A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 69
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Giảo duyệt:
Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong
Tập 137
Xin xem A Di Đà
Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang hai
trăm chín mươi bảy:
(Sao)
Đạo tràng thụ, tức Bồ Đề thụ.
Như Thích Ca Phật, diệc tọa thụ hạ nhi thành
Chánh Giác, thị dă. Thập lục ức do-tuần giả,
Vương thị Đại Bổn vân: “Nhất thiên lục
bách do-tuần”. Phù hàng thụ thượng cập bát thiên,
Phật thụ hà đắc phản liệt? Kim sở dẫn
Bảo Tích bổn dă, tức hàng thụ nhiếp giả,
dĩ đạo tràng thụ diệc phục căn, hành,
chi, diệp, hoa, quả, hàng hàng tương thứ, cố
hàng thụ túc dĩ nhiếp chi dă.
(鈔) 道 場 樹,即
菩 提 樹。如 釋 迦 佛,亦 坐 樹 下 而 成 正 覺,是 也。十 六 億 由 旬 者,王 氏 大 本 云:一 千 六 百 由 旬。夫 行 樹 尚 及 八 千,佛 樹 何 得 反 劣。今 所 引,寶 積 本 也。即 行 樹 攝 者,以 道 場 樹,亦 復 根 莖 枝 葉 華 果,行 行 相 次,故 行 樹 足 以 攝 之 也。
(Sao: “Đạo
tràng thụ” chính là cây Bồ Đề. Như Phật Thích
Ca cũng ngồi dưới gốc cây mà thành Chánh Giác, cây ấy
chính là [“đạo tràng thụ”]. “Mười sáu ức
do-tuần”: Kinh Đại Bổn [bản hội tập] của
ông Vương chép là “một ngàn sáu trăm do-tuần”;
nhưng các hàng cây [thông thường] đă cao đến
tám ngàn [do-tuần], cây của Phật há lại ngược
ngạo thấp hơn ư? Nay tôi trích dẫn câu này từ
trong kinh Bảo Tích, tức là [cây đạo tràng] được
nhiếp trong phần kinh văn nói về các hàng cây. Bởi
lẽ, cây đạo tràng cũng là cội, thân, cành, lá, hoa,
quả, mỗi hàng đều tương xứng. V́ thế,
nói đến hàng cây là đủ để bao gồm).
Đoạn
này nhằm là giải thích chữ “đạo tràng thụ” được nhắc
đến trong lời Sớ. Chúng ta cũng vừa mới
xem đoạn này trong kinh Vô Lượng Thọ, hợp hai
kinh lại để xem, càng có thể hiểu cảnh giới
này rơ ràng hơn. Trong bản chú giải của cư sĩ
Hoàng Niệm Tổ đă nói rất rơ ràng, thế giới
Tây Phương là một thế giới xứng tánh chân thật.
Không chỉ là Phật, Bồ Tát chẳng thể nghĩ
bàn, mà trong thế giới ấy, không thứ ǵ có thể
nghĩ bàn được! Xác thực là một thế giới
chẳng thể nghĩ bàn, tuyệt đối chẳng thể
dùng tâm lư phàm phu để ḍ đoán, suy lường, dẫu
có suy lường, vẫn chẳng thấu hiểu
được! V́ cơi ấy là cơi Pháp Tánh, là tướng
được hiện bởi Chân Như bổn tánh, chẳng
giống thế giới này của chúng ta. Thế giới
bên này (cơi Sa Bà) từa tựa như thế giới của
mười phương chư Phật, h́nh tướng của
mọi vật bên này là Tướng Phần của A Lại
Da, c̣n thế giới bên kia là Tướng Phần của
Chân Như bổn tánh. Nói cách khác, năng biến chẳng
giống nhau, nên cảnh giới được biến hiện
đương nhiên khác nhau!
Trong kinh [Đại
Bổn], mỗi bản [dịch hoặc hội tập] nói
cây cối có độ cao khác nhau, chúng ta chẳng cần chấp
trước, chỉ hiểu là cây ấy vô cùng cao lớn là
được rồi, đừng nên chấp trước
con số nhất định là bao nhiêu do-tuần, [nếu
chấp như vậy] chúng ta sẽ bị chết cứng
trong từng hàng chữ. Đức Phật dạy chúng ta “y nghĩa, bất y ngữ”,
chúng ta hiểu rơ ư nghĩa này. Những văn tự dùng
để ghi chép ngôn ngữ chẳng quan trọng, những
chỗ giống như thế này chẳng có ảnh hưởng
to tát cho lắm!
Trong đoạn
này, Liên Tŕ đại sư đă nói, cây đạo tràng
chính là cây Bồ Đề. Cây Bồ Đề trong thế
giới của chúng ta là cây Tất Bát La (Pippala, Peepal) của
Ấn Độ, v́ Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện
thành Phật dưới cội cây ấy, nên chúng ta gọi
nó là “Bồ Đề thụ”
(Bodhivrksa). Ngài thành Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ
Đề dưới cội cây này, nên cây ấy được
gọi là “Bồ Đề thụ”.
Mười phương chư Phật thị hiện thành
Phật không nhất định đều ngồi dưới
cội Tất Bát La, các Ngài ngồi dưới cây nào, chúng
ta bèn gọi cây ấy là “Bồ
Đề thụ”. V́ thế, chủng loại của Bồ
Đề thụ cũng rất nhiều, mỗi thế giới
không nhất định giống nhau. Bồ Đề thụ
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là bảo
thụ.
Cây
cao mười sáu ức do-tuần, điều này
được nói trong kinh Đại Bổn. Tổ lại
dẫn “Vương Thị
Đại Bổn”, tức là bản hội tập của
cư sĩ Vương Long Thư, bản ấy chép “một ngàn sáu trăm do-tuần”.
Một ngàn sáu trăm kém hơn mười sáu ức quá
nhiều! Đương nhiên, cư sĩ Long Thư hội
tập [như vậy] cũng là có căn cứ, ông ta
đă dựa trên bốn bản dịch gốc để hội
tập, nhưng chưa xem bản kinh Đại Bảo
Tích được dịch vào đời Đường.
Hiện thời, chúng ta đă in ra bộ Ngũ Kinh Độc
Bổn, trong bộ sách ấy, năm bản dịch gốc,
bốn bản hội tập và tiết bổn đều
được thâu thập toàn bộ. Vậy là kinh Vô
Lượng Thọ có tất cả chín phiên bản, mọi
người đều được đọc toàn bộ
trong quyển sách ấy. Đúng là người trong thời
đại này của chúng ta có phước báo vô cùng to tát!
Các vị tổ sư đại đức từ xưa
đến nay đều chẳng có cách nào đọc hoàn
toàn một bản kinh tề chỉnh, hoàn bị như vậy.
Ông Vương Long Thư hăy c̣n có một bản dịch
chưa được đọc. Nếu được
thấy, nhất định là ông ta sẽ dựa trên
năm phiên bản để hội tập, chẳng
căn cứ trên bốn bản. Sau khi bản này in ra, hy vọng
có thể lưu thông với một số lượng lớn,
sẽ giúp tạo dựng tín tâm đối với Tịnh
Độ. Pháp môn này là pháp khó tin, chỉ
cần tín tâm được kiến lập, tôi nghĩ
[người có tín tâm ấy] sẽ có thành tựu, đấy
là công đức lợi ích vô lượng vô biên.
Tiếp
đó, đại sư nghị luận đôi chút. Ngài nói “hàng thụ thượng cập
bát thiên” (hàng cây [thông thường] c̣n cao đến tám
ngàn [do-tuần]). Trong phần trước đă nói các hàng
cây đều cao tám ngàn do-tuần, nếu cây đạo
tràng cao một ngàn sáu trăm do-tuần, [tức là] cây đạo
tràng lùn tịt, thấp chủn, chẳng thể nào có chuyện
ấy được! Cây đạo tràng chắc chắn
phải cao và trang nghiêm hơn các hàng cây thông thường.
Nói “hàng thụ thượng cập
bát thiên” chính là dựa theo kinh Quán Vô Lượng Thọ
Phật đă nói. Do vậy, ở đây đại sư
nói rơ, cách nói ấy nhất định sẽ khiến cho
chúng ta nẩy sanh hoài nghi. “Kim sở
dẫn, Bảo Tích bổn dă” (nay trích dẫn bản kinh
Đại Bảo Tích), tức là hội [Vô Lượng Thọ]
Như Lai trong kinh Bảo Tích, đó là bản dịch đời
Đường. Nói cách khác, cũng chính là bản cư
sĩ Vương Long Thư chưa xem. Kinh Bảo Tích nói
[cây đạo tràng cao] “mười
sáu ức do-tuần”. Trong kinh Bảo Tích, có rất nhiều
nội dung mà bốn bản kinh kia chẳng có. V́ thế, bản
này cũng hết sức quan trọng.
“Tức hàng thụ nhiếp giả”
[nghĩa là] giống như các hàng cây [thông thường], [ư
nói] tánh chất, tác dụng hoặc công đức [của
cây đạo tràng và các hàng cây khác trong cơi Cực Lạc]
đều tương đồng. Cây đạo tràng
cũng có cội, thân, cành, lá, hoa, quả, cũng là “hàng hàng tương thứ”,
[nghĩa là các hàng cây ngang nhau], các lá bằng nhau v.v… giống
hệt như những điều [kinh Vô Lượng Thọ
đă] giảng [về các hàng cây thông thường] trong phần
trước. V́ thế, nó cũng là cùng một loại với
các hàng cây ấy.
(Sao)
Công đức thảo giả.
(鈔) 功 德 草 者。
(Sao:
“Cỏ công đức” là…)
Trong
Luận (Văng Sanh Luận) có câu: “Công
đức thảo, diệc thụ trung nhiếp” (cỏ
công đức cũng được nói gộp trong “[bảy
hàng] cây”); theo Đại Bổn, những cây ấy có mùi
thơm, mùi thơm ấy được nói gộp vào trong
phần các chất báu. Tiếp đó, Ngài giải thích hai
câu ấy.
(Sao)
Luận vân: “Bảo tánh công đức thảo, nhu nhuyễn
tả hữu toàn, xúc giả sanh thắng lạc, quá Ca Chiên
Lân Đà”.
(鈔) 論 云:寶 性 功 德 草,柔 軟 左 右 旋,觸 者 生 勝 樂,過 迦 旃 鄰 陀。
(Sao:
Luận nói: “Cỏ công đức bảo tánh, mềm mịn
xoay hai bên, chạm vào sướng khôn cùng, hơn Ca Chiên Lân
Đà”[1]).
“Thắng” là thù thắng, “thắng
lạc” (勝樂) chính là khoái lạc
thù thắng.
(Sao) Kim bất ngôn giả, dĩ
mộc nhiếp thảo cố.
(鈔) 今 不 言 者,以
木 攝 草 故。
(Sao:
Nay [kinh Di Đà] không nói đến là v́ đă gộp cỏ
vào trong cây).
Trong
kinh chẳng nhắc đến điều này, v́ nói tới
cây cối trong Tây Phương thế giới là đă bao gồm
hoa cỏ trong ấy, đây là tỉnh lược. Trong
đại kinh và đại luận có nói bổ sung, [khiến
cho người đọc] càng thấy tỉ mỉ
hơn!
Ca
Chiên Lân Đà là tiếng Phạn, nó là một thứ hàng dệt
rất mịn, là một thứ chất liệu để
may y phục rất quư giá tại Ấn Độ, nhưng
nó chẳng phải là hàng tơ dệt, mà là hàng bông dệt.
Tuy là hàng bông dệt, nhưng vô cùng mềm mại, người
Ấn Độ hết sức ưa thích. Dùng thứ này
để tỷ dụ cây cỏ mềm mại như vải
mềm mịn. Thậm chí c̣n nói đương nhiên [những
thứ cây cỏ] trong cơi ấy c̣n vượt trỗi những
vật chất trong thế giới này, Tây Phương Cực
Lạc thế giới hết sức thù thắng như thế
đó!
(Sao)
Thụ hương giả, Đại Bổn Pháp Tạng
nguyện vân.
(鈔) 樹 香 者,大
本 法 藏 願 云。
(Sao:
“Cây tỏa mùi thơm”: Trong kinh Đại Bổn, ngài Pháp Tạng
nguyện rằng).
Điều
này thuộc trong bốn mươi tám nguyện.
(Sao)
Ngă tác Phật thời, quốc trung hoa thụ câu dĩ vô
lượng tạp bảo, bách thiên chủng hương
nhi cộng hợp thành. Kỳ hương phổ huân thập
phương thế giới, chúng sanh văn giả, giai tu
Phật hạnh. Kim bất ngôn giả, dị bảo tất
hữu kỳ hương, dĩ bảo nhiếp
hương cố.
(鈔) 我 作 佛 時,國 中 華 樹,俱 以 無 量 雜 寶,百 千 種 香,而 共 合 成,其 香 普 熏 十 方 世 界,眾 生 聞 者,皆 修 佛 行。今 不 言 者,異 寶 必 有 奇 香,以 寶 攝 香 故。
(Sao: “Khi tôi thành Phật,
các cây có hoa trong nước đều do vô lượng các
thứ báu khác nhau, trăm ngàn thứ hương cùng hợp
thành. Mùi hương ấy xông ngát mười phương
thế giới, chúng sanh ngửi thấy đều tu Phật
hạnh”. Nay không nói tới là v́ dị bảo ắt có mùi
hương, dùng chất báu để bao gồm
hương).
Đây
là nói bổ sung cho rơ hơn. Kinh này giản lược, có
nhiều chỗ trọn chẳng nhắc tới, chúng ta xem
những bản khác sẽ thấy nói cặn kẽ hơn.
V́ thế, đại sư chú giải kinh Di Đà, đối
với những chỗ kinh Di Đà chẳng nhắc tới,
nhưng các kinh luận khác có đề cập, Ngài đều
nói bổ sung trong lời chú giải. Nói thật ra, đọc
một bộ Di Đà Kinh Sớ Sao này sẽ giống
như đọc tất cả kinh luận Tịnh Độ,
[v́] tất cả đều được trích lục
trong ấy. Đặc biệt là kinh ấy (kinh Vô Lượng
Thọ) nói “kỳ hương
phổ huân thập phương thế giới”
(hương ấy xông ngát mười phương thế
giới), đây là dùng diệu hương để làm Phật
sự, ư nghĩa này đă được nói trong phần
trước, chúng ta phải chú tâm thấu hiểu. Đồng
thời, chúng ta phải lần lượt hoằng
dương rộng răi hương quang của Phật,
đấy mới là người thật sự tu Tịnh
Độ. Phương pháp để lần lượt hoằng
dương th́ điều thứ nhất là chính ḿnh y giáo
tu hành, chiếu theo lư luận, phương pháp, và cảnh
giới ấy để tu hành.
Hai chữ “tu
hành” vô cùng trọng yếu, hy vọng mọi người
phải đặc biệt lưu ư. “Hành”, chủ yếu nhất là kiến giải và
tư tưởng của chúng ta, tức là đối với
những điều chúng ta b́nh thường thấy,
nghĩ, hễ có sai lầm th́ phải sửa đổi.
Nói thật thà, tất cả tư tưởng và kiến
giải của chúng ta đều sai lầm, chỉ là xét
coi lầm lỗi có lớn hay nhỏ sai khác, chứ đều
là lầm lỗi. V́ sao? Chúng sanh từ tám thức, mà tám thức
chính là sai lầm! Nói nghiêm ngặt, đến khi nào mới
chẳng sai lầm? Bát Địa Bồ Tát! Bát Địa
Bồ Tát chuyển A Lại Da thành Đại Viên Kính Trí, thật
sự là tốt đẹp, đấy mới gần
như là Chánh Đẳng Chánh Giác bậc cao! V́ đối với
Chánh Đẳng Chánh Giác th́ từ hàng Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên
Giáo trở lên bèn có thể gọi là Chánh Đẳng Chánh
Giác, từ Chánh Đẳng Chánh Giác măi cho đến khi [chứng
đắc] Đẳng Giác Bồ Tát. Bát Địa, Cửu
Địa, Thập Địa, Đẳng Giác, quư vị
thấy đă hết sức gần với bậc Đẳng
Giác Bồ Tát. Do vậy, chúng ta nhất định phải
thừa nhận, cách nh́n và cách nghĩ của chính ḿnh là sai
lầm th́ mới được cứu!
Người
b́nh phàm [cứ nghĩ] kiến giải của ta chẳng
sai, [vậy là] chẳng có cách nào hết! V́ sao? Kẻ ấy chẳng
thể sửa đổi, chẳng thể uốn nắn!
Nếu biết chính ḿnh sai lầm, bèn có cơ hội sửa
đổi. Nếu cứ kiên tŕ “ta chẳng sai, các vị
nói sai bét”, sẽ vĩnh viễn chẳng thể sửa
đổi! V́ thế, phải sửa đổi từ kiến
giải và tư tưởng, cách sửa đổi như
thế nào? Bắt đầu từ chỗ nào? Thưa cùng
quư vị, niệm kinh. Nói thật thà, niệm kinh là tự
sửa đổi kiến giải và tư tưởng của
bản thân chúng ta. Niệm kinh có cần hiểu nghĩa hay
không? Chẳng cần! Quư vị muốn hiểu nghĩa, sẽ
chẳng đạt được hiệu quả do niệm
kinh. Tư tưởng và kiến giải chánh xác là chẳng có tư tưởng, chẳng có kiến
giải, đấy mới là chánh xác. Lục Tổ đă
nói rất rơ ràng, “vốn chẳng
có một vật”. Quư vị có một niệm tức là “có một vật”. “Có một vật”
là sai mất rồi, vốn chẳng có một vật mà! Do
vậy, kinh chỉ cứ niệm mà thôi. Niệm kinh là hoàn
thành Tam Học Giới - Định - Huệ một lượt,
đó là tu hành chân chánh.
Niệm
kinh ǵ? Chúng ta tu Tịnh Độ, mong mỏi quyết
định văng sanh thế giới Cực Lạc trong một
đời này, tốt nhất là đọc Tịnh Độ
Ngũ Kinh. Trong ngũ kinh, quư vị thích niệm bộ nào
cũng được, công đức đều như
nhau. Sự thọ dụng trong đọc kinh chính là ngay
trong lúc đọc kinh, tất cả hết thảy vọng
tưởng và tạp niệm của chúng ta thảy đều
chẳng có. Đó chính là uốn nắn tư tưởng
và kiến giải của chúng ta, chẳng có vọng tưởng,
chẳng có tạp niệm. Niệm kinh một mạch từ
đầu đến cuối, trong khoảng thời gian ấy,
chẳng sanh một niệm. Đối với chuyện
đọc kinh, chúng tôi vẫn cảm thấy phương
pháp xưa cũ là chánh xác, phương pháp cũ kỹ ấy
đă dùng mấy ngàn năm rồi! Bao nhiêu tổ sư
đại đức đều đề ra phương
pháp này, chắc chắn là chúng ta chớ nên xem thường,
phương pháp của các Ngài chính là đọc một thứ,
[chẳng đọc tràn lan nhiều bộ kinh]!
Trong
năm kinh, chọn lấy một loại, chớ nên đều
niệm trọn hết. V́ quư vị niệm một loại,
tâm quư vị sẽ định, sẽ chuyên. Niệm cả
năm loại, mỗi kinh có một cách nói riêng, [sẽ khiến
cho người chưa hiểu viên dung] vừa niệm vừa
sanh nghi hoặc: Cớ sao trong kinh này nói như thế này,
trong kinh kia lại nói như thế nọ? Đâm ra, quư vị
nẩy sanh nghi hoặc, điều đó không hay! V́ thế,
hăy chọn lựa một thứ! Niệm một thứ
kinh ấy cho đến khi tâm thanh tịnh, chúng tôi không nói
đến khai ngộ, mà là niệm cho tới đắc Định.
Nói “niệm cho tới đắc Định” chính là niệm
đến mức nhất tâm bất loạn; mức độ
thấp nhất là quư vị phải niệm đến mức
công phu thành phiến. “Thành phiến”
là ǵ? Đích xác là vọng tưởng chẳng có. Chưa
thể hoàn toàn chẳng có, nhưng đă đạt đến
mức rất ư là ít, tức là đă đạt hiệu
quả. Vừa niệm kinh vừa dấy vọng tưởng,
thậm chí càng niệm kinh Phật, vọng tưởng
càng nhiều, đó là phản hiệu quả (đạt hiệu
quả trái ngược), tức là công phu của quư vị
vẫn chưa đắc lực. Nói cách khác, quư vị niệm
chẳng đúng pháp!
Quư
vị thật sự niệm đúng pháp, càng niệm kinh, vọng
tưởng nhất định càng ít, vọng tưởng
càng ngày càng ít, tâm càng ngày càng thanh tịnh. Tâm thanh tịnh
bèn sanh trí huệ, trí huệ ngày càng tăng tấn, sẽ
có hiện tượng này. Đến khi đó, có thể
đọc kinh điển nhiều hơn một chút, chẳng
ràng buộc trong một môn nữa! Thông thường, đối
với một bộ kinh, cổ đức phải niệm
từ ba năm đến năm năm, niệm lâu như
thế, dụng ư ở chỗ nào? Tâm đă định,
trong ba năm hoặc năm năm chẳng mong xem bộ
kinh thứ hai, tâm bèn định. Định có thể sanh
huệ, trong kinh, đức Phật đă dạy: “Chế tâm nhất xứ, vô sự
bất biện” (chế ngự cái tâm ở một chỗ,
không chuyện ǵ chẳng hoàn thành). Năm năm ấy nhằm
khống chế cái tâm một chỗ, “một chỗ” tức là Định, hết thảy
chuyện thế gian và xuất thế gian hễ tiếp
xúc quư vị bèn hiểu rơ, chẳng xử trí công việc
sai lầm, [bởi lẽ] quư vị có công phu Thiền Định,
cũng có thể nói là quư vị có trí huệ. Có thể thấy
Phật pháp huấn luyện con người, đích xác là
có phương tiện thiện xảo. Nếu chúng ta hiểu
rơ, tiếp nhận, quư vị sẽ tự nhiên đạt
được lợi ích ấy.
Nếu
quư vị chẳng tin tưởng, cứ vận dụng
các phương pháp khoa học hiện đại của
người Tây phương, sẽ rất tệ hại! Nếu quư vị sang ngoại quốc ở
lâu một chút, sẽ hiểu nền giáo dục của Tây phương
dạy dỗ con người ngày càng ngu độn!
[Đương nhiên là] có những kẻ thông minh, nhưng
số người thiên tài cực ít, đại khái chín
mươi phần trăm đều rất ngu độn.
Khi chúng tôi ở chung với họ, đích xác là thấy
họ rất đáng thương, thua các đồng bào
Đài Loan quá xa. Người ngu nhất của Đài Loan tới
chỗ họ sẽ là thông minh nhất. V́ thế, học
tṛ con em Hoa Kiều hễ thi cử luôn giành mấy vị
trí đầu, người ngoại quốc trông thấy
cũng đỏ con mắt, bội phục khôn cùng, nhưng
mấy đứa học tṛ đứng đầu ấy,
[kể cả] đứa học tṛ đỗ thủ khoa,
hễ thi vào trường Đài Loan bèn chẳng đậu.
Thật đấy! Chẳng theo kịp tŕnh độ [của
học sinh] Đài Loan. Nếu chọn lấy phương
pháp này của Phật pháp, con người chúng ta sẽ
thông minh hơn, càng có trí huệ hơn, càng lỗi lạc
hơn. Người chẳng học Phật pháp sẽ không
biết, đă học Phật pháp th́ quư vị chẳng ngại
ǵ mà không thử xem: Quư vị có thể chế tâm nhất xứ,
đọc một bộ kinh trong ba năm hoặc năm
năm, sẽ thấy trí huệ tăng trưởng hay
không? Ba năm sau sẽ hoàn toàn là một người khác hẳn.
Đây
là nói tới chuyện “thế
giới Tây Phương dùng hương và quang minh làm Phật
sự”. V́ thế, chúng tôi mở rộng, dùng
phương pháp này để hoằng dương rộng
răi “hương quang” của Phật pháp, thật sự y
giáo tu hành, thật sự hoằng dương pháp môn này,
đó là quang minh của Phật! Nhất là hiện thời
chúng ta đă in xong Ngũ Kinh Độc Bổn, hy vọng
có thể lưu thông với một số lượng lớn.
Đó là “hương quang trang
nghiêm” của A Di Đà Phật. Xét theo thực tại, cũng
là Tam Bảo gia tŕ, là một hiện tượng hết sức
đáng mừng. Tiếp theo đây là một câu kinh văn
để tổng kết:
(Kinh)
Thị cố bỉ quốc danh vi Cực Lạc.
(Sớ)
Kết tiền lệ hậu.
(Sao)
Kết tiền giả, diêu thử lan, vơng, hàng thụ, thanh
tịnh trang nghiêm, sở dĩ trân vực biệt ư nê
sa.
(經) 是 故 彼 國 名 為 極 樂。
(疏) 結 前 例 後。
(鈔) 結 前 者,繇 此 欄 網 行 樹,清 淨 莊 嚴,所 以 珍 域 別 於 泥 沙。
(Kinh:
V́ vậy, cơi ấy gọi là Cực Lạc.
Sớ:
Kết phần trước, các phần sau phỏng theo lệ
này.
Sao:
“Kết phần trước”, do lan can, lưới, hàng cây
thanh tịnh trang nghiêm, nên cơi quư báu khác với cơi bùn cát).
“Trân vực” (珍域) là nói Tây
Phương Cực Lạc thế giới, cơi ấy toàn là
trân bảo hiển hiện, khác hẳn thế giới này.
Thế giới này của chúng ta khắp nơi là bùn cát.
Đất của người ta là bảy báu, c̣n chúng ta chỗ
nào cũng là bùn, cát.
(Sao)
Quỳnh thụ dị ư kinh cức.
(鈔) 瓊 樹 異 於 荊 棘。
(Sao:
Cây quỳnh khác với gai góc).
Chốn
núi hoang ở chỗ chúng ta toàn là gai góc, hễ vô ư, thân thể
sẽ thường bị thương. Tây Phương Cực
Lạc thế giới chẳng có [gai góc], đều là cây
báu, ngửi toàn mùi hương báu, cảnh giới
được tiếp xúc bởi sáu căn đều khiến
cho thân tâm quư vị thanh tịnh. V́ thế, đừng nói
là thấy A Di Đà Phật, [chỉ cần] thấy Tây
Phương Cực Lạc thế giới bèn kiến tánh,
v́ sao? Tất cả đều do Pháp Tánh biến hiện.
Buổi
chiều hôm nay có hai vị tỳ-kheo-ni xuất gia đến
gặp tôi, họ từ núi Dương Minh đến thỉnh
giáo tôi. Họ tu Thiền, tôi nói: “Mục đích của quư
vị là ǵ?” Họ muốn minh tâm kiến tánh. Tôi thật
thà bảo họ: “Tôi thấy quư vị chẳng thể nào
[đạt được mục đích ấy] trong một
đời này”. Tôi nêu một thí dụ, bảo: “Tham Thiền
minh tâm kiến tánh th́ đúng là trong ức vạn người
mới có một người, quư vị có giống như vậy
hay không?” Chúng ta biết thời cận đại kể từ
sau lăo ḥa thượng Hư Vân trở đi, chẳng nghe
nói có một người nào kiến tánh, có thể thấy
chuyện này rất khó! Các cô ấy muốn nghe băng ghi
âm [lời giảng] kinh Viên Giác và kinh Lăng Nghiêm của
tôi, tôi khuyên họ không cần nghe, cần ǵ phải lăng phí
thời gian! Tôi nói câu nào cũng thật thà. [Tu Thiền mong
thành tựu trong một đời] là điều chẳng
thể có, chẳng thể làm được! Tôi nói: “Quư vị
gặp một vị thầy giỏi nhất, gặp Thiền
Tông Lục Tổ Huệ Năng đại sư, quư vị
vẫn chẳng thể kiến tánh! V́ sao? Thuở ấy,
trong hội của Huệ Năng đại sư, theo Ngài
tham Thiền có tới mấy vạn người, bao nhiêu
người kiến tánh? Bốn mươi ba người!
Thuở ấy, Ngài giáo hóa suốt ba mươi bảy
năm tại Tào Khê, mấy vạn người theo học
với Ngài, bốn mươi ba người thành tựu, đó
là một chuyện thù thắng nhất trong lịch sử
Trung Quốc. Trong hội của những vị tổ
sư đại đức khác, suốt đời chỉ
có một, hai người thành tựu là đă ghê gớm lắm rồi. Ngũ Tổ giáo hóa tại
Hoàng Mai cũng là trọn đời, có mấy người
kiến tánh? Chỉ có một ḿnh Huệ Năng đại
sư, ngài Thần Tú vẫn chưa kiến tánh. Đạo
tràng của Tổ mấy ngàn người, [mà chỉ
có] một [người thành tựu]! Do vậy, chẳng dễ
dàng! Đi theo con đường này rất ư là khó! Chính
quư vị phải thật sự suy nghĩ, [bản thân quư
vị] có thể chịu đựng [gian khổ trên con
đường ấy] hay không? Quư vị c̣n phải gặp
được bậc cao thủ hay thiện tri thức thật
sự. Quư vị chẳng gặp thiện tri thức, [mà gặp
phải] “kẻ đui dẫn
đứa mù”, há có thể thành tựu được
ư?
Nói
đến chuyện niệm Phật văng sanh, chúng tôi ở
Đài Loan bốn mươi năm qua, biết xác thực người
niệm Phật biết trước lúc mất, văng sanh có
thụy tướng gần như ba bốn trăm người,
nơi này được gọi là “bảo đảo” (đảo báu) là có nguyên nhân. Quư vị thấy nơi nào trên thế
giới, trong ṿng bốn mươi năm có nhiều
người văng sanh như thế? Chẳng có! Đối với
Mật Tông, quư vị thấy trong bài giảng Hoa Nghiêm Niệm
Phật Tam Muội Luận, lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ
đă giảng Thật Tướng Niệm Phật rất
rơ ràng, minh bạch. Điều khó nói nhất là khi nhắc
đến chuyện học Mật tại Đại Lục,
trong mười ức người học Mật tại
Đại Lục, học Mật suốt bốn
mươi năm, chỉ có sáu người thành tựu!
Chưa được một người trong một ức
người nữa! Quư vị thấy đó, khó lắm! V́
thế, cụ không truyền Mật mà cực lực hoằng
dương Tịnh Độ.
Tại
Đại Lục, niệm Phật văng sanh biết trước
lúc mất cũng có không ít [trường hợp], nhưng
chẳng nhiều như tại Đài Loan; người của
họ đông hơn chúng ta rất nhiều, nhưng văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng
nhiều lắm. V́ thế, trong thời đại này, xét
theo số người văng sanh th́ Đài Loan chiếm tỷ
lệ cao nhất, thù thắng lắm! Cho tới hiện thời,
có thể nói là Tịnh Độ giáo từ Đài Loan truyền
ra khắp thế giới, các sách vở [Tịnh Độ]
hoàn chỉnh nhất thảy đều có đủ tại
Đài Loan. Người Đài Loan có phước báo chẳng
phải là ngẫu nhiên. Chúng ta biết chính ḿnh có phước,
vẫn phải nỗ lực gieo phước, hy vọng
phước báo ấy tăng trưởng, đó là Tam Bảo
gia tŕ, long thiên gia hộ. Đương nhiên là trong xă hội
này có kẻ tạo ác nghiệp, nhưng người thật
sự tích lũy công đức cũng có, cho nên thế gian
này mới có thể tồn tại ổn định. Nếu
ở nơi đây chẳng có ai tích công lũy đức,
tương lai của nơi chốn này sẽ chẳng thể
nào tưởng tượng được! Tại Đại
Lục vẫn có một ít người thật sự tu
hành, nên c̣n được Phật, Bồ Tát hộ tŕ. Nếu
ngay cả những người ấy đều chẳng
có, th́ sẽ kinh khủng lắm! T́nh huống ấy
đúng là chẳng thể nào tưởng tượng
được! Trong tâm chúng ta đă hiểu rơ những chuyện
này th́ tốt, gặp những đồng tham đạo hữu
chân chánh hăy khuyên lơn, khuyến khích họ. Tuy nghiệp
báo có cộng nghiệp và biệt nghiệp, nhưng biệt
nghiệp của chúng ta có thể ảnh hưởng cộng
nghiệp, nhất là lắm người học Phật,
nhiều bậc chân tu, chắc chắn sẽ ảnh hưởng
cộng nghiệp. Đây là tỷ dụ hai thế giới
chẳng giống nhau.
(Sao)
Vô nhất thiết khổ, hữu nhất thiết lạc,
danh Cực Lạc dă.
(鈔) 無 一 切 苦,有
一 切 樂,名 極 樂也。
(Sao:
Chẳng có hết thảy khổ, có hết thảy vui, nên
gọi là Cực Lạc).
Đây
là một nguyên do [khiến cơi ấy có tên gọi là] thế
giới Cực Lạc. Không chỉ chẳng có khổ, mà
ngay cả cái tên khổ năo cũng không có, huống là thật
sự có? Đó là “kết tiền”.
(Sao)
Lệ hậu giả, hậu văn công đức trang
nghiêm hạ, tuy vô “danh vi Cực Lạc” chi cú, nghĩa tắc
hữu chi. Thử trung “danh vi Cực Lạc” hạ, tuy vô
“công đức trang nghiêm” chi cú, nghĩa diệc hữu chi,
văn hỗ kiến dă .
(鈔) 例 後 者,後 文 功 德 莊 嚴 下,雖 無 名 為 極 樂 之 句,義 則 有 之。此 中 名 為 極 樂 下,雖 無 功 德 莊 嚴 之 句,義 亦 有 之,文 互 見 也。
(Sao: “Lệ hậu”
là trong phần kinh văn ở phía sau, sau câu “công đức
trang nghiêm”, tuy chẳng có câu “tên là Cực Lạc”, nhưng
xét theo ư nghĩa th́ có. Trong đoạn này, sau câu “tên là Cực
Lạc”, tuy chẳng có câu “công đức trang nghiêm”
nhưng xét theo nghĩa th́ vẫn có, do tham chiếu các
đoạn kinh văn với nhau mà có thể thấy
được).
Ư
nghĩa này rất hay! Trong kinh văn của kinh Phật thường thấy t́nh h́nh này, câu văn giản
lược, nhưng ư nghĩa vẫn hoàn chỉnh. Tuy kinh
Di Đà văn tự ít, vẫn chẳng khác kinh Vô
Lượng Thọ. Liên Tŕ đại sư gọi kinh Vô
Lượng Thọ là Đại Bổn, tức là nói rộng,
chỉ có thể nói văn tự nhiều hay ít khác biệt,
chứ ư nghĩa chẳng khác ǵ nhau! Không chỉ chẳng
khác kinh Vô Lượng Thọ, mà thật ra, nghĩa lư của
kinh Di Đà không chỉ bao trùm hết thảy các kinh do Thích
Ca Mâu Ni Phật đă nói trong bốn mươi chín năm, mà
[nghĩa lư của các kinh ấy] đều chẳng thể
vượt ra ngoài kinh A Di Đà. Thậm chí hết thảy
các pháp do mười phương tam thế hết thảy
chư Phật đă thuyết cho hết thảy chúng sanh
đều chẳng vượt ra ngoài bộ kinh A Di Đà
này. Kinh này chẳng thể nghĩ bàn! Không chỉ chẳng
thể vượt thoát kinh A Di Đà, mà nói thật ra, chẳng
thể vượt thoát một câu danh hiệu A Di Đà Phật.
V́
lẽ đó, quư vị chẳng thể văng sanh th́ thôi, chứ
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
thưa cùng quư vị, chính là kiến tánh thành Phật. Quư vị
trông thấy cây cối, hoa cỏ trong thế giới Tây
Phương bèn kiến tánh. Nhà Thiền thường nói: “Minh tâm kiến tánh, kiến tánh
thành Phật”, nên vừa đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới bèn kiến tánh, bèn thành Phật, hay
hơn tham Thiền nhiều lắm, vừa nhanh chóng, mà lại
c̣n ổn thỏa, thích đáng. Do vậy, các bậc đại
đức Thiền Tông sau khi giác ngộ bèn vội vă niệm
Phật. Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư đă nêu gương,
sau khi Ngài đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến
tánh trong Thiền Tông, bèn quay về chuyên niệm A Di Đà
Phật, chuyên hoằng dương A Di Đà Phật, trở
thành tổ sư đời thứ sáu của Tịnh Độ
Tông.
Quư
vị phải thật sự hiểu rơ, phải minh bạch,
nguyên lai niệm một câu A Di Đà Phật chẳng khác ǵ
tham Thiền. Trong Tịnh Tu Tiệp Yếu, cư sĩ Hạ
Liên Cư đă nói rơ ràng, không chỉ một câu A Di Đà Phật
là Thiền, mà câu A Di Đà Phật c̣n là vô thượng Mật
chú. Bởi lẽ đó, niệm câu A Di Đà Phật th́ Thiền
lẫn Mật đều cùng tu, mà Giáo cũng tu, tất cả
hết thảy các pháp môn đều cùng tu, chẳng sót một
pháp môn nào. Quư vị tu pháp môn khác bèn là “chọn một, sót cả
vạn”, pháp môn này mọi thứ đều bao gồm. Nói
thật ra, trong lời khai thị về niệm Phật,
Ngẫu Ích đại sư đă giảng rất rơ ràng,
chúng ta nhất định phải tin tưởng, người
tin tưởng là người có phước.
(Sớ)
Xứng Lư.
(疏) 稱 理。
(Sớ:
Xứng Lư).
Xứng
Lư chính là kiến tánh. Sau mỗi phần chú giải một
đoạn kinh văn, sách Sớ Sao đều giảng về
kiến tánh, đó là nỗi khổ tâm của Liên Tŕ đại
sư. V́ thuở lăo nhân gia tại thế, thuở đó,
phong khí nhà Thiền vô cùng hưng thịnh, Ngài đề
xướng Tịnh Độ chẳng dễ dàng, bị kẻ
khác bài xích, đả kích. V́ thế, trong Sớ Sao, chỗ
nào cũng trích dẫn kinh Hoa Nghiêm hoặc trích dẫn [các lời
lẽ của] Tông Môn để giải thích, khiến cho mọi
người thật sự giác ngộ: Pháp môn Niệm Phật
chẳng khác Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Mọi người công nhận
Hoa Nghiêm và Pháp Hoa là Nhất Thừa Viên Giáo, [niệm Phật]
chẳng khác ǵ tham Thiền! Nói thật ra, không chỉ chẳng
khác, mà c̣n thù thắng hơn, v́ phải là người có
căn tánh đặc thù th́ mới có thể học pháp môn
Thiền, chẳng phải là kẻ b́nh phàm mà toan học
được! Pháp môn [Tịnh Độ] này bất cứ
ai cũng đều có thể học, thành tựu trọn
chẳng kém Tông Môn và Giáo Hạ, cho nên thật sự là “thỏa thích bổn hoài độ
sanh của chư Phật”.
(Sớ)
Xứng Lư tắc tự tánh vạn đức tung hoành, thị
lan thuẫn nghĩa. Tự tánh bao la pháp giới, thị bảo
vơng nghĩa. Tự tánh trưởng dưỡng chúng thiện,
thị hàng thụ nghĩa.
(疏) 稱 理,則 自 性 萬 德 縱 橫,是 欄 楯 義。自 性 包 羅 法 界,是 寶 網 義。自 性 長 養 眾 善,是 行 樹 義。
(Sớ: Xứng Lư
th́ tự tánh vạn đức tung hoành là ư nghĩa của
“lan can”. Tự tánh bao la pháp giới là ư nghĩa “lưới
báu”. Tự tánh trưởng dưỡng các điều lành
là ư nghĩa “hàng cây”).
Thật
ra, những đoạn văn chương này đều từ
kinh Hoa Nghiêm biến hiện, toàn là nói tới cảnh giới
Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm chỗ nào cũng nhấn mạnh sự
biểu thị pháp. Thấy lan can (lan thuẫn) chính là “tự tánh vạn đức tung
hoành”. Dọc (tung) là Thuẫn, ngang (hoành) là Lan, phải
hiểu ư nghĩa này! V́ chúng là do đức năng của
tự tánh biến hiện, nên Lan Thuẫn là Tánh Đức.
Trông thấy Lan Thuẫn bèn kiến tánh. La vơng là “tự tánh bao la pháp giới”.
Lưới mành ấy chẳng giống những thứ bện
bằng sợi dây đồng trong thế gian này, lưới
mành của họ dùng Lân Đà (lông chim Ca Chiên Lân Đà), trân
bảo, hoặc anh lạc kết thành. Những thứ ấy
kết thành lưới báu cũng do Tánh Đức biến
hiện. “Hàng thụ”: Cây báu
xếp thành từng hàng một chỉnh tề, đó là “tự tánh trưởng dưỡng
chúng thiện”. Cây mọc trên mặt đất, dần
dần to lớn, tươi tốt, đơm hoa, kết
quả, nên có ư nghĩa “trưởng
dưỡng”.
Ở
đây, hợp với Đại Kinh để xem, chúng ta mới
liễu giải h́nh tướng của thế giới Cực
Lạc: Hết thảy các pháp trong thế giới Cực Lạc,
bất luận là hết thảy các pháp hữu t́nh hay vô
t́nh, thưa cùng quư vị, bất sanh, bất diệt, chẳng
có tăng trưởng dần dần. Chúng ta sanh sang đó,
khi tướng ấy được hiện [như thế
nào, dẫu sau bao nhiêu năm tháng] vẫn là y hệt như
vậy. Nếu phải có [h́nh tướng] giống như
đứa trẻ dần dần trưởng thành th́
thưa cùng quư vị, đó là có sanh, trụ, dị, diệt,
có sanh, lăo, bệnh, tử. V́ thế, hễ sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, h́nh tướng
giống hệt A Di Đà Phật, bất sanh, bất diệt,
mà cũng vĩnh viễn chẳng bị già yếu. Hết
thảy vật chất trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới chẳng giống như ở nơi
đây: Xuân sanh khởi, Hạ tăng trưởng, Thu thâu
hoạch, Đông thâu tàng. Tây Phương Cực Lạc thế
giới chẳng có [những hiện tượng ấy],
khí hậu chẳng biến hóa, vĩnh viễn trường
xuân, nó là một thế giới như thế đó. Quư vị
đừng nghĩ là chúng ta đến hóa sanh trong hoa sen,
đại khái hiện thời là một đứa bé, từ
từ trưởng thành, [nếu là] như vậy, tức
là có sanh diệt. Thế giới ấy vô cùng kỳ diệu!
Hơn
nữa, ai nấy đều là vô lượng thọ, sự
vô lượng thọ này là vô lượng thọ thật sự,
tuyệt đối chẳng phải là vô lượng trong
hữu lượng. Từ kinh Vô Lượng Thọ, chúng
ta đọc thấy đó là vô lượng thật sự,
chẳng giống các thế giới ở phương khác.
Trong các thế giới ở phương khác, tuy nói là con
người thọ vô lượng, nhưng đó là vô
lượng trong hữu lượng. Chúng ta phải hiểu
rơ những điều này.
(Sao)
Tung hoành giả, Lục Độ vạn hạnh, bất
ly tự tánh. Như tự tánh bổn vô xan tham, thị danh
bố thí, dĩ Thí vi tung. Thí vô nhiễm tâm, tắc hoành
thành Giới Độ. Thí vô ngạo tâm, tắc hoành thành Nhẫn
Độ. Thí vô quyện tâm, tắc hoành thành Tấn Độ.
Thiền Định, trí huệ, diệc phục như thị
(鈔) 縱 橫 者,六 度 萬 行,不 離 自 性。如 自 性 本 無 慳 貪,是 名 布 施,以 施 為 縱,施 無 染 心,則 橫 成 戒 度;施 無 傲 心,則 橫 成 忍 度;施 無 倦 心,則 橫 成 進 度。禪 定 智 慧,亦 復 如 是。
(Sao: “Tung hoành”: Lục
Độ vạn hạnh chẳng ĺa tự tánh. Như tự
tánh vốn chẳng keo kiệt, tham lam, nên gọi là Bố
Thí. Coi Thí là tung, bố thí mà tâm vô nhiễm th́ hoành sẽ trở
thành Giới Độ. Bố thí nhưng tâm chẳng ngạo
mạn, hoành sẽ trở thành Nhẫn Độ. Bố
thí tâm chẳng mệt mỏi, hoành sẽ trở thành Tấn
Độ. Thiền Định, trí huệ cũng giống
như thế).
Ư
nghĩa này rất trọng yếu. Nói thật ra, nội
dung của mỗi độ trong Lục Độ đều
dung nhiếp năm độ kia, đó mới thật sự
gọi là Ba La Mật Đa. Chẳng phải là nói Bố Thí
chỉ có Bố Thí, trong Bố Thí chẳng có Tŕ Giới, Tinh
Tấn, Nhẫn Nhục, Thiền Định, Bát Nhă. [Nếu
như vậy th́] chỉ gọi là Bố Thí, chẳng thể
gọi là Bố Thí Độ, không thể gọi là Bố
Thí Ba La Mật. Nếu gọi là Bố Thí Ba La Mật, trong
ấy nhất định nhiếp trọn vẹn năm
độ kia. Bất cứ một độ nào cũng
đều nhiếp năm độ khác, đấy là Tánh
Đức, chúng ta phải học tập điều này.
Trong lời giảng,
đại sư đă dùng một pháp bố thí để
giảng, trong Lục Độ nêu ra một độ. Bố
thí có ba loại, gồm tài bố thí, pháp bố thí, và vô úy bố
thí. Tôi nói cho các đồng tu biết: In kinh bố thí tức
là ba thứ đồng thời trọn đủ. In kinh phải
có tiền, đó là tài bố thí; kinh điển là pháp, tức
pháp bố thí; người ta sau khi đọc sẽ phá mê
khai ngộ, xa ĺa hết thảy điên đảo, kinh sợ,
đó là vô úy bố thí.
Bố
thí “bất ly tự tánh” (chẳng
ĺa tự tánh). Trong tự tánh, một pháp chẳng lập,
Lục Tổ nói “vốn chẳng
có một vật nào”, cho nên nói “tự tánh bổn vô xan tham”. Xan tham (tham lam, keo kiệt)
là phiền năo, phiền năo ấy do đâu mà có? Từ trong
vọng tưởng, chấp trước sanh ra, trong kinh
Hoa Nghiêm, đức Phật đă nói căn bệnh này. Ĺa
khỏi vọng tưởng chấp trước, hết
thảy các pháp đều chẳng có. Chẳng có xan tham th́
mới gọi là Bố Thí Ba La Mật viên măn rốt ráo.
Do
vậy, khi chúng ta bố thí, Giáo Hạ nhấn mạnh “tam luân thể không”, chớ
nên nghĩ có ta là người có thể bố thí, chớ
nên nghĩ có người tiếp nhận sự bố thí của
ta, chớ nên nghĩ đến những vật ta dùng để
bố thí, đó là “tam luân thể
không”. [Tam luân thể không th́] cái tâm bố thí của ta mới
thanh tịnh, mới chẳng có nhiễm ô. Tâm chẳng có
nhiễm ô chính là giới luật, có nhiễm ô là ác, giới
luật nhằm độ ác nghiệp. Trong tâm ta chẳng
nhiễm, giới viên măn, giới phẩm trọn đủ.
Trong bố thí chẳng có kiêu căng, ngă mạn, cũng là đă
tu Nhẫn Nhục Độ, cũng được bao gồm
trong ấy. Trong bố thí chẳng có mệt mỏi, chán
ngán, vĩnh viễn chẳng mệt mỏi, chán chường,
thường hành bố thí, đó là Tinh Tấn. Khi bố
thí, tâm chẳng loạn, chẳng tán loạn là Thiền
Định. Khi bố thí, tâm quư vị chẳng mê, không ngu
si, đó chính là Bát Nhă. Có thể thấy một độ
nhiếp trọn vẹn sáu độ, sáu độ viên măn
ngay trong một độ, bất luận độ nào
cũng đều là viên măn Lục Độ. Thiền
Định, trí huệ cũng đều là như thế.
(Sao)
Dư chi ngũ độ, lệ thượng khả tri.
(鈔) 餘 之 五 度,例
上 可 知。
(Sao:
Đối với năm độ c̣n lại, phỏng theo
lệ trên đây sẽ biết).
Chẳng
cần phải nói từng điều một. Tiếp theo
đó là nói.
(Sao)
Chúng diệu tất cụ, thị tức mỹ quan,
chư vọng bất can, thị tức pḥng tổn.
(鈔) 眾 妙 畢 具,是 即 美 觀,諸 妄 不 干,是 即 防 損。
(Sao:
Các thứ mầu nhiệm ắt trọn đủ chính là
“mỹ quan”, chẳng dính dáng đến các vọng chính là
“ngăn ngừa tổn hoại”).
Lan
can nhằm hai dụng ư: Tạo vẻ mỹ quan và pḥng ngừa
tổn hại. Nói xứng tánh, mỹ quan chính là “chúng diệu tất cụ”.
Đây là nói đức năng xứng tánh, chẳng có ǵ
không trọn đủ. Đúng như Lục Tổ đă
nói: “Nào ngờ tự tánh vốn
trọn đủ”. Trong tự tánh của quư vị chẳng
thiếu thứ ǵ, thứ ǵ cũng đều chẳng thiếu
khuyết. Do đó, y báo và chánh báo trang nghiêm trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới chính là Tánh Đức
hiển hiện toàn thể. Chúng ta ai nấy đều có tự
tánh, v́ sao ngày nay Tánh Đức của chúng ta đều chẳng
hiển hiện tự tại như trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới? Đó là v́ bản thân chúng ta có
chướng ngại, khiến cho Tánh Đức của
chính ḿnh bị chướng ngại, chẳng thấu lộ
được! Kinh Phật thường nói chướng
ngại gồm ba loại lớn, tức là Kiến Tư
phiền năo, Trần Sa phiền năo, Vô Minh phiền năo. Tam Chướng
chướng ngại chúng ta, khiến cho chúng ta tuy có Tánh
Đức giống hệt Như Lai, nhưng chẳng thể
tỏ lộ, đây là chỗ chúng ta phải thật sự
hổ thẹn. V́ sao các Ngài chẳng có chướng ngại,
mà ta có chướng ngại? Nếu chướng ngại
là thật th́ cũng chẳng cần phải nói ǵ nữa,
có thể chấp nhận được! Nhưng chướng
ngại chẳng phải là thật, chướng ngại
chính là một niệm mê. Một niệm mê, nhưng quư vị
vẫn không biết. Một niệm mê là ǵ? Lại bảo
quư vị, một niệm phân biệt, một niệm chấp
trước, quư vị hăy khéo hiểu điều này. Chính
v́ quư vị có một niệm chấp trước, một
niệm phân biệt, nên Tánh Đức của quư vị
không thể hiện tiền. Nếu trong hết thảy các
pháp, quư vị rời khỏi phân biệt, chấp trước,
Tánh Đức sẽ hiện tiền.
Ở
chỗ này, nghe kinh phải biết nghe, đừng nghe hiểu
sai ư nghĩa. “Chẳng phân biệt, chẳng chấp trước”
là từ trong tâm của quư vị, bề ngoài th́ như thế
nào? Bề ngoài vẫn phải phân biệt, vẫn phải
chấp trước. Nếu bề ngoài chẳng phân biệt,
chẳng chấp trước, ngay lập tức quư vị
biến thành ngây ngốc. Tôi hỏi quư vị “cái ǵ đây?”
Không biết! Như vậy là biến thành ngây ngốc mất
rồi! Trong tâm xác thực chẳng có phân biệt, chấp
trước, c̣n bên ngoài th́ sao? Quư vị phân biệt, ta thuận
theo quư vị phân biệt. Quư vị chấp trước, ta
thuận theo quư vị chấp trước, đó là “tùy
duyên”. Bên trong th́ sao? Bất biến! Bên trong quyết định
chẳng phân biệt, chẳng chấp trước. V́ thế,
chỗ khác nhau giữa phàm phu và Phật là phàm phu trong hay
ngoài đều phân biệt, chấp trước; c̣n Phật,
Bồ Tát trong tâm chẳng có phân biệt, chấp trước,
nhưng bên ngoài tùy thuận chúng sanh phân biệt mà phân biệt,
tùy thuận chúng sanh chấp trước mà chấp trước.
V́ thế, các Ngài cũng giảng kinh, thuyết pháp! Nếu
tùy thuộc chính các Ngài th́ kinh cũng chẳng cần phải
giảng, pháp cũng chẳng cần phải nói. V́ thế,
các Ngài ngoài là “hằng thuận
chúng sanh, tùy hỷ công đức”, bên trong là như
như bất động, chân tâm thường trụ, Phật
và chúng sanh khác nhau ở chỗ này. Đây là nói tới vẻ
đẹp của Tánh Đức. “Chư vọng bất can” (chẳng dính dáng đến
các vọng), một vọng niệm cũng chẳng khởi
lên. Đó chính là ư nghĩa “pḥng
chỉ tổn hoại” (ngăn ngừa tổn hoại).
Điều này cho thấy lan can là Tánh Đức.
(Sao)
Bao la giả, tự tánh di măn thanh tịnh, bao pháp giới cố.
(鈔) 包 羅 者,自
性 彌 滿 清 淨,包 法 界 故。
(Sao:
“Bao la”: Tự tánh tràn đầy thanh tịnh, bao trùm khắp
pháp giới).
Đúng
vậy! Tự tánh là chân tâm, chân tâm to cỡ nào? Rất lớn,
chẳng có cách nào nói được, chẳng có cách nào
tưởng tượng được! Trong kinh Lăng
Nghiêm có một tỷ dụ rất hay. Đức Phật
tỷ dụ cả thái hư như một áng mây, sánh ví tâm
lượng của chúng ta như hư không, quư vị nói
xem cái nào lớn hơn? “Tâm bao
thái hư, lượng châu sa giới” (tâm bao trùm hư
không, lượng bằng các cơi nước nhiều như
cát), đó là cái tâm vốn sẵn có của chúng ta. Nay quư vị
suy nghĩ, sẽ thấy chúng ta đáng thương quá! Hai
người ở chung với nhau bèn chẳng thể dung nạp
nhau, đó là vọng tâm. Tâm ǵ vậy? Tâm phân biệt, tâm chấp
trước. Nếu quư vị ĺa khỏi hết thảy
phân biệt, chấp trước, sẽ chính là “tâm bao thái hư, lượng châu
sa giới”.
Tận
hư không khắp pháp giới, ở nơi đâu? Ở
ngay trong tâm chúng ta, Phật pháp thường nói: “Ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài pháp
chẳng có tâm”, hết thảy các pháp đều ở
trong tự tâm. V́ thế, chẳng có gần hay xa, mười
vạn ức cơi Phật thấm vào đâu? Trong một niệm
bèn đến được, v́ sao? Chẳng hề rời
khỏi, chẳng phải là ở ngoài tâm, mà ở ngay trong
tâm của chính ḿnh. Tâm nghĩ như thế nào bèn đến
ngay [nơi đó]. Nghĩ muốn sang Tây Phương Cực
Lạc thế giới, bèn đến ngay Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Nghĩ muốn tới thế giới
Lưu Ly [của Phật Dược Sư], bèn tới ngay
thế giới Lưu Ly. Nghĩ tới cơi nước của
một vị Phật nào, bèn tới ngay cơi nước của
vị Phật ấy. Do vậy, tận hư không khắp
pháp giới, trong một niệm, không chỉ là đến
từng cơi một, mà là đồng thời đều
đến, chẳng rời khỏi tự tánh, đấy
là chân tướng sự thật. Đó là cảnh giới
Hoa Nghiêm, mà cũng là cảnh giới được nói
trong kinh này.
(Sao)
Trưởng dưỡng chúng thiện giả, như Hoa
Nghiêm Ly Thế Gian Phẩm vân: “Bồ Tát diệu pháp thụ,
sanh ư trực tâm địa, tín chủng từ bi
căn, trí huệ dĩ vi thân, phương tiện vi chi
cán, ngũ độ vi phồn mật, định diệp,
thần thông hoa, Nhất Thiết Trí vi quả”.
(鈔) 長 養 眾 善 者,如 華 嚴 離 世 間 品 云:菩 薩 妙 法 樹,生 於 直 心 地,信 種 慈 悲 根,智 慧 以 為 身,方 便 為 枝 幹,五 度 為 繁 密,定 葉 神 通 華,一 切 智 為 果。
(Sao: “Trưởng
dưỡng các thiện căn”: Như phẩm Ly Thế
Gian trong kinh Hoa Nghiêm đă nói: “Cây diệu pháp Bồ Tát, mọc
nơi đất trực tâm, tín: hạt; từ bi: gốc.
Lấy trí huệ làm thân, phương tiện làm cành nhánh,
năm độ làm sự xum xuê, lá Định, hoa thần
thông, Nhất Thiết Trí làm quả”).
Đây
là mấy câu trong kinh Hoa Nghiêm. Thanh Lương đại
sư giải thích vô cùng tinh tường, gọn ghẽ:
Đó là cảnh giới của thế giới Hoa Tạng,
là Nhất Chân pháp giới, là cảnh giới trong thế giới
Cực Lạc. Nay chúng ta là phàm phu sát đất, nếu hiểu
rơ cảnh giới này, đối với cảnh quan trước
mắt, khi sáu căn tiếp xúc cảnh giới bèn có thể
quán như thế, sẽ có ích rất lớn cho chúng ta, v́
sao? Có thể khai phát công đức trong tự tánh. Đồng
thời chúng ta cũng hiểu rơ những thứ trong thế
giới Tây Phương do đâu mà có? Hiện thời mọi
người đều nói đến khoa học, truy xét nguồn
cội, thế giới này do đâu mà có? Hết thảy vạn
vật do đâu mà có? Truy cứu cách nào cũng chẳng t́m
được căn bản, cũng chẳng t́m được
cội nguồn của nó. Cội nguồn thật sự của
nó ở [được ghi] trong kinh Hoa Nghiêm [đều do
tâm] biến hiện ra. Cảnh giới thù thắng của
Phật, Bồ Tát từ tâm thanh tịnh biến hiện,
c̣n thế giới Sa Bà của chúng ta từ tâm nhiễm ô biến
hiện. V́ thế, kinh thường dạy “y báo chuyển theo chánh báo”.
Nay
chúng ta sống trong thế gian này, hết thảy ô nhiễm,
khắp nơi là tạp loạn, đó là v́ tâm của chính chúng
ta chẳng thanh tịnh, “tâm tịnh,
ắt cơi tịnh”, mọi người chẳng biết
điều này. Người thế gian chẳng hiểu cội
nguồn thật sự của căn bệnh ấy ở
chỗ nào? Cội nguồn thật sự ở trong tâm của
hết thảy chúng sanh. Xác thực là người trong thế
hệ này của chúng ta thua kém thế hệ trước rất
nhiều! Chúng ta đọc cổ thư thấy cổ nhân
tuy sự thấy nghe và kiến thức trong một đời
chẳng rộng răi, nhưng cuộc sống của họ
gần như luôn là “t́nh
thơ, ư họa”. Văn học, thi ca đều là những
tác phẩm tả thực, toàn là mô tả đúng sự thật
cuộc sống của người thời ấy. Cuộc
sống trước kia đẹp lắm, cuộc sống
trong thời đại hiện tại rất đáng
thương. Người hiểu Phật pháp sẽ biết
rơ v́ sao cuộc sống của người thời ấy
tốt đẹp ngần ấy? Tâm thanh tịnh! V́ lẽ
đó, cổ đức nói: “Tri
sự thiểu thời, phiền năo thiểu” (khi biết
ít chuyện th́ cũng ít phiền năo). Quư vị đừng
nên biết quá nhiều chuyện, biết nhiều sẽ lắm
phiền năo! “Thức nhân đa
xứ, thị phi đa” (biết nhiều người,
thị phi càng lắm). Quư vị quen biết nhiều
người, thị phi sẽ nhiều. Người chẳng
bắt buộc phải quen biết th́ chẳng cần thiết,
[biết họ] vô ích! [Như vậy th́] mới có thể
thường giữ ǵn cái tâm thanh tịnh của quư vị.
Nay quư vị thật sự muốn ǵn giữ cái tâm thanh tịnh,
nói cách khác, quư vị đừng coi TV, đừng nên nghe
radio, đừng đọc báo chí, tâm bèn thanh tịnh. Suốt
ngày hôm nay, chuyện ǵ cũng đều chẳng có, thiên hạ
thái b́nh, tâm rất thanh tịnh, rất tự tại. Hễ
quư vị xem những thứ ấy, [sẽ thấy] thế
giới này rất loạn, rất dơ bẩn, phân biệt,
chấp trước, vọng tưởng thảy đều
dấy lên. Trong có phiền năo, bên ngoài là duyên, những thứ
ấy đều là duyên, những duyên ấy lôi kéo, dẫn
dụ phiền năo bên trong, trong lẫn ngoài thảy đều
loạn.
Do
vậy, người học Phật, niệm Phật
đích xác là chẳng dễ ǵ thành tựu, v́ sao niệm nhiều
năm ngần ấy, vẫn chưa thể đạt
đến công phu thành phiến? Khoan nói tới nhất tâm bất
loạn! Nếu quư vị truy t́m nguyên nhân, [sẽ thấy]
chính là do quư vị biết quá nhiều chuyện, quen biết
quá nhiều người, nên quư vị niệm Phật chẳng
có cách nào niệm đến mức công phu thành phiến, chẳng
có cách nào niệm đến mức nhất tâm bất loạn,
đạo lư ở ngay chỗ này. Quư vị mới biết
phạm vi hoạt động của chúng ta càng nhỏ sẽ
càng thanh tịnh, mới thật sự có thể đạt
đến mục tiêu văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới trong lư tưởng của chúng ta.
“Bồ Tát diệu pháp thụ,
sanh ư trực tâm địa” (cây diệu pháp Bồ
Tát, sanh nơi đất trực tâm), đó là nói rơ trong Tịnh
Độ của Phật, Bồ Tát, những thứ ấy
do đâu mà có? Mọi người phải biết: Hễ
là người văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, thảy đều là Bồ Tát, bốn mươi
tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ đă nói [như
thế]. Tuy kinh nói [trong cơi Cực Lạc] có A La Hán, có trời,
có người, nhưng phần sau kinh Vô Lượng Thọ
đă nói rơ ràng, minh bạch: Đó là nói theo các thế giới
ở phương khác, trọn chẳng phải là thật!
Cổ đức chú giải đă có hai cách giảng: Một
là thuận theo phẩm số đoạn Hoặc trong các thế
giới ở phương khác [mà nói là trời, người
hay A La Hán], chứ họ đều là Bồ Tát. Cũng có
nghĩa là năm mươi mốt cấp bậc từ địa
vị Sơ Tín Bồ Tát cho đến Đẳng Giác Bồ
Tát là phân chia theo phương diện đoạn Hoặc.
Thí dụ như đối với Kiến Tư phiền
năo, địa vị Sơ Tín đoạn Kiến Hoặc,
phải đạt đến địa vị Thất Tín
Bồ Tát mới đoạn sạch Tư Hoặc. A La Hán
được nói trong thế giới Cực Lạc ngang bằng
với Bồ Tát thuộc địa vị Thất Tín trong
các thế giới phương khác. Nói “thiên nhân” th́ bằng
với thiên nhân chưa đoạn Kiến Tư Hoặc
trong các thế giới phương khác. Đấy là một
cách giảng. Do vậy, Tây Phương Cực Lạc thế
giới không chỉ chẳng có tam ác đạo, mà tam thiện
đạo cũng chẳng có, chẳng có lục đạo
luân hồi, là thế giới thuần nhất Bồ Tát, lại
c̣n là thế giới của Phổ Hiền Bồ Tát.
Những
cây báu ấy do đâu mà có ? Sanh từ trực tâm của Bồ
Tát. Đến bên ấy, mỗi người đều là “trực tâm chánh niệm Chân
Như”, luận Đại Thừa Khởi Tín nói như
vậy. Trực tâm chánh niệm Chân Như th́ cách niệm
như thế nào? Nay chúng ta là nhất tâm, nhất tâm là trong
tâm chắc chắn chẳng có vọng niệm nào. Ta niệm
một câu “Nam-mô A Di Đà Phật”,
đó là trực tâm chánh niệm Chân Như. Cách nói trong các
tông khác rất khó thực hiện, rất khó khăn, Tịnh
Độ Tông dễ dàng, đúng là “đạo dễ hành”. Cổ đức đă giảng
rất rơ ràng, tâm năng niệm là Thỉ Giác, một câu Phật
hiệu được niệm là Bổn Giác. Khi niệm Phật,
Thỉ Giác hợp với Bổn Giác, đó là đạt
đến Cứu Cánh Giác. Chúng ta dùng câu nói ấy của cổ
đức để giải thích câu “trực tâm chánh niệm Chân Như” như luận
Khởi Tín đă nói. Chúng ta nhất tâm chấp tŕ danh hiệu
bèn trực tâm chánh niệm Chân Như, đó là Thỉ Giác hợp
với Bổn Giác. Thưa cùng quư vị, đó là Thượng
Thượng Thiền trong Thiền Tông, là đại viên
măn trong Mật Tông. Các pháp môn b́nh thường chẳng thể
sánh bằng pháp môn này. V́ thế, pháp môn này thù thắng, chẳng
phải là thiện căn, phước đức chân thật
th́ sẽ chẳng gặp được, thật đấy!
Do đó, những cây ấy “sanh
nơi trực tâm”.
“Tín chủng, từ bi căn”
(Tín là hạt giống, từ bi là rễ), Chủng (種) là chủng tử
(種子: hạt giống),
chủng tử là ǵ? Là Tín. Tín là căn bản, đặc
biệt là pháp môn này. Không chỉ riêng pháp môn này, mà các pháp môn
Đại Thừa đều lấy Tín làm điều kiện
bậc nhất. Kinh Hoa Nghiêm bảo: “Tín vi đạo nguyên, công đức mẫu” (tín là
nguồn đạo, mẹ công đức), là nguồn của
đạo, nguồn cội, là mẹ công đức, “mẹ”
có nghĩa là “có thể sanh ra”. V́ thế, Tín là chủng tử,
Từ Bi là rễ.
Nếu
chẳng có từ bi, dẫu có thần thông, có tam-muội,
thưa cùng quư vị, đều là ma. Quư vị phải phân
biệt ǵ là ma, ǵ là Phật! Hiện thời trong thế
gian này, rất nhiều kẻ có thần thông. Ở Trung Quốc
lẫn ngoại quốc, [có lắm kẻ] trên thân tỏa
ánh sáng, [thân h́nh lơ lửng trên không] cách mặt đất
ba thước, chẳng phải là giả, xác thực là có
những chuyện ấy; nhưng họ chẳng có ḷng từ
bi, nên chẳng phải là Phật. Phật, Bồ Tát niệm
niệm lợi ích hết thảy chúng sanh, quyết chẳng
dối gạt hết thảy chúng sanh. Yêu ma quỷ quái chẳng
lợi ích chúng sanh, chúng chỉ tạo lợi ích cho những
đối tượng đặc thù. Nói thật ra, những
đối tượng đặc thù ấy chính là công cụ
của bọn chúng! Chúng muốn lợi dụng quư vị,
hễ lợi dụng quư vị được, bèn ban cho
quư vị một chút lợi ích, đến ngày nào chẳng dùng
được nữa, chúng sẽ vứt bỏ quư vị,
kinh Lăng Nghiêm đă dạy như thế. Chư vị
phải hiểu: [Những kẻ thích] hiện thần
thông, hiện những chuyện kỳ quái, toàn là do yêu ma quỷ
quái dựa thân, chẳng phải là năng lực của
chính họ. Họ thích gạt gẫm người khác, ma
bèn lợi dụng họ, họ lợi dụng ma, đôi
bên lợi dụng lẫn nhau. Lợi dụng xong xuôi, ma bỏ
đi, kẻ ấy mất sạch tất cả năng lực.
Bởi lẽ, năng lực ấy đâu phải do kẻ
đó tu được! Phật, Bồ Tát có tâm từ bi,
chắc chắn chẳng hại người.
“Trí huệ dĩ vi thân,
phương tiện vi chi cán” (lấy trí huệ làm thân,
phương tiện làm cành nhánh), trí huệ là Căn Bản
Trí. Kinh Bát Nhă nói “Bát Nhă vô tri”,
vô tri là Căn Bản Trí, khi nó khởi tác dụng bèn gọi
là Hậu Đắc Trí, “không
ǵ chẳng biết”. Phải đến khi nào chúng ta mới
là không ǵ chẳng biết? Đến [khi nào] hết thảy
vô tri th́ mới không ǵ chẳng biết. Nay chúng ta dốc hết
tánh mạng “cầu tri” (cầu hiểu biết), “cầu
tri” chính là đóng bít cửa trí huệ, nên quư vị mới
có những điều chẳng biết. Những thứ
quư vị chẳng biết quá nhiều, vĩnh viễn học
chẳng hết. Nếu quư vị mong thật sự chứng
đắc Nhất Thiết Trí, bèn có một phương
pháp: Trước hết, hăy học vô tri, sau khi đă vô tri,
bèn khởi tác dụng không ǵ chẳng biết, thật
đấy! V́ sao? Bổn tánh hiển lộ. V́ hết thảy
các pháp do tự tánh biến hiện, há chẳng biết
đến đạo lư này?
Tận
hư không khắp pháp giới, quá khứ, hiện tại,
tương lai, không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể,
đó là bản năng (năng lực sẵn có) của
chúng ta, phải biết điều này, lẽ ra quư vị
phải có, nhưng nay chúng ta đánh mất năng lực ấy,
“đánh mất” là mê mất. Nếu chúng ta chẳng mê, hễ
giác ngộ bèn ngay lập tức khôi phục năng lực
ấy. V́ thế, chẳng phải là thật sự đánh
mất, v́ tự tánh vốn trọn đủ, vĩnh viễn
chẳng bị đánh mất, chỉ là nhất thời
mê, do mê nên chẳng khởi tác dụng. Quư vị thấy
cái thân này, thân là chủ, dạy cho chúng ta Bát Nhă, “phương tiện làm cành nhánh”,
tức là phương tiện khởi tác dụng.
“Ngũ độ vi phồn mật”,
những điều như trí huệ và phương tiện
trong phần trước đều là Bát Nhă. “Trí huệ” là Căn Bản
Trí, “phương tiện” là
Hậu Đắc Trí. Khởi tác dụng chính là năm
độ trước đó: Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn
Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định. Trong cuộc sống
hằng ngày, chúng ta xử sự, đăi người, tiếp
vật, đều phải học những điều này.
Quư vị thường dùng những điều này để
nhắc nhở chính ḿnh, nay chúng ta gọi là “nhắc nhở”,
trong Phật môn gọi là “quán chiếu”, cuộc sống của
quư vị sẽ là cuộc sống của Bồ Tát, từ
phàm phu biến thành Bồ Tát. Cuộc sống đích xác chẳng
khác biệt, nhưng trong h́nh thái ư thức bèn khác hẳn. V́
thế, trong cuộc sống, quư vị có chân lạc, v́ sao?
Quư vị chẳng mê, phá mê, khai ngộ, ĺa khổ được
vui. Mê đă phá, khổ chẳng c̣n, hễ giác ngộ bèn có
lạc. Phá mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc,
đó là chân lạc. Niềm chân lạc đó giống
như sự cực lạc trong thế giới Cực Lạc,
chân lạc mà! Đối với hết thảy các pháp thế
gian và xuất thế gian, quư vị chẳng có ǵ không thông
đạt, chẳng có ǵ không hiểu rơ!
“Định diệp, thần
thông hoa”: Cây có lá, lá là Định, hoa là thần thông. “Thông” (通) là thông đạt
vô ngại, “thần” (神) là thần kỳ chẳng lường được,
vượt xa kiến thức thông thường của kẻ
b́nh phàm. “Nhất Thiết Trí vi
quả”: Quả là quả báo, tức Vô Thượng Bồ
Đề. Do vậy, quư vị hiểu những vật chất
ấy do đâu mà có, ở đây là lấy một cái cây
để nói. V́ sao quư vị trông thấy cây, chạm đến
bóng cây, ngửi mùi thơm của cây, nếm quả của
cây, quư vị đều có thể khai ngộ, đều có
thể minh tâm kiến tánh, điều này có đạo lư
đấy nhé!
Chúng
ta chẳng học Phật pháp, đích xác là chẳng biết
hết thảy vạn vật do đâu mà có. Thật sự
học thông đạt Phật pháp, to như thế giới,
bé như vi trần, đều biết chúng do đâu mà có,
biết chúng có như thế nào, biết tướng chân thật
của chúng th́ mới thật sự đạt được
tự tại. Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng
tôi giảng tới chỗ này!
Tập 138
Xin xem A Di Đà
Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang hai
trăm chín mươi chín.
(Sao)
Hựu Tịnh Danh Phật Đạo Phẩm vân: “Vô lậu
pháp lâm thụ, giác ư tịnh diệu hoa, giải thoát trí huệ
quả, giai căn bổn ư tâm địa, nhi phát sanh vô
tận giả dă”.
(鈔) 又 淨 名 佛 道 品 云:無 漏 法 林 樹,覺 意 淨 妙 華,解 脫 智 慧 果,皆 根 本 於 心 地,而 發 生 無 盡 者 也。
(Sao: Lại nữa,
phẩm Phật Đạo trong kinh Tịnh Danh Phật có
nói: “Rừng cây pháp vô lậu, hoa giác ư tịnh diệu, quả
trí huệ giải thoát, đều có căn bản nơi
tâm địa, phát sanh vô tận”).
Đây
là đại sư trích dẫn mấy câu kinh văn trong
kinh Duy Ma Cật nhằm giải thích thâm ư của đoạn
này. Đối với các cây báu, lan can, lưới mành trong
thế giới Cực Lạc, từ kinh Vô Lượng Thọ
và Quán Kinh, cho đến trong nhiều kinh điển nói về
cảnh giới Tây Phương, đức Phật luôn dạy
chúng ta: Hết thảy chúng sanh đă sanh về thế giới
Tây Phương, hễ trông thấy, hoặc ngửi mùi, hoặc
nếm hương vị của quả, hạt, đều
có thể khiến cho sáu căn của chúng ta thanh tịnh,
đấy cũng chính là minh tâm kiến tánh như nhà Thiền
đă nói, đều có thể đạt tới mục
tiêu như vậy. Do thế giới Tây Phương là pháp
giới xứng tánh, toàn thể đều do Di Đà Tánh
Đức lưu lộ, đoạn kinh này của kinh Tịnh
Danh cũng chẳng ra ngoài lệ đó.
“Vô lậu pháp lâm thụ”, “vô lậu” là xứng tánh. Chỉ riêng Tánh Đức mới
là vô lậu chân thật. “Thụ”
(樹) có hai ư nghĩa:
-
Một
ư nghĩa là bao trùm, đặc biệt lúc tiết Hè mặt
trời rất chói chang, ai nấy đều thích ngồi
hóng mát dưới bóng cây. Đó là một dụng ư. Trong sự
biểu thị pháp, trí huệ đức năng của
Như Lai có thể che rợp hết thảy chúng sanh.
- Ư
nghĩa thứ hai là thanh lương (mát mẻ), đặc
biệt là cây báu.
“Giác ư tịnh diệu hoa”:
Trong Phật pháp, “hoa” tượng
trưng nhân hạnh, Cây cối luôn đơm hoa trước,
kết quả sau. V́ vậy, hoa tượng trưng cho sự
tu nhân của Bồ Tát. Sáu trần trong thế giới Tây
Phương đều thuyết pháp. Trên thực tế, thế
giới này của chúng ta có khi nào chẳng phải là sáu trần
thuyết pháp! Bất quá, bọn chúng sanh chúng ta đang thuộc
địa vị mê muội, nên sáu trần thuyết pháp,
chúng ta chẳng dễ ǵ cảm nhận, nhưng trong thế
giới Tây Phương, cảm nhận đặc biệt
dễ dàng. Người bên ấy phiền năo nhẹ, trí huệ
mạnh mẽ. Trong thế gian này của chúng ta, chúng ta
trông thấy các thứ trần thiết, cúng dường
trong tự viện, giảng đường, bèn biết
chúng nhằm biểu thị pháp. Sau khi rời khỏi giảng
đường, chúng ta quên sạch các ư nghĩa biểu thị
pháp, đó là sai lầm. V́ vậy, đạo nghiệp của
chúng ta rất dễ thoái chuyển. Rời khỏi giảng
đường, rời khỏi tự viện bèn chẳng
c̣n Phật pháp nữa, quên sạch sành sanh! Như vậy
th́ phải làm sao để sau khi rời khỏi tự viện,
giảng đường, vẫn có thể ǵn giữ, công
phu của quư vị sẽ miên mật không ngừng, đó
là cảnh giới vô cùng tốt đẹp!
Thí
dụ như trong Phật đường cúng dường
hoa, hoa biểu thị Lục Độ nơi nhân hạnh.
Bất cứ chỗ nào, chúng ta trông thấy hoa phải
nghĩ đến ư nghĩa này, công phu sẽ chẳng gián
đoạn. Quư vị thấy hoa ngoài đồng, thậm
chí các thứ hoa giả được lưu hành trong hiện
thời, hoa vải, hoa vẽ, hoa thêu hoặc in trên quần
áo, chỉ cần thấy hoa bèn nghĩ tới Lục Độ
vạn hạnh, há chẳng phải là thế gian này cũng
là sáu trần thuyết pháp giống y hệt ư? Hễ
trông thấy trái hạt, bèn thật sự nghĩ tới Bồ
Đề Niết Bàn, nghĩ chúng ta trong tương lai văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Văng sanh
là quả báo, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới là quả báo vô cùng thù thắng. Nhất định
phải hiểu ư nghĩa này!
Đối với
chữ “giác ư” trong đoạn
kinh văn này, cổ đức giải thích là Thất Giác
Chi và Tứ Như Ư Túc trong ba mươi bảy đạo
phẩm. Tứ Như Ư Túc chẳng dễ giảng, mà có giảng
th́ cũng chẳng dễ hiểu cho lắm. Trong quá khứ,
tôi đă dùng ngôn từ thô thiển, thông tục hơn đôi
chút để giải thích, tôi giải thích nó là “tri túc thường lạc”
(biết đủ, thường vui) cho mọi người
dễ hiểu. Dục Như Ư Túc là đối với dục
vọng phải biết vừa đủ, biết vừa đủ
th́ mới có thể đạt được thường
lạc, tâm an, lư đắc. Định là tâm an, nếu tâm
đă thật sự thanh tịnh th́ tâm bèn an, hết thảy
chuyện thế gian và xuất thế gian quư vị đều
hiểu rơ thông đạt, đó là Niệm Như Ư Túc.
“Giải thoát trí huệ quả”:
Câu này nói đến Giải Thoát Đức và Bát Nhă Đức,
nói tới hai thứ ấy. Do vậy ta biết, những
thứ tinh hoa được nói trong Phật pháp đều
lưu lộ từ tâm địa của chính ḿnh, “giai căn bản ư tâm địa”
(đều có căn bản là tâm địa), đều
lưu xuất từ tâm thanh tịnh của chính ḿnh, “nhi phát sanh vô tận giả dă”
(phát sanh vô tận). Pháp thế gian và xuất thế gian, y
báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều
lưu xuất từ nơi đây. Nếu lưu xuất từ
chân tâm, từ tâm thanh tịnh, đó chính là cơi nước Cực
Lạc, là y báo và chánh báo trang nghiêm của Phật và đại
Bồ Tát. Nếu lưu xuất từ nhiễm tâm, sẽ
giống như thế giới Sa Bà của chúng ta, là nhiễm
tịnh đồng cư. Sự thật này đă
được giảng rất rơ ràng, rất tỉ mỉ
trong kinh Hoa Nghiêm. Đoạn tiếp theo là phần tổng
kết của Liên Tŕ đại sư, cũng là lời cảm
thán thật sâu!
(Sao)
Nại chi hà lan thuẫn hủy nhi phủ cân nhập, la
vơng đồi nhi ấm phú sơ, thượng khô tụy kỳ
căn chi, huống phát vinh ư hoa quả?
(鈔) 奈 之 何 欄 楯 毀 而 斧 斤 入,羅 網 頹 而 蔭 覆 疏,尚 枯 瘁 其 根 枝,況 發 榮 於 華 果。
(Sao: Hiềm rằng,
lan can đă hỏng mà búa ŕu c̣n bủa vào, lưới mành
rách nát, lại che phủ thưa thớt, rễ cành c̣n bị
khô héo, mong chi hoa quả tươi nhuận ư?)
“Lan thuẫn” tượng
trưng cho ư nghĩa “pḥng phi,
chỉ quá” (ngừa sai, dứt lỗi). Nó ngăn ngừa
sự trái phạm. Nói cách khác, chính là biểu thị ư
nghĩa giới luật. Người không tuân thủ giới,
không tuân thủ lễ, không tuân thủ pháp, [tức là] chẳng
có lan thuẫn, biểu thị ư nghĩa này. Đại
sư vô cùng cảm thán, cũng là lời lẽ buốt
ḷng. Giống như lan can bị kẻ khác dùng những dụng
cụ như ŕu phá hoại. Chúng ta hành tŕ chẳng kiểm
điểm, chẳng ước thúc, sẽ dẫn đến
thế giới đại loạn. Hiện thời [chuyện
này được] gọi là “thoát
tự” (脫序), tức là trật
tự xă hội bị trật khớp, là chuyện rất
đáng sợ.
“La vơng đồi” (lưới
mành rách nát) là nói chân tâm của chúng ta vô cùng rộng lớn,
nay chúng ta bị mê mất, ngỡ vọng tâm duyên theo bóng dáng
của lục trần là chân tâm. Có thể nói là trong xă hội
hiện thời, vô minh và tà kiến đều nghiêm trọng
hơn bất cứ thời kỳ nào trong quá khứ. Chuyện
này thật giống như chúng ta đă bỏ mất lưới
mành. “Ấm phú sơ”,
[nghĩa là] chẳng có ǵ để che đậy, chẳng
t́m được chốn thanh lương để dừng
chân, tỷ dụ ư nghĩa này. Điều này liên quan đến
lan thuẫn trong phần trước, nói cách khác, chẳng
có giới th́ tâm thanh tịnh cũng chẳng có, Định
cũng mất luôn!
“Thượng khô tụy kỳ
căn chi” (rễ cành c̣n bị khô héo), “căn” là ǵ? Trong Phật môn thường nói: “Từ bi làm gốc, phương
tiện làm cửa”. Trong Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh
Nguyện Phẩm, đức Phật cũng nói: “Đại bi làm gốc”. Ngày
nay chúng ta chẳng có tâm đại bi, cũng có thể nói
là nhân hạnh từ bi phương tiện bị mất
đi, tự tư tự lợi bèn thừa thế dấy
lên. V́ thế, ngày nay học Phật, chúng ta phải đặc
biệt chú trọng nhân quả, phải tin sâu nhân quả,
tin tưởng nhân quả báo ứng. “Một hớp uống, một miếng ăn, không
ǵ chẳng định sẵn”. Mọi người nếu
muốn thật sự có thành tựu trong Phật pháp, chẳng
uổng công học Phật trong đời này th́ quư vị
học Phật phải có nền tảng. Quư vị chẳng
có nền tảng, sẽ chẳng thể thành tựu. Nền
tảng là phải đổ công sức. Chẳng dốc
công đổ sức, quư vị vĩnh viễn chẳng thể
vun bồi căn cội được. Vun bồi căn cội
từ chỗ nào? Từ đọc kinh. Đọc kinh phải
chọn kinh nào trọng yếu nhất, tức là kinh đối
trị phiền năo tập khí của chúng ta trong hiện tiền.
Ấn Quang đại sư trọn đời ấn tống
kinh sách, ba loại Liễu Phàm Tứ Huấn, An Sĩ Toàn
Thư, và Cảm Ứng Thiên được Ngài in nhiều
nhất, in tổng cộng đến mấy trăm vạn
bộ, bất cứ kinh sách nào cũng đều chẳng
in nhiều bằng ba loại ấy. Nói thật ra, ba loại
sách ấy cũng chẳng phải là kinh điển Phật
giáo, nhưng chúng là đại căn bản của sự
học Phật.
Chắc
chắn chẳng phải là chúng tôi bảo quư vị hăy lấy
những sách ấy đọc một hai lượt! Vô dụng!
Đọc mười lần, tám lần, một trăm lần,
hai trăm lần, thưa quư vị, vẫn chẳng có tác dụng.
V́ sao? Phiền năo tập khí của chúng ta thâm căn cố
đế, đọc một, hai trăm lần, chẳng thể
quay đầu! Hăy nên đọc theo cách như thế nào?
Nhất định là chính ḿnh phải đọc tới
hai ngàn lần, ba ngàn lần, nhất định quư vị
sẽ thay đổi. Do vậy, để trừ dẹp
phiền năo tập khí của chính ḿnh, cần phải dùng tới
công phu này. Quư vị chẳng dùng đến công phu này sẽ
không được. Phật, Bồ Tát chẳng thể cứu
quư vị. Chính quư vị tự cứu! Phật, Bồ Tát
có thể dạy quư vị phương pháp. Sau khi đă dạy
phương pháp th́ chính ḿnh phải tự cứu, v́ sao?
Đọc tới hai, ba ngàn lần, ấn tượng sâu
đậm, hễ khởi tâm động niệm, giáo huấn
của thánh nhân bèn lập tức hiện tiền, phát sanh
tác dụng, thật sự sanh khởi tác dụng “pḥng phi, chỉ quá” (ngăn ngừa
sai trái, dứt lỗi). Nói cách khác, lan can bảy báu
được kiến lập trong tự tánh của quư vị.
Lần
này, chúng tôi biên tập, ấn hành Tịnh Độ Ngũ
Kinh, đây là một nhân duyên hy hữu. Thưa chư vị
đồng tu! Quư vị phước báo to lớn! Trong lần
trước, tôi đă thưa cùng quư vị. Từ xưa tới
nay, các bậc tổ sư đại đức trong Tịnh
Độ Tông rất ít người có thể đọc
toàn bộ các kinh luận [Tịnh Độ] ấy. Chúng
tôi đem những kinh luận tu học chủ yếu trong
Tịnh Độ Tông in hết vào bộ sách này. Chín phiên bản
của kinh Vô Lượng Thọ đều có đầy
đủ trong ấy, đích xác là một nhân duyên hy hữu.
Nếu quư vị đọc kinh, hăy chọn lấy một
bản trong bộ sách, một thứ là đủ rồi!
Cũng là phải niệm ba ngàn lần, hoặc năm ngàn
lần mới được, quư vị mới có thể
thật sự kiến lập căn bản. Chẳng có
công phu cỡ ấy, đời này sẽ chẳng thể
thành tựu. Chư vị đồng tu nhất định
phải ghi nhớ điều này.
Đọc
tụng c̣n phải có thời gian tánh. Chẳng thể nói:
“Cứ thong thả mà niệm, ta niệm đến già, thời
gian hăy c̣n dài lắm! Thậm chí đă già chết th́ đời
sau ta bèn niệm tiếp!” [Nếu nghĩ] như vậy, cả
một đời quư vị chẳng thể thành công! Cổ
đức định kỳ hạn cho chúng ta là năm
năm. Trong năm năm ấy, quư vị nhất định
phải làm được. V́ thế, nó có thời gian tánh, ấn
định kỳ hạn nhất định để
mong chứng nhập. Phương pháp này buộc chúng ta tu
Giới - Định - Huệ, có thể nói là “căn bản Giới - Định
- Huệ”, quư vị chỉ cần thực hiện từ
chỗ này, chẳng sai sót chút nào! Xưa nay, trong ngoài nước,
những vị đại đức thật sự thành tựu,
có thể nói là đều đi theo đường lối
này. Không chỉ là lũ chúng ta sống trên quả địa
cầu này trong thế giới Sa Bà đều đi theo con
đường ấy. Nếu quư vị coi lại những
ǵ kinh đă dạy, [sẽ thấy] hết thảy chư
Phật, Bồ Tát trong mười phương thế giới
đạt được thành tựu cũng là do đi
theo con đường này, chẳng có ngoại lệ! V́ thế,
chẳng khởi sự từ con đường này, chúng
ta chẳng có cách nào thành tựu, [do vậy], chúng ta mới
hiểu sự khẩn yếu của đọc tụng.
Đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới là để
tu hành, quư vị thấy kinh đă giảng về trạng
huống của người trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Khéo sao, chúng ta vừa đọc kinh Vô
Lượng Thọ, [thấy kinh nói] họ cũng là ngày
đêm đọc tụng và niệm Phật không gián đoạn,
chẳng ngưng nghỉ, chẳng có phương pháp kỳ
lạ nào, mà là một phương pháp b́nh thường, thật
thà ngần ấy, chỉ cần làm đúng như vậy,
có thể nói là từ Sơ Phát Tâm măi cho đến khi thành
Phật chẳng thay đổi, thực hiện
phương pháp ấy đến cùng bèn thành công, Giới Học,
Định Học, Huệ Học vô lậu đều hoàn
thành. Nếu quư vị c̣n mong muốn pháp môn đặc biệt
nào khác, hoặc thứ ǵ rườm rà bày vẽ đặc
biệt th́ nói thật thà, quư vị thiếu khuyết thiện
căn, phước đức, [những thứ ấy]
đều biến thành chướng ngại trên đường
Bồ Đề. Do vậy, thật thà đáng quư lắm!
Câu này có nghĩa là: Đă khuyết thiếu hoặc có thể
nói là chẳng có nhân hạnh từ bi phương tiện,
mong chi hoa quả tươi tốt! “Hoa quả” là nói đến thần thông diệu
huệ, làm sao thần thông diệu huệ có thể hiện
tiền cho được?
(Sao)
Nhiên nhi giác lâm như cố, đạo chủng phi dao.
(鈔) 然 而 覺 林 如 故,道
種 非 遙。
(Sao:
Thế nhưng, rừng giác vẫn như cũ, hạt giống
đạo chẳng xa xôi).
Hai
câu này là lời chuyển cơ. Trong phần trước là
lời đại sư hết sức cảm thán, khuyên
lơn, khích lệ chúng ta. “Giác
lâm như cố, đạo chủng phi dao” có nghĩa
là: Chân Như bổn tánh vẫn hiện diện như
cũ, trọn chẳng mất đi, chỉ cần chúng ta
nghiêm túc nỗ lực tu tŕ th́ vẫn c̣n kịp. Đó chính
là ư nghĩa được bao hàm trong hai câu này.
Phật môn
thường nói: “Hồi đầu
thị ngạn”(quay đầu là bờ). Quay đầu từ chỗ nào? Từ những
thứ tạp tu trước kia, quay về chuyên tu. Từ
những phương pháp sai lầm trước kia, quay về
phương pháp chánh xác. Đó là quay đầu. Ví như
tôi dạy quư vị phương pháp này, quư vị thật sự
bắt đầu từ hôm nay, mỗi ngày đều lấy
Liễu Phàm Tứ Huấn, hoặc Cảm Ứng Thiên, hoặc
Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn, [loại
nào cũng] đều được, trong ba loại sách
này, Liễu Phàm Tứ Huấn dài hơn một chút, Cảm
Ứng Thiên và Âm Chất Văn đều chẳng dài, Cảm
Ứng Thiên hơn một ngàn chữ, đại khái Âm Chất
Văn chỉ có năm sáu trăm chữ, hằng ngày trong
khóa tụng sáng tối quư vị có thể niệm nó thêm một
biến, chẳng gián đoạn. Coi nó như giới luật,
đương nhiên quư vị niệm càng nhiều càng hay.
Tôi nghe nói hiện thời có không ít các đồng tu lái taxi,
chúng ta chớ nên coi thường họ, những người
ấy đều là Bồ Tát. Nếu quư vị thâu âm các bài
giảng Cảm Ứng Thiên hoặc Âm Chất Văn vào
băng cassette, để họ mở lên trong khi lái taxi,
hành khách ngồi trong xe có thể nghe thấy, những câu ấy
đều khuyên họ “hồi
đầu thị ngạn”, c̣n hiệu quả hơn
nghe kinh! Kinh tuy hay, nhưng chẳng thể dùng để cứu
văn nhanh chóng [t́nh thế xă hội động loạn hiện
thời]. Những sách ấy thích hợp để cứu
văn [t́nh thế hiện thời], v́ thực hiện từ
giới luật! Kinh Vô Lượng Thọ hay lắm, trên
xe, quư vị nên có các băng thâu âm kinh Vô Lượng Thọ,
Cảm Ứng Thiên, Âm Chất Văn và Liễu Phàm Tứ
Huấn, c̣n có Tịnh Tu Tiệp Yếu cũng hết sức
hay. Quư vị lái xe kiếm sống bên ngoài chính là hành Bồ
Tát đạo, phổ độ chúng sanh trong khi đó, vô
cùng trọng yếu! Số lượt [tụng niệm các
sách ấy và các kinh Tịnh Độ] phải nhiều,
không nhiều sẽ chẳng thể quay đầu. Kinh
điển hăy đọc một thứ, kinh bậc nhất,
trọng yếu nhất trong Tịnh Độ Tông là kinh Vô
Lượng Thọ. Chúng ta dùng bản hội tập của
cư sĩ Hạ Liên Cư, có thể trong ṿng năm
năm niệm bản kinh ấy tối thiểu ba ngàn lần
th́ Phật pháp của chúng ta sẽ thật sự có nền
tảng. Nền tảng Phật pháp được kiến
lập ở chỗ này.
Hiện
thời, nói thật thà, tại Đài Loan, Phật giáo
được hoằng dương bốn mươi
năm, mở ra rất nhiều Phật học viện,
nhưng chẳng đào tạo được một học
sinh nào, nguyên nhân ở chỗ nào? Chẳng vun bồi căn
bản, đều là bèo trôi bồng bềnh trên mặt
nước, chẳng có rễ! Trước kia, pháp sư Diễn
Bồi rất cảm thán bảo tôi: “Thầy coi đó! Những
pháp sư giảng kinh ở Đài Loan, vị nào xuất
thân từ Phật học viện?” Nghĩ lại, chẳng
có một ai! Thảy đều xuất thân từ giảng
tiểu ṭa. Bản thân pháp sư Diễn Bồi cũng xuất
thân từ giảng tiểu ṭa, tiểu ṭa chính là phức giảng
(giảng lập lại lời thầy sau khi nghe giảng).
Lúc nhỏ, Ngài làm tiểu sa-di theo hầu pháp sư Đế
Nhàn. Ngài được pháp sư Đế Nhàn đặt
vững nền tảng. Sau khi pháp sư Đế Nhàn giảng
kinh xong, đến hôm sau, Sư phải phức giảng, học
thành công là nhờ như vậy!
Bản
thân tôi học Phật pháp cũng xuất thân từ tiểu
giảng ṭa. Tôi học kinh với thầy Lư Bỉnh Nam tại
Đài Trung, cũng là mỗi tuần giảng một lần,
lập lại lời giảng của thầy một
lượt. Quư vị theo thầy, đối với những
kinh thầy đă giảng, tối thiểu quư vị có thể
phức giảng một bộ kinh. Đây là cách dạy học
xưa cũ thuở trước, chẳng giống như
cách dạy học hiện thời, giảng một môn học
trong một tiếng đồng hồ, giờ kế tiếp
bèn đổi sang môn học khác, cách ấy vô dụng, chẳng
hữu dụng tí nào! Một Phật học viện trong ba
năm học mấy chục thứ, mỗi thứ đều
chỉ lớt phớt bên ngoài, thứ ǵ cũng chẳng
thông, thật là đáng tiếc! Đó là phương pháp dạy
học sai lầm. Nếu có thể chuyển biến
phương pháp, thí dụ như ba năm là sáu học kỳ,
mỗi học kỳ học một bộ kinh, học bộ
kinh ấy đến mức có thể giảng được.
Trong sáu học kỳ bèn có thể học sáu bộ kinh.
Trong
quá khứ, khi tôi theo thầy Lư Bỉnh Nam học giảng
kinh, phương pháp của thầy là chuyên tu, tức là quư
vị chưa học hiểu bộ kinh này, sẽ chẳng
thể học bộ kinh thứ hai, chẳng thể học
đồng thời hai thứ! Thầy chỉ cho phép học
một thứ. Để đạt tiêu chuẩn th́ phải
lên giảng ṭa đối trước đại chúng giảng
một lượt mới coi như đă học xong bộ
kinh ấy. Giảng viên măn th́ quư vị mới có tư cách
xin thầy cho học thêm một bộ nữa. Quư vị chẳng
lên bục giảng bộ kinh này một lượt,
vĩnh viễn đừng mong học bộ thứ hai. Thuở
ấy, tôi mới ba mươi mốt, ba mươi hai tuổi,
tuổi trẻ, trí nhớ cũng mạnh. Thoạt đầu,
học với thầy, tôi c̣n chưa xuất gia, dùng thân phận
cư sĩ để theo học giảng kinh với lăo
nhân gia. Trong ṿng một năm ba tháng, tức là mười
lăm tháng, tôi học mười ba bộ kinh, gần
như là mỗi tháng học một bộ, tốc độ
tiến bộ nhanh chóng, pháp hỷ sung
măn, thật sự có thâu hoạch. V́ thế, tôi vừa xuất
gia, pháp sư Bạch Thánh kiếm tôi về dạy tại
Tam Tạng Học Viện thuộc chùa Thập Phổ, tôi
bèn giảng kinh giáo tại Phật học viện. Vừa
xuống tóc bèn dạy tại Phật học viện. Mỗi
học kỳ dạy một loại, tôi học mười
ba loại, đợi đến khi họ học ba năm
tốt nghiệp, tôi mới dạy sáu thứ, vẫn c̣n bảy
thứ chưa dùng đến, quư vị nghĩ xem Phật
học viện hữu dụng ở chỗ nào?
Thầy
Lư dạy học, nói thật ra, vẫn chưa nghiêm ngặt,
nhưng thuở ấy, cụ dùng phương pháp như vậy
ngơ hầu chúng tôi có thể tiếp nhận. Nếu quá
nghiêm ngặt, sợ chúng tôi sẽ bỏ chạy tuốt!
Nay chúng tôi mới thật sự giác ngộ, thầy quá
khoan dung đối với chúng tôi, v́ sao? Yêu cầu quá nhẹ
nhàng, lên đài giảng một lần! Đối với
tôi, điều ấy đích xác là chẳng khó! Tôi nghe thầy
giảng một lần, ngay lập tức lên đài có thể
giảng được tám mươi hoặc chín
mươi phần trăm, chuyện ấy chẳng khó! Nếu
thuở ấy, thầy giống như cổ đại
đức đ̣i hỏi một bộ
sách phải đọc ba ngàn lần, thưa cùng quư vị,
tôi đă thành Phật từ lâu rồi! Nhưng thuở ấy
mê hoặc sâu đậm, ngu si, nếu thầy đề ra
như thế, sợ rằng tôi cũng chẳng dễ ǵ
tiếp nhận. Nay mới thật sự hiểu dụng
tâm sâu xa của cổ đại đức, mới thật
sự bội phục năm vóc gieo sát đất.
Bởi
lẽ đó, tuân theo phương pháp này để tu học,
ba năm quyết định có thành tựu. V́ sao? Quư vị
thật sự đắc Giới - Định - Huệ. Thật
sự đạt được, tâm đă định, tâm
định bèn khai trí huệ, chẳng phải là thông minh
b́nh phàm, mà là trí huệ. Quư vị có Định, Giới bèn
trọn đủ, Định Cộng Giới. Khi quư vị
có Huệ, Đạo Cộng Giới, giới luật tự
nhiên trọn đủ. Do vậy, hy vọng mọi người
thật sự có chí tu học, vẫn phải tuân thủ
phương pháp xưa cũ, đi theo con đường
này của cổ đại đức th́ mới chẳng
phạm sai lầm. Đây chính là kinh nghiệm tu học nhọc
nhằn suốt ba mươi bảy năm của chúng tôi,
thật sự nhận biết sự thiện mỹ trong cách dạy học
của cổ nhân, thế hệ hiện thời chắc chắn
chẳng thể thấu hiểu được! Tôi học
Phật bảy năm bèn xuất gia, vừa xuất gia bèn
giảng kinh, đến nay tṛn ba mươi năm. Có thể
nói là bản thân tôi giảng kinh suốt ba mươi
năm chưa hề nghỉ ngơi, mỗi ngày đều
giảng. Giảng nhiều nhất ước chừng hai
ba năm, mỗi tuần giảng kinh khoảng gần ba
mươi giờ, dài nhất là một tuần giảng ba
mươi bốn giờ. Buổi sáng, buổi chiều, buổi
tối đều giảng, Chủ Nhật cũng chẳng
nghỉ.
V́
thế, quay đầu th́ phải hiểu quay đầu
như thế nào! Chúng ta biết trước kia lầm lỗi,
đă lầm lỗi bèn vội vă quay đầu, quay đầu
là bờ! Chắc có người bảo: “Nay tôi đă lớn
tuổi quá rồi, trí nhớ chẳng tốt, sợ rằng
chẳng kịp”. Nếu quư vị nghĩ như vậy,
đó là tự ḿnh vứt bỏ, coi thường chính ḿnh,
rất đáng tiếc! Sáu mươi tuổi quay đầu
vẫn chẳng muộn, tức là nói học giảng kinh,
thuyết pháp, dẫu sáu mươi tuổi vẫn chẳng
trễ! Thuở ấy, chúng tôi học kinh với thầy
Lư Bỉnh Nam, có một vị đồng học là cư
sĩ Lâm Khán Trị sáu mươi tuổi, học chung với
tôi trong lớp ấy. Lớp học ấy chỉ có hai
mươi mấy người, bà ta lớn tuổi nhất,
cháu nội đă là giáo viên Tiểu Học. Bà ta tŕnh độ
Tiểu Học, theo học với cụ Lư Bỉnh Nam nửa
năm, bèn có thể giảng kinh, đă có thể lên đài
giảng kinh. Hơn nữa, pháp duyên của bà ta vô cùng
hưng thịnh. Bà giảng kinh thính chúng đặc biệt
đông. Bà c̣n có thể viết một cuốn sách mang tựa
đề Niệm Phật Cảm Ứng Kư, chẳng dễ
dàng!
Thuở ấy,
vị lăo cư sĩ này đă cổ vũ chúng tôi rất lớn,
v́ trước đó thầy Lư mong chúng tôi phát tâm giảng
kinh, nhưng chúng tôi luôn sợ hăi, nghĩ là khó quá, cho tới
khi đó, chưa hề phát tâm ấy! Kết quả là
đến lớp học xem thử, thấy bà Lâm Khán Trị
tuổi đă cao ngần ấy, lại c̣n là tŕnh độ
Tiểu Học, so ra, chúng tôi có ưu thế hơn bà ta rất
nhiều! Bà ta học được, chúng tôi c̣n có vấn
đề chi nữa? Chuyện ấy đă cổ vũ
chúng tôi, [bà Lâm] đúng là ảnh hưởng chúng cho lớp
ấy, cho nên đám người trẻ tuổi ai nấy đều
hăng hái. Đích xác là “thiên hạ
vô nan sự, chỉ phạ hữu tâm nhân” (thiên hạ chẳng
có chuyện ǵ khó, chỉ sợ thiếu người có
ḷng), quư vị phải thật sự phát tâm. Huống chi
chuyện này c̣n có Tam Bảo gia tŕ, chẳng cần đến
bằng cấp thế gian, cứ dùng tâm chân thành để
tu học, nhất định có cảm ứng! Tiếp
theo đây là lời đại sư khuyến khích, cổ
vũ chúng ta:
(Sao)
Hà bất mănh dữ tư bồi?
(鈔) 何 不 猛 與 滋 培。
(Sao: Sao chẳng mạnh
mẽ vun bồi?)
Đây
là vận dụng tỷ dụ. “Tư”
là “tư nhuận” (滋潤: vun tưới), “bồi” là “bồi dục”
(培育: nuôi nấng, vun quén), “mănh” là dũng mănh tinh tấn.
Biết chính ḿnh tu tŕ tuy kém cỏi, nhưng “pháp tánh thượng tồn” (pháp tánh vẫn c̣n),
chỉ cần chịu nỗ lực, “bổn chân bất thất” (sự chân thật vốn
có chẳng mất), đúng lư, đúng pháp tu học, chẳng
có ǵ không thành công.
(Sao)
Trọng gia chỉnh sức.
(鈔) 重 加 整 飾。
(Sao:
Càng thêm sửa đổi, tô bồi).
Câu
“trọng gia chỉnh sức”
chính là phản tà quy chánh, sửa đổi những ư
nghĩ và cách làm sai lầm trước kia, bèn thành công.
Trước kia, sách ǵ cũng đều muốn đọc,
nay thảy đều chẳng muốn nh́n tới! Chúng tôi
in sách rất nhiều, có những người đến
đây, sách này cũng cần, sách kia cũng muốn, muốn
ôm một đống lớn về, kết quả người
ấy đạt được ǵ? Tôi nói thật thà, chẳng
khách sáo, người ấy đạt được tà tri
tà kiến! Sách này nói như thế này, sách kia nói như thế
nọ, đầu người ấy đặc nghẹt một
đống Phật pháp to đùng, đó chẳng phải là
Phật pháp mà là tà tri tà kiến đầy ứ trong óc!
Chúng ta in kinh sách rất nhiều, giống như tiệm
thuốc, toàn bán các dược phẩm rất nổi tiếng
và quư báu, người ấy đều muốn mang hết
về, uống vào, không chỉ uống thuốc chẳng
lành bệnh mà c̣n ô hô ai tai, xong luôn! Những thứ ấy
tăng trưởng tâm tham, tăng trưởng tà kiến,
chẳng phải là chuyện tốt đẹp!
Người
thông minh làm như thế nào? Đến đây vừa nh́n,
kinh sách lắm như thế bèn rút lấy một loại,
đem loại ấy về nhà, đọc năm năm,
người ấy rất lỗi lạc, là người
thông minh hạng nhất. Tôi biết người ấy quyết
định thành tựu, là đại Bồ Tát tái lai. Bởi
lẽ, có nhiều loại sách như thế nhằm thỏa
măn nhu cầu của con người. Hiện thời, tại
Đài Loan, phong khí in kinh sách hết sức thịnh hành.
Chúng tôi đề xướng in kinh sách đầu tiên vào
năm Dân Quốc 60 (1971), in cuốn đầu tiên là An
Sĩ Toàn Thư, bản thứ hai là in kinh Hoa Nghiêm. Qua nhiều
năm ngần ấy đă xướng suất in kinh với
số lượng lớn ở các nơi. Người in
kinh đông đảo cho nên hiện nay chúng tôi chuyên in kinh
điển Tịnh Độ, chuyên hoằng dương
kinh điển Tịnh Độ, đó là quy nhất, vun bồi
căn cội từ chỗ này.
Thật
sự đă vun bồi vững vàng căn cội ấy, khi
đó, kinh ǵ quư vị cũng có thể xem, pháp môn ǵ cũng
có thể tiếp xúc. V́ sao? Như A La Hán đă nói: “Sở tác dĩ biện, bất
thọ hậu hữu” (việc làm đă xong, chẳng
c̣n nhận lănh thân sau). Rất tự tại, đă cầm
được sổ thông hành văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, muốn đi lúc nào bèn đi, chẳng
quan trọng! Chính ḿnh đă thành tựu! Chính ḿnh chưa có
thành tựu, trọn chớ nên lăng phí thời gian của
chính ḿnh, chớ nên tùy tiện tiêu hao tinh lực của
chính ḿnh, phải dùng thời gian và tinh lực để
hoàn thành sanh tử đại sự của chính ḿnh, cầu
sanh về Tây Phương. V́ vậy, tôi khuyến khích, cổ
vũ chư vị đồng tu hăy đọc mấy thứ
ấy, trong năm năm nhất định phải niệm
từ ba ngàn lần trở lên, quư vị nhất định
sẽ đạt được Tây Phương Tịnh
Độ, trong năm năm quyết định có thể
văng sanh. Sau năm năm, quư vị ra giảng kinh, thuyết
pháp, quyết định chẳng có chướng ngại,
v́ sao? Giới - Định - Huệ đă thành tựu. Không
chỉ là quư vị giảng kinh luận Tịnh Độ
chẳng bị chướng ngại, mà [giảng giải] hết
thảy kinh điển Đại Thừa đều chẳng
có chướng ngại. Đó gọi là “một kinh thông, hết thảy các kinh đều
thông”, đạo lư ở chỗ này. Chỉ sợ quư vị
chẳng thông thứ ǵ, chứ hễ thông một thứ,
bèn thông suốt hết thảy. “Trọng
gia chỉnh sức” có ư nghĩa sâu xa như vậy.
Đây là đại sư buốt ḷng khuyên chúng ta “hồi đầu thị ngạn”.
Tiếp đó, Ngài trích dẫn một công án về ḥa
thượng Triệu Châu trong Thiền Tông:
(Sao)
Tiện kiến đ́nh tiền bách thụ, hạm ngoại
dược lan, hàng hàng Bát Nhă Chân Như, diện diện Bồ
Đề Phật tánh.
(鈔) 便 見 庭 前 柏 樹,檻
外 藥 欄,行 行 般 若 真 如,面 面 菩 提 佛 性。
(Sao:
Liền thấy cây bách trước sân, lan can bao quanh hoa cỏ
ngoài rào, mỗi hàng đều là Bát Nhă Chân Như, mỗi mặt
đều là Bồ Đề Phật tánh).
“Đ́nh tiền bách thụ”:
Có một Thiền khách tham Thiền, một hôm đến
tham phỏng ḥa thượng Triệu Châu, hỏi ḥa thượng
Triệu Châu: “Như hà thị
tổ sư Tây lai ư?” Chữ “tổ
sư” chỉ Đạt Ma tổ sư. [Câu hỏi ấy
có nghĩa là] Đạt Ma tổ sư từ Tây
Phương (Ấn Độ) đến Trung Quốc, Ngài
đến nơi đây là có ư nghĩa ǵ? Ḥa thượng
Triệu Châu chỉ một cội cây bách ngoài sân, đáp: “Đ́nh tiền bách thụ tử”
(cây tùng trước sân). Hỏi và đáp đúng là “đầu
trâu chẳng khớp hàm ngựa”. Đó là Thiền cơ, trả
lời như thế là “ư tại
ngôn ngoại”, buộc quư vị phải tự hiểu.
Chính ḿnh đă hiểu, đương nhiên chẳng cần
phải nói nữa, chẳng cần phải giải thích. “Hạm ngoại
dược lan”: Có một vị
xuất gia hỏi thiền sư Vân Môn: “Thanh tịnh Pháp Thân là như thế nào?” Nêu ra một
câu hỏi như vậy, thiền sư Vân Môn đáp: “Hoa dược lan” (cái lan can
vây quanh các loài hoa cỏ, thược dược…)[2].
Do vậy, hai câu này chính là hai công án Thiền Tông, đều
nói về minh tâm kiến tánh. “Hàng hàng Bát Nhă Chân Như”: Hàng cây được
nói trong phần trước nói thật ra là “đ́nh tiền bách thụ” của Triệu Châu. “Hoa dược lan” của ngài
Vân Môn toàn là giảng về Bát Nhă Chân Như, đều nói
rơ “Bồ Đề Phật
tánh”. Đoạn này là nói xứng tánh, tuy ư nghĩa sâu xa,
nhưng thật ra có thể khiến cho chúng ta đạt
được sự thọ dụng chân thật.
Sau đây là khoa thứ hai:
Nhị,
tŕ các liên hoa.
二、池 閣 蓮 華。
(Hai, ao, gác, hoa sen).
Nhằm
giới thiệu ao, gác và hoa sen trong thế giới Cực
Lạc, kinh văn gồm bốn tiểu đoạn.
Đoạn thứ nhất trước hết nói về
nước trong ao.
(Kinh)
Hựu Xá Lợi Phất. Cực Lạc quốc độ
hữu thất bảo tŕ, bát công đức thủy, sung
măn kỳ trung. Tŕ để thuần dĩ kim sa bố
địa.
(經) 又 舍 利 弗。極
樂 國 土。有 七 寶 池。八 功 德 水。充 滿 其 中。池 底 純 以 金 沙 布 地。
(Kinh:
Lại nữa Xá Lợi Phất! Cơi nước Cực Lạc
có ao bảy báu, nước tám công đức đầy ắp
trong ấy, đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất).
Các
đồng tu chúng ta đều biết Tịnh Độ
giáo là pháp môn bậc nhất để mười
phương ba đời hết thảy chư Phật
độ sanh thành Phật, không chỉ là pháp môn bậc nhất
để Thích Ca Mâu Ni Phật độ chúng sanh, mà c̣n là
pháp môn bậc nhất để hết thảy chư Phật
độ chúng sanh, vô cùng hy hữu! V́ sao ít người tin
tưởng? Ít người hoằng dương? Nguyên nhân
là do các kinh sách này chưa được hoằng
dương phổ biến đủ mức. Trong bài tựa
cho [bản hội tập] kinh Vô Lượng Thọ, lăo
cư sĩ Mai Quang Hy đă nói rất tỉ mỉ, rất
thấu triệt, nguyên nhân là ở chỗ này! V́ thế,
người tu Tịnh Độ thông thường chỉ
biết đến kinh A Di Đà. Nói thật ra, kinh A Di
Đà chưa đủ. Nếu muốn hiểu đại
khái Tây Phương Cực Lạc thế giới, tối
thiểu phải hợp ba kinh lại để tham chiếu.
V́ tông chỉ của kinh này là “khuyến tín, khuyến nguyện,
khuyến hành”, nếu chẳng có bộ Sớ Sao của
Liên Tŕ đại sư, người b́nh phàm sẽ chẳng
thể nh́n thấy những nghĩa lư phong phú bao hàm trong
kinh văn ngắn ngủi như vậy được! V́
thế, hợp ba kinh lại để xem là điều hết
sức tất yếu, [xem cả] năm kinh
đương nhiên càng thù thắng, càng viên măn hơn. V́ lẽ
đó, Ngũ Kinh Độc Bổn của chúng ta trong hiện
thời là một bản vô cùng hoàn bị dành cho mọi
người chuyên tu, chuyên hoằng.
Đại
kinh là kinh Vô Lượng Thọ, giảng Tây Phương Tịnh
Độ hết sức thấu triệt, lư sự viên
dung, cảnh giới chẳng khác ǵ kinh Hoa Nghiêm và Pháp Hoa,
đúng như Ngẫu Ích đại sư đă nói: “Hoa Nghiêm áo tạng, Pháp Hoa bí tủy”
(tạng sâu thẳm của Hoa Nghiêm, cốt lơi kín nhiệm
của Pháp Hoa), xác thực ở trong kinh Di Đà, mà cũng
ở trong kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Di Đà và kinh Vô
Lượng Thọ là đồng bộ, nên Liên Tŕ đại
sư gọi [hai kinh ấy] là Tiểu Bổn và Đại
Bổn. Đây là tinh hoa cốt tủy của Nhất Thừa
Viên Giáo, có thể gặp gỡ, đó là nhân duyên hy hữu.
Do kinh văn của kinh này ngắn ngủi, giới thiệu
giản lược, huống chi bản dịch của La
Thập đại sư khá giản lược, nên quư vị
đọc bản dịch của Huyền Trang đại
sư, gộp hai bản lại để xem, sẽ thấy
có nhiều chỗ La Thập đại sư chẳng nói
đến, nhưng trong bản dịch của Huyền
Trang đại sư th́ có. Huyền Trang đại sư
trực dịch, tức là nương theo bản tiếng
Phạn để dịch trực tiếp [từng câu
văn, chẳng ngại rườm rà], ư nghĩa trọn vẹn,
c̣n La Thập đại sư là nghĩa dịch (khi dịch
chỉ chọn lấy ư nghĩa chính), có khá nhiều chỗ
tỉnh lược. Nay trong Ngũ Kinh Độc Bổn,
hai bản dịch ấy đều có. Không chỉ có hai bản
dịch ấy, mà c̣n có bản hội tập kinh Di Đà của
lăo cư sĩ Hạ Liên Cư. Xin hăy đọc lời chú
giải:
(Sớ)
Hựu giả, thừa thượng. Bất đản lục
địa trang nghiêm, hữu như thị lan, vơng, hàng thụ,
tŕ thủy trang nghiêm, diệc phục thắng diệu vô tỷ
dă.
(疏) 又 者,承 上,不 但 陸 地 莊 嚴,有 如 是 欄 網 行 樹,池 水 莊 嚴,亦 復 勝 妙 無 比 也。
(Sớ:
Chữ Hựu nhằm tiếp nối đoạn trên. Không
chỉ mặt đất trang nghiêm, có lưới mành, hàng
cây như thế mà nước trong ao cũng trang nghiêm, thù
thắng nhiệm mầu khôn sánh).
Phần
trên nói đến sự trang nghiêm trên mặt đất,
nay nói đến ao th́ sự trang nghiêm trong ao cũng là tuyệt
diệu, vi diệu khôn sánh!
(Sớ)
Thất bảo tŕ giả, thất bảo sở thành, tŕ
trung chi thủy, diệc thất bảo cố.
(疏) 七 寶 池 者,七 寶 所 成,池 中 之 水,亦 七 寶 故。
(Sớ:
“Ao bảy báu” là do bảy báu hợp thành, nước trong
ao cũng bằng bảy báu).
Điều này rất
chẳng thể nghĩ bàn! Nước trong thế giới
của chúng ta là vật được kết hợp bởi
khinh khí và dưỡng khí (hydrogen và oxygen), nước trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới mầu nhiệm.
Không chỉ chúng ta chưa từng thấy, mà cũng
chưa từng nghe nói tới. Nước bên ấy do bảy
báu biến hiện, kỳ lạ thay! Nói thật ra, đối
với chỗ này, nếu không kết hợp các kinh luận
để xem, đúng là chẳng có cách nào thấu hiểu!
(Sao) Thất bảo
sở thành giả, giản dị thử phương thổ
thạch sở thành.
(鈔) 七 寶 所 成 者,揀
異 此 方 土 石 所 成。
(Sao: [Nói] “bảy báu
hợp thành” nhằm phân biệt với
phương này [các ao nước] do đất, đá hợp
thành).
“Giản” là “giản biệt” (揀別) tức là phân biệt riêng rẽ,
chẳng giống thế giới này. Thế giới này của
chúng ta là đất, đá, cát, sỏi, nơi họ là bảy
báu. “Bảy” mang ư nghĩa biểu
thị pháp, tượng trưng cho sự viên măn, chẳng
khiếm khuyết, như Đại Kinh có nói: “Vô lượng các thứ báu hợp
thành”. Bảy báu tượng trưng cho vô lượng
các thứ báu. Bảy là nói Đông, Nam, Tây, Bắc, trên,
dưới, chính giữa, không phải là con số bảy.
V́ thế, bảy và mười đều biểu thị
sự viên măn.
(Sao)
Cố Đại Bổn vân.
(鈔) 故 大 本 云。
(Sao:
V́ thế, kinh Đại Bổn nói).
Đại Bổn là kinh Vô Lượng
Thọ. Tịnh Độ Kinh Độc Bổn được
biên tập, ấn hành lần này có thể nói là vô cùng hy hữu.
Những vị cao tăng đại đức kể cả
các vị tổ sư trong Tịnh Độ Tông từ
xưa tới nay trong một đời được
đọc cả chín phiên bản của kinh Vô Lượng
Thọ rất ít. Chẳng phải là các Ngài không muốn
đọc, mà chẳng t́m được kinh bổn, chẳng
có bản lưu hành đơn độc. Quư vị muốn
xem th́ chỉ có cách đọc trong Đại Tạng Kinh.
Trước đây, [xem đọc] Đại Tạng Kinh
chẳng thuận tiện cho lắm! Gần như cả
chùa mới có một bộ Đại Tạng Kinh, nên rất
ít có cơ duyên này. Nay chúng tôi thu thập hết vào một
chỗ, mỗi người lấy một cuốn [về
xem], phước báo của quư vị vô lượng vô biên!
Đọc
tụng bèn chọn lựa bản hội tập của cụ
Hạ Liên Cư. Trừ bản hội tập ấy ra, c̣n
có năm bản dịch gốc, c̣n có ba thứ tiết bổn
và hội bổn, hy vọng mọi người phải
đọc tối thiểu một lần. Tức là đối
với năm thứ bản dịch gốc, bản hội
tập của Vương Long Thư, tiết bổn của
Bành Thiệu Thăng, bản hội tập của Ngụy
Nguyên, tối thiểu phải xem một lần, phước
báo của quư vị to lớn! Bao nhiêu vị tổ sư
đại đức đều chẳng có phước
báo ấy. Nay quư vị cầm được mà không xem, rất
đáng tiếc! Các vị tổ sư đại đức
xưa kia muốn đọc mà chẳng t́m được
kinh bổn, nay quư vị có kinh bổn trong tay mà chẳng
xem, mắc tội lỗi mất rồi! Do đó, mọi
người nhất định phải quư trọng. Tức
là đối với bộ sách ấy, ngoại trừ kinh
Vô Lượng Thọ đă được chọn lựa
để chính ḿnh phải niệm mỗi ngày, hoặc mỗi
ngày niệm hai lần trở lên, niệm càng nhiều càng
hay, từ đầu đến cuối quyển sách này,
quư vị tối thiểu phải nghiêm túc đọc một
lần th́ đối với giáo nghĩa Tịnh Độ
quư vị mới tin sâu, chẳng ngờ, chữ Tín trong Tín
- Nguyện - Hạnh mới có thể thật sự kiến
lập. V́ thế, Tín là chánh tín, không phải là mê tín, xác thực
có lư luận để căn cứ. Ở đây, đại
sư trích dẫn kinh Đại Bổn, tức là điều
được nói trong kinh Vô Lượng Thọ:
(Sao)
Nội ngoại tả hữu, hữu chư dục tŕ, hoặc
thập do-tuần, hoặc nhị thập, tam thập, năi
chí bách thiên do-tuần, do như đại hải, nhất
bảo, nhị bảo, năi chí thất bảo sở cộng
hợp thành
(鈔) 內 外 左 右,有 諸 浴 池,或 十 由 旬,或 二 十 三 十,乃 至 百 千 由 旬,猶 如 大 海,一 寶 二 寶 乃 至 七 寶 所 共 合 成。
(Sao: Trong, ngoài, trái, phải, có các ao tắm, hoặc
[rộng] mười do-tuần, hoặc hai mươi, ba
mươi, thậm chí trăm ngàn do-tuần, giống
như biển rộng, do một thứ báu, hai thứ báu,
cho đến bảy báu cùng hợp thành).
Liên
Tŕ đại sư dẫn kinh văn Đại Bổn,
quá nửa dùng bản hội tập của cư sĩ
Vương Long Thư, v́ thuở ấy, bản hội tập
của cư sĩ Long Thư được lưu thông rất
rộng. Văn từ của ông ta lưu loát, trôi chảy
hơn bản dịch gốc, người ta đọc hiểu
dễ dàng, nên bản [hội tập] của ông ta
được mọi người hết sức hoan
nghênh. Chỗ không được hoàn mỹ là đối với
năm bản dịch gốc, cư sĩ Vương Long
Thư chỉ xem bốn loại, c̣n bản Vô Lượng
Thọ Hội trong kinh Bảo Tích được dịch
vào đời Đường, ông ta chưa đọc. Bản
hội tập của lăo cư sĩ tuy bị người
đời sau phê b́nh, nhưng ông ta đă hiện thân thuyết
pháp, lúc văng sanh biết trước lúc mất, đứng
văng sanh. Tuy chưa được hoàn mỹ, chắc chắn
là có giá trị, [bởi lẽ], nếu ông ta đă biên tập
kinh điển sai lầm, làm sao có thể văng sanh cho
được? Cổ đức thường nói: “Thác hạ nhất cá tự chuyển
ngữ, đọa ngũ bách thế dă hồ thân” (Nói
sai một chữ chuyển ngữ, đọa làm chồn
hoang năm trăm đời), ông ta làm sao có thể đứng
văng sanh cho được? Có thể thấy là tuy chẳng
hoàn mỹ, nhưng bản hội tập của ông ta nói
chung chắc chắn là cũng khá, nương theo bản ấy
để tu học, cư sĩ Long Thư có thể đứng
văng sanh, chúng ta có thể tin tưởng điều này.
Đúng là ông ta đă thực hiện một màn biểu diễn
cuối cùng cho chúng ta xem, khiến cho tín tâm của chúng ta
tăng trưởng. V́ thế, bản này quả thật
cũng được Ấn Quang đại sư rất
tán thán.
Đoạn
trên đây nói về h́nh dạng và kích thước của
ao bảy báu, có ao rộng mười do-tuần. Do-tuần
(yojana) là đơn vị đo độ dài của người
Ấn Độ; một do-tuần bằng tám mươi dặm
của Trung Quốc, đó là đại do-tuần. Do-tuần
có ba bậc đại, trung, tiểu. Đại th́ bằng
tám mươi dặm Trung Quốc, trung do-tuần bằng
sáu mươi dặm, tiểu do-tuần bằng bốn
mươi dặm. “Mười
do-tuần”, dẫu lấy tiểu do-tuần để
nói, một do-tuần bằng bốn mươi dặm,
mười do-tuần là bốn trăm dặm, cái ao ấy
chẳng nhỏ! Trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới là nhỏ, ao lớn c̣n có hai mươi, ba
mươi do-tuần, cho đến trăm ngàn do-tuần.
Chúng ta đem quả địa cầu này thả vào trong
cái ao to đó, giống như thả một trái bóng rổ
vào trong ao, quá ư là lớn! Cơi Tây Phương Cực Lạc
thế giới rất lớn, quả thật là chúng ta chẳng
thể tưởng tượng được. “Do như đại hải, nhất
bảo, nhị bảo, năi chí thất bảo sở cộng
hợp thành” (giống như biển cả, một thứ
báu, hai thứ báu, cho đến bảy báu cùng hợp thành),
không chỉ đáy ao là cát vàng, mà bốn phía ao đều là
bảy báu. Nước trong ao cũng là “bảo thành tựu” tức là cũng do các thứ
báu hợp thành.
(Sao)
Hựu vân.
(鈔) 又 云。
(Sao: Lại nói).
Câu
tiếp theo cũng trích từ kinh Đại Bổn.
(Sao)
Nhược bỉ Phật tŕ, kỳ phương bội
thử, giai thất bảo thành.
(鈔) 若 彼 佛 池,其
方 倍 此,皆 七 寶 成。
(Sao:
Nếu là ao của đức Phật ấy th́ trong cơi
đó, số nhiều gấp bội, đều do bảy
báu hợp thành).
Đây
là nói tới ao bảy báu của A Di Đà Phật. Đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhà của mỗi
người đều có ao bảy báu. Ở đây, đặc
biệt giới thiệu ao bảy báu của A Di Đà Phật,
ao của Ngài rất lớn. Ao lớn hay nhỏ tỷ lệ
thuận với công phu tu tập của chính ḿnh. Nói về
chất liệu của ao, ao của tất cả hết
thảy chúng sanh và ao của A Di Đà Phật chẳng khác
nhau! Ngoại trừ lớn hay nhỏ, chẳng có thứ
ǵ khác nhau. Thế giới Tây Phương là thế giới
b́nh đẳng.
(Sao)
Kim kinh bất ngôn Phật tŕ, tổng nhiếp tŕ trung cố.
(鈔) 今 經 不 言 佛 池,總
攝 池 中 故。
(Sao:
Kinh này chẳng nói đến ao của Phật do đă gộp
chung vào trong các ao).
“Kim
kinh” là kinh Di Đà. Kinh Di Đà văn tự ít, nói tỉnh
lược, chẳng đặc biệt giới thiệu
ao báu của A Di Đà Phật. V́ thế, nói đến
nước ao tức là đă gộp hết vào trong ấy.
(Sao)
Thủy diệc bảo giả.
(鈔) 水 亦 寶 者。
(Sao:
Nước cũng là chất báu).
Điều
này rất chẳng thể nghĩ bàn, hoàn toàn khác với thế
giới này, đơn giản là chúng ta chẳng có cách nào lư
giải được!
(Sao)
Quán Kinh vân: “Nhất nhất tŕ thủy, thất bảo sở
thành, kỳ bảo nhu nhuyễn, tùng Như Ư Châu Vương
sanh, phân thập tứ chi, tác thất bảo diệu sắc,
hoàng kim vi cừ.
(鈔) 觀 經 云:一 一 池 水,七 寶 所 成,其 寶 柔 軟,從 如 意 珠 王 生,分 十 四 支,作 七 寶 妙 色,黃 金 為 渠。
(Sao: Quán Kinh nói:
“Nước trong mỗi ao do bảy báu tạo thành, báu ấy
mềm mại, sanh từ Như Ư Châu Vương, chia thành mười
bốn ḍng chảy có màu bảy báu và vàng ṛng).
“Cừ” là thân, c̣n gọi là “cừ cán” (渠幹: ḍng chảy). Ḍng chảy ấy gồm
mười bốn nhánh, nước chảy ra từ mười
bốn nhánh ấy do chất báu hợp thành, hoàn toàn khác với
thế gian này. Quán Kinh và Đại Bổn đều nói rất
tỉ mỉ. Vào đời Đông Tấn, vị tổ
sư thứ nhất của Tịnh Độ Tông là Huệ
Viễn đại sư mở Niệm Phật Đường
tại Lô Sơn, Giang Tây, tức Đông Lâm Niệm Phật
Đường, tập hợp những người chí
đồng đạo hợp mong cầu sanh Tây
Phương gồm một trăm hai mươi ba người
niệm Phật tại nơi đó. Viễn công đại
sư trong một đời đă ba lần thấy Tây
Phương Cực Lạc thế giới, đó là cảm
ứng. Ngài thấy cảnh quan Tây Phương Cực Lạc
thế giới giống hệt như trong kinh đă giảng,
chẳng hạn như từ Như Ư Châu Vương theo
mười bốn nhánh chảy ra nước tám công đức,
Ngài đều thấy, xác thực là mười bốn
nhánh chẳng nhiều, chẳng ít. Khi văng sanh, lăo nhân gia mới
kể với mọi người. Như vậy là từ
trước đến nay, Ngài chưa hề nói với bất
cứ một ai về những ǵ chính ḿnh đă thấy
trong một đời, lúc văng sanh mới nói với mọi
người. Cảnh giới ấy lại hiện tiền,
Ngài nói: “Trong quá khứ, ta
đă thấy ba lần, hoàn toàn giống như kinh dạy”.
Thuở ấy, chư vị phải biết, kinh Quán Vô
Lượng Thọ Phật và kinh A Di Đà c̣n chưa dịch
ra, Huệ Viễn đại sư niệm Phật hoàn toàn
căn cứ theo kinh Vô Lượng Thọ. V́ vậy, Ngài
thấy cảnh giới bèn lấy kinh Vô Lượng Thọ
để chứng minh, Ngài nói “hoàn
toàn tương ứng với những điều kinh dạy”
tức là nói tới những điều được giảng
trong kinh Vô Lượng Thọ.
Kinh Vô Lượng Thọ
được phiên dịch rất nhiều trong thuở ấy.
Đại khái là nhiều đến bảy tám thứ. Thuở
tại thế, đức Thế Tôn thường giảng
bộ kinh này, nên chẳng giống những kinh khác chỉ
được giảng một lần trong đời Ngài.
Kinh Vô Lượng Thọ được giảng rất
nhiều lần, có thể thấy kinh này trọng yếu.
Các bản được truyền đến Trung Quốc
cũng là các phiên bản khác nhau, nên mới được
phiên dịch nhiều lần. Từ đời Hậu Hán
đến đời Nam Tống có tất cả mười
hai lần phiên dịch, nhưng đáng tiếc là bảy bản
đă bị mất, hiện thời c̣n giữ được
năm bản. Cổ đức khảo chứng năm bản
ấy, [nhận định] tối thiểu là có ba loại
[bản gốc] khác nhau, nên kinh Vô Lượng Thọ mới
cần phải hội tập. Hội tập lần đầu
tiên là cư sĩ Vương Long Thư đời Tống,
bản hội tập của ông ta được gọi
là Đại A Di Đà Kinh.
(Sao)
Hựu vân: Kỳ ma-ni thủy, lưu chú hoa gian, tầm thụ
thượng hạ.
(鈔) 又 云:其
摩 尼 水,流 注 華 間,尋 樹 上 下。
(Sao: Lại nói:
“Nước ma-ni ấy chảy ṿng trong hoa, lên xuống theo
các cây”).
Nước
ấy rất lạ lùng! Nước trong cơi này chỉ chảy
xuống, chẳng chảy ngược lên. Nước trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới có thể chảy
ngược lên, chảy xuống dưới lại chảy
ngược lên, rồi lại chảy xuống dưới
xong bèn chảy ngược lên, nó có thể chảy ngược
lên! V́ thế, nước vô cùng đẹp đẽ.
(Sao)
Kim chỉ ngôn bảo tŕ, bất ngôn thủy diệc bảo
thành.
(鈔) 今 止 言 寶 池,不
言 水 亦 寶 成。
(Sao:
Nay kinh này chỉ nói tới ao báu, chẳng nói nước
cũng do chất báu hợp thành).
Trong
kinh này chẳng nói nước cũng là do bảy báu thành tựu
.
(Sao)
Cập lưu chú thượng hạ.
(鈔) 及 流 注 上 下。
(Sao:
Và chảy lên, chảy xuống).
Trong
kinh này chẳng có những chữ ấy.
(Sao)
Tổng nhiếp thủy trung cố.
(鈔) 總 攝 水 中 故。
(Sao:
V́ [những ư nghĩa ấy] đều được thâu
nhiếp trong [phần kinh văn nói về] nước).
Đều
được bao hàm trong [phần kinh văn nói về]
nước có tám công đức.
(Sao)
Thủy bổn tựu hạ, tùng hạ thượng
lưu, thử phương sở vô cố.
(鈔) 水 本 就 下,從 下 上 流,此 方 所 無 故。
(Sao: Nước vốn
chảy xuống dưới, từ dưới chảy lên
trên, phương này chẳng có).
Trong
thế giới này không có [hiện tượng ấy].
Nước trong thế giới này chỉ chảy xuống,
chẳng chảy ngược lên. Nước trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới chảy ngược
lên trên.
(Sao)
Như Hạ Sanh Kinh vân: Đâu Suất Đà thiên, hữu
thủy du lương đống gian, tức kỳ loại
dă.
(鈔) 如 下 生 經 云:兜 率 陀 天,有 水 遊 梁 棟 間,即 其 類 也。
(Sao:
Như kinh Hạ Sanh nói: “Cơi trời Đâu Suất Đà có
nước chảy luồn trong kèo rường”, tức là
thuộc loại này vậy).
Trên
quả địa cầu trong thế giới Sa Bà chẳng
có, nhưng Đâu Suất Đà Thiên, tức là đạo
tràng của Di Lặc Bồ Tát, nước trong cơi trời
ấy cũng chảy ngược lên trên, ṿng theo kèo cột,
vô cùng đẹp đẽ. Nay chúng ta có thể dùng máy móc chạy
bằng điện để buộc nước chảy
lên trên, nhưng người ta không cần, tự nhiên bèn có
cảnh tượng ấy. Trong Quán Kinh và Đại Bổn
đă nói tỉ mỉ điều này. Hôm nay, chúng tôi giảng
tới đây.
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 69
[1] Ca Chiên Lân Đà
(Kacillindi, Kacillindika, Kakacincika) là tên một loài chim, c̣n
được phiên âm là Ca Giá Lân Địa, Ca Giá Lân
Để Ca, Ca Chiên Liên Đề Ca, Ca Chân Lân, Ca Chân Lân
Để Ca, Ca Chỉ Lật Na, hoặc Ca Chiên Lân
Đề, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Khả Ái
Nhạo Điểu. Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói: “Ca Chiên Lân Đề là loài chim
biển, chạm vào nó
sẽ cảm thấy vui sướng vô cùng. Khi nào có Luân
Vương ra đời th́ loài chim này mới xuất
hiện”. Lông loại chim này hết sức mịn
nhuyễn có thể kết thành áo, nên trong phẩm Đà La
Ni Hộ Tŕ Quốc Giới của kinh Đại Thừa
Lư Thú Chánh Ba La Mật Đa Kinh có câu: “Như y phục tốt đẹp dệt bằng
lông chim Ca Giá Lân Để Ca, chạm vào bèn vui
sướng”. Trong lời giảng, ḥa thượng
chỉ dùng ư các thứ y phục dệt bằng lông
loại chim này. Về sau, có những loại vải dệt
bằng bông rất mịn cũng được gọi là
Ca Chiên Lân Đà.
[2] Theo Phật Học Tự Điển
của Đinh Phước Bảo, “hoa dược lan” chính là dùng
tre hay gỗ làm hàng rào hay lan can để chặn quanh
bốn phía nơi trồng các thứ hoa thược
dược, mẫu đơn, hoa cỏ nói chung v.v… Công án
trên đây là thiên công án thứ ba mươi chín trong Bích Nham
Lục.