A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 67

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 133

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang hai trăm chín mươi.

 

      (Sao) Cố Thiều Thủy b́nh Khuê Phong Sớ, vị hân yếm thủ xả, tuy vị mê chân khởi vọng, diệc năng thuận giáo thành công, đản tri toàn tu tức tánh, tắc hân yếm bổn không.

       () 故 苕 水 評 圭 峰 疏,謂 忻 厭 取 捨,雖 謂 迷 真 起 妄,亦 能 順 教 成 功,但 知 全 修 即 性,則 忻 厭 本 空。

      (Sao: V́ thế, ngài Thiều Thủy b́nh luận Khuê Phong Sớ, bảo: “Ưa, chán, lấy, bỏ, tuy nói là mê chân dấy vọng, nhưng cũng có thể thuận theo lời dạy mà thành công. Chỉ biết toàn tu chính là tánh th́ ưa - chán vốn là Không”).

 

      Nay trong đoạn văn này, [Liên Tŕ đại sư] dẫn lời cổ đại đức để chứng minh, chỗ này cũng là một câu tổng kết, nhằm vào ư nghĩa dạy chúng ta phải tùy thuận giáo lư th́ mới có thể đạt được thành tựu. “Thuận giáo thành công”, Công () là công đức, Thành () là thành tựu. Khuê Phong đại sư là tổ sư đời thứ năm của tông Hoa Nghiêm, tức là Tông Mật đại sư, Ngài [Thiều Thủy] nói: “Hân yếm thủ xả, tuy vị mê chân khởi vọng, diệc năng thuận giáo thành công” (Tuy nói “ưa, chán, lấy - bỏ” là mê chân, dấy vọng, nhưng vẫn có thể thuận theo lời dạy mà thành công). Lời này nói hết sức hay, v́ sao? Ưa, chán, lấy, bỏ đều là chấp tướng, đương nhiên là “mê chân, khởi vọng”, đích xác là mê chân khởi vọng, chẳng thể đem so với Tánh Tông để luận định được! Nhưng quư vị tùy thuận phương pháp này th́ sẽ quyết định có thể thành công; nương theo phương pháp này để tu học, quyết định chẳng phí uổng. “Phá mê, chứng chân”, lời ấy nói nghe rất êm tai, nhưng trên thực tế chẳng làm được. Lăo pháp sư Đàm Hư nói: “Tham Thiền có thể đắc Thiền Định, nhưng chẳng có cách nào khai ngộ”. Người khai ngộ đúng là như lông phượng, sừng lân. Chẳng khai ngộ sẽ chẳng thể liễu sanh tử, thoát tam giới. Nói cách khác, tu Thiền thật sự giỏi giang th́ bất quá văng sanh Tứ Thiền Thiên mà thôi.

      Văng sanh Tứ Thiền Thiên thua kém Tây Phương Cực Lạc thế giới rất xa! Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, dẫu là hạ hạ phẩm văng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư cũng vĩnh viễn bất thoái chuyển, cũng là viên măn thành tựu Vô Thượng Bồ Đề trong một đời. Sanh vào Tứ Thiền Thiên, khi thọ mạng trong Tứ Thiền Thiên đă hết, vẫn luân hồi trong lục đạo. Do vậy, mọi người chớ nên hâm mộ Tứ Thiền Thiên hoặc Tứ Không Thiên, v́ sao? V́ trong đời quá khứ, quư vị đă từng sống ở những nơi đó rất lâu, nay quư vị lại đọa lạc đến nơi đây, có c̣n muốn đến đó nữa hay chăng? Sau khi đến đó, vẫn phải luân hồi, vẫn phải đọa lạc đến nơi đây. V́ thế, Tứ Thiền Thiên và Tứ Không Thiên đều chẳng cần phải sanh về. Tứ Thiền mà c̣n chẳng nên sanh vào, huống ǵ Dục Giới Thiên? Do vậy, nhất định phải hạ quyết tâm trong một đời này nhất định phải văng sanh Tịnh Độ. Tuy nói “trong hết thảy các pháp môn Đại Thừa, văng sanh Tịnh Độ là đạo dễ hành”, nhưng người niệm Phật rất đông, rốt cuộc người văng sanh vẫn là rất hiếm, nguyên nhân ở chỗ nào? Do chúng ta phát tâm niệm Phật không đúng pháp, nên mới tạo thành nông nỗi ấy. Miệng niệm “cầu văng sanh”, trong tâm vẫn lưu luyến thế giới này, đối với ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn vẫn chẳng buông xuống được nên chẳng thể thành tựu. Người nào văng sanh? Người thật sự bỏ hết ngũ dục, lục trần.

      Ở đây nói “hân, yếm, thủ, xả”, Hân () là vui vẻ, thật sự phát khởi tâm vui thích, mong cầu đối với Tây Phương Cực Lạc thế giới, hy vọng ta thật sự có thể sanh về Tây Phương Tịnh Độ, hy vọng chính ḿnh thật sự có thể gặp A Di Đà Phật, quư vị phải có cái tâm này. Yếm () là chán ĺa thế giới Sa Bà, đối với thế giới Sa Bà chớ nên có mảy may lưu luyến nào, như vậy th́ mới có thể văng sanh. Tuyệt đối chẳng phải là nói một mặt văng sanh, một mặt vẫn nghĩ tưởng, vẫn lưu luyến thế giới này, mong đạt được cả hai, há có chuyện tiện nghi như vậy? Nhất định phải bỏ Sa Bà, lấy Cực Lạc. Cách lấy - bỏ như thế nào? Lấy - bỏ nơi nhân th́ quả sẽ tự nhiên đạt được. Nhân của thế giới Sa Bà là ǵ? Là tham, sân, si tam độc phiền năo, nhất định phải bỏ. Đối với Tây Phương Cực Lạc thế giới, đương nhiên [cái nhân] trọng yếu nhất là “phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”, chúng ta phải giữ lấy điều này. Bồ Đề tâm là giác tâm, giác chứ không mê. Khó khăn lớn nhất của chúng ta trong hiện thời là hễ cảnh giới vừa hiện tiền bèn mê, mê chứ chẳng giác, như vậy th́ sẽ chẳng thể văng sanh. V́ thế, đối với bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, tôi đă từng bảo quư vị: Mọi người nhất định phải nhớ kỹ, phải niệm kinh nhuần nhuyễn th́ trong cảnh giới chúng ta mới khởi tác dụng được, tức là lúc thấy sắc, nghe tiếng, bèn ngay lập tức nghĩ đến những giáo huấn trong kinh.

      Đặc biệt rất đáng cảnh giác là trong bốn mươi tám nguyện có hai đoạn nói rất rơ ràng: Đoạn thứ nhất nói A Di Đà Phật thọ mạng vô lượng. [Điều khiến cho] Tây Phương Cực Lạc thế giới thù thắng nhất, hết thảy các cơi Phật trong mười phương chẳng thể sánh bằng, chính là do thọ mạng vô lượng, đó là nguyên nhân thù thắng căn bản. Dẫu sung sướng đến mấy mà thọ mạng ngắn ngủi, sẽ là chỗ khuyết hăm, chẳng phải là chân lạc! Thọ mạng vô lượng, là vô lượng chân thật, tuyệt đối chẳng phải là vô lượng trong hữu lượng[1]. Kế đó, chẳng ai có thể tính biết rơ ràng số người trong thế giới Cực Lạc! Trong kinh, đức Thế Tôn đă bảo chúng ta: Giả sử hết thảy chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới, đây là tỷ dụ, thảy đều chứng quả Bích Chi Phật, tuyệt diệu thay! Đă thế, họ đều có thần thông giống như ngài Mục Kiền Liên, ngài Mục Kiền Liên thần thông quảng đại, cùng nhau tính toán số người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Người đông ngần ấy thảy đều cùng nhau tính toán, tính toán bao lâu? Rất nhiều kiếp, chẳng phải là một hai ngày, lấy kiếp làm đơn vị. Để cho họ tính toán trong thời gian lâu ngần ấy, đức Phật nói số người họ tính ra giống như một giọt nước trong biển cả dính trên một sợi lông, họ có thể biết, có khả năng tính được chừng ấy, c̣n [số lượng] họ không biết giống như nước trong biển cả! Đức Phật dùng tỷ dụ ấy để dạy chúng ta, quư vị bèn hiểu số người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới quá nhiều, chẳng có cách nào tưởng tượng được, đúng là chẳng thể nghĩ bàn!

      Thần thông và đạo lực của những người ấy chẳng khác A Di Đà Phật cho mấy, tức “thiên nhăn đỗng thị” (thiên nhăn thấy thấu suốt). Trong mười phương thế giới, quá khứ, hiện tại, vị lai, hết thảy các động tác của quư vị, dẫu là động tác nhỏ nhặt đến đâu đi nữa, người ta đều thấy rơ ràng, rành rẽ. Quư vị nói năng, nói thật khẽ, họ vẫn nghe rơ rệt, chẳng giấu được một ai! Trong tâm quư vị khởi tâm động niệm, họ biết toàn bộ. Vậy th́ chính chúng ta phải khéo phản tỉnh một phen, chúng ta có đủ tư cách ở trong Tây Phương Cực Lạc thế giới hay không? Miệng nói “ta muốn cầu sanh Cực Lạc Tịnh Độ”, nhưng trong tâm chẳng phải là chuyện như vậy! Thậm chí ác niệm trong tâm chúng ta, chúng ta chẳng biết, nhưng Phật, Bồ Tát biết rơ ràng!

      Tu hành là tu ở chỗ nào? Tu nơi tâm. Khi quư vị không tu ở nơi ấy, nói cách khác, quyết định chẳng tránh khỏi tam đồ! Tam đồ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Quư vị đă tạo tham, sân, si, giết, trộm, dâm, dối, lẽ đâu chẳng đọa tam đồ? Chớ nên nói “ta niệm Phật”, niệm Phật vẫn đọa tam đồ y hệt! Quư vị hăy đọc tác phẩm chú giải Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương của pháp sư Quán Đảnh, sách ấy có nói một trăm thứ quả báo khác nhau của người niệm Phật. Loại thứ nhất là đọa A Tỳ địa ngục. Niệm Phật suốt một đời, niệm đến cuối cùng vào trong A Tỳ địa ngục, rất oan uổng! Niệm Phật là niệm giác, dạy quư vị niệm niệm giác chứ không mê, đó là niệm Phật. Nếu miệng gào “nam-mô A Di Đà Phật”, trong tâm mê hoặc, điên đảo, thuở Hàn Sơn và Thập Đắc tại thế, các Ngài là hóa thân của hai vị đại Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền, các Ngài đă châm chọc: “Hăm phá hầu lung dă uổng nhiên” (Gào toạc cổ họng cũng uổng công). Mỗi ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, gió thổi chẳng lọt, mưa tạt chẳng ướt, vẫn đọa A Tỳ địa ngục, vẫn phải đọa y hệt, chẳng sai! Hét toạc cổ họng cũng  uổng công! Hàn Sơn và Thập Đắc là hai vị đại Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền [hóa thân]. Trong kinh Hoa Nghiêm, hai vị đại Bồ Tát ấy đều phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ .

       Kinh Vô Lượng Thọ đă dạy rơ ràng, minh bạch, Tây Phương Cực Lạc thế giới là thế giới của Phổ Hiền Bồ Tát, ai nấy “đều cùng tuân tu đức của Phổ Hiền Đại Sĩ”, nên thế giới ấy là thế giới của Phổ Hiền Đại Sĩ. Bốn mươi tám nguyện đă nói rất rơ ràng, Tây Phương Cực Lạc thế giới toàn là Bồ Tát. Trong kinh nói có người, trời, có La Hán, đó là nói tùy thuận người trong các thế giới ở phương khác, chứ người ở bên đó (Cực Lạc) quyết định chẳng có A La Hán thật sự, chẳng có trời hay người thật sự. V́ thế, đối với mười pháp giới, Cực Lạc chỉ có hai pháp giới là Phật pháp giới và Bồ Tát pháp giới, những pháp giới khác thảy đều chẳng có!

      Quư vị hăy suy nghĩ, cơi Phàm Thánh Đồng Cư bên ấy và cơi Phàm Thánh Đồng Cư của chúng ta khác nhau. Cơi Phàm Thánh Đồng Cư của chúng ta thật sự có người, trời, bên Cực Lạc chẳng có! Đă chẳng có, cớ sao gọi là cơi Phàm Thánh Đồng Cư? [Cơi nước cư trụ của] Sơ Tín vị Phổ Hiền Bồ Tát được gọi là cơi Phàm Thánh Đồng Cư, v́ sao? Họ chưa đoạn hết Kiến Tư phiền năo, giống như trời, người trong thế giới này, nói theo cách ấy! Thật ra, họ chẳng phải là trời, người thật sự, mà đều là Bồ Tát. Ở bên ấy, từ địa vị Sơ Tín cho đến Đẳng Giác Bồ Tát là năm mươi mốt địa vị. Chương Đại Thế Chí Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm nói “năm mươi hai đồng luân”, lời ấy nói chẳng sai, có cùng một ấn chứng với kinh Hoa Nghiêm, chẳng sai chút nào! Đồng luân (同倫) là ǵ? Đồng loại! Đại Thế Chí Bồ Tát cũng tu hạnh Phổ Hiền, nên nói thật ra, Ngài là Phổ Hiền Bồ Tát. Nói “năm mươi hai” tức là [năm mươi mốt địa vị Bồ Tát] kể cả Đẳng Giác, [tức là] kể cả A Di Đà Phật trong đó! Nơi ấy là pháp giới b́nh đẳng, nên cơi Phàm Thánh Đồng Cư của Cực Lạc chẳng giống cơi Phàm Thánh Đồng Cư trong hết thảy các cơi Phật ở mười phương. Bốn cơi trong mười phương thế giới có mê, có ngộ. Bốn cơi trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đều chẳng mê, thù thắng ở chỗ này. Điều này đáng cho chúng ta cảnh giác.

      Chúng ta khởi tâm động niệm, Phật, Bồ Tát đều biết, chẳng thể giấu một ai! Chính ḿnh phải tin tưởng điều này; quư vị không tin th́ chính quư vị bị thua thiệt, chứ Phật, Bồ Tát chẳng bị thiệt tḥi. Chúng ta tin tưởng điều này, đương nhiên chúng ta đồng thời cũng tin tưởng, dấy lên chân tâm, phát nguyện thật sự, cầu sanh Tịnh Độ. Phật, Bồ Tát cũng hoàn toàn hay biết, lúc lâm chung nhất định đến tiếp dẫn. Do vậy, chúng ta vỗ ngực nói “tôi nhất định văng sanh”, v́ sao? Tôi tin tưởng! Tôi khởi tâm động niệm, A Di Đà Phật biết, Quán Âm, Thế Chí biết, chư thượng thiện nhân chẳng có vị nào không biết! Tôi cầu sanh Tịnh Độ, lẽ đâu các Ngài chẳng đến tiếp dẫn tôi? Đương nhiên đến nghênh tiếp, chẳng hoài nghi tí nào! V́ thế, tâm, nguyện, và hành tŕ của chúng ta đều phải tương ứng với kinh điển. Kinh giảng như thế nào, chúng ta bèn làm theo cách ấy, nỗ lực thực hiện sao cho mỗi điều giáo huấn đều làm được. Đấy là tiền vốn văng sanh của chúng ta, là điều kiện quyết định để văng sanh. Trừ nguyện vọng ấy ra, chẳng c̣n có nguyện vọng nào khác. Tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, đoạn phiền năo, học pháp môn, thành Phật, làm Tổ, lại quay về giúp đỡ hết thảy hữu t́nh chúng sanh.

      Ở đây nói “mê chân, khởi vọng” th́ nói cách khác là “đới nghiệp văng sanh”, mang theo nghiệp ấy, [nghiệp ấy] là mê Chân! Do vậy, chẳng sao cả! Pháp môn này là đới nghiệp văng sanh. Đối với chuyện đới nghiệp, phải đặc biệt ghi nhớ, chỉ mang theo cựu nghiệp, chẳng mang theo tân nghiệp. Chớ nên nghe nói “đới nghiệp văng sanh”, [bèn nghĩ] nay ta tạo nhiều nghiệp đôi chút cũng chẳng sao, vẫn có thể văng sanh!” Chẳng có lẽ ấy, chỉ mang theo cựu nghiệp! Cổ nhân thường dạy, thường khuyến khích, cổ vũ chúng ta chớ nên tạo nghiệp mới. Bởi lẽ đó, “diệc năng thuận giáo thành công” (cũng có thể thuận theo lời dạy mà thành công). Cảnh giới tất nhiên là mỗi năm một tăng cao hơn. Chỉ cần quư vị nghiêm túc thực hiện, tu tập nửa năm, sẽ có cảm ứng. Cảm ứng chẳng phải là những thứ thần thông b́nh phàm, mà cảm ứng là phiền năo nhẹ nhàng, trí tuệ tăng trưởng, thấy hết thảy sự vật rơ ràng hơn trước nhiều lắm, đó là cảm ứng, là hảo tướng. Nói cách khác, chẳng mê như trước kia, chẳng chấp trước như trước kia, mê chấp dần dần phai nhạt, trí tuệ tăng trưởng, thông đạt Sự, Lư. Đó là thụy tướng (tướng lành), là hảo tướng. Ngàn vạn phần chớ nên cầu các tướng trạng kỳ quái, [chẳng hạn như thân h́nh lơ lửng trên không] cách mặt đất ba thước, trên thân tỏa ánh sáng, thấy thần, thấy quỷ, [cầu các tướng trạng kỳ dị ấy] sẽ bị phiền toái! Nếu có những hiện tượng ấy xuất hiện, người ấy sẽ bị phiền phức to lớn, sợ rằng trong ṿng một năm hay nửa năm sẽ phải vào nhà thương điên, vấn đề nghiêm trọng lắm! Do vậy, chúng ta chẳng cầu những tướng kỳ dị, lạ lùng ấy! Dẫu những tướng ấy hiện hữu, phải coi tướng lạ như chẳng có ǵ lạ lùng! Kinh Lăng Nghiêm đă dạy chúng ta: Những tướng ấy hiện tiền, chẳng quan tâm tới chúng! Chỉ cần quư vị không để ư tới chúng, những tướng ấy sẽ dần dần ít đi, dần dần chẳng c̣n nữa.

      Đản tri toàn tu tức tánh, tắc hân yếm bổn không” (chỉ biết “toàn tu chính là tánh” th́ ưa, chán vốn là Không), đó là Lư. Phải làm sao mới có thể toàn tu? “Toàn tu” là tu viên măn, một tu là hết thảy tu, cảnh giới ấy cao lắm! Đó là Viên Giáo Đại Thừa Bồ Tát, chẳng phải là cảnh giới của bậc Bồ Tát b́nh phàm, thường nói là Viên Giáo Nhất Thừa. Đương nhiên, nguyên lư ấy có thể bao gồm tất cả các pháp môn Đại Thừa, nhưng nếu quư vị chưa ngộ nhập cảnh giới ấy th́ sẽ không được, vẫn thường là “lấy một, sót cả vạn”, đó là hiện tượng rất b́nh thường! Nhưng trong hết thảy các pháp môn, chẳng có pháp môn nào thù thắng hơn Niệm Phật. Ngẫu Ích đại sư đă nói rất rơ ràng: Cái tâm chúng ta có thể niệm Phật là Thỉ Giác, câu Phật hiệu được niệm là Bổn Giác. Trong lúc chúng ta khởi tâm niệm Phật, Thỉ Giác hợp với Bổn Giác, Thỉ và Bổn chẳng hai, sẽ là “toàn tu tức tánh”, quư vị mới có thể thật sự chứng đắc “hân yếm bổn Không” (ưa - chán vốn là Không). Đó là nói theo Lư; nhưng chúng ta chưa nhập cảnh giới ấy sẽ làm không được. Đến khi nào quư vị mới hiểu cảnh giới ấy đôi chút? Đến khi công phu thành phiến. Lúc công phu thành phiến, [vẫn là] hoàn toàn chưa chứng đắc, giống như chúng ta thấy lửa, chỉ đến gần, cảm nhận một chút hơi ấm. Trong địa vị ấy, trọn chẳng tiếp xúc với lửa, chỉ cảm thấy có chút hơi ấm. Khi nào mới nhập cảnh giới ấy? Niệm đến Lư nhất tâm bất loạn. Lư nhất tâm bất loạn, quư vị bèn chứng đắc cảnh giới ấy, ưa - chán vốn là Không!

      Ưa - chán vốn là Không, chúng ta đọc mấy câu kinh Kim Cang một lượt, chư vị sẽ thể nghiệm sâu hơn một chút. Kinh Kim Cang dạy: “Phàm tất cả những ǵ có tướng đều là hư vọng”. Ưa - chán là tướng, “vốn Không” là hư vọng. “Hết thảy các pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”, ưa - chán là pháp hữu vi, nên nó là mộng, huyễn, bọt, bóng. Chúng ta ai nấy đều biết niệm kinh Kim Cang, nhưng chẳng nhập cảnh giới ấy! Nhập cảnh giới ấy sẽ đại tự tại, giống như trong Tâm Kinh, “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa thời”, tức là khi đă chứng đắc “toàn tu tức tánh, ưa - chán vốn không” chính là lúc “hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa, chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Hết thảy khổ là đối với những nỗi khổ của lục đạo phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, người ấy thảy đều chẳng c̣n nữa, đă thành Phật! Nỗi khổ của chúng sanh trong chín pháp giới, người ấy đều rời khỏi, đều thoát sạch. Tuy Tâm Kinh chỉ có hai trăm sáu mươi chữ, nhưng cảnh giới ấy rất cao, đó là cảnh giới nơi quả địa Như Lai, thật sự chẳng thể nghĩ bàn!

      Nói đến đây, chúng ta hăy nên hiểu sự thù thắng của pháp môn này, thù thắng ở chỗ nào? Là dùng niệm Phật, niệm một câu A Di Đà Phật bèn có thể đạt tới cảnh giới ấy, quá thù thắng! Đại Thế Chí Bồ Tát đă nói: “Bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai”, [nghĩa là] chẳng cần nhờ đến sự giúp đỡ của pháp môn nào khác, một câu Phật hiệu cứ niệm đến cùng, thành tâm thành ư niệm, thật thà niệm Phật, hăy chú trọng hai chữ Thật Thà. Thật Thà là dùng tâm chân thành để niệm một câu Phật hiệu; tâm chân thành chính là bản tánh của quư vị. Tám thức là vọng tâm, thật thà, chân thành là chân tâm. Chân tâm là bản tánh, là Chân Như, Chân Như bản tánh. Dùng Chân Như bản tánh để niệm câu A Di Đà Phật này, há lẽ nào chẳng phải là Thỉ Giác hợp Bổn Giác ư? Sách Yếu Giải đă giảng rơ ràng, thấu triệt như thế!

 

      (Sao) Huống An Dưỡng nhất môn, chư Phật cộng tán.

      () 況 安 養 一 門,諸 佛 共 讚。

      (Sao: Huống chi một môn An Dưỡng được chư Phật cùng khen ngợi).

 

      “An Dưỡng nhất môn” là pháp môn Tịnh Độ. Người thế gian học Phật rất nhiều, người không học Phật chẳng nói làm chi, họ chẳng biết Tịnh Độ tốt đẹp! [Người học Phật mà] chẳng biết Tịnh Độ tốt đẹp, nói thật ra là do xem nhẹ kinh điển Tịnh Độ, chẳng nghiêm túc nghiên cứu, chẳng đổ công sức nơi đó, nên chẳng biết những điều hay trong các kinh ấy. An Dưỡng là Cực Lạc, là thế giới Cực Lạc. Chư Phật cộng tán” (chư Phật cùng khen ngợi), mười phương ba đời hết thảy chư Phật chẳng vị Phật nào không tán thán Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng có vị Phật nào không tán thán A Di Đà Phật. Kinh Vô Lượng Thọ ca ngợi A Di Đà Phật “quang trung cực tôn, Phật trung chi vương” (quang minh tôn quư nhất, vua của chư Phật). Thật sự học Phật thông đạt th́ không ai chẳng quay về chuyên tu Tịnh Độ, cầu sanh Tịnh Độ.

      Cổ đức như Mă Minh, Long Thọ Bồ Tát đều là đại thông gia, bậc trí huệ. Ngài Vĩnh Minh, tức Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư, là bậc đại triệt đại ngộ trong Thiền Tông quay trở lại nghiên cứu Giáo. Chúng ta nh́n vào Đại Tạng Kinh, cảm thấy [đồ sộ] đáng sợ, lăo nhân gia có khả năng cô đọng Đại Tạng Kinh thành một bộ Tông Kính Lục. Tông Kính Lục do Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư soạn được gọi là Tiểu Tạng Kinh. Tông Kính Lục là ǵ? Là cô đọng của toàn thể Đại Tạng Kinh. Bậc thông Tông, thông Giáo quay về chuyên tu Tịnh Độ, chuyên hoằng dương Tịnh Độ, trở thành tổ sư đời thứ sáu của Tịnh Độ Tông. Tổ thứ sáu của Tịnh Độ Tông là Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư, là bậc trí huệ trong tông Hoa Nghiêm.

      Cận đại, cư sĩ Hạ Liên Cư, bản kinh Vô Lượng Thọ chúng ta đang nghiên cứu hiện nay là bản hội tập của cư sĩ Hạ Liên Cư. Trong quá khứ, chúng tôi chỉ biết Hạ cư sĩ là một vị rất lỗi lạc. Trong thời Kháng Chiến, trong giới Phật giáo có câu nói: “Nam Mai, Bắc Hạ”, [có nghĩa là] phía Nam [Trung Hoa, người thâm nhập Phật giáo bậc nhất] là Mai Quang Hy, ở phương Bắc là Hạ Liên Cư. Thuở ấy, họ được giới Phật giáo gọi là “nhị đại sĩ”. Đại Sĩ là danh hiệu tôn xưng Bồ Tát, nhị đại sĩ! Đối với cư sĩ Mai Quang Hy, chúng tôi cảm thấy quen thuộc đôi chút, chứ đối với Hạ cư sĩ th́ xa cách, nguyên do là chúng tôi ở Đài Loan, lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam có công đức rất to đối với Phật giáo Đài Loan, cụ ở Đài Trung giáo hóa suốt bốn mươi năm. Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam là học tṛ của cụ Mai Quang Hy, nên chúng tôi cảm thấy cụ Mai khá thân thuộc.

      Lần này, tôi từ Mỹ quay về, đọc lá thư đầu tiên của lăo cư sĩ Hoàng  Niệm Tổ viết cho các đồng tu tại Mỹ, họ có đưa bản photocopy cho tôi xem. Ở Bắc Kinh, tôi và cụ đă gặp mặt nhưng chưa tṛ chuyện [về vấn đề này]. Trong thư ấy, [cụ Hoàng] viết như thế nào? Cụ cho biết, lúc tuổi già, thầy Mai c̣n bái cụ Hạ Liên Cư làm thầy, chúng ta phải đặc biệt chú trọng câu này. Cư sĩ Mai Quang Hy là cậu của cụ Hoàng Niệm Tổ, cậu của cụ Niệm Tổ gởi cụ sang chỗ cụ Hạ Liên Cư để học Phật. Cụ Hoàng theo cư sĩ Hạ Liên Cư hai mươi năm, nên thật sự đạt được chân truyền của Hạ cư sĩ. Không ngờ cậu cụ Hoàng đến lúc tuổi già vẫn bái cụ Hạ Liên Cư làm thầy! Quư vị liền hiểu: Đối với sự thành tựu của cư sĩ Hạ Liên Cư, có thể nói khẳng định chắc chắn là cụ đă có sở đắc.

      Hai vị này đều là đại thông gia, họ đă học Thiền, học Mật, học Giáo, thứ ǵ cũng đều thông đạt, vào tuổi già chuyên tu Tịnh Độ, chuyên hoằng dương Tịnh Độ. Nhất là cư sĩ Hạ Liên Cư, không chỉ hội tập kinh Vô Lượng Thọ được cả cơi đời tán thán, mà c̣n đặc biệt san định một phương pháp và nghi thức tu Tịnh Độ, lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ trao cho tôi phương pháp ấy, hy vọng tôi sẽ ấn hành, lưu thông tại Đài Loan. V́ ở Đại Lục chưa từng có, nên cụ đem mấy tác phẩm của thầy Hạ giao cho tôi. Lần này tôi trở về, thấy vậy, bèn [ấn hành] một bản in gộp chung hai nghi thức do cư sĩ Hạ Liên Cư biên soạn: Tịnh Tu Tiệp Yếu là một phương pháp tu hành đơn giản nhất, Bảo Vương Tam Muội Sám phức tạp hơn một chút. Có thời gian th́ quư vị dùng Bảo Vương Tam Muội Sám. Nếu công việc hết sức bận rộn, hăy dùng Tịnh Tu Tiệp Yếu.

       Nội dung sách Tịnh Tu Tiệp Yếu tuân theo kết cấu trong bộ Văng Sanh Luận của Thiên Thân Bồ Tát, luận ấy là một thứ trong Tịnh Độ Tam Kinh Nhất Luận. Do trong Văng Sanh Luận, Thiên Thân Bồ Tát đă nói tu Tịnh Độ có ngũ niệm pháp, nên cụ Hạ bèn căn cứ trên ngũ niệm pháp. Trong ngũ niệm pháp, có lễ bái, quán tưởng, phát nguyện, xưng danh, hồi hướng, cụ Hạ dựa trên năm loại phương pháp ấy. Năm loại phương pháp ấy đều được bao gồm trong mỗi lạy lễ Phật, [Tịnh Tu Tiệp Yếu] có tổng cộng ba mươi hai lạy, không nhiều lắm, vô cùng hay, sáng tối đều có thể dùng phương pháp này. Ba mươi hai lạy, trong mỗi lạy đều có quán tưởng. Sau khi quán tưởng xong, xưng Phật hiệu ba lượt, tức là niệm ba câu Phật hiệu bèn lễ một lạy. Trong quán tưởng, đương nhiên bao gồm phát nguyện và hồi hướng. Nội dung quán tưởng của cụ dựa trên kinh Vô Lượng Thọ, quán tưởng công đức cùng với y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới Di Đà, Quán Âm, Thế Chí, cũng có thể nói: Suy ra, toàn bộ ba mươi hai lạy ấy là ôn tập kinh Vô Lượng Thọ từ đầu đến cuối một lần, đúng là tuyệt diệu! Tôi xem xong, rất bội phục, trong một thời gian ngắn ngủi đă ôn tập kinh này một lần. Mỗi sáng, quư vị tụng niệm khóa sáng, buổi tối niệm khóa tối, tức là buổi sáng ôn tập một lần, buổi tối ôn tập một lần, vô cùng hay, thật sự khó có!

       Bảo Vương Tam Muội Sám c̣n gọi là Trường Thọ Sám v́ Tây Phương Cực Lạc thế giới trường thọ! Bản ấy so ra phức tạp hơn một chút, khi lạy sợ phải mất chừng một tiếng rưỡi! Hy vọng các đồng tu có thể luyện tập nghi thức này. Nếu luyện tập rất thuần thục, vào dịp Tết năm nay, những năm trước chúng ta luôn lễ một ngàn vị Phật, năm nay có thể lạy theo nghi thức này, nhưng nghi thức nhất định phải thuộc. Không quen thuộc th́ lễ bái rất loạn, chẳng đúng pháp. Đây là một cách tu hành hoàn toàn tương ứng với kinh luận, vô cùng khó có!

      Tôi đọc những trước tác của Hạ cư sĩ, cảm thấy chúng sanh chúng ta trong đời này có phước. Sau khi cụ soạn xong, tại Đại Lục chẳng có cách nào lưu thông, bản gốc của cụ ở Đại Lục, tôi đem về một bản chép tay. Tôi cầm bản chép tay về v́ ở Đại Lục chưa hề in, có rất nhiều người phát tâm chép lại, nói chung cũng chép được chẳng ít bản. Tịnh Tu Tiệp Yếu in bằng ronéo, tạo bản gốc bằng giấy sáp (Stencil), chữ viết bằng bút sắt[2] rồi đem in ronéo, ở Đại Lục vẫn chưa có sách. Nay chúng ta đă in thành sách, gởi về Đại Lục cúng dường họ tu hành, chúng ta có phước báo! Tôi nghĩ họ trông thấy [những cuốn sách ấy], nhất định sẽ vô cùng hoan hỷ!

      Chú giải kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta in một vạn cuốn, mỗi vị đồng tu đều có thể thỉnh một quyển về nhà. Về nhà đọc bản chú giải ấy, thứ Tư, thứ Bảy tới đây nghe giảng, tôi giảng không giống với lời chú giải cho lắm, có thể để cho quư vị tham khảo. Cụ có báo cáo tâm đắc của cụ, tôi cũng có báo cáo tâm đắc của tôi, có thể tham cứu lẫn nhau. V́ thế, quư vị đọc những kinh luận ấy thông suốt rồi mới hiểu [v́ sao] chư Phật tán thán. V́ thế, chúng ta có thể khẳng định một câu, “pháp môn này là pháp môn bậc nhất để mười phương ba đời hết thảy chư Phật độ chúng sanh thành Phật đạo”, thế mà chúng ta có được, chẳng dễ dàng! Tuyệt đối chẳng phải là may mắn, mà là do thiện căn, phước đức, nhân duyên trong đời quá khứ của mọi người đă hiện tiền, được Tam Bảo gia tŕ, được oai thần của Phật Di Đà gia tŕ, nên chúng ta mới có thể gặp pháp môn bậc nhất này, gặp gỡ pháp môn thành Phật chân thật này. Đúng như cổ nhân đă nói “vô lượng kiếp dĩ lai hy hữu nan phùng chi nhất nhật” (một ngày hiếm có, khó gặp từ vô lượng kiếp đến nay), chúng ta đă gặp!

      Nhân duyên của Hạ lăo cư sĩ chín muồi ở chỗ chúng ta, nên ở mỗi nơi trên cả thế giới, tôi thường nói, chúng tôi đem những bộ sách này tặng họ. Đă tặng rồi, c̣n phải đích thân tới đó giới thiệu, thuyết minh. Nếu không, họ chẳng biết giá trị! Họ chẳng biết đây là pháp bảo bậc nhất trong hết thảy các pháp, phải đến đó, buốt ḷng rát miệng giới thiệu với họ, họ mới hiểu rơ, mới chịu tu tập! Nếu không, quư vị tặng sách cho họ, họ bày ở kệ sách giống như các sách Phật thông thường, thấy một cuốn sách dày cộp như vậy, vừa nh́n đă thấy ngán ngẩm, chẳng dám đọc! Người hiện thời thích ǵ? Đơn giản, dễ hiểu, tập sách nhỏ mỏng mảnh được hoan nghênh nhất!

      Do vậy, tôi vẫn mong các đồng tu nếu có thời gian, tốt nhất là quư vị viết một bản trích lược những chỗ trọng yếu, gần gũi, dễ hiểu trong chú giải kinh Vô Lượng Thọ, rất thích hợp để thế hệ hiện thời ứng dụng, tuyển chọn lần nữa từ bản chú giải này để biên soạn thành một cuốn sách nhỏ. Thích đơn giản bèn có bản đơn giản. Chẳng sợ rườm rà bèn có bản chi tiết, có bản gốc. Nhưng những phần trích lục giản lược ấy nhất định phải trung thực, đều là những câu trong bản chú giải, đừng nên thêm vào ư kiến của chính ḿnh, chớ nên tự ḿnh tăng thêm chữ, thật sự là một bản tiết lược. Chẳng hạn như một câu kinh văn có một đoạn giải thích rất dài, chúng ta chỉ lấy một hai câu là được rồi để soạn thành bản trích lược, làm như vậy để chính ḿnh đọc sẽ rất hữu dụng. Bản tiết lục như vậy một khi được phổ biến, quư vị sẽ có thể tự giảng kinh này, xác thực là tự lợi, lợi tha. Đối với cái hay của kinh, đích xác phải thật sự thông đạt Đại Thừa Phật pháp th́ mới liễu giải!

 

      (Sao) Văng lai pháp giới, di hiển duy tâm, thác bỉ thắng duyên, tốc đăng bảo giác.

       () 往 來 法 界,彌 顯 唯 心,託 彼 勝 緣,速 登 寶 覺。

      (Sao: Qua lại pháp giới, duy tâm càng rơ rệt. Nhờ vào duyên thù thắng ấy để mau lên bảo giác).

 

      Bảo giác” là thành Phật. Văng lai pháp giới”, văng như thế nào? Lai như thế nào? “Văng” là nói chúng ta cầu sanh Tịnh Độ, “lai” là từ Tây Phương Cực Lạc thế giới nương theo nguyện trở lại, giúp hết thảy hữu t́nh chúng sanh phá mê khai ngộ. Đối với “phá mê khai ngộ”, tôi phải nói với quư vị, chẳng phải là “phá mê khai ngộ” như trong Thiền Tông đă nói, cũng chẳng phải là phá mê khai ngộ trong hết thảy [các pháp môn] Đại Thừa, tôi nói tới [phá mê khai ngộ] trong tông này. Tông này phá mê ǵ? Hoài nghi, chẳng tin tưởng Tịnh Độ cho lắm, đó là mê. Khai ngộ ǵ? Thật sự nhận thức pháp môn này là pháp môn bậc nhất để chư Phật độ sanh thành Phật, hạ quyết tâm nỗ lực tiềm tu, niệm một câu Phật hiệu này đến cùng, chẳng hoài nghi, không gián đoạn, không xen tạp, đó là đại triệt đại ngộ, là người thật sự giác ngộ. Khăng khăng một mực tu pháp môn này bèn là giác ngộ chân chánh, giác ngộ chân thật. Thưa cùng quư vị, sự giác ngộ này vượt trỗi sự giác ngộ của Thiền Tông.

      Tuy nói sự giác ngộ trong Thiền Tông là minh tâm kiến tánh, “đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”, nhưng đă kiến tánh th́ sẽ như thế nào? Đă kiến tánh vẫn có thể bị thoái chuyển, cho nên chẳng bằng triệt ngộ trong Tịnh Độ! Triệt ngộ trong Tịnh Độ là hễ văng sanh liền bất thoái chuyển, hạ hạ phẩm văng sanh cũng viên chứng ba món bất thoái, Thiền làm sao có thể sánh bằng?

      Kinh Vô Lượng Thọ đă nói rất rơ rệt, vương tử A Xà Thế và năm trăm vị đại trưởng giả trong đời quá khứ trụ Bồ Tát đạo, từng cúng dường bốn trăm ức Phật. Có thể thấy thuở ấy, họ là Bồ Tát, nay biến thành vương tử, trưởng giả, đă lui sụt, thoái chuyển rồi, quên hết chuyện quá khứ, bị mê khi cách ấm. [Đă minh tâm kiến tánh] lại bị mê khi cách ấm, lại bị thoái chuyển, làm sao có thể sánh bằng người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới? Người từ Tây Phương Cực Lạc thế giới đến ứng hóa trong bất luận thế giới nào đều chẳng bị mê khi cách ấm, chẳng bị thoái chuyển! Người ấy chỉ thị hiện, chẳng phải là thoái chuyển; chẳng thể nào sánh bằng! Cảnh giới đại triệt đại ngộ của Tịnh Độ Tông và đại triệt đại ngộ của Thiền Tông khác nhau, cách nói khác nhau! Do vậy, thật sự hiểu rơ, khăng khăng một mực tu học môn này, quyết tâm văng sanh Tịnh Độ trong một đời này, đó là triệt để giác ngộ. Người như vậy được chư Phật tán thán, hộ pháp thiện thần ủng hộ, quyết định ủng hộ, nên quư vị chẳng gặp hết thảy tai nạn. Huống chi kinh đă nói rơ ràng, A Di Đà Phật phái hai mươi lăm vị Bồ Tát ngày đêm bảo hộ người như vậy, chúng ta phải tin tưởng điều này! Do vậy, Văng là văng sanh, Lai là quay trở về phổ độ chúng sanh, trở vào Sa Bà.

      Sa Bà, Cực Lạc, cho đến vô lượng vô biên cơi nước trong tận hư không khắp pháp giới đều do nhất tâm của chúng ta hiện ra, “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Nói theo tâm tánh, chẳng có đến hay đi. V́ thế, theo Lư th́ chẳng có văng lai, nhưng trên mặt Sự bèn có văng lai. Trên mặt Sự th́ có văng, có lai, nhưng theo Lư th́ chẳng có. Phật pháp thường nói “bất nhất, bất dị” (chẳng một, chẳng khác), “bất nhất” là có văng lai, “bất dị” là chẳng có hai thứ. Văng Lai xét về Sự lẫn Lư đều chẳng có, như vậy th́ mới có thể thật sự thấu hiểu rơ rệt “duy tâm”. Nếu chẳng có những hiện tượng ấy, dựa vào đâu để hiểu “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”? Nhất định phải có dấu vết, h́nh tượng để t́m kiếm, từ những dấu vết, h́nh tượng ấy bèn ngộ nhập, ngay lập tức hiểu rơ. V́ thế, văng lai mà thật ra chẳng văng lai. Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận có nói: “Sanh tắc quyết định sanh, khứ tắc thật bất khứ” (sanh th́ quyết định sanh, nhưng đi th́ thật sự chẳng đi). “Khứ tắc thật bất khứ”: Nói theo Lư là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, chẳng có văng lai. “Sanh tắc quyết định sanh” là nói theo Sự, quyết định là có! Nói theo Lư là nhất như, vạn pháp nhất như; v́ thế, nói theo Lư bèn chẳng có sanh diệt, chẳng có văng lai. Phải biết điều này tuyệt đối chẳng phải là mâu thuẫn.

      Hai câu tiếp đó rất trọng yếu, “thác bỉ thắng duyên, tốc đăng bảo giác” (dựa vào duyên thù thắng ấy, mau chóng lên bảo giác), chữ Duyên đặc biệt chỉ tăng thượng duyên. Duyên phận ấy quá thù thắng, đó là nói “niệm Phật thành Phật”. Người thật sự tu Tịnh Độ, tôi vừa mới thưa cùng chư vị, ở ngoại quốc chúng tôi thành lập bảy Tịnh Tông Học Hội, bản thân chúng tôi đương nhiên muốn thành lập, chẳng thành lập sẽ không an ḷng. Tịnh Tông Học Hội do cư sĩ Hạ Liên Cư đề xướng, cụ hy vọng dùng tổ chức ấy để chuyên tu Tịnh Độ, chuyên hoằng dương Tịnh Độ, ư tưởng ấy vô cùng hay. Tịnh Tông Học Hội đề xướng “giải hành tương ứng”, không chỉ cầu giải, mà c̣n coi trọng chân tu. Giải chủ yếu là nương theo năm kinh một luận, lư luận, phương pháp, và cảnh giới để chúng ta nương theo là năm kinh một luận của Tịnh Độ. Trong hành môn bèn có thứ lớp, trước tiên phải nương theo tam phước. Trong quá khứ, chúng tôi đă giảng kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. Đức Thế Tôn khai thị cho phu nhân Vy Đề Hy, trước khi giảng phương pháp tu hành, bèn trước hết nói về ba thứ tịnh nghiệp, tức là tam phước. Trong phần tổng kết, Ngài cho biết ba thứ ấy (ba phước) là “chánh nhân Tịnh nghiệp của tam thế chư Phật”, cái nhân ấy thù thắng. Ba điều ấy gồm mười một câu, chúng ta nhất định phải làm được, đó là tu hành! Đó là đại căn đại bản trong tu Tịnh Độ, là cơ sở của “phát tâm Bồ Đề, một bề chuyên niệm”. “Phát tâm Bồ Đề, một bề chuyên niệm” được kiến lập trên cơ sở ba món Tịnh nghiệp, mỗi câu Phật hiệu của quư vị đều tương ứng, quư vị mới có thể nói “một câu Phật hiệu diệt trừ trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”, mới có thể diệt được! Quư vị niệm câu Nam-mô A Di Đà Phật hằng ngày, nhưng chẳng có ba thứ Tịnh nghiệp ấy th́ Phật hiệu chẳng có sức mạnh, chẳng khởi tác dụng.

      Điều thứ nhất trong tam phước gồm bốn câu, “hiếu dưỡng phụ mẫu”, chúng ta có tận tâm tận lực thực hiện hay không? Nếu quư vị chẳng thể tận tâm tận lực hiếu thuận cha mẹ, quư vị niệm A Di Đà Phật uổng công, chẳng thể văng sanh! “Phụng sự sư trưởng”: Hiếu thân, tôn sư, mở đầu bằng hai câu ấy, v́ sao phải hiếu thảo với cha mẹ? V́ sao phải tôn kính thầy? Chư vị phải hiểu: Hiếu thân tôn sư là Tánh Đức, là phẩm đức trong bản tánh. Chỉ có Tánh Đức mới có thể khai phát quang minh trong tự tánh, mới có thể khai phát vô lượng công đức trong tự tánh, đó là công cụ! Quư vị chẳng dùng công cụ của Tánh Đức, làm sao quư vị có thể khai phát Tánh Đức? Chẳng hiếu thảo với cha mẹ, chẳng tôn kính thầy, sẽ chẳng có tác dụng! Phật đến dạy quư vị, quư vị vẫn chẳng có cách nào thành tựu. Chúng ta hiểu ư nghĩa thật sự của việc “hiếu thân tôn sư”, thật sự có lư, mới bèn khăng khăng một mực thực hiện, chẳng phải là miễn cưỡng nữa!

      Chẳng hiểu rơ đạo lư này, ta tôn kính thầy để làm ǵ? Mọi người đều chẳng tôn kính thầy, v́ sao ta phải kính thầy? Mọi người đều chẳng hiếu thuận cha mẹ, v́ sao ta phải hiếu thuận cha mẹ? Mọi người đều đọa tam ác đạo, quư vị có muốn đọa tam ác đạo hay không? Mọi người đều đọa tam ác đạo, đương nhiên ta cũng phải đến đó! [Nếu trả lời] như vậy th́ chẳng c̣n nói ǵ nữa, chẳng cần phải bàn luận nữa! Mọi người đều đến tam ác đạo, mọi người luân hồi trong lục đạo, quư vị muốn thành Phật, thành Bồ Tát, vậy th́ quư vị chẳng thể làm ǵ khác hơn là hiếu thuận cha mẹ, tôn kính sư trưởng, chẳng c̣n bàn căi ǵ nữa! Chẳng giống như mọi người! Xác thực là khác nhau. Do vậy, nhất định phải hiểu rơ lư luận, mới biết v́ sao chúng ta phải làm theo cách như vậy. Cách làm ấy có lư, có công đức chân thật. Sau đấy mới là “từ tâm chẳng giết chóc, tu mười thiện nghiệp”. V́ thế, hai câu đầu tiên là đại căn đại bản.

      Phước thứ hai là “thọ tŕ Tam Quy, trọn đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”, điều này cũng có vấn đề rất lớn. Nay chúng ta nói đến Tam Quy, rất nhiều người nói: “Quy y một vị pháp sư nào đó”, sai mất rồi! Tam Quy là Tam Tự Quy, tức là quy y Tự Tánh Tam Bảo, đó là Tam Quy chân chánh. Quy y Phật là giác chứ không mê, từ mê hoặc, điên đảo, quay lại nương theo giác, tức là nương theo tự tánh giác, đó là quy y Phật. Quy y Pháp, Pháp là chánh tri chánh kiến, cũng là tư tưởng và kiến giải được nói trong kinh điển. Chúng ta niệm mỗi ngày, đối chiếu tư tưởng và kiến giải của chúng ta với các điều ấy; nếu giống nhau th́ tư tưởng và kiến giải của chúng ta chánh xác. Nếu khác nhau, chúng ta phải sửa đổi tư tưởng và kiến giải của chính ḿnh, chiếu theo kinh luận để tu chỉnh tư tưởng và kiến giải của chính ḿnh, đó là “chánh chứ không tà”. Đối với các pháp thế gian và xuất thế gian, đối với vũ trụ và nhân sinh, qua xử sự, đăi người, tiếp vật trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta phải có cách nghĩ và cách nh́n tương ứng với kinh điển, tri kiến ấy là chánh tri chánh kiến, đó là quy y Pháp. Quy y Tăng, Tăng có nghĩa là thanh tịnh, sáu căn thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần. Tăng nghĩa là ḥa hợp, Lục Ḥa Kính. Như thế mới là Tam Quy Y! Chẳng phải là bái một vị pháp sư, “ta đă quy y rồi, ta quy y pháp sư X...”, đó là mê hoặc, điên đảo. Quy y kiểu ấy là quy y để vào tam đồ, đáng sợ quá! Do vậy, chúng ta nhất định phải hiểu rơ ràng, nhất định phải thật sự giác ngộ.

      “Trọn đủ các giới”, hiện thời rất ít người nói tới giới. Có phải là chúng ta phải đọc giới kinh, niệm giới bổn hằng ngày hay không? Chiếu theo nghi thức để làm sẽ là giới Tiểu Thừa. Giới Tiểu Thừa trọng h́nh thức, Tiểu Thừa luận sự, chẳng luận tâm. Sự là h́nh thức, họ rất coi trọng h́nh thức, chẳng coi trọng tâm. Giới Đại Thừa luận tâm, chẳng luận sự, không đặt nặng h́nh thức, mà chú trọng tâm lư. Do vậy, tinh thần giới luật của Đại Thừa và Tiểu Thừa khác nhau. Lại thưa cùng chư vị, [tông phái] coi trọng nghi thức nhất trong Phật môn là Mật Tông, nghi thức trong bất cứ tông nào cũng chẳng rắc rối bằng. Những nghi thức phức tạp của họ thoạt đầu có dụng ư rất hay, v́ sao? Nghi thức, lễ tiết quá nhiều, khiến cho quư vị chẳng thể suy nghĩ loạn xạ, tinh thần đều tập trung ḥng thực hiện nghi thức ấy, nhằm vào dụng ư ấy; nhưng pháp ấy thực hiện đă lâu tự nhiên biến thành h́nh thức, trong tâm chẳng c̣n nữa, chỉ có bề ngoài. V́ thế, đâm ra chẳng bằng không cần đến những h́nh thức ấy.

      Lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ cũng giống như thầy của cụ, thông Tông, thông Giáo, Hiển Mật viên dung. Cụ là Kim Cang Thượng Sư trong Mật Tông, có viết một tập sách nhỏ nhan đề Tịnh Độ Tư Lương Cốc Hưởng Tập. Sách ấy cũng được in rất nhiều, mỗi vị đồng tu nhất định phải đọc, v́ sao? Sau khi quư vị đọc cuốn sách ấy, mới hiểu chân tướng Mật Tông và thói tệ trong Mật Tông hiện thời. Cụ là Thượng Sư trong Mật Tông, nhưng chẳng đề xướng Mật Tông, quá nửa [tác phẩm ấy] nhằm khuyên người học Mật hăy tu Tịnh Độ. Cho dù quư vị học Mật, cụ chỉ định ba bộ sách nhất định phải đọc: Thứ nhất là kinh Vô Lượng Thọ, thứ hai là Di Đà Kinh Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư, bộ thứ ba là Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Cụ nói: “Quư vị học Mật nhất định phải đọc ba bộ sách ấy. Chẳng đọc ba bộ sách ấy, rất dễ đi vào Tà Mật”. Nói cách khác, dùng ba bộ kinh ấy để sửa đổi cho đúng quan niệm và tư tưởng của quư vị, chẳng đi vào ngơ rẽ. Đọc thông suốt ba bộ sách ấy, tôi nghĩ người ấy nhất định niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Bởi lẽ, một câu Nam-mô A Di Đà Phật là đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú, đều là ǵ? Nam-mô A Di Đà Phật, chẳng sai chút nào! Do vậy, trước tác của Hoàng lăo cư sĩ đáng để cho chúng ta nghiên cứu.

      Lần này tôi ở Washington DC, có một vị đồng tu từ Bắc Kinh đến Mỹ, Hoàng lăo cư sĩ đặc biệt bảo người ấy mang theo một bộ băng thâu âm, gần đây cụ giảng Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận, giảng hết sức hay, giảng đặc sắc tột bậc. Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận do cư sĩ Bành Tế Thanh biên soạn trong niên hiệu Càn Long nhà Thanh. Cả một bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh đă được ông ta đưa về niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đúng là đơn giản, ngắn gọn, dựa theo lư luận trong kinh Hoa Nghiêm để niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, mà cũng là phương pháp tu hành trong kinh Hoa Nghiêm, đúng là phương pháp tu hành “thác bỉ thắng duyên, tốc đăng bảo giác” của kinh Hoa Nghiêm.

      Cổ đức cũng nói rơ, “thắng duyên” có hai thứ:

      - Một thứ là bản thân quư vị trọn đủ, kinh Di Đà nói là “thiện căn, phước đức, nhân duyên”: “Chẳng thể do chút thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cơi ấy”. Chư vị đang hiện diện trong hội này đều là thiện căn, phước đức, nhân duyên trọn đủ, khó có lắm, thù thắng khôn sánh!

      - Nhân duyên thứ hai là chư Phật, Bồ Tát làm tăng thượng duyên cho chúng ta. Không chỉ là Thích Ca Mâu Ni Phật, không chỉ là A Di Đà Phật, mà mười phương chư Phật đều làm tăng thượng duyên cho chúng ta. Quư vị mở Di Đà kinh ra, [sẽ thấy] sáu phương Phật đều khuyên chúng ta niệm Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc Tịnh Độ. Trong kinh Vô Lượng Thọ, mười phương Phật khuyên chúng ta tu hành, đấy là chư Phật, Bồ Tát trợ duyên cho chúng ta. Chúng ta chuyên tu, kết duyên này, chúng ta chuyên hoằng, tức là nói giống hệt như chư Phật, Bồ Tát, chí đồng đạo hợp! V́ thế, chúng ta hăy lắng ḷng suy nghĩ, cá nhân chúng ta đời đời kiếp kiếp có bao nhiêu thời gian để làm một chút chuyện cho chư Phật, Bồ Tát, điều này thật sự có ư nghĩa! Làm thay cho chư Phật, Bồ Tát như thế nào? Hoằng dương Tịnh Độ là làm thay cho chư Phật, Bồ Tát. Chư Phật, Bồ Tát thuyết pháp độ sanh trong vô lượng vô biên thế giới, pháp bậc nhất phải nói là pháp môn này. Kinh Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ là những kinh phải nói bậc nhất, mong nói đầu tiên. Nói thật ra, pháp môn này đă dạy rơ ràng, mọi người đă có thể tiếp nhận th́ hết thảy các kinh khác chẳng cần phải giảng nữa! Do họ chưa thể tiếp nhận pháp môn này, nên lại giảng kinh khác, dẫn dụ từ từ, vẫn là khuyên dụ quư vị trở về kinh này. Đó gọi là “ngàn kinh vạn luận, chỗ nào cũng chỉ về”, đều quy về chỗ này.

      Dẫu cho quư vị tu học pháp môn khác, tu đến cuối cùng, đến thế giới Hoa Tạng, Nhất Chân pháp giới, chứng đắc Địa Thượng Bồ Tát, đă đăng địa, là Đại Bồ Tát, Ma Ha Tát. Đăng địa bèn như thế nào? Đăng địa bèn niệm Phật, thật thà! Trước khi đăng địa, chẳng thật thà, đăng địa chắc chắn là thật thà! Kinh Hoa Nghiêm nói “Thập Địa Bồ Tát từ đầu đến cuối chẳng ĺa niệm Phật”, đầu là Sơ Địa, cuối là Pháp Vân, tức Thập Địa. Sau khi đăng địa, đại triệt đại ngộ, hiểu pháp môn này là pháp môn thành Phật; do vậy, đăng địa mới là thật thà niệm Phật. Chưa đăng địa, giống như quư vị trong hiện thời, chưa thật thà, xét ra vẫn có thể khoan dung được, đó là chuyện phải như vậy! Quư vị mà thật thà sẽ là chuyện kỳ quái! Hễ quư vị thật thà, sẽ chẳng kém các vị Địa Thượng Bồ Tát. Địa Thượng Bồ Tát cũng bội phục quư vị, v́ họ mới vừa đạt thật thà! Nếu quư vị đạt đến tŕnh độ như các Ngài th́ cũng thật thà, tuyệt lắm! Thiện căn chẳng thể nghĩ bàn đă phát hiện! Do vậy, khi đăng địa bèn hiểu rơ triệt để, như Mă Minh, Long Thọ đều là Địa Thượng Bồ Tát. Chúng ta nhất định phải hiểu rơ ràng, minh bạch những điều này, sẽ có thể phát tâm làm việc thay cho Phật, Bồ Tát. Nhân duyên như thế đúng là chỉ có thể gặp, chẳng thể cầu. Được gặp tức là đại phước đức, đại nhân duyên, chớ nên coi rẻ, bỏ lỡ!

      Trong tam phước, nói đến tŕ giới, nói thật ra, tŕ giới là vâng giữ pháp tắc, tuân thủ quy củ. Tuân thủ những giáo huấn do đức Phật đă ban bố trong kinh điển, chúng ta đều có thể thực hiện được, đó là tŕ giới, không tất yếu phải cầu t́m các giới điều, v́ sao? Rất nhiều điều trong giới kinh đều là phong tục, tập quán xa xưa của Ấn Độ từ ba ngàn năm trước. Nay quư vị có đọc cũng chẳng hiểu, làm sao thực hiện được? V́ sao? Cách sống của chúng ta trong hiện thời hoàn toàn khác hẳn họ. Do vậy, thật sự tŕ giới, nói thật thà là chỉ cần tŕ Sa Di Luật Nghi tốt đẹp là được rồi. [Sa Di Luật Nghi] gồm mười giới điều và hai mươi bốn oai nghi.

      Trong mười giới điều, vẫn có mấy điều ta không làm được. [Chẳng hạn như] “thủ bất tŕ kim ngân” (tay không cầm vàng bạc), trên thân quư vị không đem theo tiền th́ hiện thời quư vị đi đường sẽ bị trở ngại, quư vị chẳng thể không đem theo. Hễ đem theo tức là phá giới mất rồi! Thích Ca Mâu Ni Phật sống vào thời đại đó, nếu sống trong thời đại hiện tại này, có lẽ sẽ hủy bỏ giới điều này, v́ sao? Giới điều này chẳng thể thực hiện được, h́nh thái xă hội đă khác hẳn. Trong xă hội trước kia th́ được, chẳng có vấn đề ǵ, người xuất gia có thể không cầm tiền theo, v́ sao? Đi tới đâu, người ta thấy người xuất gia đều cúng dường quư vị. Hiện thời th́ chẳng được, xă hội khác hẳn, điều này gọi là “khai giới”. Sa Di Luật Nghi th́ chúng ta có thể đều làm được, như vậy sẽ rất tốt đẹp. Ấn Quang đại sư dùng Cảm Ứng Thiên, Liễu Phàm Tứ Huấn, và An Sĩ Toàn Thư thay cho giới luật. Khá nhiều đồng tu đều biết lăo pháp sư Ấn Quang là Tây Phương Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai. Ngài dạy chúng ta điều này chắc chắn là chẳng sai lầm, chúng ta có thể làm theo phương pháp ấy!

      Trong phước thứ ba, điều đầu tiên là nói “phát Bồ Đề tâm”, điều này chẳng cần phải rườm lời! Điều thứ hai là “tin sâu nhân quả”. Câu này rất đáng nghiên cứu, v́ phước thứ ba là phước báo của Bồ Tát, nhằm nói với Bồ Tát. Bảo Bồ Tát “tin sâu nhân quả” th́ nhân quả ấy chẳng phải là nhân quả thông thường, v́ nhân quả thông thường th́ Bồ Tát đă biết rồi. Nhân quả ǵ vậy? “Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”, đích xác là rất nhiều Bồ Tát không biết loại nhân quả này. Nếu Bồ Tát đă biết, sẽ chẳng đi theo rất nhiều con đường oan uổng, trong một đời bèn thành Phật, quyết định thành Phật. Vị ấy sẽ chẳng c̣n tu pháp môn khác. Vẫn muốn tu pháp môn khác, tức là vẫn chưa biết nhân quả này, vẫn chưa tin tưởng, chưa thể tiếp nhận. Do đó, suốt đời này, vị ấy vẫn chưa thành Phật, vẫn chẳng thể đến Tây Phương. Chẳng thể đến Tây Phương, dẫu là Bồ Tát, vẫn bị mê khi cách ấm, c̣n bị thoái chuyển, điều này rất đáng sợ! V́ thế, nhất định phải giác ngộ, trong một đời này, phải phát nguyện quyết định văng sanh.

      Quay lại làm người, có rất nhiều người phát tâm muốn đời sau làm pháp sư ḥng vẫn hoằng pháp lợi sanh, đều là đang nằm mơ! Đều là mê hoặc, điên đảo. Đời sau lại làm pháp sư phổ độ chúng sanh th́ phải nên làm như thế nào? Tới thế giới Cực Lạc trước, sau khi gặp A Di Đà Phật bèn tái lai, có được hay không? Được chứ! Kinh Vô Lượng Thọ đă giảng rất rơ ràng: Chỉ cần quư vị gặp mặt A Di Đà Phật, quư vị lại quay về Sa Bà, có lợi ích ǵ? Thần lực của A Di Đà Phật gia tŕ khiến quư vị bất thoái chuyển, chẳng bị mê khi cách ấm, do chiếm được sự tiện nghi ấy, quư vị chẳng văng sanh sẽ không được! Do đó, bốn hoặc năm nguyện cuối trong bốn mươi tám nguyện đều là v́ các vị Bồ Tát trong các phương khác mà phát. Họ chưa văng sanh Tây Phương Tịnh Độ, nhưng được thần lực của A Di Đà Phật gia tŕ. Đó là “thác bỉ thắng duyên” (dựa vào nhân duyên thù thắng ấy), đó là nhân duyên thù thắng nhất, “tốc đăng bảo giác” (mau chóng lên ngôi bảo giác), chẳng có ǵ nhanh hơn được, thành Phật trong một đời.

 

      (Sao) Thật sanh vật quy thê chi chánh lộ.

      () 實 生 物 歸 棲 之 正 路。

      (Sao: Đúng là chánh lộ để mọi loài chúng sanh quay về nương tựa).

 

      “Sanh” là chúng sanh, “thật” là thực tại. Xác thực là hết thảy chúng sanh, v́ sao không nói người mà nói Vật? Nếu nói người th́ chỉ có một đường trong lục đạo, nói Vật sẽ bao quát lục đạo. Chữ này có bao hàm ư nghĩa rộng răi, không chỉ bao gồm lục đạo, mà c̣n bao gồm chín pháp giới. Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, lục đạo chúng sanh, dùng một chữ Vật để đại diện trọn khắp. Do vậy, [câu này] ư nói [pháp môn Tịnh Độ] thật sự là “quy thê chi chánh lộ” của hết thảy chúng sanh trong chín pháp giới. “Quy” () là quy túc (歸宿: quay về an trụ), Thê () là Thê Tức (棲息), [nghĩa là] nghỉ ngơi, [pháp môn Tịnh Độ] thật sự là con đường chánh đáng để quy túc, thật sự nghỉ ngơi! Niệm Phật văng sanh Tịnh Độ là một con đường chân chánh.

 

      (Sao) Năi thánh nhân cấp dẫn chi diệu quyền dă.

      () 乃 聖 人 汲 引 之 妙 權 也。

      (Sao: Là phương tiện quyền biến khéo léo để dẫn dắt của thánh nhân).

 

      Hai chữ Diệu Quyền được dùng rất khéo! Quyền () là phương tiện, do đối ứng với chân thật mà nói. Diệu Quyền là chân thật, chẳng khác phương tiện, mà phương tiện chẳng khác chân thật. Nguyên lai Quyền và Thật là một, chẳng hai, đấy mới là Diệu! Đúng như trong phần trên đă nói “toàn tu tức là tánh, toàn tánh khởi tu”, đó là Diệu Quyền! V́ vậy, thật sự làm được viên măn hai câu ấy, đích xác là chỉ có một câu A Di Đà Phật, đúng là “toàn tánh khởi tu, toàn tu tức tánh”. Nhưng quư vị chưa thể thông đạt lư luận và cảnh giới Tịnh Độ, quư vị niệm câu Phật hiệu này, tuy niệm nhưng vẫn hàm hồ, chẳng hiểu rơ ràng cho lắm. Năm kinh một luận quư vị đều hiểu rơ ràng rồi, từng tiếng Phật hiệu sẽ rơ ràng, rành rẽ, xác thực là đều có thể cảm ứng đạo giao với mười phương chư Phật và hết thảy chúng sanh. Đó là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”, trên tương ứng với chư Phật, dưới cũng tương ứng với hết thảy chúng sanh. Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng tới đây.

 

Tập 134

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trăng hai trăm chín mươi mốt.

 

      (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh vô nhiễm, thị vô hữu chúng khổ nghĩa; tự tánh thường tịnh, thị đản thọ chư lạc nghĩa.

      () 稱 理,則 自 性 無 染,是 無 有 眾 苦 義;自 性 常 淨,是 但 受 諸 樂 義。

      (Sớ: Xứng Lư tự tánh vô nhiễm là ư nghĩa “chẳng có các nỗi khổ”, tự tánh thường tịnh là ư nghĩa “chỉ hưởng các niềm vui”).

 

      Đoạn này giải thích y báo trong thế giới Cực Lạc, “bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc” (v́ sao cơi ấy tên là Cực Lạc? Chúng sanh trong cơi ấy chẳng có các nỗi khổ, chỉ hưởng các niềm vui nên gọi là Cực Lạc), giải thích đoạn văn ấy. Hôm nay, chúng ta đọc một đoạn nhỏ này là luận định xứng tánh. Lư là tánh thể. “Vô hữu chúng khổ”“tự tánh vô nhiễm”. “Tự tánh” là nói tới Chân Như bản tánh của đương nhân chúng ta. Bản tánh trước nay chẳng bị nhiễm bẩn. Nếu bị nhuốm bẩn, sẽ chẳng phải là thật. Đă là thật, đương nhiên sẽ bất nhiễm.

      Phật môn thường nói nhiễm và tịnh, đặc biệt là pháp môn Tịnh Độ gọi thế giới Sa Bà là uế độ, Tây Phương Cực Lạc thế giới là Tịnh Độ, tức là có nhiễm, có tịnh, thật sự có khổ, có lạc. Nếu nói “chẳng có nhiễm - tịnh, chẳng có khổ - lạc”, chúng ta sẽ không hiểu; nhưng nói chân thật th́ sẽ là chẳng có nhiễm - tịnh, mà cũng chẳng có khổ - lạc. Khổ - lạc, nhiễm - tịnh do T́nh sanh ra, T́nh là ǵ? Là mê, đă mê bèn gọi là T́nh. Nếu đă đoạn mê th́ là ngộ, đă ngộ bèn gọi là Trí. Có thể thấy, nói thật ra, trong Phật pháp chỉ có mê và ngộ. Đă ngộ th́ là tự tánh, đă mê bèn gọi là tám thức. Có thể thấy tám thức và tự tánh là một vật, nhưng có hai tên gọi. Do đó, ngộ là tự tánh, mê vẫn là mê tự tánh. Bản thân tự tánh chẳng có mê hay ngộ, mê hay ngộ do con người! Ư nghĩa này là nghĩa lư căn bản trong Phật pháp. V́ thế, chúng ta phải hiểu, phải thấu hiểu. Tự tánh thường tịnh”, tự tánh vĩnh viễn bất biến, vĩnh viễn là thanh tịnh viên măn. Đó là “thọ chư lạc nghĩa” (ư nghĩa hưởng các niềm vui). Lạc và khổ được kiến lập tương đối; do có khổ nên mới có lạc hiển hiện. Chẳng có khổ th́ lạc cũng chẳng hiển lộ được! Do vậy, hết thảy các pháp do từ tương đối mà kiến lập.

 

      (Sao) Nhiễm thị khổ nghĩa, tịnh thị lạc nghĩa.

      () 染 是 苦 義,淨 是 樂 義。

      (Sao: Nhiễm là ư nghĩa khổ, tịnh là ư nghĩa lạc).

 

      Nhiễm ô là mê hoặc, mê hoặc là chính ḿnh chẳng thể làm chủ, ở chỗ nào cũng bị hoàn cảnh bó buộc. Trong hoàn cảnh, có hoàn cảnh nhân sự và hoàn cảnh vật chất. Nếu quư vị bị hoàn cảnh bức bách, đó là khổ. Do vậy, nói phiền năo nhiễm bẩn tâm thanh tịnh, nên mới cảm nhận có khổ. “Tịnh thị lạc nghĩa” (tịnh là ư nghĩa của lạc), Tịnh là thanh tịnh. Nói cách khác, xa ĺa hết thảy phàm nhiễm, tự tánh thanh tịnh.

 

      (Sao) Tự tánh vô nhiễm thường tịnh.

      ()自 性 無 染 常 淨。

      (Sao: Tự tánh vô nhiễm thường tịnh).

 

      Đây là nêu bày tướng trạng của Chân Như bản tánh. Chân Như bản tánh xác thực là thường tịnh, vô nhiễm, chẳng có nhiễm ô.

 

      (Sao) Thị vô khổ thường lạc dă.

       () 是 無 苦 常 樂 也。

      (Sao: Là chẳng khổ, thường vui).

 

      Mấy câu này rất trọng yếu, chúng ta nhất quyết chớ nên sơ sót. Tây Phương Tịnh Độ chẳng giống Tịnh Độ của mười phương thế giới chư Phật. Nếu chúng ta hỏi khác nhau ở chỗ nào ư? Tây Phương Cực Lạc thế giới là cơi Pháp Tánh, các thế giới chư Phật ở phương khác là Ngũ Dục Lục Trần, đây là chỗ khác biệt to lớn. Thế giới Cực Lạc từ trong Pháp Tánh biến hiện, là Tướng Phần của Chân Như bản tánh. Cơi nước của mười phương chư Phật là Tướng Phần của A Lại Da Thức, là Tướng Phần của Duy Thức, đó là chỗ khác nhau! Tướng Phần do A Lại Da Thức biến hiện th́ có khổ, có lạc. Tướng Phần do Chân Như bản tánh hiển hiện sẽ giống như trong kinh Vô Lượng Thọ đă nói “kiến lập (hiển hiện ) thường nhiên’ (kiến lập (hiển hiện) thường hằng), đó là chỗ khác nhau. Bản thể của hai thế giới ấy được hiển hiện khác nhau, nên mười phương chư Phật mới thật sự tán thán! Tiếp đó, đại sư trích dẫn giáo nghĩa kinh Hoa Nghiêm để giảng rơ.

 

      (Sao) Hoa Nghiêm Lục Địa quán sát vô minh, dĩ Vô Minh chí Lục Nhập thị Hành Khổ, Xúc Thọ thị Khổ Khổ, dư thị Hoại Khổ. Ngă kim thử tâm, vô vô minh, năi chí vô lăo tử đẳng, thành vô khổ nghĩa. Vô thử thập nhị chi, tức chân giải thoát, thành thọ lạc nghĩa.

   () 華 嚴 六 地 觀 察 無 明,以 無 明 至 六 入 是 行 苦,觸 受 是 苦 苦,餘 是 壞 苦。我 今 此 心,無 無 明,乃 至 無 老 死 等,成 無 苦 義。無 此 十 二 支,即 真 解 脫,成 受 樂 義。

      (Sao: Bậc Lục Địa Bồ Tát trong Hoa Nghiêm quán sát vô minh, do từ Vô Minh đến Lục Nhập là Hành Khổ, Xúc và Thọ là Khổ Khổ, những điều c̣n lại là Hoại Khổ. Nay cái tâm này của ta chẳng có vô minh cho đến chẳng có già, chết v.v... tạo thành nghĩa “vô khổ”. Không có mười hai chi ấy chính là chân giải thoát, tạo thành nghĩa “hưởng các niềm vui”).

 

      Thành tựu nghĩa “thọ lạc” (hưởng vui). “Hoa Nghiêm Lục Địa” là nói tới Lục Địa Bồ Tát. “Quán sát vô minh”: Vô Minh là nói tới điều thứ nhất trong mười hai nhân duyên. Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, nói tới điều này. Lục Địa Bồ Tát “dĩ thập chủng tướng” (dùng mười loại tướng), quán duyên khởi của hết thảy các pháp. Đó gọi là “tinh la thập môn, nguyệt măn Tam Quán” (mười môn la liệt như sao, Tam Quán như trăng tṛn đầy). Ở đây, trích dẫn một đoạn văn [từ kinh Hoa Nghiêm nói về mười tướng để quán của Lục Địa Bồ Tát] là “đệ thất, tam khổ tụ tập quán”[3], Tam Khổ là Khổ Khổ, Hoại Khổ và Hành Khổ. Vô Minh là ǵ? Chân tánh vốn là minh, giống như Khởi Tín Luận đă nói “Bổn Giác vốn có”. Bổn Giác là bổn minh, vốn sẵn hiểu rơ, hiểu rơ ǵ vậy? Quá khứ, hiện tại, vị lai, mười phương, ba đời hết thảy sự lư, hiện tượng, chẳng có thứ ǵ quư vị không hiểu rơ. Ư nghĩa này giống như những người theo tôn giáo đă tán thán Thượng Đế là “toàn tri, toàn năng”. Nói theo Phật pháp, ai là toàn tri toàn năng? Chính chúng ta. Bản thân chúng ta vốn sẵn toàn tri toàn năng, nhưng hiện thời vô tri, vô năng, phiền toái to lớn. V́ sao từ toàn tri toàn năng biến thành vô tri vô năng? Điều này được gọi là “khởi lên vô minh”, vốn là minh mà nay quư vị chẳng c̣n minh, nên gọi là vô minh. Nhưng chư vị phải biết: Bổn minh là thật, vô minh là giả. Nếu vô minh là thật, chúng ta c̣n thể thành Phật được chăng? C̣n có thể khôi phục toàn tri toàn năng được sao? Chẳng thể nào! Do vô minh là giả, là hư vọng, bản năng (năng lực sẵn có) là thật, nên Mă Minh Bồ Tát nói: “Bổn Giác vốn có, bất giác vốn không”. Bất giác là vô minh, vô minh vốn không; minh là vốn có! Vốn có th́ đương nhiên có thể khôi phục, đương nhiên có thể chứng đắc. Vốn không th́ đương nhiên có thể đoạn trừ. Phật pháp thường nói “đoạn vô minh, thấy bản tánh”, chúng ta có thể nói là từ vô thỉ kiếp đến nay đă dấy lên vô minh, dấy lên vô minh như thế nào? Do nguyên nhân ǵ mà dấy? Trong Phật giáo, câu hỏi này được gọi là “căn bản đại vấn” (câu hỏi căn bản to lớn).

      Một câu hỏi căn bản to lớn là vô minh do đâu mà có? Do lư do ǵ mà dấy lên? Dấy lên khi nào? Có thể trả lời chỉ bằng một câu, nhưng nói ra sẽ chẳng có ích ǵ cho mọi người. Sau khi cổ nhân nói ra, ngộ môn của quư vị bị đóng lấp, quư vị vĩnh viễn chẳng thể khai ngộ. Do vậy, chính quư vị phải tự ḿnh thấu hiểu câu trả lời, đó là “hoát nhiên khai ngộ”, chính quư vị sẽ đạt được thọ dụng chân thật. Nói cho quư vị nghe, nghe xong, [quư vị gật gù] hay quá, nhưng vẫn chẳng ngộ, vẫn là mê hoặc. V́ thế, cái khéo trong nhà Thiền là chẳng nói toạc câu trả lời cho quư vị, mà để cho quư vị [tự ngộ], sau khi đă ngộ, bèn ấn chứng rồi lại nói rơ với quư vị. Do vậy, thường là tham Thiền mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm mới hoảng nhiên đại ngộ, ngộ [như vậy] sẽ đạt được thọ dụng chân thật. Chư vị phải hiểu: Câu trả lời ở trong quyển thứ tư của kinh Lăng Nghiêm, tôn giả Phú Lâu Na đă hỏi chuyện này, Thích Ca Mâu Ni Phật đă giải đáp. Quư vị đọc kinh Lăng Nghiêm xem thử có thể khai ngộ hay không? Thật sự là trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đă giảng thật rơ ràng, đă trả lời câu hỏi căn bản to lớn ấy.

      Có Vô Minh sẽ phải tạo nghiệp, đó là Hành. Hành mang ư nghĩa động. Nói thật ra, Vô Minh là động, Minh sẽ không chuyển động, đó gọi là “giác tâm bất động”. Phật pháp bất luận một tông nào, Hiển Giáo, Mật Tông, các tông, các phái đều coi trọng Thiền Định. Tách ĺa Thiền Định sẽ chẳng có Phật pháp, đủ thấy Thiền Định vô cùng trọng yếu! Chúng ta niệm Phật, [các mức độ] “công phu thành phiến, Sự nhất tâm bất loạn, Lư nhất tâm bất loạn” như được nói trong niệm Phật đều là Thiền Định. Không chỉ nhất tâm bất loạn là Thiền Định, mà công phu thành phiến cũng là Thiền Định, chỉ là danh từ khác nhau, nói theo thực tế th́ công phu và cảnh giới [giữa Thiền và Tịnh Độ] hoàn toàn giống nhau. Do vậy mới hiểu rơ Định là tất yếu, v́ sao? Giác tâm bất động! Chỉ cần quư vị định tâm, sẽ tương ứng với giác tánh.

      Học Phật th́ bắt đầu học từ đâu? Nhất định phải học từ tŕ giới. “Nhân Giới sanh Định, nhân Định khai Huệ”, đó là lịch tŕnh, đường lối nhất định phải trải qua từ phàm phu cho đến khi thành Phật, cũng như từ phá mê cho đến kiến tánh. Quư vị không trải qua con đường này, chắc chắn chẳng thể khôi phục bản tánh, khôi phục bản tánh bèn gọi là “thành Phật”. À! Chúng ta tŕ giới, năm giới, mười giới, giới Bồ Tát, giới tỳ-kheo, các vị hăy xem thử quư vị có thể đắc Định hay không? Những thứ ấy là Giới, chẳng sai! Nhưng c̣n có một giới cơ sở nhất, nhưng do quư vị không biết, nên chẳng có cách nào thọ tŕ giới ấy. Giống như trèo lên thang lầu, nhưng bậc thang thứ nhất ở đâu chẳng biết. Cái thang ấy được nói trong kinh Phật, thấy được phía trên, nhưng chẳng thấy phần dưới. Do vậy, vĩnh viễn chẳng thể bước một bước nào trên cái thang ấy.

      Bậc thang đầu tiên ở đâu? Trong tam phước đă nói rất hay, đó là bước đầu tiên, giới luật là bước đầu tiên. “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng”. Gạt bỏ “hiếu thân, tôn sư” để tŕ giới, quả thật giống như trèo lên thang lầu, người ấy chẳng cần đến bậc thứ nhất mà muốn lên tầng thứ hai, lên lầu bằng tầng thứ hai, làm sao lên được! Chư vị chỉ cần chú tâm xem xét những người tu học trong quá khứ, hăy đọc Cao Tăng Truyện hay xem Cư Sĩ Truyện, sẽ thấy những người đó v́ sao thành tựu? Tất cả những người thành tựu đều có sư thừa. Sư thừa là bậc thang giới luật thứ nhất. Thầy dạy dỗ người ấy, đó gọi là Giới, giáo giới (dạy răn). Có thể tuân thủ lời thầy răn dạy, y giáo phụng hành. Do vậy, trong Phật môn, thầy là lớn nhất!

      Người hiện thời thấy chính ḿnh lớn nhất, chẳng để ai vào mắt. Đối với người trong quá khứ, thầy là lớn nhất. Đại sư Âu Dương Cánh Vô đă viết tác phẩm Nội Học Viện Huấn. Vào cuối đời Thanh, đầu thời Dân Quốc, ông ta mở một Phật học viện tại Nam Kinh gọi là Chi Na Nội Học Viện. Trong bản giáo huấn của Nội Học Viện đă nói rất rơ ràng, Nội Học Viện do cư sĩ Âu Dương Cánh Vô điều hành, trong học viện ấy có không ít người xuất gia tham gia, pháp sư Thái Hư c̣n là học sinh dự thính ở đó. Tuy học viện ấy chỉ hoạt động hai năm, nhưng có cống hiến vô cùng to lớn đối với Phật giáo cận đại Trung Quốc. Có nhiều vị cao tăng đại đức đều xuất thân từ Phật học viện này, Lương Khải Siêu cũng là học tṛ của Nội Học Viện.

      Viện trưởng viện ấy là tại gia cư sĩ. Ông ta nói lời ấy tuyệt đối chẳng phải v́ chính ḿnh là tại gia cư sĩ nên đ̣i hỏi quư vị là người xuất gia phải tôn kính ông ta. Người ta dẫn chứng kinh điển để làm căn cứ, chẳng phải là tùy tiện nói lời ấy. Dùng Phật pháp để dạy bảo chúng sanh, bất luận tại gia hay xuất gia, bất luận nam, nữ, già, trẻ, đều mang thân phận thầy. Quư vị lại xem năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm, đối với năm mươi ba vị thiện tri thức, người Trung Quốc gọi thiện tri thức là thầy, Ngài đến bái sư. Trong năm mươi ba vị thầy, hàng xuất gia chỉ có sáu vị, ngoài ra đều là người tại gia. Những vị ấy đều đại diện cho các ngành nghề, đại diện cho nam, nữ, già, trẻ, dụng ư rất sâu, nhằm dạy chúng ta hăy thật sự học nguyện thứ nhất, tức “lễ kính chư Phật” trong mười đại nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát. V́ thế, bảo chúng ta: Người tu hành thật sự ở trên đường Bồ Đề luôn dùng thân phận học tṛ, người học Phật chỉ có ḿnh ta [là học tṛ]. Trừ chính ḿnh ra, ai nấy đều là thầy ta, đều là thiện tri thức của ta.

      Chẳng lẽ những người ấy đều là thiện nhân, chẳng có kẻ ác hay sao? Trong năm mươi ba lần tham học có kẻ ác, chẳng hoàn toàn là thiện nhân. Quư vị thấy trong năm mươi ba lần tham học, bà-la-môn Thắng Nhiệt ngu si, Cam Lộ Hỏa Vương sân khuể, hễ bực bội một chút liền lập tức giết người, trong cái nh́n của chúng ta hiện thời [nhà vua] là đại ma vương! Do vậy, ta thấy trong ấy có thiện, có ác, nói cách khác, là xă hội hiện thực của chúng ta. Bồ Tát dạy chúng ta: Trong xă hội này, tham học như thế nào? Thiện hạnh th́ chúng ta học tập; thấy người thị hiện ác hạnh, chúng ta hăy phản tỉnh, sửa lỗi. Do vậy, thiện nhân hay ác nhân, nghịch cảnh hay thuận cảnh, đều là thiện tri thức, một ḷng b́nh đẳng cung kính tu lễ kính, đấy mới là “lễ kính chư Phật” trong mười đại nguyện vương, quả thật rất khó tu học! Nhưng nếu chúng ta muốn cầu sanh Tịnh Độ, nếu muốn tăng cao phẩm vị, nhất định phải tu học như vậy! V́ sao? V́ Tây Phương Cực Lạc thế giới là một pháp giới toàn là Phổ Hiền Bồ Tát. Kinh Vô Lượng Thọ đă nói rất rơ ràng, người nơi đó “hàm cộng tuân tu Phổ Hiền đại sĩ chi đức” (đều cùng tuân tu đức của Phổ Hiền đại sĩ), ai nấy đều tu mười đại nguyện vương. Nay chúng ta vẫn chưa văng sanh, bắt đầu nỗ lực tu học, sẽ nhất định nâng cao phẩm vị văng sanh. V́ thế, chớ nên không biết điều này, chớ nên không tu học!

      Kinh này có nói, đối với hết thảy Sự, Lư, quá khứ, hết thảy nghiệp quả hiện tại, vị lai, chúng ta đều không biết th́ gọi là Vô Minh. Hết thảy tạo tác của chúng ta là Hành, bao gồm cả khởi tâm động niệm. Trong mười hai nhân duyên, hai điều này (Vô Minh và Hành) là nói về quá khứ. Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục Nhập, Lục Nhập lại duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh, Sanh duyên Lăo - Tử, đó là mười hai nhân duyên. Mười hai nhân duyên cho thấy nhân quả ba đời. Vô Minh và Hành là đời quá khứ, từ Thức đến Ái, Thủ, Hữu là đời này, Lăo - Tử là đời sau. Trong đây đă nói về nhân quả ba đời.

      Thức là nói đến đầu thai, chúng ta gọi là “thần thức”, gọi thông tục là “linh hồn”. Nói thật ra, hồn chắc chắn chẳng linh. Nếu nó thật sự linh, đi đầu thai nhất định sẽ chọn lựa cha mẹ đại phú đại quư, sanh ra bèn hưởng phước th́ nó mới linh! Ai bằng ḷng đầu thai nơi biên địa, suốt đời sống khốn khổ dường ấy? Có thể thấy hồn chẳng linh! Thậm chí đầu thai trong tam ác đạo. Nếu nó thật sự linh, làm sao nó có thể vào tam ác đạo cho được? Chẳng linh! V́ thế, nói thật thà, hồn là mê hồn, mê hoặc, điên đảo, hồ đồ đi đầu thai! Khổng lăo phu tử đă nói hết sức hay, Ngài gọi cái hồn ấy là “du hồn” (cái hồn lang thang). Phần Hệ Từ Truyện trong kinh Dịch có câu: “Du hồn vi biến, tinh khí vi vật” (hồn lang thang biến hóa, hợp với tinh và khí thành vật). Vận dụng khoa học hiện tại để xem xét th́ Khổng lăo phu tử đích xác rất giỏi. “Vật” là ǵ? Vật chất! Vật chất do đâu mà có? Tinh khí. Khổng lăo phu tử nói là Khí, nhưng nói theo các nhà khoa học hiện thời th́ hết thảy vật chất về căn bản chẳng tồn tại, chúng là ánh sáng, là dao động, căn bản là chẳng có vật chất. Khổng lăo phu tử gọi điều đó là “tinh khí”, Ngài coi tinh khí là vật.

      Cuối bản chú giải kinh Vô Lượng Thọ của cư sĩ Hoàng Niệm Tổ, trong phần ghi chép phụ lục, cụ đă trích dẫn, vận dụng khoa học hiện đại để giải thích hết thảy các hiện tượng được nhắc tới trong kinh Phật. Hiện thời, rất nhiều nhà đại khoa học Tây Phương biết vật chất chẳng thật sự tồn tại, nó là giả. Kinh Kim Cang dạy: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, họ đă chứng thực. Tâm Kinh nói: “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc”, họ cũng gần như đă chứng minh được. Đến hiện thời, người Tây Phương mới phát hiện, nhưng từ ba ngàn năm trước, đức Phật đă giảng rơ chân tướng này!

      Thần thức có tốc độ vô cùng to lớn, nên Khổng lăo phu tử gọi nó là “du hồn”. Khoảng cách giữa Tây Phương Cực Lạc thế giới và cơi này đă được kinh dạy rơ ràng, minh bạch “mười vạn ức cơi Phật”, xa xôi như thế đó! Chẳng phải là cái thân nhục thể của ta sanh sang đó, mà là thần thức đến đó. Tốc độ của thần thức hết sức to lớn, như thường nói: “Trong một cái khảy ngón tay đă đến nơi!” Giống như chúng ta đi đường, chưa bước xong một buớc, đă đến Tây Phương Cực Lạc thế giới! V́ thế, nói với quư vị: “Chẳng xa”! Quư vị đừng sợ! Nghĩ: “Xa dường ấy! Làm sao ta có thể đến được” Thực tại chẳng xa! Không chỉ chẳng xa, lại thưa cùng quư vị, tận hư không khắp pháp giới, trong khoảng một niệm có thể đến trọn khắp, “đến trọn khắp” là mỗi cơi Phật đều đạt đến, đó là diệu! Đến bằng cách như vậy!

      Chúng ta chỉ có thể đến một nơi, chẳng thể đến nơi thứ hai, v́ quư vị đang mê! Nếu quư vị đă ngộ, sẽ đến trọn khắp. V́ sao có thể đến trọn khắp? V́ tận hư không khắp pháp giới do Chân Như bản tánh biến hiện, há lẽ nào chẳng đến trọn khắp? Phật môn thường nói: “Ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài pháp chẳng có tâm”, đó là cảnh giới bất tư nghị giải thoát. Nay chúng ta rất bất hạnh, đă mê rồi, bản tánh biến thành thần thức, thần thức là do mê mất bản tánh mà biến hiện. V́ vậy, nhà Thiền nói “minh tâm kiến tánh”, Nho gia nói “minh Minh Đức”. “Minh Minh Đức” có cùng một ư nghĩa với “minh tâm kiến tánh” của nhà Thiền, [chân tánh] vốn sẵn là Minh Đức. Hiện thời, Minh Đức chẳng minh, cho nên nếu khôi phục Minh Đức th́ sẽ là “minh Minh Đức”. Nhà Phật nói “phá vô minh, kiến bản tánh” chính là ư nghĩa này.

      Đây là nói rơ v́ sao có hết thảy hữu t́nh chúng sanh? Thần thức đến đầu thai trước tiên. Thần thức đến đầu thai cũng có điều kiện, cũng chẳng phải là vô điều kiện. Trong Phật pháp, [điều kiện ấy] được gọi là Duyên. Bản thân thần thức trong kiếp trước đă tạo thiện hay làm ác, đó là nghiệp nhân. Có nhân mà chẳng có duyên, sẽ không thể kết quả. Do đó, từ nhân đến quả phải có duyên trong ấy. Cha mẹ là duyên, thần thức sẵn có là nhân, mượn cha mẹ làm duyên để đến đầu thai, biến thành một người. Biến thành người chính là quả, đă kết thành quả rồi. Trong đời trước, người ấy và cha mẹ có duyên. Nếu chẳng có duyên, thần thức sẽ chẳng thấy cha mẹ. Giống như loài người chúng ta chẳng thấy thần thức, thật ra, thần thức ở khắp trong không gian, nhưng chúng ta chẳng thấy, giống như con người chẳng thấy quỷ và chẳng thấy thiên thần! Nó (thần thức) cũng chẳng thấy chúng ta, chúng ta cũng chẳng thấy nó, nhưng hễ có duyên bèn thấy. Do lẽ đó, có rất nhiều người nói họ thấy quỷ, thấy những thứ kỳ quái ǵ đó, có thật đấy! Người ấy có duyên với chúng nên [trông thấy]. Nếu chẳng có duyên, sẽ không thấy! V́ vậy, thần thức có duyên với cha mẹ, nó sẽ trông thấy họ, thấy được cha mẹ.

      Duyên ấy có bốn loại:

      1) Đức Phật dạy chúng ta, loại thứ nhất là Báo Ân. Kiếp trước quư vị kết thiện duyên với kẻ ấy, nên kẻ ấy đến báo ân. Đứa con ấy nói thông tục là “hiếu tử, hiền tôn” (con hiếu, cháu hiền), do thiện duyên mà đến.

      2) Loại thứ hai là Báo Oán, ác duyên! Oan gia đối đầu trong quá khứ, gặp gỡ lần này là đến báo cừu, đến trả đũa. Đứa con này gọi là “bại gia tử”. Đứa nhỏ ấy lớn lên sẽ khiến cho quư vị cửa nát nhà tan.

      3) Loại thứ ba là Thảo Trái (đ̣i nợ), c̣n gọi Thảo Trái Quỷ. Do kiếp trước, quư vị mắc nợ nó, nó phải đến đ̣i nợ. Nếu nợ ít, chẳng bao lâu nó đ̣i xong, bèn chết đi. Hoặc là một, hai, tuổi, ba bốn tuổi, nó sẽ chết. Nợ quá nhiều, đại khái là mười mấy tuổi, hai mươi mấy tuổi, đă học xong đại học bèn chết. Nợ quá nhiều, quư vị đă trả sạch rồi, nó bèn bỏ đi.

      4) Loại thứ tư là Hoàn Trái (trả nợ). Nó mắc nợ quư vị. Khi đứa bé ấy lớn lên, tùy thuộc nó nợ bao nhiêu. Nếu nó nợ quá nhiều, nó sẽ cung phụng quư vị một cuộc sống rất dư giả. Nó mắc nợ quư vị nên phải trả nợ. Nợ ít th́ cung phụng vật chất khó khăn, ít ỏi hơn một chút.

      Bốn thứ duyên mà! Chẳng có bốn duyên ấy sẽ không gặp được. Do vậy, báo ân, báo oán, đ̣i nợ, trả nợ, quư vị phải nh́n thấu suốt người thế gian là như thế đó, quan hệ giữa người và người cũng là như thế. Không chỉ cha con là bốn thứ duyên, mà vợ chồng cũng là [bốn thứ duyên], thân thích bằng hữu cũng giống như vậy, nhưng nhạt hơn một chút, nhưng tất cả đều là [bốn thứ duyên]. Đức Phật đă giảng rơ chân tướng của cơi người. Nếu chẳng có duyên, đúng là “đối diện, thấy nhau, nhưng vẫn chẳng gặp gỡ”, nên gọi người xa lạ. Có duyên này, người ấy sẽ đầu thai.

      Thần thức đến trước hết để đầu thai. Sau khi đầu thai, sẽ gọi là Danh Sắc (名色). Phôi thai ấy vẫn chưa tăng trưởng thành h́nh người, nên chẳng thể gọi nó là Người. Lúc ấy, kinh Phật gọi nó bằng danh từ Danh Sắc. Sắc là vật chất, Danh là nó có tinh thần. Có thần thức trong ấy, là sống, chẳng phải là chết, nên gọi là Danh Sắc. Ở trong thai mẹ, lại tăng trưởng một chút, trở thành h́nh dáng con người, sáu căn trọn đủ, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân [và ư] trọn đủ, nên gọi là Lục Nhập (六入), nay chúng ta gọi là “thai nhi”. Cho đến Thọ () là lúc ra khỏi thai, vừa lọt ḷng mẹ bèn có cảm nhận, tiếp nhận [hoàn cảnh] bên ngoài. Trẻ nít vừa sanh ra bèn tiếp nhận gió lạnh bên ngoài, tiếp nhận sự cảm thụ bên ngoài, chỉ có tiếp nhận, chứ nó vẫn chưa có tâm phân biệt. Đến khi trẻ nhỏ lớn dần lên, chúng ta nói là đứa nhỏ ấy đă hiểu chuyện, hiểu chuyện ǵ? Nó có phân biệt, có chấp trước, tức là có Ái và Thủ, đă có Ái rồi.

      Trong lúc chỉ có Thọ, c̣n chưa có Ái, Thủ, ta có thể thí nghiệm. Quư vị thấy trẻ nít, cho nó ăn kẹo, nó rất vui vẻ. Nó bốc phân ăn, quư vị để mặc cho nó ăn, nó cũng rất thích thú. Khi ấy, quư vị mới hiểu nó chỉ thuộc vào giai đoạn Thọ, vẫn chưa có Ái (). Khi có Ái, nó bèn có phân biệt, có cái nó muốn, có cái nó chẳng muốn. Nó bèn có chọn lựa, phân biệt, chấp trước ngày càng nặng. Nếu lớn hơn chút nữa, sẽ có tâm được - mất, có thói chiếm hữu. Thích th́ muốn chiếm hữu, chẳng thích th́ bài xích. Đó gọi là Thủ (). Thọ là quả báo, Ái, Thủ và Hữu là tạo nghiệp, và cũng là tạo tác. Nay chúng ta nói tạo nghiệp là ǵ? Ái, Thủ, Hữu () là tạo nghiệp, lại tiếp tục tạo nghiệp.

      Chúng ta là người học Phật, sau khi đă hiểu rơ chân tướng sự thật này, chúng ta sẽ Ái ǵ? Thủ ǵ? Hữu ǵ? Trọng yếu lắm! Đối với người tu Tịnh Độ, trong kinh luận, cổ đại đức đặc biệt dạy chúng ta, chúng ta Ái th́ phải Ái Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng ta phải Thủ chín phẩm văng sanh th́ là được. Trừ điều đó ra, hết thảy đều chớ nên Ái, chớ nên Thủ, chớ nên Hữu! Người như vậy quyết định văng sanh. Đối các pháp thế gian và xuất thế gian, hễ có mảy may tham ái, tức là văng sanh bị chướng ngại, chẳng thể đi được! Do vậy, quư vị phải thật sự xả, phải xả sạch sành sanh, chỉ giữ lấy Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong tông này gọi là “phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm” .

      Ở đây, đại sư đă nói rất rơ ràng, mười hai nhân duyên đem phối hợp với ba thứ khổ chính là cảnh giới của Lục Địa Bồ Tát. “Từ Vô Minh cho đến Lục Nhập là Hành Khổ, Xúc và Thọ là Khổ Khổ”. Xúc () là xuất thai, Thọ là cảm thụ, cả một đời đều là Thọ. Cả một đời chúng ta đều cảm nhận, khổ thọ, lạc thọ, đó là Khổ Khổ. Ngoài ra, Ái, Thủ, Hữu là Hoại Khổ. Nh́n từ mười hai nhân duyên, đời người há có vui chi? Chỉ có khổ, chẳng có lạc. Đó là nói rơ không chỉ riêng thế giới Sa Bà, mà mười phương thế giới của hết thảy chư Phật đều chẳng thoát ly mười hai nhân duyên. V́ thế, các thế giới của hết thảy chư Phật chẳng khác thế giới Sa Bà của Thích Ca Mâu Ni Phật cho mấy, đều là Khổ Khổ, Hoại Khổ, và Hành Khổ.

      Ngă kim thử tâm, vô Vô Minh, năi chí vô Lăo Tử đẳng” (nay cái tâm ta đây chẳng có vô minh cho đến chẳng có lăo tử v.v...), thành tựu trọn chẳng có khổ, Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có khổ. Có hai cách hiểu ư nghĩa này của cổ đức:

1) Một là nói theo bản tánh, hai là nói theo sự tu tŕ. Nói theo bản tánh bèn dễ hiểu, v́ sao? Chân tâm vốn thanh tịnh, vốn chẳng có ư niệm, há có khổ! Như trong phần trước đă nói!

2) Ư nghĩa thứ hai là do tu được, đó là như kinh điển đă nói. Nếu nói “Vô Minh diệt, Hành diệt, cho đến Lăo Tử diệt”, đó là phương pháp để Bích Chi Phật đoạn phiền năo, chứng quả Bích Chi Phật. Ba thứ khổ ấy đều đoạn, phương pháp này của Ngài cao minh hơn A La Hán tu Tứ Đế.

Nhưng chư vị phải biết: Phương pháp cao minh nhất, rốt ráo nhất, viên măn nhất, c̣n thù thắng hơn phương pháp của Bích Chi Phật, đó là niệm một câu A Di Đà Phật, quư vị có biết niệm hay không? Quư vị chẳng biết niệm. V́ sao nói quư vị chẳng biết niệm? V́ trong niệm của quư vị vẫn dấy lên tham, sân, si, mạn, quư vị niệm câu Phật hiệu này chẳng thể diệt Vô Minh, chẳng thể diệt Hành, mà cũng chẳng thể diệt Ái, Thủ, Hữu. Do vậy, quư vị niệm Phật hiệu chẳng hữu dụng! Nếu câu Phật hiệu của quư vị có năng lực tiêu diệt Ái, Thủ, Hữu th́ một tiếng Phật hiệu sẽ diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Cách niệm là như vậy đó!

      Chư vị phải hiểu, chúng ta nhất định phải niệm sao cho đoạn sạch hết thảy các tâm sở phiền năo của chính ḿnh. Nói cách khác, bất luận trong cảnh giới nào, thuận cảnh cũng thế, mà nghịch cảnh cũng thế, phải giữ vững cái tâm b́nh thường của chính ḿnh. B́nh là b́nh đẳng, Thường là vĩnh viễn bất biến, phải ǵn giữ cái tâm ấy. Tâm ấy là Phật tâm, tâm ấy là chân tâm của chính ḿnh, chân tâm lưu lộ! Tâm ấy là tâm của chư Phật, Bồ Tát, quư vị phải nên ǵn giữ. Dùng phương pháp niệm Phật, cũng có thể nói là bất luận dấy lên niệm nào, ngay lập tức đổi nó thành A Di Đà Phật, khôi phục b́nh thường, quyết định chẳng để cho vọng niệm nối tiếp nhau dấy lên, [nếu để vọng niệm dấy lên] tức là mê rồi, càng mê sâu hơn! Nói đơn giản, rơ ràng hơn một chút th́ nhất định phải niệm sao cho chấp trước, phân biệt của chính ḿnh bị trừ sạch, phải biết tất cả hết thảy tội nghiệp đều do phân biệt và chấp trước dấy lên. Quư vị chẳng chấp trước, sẽ chẳng có chuyện ǵ. V́ chấp trước kiên cố, nên mới tạo thành vô lượng vô biên tội nghiệp. Phật pháp từ đầu tới cuối là phá chấp trước mà thôi! Phá Ngă Chấp, quư vị sẽ chứng quả A La Hán. Phá Pháp Chấp, quư vị là Bồ Tát. A La Hán khác với chúng ta ở chỗ nào? A La Hán chẳng có Ngă Chấp nên là A La Hán; chúng ta có Ngă Chấp nên là phàm phu. V́ sao vị ấy là Bồ Tát? Ngài chẳng có Pháp Chấp nên là Bồ Tát; chúng ta có Pháp Chấp. Pháp Chấp và Ngă Chấp đều trọn đủ, nên chúng ta chẳng phải là A La Hán hay Bồ Tát. Chư vị phải hiểu rơ những đạo lư sau đây: Như thế nào sẽ là niệm Phật hiệu đạt được công phu? Niệm đắc lực là ǵ? Niệm Phật hiệu như thế này th́ mới là hữu dụng, hiện tiền có thể diệt tội, diệt tội bèn sanh phước, trí tuệ và phước đức hiện tiền, quả báo tương ứng với Tây Phương A Di Đà Phật, trong tương lai, khi xả báo, chắc chắn văng sanh.

      “Vô thử thập nhị chi, tức chân giải thoát, thành thọ lạc nghĩa” (không có mười hai chi ấy, chính là chân giải thoát, trở thành ư nghĩa “hưởng các sự vui”). Mười hai nhân duyên đă đoạn, đă đoạn bèn thật sự giải thoát. Có thể thấy trong sự giải thoát ấy, đă giải ǵ? Thoát ǵ? “Giải” đối với mười hai chi, [tức là] cả mười hai chi đều giải trừ sạch. Mười hai chi ấy giống như mười hai sợi dây thừng trói thít chặt chúng ta, chẳng thể cựa quậy! Nay đă cởi trói rồi. Thoát là thoát sanh tử luân hồi, thoát phiền năo tập khí, đều thoát cả rồi. Đó mới là “thọ lạc” chân chánh.

 

      (Sao) Kinh vân: Vô Thượng Bồ Đề giác pháp lạc, vô thượng Niết Bàn tịch tĩnh lạc, giai lạc nghĩa dă.

      () 經 云:無 上 菩 提 覺 法 樂,無 上 涅 槃 寂 靜 樂,皆 樂 義 也。

      (Sao: Kinh dạy: “Vô Thượng Bồ Đề giác pháp lạc, Vô Thượng Niết Bàn tịch tĩnh lạc, đều là ư nghĩa của chữ Lạc”).

 

      Đây là nói về ư nghĩa của Lạc. “Vô Thượng Bồ Đề”, Bồ Đề dịch là Giác, [Vô Thượng Bồ Đề là] Vô Thượng Giác. Người Trung Quốc thường nói là Đại Giác, Đại Giác là Vô Thượng Bồ Đề. Đó là Trí Đức, là trí huệ viên măn. Kinh Vô Lượng Thọ nói tới năm thứ trí huệ bất khả tư nghị của A Di Đà Phật, khi ấy [người đă chứng Vô Thượng Bồ Đề] thảy đều trọn đủ [năm thứ trí huệ ấy].

      Vô Thượng Niết Bàn”, Niết Bàn là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Diệt, tức là Diệt trong Khổ Tập Diệt Đạo. V́ thế, nó là Đoạn Đức, đoạn phiền năo, đoạn Kiến Tư, đoạn Trần Sa, đoạn Vô Minh. Niết Bàn dịch là Đoạn Đức, Bồ Đề được dịch là Trí Đức, là trí huệ. Vô Thượng Niết Bàn là Đại Niết Bàn rốt ráo viên măn nơi quả địa Như Lai, cũng chính là Bồ Tát đă đoạn sạch một phẩm sanh tướng vô minh cuối cùng, chẳng c̣n có ǵ để có thể đoạn nữa! Đẳng Giác Bồ Tát c̣n có một phẩm sanh tướng vô minh phải đoạn. Ở đây là ngay cả một phẩm sanh tướng vô minh cuối cùng cũng đoạn sạch, nên gọi là Vô Thượng Đoạn Đức.

      “Giác pháp lạc” là đối với hết thảy vạn pháp, quá khứ, hiện tại, vị lai, không ǵ chẳng biết! Sự biết này chẳng phải là sự hiểu biết b́nh phàm, hời hợt, mà là hiểu rơ rốt ráo triệt để. Trong Phật pháp nói Thể, Tướng, Dụng, tức là thể tánh, tướng trạng, tác dụng, quá khứ, hiện tại, vị lai, nhân nhân, quả quả, chẳng có ǵ không minh bạch, chẳng có ǵ không hiểu rơ, đó là Lạc. Điều này được gọi là “giác pháp lạc”. Có thể biết hết thảy các pháp, chẳng bị hết thảy các pháp mê hoặc, chẳng bị hết thảy các pháp lay động, biết hết thảy các pháp như huyễn, như hóa. Kinh Kim Cang nói: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”, nên trong hết thảy các pháp chẳng có lấy - bỏ. Chúng ta lấy pháp này, ư niệm ấy đă sai rồi. Ta muốn bỏ nó th́ cũng trật luôn, chẳng có lấy, há có bỏ? Lấy - bỏ là tương đối. Có lấy th́ mới có bỏ, chẳng có lấy, lẽ đâu có bỏ? Do đó, trong hết thảy pháp chẳng có lấy - bỏ, đó là Lạc!

      V́ thế, Bồ Tát chẳng có lấy - bỏ, Ngài tự tại! Phàm phu lấy rồi không chịu bỏ, thứ ǵ cũng đều muốn chiếm hữu. A La Hán muốn bỏ, A La Hán cao hơn chúng ta, nhưng thua xa Bồ Tát. A La Hán muốn bỏ, lục đạo phàm phu muốn phải có, muốn lấy, nên [A La Hán và lục đạo phàm phu] đều vướng vào một bên. Bồ Tát là Trung Đạo, Trung Đạo là như thế nào? Chẳng lấy, chẳng bỏ, nên đối với hết thảy các pháp, Ngài có thể thuận theo tự nhiên. Do đó nói: “Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”. Tùy duyên là không lấy, không bỏ, nên trong hết thảy các pháp được thọ dụng tự tại. Lấy là sai lầm, mà bỏ cũng là sai lầm. V́ chúng ta lấy nên chẳng thể phá Ngă Chấp, chẳng thể phá Pháp Chấp. A La Hán và Bích Chi Phật bỏ, bỏ th́ sẽ như thế nào? Tuy có thể phá Ngă Chấp, nhưng chẳng thể phá Pháp Chấp. Phải là hai bên lấy - bỏ đều chẳng chấp trước, đều buông xuống, th́ mới có thể phá Pháp Chấp. V́ thế, đây là nói tới Bồ Đề giác pháp, Niết Bàn tịch tĩnh. Tịch tĩnh là rời khỏi lấy - bỏ, thật sự tịch tĩnh. Sự tịch tĩnh của hàng Tiểu Thừa là Thiên Chân Niết Bàn, chẳng phải là pháp tịch tĩnh rốt ráo viên măn.

 

      (Sao) Dĩ thượng thả thuận kinh văn khổ lạc đối đăi, như thật nhi thuyết, nhiễm kư bất lập, tịnh diệc hà tồn?

      () 以 上 且 順 經 文 苦 樂 對 待,如 實 而 說,染 既 不 立,淨 亦 何 存?

      (Sao: Trên đây là thuận theo kinh văn [để biện định] sự đối đăi giữa khổ và lạc, nếu nói theo lẽ thật th́ nhiễm đă chẳng lập, làm sao tịnh c̣n tồn tại cho được?)

 

      Những điều nói trên đây đều là nói tương đối, có khổ, có lạc, nay nói chân thật, “như thật nhi thuyết” nghĩa là chúng ta nói thật, nói chân thật th́ khổ và lạc chẳng tồn tại. Nhiễm kư bất lập” (nhiễm đă chẳng lập), chẳng có nhiễm, lấy đâu ra tịnh?

 

      (Sao) Tịnh uế song vong, khổ lạc b́nh đẳng, như tư chi lạc, năi sở dĩ vi Cực Lạc dă.

   () 淨 穢 雙 忘,苦 樂 平 等,如 斯 之 樂,乃 所 以 為 極 樂 也。

      (Sao: Tịnh lẫn uế cùng mất, khổ và lạc b́nh đẳng, vui sướng như thế nên gọi là Cực Lạc).

 

      Nêu rơ thể tánh của Cực Lạc. Bồ Tát trong thế giới Cực Lạc, ai nấy đều nhập cảnh giới chân thật, nên thế giới Cực Lạc là Nhất Chân pháp giới trong các Nhất Chân pháp giới. Pháp giới ấy tuyệt đối chẳng phải là phàm phu và Nhị Thừa mà ḥng chứng đắc! Chúng ta có thể văng sanh Tây Phương, chư vị phải hiểu, hoàn toàn là nương theo đại nguyện lực của A Di Đà Phật gia tŕ, nên chúng ta mới có thể từ địa vị phàm phu mà lập tức siêu nhập, cũng như là từ hạng phàm phu lè tè sát đất mà ngay lập tức siêu sanh đạt đến địa vị Pháp Thân đại sĩ, thật sự hy hữu, thật sự khó có! Trừ một môn này ra, trong bất cứ môn nào cũng đều chẳng có sự thật này, mà cũng chẳng có cách thuyết pháp này. Tịnh Độ thù thắng là thù thắng ở chỗ này!

 

      (Sao) Thánh giải hoàn thành ma cảnh, Phật kiến tảo đọa Thiết Vy.

      () 聖 解 還 成 魔 境,佛 見 早 墮 鐵 圍。

      (Sao: Đối với thánh giải lại trở thành cảnh ma, do sự thấy biết của Phật mà sớm đọa trong Thiết Vy).

 

      Đối với người tu hành chân chánh, hai câu này hết sức trọng yếu. Nay quư vị cầu hiểu kinh: Kinh này giảng theo cách nào? Có ư nghĩa ǵ? Nhọc nhằn dùi mài, người sơ học đều theo phương cách ấy, dùi mài! Đó gọi là “cùng niên toản cố chỉ” (quanh năm miệt mài nơi trang giấy cũ), khi nào quư vị mới có thể xuất đầu lộ diện? Nếu thật sự ngộ nhập hai câu trên đây, sẽ xuất đầu lộ diện được! Tôi thường bảo các đồng tu, kinh Phật chẳng có cách giảng [cố định nào], kinh Phật chẳng có ư nghĩa ǵ. Hai câu này đă chứng minh cho tôi. Nếu kinh Phật có một cách giảng [nhất định], giảng pháp, c̣n có ư nghĩa, v́ sao “thánh giải” biến thành “ma cảnh”? “Thánh giải” chẳng phải là lời giảng của phàm nhân, mà là lời giảng giải của Phật hay Bồ Tát. Nếu quư vị chấp trước, mê mờ nơi hết thảy các pháp do Phật đă nói, Phật cũng biến thành ma, học Phật trở thành vướng vào ma. Mỗi ngày đều nghiên cứu kinh, nghiên cứu đến cuối cùng bị ma dựa. Ma dựa là ǵ? Quư vị giảng kinh này chỗ nào cũng là đạo, giảng đến nỗi hoa trời rơi lả tả, nghe nói dường như chẳng sai tí nào, nhưng bị ma dựa rồi! Chẳng sai th́ cớ sao bị ma dựa? Kẻ ấy chẳng khai ngộ, chưa thấy tánh. Chưa thấy tánh nên gọi là ma dựa. Ma ǵ dựa kẻ ấy? Ma chấp trước văn tự, ma chấp vào kinh Phật! Kinh Phật giống như một tấm lưới, kẻ ấy miệt mài trong đó, giống như ở trong mê cung, lần ṃ chẳng ra, đi trong mê muội, mê trong kinh Phật, đă vướng phải ma!

      Phương pháp đọc tụng kinh điển của cổ nhân là dạy quư vị chớ nên có tâm phân biệt, mở kinh ra bèn một mực niệm, chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có vọng tưởng. Do vậy, đọc kinh là tu Giới, Định, Huệ, sẽ chẳng bị ma dựa! Đọc kinh là một phương pháp tu Giới, Định, Huệ. Dùng phương pháp này nhằm hoàn thành Tam Học Giới, Định, Huệ một lượt. Quư vị mỗi ngày niệm kinh một giờ, tức là quư vị tu Giới, Định, Huệ một giờ. Quư vị niệm kinh hai giờ là tu Giới, Định, Huệ hai giờ. Quư vị chớ nên nghiên cứu! Hễ nghiên cứu là hỏng rồi, trật rồi! Hễ nghiên cứu bèn rơi vào thức thứ sáu, tức Ư Thức. Thức thứ sáu (Ư Thức) là ma chướng, hành như thế nào? Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Bất tác thánh tâm, danh thiện cảnh giới. Nhược tác thánh giải, tức thọ quần tà” (nếu chẳng nghĩ là tâm đă chứng đắc cảnh giới thánh nhân th́ gọi là cảnh giới tốt lành. Nếu nghĩ là đă thông hiểu cảnh giới của thánh nhân bèn rớt vào các thứ tà). Đó là đă vướng vào ma! Bất luận cảnh giới nào hiện tiền, đặc biệt là năm mươi thứ Ấm Ma tức là năm mươi thứ cảnh giới được nói ở phần cuối kinh Lăng Nghiêm.

      Hiện thời, trong thế giới này, kẻ bị ma dựa rất nhiều, đều do ham kỳ chuộng lạ, kẻ này thấy quang minh, kẻ kia thấy Phật, thấy Bồ Tát, [pháp sư giảng kinh hoặc hành nhân hiện thân lơ lửng] ĺa khỏi mặt đất ba thước, có hiện tượng ấy hay không? Thưa cùng quư vị, có thật! Kẻ ấy nói [những chuyện lạ lùng ấy] tôi đều thừa nhận, quyết định chẳng phải là giả, đúng là có những hiện tượng ấy, nhưng thấy những hiện tượng ấy th́ sao? Đức Phật dạy chúng ta đừng quan tâm đến nó th́ quư vị sẽ chẳng có chuyện ǵ. Nếu quư vị bận tâm, hoặc là hoan hỷ, hoặc là sợ hăi, quư vị sẽ bị ma dựa. Hiện thời có nhiều kẻ chuyên môn học những thứ đó, người bị mắc hại rất nhiều! Học Phật như vậy, nếu kẻ ấy thật sự dụng công, thật sự tinh tấn, thật sự nghiêm túc tu học, đại khái chưa đến một hai năm sẽ bị bệnh thần kinh. Người thế gian chúng ta gọi kẻ ấy là “thần kinh phân liệt” (Schizophrenia), trong Phật pháp gọi là “ma dựa”, rất đáng thương, mà cũng rất đáng tiếc! V́ vậy, đối với hết thảy cảnh giới đều chẳng quan tâm tới, giữ ǵn tâm cảnh của quư vị b́nh thường, như vậy là tốt!

      “Phật kiến tảo đọa Thiết Vy”: Trong kinh có một công án, Văn Thù Bồ Tát nói tối hôm trước Ngài thấy Phật, thấy Pháp, tức là thấy Phật nghe pháp, Thích Ca Mâu Ni Phật bảo: “Ta đă sớm đánh văng ông ta xuống Thiết Vy rồi”. Há có thấy Phật? Há có thấy Pháp? Chẳng có Phật, mà cũng chẳng có Pháp! Phật là giác, Pháp là chánh tri chánh kiến. Phật là giác chứ không mê, “Giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không nhiễm”, là một mà ba, tuy ba mà một, lấy đâu ra thấy Phật, thấy Pháp? Thưa cùng quư vị, nói theo Tông Môn, hai câu ấy là “hướng thượng nhất trước” (hướng tới cảnh giới tối cao), là cảnh giới cao nhất. Chúng ta không đạt được, vẫn phải đọc kinh, vẫn phải nghiên cứu, nhưng phải hiểu [đọc kinh, nghiên cứu] là thứ bậc trung hạ trong Phật pháp, chẳng phải là Phật pháp tối cao. Trong Phật pháp tối cao th́ những việc ấy đều chẳng có, quư vị mới có thể thật sự chứng đắc “vạn pháp như một, chúng sanh và Phật bất nhị”, chúng sanh và Phật là một, chẳng hai. Đó là nói đến cảnh giới cao nhất.

 

      (Sao) Thị cố ngă quán Cực Lạc, thật vô khả lạc. Nhược hữu khả lạc, dữ khổ hà biệt?

   ()是 故 我 觀 極 樂,實 無 可 樂,若 有 可 樂,與 苦 何 別。

      (Sao: V́ thế, ta quán cơi Cực Lạc thật sự không có ǵ để có thể vui. Nếu có thứ ǵ để có thể vui th́ cùng với khổ có khác ǵ đâu?)

 

      Nói với quư vị lời chân tâm và cảnh giới chân thật. Tây Phương Cực Lạc thế giới có lạc hay không? Nếu quư vị nghĩ nó thật sự có lạc th́ lạc và khổ có ǵ khác nhau? Lạc là khổ, lạc là Hoại Khổ! Do v́ đạt đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, cảnh giới ấy chẳng có khổ mà cũng chẳng có lạc, nên gọi là Cực Lạc! Chư vị phải hiểu, khổ và lạc là tương đối, chẳng có bên này sẽ chẳng có bên kia. Có lạc sẽ tất nhiên sẽ c̣n có khổ tồn tại! Hiện thời, quư vị tu hành đến một giai đoạn kha khá, quư vị sẽ hiểu, trong thế gian này chẳng có khổ mà cũng chẳng có lạc, đó là thoải mái nhất. Có khổ bèn mong lạc, nhưng có lạc, ắt phải có khổ. Do vậy, quư vị đừng nghĩ thế giới Cực Lạc rất vui sướng. Nếu quư vị nghĩ như vậy, tức là đă nghĩ lầm, hoàn toàn hiểu lầm mất rồi! Khổ, lạc, ưu, hỷ, xả thảy đều chẳng có, sẽ là chân lạc, là Cực Lạc! Hôm nay đă hết thời gian tới rồi, chúng tôi giảng tới đây!

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 67 hết



[1] Vô lượng trong hữu lượng: Vô lượng có hai cách hiểu:

1. Không thể tính đếm được nên gọi là vô lượng.

2. Vô lượng là tên một trong mười con số lớn theo toán pháp của cổ Ấn Độ. Dẫu con số ấy lớn đến mấy, vẫn tính được, vẫn có số lượng nhất định nên gọi là “vô lượng của hữu lượng”

[2] Gọi là bút sắt (thiết bút) là các loại bút thông thường, không phải là bút lông (mao bút) truyền thống chuyên dùng để viết chữ Hán.

[3] Đây là mười đề mục quán tưởng trong Duyên Khởi Quán của bậc Thất Địa Bồ Tát được giảng trong phẩm Thập Địa của kinh Bát Thập Hoa Nghiêm. Mười đề mục quán tưởng ấy là Hữu Chi Tương Tục Môn, Nhất Tâm Sở Nhiếp Môn, Tự Nghiệp Sai Biệt Môn, Bất Tương Xả Ly Môn, Tam Đạo Bất Đoạn Môn, Tam Tế Luân Hồi Môn, Tam Khổ Tụ Tập Môn, Nhân Duyên Sanh Diệt Môn, Sanh Diệt Hệ Phược Môn và Vô Sở Hữu Tận Quán Môn.