĩ bàn. Điều này rất đáng chú ư,
phải tận lực tuyên dương, phổ biến
khuyên dạy hết thảy mọi người, nhất là
đối với kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta
phải gắng sức lưu thông. Tiếp theo đây là nói
về Tây Phương Cực Lạc thế giới:
(Sao) Nhi bỉ quốc ly dục thanh
tịnh, tắc vô Khổ Khổ.
(鈔) 而 彼 國 離
欲 清 淨,則 無 苦 苦。
(Sao: Nhưng cơi kia ly dục
thanh tịnh, nên không có Khổ Khổ).
Nói về Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Trong thế giới Tây Phương
chẳng có tám thứ khổ được kể trong Khổ
Khổ. Thế giới Tây Phương là liên hoa hóa sanh, chẳng
có Sanh Khổ. Người trong thế giới Tây
Phương ai nấy đều là thân thanh hư, thể vô
cực, nên chẳng có Lăo Khổ. Người nơi ấy
chẳng già, dung mạo vĩnh viễn chẳng thay đổi.
Chúng ta thật sự mong trường sanh bất lăo, hăy cầu
về Tây Phương Tịnh Độ.
Trong Phật môn, Tịnh
Độ Tông có một vị đại đức là ngài Đàm
Loan, sống vào thời Bắc Ngụy[2],
vốn là một đạo sĩ, theo đuổi thuật
trường sanh bất lăo. Có một hôm Ngài gặp một
vị pháp sư Ấn Độ đến Trung Quốc
hoằng dương Phật pháp, bèn hỏi Sư: “Trong Phật
môn có phương pháp trường sanh bất lăo hay không?” Sư
đáp: “Nếu mong thật sự trường sanh bất
lăo, chỉ Phật môn mới có! Cơi trời tuy
trường thọ, dẫu thọ mạng rất dài, đến
cuối cùng vẫn phải chết! Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Xứ Thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp, hết
tám vạn đại kiếp th́ sao? Có thể thấy trọn
chẳng phải là trường sanh bất lăo thật
sự. Thật sự trường sanh bất lăo th́ Tây
Phương Cực Lạc thế giới là vô
lượng thọ”. Vị này thiện căn hết
sức sâu dầy, sau khi nghe xong, bèn lập tức tiếp nhận,
bỏ Đạo Giáo, quy y Tịnh Độ, chuyên tu pháp
môn Tịnh Độ. Ngài có soạn An Lạc Tập và Văng
Sanh Luận Chú, người đời sau tôn xưng Ngài là
Thần Loan. Đây là một vị thật sự tu
trường sanh bất lăo, thật sự đạt được.
Bởi lẽ, trong thế giới ấy chẳng có sanh,
lăo, bệnh, tử.
Thế giới ấy là một
pháp giới b́nh đẳng, chẳng có ái biệt ly, mà cũng
chẳng có oán tăng hội. Chúng ta đọc kinh phải
lưu ư những chỗ như thế này. Trong thế gian này,
chúng ta thấy người này đáng ưa, kẻ kia đáng
ghét, tâm thái ấy chớ nên có, v́ sao? Chướng ngại quư
vị văng sanh Tịnh Độ. Quư vị chán ghét kẻ đó,
người ta mỗi ngày đều niệm Phật, nếu
trong tương lai đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới gặp mặt vẫn căi cọ một
trận, há lẽ nào có chuyện như thế? Căi nhau th́ cả
hai người đều cùng bị đuổi ra. B́nh thời,
chúng ta phải nghiêm túc tu dưỡng, hạ cái tâm yêu thích,
chán ghét xuống mức thấp nhất th́ mới không đến
nỗi nẩy sanh chướng ngại đối với sự
văng sanh của bản thân chúng ta. Chuyện này thoạt nh́n
tưởng chừng là chuyện nhỏ nhặt, nói
thật ra, rất nghiêm trọng, cả đống kẻ
suốt đời niệm Phật do v́ việc nhỏ nhặt
này mà lỡ làng, cái tâm bất b́nh đẳng mà!
Thế giới Tây Phương
hết thảy đều được biến hóa ra, chẳng
có nỗi khổ Cầu Bất Đắc, hết thảy
nguyện vọng của quư vị đều được
thỏa măn. Đó gọi là “tư
y đắc y, tư thực đắc thực” (nghĩ
đến áo được áo, nghĩ đến ăn liền
được ăn). Ư niệm vừa mới dấy lên,
quư vị muốn thứ ǵ, [thứ ấy] đều hiện
trước mặt. Chẳng cần nữa th́ cũng chẳng
có rác rưởi, chẳng cần th́ chúng liền biến mất,
hay lắm! Hiện thời chúng ta chẳng cần th́ cũng
phiền phức, rác rưởi rất khó xử lư. Các nhà
khoa học hiện thời đă hiểu đạo lư này, đạo
lư ǵ vậy? Năng lượng và vật chất có thể
chuyển biến [thành lẫn nhau]; khi cần bèn biến năng
lượng thành vật chất, đúng là “lấy chẳng
hết, dùng măi không cạn!” Không cần nữa, vật
chất lập tức biến thành năng lượng, chẳng
c̣n nữa. Đúng là sạch sành sanh, chẳng nhiễm mảy
trần. Chỗ tốt đẹp này chúng ta hằng ngày đều
mong muốn, nhưng muốn mà chẳng đạt được!
Tây Phương Cực Lạc thế giới thứ ǵ cũng
đều có.
(Sao) Y chánh thường nhiên, tắc
vô Hoại Khổ.
(鈔) 依 正 常 然,則 無 壞
苦。
(Sao: Y báo và chánh báo
thường hằng nên chẳng có Hoại Khổ).
Trong Đại kinh nói càng thấu
triệt hơn nữa. Y báo và chánh báo vĩnh viễn chẳng
suy, chẳng kém đi, chẳng biến đổi. Thật
sự là một thế giới trường sanh bất lăo.
(Sao) Siêu quá tam giới, tắc vô Hành
Khổ.
(鈔) 超 過 三 界,則 無 行
苦。
(Sao: Vượt trỗi tam
giới, nên chẳng có Hành Khổ).
Đại kinh đă giảng Tây
Phương Cực Lạc thế giới rất rơ ràng,
vượt trỗi hết thảy các thế giới chư
Phật. Hết thảy các thế giới của chư Phật
đều chẳng thể sánh bằng, cho nên gọi là Cực
Lạc. Do cơi ấy chẳng có ba thứ khổ này, nên mới
gọi là thế giới Cực Lạc.
(Sao) Bát khổ giả, sanh cư
thai ngục.
(鈔) 八 苦 者,生 居 胎 獄。
(Sao: Tám khổ, [sự khổ
thứ nhất] là sanh trong thai ngục).
Đây là nói về Sanh Khổ. Trong
kinh, đức Phật đă giảng rất chi tiết,
Ngài nói khi loài người chúng ta đầu thai, ở trong
thai mẹ mười tháng, cảm nhận mười tháng
ấy giống như trong địa ngục, đúng là sống
một ngày bằng cả năm! Mẹ uống một chén
nước nóng, [con có cảm giác] giống như ở trong
tám địa ngục nóng. [Mẹ] uống một chén nước
lạnh, [con cảm giác] giống như ở trong tám địa
ngục lạnh. Đức Phật h́nh dung sự thống
khổ này là “thai ngục”, địa
ngục là nơi khổ nhất. Thoạt nh́n, mười
tháng kể ra chẳng dài lắm, nhưng đứa bé trong
thai cảm thấy chịu không nổi, cảm nhận thời
gian quá dài. Đó là nói về “sanh
cư thai ngục”. Vừa sanh ra, thân thể tiếp xúc cảnh
giới bên ngoài, kinh Phật h́nh dung sự cảm thụ ấy
là “lănh phong xúc thân dữ địa
ngục vô dị” (gió lạnh chạm thân chẳng khác ǵ
địa ngục), giống như đao bén cắt thịt.
V́ thế, trẻ sanh ra liền khóc, khóc là v́ nó quá đau khổ,
chẳng có cách nào chịu đựng! Nếu sanh ra rất
vui, chẳng khổ, trẻ nhỏ được sanh ra chẳng
nên khóc, lúc nó vui sướng sẽ cười. Các vị có
thấy trẻ nhỏ sanh ra mà cười khanh khách hay không?
Điều này chứng tỏ đức Phật nói đúng.
Sanh xác thực là khổ!
(Sao) Lăo yếm long chung.
(鈔) 老 厭 龍 鍾。
(Sao:
Già cả chán ngán run rẩy).
Đây là Lăo Khổ. Chúng ta có
thể trông thấy, hiện tại tuy chính ḿnh chưa già,
nhưng trông thấy chỗ khổ sở của người
già, chính ḿnh phải có tâm cảnh giác, v́ sao? Trong tương
lai, bản thân chúng ta cũng có ngày đó. Nếu quư vị
không muốn già th́ chỉ đành đoản mạng. Quư
vị lại không thích đoản mạng, lẽ nào chẳng
già? Quyết định phải thừa nhận Lăo Khổ.
Lúc già có phước chính là thật sự có phước
báo; chứ tuổi trẻ có phước, chẳng coi là phước
báo.
Cha tôi có một người bạn
học, lúc c̣n trẻ, trong thời Kháng Chiến, ông ta làm tướng
quân, rồi làm quân trưởng[3],
tổng tư lệnh, hô một tiếng, trăm người
dạ. Làm quân trưởng tại Đại Lục thuở
ấy, lừng lẫy lắm! Không giống như hiện
thời, làm quan chẳng đáng kể chi! Quyền uy
rất lớn, trong nhà mấy chục kẻ hầu. Đến
lúc cao tuổi, sang Đài Loan, xuất ngũ; khi đó, cụ
đă ngoài bảy mươi tuổi. Trong nhà chỉ có hai người
là cụ và vợ, mỗi ngày phải tự ḿnh xách giỏ
đi mua thức ăn, tôi nh́n [t́nh cảnh ấy] lắc
đầu, so với cuộc sống trong quá khứ đúng
là khác biệt một trời một vực! Cơm phải
tự ḿnh nấu lấy, tôi thấy cũng rất khổ
sở.
Lúc ấy, tôi vừa mới xuất
gia chưa được bao lâu, tôi đến thăm cụ,
khuyên cụ học Phật. Cụ nói: “Học Phật hay lắm!
Hiện thời tôi đang kinh doanh một nông trại. Sau
khi làm xong chuyện này, tôi sẽ học Phật đàng hoàng”.
Một người chẳng có con cái, tuổi tác đă cao dường
ấy, vẫn không chịu buông xuống, vẫn không
chịu niệm Phật, mà làm nông trại. Làm chưa được
mấy năm, tôi nghe cụ đă mất, đúng là đáng
tiếc! Vị này căn bản Hán học tốt đẹp,
viết chữ cũng hết sức đẹp đẽ.
Đáng tiếc là phước báo hưởng hết sạch
trong tuổi trung niên, lúc có địa vị, có của cải,
có quyền thế chẳng chịu tu phước nữa,
cho nên hưởng hết phước báo, đến tuổi
xế chiều khổ sở ngần ấy! T́nh h́nh giống
như vậy tôi đă thấy rất nhiều.
Do vậy, phải giác ngộ, tuổi
trẻ có phước chẳng phải là phước. Tuổi
trẻ có phước chớ nên hưởng phước, hăy
dùng trọn phước báo của quư vị để vun bồi
phước, dùng để tu phước. Ta chẳng hưởng
phước báo, tuy phước đưa đến, ta chẳng
tiếp nhận! Không tiếp nhận, nó sẽ chẳng mất
đi, vĩnh viễn tồn tại, đến tuổi xế
chiều, ta lại hưởng thụ, đó là phước
báo chân chánh. Tuổi trẻ có thể lực, chịu khổ
đôi chút cũng chẳng sao, chứ người tuổi
tác đă cao sẽ không kham nổi. Tuổi trẻ chẳng
cần người khác hầu hạ, thứ ǵ cũng tự
ḿnh làm, đúng đấy! Tuổi tác đă cao, thể lực
suy yếu, có người đến chăm sóc, đó là phước
báo! V́ thế, phải biết tu phước.
Nhất là chúng ta thấy những
người già cả, đừng ghét bỏ họ. Nếu
quư vị ghét bỏ họ, trong tương lai, quư vị già
cả, người trẻ tuổi sẽ ghét bỏ quư
vị, v́ sao? Nhân quả báo ứng! Đối với người
già, chúng ta nên tôn trọng, nên thương yêu, tùy thời, tùy
chỗ giúp đỡ họ th́ đến lúc tuổi già quư
vị cũng sẽ có những người trẻ tuổi
đến chăm sóc quư vị. Quư vị gieo nhân như thế
nào, trong tương lai sẽ có quả báo như thế ấy.
Đúng là nhân duyên quả báo chẳng sai
sẩy mảy may! Trong thế gian này, chúng ta chẳng tránh khỏi
Lăo Khổ, vậy th́ hăy lo toan cho lúc tuổi già. Nói
cách khác, tận hết sức giảm nhẹ Lăo Khổ, phương
pháp là hiện thời chúng ta có thể tôn kính, giúp đỡ
người già, có thể tu phước nhiều hơn, chớ
nên hưởng phước.
(Sao) Bệnh thọ thống kha.
(鈔) 病 受 痛 疴。
(Sao: Bệnh tật phải chịu
đau đớn, dây dưa).
Đây là Bệnh Khổ. Tôi nghĩ
mỗi người đều từng ngă bệnh, đều
có kinh nghiệm, chẳng cần phải rườm
lời. Trong xă hội hiện thời, các chứng bệnh
lạ lùng đặc biệt nhiều, chúng ta phải
cẩn thận. Cổ nhân đă nói: “Họa tùng khẩu xuất, bệnh tùng khẩu
nhập” (họa từ miệng ra, bệnh từ miệng
vào). Do vậy, chúng ta ăn uống, sinh sống hằng ngày
phải có quy luật, phải chú trọng vệ sinh. Chẳng
phải là chuyện bất đắc dĩ, chớ nên ăn
uống bên ngoài. Thầy Lư đến lúc tuổi già, tôi tới
thăm Ngài, mỗi lần gặp Ngài, Ngài đều khuyên
tôi đừng ra ngoài ăn này nọ, v́ nguyên nhân khiến
cho chính Ngài bị nhiễm bệnh là do trúng độc ẩm
thực. Do vậy, Ngài cảnh cáo chúng tôi: “Cuộc sống
của con người hiện thời trong thế gian này
rất đáng thương, ba bữa cơm toàn ăn thứ
độc địa”. Ngài bảo: “Nói thẳng thừng,
chúng ta chẳng phải là ăn cơm, mà nuốt chất độc.
Một ngày phải nuốt chất độc ba lần, lẽ
nào thân thể này chẳng bị ngă bệnh? Ngài bảo ăn
thịt th́ trong đó chẳng biết họ đă chích những
thuốc ǵ, đó là chất độc. Những loài lợn,
ḅ, gà, vịt đều sanh trưởng bất b́nh thường.
Như những con gà từ lúc đẻ ra cho đến
khi bị giết luôn bị nhốt trong lồng, giống
như cả đời nó bị giam trong tù ngục, oán khí
trong tâm chẳng phát ra được, đó là có chất độc.
Trước kia, gà được thả cho sanh trưởng
tự nhiên bên ngoài, chỉ có lúc nó bị giết th́ sân hận
mới dấy lên, chứ b́nh thường chẳng có!
Hiện thời, gà, vịt suốt ngày từ sáng đến
tối oán khí ngút trời, quư vị ăn vào lẽ nào chẳng
trúng độc? Lợn bị chích thuốc, ḅ cũng bị
chích thuốc, đến cuối cùng, thầy Lư kể
cả sữa ḅ cũng chẳng dám dùng, do ḅ bị chích thuốc,
nên sữa cũng có chất độc!
Ngài nói: Rau dưa tốt hơn
một tí, nhưng thuốc trừ sâu nhiều quá. Ăn rau
dưa là ăn thuốc trừ sâu. Trong gạo tẩm chất
hóa học để gạo trắng hơn một tí, trông đẹp
mắt hơn một chút. Ngài nói: “Chẳng có thực phẩm
nào sạch sẽ!” Nói thật ra, thầy Lư hoàn toàn chẳng
có bệnh ǵ, thứ ǵ thầy cũng chẳng dám ăn, đến
cuối cùng là chết đói. Thật vậy, chẳng giả
tí nào, đích xác là Ngài bị chết đói!
Trong ẩm thực, sinh hoạt
hằng ngày, Trung Quốc chẳng bằng ngoại
quốc, thật đấy! Rau dưa ngoại quốc tuy
có thuốc trừ sâu, nhưng chánh phủ của họ hết
sức có trách nhiệm. Nếu phân
lượng thuốc trừ sâu có hại cho thân thể,
chắc chắn sẽ cấm ngặt. Ở Trung Quốc
th́ thuốc diệt trùng vừa phun ra, gián chết ngay,
nồng độ quá cao! Ở ngoại quốc, tôi đă
từng mua thuốc đem phun gián, cả nửa ngày nó
cũng không chết, phun hồi lâu, thấy nó bất tỉnh
chừng một hai tiếng đồng hổ rồi trở
ḿnh chạy mất. Quư vị biết loại thuốc sát
trùng ấy chẳng có hại cho sức khỏe của thân
thể con người. Sở Y Tế đương cục
và chánh phủ hạn chế rất nghiêm ngặt. Do vậy
nói về điều này th́ Trung Quốc chẳng bằng
ngoại quốc. Nói tới bệnh th́ hiện thời các
thứ bệnh tật kỳ quái quá nhiều! Có những người
đang mắc bệnh, nói thật ra, tốt nhất đừng
nên dùng chung chén uống nước, khăn mặt, nhất
định phải chú trọng vấn đề vệ
sinh ḥng giảm bớt tật bệnh.
(Sao) Tử bi phân tán.
(鈔) 死 悲 分 散。
(Sao: Chết th́ buồn bă v́
chia ly).
Đây là Tử Khổ. Nay chúng
ta tuy c̣n chưa chết, chưa nếm trải mùi vị cái
chết, nhưng thấy cả đống người chết
như vậy, quư vị thấy dáng vẻ, tướng mạo
chẳng dễ coi của họ khi chết, mới biết
đích xác là họ phải chịu đau khổ. Những
điều này đều chẳng thể tránh được!
(Sao) Ái tắc dục hợp thiên
ly.
(鈔) 愛 則 欲 合
偏 離。
(Sao:
Yêu thương th́ mong muốn quây quần lại cứ
phải chia ĺa).
Đây là Ái Biệt Ly Khổ. Những
người quư vị ưa thích chẳng thể thường
ở cùng một chỗ với ḿnh, vật quư vị ưa
thích cũng chẳng thể thường ở cùng một chỗ,
Ái Biệt Ly mà!
(Sao) Oán tắc dục đào thiên
ngộ.
(鈔) 冤 則 欲 逃 偏 遇。
(Sao: Oán ghét th́ muốn trốn
tránh mà cứ gặp gỡ).
Đây là Oán Tăng Hội
Khổ. “Oán” là oan gia trái
chủ, chẳng mong ở chung với họ, mà cứ phải
thường gặp gỡ. Oán do đâu mà có? Oán do yêu mà có.
Yêu quá biến thành oan gia đối đầu. Do vậy, ái
là giả, oán là thật. Chúng ta thấy khá nhiều oan gia
đối đầu, quư vị xét coi, thoạt đầu
vừa quen biết họ đều là bạn tốt. Nếu
vừa bắt đầu đă là oan gia đối
đầu, họ sẽ chẳng thể ở cùng một
chỗ. Trước tiên, tốt đẹp khôn cùng, đến
cuối cùng biến thành oan gia đối đầu, một
mất một c̣n! Oan gia đời đời kiếp
kiếp đều chẳng trốn thoát, v́ thế, đức
Phật dạy chúng ta “oan gia nghi
giải, bất nghi kết” (oan gia nên cởi gỡ,
đừng thắt buộc). Chớ nên kết oán với
bất cứ ai. Không chỉ chẳng thể kết đại
oán, mà sự khó chịu nhỏ nhoi, trong ḷng bực bội đều
chớ nên có, v́ sao? Có tiểu oán sẽ dần dần kết
thành đại oán, phải cảnh giác điều này.
V́ sao chúng sanh tu hành không thể
chứng quả? V́ sao không thể vượt thoát tam
giới? Do oan gia trái chủ của quư vị quá nhiều,
chẳng cho quư vị ra đi. Quư vị muốn đi, họ
nói: “Ngươi c̣n nợ mạng của ta chưa đền,
mắc nợ ta chưa trả xong xuôi, ngươi đă muốn
đi, há có chuyện tiện nghi như vậy?” Từ lịch
sử, chúng ta thấy ngài An Thế Cao là cao tăng thật
sự đắc đạo, c̣n phải hai lần trả
nợ mạng tại Trung Quốc! Kiếp trước ngộ
sát kẻ khác, kiếp này đến nơi đây trả
nợ. Người thật sự đắc đạo hiểu
nợ mạng chẳng thể không đền. Chẳng đền,
sẽ đời đời kiếp kiếp chẳng xong! Do
vậy, có thể biết, kết oán đáng sợ lắm!
V́ thế, chớ nên kết oán cừu với kẻ khác!
Cũng đừng nên ân ái triền
miên với kẻ khác, vô dụng, v́ sao? Đều là
giả, chẳng phải thật. Trên thế gian này, người
và người ở chung với nhau, nói thật thà chẳng
có ái, ái là giả, chẳng phải là
thật sự. Nếu quư vị ngỡ ái là thật sự
có, tức là ngu si mất rồi! V́ sao biết là giả? Ái
có thể biến đổi. Ngày hôm nay yêu thương, ngày
mai chẳng c̣n yêu nữa. Ngày hôm nay yêu thương khôn
cùng, hai người kết hôn. Hai ngày sau bèn ly hôn, kéo nhau ra
ṭa ly hôn, đủ thấy [t́nh yêu ấy] là giả, chẳng
chân thật. V́ thế, đức Phật bảo chúng ta: Trước
khi chứng đắc A La Hán, chớ nên tin vào ư nghĩ của
chính ḿnh. Ư nghĩ của chính ḿnh c̣n chẳng thể tin tưởng
được, làm sao có thể tin tưởng
người khác? Chẳng thể tin tưởng ư nghĩ của
chính ḿnh, nó thiên biến vạn hóa!
Do vậy, Phật pháp nói tới
tu hành th́ điều thứ nhất đ̣i hỏi chúng ta phải
phát Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm là chân tâm, tâm chân
thành vĩnh viễn không thay đổi. Hễ tâm có thể
biến đổi, tâm ấy là giả. Bởi lẽ, người
thế gian chẳng có chân tâm, chẳng có thành ư, luôn là hư
t́nh giả ư. Nếu quư vị nh́n thấu suốt, thấy
rơ ràng là hư t́nh giả ư, chúng ta cũng hư t́nh giả
ư với họ đôi chút là được rồi, cần
ǵ phải nghiêm túc! Hiểu rơ người ta đều là hư
t́nh giả ư, nếu thứ ǵ quư vị cũng coi là thật,
sẽ chịu khổ chẳng dứt. Quá khổ sở!
Nói đến chân ái, trong Phật
pháp gọi [chân ái] là từ bi, từ bi là ḷng yêu thương
thật sự. Ḷng yêu thương vĩnh viễn không thay
đổi gọi là từ bi, nó sanh khởi từ tâm chân
thành. Đó gọi là “trong
cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai”. Phật,
Bồ Tát độ chúng sanh, bất luận chúng sanh ở
trong đường nào, bất luận dưới t́nh huống
nào, Phật nhăn trông thấy rơ ràng, rành rẽ. Quư vị khởi
tâm động niệm, các Ngài cũng đều biết rơ
ràng, rành rẽ. Khi nào quư vị thật sự giác ngộ, thật
sự cần đến Phật, Bồ Tát giúp đỡ,
các Ngài sẽ tới, cảm ứng đạo giao, tuyệt
đối chẳng luống qua. Nay chúng ta yêu cầu Phật,
Bồ Tát đến độ chúng ta, Phật, Bồ Tát có
đến hay không? Không đến. V́ sao chẳng
đến? Phật, Bồ Tát thấy rất rơ ràng: “Giả
trất! Miệng có, tâm không!” Quư vị nói “ta muốn văng
sanh”, đó là lời giả. Phật, Bồ Tát thật
sự đến tiếp dẫn quư vị văng sanh, [quư
vị bèn giẫy nẩy]: “Không được! Con không thể
chết được!” Kẻ ấy lại không chịu
ra đi, có thể thấy chẳng phải là thật sự.
Nếu quư vị phát tâm chân thật, Phật, Bồ Tát sẽ
đến. Do vậy, chúng ta khởi tâm động niệm
các Ngài liền biết, thậm chí, bản thân chúng ta cũng
chẳng biết, tưởng chính ḿnh rất có thành ư, chân
tâm, nhưng Phật, Bồ Tát biết quư vị là giả,
nên các Ngài không đến. Chẳng phải là Phật,
Bồ Tát không ứng, mà do chúng ta dùng tâm hư ngụy để
cầu cảm! Tâm chân thật mới có thể cảm ứng
đạo giao. Đây là nói về
Oán Tăng Hội Khổ, chớ nên kết oán cừu với
bất cứ ai. Thời gian chúng ta ở trên thế gian này
không dài, dẫu sống đến một trăm năm vẫn
là một sát-na bèn qua. Tôi đến Đài Loan bốn
mươi năm, nghĩ lại chuyện bốn
mươi năm trước giống như ngày hôm qua, bất
tri bất giác đă bốn mươi năm rồi. C̣n có
thể có bốn mươi năm nữa hay không? Chẳng
thể nào! Quang âm quá ngắn ngủi, mọi việc
nhẫn nại một chút là được rồi, chẳng
cần phải xử sự cứng ngắc, chớ nên so đo.
Người khác có nói ta này nọ, đừng nên nghĩ rằng
đó là thật. Nói láo mà chơi, nghe láo chơi![4]
Mọi người đều tốt đẹp cả! Chớ
nên xử sự cứng ngắc, chẳng kết oán cừu
với chúng sanh.
(Sao) Cầu tắc dục
đắc thiên thất.
(鈔) 求 則 欲 得
偏 失。
(Sao: Cầu th́ mong
được mà cứ bị mất đi).
Đây là Cầu Bất Đắc
Khổ. Người trong thế gian phú quư, cùng quẫn, hanh
thông đều là nhất định, nói thông tục là “con người có vận
mạng” chẳng phải là giả. Trong một đời
quư vị, các nhà tướng số thường nói, mạng
vận con người cứ năm năm thay đổi một
lượt. Trong cuộc đời quư vị, nhất
định có năm năm cực thịnh, đó là lúc vận
mạng của quư vị tốt nhất. Trong một đời
cũng có năm năm tệ nhất. Giai đoạn cực
thịnh trước hay sau [giai đoạn tồi tệ] không
nhất định, mỗi cá nhân khác nhau. Nếu chúng ta cực
thịnh vào lứa tuổi thiếu niên hay trung niên, chẳng
tốt đẹp đâu. Nếu chúng ta giác ngộ, chẳng
hưởng thụ, để dành lúc tuổi già, đó là thông
minh nhất.
Cầu, chắc chắn là cầu
không được. Dẫu là phát tài bất ngờ, nói thật
thà, phát tài ngang xương cũng là trong mạng quư vị
có sẵn. Trong mạng quư vị chẳng có th́ muốn phát
tài ngang xương cũng không được. Ví dụ như
cường đạo cướp đoạt, có kẻ đoạt
được, nói thật ra, [nguyên nhân là do] trong mạng gă
ấy phải có. Có kẻ làm cường đạo chẳng
cướp đoạt được! Không chỉ chẳng
cướp đoạt được mà c̣n phải ngồi
tù, [là v́] trong mạng chẳng có! Thật sự hiểu đạo
lư này, cổ nhân nói: “Quân tử
vui vẻ làm bậc quân tử, kẻ tiểu nhân oan
uổng làm phường tiểu nhân”. Kẻ ấy cưỡng
cầu! Nếu cưỡng cầu mà có thể cưỡng
cầu được, tôi thấy chư Phật, Bồ
Tát đều bái quư vị làm thầy, v́ sao? Các Ngài không làm
được! Do vậy, chuyện này chẳng thể nào
xảy ra!
Mọi người thật
sự hiểu đạo lư nhân quả báo ứng, tâm chúng
ta bèn an, tâm an lư đắc. Chúng ta nghèo hèn có thể an phận
nghèo hèn, phú quư có thể yên hưởng phú quư. Do vậy, mấy
ngàn năm qua, Trung Quốc tuy giàu nghèo chẳng đều nhau,
xă hội an b́nh vô sự là do đạo lư nào? Do tiếp
nhận giáo hóa của Nho gia và Phật gia, mọi
người đều hiểu nhân quả báo ứng. Ta nghèo
hèn, biết đời trước ta chẳng tu phước,
chẳng hâm mộ hoặc ghen ghét kẻ phú quư, v́ sao? Kẻ
ấy phú quư ắt hẳn do đời trước gieo phước,
đáng nên hưởng thụ. Ta đời trước chẳng
gieo phước! Ta mong hưởng phú quư, đời này phải
gieo phước, tu phước cho nhiều! Do hiểu đạo
lư này, xă hội có thể ổn định lâu dài. Điều
này nhằm nói rơ Cầu Bất Đắc, trong mạng chẳng
có, quyết định chẳng thể đạt được!
Đối với điều
này, nếu chúng ta đọc Liễu Phàm Tứ Huấn, sẽ
thấy đạo lư này rơ ràng, minh bạch. Tiên sinh Liễu
Phàm gặp một người cao minh, là thầy tướng
số, đă đoán định số mạng suốt đời
của ông, từ lúc sanh ra cho đến ngày chết, tính sẵn
ngày giờ nào ông ta sẽ chết. Mỗi năm, ông ta được
thăng chức, của cải thu vào số lượng
bao nhiêu đều đoán định, chẳng sai chạy
tí ti nào. Do vậy, ông ta đúng là khăng khăng một mực
tin tưởng. Từ đấy trở đi, chẳng c̣n
có vọng niệm, v́ sao? Biết năm sau được
thăng quan, đến năm sau vào lúc nào đó, nhất
định được thăng chức, sang năm tiền
lương của ta sẽ tăng thêm bao nhiêu, đến
lúc nào đó nhất định tăng thêm. Nếu ta mong cầu
cũng chẳng cầu được. Ta muốn cầu
nhiều hơn một chút cũng chẳng cầu được.
Do vậy, chẳng cần suy nghĩ nữa, cũng chẳng
mong cầu, an phận thủ thường.
Ông ta và ḥa thượng Vân
Cốc hai người ngồi ba ngày ba đêm trong Thiền
Đường, chẳng khởi một niệm nào. Thiền
sư Vân Cốc xuống ṭa, nói với ông ta: “Ông giỏi quá!
Ba ngày ba đêm ngồi ở chỗ này chẳng khởi một
vọng niệm, chẳng phải là kẻ tầm thường
có thể làm được”. Sư hỏi ông ta tu hành đă
bao lâu, ông ta thưa: “Con có công phu chi đâu! Mạng của con
đă được người khác tính sẵn rồi, con
khởi vọng niệm cũng vô dụng. V́ thế, hiển
nhiên là chẳng cần phải khởi vọng niệm”.
Thiền sư Vân Cốc nghe lời ấy cười ha hả:
“Ta vốn nghĩ ông là thánh nhân, rốt cuộc đâu biết
ông vẫn là phàm phu!” Chúng ta gọi hạng phàm phu ấy là
“phàm phu tiêu chuẩn”, c̣n như chúng ta th́ chẳng đủ
tiêu chuẩn. Ông ta là phàm phu tiêu chuẩn, tin tưởng
mạng vận, “một
miếng ăn, một hớp uống, không ǵ chẳng
được định sẵn”. V́ thế, tâm ông ta
an định, chẳng có vọng tưởng, chẳng vọng
cầu, hết thảy thuận theo mạng vận. Đó
là phàm phu tiêu chuẩn!
Thiền
sư Vân Cốc quở trách Liễu Phàm: “Vận mạng do
chính ḿnh tạo. Đă do chính ḿnh tạo, đương
nhiên chính ḿnh có thể thay đổi, tự ḿnh có thể
sáng tạo vận mạng mới”. Trước nay, cư
sĩ Viên Liễu Phàm chưa nghe ai nói, bèn thỉnh giáo thiền
sư Vân Cốc. Thiền sư Vân Cốc dạy ông
ta phương pháp cải tạo vận mạng, dạy ông
ta sám trừ nghiệp chướng, tích công lũy
đức. Sau khi ông ta tu ba năm, quả nhiên sửa đổi
[vận mạng], [số mạng] chẳng c̣n giống như
Khổng tiên sinh đă tính nữa. Chức vị được
nâng lên cao hơn so với số mạng đă định,
thu nhập lại nhiều hơn số mạng đă định,
vận mạng đă được biến cải rồi.
Về sau, phạm vi thay đổi ngày càng to, bản thân ông
ta tràn trề tin tưởng, nỗ lực đoạn ác
tu thiện, đă thế, người trong cả một nhà
đều làm theo. Đó là một tấm gương rất
tốt, chẳng phải là giả, mà là sự thật thiên
chân vạn xác! Ai làm theo phương pháp này, sẽ nắm
quyền điều khiển vận mạng của chính
ḿnh, tự ḿnh có thể thay đổi hết thảy những
ǵ thuộc về ḿnh. Đúng như Phật giáo đă nói: “Trong cửa nhà Phật, có
cầu ắt ứng”. Chẳng phải là cầu không
được, mà là có cầu ắt ứng, nhưng quư vị
phải cầu đúng lư, cầu đúng pháp. Quư vị cầu
chẳng hợp lư, chẳng hợp pháp, sẽ chẳng thể
có cảm ứng. Cầu đúng lư, đúng pháp, chắc chắn
là có cảm ứng, kể cả cầu văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, hoặc cầu
thành Phật, thành Bồ Tát đều có thể đạt
được, huống hồ những thứ khác!
(Sao) Năi chí Ngũ Ấm xí
thịnh.
(鈔) 乃 至 五 陰 熾 盛。
(Sao: Cho đến năm
Ấm lừng lẫy).
Bảy điều trước
nói về khổ quả, điều cuối cùng nói về
khổ nhân. Ngũ Ấm là Sắc,
Thọ, Tưởng, Hành, Thức, nói về thân thể của
chúng ta. Đối với thân thể của chúng ta, bộ
phận vật chất là Sắc, thuộc loại Sắc
pháp; bộ phận tinh thần gồm Thọ, Tưởng,
Hành, Thức. Thọ là cảm nhận, tức là những cảm
nhận khổ, sướng, buồn, vui, xả. Tưởng
là phân biệt, suy lường. Hành ở đây có phạm
vi hết sức rộng lớn. Trong năm mươi
mốt pháp tâm sở thuộc Bách Pháp, trừ hai pháp Thọ
và Tưởng ra, bốn mươi chín pháp c̣n lại đều
thuộc về Hành. Thức là tám thức. Ngũ Ấm là Ngũ
Uẩn, tức Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức,
triển khai thành một trăm pháp, nếu mở rộng
ra sẽ là toàn thể vũ trụ, nhân sinh. Trạng
huống của thân tâm chúng ta có thành phần cấu tạo
như vậy. Thành phần này rất phức tạp, trong
tâm sở pháp th́ phiền năo tâm sở gồm hai mươi
sáu loại, [chia ra] sáu căn bản phiền năo và hai
mươi tùy phiền năo. Trong có phiền năo, ngoài có dụ
hoặc, Ngũ Ấm lừng lẫy, nên quư vị mới
khởi Hoặc tạo nghiệp, mới cảm vời, hứng
chịu bảy quả báo phía trước! Do vậy, những
khổ quả phía trước đều có một khổ
nhân chính là điều này. Những điều được
nói trong Phật pháp đều gom về nhân quả, chỉ
nói quả báo, chẳng nói nguyên nhân, sẽ chẳng thể
giải quyết khổ. Muốn giải quyết khổ,
trong Tâm Kinh có nói: “Chiếu
kiến Ngũ Uẩn giai không, độ nhất thiết
khổ ách”. Dùng ǵ để chiếu? Dùng trí huệ. “Quán Tự Tại Bồ Tát, hành
thâm Bát Nhă Ba La Mật đa thời”, trí huệ rất sâu
có thể phá Ngũ Ấm, vĩnh viễn thoát ly tam khổ
và bát khổ.
(Sao) Tổng thành thượng thất,
danh bát khổ dă.
(鈔) 總 成 上 七,名 八 苦
也。
(Sao: Gộp chung [điều
này] với bảy điều trên, gọi là “tám khổ”).
Trong Phật môn thường nói
“bát khổ giao tiên” (tám khổ
xen nhau nung nấu), hôm nay chúng tôi giới thiệu đơn
giản ở đây. Hôm nay giảng tới chỗ này!
Tập
130
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa Hội Bản, trang hai trăm tám mươi
bốn, đoạn này giảng về y báo trang nghiêm trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới.
(Kinh) Vô hữu chúng khổ,
đản thọ chư lạc.
(經) 無 有 眾 苦。但
受 諸 樂。
(Kinh: Chẳng có các nỗi
khổ, chỉ hưởng những sự vui).
Lần trước đă giới
thiệu ư nghĩa “vô hữu
chúng khổ” rồi, hôm nay, đoạn này nói đến
[y báo trang nghiêm] trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới.
(Sao) Nhi bỉ quốc liên hoa hóa sanh,
tắc vô Sanh Khổ.
(鈔) 而 彼 國 蓮 華 化 生,則
無 生 苦。
(Sao: Nhưng cơi ấy là liên
hoa hóa sanh nên chẳng có Sanh Khổ).
Tây Phương Cực Lạc thế
giới là liên hoa hóa sanh.
(Sao) Hàn thử bất thiên,
tắc vô Lăo Khổ.
(鈔) 寒 暑 不 遷,則
無 老 苦。
(Sao: Lạnh nóng chẳng
dời đổi, nên chẳng có Lăo Khổ).
Đây là nói trong thế giới
của chúng ta, bốn mùa biến hóa, Xuân, Hạ, Thu, Đông,
giáp ṿng xoay vần, nên mới có Lăo Khổ. Tây Phương Cực
Lạc thế giới chẳng có [bốn mùa biến hóa], thế
giới ấy là một thế giới quang minh. Thân thể
mỗi cá nhân đều tỏa quang minh, hết thảy
vạn vật đều có quang minh; do vậy, thế
giới ấy chẳng có ngày hay đêm. Ở nơi đây,
địa cầu hướng về mặt trời là ban
ngày, xoay lưng về mặt trời là ban đêm, [nên ngày đêm,
thời tiết] tự xoay chuyển. Tây Phương Cực
Lạc thế giới chẳng cần đến mặt
trời, mặt trăng, v́ cơi ấy chẳng có ngày hay đêm,
chẳng có lạnh, nóng, tất cả hết thảy khí
hậu biến hóa đều thuận theo ḷng mong muốn,
thuận theo tâm nguyện của chính ḿnh mà có thể thích hợp,
hoàn toàn đạt đến “cảnh
chuyển theo tâm”. Không chỉ là tất cả hoàn
cảnh có thể chuyển theo tâm, mà thân thể cũng chuyển
theo tâm. Thân thể có thể chuyển theo tâm, sẽ không
già. Nếu quư vị muốn già, sẽ hiện tướng
già. Quư vị chẳng muốn già, vĩnh viễn chẳng
có tướng già xuất hiện. Nói thật ra, trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới, những danh
từ “sanh, lăo, bệnh, tử” đều chẳng nghe nói
tới, v́ thế giới ấy chẳng có những chuyện
đó, như Cầu Bất Đắc, Ái Biệt Ly, Oán Tăng
Hội chẳng t́m thấy tại Tây Phương Cực
Lạc thế giới, quyết định chẳng có những
chuyện ấy. V́ thế, danh từ cũng đều chẳng
có.
(Sao) Thân ly Phần Đoạn,
tắc vô Bệnh Khổ.
(鈔) 身 離 分 段,則
無 病 苦。
(Sao: Thân ĺa Phần
Đoạn, nên không có Bệnh Khổ).
Thế giới này của chúng
ta mới có Phần Đoạn sanh tử, Tây Phương Cực
Lạc thế giới chẳng có. Do vậy, người trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng ngă
bệnh.
(Sao) Thọ mạng vô
lượng, tắc vô Tử Khổ, vô phụ mẫu thê
tử, tắc vô Ái Biệt Ly Khổ.
(鈔) 壽 命 無 量,則
無 死 苦,無 父 母 妻 子,則
無 愛 別 離 苦。
(Sao: Thọ mạng vô
lượng nên chẳng có Tử Khổ, chẳng có cha,
mẹ, vợ, con nên chẳng có Ái Biệt Ly Khổ).
Đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới là hoa sen hóa sanh, nên chẳng có cha,
mẹ, người nhà, quyến thuộc, chẳng có những
điều này. Do vậy, quư vị chẳng có Ái Biệt Ly
Khổ, chẳng có những niềm ân ái ấy.
(Sao) Chư thượng thiện
nhân đồng hội nhất xứ, tắc vô Oán Tăng
Hội Khổ.
(鈔) 諸 上 善 人 同 會 一 處,則
無 冤 憎 會 苦。
(Sao: Các vị thượng
thiện nhân cùng ở một chỗ, nên chẳng có Oán
Tăng Hội Khổ).
Tây Phương Cực Lạc thế
giới đều là thượng thiện nhân, nói cách khác,
quyết định chẳng có oan gia.
Dẫu là oan gia của quư vị trong đời quá khứ
hay trong kiếp này, nếu cùng sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, hết thảy oán nghiệp trong
đời quá khứ đều là một nét bút sổ
toẹt, tâm đă thanh tịnh. Tâm chẳng tịnh, chẳng
sanh Tịnh Độ! Điều này rất khẩn yếu.
Trong thế gian này, chúng ta chớ nên mê hoặc, điên
đảo nữa, càng phải nên hiểu rơ v́ sao chúng ta
học Phật? Nếu thật sự v́ liễu sanh
tử, thật sự v́ văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, đối với hết thảy sự
vật trước mắt trong thế gian này chúng ta phải
thấy thấu suốt, coi nhẹ, chớ nên coi chúng quá
nghiêm túc. Hễ coi chúng quá nghiêm túc, sẽ là chướng
ngại lớn nhất cho việc liễu sanh tử, văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới của quư
vị. Mục đích của ta là mong cầu sanh về Tây
Phương, kết quả là chẳng thể văng sanh th́ đáng
tiếc quá! Do vậy, thật sự phát nguyện văng sanh, ắt
phải đừng nên so đo hoàn cảnh nhân sự và hoàn
cảnh vật chất trong thế gian nữa. Điều
ǵ cho qua được hăy cho qua, tùy duyên sống qua ngày, chẳng
cần so đo với kẻ khác.
Ngoài việc chính ḿnh một mực
chuyên niệm ra, chúng ta ắt phải tận tâm tận
lực giới thiệu pháp môn này với người khác, đó
là đường lối duy nhất để chúng ta báo ân
Phật. Trừ cách ấy ra, chúng ta chẳng có cách nào báo
đáp đại ân đại đức của Phật. Ân
đức ấy to lớn, nếu chư vị suy nghĩ
cặn kẽ, [sẽ thấy ân đức ấy] quả
thật chẳng thể nghĩ bàn. Từ vô thỉ kiếp
tới nay sanh tử luân hồi trong lục đạo, khổ
lắm! Chẳng có phương pháp nào xuất ly, chẳng
có nhân duyên giải thoát, rất khó đạt được
trong một đời, không chỉ có thể giải
quyết vấn đề sanh tử, mà c̣n đạt được
lợi ích thành Phật rốt ráo. Chuyện này các vị
Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác trong mười phương
thế giới có mơ vẫn chẳng thể cầu được,
[thế mà] ngày nay chúng ta gặp gỡ, đạt được.
Kinh này đúng như kinh Đại Bổn đă nói, Đại
Bổn là kinh Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng
Thọ và kinh này đồng bộ, một kinh nói tỉ mỉ,
một kinh nói đơn giản: Đức Phật giảng
cho chúng ta “điều lợi
chân thật”, chân thật nhất trong các thứ chân
thật. Cái được gọi là “điều lợi chân thật” chính là lợi ích thành
Phật. Nếu chẳng phải là thành vị Phật rốt
ráo viên măn, đều chẳng thể coi là chân thật!
Văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, hết thảy điều thiện
viên măn trọn đủ, hết thảy điều ác đều
đoạn sạch sành sanh. Chẳng văng sanh, đoạn ác
tu thiện chẳng dễ dàng! Chủng tử tập khí ác
trong A Lại Da Thức từ vô thỉ kiếp tới nay
chẳng thể đoạn ngay trong một lúc được!
Chỉ có đến thế giới Tây Phương mới
có thể đoạn hết. V́ sao? V́ cảnh giới Tây
Phương chẳng có ác duyên, dẫu quư vị có chủng
tử tập khí ác, nhưng chẳng có duyên, chúng sẽ chẳng
thể dấy lên hiện hành, sẽ chẳng thể
kết quả. V́ thế, tới đó mới thật sự
đoạn hết. Trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới, hết thảy thiện pháp, tất cả thiện
duyên đều trọn đủ; do vậy, chủng tử
thiện đều có thể dấy lên hiện hành,
hết thảy thiện pháp đều trọn đủ
viên măn. Đích xác là các vị Bồ Tát trong các thế
giới phương khác có mơ cũng chẳng thể cầu
được điều này! Chúng ta đời
đời kiếp kiếp cũng mong cầu, nhưng đều
chẳng cầu được, [thế mà] trong một đời
này gặp được! Gặp gỡ, nói thật ra, chẳng
phải là ngẫu nhiên, Đại kinh nói: “Nhược phi văng tích tu phước huệ, ư
thử đại pháp bất năng văn” (nếu chẳng
tu phước huệ trong quá khứ, chẳng thể nghe đại
pháp này). Đó là phước huệ chúng ta đă tu trong đời
quá khứ, tới lúc này [phước huệ] hiện tiền
bèn gặp gỡ pháp môn này. Gặp pháp môn này, chúng ta có
thể thành tựu hay không, sẽ tùy thuộc phước
huệ trong đời quá khứ của chúng ta dầy hay mỏng.
Nếu thiện căn quá khứ thật sự sâu dầy,
sau khi quư vị được nghe bèn quyết định
nghiêm túc tu học, chẳng dám buông bỏ, không dám biếng
trễ, chẳng dám buông lung, nghiêm túc tu học, quyết
định thành tựu trong một đời này. V́ thế,
nhân duyên này quả thật chẳng dễ dàng.
(Sao) Sở dục tự chí,
tắc vô Cầu Bất Đắc Khổ.
(鈔) 所 欲 自 至,則 無 求
不 得 苦。
(Sao: Những điều mong
muốn đều tự đưa tới nên chẳng có
Cầu Bất Đắc Khổ).
Trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, hết thảy thọ dụng thuận
theo ḷng mong muốn, chẳng có Cầu Bất Đắc. Đàm lăo pháp sư có nói: “Nghĩ đến áo bèn được áo, nghĩ
đến ăn bèn được ăn”. Nghĩ tới
ǵ, thứ ấy bèn hiện tiền, chẳng cần phải
lo toan, chẳng cần phải tạo tác, thế giới tốt
đẹp dường ấy! V́ thế, cơi ấy chẳng
có Cầu Bất Đắc, trong tâm vừa dấy một
niệm, cảnh giới bèn hiện tiền.
(Sao) Quán chiếu không tịch,
tắc vô Ngũ Ấm Thịnh Khổ.
(鈔) 觀 照 空 寂,則 無 五
陰 盛 苦。
(Sao: Quán chiếu không tịch
nên chẳng có Ngũ Ấm Xí Thịnh Khổ).
Từ một câu này, ở
đây chúng ta có thể thấu hiểu người trong Tây
Phương Cực Lạc rốt ráo thuộc về cảnh
giới nào. Đối với bảy loại đầu
trong tám khổ, do người bên ấy phước báo to lớn,
và cũng nhờ vào thần lực của A Di Đà
Phật gia tŕ nên chẳng có bảy thứ khổ ấy. C̣n
nỗi khổ này, tức Ngũ Ấm Xí Thịnh Khổ
(khổ v́ năm ấm lừng lẫy) chẳng có th́ phải
dựa vào công phu của chính ḿnh. Công phu như thế nào?
Mọi người đọc Tâm Kinh, thấy trong Tâm Kinh có
nói: “Quán Tự Tại Bồ
Tát, hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa thời, chiếu
kiến Ngũ Uẩn giai Không”, chính là cảnh giới
này, tức là quán chiếu Bát Nhă. Cảnh giới của Tâm
Kinh là cảnh giới của Quán Thế Âm Bồ Tát, cảnh
giới của Đẳng Giác Bồ Tát. Nếu chúng ta hạ
thấp [mức độ] xuống, hạ đến mức
độ thấp nhất, [cảnh giới ấy] cũng
là [cảnh giới của] Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên
Giáo, hoặc Sơ Địa Bồ Tát trong Biệt Giáo th́
mới tương ứng. Nói cách khác, chẳng cần nói đến
địa vị rất cao, “vị
tề Đẳng Giác” (địa vị ngang với bậc
Đẳng Giác), chúng ta chẳng thể tin tưởng, mức
độ thấp nhất là văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, địa vị sẽ là Sơ Địa
trong Biệt Giáo hoặc Sơ Trụ trong Viên Giáo. Điều
này chẳng có mảy may nghi vấn ǵ!
Rơ ràng là một gă phàm phu, trong chốc
lát được nâng cao lên tới mức cao dường ấy,
đích xác là trong hết thảy các kinh điển chẳng
có cách nói này, trong các thế giới của mười
phương chư Phật cũng chẳng có sự thật
này, chỉ riêng thế giới Tây Phương là đặc
biệt. Rành rành là một gă phàm phu, đă thế, kẻ phàm
phu ấy thậm chí là phàm phu Ngũ Nghịch, Thập Ác,
nguyện thứ mười tám trong đại nguyện của
Phật Di Đà đă có nói: “Mười
niệm nhất định văng sanh”, kẻ Ngũ
Nghịch, Thập Ác lúc lâm chung mười niệm cũng
có thể văng sanh. Trong bốn mươi tám nguyện của
kinh Vô Lượng Thọ chỉ nói một điều
kiện, nếu quư vị chẳng thể tin nhận, vâng làm,
sẽ chẳng thể văng sanh, kinh nói “duy trừ hủy báng” (chỉ trừ kẻ hủy
báng) là chẳng thể văng sanh. Nếu có thể tin nhận,
vâng làm, phường Ngũ Nghịch, Thập Ác lúc lâm chung thật
sự sám hối đều có thể văng sanh. Văng sanh
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, thọ
dụng giống như những điều được
nói ở đây! Rơ ràng là một chúng sanh trong địa ngục,
thoáng chốc liền có thể nâng cao, lên cao tới địa
vị Sơ Địa Bồ Tát trong Biệt Giáo, điều
này chẳng thể nghĩ bàn!
Chúng ta đọc chú sớ của
kinh văn, thấy những chỗ như thế này phải
đặc biệt lưu ư, phải cẩn thận lănh hội,
mới biết pháp môn này thù thắng, mới biết pháp
môn này chẳng thể nghĩ bàn. Bản thân chúng ta cảm
thấy đặc biệt may mắn, trong một
đời này, chúng ta học Phật v́ sao có thể gặp
một pháp môn như vậy, đúng là giống như trúng
giải độc đắc, lẽ nào chẳng hoan hỷ?
Trúng giải độc đắc th́ chúng ta hăy khéo ǵn giữ,
chớ nên vứt bỏ. Nếu vứt bỏ th́ quá đáng
tiếc, quyết định chớ nên vứt bỏ. Từ
nay trở đi bèn thật thà niệm Phật, y giáo tu hành.
Trên đây là giảng về tám khổ, phần dưới
đây giải thích mười khổ:
(Sao) Thập khổ giả, Bồ
Tát Tạng kinh, vị nhất sanh khổ, nhị lăo
khổ, năi chí thập sanh tử lưu chuyển khổ. Bách
nhất thập khổ giả, Du Già Luận, nhất vô sai
biệt lưu chuyển khổ, nhị dục khổ si
khổ, năi chí ngũ thập ngũ khổ, thứ cửu
chủng khổ, ư cửu chủng trung, hựu thứ
đệ điệp khai thành ngũ thập ngũ,
hợp chi vi bách nhất thập khổ. Kim bỉ quốc
giai vô dă.
(鈔) 十 苦 者,菩
薩 藏 經,謂 一 生 苦,二
老 苦,乃 至 十 生 死 流 轉
苦。百 一 十 苦 者,瑜 伽
論,一 無 差 別 流 轉 苦,二
欲 苦 痴 苦,乃 至 五 十 五
苦; 次 九 種 苦,於 九 種
中,又 次 第 疊 開 成 五 十
五,合 之 為 百 一 十 苦。今
彼 國 皆 無 也。
(Sao: Mười khổ là theo
kinh Bồ Tát Tạng, một là sanh khổ, hai là lăo khổ,
cho đến mười là sanh tử lưu chuyển
khổ[5].
Một trăm mười khổ: Theo luận Du Già,
một là vô sai biệt lưu chuyển khổ, hai là
dục khổ si khổ, cho đến sự khổ
thứ năm mươi lăm, tiếp đó là chín
thứ khổ, trong chín thứ ấy, [mỗi thứ]
lại lần lượt tách ra thành năm mươi
lăm thứ, hợp lại thành một trăm
mười thứ khổ. Nay cơi kia đều chẳng có
[những thứ khổ ấy]).
Chúng ta có thể tỉnh lược
đoạn này, đoạn này nhằm giải thích “tam
khổ, tám khổ, mười khổ, một trăm
mười thứ khổ” trong lời Sớ. Nếu chư
vị muốn biết rơ chi tiết, xin xem Du Già Sư Địa
Luận. Du Già Sư Địa Luận gồm một
trăm quyển, đoạn này thuộc quyển bốn
mươi bốn. Quyển bốn mươi bốn của
Du Già Sư Địa Luận đă giảng rất tỉ
mỉ một trăm mười thứ khổ. Nói
thật ra, khổ quá nhiều, quy nạp phân loại sẽ
thành một trăm mười thứ khổ, khổ quá
nhiều, nói chẳng xiết! Có tám vạn bốn ngàn nỗi
khổ. Đoạn này nhằm nói rơ Tây Phương Cực
Lạc thế giới thảy đều chẳng có [những
nỗi khổ ấy].
Bất quá chư vị ghi nhớ
một nguyên tắc, nói mười khổ cũng thế,
mà nói một trăm mười thứ khổ cũng vậy,
nói tám vạn bốn ngàn nỗi khổ, hoặc là vô
lượng vô biên nỗi khổ, quy nạp lại sẽ là
tam khổ và tám khổ, quyết định không ra ngoài phạm
vi ấy. Đại cương tổng quát là tam khổ, [tức
là] Dục Giới Khổ, Sắc Giới Khổ, và Vô
Sắc Giới Khổ. Nói tám khổ là nói tới Khổ Khổ
trong Dục Giới, Khổ Khổ lại chia thành tám loại.
V́ thế, chúng tôi nói tỉ mỉ về Tam Khổ và Bát Khổ,
những thứ khác đều có thể tỉnh
lược, Tây Phương Cực Lạc thế giới thảy
đều chẳng có [những nỗi khổ ấy].
(Sao) Nhiên ước chi bất
xuất tam khổ, bát khổ, nhiếp chủng chủng
khổ.
(鈔) 然 約 之 不 出 三 苦 八
苦,攝 種 種 苦。
(Sao: Nhưng nói tóm lại,
chẳng ra ngoài ba khổ và tám khổ, [các loại khổ
ấy] nhiếp các thứ khổ).
“Ước” (約) là quy nạp, quy nạp lại th́ chẳng
ngoài tam khổ và bát khổ.
(Sao) Nhị chủng sanh tử giả,
vị Phần Đoạn, Biến Dịch. Phần
Đoạn giả, Tứ Đại sở thành, hữu
phân tề đoạn lạc, như thượng bát
khổ trung thuyết. Biến Dịch, tắc Nhị
Thừa Bồ Tát, tuy ly Phần Đoạn, vị miễn
tứ tướng thiên lưu, nhân di quả dịch, diệc
danh vi Khổ.
(鈔) 二 種 生 死
者,謂 分 段、變 易。分
段 者,四 大 所 成,有 分
齊 段 落,如 上 八 苦 中 說。變
易,則 二 乘 菩 薩,雖 離
分 段,未 免 四 相 遷 流,因
移 果 易,亦 名 為 苦。
(Sao: Hai thứ sanh tử là
Phần Đoạn và Biến Dịch. Phần
Đoạn: Do Tứ Đại hợp thành, tồn
tại một khoảng thời gian, như trong tám khổ
ở phần trên đă nói. Biến Dịch: Nhị
Thừa và Bồ Tát tuy đă ĺa Phần Đoạn,
nhưng chẳng tránh khỏi bốn tướng
đổi dời, nhân dời, quả đổi, cũng
gọi là Khổ).
Phần
Đoạn là từng phần, từng đoạn. Nói theo
cách phân chia đại lược th́ giống như thế
gian này của chúng ta, từ sanh ra cho đến khi chết
đi là một giai đoạn, một đời là một
giai đoạn. Sau khi đă chết, quư vị thấy kinh Địa
Tạng nói, chẳng quá bốn mươi chín ngày kẻ ấy
lại đầu thai. Từ khi người ấy đầu
thai đến khi tử vong lại là một giai đoạn
nữa. Sanh tử như vậy là sanh tử trong lục
đạo luân hồi, được gọi là Phần
Đoạn sanh tử. Đây là nói thô thiển. Nếu nói tỉ
mỉ, sẽ là Phần Đoạn sanh tử trong từng
sát-na. Con người hiện đại hiểu điều
này, thân thể của chúng ta do các tế bào hợp thành. Tế
bào thay cũ, đổi mới, trong từng sát-na có
rất nhiều tế bào tử vong, và có rất nhiều tế
bào mới h́nh thành. Kinh giảng rất khoa học, kinh dạy
thân thể này của chúng ta là thân thể vật chất,
tuần hoàn mỗi bảy năm. Nói cách khác, bảy năm
trước so với hiện tại là bảy năm sau, các
tế bào cũ chẳng c̣n nữa. Bảy năm là một
chu kỳ tuần hoàn, [thay đổi] dần dần giống
như thay linh kiện, thong thả thay đổi, thay đổi
trọn hết, tất cả đều đổi thành mới.
Những tế bào mới này có những cấu trúc chẳng
bằng tế bào cũ, nên chúng già yếu, chẳng được
tốt đẹp như cái cũ. Chúng ta thích đổi lấy
linh kiện mới, hay là đổi lấy thứ cũ kỹ
người khác chẳng cần nữa? Đổi cái cũ,
càng đổi càng tệ, tuổi càng cao, lăo bệnh đều
xảy đến. Quư vị đổi linh kiện, nhưng
đổi lấy thứ rất kém cỏi. Tuổi trẻ
thân thể khỏe mạnh, đổi lấy toàn là thứ
mới. Thưa cùng quư vị, điều này có quan hệ rất
lớn đối với tâm cảnh của chúng ta.
Người có tâm t́nh, t́nh
tự tốt đẹp, tuy tuổi tác đă cao, chẳng
lộ vẻ già nua, người ấy tuổi già chứ tâm
người ấy chẳng già! Tâm không già nên thân cũng chẳng
già, thân thể chuyển theo tâm! Tuy người chẳng già,
nhưng kẻ ấy tự cảm thấy ḿnh đă lớn
tuổi quá, ta sắp chết rồi, thân thể người
ấy sẽ tự nhiên lăo hóa. Thật vậy! Thân thể là
chánh báo, biến hóa theo tâm lư và t́nh tự của chúng ta. Người
tuổi cao tâm t́nh khác với thuở thanh niên và tráng niên. Nếu
người già giữ được tâm thái thanh thiếu
niên, người ấy sẽ chẳng già! Do vậy, [những
ǵ] Phật pháp nói đích xác là rất khoa học! Nói tỉ
mỉ th́ Phần Đoạn sanh tử cũng là sanh tử
trong từng sát-na, tức là nói các tế bào trên thân thể
chúng ta thay cũ đổi mới, đó là một loại.
Người có Phần Đoạn sanh tử nhất
định có Biến Dịch sanh tử; nhưng người
có Biến Dịch sanh tử chẳng nhất định có
Phần Đoạn sanh tử.
Biến Dịch là ǵ? Nói
thật ra, Biến Dịch chẳng có sanh tử, xác
thực là chẳng có sanh tử. Sanh tử có nghĩa là khổ.
Tuy chẳng sanh tử, nhưng kẻ ấy có khổ, nên
tỷ dụ Biến Dịch như sanh tử. Biến
Dịch là [quá tŕnh] nâng cao [cảnh giới] trong sự tu hành
chứng quả. Thí dụ như Sơ Quả trong Tiểu
Thừa phải trải qua công phu tu hành kha khá mới có thể
chứng đắc Nhị Quả. Sau khi chứng
đắc Nhị Quả, lại phải tu hành mới có
thể chứng đắc Tam Quả. Sự tu hành này cũng
khổ. Người ấy chẳng chịu nỗi khổ
đó, sẽ không thể tiến lên, chuyện như thế
được gọi là Biến Dịch. Từ Sơ
Quả lên đến Nhị Quả là một sự biến
hóa, nói tới ư nghĩa ấy. Giống như học tṛ học
hành trong nhà trường, học lớp Một, phải học
đàng hoàng suốt một năm mới có thể lên lớp
Hai, học lớp Một rất nhọc nhằn mới có
thể lên lớp Hai. Lại nhọc nhằn học lớp
Hai suốt một năm mới có thể lên lớp Ba. Mang
ư nghĩa đó: Biến hóa. Người ấy hoàn toàn chẳng
phải là thật sự có sanh tử, chẳng rơ rệt giống
như Phần Đoạn sanh tử đă được
nói trong phần trước, chẳng phải vậy! Ở
đây là nói tu hành chứng quả cũng phải trải
qua một phen rèn giũa th́ mới có thể đạt thành
tựu. Đấy là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát; từ
Bồ Tát măi cho đến Đẳng Giác Bồ Tát vẫn
c̣n có Biến Dịch. Đẳng Giác Bồ Tát phải trải
qua một lần Biến Dịch nữa bèn thành Phật. Nói
nghiêm ngặt, ai chẳng có Biến Dịch sanh tử? Thành
Phật mới chẳng có. Đẳng Giác Bồ Tát vẫn
c̣n có một lần Biến Dịch sanh tử. Chúng ta nói những
vị như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí vẫn
c̣n có một lần Biến Dịch sanh tử.
(Sao) Bỉ quốc liên hoa hóa sanh,
nhất sanh bất thoái, hà lự nhị chủng khổ dă.
(鈔) 彼 國 蓮 華 化 生,一
生 不 退,何 慮 二 種 苦 也。
(Sao: Cơi ấy liên hoa hóa sanh,
hễ sanh về đó liền bất thoái, c̣n lo ǵ hai
thứ khổ nữa!)
Bất luận là người như
thế nào, bất luận người ấy thuộc địa
vị ra sao, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới đều viên chứng ba món Bất Thoái. Không chỉ
chẳng có Phần Đoạn sanh tử, như trong phần
trước đă nói, người ấy chẳng có sanh,
lăo, bệnh, tử, mà cũng chẳng cần quan tâm đến
Biến Dịch sanh tử. Nhưng ngoài Tây Phương Cực
Lạc thế giới ra, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát [trong
các thế giới khác] đều rất quan tâm đến
Biến Dịch sanh tử, v́ sao? V́ họ bị mê khi cách ấm,
bị thoái chuyển, đây là chuyện rất phiền phức.
Do vậy, tu hành phải trải qua nhiều kiếp dài lâu.
V́ sao bị thoái chuyển? Bên trong chẳng đoạn sạch
phiền năo, bên ngoài nếu gặp duyên [th́ những phiền
năo ấy] lại dấy lên hiện hành, sẽ phiền phức,
bị thoái chuyển liền. Hễ thoái chuyển th́ sẽ
rất tai hại. Vừa lui sụt liền lui sụt rất
nhiều, chẳng phải là lui sụt một bước!
Sau khi thoái chuyển th́ đời sau chẳng bằng đời
trước.
Thí dụ như từ lịch
sử Trung Quốc, chúng ta thấy thiền sư Ngũ Tổ
Giới của Thiền Tông, thuở ấy Sư tu tŕ khá lắm,
thấy những hộ pháp trai chủ trong chùa có những người
làm quan to. Sư trông thấy, trong tâm hâm mộ, dấy lên ư
niệm này, phiền phức ngay! Đời sau bèn làm quan, bị
thoái chuyển. Đời sau làm người nào? Tô Đông
Pha, hậu thân của thiền sư Ngũ Tổ Giới là
Tô Đông Pha. Tô Đông Pha bị biếm trích về phương
Nam, chỉ mang theo một cuộn tranh vẽ h́nh tượng
A Di Đà Phật, nói: “Thử
Thức sanh Tây Phương công cứ dă” (đây là Tây
Phương công cứ của Thức[6]
trong đời này). Từ ngữ “Tây Phương công cứ” do Tô Đông Pha nói ra. Về
sau, Tô Đông Pha mất, ông ta cũng suốt đời
học Phật, cũng là cả đời niệm Phật,
đáng tiếc do tập khí quá sâu, chẳng thể văng sanh.
Nếu ông ta văng sanh th́ sẽ không có chuyện ǵ! Lịch
sử có ghi chép hậu thân của ông ta, là một viên quan rất
nhỏ có tên tuổi đàng hoàng, giống như khoa
trưởng hoặc khoa viên trong chánh phủ hiện
thời. Đúng là mỗi đời một kém hơn, sụt
lui trên một mức độ to lớn! Chúng ta chẳng
biết đời kế tiếp nữa [của Tô Đông
Pha]. Từ lịch sử, chúng ta thấy Giới thiền
sư tụt lùi hai lần; thậm chí Bồ Tát c̣n bị
mê khi cách ấm. Do vậy, văng sanh Tây Phương sẽ
chẳng gặp nỗi khó khăn này!
Đối với tiếng tăm,
lợi dưỡng, tài, sắc, danh vọng, ăn, ngủ
trong thế gian hễ động tâm đôi chút sẽ biến
thành chướng ngại, Tô Đông Pha cũng là một người
niệm Phật nhưng chẳng thể văng sanh. Lúc tôi vừa
mới học Phật, gặp thầy Lư, thầy Lư khuyên tôi,
v́ khi đó tôi vẫn chưa xuất gia, c̣n dùng thân phận
cư sĩ theo học với thầy Lư. Cụ bảo tôi:
“Cổ nhân chẳng học Tô
Đông Pha, người đời nay chẳng học theo
Lương Khải Siêu”. Cụ giảng giải, hai người
ấy đều là đại Phật học gia, nhưng đều
chẳng thể thành tựu, vẫn y như cũ chẳng
thể thoát ly lục đạo luân hồi. Do vậy, phải
đào thải sạch sành sanh hết thảy tập khí thế
gian, nhất tâm hướng theo Phật đạo,
nhất tâm giữ lấy Tịnh Độ, chúng ta suốt
đời nỗ lực như vậy mới ḥng có thành
tựu. Phải coi nhẹ duyên thế gian, chớ nên so đo,
bất luận chỗ nào cũng đều là chỗ để
chúng ta an thân lập mạng, chẳng cần phải chọn
lựa, điều khẩn yếu là giữ ǵn thân tâm thanh
tịnh. Câu Phật hiệu chẳng gián đoạn, chẳng
xen tạp, chẳng hoài nghi, rơ ràng, minh bạch, chỉ cần
công phu sâu xa, tự nhiên biết trước lúc mất, như
vậy th́ đời này chẳng bị luống uổng!
(Sao) Đại Bổn vân: “Bỉ
quốc bất văn khổ danh, hà huống thật
khổ?” Cố vân “vô hữu chúng khổ”.
(鈔) 大 本 云:彼 國 不 聞
苦 名,何 況 實 苦。故 云
無 有 眾 苦。
(Sao: Kinh Đại Bổn nói:
“Cơi ấy chẳng nghe danh tự sự khổ, huống
hồ có khổ thật sự?” V́ thế nói “chẳng có
các khổ”).
Kinh
Vô Lượng Thọ nói: Bên Tây Phương Cực Lạc
thế giới, ngay cả những danh xưng của sự
khổ c̣n chẳng có, há có những sự ấy? Ở nơi
đây, Tổ đă v́ chúng ta giải thích cặn kẽ, thảy
đều nhằm làm cho chúng ta đoạn nghi sanh tín, thế
giới ấy quả thật chẳng giống các thế
giới của mười phương chư Phật. Tây
Phương Cực Lạc thế giới chẳng có tất
cả các sự khổ như trong mười phương
thế giới; do vậy, mới gọi là thế giới
Cực Lạc.
(Sao) Nhị chủng thanh tịnh
giả, luận minh nhất giả khí thế gian thanh
tịnh, nhị giả chúng sanh thế gian thanh tịnh.
Tức y chánh nhị báo, công đức trang nghiêm, như hạ
văn trung, cập Đại Bổn, Quán Kinh tường
biện.
(鈔) 二 種 清 淨 者,論 明
一 者 器 世 間 清 淨,二 者
眾 生 世 間 清 淨。即 依 正
二 報,功 德 莊 嚴,如 下
文 中,及 大 本 觀 經 詳 辯。
(Sao: Hai thứ thanh tịnh:
Luận nói [hai thứ thanh tịnh] th́ một là khí thế
gian thanh tịnh, hai là chúng sanh thế gian thanh tịnh, tức
là y báo và chánh báo công đức trang nghiêm, như trong
phần kinh văn ở phía sau, Đại Bổn và Quán
Kinh sẽ nói tỉ mỉ).
Tây Phương Cực Lạc có
hai thứ thanh tịnh, hai thứ ấy là y báo và chánh báo, tức
là khí thế gian và chúng sanh thế gian. Hai thứ đều
thanh tịnh, đó là “y chánh
trang nghiêm”. “Hạ văn”: Phần sau kinh này sẽ nói đến.
Đại Bổn là kinh Vô Lượng Thọ, Quán Kinh là kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật. Trong Tịnh Độ Tam
Kinh, Đại Bổn và Quán Vô Lượng Thọ Phật
Kinh giảng giải tỉ mỉ [y báo và chánh báo trang nghiêm].
Ở đây, đại sư giả thiết một đoạn
vấn đáp:
(Sao) Vấn: Tịnh Danh vân, nhất
thiết chúng sanh tức tịch diệt tướng, bất
phục cánh diệt, tắc nhất thiết quốc độ
tức Cực Lạc tướng, hà cánh hữu lạc. Kim
khai khổ lạc, tự vi bỉ kinh?
(鈔) 問:淨 名
云,一 切 眾 生 即 寂 滅 相,不
復 更 滅,則 一 切 國 土 即
極 樂 相,何 更 有 樂。今
開 苦 樂,似 違 彼 經?
(Sao: Kinh Tịnh Danh nói hết
thảy chúng sanh chính là tướng tịch diệt, há c̣n
có tịch diệt, hết thảy cơi nước chính là
tướng Cực Lạc, há c̣n có lạc? Nay kinh này tách bạch
khổ và vui, dường như mâu thuẫn với kinh
ấy).
Tịnh
Danh là kinh Duy Ma Cật. Dùng ư nghĩa trong một
đoạn kinh Duy Ma Cật để đối chiếu
với đoạn này, dường như cách nói trong kinh
này mâu thuẫn kinh Duy Ma, nên nêu ra một nghi vấn như
thế. Ư nghĩa của lời hỏi là “hết thảy chúng sanh chính là tướng tịch
diệt, há c̣n có diệt”, đó chính là như kinh Duy Ma
đă nói: “Sanh tử tức Niết
Bàn, phiền năo tức Bồ Đề”, là một,
chẳng hai. Nếu dựa theo nguyên lư này, chúng sanh trong chín
pháp giới, tức hết thảy hữu t́nh chúng sanh trong
chín pháp giới sanh tử chính là tu ác, tu ác là tánh ác, tánh ác dung
thông, mặc t́nh nhiếp tŕ sự tu thiện trong Phật
pháp giới, nên mới nói là “tu thiện”. V́ thế nói: “Sanh tử tức Niết Bàn tướng”,
chẳng cần phải diệt sanh tử, chứng Niết
Bàn. Nói cách khác, ở ngay trong sanh tử mà chứng Niết
Bàn. Đây là trước hết từ kinh Duy Ma kiến lập
một đại tiền đề, sau đấy mới
gộp chung ư nghĩa trong kinh này để nói th́ hết
thảy các cơi nước chính là tướng Cực Lạc,
c̣n có thế giới Cực Lạc nào nữa? “Kim khai khổ lạc, tự vi
bỉ kinh” (nay tách ra thành khổ và lạc, dường
như mâu thuẫn với kinh ấy), bắt bẻ: Kinh Duy
Ma nói khổ và lạc chẳng hai, khổ và lạc như
một, trong kinh này chúng ta nói khổ và lạc đối lập,
khổ lạc rạch ṛi, khác với kinh Duy Ma, có mâu thuẫn
hay không? Dưới đây là lời giải đáp rất
hay!
(Sao) Đáp: Hiền Thủ
đại sư thích bỉ kinh ư, vị thị đản
dĩ mê đảo, vọng kiến sanh tử, danh tại
thử ngạn; ngộ sanh tử không, bổn lai viên
tịch, tức danh bỉ ngạn.
(鈔) 答:賢 首
大 師 釋 彼 經 意,謂 是 但
以 迷 倒,妄 見 生 死,名
在 此 岸;悟 生 死 空,本
來 圓 寂,即 名 彼 岸。
(Sao: Đáp: Hiền Thủ
đại sư giải thích kinh ấy có ư nói: Chỉ v́ mê
hoặc, điên đảo, lầm lạc thấy có sanh
tử, nên gọi là “ở bờ này”. Ngộ sanh tử là
Không, vốn sẵn viên măn, vắng lặng, bèn nói là
“bờ kia”).
Kinh
Duy Ma nói chẳng sai, mà kinh này cũng chẳng nói trật.
Những điều được nói trong kinh Duy Ma hoàn
toàn là nói xứng tánh, là cảnh giới của Phật và đại
Bồ Tát, chẳng phải là cảnh giới của phàm
phu. Không chỉ chẳng là cảnh giới của phàm phu,
mà Nhị Thừa và Quyền Giáo Bồ Tát đều chẳng
thấy được, v́ sao? Chưa kiến tánh. Chưa
kiến tánh bèn gọi là mê, kiến tánh mới gọi là ngộ.
Trong đoạn trả lời này, [Liên Tŕ đại
sư] lại dẫn lời Hiền Thủ đại
sư. Ngài Hiền Thủ[7]
là thầy ngài Thanh Lương, là tổ sư đời thứ ba của
tông Hoa Nghiêm. Tông Hoa Nghiêm thật sự do ngài Hiền
Thủ kiến lập; v́ thế, Hoa Nghiêm Tông c̣n gọi là Hiền
Thủ Tông. Sơ Tổ là ḥa thượng Đỗ Thuận,
nhị tổ là Vân Hoa đại sư, Hiền Thủ là
đời thứ ba, vị này là một người
rất lỗi lạc. Thời Hiền Thủ quốc
sư, kinh Bát Thập Hoa Nghiêm c̣n chưa được
dịch ra. Ba vị tổ sư từ ngài Hiền Thủ trở
về trước đều dùng bản Lục Thập
Hoa Nghiêm được dịch vào đời Tấn. Hiền
Thủ quốc sư soạn một bản chú giải cho
kinh Hoa Nghiêm, có tựa đề là Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền
Kư. Ngài Thanh Lương tiếp nối đạo mạch
của ngài Hiền Thủ, tông Hoa Nghiêm đến đời
ngài Thanh Lương đích xác đă phát dương quang
đại đến mức tột bậc.
“Hiền Thủ đại sư
thích bỉ kinh ư” nghĩa là giải thích kinh Duy Ma, lăo nhân
gia nói: “Đản dĩ mê
đảo, vọng kiến sanh tử, danh tại thử
ngạn” (chỉ v́ mê hoặc, điên đảo,
lầm lạc thấy có sanh tử, nên gọi là “ở
bờ này”), mê hoặc, điên đảo! Điều này có
nghĩa là “sanh tử vốn là
không, vốn chẳng có tự tánh”. Nếu nói cặn
kẽ, một bộ kinh Lăng Nghiêm nhằm giảng
chuyện này. Thoạt đầu dấy lên vô minh, do vô minh
dẫn khởi ba tế tướng, từ Cảnh
Giới Tướng lại hiện ra sáu thô tướng, tạo
nghiệp, chịu báo qua lại trong lục đạo, chuyện
là như thế đó. Thật tại là: Trong vô sanh tử,
lầm lạc thấy có sanh tử. Giống như một
người nằm mộng, tâm địa thanh tịnh
căn bản là chẳng có mộng, nhưng mê rồi sẽ
nằm mộng. Tuy nằm mộng, mộng cũng chẳng
phải là thật. Ngày nay, chúng ta luân hồi trong lục
đạo, nói thật thà, đó chẳng phải là
thật sự. Quư vị ngỡ là thật, chứ nó
chẳng thật. Thiền sư Vĩnh Gia nói rất hay: “Mộng lư minh minh hữu lục
thú, giác hậu không không vô
đại thiên” (trong mộng rành rành phô sáu nẻo, giác
rồi ba cơi rỗng toang hoang). Ư nghĩa này tương
thông với kinh Duy Ma.
Nhưng chúng ta phải suy
nghĩ, tuy mộng là giả, chẳng thật, nhưng
nếu một người mỗi ngày đều gặp ác
mộng, cũng rất khó chịu! Chúng ta chưa thoát ly lục
đạo luân hồi là đang mơ một giấc
mộng lớn, Phật, Bồ Tát trông thấy [phải
than thở] oan uổng quá! Chuyện ǵ cũng đều chẳng
có, nhưng do đang mộng nên ngỡ mộng là thật,
chẳng biết chính ḿnh đang nằm mộng, giấc
mộng ấy càng mộng càng tệ hại hơn, nhân
duyên quả báo diễn ra càng thảm thiết hơn! Thê
thảm nhất không ǵ bằng sát sanh! Trong kinh, đức
Phật dạy chúng ta: “Người
chết làm dê, dê chết làm người”. Đây là nói
người mổ dê, dê sau khi bị giết lại đầu
thai làm người, người đă giết dê ăn
thịt sau khi chết lại biến thành dê, oan oan
tương báo [dây dưa] chẳng xong. Mỗi lần báo thù
cũng đều quá mức; do vậy, oán cừu càng
kết càng sâu. Đức Phật đă nói toạc sự
thật này, nếu bản thân chúng ta suy nghĩ kỹ càng,
đọc lịch sử [sẽ thấy] từ xưa
đến nay, chiến tranh mỗi lần một thảm
khốc hơn. Thời cổ, chư vị đọc
lịch sử đều biết rơ [mức độ thảm
khốc của mỗi cuộc chiến], c̣n trong thời cận
đại th́ so sánh giữa Thế Chiến lần thứ
nhất và Thế Chiến lần thứ hai, Thế
Chiến lần thứ hai thảm khốc hơn Thế
Chiến lần thứ nhất rất nhiều! Có thể nào
có Thế Chiến lần thứ ba hay không? Thưa cùng quư
vị, chắc chắn là có! Thế Chiến lần
thứ ba sẽ vượt xa Thế Chiến lần
thứ hai. Hiện thời các quốc gia đều
biết, Thế Chiến lần thứ ba bùng nổ sẽ
chẳng có kẻ thắng cuộc mà sẽ là cùng nhau
chết sạch.
V́ sao có chuyện “cùng nhau
chết sạch”? Sát nghiệp của chúng sanh quá nặng,
nghiệp báo mà! Chẳng có cách nào tránh khỏi. Đức Phật
dạy chúng ta, nếu muốn thế gian chẳng có đao
binh kiếp, trừ phi chúng sanh chẳng ăn thịt. Nếu
chúng sanh trên cả thế giới đều giác ngộ,
chúng ta đều chẳng ăn thịt chúng sanh. Nếu
chẳng sát hại hết thảy chúng sanh, có lẽ đao
binh kiếp sẽ có thể tránh khỏi.
Chúng ta thấy sau Thế Chiến lần thứ hai, chúng sanh
trên thế giới này sát sanh, ăn thịt vượt xa
xă hội trước thời Thế Chiến thứ hai,
vượt trội quá nhiều! Do cái nhân ác dường
ấy, có thể nào tránh khỏi ác quả? Nhân quả báo
ứng là chân lư, chẳng có cách nào thay đổi! Nếu
chúng ta nh́n lại t́nh h́nh sau Thế Chiến thứ hai, ḷng
người trong xă hội thuở ấy so với
hiện thời đă bị biến đổi hoàn toàn!
Trong khoảng bốn mươi năm đầu thời
Dân Quốc, ḷng người c̣n khá thuần phác, đều
c̣n rất thật thà, rất trung hậu. Con người
hiện thời khác hẳn! Trong
những năm Dân Quốc 38, 39, 40 (1951), chúng ta lạc
đường, hỏi bất cứ ai trên
đường, người ấy không
chỉ rất nhiệt t́nh chỉ đường, mà c̣n
dẫn quư vị đi, sợ quư vị lạc
đường. Hiện thời, quư vị lạc
đường, hỏi người ta, chẳng ai ngó ngàng!
Ngoại quốc cũng
giống như thế. Trong quá khứ, tiên sinh Phương
Đông Mỹ nói: “Năm mươi năm trước,
người Mỹ hết sức đáng mến”. Nói cách
khác, năm mươi năm sau, người Mỹ
chẳng c̣n đáng ưa nữa! Hiện thời, các
vấn đề trong giới trẻ của Mỹ hết
sức nghiêm trọng. Giáo dục tự do, giới trẻ
sa đọa là điều rất phổ biến,
chẳng chịu học hành, hút xách. Nước Mỹ là
nước tiêu thụ các chất nghiện ngập cao
nhất thế giới. Chín mươi phần trăm sản
phẩm ma túy đều do người Mỹ tiêu thụ,
quá sức! Vấn đề này nghiêm trọng lắm!
Đối với người hiểu rơ hoàn cảnh
hiện thực trên thế giới này, đúng là không ai
chẳng lo nghĩ, không có cách nào tránh khỏi, dứt
trừ tai nạn!
Tuy là giả, chẳng thật,
nhưng quư vị coi nó là thật, quư vị vẫn phải
chịu nỗi khổ này. Quư vị chẳng thể nói nó
là giả, ta sẽ không phải hứng chịu. Quư vị vẫn
phải hứng chịu, mà c̣n phải chịu đựng
vô cùng đau khổ. Đó là “vô
sanh tử trung, hôn mê, điên đảo, vọng kiến sanh
tử, danh tại sanh tử thử ngạn” (ở trong
không sanh tử, hôn mê, điên đảo, lầm lạc
thấy có sanh tử, gọi là ở bên này bờ sanh
tử). “Ngộ sanh tử không,
bổn lai viên tịch, tức danh bỉ ngạn”
(Ngộ sanh tử là Không, vốn viên măn, vắng lặng,
gọi là bờ kia). Nếu quư vị thật sự khai
ngộ, “sanh tử bổn không,
bổn lai Niết Bàn, tức sanh tử thử ngạn,
tiện danh bỉ ngạn” (sanh tử vốn là Không,
vốn là Niết Bàn, nên bờ này sanh tử liền
gọi là bờ kia), giữa đây và kia trọn chẳng
có giới hạn. Bờ này và bờ kia, sanh tử và Niết
Bàn, trong ấy chẳng có giới hạn, chỉ là mê hay ngộ
sai khác. Mê bèn gọi là sanh tử, ngộ bèn gọi là Niết
Bàn. Nói cách khác, Sa Bà và Cực Lạc cũng là như
thế, mê bèn gọi là Sa Bà, Sa Bà là thế giới cực
khổ, ngộ bèn gọi là Cực Lạc, đều là
nói theo quả. Nếu nói theo nhân, mê là phiền năo, vô
lượng vô biên phiền năo. Ngộ rồi sẽ
chẳng gọi là phiền năo, mà gọi là Bồ
Đề, đúng là một, chẳng hai.
Nhưng có mấy ai giác ngộ?
Có sức giác ngộ, tốt lắm! Chẳng c̣n chuyện
ǵ nữa. Không có năng lực giác ngộ th́ phải sanh
về Tây Phương, vẫn phải nói tới cực
khổ và Cực Lạc. Chẳng thể bảo cách nói này
là sai, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới
là ngộ; chưa thể văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới là mê! Nay chúng ta nói thật thà, phá mê
khai ngộ là cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, đó là thật sự khai ngộ. Nếu quư
vị chẳng cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, muốn khai ngộ trong thế gian này, chẳng
dễ dàng đâu nhé! Trong ngàn vạn người, khó có được
một kẻ, chẳng đơn giản! Dẫu quư
vị thật sự khai ngộ ở nơi đây, nhưng
tập khí phiền năo chưa đoạn hết, vẫn luân
hồi trong lục đạo, tuyệt đối chẳng
phải là nói “một ngộ, hết thảy ngộ,
một ngộ liền rốt ráo ngộ” [như trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới]! Chẳng có chuyện
dễ dàng như vậy! Như vậy th́ mới rơ ràng đôi
chút, muốn cầu đại triệt đại ngộ rốt
ráo viên măn, nguyên lai vẫn là phát nguyện sanh về thế
giới Tây Phương.
Do vậy, Ngẫu Ích đại
sư mới nói: “Tâm phát nguyện
văng sanh là Vô Thượng Bồ Đề tâm”, chúng ta suy
nghĩ sẽ thấy Ngài nói lời ấy rất có lư. Tuy cách
nói ấy, trong hết thảy kinh luận và hết
thảy các vị tổ sư đại đức xưa
nay chưa hề nói như thế, người đầu
tiên nói như vậy là Ngẫu Ích đại sư, nhưng
suy nghĩ cặn kẽ sẽ thấy hay lắm, càng suy
nghĩ càng thấy hợp lư, Ngài nói chẳng sai! Tâm phát
nguyện văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới không chỉ là Vô Thượng Bồ Đề tâm, [mà
c̣n] là tâm đại triệt đại ngộ, là thật
sự giác ngộ, viên măn giác ngộ, triệt để giác
ngộ. Do vậy, người phát nguyện cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới là người
thật sự lỗi lạc. Quư vị vừa phát cái tâm ấy,
mười phương chư Phật
tán thán, long thiên thiện thần đều cung kính, chúng ta
có thể thấu hiểu sự thật này. Do vậy,
bản thân chúng ta sẽ đạt được lợi
ích sâu xa, thù thắng khôn sánh ấy trong một đời
này. Chúng ta nhất định phải đem lợi ích ấy
cho hết thảy chúng sanh cùng hưởng, như
vậy th́ mới có thể báo ơn Phật, mới chẳng
có lỗi với A Di Đà Phật, không có lỗi với Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, mới thật sự thực hiện
“thượng báo tứ
trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” như
trong bài kệ Hồi Hướng đă nói, chẳng
phải là mỗi ngày đều hô khẩu hiệu, mỗi
ngày luôn xướng cao giọng! Chúng ta phải thật
sự thực hiện, tận tâm tận lực làm.
(Sao) Kim vị diệc dĩ mê đảo,
vọng kiến Ngũ Trược, danh trụ Sa Bà;
ngộ Ngũ Trược không, bổn lai thanh tịnh,
tức danh Cực Lạc. Quốc độ thường
tịnh, chúng sanh tự mê, mê đa, ngộ quả, thị
khổ, thị lạc, bất dung dĩ dă.
(鈔) 今 謂 亦 以 迷 倒,妄
見 五 濁,名 住 娑 婆;悟
五 濁 空,本 來 清 淨,即
名 極 樂。國 土 常 淨,眾
生 自 迷,迷 多 悟 寡,示
苦 示 樂,不 容 已 也。
(Sao: Nay nói: Cũng do mê
hoặc, điên đảo, lầm lạc mà thấy có Ngũ
Trược nên gọi là “trụ trong Sa Bà”. Ngộ Ngũ
Trược vốn là Không, vốn sẵn thanh tịnh, bèn
gọi là Cực Lạc. Cơi nước thường
tịnh, chúng sanh tự mê, mê nhiều, ngộ ít, nên
chẳng thể nào không chỉ bày sự khổ, nêu ra sự
vui).
Đoạn này là Kết Đáp
(đúc kết lời đáp), căn cứ trên vấn
đề được nêu ra ở phía trước. Chúng
ta hiểu cơi nước nói thật ra là “thường tịnh”, nên thế giới vốn
là Nhất Chân, Nhất Chân pháp giới, Hoa Nghiêm là Nhất Chân
pháp giới. Kinh này cũng là Nhất Chân pháp giới, sau khi
đă mê mới có mười pháp giới. Trong mê th́ Phật
pháp giới thuộc mười pháp giới vẫn chưa
phải là Nhất Chân pháp giới, đừng nên cho
rằng sau khi đă mê th́ hễ chúng ta nói tới Phật pháp
giới bèn đại khái là Nhất Chân pháp giới, chẳng
phải vậy. Tạng Giáo Phật, Thông Giáo Phật và Biệt
Giáo Phật như đă nói trong tứ giáo của tông Thiên
Thai tuy là Phật pháp giới, nhưng so với các địa
vị trong Viên Giáo hoàn toàn chẳng cao! Biệt Giáo Phật bất
quá là địa vị Nhị Hạnh Bồ Tát trong Viên
Giáo, Thập Trụ, Thập Hạnh, [Biệt Giáo Phật]
là địa vị thứ hai trong Thập Hạnh, nên có thể
thấy địa vị của Ngài chẳng cao, Biệt
Giáo mà! Tạng Giáo và Thông Giáo lại càng chẳng cần phải
nói nữa, ngay cả [đem so với] Sơ Trụ Bồ
Tát vẫn chẳng sánh bằng!
Pháp giới vốn là Nhất
Chân, bổn tánh của chúng ta vốn sẵn thanh tịnh, Lục
Tổ nói rất hay: “Vốn chẳng
có vật, chỗ nào nhuốm bụi trần”, vốn sẵn
thanh tịnh! Do vậy, thanh tịnh là chân tướng, thật
tướng. Vốn sẵn thanh tịnh, nay chẳng thanh tịnh,
thưa cùng quư vị, chẳng thanh tịnh là giả, thanh
tịnh là thật. Vốn sẵn thanh tịnh, nhưng thanh
tịnh biến thành chẳng thanh tịnh, đó là Chân
Như bổn tánh có vấn đề, thật sự có ô
nhiễm. Đức Phật thường dùng tỷ dụ,
sánh ví Chân Như bổn tánh như mặt trời, sánh ví mê
t́nh, nhiễm ô của chúng ta như mây. Mây che lấp mặt
trời, nhiễm bẩn bổn tánh, chúng ta nghĩ xem mây có
che khuất mặt trời hay chăng? Che chẳng được!
Mây che được ǵ? Che mắt chúng ta, trọn chẳng
che mặt trời, t́nh h́nh thực tế là như vậy.
V́ thế, kinh Lăng Nghiêm và Viên
Giác nói rất hay, mê vốn là giả, vốn trống không,
chẳng phải là thật, ngộ mới là thật. Trong
Khởi Tín Luận, Mă Minh Bồ Tát cũng nói hết
sức rơ ràng, “Bổn Giác vốn
có”, Bổn Giác là ngộ, là bổn tánh, là Nhất Chân
pháp giới, vốn có! “Bất
Giác vốn không”, Bất Giác là mê, mê vốn không! Giống
như một kẻ nằm mộng, cái tâm có thể nằm
mộng là vốn có, mộng cảnh vốn là không! Nhưng
mộng cảnh rất ngắn ngủi, tạm thời, mộng
cảnh có trở ngại chân tánh hay không? Không trở ngại.
Chỉ cần quư vị giác ngộ, nó vốn sẵn chẳng
trở ngại; đó gọi là “chân
- vọng bất nhị, tánh - tướng như nhau”. Kinh
Hoa Nghiêm kiến lập tứ vô ngại pháp giới, [tức
là] Sự vô ngại, Lư vô ngại, Lư Sự vô ngại, Sự
Sự vô ngại, pháp giới chẳng có chướng
ngại! Tất cả hết thảy chướng
ngại đều do quư vị mê mất tự tánh, mê mất
Nhất Chân, sanh ra vô lượng vô biên chướng
ngại. Do vậy, có thể biết, tứ vô ngại pháp
giới là Nhất Chân pháp giới, pháp giới có
chướng ngại sẽ là mười pháp giới, do đâu
sanh ra? Do mê hay ngộ mà sanh. Mười pháp giới là
giả, Nhất Chân pháp giới là thật. Một pháp
giới là thật, mười pháp giới là giả, cho nên
gọi Nhất Chân!
Chúng sanh tự ḿnh mê hoặc, điên
đảo, rốt cuộc mê như thế nào? Trong quyển
thứ tư của kinh Lăng Nghiêm, tôn giả Phú Lâu Na thỉnh
giáo Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài thưa hỏi vô minh sanh ra như
thế nào? V́ sao có vô minh? Khi nào vô minh sẽ sanh? Thành Phật
là đă đoạn vô minh, khi nào lại dấy lên vô minh? Hỏi
những vấn đề ấy. Đức Phật nói về
cội nguồn của vô minh: “Tri
kiến lập tri, thị vô minh bổn” (từ trong tri
kiến lại lập ra một cái biết nữa, đó là
cái gốc của vô minh), tám chữ của đức Phật
đă trả lời rơ ràng, minh bạch. Vô minh do đâu mà có?
Quư vị nghĩ chính ḿnh hiểu biết, đó là vô minh! “Tri kiến” [trong câu “tri kiến lập tri, thị vô
minh bổn”] là chánh tri chánh kiến, Phật
tri, Phật kiến, từ trong chánh tri chánh kiến, quư
vị lại lập ra một thứ tri kiến nữa,
trật rồi! Đó là vô minh. Nếu chẳng
lập một tri kiến nào, thiên hạ thái b́nh, chuyện
ǵ cũng đều chẳng có. Lập ra tri kiến như
thế nào? Phân biệt, chấp trước, vọng
tưởng, quư vị chắc chắn lập ra ba thứ
này!
Thí dụ như Thiền gia
thường dùng phương pháp này, [ḥa thượng cầm
cái thẻ kẹp sách] giơ lên, quư vị đă trông thấy
rơ ràng, rành rẽ, đây là ǵ? Cái thẻ kẹp sách. Đó là
quư vị lập tri kiến, đó là vô minh. Nó vốn chẳng
có tên, quư vị gán cho nó một cái tên. Quư vị gọi nó là
“thẻ kẹp sách”, người khác gọi nó là “một mảnh
giấy”, mỗi người gán cho nó một cái tên khác nhau,
quư vị chỉ đành tranh căi, dấy lên tranh chấp. Đó
là căn bản của vô minh. Chúng ta mắt có thể thấy,
tai có thể nghe, sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu
trần đều hiểu rơ ràng, minh bạch. Nếu trong ấy
chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng
có vọng tưởng, đó là Phật tri Phật kiến.
Kinh Pháp Hoa nói “nhập Phật
tri kiến”, quư vị vốn có tri kiến, chánh tri chánh
kiến! Vừa mới dấy lên một tí phân biệt, chấp
trước, tri kiến liền bị biến chuyển, biến
thành vô minh, phân biệt, vọng tưởng, chấp
trước, biến thành sanh tử luân hồi, Nhất
Chân pháp giới lập tức bị biến thành
mười pháp giới. Kinh Lăng Nghiêm đă dạy chúng
ta đạo lư này.
Giao Quang đại sư
chủ trương người thật sự tu hành “bỏ Thức dùng Căn”, “dùng Căn” là dùng căn tánh của
sáu căn, chúng ta mắt thấy, đừng nên dùng thức
thứ sáu tức Ư Thức, đừng nên dùng thức thứ
bảy, chớ nên dùng thức thứ tám, là được
rồi! Dùng ǵ để thấy? Thấy bằng tánh Thấy.
Tôi vừa mới nêu ra một thí dụ, nay quư vị thấy
rơ ràng, minh bạch như vậy, đó là quư vị thấy
bằng tánh Thấy. Quư vị lại lập một tri kiến
trên đó, nó sẽ biến thành cái thấy bằng Ư
Thức tức thức thứ sáu và thức thứ bảy.
Quư vị chấp trước đây là cái thẻ kẹp sách,
đó là [sự nhận biết bằng] thức thứ
sáu, cho rằng nó nhất định là cái thẻ kẹp sách,
chứ chẳng phải thứ ǵ khác! Đó là thức thứ
bảy. Thức thứ sáu phân biệt, thức thứ
bảy chấp trước, thức thứ tám lưu
ấn tượng, sai biệt ở chỗ này!
Như thế nào sẽ khiến
cho chúng ta thấy sắc, nghe tiếng, nhưng trong tâm thật
sự chẳng có phân biệt, chấp trước,
vọng tưởng? Sáu căn của chúng ta tiếp xúc cảnh
giới sáu trần th́ căn tánh của sáu căn khởi
tác dụng, chẳng sử dụng tám thức. Vậy th́
quư vị là Phật, Bồ Tát, là người thật
sự giác ngộ. Chúng ta nghĩ người như vậy
sẽ biến thành cái ǵ cũng chẳng biết, người
ta đưa ra thứ ǵ đó, hỏi quư vị cái ǵ đây?
Không biết! Không biết cũng là vô minh. Quư vị cũng
nổi lên phân biệt, chấp trước. Quư vị nói “ta
biết” th́ biết là tà kiến, tà tri tà kiến; “không
biết” th́ không biết là vô minh, vấn đề này to lớn,
ngay lập tức xảy ra vấn đề! Chúng ta hỏi
chuyện ǵ, hỏi Phật th́ đức Phật cũng nói.
Bởi lẽ, trí huệ có hai thứ:
- Một là Căn Bản Trí, [c̣n
gọi là] Thật Trí, tức trí huệ chân thật, thấy
bằng tánh Thấy. Trí huệ chân thật th́ trong tâm trong sạch,
đích xác là “vốn chẳng có một vật”.
- Loại trí huệ thứ hai
phát sanh từ loại trí huệ chân thật thứ nhất,
được gọi là Hậu Đắc Trí, hoặc Tha Thọ
Dụng Trí, chẳng phải để cho chính ḿnh thọ dụng.
Người ta hỏi quư vị: “Đây
là ǵ?” Cái thẻ kẹp sách. Không phải là tôi chấp
trước cái thẻ kẹp sách, mà do quư vị đều
chấp trước nó là cái thẻ kẹp sách, tôi thuận
theo sự phân biệt của quư vị mà phân biệt, tùy
thuận sự chấp trước của quư vị mà chấp
trước, bản thân tôi quả thật chẳng có
phân biệt, chấp trước, đó là Tha Thọ Dụng
Trí.
Do vậy, đức Phật v́
chúng ta giảng kinh, thuyết pháp, giảng suốt bốn
mươi chín năm, nhưng Ngài nói “ta chẳng nói một
câu nào”, đúng vậy! Chẳng giả! V́ sao? Những ǵ Ngài
đă nói đều là tùy thuận chúng ta mà nói. Nếu [tùy
thuận] chính Ngài mà nói, Ngài chẳng nói một câu nào! Nói “Phật
chẳng nói một câu nào” là nói theo phía bản thân Ngài, “thuyết
pháp bốn mươi chín năm” là nói theo phía chúng sanh. Chúng
ta phải học lấy điều này, làm thế nào để
có thể giữ ǵn thân tâm của chính ḿnh thanh tịnh, chẳng
nhiễm mảy trần trong cảnh giới, quyết
định chẳng có phân biệt, vọng tưởng, chấp
trước. Đối với cảnh giới bên ngoài, bất
cứ ǵ cũng đều rơ ràng. V́ sao?
Tấm gương của quư vị trong sạch, chẳng
bị nhiễm bẩn. Không chỉ là hiểu rơ cảnh
giới trước mắt, mà quư vị c̣n biết quá
khứ, tương lai cũng biết. Hết thảy chúng
sanh tới thỉnh giáo quư vị, sẽ tùy cơ, tùy duyên
chỉ dạy họ, [sự chỉ dạy ấy] nhất
định là hay khéo, có thể khiến cho chúng sanh khai
ngộ.
“Kim vị diệc dĩ mê
đảo” (nay cũng v́ mê hoặc, điên đảo),
là mê hoặc, điên đảo, “vọng
kiến Ngũ Trược, danh trụ Sa Bà; ngộ Ngũ
Trược không, bổn lai thanh tịnh, tức danh Cực
Lạc. Quốc độ thường tịnh, chúng sanh
tự mê, mê đa ngộ quả” (lầm lạc thấy
Ngũ Trược, nên gọi là “trụ trong Sa Bà”. Ngộ Ngũ
Trược là Không, vốn sẵn thanh tịnh, nên gọi
là Cực Lạc. Cơi nước thường tịnh, chúng
sanh tự mê, mê nhiều, ngộ ít), kẻ mê quá nhiều,
người giác ngộ quá ít, giống như lông phượng,
sừng lân, “thị khổ,
thị lạc, bất dung dĩ dă” (chẳng thể nào
không chỉ khổ, nêu vui). Nói thật ra, v́ cớ ǵ phải
chia thành khổ, vui, khuyên dạy hết thảy chúng sanh phải
nhàm ĺa Sa Bà, phải ưa cầu Cực Lạc? Thực
tại là v́ thế giới này, chúng sanh độn căn đông
đảo, quá nhiều kẻ mê, nên mới bất
đắc dĩ tùy thuận chúng sanh mà thuyết minh chỗ
khác nhau, sự khổ, điều vui giữa hai thế giới,
khiến cho họ có cái để chọn lựa, có
thể chán khổ, có thể ưa vui, giúp họ nhập Nhất
Chân pháp giới, giúp họ thật sự triệt
để giác ngộ. V́ thế, đây là một pháp phương
tiện bất đắc dĩ. Phật độ chúng sanh,
nếu chẳng có phương tiện sẽ chẳng thể
độ chúng sanh. Đó gọi là “đại khai phương tiện chi môn” (mở
toang cửa phương tiện). Pháp môn này là phương
tiện nhất trong các phương tiện, là môn phương
tiện bậc nhất! Bất luận người nào nếu
nương theo môn này, chắc chắn sẽ đắc độ,
quyết định giác ngộ, quyết định thành Phật.
Pháp phương tiện này có
công đức, lợi ích rất lớn, hết sức có
giá trị, chẳng thể nói phương pháp này không hay.
Người đă giác ngộ chẳng cần đến pháp
này, nhưng đối với kẻ chưa triệt để
giác ngộ, pháp môn này hữu dụng. Không chỉ hữu dụng
đối với phàm phu chúng ta, mà quư vị thấy trong hội
Hoa Nghiêm, đối với bốn mươi mốt địa
vị Pháp Thân đại sĩ cũng hữu dụng, v́
sao? Tuy họ giác ngộ, nhưng chưa triệt
để giác ngộ, chưa đạt đến giác
ngộ rốt ráo viên măn, vẫn phải dạy họ ghét
khổ, chuộng vui, cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc, chứng Vô Thượng Bồ Đề rốt
ráo viên măn. Ngay cả bốn mươi mốt địa vị
Pháp Thân đại sĩ mà c̣n như thế, huống ǵ chúng
ta nay đang ở trong lục đạo, thuộc địa
vị phàm phu. Do vậy, câu hỏi này hỏi rất cao. Nếu
chẳng giảng rơ ràng viên măn, nói chung, nó sẽ trở thành
một nghi vấn. Nghi vấn sẽ sanh ra chướng
ngại cho người tu hành. Hôm nay chúng ta đọc đến
đoạn này!
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 65 hết
[1] Nguyên văn “môn
khả la tước” (ngoài cửa chim sẻ đậu
đầy), đây là một cách nói dựa theo thành ngữ “môn kham la tước” h́nh dung
sự vắng vẻ, điêu linh, chẳng có ai lui tới.
[2] Bắc Ngụy (386-534)
là triều đại đầu tiên trong thời Nam
Bắc Triều do Thác Bạt Khuê sáng lập, đóng đô
tại B́nh Thành (nay là thành phố Đại Đồng,
tỉnh Sơn Tây). Năm 439, nhà Bắc Ngụy thống
nhất Hoa Bắc. Năm 493, nhà Ngụy thiên đô về Lạc
Dương, đổi họ từ Thác Bạt sang Nguyên,
nên sử gọi giai đoạn từ năm 493 trở
đi là nhà Nguyên Ngụy. Về sau, vào năm 534, Bắc
Ngụy suy yếu, bị tách ra thành Đông Ngụy và Tây
Ngụy. Nhà Đông Ngụy về sau lại bị
quyền thần Cao Dương phế trừ Ngụy
Hiếu Tĩnh Đế, lập ra nhà Bắc Tề vào
năm 550). C̣n nhà Tây Ngụy bị quyền thần Vũ
Văn Hộ phế trừ Ngụy Cung Đế, lập
ra nhà Bắc Châu vào năm 557. Thác Bạt Khuê là người
Tiên Ty. Tiên Ty là một bộ tộc du mục cổ, sống
ở Măn Châu, Nội Mông và phía Đông Mông Cổ. Họ là một
trong các bộ tộc cổ của Mông Cổ, hiện thời
những người Mông Cổ thuộc bộ tộc
Mengwu Shiwei thường được coi là hậu duệ
của người Tiên Ty. Thoạt đầu, bộ
tộc Thác Bạt người Tiên Ty chiếm lănh miền
Bắc tỉnh Sơn Tây và Mông Cổ lập ra nước
Đại, về sau nước Đại bị nhà Tiên
Tần (Phù Tần) diệt. Măi đến năm 356,
dưới sự lănh đạo của Thác Bạt Khuê,
người Tiên Ty trở nên hùng mạnh, chiếm
được Hoa Bắc và lập ra nước Ngụy.
Đây là một trong các triều đại không phải
người Hán lại bị Hán Hóa mạnh nhất khi xâm
chiếm Trung Nguyên. Đây cũng là thời kỳ Phật
giáo phát triển mạnh mẽ tại Hoa Bắc. Hoàng
tộc nhà Ngụy áp dụng chính sách “tử quư, mẫu tử” tức là nếu phi
tần hay hoàng hậu sanh con trai liền bị giết
chết, để tránh nạn ngoại thích (ḍng họ bên
vợ) cướp ngôi vua. Do vậy, khi hoàng thái tử lên
ngôi, sẽ tôn nhũ mẫu làm Hoàng Thái Hậu, rốt
cuộc vẫn dẫn đến nạn Thái Hậu và ngoại
thích lạm quyền, lũng đoạn triều chánh, khiến
nhà Ngụy bị suy yếu nhanh chóng. Hủ tục này măi
đến đời Ngụy Tuyên Vũ Đế mới
bị chấm dứt.
[3] Quân Trưởng là chức vụ
chỉ huy quân sự thời Quốc Dân Đảng,
cấp bậc thấp hơn tư lệnh quân khu, nhưng
cao hơn Sư Trưởng. Tùy theo cách tổ chức
của từng quân khu mà có cấp bậc sĩ quan khác biệt,
nhưng quân trưởng tối thiểu phải là
thiếu tướng.
[4] Nguyên văn “cô
vọng ngôn chi, cô thính chi” là một thành ngữ, hàm
nghĩa người nói tùy tiện, chẳng có đạo
lư ǵ, người nghe cũng là nghe qua
rồi bỏ, chẳng tin tưởng hay so đo lời
đó. Ở đây, chúng tôi dựa theo cách dịch của
cụ Tản Đà khi dịch bài thơ do Ngư
Dương Vương Sĩ Trinh đề tựa cho
bộ Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh: “Cô vọng ngôn chi, cô thính chi,
đậu bằng qua giá vũ như ty, liệu ưng
yếm tác nhân gian ngữ, ái thính thu phần quỷ xướng thi”. Thi sĩ
Tản Đà dịch thơ như sau: “Nói láo mà chơi, nghe láo chơi. Giàn dưa lún phún
hạt mưa rơi. Chuyện đời chán hẳn, không
thèm nhắc. Thơ thẩn nghe ma đọc mấy
lời”. Nghiêm Đàm dịch: “Nói
phiếm nhảm chơi, nghe nhảm chơi; giăng
giăng giàn đậu hạt mưa rơi, chuyện
người nghe măi thêm nhàm chán, ưa quỷ thu ngâm, mộ
vẳng lời”.
[5] Thập Khổ là sanh khổ, lăo
khổ, bệnh khổ, tử khổ, sầu khổ, oán
khổ, khổ thọ (cảm nhận
sự đau khổ, đây là Khổ Thọ trong ba thứ
Thọ), ưu khổ, bệnh năo khổ (sự
đau khổ do bệnh tật bức bách), sanh tử
lưu chuyển khổ.
[6] Tô Đông Pha tên thật là Tô Thức (蘇軾), tự là Tử Chiêm, một tên tự
khác là Ḥa Trọng, có hiệu là Đông Pha Cư Sĩ. Do
chống đối chính sách kinh tế và chính trị
của Tể Tướng Vương An Thạch
(thường được gọi là Tân Đảng), ông
bị vu cáo nhiều tội và bị vua đày (biếm
trích) xuống Hàng Châu.
[7] Hiền Thủ (634-712) là cao tăng
đời Đường, pháp danh Pháp Tạng, pháp tự
Hiền Thủ, hiệu là Quốc Nhất pháp sư. Ngài
c̣n được gọi là Hương Tượng
đại sư, hoặc Khang Tạng Quốc Sư. Ngài
vốn là người xứ Khang Cư, đến
đời ông nội, cả họ di dân vào Trung Thổ,
sống ở Trường An. Sư thông minh, mẫn tiệp
từ nhỏ. Sư y chỉ ngài Vân Hoa Trí Nghiễm, nghe
giảng kinh Hoa Nghiêm bèn thâm nhập huyền chỉ. Sau khi
ngài Trí Nghiễm thị tịch bèn y chỉ ngài Bạc
Trần. Do tinh thông các thứ tiếng Tây Vực, Sư vâng
mạng tham gia dịch trường của ngài Nghĩa
Tịnh, dịch các bộ Tân Hoa Nghiêm, Đại Thừa
Nhập Lăng Già v.v... Sở học uyên bác của Sư
về kinh Hoa Nghiêm đă khiến các vị sư huynh cao túc
của Sư tiến cử Sư giảng kinh cho hoàng
đế trong khi Sư chỉ là một sa-di. Khi giảng
mười huyền môn của kinh Hoa Nghiêm cho Vơ Tắc Thiên,
Sư đă dùng con sư tử vàng trong điện làm
tỷ dụ, Vơ Tắc Thiên lănh ngộ, sau đấy,
Sư vâng mệnh soạn bài Sư Tử Chương
để ghi lại bài giảng ấy. Về sau, Sư
trụ tại chùa Vân Hoa, Vơ Tắc Thiên truyền
mười vị đại đức chốn kinh thành cùng
truyền đại giới cho Sư, ban tặng kinh Hoa
Nghiêm, trên đề chữ Hiền Thủ Bồ Tát
(ngụ ư ca ngợi Sư giống như Hiền Thủ
Bồ Tát trong kinh Hoa Nghiêm). V́ thế, Sư được
gọi là Hiền Thủ quốc sư. Cả đời
Sư giảng kinh Hoa Nghiêm hơn ba mươi lần,
kiến lập giáo nghĩa tông Hoa Nghiêm. Ngoài chú giải kinh
Hoa Nghiêm, Sư c̣n chú giải các kinh Lăng Già, Mật
Nghiêm, Phạm Vơng và Khởi Tín Luận. Ngài cũng
đưa ra cách phán giáo chia giáo nghĩa nhà Phật thành
năm giáo mười tông. Sư trước tác vô cùng phong
phú, các tác phẩm của Sư được hậu
thế nghiên cứu, học tập nhiều nhất là Hoa
Nghiêm Kinh Thám Huyền Kư, Hoa Nghiêm Liệu Giản, Hoa Nghiêm
Nhất Thừa Giáo Nghĩa Phân Tề Chương (Hoa
Nghiêm Ngũ Giáo Chương), Hoa Nghiêm Kinh Chỉ Quy, Hoa
Nghiêm Sách Lâm, Hoa Nghiêm Kinh Vấn Đáp, Đại Thừa
Mật Giáo Kinh Sớ, Phạm Vơng Kinh Sớ, Đại
Thừa Khởi Tín Luận Sớ, Hoa Nghiêm Cương
Mục, Hoa Nghiêm Huyền Nghĩa Chương, Tu Hoa Nghiêm Áo
Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán v.v...