A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 68
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong
Tập
135
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang hai trăm chín
mươi ba:
Nhị, biệt thị trang
nghiêm.
二 別 示 莊
嚴。
(Hai,
nêu bày riêng biệt từng sự trang nghiêm).
Đây là đoạn kinh văn
thứ hai, Biệt Thị Trang Nghiêm. Đoạn văn
lớn này được chia thành bốn tiểu
đoạn, khoa đề (tiểu đề) của
bốn tiểu đoạn được nêu ra như dưới
đây. Sau đây là tiểu đoạn thứ nhất trong
bốn tiểu đoạn.
Sơ lan vơng, hàng thụ.
初 , 欄 網 行
樹。
(Đầu
tiên là lan can, lưới, hàng cây).
Chúng ta đọc kinh văn:
(Kinh) Hựu Xá Lợi Phất.
Cực Lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn,
thất trùng la vơng, thất trùng hàng thụ, giai thị
tứ bảo châu táp vi nhiễu.
(經) 又 舍 利
弗。極 樂 國 土。七 重 欄
楯。七 重 羅 網。七 重 行
樹。皆 是 四 寶 周 匝 圍 繞。
(Kinh: Lại này Xá Lợi
Phất! Cơi nước Cực Lạc bảy tầng lan
can, bảy tầng lưới mành, bảy lớp hàng cây,
đều bằng bốn báu vây quanh trọn khắp).
Xin xem chú giải.
(Sớ) Thử chánh minh lạc
sự dă. Lan thuẫn vi ư thụ ngoại, la vơng phú
ư thụ thượng, trùng trùng tương gián, kỳ
số hữu thất dă. Tứ bảo giả, thất
bảo tiền tứ dă. Châu táp giả biến măn, vi
nhiễu giả hồi hộ, ngôn trùng trùng giai tứ
bảo sở nghiêm sức dă.
(疏) 此 正 明 樂 事 也。欄 楯 圍 於 樹 外,羅 網 覆 於 樹 上,重 重 相 間,其 數 有 七 也。四 寶 者,七 寶 前 四 也。周 匝 者 遍 滿,圍 繞 者 迴 護,言 重 重 皆 四 寶 所 嚴 飾 也。
(Sớ: Đây là chánh thức
nói rơ các sự vui [trong cơi Cực Lạc]. “Lan thuẫn” (lan
can) là thứ [vây quanh] phía ngoài hàng cây, “la vơng” (lưới
mành) là thứ phủ trên cây, tầng tầng lớp
lớp xen kẽ, số lượng có bảy lớp.
“Tứ bảo” là bốn thứ đầu trong bảy báu.
“Châu táp” là trọn khắp, “vi nhiễu” là bao quanh. Ư nói
mỗi tầng đều được trang hoàng bằng
bốn thứ báu).
Đoạn
này hoàn toàn thuật bày sự tướng, chẳng khó
hiểu, nhưng ư nghĩa được bao hàm trong ấy
vô cùng phong phú, trong ấy có nhiều ư nghĩa biểu
thị pháp mà chúng ta cần phải biết. Đầu tiên
là nêu nguyên do v́ sao Tây Phương thế giới
được gọi là “thế giới Cực Lạc”,
đương nhiên giảng tỉ mỉ và thấu
triệt nhất là kinh Vô Lượng Thọ;
tuy kinh này (kinh A Di Đà) nói giản lược, nhưng
bản chú giải này của Liên Tŕ đại sư có
thể nói là đă chú giải rất tường tận. Ở đây là nói về nghĩa lư
của các sự vui trong thế giới Tây Phương.
“Lan thuẫn”, lan (欄) là [thanh] nằm ngang [trong lan can],
thuẫn (楯) là [các thanh] thẳng đứng. Tại Trung Quốc và ngoại quốc, hết
sức chú trọng cách trang hoàng bằng lan
thuẫn như vậy. Tại Bắc Kinh, nh́n vào hoàng cung,
sẽ thấy từng đoạn Lan Thuẫn đều vô
cùng đẹp mắt. “La vơng”
chẳng thường thấy. Xưa kia, các kiến trúc
như cung điện nhất định có la vơng. Hiện
thời, trong rất nhiều tự viện có quy mô lớn
ở Nhật Bản có la vơng; quá nửa là dùng sợi dây đồng
để bện thành, có tác dụng bảo vệ các tác
phẩm nghệ thuật, v́ các cột, kèo đều là
những tác phẩm nghệ thuật cao cấp,
thường được gọi là “điêu lương, họa đống” (xà
chạm, kèo vẽ), sợ chim chóc làm tổ gây hư
hại, nên dùng lưới đồng để bảo
vệ. Quư vị có thể thấy [các kèo cột chạm
vẽ công phu ấy] từ bên ngoài, nhưng chẳng
thể đụng chạm, có tác dụng như vậy
đó. Giữa các lưới cũng rất chú trọng,
trang hoàng bằng bảo châu và phong linh nên vô cùng đẹp
đẽ.
Từ Đại Kinh, chúng ta
đọc thấy cây cối trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới chẳng phải là cây cỏ thông
thường. Cây cối trong thế giới ấy bằng
bảy báu, là “bảo thụ”
(cây báu). Do vậy, trên cây đều có giăng la vơng. Tây
Phương Cực Lạc thế giới chẳng có tam ác
đạo, tuyệt đối chẳng phải nhằm ngăn
ngừa chim chóc làm tổ. Lưới mành thuần túy
thuộc loại trang sức phẩm. Không chỉ là trang
sức, mà c̣n có tác dụng hết sức kỳ diệu.
Từ Đại Kinh, chúng ta thấy các lưới ấy
có thể tỏa ánh sáng, trong ánh sáng có thể hiện h́nh
tượng của các cơi Phật trong mười
phương, giống như h́nh ảnh trong TV. Quư vị
muốn thấy nơi nào trong hết thảy các cơi
Phật khắp mười phương, h́nh tướng
nơi cơi ấy bèn hiện trong quang minh tỏa ra từ
lưới.
Ánh sáng tỏa ra từ
lưới hiển hiện h́nh tướng, khoa học
kỹ thuật hiện thời cũng dần dần
đạt tới cảnh giới này, nhưng hiện
thời chưa phổ biến, chúng ta gọi kỹ
thuật ấy là “lập
thể điện thị” (3DTV). Ở Mỹ, tôi đă
từng xem qua, chẳng cần màn ảnh. Quư vị
thấy người trong ấy cử động giống
như thật, hoàn toàn là h́nh bóng, quyết định
chẳng phải là chân thật, nhưng quư vị thấy
hoàn toàn giống như thật, chẳng cần đến
màn h́nh, hoàn toàn là [h́nh ảnh] lập thể. Trong
tương lai, khi kỹ thuật này dần dần phổ
biến, chẳng cần tới máy TV nữa! H́nh
người có thể phóng lớn hay thu nhỏ, thậm chí
chúng ta đi tới đó, bản thân chúng ta bị
chiếu lên, thấy chính chúng ta đi trong đó,
người biến thành nhỏ xíu, mặc quần áo
chẳng khác chính ḿnh chút nào! Do vậy, chúng ta có thể
tưởng tượng, đại khái lưới và cây
nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới
giống như 3DTV, hết thảy các cơi nước trong
mười phương quư vị đều có thể
tiếp xúc, đều có thể thấy bất cứ lúc
nào. Người nhà, quyến thuộc bất luận ở
trong thế giới nào, bất luận ở trong
đường nào, có thể nói là thời thời khắc
khắc đều có thể gặp mặt. Tây
Phương Cực Lạc thế giới thù thắng khôn
sánh!
“Kỳ
số hữu thất” (số lượng đến
bảy [lớp, tầng, hàng]), “bảy” mang ư nghĩa
biểu thị pháp, chẳng phải là con số. Nếu là
con số, quư vị nghĩ xem, thế giới Cực
Lạc có ǵ đáng vui thú để nh́n! Mỗi thứ đều
là bảy lớp, chẳng có kiểu cách nào khác, cứng
ngắc, rập khuôn, chẳng có ư nghĩa ǵ hết!
“Bảy” tượng trưng cho sự viên măn, viên măn là ǵ?
Phải tùy thuận ư nghĩ của chính ḿnh, đó là viên
măn. Ta ưa thích ra sao, nó bèn biến ra như thế, đó
mới gọi là “viên măn”. Con số Bảy tượng
trưng cho bốn phương, trên, dưới và chính
giữa, viên măn! Nó biểu thị pháp. Giống như trong
kinh Hoa Nghiêm đă dùng Mười để biểu thị
pháp. Mười là con số viên măn, tượng trưng
sự viên măn về phương vị, nên nó chẳng
phải là con số. “Thất
trùng” là viên măn, quư vị thích dạng thức nào, nó bèn
[biến hóa] dạng thức đó, thích bao nhiêu tầng bèn
hiện bấy nhiêu tầng. Nói chung, Tây Phương
Cực Lạc thế giới không có chuyện ǵ chẳng
phải là “thuận theo ḷng ưa muốn”, đó mới là
tự tại.
“Tứ
bảo” cũng là nêu lên đại lược. Liên Tŕ
đại sư bảo chúng ta [“tứ bảo”] là “thất bảo tiền tứ”
(bốn thứ đầu trong bảy báu), bốn thứ
đầu tiên. Trong Đại Kinh đă chỉ dạy rơ
ràng, Tây Phương Cực Lạc thế giới có vô
lượng vô biên vô tận kho báu, nên Thất trong “thất bảo” tượng
trưng cho sự viên măn. Nói cách khác,
tất cả hết thảy bảo vật Tây
Phương Cực Lạc thế giới đều có,
chẳng thiếu khuyết, đó mới là viên măn.
(Sao) Lan Thuẫn giả, hoành
viết Lan, trực viết Thuẫn. Thử phương
hoa mộc, diệc tác lan thuẫn.
(鈔) 欄 楯 者,橫
曰 欄,直 曰 楯,此 方 花
木,亦 作 欄 楯。
(Sao: Lan Thuẫn: Thanh nằm
ngang gọi là Lan, thanh thẳng đứng là Thuẫn.
Đối với hoa cỏ, cây cối, cơi này cũng làm lan
can [bao quanh]).
Đối với hoa cỏ, cây
cối trong cơi này, chúng ta cũng dùng lan can để bao
quanh.
(Sao) Nhất, pḥng vật tổn.
(鈔) 一 防 物
損。
(Sao: Lư do thứ nhất là để
ngăn ngừa các con vật làm hư hại)
Ngăn ngừa tổn hại.
(Sao) Nhị, thị mỹ quan.
Bỉ độ tuy ngưu dương tuyệt mục.
(鈔) 二 示 美
觀。彼 土 雖 牛 羊 絕 牧。
(Sao: Hai là do vẻ mỹ quan.
Tuy cơi ấy trọn chẳng chăn nuôi trâu, dê).
Thế giới ấy chẳng
có súc sanh, lan can hoàn toàn nhằm tạo vẻ mỹ quan.
(Sao) Ngoạn hảo vô tâm, nhi
vạn hạnh công đức chi sở trang nghiêm, nhậm
vận thành tựu dă.
(鈔) 玩 好 無 心,而 萬 行 功 德 之 所 莊 嚴,任 運 成 就 也。
(Sao: Mà cũng không nhằm
thỏa ḷng ưa thích, mà là do được vạn
hạnh công đức trang nghiêm nên tùy ư thành tựu).
Phải ghi nhớ câu này, Tây
Phương Cực Lạc thế giới chẳng có
một thứ nào là kiến tạo. Chúng ta phải
thiết kế, lo toan, chế tạo ư? Chẳng hề
có! Hết thảy vạn vật, h́nh tượng trong
thế giới Tây Phương đều là tự nhiên
biến hiện, giống hệt như Tha Hóa Tự
Tại Thiên trong thế giới Sa Bà của chúng ta. Đó là
tầng trời cao nhất trong Dục Giới. Tầng
trời thứ sáu [trong Dục Giới] là Tha Hóa Tự
Tại Thiên (Parinirmita-vaśavartin). Nói thật ra, Tha Hóa
Tự Tại Thiên chẳng cần tự ḿnh biến hóa.
Tầng trời thứ năm là Hóa Lạc Thiên (Nirmānarati)
muốn dùng thứ ǵ th́ chính ḿnh phải biến hóa.
Phước báo của Đệ Lục Thiên to hơn
họ, hoàn toàn chẳng cần tự ḿnh biến hóa, trong
tâm vừa dấy một niệm, những thứ ấy
đều hiện tiền. V́ vậy, Tây Phương
Cực Lạc thế giới là tùy ư hiện tiền.
(Sao) La vơng nghĩa đồng
thử.
(鈔) 羅 網 義 同 此。
(Sao: Lưới mành có cùng ư
nghĩa ấy).
Hết
thảy biến hóa đều là tự nhiên, đó gọi
là “vạn đức trang
nghiêm”, tự nhiên trang nghiêm.
(Sao) Hàng thụ giả, thứ
đệ thành hàng, vô thác loạn dă.
(鈔) 行 樹 者,次 第 成 行,無
錯 亂 也。
(Sao: “Hàng thụ”: Xếp thành
hàng trật tự, chẳng rối loạn).
Chỉnh tề, đẹp
mắt, lại c̣n là từng loại một [phân minh], cho
thấy vô cùng đẹp mắt.
(Sao) Thất trùng giả, nhất
trùng lan vơng, vi phú nhất trùng hàng thụ, cố viết
trùng trùng tương gián dă.
(鈔) 七 重 者,一 重 欄 網,圍
覆 一 重 行 樹,故 曰 重 重
相 間 也。
(Sao: Bảy lớp: Một
lớp lan can và lưới mành bao quanh, vây phủ một
tầng hàng cây, nên nói là “tầng tầng lớp lớp xen
kẽ”).
Lưới mành và hàng cây cũng
trùng trùng vô tận, tầng tầng lớp lớp xen
kẽ nhau.
(Sao) Tam sự tuy thử
phương diệc hữu.
(鈔) 三 事 雖 此 方 亦 有。
(Sao: Tuy phương này cũng
có ba chuyện ấy).
Trong thế
gian này của chúng ta cũng có lan can, lưới mành, hàng
cây, nhưng tánh chất của chúng chẳng sánh bằng Tây
Phương Cực Lạc thế giới.
(Sao) Nhi chất duy mộc
thạch.
(鈔) 而 質 唯
木 石。
(Sao: Nhưng chất liệu
chỉ là gỗ, đá).
Đây là nói đến phẩm
chất.
(Sao) Bỉ thuần dĩ bảo
dă.
(鈔) 彼 純 以 寶 也。
(Sao: Cơi kia [những thứ
ấy] thuần bằng chất báu).
Hàng cây, lan can, lưới mành
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
đều bằng chất báu.
(Sao) Thất bảo tiền
tứ giả, kim, ngân, lưu ly, pha lê.
(鈔) 七 寶 前
四 者,金 銀 琉 璃 玻 璃。
(Sao: “Bốn chất
đầu trong bảy báu” là vàng, bạc, lưu ly và pha lê).
Bốn loại đầu trong
bảy báu, là “hoàng kim, bạch
ngân, lưu ly, pha lê”. Thời cổ chẳng có Pha Lê
(Sphatika), Pha Lê được phát minh cách đây cũng
chẳng lâu lắm. Pha Lê nói trong kinh Phật nay ta gọi
Thủy Tinh. Trước đây chẳng thấy từ
ngữ Thủy Tinh, người đời
Đường nói Pha Lê th́ đó là Thủy Tinh thiên nhiên.
Thủy tinh hiện thời [được chế tạo
bằng phương pháp] hóa học, do chính sức
người làm ra. Lưu Ly (Veluriyam, Vaidūrya, Lapis Lazuli) là Phỉ Thúy, nay
chúng ta gọi là Lục Sắc Ngọc, so với các
loại ngọc thông thường có giá trị cao hơn
rất nhiều. Ở Tây Phương Cực Lạc
thế giới, bốn thứ báu này hết sức phổ
biến, hết sức nhiều!
(Sao) Châu táp vi nhiễu giả,
như Thụy Tướng Kinh vân.
(鈔) 周 匝 圍 繞 者,如 瑞 相 經 云。
(Sao: “Châu táp vi nhiễu” là
như kinh Thụy Tướng nói).
Kế đó, Liên Tŕ đại
sư dẫn kinh để chứng minh, Ngài trích dẫn
tổng cộng chín đoạn, đều nhằm
chứng tỏ ư nghĩa “châu
táp vi nhiễu”. Đoạn thứ nhất nói về
lưới mành, chúng ta đọc đoạn văn
ấy, tức là đoạn kinh văn được chép
trong kinh Thụy Tướng.
(Sao) Vô lượng bảo vơng,
giai dĩ kim lũ trân châu, bách thiên tạp bảo, trang
nghiêm hiệu sức, châu táp tứ diện, thùy dĩ
bảo linh, quang sắc hoa diệu, la phú thụ lâm.
(鈔) 無 量 寶 網,皆 以 金 縷 珍 珠,百 千 雜 寶,莊 嚴 較 飾,周 匝 四 面,垂 以 寶 鈴,光 色 華 耀,羅 覆 樹 林。
(Sao: Vô lượng lưới
báu đều dùng sợi bằng vàng [để xuyên
kết] trân châu, trăm ngàn các thứ báu khác nhau trang hoàng,
tô điểm, vây kín bốn phía, linh báu treo rủ, ánh sáng và
màu sắc rực rỡ, chói lọi, che phủ rừng
cây).
Đây là tiểu đoạn
thứ nhất, chúng ta đọc xong bèn tưởng
tượng cảnh giới ấy vô cùng đẹp
đẽ, giống như trong tranh vẽ vậy. Có
thể thấy thế giới Cực Lạc vật
chất dồi dào, sung túc, chẳng có ǵ mà ḥng sánh bằng.
Tuy nói là “kim”, có danh xưng
giống như vàng ṛng trong thế gian này, thực chất
hoàn toàn khác hẳn. Trong kinh, đức
Phật đă dạy, nói theo nguyên lư là “cảnh chuyển theo tâm”, “cảnh” là hoàn cảnh, [“cảnh chuyển theo tâm”
là] hoàn cảnh vật chất chuyển theo tâm. Nghiệp do
tâm tạo, tâm tạo nghiệp. Nếu hết thảy chúng
sanh đều tạo thiện nghiệp, vật chất trong
thế gian này sẽ biến đổi, biến thành khá
nhiều thứ trân bảo. Những thứ kim, ngân,
thất bảo ấy, chỗ nào cũng đều có.
Nếu ḷng người tạo ác nghiệp, những
thứ trân bảo ấy chẳng c̣n nữa, chúng cũng
bị biến đổi, biến thành cát, đất,
đá, biến thành những thứ ấy.
Đại địa trong
thế giới Cực Lạc thảy đều là bảy
báu. Đại địa trong thế giới của chúng
ta cũng là bảy báu, nhưng bảy báu đă bị
biến chất. Biến như thế nào? Biến theo ḷng
người. Có thể thấy vật chất chẳng
phải là thật, vật chất là giả, duy tâm sở
hiện, duy thức sở biến, do chính ḿnh biến
hiện. Chính ḿnh biến ra để chính ḿnh hưởng
dụng. Nếu quư vị không tin, tôi nêu một thí dụ
cho quư vị nghe, quư vị hăy khéo suy nghĩ kỹ sẽ
dần dần tin tưởng. Ví dụ như quư vị là
một người tâm địa hết sức thiện
lương. Hằng ngày đều nghĩ đến
chuyện tốt, đêm ngủ luôn là mộng đẹp, những
vật chất hưởng thụ trong mộng đều
đẹp đẽ vô cùng. Nếu quư vị hằng ngày
nghĩ tới chuyện ác, mỗi đêm đều gặp
ác mộng, cảnh giới trong mộng là ngạ quỷ,
địa ngục, sợ đến nỗi khắp thân đẫm
mồ hôi lạnh, kinh hoàng tỉnh giấc. Quư vị hăy xem
cảnh giới ấy, thiên đường và địa
ngục trong mộng do đâu mà có? Chẳng có [thứ ǵ
đến từ bên ngoài], mà do trong tâm của chính quư
vị biến hiện. Thiện tâm biến thành thiện
cảnh giới, ác tâm biến thành ác cảnh giới.
Từ cảnh mộng mỗi
đêm, có thể trắc nghiệm công phu và cảnh
giới của chính ḿnh. Trước kia, chưa học
Phật, ác mộng thật nhiều, học Phật
mấy năm, tuy vẫn nằm mơ, nhưng ác mộng
dần dần ít đi, đó là tiến bộ. Lại
tiến hơn bước nữa, ác mộng trọn
chẳng có, nằm mộng chẳng rất loạn, sẽ
hiểu rơ ràng, minh bạch. Lại càng thù thắng hơn
nữa là thường xuyên mộng thấy Phật, Bồ
Tát, mộng thấy giảng kinh, mộng thấy nghe kinh,
mộng thấy niệm Phật, dự Phật Thất,
nằm mộng những chuyện ấy. Tốt lắm!
Ban ngày tu hành, buổi tối vẫn tiếp tục không
ngừng. Đó là cảnh giới tốt đẹp,
thường nói là “nhật
hữu sở tư, dạ hữu sở mộng” (ngày
nghĩ ǵ, đêm mộng đó). Cùng một đạo lư,
v́ sao Tây Phương Cực Lạc thế giới tốt
đẹp ngần ấy? Ḷng người tốt
đẹp! Tâm chẳng tốt đẹp sẽ không
thể văng sanh, không thể đến đó, đạo lư
là như vậy đó! V́ thế, thời cổ, vàng,
bạc, bảy báu nhiều, hiện thời ít ỏi,
hiện thời những thứ này [hầu như]
chẳng c̣n nữa. V́ sao chẳng có? Biến chất
rồi! Biến đổi theo ḷng người mất
rồi. Chúng ta nhất định phải hiểu rơ ràng đạo
lư này!
V́ thế, nếu muốn văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
đối với chúng ta mà nói th́ chỉ một câu A Di
Đà Phật chưa đủ dùng, nhưng có một
hạng người [đối với họ, câu niệm
Phật] rất hữu dụng, người như thế
nào? Người thật thà. Chúng ta là những kẻ
chẳng thật thà, cho nên đối với chúng ta
[chỉ một câu Phật hiệu đơn độc]
sẽ vô dụng. V́ sao nói là chẳng thật thà? Niệm
câu A Di Đà Phật vẫn dấy lên vọng
tưởng, một hồi nghĩ chuyện này, một hồi
nghĩ chuyện khác, chẳng thật thà! Nếu quư vị
thật thà, nói thật ra, kinh luận ǵ cũng đều chẳng
cần, một câu A Di Đà Phật niệm đến
cùng, quyết định văng sanh, vọng niệm ǵ, nghi
lự ǵ đều chẳng c̣n nữa! V́ sao tôi biết các
vị chẳng thật thà? V́ các vị thường
đến hỏi tôi, hỏi này, hỏi nọ, tức là
chẳng thật thà. Người thật thà chắc
chắn chẳng có nghi vấn. Hễ quư vị có câu
hỏi, sẽ là chẳng thật thà! Người chẳng
thật thà bèn làm như thế nào? Phải cậy vào kinh
giáo! Nói cách khác, kinh giáo giúp chúng ta học thật thà.
Hiện thời, chúng ta lắm nỗi nghi lự, nhiều
câu hỏi; hễ các đạo lư trong kinh điển
đều hiểu rơ ràng th́ những câu hỏi ấy đều
chẳng c̣n nữa, đoạn nghi sanh tín mà! Sau đó,
mới học làm một kẻ thật thà, chắc
chắn có thể thành tựu. Do vậy nói “có thể văng
sanh hay không là do hai chữ Thật Thà!” Thật thà bèn có thể
văng sanh, không thật thà sẽ chẳng thể văng sanh,
rất trọng yếu! Đó là nói về vật chất
chuyển biến, v́ sao Tây Phương Cực Lạc
thế giới tốt đẹp dường ấy là có
đạo lư.
C̣n về phương pháp tu
hành, thưa cùng quư vị, Phật pháp và hết thảy các
pháp thế gian chỉ khác nhau ở một chỗ, tức
là Phật pháp chú trọng tu Định. Bất cứ tôn
giáo nào, bất cứ học thuật nào trong thế gian
đều chẳng nói đến tu Định, chỉ có
Phật pháp chú trọng tu Định. V́ sao? Định
mới có thể sanh ra trí huệ chân thật, Giới,
Định, Huệ! Tŕ giới nhằm mục đích
đắc Định, giúp cho quư vị đắc
Định. Vậy mà người tŕ giới trong hiện
thời chẳng thể đắc Định, v́ sao họ
chẳng thể đắc Định? Vẫn là một
câu nói cũ mèm! Chẳng thật thà! Thế nào là kẻ tŕ
giới chẳng thật thà? Người ấy tŕ giới
khá lắm, nhưng thấy kẻ này chẳng tŕ giới, thấy
kẻ kia phạm giới, trong tâm cảm thấy chẳng
thoải mái, làm sao có thể đắc Định cho
được? Người ấy chẳng đắc
Định! Người thật thà là bản thân ta tŕ
giới của ta, c̣n người khác tŕ giới hay chẳng
tŕ giới, ta chẳng thấy, không biết, chẳng
quản chuyện người khác. Lục Tổ đă
dạy: “Nếu người
thật tu đạo, chẳng thấy lỗi người
khác”, người ấy đă đắc Định. Do
vậy nói, vẫn phải là thật thà, ngay cả tham
Thiền cũng phải thật thà, v́ không thật thà
sẽ chẳng thể đắc Định, mà cũng
chẳng thể khai ngộ. V́ thế, chuyện thị -
phi, thiện - ác của người khác, ta nhất loạt
chẳng màng, chẳng liên can ǵ đến ta th́ ta mới có
thể đắc Định. Thường chuộng
quản chuyện trời ơi của kẻ khác, kẻ
ấy chẳng thật thà, là kẻ chẳng thật thà
đúng tiêu chuẩn, chẳng thành tựu chuyện ǵ!
Dẫu bề ngoài tu hành tốt đẹp cách mấy,
đến cuối cùng vẫn là xôi hỏng bỏng không!
Tu hành có công phu thật sự
hay không là ở một chiêu cuối cùng, tức là coi quư
vị ra đi như thế nào? Người thật
sự có công phu biết trước lúc mất, chẳng
bị bệnh khổ, như nhập Thiền Định,
đó là công phu chân thật. Quư vị đọc Lục
Tổ Đàn Kinh, Lục Tổ đại sư biết
thời điểm văng sanh từ hai năm trước,
tuyệt diệu lắm. Ngài sai người sang chùa
Quốc Ân dựng tháp, bảo người ấy: “Ông
phải thay tôi xúc tiến công việc cho nhanh”, nhằm
chuẩn bị v́ Ngài sắp văng sanh. Trước đó hai
năm, Tổ đă sai người dựng tháp, chuẩn
bị hậu sự, người ta thật sự có công
phu. Thầy Lư văng sanh cũng là trong khi giảng kinh vào hai
năm trước đó, đă tuyên bố cùng mọi
người: “Tôi chỉ giảng kinh hai năm nữa thôi!”
Đồng tu ở Đài Trung nghe nói vậy liền lên
Đài Bắc hỏi tôi: “Thầy nói câu ấy có nghĩa là
ǵ?” Tôi nói: “Hai năm nữa thầy sẽ văng sanh. Có
nghĩa là ǵ? Thầy trụ thế để giảng
kinh. Thầy không giảng kinh sẽ chẳng cần
trụ nơi đây nữa, phải ra đi”. Quả nhiên,
hai năm sau thầy mất. Từ hai năm trước,
thầy đă tuyên bố tin tức ấy với mọi
người. Đúng là chẳng thể lừa người
được! Suốt đời làm bộ làm tịch có
thể gạt kẻ khác, chứ đến cuối cùng
vẫn ló đuôi chồn, là thật hay giả,
người khác bèn thấy rơ ràng, minh bạch!
V́ thế, điều thứ
nhất là chúng ta phải học thật thà. Thứ hai là
phải biết phương pháp tu hành, phương pháp
ấy là phải tu Định. Nếu muốn tu
Định th́ trước hết phải tu bố thí,
phải tu nhẫn nhục. Bố thí ǵ vậy? Buông
xuống, buông vọng tưởng xuống, buông ư niệm
bất b́nh xuống, buông ư niệm thích lo chuyện tào lao,
thảy đều buông xuống, đó là bố thí. Bố
thí là buông xuống. Nhẫn nhục là nhẫn nại, trong
cuộc sống, xử sự, đăi người, tiếp
vật, thứ ǵ cũng phải nhẫn, mọi chuyện
đều phải nhẫn, tu hành cũng phải nhẫn.
V́ vậy, cổ nhân dốc sức nơi một bộ
kinh, học bộ kinh ấy bao lâu? Học năm năm,
suốt năm năm chẳng xem bộ kinh thứ hai.
Nhằm huấn luyện ǵ? Huấn luyện ḷng kiên
nhẫn, huấn luyện định lực, người
ấy chẳng có vọng tưởng. Ta học một
bộ kinh này, trong óc chẳng nghĩ đến bộ
thứ hai, tâm đă định, định suốt năm
năm, như vậy là có cơ sở kha khá. Dùng cơ
sở ấy để nghiên cứu các kinh luận khác, thâm
nhập kinh tạng, như vậy th́ mới
được, mới thật sự có thành tựu. Con
người hiện thời chẳng có cơ sở ấy,
đừng nói là kinh điển này, đọc một
lần c̣n miễn cưỡng, đọc đôi ba lần
sẽ chẳng muốn đọc nữa, lập tức
muốn thay đổi. Nếu một năm xem mấy
chục loại, xem đến nỗi đầu óc rối
beng như canh hẹ, chẳng có thuốc nào cứu
được, đầu óc đă loạn mất rồi!
Do đó, tâm địa thanh
tịnh trọng yếu vô cùng! Thâm nhập một môn!
Một bộ kinh này niệm càng nhiều lần càng
tốt. Trong các buổi giảng, chúng tôi thường nói
với các vị đồng tu, niệm kinh là tu hành, tu hành
điều ǵ? Tu Giới, Định, Huệ. Không chỉ
Tam Học Giới, Định, Huệ được bao
gồm trong ấy, mà Lục Độ cũng ở trong
ấy, mười đại nguyện vương cũng
gồm trong ấy, đúng là chẳng thể nghĩ bàn!
Dùng tâm cung kính, kiền thành, mở kinh bổn ra, niệm
từ đầu đến cuối một lần, Tam
Học, Lục Độ, mười nguyện toàn bộ
đều được tu viên măn trong ấy. Khi niệm
kinh, chớ nên nghĩ kinh này có ư nghĩa ǵ, câu này giảng
theo cách nào, câu này có nghĩa là ǵ, như vậy là hỏng
rồi. Đó là đọc sách thế gian, Tam Học, Tam
Huệ, và Lục Độ thảy đều chẳng có!
Do vậy, khi niệm kinh, chớ nên có vọng niệm, hăy cung
kính niệm, chớ nên nghĩ tới ư nghĩa, chẳng có
vọng niệm. Chẳng có vọng niệm là tu Giới,
giới luật là “chẳng làm
các điều ác, vâng làm các điều lành”. Một
vọng niệm cũng chẳng có, đương nhiên là “chẳng làm các điều ác”.
Kinh điển do đức Phật từ trong Chân Như
bổn tánh lưu lộ ngôn ngữ, văn tự, chúng ta
mắt thấy, miệng niệm, đó là “vâng làm các điều lành”. Đấy là chí
thiện, “chỉ ư chí
thiện” (đạt tới, an trụ nơi
điều lành tột bậc). Chuyên tâm, chẳng có phân
biệt, chẳng có vọng tưởng, đó là
Định. Niệm rơ ràng, minh bạch, đó là Huệ. V́
thế, Tam Học Giới, Định, Huệ đều
bao gồm trong ấy.
Lục Độ cũng ở
trong ấy, quư vị chuyên tâm niệm kinh, thứ ǵ cũng
đều buông xuống, buông xuống là Bố Thí. Cung kính
là Tŕ Giới. Cung kính, theo đúng quy củ để
niệm, niệm một bộ kinh từ đầu
đến cuối, đó là Nhẫn Nhục. Quư vị có
ḷng kiên nhẫn th́ mới có thể niệm
được. Chẳng có ḷng kiên nhẫn sẽ không được.
Có kiên nhẫn để niệm là Nhẫn Nhục. Mỗi
ngày đều đọc tụng, mỗi ngày đọc
đôi ba lượt, đó là Tinh Tấn. Chuyên niệm một
bộ này, chẳng nghĩ tới bộ thứ hai, đó
là Thiền Định. Niệm đến khi tâm
địa thanh tịnh, tự đắc tâm khai, trí
huệ Bát Nhă hiện tiền. V́ lẽ đó, niệm kinh
là tu Lục Độ, mọi người chẳng
biết chỗ tốt đẹp này. Tu Lục Độ
bằng cách nào? Mỗi ngày nghĩ nát óc cách tu ra sao, nghĩ
kiểu nào cũng tu chẳng giống, một Độ quư
vị cũng chẳng tu thành! Tôi bảo quư vị, Tam
Học, Lục Độ là niệm kinh, thảy
đều được bao gồm trong ấy, tuyệt
diệu chẳng thể diễn tả được!
Nếu quư vị niệm hai bộ kinh, thưa cùng quư
vị, Tam Học lẫn Lục Độ đều chẳng
có. Nếu quư vị thật sự chịu tin tưởng
lời tôi, một bộ kinh mỗi ngày niệm vài lần,
quư vị niệm suốt năm năm, xem thử quư
vị có thành tựu hay không? Đối với sự thành
tựu của quư vị, tôi có thể nói là trong các
đồng tu học Phật trọn một thế hệ
này, chẳng ai có thể sánh bằng quư vị. V́ sao? Quư
vị đă từng dùng thời gian năm năm
để tu Giới, Định, Huệ, tu Lục
Độ. Nói thật thà th́ kẻ b́nh phàm ngay cả công phu
một tuần cũng chẳng có, họ làm sao có thể
sánh bằng quư vị? V́ thế, mọi người
phải nghiêm túc, phải nỗ lực, phải thật sự
thực hiện. Tôi cũng đă lớn tuổi rồi,
cũng sắp ra đi rồi, nên nói với quư vị toàn
những câu thật thà, hy vọng mọi người
đều có thể đạt thành tựu. Chúng ta lại
xem đoạn thứ hai.
(Sao) Đại Bổn vân.
(鈔) 大 本 云。
(Sao: Kinh Đại Bổn
nói).
Đại Bổn là kinh Vô
Lượng Thọ.
(Sao) Kỳ vơng nhu nhuyễn,
như Đâu La Miên, tắc phi thế bảo, tất
đăi điêu trác kiểu nhu nhi vị nghiêm sức dă, lan
thuẫn bảo sức, lệ thử khả tri.
(鈔) 其 網 柔 軟,如 兜 羅 棉,則 非 世 寶,必 待 雕 琢 矯 揉 而 為 嚴 飾 也。欄 楯 寶 飾,例 此 可 知。
(Sao: Lưới ấy mềm
mại như Đâu La Miên, chẳng phải như của
báu [tầm thường] trong thế gian cần phải
được chạm, khắc, uốn nắn, chỉnh
sửa để trang hoàng. Lan can trang sức bằng các
thứ báu, cứ dựa theo đó mà có thể biết).
Kinh Vô Lượng Thọ cho
biết: Chất báu bên ấy thật sự là quư báu.
Chẳng hạn, như ta thấy “la vơng” tại Nhật Bản được
bện bằng sợi đồng, chẳng mềm
mại. Chất báu bên ấy mềm mại như Đâu La
Miên. Đâu La Miên là một loại thực vật trồng
ở Ấn Độ, giống như bông g̣n, cầm
nơi tay [cảm thấy] mềm mại. [Thất bảo
bên Cực Lạc] là vật báu, nhưng mềm mại. Tuy
danh xưng và h́nh tướng có một chút tương
tự với chất báu trong thế gian này, nhưng
thể chất hoàn toàn khác nhau, tuyệt đối
chẳng phải là thứ trong thế gian này có
được, mà cũng chẳng thể nào sánh bằng!
Dựa theo đó, cũng biết những thứ trang hoàng
nơi lan can [là như thế nào]!
(Sao) Đại Bổn vân:
“Chư bảo ngạn thượng, hữu vô số Chiên
Đàn hương thụ, Cát Tường quả thụ,
hàng hàng tương trị, hành hành tương vọng, chi
chi tương chuẩn, diệp diệp tương
hướng, hoa hoa tương thuận, quả quả
tương đương, như thị hàng liệt,
sổ bách thiên trùng. Thị danh vi hàng”.
(鈔) 大 本 云:諸
寶 岸 上,有 無 數 栴 檀 香
樹。吉 祥 果 樹,行 行 相
值,莖 莖 相 望,枝 枝 相
准,葉 葉 相 向,花 花 相
順,果 果 相 當,如 是 行
列,數 百 千 重,是 名 為
行。
(Sao:
Kinh Đại Bổn chép: “Trên các bờ báu, có vô số cây
hương Chiên Đàn, cây cát tường quả. Từng
hàng ngang nhau, từng thân cây đối nhau, từng nhánh
ngang nhau, từng chiếc lá hướng về nhau,
từng bông hoa ḥa hợp với nhau, từng trái to bằng
nhau. Bày thành hàng như thế mấy trăm ngàn vạn
lớp, nên gọi là Hàng”).
Từ đoạn kinh văn này
trong kinh Vô Lượng Thọ, có thể thấy chẳng
phải chỉ là bảy hàng cây. Đoạn kinh văn này
cũng là một đoạn văn chương vô cùng hay,
lời văn rất đẹp. Văn tự mô tả
cảnh sắc chẳng nhiều lắm, tuy phác họa nhưng
đă miêu tả hoàn toàn cảnh tượng ấy. Chúng ta
gọi Chiên Đàn (Candana, Sandalwood) là Đàn Hương.
Chiên Đàn là loại Đàn Hương tốt nhất, cũng là một thứ trân bảo hết sức hiếm
có trong thế
gian này! Đối với loại hương nổi tiếng quư
báu như thế, trong Phật giáo sử có ghi chép: Vào
thời Đường, có một vị cao tăng Tây
Vực đến Trung Quốc, khi gặp hoàng đế
đă tặng một chút lễ vật. Sư tặng vua
loại hương này, chỉ có bốn viên hương, [tức
là bột hương] được ṿ thành hoàn, bốn
hoàn th́ cũng chẳng nhiều cho mấy, phân lượng
rất ít. Khi ấy, trong triều đ́nh quy định,
hương liệu tấn cống tối thiểu là
một cân. Phân lượng chưa tới một cân
chẳng thể làm lễ vật biếu tặng hoàng
đế, quá ít! Người Trung Quốc cũng chẳng
biết rốt cuộc loại hương ấy có ưu
điểm ǵ, vị pháp sư ấy chẳng có cách nào, quá
ít, chỉ có bốn hoàn. Do vậy, Sư đốt một
hoàn. Thủ đô khi đó là Trường An, Sư
đốt một hoàn, cả Trường An đều
ngửi thấy mùi, mới biết sự trân quư của
hương ấy. Do vậy, nhà vua liền tiếp
nhận. Thật sự là của báu, hương Chiên
Đàn là bảo hương!
(Sao) Hựu vân.
(鈔) 又 云。
(Sao:
Lại nói).
Đều là kinh văn trong kinh
Vô Lượng Thọ.
(Sao) Thất bảo chư
thụ, biến măn thế giới, sở vị kim căn,
kim hành, chi, diệp, hoa, quả, diệc giai dĩ kim,
tắc danh nhất bảo .
(鈔) 七 寶 諸 樹,遍
滿 世 界,所 謂 金 根 金 莖,枝
葉 花 果,亦 皆 以 金,則
名 一 寶。
(Sao: Các cây bảy báu trọn
khắp thế giới, như là gốc vàng, thân vàng, cành,
lá, hoa quả cũng đều bằng vàng, nên gọi là
một thứ báu).
Cây này thuần bằng một
chất báu, là một thứ báu.
(Sao) Kim căn ngân hành, chi,
diệp, hoa, quả, diệc phân kim, ngân, tắc danh nhị
bảo. Như thị tam bảo, tứ bảo, kỳ
bảo gián thác, triển chuyển tăng đa, năi chí
thất bảo .
(鈔) 金 根 銀
莖,枝 葉 花 果,亦 分 金
銀,則 名 二 寶,如 是 三
寶 四 寶,其 寶 間 錯,展
轉 增 多,乃 至 七 寶。
(Sao:
Gốc vàng, thân bạc, cành, lá, hoa, quả cũng do vàng
bạc hợp thành, nên gọi là “hai thứ báu”. Ba thứ
báu, hay bốn thứ báu như thế, các chất báu xen
lẫn, lần lượt tăng lên nhiều hơn cho
đến bảy thứ báu).
Những hàng cây bên đó
đẹp đẽ khôn kể xiết!
(Sao) Hựu vân: “Chư Phật
tịnh quốc, thù thắng trang nghiêm, ư bảo thụ
trung, tất giai xuất hiện, do như minh kính”.
(鈔) 又 云:諸
佛 淨 國,殊 勝 莊 嚴,於
寶 樹 中,悉 皆 出 現,猶
如 明 鏡。
(Sao: Lại nói: “Các cơi Phật
thanh tịnh thù thắng trang nghiêm thảy đều
xuất hiện trong các cây báu, giống như gương
sáng”).
Từ ngữ “chư Phật tịnh quốc” (các cơi Phật
thanh tịnh) chỉ hết thảy các cơi Phật trong
mười phương, các cảnh tượng ấy
đều hiển hiện trong cây báu và mành lưới. Do
vậy, người trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới thấy rơ ràng, rành rẽ hành động,
tư thái, t́nh trạng của hết thảy chúng sanh trong
mười phương thế giới. Thậm chí,
bản thân chúng ta cũng rất hồ đồ,
đối với chuyện chính ḿnh đă làm c̣n chẳng
biết, nhưng người trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới đều biết. Chính ḿnh trong tâm
đang suy nghĩ điều ǵ? Chẳng biết! Nhưng
người trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới đều biết, mà cũng hiểu quư vị
đang nghĩ ǵ. V́ vậy, kinh dạy, khi nào chúng sanh trong
mười phương thế giới văng sanh, họ
(người trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới) sẽ biết được. Khởi tâm
động niệm họ đều biết. Tới lúc
chúng ta văng sanh, lẽ nào họ chẳng đến tiếp
dẫn? Đương nhiên tới tiếp dẫn quư
vị. V́ vậy, niệm kinh này cho nhiều, niệm
nhuần nhuyễn, quư vị sẽ thật sự hết
sức nắm chắc chuyện văng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới, niệm niệm đều
tương ứng với Tây Phương Cực Lạc
thế giới A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí, hết
thảy chư thượng thiện nhân, cảm ứng
đạo giao chẳng thể nghĩ bàn!
V́ thế, ở đây, tôi
đặc biệt khuyến khích các đồng tu chuyên
niệm th́ quư vị mới có thể đạt
được sự cảm ứng thù thắng ấy. Đối
với hết thảy mọi chuyện trong thế gian này,
phải giữ tâm thái như thế nào? Chuyện ǵ cho qua
được bèn cho qua, chớ nên quá mức khắt khe,
quyết định chớ nên tạo nghiệp, chớ nên
tạo ác nghiệp. Ác nghiệp là ǵ? Nghiệp tổn
người lợi ḿnh là ác nghiệp; không tổn
người nhưng chỉ lợi riêng cho ḿnh vẫn là ác
nghiệp! Câu này phải hiểu như thế nào? Quư
vị thường có ư niệm lợi ḿnh, sẽ trở
thành chướng ngại cho việc văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới. V́ sao?
Thường xuyên nghĩ tới lợi ích của chính ḿnh,
thường nghĩ tới cái đăy da thối tha này,
đến lúc mạng chung bèn chẳng đi
được, [v́] quư vị lưu luyến thế
giới này, lưu luyến thân thể này, lưu luyến
tất cả những thứ ấy. Tài sản, nhà
cửa, đất đai, người nhà, quyến thuộc
đều lưu luyến, thôi rồi! A Di Đà Phật
thấy quư vị vướng mắc lắm thứ ngần
ấy, thôi đi, chẳng đến đón quư vị
nữa! V́ sao? Có đón quư vị, quư vị cũng chẳng
đi được, có lôi kéo cũng chẳng động
đậy! V́ thế, hết thảy đều phải
buông xuống, chớ nên quá khắt khe, đừng nên
chấp trước, hăy học ǵ? Thân tâm tự tại,
điều này trọng yếu! Thứ ǵ cũng
đều chẳng có, quư vị bèn đến
được Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Quư vị có một hai thứ ở nơi đây,
[chuyện văng sanh] Tây Phương Cực Lạc thế
giới sẽ bị lỡ làng. Phải hiểu rơ ràng
sự lợi - hại, được - mất trong
ấy.
Do mỗi người trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới đều nh́n
thấu suốt tâm tư của chúng ta, nay chúng ta toàn tâm
toàn lực nghĩ tới A Di Đà Phật, niệm A Di
Đà Phật, người trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới chẳng có ai trông thấy mà không vui
vẻ, chẳng có ai không tán thán, trong tương lai khi quư vị
văng sanh, chẳng có ai không đến tiếp dẫn quư
vị. Đông người như thế đều
đến tiếp dẫn, hăy nghĩ xem quư vị là
phẩm vị ǵ? Thượng phẩm thượng sanh
mới có đông người ngần ấy đến
tiếp dẫn quư vị. Có lẽ quư vị sẽ nghĩ
người văng sanh đông dường ấy, nhưng
họ đều đến tiếp dẫn ta th́ chẳng
phải là ở chỗ kia (chỗ người khác văng sanh)
chẳng có ai đến ư? Người trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới ai nấy đều
có vô lượng vô biên thần thông biến hóa, họ
đều có năng lực ấy. Tất cả hết
thảy chúng sanh trong mười phương thế
giới đồng thời văng sanh thế giới Cực
Lạc, họ đều có thể hiện thân
trước mỗi người. Kinh thường tán thán
Thích Ca Mâu Ni Phật “thiên bách
ức hóa thân” (trăm ngàn ức hóa thân), bản lănh
của người Tây Phương Cực Lạc thế
giới không chỉ là hóa thân trăm ngàn ức, mà là vô
lượng vô biên hóa thân. Do vậy, chúng ta chẳng cần
phải bận tâm [chuyện này], chắc chắn [Phật,
chư đại Bồ Tát, chư thượng thiện
nhân] sẽ đến tiếp dẫn. Lại xem tiếp
đoạn thứ sáu:
(Sao) Quán Kinh vân: Thất bảo
hàng thụ, nhất nhất thụ cao bát thiên do-tuần,
nhất nhất hoa diệp, tác dị bảo sắc,
lưu ly sắc trung xuất kim sắc quang, pha lê sắc
trung xuất hồng sắc quang đẳng.
(鈔) 觀 經 云:七
寶 行 樹,一 一 樹 高 八 千
由 旬,一 一 花 葉,作 異
寶 色,琉 璃 色 中 出 金 色
光,玻 璃 色 中 出 紅 色 光
等。
(Sao: Quán Kinh chép: Hàng cây bảy
báu, mỗi cây cao tám ngàn do-tuần, mỗi một hoa lá
đều có màu chất báu khác nhau, trong màu lưu ly tỏa
ánh sáng sắc vàng ṛng, trong màu pha lê tỏa ánh sáng màu
đỏ v.v...)
Cây trong thế giới Cực
Lạc cao lớn, những cây cao lớn ấy có thể
làm cho người ta khoái mắt sướng ḷng. Cuộc
đất Đài Loan rất nhỏ, nhưng hăy c̣n
những cánh rừng rậm giống như bên Đại
Lục, nhưng có rất nhiều cảnh quan thiên nhiên
bị con người phá hoại. Theo tôi biết,
người Nhật Bản có thể bảo vệ,
biết bảo vệ, đây là chỗ đáng cho chúng ta tôn
kính. Người Nhật Bản thậm chí đối
với một con đường ruột dê (lối
nhỏ ngoằn ngoèo) xa xưa, nếu muốn mở
đường, họ sẽ mở một
đường khác, vẫn giữ lại con
đường cổ. Đối với việc bảo
quản sách cổ và vật phẩm văn hóa cổ,
sợ rằng họ đứng đầu thế
giới, họ thật sự bảo vệ. Không giống
như người Trung Quốc, người Trung Quốc
thích phá hoại! Tường thành Bắc Kinh đă bị phá
tan rồi, cổ tích lưu truyền mấy ngàn năm
bị hủy hoại trong một ngày, quá đáng tiếc!
Người Nhật bảo tồn các thành thị cổ
xưa, họ muốn phát triển đô thị bèn xây
dựng một thành thị mới ở nơi khác, họ bảo
tồn cổ tích!
Tại Mỹ
có những chỗ c̣n có thể thấy những đại
thụ, đích xác là đáng để nh́n ngắm. Sau khi
đă nh́n, mới có thể tưởng tượng
những điều được nói trong kinh Phật, mới
có thể lănh hội một chút ư vị. Kinh Phật nói cây
ấy cao “tám ngàn do-tuần”,
do-tuần (yojana) là đơn vị đo độ dài.
Do-tuần có ba loại là đại do-tuần, trung
do-tuần, và tiểu do-tuần. Đại do-tuần
ứng với tám mươi dặm Tàu, một do-tuần
là tám mươi dặm. Tám ngàn do-tuần th́ quá sức,
sợ rằng cây ấy đại khái sẽ từ
địa cầu cao vượt đến tận mặt
trăng. Quư vị mới hiểu sự vĩ đại
của thế giới Cực Lạc. Nếu đặt
địa cầu và mặt trăng trong thế
giới Cực Lạc, sợ rằng sẽ lọt
thỏm trong một căn pḥng, vẫn chưa ra khỏi
một căn pḥng. Chúng ta tin tưởng điều này, v́
sao? Lấy thể tích của mặt trời để so
sánh th́ là như vậy, khoảng cách giữa địa
cầu và mặt trăng chẳng lớn bằng nửa
bán kính của mặt trời, lọt thỏm trong mặt
trời, chẳng thể vượt ra ngoài phạm vi
diện tích của mặt trời được!
Tây Phương Cực Lạc
thế giới là một tinh cầu vô cùng vĩ
đại. Các nhà khoa học hiện thời cũng
biết, mặt trời là một ngôi sao nhỏ bé trong
vũ trụ, vẫn chưa được coi là rất
lớn. C̣n có những ngôi sao lớn hơn mặt trời
rất nhiều lần, c̣n có những ngôi lớn gấp
ngàn vạn ức lần, mặt trời chẳng phải
là một ngôi sao lớn. Người bên ấy cũng cao
lớn. Kệ Tán Phật có những câu tán thán A Di Đà
Phật, [tán thán] thân tướng A Di Đà Phật to
lớn: “Bạch hào uyển
chuyển ngũ Tu Di, cám mục trừng thanh tứ
đại hải”. Hai mắt A Di Đà Phật
giống như Thái B́nh Dương, quư vị nói xem
người như thế ấy to chừng nào? Sợ
rằng đầu Ngài c̣n to hơn địa cầu,
phước báo to lớn! Chúng ta sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới, thân tướng cũng to
lớn dường ấy, Báo Thân đều là to ngần
ấy.
Nh́n từ tỷ lệ này, tám
ngàn do-tuần chẳng được coi là rất cao,
giống như các cây rất cao trong thế gian của chúng
ta, chúng ta có thể tưởng tượng
được. Tây Phương Cực Lạc thế
giới cũng là như thế. Nếu dùng cảnh quan
trong thế gian này và kích thước thân thể của
chúng ta để suy tưởng, đúng là chẳng thể
nghĩ bàn.
(Sao) Hựu vân.
(鈔) 又 云。
(Sao:
Lại nói).
Điều này cũng
được nói trong Quán Kinh.
(Sao) Diệu chân châu vơng, di phú
thụ thượng.
(鈔)
妙 真 珠 網,彌 覆 樹
上。
(Sao: Lưới chân châu
mầu nhiệm trùm khắp trên cây).
Các lưới mành trên các cây dùng
chân châu kết thành.
(Sao) Nhất nhất thụ
hữu thất trùng vơng, nhất nhất vơng gian, hữu
ngũ bách ức diệu hoa cung điện, như Phạm
Vương cung, chư thiên đồng tử, tự nhiên
tại trung.
(鈔) 一 一 樹
有 七 重 網,一 一 網 間,有
五 百 億 妙 華 宮 殿,如 梵
王 宮,諸 天 童 子,自 然
在 中。
(Sao: Mỗi một cây có
bảy tầng lưới, trong mỗi tầng
lưới có năm trăm ức diệu hoa cung
điện như cung Phạm Vương, chư thiên
đồng tử tự nhiên ở trong ấy).
Có thể thấy trong ấy
hết sức đẹp đẽ. “Chư thiên đồng tử” ở trong ấy
cũng là giảng kinh, thuyết pháp, hành đạo, tham
Thiền, kinh hành, đều tu hành trong ấy. Nói cách khác,
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới,
những ǵ do sáu căn của quư vị tiếp xúc
đều là tăng thượng duyên cho sự tu hành. V́
vậy, chúng ta chẳng quan tâm kẻ khác thích pháp môn nào, chẳng
quản họ ưa thích kinh luận nào, tốt nhất là
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới tu
học. Trước hết niệm A Di Đà Phật,
đạt được Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Đă tới Tây Phương Cực
Lạc thế giới, quư vị muốn học ǵ bèn
học nấy. Đạt được sự thù
thắng đầu tiên là thọ mạng lâu dài, quư vị
đạt được vô lượng thọ, có
đủ thời gian. Điều thứ hai là tăng
thượng duyên thù thắng nhất, Phật, Bồ Tát
làm bầu bạn của quư vị.
Tôi lại nhắc nhở các
vị đồng tu một câu, trong kinh đức Phật
đă cho biết: Pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật
tổng cộng là một vạn hai ngàn năm, một ngàn
năm Chánh Pháp đă qua, một ngàn năm Tượng Pháp
cũng đă qua, Mạt Pháp gồm một vạn năm,
hiện thời đă qua một ngàn năm, tính ra hăy c̣n chín
ngàn năm nữa, vẫn c̣n lâu! Tôi lại bảo quư
vị, thời gian được nói trong Phật pháp
chẳng nhất định, thời gian ngắn có thể
biến thành thời gian dài, thời gian dài có thể rút
ngắn thành thời gian ngắn. V́ sao kéo dài hay rút ngắn?
Do tâm thái của quư vị, do ḷng người! V́ vậy,
thời gian chẳng phải là pháp nhất định.
Nếu ḷng người chẳng thể tuân thủ
thường đạo (đạo thường hằng),
thời gian dài ngay lập tức biến thành thời gian
ngắn. Hiện thời đáng sợ lắm, các xă
hội trên cả thế giới hầu như đều
là như vậy.
V́ lẽ đó, chẳng thể
nào không đọc sách cổ. Tả Truyện viết: “Nhân khí thường tắc yêu
hưng” (con người vứt bỏ đạo
thường hằng, ắt yêu quái dấy lên), yêu ma
quỷ quái đều sổ lồng, v́ sao? Người
chẳng cần đến đạo thường
hằng, yêu ma quỷ quái đều xuất hiện.
Đạo thường hằng là ǵ? Nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín, Ngũ Thường. Chẳng cần đến
năm thứ ấy, yêu ma quỷ quái đều xuất
hiện. Quư vị thấy trong xă hội hiện thời,
chúng ta phải cảnh giác điều này, yêu ma quỷ quái đều
xuất hiện, thời Mạt Pháp của Phật sẽ
nhanh chóng kết thúc, tam tai sẽ xảy ra. Trong những
năm qua, tai nạn mỗi năm một nhiều hơn,
vô duyên vô cớ cả đống người tử vong.
Pháp sư Khai Tâm ở Đài Nam nói thế giới bắt
đầu loạn từ năm ngoái, mỗi năm một
loạn dữ dội hơn, chúng ta phải biết
điều này.
Chẳng có cách văn hồi
cộng nghiệp của chúng sanh, nhưng trong cộng
nghiệp c̣n có biệt nghiệp. “Biệt” (別) là cá biệt, điều này đáng
để chúng ta đặc biệt trân quư. Họ không
cần đến Ngũ Thường, nhưng chúng ta
cần. Đối với con người phải thật
sự có tâm yêu thương, thật sự nhân từ. Không
chỉ nhân từ đối với người quư vị
ưa thích, mà đối với kẻ ác, đối
với oán gia, cừu địch đều phải dùng tâm
nhân từ. “Nhân”: Tâm từ
bi có thể cảm hóa, có thể chuyển nghiệp! “Nghĩa” là nghĩa vụ,
nghĩa vụ là ta thay người khác phục vụ,
chẳng chú trọng báo đáp, ta [chỉ cảm thấy]
phải nên làm cho người khác. V́ sao phải nên?
Đức Phật nói “đồng
thể Đại Bi, vô duyên Đại Từ”, chúng ta phải
học theo Phật, phục vụ hết thảy chúng sanh
chẳng có điều kiện, tận tâm tận lực
thực hiện viên măn, đó là Nghĩa.
“Lễ”:
Phải giữ lễ, phải hiểu lễ. Hiện
thời, điều khổ nhất trong thế hệ
của chúng ta là chẳng biết lễ độ. Cổ
nhân thường nói: “Bất
tri lễ, vô dĩ lập” (chẳng biết lễ,
chẳng thể thành tựu một điều nào),
chẳng có cách nào đặt chân trong xă hội. May mắn
là trong xă hội hiện tại, mọi người đều
chẳng nói đến lễ, quư vị vẫn có thể tạm
sống được, chứ trong xă hội xưa kia, quư
vị sẽ chẳng có cách nào, chẳng thể sống
sót, chẳng có ai đoái hoài quư vị, nhưng quư vị
hiểu lễ th́ người ta vẫn tôn kính quư vị.
Chẳng hiểu lễ sẽ bị thiệt tḥi,
người ta trông thấy quư vị bèn “kính nhi viễn chi”, đối đăi với quư
vị qua quít mà thôi, chẳng thật sự làm bạn
với quư vị. V́ thế, nhất định phải
hiểu lễ. Lễ thực hiện từ đâu?
Thầy Lư ở Đài Trung đă biên soạn cuốn
Thường Lễ Cử Yếu, thầy bảo đó là
mức độ thấp nhất, chẳng thể ít
hơn được nữa. Tôi nghĩ mỗi vị
đồng tu đều nên có một bản sách ấy, hăy
khéo học tập.
Phải
biết lễ độ ở mức độ tối
thiểu! Hiện thời rất nhiều người [hay
nói] “ta rất cung kính thầy”, nhưng một chút lễ
phép cũng chẳng có! Đó có phải là cung kính thật
sự hay không? Chẳng phải. Tôi chưa học lễ,
tôi cũng biết có rất nhiều người chưa
học lễ, nhưng hễ gặp Tổng Thống
[Tưởng Giới Thạch] v́ sao cung kính ngần ấy?
Chưa học [nhưng gặp Tổng Thống vẫn cung
kính]! Đó là ǵ? Thật sự có tâm cung kính. Thuở
trẻ tôi theo hầu lăo Tổng Thống, tôi đă thấy
rất nhiều người, thuở ấy, pḥng làm
việc của chúng tôi được xây theo kiểu pḥng Tatami[1]
của Nhật, sàn nhà được lót gạch. Bất
luận là ai, từ nhân viên cao cấp cho đến
người lính truyền lệnh, chỉ cần đi qua
con đường ấy, tức
các con đường vây quanh khu vực làm việc của
Tổng Thống, nói chung đều nín thở, nhẹ
bước, quư vị chẳng nghe thấy tiếng! Họ
chưa học lễ, chẳng ai dạy họ, đó là ǵ?
Cung kính. Không ai dạy họ, mà tự nhiên đều
rất an tịnh, rất an tường, nhẹ nhàng,
chậm răi đi qua. Thái độ và hành vi thô bạo, dă
man, tức là chẳng có mảy may tâm cung kính! Điều
thứ hai trong Quán Kinh Tam Phước là “thọ tŕ Tam Quy, đầy đủ các giới,
chẳng phạm oai nghi”. Oai nghi là lễ tiết,
[chẳng phạm oai nghi] là chẳng trái nghịch lễ
tiết. Toàn thể thế gian đều không coi trọng,
nay chúng ta thật sự muốn phát tâm từ bi, phát tâm
độ đời th́ chúng ta phải thực hiện
[lễ tiết], nêu gương cho người khác.
Đấy mới là thật sự từ bi mẫn
niệm chúng sanh.
Thứ tư là “Trí”, Trí là lư trí, chẳng xử sự bằng
cảm t́nh. Quá nửa con người hiện thời
bị cảm xúc chi phối. Nói cách khác, đầu óc
chẳng tỉnh táo, trấn định. Đầu óc
tỉnh táo, trấn định là lư trí, [có lư trí] th́ mới
có thể thật sự phán đoán chánh, tà, đúng, sai,
chân, vọng. Người bị cảm xúc chi phối
chắc chắn chẳng thể biện định
đúng, sai, chẳng biết tốt, xấu, như vậy
th́ chẳng có cách nào! Đức Phật cũng chẳng có
cách nào dạy người ấy. Kẻ ấy chẳng
biết tốt, xấu, hết thảy đều
thuận theo t́nh dục, làm sao được nữa!
Phật thuận theo lư trí, lư trí là giác, cảm t́nh là mê.
Thứ năm là “Tín”, ăn nói phải giữ chữ tín, quyết
định giữ chữ tín.
Đó là Ngũ Thường. Nếu
con người chẳng cần đến Ngũ
Thường th́ yêu quái sẽ dấy lên, yêu ma quỷ quái là
ai? Chính ḿnh là yêu ma quỷ quái! Nếu không nói tới “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”,
chính ḿnh đă biến thành yêu ma quỷ quái. Tất cả
mọi người trong xă hội không nói tới [Ngũ
Thường] th́ cả xă hội đều là yêu ma quỷ
quái, há c̣n có kết cuộc tốt đẹp hoặc
kết quả tốt lành nữa ư? Chẳng thể nào.
V́ vậy, phải thật sự giác ngộ! Trước
lúc văng sanh, thầy Lư đă nói rất cảm khái: “Thế giới này loạn
rồi, Phật, Bồ Tát có đến cũng chẳng
cứu được, con đường sống duy
nhất là nhanh chóng cầu sanh Tịnh Độ”,
cụ để lại cho chúng ta một câu như thế.
Phát đại tâm, tuy độ
người, chẳng độ được
người khác, lại bị người khác độ!
Đầu tiên, điều khẩn yếu là phải
độ chính ḿnh trước! Chính ḿnh thật sự
đă nắm chắc rồi trở lại giúp đỡ
người khác. Khi chính ḿnh chưa nắm chắc, chớ
nên khởi vọng niệm ấy. Thật sự
độ người, phát tâm đại từ bi
độ người, khuyên người khác thật thà niệm
Phật là độ người, chắc chắn là
tốt đẹp, vô lượng công đức. Dùng các
phương pháp khác để độ người,
thường là khiến cho người khác bị lầm
lạc. Do trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới, sáu căn tiếp xúc sáu trần [th́ sáu trần]
đều là tăng thượng duyên tăng tấn đạo
nghiệp, tu hành chứng quả. Lại xem tiếp
đoạn dưới:
(Sao) Hựu vân: Nhất nhất
thụ diệp, tung quảng chánh đẳng nhị
thập ngũ do-tuần.
(鈔) 又 云:一
一 樹 葉,縱 廣 正 等 二 十
五 由 旬。
(Sao: Lại nói mỗi một
lá cây dài rộng vừa bằng hai mươi lăm
do-tuần).
Cây to, lá cũng to.
(Sao) Kỳ diệp thiên
sắc, hữu chúng diệu hoa, tác Diêm Phù Đàn kim sắc.
(鈔) 其 葉 千 色,有
眾 妙 華,作 閻 浮 檀 金 色。
(Sao: Lá ấy ngàn sắc, có các
loại hoa đẹp đẽ, có màu như vàng Diêm Phù
Đàn).
Giữa các lá có hoa.
(Sao) Như toàn hỏa luân,
uyển chuyển diệp gian, dũng sanh chư quả,
như Đế Thích b́nh. Hữu đại quang minh, hóa
thành tràng phan, vô lượng bảo cái. Thị bảo cái
trung, ánh hiện tam thiên đại thiên thế giới,
nhất thiết Phật sự diệc ư trung hiện.
(鈔) 如 旋 火 輪,宛 轉 葉 間,涌 生 諸 果,如 帝 釋 瓶。有 大 光 明,化 成 幢 旛,無 量 寶 蓋,是 寶 蓋 中,映 現 三 千 大 千 世 界,一 切 佛 事,亦 於 中 現。
(Sao: Như vầng lửa xoay
uyển chuyển giữa các lá, sanh ra các quả giống
như cái b́nh của Đế Thích, có đại quang minh,
hóa thành tràng phan, vô lượng lọng báu. Trong các lọng
báu ấy, hiện bóng tam thiên đại thiên thế
giới, hết thảy Phật sự cũng hiện trong
ấy).
Đây là chuyện
được nói trong Quán Kinh. Ở đây, chúng ta thấy
một chuyện vô cùng kỳ diệu, tức là hoa ở giữa
các cây báu. Cây trong thế gian này của chúng ta trổ hoa, hoa
cũng nở rất đẹp, nhưng hoa ở trong
trạng thái tĩnh, chẳng động đậy. Hoa bên
kia có thể chuyển động, giống như chúng ta
thấy những món đồ chơi chạy bằng
điện trong hiện thời, điều này rất thú
vị! Giống như “toàn
hỏa luân”, lửa xoay tṛn giống như bánh xe nên
gọi là “toàn hỏa luân”.
Từ ngữ này nhằm h́nh dung sự viên măn. “Luân” là viên măn, chẳng có
khuyết hăm, quang minh rạng rỡ, vô cùng đẹp
đẽ, lộng lẫy! “Thụ
hoa” là hoa trên các cây [báu].
Cây có quả, quả “như Đế Thích b́nh”,
người Trung Quốc gọi Đế Thích là Ngọc
Hoàng Đại Đế, tôi nghĩ Thiên Chúa
được tôn xưng trong các tôn giáo khác, đại khái
là Đao Lợi Thiên Chúa. Đao Lợi (Trāyastrimśa) là tiếng Phạn, dịch sang
nghĩa tiếng Hán là Tam Thập Tam, [tức là] ba
mươi ba cơi trời. Tam Thập Tam Thiên là một
tầng trời, trong tầng trời này có ba mươi ba
khu vực, giống như các quốc gia, tức là ba
mươi ba nước; do vậy, ta gọi nó là Tam
Thập Tam Thiên. Đây là một tầng trời, tức
tầng thứ hai trong Dục Giới Thiên. Kinh Phật
thường nói: Có người nhất tâm cúng dường
Đế Thích Thiên Chúa suốt mười hai năm (có
người thờ lạy Ngọc Hoàng Đại
Đế, hoặc là các tôn giáo ngoại quốc nhất tâm
nhất ư cúng dường Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa trọn mười
hai năm), Đế Thích Thiên sẽ cho kẻ ấy
một cái b́nh. Cái b́nh ấy rất tuyệt diệu, b́nh
ấy là như ư bảo, muốn ǵ nó sẽ biến hiện
thứ ấy. Trái cây trong thế giới Cực Lạc
giống như b́nh Đế Thích. Quư vị muốn
thứ ǵ nó bèn biến hiện thứ ấy, giống
như b́nh báu trong truyện cổ tích dành cho thiếu nhi
ở ngoại quốc, quư vị muốn thứ ǵ nó
sẽ biến hiện thứ
ấy. Do đó, Tây Phương Cực Lạc thế
giới là “hễ có cầu, ắt ứng, nghĩ áo
được áo, nghĩ ăn được ăn”. B́nh
Đế Thích là nói về chuyện như vậy đó.
Nơi mỗi cây, bất
luận là cành, thân, lá, hoa, quả đều có quang minh, cho
đến trong lưới mành cũng đều biến
hiện, hiện “phan tràng”,
vô lượng phan tràng, “bảo
cái” (lọng báu). Trong ấy lại hiện ra “tam thiên đại thiên thế
giới, nhất thiết Phật sự diệc ư trung
hiện” (tam thiên đại thiên thế giới, hết
thảy Phật sự cũng đều hiện trong
ấy). Hết thảy t́nh h́nh trong vô lượng vô biên các
cơi Phật giống như chúng ta xem TV, bất cứ lúc nào
quư vị cũng đều có thể nh́n thấy. Quư
vị chẳng muốn thấy th́ nó chẳng c̣n nữa,
muốn thấy nơi nào bèn hiện nơi đó. V́
thế, đến Tây Phương Cực Lạc thế
giới, muốn xem t́nh h́nh Đài Loan trên địa
cầu ra sao, nó sẽ hiện trọn vẹn ở trong
đó, t́nh cảnh và trạng huống giống như
đang đối diện vậy. Trong hết thảy các
cơi Phật khắp mười phương đều chẳng
có chuyện này, chỉ riêng Tây Phương Cực Lạc
thế giới siêu thắng, tức là thù thắng
vượt trỗi!
(Sao) Hựu Đại Bổn
vân.
(鈔) 又 大 本
云。
(Sao: Kinh Đại Bổn
lại nói).
Câu này trích lục từ kinh Vô
Lượng Thọ.
(Sao) Phật giảng
đường, A La Hán xá trạch, các các nội thất
bảo tŕ, ngoại thất bảo thụ, sổ thiên bách
trùng.
(鈔) 佛 講 堂,阿
羅 漢 舍 宅,各 各 內 七 寶
池,外 七 寶 樹,數 千 百
重。
(Sao: Giảng đường
của đức Phật, nhà cửa của A La Hán,
mỗi mỗi đều là: Bên trong là ao báu, bên ngoài là
mấy trăm ngàn lớp các cây bảy báu).
Trùng trùng vô tận. Hy vọng
mọi người thường đọc tụng kinh
Đại Bổn, chúng ta tu Tịnh Độ nên lấy
kinh Đại Bổn làm chánh yếu. Trong bản chú
giải, lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đă trích
dẫn lời khai thị của cổ đức: Kinh Vô
Lượng Thọ là kinh Tịnh
Độ bậc nhất, là kinh Tịnh Độ căn
bản. Thuở trước, Viễn công đại sư
sáng lập liên xă tại Lô Sơn, hiệu triệu
những người đồng chí hướng cùng nhau
niệm Phật cầu sanh Tây Phương là do dựa trên
kinh Vô Lượng Thọ.
Đại Kinh cho biết, trong
kinh thường nhắc đến A La Hán và chư thiên,
[những danh xưng ấy] chẳng phải là thật,
kinh Vô Lượng Thọ đă nói rất cặn kẽ.
Tây Phương Cực Lạc thế giới là pháp giới
chỉ có Bồ Tát, nơi ấy không chỉ chẳng có
lục đạo, mà chín pháp giới cũng chẳng có, là
thế giới thuần túy Bồ Tát. Đến Tây
Phương ai nấy đều là Bồ Tát, hễ văng
sanh tới đó, hạ phẩm hạ sanh cũng là Bồ
Tát, lại c̣n đều là Phổ Hiền Bồ Tát, v́ sao?
Thảy đều tu “Phổ
Hiền đại sĩ chi đức”, nên nơi
ấy là pháp giới thuần nhất Phổ Hiền
đại sĩ. V́ sao nói là “nhân, thiên”? Quư vị chưa
đoạn Kiến Tư phiền năo, giống như
trời người trong các thế giới phương
khác, nói “nhân, thiên” chính là nói như vậy, chẳng phải
là thật sự có “nhân, thiên”. Quư vị đă đoạn
Kiến Tư phiền năo, nhưng vẫn chưa kiến
tánh, giống như A La Hán trong các thế giới
phương khác, [nên gọi là A La Hán] chẳng phải là A
La Hán thật sự. Kinh đă giảng rơ ràng, [sở dĩ
có những danh xưng ấy] là do hai ư nghĩa:
- Một là xưng hô giống
như thế giới phương khác.
- Ư nghĩa thứ hai là nói
tới thân phận đi văng sanh trong hiện tại,
tức là thân phận trước khi quư vị đến
thế giới Cực Lạc, quư vị là nhân, thiên, hay A La
Hán, chứ đă văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới thảy đều là Bồ Tát, chúng ta
phải hiểu điều này.
Đừng nên nghĩ Tây
Phương Cực Lạc thế giới thật sự
có trời, người, có A La Hán, quư vị đọc
bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật trong
kinh Vô Lượng Thọ sẽ hiểu. Trong bốn
mươi tám nguyện cũng có nói cơi ấy thuần
nhất là Bồ Tát, hết thảy chúng sanh trong
mười phương thế giới hễ sanh về
đó đều là Bồ Tát. Ở đây nói tới “A La Hán xá trạch” (nhà cửa
của A La Hán), tức là các vị Bồ Tát ấy ở
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chỉ
đoạn Kiến Tư phiền năo, chứ Trần Sa và
Vô Minh đều chưa phá, nên [mức độ đoạn
Hoặc] bằng với A La Hán. Chúng ta thường nói là
những vị ấy công phu niệm Phật đạt
đến Sự nhất tâm bất loạn, c̣n chưa
đạt đến Lư nhất tâm bất loạn, Sự
nhất tâm bất loạn bằng với A La Hán. Lư
nhất tâm là Pháp Thân đại sĩ, là Bồ Tát thật
sự. Thấp hơn A La Hán th́ Kiến Tư phiền năo
chưa đoạn, nên gọi là “nhân, thiên”, mang ư nghĩa
này!
Đối với nơi các Ngài
cư trụ như giảng đường [chẳng hạn], hoàn cảnh cư trụ “các các nội thất bảo tŕ,
ngoại thất bảo thụ” (mỗi mỗi
đều là ao bảy báu bên trong, cây bảy báu bên ngoài),
mỗi nhà đều có một cái ao nhỏ, giống
như hồ bơi vậy. Ở ngoại quốc,
chuyện này rất phổ biến. Trong các đô thị
lớn tại ngoại quốc, tại những khu nhà hơi
sang một chút, nhà nào cũng đều có hồ bơi.
Trong thế gian này, hồ bơi tuy đáng ưa, nhưng
khổ th́ cũng khổ lắm, tốn rất
nhiều thời gian để chăm sóc. Mỗi tuần
phải thuê người chuyên nghiệp thay nước
dơ, chăm sóc rất khó khăn! Tuy sân rất lớn,
nhưng cây cối phải cắt xén, cỏ cũng
phải cắt. V́ thế, người ngoại quốc tuy
nhà cửa đẹp đẽ dường ấy,
nhưng nhà là chủ nhân, c̣n họ là đầy tớ,
phải hầu hạ cái nhà! Chúng tôi ở Dallas tuy không
lớn lắm, nhưng tôi thấy phải hầu hạ
[nhà cửa] như thế khổ quá. Do vậy, chúng tôi lát khắp
sân bằng xi-măng hết, chẳng cần cắt
cỏ, thầy Ngộ Bổn sống ở đó rất
thoải mái. Chúng tôi chỉ lưu lại một khoảng
đất trống để trồng rau, nên rau do chúng tôi
trồng ăn không hết.
Người ngoại quốc
mỗi ngày phải đi làm, sau khi về nhà lại
phải chăm nom, dọn dẹp quanh nhà, đúng là
chẳng có chút thời gian nào! Nếu quư vị chẳng
sửa sang, dọn dẹp, hàng xóm sát vách khiếu nại
quư vị phá hoại vẻ mỹ quan của quang cảnh.
Chính quyền thành phố ngay lập tức gọi
điện thoại cảnh cáo, bảo quư vị hăy
lập tức sửa sang ngay. Nếu quư vị không làm,
chính quyền thành phố sai người đến làm. Khi
họ dọn dẹp sạch sẽ tốt đẹp
rồi, gởi hóa đơn thanh toán đắt hơn
số tiền do quư vị tự ḿnh thuê thợ làm rất
nhiều lần! Nhà cửa của họ đích xác là
ngăn nắp, sạch sẽ, đẹp mắt, nhưng
phải trả giá rất lớn, cái được
chẳng bù nổi cái mất, chẳng được
tự tại, thanh nhàn như người Hoa! “Lục măn song tiền, thảo
bất trừ” (trước song xanh ngắt, cỏ
chẳng nhổ), người ngoại quốc nghe nói
vậy, [cảm thấy] đúng là chẳng thể nghĩ
bàn! Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng
tới chỗ này!
Tập
136
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang hai trăm chín
mươi lăm.
(Sao) Cứ thử, tắc tam kinh
tường lược vi biệt. Thử đản ngôn
thất trùng, bỉ ngôn sổ thiên bách trùng. Thử
đản ngôn la vơng, bỉ ngôn la vơng chi trung xuất thiên
cung điện. Thử đản ngôn hàng thụ, bỉ
ngôn hàng thụ chi trung, hiện đại thiên giới.
Hựu thử ngôn tứ bảo, bỉ ngôn thất
bảo. Cái kim kinh lược thị, bỉ kinh
tường trần. Dĩ giản nhiếp phồn,
thủ văn tỉnh cố, văn tuy bất túc, nghĩa
thật vô khiếm.
(鈔) 據 此,則
三 經 詳 略 為 別,此 但 言
七 重,彼 言 數 千 百 重;此
但 言 羅 網,彼 言 羅 網 之
中,出 天 宮 殿;此 但 言
行 樹,彼 言 行 樹 之 中,現
大 千 界;又 此 言 四 寶,彼
言 七 寶。蓋 今 經 略 示,彼
經 詳 陳,以 簡 攝 繁,取
文 省 故,文 雖 不 足,義
實 無 欠。
(Sao: Dựa theo đó th́ ba kinh
nói tường tận hay giản lược khác nhau.
Ở đây nói bảy tầng, kinh kia nói mấy trăm
ngàn tầng. Kinh này chỉ nói “lưới mành”, kinh kia nói
trong các lưới mành hiện ra cung điện cơi
trời. Kinh này chỉ nói “hàng cây”, kinh kia nói giữa các cây
xuất hiện cơi đại thiên. Lại nữa, ở
đây nói “bốn báu”, kinh kia nói bảy báu. Đó là v́ kinh
này nói đại lược, kinh kia tŕnh bày tường
tận. Dùng giản lược để gồm thâu
rườm rà, nên lời văn tỉnh lược, kinh
văn tuy chẳng nói đầy đủ, nhưng ư
nghĩa thật sự chẳng thiếu khuyết).
Đoạn này
nói đơn giản về sự khác biệt giữa cách
nói tường tận hay tỉnh lược giữa ba
kinh Tịnh Độ. Trong ba kinh, do kinh A Di Đà giản
lược nhất, nên thời cổ, những vị
tổ sư đại đức xếp bộ kinh này vào
khóa tụng sớm tối v́ kinh này đơn giản, nhưng
trọng yếu. Tuy văn tự giản lược, ư
nghĩa trọn chẳng khiếm khuyết, chúng ta phải
biết điều này. Liên Tŕ đại sư gọi kinh
Vô Lượng Thọ và kinh Di Đà là Đại
Bổn và Tiểu Bổn v́ hai kinh ấy hoàn toàn giống
nhau. Đại Bổn là kinh Vô Lượng Thọ,
giảng hết sức cặn kẽ. Huống chi trong kinh
Quán Vô Lượng Thọ có những chỗ nói càng
tường tận hơn. Cổ đức cũng
thường khuyến khích chúng ta: Nếu muốn liễu
giải Tây Phương Cực Lạc thế giới,
tối thiểu là phải hợp ba kinh lại để
tham chiếu, quư vị mới có thể thấy viên măn,
thấy trang nghiêm trọn đủ.
(Sao) Như Linh Chi vân.
(鈔) 如 靈 芝 云。
(Sao: Như ngài Linh Chi nói).
Linh Chi đại sư là
người đời Tống, Ngài nói:
(Sao) Thất trùng lan thuẫn, phàm
Phật, Bồ Tát trụ xứ giai nhiên.
(鈔) 七 重 欄 楯,凡 佛 菩
薩 住 處 皆 然。
(Sao: Bảy tầng lan can: Phàm
là nơi Phật, Bồ Tát ngự đều là như
vậy).
“Phàm”
[có nghĩa] “hễ là”. Chỉ cần là trụ xứ
của Phật, Bồ Tát th́ đều có sự trang nghiêm
như vậy.
(Sao) Phi vị nhất quốc
chỉ thất trùng dă.
(鈔) 非 謂 一 國 只 七 重 也。
(Sao: Chẳng phải là cả
nước chỉ có bảy tầng).
Chớ nên nghĩ Tây
Phương Cực Lạc thế giới chỉ có
bảy tầng như vậy. Có thể nói là mỗi nhà
đều có bảy tầng lan can vây quanh. “Bảy” mang ư nghĩa biểu thị pháp,
tượng trưng sự viên măn. Viên măn là như ư th́
mới là viên măn. Bản thân ta nghĩ như thế nào, nó
bèn biến hóa như thế ấy th́ mới là viên măn. Y báo
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới thù
thắng, đều là thuận theo ḷng muốn mà tự
nhiên hóa hiện, chẳng cần phải suy nghĩ,
chẳng cần phải suy tính, hoạch định
kiến tạo như thế nào, chẳng cần! Đây là
tự nhiên hóa hiện theo ḷng mong muốn!
(Sao) Tắc tri sổ bách thiên
trùng giả, đa chủng thất trùng tích nhi thành chi,
thất thất tương trùng, trùng trùng vô tận dă,
dư khả lệ kiến.
(鈔) 則 知
數 百 千 重 者,多 種 七 重
積 而 成 之,七 七 相 重,重
重 無 盡 也,餘 可 例 見。
(Sao: Do vậy biết mấy
trăm ngàn tầng là có nhiều thứ bảy tầng tích
tập thành, bảy lần bảy tầng, tầng
tầng vô tận. Những điều khác có thể
dựa theo đó mà biết).
Mấy câu này đă nói rất rơ
ràng. Tiếp theo đây, đại sư đề cập
đại lược ư nghĩa biểu thị pháp.
(Sớ) Hựu giai ngôn thất
giả, biểu Thất Giác Chi, Thất Thánh Tài
đẳng.
(疏) 又 皆 言 七 者,表 七 覺 支、七 聖 財 等。
(Sớ: Lại nữa,
đều nói là Bảy nhằm biểu thị Thất Giác
Chi, Thất Thánh Tài v.v...)
Nó mang ư nghĩa biểu thị
pháp, chúng ta phải biết điều này. Thất Giác Chi
là Thất Bồ Đề Phần.
(Sao) Thất Giác kiến hậu.
Thất Thánh Tài giả.
(鈔) 七 覺 見 後。七 聖 財
者。
(Sao: Xem giải thích về
Thất Giác trong phần sau. Thất Thánh Tài là...)
Hiện thời, trong dịp
Tết, chúng ta gặp nhau đều nói “cung hỷ phát tài”. Người học Phật
chúng ta cũng cần phát tài, phải phát Thất Thánh Tài.
Thất Thánh Tài đă phát, tối thiểu là quư vị
chứng đắc quả vị Bồ Tát. Chẳng
phải là quả vị Bồ Tát, sẽ không trọn
đủ Thất Thánh Tài. Thất Thánh Tài, Thất là
bảy điều, Thánh là thánh nhân, Tài là của báu.
[Thất Thánh Tài] là bảy thứ của cải quư báu
của bậc thánh nhân. Ở đây, nêu ra danh mục
của chúng.
(Sao) Nhất, Tín.
(鈔) 一 信。
(Sao: Một là Tín).
Thứ nhất là Tín. Bách Pháp
Minh Môn Luận nói Tín là môn thứ nhất trong mười
một thiện pháp[2].
Chữ này nên giảng như thế nào? Nó được
[sách Diễn Nghĩa] chú giải rất đơn giản:
“Ư thật đức năng,
thâm nhẫn dục lạc vi nghĩa” (nghĩa là
đối với “thật, đức, năng” có thể
nhẫn dục lạc sâu xa [th́ là Tín]). Đối với
ba chuyện: Thứ nhất là chân thật, thứ hai là
đức, thứ ba năng lực. Nói thật ra, Chân (Thật)
là Pháp Thân lư thể, Đức là nói đến
Tướng, Năng là nói đến tác dụng, [Thật,
Đức, Năng] là Thể, Tướng, Dụng. Ngài (Thiên
Thân Bồ Tát, tác giả Bách Pháp Minh Môn Luận) không nói
Thể, Tướng, Dụng, mà nói “Thật, Đức,
Năng”, nhằm nói đến ư nghĩa rất sâu: Chỉ
có tánh thể là chân thật. Tánh thể là ǵ? Trong Phổ
Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Biệt Hành Sớ Sao,
Tông Mật đại sư đă giảng hết sức
thấu triệt, sâu xa đoạn văn tự thứ
nhất mở đầu [tác phẩm chú sớ kinh Hoa
Nghiêm] của Thanh Lương đại sư, giảng
về Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân pháp giới là
ǵ? Đại sư đă trích dẫn kinh điển làm
căn cứ ḥng nói với chúng ta: “Pháp giới là nhất tâm”. Trong các buổi
giảng, chúng tôi thường nêu lên sự thù thắng
của pháp môn này. Nhất Chân pháp giới là sở
chứng, là cảnh giới nơi quả địa Như
Lai. Nhất tâm là năng nhập, Nhất Chân là sở nhập.
Mục tiêu của pháp môn này là “nhất tâm bất loạn”,
có thể thấy pháp môn này là trực tiếp chứng
nhập Nhất Chân pháp giới. Chứng nhập Nhất
Chân pháp giới là minh tâm kiến tánh, là chứng triệt để
vô thượng Bồ Đề, là chuyện như thế
đó. Do vậy, pháp môn này là pháp môn thành Phật bậc
nhất, thù thắng khôn sánh, chúng ta phải tin tưởng
điều này. Nói cách khác, Nhất Chân là quả, nhất
tâm là nhân. Nay chúng ta phải đặc biệt chú trọng,
phải tin tưởng nhất tâm. Quư vị có thể tin
vào nhất tâm th́ mới có thể thật sự phát tâm tu
nhất tâm. Nhất tâm là chân tâm, chân tâm lưu lộ, kinh
Lăng Nghiêm nói “thường
trụ chân tâm, diệu tịnh minh thể” là nói về
điều này!
Chúng ta phải phát tâm tu tập,
phát tâm chứng nhập, “chứng”
(證)
là chứng thực. Dùng phương pháp ǵ? Dùng phương
pháp tŕ danh niệm Phật. Nói cách khác, quư vị phải
thật sự hiểu rơ chân tướng sự thật
này, hiểu đạo lư này, hiểu phương pháp tu hành
này. Trong tâm có vọng niệm, đó chẳng phải là
nhất tâm; chẳng có vọng niệm, ư niệm ǵ cũng
đều chẳng có, đó là vô minh, cũng chẳng
phải là nhất tâm. Trong nhất tâm quyết định
chẳng có vọng niệm, mà cũng chẳng có vô minh, nó
là chân tâm “linh minh giác tri” hiện tiền. Phàm phu có vọng
niệm, nên chưa thể chứng đắc. Công phu
Thiền Định của người trong Tứ
Thiền Thiên và Tứ Không Thiên rất sâu, chẳng có
vọng niệm, nhưng c̣n có vô minh, vẫn chưa thể
chứng đắc. Chư vị phải liễu giải:
Một câu A Di Đà Phật này có thể đoạn
vọng niệm, lại c̣n có thể phá vô minh. Trong
mười hai thời, tức là suốt một ngày từ
sáng đến tối, trong tâm chỉ có một câu Phật
hiệu, chẳng có vọng niệm, dùng câu Phật
hiệu này để thay thế tất cả vọng
niệm, vừa lại chẳng có vô minh, Phật hiệu
rơ ràng, rành rẽ, quư vị thấy cách này tuyệt diệu
lắm! Chư vị phải biết, không niệm Phật
th́ kẻ ấy nếu chẳng đọa trong vọng niệm
bèn đọa trong vô minh, đó là đạo lư quyết
định [khiến cho người ấy] chẳng
thể thành tựu điều này (nhất tâm). Phải tin
tưởng điều này, tin chúng ta thật sự tu
nhất tâm bất loạn, thật sự phát tâm tu tập.
Phải tin vào Đức.
Đức, nói theo tổng cương lănh trong Phật pháp
sẽ trở thành ba đức: Pháp Thân đức, Bát Nhă
đức, và Giải Thoát đức, [ba điều này c̣n
gọi là] tam đức bí tạng. Nói nông cạn,
Đức là thiện hạnh. Tuy thiện hạnh
chẳng phải là đức, nhưng thiện hạnh là
căn cơ của đức hạnh. Niệm niệm
chúng ta mong mỏi có thể lợi ích hết thảy chúng
sanh, không cầu lợi ích cho chính ḿnh. Đó là Đức,
Nho gia gọi điều ấy là Nhân, “thôi kỷ cập nhân” (suy từ ḿnh mà nghĩ
đến người khác), “kỷ
sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều
chính ḿnh chẳng muốn, chớ làm cho người khác).
Nếu mỗi cá nhân trong xă hội đều có quan
niệm này, xă hội sẽ an tường, ḥa hảo,
chắc chắn chẳng bị động loạn.
Đích xác là trong xă hội hiện thời có lắm kẻ
mê hoặc, niệm niệm chỉ tranh giành quyền
lực; nói theo Phật pháp, chúng ta có cần phải tranh
giành quyền lực hay không? Không cần. Chỉ cần
chúng ta gieo nhân tốt đẹp, sẽ tự nhiên thu
được quả báo.
Mọi việc đều có
nhân và có quả. Ta muốn có thiện quả, nhất
định phải gieo thiện nhân. Chẳng gieo thiện
nhân mà mong cầu thiện quả, trong Phật pháp nói là “vô hữu thị xứ”
(chẳng có lẽ ấy), chẳng đạt
được! Chúng ta thấy người khác phát tài,
người học Phật trọn chẳng hâm mộ, v́
sao? Biết người ấy trong đời quá khứ
đă nhiều lần hành tài bố thí, người ấy đă
gieo nhân đó, nay tự nhiên được hưởng
[quả báo]. Người mong phát tài rất nhiều,
mỗi ngày đều mong mỏi th́ có phát tài hay không?
Người phát tài rốt cuộc vẫn là thiểu
số. Dẫu dùng thủ đoạn phi pháp để đạt
được của cải, vẫn là do trong mạng
người ấy có. Ví như cướp ngân hàng,
cướp được mấy ngàn vạn, chúng ta đi
cướp th́ có cướp được hay không?
Cướp chẳng được! Có thể thấy trong
mạng quư vị chẳng có, có cướp cũng
chẳng cướp được! Trong mạng chẳng
có, vừa cướp đă ngay lập tức bị
người ta thộp cổ! Có thể cướp
được vẫn là do trong mạng kẻ ấy có.
Trong mạng kẻ ấy có, không cướp th́ vẫn có
thể đạt được nhiều như thế,
quư vị nói xem có oan uổng hay không? Do vậy, cổ nhân
nói: Thật sự hiểu nhân quả báo ứng, “quân tử lạc đắc tác
quân tử, tiểu nhân oan uổng tác tiểu nhân” (quân
tử vui vẻ làm quân tử, tiểu nhân oan uổng làm tiểu
nhân), cho nên nhất định phải hiểu nhân quả
báo ứng.
Quư
vị thấy Ấn Quang đại sư, đây là
một vị đại đức, một vị tổ
sư gần thời chúng ta nhất. Lăo nhân gia nhiều lượt
khuyên lơn chúng ta, nhất định phải làm cho chúng
sanh tin tưởng nhân quả báo ứng. Ai nấy
đều có thể tin tưởng nhân quả báo ứng,
thiên hạ sẽ thái b́nh. Mỗi cá nhân đều giữ
bổn phận, đều chịu gieo nhân tốt. Không
hiểu nhân quả báo ứng, cuộc sống rất
khổ; hiểu nhân quả báo ứng
sẽ sung sướng, biết đủ thường vui!
Nội tâm nhân từ, một bầu an tường, ḥa
hảo, lẽ nào kẻ ấy chẳng vui sướng? V́
thế, nhất định phải biết sự
trọng yếu của Đức. Lại càng
phải nên hiểu rơ, đức năng của bản thân
chúng ta và đức năng của Phật chẳng khác!
Trong phẩm Xuất Hiện của kinh Hoa Nghiêm có nói: “Hết thảy chúng sanh đều
có trí huệ và đức tướng của Như Lai”,
đều có! V́ sao nay chúng ta chẳng có? “Chỉ v́ vọng tưởng và chấp
trước mà không thể chứng đắc”, câu này
đă nói toạc gốc bệnh của chúng ta. Chúng ta có
vọng tưởng, chấp trước, nên quư vị tuy
có trí huệ và đức tướng của Như Lai, nhưng
chúng chẳng thể hiện tiền. Khi nào quư vị
đoạn hết vọng tưởng và chấp
trước, trí huệ và đức năng của quư
vị thảy đều hiện tiền, chẳng khác ǵ
hết thảy chư Phật, La Hán và Bồ Tát cũng chẳng
bằng quư vị!
Chúng ta phải hiểu rơ,
nhận biết và ưa thích “thật,
đức, năng”, đó là Tín. Chúng ta quay đầu xem
lại, trong một câu danh hiệu A Di Đà Phật, ba ư
nghĩa ấy đều trọn đủ. V́ sao biết là
chúng trọn đủ? Trong kinh luận và kinh sách, cổ
đức đă bảo chúng ta: Chúng ta niệm Phật th́
tâm năng niệm là Thỉ Giác, Phật hiệu
được niệm là Bổn Giác của chúng ta. Do
vậy, khi nhất tâm xưng niệm là Thỉ Giác hợp
với Bổn Giác, Thỉ - Bổn bất nhị, đó
gọi là Cứu Cánh Giác. Cứu Cánh Giác là thành Phật.
Đấy là “một niệm
tương ứng một niệm Phật, niệm
niệm tương ứng niệm niệm Phật”,
chúng ta phải tin tưởng điều này.
Quư vị thật sự tin
tưởng mới biết hết thảy các pháp thế
gian và xuất thế gian đều chẳng thù thắng như
niệm Phật, trong hết thảy mọi chuyện,
chẳng có ǵ vui sướng hơn niệm Phật.
Người niệm Phật là người hạnh phúc
bậc nhất trong thế gian và xuất thế gian, chúng
ta phải tin điều này. Nếu quư vị chịu tin
tưởng, quư vị bèn phát tài, v́ sao? Thật sự phát
tài, tôi chẳng nói lời giả với quư vị, pháp môn
này được gọi là “pháp khó tin”. Nếu quư vị
thật sự chịu tin, mười phương chư
Phật đều chúc mừng quư vị, đều tới
khánh chúc quư vị, quyết định thành tựu trong
một đời này, chắc chắn vượt thoát ba
cơi. Do vậy, quư vị phải tin tưởng kinh này,
phải tin tưởng đạo lư này, phải tin
tưởng phương pháp này th́ chúng ta mới trọn đủ
điều thứ nhất trong Thất Thánh Tài.
(Sao) Nhị Giới.
(鈔) 二 戒。
(Sao: Thứ hai là Giới).
Thứ hai là Giới, Bách Pháp [Minh Môn] Luận đă nêu
ra tinh thần của Giới: “Pḥng
phi chỉ ác, khiết tịnh thân tâm” (ngừa sai,
dứt ác, giữ cho thân tâm trong sạch), đó là giới
luật. “Pḥng” (防) là pḥng ngừa,
[pḥng phi (防非)] là ngăn ngừa hết thảy lầm lỗi.
Lầm lỗi bao gồm tư tưởng, kiến
giải, ngôn ngữ, tạo tác, bao gồm bốn loại
lớn ấy. Trong ấy, nếu có sai lầm, chúng ta
phải pḥng ngừa sẵn, hễ có lỗi lầm
phải biết ngăn cấm ngay lập tức.
Người tu hành nói đến công phu, nói đến
hảo tướng th́ công phu là ǵ? Hảo tướng là
ǵ? Quư vị hằng ngày thấy Phật, mỗi ngày thấy
hoa sen, mỗi ngày thấy trong ấy tỏa ánh sáng, [thấy]
nơi ấy chấn động, thưa cùng quư vị, quư
vị đă bị ma dựa mất rồi, đó chẳng
phải là hảo tướng! Hảo tướng thật
sự là ǵ? Mỗi ngày đều phát hiện lầm
lỗi của chính ḿnh. Đó là tướng lành thật
sự, là hảo tướng chân chánh!
V́ thế, một người
thật sự tu hành, hằng ngày phát hiện lỗi lầm
của chính ḿnh; do phát hiện nên mới có thể sửa đổi,
sửa lỗi th́ mới là tu hành. “Tu” là sửa cho đúng,
“Hành” là hành vi sai lầm. Sửa đổi cho đúng các hành
vi sai lầm bèn gọi là “tu hành”. Nếu chúng ta một ngày
chẳng phát hiện lỗi lầm của chính ḿnh, nói cách
khác, quư vị chẳng tu hành ngày đó. Một năm mà
trọn chẳng thấy lỗi lầm của chính ḿnh,
cả năm ấy quư vị chẳng tu hành. Chư vị
phải ghi nhớ, tu hành quyết định chẳng
phải là sáng tối đều niệm kinh, niệm
Phật, lạy Phật. Đó là h́nh thức, công phu bề
ngoài. Nhất định phải vận dụng những
phương pháp h́nh thức ấy vào thực tế,
biết lầm lỗi của chính ḿnh, nghĩ sai, thấy
sai, nói sai, làm sai th́ phải sửa đổi, đó là tu
hành, đó là công phu thật sự, khiến cho thân tâm chúng
ta ngày càng thanh tịnh, ngày càng trang nghiêm, đó là ư nghĩa
của Giới.
Chúng ta thấy hiện thời
có nhiều người học giới luật, tự xưng
là [chính ḿnh] giới luật rất tinh nghiêm, mỗi ngày
đều tụng giới, mỗi ngày đều nghiên
cứu giới kinh; nhưng chúng ta thấy ư nghĩ, cách
nh́n, và cách làm của họ trái nghịch tinh thần giới
luật, kiêu căng, ngă mạn, xem thường
người khác, trật lất rồi! Kiêu căng, ngă
mạn là căn bệnh nặng, tức là cách nghĩ sai
lầm, cách nh́n sai lầm, cách làm sai lầm! Kẻ ấy
chẳng thể sửa đổi những sai lầm
ấy, có ǵ để gọi là tŕ giới? Tŕ giới
kiểu đó, Thích Ca Mâu Ni Phật nh́n thấy cũng ứa
nước mắt! Giới luật vốn nhằm giúp quư
vị bỏ tật xấu. Hiện thời, tŕ giới đâm
ra tăng thêm tật xấu! Những người như
thế sẽ bị phiền phức to lớn. Đó là
chẳng hiểu tinh thần giới luật thật
sự, không biết cách hành tŕ như thế nào!
Lục Tổ đại sư
cũng đă một lời nói toạc về chuyện này:
“Nếu người thật tu
đạo, chẳng thấy lỗi người khác”,
chính ḿnh thật sự khiêm hư. Như năm mươi
ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử,
quư vị thấy năm mươi ba vị thiện tri
thức đều là đại Bồ Tát, mỗi vị
Bồ Tát đều là “tự khiêm”, tôn trọng
người khác, như vậy th́ bèn chẳng có lầm
lỗi! Nói theo h́nh tướng, chúng ta có thể hành năm
giới, hoặc mười giới là tốt đẹp
rồi, hành được rồi, khá viên măn, phải
thật sự phát tâm thực hiện.
(Sao) Tam văn.
(鈔) 三 聞。
(Sao: Ba là Văn).
Thứ ba là Văn, đây là nói
về Đa Văn, có nghĩa là quảng bác thông
đạt (thông hiểu, thấu đạt rộng răi),
thường nói là “quảng
học đa văn”, tức là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”
trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện. Giới trong phần
trước chính là “phiền
năo vô tận thệ nguyện đoạn”. Trong các
buổi giảng, chúng tôi cũng thường nhắc
nhở các vị đồng tu về điều này:
Nếu muốn thật sự thành tựu, nhất
định phải có sư thừa. Nếu chẳng có
sư thừa, mong tự ḿnh thành tựu, th́ thưa quư vị,
chẳng có chuyện này, tùy thuộc quư vị tin
tưởng hay không? Nếu quư vị không tin, hăy
đọc Lục Tổ Đàn Kinh. Trong Đàn Kinh,
thiền sư Huyền Sách đă bảo thiền sư
Vĩnh Gia: “Oai Âm Vương
dĩ tiền tức đắc, Oai Âm Vương dĩ
hậu, vô sư tự ngộ, tận thị thiên nhiên
ngoại đạo”, [nghĩa là] trước thời
Oai Âm Vương Phật, chính quư vị tu hành thành tựu
th́ vẫn c̣n chấp nhận được; sau thời
Oai Âm Vương Phật, nếu chẳng có sư thừa,
tự ḿnh học mà ngộ đạo th́ đều là thiên
nhiên ngoại đạo. Theo kinh điển đă nói, Oai Âm
Vương Phật là một vị cổ Phật từ nhiều
kiếp lâu xa trước. Trên thực tế, điều
này nói rơ Phật pháp nhất định phải có sư
thừa. Chẳng có sư thừa, nói thật ra, vô cùng nguy
hiểm.
Bản thân chúng ta đă tu sai
rồi, tương lai đọa lạc, tự làm, tự
chịu, chẳng c̣n ǵ để nói nữa. Nếu quư vị
lănh đạo hoặc chỉ đạo người khác, thảy
đều chỉ sai đường cho người khác,
sẽ phải gánh chịu trách nhiệm nhân quả. Cổ
nhân nói: “Nói sai một chữ
chuyển ngữ, đọa làm thân chồn hoang năm
trăm đời”. Nói sai một chữ phải
chịu trách nhiệm nhân quả to dường ấy,
đáng sợ quá! Người ta đến hỏi
đường lối, chỉ lối mà chính ḿnh thật
sự chẳng nắm vững, chẳng biết
đường đích xác, làm sao có thể tùy tiện
chỉ dạy người khác? Trong xă hội hiện
thời, những kẻ “vô
sư tự thông” (không có thầy mà tự thông hiểu) quá
nhiều, đó chẳng phải là một hiện
tượng tốt đẹp, mà là tướng trạng
thiên hạ đại loạn, chẳng phải là
tướng hưng vượng, mà là tướng suy vi!
V́ vậy, học Phật
nhất định phải có sư thừa, mà cũng là
nhất định phải tuân thủ sự dạy bảo
của thầy th́ mới có thể thành tựu. Đặc
biệt là giới luật, gần đây nhất, hễ
tôi nói đến giới luật tức là nói tới
sự răn dạy của thầy. Chẳng thể không
nghe theo sự răn dạy của
thầy, tự ḿnh chủ trương th́ c̣n nói tới
giới luật chi nữa? Giới luật trong kinh
Phật, quư vị đều thực hiện
được, nhưng quư vị chẳng tôn trọng
thầy, tức là chẳng có ǵ hết! Tôn sư trọng
đạo, tôn sư là cơ sở của giới
luật, giống như dựng nhà, phải xây nền móng.
Giới luật do đức Phật đă nói chính là
lầu cao, quư vị chẳng có nền tảng, làm sao xây
lầu cao, viện lớn cho được? Đó là chuyện
chẳng thể được! V́ thế, sư
đạo vô cùng quan trọng!
Bác học đa văn có
nhiều tầng lớp, chẳng phải là vừa bắt
đầu liền có thể học được! Trong
Phật pháp gọi bác học đa văn là Hậu
Đắc Trí, chẳng phải là Căn Bản Trí. Hậu
Đắc Trí do đâu mà có? Từ Căn Bản Trí mà có. Giống như cái cây, trước
hết phải có rễ, sau đó có gốc, gốc là thân
chánh, sau đấy mới có thể trổ cành, mới có
thể đơm hoa, kết quả. V́ vậy, cành, nhánh,
hoa, quả đều do rễ mà ra. Căn Bản Trí
do đâu mà có? Căn Bản Trí sanh từ tâm thanh tịnh.
Đức Phật dạy chúng ta: “Nhân Giới sanh Định, nhân Định khai
Huệ”, quư vị chẳng có Định, lấy đâu
ra Huệ? Chẳng có Định, Huệ, sẽ là Tà
Huệ, Cuồng Huệ! V́ thế, Huệ nhất
định phải được kiến lập trên
cơ sở Định.
Do vậy, sư thừa là theo
một vị thầy, thầy dạy quư vị
điều ǵ? Thầy huấn luyện quư vị Căn
Bản Trí. Trong kinh Bát Nhă đă nói về Căn Bản Trí
rất hay, “Bát Nhă vô tri”,
đó là Căn Bản Trí. Vô tri là ǵ? Là Định. Khi nó
khởi tác dụng, “không ǵ
chẳng biết”, Bát Nhă vô tri, nhưng không ǵ chẳng
biết. Do đó, nếu quư vị muốn khai trí huệ,
yêu cầu trước tiên là vô tri. Quư vị chẳng
thể cầu hữu tri trước hết. Từ
hữu tri để cầu, vĩnh viễn chẳng
thể cầu chân trí huệ. Cầu vô tri bằng cách như
thế nào? Cổ nhân dạy chúng ta niệm kinh. Niệm
kinh bèn niệm một bộ kinh, niệm bộ kinh này
mười năm hay tám năm, tâm bèn định.
Mười năm hay tám năm ấy nhằm tu Căn
Bản Trí, tu tâm thanh tịnh; đó là tu Định và tu Huệ.
Đồng thời, khi kiến
lập cơ sở, phải tu phước cho nhiều, tu
phước ǵ vậy? Tu nhẫn nhục, tu bố thí.
Bố thí là buông xuống, buông phân biệt, chấp
trước của chính ḿnh xuống, buông sự
hưởng thụ đáng nên có của chính ḿnh xuống,
v́ người khác phục vụ, bỏ ḿnh v́
người, đó là tu phước, tu bố thí. Phải
tu nhẫn nhục, v́ sao tu nhẫn nhục? V́ quư vị
chẳng nhẫn nhục, sẽ không thể đắc
Định. Nhẫn nhục là phải tu ḷng nhẫn
nại, đối với hoàn cảnh thuận hay
nghịch, chính ḿnh đều có thể chịu
đựng. Trong Lục Độ, hai điều này vô cùng
trọng yếu. Chẳng hạn như quư vị niệm
một bộ kinh mười năm hay tám năm, phải
có tâm nhẫn nại rất lớn, tâm thật sự
định!
Con người hiện thời
thường nói: “Chúng ta sống trong xă hội hiện
đại, xă hội này thiên biến vạn hóa, có rất
nhiều chuyện chúng ta chẳng thể không biết”.
Lời nói ấy dường như đầy ắp
đạo lư, nhưng trên thực tế có đạo lư hay
không? Hoàn toàn chẳng có đạo lư ǵ! Lời ấy do ai
nói? Do Ma Vương Ba Tuần nói, v́ sao? Hắn sợ tâm
quư vị định, sợ quư vị có trí huệ. V́
thế, hằng ngày quư vị tiếp xúc với thông tin
hiện thời, khiến cho đầu óc đầy
ắp những ư nghĩ lộn xộn, khiến cho quư
vị suốt ngày sống trong vọng tưởng và
vọng niệm, vĩnh viễn chẳng thể
định được. Niệm Phật cũng
chẳng chuyên chú niệm, niệm kinh cũng chẳng chuyên
tâm niệm, chẳng có đạo lư ǵ! Người
thật sự tu đạo phải như thế nào?
Thưa cùng quư vị, chớ nên đọc báo chí, chớ
nên xem TV, chớ nên nghe radio, quư vị có thể đoạn
hết những thứ ấy, tâm bèn thanh tịnh, tâm
thật sự định. Thưa cùng quư vị, tâm
thật sự định sẽ có trí huệ. Hễ quư
vị tiếp xúc những chuyện ấy, ngay lập
tức sẽ có sức phán đoán, biết nên xử
sự như thế nào. Định là chúa tể!
Thế giới hiện thời
loạn như vậy, không ai có thể giải quyết, v́
sao? Đầu óc của vị đứng đầu
mỗi quốc gia đều suy nghĩ lung tung, hiểu
biết sự việc quá nhiều, quá tạp, nên những
người ấy bị phiền toái to lớn.
Trước đây, người Hoa làm hoàng đế th́ hoàng
đế tu ǵ? Tu tâm thanh tịnh. Quư vị thấy hoàng
đế đội măo, phía trước là rèm cửa
sổ, chẳng nh́n thấy rơ điều ǵ nên tâm nhà vua
thanh tịnh, nếu thấy rơ ràng, ông ta đă loạn
mất rồi. Cái măo ấy hai bên c̣n có hai cái miên hoa cầu
(hai trái cầu bằng sợi bông), che tai, nên nghe
điều ǵ cũng không nghe rơ ràng cho lắm[3],
nên ông ta mới có thể cầm lái, mới có thể
hoạch định quyết sách. V́ sao? Tâm ông ta thanh
tịnh. Các đại thần tâu tŕnh ư kiến, vua là
người cuối cùng phán đoán, quyết định.
Ông ta đầu óc sáng suốt, tỉnh táo, điều này
vô cùng quan trọng. Chúng ta chẳng đọc kinh Phật,
sẽ không hiểu đạo lư này. V́ thế, dẫu
thế giới này loạn đến mấy, ta không
loạn là được, thứ ǵ ta cũng thấy rơ
ràng, thứ ǵ ta cũng thấy minh bạch. Đây là nói rơ
về Văn, bắt đầu tu Căn Bản Trí là
dốc công sức nơi một bộ kinh, quyết
định chớ nên bác học đa văn. [Nếu bác
học đa văn, tức là] quư vị đă hiểu
lầm ư nghĩa mất rồi! Bác học đa văn là
chuyện về sau, tức là khi đă đạt
được Căn Bản Trí, sau đấy mới
bắt đầu bác học đa văn.****
Đă xuất sư, tức là
đă tốt nghiệp từ nơi thầy, sau khi tốt
nghiệp mới là bác học đa văn. Quư vị
thấy Thiện Tài đồng tử, thầy của
Thiện Tài đồng tử là Văn Thù Bồ Tát. Thiện
Tài đă thành tựu Căn Bản Trí trong hội của
Văn Thù Bồ Tát, sau đấy mới đi tham học,
đi tham học năm mươi ba lần. Nếu Ngài
chẳng đạt được Căn Bản Trí, há có
tư cách đi tham học? Chẳng có tư cách! V́ vậy,
thầy lẫn tṛ đều hết sức khó có, vô cùng
đáng quư. Có rất nhiều vị thầy suốt
đời chẳng gặp được một học
tṛ nào, nên chẳng thể truyền pháp được!
Một vị thầy tốt cả đời chỉ
truyền được một hai người, t́nh h́nh
như thế rất nhiều. Một vị thầy có
thể truyền rất nhiều học tṛ, pháp duyên ấy
rất thù thắng, như Lục Tổ đại sư
chẳng có tiền lệ trong lịch sử Trung Quốc,
trước Lục Tổ chẳng có, mà sau Lục Tổ
cũng chẳng có, Ngài truyền được bốn
mươi ba người. Kể từ khi tổ
Đạt Ma đến Trung Quốc, mỗi cá nhân cả
đời chỉ truyền được một
người, trọn chẳng t́m được hai học
tṛ. Ngũ Tổ có hai người, Thần Tú là một,
Lục Tổ là hai. Từ Ngũ Tổ về trước
đều là một. V́ thế, hết sức khó khăn!
Chẳng theo nhất định một vị thầy
mười năm hay tám năm sẽ chẳng
được, bởi lẽ, tiêu chuẩn tốt
nghiệp là đắc Định - Huệ, đắc
Căn Bản Trí. Sau đó, mới đi ra ngoài, đó là bác
học đa văn, đi tham học, nhằm thành tựu
Hậu Đắc Trí. Trước hết là tu Căn
Bản Trí, sau đó tu Hậu Đắc Trí, đó là
Bảo (quư báu).
Nay chúng tôi đề
xướng, con người hiện thời thường
nói là “chẳng thật thà”, kể cả bản thân chúng ta
cũng vậy, đọc một quyển sách [trong một
thời gian dài] sẽ thấy vô vị, vẫn phải t́m
sách khác để xem, đó là chẳng thật thà. Do
vậy, chúng tôi mở rộng phạm vi này đôi chút,
năm kinh Tịnh Độ, Tịnh Độ Thập
Yếu, nếu thật sự [cảm thấy vẫn] chưa
đủ th́ c̣n có Ấn Quang Đại Sư Văn Sao,
chớ nên mở rộng hơn nữa. Khi mở rộng
ra nữa th́ trong một đời này, quư vị chẳng
có hy vọng ǵ. V́ thế nói: Dễ dàng thành tựu nhất
là quư vị khăng khăng một mực niệm một
thứ, đối với năm kinh hay Thập Yếu,
bản thân quư vị thích loại nào bèn chọn loại
ấy. Đă chọn nhất định một loại
rồi, quư vị thường xuyên niệm tụng
chẳng ngừng, chẳng cần mong hiểu rơ, quư vị
cứ niệm như vậy, niệm tới mấy ngàn
lần. V́ sao niệm nhiều lần như thế?
Chẳng có ǵ khác, nhằm khiến cho tâm quư vị
định, dùng phương pháp này giúp quư vị
đắc Định. Đó là huấn luyện
định, huấn luyện Căn Bản Trí.
Phương pháp tu hành Định và Căn Bản Trí là
như vậy. Căn Bản Trí đă hiện tiền, khi
ấy bèn bác học đa văn, hoàn toàn mở rộng. V́
thế, mở rộng phải có điều kiện:
Nếu Căn Bản Trí chưa đạt mà mở
rộng th́ người ấy sẽ hỏng bét, suốt
cả đời này chắc chắn người ấy chẳng
thể nào thành tựu.
(Sao) Tứ Xả.
(鈔) 四 捨。
(Sao: Bốn là Xả).
Thứ tư là Xả. Định nghĩa của Xả là thật sự buông
xuống hết thảy, chẳng có mảy may dính nhiễm nào, chẳng có mảy may vướng mắc nào, tâm thật sự sạch làu. Trong tâm
chúng ta c̣n có mảy may vướng mắc nào, tức là
chưa xả, quư vị chưa xả sạch sành sanh. Không
xả th́ có điều ǵ bất hảo? Chuyện bất
hảo quá nhiều! Nếu quư vị chẳng chịu xả,
nói cách khác, chẳng đoạn phiền năo, chẳng thoát
khỏi tam giới, chẳng thể liễu thoát sanh
tử, chuyện này phiền toái to lắm! Đó gọi là
“bỏ sạch hết thảy”, tôi lại nói câu này minh
bạch hơn một chút, nói rơ ràng hơn một chút th́
sẽ là trong tâm chẳng có mảy may vướng mắc nào,
đấy là thật sự xả! Lục Tổ Huệ
Năng đại sư đă nói: “Vốn chẳng có một vật, chỗ nào
nhuốm bụi trần”, đó là “bỏ hết”.
Điều này chẳng dễ ǵ làm được, nói
dễ dàng, nhưng làm rất khó, nhất định
phải có huệ giải, hiểu vạn pháp đều là
không, biết vô thường, vô ngă, quư vị mới có
thể thật sự buông xuống được!
Trong thế gian này, chẳng có
ǵ là chính ḿnh! Phải thật sự giác ngộ điều
này. Quư vị cho rằng cái này là chính ḿnh, cái kia cũng là
chính ḿnh, thưa cùng quư vị, vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, toàn là giả. Ngay cả thân
thể này của chúng ta cũng chẳng phải là chính
ḿnh. Trong thân thể chúng ta, vô số tế bào thay cũ,
đổi mới, ngồi ở đây một tiếng
rưỡi, chẳng biết bao nhiêu tế bào đă
chết? Và lại có bao nhiêu tế bào được sanh
ra? Tế bào nào là của quư vị? Tế bào nào chẳng
phải là của chính ḿnh? Thân chẳng phải là của
chính ḿnh, huống ǵ vật ngoài thân? Do đó, phải buông
xuống, phải buông bỏ vọng tưởng, chấp
trước. Chỗ khác nhau giữa Phật, Bồ Tát và
phàm phu chúng ta là các Ngài thật sự trừ bỏ. Nay chúng
ta là phàm phu, chẳng chịu bỏ, thứ ǵ cũng
đều chấp trước, hết thảy các thứ
giả đều ngỡ là thật, chịu thiệt tḥi
to lớn! Căn bản sanh tử từ vô thỉ kiếp
đến nay là không buông xuống được, là bỏ
không được, phiền toái to lớn! V́ vậy, chính
ḿnh nhất định phải giác ngộ, phải
thật sự chịu buông xuống.
(Sao) Ngũ Huệ.
(鈔) 五 慧。
(Sao: Năm là Huệ).
Thứ năm là Huệ, Huệ là trí huệ. Đối với
hết thảy các cảnh giới có thể hiểu rơ,
thông đạt chánh xác, đó là trí huệ. Chẳng nh́n sai
cảnh giới, điều này vô cùng đáng quư. Do quư
vị chẳng nh́n sự việc sai lầm, cách làm sẽ
chẳng sai lầm, xử lư chắc chắn chánh xác, sẽ không làm sai chuyện. Làm
việc sai sót là do trong kiến giải lẫn tư
tưởng đều có sai lầm, nh́n trật rồi! V́
thế, đ̣i hỏi phải có trí huệ. Tôi vừa
mới nói, trí huệ nhất định sanh từ tâm thanh
tịnh. Tu học Phật pháp lấy trí huệ làm mục
tiêu chung cục. Giới và Định, đều là
những phương tiện để đạt
đến mục đích, Huệ là mục đích. Năm
thứ trên đây đều là Bảo.
(Sao) Lục tàm, thất
quư, tiền ngũ như bảo. Hậu nhị như nhân thiện thủ tài cố.
(鈔) 六 慚,七 愧。前 五 如 寶,後 二 如 人 善 守 財 故。
(Sao: Sáu là thẹn, bảy là
hổ. Năm món trước như của báu, hai món sau
như người khéo ǵn giữ của cải).
V́ sao chúng ta không đạt
được năm thứ báu ấy? Chúng ta chưa có
năng lực Thủ (ǵn giữ). Người như
thế nào sẽ có thể ǵn giữ? Tàm Quư! Hai chữ này
vô cùng trọng yếu, chúng ta phải nỗ lực học
tập. Trong Bách Pháp, hai chữ ấy là hai điều trong
mười một thiện pháp, [thuộc về] Thiện
Tâm Sở. Tàm (慚) có nghĩa là “y tự
pháp lực, sùng trọng hiền thiện” (nương
vào pháp lực của chính ḿnh, tôn sùng, coi trọng sự
hiền thiện), “sùng” (崇) là “tôn sùng, tôn
trọng”, chúng ta thường nói là “lương tâm”,
Vương Dương Minh bảo là “lương tri”,
sức mạnh của lương tri. Tôn sùng, tôn trọng
người hiền, việc thiện, đó là điều
phát ra từ nội tâm của chính ḿnh, có thể
ước thúc chính ḿnh. “Quư” (愧) có ư nghĩa hơi khác một chút, là do
sức mạnh bên ngoài bó buộc, “y thế gian lực” (nương vào sức
mạnh của thế gian). Nói theo ngôn ngữ hiện
thời là dư luận trong xă hội, chẳng dám làm quấy,
làm ác v́ sợ kẻ khác đàm tiếu! Một đằng
là chẳng dám làm sai, làm ác v́ lương tâm của chính ḿnh,
đó là Tàm. Đằng khác là sợ dư luận xă
hội, nên chẳng dám làm chuyện sai trái, xấu xa, đó
là Quư.
Vào đời Minh, tiên sinh
Vương Dương Minh là một người rất
nổi danh trong giới học thuật Trung Quốc.
Năm xưa, tại Đài Loan, lăo tổng thống (Tưởng
Giới Thạch) đă đề xướng học
thuyết Vương Dương Minh, khuyến khích mọi
người hăy đọc tác phẩm của Vương
Dương Minh, đặc biệt quan trọng là bộ
Truyền Tập Lục. C̣n có một câu chuyện về
tiên sinh Dương Minh, do ông ta nói “trí lương tri” (lương tri thức tỉnh),
người ta ai nấy đều có lương tâm, lương
tri. Có lần ông ta giữa đường lữ thứ
gặp phải bọn cường đạo, chúng bắt
ông ta làm kẻ hầu. Bọn thổ phỉ ấy bảo
ông ta: “Nhà ngươi nói ‘trí lương tri’, mọi
người đều có lương tâm, ngươi nói sai
be bét!” Vương Dương Minh hỏi: “V́ sao ta sai?”
Thổ phỉ đáp: “Bọn ta làm cường đạo
chẳng có lương tâm. Nếu ngươi có thể
chứng tỏ bọn ta cũng có lương tâm, ta sẽ
thả ngươi”. Vương Dương Minh nói: “Có
thể chứ! Ta sẽ chứng tỏ quư vị xác
thực là có lương tri, có lương tâm”. Thổ phỉ
hỏi: “Chứng tỏ bằng cách nào?” Vương
Dương Minh nói: “Vậy th́ các vị nhất
định phải nghe theo lời tôi, tôi nói quư vị làm
sao, quư vị bèn làm đúng như vậy, lương tâm
nhất định sẽ tỏ lộ”. Thổ phỉ
ưng thuận: “Được!” Tiên sinh Vương
Dương Minh nói: “Được rồi! Quư vị nghe
lời tôi, hăy cởi quần áo bên ngoài ra”. Thổ phỉ
cởi ra. Sau đấy lại cởi quần áo bên trong
ra. Cởi bỏ sạch quần áo phía trên, lại cởi
nốt quần ra, cởi đến cuối cùng luôn!
Bọn họ nói: “Vương tiên sinh! Chẳng thể
cởi hơn nữa, cởi nữa là không được
đâu!” Vương Dương Minh nói: “Quư vị thấy
đó, chẳng phải là lương tri tỏ lộ
ư?” Bọn chúng tin nhận, thả tiên sinh Vương
Dương Minh. Thổ phỉ c̣n có lương tri,
hiện nay th́ không được. Trong xă hội hiện
thời, chẳng cho họ cởi, họ vẫn muốn
cởi tuốt, lại c̣n muốn chạy long nhong khắp
phố, quư vị nói xem c̣n có cách nào nữa không? Tiên sinh
Vương Dương Minh mà gặp xă hội hiện
thời bèn lắc đầu, cách nói của ông ta có vấn
đề rồi!
Đây là nói tới Tâm Sở Tàm
Quư, liên quan đến vấn đề giáo dục. Nói
thật tại, hiện thời chúng ta chỉ có giáo
dục khoa học kỹ thuật, chứ giáo dục nhân
tánh và giáo dục đạo đức chẳng c̣n nữa;
v́ thế, thiên hạ mới loạn lạc, trật
tự xă hội mới trật khớp, v́ chẳng có giáo
dục đạo đức. Phương pháp bổ
cứu duy nhất trong hiện thời là cậy vào Phật
pháp, mỗi người đều có tâm Tàm Quư. Hễ có tâm
Tàm Quư, chắc chắn có thể thành tựu. Chẳng có tâm
Tàm Quư, dẫu gặp Phật, Bồ Tát, vẫn chẳng thể
thành tựu. V́ thế, hai tâm sở này vô cùng quan trọng.
Vô Tàm, Vô Quư là Trung Tùy Phiền Năo trong hai mươi sáu phiền
năo.
“Tiền
ngũ như bảo” (năm món đầu như
của báu), hai món sau “như
nhân thiện thủ tài cố” (như người khéo
giữ của cải). Ư nghĩa này rất sâu, chắc
chắn là chúng ta chớ nên coi thường. V́ sao? Nếu
chẳng có Tàm Quư, năm thứ trước đều
chẳng đạt được, dẫu có tu vẫn
chẳng thể thành tựu. Có thể thấy Thất Thánh
Tài có thể trọn đủ hay không, có thể tu
được hay không là nhờ vào hai điều kiện
sau cùng. Nói thực tại, hai điều kiện ấy
chính là thiện căn, phước đức.
Người chẳng có thiện căn, phước
đức, tu ǵ cũng đều chẳng thể thành
tựu.
Lăo pháp sư Ấn Quang suốt
đời kư tên đều ghi là Tàm Quư Tăng, lăo nhân gia vô
cùng khiêm hư, Ngài nói chính ḿnh thiếu đức, vô
khả năng, chỉ có trọn đủ tàm quư mà thôi.
Chúng ta đọc Văn Sao của Ngài, Văn Sao do
đối trị căn bệnh của con người hiện
đại mà có. Hiện thời, nói hoằng dương
Phật pháp, nói cứu độ chúng sanh, bàn luận cao xa
đều chẳng phù hợp thực tế! Có thể
đối trị xă hội hiện thời và đối
trị ḷng người hiện thời tốt nhất th́
nói thật thà, không ǵ bằng Văn Sao! Có thể hoằng
dương rạng rỡ Văn Sao, sẽ hữu ích to
lớn cho thế đạo, nhân tâm, mà cũng giúp
đặt vững vàng cơ sở Phật pháp rất
tốt đẹp.
(Sớ) Hựu Đại
Bổn ngôn.
(疏) 又 大 本 言。
(Sớ: Lại nữa, kinh
Đại Bổn nói).
Đại Bổn là kinh Vô
Lượng Thọ.
(Sớ) A Di Đà Phật
đạo tràng thụ, cao thập lục ức
do-tuần, tứ bố chi diệp bát ức do-tuần,
thụ bổn long khởi, ngũ thiên do-tuần, nhất
thiết chúng bảo, tự nhiên hợp thành.
(疏)
阿 彌 陀 佛 道 場 樹,高
十 六 億 由 旬,四 布 枝 葉,八
億 由 旬,樹 本 隆 起,五
千 由 旬,一 切 眾 寶,自
然 合 成。
(Sớ: Cây đạo tràng
của A Di Đà Phật cao mười sáu ức
do-tuần, cành lá tỏa rợp bốn phía tám ức
do-tuần, gốc cây cao trỗi năm ngàn do-tuần, do
hết thảy các thứ báu tự nhiên hợp thành).
Chúng ta cũng đă đọc
những điều này trong kinh Vô Lượng Thọ. “Tự nhiên” là Tánh Đức,
chẳng cần phải có kế hoạch kiến tạo,
trồng trọt, vun bồi, tự nhiên đều do các
thứ báu hợp thành. Trong chú giải kinh Vô Lượng
Thọ, lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đă dẫn
chứng kinh điển để nói rất tỉ mỉ.
V́ sao có cảnh giới thù thắng như vậy? Do tâm
thanh tịnh mà văng sanh, tâm tịnh ắt cơi tịnh. Chúng
sanh văng sanh đến bên ấy, ai nấy đều là “phát Bồ Đề tâm, một
bề chuyên niệm” A Di Đà Phật, đều là tâm
thanh tịnh nhất tâm bất loạn văng sanh, cộng
nghiệp ấy thù thắng! Chư vị! Chúng ta phải
đặc biệt lưu ư những câu này, nhất tâm là tâm
thanh tịnh. Trong tâm quư vị c̣n có vọng niệm, tâm
sẽ chẳng thanh tịnh, tâm thanh tịnh bèn văng sanh. Do
vậy, đối với chuyện đới nghiệp,
trong kinh luận đă nhiều lượt nói là “mang theo
nghiệp quá khứ”, chẳng phải là mang theo nghiệp
hiện tiền, chẳng thể mang theo nghiệp hiện
hành, mang theo cựu nghiệp, chẳng mang theo tân nghiệp.
V́ thế, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta phải
nghiêm túc rèn luyện, luyện ǵ vậy? Luyện tâm thanh
tịnh.
Muốn thật sự luyện
tâm thanh tịnh, thưa cùng quư vị, chớ nên quản
chuyện của người khác. Quản chuyện
người khác, tâm sẽ chẳng thanh tịnh. Do đó,
gia đ́nh, xă hội, tự viện đạo tràng
đều giống nhau, có Chấp Sự. Trước
đây, Chấp Sự trong tự viện là phục vụ,
v́ sao? Người ấy phải lo toan chuyện này
chuyện nọ, nói cách khác, phải hy sinh chính ḿnh. Tu hành là
hạng người nào? Thanh tịnh chúng! Thanh tịnh chúng
chẳng bận tâm sự vụ, thật sự tu hành.
Sự tu hành của người quản sự bị
phương hại rất lớn, v́ thế, Chấp
Sự là luân lưu đảm nhiệm, kỳ hạn là
một năm, hàng năm đều phải điều
chỉnh, thay đổi. Trong tự viện, Chấp
Sự tổng cộng là một trăm lẻ tám
người, nhưng trong tự viện gần như là
mấy ngàn người cư trụ. Một đại
tự viện hai ba ngàn người trụ là chuyện
rất b́nh thường. V́ thế, người phục
vụ, trên là từ Trụ Tŕ cho đến dưới là những
người nấu cơm, trồng rau, tổng cộng là
một trăm lẻ tám người, giống như
trừ giáo viên và các nhân viên trong nhà trường ra, thanh
tịnh chúng c̣n lại đều là học tṛ.
V́ thế, nói phát tâm là tu hành
thật sự. “Nếu
người thật tu đạo, chẳng thấy lỗi
người khác”. Hiện thời có thể nói là
chẳng có đạo tràng, hiện thời đến
đâu để t́m đạo tràng? Quư vị toàn thấy
những đạo tràng nhỏ, trụ mấy
người. Trụ mấy người th́ nói cách khác, chẳng
có cách nào mong sao “chuyện ǵ cũng đều chẳng
muốn làm”! Chẳng c̣n nói đến Chấp Sự và
thanh tịnh chúng nữa, hiện thời chẳng c̣n
nữa, đó là chúng ta thiếu phước báo. Tại Đài
Loan c̣n đỡ một chút, trong chùa miếu ít ra c̣n có sáu,
bảy người. Quư vị sang ngoại quốc, chùa
miếu một người, hai người, từ ba
người trở lên rất ít, rất hiếm có,
đại đa số toàn là một hai người.
Hương Cảng, Nam Dương cũng đều
như vậy. Chùa ở Tân Gia Ba cũng như thế,
rất lớn, nhưng đều là một người.
Pháp sư Diễn Bồi
rất cảm khái bảo tôi: “Chúng tôi chết đi, chùa này
sẽ lọt vào tay cư sĩ, v́ chẳng có người
thừa kế”. Thường có những cư sĩ theo
hầu pháp sư mỗi ngày, đôi khi có mấy cư
sĩ sống trong chùa. Lăo ḥa thượng văng sanh, những
chùa miếu ấy bèn “thuận
lư thành chương” đều do các cư sĩ tiếp
nhận. Những chuyện này đều là tướng suy
trong thời Mạt Pháp, bản thân chúng ta phải cảnh
giác. Hiện thời, bất luận xuất gia hay tại
gia đều chẳng thể thong dong tấn tu như
xưa kia, chuyện ǵ cũng chẳng màng đến
để tấn tu, không thể làm như vậy nữa
rồi! Làm không được th́ chúng ta làm như thế
nào? Tận hết sức bớt quan tâm, có thể hóa
chuyện lớn thành nhỏ, hóa chuyện nhỏ thành không
có, như thế th́ tâm chúng ta mới có thể đạt
đến thanh tịnh đôi chút. Nếu không, sẽ trở
thành đại chướng ngại. Bản thân chúng ta
phải hiểu rơ điều này.
(Sớ) Phục thùy chúng bảo,
dĩ vi anh lạc, phục hữu bảo vơng, la phú kỳ
thượng. Cứ thử, tắc hàng thụ chi
ngoại, biệt hữu Phật đạo tràng thụ,
kim văn tỉnh tiện, tức hàng thụ trung nhiếp,
hựu luận trung công đức thảo, diệc thụ
trung nhiếp, Đại Bổn kỳ thụ hữu
hương, diệc bảo trung nhiếp.
(疏) 復 垂 眾 寶,以 為 瓔 珞,復 有 寶 網,羅 覆 其 上。據 此,則 行 樹 之 外,別 有 佛 道 場 樹,今 文 省 便,即 行 樹 中 攝,又 論 中 功 德 草,亦 樹 中 攝,大 本 其 樹 有 香,亦 寶 中 攝。
(Sớ: Lại c̣n treo rủ
các thứ báu để làm chuỗi anh lạc. Lại có
lưới báu giăng che phía trên. Căn cứ theo đó,
ngoài các hàng cây, c̣n có một cây đạo tràng của
Phật, nay kinh văn này tỉnh lược, gom [cây
đạo tràng của Phật] vào trong các hàng cây, và cỏ
công đức nói trong luận [Văng Sanh] cũng được
gom vào trong các hàng cây, “cây có hương thơm” nói trong
Đại Bổn cũng được gộp trong
phần nói về các thứ báu).
Đoạn này sẽ lại
được nói [cặn kẽ hơn] trong phần Sao,
thảy đều có trích dẫn từ kinh Đại
Bổn Vô Lượng Thọ nên cũng chẳng khó
hiểu. Hôm nay chúng tôi giảng tới đây, hăy niệm
Phật hồi hướng.
A Di Đà
Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 68 hết
[1] Pḥng theo kiểu Tatami (c̣n gọi là
Washitu) là kiến trúc đặc sắc của Nhật.
Xưa kia, các pḥng trong nhà người Nhật đều
làm theo kiểu này, nhưng hiện nay nhà ở Nhật
thường chỉ có một pḥng là c̣n sử dụng cách
kiến trúc theo lối tatami và căn pḥng ấy thường
được dùng để làm pḥng giải trí, pḥng
tĩnh tâm hoặc pḥng riêng cho sinh hoạt gia đ́nh. Pḥng
Tatami theo truyền thống là loại pḥng có trần nhà
thấp, trần cách sàn tối đa là 6 feet, sàn nhà vừa
đủ rộng để có thể phủ kín sàn từ
sáu đến tám chiếc thảm tatami. Thảm tatami là
một loại dầy (chừng 1,91mx0,955m), bện bằng
rạ xen kẽ với sợi cỏ bấc đèn (soft
rush, Igusa). Pḥng làm theo kiểu tatami có cửa ra vào theo
lối cửa lùa (Fusuma), có thể đẩy cho
trượt trên bậu cửa. Cửa làm bằng khung
gỗ hay tre, phất giấy trắng đục hay
vải trắng để ánh sáng có thể lọt qua. Trong
pḥng thường có vài tấm b́nh phong bằng khung gỗ
phất giấy gọi là Shoji để có thể ngăn
thành vài pḥng nhỏ hơn khi cần. Trong pḥng thường
có một ô lơm vào tường gọi là Tokonoma là chỗ
để treo một bức tranh, hoặc một bức thư
pháp, dưới tranh thường để một b́nh hoa
đơn sơ, tạo thành tâm điểm cho căn pḥng.
Trong pḥng không đặt ghế mà thường kê bàn
thấp, người vào pḥng sẽ ngồi trên đệm
đặt trực tiếp trên sàn.
[2] Mười một thiện pháp theo Bách
Pháp Minh Môn Luận là Tín, Tinh Tấn, Tàm, Quư, Vô Tham, Vô Sân, Vô
Si, Khinh An, Bất Phóng Dật, Hành Xả và Bất Hại.
[3] Đây là cách nói biểu thị pháp,
chẳng phải thật sự là đội măo vào sẽ
không thể nghe và thấy rơ ràng. Loại măo được
nói ở đây là Miện (冕), tức là
loại măo c̣n được gọi là măo b́nh thiên, hoặc
măo thông thiên. Thân măo có h́nh ống, phía trên là một tấm
che đặt nằm ngang, h́nh chữ nhật, phía
trước và phía sau đều kết ngọc thành
nhiều tua, các tua ấy thường gọi là Lưu (旒). Các tua ngọc rủ xuống, giống
như cái rèm cửa sổ. Tương truyền, loại
Miện này do Hiên Viên Hoàng Đế chế ra, phía ngoài
thường bọc vải, lụa, hay gấm màu đen,
phía trong lót vải đỏ. Khi đội Miện,
phải búi tóc lên, rồi xuyên qua Miện một cây trâm cài
thường gọi là Kê (簪) để
giữ cho Miện khỏi tuột. Hai đầu Kê
thường có tua dài buộc quả cầu kết
bằng bông (tức là “miên hoa cầu” như Ḥa Thượng
nói đến ở đây), bọc vải quư, thêu thùa,
gắn ngọc. Hai quả bông ấy vừa che đúng hai
bên tai của người đội, nên chúng
được gọi là Tắc Nhĩ (塞耳: lấp tai). Thoạt đầu, hoàng đế và
các quan đại phu đều đội Miện trong các
đại điển, nhất là khi tế trời.
Điểm khác biệt là hoa văn thêu trên Miện cũng
như số lượng các tua ngọc. Cổ lễ quy
định, Miện của Thiên Tử có mười hai
tua, chư hầu chín tua, thượng đại phu
bảy tua, hạ đại phu năm tua. Sau này, Tần
Thủy Hoàng cấm ngặt hoàng thân, quốc thích, các quan đội
Miện, chỉ có hoàng đế được phép
đội Miện, nhưng Miện hầu như chỉ
trong các buổi đại triều, đại điển,
hay quốc tế (lễ tế của đất
nước do vua đứng làm chủ tế).