A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 66

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Trịnh Lộc, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 131

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang hai trăm tám mươi sáu:

 

      (Sớ) Khổ lạc tương đối, chánh dĩ bỉ thử nhị độ, giảo lượng thắng liệt, linh sanh hân yếm, như nan dị thập chủng đẳng.

   () 苦 樂 相 對,正 以 彼 此 二 土,較 量 勝 劣,令 生 忻 厭,如 難 易 十 種 等。

      (Sớ: Đối chiếu giữa khổ và lạc, tức là so lường sự hơn và kém giữa cơi này và cơi kia, khiến cho [người nghe] sanh ḷng ưa thích, chán nhàm, như mười thứ khó, dễ v.v...)

 

      Đoạn văn này giảng rơ sự so sánh giữa hai thế giới là Tây Phương Cực Lạc thế giới và thế giới Sa Bà của chúng ta, chỉ ra [hai cơi] khổ và vui khác nhau. V́ thế, kinh này mới gọi cơi kia là thế giới Cực Lạc.

 

      (Sao) Tương đối giả, dĩ thử cực khổ đối bỉ Cực Lạc, nhất thắng, nhất liệt, thiên nhưỡng giảo nhiên, hân yếm tự sanh, thủ xả tự định.         

      () 相 對 者,以 此 極 苦 對 彼 極 樂,一 勝 一 劣,天 壤 較 然,忻 厭 自 生,取 捨 自 定。

      (Sao: “Đối chiếu”: Đem sự cực khổ trong cơi này sánh với Cực Lạc trong cơi kia, một đằng thù thắng, một đằng kém hèn, khác biệt một trời một vực, ḷng yêu thích hoặc chán nhàm tự sanh, lấy - bỏ tự định).

 

      Lời này là sự thật. Nếu chúng ta chẳng có một mức nhận thức kha khá về hai thế giới ấy, chẳng so sánh một phen, sẽ chẳng hiểu công đức lợi ích văng sanh, thậm chí thường sao nhăng ư niệm cầu sanh Tịnh Độ, đấy cũng là do giác tánh chưa đủ. Nếu so sánh giữa hai cơi, nói thật ra, có lẽ là người từ lứa tuổi trung niên trở lên trong thế giới này bèn có thể lănh hội kha khá. Chúng ta chưa thấy thế giới Tây Phương, so sánh bằng cách nào? Do vậy, tuyệt đối chẳng phải là ai nấy đều có thể so sánh được, chẳng phải là người b́nh phàm mà ḥng nói được!

 

      (Sao) Thập chủng giả, Từ Vân Sám Chủ, khai thử độ, bỉ độ nan dị thập chủng.

       () 種 者,慈 雲 懺 主,開 此 土 彼 土 難 易 十 種。

      (Sao: “Mười thứ”: Từ Vân Sám Chủ đă nêu ra mười thứ khó - dễ giữa cơi này và cơi kia).

 

      Ở đây nêu ra mười thứ [so sánh khó - dễ] do Từ Vân Sám Chủ đă nói. Trong lịch sử Phật giáo, vị này khá nổi tiếng. Từ Vân là danh hiệu do hoàng đế ban tặng. Hoàng đế tôn trọng Ngài, gọi Ngài là Từ Vân đại sư. Ngài có pháp danh là Tuân Thức, là người sống vào thời vua Chân Tông đời Tống. Khi ấy, Ngài trụ tại chùa Linh Ẩn, Hàng Châu. Tế Công ḥa thượng được dân gian sùng bái cũng sống tại chùa Linh Ẩn thuở ấy. Đích xác là trong lịch sử Trung Quốc, Linh Ẩn Tự đă xuất hiện không ít cao tăng. Vị pháp sư này lúc tuổi già cũng chuyên tu Tịnh Độ, chuyên hoằng dương Tịnh Độ. Ngài biên soạn Tịnh Độ Sám Nghi, tức là Tịnh Độ Sám Pháp, nên người đời sau tôn xưng Ngài là Từ Vân Sám Chủ. Ngài v́ chúng ta nói ra mười thứ khó - dễ giữa hai cơi Sa Bà và Cực Lạc, nêu ra mười lượt so sánh.

 

      (Sao) Kim dĩ khổ lạc đối chi, nhất giả thử độ hữu bất thường trị Phật khổ.

      () 今 以 苦 樂 對 之,一 者 此 土 有 不 常 值 佛 苦。

      (Sao: Nay so sánh giữa khổ và lạc th́ một là cơi này có nỗi khổ chẳng thường gặp Phật).

 

      Đây là điều thứ nhất. Trong thế gian này, chúng ta rất khó gặp Phật xuất thế. Đức Phật chẳng xuất thế, chúng ta chẳng được nghe Phật pháp. Chẳng nghe Phật pháp th́ nói cách khác, vĩnh viễn không thể liễu giải chân tướng của vũ trụ và nhân sinh. Tuy trong thế gian này cũng có các nhà khoa học, triết gia, tôn giáo gia rất lỗi lạc, thông hiểu vũ trụ và nhân sinh cũng chẳng ít, nhưng họ hoàn toàn chẳng [thông hiểu] rốt ráo. Thậm chí có rất nhiều [điều do họ nêu ra] chẳng phải là chân tướng sự thật, mà là suy đoán, phỏng đoán, hoàn toàn chẳng xứng hợp chân tướng sự thật. Dẫu là những nhà tôn giáo bậc cao, tu hành có công phu kha khá, biết được đôi chút, chẳng phạm sai lầm lớn, thông hiểu t́nh huống đại khái, nhưng sau khi đă hiểu, vẫn chẳng thể giải quyết vấn đề. Thí dụ như tại Ấn Độ có nhiều tôn giáo cao cấp, đích xác vượt xa Cơ Đốc Giáo và Thiên Chúa Giáo trong hiện thời, họ có thể thật sự thấy được t́nh huống trong lục đạo, có năng lực đến Tứ Thiền Thiên và Tứ Không Thiên, có năng lực giao tiếp với quỷ và địa ngục, liễu giải t́nh huống trong các nơi ấy, nhưng họ chẳng có cách nào khiến cho kẻ đáng đọa địa ngục chẳng đọa địa ngục, chẳng có cách nào! Chư thiên hết thọ mạng ắt phải đọa xuống, họ cũng chẳng có cách nào khiến cho chư thiên chẳng đọa lạc. Điều này được gọi là “tri kỳ đương nhiên, bất tri kỳ sở dĩ nhiên” (biết t́nh trạng đương nhiên, chẳng biết nguyên nhân dẫn đến t́nh trạng đó), thấy được sự thật, nhưng chẳng hiểu rơ lư.

      Chỉ riêng Phật pháp là có thể nói rơ ràng với chúng ta về chân tướng của vũ trụ và nhân sinh. Phân tích thấu triệt Sự - Lư và nhân quả của hết thảy vạn pháp, chỉ có mỗi Phật pháp! Trừ Phật pháp ra, chẳng ai có thể làm được! Chúng ta hiểu rơ triệt để Sự - Lư, nhân quả, sẽ làm được, tự ḿnh có thể giải quyết vấn đề ấy. V́ thế, chẳng gặp Phật là khổ! Quá khổ! Vĩnh viễn là mê hoặc, điên đảo. Đó là nói về thế gian này của chúng ta.

      Nay chúng ta may mắn sanh nhằm thời kỳ Mạt Pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật, kể như là một may mắn to lớn trong sự bất hạnh. Pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật là một vạn hai ngàn năm, Chánh Pháp một ngàn năm, Tượng Pháp một ngàn năm, đều đă qua, hiện thời là Mạt Pháp, Mạt Pháp gồm một vạn năm. Bất luận chiếu theo cách tính của người Trung Quốc, hay theo cách tính của người ngoại quốc, hiện nay đều nhằm thời kỳ Mạt Pháp. Theo cách tính của người Trung Quốc, Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ cách nay ba ngàn lẻ mười lăm năm, theo cách tính của người ngoại quốc là hơn hai ngàn năm trăm năm, chênh lệch sáu trăm năm, nhưng chúng ta chẳng cần quan tâm chuyện này. Nói chung, chúng ta có thể khẳng định, hiện nay đang nhằm thời kỳ Mạt Pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật. Theo cách tính của người Trung Quốc, Mạt Pháp hăy c̣n chín ngàn năm nữa. Trong chín ngàn năm, Phật pháp có lúc hưng, suy, thăng, giáng, cũng chẳng phải là một mực suy bại, vẫn có lúc hưng khởi. Lên cao hay xuống thấp không nhất định, tùy thuộc phước đức và nhân duyên của chúng sanh.

      Sau chín ngàn năm ấy, thế gian này chẳng có Phật pháp, pháp đă diệt. Không có Phật pháp, con người càng khổ hơn. Sau khi pháp diệt hết, kinh đă nói rất rơ ràng: Kinh A Di Đà diệt cuối cùng, hết thảy các pháp đều bị diệt. Kinh A Di Đà c̣n lưu lại thế gian này một trăm năm [sau khi các kinh khác đă bị diệt]. Trong một trăm năm cuối cùng ấy, nếu ai có phước gặp kinh điển này, trọn đủ ba điều kiện Tín - Nguyện - Hạnh th́ vẫn có thể văng sanh. Quư vị mới biết kinh điển này chẳng thể nghĩ bàn, kinh điển này là kinh điển bậc nhất để chư Phật độ sanh. Sau khi toàn bộ Phật pháp đă diệt, thế gian này chẳng c̣n Phật pháp nữa, ắt phải đợi đến lúc vị Phật kế tiếp xuất thế, trong thế gian này mới có Phật pháp. Vị Phật kế tiếp là Di Lặc Phật. Phật Di Lặc xuất thế khi nào? Trong kinh, Thích Ca Mâu Ni Phật đă dạy là năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm sau. Quư vị nghĩ xem: Thời gian thế gian này có Phật pháp quá ngắn ngủi, tạm bợ; một vạn hai ngàn năm so với năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm, chẳng thấm vào đâu! Thời gian không có Phật pháp quá ư là dài, chúng ta phải hiểu chuyện này. Đó là khổ, chúng sanh đúng là khổ.

 

      (Sao) Bỉ độ vô chi.

   () 彼 土 無 之。

      (Sao: Cơi kia chẳng có nỗi khổ này).

 

      Tây Phương Cực Lạc thế giới không có nỗi khổ này, bên ấy, Phật thường trụ thế gian.

 

      (Sao) Nhi đản hữu hoa khai kiến Phật, thường đắc thân cận chi lạc.

   () 而 但 有 華 開 見 佛,常 得 親 近 之 樂。

      (Sao: Chỉ có niềm vui hoa nở thấy Phật, thường được thân cận).

 

      Phước đức và nhân duyên của hai thế giới ấy khác nhau. Chúng ta nghĩ: Tây Phương Cực Lạc thế giới người đông ngần ấy, người niệm Phật trong mười phương thế giới thảy đều văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật chỉ có một ḿnh, người đông dường ấy đều mong gặp Ngài, Ngài có đủ thời gian hay không? Chúng ta chẳng có cách nào tưởng tượng được chuyện này. Kinh đă nói rất hay, quư vị đọc kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, hóa thân của Di Đà, Quán Âm, Thế Chí đầy khắp cơi nước, chỗ nào cũng đều thấy, giống như hiện thời chúng ta dán các bức h́nh Phật [chung quanh giảng đường]. Ở bên ấy là chân Phật, là vị Phật có thể nói, cười, là [vị Phật] thật sự, do Phật Di Đà hóa thân. Nơi các cây báu trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, dưới mỗi gốc cây, Phật đều ngự tại đó thuyết pháp. Phật hóa thân trọn khắp pháp giới, cơ hội thấy Phật của chúng ta là b́nh đẳng. Nếu Phật chẳng hóa thân, cơ duyên thấy Phật thật sự vẫn là khó có. Ngài có năng lực hóa thân, do vậy, chúng ta đến Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng sợ không gặp A Di Đà Phật, cũng chẳng sợ “chúng ta văng sanh, rốt cuộc đức Phật có đến tiếp dẫn hay không?” Có lúc tự ḿnh hoài nghi, người văng sanh đông như thế, sợ rằng đức Phật quá bận bịu, lo không xuể, quên bẵng chúng ta! Chúng ta làm lụng trong thế gian này, nhiều việc quá, do công chuyện quá nhiều, do bận bịu nên thường quên khấy các chuyện. Tây Phương Cực Lạc thế giới quyết định chẳng có chuyện ấy, trí huệ và thần thông của Phật chẳng thể nghĩ bàn.

 

      (Sao) Nhị giả, thử độ hữu bất văn thuyết pháp khổ.

      () 二 者 此 土 有 不 聞 說 法 苦。

      (Sao: Hai là cơi này có nỗi khổ chẳng nghe thuyết pháp).

 

      “Bất văn thuyết pháp” (chẳng nghe thuyết pháp), nói thật ra cũng là “chẳng thường gặp Phật”, Phật pháp khó nghe mà! Nếu chẳng nghe Phật pháp, xác thực là muôn kiếp ngàn đời như điếc, như mù, thật đấy! Phật pháp mở mang đạo nhăn cho chúng ta, khiến cho chúng ta thật sự hiểu rơ Thật Tướng của vũ trụ và nhân sinh, biết quá khứ, hiện tại, vị lai, khiến cho chúng ta tự ḿnh có cái để chọn lựa. Nghe Phật pháp vô cùng trọng yếu!

 

      (Sao) Bỉ độ vô chi.

       () 彼 土 無 之。

      (Sao: Cơi kia chẳng có nỗi khổ này).

 

      Tây Phương Cực Lạc thế giới không có t́nh h́nh này.

 

      (Sao) Nhi đản hữu thủy, điểu, thụ lâm giai tuyên diệu pháp chi lạc.

      () 而 但 有 水 鳥 樹 林 皆 宣 妙 法 之 樂。

      (Sao: Nhưng có niềm vui nước, chim, rừng cây đều tuyên diệu pháp).

 

      Tây Phương Cực Lạc thế giới lục trần thuyết pháp. Ở cơi này, nói thật ra, chúng ta chẳng gặp Phật mà có thể gặp Bồ Tát, La Hán th́ cũng được lắm. [Nhưng] Bồ Tát, La Hán cũng chẳng gặp được, [những người mà chúng ta] có thể gặp được toàn là phàm phu tăng. Phàm phu tăng thuyết pháp có thể chẳng nói sai hay không? Đích xác là chẳng đáng tin cậy! Phải như thế nào th́ mới có thể nói kinh này không sai? Nói đơn giản th́ nếu tương ứng với đạo, sẽ chẳng nói sai. Đạo là ǵ? Nếu nói thô thiển một chút, sẽ như kinh Kim Cang đă nói “vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng” th́ được; đó là đạo. Nếu chúng ta vẫn chấp tướng, khó lắm, sẽ chẳng tương ứng, cơ hội nói sai rất nhiều. Nếu bốn tướng đều không, sẽ chẳng giảng sai kinh giáo. Nếu chúng ta phát nguyện muốn báo ơn Phật, muốn giúp hết thảy chúng sanh lư giải Phật pháp, giới thiệu Phật pháp với hết thảy chúng sanh, chính ḿnh nhất định phải phá Ngă Chấp, niệm niệm đều nghĩ tạo lợi ích cho chúng sanh. Chính ḿnh bất luận chịu đựng nỗi khổ như thế nào, nguyện luôn giống như A Di Đà Phật đă phát trong lúc tu nhân, quyết chẳng thoái chuyển. Chỉ cần khiến cho chúng sanh đạt được lợi ích nơi Phật pháp, có thể nghe pháp môn Tịnh Độ, bất luận chúng ta phải hy sinh to lớn đến mấy, đều là đáng giá, đều là đáng nên làm. Tâm như vậy là tương ứng, tâm ấy tương ứng với nguyện, chúng ta mở quyển kinh [ra đọc hay giảng] mới chẳng đến nỗi hiểu sai ư nghĩa trong quyển kinh.

      Ở đây nói, trong thế giới ấy lục trần thuyết pháp. Ngoài lục trần ra, các vị thượng thiện nhân thảy đều thuyết pháp. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, các vị Đẳng Giác Bồ Tát như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền chẳng biết là bao nhiêu! Chẳng có cách nào tính toán, những vị ấy đều thay Phật thuyết pháp. Nếu quư vị chê bai: “Họ là Đẳng Giác Bồ Tát, vẫn chưa thành Phật, tôi muốn đích thân nghe A Di Đà Phật thuyết pháp cho tôi”, ngay lập tức A Di Đà Phật ở trước mặt quư vị. Quư vị vừa dấy tâm niệm ấy, Ứng Thân của Ngài bèn ở ngay trước mặt, đúng là cảm ứng đạo giao! Đúng như kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng” (thuận theo tâm chúng sanh mà ứng với khả năng lănh hội của họ). Do tùy tâm ứng lượng, nên ngay lập tức hiện tiền.

      Nhưng có những người cảm thấy Phật đến thuyết pháp, ta luôn phải đúng quy củ ngồi nghe, cảm thấy rất tù túng, vẫn là [nghe] Bồ Tát [thuyết pháp] dễ chịu hơn, ta có thể thoải mái đôi chút, được lắm, Phật liền biến mất, Bồ Tát bèn đến [thuyết pháp]. Bồ Tát thuyết pháp th́ cũng phải nên giữ đúng quy củ ngồi đó. Quư vị nói ta vừa đi vừa nghe, hoặc ta nằm ở đó, ngả ngớn ở đó, có được hay không? Được chứ! Chẳng c̣n Bồ Tát nữa, mà rừng cây, chim, nước thuyết pháp cho quư vị. Được lắm! Ta nằm ở nơi đó, chim đến đậu trên tay ta, hoặc nhảy trên thân ta, thuyết pháp cho ta nghe, chẳng bó buộc ǵ! Những thứ ấy hoàn toàn do A Di Đà Phật biến hóa ra. Bởi lẽ, A Di Đà Phật rất thông hiểu tâm lư con người, điều này khó có lắm! Nói cách khác, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị mong người như thế nào thuyết pháp cho quư vị, A Di Đà Phật bèn biến hiện dáng vẻ ấy để thuyết pháp, khiến cho tâm quư vị hoan hỷ.

 

      (Sao) Tam giả, vô ác hữu khiên triền khổ.

      () 三 者 無 惡 友 牽 纏 苦。

      (Sao: Ba là không có nỗi khổ v́ bạn ác lôi kéo, trói buộc).

 

      Trong thế gian này, chẳng có cách nào tránh khỏi bạn ác, đó là “oán tăng hội” (oán ghét mà vẫn phải gặp gỡ), đó gọi là “bất thị oan gia, bất tụ đầu” (chẳng phải là oan gia, sẽ không tụ hội), chuyện này rất phiền phức! Họ luôn chướng ngại quư vị, tức là chướng ngại quư vị học Phật, niệm Phật, thậm chí chướng ngại quư vị văng sanh, chuyện này phiền toái to lớn. Sợ nhất là chướng ngại văng sanh! Trong sát-na quư vị văng sanh, oán thân trái chủ thảy đều kéo đến, kẻ này khóc một chập, kẻ kia nước mắt đầm đ́a, kẻ nọ lại kêu réo, thôi rồi, quư vị bị nhiễu loạn mất rồi! A Di Đà Phật cũng chạy lẹ, quư vị bỏ lỡ cơ hội văng sanh này, phiền quá! Chuyện này phiền toái to lớn.

      Những bạn ác ấy là ai? Có thể là cha mẹ, vợ, con, người nhà, quyến thuộc của chính quư vị. Năm xưa, tôi giảng kinh tại Cựu Kim Sơn (San Francisco), bà Cam ở Cựu Kim Sơn kể cho tôi nghe một câu chuyện. Thân thích của bà ta cũng là một bà cụ văng sanh. Mọi người đều biết bà cụ ấy học Phật, nhưng cũng chẳng thấy bà có thụy tướng tốt lành ǵ, mà cũng chẳng thấy bà suốt ngày từ sáng đến tối sốt sắng niệm Phật. Bà rất thong dong, cụ già ở nhà quán xuyến việc nhà. Mỗi sáng sớm, do cụ già dậy sớm, nên cụ nấu bữa sáng, chăm sóc cháu nội. Cụ văng sanh vào buổi tối, đại khái mọi người đều đă ngủ rồi, văng sanh trong đêm. Rốt cuộc cụ văng sanh vào giờ nào chẳng ai biết. Đến sáng ngày hôm sau, do cụ chẳng trở dậy, mỗi ngày cụ đều dậy sớm nấu bữa sáng, sáng hôm ấy cụ chẳng dậy. V́ thế, người nhà sau khi thức dậy, gơ cửa pḥng cụ [không thấy ừ hử ǵ], tại Mỹ, pḥng người già không khóa. V́ thế, họ mở cửa, thấy bà cụ ngồi xếp bằng trên giường, gọi th́ cụ cũng chẳng trả lời, nh́n kỹ, cụ đă mất, chẳng biết mất lúc nào! Hay lắm! Người nhà chẳng trở ngại cụ, phương pháp của cụ rất hay. Càng khéo hơn nữa là cụ c̣n có di chúc, đă viết từ trước đặt ở trước mặt. Không chỉ có di chúc, mà áo tang của kẻ lớn người nhỏ trong nhà chẳng biết cụ đă may từ lúc nào, mỗi người một bộ đều xếp bên giường, mọi người mới biết cụ biết trước lúc mất. V́ sao? Cụ may những bộ tang phục ấy nhất định là may lén lút, nhất định là khi người nhà đều ngủ cả rồi, may trong đêm tối. Muốn may vài bộ quần áo như vậy, cũng phải tốn khá nhiều thời gian, ít nhất là cụ đă biết trước ba tháng. Chuẩn bị hậu sự kỹ càng, cụ ra đi, chẳng hé răng, cũng chẳng nói câu nào mà ra đi!

      Phương pháp này rất diệu, v́ sao? Ác hữu chẳng có cách nào lôi kéo quư vị. Nếu quư vị bảo họ: “Ta sẽ văng sanh vào lúc nào đó”, sẽ bị phiền phức to lớn. Họ quyết định chẳng để quư vị ra đi, sẽ làm ầm ĩ, gây náo loạn. Phương pháp ấy của bà cụ rất tuyệt, rất đáng cho chúng ta tham khảo, đó là một gương tốt. Cụ chẳng ngă bệnh, chẳng bị bệnh khổ, ra đi tự tại. Ở ngoại quốc, trợ niệm là chuyện không thể được, quư vị t́m không ra người trợ niệm. Chỉ có phương pháp này của cụ, chính ḿnh công phu thật sự thành tựu, bèn ra đi rất tiêu sái, vô cùng tự tại. Thế giới Tây Phương chẳng có ác hữu chèo kéo.

 

      (Sao) Nhi hữu chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ chi lạc.

   () 而 有 諸 上 善 人 俱 會 一 處 之 樂。

      (Sao: Nhưng có niềm vui các vị thượng thiện nhân cùng nhóm họp một chỗ).

 

      Ở bên kia đều là thượng thiện nhân. Thế giới Tây Phương là một thế giới b́nh đẳng, đến nơi ấy, tướng mạo và h́nh dáng của mọi người đều giống nhau, tâm cảnh đều là b́nh đẳng. Trong Đại Kinh, chúng tôi đă giới thiệu, ở bên ấy, [tất cả mọi người] đều là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, đều chẳng sai khác Phật cho mấy!

 

      (Sao) Tứ giả, vô quần ma năo loạn khổ.

       () 四 者 無 群 魔 惱 亂 苦。

      (Sao: Bốn là không có nỗi khổ bị các loại ma năo loạn).

 

      Trong thế gian này, kinh thường nói bốn loại ma là Ngũ Ấm Ma, Phiền Năo Ma, Tử Ma, và Thiên Ma. Yêu ma quỷ quái bên ngoài muốn đến năo loạn quư vị, rất khổ! Dẫu chính ḿnh có đạo tâm, thiên ma bên ngoài chẳng thể nhiễu loạn, nhưng Ngũ Ấm, Phiền Năo, và Tử Ma đều ở trong chính ḿnh, chẳng có cách nào tránh khỏi. Do vậy, chúng ta có thể hiểu, muốn thành tựu trong các tông các phái Đại Tiểu Thừa, hay trong vô lượng pháp môn, đều quá khó khăn. Khó khăn ở chỗ nào? Quư vị chẳng có cách nào thoát khỏi quần ma, nhất định bị chúng nó quấy nhiễu. Ngay cả Bồ Tát đến thị hiện thành Phật trong thế gian này, trong tám tướng thành đạo, ma vẫn đến quấy nhiễu, trong tám tướng thành đạo c̣n có một cửa ải “hàng ma”. V́ thế, có thể rời khỏi sự nhiễu loạn của ma chẳng phải là chuyện dễ dàng.

      Chỉ riêng pháp môn Niệm Phật này là có thể tránh khỏi ma sự, nhưng tâm quư vị phải kiên cố, phải thanh tịnh, nhất tâm nhất ư, chỉ cầu văng sanh thế giới Cực Lạc, phải như vậy th́ mới được. Nếu chúng ta tu pháp môn Niệm Phật, trong tâm vẫn tham cầu tiếng tăm, lợi dưỡng thế gian, nói cách khác, quư vị chẳng có cách nào thoát khỏi ma chướng. Nếu quư vị lại ham chuộng thần thông, ham thích chuyện kỳ quái, yêu ma quỷ quái sẽ càng nhiều hơn! Nếu chúng ta dùng cái tâm thanh tịnh, ư nguyện kiên định, nhất tâm cầu sanh Tây Phương, kinh đă nói rất hay: “A Di Đà Phật sai hai mươi lăm vị Bồ Tát ngày đêm bảo hộ người ấy”. Do vậy, ma chẳng có dịp thuận tiện [hăm hại], chúng muốn đến quấy nhiễu quư vị, nhưng quư vị đă có Bồ Tát hộ pháp, chẳng phải là thần hộ pháp thông thường, mà là Bồ Tát hộ pháp, do A Di Đà Phật sai đến, chúng ta phải tin tưởng.

 

      (Sao) Nhi hữu chư Phật hộ niệm, viễn ly ma sự chi lạc.     

      () 而 有 諸 佛 護 念,遠 離 魔 事 之 樂。

      (Sao: Mà có niềm vui được chư Phật hộ niệm, xa ĺa ma sự).

 

      Tây Phương Cực Lạc thế giới không có ma. Trong thế giới ấy, không chỉ do oai đức và quang minh của chính A Di Đà Phật khiến cho ma không thể đến gần, mà thế giới ấy là thế giới được mười phương chư Phật hộ niệm, lẽ nào có ma sự? Trong mười phương thế giới chư Phật đều có ma sự, nhưng Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có ma sự.

 

      (Sao) Ngũ giả, vô luân hồi bất tức khổ.

      () 五 者 無 輪 迴 不 息 苦。

      (Sao: Năm là không có nỗi khổ luân hồi chẳng ngừng).

 

      Ở nơi chúng ta, luân hồi trong lục đạo chẳng có lúc ngưng dứt, nỗi khổ ấy được gọi là “sanh tử b́ lao” (sanh tử mệt nhọc). V́ thế, người học Phật phải có tầm mắt xa rộng, chớ nên chỉ thấy trước mắt. V́ có những đồng tu sau khi học Phật, đương nhiên hiểu nhân quả đôi chút, chẳng dám làm chuyện ác nữa. Xét theo phương diện cuộc sống th́ chẳng bằng các đồng học, bạn bè của chính ḿnh, thấy họ sự nghiệp ngày càng phát đạt, của cải cuồn cuộn đưa tới, c̣n chính ḿnh thu nhập mỗi năm chỉ gắng gượng sống qua ngày, gặp mặt các bạn bè cũ, cảm thấy rất khó chịu, cảm thấy chính ḿnh thua kém kẻ khác! Quan niệm ấy là ma chướng của chính quư vị, là phiền năo chướng hiện tiền, là nghiệp chướng hiện tiền, chính quư vị mê hoặc, điên đảo.

      Phú quư vinh hoa trên thế gian này như mây khói trôi qua trước mắt, là giả, chẳng thật, chẳng đáng hâm mộ! Chính ḿnh thật sự học Phật, nhất là tu pháp môn Tịnh Độ này, quư vị có thể vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, thật sự đạt được sự sống đời đời. Trong thế gian này, đừng nói là đế vương trong thế gian hay tổng thống, [ngay cả] thiên vương cũng chẳng làm được! Có ai có thể sánh bằng quư vị? Chẳng thể so sánh! Chúng ta cảm thấy chẳng bằng người thế gian, tức là đạo nghiệp của chính quư vị chưa đạt căn bản. Nếu quư vị đạt được, dẫu quư vị ăn mặc rách nát, đứng cùng chỗ với các vị đế vương trong thế gian, khí thế của quư vị vượt trỗi họ, chắc chắn chẳng thua kém họ chút nào! V́ sao? Xác thực là vượt trỗi họ, ta tự tại, họ chẳng tự tại, ta chẳng có phiền năo, họ có phiền năo; ta chẳng có ưu lự, họ có ưu lự. Xét về những điều này, họ chẳng bằng ta!

      Quư vị nói quư vị lắm tiền nhiều của, tôi chẳng có của cải ǵ, nói thật ra, chúng ta bằng nhau! Quư vị có tiền của th́ mỗi ngày cũng ăn ba nữa. Tôi chẳng có tiền của, mỗi ngày vẫn ăn ba bữa. Quư vị chú trọng phải ăn như thế nào đi nữa, bất quá là ăn no mà thôi, tôi cũng ăn no bụng, cho nên b́nh đẳng. Tôi ăn no nhưng chẳng tạo tội nghiệp, quư vị ăn no, chẳng biết đă tạo bao nhiêu tội nghiệp. Tôi ăn no, đó là công đức; quư vị ăn no bèn là tội nghiệp, chẳng thể sánh bằng! Thật đấy, chẳng giả đâu! Do vậy, người thật sự học đạo nhất định phải đạt được pháp hỷ, pháp hỷ sung măn. Quư vị vào trong bất cứ nhóm người nào, người ta tự nhiên hâm mộ quư vị: “V́ sao anh có thể vui sướng dường ấy?” Học Phật bèn sung sướng. Thế gian tuy có phú quư, giàu có, nhưng chẳng vui, tuy sang quư mà cũng chẳng vui! Do vậy, cổ nhân nói: “Bất như bần nhi lạc” (chẳng bằng nghèo mà vui), cuộc đời này mới có ư nghĩa, mới có giá trị. Tuy sống cả đời phú quư, nhưng suốt đời chẳng vui sướng, người ấy rất đáng thương, trong Phật pháp gọi là “khả lân mẫn giả” (kẻ đáng thương xót). Càng đáng thương hơn là chẳng thể thoát ly lục đạo luân hồi, thật sự đáng thương! Bản thân chúng ta hăy khéo tu hành, chính ḿnh hiểu rơ đời này, kiếp này là thân cuối cùng luân hồi trong lục đạo, chẳng có lần sau, tự tại lắm! Đúng là Đại Phạm Thiên Vương vẫn chẳng thể sánh bằng. Tây Phương Cực Lạc thế giới...

 

      (Sao) Nhi hữu hoành tiệt sanh tử, vĩnh thoát luân hồi chi lạc.

   () 而 有 橫 截 生 死,永 脫 輪 迴 之 樂。

      (Sao: Nhưng có niềm vui cắt ngang sanh tử, vĩnh viễn thoát luân hồi).

 

      Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi. Thế giới Tây Phương rất chẳng thể nghĩ bàn. Chúng ta tu hành trong một đời này, vượt thoát tam giới theo chiều ngang. Hễ sanh về thế giới Tây Phương bèn “hoành sanh tứ độ” (sanh vào bốn cơi theo chiều ngang), chẳng thể nghĩ bàn! Điều này chẳng giống với các cơi nước của hết thảy chư Phật, hoành sanh tứ độ mà! V́ vậy, hạ hạ phẩm văng sanh cũng là “vị tề Đẳng Giác” (địa vị ngang với bậc Đẳng Giác).

 

      (Sao) Lục giả, vô nan miễn tam đồ khổ, nhi hữu ác đạo vĩnh ly, danh thả bất văn chi lạc.  

   () 六 者 無 難 免 三 塗 苦,而 有 惡 道 永 離,名 且 不 聞 之 樂。

      (Sao: Sáu là không có nỗi khổ khó tránh tam đồ, mà có niềm vui vĩnh viễn ĺa khỏi ác đạo, lại c̣n chẳng nghe đến tên gọi của ác đạo).

 

      Trong bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, nguyện thứ nhất là “quốc vô ác đạo” (cơi nước không có đường ác). Ngài đă tham phỏng hai trăm mười ức cơi nước của chư Phật. Theo chú sớ của cổ đức, “hai trăm mười ức” không phải là một con số, mà là biểu thị pháp, tượng trưng cho tất cả các cơi Phật trong mười phương ba đời, chẳng sót một cơi Phật nào! A Di Đà Phật đúng như cổ nhân đă nói: “Đọc vạn quyển sách, đi vạn dặm đường”. Đích xác là Ngài đă đến khắp nơi khảo sát, tham quan, hết thảy những điều bất hảo trong thế giới của chư Phật Ngài đều sửa đổi, chẳng c̣n, hết thảy những điều tốt đẹp thảy đều trọn đủ. Do vậy, trong các cơi Phật, thế giới ấy được gọi là thế giới Cực Lạc, nó bao gồm những ưu điểm của người khác, chẳng có khuyết điểm!

      Ngài biết trong mười phương thế giới khổ nhất là tam đồ, nên Ngài kiến lập Tây Phương Cực Lạc thế giới, nguyện thứ nhất là “cơi nước của tôi chẳng có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh”, phát nguyện này đầu tiên. Không chỉ chẳng có chuyện ấy, ngay cả tên gọi [ác đạo] cũng chẳng nghe thấy. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, muốn nghe những danh xưng như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cũng chẳng nghe thấy tên gọi! Thế giới ấy không có ác đạo. Nếu chúng ta hỏi v́ sao thế giới ấy chẳng có ba ác đạo? Đó là v́ người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng tạo cái nhân tam ác đạo và chẳng có duyên tam ác đạo. Nhân lẫn duyên đều không có, há có quả báo? V́ thế, chẳng có quả báo ấy. Nghiệp nhân của tam ác đạo là tham, sân, si, người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới không có tham, sân, si. Chúng ta thường nói “đới nghiệp văng sanh”, nghiệp nặng nhất là tham, sân, si. Chúng ta chưa đoạn tham, sân, si, chưa đoạn mà vẫn có thể văng sanh. Tuy chưa đoạn, nhưng trong sát-na văng sanh, tham, sân, si của quư vị tuyệt đối chẳng thể hiện hành, quư vị sẽ ra đi ổn thỏa, thích đáng. Nếu trong sát-na lâm chung, tham, sân, si hiện hành, sẽ chẳng thể văng sanh. Phải cảnh giác chuyện này!

      Đối với người vừa qua đời, v́ sao nhà Phật có thói quen trong tám tiếng đồng hồ chẳng được đụng chạm người ấy? Sợ người ấy dấy tâm sân khuể. Sân tâm dấy lên sẽ phiền toái to lớn. Nếu một niệm cuối cùng là sân khuể, nhất định đọa vào ác đạo, sân khuể đọa địa ngục! V́ thế, chẳng động đến người ấy. Lúc lâm chung, sợ người ấy khởi tâm tham, người ấy c̣n có vàng bạc, của cải cất giấu ở đâu đó, c̣n chưa nói với ai, phải chờ gặp người tin cậy mới nói với kẻ ấy. Có tâm tham trong ấy, đó là ngu si. Người ấy vẫn chưa gặp mặt kẻ thân ái nhất, vẫn mong thấy mặt một lần. Những điều này đều thuộc về tâm tham. Do lúc lâm chung, tham, sân, si dễ hiện tiền nhất, khi ấy, ắt phải dùng một câu Phật hiệu để khuất phục tham, sân, si. Điều này được gọi là “chế ngự, khuất phục phiền năo”, chưa đoạn, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư trong Tây Phương. Nếu đă đoạn phiền năo, sẽ sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư, địa vị đă cao rồi!

      Người thật sự niệm Phật, thật sự mong sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, ắt phải trong xử sự, đăi người, tiếp vật hằng ngày, điều ǵ cũng đều nên coi lợt lạt một chút, đừng quá chấp nhặt, chuyện ǵ cho qua được bèn cho qua luôn! Điều khẩn yếu là ǵ? Trong quan hệ với con người, chẳng dấy lên ư niệm tham, sân, si. Quư vị có thể nắm chắc điều này, trong tương lai văng sanh sẽ giảm bớt khá nhiều chướng ngại. Điều này rất trọng yếu, ngàn vạn lần chớ nên sơ sót, chớ nên coi thường. Bởi lẽ, công phu cả đời quư vị được quyết định trong một sát-na cuối cùng lúc lâm chung, quư vị sẽ văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới hay lại quay vào lục đạo luân hồi? Trong khoảng một sát-na! Do vậy, lúc b́nh thường chẳng thể nào không lưu ư.

 

      (Sao) Thất giả, vô trần duyên chướng đạo khổ, nhi hữu thọ dụng tự nhiên, bất sĩ kinh doanh chi lạc.

       () 七 者 無 塵 緣 障 道 苦,而 有 受 用 自 然,不 俟 經 營 之 樂。

      (Sao: Bảy là chẳng có nỗi khổ trần duyên chướng đạo, mà có niềm vui thọ dụng tự nhiên, chẳng cần phải lo liệu.)

 

      “Trần duyên” chỉ cuộc sống trong thế gian của chúng ta, ăn, mặc, ở, hành động. Chúng ta sống trong thế gian này, [chuyện ăn, mặc, ở, hành động] là chuyện khổ sở, nên quư vị phải lo toan, phải mưu sinh. Nhất là ở thành phố Đài Bắc của Đài Loan, chỗ ở thật là khổ! Tối hôm qua, Giản cư sĩ bảo tôi: Căn nhà của chúng tôi ở Hàng Châu Nam Lộ hiện thời là ba mươi vạn một b́nh[1]. Giảng đường của chúng ta rộng một trăm b́nh, tức là ba ngàn vạn, [tương đương] một trăm vạn Mỹ Kim. Ở Gia Châu (California) của Mỹ, năm mươi vạn đă mua được một căn nhà rồi, c̣n có hồ bơi nữa. Tại thành phố Đài Bắc, một trăm vạn chỉ mua được một tầng trong cao ốc. Chỗ ở chẳng dễ dàng, mà cơm áo cũng khó khăn! Chúng ta thấy người trên cả thế giới, có ai chẳng bươn chải v́ cuộc sống? Đă thế, lại c̣n hết sức nhọc nhằn! Theo như tôi thấy, kiều bào tại Mỹ c̣n khổ sở hơn người trong nước rất nhiều, nói chung họ có cảm giác “ăn nhờ, sống gởi”, chẳng phải là quốc gia của chính ḿnh. Cuộc sống bận bịu, bất luận là tinh thần hay vật chất đều chịu áp lực rất nặng. Quyết định không thể thất nghiệp, hễ thất nghiệp sẽ khốn đốn ngay!

      Cuộc sống tại Mỹ toàn là nợ nần tín dụng, người Trung Quốc thường nói: “Vô trái nhất thân khinh” (thân không nợ nhẹ nhàng). Nước Mỹ là xă hội mang nợ. Thí dụ như quư vị có việc làm, ngay lập tức phải mua nhà, căn nhà ấy là năm mươi vạn. Trên thực tế, quư vị chỉ cần trả trước một phần năm [món tiền ấy] là được rồi, hoặc chỉ trả trước một phần mười. Nếu tín dụng của quư vị tốt, đóng một phần mười, chỉ cần trả năm vạn đồng đă mua được nhà. Sau đấy là trả góp trong ba mươi mấy năm, mỗi tháng phải trả mấy ngàn đồng. Một căn nhà giá năm mươi vạn, ước chừng mỗi tháng phải đóng hai ba ngàn, tiền quư vị kiếm được đều lo trả nợ nhà hết sạch. Quư vị mua xe hơi, th́ xe hơi cũng do trả góp. Thứ ǵ cũng đều là trả góp. Đâm ra, thứ ǵ trên đường phố cũng đều có thể xách về nhà hưởng thụ, nhưng tất cả đều là trả góp! Tiền lương của quư vị mỗi tháng trừ chỗ này một chút, trừ chỗ kia một chút, trừ sạch bách! Đại khái là ở bên đó, người mỗi tháng kiếm được ba ngàn đồng đều bị trừ sạch, mỗi tháng chỉ có được chừng sáu trăm bạc làm tiền chi dụng. V́ thế, tôi thấy họ khổ quá, rất ư là khổ!

      Chúng ta ở Đài Loan, bỏ phong bao cúng dường trong nhà Phật năm trăm hoặc một ngàn đồng, chứ ở ngoại quốc chẳng có. Ở ngoại quốc, người ta biếu phong bao, năm đồng là đă khá lắm rồi! C̣n có người cúng một hai đồng. Biếu quư vị mười đồng tức là thể diện lớn lắm, mười đồng bằng với hai trăm tám mươi mấy đồng ở đây. Do vậy, người từ ngoại quốc về, chúng ta cười họ, cười ǵ vậy? “Thổ khí, dương khí, tiểu khí”[2]. Thật sự là tiểu khí, v́ sao? Họ chẳng có cách nào, chẳng thể không tiểu khí! Chớ nên thấy họ mỗi tháng kiếm được mấy ngàn đồng Mỹ kim, thật ra, bị khấu trừ chỗ này một chút, khấu trừ chỗ kia một chút, mỗi tháng có thể c̣n được sáu trăm đồng coi như khá lắm rồi, rất khó có rồi! Chúng tôi thường ở ngoại quốc, hiểu rơ cuộc sống của họ rất khổ sở. V́ thế, tôi đến đó hay khuyên họ quay về Đài Loan, cần ǵ phải sống chịu khổ, chịu tội ở nơi ấy? Xác thực là Đài Loan tốt đẹp hơn.

      Cuộc sống tại Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có vấn đề ǵ, nghĩ áo có áo, mong ăn có ăn, muốn có thứ ǵ, hết thảy đều được biến hóa ra, chẳng cần phải lo toan, tự tại lắm!

 

      (Sao) Bát giả, vô thọ mạng đoản xúc khổ.

      () 八 者 無 壽 命 短 促 苦。

      (Sao: Tám là chẳng có nỗi khổ thọ mạng ngắn ngủi).

 

      Mỗi người chúng ta đều kinh sợ chuyện này, thọ mạng trên thế gian này ngắn ngủi, mấy ai có thể sống đến một trăm tuổi? Thật ra, sống đến trăm tuổi có vui sướng hay không? Chẳng vui sướng ǵ, v́ có lăo khổ, thứ ǵ cũng đều bất tiện, chuyện ǵ cũng cần phải có người khác chăm sóc, khiến cho kẻ khác ghét bỏ. V́ vậy, thọ mạng dài cũng chẳng vui ǵ, vẫn là khổ!

 

      (Sao) Nhi hữu thọ dữ Phật đồng, cánh vô hạn lượng chi lạc.

      () 而 有 壽 與 佛 同,更 無 限 量 之 樂。

      (Sao: Nhưng có niềm vui tuổi thọ giống như Phật, lại c̣n là chẳng có hạn lượng).

 

      Tây Phương Cực Lạc tốt đẹp, ai nấy đều là vô lượng thọ, thọ lượng bằng với A Di Đà Phật, vô lượng thọ! Người trong Tây Phương thế giới vĩnh viễn chẳng già, đúng là “năm nào cũng là mười tám”, vĩnh viễn chẳng già yếu. Chúng ta chẳng thấy Quán Âm Bồ Tát đầu tóc bạc phơ, chẳng thấy A Di Đà Phật râu ria dài thượt, chẳng có! Vĩnh viễn chẳng già, đó là chân lạc! Điều này chính là niềm vui căn bản trong thế giới Cực Lạc, mười phương chư Phật thế giới xác thực chẳng có [niềm vui này]!

 

      (Sao) Cửu giả, vô tu hành thoái thất khổ, nhi hữu nhập Chánh Định Tụ, vĩnh vô thoái chuyển chi lạc.

   () 九 者 無 修 行 退 失 苦,而 有 入 正 定 聚,永 無 退 轉 之 樂。

      (Sao: Chín là chẳng có nỗi khổ tu hành lui sụt, mà có niềm vui nhập Chánh Định Tụ, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển).

 

      Chúng ta ở trong thế gian này tu hành chẳng dễ ǵ thành tựu, tiến ít, lùi nhiều; v́ vậy, thành tựu khó khăn! Tây Phương Cực Lạc thế giới có tiến, chẳng có lùi. Hễ sanh về nơi ấy, kinh nói ai nấy đều là “viên chứng Tam Bất Thoái”. Từ bốn mươi tám nguyện, chúng ta thấy trong bổn nguyện của A Di Đà Phật có nguyện: Hễ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới thảy đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát, [trong tác phẩm mi chú kinh Vô Lượng Thọ], thầy Lư c̣n chú thích bên cạnh: “A Duy Việt Trí Bồ Tát là từ Thất Địa trở lên”. Do vậy, cổ nhân nói “viên chứng Tam Bất Thoái” là có lư, chẳng phải là tùy tiện thốt ra lời ấy. Kinh có nói, mà cổ đức cũng nói “vị tề Đẳng Giác” (địa vị ngang với bậc Đẳng Giác), chúng ta cũng có thể tin tưởng. Đó là do sức bổn nguyện của A Di Đà Phật gia tŕ nên mới có công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn như vậy.

 

      (Sao) Thập giả, vô trần kiếp nan thành khổ, nhi hữu nhất sanh hành măn, sở tác đắc biện chi lạc.

      () 十 者 無 塵 劫 難 成 苦,而 有 一 生 行 滿,所 作 得 辦 之 樂。

      (Sao: Mười là chẳng có nỗi khổ trải qua số kiếp nhiều như vi trần khó thành tựu, mà có niềm vui trong một đời tu hành viên măn, đạo nghiệp hoàn thành).

 

      Đây là điều cuối cùng. Trong thế gian này, chúng ta tu hành thành Phật khó lắm! Phải là nhiều đời, nhiều kiếp. Đă chứng đắc Tu Đà Hoàn, từ Tu Đà Hoàn muốn chứng đắc A La Hán th́ phải bảy lần qua lại trong cơi trời hay trong nhân gian. Nhân gian thọ mạng ngắn ngủi, cơi trời thọ mạng dài lâu, bảy lần qua lại phải mất bao nhiêu thời gian mới có thể chứng đắc A La Hán? Nếu lại muốn chứng đắc Tạng Giáo Phật, kinh dạy phải mất ba A-tăng-kỳ kiếp. Nếu muốn thành Viên Giáo Phật, kinh Hoa Nghiêm nói phải mất vô lượng kiếp mới có thể thành tựu, đúng là khó! Tây Phương Cực Lạc thế giới thành tựu trong một đời, họ có thọ mạng dài, vô lượng thọ mà! V́ thế, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới quyết định thành Phật trong một đời.

      Lại thưa rơ cùng quư vị, chúng ta đến Tây Phương Cực Lạc thế giới là ra đi trong khi c̣n sống, không phải là đă chết rồi mới đi. Đă chết sẽ không đi được, phải đi trong khi c̣n sống. Quư vị lâm chung chưa tắt thở, thấy Phật đến đón tiếp quư vị, đi theo Ngài, đi trong khi c̣n sống. V́ thế, pháp môn này muôn vàn đích xác là pháp môn bất tử, thật sự bất sanh, bất diệt. Do vậy, nó là “nhất sanh hành măn”, tu hành viên măn [ngay trong một đời], “sở tác đắc biện” là chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, mà cũng là chứng Phật quả trong Viên Giáo, đó là đạt được niềm vui, niềm vui rốt ráo.

      Từ Vân Sám Chủ đă nêu ra mười niềm ấy vui trong thế giới Tây Phương. Nh́n lại thế gian này, hoàn toàn chẳng có mười điều ấy, chỉ có mười nỗi khổ. So sánh khổ - vui [như thế đó].

 

      (Sao) Đẳng giả, như An Quốc Sao, khai vi nhị thập tứ lạc, Quần Nghi Luận quảng vi tam thập ích, giai cử lạc, minh khổ, cử ích, minh tổn, đại ư đồng tiền, tư bất phồn tải.

   () 等 者,如 安 國 鈔,開 為 二 十 四 樂;群 疑 論,廣 為 三 十 益。皆 舉 樂 明 苦,舉 益 明 損,大 意 同 前,茲 不 繁 載。

      (Sao: “Đẳng”: Như An Quốc Sao nêu ra hai mươi bốn niềm vui, [Tịnh Độ] Quần Nghi Luận giảng rộng ba mươi điều lợi ích, đều là nêu ra niềm vui, nói rơ sự khổ, nêu lên điều lợi ích, giảng rơ sự tổn hại, đại ư giống như phần trên đây, nên ở đây không chép cho khỏi rườm rà).

 

      “Đẳng giả”: Như An Quốc Sao đă nói rất nhiều, nói đến hai mươi bốn thứ, Từ Vân Sám Chủ chỉ giảng mười loại, trong Tịnh Độ Quần Nghi Luận nói ba mươi thứ. Đều là nêu ra sự khổ - lạc, lợi - hại, được - mất trong hai thế giới, so sánh cặn kẽ ḥng làm cho chúng ta tỉnh ngộ, để cho chúng ta chọn lựa. Đă hiểu rơ chân tướng sự thật của hai cơi, chúng ta tự nhiên bằng ḷng cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nói thật ra, chuyện này chẳng khó, khó ở chỗ bản thân chúng ta có quyết tâm ấy hay không? Ngẫu Ích đại sư đă nói: “Có thể văng sanh hay không là do có tín nguyện hay không? Phẩm vị cao hay thấp là do công phu niệm Phật sâu hay cạn”. Nhất định phải tin tưởng, nhất định phải phát nguyện, quyết tâm đến Tịnh Độ, chẳng bỏ uổng một đời này! Hôm nay, chúng tôi giảng đến đây!

 

Tập 132

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang hai trăm tám mươi tám.

 

      (Sớ) Tứ độ khổ lạc, lược như Thiên Thai giáo trung thuyết.

       () 四 土 苦 樂,略 如 天 台 教 中 說。

      (Sớ: Sự khổ - vui trong bốn cơi đại lược như trong giáo pháp của tông Thiên Thai đă nói).

 

      Chúng ta đọc xem trong lời Sao, Liên Tŕ đạiđă trích dẫn [như thế nào].

 

      (Sao) Sở vị Kiếnkhinh trọng, Đồng Cư khổ lạc.

      () 所 謂 見 思 輕 重,同 居 苦 樂。

      (Sao: Đó là [dựa trên] Kiến Tư nhẹ hay nặng [để phán định] cơi Đồng Cư là kh hay vui).

 

      Nói thật ra, chúng ta tu học pháp môn Tịnh Độ, nhất định phải lấy bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ làm căn bản. Không ch là đối với lời nói của các v Bồ Tát, tổ sư đại đức, mà ngay c đối với lời Phật dạy trong các kinh điển khác, chúng ta đều phải lấy bốn mươi tám nguyện làm chuẩn. Bởi lẽ, bốn mươi tám nguyện do đích thân A Di Đà Phật nói ra, Thích Ca Mâu Ni Phật thuật lại, cho nên [những nguyện ấy] đều là ư tứ của chính A Di Đà Phật. Chúng ta gọi điều này là y pháp, bất y nhân”, bởi lẽ, chúng ta hiểu đức Phật thuyết pháp, do đối tượng thuyết pháp khác nhau, nên Ngài giảng pháp khác nhau, ứng cơ thuyết pháp mà! Bốn mươi tám nguyện bổn nguyện của Phật Di Đà, chẳng phải là ứng cơ thuyết pháp, Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng th bảo chúng ta hăy sửa đổi bổn nguyện của A Di Đà Phật, không th nào! thế, nhất định phải lấy bốn mươi tám nguyện làm căn bản.

      Trong bốn mươi tám nguyện, chúng ta thấy trên thực tế, thế giới Tây Phương thế giới thuần nhất Bồ Tát, [các v Bồ Tát ấy chính là] chúng sanh từ mười phương thế giới sanh về. Do trong bốn mươi tám nguyện hoàn toàn chẳng nói có thượng, trung, hạ phẩm văng sanh, chẳng có, chẳng nói đến chuyện ấy, cũng chẳng nói tới bốn cơi, ch nói sanh v đó, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, đều là A B Bạt Trí Bồ Tát. Căn c theo kinh luận thường giảng, A B Bạt Trí th́ mức độ thấp nhất là t Thất Địa tr lên, cho nên cổ đức nói hễ sanh v Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ địa v bằng với Đẳng Giác”, thật sự một pháp môn chẳng thể nghĩ bàn!

      Tông Thiên Thai nóikhổ - lạcth́ cũngnói phương tiện. Nói thật ra, nếu chúng ta chẳng thật sự đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, nói chung là chẳng có cách nào tưởng tượng s trang nghiêm trong cơi ấy, đó gọi là trăm nghe chẳng bằng một thấy”. Thật sự đến Tây Phương Cực Lạc thế giới để nh́n, khi đó mới hiểu những ǵ Phật, Bồ Tát, các v t sư đă nói đúng là chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, nói quá ít! Nếu chẳng thù thắng như vậy, [cơi Cực Lạc] làm sao được mười phương chư Phật đều tán thán? Ngay c bốn mươi mốt địa v Pháp Thân đại sĩ trong thế giới Hoa Tạng cũng đều ưa thích văng sanh, có thể thấy thế giới ấy thật sự chẳng thể nghĩ bàn. Những điều tông Thiên Thai nói đây là nói theo Lư, luận định theo lư luận. Nói thật ra, thế giới Tây Phương vượt ngoài những lư luận ấy, vượt khỏi s tưởng tượng và suy lường của chúng ta. Cách nói này của h nếu áp dụng vào Tịnh Độ của mười phương chư Phật sẽ chẳng sai chút nào!

      Trong cơi Đồng Cư, Kiến Tư phiền năo nhẹ nhàng th́ là vui sướng, Kiến Tư nặng n bèn kh sở. Nay chúng ta đang trong cơi Phàm Thánh Đồngcủa Thích Ca Mâu Ni Phật, thật vậy, có chẳng ít người trong thế gian rất sung sướng. Quư v hỏi họ: sao các v sung sướng?” Kiến Tư phiền năo của h nh nhàng, tham, sân, si, mạn của họ đều nhẹ, nên h sung sướng. sao phiền năo rất nặng? Kẻ ấy tham, sân, si, mạn rất nặng, chẳng th buông xuống! Chuyện nh tẹo vẫn so đo, nên rất khổ. S kh - lạc trong các cơi nước của mười phương chư Phật cùng rơ rệt, nên nói tứ độ khổ lạc (s kh và vui trong bốn cơi).

 

      (Sao) Thể Tích xảo chuyết, phương tiện khổ lạc.

       () 體 析 巧 拙,方 便 苦 樂。

      (Sao: [Dựa trên] Thể Không và Tích Không khéo hay vụng, mà [phán định] sự khổ vui trong cơi Phương Tiện).

 

      Người tu hành trong cơi Phương Tiện Hữu Dư chẳng phải phàm phu. A La Hán và Bích Chi Phật, Quyền Giáo Bồ Tát, những v này quá nửa là tu Không Quán. Th Giáo là nhập môn Đại Thừa tu Không Quán, Tiểu Thừa cũng tu Không Quán. Trong Không Quán, có Th Không Tích Không, Tích () phân tích, Thể () đương Thể tức Không (ngay nơi bản th chính là Không). Đương Thể tức Không người thông minh, vị ấy tự tại! Tích Không ǵ? Phải nghiên cứu, phải phân tích, đến cuối cùng mới hiểu rơ, ngườiy có vẻ chậm lụt một chút. Khổ lạc từ ch này có! Đây là nói v cơi Phương Tiện Hữu Dư.

 

      (Sao) Thứ Đệ, Nhất Tâm, Thật Báo khổ lạc.

      () 次 第 一 心,實 報 苦 樂。

      (Sao: [Dựa trên] Thứ Đệ và Nhất Tâm Tam Quán để [phán định] s khổ vui trong cơi Thật Báo).

 

      Đây là cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm, tông Thiên Thai giảng Tam Chỉ, Tam Quán. Người thông minh Nhất Tâm Tam Quán, chẳng có th đệ (th tự), cao lắm! Người căn tánh trung hạ tu Thứ Đệ Tam Quán, chiếu theo th t thuận để tu, tu chứng dần dần. Nhất Tâm Tam Quán đốn tu, trong ấy có Đốn và Tiệm. Nhất Tâm là vui, Th Đệ kh hơn. So sánh giữa hai th [mà nói là sướng hay khổ].

 

      (Sao) Phần Chứng, Cứu Cánh, Tịch Quang khổ lạc.

       () 分 證 究 竟,寂 光 苦 樂。

      (Sao: [Dựa trên] Phần Chứng và Cứu Cánh để phán định sự khổ vui trong cơi Tịch Quang).

 

      Thường Tịch Quang Tịnh Độ có Phần Chứng và Cứu Cánh, Cứu Cánh Phật, Phần Chứng Bồ Tát. Nói thật ra, Tịch Quang Tịnh Độ Thật Báo đ là một mà hai, tuy hai mà một, hai cơi này không th tách rời, thường nói là phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân”. Phá một phẩm vô minh mới sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Nếu chia t mỉ, cơi Thật Báo Trang Nghiêm t Sơ Tr Bồ Tát trong Viên Giáo cho đến Đẳng Giác Bồ Tát tổng cộng bốn mươi mốt địa vị. Bốn mươi mốt địa v ấy đều là Phần Chứng. Cuối cùng Phật quả trong Viên Giáo, chúng ta c̣n gọi là địa v Diệu Giác, đó là Cứu Cánh. Do vậy, t Sơ Tr trong Viên Giáo cho đến thành Phật trong Viên Giáo, đều trụ trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm, phần chứng Tịch Quang Tịnh Độ.

 

      (Sao) Văn phồn bất tự.

      () 文 繁 不 敘。

      (Sao: Do kinh văn rườm rà nên chẳng thuật chi tiết).

 

      Tông Thiên Thai giảng rất nhiều, đây ch tŕnh bày đơn giản đôi chút!

 

      (Sớ) Vấn: Bồ Tát quyên khí ngũ dục, tuy Luân Vương bất dĩ vi lạc, mẫn niệm chúng sanh, tuy địa ngục khẳng đại kỳ khổ,đắc xả khổ chúng sanh, tự thủ lạc độ?

      () 問:菩 薩 捐 棄 五 欲,雖 輪 王 不 以 為 樂,憫 念 眾 生,雖 地 獄 肯 代 其 苦,何 得 捨 苦 眾 生,自 取 樂 土。

      (Sớ: Hỏi: Bồ Tát vứt bỏ ngũ dục, dẫu [ngôi vị] Luân Vương cũng chẳng coi là vui, nghĩ thương chúng sanh, dẫu [phải vào] địa ngục vẫn chịu khổ thay cho họ, há nên bỏ chúng sanh khổ sở, tự giữ lấy cơi vui?)

 

      Đây là lời vấn đáp giả thiết, hỏi rất hay! Học Phật, bất luận Đại Thừa hay Tiểu Thừa, điều đầu tiên phá Ngă Chấp. Trước khi p Ngă Chấp th́ điều th nhất là phá Thân Kiến, tức là chẳng c̣n chấp trước thân này Ngă. Thân Kiến một trong năm thứ Kiến. Năm Kiến Hoặc là Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Th Kiến, Kiến, đó là năm loại Kiến. Thứ nhất là phá Thân Kiến! Năm th Kiến Hoặc đều phá tr th́ mới chứng quả Tu Đà Hoàn trong Tiểu Thừa, trong Đại Thừa Viên Giáo địa v Tín Bồ Tát, tức địa v Sơ Tín trong Thập Tín. Nói cách khác, nếu Thân Kiến chưa phá, ngay c địa v Sơ Tín vẫn chưa đạt được, ngườiy chẳng có phần nơi địa v Bồ Tát! Địa v Sơ Tín giống như lớp Một, ngườiy chưa có đủ tư cách vào lớp Một.

      Hiện thời, mấy ai có th phá Thân Kiến? Khởi tâm động niệm, điều đầu tiên là nghĩ đến chính ḿnh. Chư vị phải biết: Đây là một chướng ngại rất lớn, chướng ngại này chắc chắn khiến cho quư vị suốt đời học Phật ch có th tu được một chút phước báo nhân thiên, chẳng th thành công, sao? Ngă Chấp quá nặng! Phá Ngă Chấp, thật sự đạt được vô ngă như kinh Kim Cang đă nói: ngă tướng, nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”. [Người] thật sự đạt được vô ngă, trong Tiểu Thừa A La Hán, trong Đại Thừa Viên Giáo địa v Thất Tín Bồ Tát. Địa v Thất Tín Bồ Tát bằng A La Hán trong Tiểu Thừa, mới có th thoát khỏi tam giới, mới coi như là tu hành có kết quả. Nếu chẳng ra khỏi tam giới, [tức là] chúng ta tu hành chẳngkết quả, vẫn phải luân hồi. Chỉ cần luân hồi, tức là đă phí công tu hành, tu c đời này uổng công, chẳngkết quả!

      Chỉ riêng pháp môn Tịnh Độ c̣n được, có th đới nghiệp văng sanh. Tr pháp môn này ra, quư vị muốn tu bất cứ pháp môn nào đều chẳng th thành tựu. Chúng ta có thể thí nghiệm xem! Ca tụng k ấy dăm câu, kẻ ấy rất hoan hỷ; chửi k ấy mấy lượt, k ấy bèn nóng máu, liền biết k ấy cái Ta rất nặng! Người chẳngNgă Chấp, quư vị chửi ngườiy, ngườiy chẳng tức giận, sao? Người ấy vô ngă! Nói cách khác, quư vị chửi ngườiy, ngườiy chẳng tiếp nhận, nghe giống như quư vị đang chửi người khác. Q vị tán thán ngườiy, ngườiy cũng chẳng vui vẻ. Đấy là như Phật môn thường nói: Bát phong xuy bất động” (tám gió thổi chẳng động). “Tám gió thổi chẳng động” là công phu vừa mới đắc lực, trọn chưa th xem như thành tựu! Người tám gió thổi chẳng động vẫn chưa có cách nào thoát ly tam giới luân hồi; nhưng thật sự đạt được “tám gió thổi chẳng động” th́ niệm Phật văng sanh Tịnh Độ nói chung chẳng có vấn đề rất to lớn, đó gọi làđới nghiệp văng sanh”. Do ngườiy hoàn toàn chưa đoạn Kiến Tư phiền năo, nên đây mới đưa ra câu hỏi này.

      Bồ Tát quyên khí ngũ dục” (Bồ Tát vứt bỏ ngũ dục), Ngũ Dục là tài, sắc, tiếng tăm, ăn uống, ng nghỉ, Bồ Tát đều b hết, đúng là ly dục. Luân Vương bất dĩ vi lạc” (chẳng coi ngôi Luân Vương là vui), cho Ngài làm Chuyển Luân Thánh Vương, Ngài cũng chẳng cảm thấy vui sướng. V́ c năm th cảm nhậnkhổ, lạc, ưu, hỷ, xđều trừ bỏ, tâm đă thanh tịnh. Mẫn niệm chúng sanh là thương xót hết thảy chúng sanh. V́ độ chúng sanh, dẫu địa ngục Ngài cũng đồng ư bước vào. Địa Tạng Bồ Tát một tấm gương [điển h́nh]: Địa ngục chẳng trống, thề chẳng thành Phật. Chúng sanh đang chịu khổ, mắc nạn nơi ấy, chúng ta nên phát tâm đến giúp họ. Tr phi chẳng có duyên phận, chứ hễ có duyên phận, nhất định phải đến. Nếu không đến, nói thật ra là đă trái nghịch với nguyện do chính ḿnh đă phát. Bất luận quư v [phát nguyện] thật hay giả, quư vị đă đối trước Phật phát thệ tổng quát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, nay có chúng sanh kh s mong mỏi quư vị độ họ. [Nếu t nhủ]nơi đó kh quá, ta chẳng đến”, nói cách khác, lập tức vi phạm thệ nguyện của chính ḿnh. thể thấy thệ nguyện chúng ta đă phát trước Phật giả, chẳng thật, mang tánh chất bỡn cợt! Nói khó nghe hơn là lừa gạt Phật, Bồ Tát, tội lỗi ấy rất lớn! Nói rồi chẳng gi lời, chẳng th thực hiện!

      Chúng sanh luôn khổ! Chỉ cần có hội, chúng ta bèn giúp đỡ họ, chúng ta dùng ǵ để giúp họ? Chúng ta dùng phương pháp Niệm Phật để giúp họ, khiến cho h biết pháp môn Tịnh Độ, khiến cho h phát tâm niệm Phật. Dẫu h vẫn chẳng chịu cầu văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, t bốn mươi tám nguyện chúng ta thấy, chỉ cần họ nghiêm túc, tin tưởng, chịu niệm, tuy chẳng văng sanh Tây Phương Tịnh Độ, đời sau ngườiy cũng có phước báo nhân thiên. Kinh dạy: Sanh tôn quư gia, lục căn bất khuyết(sanh trong nhà tôn quư, sáu căn chẳng thiếu khuyết), vẫn c̣n có thể tiếp tục học Phật, điềuy rất khó có! Do được oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ, trong đời sau, ngườiy vẫn có th hưởng phước báo. Chúng ta nhất định phải đọc k càng, rơ ràng Di Đà bổn nguyện. Đó là k thật sự thành tâm thành ư, nhưng chưa b duyên trong cơi đời được; nói khó nghe hơn ngườiy nghiệp chướng rất nặng, phiền năo rất sâu, chẳngcách nào văng sanh. Người ấy có chướng duyên, đời sau vẫn có th có phước báo. Do vậy, Bồ Tát nhất định phải thực hiện nguyện do chính ḿnh đă phát, phải tận hết sức làm, ta có thể làm bao nhiêu bèn làm bấy nhiêu, tận tâm tận lực, chỉ cần làm được bốn ch ấy bèn gọi làcông đức viên măn”. Ta đă tận tâm tận lực rồi, đó là công đức viên măn. thế, để độ chúng sanh, dẫu đến địa ngục Ngài vẫn không sợ, vẫn cam tâm t́nh nguyện đến đó.

      “Hà đắc xả khổ chúng sanh, tự thủ lạc độ” (há nên bỏ chúng sanh khổ sở, tự giữ lấy cơi vui?). Ư nói văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, Tây Phương Cực Lạc thế giới rất tốt đẹp! Nơi ấy chỉvui, chẳng có khổ. Cớ sao những v Bồ Tát ấy đều văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới? Bỏ mặc những chúng sanh khổ sở, chẳng độ họ, mà đến Tây Phương Cực Lạc thế giới để hưởng thụ, chẳng phải đă trái nghịch với bổn nguyện của h ư? Dưới đây là lời giải đáp.

 

      (Sớ) T Giả Thập Nghi Luận trung tường minh.

       () 智 者 十 疑 論 中 詳 明。

      (Sớ: Trong Thập Nghi Luận của ngài Trí Giả đă giảng tường tận).

 

      Trí Giả đại sư một tác phẩm mang tựa đề Tịnh Độ Thập Nghi Luận, trả lời câu hỏi này rất cặn kẽ. Tịnh Độ Thập Nghi Luận được đưa vào bộ Tịnh Độ Thập Yếu.

 

      (Sớ) Hựu cánh hữu thủ xả đa thuyết, bất khả bất biện.

      () 又 更 有 取 捨 多 說,不 可 不 辯。

      (Sớ: Lại có nhiều thuyết lấy - bỏ, chẳng thể không biện định).

 

      Nhất định phải hiểu rơ điều này. Dưới đây, Ngài trích dẫn Thập Nghi Luận của Trí Giả đại sư để nói rơ.

 

      (Sao) Luận vân.

      () 論 云。

      (Sao: Luận nói).

 

      “Luận là Tịnh Độ Thập Nghi Luận.

 

      (Sao) Bồ Tát vị đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, bất năng độ sanh.

      () 菩 薩 未 得 無 生 法 忍,不 能 度 生。

      (Sao: Bồ Tát chưa đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, chẳng thể độ sanh).

 

      Phải ghi nh điều này, sao? Chưa đắc Sanh Pháp Nhẫn s b thoái chuyển.

 

      (Sao) D như phá châu chửng nịch.

   () 喻 如 破 舟 拯 溺。

      (Sao: Ví như [dùng] chiếc thuyền rách đi cứu k chết ch́m).

 

      Người ấy ngồi thuyền toan đến cứu người ch́m trong nước, nhưng chiếc thuyền ấy là cái thuyền rách nát.

 

      (Sao) Tự tha câu hăm.

       () 自 他 俱 陷。

      (Sao: Ta và người đều bị hại).

 

      Không chỉ chẳng độ được người, mà chính ḿnh cũng phải chết theo! S phát tâm ấy vô dụng; v́ thế, chúng ta phải hiểu rơ đạonày. Nếu dùng pháp môn khác, bản thân chúng ta không hội đủ các điều kiện ấy, chẳng có cách nào lợi ích chúng sanh. Chúng ta dùng pháp môn Tịnh Độ để lợi ích chúng sanh, chính chúng ta dốc hết tánh mạng học pháp môn này, cũng dạy người khác học pháp môn này. Bản thân chúng ta đạt được lợi ích thù thắng trong pháp môn này, nên cũng hy vọng chia s lợi ích này cùng mọi người.

      Nhưng chúng ta có phải đến Tây Phương Cực Lạc thế giới hay không? Phải đến! sao phải đến? Nếu chẳng đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, dẫu đời sau có đôi chút phước báo nhân thiên, vẫn là phải có nhân hạnh nhân thiên, phải thật sự tu tốt đẹp Ngũ Giới, Thập Thiện th́ đời sau mới có thể  làm thân người. Nếu nhân hạnh ấy chẳng trọn đủ, người niệm Phật vẫn phải đọa địa ngục! Trong đoạn cuối cùng của b Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương Sớ Sao, phápQuán Đảnh đă nói một trăm thứ quả báo khác nhau của người niệm Phật. Niệm Phật như nhau, nhưng đạt được kết quả khác nhau. Điều th nhất đọa địa ngục, người niệm Phật đọa địa ngục, điều thứ hai đọa ngạ quỷ đạo, điều thứ ba đọa súc sanh đạo. Tam ác đạo được xếp vào ba điều đầu, đúng là khiến cho người ta kinh hăi! Niệm Phật có thể thành Phật, mà niệm Phật cũng có th đọa địa ngục! sao người niệm Phật bị đọa tam đồ? Giả dối mượn chuyện niệm Phật để lừa ḿnh, dối người, lường gạt chúng sanh, tham cầu tiếng tăm, lợi dưỡng, đó là chẳng đúng pháp! Quả báo trong A T địa ngục, chúng ta phải biết điều này hoàn toàn trái nghịch bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật. Do vậy, chúng ta phải cầu văng sanh. Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị lập tức trở về độ chúng sanh cũng được, kinh Vô Lượng Th có nói chuyện này. Quư v bi tâm rất nặng, nóng ḷng muốn độ chúng sanh, đă tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị bèn đi ngay, có th được! Thần lực của A Di Đà Phật gia tŕ quư vị, tuy quư vị tới thế giới phương khác để độ chúng sanh, vĩnh viễn chẳng đọa trong tam ác đạo, chẳng bị thoái chuyển. Lợi ích ấy quá lớn. Chẳng sanh v Tây Phương Cực Lạc thế giới một phen, s b thoái chuyển! Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới một phen s chẳng thoái chuyển. Vậy th́ l nào chẳng nên đến?

 

      (Sao) Cầu sanh Tịnh Độ, đắc Sanh Nhẫn dĩ, hoàn lai thử thế, cứu khổ chúng sanh, năi khắc hữu tế.

      () 求 生 淨 土,得 無 生 忍 已,還 來 此 世,救 苦 眾 生,乃 克 有 濟。

      (Sao: Cầu sanh Tịnh Độ, đắc Vô Sanh Nhẫn rồi, trở về cơi đời này, cứu chúng sanh khổ sở, ắt sẽ cứu được).

 

      Đó là đúng, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng phải để hưởng thụ! Bồ Tát chẳng có quan niệm hưởng thụ hay hưởng phước. Bồ Tát niệm niệm đều mong mỏi giúp đỡ, thành tựu chúng sanh, căn bản là không quan tâm đến hoàn cảnh cư tr của chúng sanh, không để ư đến điều ấy. Q vị ở trong thiên đường cũng thế, mà trong địa ngục cũng thế, chỉ cần có duyên, Bồ Tát sẽ đến. Nói theo cách bây giờ, duyên là cơ hội. Chỉ cần có hội, Bồ Tát s đến. Chẳng có cơ hội, chẳng có cách nào! Không có cơ hội là b chướng ngại, Bồ Tát chẳngcách nào đến được! Có cơ hội, tức là chẳng có chướng ngại, đương nhiên phải đến.

 

      (Sao) Cố Sơ Tâm Bồ Tát, tất tiên xả thử khổ xứ, sanh bỉ lạc xứ.

       () 故 初 心 菩 薩,必 先 捨 此 苦 處,生 彼 樂 處。

      (Sao: Do vậy, Sơ Tâm Bồ Tát trước hết ắt phải bỏ cơi khổ này, sanh về cơi vui kia).

 

      Đặc biệt nói v Sơ Phát Tâm Bồ Tát, nhất định phải bỏ thế giới Sa Bà, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ mới thể thành công.

 

      (Sao) Cứ thử.

      () 據 此。

      (Sao: Căn cứ theo đó).

 

      Căn c trên đạo lư ấy.

 

      (Sao) Tắc xả khổ giả, chánh ư bạt chúng sanh chi khổ.

   () 則 捨 苦者,正 於 拔 眾 生 之 苦。

      (Sao: Bỏ cơi khổ chính là để dẹp trừ nỗi khổ cho chúng sanh).

 

      Chúng ta đến Tây Phương Cực Lạc thế giới nhằm thành tựu trí huệ đức năng của chính ḿnh. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới để làm ǵ? Chính là v́ muốn cứu độ chúng sanh khổ nạn trong thế giới này.

 

      (Sao) Thủ lạc giả, chánh dục dữ chúng sanh dĩ lạc giả.

      () 取 樂 者,正 欲 與 眾 生 以 樂 也。

      (Sao: Giữ lấy cơi lạc chính là để ban sự vui cho chúng sanh).

 

      Chúng ta khuyên hết thảy chúng sanh văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới dữ lạc (ban cho niềm vui), nhằm khiến cho chúng sanh ĺa rốt ráo khổ, đắc rốt ráo lạc.

 

      (Sao) Tự lợi lợi tha, thị Bồ Tát đạo, khởi Nhị Thừa độc thiện chi khả trù hồ.

   () 自 利 利 他,是 菩 薩 道,豈 二 乘 獨 善 之 可 儔 乎。

      (Sao: “Tự lợi, lợi người” là Bồ Tát đạo, há sự “mưu cầu tốt lành cho riêng ḿnh” của hàng Nhị Thừa có thể sánh bằng ư?)

 

      Nhị Thừa là người Tiểu Thừa. Nói thật ra, người Tiểu Thừa là “độc thiện kỳ thân” (ch mưu cầu tốt lành cho riêng ḿnh), chẳng chịu giúp người khác. Nói thật ra, đối với bản thân chúng ta, phải nghiêm túc phản tỉnh. Trong q khứ, khi thầy giảng kinh hoặc giáo học, thường nhắc nhở chúng tôi, bảo chúng tôi phải t ḿnh nghiêm túc phản tỉnh: “Chúng ta giống như Bồ Tát hay không?Suy nghĩ cặn k th́ không chỉ chẳng giống Bồ Tát, mà ngay c Nhị Thừa cũng chưa th nói là bén gót h được! Thật đấy! Hàng Nhị Thừa đúng độc thiện kỳ thân”, nhưng chúng ta kể cả độc thiện kỳ thân” vẫn làm chưa được! Khởi tâm động niệm không ǵ chẳng phải tội nghiệp như kinh Địa Tạng đă nói. Có những người tạo tội nghiệp, nhưng chính h thể giác ngộ, tốt lắm, c̣n có cơ hội được cứu. Có lắm k tạo tội nghiệp, dẫu chết vẫn chẳng thừa nhận, kinh Phật gọi loại người như vậy là Nhất Xiển Đề, chẳng cứu được, v́ sao? Chính h đă gây tạo lầm lỗi, nhưng chẳng biết, chẳng hiểu, chẳng thừa nhận chính ḿnh không biết. Bởi lẽ, biết chính ḿnh lầm lỗi th́ là tự giác, Th Giác, tức là bắt đầu giác ngộ, sau khi đă biết lầm lỗi th́ mới có th sửa đổi. Kẻ chẳng biết chính ḿnh lầm lỗi, luôn tự cho là đúng, nói cách khác, chẳng có ư niệm sửa lỗi. Nói khác đi là h lầm lạc bèn lầm lạc đến cùng, vĩnh viễn một mực lầm lỗi, k như vậy đáng thương nhất, mà cũng là k đáng buồn nhất! Kinh Phật thường gọi h là “khả lân mẫn giả” (k đáng thương xót), Phật cũng chẳng th độ h v́ h [c tưởng họ] chẳng có lầm lỗi ǵ! Nói thật ra, khônglầm lỗi th́ chỉPhật mới không có lầm lỗi, Đẳng Giác Bồ Tát hăy c̣n lầm lỗi, sao? Đẳng Giác Bồ Tát c̣n có một phẩm vô minh chưa phá, nên c̣n có lầm lỗi. Do đó, Bồ Tát sám trừ nghiệp chướng, từ Sơ Phát Tâm cho đến Đẳng Giác đều phải tu sám trừ nghiệp chướng.

      Mỗi người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đều tu mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát, nên sanh v Tây Phương Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật dạy chúng ta, chúng ta thân không ch giống như Phật, mà c̣n đều là thân Kim Cang bất hoại, Kim Cang Tát Đỏa. Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasattva) Phổ Hiền Bồ Tát. vậy, Tây Phương Cực Lạc một thế giới thuần nhất Bồ Tát. Bồ Tát ǵ vậy? Phổ Hiền Bồ Tát, ai nấy đều là Phổ Hiền Bồ Tát. Kinh Hoa Nghiêm mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, kinh Vô Lượng Thọ đều tuân theo đức của Phổ Hiền đại sĩ”, hợp lại để xem, chẳng sai! T bốn mươi tám nguyện, chúng ta biết Tây Phương Cực Lạc thế giới thế giới của Phổ Hiền Bồ Tát. Đẳng Giác Bồ Tát c̣n phải sám trừ nghiệp chướng, nay chúng ta nghiễm nhiên chẳng nghiệp chướng để có th sám hối, nói theo tiêu chuẩn trong kinh Phật th́ là một gă Nhất Xiển Đề! Nhất Xiển Đề là k đoạn thiện căn, nói theo Phật pháp là chẳng cứu được! Chúng ta phải đặc biệt cảnh tỉnh, răn dè điều này.

      Chúng ta hăy t khéo suy nghĩ, đúng là ngay c Nhị Thừa ta cũng không bằng! Phải phát tâm chí thành sám hối. Đối với giáo huấn trong kinh Phật, chúng ta làm được câu nào? Chúng ta thật sự hiểu rơ câu nào? Hiểu rơ giải ngộ, làm được chứng ngộ! Ở đây, có trường hợp là giải ng trước rồi có chứng ng sau, trường hợp là làm được trước rồi sau đó bèn hoảng nhiên đại ngộ. Điều này chẳng nhất định! Không nhất định là phải liễu giải trước rồi mới làm sau, có những người làm được trước rồi sau đấy mới hiểu. Sau khi đă làm được, ngườiy bèn hoảng nhiên đại ngộ, căn tánh của chúng sanh mỗi người mỗi khác!

 

      (Sao) Hựu đa thuyết giả, Khuê Phong thích Viên Giác, chủng chủng thủ xả, giai thị luân hồi, vị như thử xả Sa Bà, thủ bỉ Tịnh Độ.

      () 又 多 說 者,圭 峰 釋 圓 覺,種 種 取 捨,皆 是 輪 迴,謂 如 此 捨 娑 婆,取 彼 淨 土。

      (Sao: Lại nữa, “nhiều thuyết”: Ngài Khuê Phong giải thích kinh Viên Giác, [phán định] các thứ lấy - bỏ đều là luân hồi, chẳng hạn như bỏ cơi Sa Bà, lấy cơi Tịnh Độ kia [vẫn là tâm lấy - bỏ, cho nên vẫn luân hồi]).

 

      Khuê Phong đại sư tổđời thứ năm của tông Hoa Nghiêm, là học tṛ của Thanh Lương đại sư, húy là Tông Mật. Ngài suốt đời dốc sức nơi kinh Viên Giác. Cổ nhân học Phật thấy kinh luận quá nhiều, chẳng biết phải dụng công t đâu, Kh Phong đại sư cũng như vậy. Ngài chí thành lễ bái cầu nguyện, lạy Phật, lạy suốt bảy ngày, đối trước Phật rút thăm. Ngài rút được kinh Viên Giác. Sau khi Ngài rút được, bèn suốt đời chuyên nghiên cứu kinh Viên Giác, Ngài đích xác bậc giảng giải kinh Viên Giác đầy uy tín. Măi cho đến nay, hơn một ngàn năm qua, không ai có th giảng giải kinh Viên Giác vượt hơn Ngài. Ngài chú giải kinh Viên Giác bốn lần, Viên Giác Kinh Lược Sớ, Viên Giác Kinh Lược Sớ Chi Sao, Viên Giác Kinh Đại Sớ, Viên Giác Kinh Đại S Chi Sao. Kinh Viên Giác chỉ có hai quyển, [đại sư] chú giải hết sức tỉ mỉ, qu thật rất lỗi lạc! Nói thật ra, có th nói là nội dung kinh Viên Giác và kinh Lăng Nghiêm hoàn toàn tương đồng. Lăng Nghiêm là nói rộng, nói chi tiết, Viên Giác nói đại lược, nội dung [hai kinh] có rất nhiều ch giống nhau, cảnh giới hết sức cao, là kinh điển của Đại Thừa Viên Giáo.

      Trong Viên Giác Kinh Sớ Sao, Ngài nói: “Chủng chủng thủ xả giai thị luân hồi” (các th lấy - bỏ đều là luân hồi), câu này xác thực là đúng như vậy. Lấy - bỏ bèn được - mất, tâmlấy - bỏ, được - mất” là tâm luân hồi, không thoát khỏi lục đạo luân hồi. “Xả thử Sa, thủ bỉ Tịnh Độ” (b cơi Sanày, lấy cơi Tịnh Độ kia) vẫn là tâm lấy - bỏ! Tâm như vậy vẫn luân hồi trong lục đạo, không ra khỏi tam giới. Đúng hay không? Đúng, chẳng sai! Nếu quư vị dùng cái tâm lấy - bỏ tức là trật rồi, Khuê Phong đại sư nói chẳng sai!

      Người văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng ra đi bằng cái tâm lấy - bỏ đối với thế giới Sa Cực Lạc, mà dùng cái tâm ǵ để văng sanh? Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới để cầu học, du học. Sau khi học thành công, s lập tức trở về độ chúng sanh, tâm như vậy đó! Nếu ngườiy thật sự bỏ Sa, sau này c̣n có th tr lại hay chăng? Chẳng tr lại! Nếu ngườiy lấy Tịnh Độ, trong tương lai c̣n có thể bỏ Tịnh Độ hay không? Có th thấy là lời ngài Khuê Phong nói chẳng sai. Nếu chúng ta cảm thấy ở đây khổ, bên đó vui, lần này ta sang Tây Phương Cực Lạc thế giới là tốt đẹp rồi, ta cũng chẳng c̣n phải chịu kh nữa, cũng chẳng muốn quay lại thế giới này! Nếu quư v có tâm lư ấy, s chẳng thể văng sanh, sao? Chẳng tương ứng với bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật.

      Do vậy, đối với những v Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, t kinh điển chúng ta th thấy và t bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật ta cũng thấy, sau khi các Ngài văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong Tây Phương Cực Lạc đến đến, đi đi. Mười phương thế giới chư Phật nơi nào có duyên bèn đến đó, đi chẳng bao lâu lại tr về, trở về được vài ngày rồi lại đi, đến đến, đi đi! Đi để làm ǵ? Tiếp dẫn chúng sanh; chính ḿnh đă đến Tây Phương Cực Lạc thế giới thành tựu, chúng sanh trong mười phương thế giới có duyên, có quan h với chính ḿnh, [chẳng th không đến tiếp dẫn]. Kinh Phật thường nói: Phật chẳng độ kẻ duyên”, sao? Chẳng có quan h với quư vị, quư vị thuyết pháp cho họ, h chẳng nghe, chẳng tiếp nhận. Nếu h rất vui vẻ, hoan hỷ nghe, hoan hỷ tiếp nhận, tức là trong đời quá khứ đă có duyên phận với quư vị nên h mới vui vẻ lắng nghe. Thuyết một pháp giống hệt như vậy, nhưng thay bằng một v phápkhác, h chẳng vui ḷng, phàm phu mang nỗi chấp trước ấy! H thích v phápnày, chẳng thích v phápkia, tức là trong đời quá khứ duyên hay vô duyên.

      Đời quá khứ của chúng ta rất nhiều, chẳng k xiết! Quá khứ c̣n có quá khứ, quá khứ thỉ! Chúng ta cũng không chỉ sống trên qu địa cầu này, mà mười phương thế giới trong quá khứ chúng ta đều đă từng đó. Nói theo thuật ng hiện thời [mười phương thế giới] những tinh cầu khác ngoài vũ trụ, trong đời quá khứ chúng ta đều đă từng sống đó. V́ thế, trong bất c cơi Phật nào, cũng đều có cha mẹ, anh em trai, ch em gái, thân thích, bằng hữu của chúng ta trong quá khứ. Những người quan h ấy chính là người hữu duyên, bất luận trong q khứ kết thiện duyên hay ác duyên đều được! Chẳng cần biết thiện hay ác, đều là người hữu duyên, ta có th giúp đỡ họ.

      Hễ các v Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đến mười phương thế giới độ chúng sanh, đều khuyên họ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Như trong kinh này, trong phần trước đă nêu ra mười sáu vị tôn giả và bốn vị Bồ Tát, trong kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta thấy mười sáu v Hiền H Chánh Sĩ. Những v ấy đều là Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế giới thả chiếc bè T đến nơi đây, có thể thấy các Ngài đến đi rất nhiều lượt. Chẳng phải là bất động trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng phải vậy, mà là đến đến, đi đi. Do đó, nhất định phải hiểu đạo lư này.

      Khuê Phong đại sư nói lời này chẳng sai, nếu quư vị dùng cái tâm lấy - bỏ, s chẳng th văng sanh. Trong thế gian này, nếu chúng ta ch nào cũng đều có ư niệm lấy - bỏ, chắc chắn chẳng thể lợi ích chúng sanh, sao? Lấy - bỏ tư tâm, chúng ta nói thông tục là “t tư t lợi”. Bồ Tát luôn v́ chúng sanh, chẳng lấy - bỏ v́ chính ḿnh, v́ chúng sanh lấy - bỏ th́ đúng. chúng sanh th́ như Trí Giả đại sư đă nói trong phần trước: Do chúng sanh kh nên ta mới ĺa Sa Bà đến Cực Lạc, v́ s vui sướng của chúng sanh chúng ta mới lấy thế giới Cực Lạc, chẳng phải chính ḿnh; lấy - bỏ là v́ hết thảy chúng sanh! Giúp họ lấy - bỏ, chẳng phải lấy - bỏ cho chính ḿnh. Mỗi người văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới đều có tâm thái như vậy, thật sự vĩ đại, chẳng thể nghĩ bàn.

 

      (Sao) Nhi Đại Mai diệc vân.

      () 而 大 梅 亦 云。

      (Sao: Ngài Đại Mai cũng nói).

 

      Đại Mai là một v Đại Đức trong Thiền Tông.

 

      (Sao) Xả cấu thủ tịnh, thị sanh tử nghiệp.

   () 捨 垢 取 淨,是 生 死 業。

      (Sao: Bỏ cấu, lấy tịnh là nghiệp sanh tử).

 

      Theo Khuê Phong đại sư giảng giải, sanh tử nghiệp” nghĩa là luân hồi, hai v này có kiến giải giống nhau.

 

      (Sao) Cố kim biện vân.

      () 故 今 辯 云。

      (Sao: Nên nay biện định rằng).

 

      đây, s người ta nghe hai câu ấy s nẩy sanh sai lầm, sai lầm vậy? Chẳng dám văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, lỗi lầm ấy rất to. “Cố kim biện vân” (cho nên biện định rằng).

 

      (Sao) Thử đẳng ngữ ngôn, phi bất cực trí, đản đắc chỉ tắc hiệu Đề Hồ, thất ư tắc thành độc dược.

   () 此 等 語 言,非 不 極 致,但 得 旨 則 號 醍 醐,失 意 則 成 毒 藥。

      (Sao: Loại ngôn ngữ ấy không lời nào chẳng nói đến l tột cùng, nhưng lănh hội ư chỉ bèn gọi là Đề Hồ, nếu chẳng hiểu ư sẽ trở thành thuốc độc).

 

      Hai câu ấy qu thật là như thế. Nếu quư vị thật sự hiểu rơ ư ch của các v Khuê Phong và Đại Mai th́ những lời ấy s là Đề Hồ. Hai vị đại sư đều là bậc đại đức lỗi lạc trong nhà Thiền, đều là hàng Bồ Tát minh tâm kiến tánh. Những lời ấy đều nhằm sám trừ t́nh chấp và chấp trước của k tu hành, dụng ư ch này, cũng là do các Ngài thấy những k tu hành có ư niệmlấy - bỏ, được mất” quá nặng, nên mới nói như vậy. Đúng là ứng bệnh cho thuốc, thuốc uống vào liền khỏi bệnh. Nếu chúng ta chẳng có chấp trước ấy, nay nghe những lời này của ngài Khuê Phong và Đại Mai bèn ngược ngạo chấp trước cách nói ấy, hại chúng ta cũng chẳng dám phát nguyện cầu sanh Tây Phương, như vậy là hỏng rồi! Do thuốc mà lại đổ bệnh, chấp dược thành bệnh(chấp thuốc thành bệnh), ngược ngạo biến [thuốc hay] thành độc dược! V́ thế, phải hiểu rơ ràng, minh bạch lời các Ngài nói chẳng sai!

      Nay chúng ta thấy có những v t sư nói “b Sa, lấy Cực Lạc”, nói như vậy cũng chẳng sai! S lấy - bỏ ấy có cùng một ư nghĩa với những v t sư bảo chẳng lấy, chẳng bỏ. Do đó, quư vị phải hiểu ư nghĩa của chúng.Không lấy, không bỏ” là chẳngchấp trước,bỏ Sa, lấy Cực Lạc” cũng chẳng chấp trước. Bỏ chẳng phải là thật, tôi vừa mới nói đó, tạm thời bỏ, lấy Cực Lạc chẳng phải là thật sự lấy. Đến thế giới Cực Lạc xong bèn lập tức lại rời khỏi. Trọn chẳng phải đă tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, nơi ấy quá vui sướng, ta vĩnh viễn chẳng muốn rời khỏi, vĩnh viễn hưởng th ở nơi đó, chẳng phải vậy! Nếu có ư niệm ấy, s chẳng th văng sanh, do chẳng tương ứng với bổn nguyện của A Di Đà Phật.

 

      (Sao) Tận linh nhi hành, hà đản xả Sa Bà cấu, thủ Cực Lạc tịnh, vi thủ xả dă! Túng vị ngă độ duy tâm, nhi xả cảnh thủ tâm, diệc thủ xả dă. Túng vị ngă vô thủ xả, nhi xả thử hữu thủ xả, thủ bỉ vô thủ xả, diệc thủ xả dă, diệc luân hồi sanh tử nghiệp dă.

       () 盡 令 而 行,何 但 捨 娑 婆 垢,取 極 樂 淨,為 取 捨 也。縱 謂 我 土 惟 心,而 捨 境 取 心,亦 取 捨 也。縱 謂 我 無 取 捨,而 捨 此 有 取 捨,取 彼 無 取 捨,亦 取 捨 也,亦 輪 迴 生 死 業 也。

      (Sao: [Nói “lấy, bỏ, ưa, chán”] nhằm khiến cho trọn hết chúng sanh đều tu hành [pháp môn Tịnh Độ này], sao lại chỉ coi “bỏ Sa Bà nhơ, lấy Cực Lạc sạch” là “lấy, bỏ”. Dẫu nói cơi của ta (Sa Bà) là duy tâm th́ “bỏ cảnh, lấy tâm” vẫn là “lấy, bỏ”. Dẫu nói “ta không có lấy - bỏ”, nhưng bỏ cái “có lấy - bỏ” này để giữ lấy cái “không lấy - bỏ” kia th́ vẫn là lấy - bỏ, vẫn là nghiệp sanh tử luân hồi vậy).

 

      Đây là lời biện bác của Liên Tŕ đại sư cũng nhằm giúp cho chúng ta kiến lập một tri kiến chánh xác. Mấu chốt là tâm, nên nói rơ ràng, minh bạch, đơn giản hơn một chút th́ t sư nói: V́ chính ḿnh lấy - bỏ th́ là sai lầm, quyết định nghiệp luân hồi. V́ chính ḿnh chẳng lấy, chẳng b th́ vẫn là lấy - bỏ. Quư v b cáilấy - bỏ” để gi lấy một cái “chẳng lấy, chẳng b”, đó vẫn là lấy - bỏ! Nói tóm lại, h quư vị chính ḿnh th́ chắc chắn là sanh tử luân hồi. Nếu chúng ta v́ hết thảy chúng sanh, chẳng có lỗi lầm ǵ, mấu chốt ngay ch này. Mong mọi người hăy khéo lưu ư!

      hết thảy chúng sanh chính là phước báo chân thật, sao? Bản thân chúng ta phước báo rất hữu hạn, quư vị phát đại tâm v́ chúng sanh, sẽ biến phước báo của chúng sanh thành phước báo của chính ḿnh, do chính ḿnh và chúng sanh đă ḥa lẫn thành một Thể. Chúng sanhphước th́ ta phước. Lại c̣n ḥa thành một khối với chư Phật, Bồ Tát, chư Phật, Bồ Tát có phước, ta cũng phước. Ta chẳng vạch giới hạn giữa ḿnh và các Ngài, nhận biết ta và các Ngài đồng nhất. Nếu chẳng nhận thấy ta và các Ngài đồng nhất, tự khoanh một ranh giới nh bé, ta độc lập, ta không phải quư vị, quư vị chẳng phải ta, phước báo của ta rất hữu hạn. Dần dần phước báo do chính ḿnh đă tu tích trong đời quá khứ đời này b hao tổn hết sạch. V́ thế, các đồng tu học Phật, bất luận xuất gia hay tại gia đều phải hiểu rơ đạonày!     

      Thừa nguyện tái lai, cũng không hoàn toàn nghĩa là văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi quay về, [những v đă văng sanh Tây Phương Cực Lạc rồi quay tr về] đương nhiên thừa nguyện tái lai. Đối với những k nay c̣n chưa văng sanh cũng có th coi là thừa nguyện tái lai, th́ phải nói như thế nào? Nay chúng ta trong thế gian này là do nghiệp lực mà th sanh, chẳng phải thừa nguyện tái lai. Chúng ta do nghiệp lực mà đến [thế gian này], chẳng muốn đến cũng không được, muốn chạy cũng chạy chẳng khỏi! Chẳng có tự do, tự ḿnh chẳng th làm chủ; nhưng chúng ta thật sự giác ngộ, t nay tr đi phát nguyện, ta v́ hết thảy chư Phật, Bồ Tát, hết thảy chúng sanh, quên sạch chính ḿnh, đó là chuyển biến nghiệp lực của chính ḿnh thành nguyện lực, sẽ giống như bậc thừa nguyện tái lai.

      Trí huệ phước đức của quư vị quyết định tăng trưởng, trí huệ do Tam Bảo gia tŕ, phước đức cũng do Tam Bảo gia tŕ, tùy thuộc quư vị muốn hay là không. Như tôi vừa mới nói, có bằng ḷng nhận biết ḿnh hết thảy chư Phật đồng nhất hay không, có nhận thấy chính ḿnh hết thảy chúng sanh đồng nhất hay không! Thật ra ch Nhận () này là t ng hiện thời, [dùng t ngữ này] cho mọi người dễ hiểu, đúng ra là phải như Quán Thế Âm Bồ Tát đă nói trong kinh Lăng Nghiêm: Thượng hợp thập phương chư Phật bổn diệu giác tâm, dữ Phật Như Lai đồng nhất từ lực; hạ hợp thập phương nhất thiết lục đạo chúng sanh, dữ chư chúng sanh đồng nhất bi ngưỡng” (trên là hợp với cái tâm vốn diệu giác của mười phương chư Phật, có cùng một t lực với Phật Như Lai. Dưới là hợp với mười phương hết thảy lục đạo chúng sanh, có cùng một tấm ḷng bi ngưỡng như chúng sanh). Ư nghĩa này, nếu nói theo cách bây giờ, s là trên, Ngài nhận thấy chính ḿnh và mười phương chư Phật đồng nhất, dưới là nhận thấy chính ḿnh và  hết thảy chúng sanh đồng nhất, thật sự quên bẵng chính ḿnh, đó là Quán Thế Âm B Tát, chúng ta phải nên học tập điều này.

      Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, Quán Thế Âm Bồ Tát cũng là đến đến, đi đi, chẳng phải ch cứu độ các chúng sanh ch chúng ta. Chúng ta thường nói Quán Âm Bồ Tát đặc biệt có duyên với chúng ta. Không sai, Quán Âm Bồ Tát và mỗi thế giới trong mười phương thế giới đều có duyên. Trong bốn mươi tám nguyện, A Di Đà Phật đă nói, Ngài đă thành Phật, tiếng tăm của những v thầy trong thế giới của A Di Đà Phật đều là “phổ văn thập phương (lừng danh khắp mười phương). Quán Âm và Thế Chí các v giáo sư trong thế giới Cực Lạc! Mười phương thế giới chẳng ai không biết hai v đại Bồ Tát ấy. Hai v đại Bồ Tát ấy dùng phương pháp để tiếp dẫn chúng sanh? Dùng phương pháp Niệm Phật.

 

      (Sao) Ninh tri lư vô phân hạn, sự hữu sai thù. Lư tùy Sự biến, tắc vô thủ xả xứ, thủ xả uyển nhiên; Sự đắc dung, tắc chánh thủ xả thời, liễu vô thủ xả. Cố Bồ Tát tuy tri nhất thiết pháp b́nh đẳng bất nhị, nhi thị khổ lạc cảnh, khai thủ xả môn, Quyền Thật song hành, Lư Sự vô ngại.

       () 寧 知 理 無 分 限,事 有 差 殊。理 隨 事 變,則 無 取 捨 處,取 捨 宛 然;事 得 理 融,則 正 取 捨 時,了 無 取 捨。故 菩 薩 雖 知 一 切 法 平 等 不 二,而 示 苦 樂 境,開 取 捨 門,權 實 雙 行,理 事 無 礙。

      (Sao: Chẳng biết Lư chẳngphân biệt, giới hạn, nhưng Sự có sai khác rạch ṛi. Lư biến đổi theo Sự, nên trong ch không có lấy - bỏ mà lấy - bỏ rành rành. Đă hiểu Sự, dung thông th́ ngay trong lúc lấy - bỏ, trọn chẳng có lấy - bỏ. V́ thế, Bồ Tát tuy biết hết thảy các pháp b́nh đẳng chẳng hai, nhưng chỉ bày cảnh khổ, cảnh vui, mở ra môn lấy - bỏ, Quyền Thật cùng hành, Lư Sự vô ngại).

 

      Trong đoạn này, đại sư đă ch dạy cảnh giới và cách nh́n chánh xác. phân hạn”,phân phân biệt, hạn giới hạn. nói tới Chân Như bổn tánh, là chân tâm lư thể. Xác thực là trong chân tâm bổn tánh, tịnh uế thảy đều chẳng có. Đó là như kinh Hoa Nghiêm đă nói:Pháp giới nguyên bổn thị Nhất Chân (pháp giới vốn là Nhất Chân), trong Nhất Chân chẳnghai pháp. Tịnh uế là hai pháp, lấy - bỏ hai pháp, hai pháp chẳng phải Phật pháp. Trong Đàn Kinh, khi ngài Ấn Tông gặp Lục T lần đầu, Ấn Tông thỉnh giáo Lục Tổ, thưa: “Ngài Hoàng Mai (tức Ngũ Tổ) có giảng Thiền Định, giải thoát hay không?” Lục T vừa nghe bèn ngay lập tức bảo Sư:Thiền Định và giải thoát hai pháp, Phật pháp pháp bất nhị, hai pháp chẳng phải là Phật pháp”. Ngài chẳng nói với Sư điều ǵ khác, đó ǵ? Đó là Ngài thật sự khai ngộ, thật sự biết quy vào tự tánh. Đấy là nói theo Lư, lời hỏi của ngài Ấn Tông hỏi theo mặt Sự. Lời đáp của Lục T chẳng tr lời theo mặt Sự, mà giải đáp theo Lư.

      đây, [Liên Tŕ] đạigiảng theo Lư, xét v Lư chẳng có tịnh hay uế, mà cũng chẳnglấy hay bỏ. Lư Nhất Chân, nhưng trên s tướng bèn có sai biệt, sai biệt do đâu mà sanh? Chẳng sanh t Lư, sai biệt là do vọng tưởng, chấp trước của hết thảy chúng sanhchia ra. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă giảng điều này rất rơ ràng. Mười pháp giới do đâu mà có? Do vọng tưởng và chấp trước của hết thảy chúng sanh biến hiện. Rời khỏi vọng tưởng, chấp trước, Nhất Chân pháp giới s khôi phục. Do đă có nhiều chúng sanh bệnh, hoặc, điên đảo, từ trong “chẳng có tịnh uế” lại phân biệt tịnh và uế, đối với chẳng có lấy - bỏ, lại phân biệt lấy - bỏ, đó là “Sự hữu sai thù” (v S bèn có sai khác rạch ṛi), tịnh - uế rành rành, lấy - bỏ rành rành. Chẳng th nói là không có “lấy - b”, nó xác thực tồn tại.

      “Lư tùy Sự biến”, tức là nói theo Lư th́ chẳng có lấy hay bỏ, nhưng trong “không lấy - bỏ”, nay chúng sanh có lấy, có bỏ, đúng như trong kinh luận đă nói: “Tuy biết là chẳng có vọng để có thể đoạn, nhưng cũng chẳng ngại đoạn tr vọng tưởng. Tuy biết chẳng có Chân để có th chứng, nhưng cũng chẳng ngại chứng chân tâm”. Đó là nói rơ Lư S vô ngại, như vậy th́ mới có th viên dung. “S đắc Lư dung, tắc chánh thủ xả thời, liễu vô thủ xả” (đă hiểu được S Lư dung thông th́ ngay trong khi lấy - bỏ, trọn chẳng có lấy - bỏ). Dùng cảnh giới trước mắt chúng ta để nói th́ cảnh giới trước mắt chúng ta cảnh giới của hạng phàm phu tè sát đất, chúng ta phải “b Sa, lấy Cực Lạc”, đó là lấy - bỏ. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, thế giới ấy Nhất Chân pháp giới, sau khi đă đến bên ấy mới hiểu “chẳng lấy, chẳng b”. Tlấy - bỏ” mà nhập “chẳng lấy, chẳng bỏ, nói cách khác là t mười pháp giới nhập Nhất Chân pháp giới. Đó là phương tiện nhất trong các phương tiện, là thiện xảo nhất trong các điều thiện xảo, thể khiến cho hạng phàm phu lè tè sát đất thoáng chốc thành Phật. Đích xác trong tám vạn bốn ngàn pháp môn chẳng có điều này!

      Đối với pháp môn này, chúng ta phải đặc biệt tuân thủ “y pháp, bất y nhân”, ch nên bận tâm đến lời l của những v t sư, đại đức. Các Ngài nói ư nghĩa này, ư nghĩa nọ, chúng ta chẳng hiểu ư nghĩa thật sự, nghe câu nói đó bèn hiểu lệch lạc, tạo thành tổn hại hết sức to lớn đối với chính ḿnh, như thế là lầm lẫn to lớn. Chúng ta luôn phải y pháp, pháp Tịnh Độ tam kinh, nhất là bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, đó là pháp căn bản trong các pháp, nhất định phải nương theo.

      “Quyền Thật song hành, Sự vô ngại” (Quyền Thật cùng hành, S Lư vô ngại), “tri nhất thiết pháp b́nh đẳng bất nhị” (biết hết thảy các pháp b́nh đẳng, chẳng hai), đó là thật, là Lư. Chư Phật Bồ Tát cũng thị hiện cảnh giới khổ - lạc. Không chỉ giảng giải bằng ngôn thuyết, các Ngài c̣n th hiện h́nh tướng bằng cách biến hiện cảnh giới cho chúng ta thấy. Đó là “khai thủ xả môn”, dùng lấy - bỏ làm pháp phương tiện để hướng dẫn hết thảy chúng sanh, đó là Quyền, là Sự. Chúng ta kết hợp Lư và Sự lại để nh́n th́ b́nh đẳng khổ - lạc, khổ - lạc b́nh đẳng, bất nh là lấy - bỏ, lấy - bỏ bất nhị. Đó là “song hành vô ngại”. Cuối cùng nói, tuy Bồ Tát biết hết thảy các pháp b́nh đẳng, bất nhị, nhưng Ngài có thể thị hiện cảnh giới khổ - lạc, m môn phương tiện “lấy - bỏ” nhằm giúp chúng ta chứng nhập Nhất Chân pháp giới.

      Bốn cơi của Tây Phương Cực Lạc thế giới đều là Nhất Chân pháp giới. C đức bảo chúng ta t thế gian này văng sanh hoành siêu tam giới”, tới Tây Phương Cực Lạc thế giới hoành sanh t độ”. [Nghe nói] hoành sanh t độ, quư vị bèn nghĩ bên ấy là Nhất Chân pháp giới; nếu chẳng phải Nhất Chân pháp giới, bốn cơi bèn sai biệt, làm sao có th đồng thời sanh vào? thể đồng thời sanh vào th́ có thể thấy nơi ấy là cảnh giới sai biệt. Chúng ta t một cảnh giới sai biệt, nhập cảnh giới vô sai biệt; thật sự Quyền Thật song hành, Sự vô ngại”. Tiếp đó, đạinêu một thí d để chúng ta khéo suy xét một phen!

 

      (Sao)luận thả trí.

       () 斯 論 且 置。

      (Sao: Tạm gác s luận định ấy lại).

 

      “Thả trí” là tạm thời chúng ta gác lại, chẳng bàn đến.

 

      (Sao) Kim nhữ tự thẩm.

      () 今 汝 自 審。

      (Sao: Nay ông hăy tự xét).

 

      Nay bản thân chúng ta hăy khéo suy nghĩ, xem xét chính ḿnh.

 

      (Sao) Quả năng.

   () 果 能。

      (Sao: Thật sự có thể).

 

      “Quả năng”: Qu nhiên thể.

 

      (Sao) Tao khang xú hủ dĩ vi ẩm thực, bất dị cao lương phủ?

      () 糟 穅 臭 腐 以 為 飲 食,不 異 膏 粱 否。

      (Sao: Coi thức ăn từ những th vụn vặt, hư nát, hôi thối, chẳng khác ǵ cao lương mỹ vị hay không?)

 

      Chúng ta làm được hay không? Đây là hai th cảnh giới khổ và lạc. “Tao khang xú hủ” là thức ăn d nhất,cao lương” là thức ăn ngon tuyệt nhất. Có th coi chúng là b́nh đẳng, chẳng hai hay không? Chẳng làm được! Trên lư luận b́nh đẳng, nhưng trong sự thật, chúng ta chẳngcách nào đạt được b́nh đẳng. Điều này nói rơ Lư là Lư, Sự Sự. Khuê Phong và Đại Mai nói theo Lư, các Ngài đă quên chân tướng sự thật. Cảnh giới của Khuê Phong và Đại Mai cảnh giới Bồ Tát, là cảnh