A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 72
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Trịnh Lộc,
Huệ Trang và Đức Phong
Tập
143
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm lẻ sáu:
(Sao) Hựu tự tánh thuận vạn
vật nhi vô t́nh, thượng hành tắc nhập thánh
lưu, thánh vô sở tăng, hạ hành tắc nhập phàm
lưu, phàm vô sở giảm, bất biến tùy duyên, châu biến pháp giới, sở
vị “lưu chú hoa gian, cập chư lương
đống” giả dă.
(鈔) 又 自 性 順 萬 物
而 無 情,上 行 則 入 聖 流,聖
無 所 增;下 行 則 入 凡 流,凡
無 所 減。不 變 隨 緣,周
遍 法 界,所 謂 流 注 華 間,及
諸 梁 棟 者 也 。
(Sao: Lại nữa, tự tánh thuận theo vạn vật nhưng vô t́nh. “Chảy lên trên” tức là
nhập ḍng thánh, thánh chẳng hề tăng. “Chảy
xuống” là vào ḍng phàm, phàm chẳng bị giảm. Bất biến nhưng tùy duyên, trọn khắp pháp giới. Đó
gọi là “chảy luồn trong hoa và các kèo cột” vậy!)
Một chương kinh văn này giảng về “vô t́nh thuyết pháp”, hiển thị sự thù thắng của thế giới Tây Phương, hữu t́nh và vô t́nh cùng tuyên diệu pháp. Đoạn này nói theo lư luận. Có Lư th́ mới có Sự. Hễ có Sự, nhất định có căn cứ lư luận. Có thể nói: Trong thế giới Tây Phương, Lư và Sự đều viên dung tột bậc, nên cổ đức thường bảo cảnh giới của kinh Di Đà và cảnh giới trong kinh Vô Lượng Thọ hoàn toàn là cảnh giới
Hoa Nghiêm, tức là “tứ vô ngại pháp giới”, Lư Sự vô
ngại, Sự Sự vô ngại, là một pháp giới trọn đủ thập huyền và tứ vô ngại giống như kinh Hoa Nghiêm. Trong quá khứ, cư sĩ Bành Tế Thanh đă gọi kinh Vô Lượng Thọ là Trung Bổn Hoa Nghiêm, điều này rất có lư!
“Thuận vạn vật nhi vô t́nh
giả” (thuận theo
vạn vật, nhưng vô t́nh),
“t́nh”
(情)
là nói tới hữu
t́nh chúng sanh, tức là động vật, “vô t́nh” là thực vật và khoáng vật. Đây là cách phân chia của con người hiện thời. Nếu quư vị vạch một giới tuyến thật rơ ràng giữa hữu t́nh và vô t́nh sẽ
khá khó khăn! Trong thực vật và khoáng vật cũng có
hữu t́nh. Chúng ta phân chia theo các phương diện dễ thấy, bèn gọi những thứ dễ biểu lộ “mừng, giận, buồn, vui” là hữu t́nh. Đối với những thứ tuy có thể biểu
hiện [những cảm xúc ấy], nhưng chẳng rơ rệt
cho lắm, chúng ta bèn quy nạp chúng vào vô t́nh. Nếu chư vị
học Duy Thức, sẽ hiểu rơ đạo lư này. V́ sao khó tách rời? V́ hữu t́nh và vô t́nh vốn là một Thể, nên khó tách bạch. Dẫu là hữu t́nh, kinh
Kim Cang cũng nói rất hay: “Phàm những ǵ có h́nh
tướng, đều là hư
vọng”, “hết thảy các pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Nói xuyên suốt, hữu t́nh lẫn vô t́nh đều chẳng chân thật, chúng ta nhất định phải hiểu điều này. Thứ ǵ chân
thật? Tự tánh của chúng ta là chân
thật, nơi hữu t́nh chúng sanh, nó được gọi là Phật Tánh, đó là thật, vĩnh viễn chẳng bị biến đổi. Nơi vô t́nh, nó được gọi là Pháp Tánh. Tuy danh xưng khác nhau, nhưng trên thực
tế là cùng một chuyện. Phật Tánh và Pháp Tánh là
một tánh, chẳng
phải là hai tánh, đó gọi là “nhất
tánh, vô nhị tánh”. Nói theo kiểu hiện thời, nó chính là Bản Thể như trong triết học đă nói. Trong Phật pháp,
bản thể của vạn hữu trong vũ trụ được gọi là Tánh. Hết thảy các pháp đều biến hóa từ Tánh.
Ở nơi ấy (Cực
Lạc), tuy là vô t́nh, nhưng nước có thể chảy lên trên, mà cũng có thể chảy xuống dưới. Trong
thế giới này của chúng ta, nước chỉ chảy xuống, chẳng chạy ngược lên. Nước trong cơi kia có thể chảy ṿng quanh kèo cột, chẳng cần dùng đến sức mạnh của máy móc, nó tự ḿnh chảy ngược lên trên. Ở đây, Liên Tŕ
đại sư giải thích, nước chảy lên trên giống như chúng ta nhập
bốn thánh pháp giới, dự vào hàng thánh nhân, đó gọi là “thượng hành tắc nhập thánh lưu”. “Chân Như tùy tịnh duyên, tắc vi tứ thánh” (Chân Như thuận theo tịnh duyên bèn trở thành bốn thánh pháp giới). Ở đây có ư nghĩa biểu thị pháp. V́ sao có lục phàm và tứ thánh? Do Chân Như bổn tánh của chúng ta tùy duyên, tùy thuộc quư vị thuận theo duyên nào. Quư vị thuận theo tịnh duyên bèn là thánh nhân, thuận theo nhiễm duyên bèn là phàm phu. Trong nhiễm duyên có thiện và ác; thuận theo thiện duyên bèn là ba thiện đạo, thuận theo ác
duyên th́ là ba ác đạo. Có thể thấy Phật pháp nói hết thảy các pháp được gọi là “duyên sanh”, điều này
rất có lư. Trên thực
tế, mấu chốt của mười pháp giới là duyên, tức là “tùy duyên”. Bất luận quư vị tùy thuận duyên nào, Chân Như bổn tánh bất biến. Quư vị tùy thuận thánh duyên, “thánh vô sở tăng”, [nghĩa là] Chân Như bổn tánh của quư vị trọn chẳng tăng thêm một chút ǵ. Quư vị thuận theo nhiễm duyên, bèn đọa lạc, trở thành phàm phu, nhưng Chân Như bổn tánh của quư vị
cũng chẳng giảm chút nào!
Nh́n từ bổn tánh, Phật và chúng sanh quyết định là b́nh đẳng, bổn tánh của Phật chẳng nhiều hơn chúng ta chút nào, mà bổn tánh của bọn phàm phu chúng ta cũng chẳng ít hơn Phật tí nào, hoàn toàn như nhau! Bổn tánh của chúng sanh trong địa ngục A Tỳ và bổn tánh của Thích Ca Mâu Ni Phật hay A Di Đà Phật cũng là chẳng hai, chẳng khác, giống hệt như nhau. V́ thế, Phật thành Phật, thành Phật là kiến tánh, thấy tự tánh của hết thảy
vạn pháp. Nói theo [phương diện] kiến tánh, hết thảy chúng sanh cùng thành Phật đạo. Ta đă
thành Phật, mọi người đều thành Phật, v́ sao mọi
người đều thành? V́ ta thấy tự tánh của mọi người hoàn toàn như nhau; tôi đă thành Phật, vậy th́ quư vị cũng thành Phật. Nếu nói “tôi thành Phật, quư vị chưa thành Phật”, [tức là] vẫn chưa kiến tánh. Trong Thiền
Tông thường nói “minh tâm
kiến tánh, kiến tánh thành Phật”, thành Phật là kiến tánh, kiến tánh là thành Phật. Đấy là thấy bổn lai diện mục của hết thảy
chúng sanh, chẳng c̣n thấy giả tướng nữa!
Sau khi kiến tánh, tướng cũng biến. Nói thật ra, trọn chẳng phải là thật sự biến, mà là người kiến tánh biết trạng huống chân thật của hết thảy các tướng, nên gọi là “thấy Thật Tướng”.
Có tướng nào chẳng phải là Thật Tướng? Đều là Thật
Tướng! Khi chưa kiến tánh, “phàm
những ǵ có tướng đều là hư vọng”, tướng hư vọng. Sau khi đă kiến tánh, “phàm những ǵ có tướng
đều là Thật Tướng”, lạ lùng thay! Đều là Thật Tướng. Nói xuyên suốt th́ chẳng có chút kỳ quái nào! V́ sao chẳng kỳ quái? V́ Thật
Tướng chính là tướng
hư vọng, tướng hư vọng mới là Thật Tướng. Thay đổi danh từ, chứ Thể, Tướng, Dụng (tác dụng) đích xác là hoàn toàn chẳng đổi khác. Đó là một đằng đang mê, khi quư vị mê, bèn bảo quư vị “tướng là hư
vọng”. Nếu quư vị đă ngộ, đă ngộ tướng th́ tướng vẫn là h́nh trạng như vậy. V́ lẽ đó, tướng cũng là bất tăng, bất giảm, cũng chẳng bị biến đổi;
nhưng cách nh́n giữa mê và ngộ khác nhau! Kẻ mê chấp
trước, kẻ mê tạo
nghiệp, rất khổ sở, có phiền năo, có ưu lự, có vướng mắc, rất khổ sở! Người giác ngộ th́ hết thảy phiền năo, ưu lự, vướng mắc, thảy đều chẳng có, nên người
ấy biết hết thảy các tướng. Hết thảy các tướng có cùng một h́nh trạng, nên gọi là Thật
Tướng.
“Bất
biến tùy duyên, châu biến pháp giới” (bất
biến nhưng tùy duyên, trọn khắp pháp giới) là nói về Chân Như bản thể.
Bản thể vĩnh viễn không thay đổi; bất luận quư vị thành Phật, hay thành Bồ Tát, hoặc đang luân hồi trong lục đạo, [Chân Như bản thể] quyết
định chẳng biến đổi. Không chỉ chẳng biến đổi, mà trước
nay chẳng động, trước nay chẳng nhiễm. Khi Lục Tổ kiến tánh đă nói: “Nào ngờ tự tánh vốn
thanh tịnh”, “nào ngờ tự tánh vốn chẳng lay động”. Chẳng có đến, đi, chẳng có sanh diệt, đó
là thật. Đúng là bất động! Phàm những ǵ động th́ đều là hư vọng. Chân tâm bất động! Cái tâm của chúng ta có niệm; hễ tâm có niệm bèn là vọng tâm, chẳng phải là chân tâm. Định là chân tâm, tâm đă định. Trong tâm chẳng có niệm, tâm liền định, định là chân tâm. Nó có thể tùy thuận hết thảy các duyên nhiễm hay tịnh, lại c̣n trọn khắp mười phương
thế giới, quư vị thấy tự tánh to cỡ nào!
Nếu quư vị hiểu rơ chuyện này, thế giới Tây Phương cách xa chúng ta mười vạn ức cơi Phật há thấm vào đâu? Thế
giới Tây Phương chẳng
ở ngoài tự tánh, đều ở trong
tự tánh. Trong tự tánh, quư vị chỉ động
một niệm, toàn thể tự tánh chẳng có mảy may “cách chướng”, [nghĩa là] chẳng có gián cách (gián đoạn, ngăn cách), chẳng có chướng ngại! V́ thế, quư vị vừa động một niệm bèn tới mười phương
hằng sa chư Phật quốc độ. Quư vị nói xem: Tốc độ nhanh chóng ngần ấy! Nói thật ra, nói tốc độ như thế vẫn là lời lẽ
gạt người, [v́] căn bản là chẳng có tốc
độ! Nó là chuyện trong tự tâm của chính quư vị, chẳng phải là chuyện ở ngoài tâm. Đây là nói rơ [ư nghĩa biểu thị pháp của chuyện] “lưu chú hoa gian, cập chư lương
đống” (chảy ṿng quanh trong hoa và các kèo cột), tức là nước chảy lên trên.
(Sao) Vĩnh Minh vân: “Thủy hữu thập
đức, đồng chân tánh cố”, ư chánh như
thị. Định thủy trạm nhiên măn, dục thử
vô cấu nhân, vô cấu, diệc vô tịnh, thị danh “bát công
đức”.
(鈔) 永 明 云:水
有 十 德,同 真 性 故,意
正 如 是。定 水 湛 然 滿,浴
此 無 垢 人,無 垢 亦 無 淨,是
名 八 功 德。
(Sao: Ngài
Vĩnh Minh nói: “Nước có mười đức v́ có
cùng một tánh với Chân Như”, chính là ư nghĩa này.
Nước Định lắng trong, tràn đầy,
người tắm nước ấy bèn chẳng có
trần cấu, mà cũng chẳng nhơ, chẳng
sạch, nên gọi là “tám công đức”).
Vĩnh Minh đại sư bảo “thủy
hữu thập đức”, tức là [nước trong
cơi Cực Lạc]
có mười loại công đức. Trong phần trước, chúng ta nói tám công đức, tức là tám thứ, lăo nhân gia tăng thêm hai thứ, đó là ư nghĩa viên măn. “Mười”
tượng trưng cho sự viên măn. Kinh Hoa Nghiêm
thường dùng “mười”
để biểu thị sự viên măn, tức là công đức viên măn. “Đồng chân tánh
cố” [nghĩa là] giống như Chân Như bổn tánh, chẳng bị khiếm khuyết mảy may. [Do lời ngài Vĩnh Minh] có ư nghĩa tương đồng [với những điều đang được tŕnh bày ở đây, nên bảo là] “ư chánh như thị”.
“Định
thủy trạm nhiên măn, dục thử vô cấu nhân”, hai câu này trích từ kinh Duy Ma. “Định thủy” là nước tám công đức, nói đến chuyện người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới tắm rửa trong ao bảy báu. Kinh Vô Lượng Thọ đă giảng rất rơ ràng, người trong thế giới Tây Phương là “thanh hư chi thân, vô cực
chi thể” (thân thanh hư, thể vô cực), thân thể há có dơ bẩn? Chẳng thể nào có chuyện đó! Không chỉ là thân chẳng dơ bẩn, mà quần áo
cũng chẳng bị dơ
bẩn, chẳng nhiễm mảy trần, chắc chắn chẳng cần giặt
quần áo. Không chỉ Tây Phương Cực Lạc thế giới là như vậy,
mà chư thiên cũng như thế. Y phục của chư thiên Dục Giới chẳng bị dơ bẩn. Trong kinh, đức Phật đă dạy: Trong năm tướng suy của Dục Giới Thiên, có tướng quần áo dơ bẩn. Chư thiên Dục Giới thấy y phục của chính ḿnh dơ bẩn liền đau khổ tột bậc, khổ năo xảy tới liền. Ở nơi đây, quần áo chúng ta bị bẩn chẳng sao cả, nhưng quần áo của họ bị bẩn là điềm báo họ sắp chết, thọ mạng sắp chấm dứt, nên họ hết sức đau đớn, lo
nghĩ! Trời và người trong thế giới Cực Lạc thọ vô lượng. Thọ mạng ấy là vô lượng chân thật, chẳng phải là vô lượng hữu hạn!
Phải niệm kinh Vô Lượng Thọ nhiều lượt th́ quư vị mới nhận biết, mới liễu giải Tây Phương Tịnh Độ, chúng ta phải thật sự phát nguyện cầu sanh, quyết định thành tựu trong một đời này, chẳng có mảy may hoài nghi. Chúng ta phát tâm ở nơi đây, A Di Đà Phật liền biết. Không chỉ A Di Đà Phật biết, mà mỗi người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đều
biết. Họ đều có Thiên Nhăn, Thiên Nhĩ, Tha Tâm Thông, Túc Mạng Thông, chúng ta khởi tâm động niệm họ đều biết. Nếu ư niệm của chúng ta kiên quyết, tới lúc đó, họ nhất định đến tiếp dẫn văng sanh. V́ sao có ḷng tự tin kiên cường ngần ấy? Dựa vào chuyện này: Chúng ta
khởi tâm động niệm, người ta liền biết rành rẽ. Do đó, chỉ cần quư vị thật sự
phát tâm, Phật chẳng khi nào không đến
tiếp dẫn, chẳng có chuyện Phật, Bồ
Tát không gia tŕ. Trừ khi quư vị chẳng trọn đủ tín tâm, vừa niệm Phật, vừa mong văng sanh, vừa sợ “do nghiệp chướng sâu nặng, nên chẳng thể văng sanh”, [hoặc hoài nghi] Tây Phương Cực Lạc thế giới rốt cuộc
là thật hay giả? Vấn đề bèn to lớn! Gần đây, trong các trước tác của người Nhật, họ có cách nh́n hoài nghi đối với kinh điển Tây Phương Tịnh Độ. Đọc những tác phẩm của họ, tín tâm của chúng ta bị dao động toàn bộ. V́ thế, chớ nên đọc [những tác phẩm ấy]. Trước tác của con người hiện thời toàn là bịa đặt, đồn thổi; đọc những thứ ấy, chắc chắn bị hại. Có thời gian [rảnh rỗi], hăy đọc sách của cổ nhân. Trong sách của cổ nhân cũng là chuyên tu Tịnh Độ. Quư vị đọc năm kinh là đủ rồi, chẳng cần đọc những thứ khác, quyết
định văng sanh! Thậm chí, kinh ǵ ta cũng đều chẳng muốn xem, mà cũng chẳng muốn nghe, ta niệm một câu A Di Đà Phật đến cùng, vẫn được!
Quư vị cũng quyết
định văng sanh. Những trường hợp như vậy rất nhiều! Có thể thấy điều này chắc chắn chẳng
phải là giả!
Theo
cách giải thích thông thường, nước có tác dụng thanh khiết. Nước trong
mát, và cũng có tác dụng tiêu trừ nắng gắt. “Cổ thích vân: Thủy chi vi dụng, trừ cấu, khử nhiệt, giải thoát chi tánh diệc nhiên” (Cổ nhân giải thích: “Nước có tác dụng trừ dơ, khử nóng, tánh của giải thoát cũng giống như thế”), cũng có điểm giống nhau. Trong
bổn tánh có ba đức là Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát. Giải Thoát là tự tại. “Giải thoát chi trung, Định Huệ ư túc, trạm
nhiên măn hỹ” (trong Giải Thoát, ư Định Huệ trọn đủ, nên lắng trong, đầy tràn). Trong Giải Thoát nhất
định là “Định Huệ ư túc”. Quư vị chẳng có Định, chẳng có Huệ, làm sao đạt được tự tại? Đó là đạo lư nhất định.
Tiểu Thừa A La Hán có Cửu Thứ Đệ Định. Tuy chúng ta nói họ chưa khai trí huệ, tức là trí huệ Bát Nhă chưa khai, nhưng trí huệ của A La Hán cao hơn chúng ta rất nhiều, chúng ta đừng mong bén gót họ! Họ có sáu món thần thông; nói thật ra, nói “thần
thông” là nói tới tác dụng của trí huệ. Họ có Thiên Nhăn, Thiên Nhĩ, Túc Mạng, biết năm trăm đời quá khứ, biết năm
trăm đời vị lai. Chuyện ngày hôm qua có khi chúng ta quên bẵng, chuyện ngày mai hoàn toàn không biết, nhưng
họ biết quá khứ và vị lai, [do tác
dụng của] trí huệ đấy mà! Trí huệ sanh từ trong Định, cũng chính là tác dụng của Định, nên nhất định là “Định Huệ ư túc”. “Định thủy trạm nhiên măn”, “trạm nhiên” (湛然) nghĩa là thanh tịnh, “măn” là “măn túc” (滿足: trọn
đủ, thỏa thích).
“Dục
thử vô cấu nhân”, người trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới thanh tịnh, đều là Bồ Tát, v́ sao vẫn phải thường xuyên
đến tắm gội trong ao bảy báu? Đại Kinh đă giảng rất rơ ràng, công đức của nước ấy vô cùng to lớn. Tuy các vị Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế giới trọn chưa đoạn hết vô minh phiền
năo, nước ở cơi này chỉ có công đức gột sạch những thứ dơ bẩn trên thân chúng ta, chẳng thể gột trừ phiền năo trong bổn tánh. Nước trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là “tánh thủy”, có thể gột sạch mê hoặc, điên đảo, tà tri, tà kiến trong tự tánh, có thể gột sạch những thứ ấy. Chúng ta là kẻ đới nghiệp văng sanh, Trần Sa,
Kiến Tư thảy đều c̣n nguyên, một phẩm Vô Minh cũng chẳng đoạn, sang bên đó, nhất định phải
thường xuyên tắm gội, đạo lư là như thế đó. Đẳng Giác Bồ Tát cũng tắm rửa trong ấy, v́ sao? Ngài c̣n có một phẩm Sanh Tướng Vô Minh chưa đoạn, nguyên nhân là ở chỗ này! “Vô cấu, diệc vô tịnh”: Cấu và Tịnh cùng mất, đó mới là công đức chân thật. Đoạn này bàn luận xứng tánh, nghĩa lư hết sức
sâu xa. Có những đạo lư này để duy tŕ những sự thật đă nói trong phần trước, chúng ta rất dễ thấu hiểu. Lại xem tiếp khoa thứ hai.
Nhị, giai các
二、階閣。
(Hai, thềm bậc, lầu
gác).
“Các” là lầu gác, “giai” là giai đạo (階道: thềm bậc và lối đi), nói tới những thứ ở bên cạnh ao bảy báu.
(Kinh) Tứ biên giai đạo, kim, ngân,
lưu ly, pha lê hợp thành. Thượng hữu lâu các,
diệc dĩ kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mă
năo nhi nghiêm sức chi.
(Sớ) Tứ biên
giả, trung vi tŕ thủy, châu vi tứ biên vi giai đạo dă.
(經) 四 邊 階 道。金 銀 琉
璃 玻 璃 合 成。上 有 樓 閣,亦
以 金 銀 琉 璃。玻 璃 硨 磲。赤
珠 瑪 瑙。而 嚴 飾 之。
(疏)
四 邊 者,中 為 池 水,周
圍 四 邊 為 階 道 也。
(Kinh: Bốn bên là bậc lên xuống, đường đi, do vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên có lầu gác, cũng dùng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mă năo để trang hoàng.
Sớ: “Bốn
bên”: Chính giữa là nước ao, vây quanh bốn bên là
bậc lên, lối đi).
Chính giữa là ao bảy báu. Vây quanh bốn phía ao bảy báu là bậc lên xuống và lối đi.
(Sớ) Kim giả, Phạn ngữ Tô Phạt La.
Ngân giả,
Phạn ngữ A Lộ Ba.
(疏) 金 者,梵
語 蘇 伐 羅。銀 者,梵 語
阿 路 巴。
(Sớ: Vàng, tiếng Phạn
là Tô Phạt La (Suvarṇaṃ); bạc,
tiếng Phạn là A Lộ Ba (Rūpyaṃ).
Những thứ này được người Trung Quốc phiên dịch là “kim, ngân”.
(Sớ) Lưu ly giả, thử vân Thanh Sắc Bảo.
(疏) 琉 璃 者,此 云 青 色
寶。
(Sớ: Lưu ly,
cơi này dịch là Thanh Sắc Bảo).
“Lưu ly” (Vaidūryaṃ) nay được gọi là ngọc Phỉ Thúy
(Jadeite), loại ngọc này mầu xanh, là một loại bảo thạch rất quư giá, nổi tiếng.
(Sớ) Pha lê giả, thử vân Thủy
Ngọc.
(疏) 玻 璃
者,此 云 水 玉。
(Sớ: “Pha lê”,
cơi này dịch là Thủy Ngọc).
Nay chúng ta gọi Pha Lê (Sphaṭikaḥ)
là thủy tinh.
(Sớ) Xa cừ giả, thử vân Đại
Bối.
(疏) 硨 磲者,此 云 大 貝。
(Sớ: “Xa
cừ”(Musaragalva), cơi này
dịch là Đại Bối).
Đây là vỏ [của một loại] ṣ. Vỏ ṣ cũng có thể làm thành vật trang sức rất quư giá, nổi tiếng.
(Sớ) Xích châu giả, Phạn ngữ Bát Ma La Già. Mă năo
giả, Phạn ngữ Bát Ma La Già Lệ.
(疏) 赤 珠 者,梵 語 缽 摩
羅 伽。瑪 瑙 者,梵 語 缽
摩 羅 伽 隸。
(Sớ: “Xích châu”,
tiếng Phạn là Bát Ma La Già (Padmarāgaḥ), “mă năo”,
tiếng Phạn là Bát Ma La Già Lệ).
Xích Châu là một thứ xích trùng châu[1]. Mă Năo tương
đối phổ biến, ở Trung Hoa cũng có thứ này. Kinh thường gọi những thứ này là “thất bảo”.
(Sớ) Dĩ tư thất bảo trang nghiêm
hiệu sức dă.
(疏) 以 斯 七 寶 莊 嚴 較 飾
也。
(Sớ: Dùng
bảy thứ báu ấy để trang hoàng đẹp
đẽ).
Bậc lên, lối đi, lầu gác đều trang hoàng bằng bảy báu.
(Sao) Giai đạo giả, ly địa
viết Giai, thản đồ viết Đạo.
(鈔) 階 道 者,離 地 曰 階,坦
途 曰 道。
(Sao: “Giai
đạo”, nhô lên khỏi mặt đất là Giai (bậc
thềm), đường phẳng gọi là Đạo).
“Giai” là cầu thang, bậc cấp.
(Sao) Lâu các giả, trùng ốc viết Lâu, sầm lâu viết Các.
(鈔) 樓 閣 者,重 屋 曰 樓,岑
樓 曰 閣。
(Sao: “Lâu các”:
Nhà nhiều tầng là Lâu, lầu cao ngất là Các).
Nói thật ra, Các và Lâu giống nhau, chỉ là cách thức xây dựng khác nhau.
(Sao) Như Quán Kinh ngôn: “Hoàng kim địa
thượng, nhất nhất bảo trung, ngũ bách
sắc quang, kỳ quang như hoa, thành quang minh đài, lâu
các thiên vạn, bách bảo hợp thành”. Đại Bổn vân: “A Di Đà Phật, giảng
đường, tinh xá,
cung điện, lâu các, giai dĩ thất bảo, thắng
ư thử giới đệ lục thiên thượng
Thiên Đế sở cư, bách thiên vạn bội. Bồ Tát sở cư, diệc phục
như thị. Chư thiên cập nhân, cung vũ, lâu các, xứng kỳ h́nh sắc cao, hạ, đại, tiểu, hoặc dĩ nhất bảo,
nhị bảo, chí vô lượng bảo”.
(鈔) 如 觀 經 言:黃 金 地
上,一 一 寶 中,五 百 色
光,其 光 如 華,成 光 明
臺,樓 閣 千 萬,百 寶 合
成。大 本 云:阿 彌 陀 佛,講
堂 精 舍,宮 殿 樓 閣,皆
以 七 寶,勝 於 此 界 第 六
天 上 天 帝 所 居,百 千 萬
倍;菩 薩 所 居,亦 復 如
是;諸 天 及 人,宮 宇 樓
閣,稱 其 形 色 高 下 大 小,或
以 一 寶 二 寶,至 無 量 寶。
(Sao: Như Quán Kinh nói: “Vàng ṛng phủ đất, trong mỗi thứ báu, có năm trăm tia sáng có màu. Quang minh ấy giống như hoa, hợp thành đài quang minh. Lầu gác số đến ngàn vạn, do trăm thứ báu hợp thành”. Kinh Đại Bổn chép: “Giảng
đường, tinh xá,
cung điện, lầu gác của A Di Đà
Phật đều bằng bảy báu, trỗi vượt chỗ ở của Thiên Đế trong tầng trời thứ sáu trăm ngàn vạn lần. Chỗ ở của Bồ Tát cũng giống như thế. Cung điện, lầu gác của chư thiên và nhân loại tương
xứng với h́nh sắc của họ mà cao, thấp, lớn, nhỏ, hoặc do một thứ báu, hai thứ báu, cho đến vô lượng thứ báu [hợp thành]”).
Những đoạn kinh
văn này đều là đại sư trích dẫn kinh luận ḥng giảng rơ trạng huống trang nghiêm khôn sánh trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới. [Phần đầu] trong
đoạn này là những điều được
nói trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. “Hoàng kim địa thượng”, trên mặt đất, người ta lót đường
chẳng phải bằng nhựa đường mà bằng vàng ṛng! Tài nguyên trong thế giới đó phong phú ngần ấy! Hiện thời, trong thế giới của chúng ta, vàng là kim loại hiếm có, mọi người thấy nó rất quư báu, nhưng trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới, vàng ở khắp mọi nơi, dùng để lót đường!
Kinh cho biết: Đem loại vàng tốt nhất trong thế giới này sánh với vàng trong thế giới Cực Lạc th́ ngay cả đồng cũng c̣n chẳng bằng! Độ tinh
thuần của vàng bên chỗ người ta quá tốt đẹp, quá thuần. Đất trong cơi chúng ta là bùn, cát, đá, là đất lẫn đá; đất của người ta ở bên kia là đất lưu ly. “Nhất nhất
bảo trung” (trong mỗi thứ báu), trên đất bằng vàng c̣n khảm nhiều thứ trân bảo hiếm có, tạo thành đồ trang sức trên đường, giống như đường
đi của chúng ta phải kẻ đường
chia tuyến, đèn chiếu buổi tối phải tỏa ánh sáng. Người ta dùng châu bảo để làm vạch ngăn chia, tự nhiên
tỏa quang minh. Trong mỗi món báu có “năm trăm
ánh sáng có màu, quang minh ấy giống như hoa”. Vạch chia đường tỏa ánh sáng giống như hoa, h́nh dung sự đẹp đẽ tột bực, “thành quang minh đài”.
“Lâu các thiên vạn, bách bảo hợp thành” (lầu gác số đến ngàn vạn, do trăm thứ báu hợp thành), “bách
bảo” là vật liệu để
xây dựng lâu các. Vật liệu xây dựng ở chỗ chúng ta là xi-măng, cốt thép. Nay chúng ta có được
một tí trân bảo bèn coi là rất quư báu, đeo trên thân như đồ trang sức. Người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới trông thấy sẽ [cảm thấy] rất buồn cười, đó là vật liệu xây dựng của họ. Chúng ta đeo một cái ṿng vàng khá to [bèn rất hănh
diện], đó là thứ họ dùng để lót đường! Nay đức Phật dạy chúng ta phải bỏ sạch hết
thảy những thứ tạp nhạp trong thế gian này, sau khi bỏ sạch sẽ đến Tây Phương Cực Lạc thế giới hưởng
thụ, đó là vĩnh viễn chân thật. Xưa kia, văn nhân
h́nh dung cung điện của đế
vương là “lan điêu, ngọc thế” (lan can chạm trổ, bậc thềm bằng ngọc). Chúng ta đến
Bắc Kinh viếng hoàng cung, có phải là thềm ngọc hay chăng? Chẳng có, bất quá là đá Đại Lư[2] chạm khắc, gọi hoa mỹ là “thềm ngọc”! Há có lắm ngọc dường ấy? Chẳng có! Nhưng đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới, [thềm ngọc, tường ngà] sẽ là thật, chẳng giả tí nào! V́ thế, từ chỗ này, quư vị thấy tài nguyên trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới phong phú. Do vậy,
ở bên đó chỉ là vui sướng, chẳng có khổ sở! Mỗi người
đến đó đều có thể thành tựu, vấn
đề là chính quư vị có chịu đến đó hay không? V́ lẽ đó, đến thế giới Cực Lạc dễ dàng, chứ đến nước Mỹ xin được quyền cư trú vẫn chẳng dễ dàng cho lắm!
“Đại Bổn vân” (Kinh Đại Bổn nói), Đại Bổn là kinh Vô Lượng Thọ, “A Di Đà Phật, giảng
đường, tinh xá,
cung điện, lâu các,
giai dĩ thất
bảo” (giảng đường,
tinh xá, cung điện, lầu gác của A Di Đà
Phật đều bằng bảy báu), đều tạo bằng thất bảo. Điều này giống hệt như Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh đă nói. Chỗ khác biệt là như dưới đây: “Thắng ư thử giới đệ lục thiên thượng Thiên Đế sở cư,
bách thiên vạn bội” (Trỗi vượt chỗ ở của Thiên Đế trong tầng trời thứ sáu của cơi này trăm ngàn vạn lần), đơn giản là chẳng thể so sánh! Đệ Lục Thiên là tầng trời cao nhất trong Dục Giới, tức là Tha Hóa Tự
Tại Thiên (Parinirmita-vaśavartin). Phước báo của Tha Hóa
Tự Tại Thiên Vương vô cùng to lớn, hết thảy chẳng cần chính ḿnh phải tự lo liệu, hết thảy sự hưởng
thụ hễ nghĩ tới bèn xuất hiện. Nghĩ tới thứ ǵ, nó bèn ở trước mặt; chẳng cần th́ nó sẽ chẳng c̣n nữa. Đó là Tha Hóa Tự Tại Thiên. Tầng trời thứ năm là Hóa Lạc Thiên (Nirmāṇarati), phước báo của Hóa Lạc Thiên rất lớn, nhưng những thứ để họ hưởng thụ do chính ḿnh biến hóa tạo ra. Họ vẫn phải biến hóa, nhưng Đệ Lục Thiên chẳng cần phải tự ḿnh biến hóa, những thứ ấy do đâu mà có? Do Đệ Ngũ Thiên biến hóa cúng dường họ. Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng là như vậy, hết thảy chẳng cần do chính ḿnh biến
hóa, nhưng
trong tâm chính ḿnh vừa động niệm, tự nhiên liền biến hóa cho quư vị thọ dụng. Ai biến hóa cho quư vị? Tuyệt diệu thay! Chẳng phải do Đệ Ngũ Thiên biến hóa, mà do A Di Đà Phật biến hóa để cúng dường quư vị, thật sự chẳng thể nghĩ bàn! Đệ Ngũ Thiên há có năng lực to như A Di Đà Phật? Đây là đạo lư nhất
định! V́ thế, sự thọ dụng của họ trong cơi kia tuyệt đối chẳng phải là Tha Hóa thiên vương có thể sánh bằng!
Câu tiếp theo hết sức quan trọng: “Bồ Tát sở cư, diệc phục
như thị” (chỗ ở của Bồ Tát cũng giống như thế). Câu này quan trọng như thế nào? Trong phần trước đă nói về giảng đường, tinh xá của A Di Đà Phật. Khi chúng ta đến nơi ấy, nhà cửa để chúng ta ở sẽ là như thế nào? Câu này có liên quan đến chúng ta. Hễ là người
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, ai nấy đều là Bồ Tát. Từ bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, chư vị có thể thấy điều này! Thảy đều là Bồ Tát. Đối với hàng Bồ Tát đang được nói ở đây, chúng ta có phần. Hạ hạ phẩm văng sanh cũng là Bồ Tát! Ở bên ấy, chẳng có mười pháp giới, chỉ có
một pháp giới, [tức là] Bồ Tát pháp
giới. Quư vị ở trong cung điện hoặc lầu gác hoàn toàn giống như A Di Đà Phật, [kinh đă dạy rơ] “diệc phục như thị” (cũng giống như thế) mà! Bởi lẽ đó, thế giới ấy là một thế giới b́nh đẳng, chẳng giống các cơi nước của hết thảy chư Phật trong mười phương. Mười phương các cơi Phật do nghiệp lực
biến hiện; do nghiệp lực của mỗi cá nhân khác nhau, nên hoàn cảnh y báo và chánh báo của quư vị khác hẳn. Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng phải do nghiệp lực, mà là xứng tánh, do tánh đức biến hiện, tánh là b́nh đẳng. Phật Tánh và chúng sanh tánh b́nh đẳng, từ trong tự tánh hiển hiện, đương nhiên giống hệt nhau, quyết
định chẳng sai khác, nguyên lư ở chỗ này! Tây Phương Cực Lạc thế giới là Pháp Tánh Độ, c̣n các quốc độ trong mười phương
thế giới là Tướng Phần của A Lại Da Thức nên khác nhau, cảm nhận của mỗi người đều khác nhau!
“Chư thiên cập nhân, cung
vũ, lâu các, xứng kỳ h́nh sắc cao, hạ, đại, tiểu, hoặc dĩ nhất bảo, nhị bảo, chí vô lượng bảo” (cung điện, lầu gác của chư thiên và nhân loại xứng hợp với h́nh sắc của họ mà cao, thấp, lớn, nhỏ, hoặc dùng một thứ báu, hai thứ báu, cho đến vô lượng thứ báu [hợp thành]). Câu này nêu rơ “trong
đồng, có bất đồng”, đến nơi ấy, hết thảy sự thọ dụng tự tại giống như A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí, nhưng trong sự giống nhau, c̣n có đôi chút bất
đồng, bất đồng ở chỗ nào? Bất
đồng ở chỗ lầu gác cư trụ lớn hay nhỏ, khác nhau ở chỗ này. Chất liệu lầu gác hoàn toàn giống nhau, lầu gác A Di Đà Phật bằng bảy
báu,
quư vị ở trong lầu gác cũng bằng bảy báu. Có thể là lầu gác của A Di Đà Phật to hơn, lầu gác của quư vị nhỏ hơn. C̣n có lầu gác của những vị đại Bồ Tát có thể thăng lên không trung, lầu gác của quư vị chẳng thăng lên được,
chỉ đành ở trên mặt đất. Trừ điều đó ra, chẳng có ǵ khác, hoàn toàn giống nhau.
V́ sao ở chỗ này có đôi chút sai biệt? Là v́ tập khí
phiền năo của chúng ta ở nơi đây dầy hay mỏng khác nhau. Tập khí phiền năo mỏng, [tức là những người] đắc nhất tâm bất loạn trở lên, lầu gác có thể cao lớn tự tại, cao lớn thuận theo ḷng muốn. Từ thế giới Sa Bà của chúng ta vừa mới sanh về đó, một phẩm
phiền năo c̣n chưa đoạn, e rằng chẳng thể cao
lớn tùy ư. Đến nơi ấy, hoàn cảnh cư trụ là do công phu tu hành của chúng ta trong hiện tại [cảm vời], phải biết
điều này, giống như nói tùy thuộc phẩm vị [văng sanh] của quư vị mà [lầu gác, cung điện] lớn hay nhỏ khác nhau. Trừ điều này ra, kinh đă nói rơ ràng, tường tận “chẳng khác ǵ nhau”. Do vậy, hiện thời, nhất định phải nghiêm túc niệm Phật. Công phu niệm Phật của quư vị siêng năng, công phu
đắc lực, nói “công phu đắc lực” tức là Phật hiệu
của quư vị thật sự có thể chế phục phiền năo. Có năng lực ấy, quư vị đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, hoa sen của quư vị liền to, đương
nhiên cung điện và lầu gác của quư vị cũng to. Hoa to, lầu gác to; hoa bé, lầu gác nhất định cũng bé theo, chắc chắn là tuân theo tỷ lệ thuận. Do vậy, phải nghiêm túc niệm Phật, phải niệm cho hết tập khí vô minh phiền
năo của chính ḿnh, đó là chân thật, chính quư vị có thể vĩnh viễn đạt được.
Trong thế gian hiện thời, tất cả hết thảy những thứ trong thế gian quư vị
đều chẳng đạt được. Tục ngữ có câu: “Sanh
chẳng mang ǵ đến, chết chẳng đem ǵ đi”. Không chỉ là vật ngoài thân quư vị chẳng đạt được, mà thân thể cũng chẳng
phải là của chính ḿnh, quư vị cũng chẳng đạt được!
Quư vị mới hiểu: Chẳng có thứ ǵ trong thế gian này là của chính ḿnh, kể cả cái thân xác thịt cũng chẳng phải, đều là giả, hư
huyễn, chẳng phải là thực tại, chúng ta chớ nên coi trọng những thứ ấy! Khi nào phải nên buông xuống bèn buông xuống, giữ lấy thứ chân thật, thứ ǵ trong Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng đều là chân thật, v́ sao? Xứng tánh, y báo và chánh báo trang nghiêm chẳng có ǵ không xứng tánh. Tánh là chân thật, nên cơi ấy là cơi Pháp Tánh. Người thông minh phải biết giữ lấy cơi Pháp Tánh, cũng là nhất định phải giữ lấy Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Phần kế tiếp nói về cây báu số lượng bao nhiêu, chúng đều thuận theo ḷng mong muốn, quư vị thích loại trân bảo nào, nó liền hiện ra loại trân bảo ấy. Đối
với điều này, Phật và hết thảy Bồ Tát đều chẳng khác nhau.
(Sao) Hựu Phật Địa Luận vân:
“Thả thuyết thất bảo, kỳ thật Tịnh
Độ vô lượng diệu bảo”. Cố tri
viết “tứ bảo” giả, văn tỉnh tiện dă.
(鈔) 又 佛
地 論 云:且 說 七 寶,其
實 淨 土 無 量 妙 寶,故 知
曰 四 寶 者,文 省 便 也。
(Sao: Lại nữa, Phật
Địa Luận nói: “Lại nói đến bảy báu th́
thật ra, Tịnh Độ có vô lượng diệu
bảo”. Do đó biết: Nói “bốn báu” là lời văn
giản lược cho thuận tiện vậy).
Đây là nói cho chúng ta biết tướng chân thật. Thật ra, Quán Kinh và Đại Bổn Vô Lượng Thọ Kinh đă nói rất rơ ràng, các thứ báu trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là vô lượng vô biên. Đức Phật đă nói, nhân dân trong mười phương
thế giới, giả sử các chúng sanh ấy đều chứng Bích Chi Phật quả, trí huệ và thần thông đều giống như Đại Mục Kiền Liên, cùng nhau tính toán, đều tính chẳng ra. Chủng loại
trân bảo trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là bao nhiêu? Chẳng có cách nào tính toán, quá ư là nhiều! Chủng
loại nhiều, số
lượng nhiều, chẳng ai có thể tính toán được.
Kinh Đại Bổn đă nói như vậy.
Trong kinh, đức Phật thường nói đến bảy báu, hoặc bốn báu, đó là nói đại lược, [tức là] trong các thứ trân bảo nhiều ngần ấy, chỉ nêu tượng trưng mấy thứ để nói. Mấy thứ được nêu tượng trưng là do trong thế gian này có những thứ tương tự. Hơn nữa, người trong thế gian này hết sức quư trọng mấy thứ ấy, nên đức Phật đặc biệt kể ra mấy thứ ấy, nhằm dạy cho
chúng ta biết trân bảo bên kia quá nhiều. V́ thế, [nói bảy báu hay bốn báu] là nói tỉnh lược.
(Sao) Hựu Hoa Nghiêm Nhập Pháp Giới phẩm vân.
(鈔) 又 華
嚴 入 法 界 品 云。
(Sao: Lại
nữa, phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm có
nói).
Đây là trích dẫn phẩm cuối cùng của kinh Bát Thập Hoa Nghiêm, tức Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện Phẩm.
(Sao) “Nguy lâu huưnh đới, các đạo
bàng xuất, đống vũ tương thừa, song thát
giao ánh, giai tŕ hiên
hạm, chủng chủng măn túc, nhất thiết giai dĩ
diệu bảo trang nghiêm”, tức tư nghĩa
dă.
(鈔) 危 樓
迥 帶,閣 道 傍 出,棟 宇
相 承,窗 闥 交 暎,階 墀
軒 檻,種 種 滿 足,一 切
皆 以 妙 寶 莊 嚴,即 斯 義
也。
(Sao: “Lầu cao chót vót, hành lang vây quanh, điện ṭa san sát, cửa sổ và cửa cái chiếu ngời lẫn nhau, bậc thềm, lan can, các thứ trọn đủ, hết thảy đều được trang nghiêm bằng diệu
bảo”, chính là nói về ư nghĩa này vậy).
Thế giới Hoa Tạng được
nói trong kinh Hoa Nghiêm chẳng khác ǵ Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu quư vị muốn biết nhiều hơn về y báo và chánh báo trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, tốt nhất là nên đọc kinh Hoa Nghiêm. Trong Tịnh Tu Tiệp Yếu, cư sĩ Hạ Liên Cư đă bảo: “Cực
Lạc chẳng khác Hoa
Tạng”, giống hệt như Hoa
Tạng. Quư vị thấy thế giới Hoa Tạng tức là thấy thế giới Cực Lạc. V́ thế, Liên Tŕ đại sư cũng trích dẫn đoạn kinh văn này trong kinh Hoa Nghiêm, dùng thế giới Hoa Tạng để nh́n Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng khác ǵ nhau.
“Nguy lâu huưnh đới” là nói về lầu cao[3]. “Các
đạo bàng xuất, đống vũ tương
thừa”[4]
(hành lang vây quanh, điện ṭa san sát): Chúng ta rất khó tưởng tượng cảnh giới này. Trong tương lai, nếu có dịp, quư vị đến văn cảnh Bắc Kinh, thăm hoàng cung nhà Thanh, sẽ thấy những điều viết ở đây là nói về hoàng cung. Tuy vật liệu xây dựng hoàng cung hết sức đẹp đẽ, vẫn thua xa bảy báu! “Song thát giao ánh” (cửa sổ và cửa cái chiếu ngời lẫn nhau), Thát (闥) là cửa. “Giai tŕ”: Tŕ (墀) là “đan
tŕ” (丹墀: thềm son)[5]. Nói thông thường, bậc thềm trong các sân trời (thiên tỉnh)[6] hoặc cung điện hết sức to. “Hiên
hạm” (軒檻) là lan can. “Chủng
chủng măn túc” (trọn
đủ các thứ), hết sức tương tự Tây Phương Cực Lạc thế giới, đều là “diệu bảo
trang nghiêm”.
(Sao) Hựu Đại Bổn vân: “Thị
chư lâu các, hữu tùy ư cao đại, phù ư không trung,
nhược vân khí giả. Hữu bất
năng tùy ư cao đại, chỉ tại địa
thượng giả, dĩ cầu đạo thời,
đức hữu hậu bạc sở trí”.
(鈔) 又 大 本 云:是 諸 樓
閣,有 隨 意 高 大,浮 於
空 中,若 雲 氣 者,有 不
能 隨 意 高 大,止 在 地 上
者,以 求 道 時,德 有 厚
薄 所 致。
(Sao: Lại
nữa, kinh Đại Bổn nói: “Các lầu gác ấy, có
cái cao lớn tùy ư, nổi lơ lửng trên không như
hơi mây. Có cái chẳng thể cao lớn tùy ư, chỉ ở trên mặt
đất. Đó là do lúc cầu đạo, đức có
dầy hay mỏng mà ra”).
Chúng ta đều đă đọc kinh Vô Lượng Thọ, đây chính là “trong tương đồng, có những điểm bất đồng nho nhỏ”, nguyên nhân là do “đức
hữu hậu bạc sở trí” (do đức có dầy hay mỏng mà ra), [nguyên nhân] ở ngay trong câu này. Chữ Đức chỉ điều ǵ? Nói thật ra, Đức là công phu niệm Phật. Có thể
niệm đến nhất tâm
bất loạn th́ là đức dầy; chưa đạt tới nhất tâm bất loạn th́ là đức mỏng. Chư vị bèn hiểu: Trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, [lầu gác]
chẳng có cách nào cao lớn tùy ư, lầu gác để cư trụ chỉ đành ở trên mặt đất. Nếu là nhất tâm bất loạn, [sẽ sanh trong]
cơi Phương Tiện hoặc cơi Thật Báo, lầu gác của họ bèn cao lớn tùy ư, được đại tự tại. Nếu quư vị nói Bồ Tát trong thế giới Tây Phương bất đồng th́ là một tí bất đồng như vậy; trừ điều ấy ra, chẳng có ǵ khác nhau!
(Sao) Hựu vân: “Lâu quán lan thuẫn, anh lạc phú thượng,
giai tác ngũ âm”.
(鈔) 又 云:樓
觀 欄 楯,瓔 珞 覆 上,皆
作 五 音。
(Sao: Lại
nói: “Lầu, đền, lan can, đều có chuỗi anh
lạc phủ lên trên, [những chuỗi anh lạc ấy] đều vang ra
[tiếng nhạc] ngũ âm”).
Đây là nói về âm nhạc, chúng ta nói là “thiên nhạc
doanh không” (nhạc trời vang rền khắp hư không). “Ngũ âm”: Thời cổ, âm giai Trung Quốc chỉ có năm âm[7] là Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ, ngũ âm!
Hiện thời Tây Dương dùng bảy âm (bảy notes nhạc). “Ngũ âm”
[trong câu kinh văn trên đây] hiện thời gọi là “nhạc giao hưởng” (symphony). Thiên nhạc trong Tây Phương Cực Lạc thế giới không lúc nào, không chỗ nào chẳng tồn tại. Các khúc nhạc được diễn tấu đều khiến cho quư vị nghe hết sức hoan hỷ. Chúng không chỉ là âm nhạc, mà c̣n thuyết pháp. Nói cách khác, tất cả các kinh văn đều dùng phương thức ca xướng để xướng lên, nghe rất dễ chịu! Niệm
kinh sẽ khô khan, vô vị, chẳng dễ nghe, bèn xướng lên cho quư vị nghe. V́ thế, Phật môn hết sức coi trọng âm
nhạc. Nói theo cách bây giờ là hết sức coi trọng giáo học nghệ thuật; v́ vậy, giáo học Phật giáo chẳng phải là cứng ngắc, vụng về, chẳng phải chỉ là giảng giải trên giảng đường.
Quư vị thích nghe giảng trên giảng đường? Được
rồi! A Di Đà Phật cũng biểu diễn một màn giảng kinh, thuyết pháp đúng quy củ trên giảng
đường cho quư vị. Quư vị thích dạo chơi khắp nơi, A Di Đà Phật cũng có thần thông khác biệt, có thể làm cho pháp âm theo chân quư vị. Quư vị đến chỗ nào, nó theo đến đó, giống như hiện thời chúng ta mang theo máy nghe nhạc vậy. Máy nghe nhạc của chúng ta đôi khi c̣n bị trục trặc, có lúc hết bin, hoặc chẳng phát ra tiếng; ở bên kia, chẳng cần đến những thứ ấy, nhạc trời tự nhiên vang rền không trung.
Hoàn cảnh ấy đúng là được mười
phương chư Phật
đều tán thán. Nơi chốn tốt đẹp như thế mà không sanh về đó, oan uổng quá! Thầy Lư bảo “[kẻ
chẳng phát nguyện văng sanh Cực Lạc] nếu
chẳng phải là ngu th́ cũng là cuồng”, quư vị chẳng phải là ngu si th́ là cuồng vọng, nói lên ư nghĩa sau đây: Phàm là một người b́nh thường, chẳng có ai không mong sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Quyết định phải sanh về đó. Có lẽ quư vị cảm thấy ta sang bên ấy, đất khách, quê người, chẳng có một ai quen biết, há có ư nghĩa ǵ? Nếu quư vị sợ gặp cảnh đất khách, quê người, hăy khuyên thêm mấy người cùng văng sanh! Do vậy, nhất
định phải đem pháp môn này phổ biến, khuyến cáo mọi người, để mọi người đều sanh về đó; khi sang đó, người mà ta quen biết sẽ rất nhiều.
Nói thật ra, hễ sang tới bên đó, thần thông liền trọn đủ, quư vị có Thiên Nhăn, Tha Tâm, Túc Mạng Thông; thân thích, bằng
hữu, quyến thuộc của quư vị trong đời quá khứ, đời
đời kiếp kiếp từ vô thỉ đến nay, có chẳng ít người đă ở Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị đều nhận biết: “Các vị đă đến từ sớm, nay tôi mới đến!” C̣n có
những kẻ luân hồi trong lục đạo, khi ấy, quư vị đều thấy, họ ở nơi đâu, quư vị
đều biết. Do vậy, quư vị chẳng cần hoài nghi, đến nơi ấy lạ nước lạ cái, chẳng có ai chiếu cố, chẳng cần phải
hoài nghi những
điều ấy! Hễ đến nơi đó, bèn tự nhiên
hiểu, nguyên lai quư vị có rất nhiều người quen!
(Sao) Hựu Quán Kinh vân: “Lâu các lưỡng
biên, các hữu hoa tràng, vô lượng nhạc khí, dĩ vi
trang nghiêm, bát chủng thanh phong, cổ thử nhạc khí,
diễn thuyết Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă chi âm”.
(鈔) 又 觀 經 云:樓 閣 兩
邊,各 有 華 幢,無 量 樂
器,以 為 莊 嚴,八 種 清
風,鼓 此 樂 器,演 說 苦
空 無 常 無 我 之 音。
(Sao: Lại
nữa, Quán Kinh nói: “Hai bên lầu gác, đều có tràng hoa, vô lượng nhạc khí dùng để
trang nghiêm, tám thứ gió mát
tấu các thứ nhạc khí ấy, diễn thuyết các tiếng Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă ).
Đoạn này là nói về chuyện gió tấu các nhạc khí. “Tràng” (幢) là h́nh tṛn, hơi giống như cây cột. Vật này vốn được
dùng làm tín hiệu trong Phật môn, gọi là “phan tràng”. Phan (幡) có h́nh dáng dẹp, c̣n Tràng h́nh tṛn, hơi giống những ống thông gió tại phi trường, ở giữa rỗng tuếch, có h́nh trụ. Xưa kia, truyền đạt tin tức chẳng thuận tiện, nên trong đạo tràng hễ có giảng kinh, thuyết pháp, bèn dựng cột cờ, từ nơi rất xa vẫn có thể thấy được!
Nếu hiện thời chúng ta giảng kinh ở đây, liền đem cái tràng h́nh ống treo lên, nó giống như cờ hiệu, người ở ngoài xa thấy cột cờ treo tràng, liền biết hôm nay có giảng kinh, thuyết pháp. Giảng kinh, thuyết pháp được
gọi là “cao thụ
pháp tràng” (dựng cao tràng pháp) là do ư nghĩa này. Hiện thời, chúng ta đăng báo
quảng cáo, in rất nhiều thông cáo gởi đi, gọi điện thoại, dùng những cách ấy để thay thế. C̣n có những đạo tràng thuyết pháp quanh năm th́ họ dùng đá [để làm tràng], tràng đá hơi giống như một cây cột, chung quanh
đôi khi khắc tượng Phật, tượng Bồ Tát, c̣n có kinh văn.
Ở đây, [Quán Kinh nói] tràng được
làm bằng hoa, tức là kết rất nhiều loại hoa hết sức đẹp đẽ thành “hoa tràng”. Trên hoa tràng có nhiều loại nhạc khí, chúng ta có thể tưởng
tượng đó là những nhạc khí vốn có trong thế gian này. Nói thật ra, nhạc khí cũng nhiều vô lượng
vô biên, có rất nhiều loại là nhạc khí trong các thế giới phương khác mà chúng ta chưa hề nghe nói tới, đương nhiên càng chưa hề thấy. Quư vị chưa nghe nói, chưa trông thấy, nên đức Phật chẳng nói, nói ra phiền thêm! Quư vị hỏi đức Phật, đức Phật giải thích nửa ngày, quư vị vẫn không hiểu, nên đức Phật chẳng nói. Đức Phật
thuyết pháp là khế cơ, tức là
muốn quư vị vừa nghe bèn hiểu ngay. Các đồng tu học giảng kinh phải ghi nhớ điều này! Hễ giảng mà kẻ khác nghe không hiểu, quư vị đừng giảng. Những ǵ chính quư vị nghi hoặc, đừng nên giảng! Những điều quư vị giảng ra phải là [những thứ] chính ḿnh quyết
định chẳng có nghi
hoặc. Đó là một nguyên tắc.
Tôi có một người bạn lâu năm, là một vị
tướng quân, tuổi rất cao, trong quá khứ, cụ là thị vệ của tiên sinh Tôn Trung Sơn. Cụ bảo tôi Quốc Phụ hết sức vĩ đại. Thuở ấy, Tôn tiên sinh giảng Tam Dân chủ nghĩa, tiên sinh Thái Nguyên Bồi ghi lại. Khi đó, ông Thái Nguyên Bồi là hiệu trưởng trường đại học. Sau khi ghi xong bản thảo, trong ấy có một đoạn ông Thái cũng chẳng hiểu rơ ràng cho lắm, bèn hỏi Quốc Phụ về ư nghĩa cặn kẽ, Quốc Phụ liền gạch bỏ hoàn toàn đoạn ấy trong bản thảo, chẳng cần đoạn ấy nữa! Quốc Phụ nói: “Ông là hiệu trưởng trường đại học mà nghe c̣n chẳng hiểu, người khác làm sao hiểu được,
hăy bỏ đoạn ấy đi!” Thật vĩ đại, tuyệt vời! Ông ta nói: “Những thứ tôi nói phải khiến cho hết thảy mọi người
đều có thể nghe hiểu. Phàm những thứ nào nghe không hiểu th́ đều chẳng cần đến!” Người học giảng kinh phải chú ư điều này, nhất
định phải khiến cho người nghe thấu hiểu, chứ nghe mà không hiểu th́ có ư nghĩa ǵ đâu! Trong quá khứ, tôi cũng nghe [một vị] lăo pháp sư giảng kinh. Sau khi giảng xong, có những vị lăo cư sĩ, họ đều là
đại hộ pháp, đến thưa với thầy: “Sư phụ! Thầy giảng hay lắm, nhưng con nghe không hiểu”. Sư phụ nói: “Nếu ta giảng kinh này mà nghe hiểu [dễ dàng] th́ c̣n có giá trị ǵ nữa?” Sai lầm mất rồi! Nhất định phải khiến cho người khác nghe hiểu th́ họ mới được lợi ích, mới đạt được điều tốt đẹp. Giảng mà khiến cho kẻ khác nghe chẳng hiểu th́ gọi là “nói thừa thăi, nói uổng công”, làm mất thời gian của kẻ khác, sai mất rồi!
Nhất
định phải giữ ǵn tiêu chuẩn như cổ nhân Trung Quốc đă nói “giản, yếu,
tường, minh” (đơn giản, ngắn gọn, cặn kẽ, rơ ràng). Giữ vững bốn
nguyên tắc ấy,
đơn giản, ngắn gọn, tỉ mỉ, rơ ràng, chớ nên tràn lan dây cà, dây muống! Nói cách khác, người ta phải tốn mười câu mới nói rơ, ta có thể dùng năm câu liền nói rơ ràng, quư vị cao minh hơn kẻ ấy, càng đơn giản càng hay! Do một câu liền nói rơ ràng, rất cao minh! Đó là cao minh tột bậc! Người ta nói khá lâu mà vẫn chưa nói rơ ràng được, quư vị nói mấy câu liền rơ ràng, cao minh lắm! Do đó, ăn nói hay viết văn chương đều
phải tuân thủ nguyên
tắc này. Tuyệt đối không phải là văn chương viết cả đống chữ mới là có giá trị. Hiện thời, điều này là thật, hiện nay [thiên hạ] luận định số chữ, chẳng luận định văn chương hay dở, tiêu chuẩn khác hẳn trước kia. Theo tiêu chuẩn trước kia, viết tràn lan cà kê dê ngỗng
như vậy, căn bản là người ta chẳng đọc tác phẩm của quư vị. Đại chúng b́nh phàm chuộng đơn giản, ngắn gọn, cặn kẽ, rơ ràng. Hơn nữa, trong thời đại công nghiệp, phải tranh thủ từng giây, từng phút, đâu có thời gian dài ngần ấy để nghe quư vị cà kê dê ngỗng!
Chúng tôi giảng kinh trong nước khác với giảng kinh ở ngoại quốc. Trong nước có thời gian, thong thả giảng. Ở ngoại quốc, không được!
Người ở ngoại quốc chặn ngay: “Pháp sư! Tốt nhất là thầy giảng xong bộ kinh này trong năm ngày”, chỉ đành năm ngày bèn giảng xong. Giống như kinh Vô Lượng Thọ, hoặc Di Đà Kinh Yếu Giải phải giảng xong trong
năm ngày. V́ sao? Họ chẳng có
thời gian đến nghe.
Phải là có thể dài, có thể ngắn, có thể cạn, có thể sâu th́ mới được, mới có
thể ứng phó căn tánh bất đồng. Có thời gian nói cặn kẽ đương nhiên là hay, nói rơ ràng, giống như lần này chúng tôi giảng Di Đà Kinh Yếu Giải Đại Ư trong năm ngày tức mười tiếng đồng hồ tại Vĩnh Ḥa. Trong quư vị, có người đến nghe, liền biết: Người thường nghe ở nơi đây, nghe giảng chẳng thấy thỏa măn lắm, nhưng người chưa đến nghe
[mà nghe giảng lần đầu] th́ rất thỏa ư, cảm thấy rất hiếm lạ, trong thời gian ngắn ngủi ấy, họ hiểu được;
nhưng người thường đến đạo tràng này liền biết: [Nghe giảng trong thời gian ngắn ngủi] chẳng được!
Chẳng có thời gian để tŕnh bày rất nhiều ư nghĩa khẩn yếu!
“Bát chủng thanh phong”
(tám thứ gió mát) là tám loại gió trong thế gian: Điều phong (gió Xuân), Minh Thứ phong (gió Đông), Thanh Minh phong (gió Đông Nam), Cảnh phong (tường phong, gió Nam), Lương phong
(gió Tây Nam), Xương Hạp phong (gió Thu), Bất Châu phong (gió Tây Bắc), Quảng Mạc phong (gió Bắc, gió Bấc)[8]. “Cổ
thử nhạc khí” [nghĩa là] chẳng cần người diễn tấu, các thứ nhạc khí có thể tự diễn tấu, toàn bộ là tự động. Nó c̣n có thể thuyết pháp, có thể “diễn thuyết Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă chi âm” (diễn thuyết âm thanh Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă). Hết thảy các pháp đều được
chúng diễn tấu,
vô lượng vô biên pháp Tiểu Thừa và Đại
Thừa, chẳng có pháp nào không được diễn tấu. Ở đây chỉ nêu vài tỷ dụ, như Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă, [các pháp này] thường được gọi là pháp Tiểu Thừa và pháp nhân thiên. Thuở ấy, trong số thính chúng hiện diện, người Tiểu Thừa chiếm đa số, đức Phật giảng kinh bèn tùy thuận thính chúng lúc ấy để giảng, nên nêu lên những thí dụ này!
(Sao) Dĩ thị thôi chi, tắc thử
chỉ ngôn lâu các, bất phân Phật cập Bồ Tát,
thiên, nhân, diệc bất phân tại không, tại
địa, diệc bất ngôn nhạc âm diễn pháp,
tất văn tỉnh dă.
(鈔) 以 是
推 之,則 此 止 言 樓 閣,不
分 佛 及 菩 薩 天 人,亦 不
分 在 空 在 地,亦 不 言 樂
音 演 法,悉 文 省 也。
(Sao: Do vậy, suy ra: Kinh này chỉ nói đến lầu gác, chẳng phân biệt là [lầu gác] của Phật, Bồ Tát, trời, người [to nhỏ khác
nhau], cũng chẳng phân biệt là ở trên hư không hay trên mặt đất, cũng chẳng nói tiếng nhạc diễn thuyết pháp, tức là kinh văn nói tỉnh lược vậy).
Những điều này đều được tỉnh lược nơi văn tự, phải hợp ba kinh lại để tham
chiếu, quư vị mới biết t́nh h́nh cặn kẽ, xem trọn năm kinh là lư tưởng nhất. Giống như Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư, Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư và Viên Trung Sao của U Khê đại sư, các tác phẩm chú giải ấy trích dẫn kinh điển ḥng giải thích rất nhiều điều. V́ thế, đọc Sớ Sao giống như đọc mấy trăm bộ kinh luận, Ngài trích dẫn rất nhiều. Có như vậy th́ chúng ta mới liễu giải Tây Phương Cực Lạc thế giới rơ ràng, tín tâm và nguyện tâm mới có thể thật sự sanh khởi, điều này vô cùng trọng
yếu. Hôm nay, chúng tôi giảng tới chỗ này!
Tập 144
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Hội Bổn, trang ba trăm lẻ tám.
(Sao) Kim giả tứ nghĩa, nhất
sắc vô biến, nhị thể vô cấu, tam chuyển tác
vô ngă, tứ năng linh nhân phú.
(鈔)
金 者 四 義,一 色 無
變,二 體 無 垢,三 轉 作
無 我,四 能 令 人 富。
(Sao:Vàng có bốn
ư nghĩa: Một là màu sắc chẳng biến đổi, hai là
Thể chẳng nhơ, ba là tuy lần
lượt được chế biến thành các thứ
khác nhau, vàng vẫn vô ngă, bốn là có thể khiến cho con
người giàu có).
Bảy báu đều chú trọng sự biểu thị pháp. “Vô biến”
có nghĩa là Thường. Kinh thường nói Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. Vàng biểu thị ư nghĩa này. Màu sắc của vàng chẳng thay đổi, có ư nghĩa Thường (thường hằng). “Vô cấu”
là ư nghĩa thanh tịnh, trong sạch. “Chuyển
tác vô ngă” là ư nghĩa Ngă trong Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. “Năng linh nhân phú” (có thể làm con người giàu có) là ư nghĩa Lạc. Do vậy, nó bao hàm bốn ư nghĩa Thường, Lạc, Ngă, Tịnh.
(Sao) Ngân tứ nghĩa đồng, nhi công sảo
liệt.
(鈔) 銀 四 義 同,而 功 稍
劣。
(Sao: Bạc có
bốn nghĩa giống như vậy, nhưng công năng
hơi kém hơn).
Bạc cũng có bốn ư nghĩa ấy, nhưng nói theo mặt thể chất, bạc chẳng bằng vàng!
(Sao) Lưu Ly thanh sắc, thị kỳ chánh dịch.
(鈔) 琉 璃 青 色,是 其 正
譯。
(Sao: Lưu Ly
màu xanh, nên [tiếng Hán dịch là Thanh Sắc Bảo] là
chính xác).
Đây là cách giải thích thông thường trong
hiện thời.
(Sao) Hựu danh Bất Viễn giả. Bất Viễn, sơn danh, sơn
xuất thử bảo, dĩ cận Ba La Nại thành
cố.
(鈔) 又 名 不 遠 者,不 遠,山 名,山 出 此 寶,以 近 波 羅 奈 城 故。
(Sao: Lại c̣n có tên là Bất Viễn. Bất Viễn là tên núi. Núi này sanh ra thứ báu ấy, do núi ấy gần thành Ba La Nại).
Nó c̣n có tên gọi là Bất Viễn. Quả núi có quặng Lưu Ly chẳng xa thành Ba La Nại (Vārāṇasī,
Benares) cho mấy. Chỗ chẳng xa [kinh thành Ba La Nại] bèn có [thứ báu ấy, nên gọi chất báu ấy là Bất Viễn] là do ư nghĩa này.
(Sao) Thủy
ngọc giả, kim thủy tinh dă.
(鈔) 水 玉 者,今
水 晶 也。
(Sao: Thủy
ngọc nay được gọi là thủy tinh).
“Kim” là cận đại, “cận đại” ở đây chính là những năm cuối đời Minh. V́ Liên Tŕ
đại sư sống vào cuối đời Minh,
Ngài nói “kim” là nói về thời đó, thời ấy đă gọi [pha lê] là “thủy tinh”.
(Sao) Xa cừ
ngôn đại bối
giả.
(鈔) 硨 磲 言 大 貝 者。
(Sao: “Xa
cừ” là một loại ṣ lớn).
Tức là vỏ ṣ, [xa cừ là] vỏ của một
loại ṣ lớn.
(Sao) Bối vi hải trung giới trùng,
đại giả danh bảo, nhất vân phi Phạn
ngữ, dĩ kỳ tự xa chi cừ. Cừ giả, vơng dă.
(鈔)貝 為 海 中 介 蟲,大
者 名 寶,一 云 非 梵 語,以
其 似 車 之 渠。渠 者,輞
也。
(Sao: Ṣ là
một loài trùng có vỏ trong biển cả. Thứ to
được gọi là Bảo. Có thuyết nói [xa cừ]
không phải là tiếng Phạn, mà là do [vỏ của] nó
giống như “vành bánh xe”. “Cừ” là cái vành bánh xe).
“Vơng” là bánh xe, ở đây là nói tới đường
vằn trên vỏ ṣ, giống như bánh xe.
(Sao) Xích châu giả, Phật Địa Luận
vân: “Xích trùng sở xuất. Hữu thiên xích
châu, danh Nhân Đà La, phi
thế sở hữu”.
Đại Luận: “Chân châu hoặc xuất ngư phúc, hoặc xuất xà năo, hoặc xuất
bạng thai, hoặc sanh trúc trung, tắc
sắc phi định xích”. Cố dĩ tiền dịch vi chánh.
(鈔) 赤 珠
者,佛 地 論 云:赤 蟲 所
出,有 天 赤 珠,名 因 陀
羅,非 世 所 有。大 論,真
珠 或 出 魚 腹,或 出 蛇 腦,或
出 蚌 胎,或 生 竹 中,則
色 非 定 赤,故 以 前 譯 為
正。
(Sao: “Xích châu”, Phật Địa Luận nói: “[Xích
châu] do loài xích trùng sanh ra. Có loài xích châu cơi trời tên là Nhân Đà La, trong cơi đời chẳng có”. Theo
Đại Luận, chân châu sanh từ bụng cá, hoặc sanh từ
óc rắn, hoặc xuất phát từ thai ṣ, hoặc sanh trong tre,
nên màu sắc không nhất định là đỏ. Do
vậy, [xích châu hiểu] theo cách dịch
trước (tức cách giải thích trong Phật
Địa Luận) th́ đúng hơn).
“Xích châu” do loài xích trùng sanh ra. Thứ này rất hiếm, nên rất quư báu, nổi tiếng, là một trong bảy thứ báu. Đại Trí Độ
Luận giảng xích châu là một loại chân châu (真珠), nhưng thông
thường, trân châu (珍珠) sanh từ trai ṣ, cũng có loại kết tinh trong bụng cá, hoặc óc rắn, c̣n có loại sanh trưởng từ cây trúc, nên màu sắc không nhất định là đỏ. V́ thế, giảng [chữ “xích châu”] theo cách trước (thuyết của Phật Địa Luận) sẽ đúng hơn.
(Sao) Mă năo giả, hoặc
vân Đan Khâu chi dă, quỷ huyết sở hóa.
(鈔) 瑪 瑙 者,或 云 丹 丘
之 野,鬼 血 所 化。
(Sao: Mă năo, có người nói là do máu của loài quỷ ở chốn đồng nội Đan Khâu[9]
hóa thành).
Đây là cách nói của cổ nhân, nay chúng ta biết nó là một loại hóa thạch.
(Sao) Nhất vân như mă năo cố.
(鈔) 一 云 如 馬 腦 故。
(Sao: Có thuyết
nói nó trông giống như óc ngựa).
“Mă năo”: Các loài ngựa khác nhau, óc của chúng có màu đỏ, vàng xanh, đen, trắng v.v… phân biệt, mười phần trân quư.
(Sao) Trang nghiêm giả, hữu chỉnh
tề nghĩa. Hiệu sức giả, hữu văn thái
nghĩa. Dĩ tư nghiêm sức, tắc như tiền, hoặc dĩ nhất bảo, nhị
bảo, năi chí thất bảo chi loại, thị dă.
(鈔) 莊 嚴 者,有 整 齊 義。較
飾 者,有 文 彩 義。以 斯
嚴 飾,則 如 前 或 以 一 寶
二 寶,乃 至 七 寶 之 類 是
也。
(Sao: “Trang nghiêm” có nghĩa là chỉnh tề. “Hiệu sức” có nghĩa là rực rỡ. Có nghĩa là dùng những thứ ấy để trang hoàng tôn nghiêm, rực rỡ, tức là giống như trong phần trên [đă nói], dùng một thứ báu, hai thứ báu, cho đến bảy thứ báu vân vân).
“Trang nghiêm”: “Mỹ
lệ” như phàm nhân chúng ta thường nói chính là ư nghĩa “trang nghiêm”
trong Phật pháp. Đẹp th́ nhất định phải chỉnh tề, rối ren sẽ chẳng thể đẹp được!
“Hiệu sức” là rực rỡ, lộng lẫy, “hiệu”
là cân nhắc, “sức” là trang hoàng. Đă trang hoàng lại c̣n cân nhắc, tức là thiết kế tỉ mỉ. Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng cần người tỉ mỉ thiết kế, nó tự nhiên đẹp đẽ như vậy. “Dĩ tư nghiêm sức”
là dùng bảy báu để trang nghiêm, tô chuốt.
(Sao) Hựu thử thất bảo, cô
thủ danh đồng thử phương, thật tắc
bất loại.
(鈔) 又 此
七 寶,姑 取 名 同 此 方,實
則 不 類。
(Sao: Lại
nữa, bảy thứ báu này chỉ là gọi tên giống
như trong thế giới này, chứ thật ra chúng
chẳng tương đồng).
“Bảy
báu” nói trong kinh là lấy những thứ hiếm có, được
chúng ta coi là trân bảo trong thế gian này để nói so sánh đó thôi! Trên thực tế, thế gian chúng ta chẳng có những vật chất như trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nói cách nào th́ chúng ta cũng chẳng cách nào thật sự liễu giải! Chưa từng thấy, mà cũng chưa từng nghe nói. Nói đến bảy báu trong thế gian này th́ chúng ta đă từng thấy, tưởng tượng h́nh trạng đại khái. Thật ra, h́nh trạng [của các thứ báu trong cơi Cực Lạc]
khác hẳn. Khác biệt ở chỗ nào? Ở đây nói:
(Sao) Như thiên kim, thiên ngân, dĩ phi nhân
thế sở hữu, hà huống bỉ độ!
(鈔) 如 天
金 天 銀,已 非 人 世 所 有,何
況 彼 土。
(Sao: Như
vàng bạc cơi trời, trong cơi người đă chẳng
có, huống ǵ [các thứ báu] trong cơi kia!)
Đây là nói đến cơi trời. Dục Giới Thiên cũng có vàng, bạc, nhưng vàng, bạc của họ có mức độ tinh thuần chắc chắn chẳng giống như trong thế gian này, vàng bạc của chúng ta chẳng thể sánh bằng, huống ǵ [những chất báu] trong thế giới
Cực Lạc. Kinh Vô Lượng Thọ nói vật chất trong Tây Phương Cực Lạc phong phú, trang nghiêm, trân bảo của Lục Dục Thiên (Tha Hóa Tự Tại Thiên) so với Tây Phương Cực Lạc thế giới khác biệt ngàn vạn ức lần, chẳng có cách nào so sánh. Chúng ta phải biết điều này.
(Sớ) Hựu thất bảo giả,
thường dụ thủ quư trọng nghĩa, như
Phạm Vơng trung thuyết.
(疏) 又 七 寶 者,常 喻 取
貴 重 義,如 梵 網 中 說。
(Sớ: Lại
nữa, bảy báu là thường dùng để tỷ
dụ ư nghĩa quư trọng, như trong kinh Phạm Vơng có nói).
Kinh Phật
thường nói bảy báu là dựa theo ư nghĩa “quư trọng”, kinh Phạm Vơng nói điều này.
(Sao) Quư trọng giả, Phạm Vơng kinh
Bồ Tát Tâm Địa phẩm, ngôn “khí xả Đại Thừa kinh luật bất học, nhi
học ngoại đạo, Nhị Thừa, tà kiến
đẳng giả, như xả thất bảo, phản
thủ ngơa lịch”.
Đối ngơa lịch ngôn, cố tri Bảo giả, thủ “quư trọng” nghĩa.
(鈔) 貴 重
者,梵 網 經 菩 薩 心 地 品,言
棄 捨 大 乘 經 律 不 學,而
學 外 道 二 乘 邪 見 等 者,如
捨 七 寶,反 取 瓦 礫 ,對
瓦 礫 言,故 知 寶 者 取 貴
重 義。
(Sao: “Quư trọng”, phẩm Bồ Tát Tâm
Địa trong kinh Phạm Vơng có nói: “Vứt bỏ kinh
luật Đại Thừa
để học ngoại đạo, Nhị Thừa, tà
kiến v.v... giống như bỏ bảy báu để
ngược ngạo giữ lấy ngói sạn”. Do so
với ngói sạn để nói, nên
biết [kinh nói] “bảo” theo ư nghĩa “quư trọng”).
Nêu rơ [lư do] v́ sao kinh Phật thường nói “bảy báu”, dụng ư
tuyệt đối chẳng
phải là khiến cho chúng ta tham cầu hưởng thụ vật chất, mà trong ấy có ư nghĩa rất sâu. Ở đây, [lời Sao] đă giảng rơ: Đây là nói hết thảy
chúng sanh, nếu quư vị chẳng gặp duyên này, tức là quư vị chẳng có phước báo!
Nếu gặp được duyên này, quư vị là người có phước báo. Người có phước báo
gặp duyên, nay chúng ta gọi duyên là “cơ hội”, quư vị gặp cơ hội mà không thể nắm giữ, chẳng thể nắm vững cơ hội, bỏ lỡ cơ hội, thật sự quá đáng tiếc. Có thể thật sự nắm vững cơ hội, đó là ư nghĩa bảy báu, là quư trọng. Quư vị gặp gỡ Phật pháp, chẳng học pháp Đại
Thừa, mà học ngoại đạo! Hiện thời, kẻ học theo ngoại
đạo rất nhiều! Hoặc là quư vị học Tiểu Thừa, hai thừa Thanh
Văn và Duyên Giác là Tiểu Thừa. Ngoại đạo và Tiểu Thừa đều gọi là tà kiến, v́ tri kiến đều chẳng chánh. Điều này giống như bỏ bảy báu để lấy ngói sạn. “Ngơa lịch” (瓦礫) là miếng gạch, mảnh ngói, làm sao có thể sánh bằng bảy báu? Điều này giống như kẻ chẳng biết giá trị, chẳng biết sang, hèn, dùng điều này để so sánh. Nói trở lại, nay chúng ta gặp được Đại Thừa, chư vị có thật sự giữ lấy
Đại Thừa hay không? Tôi cảm thấy chẳng hề! Tuy quư vị chẳng học theo
ngoại đạo, chẳng học theo Tiểu Thừa, nhưng hiện thời quư vị vẫn y như cũ, do tà kiến mà học Đại
Thừa, nên quư vị vẫn chưa học được
Đại Thừa! Con người hiện thời nhận giả, chẳng nhận thật! Quư vị nói chuyện giả với họ, họ hoan hỷ! Quư vị nói lời thật với họ, họ bèn cự tuyệt, ngược ngạo chẳng cần, rất tệ hại! Tuy Đại
Thừa phổ biến như vậy, họ chẳng thể học!
Học Phật phải
có điều kiện học Phật, cổ nhân gọi [người thỏa măn các điều kiện ấy] là “pháp khí”. Quư vị có phải là pháp khí hay không? Nếu quư vị chẳng
phải là pháp khí, ban pháp ấy cho quư vị vô ích! Thí dụ như chúng ta muốn có nước, hỏi quư vị: “Có dụng cụ để đựng nước hay không?” “Tôi có một cái chén”. Cái chén ấy chính là pháp khí, ta có thể đựng nước. Quư vị đem cái bát lớn đến, tôi cho quư vị đựng được
nhiều nước hơn một chút. Quư vị đem cái chén nhỏ đến, tôi cho quư vị ít nước một tí, mỗi người tương xứng với khả năng nhận lănh. Quư vị nói: “Tôi chẳng có dụng cụ đựng nước”, vậy th́ tôi cho quư vị nước, quư vị chẳng lấy được! Do vậy, quư vị phải là pháp khí th́ mới có tư cách học
Phật pháp. Pháp khí là ǵ? Tức là quư vị có điều kiện, có năng lực để nhận lănh Phật pháp th́ mới có thể thành tựu. Cổ đức thích nhất hai loại người: Một là loại người thượng trí, hai là hạng hạ ngu. Thiện tri thức chân chánh coi hai loại người này như bảo bối, v́ sao? Họ là pháp khí, rất có thể thành tựu. Người thượng trí vừa nói liền thông suốt, chẳng hoài
nghi, liền hiểu rơ, có thể y giáo phụng hành. Kẻ hạ ngu
biết chính ḿnh chẳng có trí huệ, biết chính ḿnh chẳng bằng người khác, nên người
ấy cũng rất khiêm hư, rất thật thà, dạy kẻ ấy làm như thế nào, kẻ ấy làm như thế ấy, rất ngoan ngoăn chịu nghe lời, kẻ ấy ham học. Hạng căn tánh nửa vời sẽ phiền lắm, tự cậy
chính ḿnh thông minh, tục
ngữ gọi họ là “cao
chẳng với tới, thấp chẳng bén gót”. Quư vị nói với họ, họ cũng có
thể hiểu, nhưng bảo
họ làm, họ có quá nhiều
ư kiến! Người như vậy đâm ra chẳng thể thành tựu, tục
ngữ nói: “Thông minh đâm ra bị
lầm lẫn bởi thông minh”, Thế Trí Biện Thông đấy mà!
Trong thời đại hiện tại, Thế Trí Biện Thông quá nhiều. Từ bé, trẻ nhỏ xem TV mỗi ngày, đầu óc đầy ứ tà tri tà kiến, làm sao nó có thể học Phật pháp? Chẳng có [bẩm tánh] thiên chân như người thời cổ. Cổ nhân chẳng có nhiều thông tin như thế. Nếu sống ở nông thôn, mặt trời mọc bèn ra đồng làm lụng, mặt trời lặn bèn nghỉ ngơi, trừ chuyện ấy ra, chuyện ǵ cũng chẳng biết, đầu óc đơn thuần, học điều ǵ cũng đều dễ dàng. Con người hiện thời đầu óc rất phức tạp, trở thành đại chướng ngại trong việc học Phật pháp. Trong xă hội đơn thuần như trước kia,
thông thường vẫn phải chịu huấn luyện năm năm. Vừa mới vào Phật môn, bất luận xuất gia hay tại gia đều phải chịu huấn
luyện năm năm, trong Phật môn thường nói là “năm
năm học giới”. Giới ở đây chẳng phải là giới luật trong kinh điển, mà là tuân giữ lời răn dạy của thầy, tu phước, tu huệ.
Phật là đấng Phước Huệ Nhị Túc Tôn, tức là đấng phước và huệ
đều viên măn, phước
viên măn, huệ cũng viên măn. Học Phật là học phước, học huệ, học
phước huệ như thế nào?
Phải tu! Phải nghiêm túc tu phước, tu huệ. Phật pháp từ đầu tới cuối đ̣i hỏi chúng ta tu phước, tu huệ. Huệ học từ chỗ nào? Học từ Căn Bản Trí. Căn Bản
Trí là ǵ? Căn Bản Trí là vô tri; kinh Đại Bát Nhă nói “Bát Nhă vô
tri”, trước tiên hăy học từ đây. Nay chúng ta điên đảo, hiện thời đang học “hữu tri”, chỉ sợ chính ḿnh chẳng biết, [luôn mong mỏi] thứ ǵ cũng đều phải biết, sai mất rồi! Đó chẳng
phải là trí huệ chân thật, mà là ǵ? Vọng tưởng! Hiện thời chẳng phải là cầu trí huệ trong Phật pháp, mà là cầu vọng tưởng. Suốt ngày từ sáng đến tối dấy vọng tưởng, vẫn sợ chưa đủ vọng tưởng, dốc hết tánh mạng để
học vọng tưởng, hỏng bét! Tu phước th́ phải phục vụ
đại chúng, phục vụ xă hội, phục vụ
hết thảy chúng sanh; tu phước từ chỗ này, tối thiểu phải dùng thời gian năm năm để tu học. Tu phước th́ hai mươi bốn môn oai nghi trong Sa Di Luật Nghi đều là tu phước. Tuy đức Phật nói hai mươi
bốn môn oai nghi với người xuất gia, người tại gia có thể tu học giống hệt như vậy.
Đối với việc tu Căn Bản
Trí, cũng có thể nói là trước hết, quư vị phải định cái tâm, khiến cho cái tâm đạt đến thanh tịnh
rồi mới dùng tâm thanh tịnh để nghe pháp, đọc kinh, quư vị sẽ có thể khai ngộ. Nếu quư vị chẳng có tâm thanh tịnh, quư vị nghe kinh suốt đời, niệm kinh suốt đời, chẳng thể nào khai ngộ! Ngộ là từ trong tâm thanh tịnh phát ra, chư vị nhất định phải
biết điều này. Nếu chúng
ta từ đọc tụng mà đạt được
trí huệ, kinh Phật gọi đó là Thế Trí Biện Thông. Người thế gian đọc sách rất nhiều, ghi nhớ rất nhiều, nói đến nỗi hoa trời rơi tán loạn, trước tác đồ sộ, trong Phật pháp gọi điều đó là Thế Trí Biện Thông, chẳng phải là trí huệ chân thật. V́ sao? Đầu óc kẻ ấy hằng ngày [bận bịu] suy tưởng, hằng ngày tư duy. Nói cách khác, tất cả sự thông minh, trí huệ của kẻ ấy đều lưu lộ từ tâm ư thức, cũng tức là từ phân biệt, chấp trước, vọng tưởng sanh ra, đó chẳng phải là trí huệ được nói trong nhà Phật! Trí huệ như trong
nhà Phật đă nói
lưu lộ từ Chân Như bổn tánh, sanh từ tâm thanh tịnh, ĺa hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; đó là trí huệ. Hoàn toàn khác hẳn! Pháp thế gian và Phật pháp khác nhau ở chỗ này. Do đó, quyết định chẳng thể dùng phương pháp thế gian để tu
học Phật pháp.
Làm thế nào mới có thể đạt đến tâm thanh tịnh? Tức là [làm thế nào] để đạt được Căn Bản
Trí? Phương pháp hết sức nhiều. Các tông phái Phật giáo dùng các
phương pháp khác nhau, nhưng nguyên lư giống nhau, mục tiêu như nhau! Phương pháp được dùng
trong Giáo Hạ là đọc thuộc ḷng kinh điển,
không giảng ư nghĩa. V́ sao? Hễ giảng ư nghĩa, quư vị
lại có phân biệt, chấp trước. Chẳng giảng ư nghĩa mà bảo quư vị niệm, niệm để làm ǵ? Niệm cho cái tâm đắc định. Niệm cho hết sạch tất cả hết thảy phân biệt, vọng tưởng,
chấp trước, dùng phương pháp niệm kinh [để đạt mục đích ấy].
V́ lẽ đó, phương pháp
niệm kinh là tu
định, tu tâm thanh tịnh. Quư vị vừa niệm
kinh vừa nghĩ tưởng ư nghĩa trong kinh, tâm quư vị chẳng thanh tịnh. V́ thế, quư vị niệm một giờ là tu một giờ, niệm hai giờ bèn tu hai giờ, mọi người phải hiểu đạo
lư này. Niệm kinh là tu hành. Trong các buổi giảng, chúng tôi đă nói với chư vị quá nhiều, niệm kinh là hoàn thành Tam Học Giới - Định - Huệ cùng một
lúc. Không chỉ là tu Định, mà c̣n có Giới ở trong ấy, Huệ cũng ở trong ấy, có thể
thấy niệm kinh trọng yếu lắm!
Phương pháp của Thiền Tông là chẳng dùng niệm kinh,
mà dùng đả tọa (tĩnh tọa), tham cứu,
hoặc dùng quán tâm, tham
thoại đầu, dùng các phương pháp ấy, mục đích như nhau, cũng là khiến cho quư vị bỏ sạch phân biệt, chấp
trước, vọng
tưởng. Mật Tông dùng tŕ chú, thậm chí Tịnh Độ Tông dùng niệm A Di Đà Phật, phương pháp khác nhau, nhưng mục đích hoàn toàn như nhau. Mật Tông vừa nhập môn vẫn chưa tŕ chú, mà bảo quư vị lễ mười vạn lạy trong ba tháng, dập đầu mười vạn lần. Nếu trong ba tháng, quư vị không thể lễ mười vạn lạy, vậy th́ khỏi cần học, chẳng dạy nữa! Những phương pháp
này đều nhằm làm cho quư vị vứt sạch hết thảy phân biệt, vọng tưởng, chấp trước,
khiến cho tâm quư vị chuyên chú. Lễ mười vạn lạy phải đếm số, khi quư vị
đếm số, trong tâm chẳng thể nghĩ tới chuyện ǵ khác. Nghĩ tới chuyện khác sẽ đếm trật. Đếm trật bèn chẳng tính, làm lại từ đầu! V́ thế, chuyện này rất phiền, nhất định phải tập trung tinh
thần để tính đếm, để khỏi bị đếm trật. Đều là dùng các phương pháp
ấy để chúng ta đạt được cái tâm thanh tịnh.
Đối với Giáo Hạ, thông thường là niệm ba ngàn lần các bộ kinh có phân lượng kha khá như kinh Pháp Hoa, kinh Lăng Nghiêm, mỗi ngày niệm một bộ. Niệm một bộ, niệm thuần thục, nhanh nhất phải mất bốn giờ.
Nếu chưa thuần thục, có thể mất đến tám tiếng. Sau khi niệm như vậy, tâm quư vị mới có nền tảng, nghe kinh
có thể khai ngộ. Tôi giảng kinh ở thành phố Đài Bắc đến năm nay là ba mươi năm, chưa thấy một ai khai ngộ! V́ sao chẳng có người nào khai ngộ? Là v́ chẳng có người nào tâm thanh tịnh, trong tâm đều rất loạn! Không chỉ là pháp thế gian đă khiến cho quư vị loạn, mà Phật pháp cũng khiến cho quư vị loạn! Hôm nay nghe kinh này, ngày mai nghe kinh khác; hôm nay nghe vị pháp sư này giảng, ngày mai nghe vị đại
đức kia giảng, đầu óc loạn tùng phèo! Tâm chẳng thanh tịnh th́
đọc kinh, nghe giảng đều là
tăng trưởng tà kiến. Như vậy th́ chẳng thể coi là đọc kinh,
mà là nghiên cứu kinh. Nghiên cứu kinh là tăng trưởng tà kiến.
Tâm thanh tịnh đọc kinh, nghe giảng, bèn tăng
trưởng trí huệ. Lục Tổ đại sư thưa với Ngũ Tổ: “Trong tâm đệ tử thường sanh trí
huệ”. V́ sao thường sanh trí huệ? Tâm Ngài thanh tịnh. V́ sao chúng ta thường sanh phiền năo? Tâm chẳng thanh tịnh, mấu chốt ở ngay chỗ này. Trọn chẳng
phải là Ngài có sở trường đặc
biệt ǵ, mà chúng ta chẳng có! [Nếu nghĩ như vậy] th́ chẳng hợp lư! Ngài có, chúng ta
cũng có, chúng ta có cái tâm giống hệt, nhưng tâm Ngài thanh tịnh, tâm chúng ta chẳng thanh tịnh. Chúng ta vứt bỏ hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tâm chúng ta cũng
thanh tịnh. Ngài có thể thường sanh trí huệ, th́ chúng ta cũng giống vậy, “thường sanh trí huệ”, chẳng có sai
biệt! Bởi lẽ đó, tâm thanh tịnh là trọng yếu.
Đương nhiên, hiện thời chúng ta chẳng phải là kẻ mới học, nay đă là từ tuổi trung niên trở lên, chẳng thể làm học tṛ Tiểu Học nữa, nhưng chúng ta đă bỏ lỡ giai đoạn cầu học, nay bắt đầu làm lại. Nếu hiện thời bắt đầu làm lại th́ cũng phải nghĩ đến chuyện “mất dê mới lo
sửa chuồng”. Một mặt nghe kinh ở đây, một mặt phải tu từ căn bản, tu căn bản chính là phải tu tâm thanh tịnh. Nghe kinh, nghiên cứu giáo, nhà Phật có một nguyên tắc: “Nghe hiểu th́ rất tốt; nghe không hiểu bèn chẳng nghiên cứu, chẳng suy lường”. V́ sao? Nghe không hiểu, nếu quư vị mong hiểu kinh, càng nghĩ càng xa, càng nghĩ càng sai bét, v́ sao? Quư vị đă hiểu, tức là quư vị dùng trực tâm để trực tiếp thấu hiểu; hễ rớt vào trong phân biệt liền rơi vào ư thức. Rơi vào ư thức sẽ biến thành tà tri, tà kiến. Do vậy, chớ nên suy nghĩ, chớ nên tư duy, chớ nên nghiên cứu những thứ ấy! Không chỉ là Thiền Tông ĺa tâm ư thức, mà Giáo Hạ cũng phải ĺa tâm ư thức giống hệt. Tâm là vọng niệm, ư là chấp trước, thức là phân biệt. Ĺa tâm ư thức; nói cách khác, quư vị chớ nên phân biệt, chớ nên chấp trước, chớ nên dấy vọng
tưởng, như vậy th́ quư vị mới có thể đạt được
nghĩa chân thật của Như
Lai. Bài kệ Khai Kinh có câu: “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”, quư vị
mới có thể thật sự hiểu được. Quư vị dùng tư duy, suy tưởng, dùng phân biệt, chấp trước, chắc chắn là tà tri tà kiến.
Do điều này biết, người học Phật đáng quư ở chỗ trong mười hai thời (suốt ngày từ
sáng đến tối) ǵn giữ cái tâm thanh tịnh. Ta muốn ǵn giữ, nhưng giữ chẳng được, vọng niệm tự nhiên sanh khởi. Chúng ta dùng phương pháp niệm Phật, Mật Tông dùng phương pháp
tŕ chú, Thiền Tông dùng phương pháp tham cứu, Giáo Hạ dùng phương pháp đọc kinh, dùng những phương pháp ấy để khắc phục vọng niệm của chính ḿnh, khiến cho cái tâm của chính ḿnh có thể đạt tới thanh tịnh; đó gọi là “pháp môn b́nh
đẳng, chẳng hai, chẳng khác”, đạo lư như vậy. Pháp môn thật sự b́nh đẳng, quư vị dùng phương pháp khác nhau, nhưng đạt tới mục đích hoàn toàn giống nhau. C̣n như chọn lựa phương pháp nào th́ căn tánh mỗi người mỗi khác, mỗi người có sở thích khác nhau, quư vị thích dùng phương pháp
nào, bèn dùng phương pháp ấy, phương pháp chẳng có nhất định. Nhưng quư vị dùng phương pháp nào th́ phải dùng đến cùng, chớ nên thường xuyên thay đổi. Thường xuyên thay đổi, công phu chẳng dễ ǵ đắc
lực! Dùng một
phương pháp đến cùng th́ mới có thể
đắc lực, mới có thể sanh ra tác dụng. Tác dụng là khiến cho phân
biệt, vọng tưởng, chấp trước của quư vị ngày càng ít đi, trí huệ ngày càng tăng trưởng. Chư vị nhất định phải hiểu
đạo lư này. Công phu tu hành chân chánh là ở chỗ nào? Ở ngay trong huấn luyện cái tâm thanh tịnh. Trong pháp môn này gọi là “huấn luyện nhất tâm bất loạn”, đây là công phu chân chánh. Công phu thuận tiện nhất là Phật hiệu, [tức là] chấp tŕ danh hiệu! Vọng niệm mới vừa sanh khởi, [bèn dùng danh hiệu] A Di Đà Phật để đè nén; trừ một niệm A Di Đà Phật ra, chẳng có niệm thứ hai, quư vị đạt tới nhất tâm bất loạn, đó là công phu chân chánh.
Đương nhiên đối với người sơ học rất khó khăn, v́ sao khó khăn? Thành kiến của quư vị
rất sâu, ư kiến quá nhiều, chẳng chịu thật thà thực hiện! Vừa mới bảo quư vị niệm kinh th́ niệm kinh nhằm mục đích nào? Hai mục đích: Một là nhằm đạt tới mục đích huấn luyện cho cái tâm thanh tịnh, mục đích kia là khiến cho quư vị hiểu biết lư luận, phương pháp và cảnh giới, sau đấy quư vị mới khăng khăng một mực niệm Phật. Niệm kinh nhằm đạt
tới hai mục đích trọng yếu ấy. Niệm Phật là “đơn đao trực nhập”, một mục tiêu, một
phương hướng, như vậy th́ mới có
thể niệm thành công, niệm đến công phu thành
phiến, niệm đến nhất tâm bất loạn.
Chúng ta đọc đến đoạn kinh văn này, thật sự hết sức cảm khái! Hiện thời, phương pháp học Phật sai lầm, cho nên tu học nhọc nhằn, vất vả, tu thật lâu mà chẳng đạt được kết quả, hết sức đáng tiếc. Nếu hiểu phương
pháp, nương theo phương pháp
ấy để hành, thưa quư vị, ba tháng sẽ hữu hiệu. Huấn luyện trong ba tháng ấy, tâm của quư vị thanh tịnh rất nhiều. Sáu tháng, quư vị nhất định sanh
pháp hỷ, ba năm bèn có thành tựu, khác hẳn! Ba năm, nhân sinh quan và vũ trụ
quan của quư vị khác hẳn, khí chất con người biến đổi. Nếu quư vị chẳng chịu làm như vậy, học ba mươi năm vẫn y như cũ, chẳng có biến hóa ǵ!
Nếu chư vị
muốn thật sự thành tựu, chớ nên không chú tâm thấu hiểu lời này; đây là nói lời thật cùng quư vị. Ấn Quang đại sư suốt đời chẳng lừa ai, luôn chân thật. Theo học với Ngài, Ngài khai thị cho quư vị một lượt, bảo quư vị trở về nhà thật thà tu tập suốt một đời. Ngài quyết
định chẳng bảo quư vị đến chùa miếu khắp các nơi, hoặc đi khắp nơi nghe kinh, hoặc đến khắp nơi nghiên cứu kinh điển. Ngài bảo quư vị về nhà niệm một
quyển kinh, niệm A Di Đà Phật, thật thà tu tập suốt một đời. Nếu quư vị thừa
dịp rảnh rỗi đến thăm lăo pháp sư, quư vị đọc Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao [sẽ thấy] khi học tṛ đến gặp Ngài, Ngài quở kẻ đó: “Ngươi chẳng ở nhà thật thà niệm Phật, đến đây để làm ǵ?” Học tṛ thưa: “Con đến gặp sư phụ”. [Ngài mắng]: “Sư phụ
đă gặp rồi, c̣n có ǵ hay ho để xem nữa?” Quở mắng, đuổi về! Khởi lên một niệm đến gặp thầy là suy nghĩ tán loạn. Không ở nhà thật thà niệm Phật, mà lăng phí thời gian, lăng phí tinh lực, lăng
phí tiền tài!
Do vậy, mọi người tôn kính pháp sư Ấn Quang, nhưng chẳng có ai đề xướng. V́ sao? Đề
xướng th́ chùa miếu chẳng có tín đồ, ai nấy
đều về nhà thật thà niệm Phật, dẫu làm pháp hội cũng chẳng có ai đến. Chùa miếu hiện thời phải cậy vào tín đồ cúng dường, nên mọi
người “kính nhi viễn chi” pháp sư Ấn Quang, chẳng nhắc đến Ngài. Ngài là người nói lời chân thật, chẳng lừa người. Lôi kéo quư vị thường đến chùa tụ họp, đó là lừa người, chẳng thể có thành tựu, đó là tu một chút phước báo nhân thiên hữu lậu, làm chuyện này mà thôi, chẳng có mảy may liên quan đến Phật pháp, đến “liễu sanh tử, thoát tam giới”,
đến văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới! Chư vị
nhất định phải nhớ kỹ chuyện này. Nếu quư vị mong
trong tương lai sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ những lời tôi nói ở đây rất hữu dụng!
(Sao) Chánh minh nhị độ tịnh uế bất đồng, linh hân yếm cố.
(鈔) 正 明 二 土 淨 穢 不 同,令
忻 厭 故。
(Sao: Nêu rơ hai
cơi tịnh uế khác nhau, khiến [người nghe] ưa
thích và chán nhàm).
Ở đây, Ngài nêu ra ư nghĩa này. Hai thế
giới hoàn toàn khác nhau, chỗ khác biệt lớn nhất, thưa quư vị, là người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới vô lượng
thọ. Thọ mạng của hết thảy chúng sanh trong mười
phương các cơi Phật đều có hạn lượng, dẫu dài cách mấy th́ vẫn là có hạn
lượng. Thọ mạng của chư thiên trời Phi Tưởng Phi
Phi Tưởng trong thế giới Sa Bà là tám vạn
đại kiếp, vẫn là thọ lượng hữu hạn. Kinh Vô Lượng Thọ nói: Thuở ấy, Thế Tự Tại Vương Như Lai
trụ thế bốn mươi hai kiếp, vẫn là thọ
lượng hữu hạn. Chỉ riêng nhân dân trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới là vô lượng thọ, thật sự vô lượng. Chẳng cần nói tới những chuyện khác, nếu quư vị thật sự hiểu rơ điều này, đương nhiên giữ lấy Tây Phương Cực Lạc thế giới. Ai muốn sanh tử luân
hồi? Sanh tử luân hồi vô cùng khổ sở! Quư vị phải thấy rành rẽ hiện tượng luân hồi! Trẻ thơ được sanh ra, đứa bé ấy đến đầu thai là đến [thế giới này]. Khi chết, lại ra đi, [dẫu đến hay đi] đều ở trong luân hồi. Sống sống chết chết, chết chết sống sống, khổ khôn kể xiết, phải giác ngộ điều này!
Quư vị nói quư vị là một người sống rất sung sướng trong thế gian này, quư vị biết ḿnh sung sướng lúc nào? Khi nào quư vị nhận biết sự sung sướng ấy đă qua đi? Thời gian rất ngắn. Coi như thọ mạng của quư vị khá lắm, có thể sống tới tám mươi tuổi, hai mươi năm đầu lo học hành, chẳng có thành tựu ǵ để
nói tới. Hai mươi năm cuối già nua, mắt cũng hoa, tai cũng điếc, răng cũng rụng, chuyện ǵ cũng đều bất tiện, ngày càng khổ hơn. Tính ra trong bốn mươi năm thuộc khoảng giữa, tối ngủ mất một nửa, c̣n lại hai mươi
năm. Hai mươi năm, quư vị mỗi ngày ăn cơm, làm lụng, nên lại phải trừ đi
một nửa, trừ mất mười
năm, thọ mạng của quư vị thật sự chỉ có mười năm. Nếu mười năm mà nghiêm túc làm việc th́ chỉ sợ lại phải khấu trừ một nửa, quư vị chỉ c̣n có năm năm. Thời gian để quư vị có thể thật sự dụng công trong một đời, trên thực tế
chỉ có năm năm. Coi như quư vị
sống đến tám mươi tuổi, trừ qua, bớt lại, cuối cùng chỉ c̣n năm năm, quư vị phải giác ngộ! Vui ở chỗ nào? Đời người chẳng vui, chỉ có khổ, chẳng có vui sướng ǵ! V́ ăn,
mặc, ở, đi lại mà bươn chải, đối với những ǵ quư vị đạt được,
phải trả một cái giá to lớn cỡ nào
th́ mới được no ấm?
Quay đầu nh́n lại Tây Phương Cực Lạc thế giới, nếu muốn nhận biết và liễu giải Tây Phương Cực Lạc thế giới, ít nhất quư vị phải đọc Tịnh Độ Ngũ Kinh Độc Bổn từ đầu đến cuối ba lần. Trong tâm quư vị có sự hiểu biết đại khái về Tây Phương Cực Lạc thế giới, mới hiểu chỗ tốt đẹp trong thế giới ấy, chẳng giống như trong thế giới này. Thế giới ấy chẳng có ưu lự, chẳng có vướng
mắc, chẳng có
phiền năo, ăn, mặc, ở, đi lại tự nhiên,
không cần phải sắp đặt, lo liệu, không
cần quan tâm, tâm quư vị mới có thể vĩnh viễn giữ được
sự thanh tịnh quang minh. Người trong thế giới ấy thần thông
quảng đại, Thiên Nhăn thấy thấu suốt, Thiên Nhĩ nghe
thấu triệt, năng lực của họ do đâu mà có? V́ họ chẳng có
phiền năo, tâm họ thanh tịnh. Nói thật ra, chúng ta cũng
có năng lực ấy, nhưng đă đánh mất. V́ sao đánh mất? Mỗi ngày lo ăn, lo mặc, mỗi ngày bụng dạ đều vướng mắc, chuyện này phiền lắm, khiến cho cái tâm thanh tịnh của chúng ta bị khuấy trộn nháo nhào, khuấy trộn đến nỗi mê hoặc, điên đảo, nên toàn bộ bản năng (năng lực sẵn có) của chính ḿnh bị mất đi!
Nếu quư vị nói thế giới Cực Lạc tốt đẹp, nói thật ra th́ là hoàn
cảnh sống của họ tốt đẹp. Chúng ta ở trong thế giới này, có khi cuộc sống khổ sở, vẫn phải nghĩ trọn hết phương pháp để di dân, ḥng t́m một nơi có cuộc sống tốt đẹp hơn, công việc tốt đẹp hơn, đăi ngộ cao hơn, nghĩ trọn hết mọi phương pháp để đến đó. Sao quư vị chẳng nghĩ tới chuyện về Tây Phương Cực Lạc thế giới? Di dân đến
thế giới Cực Lạc mới là người thông minh nhất. Trong thế giới này, chuyển tới đâu đều chẳng sai khác cho lắm, do cộng nghiệp cảm vời mà! Thế giới này chẳng có chỗ tốt đẹp, chỗ tốt đẹp thật sự là ở Tây Phương Cực Lạc thế giới.
“Nhị
độ” là thế giới Sa Bà và thế giới Cực Lạc, một là Tịnh
Độ, một là uế độ. Nói thật ra, cơi nước chẳng có tịnh hay uế, mà do ḷng người có tịnh hay uế. Tâm thanh tịnh cảm vời Tịnh
Độ, tâm xấu ác cảm vời uế độ. “Cơi nước” là y báo, y báo chuyển
theo chánh báo. Mỗi người trong thế giới Tây Phương đều là tu tâm thanh tịnh văng sanh, cho nên cơi ấy là thuần tịnh vô uế, chẳng giống các thế giới của mười
phương chư Phật do nhiễm
nghiệp của chúng sanh cảm vời, là những cơi cảm vời bởi uế nhiễm. Đối với chúng sanh trong thế giới này, quư vị bảo mọi người tu tâm thanh tịnh, có làm
được hay không? Là chuyện chẳng làm được!
Mọi người không chịu tu, chúng ta chỉ đành phải di dân. Trừ di dân ra, chẳng có cách nào tốt đẹp để thực hiện, chẳng có biện pháp! Ta mong thanh tịnh, họ không muốn! Ở trong đại vũ trụ này, chỉ có
một thế giới vô cùng đặc thù như thế, người tu tâm thanh tịnh trong mười phương thế giới chư Phật đều đến đó. V́ vậy, chúng ta nhất định phải hiểu sự thật chân tướng này. Tiếp theo đây, đại
sư nêu ra một sự so sánh nhằm tháo gỡ mối nghi hoặc có thể phát sanh.
(Sao) Vấn: Nghiêu xử măo từ, Cơ gián tượng ngọc, thế gian vương
thần, thả sùng tố phác, Tịnh Độ Bồ Tát, hà quư bảo nghiêm?
(鈔) 問:堯 處 茆 茨,箕 諫 象 玉,世 間 王 臣,且 崇 素 樸,淨 土 菩 薩,何 貴 寶 嚴。
(Sao: Hỏi: Vua Nghiêu sống trong
lều tranh, Cơ Tử can gián [vua Trụ] đừng dùng
chén đĩa bằng ngà, bằng ngọc. Vua tôi trong
thế gian c̣n chuộng đơn giản, chất phác, sao
Bồ Tát trong cơi Tịnh Độ lại chuộng những
thứ trân bảo trang nghiêm?)
Lời
hỏi này rất hay! V́ chúng ta nh́n vào Tây Phương Cực Lạc thế giới, dường như cuộc sống bên ấy quá choáng lộn, quá xa xỉ, quá phú quư. Chúng ta thấy thánh nhân trong thế giới này đều tôn trọng cuộc sống đơn giản, thuần phác, trọn chẳng chú trọng hưởng thụ cuộc sống vật chất, mà chú trọng hưởng thụ cuộc sống tinh thần. V́ thế, nêu ra câu hỏi này hay lắm. “Nghiêu” là vua Nghiêu. Thuở vua Nghiêu tại thế, suốt đời sống trong lều tranh, đắp đất làm tường, phía trên lợp cỏ tranh. Cung điện của vua Nghiêu lợp bằng cỏ tranh, nên gọi là Măo Từ (茆茨). “Cơ” là Cơ Tử[10], là đại thần của Trụ Vương nhà Ân. Ân Trụ Vương quá chuộng hưởng thụ, chén rượu đều làm bằng vàng, ngọc, ngà voi, hết sức t́m ṭi sao cho hoa mỹ, tinh xảo. Cơ Tử can gián, chê hoàng đế quá xa xỉ. Ân Trụ Vương không
nghe lời, đuổi Cơ Tử ra khỏi nước. Cơ Tử trốn tới Hàn Quốc, nghe nói người Đại Hàn chính là hậu duệ của Cơ Tử. Do vậy, trong thế gian này, Nghiêu là vua, Cơ Tử là đại thần, vua tôi trong thế gian đều tôn trọng chất phác, đơn sơ. Dường như Phật, Bồ Tát trong Tịnh
Độ chẳng bằng các vị vua chúa, đại thần trong thế gian, họ sống cuộc đời lộng lẫy, hoa lệ, xa xỉ như vậy, dường như chẳng phải lẽ! “Hà quư
bảo nghiêm” [nghĩa là] sao lại coi trọng những thứ trân bảo trang nghiêm ấy? Liên Tŕ
đại sư giải thích:
(Sao) Đáp: Thử
hữu nhị nghĩa.
(鈔) 答:此
有 二 義。
(Sao: Đáp:
Ở đây có hai nghĩa).
Trong lời đáp có hai ư nghĩa, một ư nghĩa là…
(Sao) Nhất giả, thượng trí chi
sĩ, tri tâm tịnh tắc độ tự tịnh, chánh
thắng tắc y tất cường, lư cố hữu
nhiên, tâm thật vô trước.
(鈔) 一 者,上
智 之 士,知 心 淨 則 土 自
淨,正 勝 則 依 必 強,理
固 有 然,心 實 無著。
(Sao: Một là
bậc thượng trí, biết
tâm tịnh ắt cơi nước tự tịnh, chánh báo thù
thắng, ắt y báo mạnh mẽ là lẽ
đương nhiên, tâm thật sự chẳng chấp
trước).
Trong tâm quyết
định chẳng có chấp trước. Đây là nói theo người có trí huệ cao nhất, “thượng trí”, người ấy đă thông đạt,
đă hiểu rơ. Tâm đă tịnh, cơi nước nhất định thanh tịnh, y báo quyết
định chuyển theo chánh báo. “Chánh thắng” là chánh báo thù thắng, “y tất
cường” [nghĩa là] y báo nhất định cũng thù thắng. “Lư cố hữu” [nghĩa là]: Đây là đạo lư đương nhiên! Những sự trang nghiêm bằng bảy báu trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng phải do toan tính. Nói thật thà, vua Nghiêu thuở ấy muốn cất một cái lều tranh vẫn phải trù tính, vẫn phải có sắp đặt, tính toán để thực hiện như thế nào. Tây Phương Cực Lạc thế giới không cần! Chẳng cần thiết! Hết thảy là tự nhiên. Chúng ta ở nơi đây tôn trọng y báo, cảm thấy đó là phú quư khôn sánh. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có ư niệm ấy, phải biết điều này!
“Tâm
thật vô trước”, quyết định chẳng có chấp
trước. [Sách Diễn Nghĩa giảng]: “Thượng trí chi
sĩ, ngộ cảnh duy tâm, tâm bất kiến
tâm, vô tướng khả
đắc” (Bậc thượng trí ngộ cảnh là duy tâm, tâm chẳng thấy tâm, nên không có tướng ǵ để đạt được). V́ vậy, trong quan niệm của họ, hết thảy
trân bảo trang nghiêm hoàn toàn giống như huyễn hóa. Thật ra, nói thật sự th́ cũng là huyễn hóa, v́ sao? Hết thảy sự thọ dụng
của họ là tùy thuận ḷng ưa muốn; ta trụ trong cung điện này, muốn to một chút, nó bèn to hơn một chút; muốn nó nhỏ hơn một chút, nó bèn nhỏ đi một chút, chẳng phải là giống như huyễn hóa ư? Ta nghĩ là màu vàng ṛng, sẽ thấy toàn thể biến thành màu vàng ṛng. Ta không thích sắc vàng ṛng; ta muốn là màu bạc, toàn bộ biến thành màu bạc, chẳng cần phải bận tâm tí nào, chẳng cần phải ra tay! Tâm tưởng ǵ biến ra đó, đúng là huyễn hóa tạo thành, thuận theo ḷng muốn, họ chẳng có chấp
trước. Họ cũng chẳng có cách nghĩ hay ư niệm quư, hèn, v́ sao? Mỗi người đều thuận theo tâm nguyện của chính ḿnh mà biến hóa thành tựu. Nhưng phàm phu chúng ta chẳng như vậy, những điều được giảng trong kinh
là do Thích Ca Mâu Ni Phật v́ bọn phàm phu chúng ta mà nói. Phàm phu có phân biệt, có chấp trước,
chẳng biết hết thảy các pháp “duy tâm sở
hiện, duy thức sở biến”, chẳng biết y báo chuyển theo chánh báo, họ chẳng biết! V́ vậy, họ chỗ nào cũng chấp trước! Chấp tướng?
Được rồi! Đối với hai tướng ấy, [phàm phu] bèn có phân biệt,
liền chọn lựa, như vậy th́ để cho họ hoan hỷ ĺa bỏ thế giới Sa Bà, cầu lấy thế giới Cực Lạc. Đây là dụng ư thuyết pháp của đức Phật, chẳng phải nói với người trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới, mà là để nói với chúng ta!
(Sao) Dụ như Thuấn tại khuyển mẫu, cung hà lê sừ, nhất thừa
Nghiêu thiện, cảnh tất miện lưu, bất
kỳ tự biện, Thuấn hà nhạo yên?
(鈔) 喻 如 舜 在 畎 畝,躬 荷 犁 鋤,一 承 堯 禪,警 蹕 冕 旒,不 期 自 辦,舜 何 樂 焉。
(Sao: Ví như
vua Thuấn ở chốn rẫy bái, khiêng vác cày cuốc,
một khi được vua Nghiêu nhường ngôi, ra vào có kẻ canh gác, dẹp đường, đội mũ miện rủ tua
ngọc, chẳng mong tự đạt được, vua Thuấn há có ham thích ǵ!)
Lăo nhân gia nêu ra so sánh cũng vô cùng hay! Vua Nghiêu tuổi đă già, muốn truyền lại ngôi vua phải t́m một người tốt đẹp, t́m một người thật sự hiền năng. Đến
đâu để t́m? Đi thăm ḍ khắp nơi! Thời cổ t́m hiền nhân là t́m người như thế nào? T́m người hiếu
thuận, chẳng cần xét ǵ khác, người ấy có thể hiếu thuận th́ nhất
định là người tốt. Tại Trung Quốc, từ đời Hán trở về sau; nói thật ra, cũng thực hành chuyện tuyển cử. Từ xưa đến nay, coi trọng tuyển cử, nhưng tuyển cử không nhất
định là do dân chúng tuyển cử, mà do quốc vương, đại thần đi khắp nơi thăm ḍ để tuyển chọn, đề bạt người hiền, gọi là “cử
hiếu liêm”. Cử (舉) là tuyển cử, tiến cử kẻ ấy. Người như thế nào? Hiếu liêm, liêm (廉) là liêm khiết. Người liêm khiết
tuyệt đối chẳng tham ô, dẫu cuộc sống khổ sở, cũng chẳng đ̣i hỏi người khác một đồng nào! Người như vậy thay dân chúng làm việc mới là công chánh, nghiêm minh. Tuyển cử người như vậy.
Quan lại địa
phương trước đây là tri huyện, tri phủ, giống như hiện thời chúng ta gọi là huyện thị trưởng, điều thứ nhất trong thành tích chánh trường của ông ta là v́ quốc gia tiến cử, đề cử nhân tài. Tuyển chọn, đề
bạt nhân tài, quốc gia có ban thưởng, [điều ấy được
gọi là] “tiến hiền thọ thượng
thưởng” (đề cử người hiền tưởng
thưởng trọng hậu). Vinh dự cao nhất của đất nước ban thưởng cho ai? Thưởng cho người thay quốc gia đề bạt nhân tài. Người làm huyện thị trưởng,
thường ra ngoài thăm ḍ, con cái nhà nào hiếu thuận, bèn chọn lấy, dùng kinh phí của quốc gia để lo cho nó học hành, vun bồi nó. Nếu gia cảnh nó thanh bần, quốc gia sẽ bù đắp. Cổ nhân
thường nói: “Trung thần xuất thân từ hiếu tử”. Người có
thể hiếu thuận cha mẹ, sẽ chẳng làm
chuyện xấu. Làm chuyện xấu sợ có lỗi với cha mẹ. V́ thế, trong nền
giáo dục xưa kia, mọi người có quan niệm “vinh tông
diệu tổ” (rạng mày nở mặt tổ tiên), hành vi của ta
trong suốt một đời luôn có thể làm cho cha mẹ, tổ tiên tăng thêm vinh dự, chẳng khiến cho tổ tiên, cha
mẹ mất mặt. Hễ nghe nói kẻ nào đó làm chuyện xấu, hắn là con cái của người nào đó, cha mẹ kẻ ấy lắm nỗi sượng sùng! V́ thế, con cái ở bên ngoài quyết
định chẳng dám làm sai, làm quấy. Quốc
gia tuyển cử lấy điều này làm tiêu chuẩn; hiện thời, tiêu chuẩn
tuyển cử chẳng c̣n nữa.
Vua Thuấn là bậc đại
hiếu. Người Hoa
hễ nói đến hiếu đạo, nhất định
là nói đến vua Thuấn. Quư vị đọc Sử Kư thấy có ghi chép [tiểu truyện của
vua Thuấn]. Thiên thứ nhất trong bộ Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kư là truyện vua Thuấn. Ông ta là người thật sự hiếu thuận, đă thật sự thực hiện
được chữ “thuận”. Ông ta sống trong hoàn cảnh gia đ́nh hết sức khổ sở. Mẹ ruột ông ta mất rất sớm. Cha cưới d́ ghẻ, d́ ghẻ ngược đăi vua Thuấn. Cha vua Thuấn lại nghe lời d́ ghẻ, điều này rất khó chịu đựng. D́ ghẻ lại sanh con
trai, đương nhiên yêu thương con đẻ, coi
con vợ trước như đầy tớ, dùng đủ mọi cách ngược
đăi vua Thuấn. Ngược đăi vẫn chưa đủ, c̣n toan nghĩ cách hại chết ông ta. Vua Thuấn rất thông minh, biết họ dùng kế ǵ. D́ ghẻ muốn đẩy ông ta xuống giếng để d́m cho chết, vua Thuấn đă sớm khoét một cái ngách bên giếng, khoét lối thông ra ngoài. Quả nhiên, có một hôm họ đẩy ông ta xuống giếng, ông ta theo lối ngách thoát ra. Do ông ta đă sắp đặt dự pḥng trước, nên giữ được tánh mạng. Cha, mẹ, anh em ngược đăi như vậy, nhưng ông ta chưa hề nói xấu họ một lời nào, luôn nói họ tốt đẹp, luôn bảo chính ḿnh sai trái, [luôn tự vấn] v́ sao chính ḿnh chẳng thể khiến cho cha mẹ vui ḷng, luôn luôn quay lại tự trách chính ḿnh. Đến
cuối cùng, cha mẹ ông ta bị cảm động, cả một nhà bị ông ta cảm động.
Vua Nghiêu nghe kể chuyện người
ấy, tuyệt quá! Nếu người ấy làm vua, dân chúng cả nước sẽ đều được ông ta cảm hóa. Do vậy, vua Nghiêu cho vời ông Thuấn đến, gả hai cô con gái cho. Ông Thuấn cũng chẳng ngờ từ một kẻ b́nh dân, là một nông phu ở chốn ruộng nương, bỗng nhiên làm hoàng đế, nghĩ cách nào cũng chẳng nghĩ ra được. Đang vác cuốc trên đồng, vừa được
vua Nghiêu nhường ngôi vua, “cảnh tất, miện
lưu” (ra vào có kẻ canh gác, dẹp đường,
đội mũ miện rủ tua ngọc)[11] là nói đến sự tôn nghiêm của đế vương. “Bất kỳ
tự biện” [nghĩa là] chẳng
phải do chính ông ta mong mỏi đạt được, mà là chuyện tự xảy đến, chẳng phải là điều ông ta mong cầu, chẳng có ư niệm ấy! “Thuấn hà nhạo yên?”: Vua Thuấn có ưa thích hay không? Vua Thuấn chẳng ham! V́ sao chẳng ham? Biết trách nhiệm quá to lớn, nặng nề, ông ta phải trọn hết sức làm tốt công việc, há c̣n tâm t́nh ǵ để hưởng lạc? Chẳng có! Niệm niệm suy tưởng làm thế nào để cai trị đất nước cho tốt đẹp, làm thế nào để dân chúng sống tốt đẹp. Đúng là hy sinh, dâng hiến, há có ǵ để hưởng lạc ư?
Thời cổ, những vị quan tham chánh trong đất nước, từ trưởng quan địa phương cho đến nguyên thủ quốc gia mang tâm thái ǵ? Thật sự v́ dân chúng phục vụ, mang tâm thái ấy. Thường nói là “học nhi ưu tắc sĩ”, [nghĩa là] học vấn và đạo đức đều đă thành tựu rồi mới ra làm quan. Làm quan có phải là chính ḿnh muốn ra làm hay không? Chẳng phải, nhất định là do người khác mời quư vị ra. [Do họ]
thành tâm thành ư mời, nên nể t́nh, chẳng thể không ra. Gia Cát
Lượng cũng là một người làm ruộng, đọc sách, Lưu Bị ba lượt đến thỉnh, thấy tâm ông ta rất chân thành, nên nể t́nh phải ra. Quư vị đọc Tam Quốc Chí, thấy khi Gia Cát Lượng sắp ra đi, bảo em trai: “Ta
đi giúp Lưu tướng quân đôi chút, em hăy trông nom nhà cửa cẩn thận, ta sẽ trở về rất nhanh”. Ḷng người ta đâu muốn làm quan! Đi giúp họ Lưu, khi giúp xong liền vội vă trở về, chẳng muốn làm nữa, từ chức! Tuyệt đối chẳng giống như hiện thời, “ta ngon lành cỡ nào, các ngươi phải chọn ta làm quan chức này nọ!” [Xưa kia] chẳng có, chẳng thể nào có chuyện ấy, dẫu được
thỉnh vẫn bất động! V́ sao? Không làm quan thật là sung sướng! Hưởng an vui là dân chúng
hưởng an vui, người giữ chức vị khổ sở phục vụ nhọc nhằn để chúng ta hưởng thụ, họ tạo phước, dân chúng hưởng phước! Đó là chuyện xưa kia, đương nhiên cũng có lúc hủ hóa, nhưng vẫn có chừng hạn… Chính ḿnh bỏ mất những thứ tốt đẹp của Trung Quốc, học lấy những thứ trời ơi đất hỡi của ngoại quốc, nên chúng ta mới chịu tội,
mới bị khổ sở!
Trước kia, tôi theo tiên sinh Phương Đông Mỹ, thầy Phương thường hết sức ca ngợi chế độ nhà Châu. Hiến pháp nhà Châu gọi là Châu Quan, c̣n gọi là Châu Lễ. Châu Lễ do Châu Công soạn ra, tức là lư tưởng trị quốc (cai trị đất nước) của ông ta. Thầy Phương nói nếu con cháu đời sau của nhà Châu đều có thể làm theo pháp điển ấy, chỉ sợ cho tới hiện thời [vương
triều cai trị
Trung Hoa] vẫn là nhà Châu, chẳng bị vong quốc! Cụ nói bộ pháp điển ấy, hiến pháp của bất luận quốc gia hay dân tộc nào trên cả thế giới
đều chẳng có cách nào sánh bằng! Lúc ấy, thầy bảo tôi xem, tôi mua một bộ nhưng chưa đọc. Sau này học Phật, căn bản là chẳng xem tới
sách ấy. Khi tôi theo thầy, tôi c̣n chưa học Phật, thầy khuyên tôi đọc sách ấy, bảo sách ấy vô cùng hay. Thầy hết sức tán thán, nói lời ấy với tôi tối thiểu mười mấy lượt. Thầy hết sức tôn sùng chế độ nhà Châu, coi đó là một pháp điển tốt nhất thế giới, là nguyên lư và nguyên tắc để trị quốc, b́nh thiên hạ. Từ đời Hán trở đi, tuyển cử ở Trung Quốc là chức trách của quan lại địa phương, nên điều trọng yếu nhất trong thành tích chánh trị của quan lại địa phương là tuyển cử, đề bạt nhân tài cho quốc gia. Điều này được
thực hiện măi cho đến đời Măn Thanh, quư vị thấy nó có sức ảnh hưởng to lắm! Gần như [kéo
dài] đến hai ngàn năm!
(Sao) Cố viết hữu thiên hạ nhi
bất dữ dă.
(鈔) 故 曰 有 天 下 而 不 與 也。
(Sao: V́ thế
nói: “Có thiên
hạ mà chẳng màng”).
Cho nên mới có một câu nói như thế! “Có” tức là tại vị, đang ở địa vị làm vua một nước, đó là “có thiên hạ”, nói theo cách hiện thời là “có chánh quyền”. Có chánh quyền bèn giống như người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, tâm thật sự chẳng chấp trước! Tâm địa người ấy thanh tịnh, trọn chẳng coi đó là chuyện nở
mày nở mặt, trọn chẳng coi đó là điều để hưởng thụ. Người ấy ở vị trí đó, biết mưu cầu hạnh phúc cho hết thảy
chúng sanh. Do vậy, Phật, Bồ Tát ở địa vị Phật, Bồ
Tát, trách nhiệm của các Ngài là phải phổ độ hết thảy chúng sanh, hy vọng hết thảy chúng sanh đều khai
ngộ, ai nấy đều thành Phật. V́ Phật pháp là sư đạo; Phật, Bồ
Tát có thân phận là thầy, đă là thân phận thầy th́ phải dạy học. Do vậy, chẳng có một vị Phật, Bồ
Tát nào chẳng giảng kinh, hoằng pháp;
chẳng có! T́m không ra! A La Hán có vị chẳng giảng kinh, thuyết pháp, nhưng Bồ Tát chẳng vậy, nhất định là giảng kinh, hoằng pháp. Dẫu chẳng chánh thức giảng kinh, hoằng pháp, Ngài cũng hộ tŕ đạo tràng giảng kinh, hoằng pháp. Giống như trong một trường học, lên lớp trong nhà trường là giáo viên, không lên lớp là các nhân viên, [những nhân viên ấy] cũng chẳng thể khuyết
thiếu! Chẳng có các nhân viên, ai lo công chuyện? Bởi lẽ, cần có người lo liệu công việc!
Quư vị ai nấy đều làm giáo viên, có khi Bồ Tát cũng làm nhân viên. Xưa kia, chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, mọi người đều dốc hết tánh mạng dụng công tu học, rốt cuộc là chân học hay giả học, chẳng biết! Cho dù là giả vờ học, vẫn khiến cho A Di Đà Phật, Văn Thù Bồ Tát, và Phổ Hiền Bồ Tát đến làm lụng trong chùa. A Di Đà Phật ở hậu viện giă gạo cúng dường đại chúng, làm việc lao dịch. Văn Thù và Phổ Hiền nấu cơm trong nhà bếp. Văn Thù, Phổ Hiền là Hàn Sơn, Thập Đắc, A Di Đà Phật là ḥa thượng Phong Can. Chân tướng cũng do chính các Ngài bộc lộ. Quan đứng đầu địa
phương là Lư Thứ Sử đến
nhận chức, nửa đường bị bệnh nặng, rất nhiều thầy thuốc đều bó tay, ngài Phong Can đến chữa bệnh cho ông ta. Sau khi chữa khỏi, ông Lư hỏi Sư: “Pháp sư, thầy ở nơi đâu?” Sư đáp: “Tôi ở chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai”, ông Lư nói: “Đó là nơi ta cai trị”. Ông ta là trưởng quan
của địa phương, quản hạt khu vực ấy, liền thỉnh giáo Sư: “Trong chùa của thầy có cao tăng hay không?” “Có! Hàn Sơn là Văn Thù Bồ Tát, Thập Đắc là Phổ Hiền Bồ Tát”.
Ông ta vừa đến nhiệm sở, ngày hôm sau
liền vội vă đến chùa Quốc Thanh bái phỏng hai vị Bồ Tát. Đến chùa Quốc Thanh liền hỏi Văn Thù và Phổ Hiền, mọi
người chẳng
biết Văn Thù và Phổ Hiền là ai? Lại hỏi đến Hàn Sơn và Thập Đắc, họ nghĩ cả nửa ngày [cũng không biết là ai]! Có hai người điên điên, khùng khùng nhóm lửa trong nhà bếp, một gă là Hàn Sơn, gă kia tên là Thập Đắc. Ông ta đến đó, vừa gặp mặt liền sụp lạy. Hai người ấy chẳng màng đến ông ta, vội vă bỏ chạy ngay, ông ta đuổi theo
sau. Đuổi tới một quả núi, núi ấy liền tách ra, hai người
bọn họ bước vào đó, quay lại nói: “Di Đà lắm mồm”. “Lắm mồm” tức là đă nói toạc bí mật
của bọn họ. Ông Lư mới biết Phong Can là A Di Đà Phật. Bọn họ vừa bước
vào, núi bèn khép lại, chẳng thấy người
đâu nữa! Sau đó, [ông Lư] đi t́m Phong Can, nhưng Phong Can cũng không thấy. V́ thế mới biết A Di Đà Phật, Văn Thù, Phổ Hiền làm việc nặng phục vụ mọi người, chuyện người ta không muốn làm, Phật, Bồ Tát bèn đến làm. Do vậy, Phật, Bồ
Tát chẳng giảng kinh, thuyết pháp, bèn làm việc nặng nề ḥng cúng dường đại chúng,
đều là làm khuôn mẫu, nêu gương cho chúng ta thấy. Chúng ta thấy những chuyện ấy chẳng muốn làm, Phật, Bồ Tát chịu làm. Đó là giải thích mười phần cụ thể câu “có thiên hạ mà chẳng màng”.
Đây là ư nghĩa thứ nhất, nêu rơ bọn họ đạt được tự nhiên, quyết định chẳng có tâm [mong cầu, toan tính], quyết định chẳng hưởng lạc, hễ có vui sướng th́ trật mất rồi. Hai bên khổ và lạc đều bỏ, tâm người
ấy là thanh tịnh, tâm chẳng mê, tâm đầy ắp trí huệ, chúng ta phải hiểu điều này. Ư nghĩa thứ hai là “khúc vị độn căn phàm phu” (chiều
theo phàm phu độn căn), tức là v́ chúng ta mà nói. Hôm nay đă hết thời gian
rồi, chúng tôi giảng tới đây.
A Di Đà
Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 72
hết
[1] Trùng Châu là một loại trùng theo
truyền thuyết. Theo sách Cách Trí Cảnh Nguyên, loại
trùng này có sáu chân, hai mắt, sinh ra một thứ ngọc,
phần nhiều có sắc đỏ, nên gọi là Xích Trùng
Châu hoặc gọi tắt là Xích Châu.
[2] Đá Đại Lư là một loại đá
hoa (cẩm thạch) vốn phát xuất từ vùng
Đại Lư của tỉnh Vân Nam, thường có màu
từ trắng đục đến xám nhạt. Về
sau, tất cả các loại cẩm thạch đều
được gọi chung là “đá Đại Lư”. Tùy theo
vân đá có màu sắc, h́nh thái khác nhau, mà lại chia thành
rất nhiều loại nhỏ, như Đan Đông
Lục (vân đá có tia đỏ lẫn xanh đậm), Thiết
Lănh Hồng, Tuyết Hoa Bạch, Ngải Diệp Thanh, Thu
Cảnh, Hải Lăng v.v… Loại đá này bền chắc,
lại dễ điêu khắc, nên rất được
ưa chuộng trong các công tŕnh xây dựng mỹ thuật,
chế thành những vật dụng thưởng ngoạn
như b́nh phong, nghiên mực, b́nh hoa, ḷ hương, giá treo
bút v.v…
[3] “Huưnh
đới” là một thành ngữ diễn tả sự
cao chót vót, dường như chọc trời hay dính vào
trong mây.
[4] “Các
đạo” c̣n là “phúc
đạo” (复道) hoặc “thông
đạo” (通道) là các lối đi trong các ṭa
điện đài, hoặc
đường hành lang dưới mái thềm các ṭa
điện vũ, hay các đường đi bao quanh các ṭa nhà. “Đống vũ” (棟宇) là từ ngữ chỉ chung các ṭa
điện đường to lớn.
[5] Trong kiến trúc cổ, trước các
ṭa nhà lớn thường xây thềm cao, tối thiểu
là ba bậc, quét sơn màu đỏ, gọi là “đan tŕ”.
[6] Đây là cái sân ở giữa các ṭa
kiến trúc vây quanh bốn mặt. “Thiên tỉnh” có tác
dụng thông gió và lấy độ sáng, đồng
thời tạo không gian riêng tư cho người trong ṭa
nhà, nhất là trong khu vực cư ngụ dành riêng cho
nữ quyến của các gia tộc lớn thời cổ.
[7] Ngũ âm c̣n gọi là “ngũ thanh âm
giai”, gồm Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ,
gần như tương ứng với năm note nhạc
Do, Re, Mi, Sol, La trong âm nhạc Tây Phương. Về sau này,
nhạc lư Trung Quốc thêm vào hai note nữa là Đê (Đê
Bán Âm Cung, Bán Cung, gần tương ứng với note Si)
và Biến Chủy (Bán Chủy). Theo cách định nghĩa
truyền thống, trong thang âm của một cây sáo trúc, âm
Cung chiếm 81 đơn vị, Thương là 72
đơn vị, Giốc là 64 đơn vị, Chủy là
54 đơn vị, và Vũ là 48 đơn vị. Đây
chính là cách định nghĩa dựa trên trường
độ của sóng âm và tần suất dao động.
Quan điểm Ngũ Âm do mô phỏng âm thanh trong tự
nhiên và tương ứng với Ngũ Hành (sau này lại
được mở rộng thêm ra, tương ứng
với Ngũ Tạng, chẳng hạn như Cung
tương ứng với Tỳ, Thương tương
ứng với Phổi v.v…). Thiên Địa Viên trong sách
Quản Tử đă viết: “Nghe
âm Vũ như tiếng chim hót ngoài đồng, nghe âm Cung như tiếng trâu kêu trong
chuồng, nghe âm Thương như tiếng dê kêu khi ĺa
bầy, nghe âm Giốc như tiếng chim Trĩ đậu
trên cây đang hót, tiếng hót rất nhanh nhưng thật
rơ ràng…”
[8] “Bát phong”
là tên gọi chung cho các thứ gió từ tám phương. Tên
gọi này dựa theo sự phối hợp tám phương
với tám tiết khí. Các danh xưng trên đây dựa theo
sách Dịch Vỹ Thông Quái Nghiệm: “Gió trong tám tiết khí được gọi là Bát
Phong. Tiết Lập Xuân, Điều Phong thổi. Tiết
Xuân Phân là Minh Thứ phong, tiết Lập Hạ là Thanh Minh
phong. Tiết Hạ Chí là Cảnh phong, tiết Lập Thu là
Lương phong, tiết Thu Phân là Xương Hạp phong,
tiết Lập Đông là Bất Châu phong, tiết Đông
Chí là Quảng Mạc phong”.
[9] Đan Khâu là một địa
phương trong truyền thuyết, là nơi thần tiên
ở, thường sáng bừng, chẳng bao giờ tối
tăm. Danh xưng này xuất hiện lần đầu
tiên trong bài Viễn Du của bộ Sở Từ: “Nhưng vũ nhân ư Đan
Khâu hề, lưu bất tử chi cựu hương”
(người mặc áo lông (thần tiên) ở chốn
Đan Khâu, ở chốn quê nhà bất tử).
[10] Cơ Tử, họ Tử, tên Tư
Dư, thuộc hoàng tộc nhà Ân Thương, là con của
Văn Đinh, em trai của Đế Ất, tức là chú
của Trụ Vương (vua Trụ có thụy hiệu là
Đế Tân, tên là Tử Thọ. Trụ Vương là
thụy hiệu do nhà Châu đặt cho ông sau khi diệt nhà
Ân). Cơ Tử giữ chức Thái Sư, được
phong ở đất Cơ (nay là huyện Thái Cốc và Du
Xă, tỉnh Sơn Tây), nên sử sách thường gọi ông
là Cơ Tử. Theo Sử Kư, khi can gián, ông từng bị
Trụ Vương giam giữ măi cho đến khi Châu
Văn Vương diệt Trụ mới được
thả. Ông cùng với Vi Tử và Tỷ Can được
người đời xưng tụng là Ân Đại Tam
Nhân (ba vị nhân từ đời Ân), nhưng dă sử thường
chép ông bị đuổi khỏi nước, bèn sang đất
Cổ Triều Tiên (nay là vùng Măn Châu và bờ Nam sông Áp Lục),
trở thành thủy tổ của cổ vương
quốc Cao Cú Ly. Người Đại Hàn cũng tin như
vậy, nhưng điều này vẫn c̣n đang trong ṿng
tranh luận, v́ Triều Tiên thời cổ không bao gồm
địa bàn của Hàn Quốc hiện thời.
[11] “Cảnh
tất” nói đầy đủ là “xuất cảnh, nhập tất” (出警入蹕). Đây là một
thành ngữ diễn tả sự pḥng vệ và tỏ rơ
sự tôn nghiêm của hoàng đế khi ra vào. “Cảnh” là trước khi vua
đến cũng như trong khi vua đi đường, các
thị vệ phải lục soát, cảnh giới nghiêm
ngặt chung quanh để ngăn ngừa thích khách. “Tất” là dẹp
đường ḥng ngăn xa giá khỏi bị ngăn
trở, dân chúng hoặc những kẻ vô phận sự
phải nép vào bên lề.