A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 75
Chủ giảng: Lão pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Hòa
Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong
Tập
149
Xin
xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm mười tám:
(Sao) Vấn: Thử kinh bất kiêm sắc
tượng, kim hồ nãi nhĩ?
(鈔) 問:此
經 不 兼 色 像,今 胡 乃 爾。
(Sao:
Hỏi: Kinh này chẳng kiêm sắc tượng là vì sao
như vậy?)
“Bất kiêm sắc tượng” là nói: “Văn Thù Nhất Hạnh tam-muội, bất thủ tướng mạo, chuyên
xưng danh tự” (Nhất Hạnh tam-muội của ngài Văn Thù chẳng giữ lấy tướng mạo, chuyên xưng niệm danh tự), có ý nghĩa này. Cũng có thể nói là phương pháp tu hành được đề xướng trong bộ kinh này chú trọng trì danh, chẳng cần quán tưởng, mà cũng chẳng cần quán tượng. Ở đây, Liên Trì
đại sư giả thiết một nghi
vấn; tuy là giả
thiết, nhưng trong số các đồng tu
đọc Tịnh
Độ Tam Kinh, quả thật có người có nghi vấn như vậy. Thí dụ như Quán Kinh chú trọng quán tưởng, có Quán Tưởng Niệm Phật, Quán Tượng Niệm Phật, cuối cùng mới nói đến Trì Danh Niệm Phật, còn kinh
này chuyên giảng về trì danh. Dưới đây là lời giải đáp:
(Sao) Đáp: Hữu chuyên chủ cố, kiêm diệc vô ngại.
(鈔) 答:有 專 主 故,兼 亦
無 礙。
(Sao: Đáp: Do vì chuyên chú trọng
một môn chủ yếu, nếu tu kèm thêm [các pháp niệm
Phật khác] thì cũng chẳng trở ngại).
Kinh Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ đồng bộ, nên chủ trương của hai kinh hoàn toàn nhất trí, chuyên lấy Trì Danh làm chủ yếu, nhưng trong quá trình tu học, nếu quý vị tu kèm thêm Quán Tưởng hoặc Quán Tượng cũng chẳng trở ngại, vẫn được! Trong Vãng Sanh Luận, Thiên Thân Bồ Tát đề xướng Ngũ Niệm Pháp, có quán tưởng, xưng danh, phát nguyện, hồi hướng và sám hối,
năm phương pháp đều có thể tu, cũng vô ngại.
(Sao)
Như Bồ Tát thiên hành Lục Độ thời, dĩ Thí vi chuyên
chủ, dư phi bất tu, đản tùy lực, tùy phận.
(鈔)
如 菩 薩 偏 行 六 度
時,以 施 為 專 主,餘 非
不 修,但 隨 力 隨 分。
(Sao: Như
Bồ Tát lúc chú trọng tu Lục Độ, lấy Bố Thí làm chủ yếu, chẳng phải là không tu những
hạnh khác, chỉ tùy sức, tùy phận [mà tu tập]).
Đây là nêu ra một thí dụ, “Bồ Tát thiên hành Lục
Độ” là nói tới Thập Địa Bồ Tát trong kinh Hoa Nghiêm. Thập Địa Bồ Tát là [các địa vị Bồ Tát] từ Sơ Địa cho đến Thập Địa. Tuy mười Độ đều tu, nhưng trong mỗi giai đoạn, Ngài chú trọng một Độ. Thí dụ như Sơ Địa Bồ Tát thiên trọng Bố Thí Ba La Mật, Nhị
Địa Bồ Tát chuyên
tu Trì Giới Ba La Mật, Tam Địa Bồ Tát chuyên tu Nhẫn Nhục Ba La Mật, cho đến Thập Địa Bồ Tát, mỗi địa vị có sự chuyên tu riêng. Tuy chuyên tu một hạnh ấy, nhưng chẳng phải là các hạnh khác không tu, thảy đều tu.
Tuy đều tu, nhưng trong đó, lấy một hạnh làm chủ yếu. Ở đây nói Lục
Độ, “dĩ Thí vi chuyên chủ” (lấy Bố Thí làm pháp tu chủ yếu) là nói về Sơ Địa. Quý vị đọc kinh Hoa Nghiêm liền biết Sơ Địa Bồ Tát chuyên dùng Bố Thí Ba La Mật làm hạnh chuyên chủ, tức là [dùng Bố Thí Độ] để chuyên tu, chủ tu, nhưng Ngài vẫn phải tu chín Độ kia, trọn
chẳng phải là không tu!
“Đản tùy lực, tùy phận” (chỉ tùy sức, tùy phận), đối
với Thập Ba La Mật, ở đây chỉ nói Lục
Độ, tức là đại sư tỉnh lược, vì trong kinh Hoa Nghiêm, quả thật có những độ ấy. Vì sao kinh Hoa Nghiêm có Thập Độ? Thông thường, kinh
Đại Thừa đều nói Lục Độ, kinh Hoa Nghiêm nói Thập Độ, nhưng nội dung của Thập Độ và Lục Độ chẳng sai khác! Thập Độ là Độ thứ sáu [trong Lục Độ], tức Bát Nhã Ba La Mật, được triển khai thành năm Độ; do vậy, năm Độ sau hoàn toàn là Bát Nhã. Bởi lẽ, Bát Nhã Ba La Mật là Căn Bản Trí, bốn thứ sau là Phương Tiện Ba La Mật, Nguyện Ba La Mật, Lực Ba La Mật và Trí Ba La Mật (trí này là Quyền Trí), bốn loại này thuộc về Hậu Đắc Trí.
Chẳng có Bát Nhã Ba La Mật, nói cách khác, quyết định chẳng có phương tiện. Phương
tiện thiện xảo sanh từ Bát Nhã Ba La Mật; phương tiện thiện xảo chẳng dễ dàng!
Nếu chẳng có Bát Nhã Ba La Mật, quý vị muốn dùng phương tiện thiện
xảo sẽ bị rắc rối to! Trong Phật môn thường nói “Phương
tiện thành hạ lưu!” Vì sao phương tiện trở thành hạ
lưu? Kẻ ấy chẳng có Bát Nhã Ba La Mật, học đòi hành theo phương tiện của Bồ Tát, chắc chắn trở thành hạ lưu. Đó gọi là “từ bi
lắm họa hại,
phương tiện thành hạ
lưu”. Lại nói: “Từ bi làm gốc, phương
tiện làm cửa”. Chúng ta nghe như vậy, dường như rất mâu thuẫn; thật ra, nó có
đạo lý, từ bi và phương
tiện đều phải kiến lập trên cơ sở Bát Nhã Ba La Mật. Vì thế, có thể biết, sau khi viên mãn Lục Độ thì mới có thể tu phương
tiện từ bi, chẳng có Lục
Độ, làm sao có phương tiện từ bi cho được? Đây là Bồ Tát tu
học, lấy Lục Độ làm chủ; Lục Ba La Mật đang được nói ở
đây chính là Thập Ba La Mật.
Kinh
Hoa Nghiêm nói Sơ Địa Bồ Tát “ư
nhất thiết vật, vô sở lận tích” (đối với hết thảy mọi vật, chẳng keo kiệt, tiếc nuối), có thể bỏ bất cứ lúc nào, có thể thí xả, chẳng keo kiệt, tiếc nuối. Vì sao? Vì Ngài cầu trí huệ! Đại trí cũng là trí huệ viên mãn rốt ráo, trí huệ do đâu mà có? Trong các buổi giảng, chúng tôi thường thưa trình cùng quý vị, trí huệ sanh từ tâm thanh tịnh. Tâm địa thanh tịnh quang minh giống như trong Tâm Kinh, nó liền khởi tác dụng Chiếu, có thể chiếu kiến! Tâm chúng ta một mực hồ đồ, chẳng thanh tịnh, không quang minh, nên chẳng chiếu kiến! Vì thế, mê hoặc, điên đảo. Nếu muốn khôi phục tâm thanh tịnh, nhất định phải xả. Xả
là quý vị
phải buông xuống. Quý vị không buông xuống
được, tâm chẳng thanh
tịnh; thứ gì cũng đều phải buông xuống! Lục Tổ đã nói: “Vốn chẳng có một vật”, phải buông xuống sạch sành sanh, tâm quý vị liền khôi phục thanh tịnh, trí huệ viên mãn mới có thể hiện tiền.
Do vậy
có thể biết, bố thí vô cùng trọng yếu, chẳng có gì không thể xả, chẳng có gì không thể bố
thí. Bởi lẽ, đây là đại sự tu hành, hết thảy tất cả đều có thể thí. Trong Thập Ba La Mật của Bồ Tát, Bố Thí Ba La Mật tăng thượng, chuyên tu Bố Thí Ba La Mật, xếp nó [thành hạnh tu chủ yếu của] địa vị thứ nhất, tức Sơ Địa. Quý vị
cũng hiểu, chúng ta học Phật thì phải thực hiện từ chỗ nào? Thực hiện từ buông xuống. Lúc tôi mới học Phật, lần đầu tiên gặp Chương Gia
đại sư, tôi thỉnh giáo Ngài, tôi thưa: “Phật pháp tốt đẹp, mỗi người chúng ta đều biết Phật pháp tốt đẹp. Từ chỗ nào thì sẽ có thể tiến nhập?’ Chúng tôi hy vọng có thể tiến nhập rất nhanh, lão nhân gia dạy tôi sáu chữ: “Thấy
thấu suốt, buông xuống được”. Tôi thỉnh giáo Ngài: “Thực hiện từ chỗ nào?” Ngài bảo tôi: “Bố thí”. Quý vị thấy đó, hoàn toàn giống như kinh Hoa Nghiêm đã dạy. Do vậy nói: Quý vị muốn học Phật thì học bắt đầu từ chỗ nào? Bắt đầu học bằng bố thí. Không chỉ là thân, tâm, thế giới có thể buông xuống, mà thưa cùng quý vị, quan trọng nhất là phải buông phân biệt xuống, buông chấp
trước xuống, buông vọng
tưởng xuống, quý vị sẽ thành tựu nhanh chóng, tâm quý vị mới thật sự
đạt được
thanh tịnh.
Vì
thế, đối
với những pháp môn khác bèn tùy phần, tùy sức mà tu. Tu bố thí đến một giai đoạn kha khá, Bố Thí Ba La Mật viên
mãn, Bồ Tát liền tiến cao hơn, từ Sơ
Địa tiến lên Nhị
Địa, Nhị Địa Bồ Tát tu Trì Giới Ba La Mật. Thưa cùng chư
vị, có thể dùng một câu để nói trọn hết Thập Ba La Mật, câu gì vậy? Tâm thanh tịnh. Càng tiến cao hơn, tâm địa càng thanh tịnh, mười Ba La
Mật đều nhằm tu tâm thanh tịnh!
(Sao)
Kim niệm Phật diệc nhiên.
(鈔) 今 念 佛 亦 然。
(Sao: Nay niệm Phật cũng
thế).
Pháp
môn Niệm Phật cũng giống như thế, cũng có từng giai đoạn, và cũng có chuyên tu.
(Sao)
Chuyên chủ ư quán tưởng giả, thiểu thời
trì danh. Chuyên chủ ư trì danh giả, thiểu thời
quán tưởng, diệc “tùy lực, tùy phận” chi ý dã.
(鈔) 專 主
於 觀 想 者,少 時 持 名;專
主 於 持 名 者,少 時 觀 想,亦
隨 力 隨 分 之 意 也。
(Sao: Chuyên tu chủ yếu quán
tưởng thì ít dành thời gian để trì danh. Chuyên tu
chủ yếu trì danh thì ít dành thời gian để quán tưởng, cũng là ý nghĩa “tùy phần,
tùy sức” vậy).
Nếu dùng phương pháp
mười sáu phép Quán, Trí Giả
đại sư dùng mười
sáu phép Quán, Ngài có niệm A Di Đà Phật hay không? Niệm! Thời gian Ngài tu Quán nhiều, thời gian niệm Phật ít. Nếu chuyên nương theo kinh A Di Đà, hoặc kinh Vô Lượng Thọ, bèn lấy niệm Phật làm chủ, thời gian niệm Phật nhiều, thời gian tu Quán ít. Cận đại, lão cư sĩ Hạ Liên Cư đề xướng, quý vị thấy cụ biên soạn Tịnh Tu Tiệp Yếu, phương pháp
là lấy niệm Phật làm Chủ, lấy quán tưởng làm Trợ. Tịnh Tu Tiệp Yếu là sáng tối tu một lần.
Bình
thời, phải giữ sao cho một câu A Di Đà Phật không gián đoạn. Quý vị niệm càng nhiều càng tốt, mỗi ngày phải niệm tối thiểu một vạn câu Phật hiệu. Một vạn câu Phật hiệu
thì quý vị nhớ số cũng rất tốt, mà “nhớ thời” cũng được. “Nhớ thời” thì đại khái niệm một vạn câu sẽ là hai tiếng đồng hồ. Mỗi ngày quý vị có thể niệm đủ hai giờ, đại khái
là có thể niệm được
một vạn câu Phật hiệu. Hai giờ ấy không nhất
định phải niệm xong trong một lần. Quý vị có thể chia thành hai lần, ba lần, hoặc
bốn lần chẳng sao cả, nhưng phải sắp xếp thành công khóa cố định. Công khóa cố định là mỗi ngày nhất định phải
niệm, không nhất định là phải sáng tối, tức là không nhất
định phải niệm trong khóa tụng sáng tối, phải như
vậy thì mới được, mới là chuyên tu. Nếu sáng tối chúng ta dùng phương pháp trong Tịnh Tu Tiệp Yếu thì ba mươi hai lạy hết sức hay. Trong ba mươi hai lạy ấy, còn có quán tưởng, xưng danh, lễ bái. Tinh thần của ba mươi hai lạy là dựa trên Ngũ Niệm Pháp trong Vãng Sanh Luận của Thiên Thân Bồ Tát. Năm khoa này thảy đều có, có sám hối và phát nguyện.
(Sao) Sở
vị bất kiêm sắc tượng giả, cái khủng
nhất tâm chấp trì danh hiệu, hựu nhất tâm quán
tưởng sắc tượng, bất duy tâm vô nhị
dụng, nhi lưỡng sự song hành, khinh trọng
bất phân, câu vô thành tựu nhĩ.
(鈔) 所 謂
不 兼 色 像 者,蓋 恐 一 心
執 持 名 號,又 一 心 觀 想
色 像,不 唯 心 無 二 用,而
兩 事 雙 行,輕 重 不 分,俱
無 成 就 耳。
(Sao: Nói “không
kiêm sắc tượng” là vì sợ đã nhất tâm
chấp trì danh hiệu, lại còn nhất tâm quán
tưởng sắc
tượng thì không gì chẳng phải là do tâm không
có hai tác dụng,
mà hai sự đều cùng hành, chẳng
phân nặng, nhẹ, sẽ đều chẳng thành tựu).
Mấy câu này rất quan trọng, nói rõ lợi ích sai khác giữa chuyên tu và kiêm tu. Kiêm tu là gì? Quý vị nhất tâm nhị dụng! Các đồng tu chúng ta đến nay đã học Phật bao nhiêu năm? Đừng nói tới nhất tâm, ngay cả công phu
thành phiến còn chưa đạt được, nguyên nhân ở chỗ nào? Nhất tâm
đa dụng! Vì thế, chẳng tương ứng, chẳng thể nhất tâm chuyên chú. Quý vị mới biết nhất tâm chuyên chú có công đức chẳng thể nghĩ bàn! Do vậy, cổ đức niệm Phật, trong Niệm Phật
Đường của chính mình chỉ thờ một bức tượng A Di Đà Phật, [ngay cả] Quán Âm
và Thế Chí đều chẳng thờ, [làm như vậy] có lý, chuyên nhất mà! Nhìn thấy [hình tượng] Quán Thế Âm Bồ Tát hoặc Đại Thế Chí Bồ Tát sẽ phân tâm,
đạo lý ở chỗ này. Lãnh chúng niệm Phật bèn lạy Tây Phương Tam Thánh, nhưng trong Niệm Phật
Đường của chính mình chỉ thờ một bức tượng Phật, [ngõ hầu] chẳng bị phân tâm. Người học Phật chúng ta trong hiện thời vọng niệm đúng là quá nhiều. Không chỉ muốn thờ rất
nhiều Phật, Bồ Tát, mà còn mong mỏi đọc tụng rất nhiều kinh điển. Dẫu chẳng đọc tụng, trong tâm vẫn mong đọc tụng, kinh này cũng hay, kinh kia cũng khá. Không chỉ là Phật pháp, mà còn có rất nhiều pháp thế gian cũng vướng mắc, pháp thế gian và xuất thế gian cả một đống lớn! Đó là đa
tâm. Niệm Phật kiểu ấy chẳng phải là chuyên tâm niệm Phật, mà là đa tâm niệm Phật, không thể chuyên chú!
Trong
đoạn khai thị này, Liên Trì đại sư thật sự
đại từ đại bi, đã chỉ điểm những khuyết
điểm của chúng ta. Vì sao “không kiêm sắc tượng”, mà bảo quý vị hãy chuyên chú? Là vì chỉ sợ “nhất tâm chấp trì danh hiệu, lại vừa nhất tâm quán tưởng sắc tượng”, đó là nhất tâm nhị dụng. Nhất tâm nhị dụng, “nhi lưỡng sự song hành,
khinh trọng bất phân” (mà cùng hành hai sự, chẳng phân nặng nhẹ), niệm Phật chẳng niệm tốt đẹp, quán tưởng
cũng chẳng quán tốt đẹp, hai phương diện đều chẳng thực hiện tốt đẹp. Chúng ta suy nghĩ, [nhận thấy] thật sự có lý! Vì thế, cổ nhân tu hành có Chánh, có Trợ, lấy Trì Danh làm Chánh Hạnh, lấy quán tưởng làm Trợ Hạnh, có chủ và khách, chẳng đều xem trọng hết. Nếu đều xem trọng hết, rất khó đắc lực, nhất định phải thiên trọng một pháp môn nào đó. Nếu quý vị chuyên tu tập một pháp môn, coi đó là chủ yếu, chẳng dùng các pháp môn khác, ta chuyên niệm Phật, chẳng dùng tới quán tưởng, càng tốt đẹp hơn! Nhưng chúng ta đang là kẻ sơ học, đôi khi chuyên niệm một câu Phật hiệu chưa thể hàng phục phiền não, vọng niệm
hãy còn rất nhiều, bèn thêm vào một chút quán tưởng, vọng niệm sẽ bớt đi một chút. Khi ấy có thể dùng, có thể thêm vào một chút quán tưởng nhằm đối trị vọng niệm. Vọng niệm ít đi, ta chuyên tu chủ yếu trì danh, chẳng cần quán tưởng nữa, làm như vậy là đúng. Vì thế, thỉnh thoảng có thể dùng quán tưởng, hoặc quán tượng, nhằm mục đích giúp chúng ta hàng phục vọng tưởng, tạp niệm, phải
hiểu mục đích ở chỗ này, chẳng
phải là đồng
thời tu hai hay ba pháp môn!
Bốn pháp môn Niệm Phật trong Tịnh Tông cũng chẳng thể đồng thời kiêm tu, há còn có thể kiêm
tu Thiền Tịnh ư? Còn có thể kiêm tu Thiền, Tịnh, Mật ư? Chẳng thể nào! Chư vị phải hiểu điều này. Vĩnh Minh đại sư nói: “Có Thiền, có Tịnh Độ, giống
như cọp
đội sừng”. Ngài nói với ai? Chẳng phải là nói với quý vị, lời ấy nhằm nói với người tham Thiền trong thuở đó. Người tham Thiền vô cùng chấp
trước! Vĩnh Minh đại sư thấy Thiền không thể thành tựu, khuyên họ niệm Phật, họ chẳng tiếp nhận, nên mới dùng pháp phương tiện: “Quý vị tham Thiền, nếu tu thêm Tịnh
Độ sẽ rất lỗi lạc”, cổ vũ, khích lệ họ niệm Phật. Đó là cách nói bất đắc dĩ, tuyệt đối chẳng nhằm nói với người niệm Phật. Người niệm Phật thấy đoạn khai thị ấy của Vĩnh Minh đại sư [bèn nghĩ]: “Ta niệm Phật kèm thêm một chút Thiền, chẳng phải là càng tốt hơn ư?” Vậy là
quý vị đã hoàn toàn hiểu lầm ý nghĩa của Vĩnh Minh
đại sư mất rồi! Quý vị
nhất định phải biết vì sao Ngài nói lời ấy, nói với ai, phải hiểu rõ ràng!
Chuyện này, trong phần trước, chúng tôi đã trình bày, trong cuộc sống hằng
ngày, bất luận
làm chuyện gì đều phải chuyên tâm. Khi chúng ta làm việc, bèn chuyên tâm làm việc, chớ nên niệm Phật, buông Phật hiệu xuống. Khi làm việc xong, bèn chuyên tâm niệm
Phật, buông công việc xuống, như vậy thì quý vị
niệm Phật cũng tốt đẹp, mà công việc cũng thực hiện tốt đẹp! Vừa làm việc, vừa niệm Phật, cả hai đằng đều lỡ làng, công chuyện chẳng làm tốt đẹp, niệm Phật chẳng chuyên tâm, mà chính mình vẫn ngỡ bản thân rất tinh tấn: “Hôm nay Phật hiệu của ta chẳng gián đoạn”. Thật ra, cả hai đằng đều chẳng đạt được! Việc phải dùng sức, chẳng cần dùng đầu óc thì việc ấy có thể [vừa làm] vừa niệm Phật. Phàm những việc phải dùng đầu óc, phải chuyên chú tinh thần, quyết
định chẳng thể [vừa làm] vừa niệm Phật.
Các đồng tu lái xe phải rất chú ý!
Vừa lái xe vừa chuyên tâm niệm Phật, xảy ra tai nạn cũng chẳng biết. Đừng nghĩ tai nạn xảy ra bèn vãng sanh Tây Phương, tuyệt
đối chẳng thể có chuyện ấy! Vì vậy, trong tình huống quý vị phải chuyên tâm chú ý lái xe, đừng niệm Phật hiệu! Trên xe có mở máy niệm Phật là để cho khách ngồi xe nghe, tự mình chớ nên nghe, hãy dốc sức chú ý đường
sá thì mới là đúng. Chúng tôi có một người bạn lái xe, có lần kể: Khi ông ta lái xe, chuyên tâm niệm Phật, lái taxi lộn đường,
lái quẩn quanh một vòng lớn, rất có lỗi với khách hàng. Vừa làm việc, vừa niệm Phật, nhất định sẽ bị rối loạn, hai đằng đều chẳng thể thành tựu. Phải nhớ kỹ điều này!
(Sao)
Cẩu minh ư Chánh Trợ chi nghĩa, tắc nhất tâm
trì danh dĩ vi kỳ Chánh, thiểu thời chi Trợ,
Trợ diệc quy Chánh.
(鈔)
苟 明 於 正 助 之 義,則
一 心 持 名 以 為 其 正,少
時 之 助,助 亦 歸 正。
(Sao: Nếu hiểu rõ nghĩa
Chánh và Trợ, sẽ coi nhất tâm trì danh là Chánh, thời gian tu
Trợ Hạnh ít hơn, Trợ cũng quy vào Chánh).
Chánh
Trợ song tu, Trợ Tu vẫn nhằm giúp Chánh, vẫn lấy Chánh làm chủ yếu, vẫn là quy hoàn Chánh.
(Sao) Như hỏa ích tân, phục hữu hà ngại?
(鈔) 如 火 益 薪,復 有 何
礙。
(Sao: Giống như thêm củi vào
lửa, há còn trở ngại chi?)
Đốt lửa. “Tân” (薪) là củi, than. Thêm [củi, than] vào lửa đang cháy, lửa càng hừng hực, chẳng bị trở ngại.
Do
vậy có thể biết, công phu nhất định phải chuyên! Hạnh môn phải chuyên, giải môn cũng phải chuyên. Trong khoảng thời gian gần đây nhất, tôi phản tỉnh, quan sát rất sâu, vì sao người học Phật trong thời đại này chẳng thành tựu? Do giải môn không chuyên, họ muốn làm bậc thông gia, thứ gì cũng đều thông đạt, kết quả là học đến một trăm năm vẫn chẳng thông môn nào! Bởi lẽ đó, cổ nhân cầu học là thâm nhập một bộ kinh. Không chỉ kinh phải chọn một thứ, trong quá khứ, khi tôi học kinh với thầy Lý ở Đài Trung, thầy Lý chỉ dạy chúng tôi: “Chú giải cũng là chọn một thứ!” Thầy chẳng cho phép chúng tôi xem hai bản chú giải cùng một lúc. Chúng tôi giảng kinh, kẻ mới học giảng kinh nhất định phải nương vào chú giải. Thầy nói rõ, cùng giảng một bộ kinh giống nhau, nhưng viết chú giải cho bộ kinh ấy, mỗi vị pháp sư có đường
lối suy nghĩ riêng, chẳng thể nào giống hệt nhau! Nếu giống nhau, những bản chú giải sau đó chẳng có giá trị, làm sao có thể lưu thông cho được? Vì thế, nhất
định là hai tư
tưởng bất
đồng. Hai bản chú giải quý vị đều chọn thì rốt cuộc dựa theo ai? Chẳng nương cậy được!
Khi chính quý vị giảng, chính mình nói nước đôi, người nghe sẽ do dự, chẳng quyết đoán. Bởi vậy, chọn lấy chú giải của một vị, học theo một vị, đó là chánh xác!
Các
vị tổ sư
đại đức chưa thành Phật; nói cách khác, đối với nghĩa lý trong kinh Phật, [các Ngài] quyết định chẳng thể thông đạt viên giải một trăm phần trăm, nên trong các bộ chú giải, có chỗ chú giải tỉ mỉ, có chỗ sơ sài, lướt qua. Chúng ta đọc kinh văn, [cảm thấy có những chỗ] dường như rất trọng yếu, vì sao giải
thích đơn giản như thế? Thầy Lý nói: Đối với đoạn đó, chính vị ấy vẫn chưa hiểu rõ. Chưa hiểu rõ, vị ấy liền viết sơ sài lướt qua,
chẳng bỏ công giải thích tỉ mỉ. Vị ấy chẳng có lỗi, chẳng lừa gạt người khác. Đó gọi là “tri chi vi tri chi, bất tri vi
bất tri” (biết thì nói biết, không biết bèn nói không biết). Đó là có thể lợi ích người khác, chẳng hại người, quyết định chớ nên “chẳng biết mà cứ gượng ép coi như biết!” Cổ nhân thật sự làm được điều này, điều ấy đáng cho chúng ta tôn kính. Chúng ta xem đến chỗ đó, có thể tìm bản chú giải khác để tham khảo, tham khảo phần chú giải câu đó, tham khảo xem người khác giảng câu ấy như thế nào, giúp cho chúng ta lý giải; đó là Trợ Tu. Vì thế, phải chọn lựa chú giải, hãy chọn chú giải của một người làm [tài liệu tham khảo
cơ bản] chủ yếu. Đối với chú giải của vị ấy, chúng ta gặp
khó khăn, lại tra cứu chú giải của một vị khác để xem câu ấy được giảng như thế nào, dùng làm tham khảo, như vậy thì được! Đây cũng là Chánh và Trợ phải phân định rành mạch. Đối với các bản chú giải trợ tu để giúp đỡ trong
phương diện tham khảo, chớ nên chọn quá nhiều, tối đa chỉ nên chọn hai loại. Chớ nên chọn lấy quá nhiều! Quá nhiều, chắc chắn sẽ rối loạn, không thành lề lối! Phải dựa theo một bản chú giải làm chánh yếu.
Thật ra, những vị [chú giải kinh luận] trong thời cận đại, công phu sâu xa. Chẳng hạn như bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa của cư sĩ Giang Vị Nông nói thật ra là một bộ đại từ điển của kinh Kim Cang. Ông Giang thâu thập hết những bản chú giải kinh Kim
Cang từ xưa tới nay, nên quý vị đọc tác phẩm ấy, sẽ giống như đọc hơn một trăm tác phẩm chú giải kinh Kim Cang. Chiếu theo [tác phẩm
chú giải của] ông ta để tu học cũng rất khó khăn, vì sao? Tác phẩm ấy là đại
từ điển, nói chung, quý vị chẳng thể giảng từ điển. Quý vị bưng từ điển ra giảng sẽ gây khó khăn cho nhiều người. Vì thế, học giảng kinh Kim Cang, tôi khuyên các vị đừng
dùng bản Giảng Nghĩa của cư sĩ Giang Vị Nông. Tôi giảng kinh Kim Cang dùng bản chú giải của pháp sư Đế Nhàn, quyết định chẳng dùng chú giải của ông Giang Vị Nông. [Tuy vậy, vẫn] có thể giảng Giảng Nghĩa, coi như giảng Phật Học thường thức, các nội dung được ông ta thâu thập trong tác phẩm ấy vô cùng phong phú.
Sách Chú Giải kinh Vô Lượng Thọ của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ có tánh chất phảng phất cuốn Kim Cang
Giảng Nghĩa của Giang Vị Nông, chú giải của cụ là đại từ điển về kinh Vô Lượng
Thọ. Vì sao cụ không tự mình soạn một bản chú giải, mà phải dùng phương thức này? Thật sự có nỗi khổ bất
đắc dĩ, cụ chú giải như vậy sẽ chẳng mắc khuyết
điểm! “Nếu quý vị cật vấn, [thì những nghĩa lý được nêu ra trong sách ấy] đều là sao lục, toàn là ý nghĩa của tổ sư, đại đức, đều chẳng phải là ý nghĩa của chính tôi”. Nói cách khác, bộ sách ấy của cụ cung cấp cho chúng ta nhiều tài liệu của tổ sư đại đức [chú giải] kinh Vô Lượng Thọ từ xưa tới nay. Vì thế, chư vị học giảng kinh Vô Lượng Thọ, hãy chú ý chọn lọc những chú giải trong ấy, chỉ có
thể chọn lựa một
phần mười, còn chín phần mười kia phải hạ quyết tâm bỏ đi, như vậy thì mới được!
Nếu đều chọn hết, chẳng có ai thích nghe, sẽ khiến cho người ta chạy mất. Bản chú giải ấy cung cấp tài liệu, đương
nhiên có ưu điểm. Nếu quý vị khéo lấy, bỏ, đối
với người trình độ sâu, quý vị chọn ý nghĩa sâu xa trong bản chú giải; đối
với kẻ sơ học, quý vị chọn lấy ý nghĩa nông cạn nhất để giảng. Do vậy, [giảng giải] kinh này có thể sâu, có thể cạn, có thể dài, có thể ngắn.
Đối với đồng tu sơ học, xác thực là hữu ích rất lớn, chuyên môn đọc bản chú giải này, có khá nhiều kiến thức thông thường về Phật học, các danh từ thuật ngữ, quý vị đều hiểu. Đúng là một bộ sách đầy đủ, toàn bộ giáo nghĩa Phật giáo và những kiến thức thông thường về Phật học đều có.
Đoạn cuối cùng là Xứng Lý, cũng là như Giáo Hạ trong nhà Phật thường bảo: “Tiêu quy tự tánh”. Cổ đức dạy chúng ta: “Nghe kinh phải tiêu quy tự
tánh, tu hành phải chuyển thức thành trí”. Quý vị thật sự được thọ dụng; “thức” là tình
thức, “trí” là trí huệ Bát Nhã. Chuyển biến tình thức thành lý trí, đó là tu hành; dốc công đổ sức tu hành thì mới có thể đạt được. Nghe giảng phải tiêu quy tự tánh, dung hội trong nội tâm, chúng ta thường nói là “tâm đắc”. Quý vị nghe xong, xác thực là có tâm đắc. Đoạn này chính là tâm đắc của Liên Trì
đại sư.
(Sớ) Xứng Lý, tắc tự tánh thanh
tịnh quang minh, thị liên hoa nghĩa.
(疏) 稱 理,則
自 性 清 淨 光 明,是 蓮 華
義。
(Sớ: Xứng
Lý thì tự tánh thanh tịnh quang minh là ý nghĩa của hoa
sen).
Câu giải thích trong lời Sớ nói thật ra đã giải thích rất rõ ràng, Tổ Liên
Trì sợ kẻ sơ học chúng ta chẳng thể hiểu ý nghĩa, nên lại dùng [điều này] làm đề mục để soạn văn chương. Lời Sao chính là văn chương.
(Sao) Thanh tịnh, biểu Sắc, tự tánh tiêm
trần bất
lập cố. Quang minh, biểu quang, tự tánh vạn pháp lãng nhiên cố.
(鈔) 清 淨,表 色,自 性 纖
塵 不 立 故。光 明,表 光,自
性 萬 法 朗 然 故。
(Sao: “Thanh tịnh” biểu thị
Sắc, tự tánh chẳng lập mảy trần. “Quang
minh” biểu thị quang minh, tự tánh vạn pháp rạng
ngời).
Trong
tự tánh thanh tịnh tâm, chẳng lập một pháp, chẳng có một pháp, đó mới là thanh tịnh chân chánh. Có một pháp, sẽ chẳng thanh tịnh. Cảnh giới ấy chẳng thể diễn tả được,
mà cũng chẳng có cách nào tưởng tượng được,
vì sao? Hễ quý vị nghĩ, bèn là một pháp. Tuy Lục Tổ nói: “Vốn chẳng có một vật”, nếu chấp trước “ta vốn
chẳng có một vật” thì quý vị có hay không? Quý vị có, có gì vậy? Quý vị còn có “vốn chẳng có
một vật”, vẫn có một pháp tồn tại, tâm quý vị vẫn chẳng thanh tịnh! Nếu “vốn
chẳng có một vật” cũng không có thì có thanh tịnh hay không? Vẫn chưa thanh tịnh, vì sao? Vì kẻ ấy còn có [ý niệm chấp trước] “vốn chẳng có một vật cũng chẳng có”. Thiền Tông nói rất hay: “Khởi
tâm liền trật, động niệm đã sai”, “ngôn ngữ dứt
bặt, tâm hành xứ diệt”, đó mới là thật sự thanh tịnh. Nếu quý vị hiểu rõ đạo lý này, đức Phật có thuyết pháp hay không? Nếu trong tâm Phật còn có pháp, sẽ chẳng thanh tịnh, đức Phật nói những pháp ấy vẫn là có ý nghĩa, càng chẳng thanh tịnh! Đức Phật không có pháp nào để có thể nói. Đức Phật trụ thế bốn mươi chín năm, chẳng nói một câu pháp nào, kinh Kim Cang nói như vậy, đúng thế! Nếu quý vị nói đức Phật từng thuyết pháp, đó là báng Phật. Đức Phật chưa
từng nói một câu pháp nào, vì sao? Tâm Phật thanh tịnh, há có pháp nào để có thể nói? Đức Phật thấy quý vị có khuyết điểm, bèn bảo cho quý vị biết chỗ nào lầm lỗi, hãy nên sửa chữa như thế nào, chẳng liên can gì đến tâm Phật. Vì thế, đức Phật thuyết pháp là ứng theo căn cơ để nói. “Nói mà không
nói, không nói mà nói”, đó là đức Phật thuyết pháp.
Do vậy, người biết học thì quý vị phải học “nghe mà không
nghe, không nghe mà nghe”, như vậy thì quý vị sẽ hội quy tự tánh, sẽ khai ngộ, xác thực là như thế. Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ Tát đã khai thị chúng ta, nghe kinh phải dùng thái độ gì? Phải “lìa tướng ngôn thuyết”, chớ nên chấp
trước ngôn ngữ. “Lìa tướng danh tự”, đối
với những danh từ, thuật ngữ, những thứ như thanh tịnh, tự tánh, hoa sen, phải lìa những tướng ấy, chớ nên chấp
trước những thứ đó. “Lìa
tướng tâm duyên”, tâm duyên là gì? Ta nghĩ, tư tưởng, có nghĩ cũng chẳng được. Chẳng chấp âm thanh, chẳng chấp danh tự, chẳng có
một niệm, trong tâm chẳng sanh một niệm, nghe như vậy thì câu nào cũng đều tiêu quy tự tánh. Nếu quý vị nghe kinh, tôi ở đây thấy rất rõ ràng, khi nào giảng đến chỗ hứng thú, quý vị cười, đó là gì? Quý vị bị âm thanh chuyển, tâm chẳng bất động đối với âm thanh (tức là trong cảnh
giới)! Nhất định phải huấn
luyện sao cho trong cảnh giới chẳng động tâm, chẳng bị cảnh chuyển. Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: “Nếu có thể
chuyển cảnh, ắt giống
như Như Lai”. Ta không bị
cảnh giới chuyển, mà còn có năng lực
chuyển biến cảnh giới. Có năng lực chuyển biến cảnh giới, ắt chẳng khác gì chư Phật Như Lai. Phàm phu bị
cảnh giới chuyển; Phật và đại Bồ Tát
chuyển cảnh giới, nên trong cảnh giới, các Ngài làm chủ, đắc tại tự tại trong cảnh giới. Đạo lý là như thế đó.
Tịnh Độ Tông đặc
biệt chú trọng
thanh tịnh, hoa sen tượng trưng cho thanh tịnh, nên chúng ta dùng hoa sen để biểu thị pháp. Trông thấy hoa sen, trong tâm phải khôi phục sự thanh tịnh, pháp thế gian và xuất thế gian đều chẳng nhiễm. Hoa sen biểu thị pháp, vì rễ nó mọc trong bùn lầy, bùn lầy tượng trưng lục phàm. Phía trên bùn là nước trong, nước trong tượng trưng tứ thánh; do vậy, [lục phàm và tứ thánh] là mười pháp giới. Hoa sen vươn lên khỏi mặt nước, biểu thị ý nghĩa “pháp thế gian và pháp xuất thế gian thảy đều chẳng nhiễm”, đấy mới là thật sự thanh tịnh. Do vậy có thể biết, tinh thần tu học thật
sự trong Phật pháp là phá chấp
trước, chấp trước là nhiễm. Tuy không chấp trước, đối với hết thảy các pháp, sanh tâm cung kính, chí thành cung kính. Chí thành cung kính, chẳng chấp Không! Trong hết
thảy các pháp, chẳng phân biệt, không chấp trước, chẳng chấp Có! Cũng chẳng chấp hai bên Không và Có; đó mới là Trung Đạo, mới là Đệ Nhất Nghĩa, mới
là hạnh phúc chân thật viên mãn, là hưởng thụ cao nhất trong đời người. Nếu biết hết thảy các pháp Không, hết thảy đều chẳng chấp
trước, tâm thanh
tịnh, nhưng
chẳng có tâm cung kính đối với hết thảy chúng sanh, đó là rớt vào một bên. Rớt vào bên Không bèn là sai lầm, có Thể mà chẳng có Dụng, chẳng viên mãn! Quý vị chỉ được một nửa. Phàm phu vướng bên Hữu, chỗ nào cũng chấp trước Có. Nhị Thừa chấp Không. Bồ Tát đối
với hai bên Có và Không đều chẳng chấp trước, nên Bồ Tát thọ dụng tự tại. Phải biết điều này, “trong tự
tánh, chẳng lập một pháp”!
Khi Lục Tổ khai ngộ, đã thưa trình cùng thầy, Ngài chỉ nói năm câu, thầy bèn nói: “Chẳng cần nói nữa, ta đã biết”. Câu đầu tiên Ngài nói: “Hà kỳ
tự tánh, bổn lai thanh tịnh”, câu này ý nói tự tánh vốn thanh tịnh, nơi phàm chẳng giảm, nơi thánh không tăng, bất tăng, bất giảm, vốn thanh tịnh.
Lại nói: “Hà kỳ tự tánh, bổn lai cụ túc”, [nghĩa là tự tánh] trọn đủ hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian. Nếu chẳng trọn đủ, sẽ không thể biến hiện, tự tánh trọn đủ. Có Tây Phương Cực Lạc thế giới hay không?
Đương nhiên là có, [tự tánh] trọn
đủ mà! Nếu trong tự tánh chẳng có Tây Phương Cực Lạc thế giới, lấy đâu ra Tây Phương Cực Lạc thế giới? Trong tự tánh chẳng có núi, sông, đại
địa, đông
đảo chúng sanh, lấy đâu ra núi, sông, đại
địa, đông
đảo chúng sanh? Toàn là do tự tánh biến hiện! Trong tự tánh vốn trọn đủ, chẳng có một pháp nào chẳng trọn đủ, tận hư không khắp pháp giới thảy đều bao hàm trong tự tánh. Sau đó, Tổ lại nói: “Hà kỳ
tự tánh, năng sanh vạn pháp”, do tự tánh trọn đủ, nên gặp duyên nó liền
biến hiện. Hoàn toàn có cùng một ý nghĩa với những điều đang được
nói ở đây!
“Quang minh, biểu
quang”, “quang” là trí huệ, “tự tánh
vạn pháp lãng nhiên cố” (vì tự tánh vạn pháp rạng ngời). Trí huệ do đâu mà có? Trong tự tánh vốn trọn đủ, trí huệ chẳng do từ bên ngoài mà có. Nói cách khác, toàn là những thứ trong nhà mình sẵn có, chẳng cần cầu từ bên ngoài! Vô lượng vô biên trí huệ và đức năng, chỉ cần quý vị khôi
phục tự tánh, toàn bộ
đều hiển lộ. Nếu chúng ta hỏi: “Hiển lộ tự tánh như thế nào?” Nếu quý vị muốn hiển lộ tự tánh, đức Phật bảo mấu chốt trọng yếu nhất là Định. Trong pháp môn Niệm Phật, [Định] là nhất tâm, trong Tam Quy là tâm thanh tịnh. Tâm quý vị đã định, Tánh Đức
liền hiện tiền, vì sao? Định ấy là chân tâm, chân tâm là thanh tịnh.
Trong tâm tồn tại một thứ gì đó, tức là chẳng Định. Có một thứ đã là chẳng Định, huống gì có vô lượng
vô biên? Trong tâm phàm phu là vô lượng vô biên, một
niệm sau khởi, niệm trước diệt, ý niệm sanh diệt trong từng sát-na, chẳng có cách nào tính đếm. Nghĩ Đông, tưởng Tây, nghĩ trước, nghĩ sau, nghĩ tới quá khứ, nghĩ tới vị lai, nghĩ tới hiện tại, khởi vọng tưởng rối lung tung
beng, làm sao đắc Định cho được? Vì vậy, nhất
định phải tu Định. Tám vạn bốn ngàn pháp môn trong Phật pháp, nói thật ra là tám vạn bốn ngàn phương pháp khác nhau, các phương pháp
ấy nhằm tu gì? Đều nhằm tu Định. Vì thế mới nói “pháp môn bình đẳng, chẳng
có cao thấp”. Vì sao? Phương pháp, đường
lối nhiều như thế, nhằm đạt tới cùng một mục đích, mục tiêu hoàn
toàn tương đồng! Định có thể sanh ra huệ, trí huệ mới
hiện tiền. Trí huệ quang minh
sanh từ tâm thanh tịnh. Do vậy, thanh tịnh nhất định có quang minh.
Tác dụng của quang minh được hiển thị nơi lục căn. Lục căn thông lợi, “thông” (通) là thông
đạt, chẳng có
chướng ngại. Mắt có năng lực thấy, thấy đến tận hư không khắp pháp giới, có năng lực to như vậy, chẳng có chướng ngại! Đối với
hết thảy vật chất, có thể nhìn xuyên qua, chẳng có chướng ngại, nay chúng ta nói là Thiên Nhãn. Đó là bản
năng, tức năng lực sẵn có. Thiên Nhĩ, chúng ta ngồi ở nơi đây, Tây Phương Cực Lạc thế giới cách xa chúng ta mười vạn ức cõi Phật, A Di Đà Phật giảng kinh,
thuyết pháp bên đó, chúng ta ngồi nơi đây, mắt thấy rõ ràng, tai nghe rõ rệt, đó là Thiên Nhĩ Thông. Những điều ấy đều là năng lực sẵn có, trong Phật pháp nói tới lục căn thì “lục căn thông lợi” chính là sáu món thần thông. Những năng lực ấy bị mất đi, nguyên nhân căn bản là vọng tưởng và chấp trước. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đã bảo chúng ta, “chỉ vì vọng tưởng,
chấp trước, nên không thể chứng đắc”, chúng ta đánh mất như thế nào? Do có vọng tưởng, chấp trước, nên công
đức và trí huệ trong tự tánh
thảy đều bị mất đi, nguyên nhân ở chỗ này!
Học Phật chẳng có gì khác, Phật đích xác là chẳng phải cầu từ bên ngoài. Phật pháp được gọi là nội học, kinh Phật được
gọi là nội kinh, cầu nơi tự tánh, cầu trong tự tánh. Niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ cũng là cầu từ tự tánh, chẳng phải là cầu pháp ngoài tâm! Niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, lâm chung A Di Đà Phật tiếp
dẫn, có phải là cầu pháp ngoài tâm hay không? Không phải. Nếu quý vị hiểu lầm là cầu pháp ngoài tâm, hãy đọc Di Đà Kinh Sớ Sao, xem có phải là cầu pháp ngoài tâm hay không? Vì thế, so với đại kinh Nhất Thừa Liễu Nghĩa, chẳng có sai khác gì! Kinh điển Nhất Thừa Liễu Nghĩa cầu từ trong tự tánh, là liễu nghĩa rốt ráo; từng câu từng chữ trong kinh Di Đà đều quy vào tự tánh. Tiếp theo đây, Tổ dẫn những câu rất hay trong Phật Địa Luận, nêu lên những chuyện thực tế để thuyết minh.
(Sao)
Phật Địa Luận vân: “Như thị giả
thật chi sắc, giai bất ly Phật tịnh tâm,
tức thử tịnh tâm, năng hiển giả thật
chi sắc”.
(鈔) 佛 地 論 云:如 是 假
實 之 色,皆 不 離 佛 淨 心,即
此 淨 心,能 顯 假 實 之 色
(Sao: Phật
Địa Luận viết: “Sắc
giả thật như vậy, đều chẳng lìa
tịnh tâm của Phật. Do chính ngay tịnh tâm ấy mà có thể hiện sắc giả và
thật”).
Đây là một
đoạn dẫn chứng, trích dẫn kinh để chứng minh. Phật Địa Luận là một loại kinh luận trong Phật giáo. Vào thời Đông Tấn, pháp sư Đạo An và các vị Cưu Ma La Thập đại sư, Huệ Viễn đại sư, Đào Uyên Minh, Tạ Linh Vận đều là người cùng thời. Tôi nêu tên những vị này vì họ rất thân thuộc với nhau. Pháp sư Đạo An chia kinh Phật thành ba phần là Tự Phần, Chánh Tông Phần, và Lưu Thông Phần, nhưng thuở ấy
có rất nhiều người không đồng ý. [Họ phản đối, bảo] kinh Phật là lời dạy của thánh nhân, chẳng thể chia thành từng đoạn, làm kiểu đó chính là chẳng cung kính kinh điển của Phật, nên họ chẳng tán thành. Về sau, Phật
Địa Luận được truyền đến Trung
Quốc, được phiên dịch sang tiếng Hán. Phật Địa Luận chia kinh Phật thành bốn phần, nó có Tự Phần, Lưu Thông
Phần, Chánh Tông Phần
lại được chia thành hai phần, nên [toàn bộ bản kinh được chia] thành bốn phần! Vì thế, mọi người đều nói ngài Đạo An đúng là rất lỗi lạc, có kiến giải giống như bậc Bồ Tát của Ấn Độ thời cổ, nên mới xưng tụng Ngài là “di thiên cao phán” (phán định cao
ngất trời). Cao lắm! Mọi người đều phục. Khi Phật
Địa Luận chưa truyền đến Trung
Quốc, mọi người chẳng phục. Đó là kiến giải của các vị đại đức tại Trung Quốc chẳng khác kiến giải của các vị Bồ Tát tại Ấn Độ thời cổ. Sau đó, [khi chú giải], [toàn bộ kinh văn của một bộ] kinh đều chia
thành ba phần. Đó là cội nguồn của cách Khoa Phán.
Ở
đây, Tổ dẫn một câu nói trong Phật Địa Luận. “Giả thật chi sắc”, những gì là giả sắc? Những gì là thật sắc? Nói theo hình trạng, những thứ dài, ngắn, vuông, tròn đều là giả, chẳng phải là thật tại. Kinh Kim
Cang nói “mộng,
huyễn, bọt, bóng”, chúng có hay không? Có, nhưng chẳng thật, là
giả; đó là giả sắc. Vì sao là giả sắc? Vì chúng là tương đối. Ví dụ như nói [một vật là] dài, nhưng gặp vật dài hơn, nó sẽ biến thành ngắn, chẳng gọi là dài. Quý vị nói ngắn, gặp vật ngắn hơn, nó lại biến thành dài. Nói dài thì nó chẳng phải là tuyệt đối dài. Nói ngắn, nó chẳng tuyệt đối ngắn. Nói vuông, nó chẳng tuyệt
đối vuông. Nói tròn, nó cũng chẳng phải tuyệt đối tròn. Những thứ như vậy
đều là giả, do tương đối mà thành lập. Do vậy, nó chẳng phải là nhất định, chẳng phải là một thứ nhất định. Nói theo màu sắc, xanh, vàng, đỏ, trắng. Xanh sẽ chẳng biến thành vàng, vàng sẽ chẳng biến thành đỏ, màu sắc chẳng thay đổi. Do chẳng thay đổi, nên chúng ta gọi nó là thật. “Giả thật”: Giả là bất định, Thật có thể xác định. Ví như thân thể của chúng ta là thật hay giả? Nói theo tiêu chuẩn này, thân thể của chúng ta là giả, vì sao? Nó bị biến đổi, mỗi năm một già hơn. Chẳng biến đổi là thật. Biến đổi thì là giả. Giả và thật dùng tiêu chuẩn này để xét.
Hai
thứ sắc giả và thật ấy, có thể nói là trong sáu căn, năm căn đầu đối với giả và thật đều có thể duyên, Ý Căn chỉ duyên giả, chẳng duyên chân thật. Ý là tưởng tượng, cảm thụ, sở duyên (cái được
nó duyên) đều chẳng phải là thật sắc, đều thuộc loại giả sắc. Nói theo cách
hiện thời, đối với hết thảy hiện tượng vật chất, trong hiện tượng có cụ thể và trừu tượng. Thật sắc là cụ thể, giả sắc là trừu tượng. Trọng điểm là câu tiếp theo: “Giai
bất ly Phật tịnh tâm” (đều chẳng lìa khỏi tịnh tâm của Phật). Hết thảy các sắc tướng giả thật, những hiện tượng vật chất ấy đều từ đâu mà có? Do tâm thanh tịnh biến hiện. Tâm là năng biến (có thể biến), hết thảy hiện tượng vật chất là sở biến (cái được
biến); [hay nói cách khác], tâm là cái có thể biến, sắc là cái được biến. Có thể
biến thì chẳng bàn thật hay giả, vì sao? Vì thật và giả là tương đối. Cái tâm có thể
biến chẳng phải là tương đối; do vậy, thật và giả đều chẳng áp dụng cho nó được! Đối với cảnh giới được biến hiện, có thể nói chân hay giả; còn tâm do có thể biến, nên chẳng thể nói là chân hay giả, chẳng chân, chẳng giả.
“Giả thật chi sắc” thảy đều do cái tâm này biến hiện. Vì thế, tận hư không khắp pháp giới đều chẳng thể rời khỏi cái tâm có thể biến. Hư không pháp giới do đâu mà có? Duy tâm sở
hiện. Tâm của ai? Tâm của chính mình, do tự tánh của quý vị hiện. Trong tất cả hết thảy kinh giáo Đại
Thừa liễu nghĩa đều nói như vậy. “Tức
thử tịnh tâm, năng hiển giả thật chi
sắc” (dùng ngay tịnh tâm này bèn có thể hiển lộ sắc giả, thật). Tự tánh thanh
tịnh tâm có thể hiển lộ sắc giả và thật, có thể
biến, có thể hiển. Tâm có thể biến thì chẳng thật, chẳng giả.
Hết thảy các pháp được quy nạp thành hai loại lớn, một loại là tinh thần, loại kia là
vật chất. Trong Phật pháp, vật chất dùng Sắc làm đại biểu, tinh thần dùng Tâm làm đại biểu, đó gọi là “Sắc Tâm nhị pháp”, tức là hai loại lớn gồm sắc pháp và tâm pháp. Hai thứ sắc (giả sắc và thật sắc) đều chẳng lìa tâm thanh tịnh, có nghĩa là tất cả hết thảy hiện tượng vật chất và tự tánh thanh tịnh tâm là một, không hai. Cổ nhân nói đến những chỗ này, người khác rất khó thấu hiểu, bất đắc dĩ phải dùng tỷ dụ để nói. Chẳng hạn như Hiền Thủ quốc
sư đã nói: “Dùng vàng làm đồ vật, món
nào cũng đều là vàng”, sánh ví vàng như tự tánh thanh
tịnh tâm, sánh ví các món vật như hai pháp giả và thật, đó là sắc pháp. Chúng ta dùng vàng làm thành nhiều món vật, ngàn vạn các loại kiểu dáng khác nhau. Nhìn từ phương diện này, vàng có màu vàng, vàng là thật, chẳng thay đổi, nhưng hình dáng của các món vật có thể biến đổi. Hình dạng là giả sắc, màu sắc là thật sắc; đó là hai sắc thật và giả. Hai sắc thật và giả đều chẳng lìa khỏi vàng, toàn là do vàng hiện ra. Hết thảy các món đồ vật đều là vàng, vàng chẳng lìa khỏi đồ vật, đồ vật chẳng lìa khỏi vàng. Vàng là đồ vật, đồ vật là vàng! Tỷ dụ này dễ hiểu!
Nếu từ tỷ dụ này, quý vị tỉnh ngộ, nay lục căn của chúng ta tiếp xúc cảnh giới
lục trần trước mắt, có pháp nào chẳng phải là tự tánh? Thiền Tông nói minh tâm kiến tánh, họ kiến tánh gì vậy? Tánh ở chỗ nào? Nếu quý vị thật sự giác ngộ, hiểu rõ, mắt quý vị thấy hết thảy sắc là tánh, tai nghe hết thảy âm thanh đều là tánh, chẳng có gì không phải là tự tánh. Tâm và cảnh là một, tâm và cảnh như nhau, tánh - tướng bất nhị, tánh là tâm thanh tịnh của chính mình, tướng là sâm la vạn
tượng bên ngoài, là một, không hai, tánh và tướng bất nhị mà! Nếu quý vị
nhập cảnh giới này, liền có thể minh tâm kiến tánh. Nói ra cảnh giới ấy, quý vị có thể tiến nhập hay không? Vì sao quý vị không tiến nhập được?
Vì quý vị có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng. Lìa khỏi hết thảy phân biệt, chấp trước, vọng
tưởng, hết
thảy cảnh là tánh cảnh, những ý nghĩa ở đây liền hiển lộ.
Cổ đức có tỷ dụ sóng và nước, có ý nghĩa giống như tỷ dụ vàng và đồ vật. Sánh ví nước với tự tánh, sánh ví sóng như sắc giả và thật, chúng ta hiểu sóng là nước, nước là sóng! Nước và sóng chẳng một, chẳng khác. Vì thế, mười pháp giới vô lượng trang nghiêm, các thứ sai
biệt, đều là tác dụng của Chân
Như tự tánh.
Ý
nghĩa chủ yếu của mấy câu này nói rõ: Hết thảy hiện tượng vật chất là chân tâm tự tánh của chúng ta. Chân tâm tự tánh của chúng ta có thể hiển hiện hết thảy
vạn pháp, hết thảy hiện tượng, đúng như Lục Tổ đã nói: “Nào ngờ tự tánh có thể
sanh ra vạn pháp”. Chư vị phải hiểu thế giới Sa Bà là do uế tâm, tức tâm nhiễm ô của chúng ta biến hiện, Tây Phương Cực Lạc do tâm thanh tịnh của chúng ta biến hiện. Trong tâm chúng ta có tịnh, có uế, tâm thanh tịnh bèn cảm ứng Tịnh Độ, chẳng đến mà tự nhiên đến. Tâm quý vị đã thanh tịnh, tâm tịnh, cõi nước tịnh, tự nhiên liền hiện Tịnh
Độ. Tâm chẳng thanh tịnh, tự nhiên liền hiện uế độ. Vì thế, tịnh hay uế, cảnh giới bên ngoài nhiễm hay tịnh, do đâu mà có? Do tự tánh biến hiện. Nếu muốn cảnh giới bên ngoài thanh tịnh, quý vị chẳng thể đổ công dốc sức thanh tịnh bên ngoài, phải làm từ chỗ nào? Đổ công dốc sức nơi nội tâm; tâm tịnh, cõi nước liền thanh tịnh.
Giống như thế giới hiện thời rất loạn, các vị đại chánh trị gia, đại khoa học gia, đại triết học gia nghĩ trọn mọi phương pháp, dùng đủ mọi phương
pháp, mong cho thế giới này có thể đạt đến hòa bình, an tĩnh, nhưng có làm được hay không? Thưa cùng quý vị, chắc chắn chẳng làm được, càng làm càng loạn! Kẻ này nói chủ ý này hay, kẻ kia nói chủ ý nọ tốt, càng làm càng loạn. Phương pháp gì mới có thể khiến cho thiên hạ thái bình? Tâm mỗi người
đều khôi phục thanh tịnh, thiên hạ liền
thái bình. Chân lý được giảng trong Phật pháp, giáo học của Nho gia Khổng Mạnh đều là công phu nơi tâm địa, nên chẳng cầu từ bên ngoài. Vì thế, thiên Học Ký [trong sách Lễ Ký] mới đặc biệt nhấn mạnh: “Kiến quốc, quân dân, giáo học vi tiên” (xây dựng đất nước, cai trị nhân dân, giáo học làm đầu), dạy điều gì? Dạy quý vị khôi
phục tự tâm thanh tịnh. Tâm quý vị thanh tịnh, tâm mỗi người đã thanh tịnh, lẽ đâu thiên hạ chẳng thái bình? Tâm thanh
tịnh, cảnh giới liền thanh tịnh, tâm có thể chuyển
cảnh! Tự nhiên mưa thuận, gió hòa, quốc thái, dân an, tự nhiên liền đạt được. Đó gọi là “vô vi nhi trị”, hữu vi sẽ chẳng bình trị, thiên hạ đại loạn. Hiện thời, ai nấy đều rất thông minh, đều có một loạt biện pháp riêng, các thứ biện pháp ấy là các biện pháp nhiễu
loạn khiến cho thiên hạ đại loạn. Thật sự muốn đạt
tới thiên hạ thái bình, chẳng cần tới biện pháp nào cả, thiên hạ bèn thái bình, vô sự. Quý vị hãy suy nghĩ đạo lý này cặn kẽ một chút, chẳng khó hiểu đâu! Hôm nay đã hết thời gian
rồi.
Tập
150
Xin
xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm mười chín:
(Sao) Cố kinh vân: “Thanh sắc, thanh quang, hoàng
sắc, hoàng quang” đẳng, thị quang sắc bất
nhị, Tịch Chiếu
song dung dã.
(鈔) 故 經 云:青
色 青 光,黃 色 黃 光 等,是
光 色 不 二,寂 照 雙 融 也。
(Sao: Vì thế, kinh nói “sắc xanh, ánh sáng xanh; sắc vàng, ánh sáng vàng” v.v… chính là nói quang minh và màu sắc bất nhị, Tịch và Chiếu cùng viên dung).
Kế đó là phần tổng kết, nhằm quy kết vào kinh này. “Thanh
sắc, thanh quang”, thanh sắc là
thật sắc, thanh quang là giả sắc. Giả sắc và thật sắc đều chẳng lìa tâm thanh tịnh, trong kinh nói là “quang
sắc bất nhị”, tức là ý nghĩa tự tánh “Tịch - Chiếu song dung”. Còn có một cách giải thích khác, trong màu xanh có ánh sáng xanh, màu trắng có ánh sáng trắng, quang sắc bất nhị, Tịch Chiếu song dung, tức là nói quang có ý nghĩa Chiếu, sắc có ý nghĩa Tịch. Quang minh và màu sắc của hoa bất nhị, cũng nhằm hiển thị Tánh Thể Tịch - Chiếu cùng viên dung. Dưới đây là lời giải thích rất tường tận.
(Sao)
Hựu tự tánh tịch, thị hoa hợp nghĩa.
Tự tánh chiếu, thị hoa khai nghĩa.
(鈔)
又 自 性 寂,是 華 合
義;自 性 照,是 華 開 義。
(Sao: Lại nữa, tự tánh tịch là ý nghĩa hoa cụp lại. Tự tánh chiếu là ý nghĩa hoa nở).
Đây là nói tới hoa sen khép lại hay xòe nở. Trong tự tánh bao hàm vạn
đức, Lục Tổ
đại sư nói “vốn sẵn trọn đủ”,
vô lượng nghĩa lý, vô biên sắc tướng, tự tánh thảy đều trọn đủ. Trong Phật pháp, vô lượng vô biên được
quy nạp lại thì chẳng ngoài Thể và Dụng. Tịch là nói đến Thể, Thể là thanh tịnh, tịch diệt. Nói Chiếu là nói tới tác dụng của nó. Nói Sắc thì Sắc cũng nhằm tỷ dụ bản thể của tự tánh. Nói Quang là nói tới tác dụng Chiếu của nó. Bất luận nói như thế nào, nếu quý vị hiểu rõ đạo lý này, quy nạp chúng lại thì một đằng là nói theo Thể, một đằng là nói theo Dụng. Vạn pháp trong vũ trụ, vô lượng vô biên Thể, Dụng, rốt ráo do đâu mà có? Chúng ta hiểu rõ, toàn là do tự tánh biến hiện. Sau khi hiểu đạo lý này, mục đích học Phật của chúng ta là muốn kiến tánh. Tánh Đức
không thể hiện tiền; nói cách khác, Tánh Đức có vô biên diệu dụng, nhưng chúng ta làm thế nào cũng chẳng đạt được, dùng phương pháp gì cũng đều chẳng học được!
Người trong thế gian hiện thời, bất luận người Trung Hoa hay ngoại quốc đều rất thích thần thông,
thần thông là tác dụng. Thần thông có thể học được hay không? Thưa chư vị, chẳng học được!
Nhưng có người học liền có [thần
thông]. Thần thông là có, vì sao nói là “chẳng học được”?
Tôi bảo quý vị, hễ quý vị học thì sẽ học chẳng được! Nếu quý vị học liền đắc thần thông thì sẽ phiền phức to lớn. Thần thông do đâu mà có? Yêu ma quỷ
quái dựa vào thân quý vị để hiển lộ, sức thần thông ấy chẳng phải là của chính quý vị, mà là của kẻ khác. Chư vị đọc kỹ kinh Lăng Nghiêm sẽ hiểu. Kinh Lăng Nghiêm nói năm mươi thứ Ấm Ma. Tâm quý vị ưa chuộng thần thông, sẽ kết hợp với bản lãnh của yêu ma, quỷ quái [tạo thành thần thông, nhưng quý vị
chẳng biết], quý vị lại ưa chuộng, hoan hỷ. Nói cách khác, rất dễ bị ma gạt gẫm. Ma có thể nhờ vào thân thể của quý vị để hiện một chút thần thông, quý vị đắc ý, ma cũng đắc ý! Nhưng ngày nào đó, nếu ma rời khỏi thân quý vị, năng lực ấy hoàn toàn bị mất đi. Tôi tin tưởng các đồng tu đã đọc kỹ kinh Lăng Nghiêm, hiểu khá rõ chuyện này. Rốt cuộc thần thông do đâu mà có? Thưa cùng chư vị, từ trong tâm thanh tịnh mà có. Sáu thứ thần thông là bản năng (năng lực sẵn có) của chúng ta, chẳng có một chút hiếm hoi, lạ lùng nào, chúng là những thứ phải nên có! Hiện thời, những năng lực ấy bị mất đi, chẳng có, là do nguyên nhân gì? Do tâm quý vị chẳng thanh tịnh. Do vậy, học Phật là học gì? Khôi phục tâm thanh tịnh mà
thôi. Tịch là trọng yếu!
Trong
các đồng tu chúng ta, cũng có một số người học giảng kinh. Quý vị lên đài giảng kinh, giảng đến mức hoa trời rơi lả tả, đó là Chiếu! Vì sao quý vị có thể giảng? Tâm nhất định phải tịch, tâm
địa đạt đến mức thanh tịnh tịch diệt, liền tương ứng với tâm Phật. Tâm Phật là tâm thanh tịnh
tịch diệt, tâm quý vị cũng là tâm thanh tịnh
tịch diệt, quý vị và Phật “tâm tâm tương ấn”. Những kinh do đức Phật đã giảng,
quý vị vừa nhìn vào liền hiểu rõ, vì sao? Giống hệt như từng thứ hiển hiện trong tâm của chính mình, chẳng hai, chẳng khác. Vì thế, từ xưa tới nay, các tổ sư đại đức hoằng pháp lợi sanh chẳng có một vị nào tâm không thanh tịnh. Trước
đây, giảng đại tòa, mở đầu là hương tán, sau đó là tụng kinh, rồi hô chúng sanh kệ, rồi lại niệm Phật, rồi niệm kệ khai kinh, gần như là mất từ nửa giờ đến bốn mươi phút, trong lúc ấy, pháp sư giảng kinh ở trên giảng đài làm gì? Nhập định! Tâm đã định, do nhập Định, đã định rồi thì mới có thể quán sát căn cơ, mới có thể tương ứng. Hiện thời, do mọi người chẳng muốn lãng phí nhiều thời gian như thế, nên đơn giản hóa nghi thức, chỉ niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ba lần xong bèn niệm kệ Khai Kinh [rồi bắt đầu giảng kinh].
Vì vậy, Tịch và Chiếu vô cùng trọng yếu, ngàn muôn phần chẳng thể coi nhẹ! Tuy nay chúng ta là kẻ thuộc lứa tuổi trung niên trở lên mới học Phật, đối với những chữ này, chớ nên chẳng coi trọng. Nếu quý vị chẳng coi trọng, nói cách khác, phiền não chẳng thể giảm bớt, niệm Phật không
thể đắc nhất tâm. Đừng nói là đắc nhất tâm, công phu thành phiến cũng chẳng đạt được,
vấn đề này hết sức nghiêm trọng. Công phu chân chánh, chính mình có năng lực liễu sanh tử, thoát tam giới, có thể giúp đỡ
người khác. Học Phật có thành tựu toàn là do công phu định lực của chính mình, nên tôi hy vọng mọi người hãy đặc biệt chú ý chuyện này. Tâm bất định, tâm chẳng thanh tịnh, sẽ chẳng khởi tác dụng.
(Sao) Tự tánh cụ túc
nhất thiết thiện pháp, thị vi diệu
hương khiết nghĩa.
(鈔) 自 性 具 足 一 切 善 法,是
微 妙 香 潔 義。
(Sao: Tự
tánh trọn đủ hết thảy
thiện pháp là ý nghĩa vi diệu hương khiết).
Tự tánh vốn trọn
đủ “hết thảy thiện pháp”, nhưng chư vị
phải biết: Nếu quý vị mê mất tự tánh, hết thảy thiện pháp vốn có trong tự tánh đều biến thành ác pháp. Nhất Chân pháp
giới vốn sẵn có trong tự tánh, ngạ quỷ, súc sanh và địa ngục cũng vốn sẵn có trong tự tánh. Tự tánh tịnh liền hiện Nhất Chân pháp giới; tự tánh mê liền hiện mười pháp
giới, hiện ra lục đạo, hiện ra tam ác đạo.
(Sao)
Nhiên tắc bất ly trần cảnh, vị dục
bảo trì, thường tại liên hoa trung, kinh hành cập
tọa ngọa.
(鈔) 然 則 不
離 塵 境,未 浴 寶 池,常
在 蓮 華 中,經 行 及 坐 臥。
(Sao: Vậy thì chẳng lìa
trần cảnh, chưa tắm trong ao báu, mà thường kinh hành và ngồi,
nằm trong hoa sen).
Đây là nói về chúng ta trong hiện tại. Trước mắt, chúng ta chẳng lìa khỏi thế giới Sa Bà. Thế giới Sa Bà là trần cảnh, chưa vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tây Phương Cực Lạc
là ao báu, [vãng sanh Cực
Lạc là] hóa sanh trong ao sen
bảy báu. Nay chúng ta đầy đủ tín nguyện, thật sự có tín, có nguyện, tâm thanh tịnh, tuy chưa rời khỏi Sa Bà, chưa vãng sanh Cực Lạc, vẫn giống như đang kinh hành trong hoa sen, vì sao? Thân tâm thanh
tịnh, chẳng có vọng niệm, chỉ có một niệm A Di Đà Phật. Trừ A Di Đà Phật ra, quyết định chẳng có tạp
niệm. Khi tâm đạt đến mức khá thanh tịnh, đối
với hết thảy sự biến hóa trong thế gian này, hết thảy nhân quả, quý vị tự nhiên hiểu rõ, tự nhiên
thông đạt. Vì thế, chân tu thực tiễn là chuyện khẩn yếu bậc nhất. Chúng ta xem đoạn lớn cuối cùng.
Tứ,
tổng kết.
(Kinh) Xá
Lợi Phất, Cực Lạc quốc độ, thành
tựu như thị công đức trang nghiêm.
(Sớ)
Như thượng lan võng, hàng thụ, trì, các, liên hoa, chủng chủng trang nghiêm, giai
thị A Di Đà Phật nhân trung sở phát đại
nguyện, cập nguyện hậu sở tu đại
hạnh, vô lượng công đức chi sở thành
tựu dã, như Hoa Nghiêm trung nguyện hạnh, diệc đồng
thử ý.
四 總 結 。
(經)
舍 利 弗。極 樂 國 土。成
就 如 是 功 德 莊 嚴。
(疏) 如 上 欄
網 行 樹,池 閣 蓮 華,種
種 莊 嚴,皆 是 阿 彌 陀 佛
因 中 所 發 大 願,及 願 後
所 修 大 行,無 量 功 德 之
所 成 就 也。如 華 嚴 中 願
行,亦 同 此 意。
(Bốn, tổng
kết.
Kinh: Này Xá Lợi Phất! Cõi nước
Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như
thế.
Sớ: Các thứ trang nghiêm như lan can,
lưới, hàng cây, ao, gác, hoa sen trên đây đều do A
Di Đà Phật trong lúc tu nhân đã phát đại
nguyện và đại hạnh do Ngài đã tu sau khi phát nguyện, vô
lượng công đức thành tựu. Như các nguyện hạnh trong kinh Hoa
Nghiêm cũng có cùng ý nghĩa này).
Đối với đoạn giải thích này, nếu đã đọc kinh Vô Lượng Thọ sẽ hiểu rõ ràng, minh bạch. Chúng ta hiểu rất rõ quá trình A Di Đà Phật kiến tạo Tây Phương Cực Lạc thế giới: Ngài được Thế Tự Tại Vương Như Lai giáo huấn, tư duy năm kiếp, tham phỏng hai trăm
mười ức chư Phật quốc
độ. “Hai trăm mười ức” là biểu thị pháp, chẳng phải là con số, bỏ khuyết điểm, chọn lấy ưu điểm của người khác, kiến lập một thế giới viên mãn rốt ráo trong hết thảy các cõi Phật, nên gọi là thế giới Cực Lạc. Đó là đại nguyện, đại hạnh của Ngài, vô lượng công đức thành tựu.
(Sao) Nguyện dĩ khởi hạnh, hạnh dĩ thật nguyện.
(鈔) 願 以 起 行,行 以 實
願。
(Sao: Nguyện để khởi
hạnh, hạnh để thực hiện nguyện).
Hai
câu này vô cùng trọng yếu. Sau khi quý vị phát
nguyện, đương
nhiên sẽ làm, làm thì gọi là Hạnh. Phải dùng sự hành trì của quý vị để viên mãn đại nguyện, đó là Thật. “Thật” (實) là thực hiện. Trong Phật môn cũng thường nói “dĩ
nguyện đạo hạnh” (以願導行: Dùng hạnh để hướng dẫn nguyện), nguyện dẫn đường cho chúng ta. Nguyện là chí
nguyện, quý vị có phương hướng, mục tiêu; sau đấy mới là “dĩ
hạnh điền nguyện” (以行填願: Dùng hạnh đền bồi nguyện). Nếu quý vị chẳng có hạnh, nguyện ấy là rỗng tuếch, nguyện suông, chẳng thể mãn nguyện. Nếu muốn mãn nguyện, nhất
định phải khởi hạnh. Hạnh nhất
định phải có nguyện; chẳng có nguyện, hạnh của quý vị chẳng có mục tiêu, chẳng có phương
hướng, tuy tinh tấn, tuy nỗ lực, đến cuối cùng chẳng có
kết quả. Do vậy, hạnh đó là hạnh oan uổng, rất đáng tiếc! Do vậy có thể biết, nguyện và hạnh có mối quan hệ hết sức chặt chẽ.
Nếu chúng ta suy nghĩ, nguyện ta đã phát có thiết tha hay không? Phát nguyện có giống như Bồ Tát hay không? Quý vị chớ nên quan sát nơi sự phát nguyện, chẳng thấy được đâu nhé! Quan sát từ chỗ nào? Quan sát từ hạnh sẽ có thể nhận biết. Ví dụ như ta thật sự phát nguyện cầu sanh Tịnh
Độ,
[sẽ là] trong mười hai thời, ta chẳng chịu buông lỏng Phật hiệu một khắc nào, chứng tỏ nguyện của quý vị khẩn thiết. Nếu
ta phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, mà trong mười hai thời vẫn dấy vọng
tưởng, nguyện ấy chẳng thiết tha. Tuy có nguyện, nguyện ấy chẳng thể sanh ra sức mạnh, cũng có nghĩa là ý nguyện của quý vị chẳng mạnh mẽ, mà rất bạc nhược, do quý vị chẳng làm được! Nếu ý
nguyện của quý vị hết sức mạnh mẽ, nhất định sẽ trong từng phút, từng giây đều tranh thủ, chẳng để luống qua! Từ chỗ này có thể thấy được nguyện tâm và tín tâm của chính mình. Nguyện do đâu mà có? Nguyện do tín mà có. Không có tín, lấy đâu ra nguyện? Vì thế, có tín trước rồi sau đó có nguyện, dùng nguyện hướng dẫn hạnh, lãnh đạo chúng ta tiến hành, lãnh đạo chúng ta tu tâm.
(Sao) Bồ Tát nhân địa, mạc bất giai nhiên.
(鈔) 菩 薩 因
地,莫 不 皆 然。
(Sao: Bồ Tát trong lúc tu nhân, không
vị nào chẳng vậy).
Mười phương ba đời hết thảy các
vị Bồ Tát trong lúc tu nhân đều là như vậy. Nói đến chỗ này, chúng ta thấy trạng huống thực tế của nhiều kẻ tu hành, bèn hiểu đây chẳng phải là chuyện dễ dàng, nguyên nhân ở chỗ nào? Nói thật thà, vẫn là do cơ sở, cơ sở là gì vậy? Là phước huệ. Người ấy chẳng có phước, chẳng có huệ, chẳng được! Vì vậy, kinh đã nói rất rõ ràng: “Không thể do
chút thiện căn, phước
đức, nhân duyên, mà được sanh về cõi ấy”. Có thể tin, có
thể nguyện, đó đều là đại thiện căn,
đại phước
đức. Nay chúng ta tín nguyện chẳng thiết, tỏ lộ điều gì? Thiện căn và phước đức của chúng ta chẳng đủ, mà cũng là trí huệ chẳng đủ, phước báo quá ít. Bởi lẽ đó, tín chẳng sâu, nguyện chẳng thiết, hạnh cũng vô lực, đều tỏ lộ rất miễn cưỡng. Học Phật kiểu đó, học suốt một đời cũng chỉ là gieo một chút thiện căn trong A Lại Da Thức mà thôi, đời này có thể thành tựu hay không? Có rất nhiều vấn
đề! Do vậy có
thể biết, tu phước và tu huệ là vấn
đề vô cùng bức thiết của chúng ta trong hiện tại. Hiện thời, dù sao chúng ta chẳng phải là kẻ sơ học! Cổ đức đã nói “mất dê sửa chuồng, vẫn chưa kể là chậm”! Nay tín, nguyện, hạnh, phước, huệ, thảy đều phải tu, phải hành đồng loạt, nhằm bổ sung căn cơ chẳng đủ trong
quá khứ, phải học theo cách như vậy. Vì thế, đặc biệt phải biết tu phước và tu huệ, làm như vậy thì mới có phần tương ứng với nhân địa của hết thảy chư Bồ Tát.
(Sao)
Hạnh mãn, nguyện
toại, danh vi thành tựu.
(鈔) 行 滿
願 遂,名 為 成 就。
(Sao: Hạnh mãn, nguyện
toại, gọi là thành tựu).
Quý
vị hành trì viên mãn, đạt được
nguyện vọng, đó là “thành tựu”. Trong kinh Vô Lượng
Thọ, A Di Đà
Phật đã hiển thị công đức trang nghiêm thành tựu, đều do sức hạnh nguyện rộng lớn của Ngài trong lúc tu nhân, chẳng phải là một sớm
một chiều. Nay chúng ta tu học quả thật vô cùng khổ sở, đó là vì thiện căn và phước
đức của các đồng tu quá mỏng. Trong hết thảy các pháp môn, chúng ta chẳng nhận thức rõ ràng cho lắm, thường coi
chánh pháp là tà pháp, coi tà pháp như chánh pháp, tà - chánh chẳng thể phân biệt, đúng -
sai không thể phân biệt, chân - vọng không thể phân biệt, chịu thiệt thòi quá to! Do chúng ta suốt đời chẳng gặp thiện tri
thức;
dẫu gặp gỡ, cũng bỏ lỡ, suốt một đời chẳng nắm vững cơ hội. Trong Phật pháp nói là “cơ duyên”, chẳng nắm vững cơ duyên này, bỏ lỡ. Vì sao quý vị chẳng nắm được? Vì sao quý vị chẳng thể thật sự thân cận thiện tri thức? Tà sư quá nhiều, vọng
tưởng quá nhiều, thường sanh nghi hoặc, chẳng thể quyết đoán, trong một đời, rất nhiều cơ duyên ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ. Đời này đã là như thế thì chúng ta có thể suy đoán đời đời kiếp kiếp trong quá khứ đều là tình hình như vậy! Các đồng tu chúng ta đang hiện diện chẳng phải là đời này mới bắt đầu học Phật, mà là như trong kinh đã nói, chẳng biết trong quá
khứ quý vị đã thân cận bao nhiêu vị Phật, Bồ
Tát! Chẳng có thành
tựu, do phạm những lỗi lầm giống hệt như trong hiện tại, nên đời
đời kiếp kiếp chẳng thể thành tựu. Từ nay về sau
tu học, có thể nói là ở trong hoàn cảnh ngày càng khó khăn. Thế gian này ngày càng loạn, đến nơi đâu để tìm một hoàn cảnh tu học [tốt đẹp]? Tìm chẳng
thấy! Cá nhân chúng ta mua một căn nhà để tu, có được
hay không? Chẳng được! Có rất nhiều ác duyên. Quý vị nghĩ không ra, quý vị tưởng là thanh tịnh, phiền phức bèn tìm đến, chẳng dễ dàng! Đó là gì? Nghiệp
chướng!
Tu phước và tu huệ thì tu ở nơi đâu? Trong các buổi giảng, chúng tôi thường nhiều lượt khuyên lơn, khích lệ các vị đồng tu, hãy khăng khăng một mực niệm một câu A Di Đà Phật. Quý vị có thể niệm một câu A Di Đà Phật đến mức tâm thanh tịnh
thì Tín, Nguyện, Hạnh, phước huệ của quý vị thảy đều được
bao gồm trong đó. Nói như thế thì cũng chẳng khó! Khó ở chỗ quý vị có chịu làm hay không, có chịu
khăng khăng một mực thực hiện hay không! Thật sự buông xuống
vạn duyên, nhất tâm nhất ý niệm
Phật. Niệm kinh bèn chuyên niệm Tịnh
Độ Ngũ Kinh, hoặc trong Tịnh Độ Ngũ Kinh, chọn ra một thứ để chuyên niệm, nhất định phải niệm đến mức tâm thanh tịnh hiện tiền, phước đức và trí huệ
đều hiện tiền, phải làm như vậy thì mới được. Hãy nghĩ tới quyết tâm và nghị lực tu học của đức Di Đà trong khi tu nhân, chúng ta nên bắt chước, hãy nên học tập. Thời kiếp dài lâu, chúng ta phải có lòng kiên nhẫn, người ta năm kiếp tu hành, nghe Phật
thuyết pháp ngàn ức năm, đúng là thọ mạng lâu dài, ngàn ức năm mà! Tu học như vậy thì mới gọi là xứng tánh, tánh là gì? Tánh là chẳng có phân biệt,
chấp trước, vọng tưởng; tánh là tâm thanh tịnh. Nếu hạnh nguyện của chúng ta đều có thể tương ứng với tâm thanh tịnh thì cũng là hạnh nguyện sanh từ tâm thanh tịnh, sự tu hành ấy là xứng tánh.
(Sao)
Nhân trung giả, vi Pháp Tạng tỳ-kheo thời dã.
(鈔) 因 中
者,為 法 藏 比 丘 時 也。
(Sao: “Trong lúc tu nhân”: Khi Ngài là
tỳ-kheo Pháp Tạng).
Trong
lúc A Di Đà Phật tu nhân, lúc Ngài là tỳ-kheo Pháp Tạng.
(Sao)
Ngôn nguyện giả, sở phát tứ thập bát nguyện
dã. Hữu nguyện vân: “Ngã tác Phật thời, sanh ngã sát giả,
giai ư thất bảo thủy trì, liên hoa hóa sanh”. Hựu nguyện vân: “Ngã tác Phật thời, ngã sát trung, tự địa dĩ thượng,
chí ư hư không, giai hữu cung điện,
lâu các, trì lưu, hoa thụ, tất dĩ vô lượng
chúng bảo, bách thiên chủng hương nhi cộng
hợp thành”. Hựu
vân: “Nhược ngã
thành Phật, châu biến quốc trung chư trang nghiêm
cụ, vô hữu chúng sanh năng tổng diễn thuyết”, thị vi đại nguyện.
(鈔) 言 願 者,所 發 四 十
八 願 也。有 願 云:我 作
佛 時,生 我 剎 者,皆 於
七 寶 水 池,蓮 華 化 生。又
願 云:我 作 佛 時,我 剎
中 自 地 以 上,至 於 虛 空,皆
有 宮 殿 樓 閣,池 流 華 樹,悉
以 無 量 眾 寶,百 千 種 香
而 共 合 成。又 云:若 我
成 佛,周 遍 國 中 諸 莊 嚴
具,無 有 眾 生 能 總 演 說,是
為 大 願。
(Sao: Nói tới nguyện thì Ngài
đã phát bốn mươi tám nguyện. Ngài có nguyện như sau: “Khi tôi làm Phật,
người sanh về cõi tôi đều hóa sanh trong hoa sen
nơi ao bảy báu”. Lại nguyện
rằng: “Khi tôi làm
Phật, trong cõi tôi, từ
mặt đất trở lên cho đến hư không,
đều có cung
điện, lầu
gác, ao suối, cây hoa, đều dùng vô lượng các
thứ báu, trăm ngàn các thứ hương cùng hợp thành”.
Lại nói: “Nếu ta thành Phật, các thứ vật trang
nghiêm trọn khắp cõi nước, chẳng có chúng sanh nào có
thể diễn nói”, đại nguyện như thế
đó).
Trong
bốn mươi tám nguyện, nêu đại lược ba điều. Nguyện nào trong các nguyện của đức Di Đà cũng đều được thực hiện, sự thực hiện ấy chính là dùng hành để thỏa nguyện.
(Sao)
Đại Bổn vân.
(鈔) 大 本
云。
(Sao: Kinh Đại Bổn nói).
“Đại Bổn” là kinh Vô Lượng Thọ.
(Sao)
Pháp Tạng tỳ-kheo, ư Thế Tự Tại
Vương Phật sở, nhiếp thủ nhị bách
nhất thập ức Phật sát thanh tịnh chi hạnh.
(鈔) 法 藏 比 丘,於 世 自
在 王 佛 所,攝 取 二 百 一
十 億 佛 剎 清 淨 之 行。
(Sao: Tỳ-kheo Pháp Tạng, ở
nơi Thế Tự Tại Vương Phật đã nhiếp
thủ các hạnh thanh tịnh trong hai trăm mười
ức cõi Phật).
Nói
theo kiểu hiện thời, “nhiếp
thủ” (攝取) là khảo sát, tham phỏng. Chọn lấy ưu điểm, bỏ khuyết điểm của người khác. Người khác có điểm hay, chúng ta phải học theo. Người khác có chỗ xấu, chúng ta phải phản tỉnh chính mình có [khuyết điểm ấy] hay không. Nếu có, phải sửa
đổi, cách tu hành là như thế đó! Trong kinh Hoa Nghiêm và Trí Độ Luận, con số “hai trăm mười” đều dùng để biểu thị pháp, biểu thị sự viên mãn rốt ráo, nên nó chẳng phải là một con số thật sự. Nếu chúng ta muốn tu cái hạnh viên mãn thì nói cách khác, suốt ngày từ sáng đến tối, sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần bên ngoài, chúng ta phải học theo tỳ-kheo Pháp Tạng. Bất luận quý vị tiếp xúc người, tiếp xúc sự, tiếp xúc vật, hễ thấy điều tốt đẹp thì chúng ta phải học tập. Thấy những khuyết điểm, chúng ta phải phản tỉnh chính mình có [những khuyết điểm ấy] hay không? Đó cũng là như Khổng lão phu tử đã nói: “Tam nhân hành,
tất hữu ngã sư” (Ba người cùng đi, ắt có người là thầy ta). Ba người thì chính mình là một, hai người kia chính là hết thảy mọi người trong thiên hạ được
chia thành hai loại lớn: Một loại là thiện nhân, loại kia là ác nhân. Do đó, chớ nên nghĩ “ba
người” chỉ là ba cá nhân, quý vị đã hiểu sai ý của Khổng lão phu tử mất rồi!
“Tam nhân hành”
là quý vị đối xử với tất cả hết thảy mọi người, thấy thiện nhân, quý vị học tập theo người ấy. Thấy kẻ bất thiện, tự mình phản tỉnh, ta có [những lỗi lầm ấy] hay không. Vì vậy, thiện nhân là thầy ta, bất thiện nhân vẫn là thầy của ta. Thiện nhân nêu gương tốt, dạy ta thiện pháp, ta học theo người
ấy. Kẻ bất thiện dạy ta phản tỉnh, dạy ta sửa lỗi, đổi mới. Vì thế, người thiện lẫn kẻ ác thảy đều là thầy ta. Thuận cảnh hay nghịch cảnh đều là đạo tràng để tu hành tốt nhất. Năm mươi ba lần tham học trong kinh Hoa Nghiêm mang ý nghĩa này: Trong năm
mươi ba vị thiện tri thức, có thiện, có ác, nhưng thảy đều là Bồ Tát. Đó là ý nghĩa “nhiếp thủ”. Đối với “Phật sát thanh
tịnh chi hạnh”, quý vị có
thể học tập như vậy, nhất định thành tựu cõi Phật thanh tịnh.
(Sao)
Như bỉ tu trì.
(鈔) 如 彼 修 持。
(Sao: Tu trì giống như Ngài).
Đây là dạy chúng ta phải tu học giống như ngài Pháp Tạng thuở ấy.
(Sao)
Hựu vân: Pháp Tạng tỳ-kheo, phát tứ thập bát
nguyện dĩ, trụ Chân Thật Huệ, dũng mãnh tinh
tấn, A-tăng-kỳ kiếp tu Bồ Tát hạnh, hộ
thân khẩu ý, tu hành Lục Độ, liễu Không, Vô Tướng, Vô Tác, dĩ hành
giáo hóa, trí vô lượng chúng sanh phát Bồ Đề tâm”,
thị vi đại hạnh.
(鈔) 又 云:法 藏 比 丘,發
四 十 八 願 已,住 真 實 慧,勇
猛 精 進,阿 僧 祇 劫 修 菩
薩 行,護 身 口 意,修 行
六 度,了 空 無 相 無 作,以
行 教 化,致 無 量 眾 生 發
菩 提 心,是 謂 大 行。
(Sao: Lại nói: Tỳ-kheo Pháp Tạng đã phát bốn mươi tám nguyện xong bèn trụ trong Chân Thật Huệ, dũng mãnh tinh tấn, trong A-tăng-kỳ kiếp tu Bồ Tát hạnh, giữ gìn thân, miệng, ý, tu hành Lục Độ, liễu đạt Không, Vô Tướng, Vô Tác, dùng hạnh giáo hóa, khiến cho vô lượng chúng sanh phát Bồ
Đề tâm”, đó là đại hạnh).
Trong
lúc tu nhân, A Di Đà Phật trước hết phát nguyện, sau khi phát nguyện bèn thật sự tiến hành, nguyện nào cũng chẳng suông rỗng, đó là “trụ Chân Thật Huệ”. Kinh Vô Lượng Thọ dạy chúng ta ba điều chân thật, “Chân Thật
chi tế”, tức là Chân Như Bổn Tánh, Chân Thật Huệ là trí huệ Bát Nhã, “chân thật lợi ích” là rốt ráo thành Phật, trong các kinh khác chẳng có ba món chân thật ấy! Chân Thật Huệ, đầu tiên là phải khai ngộ. Quý vị chẳng khai ngộ, lấy đâu ra Chân Thật Huệ? Lại còn phải “dũng mãnh tinh tấn”, kinh Vô Lượng
Thọ nói là “năm kiếp tu hành”. Ở đây nói là “A-tăng-kỳ
kiếp tu Bồ Tát hạnh”. Kinh văn dạy rõ: Trước là phát nguyện, sau là tu hành; đó gọi là “dĩ nguyện đạo hạnh, dĩ
hạnh điền nguyện”
(dùng nguyện dẫn dắt hạnh, dùng hạnh đền đáp nguyện).
“Hộ thân khẩu ý”, câu này là trì giới. “Giới vi Vô Thượng Bồ Đề bổn” (Giới là gốc của Vô Thượng Bồ
Đề), trong ba nghiệp thân, ngữ, ý, lấy ý
nghiệp làm chủ. Ý đã thanh tịnh, thân và ngữ chẳng thể nào không thanh tịnh. Thân và ngữ rất thanh
tịnh, nhưng ý chẳng thanh tịnh thì không được. [Thanh tịnh kiểu đó] là hình thức, là bề ngoài. Bề ngoài làm ra vẻ rất thanh tịnh, bên trong chẳng thanh tịnh, chẳng được rồi. Do vậy, trọng yếu nhất là ý nghiệp thanh tịnh. Tu học trong Tịnh Độ Tông là một câu A Di Đà Phật, trong tâm quý vị thường có A Di Đà Phật, bèn thanh tịnh. Trong tâm có A Di Đà Phật, quý vị giống như A Di Đà Phật, trong tâm quý vị đã có, thường xuyên nghĩ tới. Do thường xuyên nghĩ tới, dần dần sẽ biến thành A Di Đà Phật, lẽ nào thân ngữ của A Di Đà Phật chẳng thanh tịnh? Phương pháp này thật sự thuận tiện, ổn thỏa, thích đáng, thù thắng hơn hết thảy các hạnh môn quá nhiều!
“Tu hành Lục
Độ”, Lục Độ là nói đến cuộc sống của chúng ta, nay chúng ta chưa đến Tây Phương Cực Lạc thế giới. Trong thế gian này, chúng ta chẳng thể rời khỏi xã hội, không
thể thoát ly nhân quần, trong cuộc sống, chúng ta phải biết thực hiện như thế nào? Đức Phật dạy chúng ta phải tuân thủ sáu nguyên tắc ấy, sáu điều ấy. Quý vị giữ gìn sáu điều ấy, chẳng sai! Sáu điều ấy là sáu đại cương lãnh, ý nghĩa trong ấy chẳng có cùng tận, cảnh giới rộng lớn vô biên! Trong xã hội hiện thực, phải tu Lục Độ như thế nào? Hai chữ “tu hành” là sửa đổi hành vi, sửa đổi uốn nắn tư tưởng và hành vi của chúng ta.
Trong
Lục Độ, thứ nhất là Bố Thí. Bố Thí là buông xuống. Nói cách khác, xử sự, đãi người, tiếp vật đều phải dễ dãi một chút, chớ nên quá ngặt nghèo, chớ nên rất chấp trước, đó là Bố Thí. Đối với thứ gì, quý vị cũng đều khắt khe, thứ gì cũng chấp
trước; nói cách khác, phiền não và vọng tưởng của quý vị chẳng dễ đoạn. Nếu quý vị coi nhẹ hết thảy vạn pháp trong thế gian này, sẽ đoạn dễ dàng. Vì thế, Bố Thí là buông xuống. Trong Niệm Phật Đường thường nói: “Buông thân, tâm,
thế giới xuống”, chỉ khởi lên một câu Phật hiệu thì mới có thể niệm Phật tốt đẹp, mới có thể niệm tương ứng. Vừa niệm Phật vừa nghĩ trước, tưởng sau, thì niệm Phật hiệu
chẳng tốt đẹp, niệm chẳng tương ứng. Do vậy, nhất định phải buông xuống
vạn duyên; buông xuống vạn duyên là bố thí. Vì sao bảo quý vị buông xuống? Nói theo hết thảy chân tướng sự thật, đúng như kinh Kim Cang đã nói: “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng”, hư vọng! Chẳng chân thật! “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn,
bọt, bóng”. Từ ba ngàn năm trước, đức Phật đã nói [như thế], ba ngàn năm sau, những nhà khoa học thông minh trong thế gian này đã chứng minh lời ấy. Trước kia, họ luôn thừa nhận vật chất tồn tại, nhưng hiện tại, gần đây nhất, các khoa học gia chẳng thừa nhận thế gian này có vật chất! Những hiện tượng vật chất là gì? Hiện thời, họ phát hiện, những hiện tượng vật chất ấy là chấn
động, tức là hiện
tượng dao động ánh sáng, chẳng phải
là thực tại! Nếu nói đến hiện tượng dao động, há chẳng phải là mộng, huyễn, bọt, bóng? “Như sương, cũng như chớp, hãy nên
quán như thế”. Các nhà khoa học cận đại đã phát hiện hoàn toàn giống hệt. Do vậy, chẳng có
vật chất tồn tại! Quý vị chấp
trước, phân biệt vào đó, đúng là vọng tưởng, chẳng phải là sự thật, đấy là nói theo Lý, quý vị phải buông xuống. Nói theo sự tướng, tục ngữ nói: “Sanh chẳng mang theo gì
đến, chết không mang theo gì đi”. Không sao, ta vẫn chưa chết mà! Quý vị có thể bảo đảm ngày mai vẫn còn sống hay không? Chẳng có ai dám nói chắc chắn ngày mai ta vẫn còn sống! “Trên đường hoàng tuyền, chẳng
có già hay trẻ”! Hiểu rõ chân tướng sự thật này, chúng ta phải nắm chặt mỗi phút mạng quang, phải nghiêm túc nỗ lực học tập, tu hành. Đây là dạy chúng ta vì sao phải buông xuống, buông xuống là chân thật. Quý vị chẳng bỏ được,
bèn là hư vọng. Quý vị có
thể buông xuống bèn là Chân Thật Huệ. Quý vị chẳng buông xuống, tức là vô minh, tà kiến.
Thứ hai là Trì Giới, tuân thủ pháp tắc, tuân thủ những điều đức Phật răn dạy, tuân thủ pháp luật của quốc gia, tuân thủ quan niệm đạo đức trong xã hội, tuân thủ những thứ ấy. Đó gọi là “nước có quốc
pháp, nhà có gia quy”, tuân thủ quy củ là trì giới. Trì giới, ngàn muôn phần chớ nên chết cứng nơi giới điều, [nếu chấp chết cứng] là sai mất rồi! Vì vậy, ý nghĩa này rất sâu, phạm vi hết sức to lớn.
Thứ ba là Nhẫn Nhục, tức là phải có lòng kiên nhẫn. Kinh Kim Cang đã dạy chúng ta: “Hết
thảy các pháp được thành tựu bởi Nhẫn”. Nhẫn là kiên nhẫn, là tâm thường hằng. Có tâm thường hằng chính là cội rễ của thành công. Một người chẳng có lòng kiên nhẫn, chẳng có tâm thường hằng, chuyện gì cũng chẳng thành! Tỳ-kheo Pháp Tạng nghe kinh ngàn ức năm, người chẳng có lòng kiên nhẫn làm sao có thể thành tựu? Năm kiếp tu hành, có lòng kiên nhẫn rất lớn. Hiện thời sai phạm, khuyết điểm lớn nhất của chúng ta là thiếu kiên nhẫn, làm sao có thể thành công cho được? Gần đây, có không ít các đồng tu trong ngoài nước khuyên tôi lập Phật Học Viện, tôi cũng rất vui thích. Quý vị hãy thay tôi chiêu sinh, xem có thể chiêu sinh được
hay không? Điều kiện làm học sinh của tôi là phải có lòng kiên nhẫn, vì sao? Tối thiểu trong ba năm đầu, tôi chẳng giảng kinh. Học trò trong Phật Học Viện mỗi ngày làm chuyện gì? Mỗi ngày niệm kinh cho tôi, mỗi ngày niệm tám tiếng đồng hồ, niệm suốt ba năm, một bộ kinh niệm đủ ba ngàn biến. Quý vị tìm xem, có thể tìm được học trò như vậy hay không? Có thể tìm được, tôi sẽ mở Phật Học Viện. Cách giáo học này là phương pháp giáo học trong trường tư thục xưa kia, mỗi ngày đều lớn tiếng niệm, học thuộc sách.
Chúng
tôi khôi phục phương pháp thời đầu Dân Quốc, chẳng cần giảng kinh, mà bảo quý vị niệm. Mỗi ngày niệm kinh này một trăm biến, đương
nhiên chẳng phải là niệm một bộ mà là niệm từng đoạn! Hôm nay hãy niệm cho tôi đoạn này một trăm lần. Sử dụng phương pháp
này, niệm hết ba năm sẽ khai ngộ! Niệm tròn ba năm, Nhẫn Nhục Ba La Mật thành tựu, Thiền Định Ba La Mật thành tựu, Tinh Tấn Ba La Mật cũng ở trong ấy, ba thứ ấy đều tu tốt đẹp. Đã tu thành công ba thứ ấy, nếu Phật Học Viện quy định chương trình là bốn năm thì năm cuối cùng giảng kinh suốt một năm bèn viên mãn, thành công, ai nấy đều khai
ngộ! Nhưng trong suốt ba năm ấy, quý vị có thể chịu đựng hay không? Nếu chẳng chịu được,
đọc ba ngày bèn chạy mất, làm sao có thể thành công cho được? Vì thế, cơ sở giáo dục trong ba năm ấy là tu phước, tu huệ, phước huệ song tu.
Tu phước như thế nào? Phước là làm việc cho thường trụ, làm những chuyện vụn vặt trong chốn thường trụ. Thuở trước, Lục Tổ đại sư ở núi Hoàng Mai tám tháng, hằng ngày giã gạo, bửa củi, làm những việc ấy là tu phước, phục vụ thường
trụ. Tu tâm thanh tịnh trong công việc nặng nề. Tu tâm thanh tịnh là tu Định, tu Huệ. Do đó, phước, định, huệ cùng tu! Đối với cách làm trong các Phật Học Viện thông thường, tôi nhất quyết chẳng làm theo, [làm theo cách của họ sẽ] khiến cho con
em người khác bị lầm lẫn!
Vì
thế, Lục
Độ là khuôn mẫu cho cuộc sống của chúng ta. Bất luận
làm chuyện gì cũng phải có lòng kiên nhẫn, phải tinh tấn, phải cầu tiến bộ, phải có chủ ý, tâm phải định. Thường xuyên thấy lạ, nghĩ khác, tâm chẳng trọn đủ, chẳng có cách nào thành tựu. Tâm
nhất định phải định, ta học bộ kinh này, tâm liền định trong bộ kinh này. Ta chưa học tốt đẹp bộ kinh này, tuyệt đối chẳng dấy lên ý niệm học bộ kinh thứ hai. Do tâm định, nên mới có thể học tốt đẹp, thật sự thành tựu. Niệm một bộ kinh tối thiểu ba ngàn lần, niệm càng nhiều càng hay, niệm khiến cho tâm đắc định. Nếu chẳng dùng phương pháp xa xưa này, cứ miễn cưỡng dùng phương pháp hiện thời, nói thật thà thì Nhẫn và Định đều chẳng có, đều làm không được.
Xưa kia, tôi theo học với thầy Lý, thầy đúng là rất dễ dãi, chẳng nghiêm ngặt cho lắm! Quý vị học một bộ kinh, chỉ cần quý vị lên bục giảng,
giảng một lần là được
rồi, kể như tốt nghiệp, có thể học bộ thứ hai. Tuy thầy yêu cầu chúng tôi giảng một lần, nhưng một lần chẳng đủ, ấn tượng chẳng sâu đậm, nên tôi khuyên các bạn đồng học, tôi nói “phải giảng mười lượt”. Mười lượt, đương
nhiên là giảng trên bục giảng
một lần, những lần khác không nhất định phải lên bục giảng, mà tìm các bạn thân. Mỗi tuần tôi giảng cho quý vị một lần, giảng trọn vẹn từ đầu đến cuối, thậm chí mỗi tuần giảng nhiều lượt. Hôm nay đến giảng ở nhà này, ngày mai đến nhà khác giảng, hôm sau nữa đến nhà khác để giảng, đồng thời giảng cùng một thứ, mỗi tuần có thể giảng hai lượt, ba lượt, dùng phương thức ấy. Gắng sức giảng mười biến, giảng đã quen rồi thì do quen thuộc bèn sanh khéo léo; nhưng có cách nào chế phục phiền não hay không? Chẳng có cách nào!
Càng
thâm nhập, càng có cảm xúc. Chẳng đi theo con đường của cổ nhân, chẳng thể thành công, mới hiểu thật sâu câu nói của cổ nhân: “Chẳng
nghe lời người già, chịu thua thiệt
trước mắt”. Người hiện thời chẳng chịu nghe theo người già, nghĩ người già đầu óc lạc hậu, thời đại đó đã qua, hiện thời mới mẻ hơn! Thật chẳng biết mới là do cũ hình thành, chẳng có cũ, lấy đâu ra mới? Cũ là cầu Căn Bản Trí, kinh Bát Nhã nói “Bát Nhã vô tri”; trước hết, quý vị phải cầu vô tri rồi mới có thể
đạt tới “không gì chẳng biết”. Vừa mở đầu liền cầu có biết, hỏng rồi! Định, Huệ, phước đức của quý vị hoàn toàn bị phá hoại, thành tựu của quý vị trong tương lai chẳng có Huệ, chẳng có Định, mà cũng chẳng có phước. Quý vị mới biết Thiền
Định rất trọng yếu!
Đối với Thiền Định, chúng ta không nói tới chỗ sâu xa, mà nói là quý vị phải định nơi một môn! Quý vị làm việc thì tâm phải định nơi công việc. Nay ta đang nấu thức ăn, tâm ta định nơi nấu nướng thức ăn, món ăn ấy nhất
định nấu rất ngon. Ta đọc kinh, tâm định nơi đọc kinh, kinh ấy nhất
định niệm rất khá! Phàm khi gặp chuyện, tâm nhất
định phải chuyên chú, chuyên chú là Thiền Định, đó gọi là “tâm vô nhị dụng”, như vậy thì mới có
thể thành công! Thiền
Định chẳng
phải là bảo quý vị mỗi ngày ngồi xếp bằng nhìn vào tường, chẳng phải vậy! Thiền Định kiểu ấy vô dụng, chẳng khởi tác dụng! Tu tập chẳng đàng hoàng còn bị ma dựa, phiền phức to lớn! Vì thế, tôi dạy quý vị Thiền Định là phải chuyên chú nơi sự tướng, đó là Thiền Định. Tâm định bèn sanh trí huệ, ứng dụng trí huệ vào cuộc sống. Nói đơn giản theo thuật ngữ hiện tại là “sử
dụng lý trí, chẳng dùng cảm tình”. Lý trí là trí huệ, là trí huệ Bát Nhã. Chớ nên xử sự theo cảm tình, phải bình tĩnh, khách quan, đó là trí huệ. Vì thế, nhất định phải tu hành Lục Độ.
“Liễu Không, Vô Tướng, Vô Tác”, Không, Vô Tướng, Vô Tác (Vô Nguyện) là tam đại không tam-muội. “Liễu” (了) là hiểu rõ, Không, Vô Tướng, Vô Tác là ba môn giải thoát của Pháp Thân đại sĩ. Thật sự thông đạt hiểu rõ thì mức độ thấp nhất cũng là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo. Nói theo phía người niệm Phật, quý vị
đạt đến cảnh giới này, liền chứng đắc Lý nhất tâm không loạn, chứ Sự nhất tâm chưa đạt tới cảnh giới này. “Không” là nói về Thể, tức là bản thể của vạn pháp trong vũ trụ. “Tướng” là nói đến tướng hiện ra, Tướng có, Thể không. Tâm Kinh dạy: “Sắc chẳng khác Không, Không
chẳng khác Sắc. Sắc chính là Không, Không chính là
Sắc”. Sắc là tướng, Không là bản thể, là một, không hai. “Nguyện” là nguyện cầu, trong hết thảy
các pháp vô cầu. Chân thật tu đạo, đối với hết thảy các pháp thế gian và xuất thế
gian chẳng cầu, tâm chúng ta liền thanh tịnh. Người khác cho chúng ta hết thảy
các pháp, chúng ta chẳng cần. Đối với hết thảy các pháp, chúng ta chẳng nghĩ tưởng, thật sự có
thể đạt đến mức vô cầu, chẳng cần, chẳng nghĩ tới, tâm như vậy mà niệm A Di Đà Phật bèn có thể tương ứng. Trong hết thảy các pháp, quý vị còn cầu, còn muốn, hằng ngày nghĩ tưởng, sẽ chẳng niệm A Di Đà Phật tốt đẹp, rất khó tương ứng! Vô Tác trong ba đại không tam-muội còn gọi là Vô Nguyện.
“Dĩ hạnh giáo hóa”, giáo hóa là chỉ dạy hết thảy chúng sanh. Đã là vô cầu, vô nguyện, vì sao còn muốn giáo hóa?
Giáo hóa cũng là vô cầu vô nguyện, vì sao? Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: “Thuận theo tâm chúng sanh mà
ứng với khả năng tiếp nhận của
họ”. Tùy duyên, nhưng chẳng phan duyên, hết thảy là tự nhiên. Giáo hóa hết thảy chúng sanh như vậy, chẳng đánh mất tâm thanh tịnh của chính mình, trong Phật pháp cũng bất đắc dĩ nói một danh từ là “vô duyên đại từ,
đồng thể đại bi”. Thưa quý vị, cách nói này là vì chúng sanh chẳng có cách nào thấu hiểu chân tướng, Phật bất đắc dĩ nói hai câu ấy để an ủi mọi người, đó gọi là “hoàng diệp chỉ đề”.
“Hoàng diệp chỉ đề” (lá vàng dỗ trẻ đừng khóc) là gì vậy? Trẻ nhỏ khóc nhè, người lớn bảo trẻ đừng khóc, dỗ cách nào cũng chẳng được, bèn nhặt một chiếc lá trên mặt đất, dùng chiếc lá ấy gạt trẻ. “Chiếc lá này có giá lắm, bé đừng khóc, đem đi đổi lấy kẹo ăn”. Trẻ nghe chiếc lá ấy rất có giá, đổi được kẹo, nó sẽ thôi khóc, mục đích bèn đạt được!
Tôi
lại thưa cùng quý vị, hết thảy các kinh pháp do đức Phật đã nói đều là “hoàng diệp chỉ đề”, cũng nhằm làm cho quý vị đừng suy nghĩ loạn xạ, đừng dấy vọng
tưởng. Chỉ cần quý vị chẳng suy nghĩ lung tung, liền minh tâm kiến
tánh, khai ngộ, khôi phục bản lai diện mục. Do vậy, đức Phật có từng thuyết pháp hay không? Đúng là đức Phật chẳng nói một câu pháp nào! Mọi người phải hiểu rõ đạo lý này. Tuy chúng ta thấy Phật, Bồ Tát đúng là đại từ đại bi, nhưng trong tâm các Ngài chắc chắn chẳng có những ý niệm ấy. Nếu trong tâm các Ngài có một [ý niệm]
đại từ đại bi, các Ngài là phàm phu, vì trong tâm các Ngài còn có một pháp, còn có một vật! Lục Tổ nói “vốn chẳng có một vật”, nhưng trong tâm các Ngài còn đại
từ đại bi, hỏng rồi! Liền biến thành phàm phu. Phật chẳng có [những ý niệm ấy]! Quý vị phải chú tâm thấu hiểu ý nghĩa
chân thật.
Phật là gì? Là tự tánh của chúng ta. “Phật hết thảy chẳng có”, tức là trong tự tánh của chúng ta thứ gì cũng đều chẳng có. “Dĩ hạnh giáo hóa” như vậy,
Ngài giáo hóa, bản thân Ngài cũng thường tu các hạnh, trọn chẳng phải là không tu hành, Ngài một mặt tu hành, một mặt giáo hóa chúng sanh, chẳng rớt vào Không! Tuy tu hành giáo hóa chúng sanh, tâm địa sạch làu làu, chẳng nhiễm mảy trần, lại chẳng chấp trước Có. Hai bên Không và Có đều chẳng chấp, Thể, Tướng, tác dụng của tự tánh mới hiển lộ toàn thể, đó là Tánh Đức
hiển hiện, kinh Phật bảo là “pháp nhĩ như thị”, tức là tự nhiên nó là như thế.
“Trí vô
lượng chúng sanh phát Bồ Đề tâm” (khiến cho vô lượng chúng sanh phát Bồ
Đề tâm). Đức Phật giáo hóa, giúp đỡ nhiều chúng sanh như vậy, khơi gợi, hướng dẫn nhiều chúng sanh giác ngộ. “Bồ Đề tâm” là giác tâm, nói cách khác, giúp chúng sanh phá mê khai ngộ, cái tâm khai ngộ là Bồ
Đề tâm. Giúp các chúng sanh khai ngộ, đó là “đại
hạnh”. Lại thưa rõ cùng quý vị, giác ngộ triệt để nhất, viên mãn nhất là tin tưởng “niệm Phật vãng sanh thành Phật”, cũng có nghĩa là quý vị tiếp nhận pháp môn Tịnh
Độ. Đó là đại
triệt đại ngộ, còn triệt để, còn viên mãn hơn “minh tâm kiến tánh” trong Thiền Tông. Vì sao? Trong Thiền Tông, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến
tánh, sau khi đã ngộ còn phải khởi tu, tu hành còn bị thoái chuyển, còn bị mê khi cách ấm. Trong Tịnh
Độ, tuy chẳng minh tâm kiến
tánh, Kiến Tư phiền não cả một đống lớn, một phẩm cũng chẳng đoạn, nhưng quý vị có thể thật sự
tin tưởng, nguyện thiết tha, đời này chắc chắn quý vị
vãng sanh! Sau khi vãng sanh sẽ bất thoái thành Phật, đại
triệt đại ngộ trong Thiền Tông làm sao có thể sánh bằng? Chẳng có cách nào so sánh! Hễ vãng sanh, quý vị quyết định chẳng thoái chuyển, quyết
định chẳng bị mê khi cách ấm. Dẫu là nguyện tâm của quý vị rất lớn, đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới tuy chưa có thành tựu, đã mong đến thế giới phương khác làm Bồ Tát hòng hóa độ chúng sanh, có bị mê khi cách ấm hay không? Chẳng có. Phàm là Bồ Tát đến từ Tây Phương Cực Lạc thế giới đều chẳng bị mê khi cách ấm. Trong bốn mươi tám nguyện có điều này, kinh Vô Lượng Thọ đã nói rõ. Có thể tin
tưởng pháp môn này, có thể nương theo pháp môn này để tu học, tức là đạt đến giác ngộ triệt để rốt ráo. Ngẫu Ích đại sư nói: “Phát nguyện cầu sanh Tịnh
Độ là Vô Thượng Bồ Đề tâm”, lời ấy nói chẳng sai tí nào, đó là đại hạnh.
(Sao)
Ngôn công đức giả, tức thử hạnh
nguyện, danh vi công đức. Đại Bổn vân: “Như thị tích công lũy đức, vô
lượng thiên vạn ức kiếp, công đức viên
bị, phương đắc thành tựu tư nguyện,
nhi nhập Phật vị”.
(鈔) 言 功
德 者,即 此 行 願,名 為
功 德。大 本 云:如 是 積
功 累 德,無 量 千 萬 億 劫,功
德 圓 備,方 得 成 就 斯 願,而
入 佛 位。
(Sao: Nói tới công đức thì hạnh nguyện này được gọi là công đức. Kinh Đại Bổn nói: “Tích lũy công đức như thế trong vô lượng ngàn vạn ức kiếp, công
đức trọn đủ, nên mới thành tựu
nguyện ấy, bèn dự vào địa vị Phật”).
Đoạn này nói rõ tỳ-kheo Pháp Tạng công
đức viên mãn, thành Phật. “Công” là công phu, “đức” có cùng một ý nghĩa với “đắc”. Quý vị đổ công dốc sức, tự nhiên liền có thể đạt được. Chẳng có công phu, sẽ chẳng đạt được!
Công được
nói ở đây là tu hành, “đức”
là chứng quả, mà “đức” cũng là khôi phục tự tánh. Trong bộ kinh này, cũng là nói theo pháp môn Tịnh Độ, nói tới công đức là nói tới hạnh nguyện, “phát Bồ Đề tâm, một mực
chuyên niệm”, đó là công đức. Bản thân chúng ta tu như vậy, thành tựu công đức của chính mình, khuyên người khác tu, giúp người khác thành tựu công
đức.
“Như thị tích công lũy
đức” (tích lũy công đức như thế). Trong lúc tu nhân, Phật Di Đà đã tích lũy công đức,
thật sự chẳng thể nghĩ bàn! Nay chúng ta tích lũy công đức rất dễ dàng! Vì sao? Dùng một câu danh hiệu A Di Đà Phật, biến công đức
đã tu trong vô lượng kiếp của A Di Đà
Phật thành công đức của ta, điều này chẳng thể nghĩ bàn. Có lẽ chư vị sẽ nói, điều này làm sao có thể thực hiện được?
Tôi nêu tỷ dụ, khoa học kỹ thuật hiện tại tân tiến nhất là ngành hàng không. Quý vị thấy máy bay được phát minh bao nhiêu năm? Bao nhiêu người [miệt mài] trong viện nghiên cứu, tốn bao nhiêu thời gian, bao
nhiêu tinh lực, chế tạo thành công. Nếu chúng ta
muốn chế tạo máy bay, cũng chẳng cần phải nghiên cứu, chỉ cần chiếu theo sơ đồ thiết kế (blueprint) bèn làm được. Thành quả trong vài thập niên của người khác, chúng ta đạt được trong chốc lát. Cùng một đạo lý, những gì A Di Đà Phật bao kiếp đã tu trong đời đời kiếp kiếp, chúng ta liền viên mãn trọn đủ ngay trong một niệm, đạt được
toàn bộ, đó là Phật Di Đà đem công đức gia trì chúng ta. Tâm chúng ta phải tương ứng với tâm Phật Di Đà thì công đức của câu Phật hiệu
mới viên mãn trọn
đủ. Tâm chẳng giống A Di Đà Phật, niệm câu danh hiệu này “miệng có, tâm không”, công đức lợi ích rất khó đầy đủ, trọn vẹn. Chẳng thể nói là không có. Có! Nhưng chẳng viên mãn.
(Sao) Hoa Nghiêm nguyện hạnh giả, Hoa
Tạng Thế Giới phẩm vân: “Thử Hoa Tạng Trang
Nghiêm Thế Giới Hải, thị Tỳ Lô Giá Na vãng tích
vi trần số Phật sở, tu vi trần số
đại nguyện chi sở nghiêm tịnh”.
(鈔) 華 嚴
願 行 者,華 藏 世 界 品 云:此
華 藏 莊 嚴 世 界 海,是 毗
盧 遮 那 往 昔 微 塵 數 佛
所,修 微 塵 數 大 願 之 所
嚴 淨。
(Sao: “Hoa Nghiêm
nguyện hạnh”: Phẩm Hoa Tạng Thế Giới [trong kinh Hoa Nghiêm] có nói: “Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải này là do đức Tỳ Lô Giá Na trong quá khứ đã ở chỗ vi trần số Phật tu vi trần số
đại nguyện chỗ để nghiêm tịnh”).
Kinh
Hoa Nghiêm nói tới thế giới Hoa Tạng, chúng ta còn gọi thế giới
ấy là Nhất Chân pháp giới. Đối với phần kinh văn được
trích dẫn ở đây, quý vị cũng thấy rất dễ hiểu, thế giới Hoa Tạng do đâu mà có? Do Tỳ Lô Giá Na tu thành, chẳng khác A Di Đà Phật. A Di Đà Phật tham phỏng hai trăm mười ức cõi nước, còn Tỳ Lô Giá Na Phật tại “vãng tích vi
trần số Phật sở”, vi trần số Phật sở và hai trăm
mười ức Phật sát chẳng khác nhau, ý nghĩa tương đồng. Phương pháp tu học hết sức phù hợp khái niệm khoa học hiện đại, nhất định phải tham phỏng, nhất định phải khảo sát. Người Hoa nói: “Đọc vạn cuốn sách, đi
vạn dặm
đường”, chẳng ra khỏi cửa chẳng
được! Tầm mắt chẳng thể mở mang! Đến thăm mỗi nơi, mở mang tầm mắt, mới thật sự liễu giải tướng thế gian. Sau đấy, chúng ta đọc kinh, tự nhiên ngộ xứ khác hẳn, vì sao? Vì quý vị đã thấy rất nhiều khuyết điểm, xem
kinh, thấy câu này có thể đối trị tật xấu ấy, ngay lập tức giác ngộ. Quý vị chẳng hiểu căn bệnh của chúng sanh, khi xem kinh, chẳng thể nhận biết, nên những gì quý vị nói và lãnh hội đều nằm trong chú giải của cổ nhân, chẳng có cách nào vận dụng trong cuộc sống hiện tại. Vì thế, quý vị phải xem nhiều, đến khắp nơi của Trung Hoa và ngoại quốc để xem cho nhiều! Đối với các tầng lớp nhân sự ở những nơi đó, tốt nhất là quý vị đều có thể tiếp xúc, đều có thể cùng họ trò chuyện thì mới có thể liễu giải. Sau đó, quý vị đọc kinh, ngộ xứ sẽ khác hẳn. Quý vị giảng Phật pháp cho người khác, cách giảng cũng khác hẳn, người khác nghe giảng, rất dễ tiếp nhận. Do vậy, trong Phật môn coi trọng tham học. Kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng là năm mươi ba lần tham học. A Di Đà Phật nhiếp thủ hai trăm mười
ức quốc độ chính là tham học. Trong
quá khứ, Tỳ Lô Giá Na Phật ở chỗ vi trần số Phật chính là tham học. Quý vị chẳng tham học thì làm sao được?
Làm sao có thể thành tựu trí huệ cho được?
Đó là dùng vô số đại nguyện để nghiêm tịnh, nên mới có thế giới Hoa Tạng.
(Sao)
Hựu hạ vân: Phổ Hiền trí địa hạnh
tất thành, nhất thiết trang nghiêm tùng thử xuất, lệ Pháp Tạng nguyện hạnh, diệc do thị dã.
(鈔) 又 下
云:普 賢 智 地 行 悉 成,一
切 莊 嚴 從 此 出,例 法 藏
願 行,亦 猶 是 也。
(Sao: Sau đó lại nói: “Trí
địa của Phổ Hiền ắt phải do hạnh thành, hết thảy sự trang nghiêm
từ đây mà ra”, phỏng theo lệ đó, nguyện hạnh của ngài Pháp
Tạng cũng phải giống như vậy).
“Phổ Hiền trí địa hạnh
tất thành”, trí địa của Phổ Hiền Bồ Tát cũng nương vào Hạnh thì mới có thể thành tựu. Trước có
nguyện, sau có hạnh, đều nhằm nói rõ thứ tự giữa nguyện và hạnh. Phổ Hiền Bồ Tát là như thế, mà Tỳ Lô Giá Na Phật cũng là như thế. Có thể thấy ngài Pháp Tạng thành
Phật cũng chẳng ra ngoài lệ ấy! Những câu này đều nhằm khích lệ chúng ta, nhất
định là phải trước hết phát đại nguyện, dùng hạnh để đền đáp nguyện thì mới có
thể thành tựu. Hôm nay chúng tôi giảng tới chỗ này!
A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
Phần 75 hết