A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 75

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 149         

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm mười tám:

 

      (Sao) Vấn: Thử kinh bất kiêm sắc tượng, kim hồ năi nhĩ?  

      () 問:此 經 不 兼 色 像,今 胡 乃 爾。

      (Sao: Hỏi: Kinh này chẳng kiêm sắc tượng là v́ sao như vậy?)

 

      “Bất kiêm sắc tượng là nói: Văn Thù Nhất Hạnh tam-muội, bất thủ tướng mạo, chuyên xưng danh tự” (Nhất Hạnh tam-muội của ngài Văn Thù chẳng gi lấy tướng mạo, chuyên xưng niệm danh tự), có ư nghĩa này. Cũng th nói là phương pháp tu hành được đề xướng trong b kinh này chú trọng tŕ danh, chẳng cần quán tưởng, mà cũng chẳng cần quán tượng. đây, Liên Tŕ đại sư giả thiết một nghi vấn; tuy là giả thiết, nhưng trong s các đồng tu đọc Tịnh Độ Tam Kinh, qu thật có người nghi vấn n vậy. Thí dụ như Quán Kinh chú trọng quán tưởng, có Quán Tưởng Niệm Phật, Quán Tượng Niệm Phật, cuối cùng mới nói đến Tŕ Danh Niệm Phật, c̣n kinh này chuyên giảng v tŕ danh. Dưới đây là lời giải đáp:

 

      (Sao) Đáp: Hữu chuyên chủ cố, kiêm diệc vô ngại.

      () 答:有 專 主 故,兼 亦 無 礙。

      (Sao: Đáp: Do v́ chuyên chú trọng một môn chủ yếu, nếu tu kèm thêm [các pháp niệm Phật khác] th́ cũng chẳng trở ngại).

 

       Kinh Di Đà kinh Lượng Thọ đồng bộ, nên ch trương của hai kinh hoàn toàn nhất trí, chuyên lấy Tŕ Danh làm ch yếu, nhưng trong quá tŕnh tu học, nếu quư vị tu kèm thêm Quán Tưởng hoặc Quán Tượng cũng chẳng tr ngại, vẫn được! Trong Văng Sanh Luận, Thiên Thân Bồ Tát đề xướng Ngũ Niệm Pháp, có quán tưởng, xưng danh, phát nguyện, hồi hướng và sám hối, năm phương pháp đều có th tu, cũng vô ngại.

      (Sao) Như Bồ Tát thiên hành Lục Độ thời, dĩ Thí vi chuyên chủ, dư phi bất tu, đản tùy lực, tùy phận.

  () 如 菩 薩 偏 行 六 度 時,以 施 為 專 主,餘 非 不 修,但 隨 力 隨 分。

      (Sao: Như Bồ Tát lúc chú trọng tu Lục Độ, lấy Bố Thí làm ch yếu, chẳng phải là không tu những hạnh khác, chỉ tùy sức, tùy phận [mà tu tập]).

 

      Đây là nêu ra một thí dụ, “Bồ Tát thiên hành Lục Độ” là nói tới Thập Địa Bồ Tát trong kinh Hoa Nghiêm. Thập Địa Bồ Tát là [các địa v Bồ Tát] từ Sơ Địa cho đến Thập Địa. Tuy mười Độ đều tu, nhưng trong mỗi giai đoạn, Ngài chú trọng một Độ. Thí dụ như Địa Bồ Tát thiên trọng B Thí Ba La Mật, Nhị Địa Bồ Tát chuyên tu T Giới Ba La Mật, Tam Địa Bồ Tát chuyên tu Nhẫn Nhục Ba La Mật, cho đến Thập Địa Bồ Tát, mỗi địa v có s chuyên tu riêng. Tuy chuyên tu một hạnh ấy, nhưng chẳng phải là các hạnh khác không tu, thảy đều tu. Tuy đều tu, nhưng trong đó, lấy một hạnh làm ch yếu. đây nói Lục Độ, “dĩ T vi chuyên chủ”  (lấy B Thí làm pháp tu ch yếu) nói v Sơ Địa. Quư v đọc kinh Hoa Nghiêm liền biết Sơ Địa Bồ Tát chuyên dùng B Thí Ba La Mật làm hạnh chuyên chủ, tức là [dùng B Thí Độ] để chuyên tu, ch tu, nhưng Ngài vẫn phải tu chín Độ kia, trọn chẳng phải không tu!

      “Đản tùy lực, tùy phận” (chỉ tùy sức, tùy phận), đối với Thập Ba La Mật, đây ch nói Lục Độ, tức đại sư tỉnh lược, trong kinh Hoa Nghiêm, qu thật có những độ ấy. V́ sao kinh Hoa Nghiêm có Thập Độ? Thông thường, kinh Đại Thừa đều nói Lục Độ, kinh Hoa Nghiêm nói Thập Độ, nhưng nội dung của Thập Độ và Lục Độ chẳng sai khác! Thập ĐộĐộ th sáu [trong Lục Độ], tức Bát Nhă Ba La Mật, được triển khai thành năm Độ; do vậy, năm Độ sau hoàn toàn là Bát Nhă. Bởi lẽ, Bát Nhă Ba La Mật Căn Bản Trí, bốn thứ sau là Phương Tiện Ba La Mật, Nguyện Ba La Mật, Lực Ba La Mật và T Ba La Mật (trí này là Quyền Trí), bốn loại này thuộc v Hậu Đắc Trí.

      ChẳngBát Nhă Ba La Mật, nói cách khác, quyết định chẳng có phương tiện. Phương tiện thiện xảo sanh t Bát Nhă Ba La Mật; phương tiện thiện xảo chẳng dễ dàng! Nếu chẳngBát Nhă Ba La Mật, quư vị muốn dùng phương tiện thiện xảo s bị rắc rối to! Trong Phật môn thường nói “Phương tiện thành hạ lưu!” sao phương tiện trở thành hạ lưu? Kẻ ấy chẳngBát Nhă Ba La Mật, học đ̣i hành theo phương tiện của Bồ Tát, chắc chắn trở thành h lưu. Đó gọi là “từ bi lắm họa hại, phương tiện thành hạ lưu”. Lại nói: “Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa”. Chúng ta nghe như vậy, dường như rất mâu thuẫn; thật ra, nó có đạo lư, từ bi phương tiện đều phải kiến lập trên cơ s Bát Nhă Ba La Mật. V́ thế, có th biết, sau khi viên măn Lục Độ th́ mới có thể tu phương tiện từ bi, chẳng có Lục Độ, làm sao có phương tiện từ bi cho được? Đây là Bồ Tát tu học, lấy Lục Độ làm chủ; Lục Ba La Mật đang được nói ở đây chính Thập Ba La Mật.

      Kinh Hoa Nghiêm nói Địa Bồ Tát “ư nhất thiết vật, vô sở lận tích” (đối với hết thảy mọi vật, chẳng keo kiệt, tiếc nuối), có th b bất c lúc nào, có th thí xả, chẳng keo kiệt, tiếc nuối. V́ sao? V́ Ngài cầu trí huệ! Đại trí cũng trí huệ viên măn rốt ráo, trí huệ do đâu mà có? Trong các buổi giảng, chúng tôi thường thưa tŕnh cùng quư vị, trí huệ sanh t tâm thanh tịnh. Tâm địa thanh tịnh quang minh giống như trong Tâm Kinh, nó liền khởi tác dụng Chiếu, có thể chiếu kiến! Tâm chúng ta một mực hồ đồ, chẳng thanh tịnh, không quang minh, nên chẳng chiếu kiến! V́ thế, mê hoặc, điên đảo. Nếu muốn khôi phục tâm thanh tịnh, nhất định phải xả. Xả quư vị phải buông xuống. Q vị không buông xuống được, tâm chẳng thanh tịnh; thứ cũng đều phải buông xuống! Lục T đă nói: “Vốn chẳng có một vật”, phải buông xuống sạch sành sanh, tâm quư vị liền khôi phục thanh tịnh, trí huệ viên măn mới có th hiện tiền.

      Do vậy có thể biết, bố thí vô cùng trọng yếu, chẳng không th xả, chẳng có ǵ không thể bố thí. Bởi lẽ, đây là đại s tu hành, hết thảy tất c đều có th thí. Trong Thập Ba La Mật của Bồ Tát, B Thí Ba La Mật tăng thượng, chuyên tu Bố T Ba La Mật, xếp nó [thành hạnh tu ch yếu của] địa v th nhất, tức Sơ Địa. Quư vị cũng hiểu, chúng ta học Phật th́ phải thực hiện t ch nào? Thực hiện t buông xuống. Lúc tôi mới học Phật, lần đầu tiên gặp Chương Gia đại sư, tôi thỉnh giáo Ngài, tôi thưa:Phật pháp tốt đẹp, mỗi người chúng ta đều biết Phật pháp tốt đẹp. T chỗ nào th́ s có th tiến nhập?’ Chúng tôi hy vọng th tiến nhập rất nhanh, lăo nhân gia dạy tôi sáu chữ: “Thấy thấu suốt, buông xuống được”. Tôi thỉnh giáo Ngài: “Thực hiện t ch nào?” Ngài bảo tôi: “B thí”. Quư vị thấy đó, hoàn toàn giống như kinh Hoa Nghiêm đă dạy. Do vậy nói: Quư v muốn học Phật th́ học bắt đầu t chỗ nào? Bắt đầu học bằng b thí. Không chỉ thân, tâm, thế giới có thể buông xuống, thưa cùng quư vị, quan trọng nhất là phải buông phân biệt xuống, buông chấp trước xuống, buông vọng tưởng xuống, quư vị s thành tựu nhanh chóng, tâm quư v mới thật sự đạt được thanh tịnh.

      thế, đối với những pháp môn khác bèn tùy phần, tùy sức mà tu. Tu b thí đến một giai đoạn kha khá, B Thí Ba La Mật viên măn, Bồ Tát liền tiến cao hơn, t Địa tiến lên Nhị Địa, Nhị Địa Bồ Tát tu Tŕ Giới Ba La Mật. Thưa cùng chư vị, th dùng một câu để nói trọn hết Thập Ba La Mật, câu ǵ vậy? Tâm thanh tịnh. Càng tiến cao hơn, tâm địa càng thanh tịnh, mười Ba La Mật đều nhằm tu tâm thanh tịnh!

 

      (Sao) Kim niệm Phật diệc nhiên.

      () 今 念 佛 亦 然。

      (Sao: Nay niệm Phật cũng thế).

 

      Pháp môn Niệm Phật cũng giống như thế, cũng có từng giai đoạn, và cũng có chuyên tu.

 

      (Sao) Chuyên chủ ư quán tưởng giả, thiểu thời tŕ danh. Chuyên chủ ư tŕ danh giả, thiểu thời quán tưởng, diệc “tùy lực, tùy phận” chi ư dă.

      () 專 主 於 觀 想 者,少 時 持 名;專 主 於 持 名 者,少 時 觀 想,亦 隨 力 隨 分 之 意 也。

      (Sao: Chuyên tu chủ yếu quán tưởng th́ ít dành thời gian để tŕ danh. Chuyên tu chủ yếu tŕ danh th́ ít dành thời gian để quán tưởng, cũng ư nghĩa “tùy phần, tùy sức” vậy).

 

      Nếu dùng phương pháp mười sáu phép Quán, Trí Giả đại sư dùng mười sáu phép Quán, Ngài có niệm A Di Đà Phật hay không? Niệm! Thời gian Ngài tu Quán nhiều, thời gian niệm Phật ít. Nếu chuyên nương theo kinh A Di Đà, hoặc kinh Vô Lượng Thọ, bèn lấy niệm Phật làm chủ, thời gian niệm Phật nhiều, thời gian tu Quán ít. Cận đại, lăo cư sĩ H Liên Cư đề xướng, quư vị thấy cụ biên soạn Tịnh Tu Tiệp Yếu, phương pháp lấy niệm Phật làm Chủ, lấy quán tưởng làm Trợ. Tịnh Tu Tiệp Yếu là sáng tối tu một lần.

      B́nh thời, phải gi sao cho một câu A Di Đà Phật không gián đoạn. Q vị niệm càng nhiều càng tốt, mỗi ngày phải niệm tối thiểu một vạn câu Phật hiệu. Một vạn câu Phật hiệu th́ quư v nh s cũng rất tốt, mà “nh thời” cũng được. “Nh thời” th́ đại khái niệm một vạn câu s là hai tiếng đồng hồ. Mỗi ngày quư v có th niệm đủ hai giờ, đại khái là có thể niệm được một vạn câu Phật hiệu. Hai gi ấy không nhất định phải niệm xong trong một lần. Q vị có thể chia thành hai lần, ba lần, hoặc bốn lần chẳng sao cả, nhưng phải sắp xếp thành công khóa c định. Công khóa c định là mỗi ngày nhất định phải niệm, không nhất định phải sáng tối, tức là không nhất định phải niệm trong khóa tụng sáng tối, phải như vậy th́ mới được, mới là chuyên tu. Nếu sáng tối chúng ta dùng phương pháp trong Tịnh Tu Tiệp Yếu th́ ba mươi hai lạy hết sức hay. Trong ba mươi hai lạy ấy, c̣n có quán tưởng, xưng danh, lễ bái. Tinh thần của ba mươi hai lạy là dựa trên Ngũ Niệm Pháp trong Văng Sanh Luận của Thiên Thân Bồ Tát. Năm khoa này thảy đều có, có sám hối và phát nguyện.

 

      (Sao) Sở vị bất kiêm sắc tượng giả, cái khủng nhất tâm chấp tŕ danh hiệu, hựu nhất tâm quán tưởng sắc tượng, bất duy tâm vô nhị dụng, nhi lưỡng sự song hành, khinh trọng bất phân, câu vô thành tựu nhĩ.

      () 所 謂 不 兼 色 像 者,蓋 恐 一 心 執 持 名 號,又 一 心 觀 想 色 像,不 唯 心 無 二 用,而 兩 事 雙 行,輕 重 不 分,俱 無 成 就 耳。

  (Sao: Nói “không kiêm sắc tượng” là v́ sợ đă nhất tâm chấp tŕ danh hiệu, lại c̣n nhất tâm quán tưởng sắc tượng th́ không chẳng phải là do tâm không có hai tác dụng, mà hai s đều cùng hành, chẳng phân nặng, nhẹ, sẽ đều chẳng thành tựu).

 

      Mấy câu này rất quan trọng, nói rơ lợi ích sai khác giữa chuyên tu và kiêm tu. Kiêm tu là ǵ? Quư vị nhất tâm nhị dụng! Các đồng tu chúng ta đến nay đă học Phật bao nhiêu năm? Đừng nói tới nhất tâm, ngay c công phu thành phiến c̣n chưa đạt được, nguyên nhân ch nào? Nhất tâm đa dụng! V́ thế, chẳng tương ứng, chẳng th nhất tâm chuyên chú. Quư vị mới biết nhất tâm chuyên chú có công đức chẳng thể nghĩ bàn! Do vậy, c đức niệm Phật, trong Niệm Phật Đường của chính ḿnh chỉ thờ một bức tượng A Di Đà Phật, [ngay cả] Quán Âm và Thế Chí đều chẳng thờ, [làm như vậy] có lư, chuyên nhất mà! Nh́n thấy [h́nh tượng] Quán Thế Âm Bồ Tát hoặc Đại Thế Chí Bồ Tát sẽ phân tâm, đạo lư ch này. Lănh chúng niệm Phật bèn lạy Tây Phương Tam Thánh, nhưng trong Niệm Phật Đường của chính ḿnh chỉ th một bức tượng Phật, [ngơ hầu] chẳng b phân tâm. Người học Phật chúng ta trong hiện thời vọng niệm đúng là quá nhiều. Không chỉ muốn th rất nhiều Phật, Bồ Tát, c̣n mong mỏi đọc tụng rất nhiều kinh điển. Dẫu chẳng đọc tụng, trong tâm vẫn mong đọc tụng, kinh này cũng hay, kinh kia cũng khá. Không ch Phật pháp, mà c̣n có rất nhiều pháp thế gian cũng vướng mắc, pháp thế gian và xuất thế gian c một đống lớn! Đó là đa tâm. Niệm Phật kiểu ấy chẳng phải chuyên tâm niệm Phật, đa tâm niệm Phật, không thể chuyên chú!

      Trong đoạn khai thị này, Liên Tŕ đại sư thật sự đại từ đại bi, đă ch điểm những khuyết điểm của chúng ta. sao không kiêm sắc tượng”, bảo quư v hăy chuyên chú? Là v́ ch snhất tâm chấp tŕ danh hiệu, lại vừa nhất tâm quán tưởng sắc tượng”, đó là nhất tâm nh dụng. Nhất tâm nh dụng, “nhi lưỡng sự song hành, khinh trọng bất phân” (mà cùng hành hai sự, chẳng phân nặng nhẹ), niệm Phật chẳng niệm tốt đẹp, quán tưởng cũng chẳng quán tốt đẹp, hai phương diện đều chẳng thực hiện tốt đẹp. Chúng ta suy nghĩ, [nhận thấy] thật sự lư! V́ thế, c nhân tu hành có Chánh, có Trợ, lấy Tŕ Danh làm Chánh Hạnh, lấy quán tưởng làm Tr Hạnh, có ch và khách, chẳng đều xem trọng hết. Nếu đều xem trọng hết, rất khó đắc lực, nhất định phải thiên trọng một pháp môn nào đó. Nếu quư vị chuyên tu tập một pháp môn, coi đó là ch yếu, chẳng dùng các pháp môn khác, ta chuyên niệm Phật, chẳng dùng tới quán tưởng, càng tốt đẹp hơn! Nhưng chúng ta đang là k sơ học, đôi khi chuyên niệm một câu Phật hiệu chưa th hàng phục phiền năo, vọng niệm hăy c̣n rất nhiều, bèn thêm vào một chút quán tưởng, vọng niệm s bớt đi một chút. Khi ấy có th dùng, thể thêm vào một chút quán tưởng nhằm đối trị vọng niệm. Vọng niệm ít đi, ta chuyên tu ch yếu tŕ danh, chẳng cần quán tưởng nữa, làm như vậy đúng. V́ thế, thỉnh thoảng có th dùng quán tưởng, hoặc quán tượng, nhằm mục đích giúp chúng ta hàng phục vọng tưởng, tạp niệm, phải hiểu mục đích ch này, chẳng phải đồng thời tu hai hay ba pháp môn!

      Bốn pháp môn Niệm Phật trong Tịnh Tông cũng chẳng thể đồng thời kiêm tu, c̣n có thể kiêm tu Thiền Tịnh ư? C̣n có th kiêm tu Thiền, Tịnh, Mật ư? Chẳng th nào! C vị phải hiểu điều này. Vĩnh Minh đại sư nói: Thiền, Tịnh Độ, giống như cọp đội sừng”. Ngài nói với ai? Chẳng phải là nói với quư vị, lời ấy nhằm nói với người tham Thiền trong thu đó. Người tham Thiền vô cùng chấp trước! Vĩnh Minh đại sư thấy Thiền không thể thành tựu, khuyên h niệm Phật, họ chẳng tiếp nhận, nên mới dùng pháp phương tiện: “Quư vị tham Thiền, nếu tu thêm Tịnh Độ s rất lỗi lạc”, c vũ, khích l h niệm Phật. Đó là cách nói bất đắc dĩ, tuyệt đối chẳng nhằm nói với người niệm Phật. Người niệm Phật thấy đoạn khai th ấy của Vĩnh Minh đại sư [bèn nghĩ]:Ta niệm Phật kèm thêm một chút Thiền, chẳng phải là càng tốt hơn ư?” Vậy là quư vị đă hoàn toàn hiểu lầm ư nghĩa của Vĩnh Minh đại sư mất rồi! Quư vị nhất định phải biết sao Ngài nói lời ấy, nói với ai, phải hiểu ràng!

      Chuyện này, trong phần trước, chúng tôi đă tŕnh bày, trong cuộc sống hằng ngày, bất luận làm chuyện ǵ đều phải chuyên tâm. Khi chúng ta làm việc, bèn chuyên tâm làm việc, chớ nên niệm Phật, buông Phật hiệu xuống. Khi làm việc xong, bèn chuyên tâm niệm Phật, buông công việc xuống, như vậy th́ quư vị niệm Phật cũng tốt đẹp, công việc cũng thực hiện tốt đẹp! Vừa làm việc, vừa niệm Phật, cả hai đằng đều l làng, công chuyện chẳng làm tốt đẹp, niệm Phật chẳng chuyên tâm, mà chính ḿnh vẫn ng bản thân rất tinh tấn:Hôm nay Phật hiệu của ta chẳng gián đoạn”. Thật ra, c hai đằng đều chẳng đạt được! Việc phải dùng sức, chẳng cần dùng đầu óc th́ việc ấy có th [vừa làm] vừa niệm Phật. Phàm những việc phải dùng đầu óc, phải chuyên chú tinh thần, quyết định chẳng th [vừa làm] vừa niệm Phật.

      Các đồng tu lái xe phải rất chú ư! Vừa lái xe vừa chuyên tâm niệm Phật, xảy ra tai nạn cũng chẳng biết. Đừng nghĩ tai nạn xảy ra bèn văng sanh Tây Phương, tuyệt đối chẳng thể có chuyện ấy! V́ vậy, trong t́nh huống quư v phải chuyên tâm chú ư lái xe, đừng niệm Phật hiệu! Trên xe có m máy niệm Phật để cho khách ngồi xe nghe, t ḿnh ch nên nghe, hăy dốc sức chú ư đường sá th́ mới là đúng. Chúng tôi có một người bạn lái xe, có lần kể: Khi ông ta lái xe, chuyên tâm niệm Phật, lái taxi lộn đường, lái quẩn quanh một ṿng lớn, rất có lỗi với khách hàng. Vừa làm việc, vừa niệm Phật, nhất định s b rối loạn, hai đằng đều chẳng th thành tựu. Phải nh k điều này!

 

      (Sao) Cẩu minh ư Chánh Trợ chi nghĩa, tắc nhất tâm tŕ danh dĩ vi kỳ Chánh, thiểu thời chi Trợ, Trợ diệc quy Chánh.

  () 苟 明 於 正 助 之 義,則 一 心 持 名 以 為 其 正,少 時 之 助,助 亦 歸 正。

      (Sao: Nếu hiểu rơ nghĩa Chánh và Trợ, sẽ coi nhất tâm tŕ danh là Chánh, thời gian tu Trợ Hạnh ít hơn, Trợ cũng quy vào Chánh).

 

      Chánh Trợ song tu, Trợ Tu vẫn nhằm giúp Chánh, vẫn lấy Chánh làm ch yếu, vẫn là quy hoàn Chánh.

 

      (Sao) N hỏa ích tân, phục hữu hà ngại?

      () 如 火 益 薪,復 有 何 礙。

      (Sao: Giống như thêm củi vào lửa, há c̣n trở ngại chi?)

 

      Đốt lửa. “Tân” () củi, than. Thêm [củi, than] vào lửa đang cháy, lửa càng hừng hực, chẳng b tr ngại.

      Do vậy có thể biết, công phu nhất định phải chuyên! Hạnh môn phải chuyên, giải môn cũng phải chuyên. Trong khoảng thời gian gần đây nhất, tôi phản tỉnh, quan sát rất sâu, v́ sao người học Phật trong thời đại này chẳng thành tựu? Do giải môn không chuyên, họ muốn làm bậc thông gia, th ǵ cũng đều thông đạt, kết quả học đến một trăm năm vẫn chẳng thông môn nào! Bởi l đó, cổ nhân cầu học là thâm nhập một b kinh. Không chỉ kinh phải chọn một thứ, trong quá khứ, khi tôi học kinh với thầy Lư Đài Trung, thầy Lư chỉ dạy chúng tôi: “C giải cũng chọn một thứ! Thầy chẳng cho phép chúng tôi xem hai bản chú giải cùng một lúc. Chúng tôi giảng kinh, kẻ mới học giảng kinh nhất định phải nương vào chú giải. Thầy nói rơ, cùng giảng một b kinh giống nhau, nhưng viết chú giải cho b kinh ấy, mỗi vị pháp đường lối suy nghĩ riêng, chẳng th nào giống hệt nhau! Nếu giống nhau, những bản chú giải sau đó chẳng có giá trị, làm sao có th lưu thông cho được? V́ thế, nhất định là hai tưởng bất đồng. Hai bản chú giải quư v đều chọn th́ rốt cuộc dựa theo ai? Chẳng nương cậy được! Khi chính quư vị giảng, chính ḿnh nói nước đôi, người nghe s do dự, chẳng quyết đoán. Bởi vậy, chọn lấy chú giải của một vị, học theo một vị, đó là chánh xác!

      Các v tổ sư đại đức chưa thành Phật; nói cách khác, đối với nghĩa trong kinh Phật, [các Ngài] quyết định chẳng th thông đạt viên giải một trăm phần trăm, nên trong các bộ chú giải, có ch chú giải t mỉ, có ch sài, lướt qua. Chúng ta đọc kinh văn, [cảm thấy có những chỗ] dường như rất trọng yếu, sao giải thích đơn giản như thế? Thầynói: Đối với đoạn đó, chính v ấy vẫn chưa hiểu rơ. Chưa hiểu rơ, v ấy liền viết sơ sài lướt qua, chẳng bỏ công giải thích tỉ mỉ. V ấy chẳng lỗi, chẳng lừa gạt người khác. Đó gọi là “tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri” (biết th́ nói biết, không biết bèn nói không biết). Đó là có th lợi ích người khác, chẳng hại người, quyết định chớ nên “chẳng biết mà c gượng ép coi như biết!Cổ nhân thật sự làm được điều này, điều ấy đáng cho chúng ta tôn kính. Chúng ta xem đến ch đó, có th t́m bản chú giải khác để tham khảo, tham khảo phần chú giải câu đó, tham khảo xem người khác giảng câu ấy như thế nào, giúp cho chúng ta lư giải; đó là Trợ Tu. thế, phải chọn lựa chú giải, hăy chọn chú giải của một người làm [tài liệu tham khảo cơ bản] chủ yếu. Đối với chú giải của vị ấy, chúng ta gặp khó khăn, lại tra cứu chú giải của một v khác để xem câu ấy được giảng như thế nào, dùng làm tham khảo, như vậy th́ được! Đây cũng là Chánh và Tr phải phân định rành mạch. Đối với các bản c giải tr tu để giúp đỡ trong phương diện tham khảo, ch nên chọn quá nhiều, tối đa ch nên chọn hai loại. Chớ nên chọn lấy q nhiều! Quá nhiều, chắc chắn s rối loạn, không thành lề lối! Phải dựa theo một bản chú giải làm chánh yếu.

      Thật ra, những v [chú giải kinh luận] trong thời cận đại, công phu sâu xa. Chẳng hạn như bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa của sĩ Giang Vị Nông nói thật ra là một b đại từ điển của kinh Kim Cang. Ông Giang thâu thập hết những bản chú giải kinh Kim Cang t xưa tới nay, nên quư vị đọc tác phẩm ấy, s giống như đọc hơn một trăm tác phẩm chú giải kinh Kim Cang. Chiếu theo [tác phẩm chú giải của] ông ta để tu học cũng rất khó khăn, sao? Tác phẩm ấy đại từ điển, nói chung, quư vị chẳng th giảng t điển. Quư v bưng t điển ra giảng s gây khó khăn cho nhiều người. V́ thế, học giảng kinh Kim Cang, tôi khuyên các v đừng dùng bản Giảng Nghĩa của cư sĩ Giang Vị Nông. Tôi giảng kinh Kim Cang dùng bản chú giải của pháp sư Đế Nhàn, quyết định chẳng dùng chú giải của ông Giang V Nông. [Tuy vậy, vẫn] có th giảng Giảng Nghĩa, coi như giảng Phật Học thường thức, các nội dung được ông ta thâu thập trong tác phẩm ấy vô cùng phong phú.

      Sách C Giải kinh Vô Lượng Thọ của lăo sĩ Hoàng Niệm Tổ tánh chất phảng phất cuốn Kim Cang Giảng Nghĩa của Giang V Nông, chú giải của c là đại t điển v kinh Lượng Thọ. sao c không t ḿnh soạn một bản chú giải, mà phải dùng phương thức này? Thật s có nỗi kh bất đắc dĩ, cụ chú giải như vậy sẽ chẳng mắc khuyết điểm! “Nếu quư v cật vấn, [th́ những nghĩa lư được nêu ra trong sách ấy] đều là sao lục, toàn là ư nghĩa của t sư, đại đức, đều chẳng phải là ư nghĩa của chính tôi”. Nói cách khác, bộ sách ấy của c cung cấp cho chúng ta nhiều tài liệu của t sư đại đức [chú giải] kinh Vô Lượng Th t xưa tới nay. V́ thế, chư vị học giảng kinh Lượng Thọ, hăy chú ư chọn lọc những chú giải trong ấy, chỉ có thể chọn lựa một phần mười, c̣n chín phần mười kia phải h quyết tâm bỏ đi, như vậy th́ mới được! Nếu đều chọn hết, chẳng có ai thích nghe, s khiến cho người ta chạy mất. Bản chú giải ấy cung cấp tài liệu, đương nhiên có ưu điểm. Nếu quư v khéo lấy, bỏ, đối với người tŕnh độ sâu, quư vị chọn ư nghĩa sâu xa trong bản chú giải; đối với kẻ học, quư vị chọn lấy ư nghĩa nông cạn nhất để giảng. Do vậy, [giảng giải] kinh này có th sâu, có th cạn, có th dài, có th ngắn. Đối với đồng tu học, xác thực là hữu ích rất lớn, chuyên môn đọc bản chú giải này, có khá nhiều kiến thức thông thường v Phật học, các danh từ thuật ngữ, quư vị đều hiểu. Đúng là một bộ sách đầy đủ, toàn b giáo nghĩa Phật giáo và những kiến thức thông thường v Phật học đều có.

      Đoạn cuối cùng là Xứng Lư, cũng là như Giáo H trong nhà Phật thường bảo: “Tiêu quy t tánh. Cổ đức dạy chúng ta: “Nghe kinh phải tiêu quy tự tánh, tu hành phải chuyển thức thành trí”. Q vị thật sự được th dụng; thức là t́nh thức, trí là trí huệ Bát Nhă. Chuyển biến t́nh thức thành lư trí, đó là tu hành; dốc công đổ sức tu hành th́ mới có th đạt được. Nghe giảng phải tiêu quy tự tánh, dung hội trong nội tâm, chúng ta thường nói là “tâm đắc”. Quư v nghe xong, xác thực là có tâm đắc. Đoạn này chính là tâm đắc của Liên Tŕ đại sư.

 

      (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh thanh tịnh quang minh, thị liên hoa nghĩa.

      () 稱 理,則 自 性 清 淨 光 明,是 蓮 華 義。

      (Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh thanh tịnh quang minh là ư nghĩa của hoa sen).

 

       Câu giải thích trong lời S nói thật ra đă giải thích rất ràng, Tổ Liên Tŕ sợ k sơ học chúng ta chẳng th hiểu ư nghĩa, nên lại dùng [điều này] làm đề mục để soạn văn chương. Lời Sao chính là văn chương.

 

      (Sao) Thanh tịnh, biểu Sắc, tự tánh tiêm trần bất lập cố. Quang minh, biểu quang, tự tánh vạn pháp lăng nhiên cố.

      () 清 淨,表 色,自 性 纖 塵 不 立 故。光 明,表 光,自 性 萬 法 朗 然 故。

      (Sao: “Thanh tịnh” biểu thị Sắc, tự tánh chẳng lập mảy trần. “Quang minh” biểu thị quang minh, tự tánh vạn pháp rạng ngời).

 

      Trong t tánh thanh tịnh tâm, chẳng lập một pháp, chẳngmột pháp, đó mới là thanh tịnh chân chánh. Có một pháp, s chẳng thanh tịnh. Cảnh giới ấy chẳng th diễn t được, mà cũng chẳngcách nào tưởng tượng được, sao? Hễ q vị nghĩ, bèn là một pháp. Tuy Lục T nói: Vốn chẳngmột vật”, nếu chấp trước “ta vốn chẳng có một vật” th́ quư vị có hay không? Quư vị có, có vậy? Quư vị c̣n “vốn chẳng có một vật”, vẫn có một pháp tồn tại, tâm quư vị vẫn chẳng thanh tịnh! Nếu “vốn chẳng có một vật” cũng không có th́ có thanh tịnh hay không? Vẫn chưa thanh tịnh, sao? kẻ ấy c̣n có [ư niệm chấp trước] “vốn chẳng có một vật cũng chẳng có”. Thiềnng nói rất hay: “Khởi tâm liền trật, động niệm đă sai”, ngôn ngữ dứt bặt, tâm hành x diệt”, đó mới là thật sự thanh tịnh. Nếu q vị hiểu rơ đạo lư này, đức Phật có thuyết pháp hay không? Nếu trong tâm Phật c̣n có pháp, s chẳng thanh tịnh, đức Phật nói những pháp ấy vẫn là có ư nghĩa, càng chẳng thanh tịnh! Đức Phật không có pháp nào để có th nói. Đức Phật trụ thế bốn mươi chín năm, chẳng nói một câu pháp nào, kinh Kim Cang nói như vậy, đúng thế! Nếu q vị nói đức Phật từng thuyết pháp, đó là báng Phật. Đức Phật chưa từng nói một câu pháp nào, v́ sao? Tâm Phật thanh tịnh, há có pháp nào để có th nói? Đức Phật thấy quư vị khuyết điểm, bèn bảo cho quư vị biết ch nào lầm lỗi, hăy nên sửa chữa như thế nào, chẳng liên can ǵ đến tâm Phật. V́ thế, đức Phật thuyết pháp là ứng theo căn để nói. Nói mà không nói, không nói mà nói”, đó là đức Phật thuyết pháp.

      Do vậy, người biết học th́ quư v phải học “nghe mà không nghe, không nghe mà nghe”, như vậy th́ quư vị sẽ hội quy tự tánh, sẽ khai ngộ, xác thực như thế. Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Minh Bồ Tát đă khai th chúng ta, nghe kinh phải dùng thái độ ǵ? Phải “ĺa tướng ngôn thuyết”, ch nên chấp trước ngôn ngữ. “Ĺa tướng danh tự”, đối với những danh từ, thuật ngữ, những th như thanh tịnh, tự tánh, hoa sen, phải ĺa những tướng ấy, ch nên chấp trước những th đó. Ĺa tướng tâm duyên”, tâm duyên là ǵ? Ta nghĩ, tư tưởng, nghĩ cũng chẳng được. Chẳng chấp âm thanh, chẳng chấp danh tự, chẳng có một niệm, trong tâm chẳng sanh một niệm, nghe như vậy th́ câu nào cũng đều tiêu quy t tánh. Nếu quư vị nghe kinh, tôi đây thấy rất rơ ràng, khi nào giảng đến ch hứng thú, quư v cười, đó là ǵ? Q vị bị âm thanh chuyển, tâm chẳng bất động đối với âm thanh (tức là trong cảnh giới)! Nhất định phải huấn luyện sao cho trong cảnh giới chẳng động tâm, chẳng bị cảnh chuyển. Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: Nếu có thể chuyển cảnh, ắt giống như Như Lai”. Ta không bị cảnh giới chuyển, c̣n có năng lực chuyển biến cảnh giới. Có năng lực chuyển biến cảnh giới, ắt chẳng khác ǵ chư Phật Như Lai. Phàm phu bị cảnh giới chuyển; Phật đại Bồ Tát chuyển cảnh giới, nên trong cảnh giới, các Ngài làm chủ, đắc tại t tại trong cảnh giới. Đạo lư là như thế đó.

      Tịnh Độ Tông đặc biệt chú trọng thanh tịnh, hoa sen tượng trưng cho thanh tịnh, nên chúng ta dùng hoa sen để biểu th pháp. Trông thấy hoa sen, trong tâm phải khôi phục s thanh tịnh, pháp thế gian và xuất thế gian đều chẳng nhiễm. Hoa sen biểu thị pháp, rễ nó mọc trong bùn lầy, bùn lầy tượng trưng lục phàm. Phía trên bùn là nước trong, nước trong tượng trưng t thánh; do vậy, [lục phàm và t thánh] là mười pháp giới. Hoa sen vươn lên khỏi mặt nước, biểu th ư nghĩa “pháp thế gian và pháp xuất thế gian thảy đều chẳng nhiễm”, đấy mới là thật s thanh tịnh. Do vậy có thể biết, tinh thần tu học thật sự trong Phật pháp là phá chấp trước, chấp trước nhiễm. Tuy không chấp trước, đối với hết thảy các pháp, sanh tâm cung kính, chí thành cung kính. Chí thành cung kính, chẳng chấp Không! Trong hết thảy các pháp, chẳng phân biệt, không chấp trước, chẳng chấp Có! Cũng chẳng chấp hai bên Không và Có; đó mới là Trung Đạo, mới là Đệ Nhất Nghĩa, mới hạnh phúc chân thật viên măn, là hưởng th cao nhất trong đời người. Nếu biết hết thảy các pháp Không, hết thảy đều chẳng chấp trước, tâm thanh tịnh, nhưng chẳng có tâm cung kính đối với hết thảy chúng sanh, đó là rớt vào một bên. Rớt vào bên Không bèn là sai lầm, có Th mà chẳng có Dụng, chẳng viên măn! Quư v ch được một nửa. Phàm phu vướng bên Hữu, ch nào cũng chấp trước Có. Nh Thừa chấp Không. Bồ Tát đối với hai bên Có và Không đều chẳng chấp trước, nên Bồ Tát thọ dụng tự tại. Phải biết điều này, trong tự tánh, chẳng lập một pháp”!

      Khi Lục Tổ khai ngộ, đă thưa tŕnh cùng thầy, Ngài ch nói năm câu, thầy bèn nói: “Chẳng cần nói nữa, ta đă biết”. Câu đầu tiên Ngài nói: “Hà kỳ tự tánh, bổn lai thanh tịnh”, câu này ư nói t tánh vốn thanh tịnh, nơi phàm chẳng giảm, nơi thánh không tăng, bất tăng, bất giảm, vốn thanh tịnh. Lại nói: kỳ tự tánh, bổn lai cụ túc”, [nghĩa là t tánh] trọn đủ hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian. Nếu chẳng trọn đủ, s không th biến hiện, t tánh trọn đủ. Tây Phương Cực Lạc thế giới hay không? Đương nhiên có, [tự tánh] trọn đủ mà! Nếu trong tự tánh chẳngTây Phương Cực Lạc thế giới, lấy đâu ra Tây Phương Cực Lạc thế giới? Trong t tánh chẳng có núi, sông, đại địa, đông đảo chúng sanh, lấy đâu ra núi, sông, đại địa, đông đảo chúng sanh? Toàn là do t tánh biến hiện! Trong tự tánh vốn trọn đủ, chẳng có một pháp nào chẳng trọn đủ, tận hư không khắp pháp giới thảy đều bao hàm trong tự tánh. Sau đó, T lại nói: “Hà kỳ tự tánh, năng sanh vạn pháp”, do t tánh trọn đủ, nên gặp duyên liền biến hiện. Hoàn toàn có cùng một ư nghĩa với những điều đang được nói đây!

      “Quang minh, biểu quang”, quang” là trí huệ, “tự tánh vạn pháp lăng nhiên c ( tự tánh vạn pháp rạng ngời). Trí huệ do đâu mà có? Trong t tánh vốn trọn đủ, trí hu chẳng do t bên ngoài mà có. Nói cách khác, toàn là những th trong nhà ḿnh sẵn có, chẳng cần cầu t bên ngoài! lượng vô biên trí huệ đức năng, chỉ cần quư vị khôi phục tự tánh, toàn b đều hiển lộ. Nếu chúng ta hỏi: “Hiển l t tánh như thế nào?” Nếu q vị muốn hiển l tự tánh, đức Phật bảo mấu chốt trọng yếu nhất là Định. Trong pháp môn Niệm Phật, [Định] là nhất tâm, trong Tam Quy là tâm thanh tịnh. Tâm quư vị đă định, Tánh Đức liền hiện tiền, sao? Định ấy là chân tâm, chân tâm là thanh tịnh.

      Trong tâm tồn tại một th ǵ đó, tức là chẳng Định. một th đă là chẳng Định, huống ǵ có vô lượng vô biên? Trong tâm phàm phu là vô lượng vô biên, một niệm sau khởi, niệm trước diệt, ư niệm sanh diệt trong từng sát-na, chẳng có cách nào tính đếm. Nghĩ Đông, tưởng Tây, nghĩ trước, nghĩ sau, nghĩ tới quá khứ, nghĩ tới v lai, nghĩ tới hiện tại, khởi vọng tưởng rối lung tung beng, làm sao đắc Định cho được? V́ vậy, nhất định phải tu Định. Tám vạn bốn ngàn pháp môn trong Phật pháp, nói thật ra là tám vạn bốn ngàn phương pháp khác nhau, các phương pháp ấy nhằm tu ǵ? Đều nhằm tu Định. V́ thế mới nói “pháp môn b́nh đẳng, chẳng có cao thấp”. V́ sao? Phương pháp, đường lối nhiều như thế, nhằm đạt tới cùng một mục đích, mục tiêu hoàn toàn tương đồng! Định có thể sanh ra huệ, t huệ mới hiện tiền. Trí huệ quang minh sanh t tâm thanh tịnh. Do vậy, thanh tịnh nhất định có quang minh.

      Tác dụng của quang minh được hiển th nơi lục căn. Lục căn thông lợi, thông () là thông đạt, chẳng có chướng ngại. Mắt có năng lực thấy, thấy đến tậnkhông khắp pháp giới, có năng lực to như vậy, chẳng có chướng ngại! Đối với hết thảy vật chất, có thể nh́n xuyên qua, chẳng có chướng ngại, nay chúng ta nói là Thiên Nhăn. Đó là bản năng, tức năng lực sẵn có. Thiên Nhĩ, chúng ta ngồi ở nơi đây, Tây Phương Cực Lạc thế giới cách xa chúng ta mười vạn ức cơi Phật, A Di Đà Phật giảng kinh, thuyết pháp bên đó, chúng ta ngồi nơi đây, mắt thấy rơ ràng, tai nghe rơ rệt, đó là Thiên N Thông. Những điều ấy đều là năng lực sẵn có, trong Phật pháp nói tới lục căn th́ lục căn thông lợi” chính là sáu món thần thông. Những năng lực ấy bị mất đi, nguyên nhân căn bản vọng tưởng và chấp trước. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă bảo chúng ta, “chỉ v́ vọng tưởng, chấp trước, nên không thể chứng đắc”, chúng ta đánh mất như thế nào? Do vọng tưởng, chấp trước, nên công đức và trí huệ trong tự tánh thảy đều bị mất đi, nguyên nhân ch này!

      Học Phật chẳng khác, Phật đích xác là chẳng phải cầu t bên ngoài. Phật pháp được gọi là nội học, kinh Phật được gọi là nội kinh, cầu nơi t tánh, cầu trong t tánh. Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ cũng là cầu t t tánh, chẳng phải là cầu pháp ngoài tâm! Niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, lâm chung A Di Đà Phật tiếp dẫn, có phải là cầu pháp ngoài tâm hay không? Không phải. Nếu q vị hiểu lầm cầu pháp ngoài tâm, hăy đọc Di Đà Kinh S Sao, xem có phải là cầu pháp ngoài tâm hay không? thế, so với đại kinh Nhất Thừa Liễu Nghĩa, chẳng có sai khác ǵ! Kinh điển  Nhất Thừa Liễu Nghĩa cầu t trong t tánh, là liễu nghĩa rốt ráo; từng câu từng ch trong kinh Di Đà đều quy vào tự tánh. Tiếp theo đây, Tổ dẫn những câu rất hay trong Phật Địa Luận, nêu lên những chuyện thực tế để thuyết minh.

 

      (Sao) Phật Địa Luận vân: “Như thị giả thật chi sắc, giai bất ly Phật tịnh tâm, tức thử tịnh tâm, năng hiển giả thật chi sắc”.

       () 佛 地 論 云:如 是 假 實 之 色,皆 不 離 佛 淨 心,即 此 淨 心,能 顯 假 實 之 色

       (Sao: Phật Địa Luận viết: “Sắc giả thật như vậy, đều chẳng ĺa tịnh tâm của Phật. Do chính ngay tịnh tâm ấy mà có thể hiện sắc giả và thật”).

 

      Đây là một đoạn dẫn chứng, trích dẫn kinh để chứng minh. Phật Địa Luận một loại kinh luận trong Phật giáo. Vào thời Đông Tấn, pháp sư Đạo An và các v Cưu Ma La Thập đại sư, Huệ Viễn đại sư, Đào Uyên Minh, Tạ Linh Vận đều là người cùng thời. Tôi nêu tên những v này v́ h rất thân thuộc với nhau. Pháp sư Đạo An chia kinh Phật thành ba phần là Tự Phần, Chánh Tông Phần, Lưu Thông Phần, nhưng thuở ấy có rất nhiều người không đồng ư. [H phản đối, bảo] kinh Phật lời dạy của thánh nhân, chẳng th chia thành từng đoạn, làm kiểu đó chính là chẳng cung kính kinh điển của Phật, nên họ chẳng tán thành. Về sau, Phật Địa Luận được truyền đến Trung Quốc, được phiên dịch sang tiếng Hán. Phật Địa Luận chia kinh Phật thành bốn phần, nó có Tự Phần, Lưu Thông Phần, Chánh Tông Phần lại được chia thành hai phần, nên [toàn b bản kinh được chia] thành bốn phần! thế, mọi người đều nói ngài Đạo An đúng là rất lỗi lạc, có kiến giải giống như bậc Bồ Tát của Ấn Độ thời cổ, nên mới xưng tụng Ngài là “di thiên cao phán” (phán định cao ngất trời). Cao lắm! Mọi người đều phục. Khi Phật Địa Luận chưa truyền đến Trung Quốc, mọi người chẳng phục. Đó là kiến giải của các v đại đức tại Trung Quốc chẳng khác kiến giải của các v Bồ Tát tại Ấn Độ thời cổ. Sau đó, [khi chú giải], [toàn b kinh văn của một bộ] kinh đều chia thành ba phần. Đó là cội nguồn của cách Khoa Phán.

      đây, Tổ dẫn một câu nói trong Phật Địa Luận. “Giả thật chi sắc, những ǵ là giả sắc? Những ǵ là thật sắc? Nói theo h́nh trạng, những th dài, ngắn, vuông, tṛn đều là giả, chẳng phải là thật tại. Kinh Kim Cang nói “mộng, huyễn, bọt, bóng”, chúng hay không? Có, nhưng chẳng thật, là giả; đó là giả sắc. sao là giả sắc? chúngtương đối. Ví d như nói [một vật là] dài, nhưng gặp vật dài hơn, nó s biến thành ngắn, chẳng gọi là dài. Quư v nói ngắn, gặp vật ngắn hơn, nó lại biến thành dài. Nói dài th́ nó chẳng phải là tuyệt đối dài. Nói ngắn, chẳng tuyệt đối ngắn. Nói vuông, nó chẳng tuyệt đối vuông. Nói tṛn, nó cũng chẳng phải tuyệt đối tṛn. Những th như vậy đều là giả, do tương đối mà thành lập. Do vậy, nó chẳng phải là nhất định, chẳng phải là một th nhất định. Nói theo màu sắc, xanh, vàng, đỏ, trắng. Xanh s chẳng biến thành vàng, vàng s chẳng biến thành đỏ, màu sắc chẳng thay đổi. Do chẳng thay đổi, nên chúng ta gọi nó là thật. Giả thật”: Gi là bất định, Thật có th xác định. Ví như thân th của chúng ta là thật hay giả? Nói theo tiêu chuẩn này, thân thể của chúng ta là giả, sao?bị biến đổi, mỗi năm một già hơn. Chẳng biến đổi là thật. Biến đổi th́ là giả. Gi và thật dùng tiêu chuẩn này để xét.

      Hai th sắc gi và thật ấy, có th nói trong sáu căn, năm căn đầu đối với giả và thật đều th duyên, Ư Căn ch duyên giả, chẳng duyên chân thật. Ư tưởng tượng, cảm thụ, sở duyên (cái được nó duyên) đều chẳng phải là thật sắc, đều thuộc loại gi sắc. Nói theo cách hiện thời, đối với hết thảy hiện tượng vật chất, trong hiện tượng c thể và trừu tượng. Thật sắc cụ thể, giả sắc trừu tượng. Trọng điểm câu tiếp theo: “Giai bất ly Phật tịnh tâm” (đều chẳng ĺa khỏi tịnh tâm của Phật). Hết thảy các sắc tướng gi thật, những hiện tượng vật chất ấy đều t đâu mà có? Do tâm thanh tịnh biến hiện. Tâm năng biến ( thể biến), hết thảy hiện tượng vật chất sở biến (cái được biến); [hay nói cách khác], tâmcái thể biến, sắccái được biến. Có thể biến th́ chẳng bàn thật hay giả, sao? thật và gi là tương đối. Cái tâm thể biến chẳng phải là tương đối; do vậy, thật và gi đều chẳng áp dụng cho nó được! Đối với cảnh giới được biến hiện, có th nói chân hay giả; c̣n tâm do th biến, nên chẳng th nói là chân hay giả, chẳng chân, chẳng giả.

      “Giả thật chi sắc” thảy đều do cái tâm này biến hiện. V́ thế, tậnkhông khắp pháp giới đều chẳng th rời khỏi cái tâm có th biến.không pháp giới do đâu mà có? Duy tâm sở hiện. Tâm của ai? Tâm của chính ḿnh, do t tánh của quư v hiện. Trong tất cả hết thảy kinh giáo Đại Thừa liễu nghĩa đều nói như vậy. “Tức thử tịnh tâm, năng hiển giả thật chi sắc” (dùng ngay tịnh tâm này bèn th hiển l sắc giả, thật). Tự tánh thanh tịnh tâm có thể hiển lộ sắc gi thật, thể biến, có thể hiển. Tâm có thể biến th́ chẳng thật, chẳng giả.

      Hết thảy các pháp được quy nạp thành hai loại lớn, một loại là tinh thần, loại kia là vật chất. Trong Phật pháp, vật chất dùng Sắc làm đại biểu, tinh thần dùng Tâm làm đại biểu, đó gọi là Sắc Tâm nhị pháp”, tức là hai loại lớn gồm sắc pháp và tâm pháp. Hai th sắc (gi sắc và thật sắc) đều chẳng ĺa tâm thanh tịnh, nghĩa là tất cả hết thảy hiện tượng vật chất tự tánh thanh tịnh tâm một, không hai. Cổ nhân nói đến những ch này, người khác rất khó thấu hiểu, bất đắc dĩ phải dùng t d để nói. Chẳng hạn n Hiền Thủ quốc sư đă nói: “Dùng vàng làm đồ vật, món nào cũng đều là vàng”, sánh ví vàng như tự tánh thanh tịnh tâm, sánh ví các món vật như hai pháp gi và thật, đó là sắc pháp. Chúng ta dùng vàng làm thành nhiều món vật, ngàn vạn các loại kiểu dáng khác nhau. Nh́n t phương diện này, vàng có màu vàng, vàng là thật, chẳng thay đổi, nhưng h́nh dáng của các món vật có th biến đổi. H́nh dạng là giả sắc, màu sắc thật sắc; đó là hai sắc thật và giả. Hai sắc thật và gi đều chẳng ĺa khỏi vàng, toàn là do vàng hiện ra. Hết thảy các món đồ vật đều vàng, vàng chẳng ĺa khỏi đồ vật, đồ vật chẳng ĺa khỏi vàng. Vàng là đồ vật, đồ vật vàng! T d này d hiểu!

      Nếu từ t d này, quư v tỉnh ngộ, nay lục căn của chúng ta tiếp xúc cảnh giới lục trần trước mắt, có pháp nào chẳng phải là tự tánh? Thiền Tông nói minh tâm kiến tánh, h kiến tánh ǵ vậy? Tánh ch nào? Nếu q vị thật sự giác ngộ, hiểu, mắt quư vị thấy hết thảy sắc là tánh, tai nghe hết thảy âm thanh đều là tánh, chẳng có ǵ không phải tự tánh. Tâm và cảnh là một, tâm và cảnh như nhau, tánh - tướng bất nhị, tánh là tâm thanh tịnh của chính ḿnh, tướng là sâm la vạn tượng bên ngoài, là một, không hai, tánh và tướng bất nh mà! Nếu q vị nhập cảnh giới này, liền có th minh tâm kiến tánh. Nói ra cảnh giới ấy, quư vị th tiến nhập hay không? sao quư vị không tiến nhập được? quư vị có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng. Ĺa khỏi hết thảy phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, hết thảy cảnh tánh cảnh, những ư nghĩa đây liền hiển lộ.

      Cổ đức có t d sóng và nước, có ư nghĩa giống như tỷ dụ vàng và đồ vật. Sánh ví nước với tự tánh, sánh ví sóng như sắc gi thật, chúng ta hiểu sóng là nước, nước là sóng! Nước và sóng chẳng một, chẳng khác. V́ thế, mười pháp giới vô lượng trang nghiêm, các th sai biệt, đều là tác dụng của Chân Như tự tánh.

      Ư nghĩa ch yếu của mấy câu này nói rơ: Hết thảy hiện tượng vật chất chân tâm tự tánh của chúng ta. Chân tâm t tánh của chúng ta có th hiển hiện hết thảy vạn pháp, hết thảy hiện tượng, đúng như Lục Tổ đă nói: “Nào ngờ tự tánh có thể sanh ra vạn pháp”. Chư vị phải hiểu thế giới Sa Bà là do uế tâm, tức tâm nhiễm ô của chúng ta biến hiện, Tây Phương Cực Lạc do tâm thanh tịnh của chúng ta biến hiện. Trong tâm chúng ta tịnh, có uế, tâm thanh tịnh bèn cảm ứng Tịnh Độ, chẳng đến mà t nhiên đến. Tâm quư v đă thanh tịnh, tâm tịnh, cơi nước tịnh, t nhiên liền hiện Tịnh Độ. Tâm chẳng thanh tịnh, tự nhiên liền hiện uế độ. thế, tịnh hay uế, cảnh giới bên ngoài nhiễm hay tịnh, do đâu mà có? Do t tánh biến hiện. Nếu muốn cảnh giới bên ngoài thanh tịnh, quư vị chẳng th đổ công dốc sức thanh tịnh bên ngoài, phải làm t ch nào? Đổ công dốc sức nơi nội tâm; tâm tịnh, cơi nước liền thanh tịnh.

      Giống như thế giới hiện thời rất loạn, các v đại chánh tr gia, đại khoa học gia, đại triết học gia nghĩ trọn mọi phương pháp, dùng đủ mọi phương pháp, mong cho thế giới này có th đạt đến ḥa b́nh, an tĩnh, nhưng có làm được hay không? Thưa cùng quư vị, chắc chắn chẳng làm được, càng làm càng loạn! K này nói ch ư này hay, k kia nói ch ư n tốt, càng làm càng loạn. Phương pháp ǵ mới có thể khiến cho thiên hạ thái b́nh? Tâm mỗi người đều khôi phục thanh tịnh, thiên hạ liền thái b́nh. Chân lư được giảng trong Phật pháp, giáo học của Nho gia Khổng Mạnh đều là công phu nơi tâm địa, nên chẳng cầu t bên ngoài. V́ thế, thiên Học [trong sách L Kư] mới đặc biệt nhấn mạnh: “Kiến quốc, quân dân, giáo học vi tiên (xây dựng đất nước, cai tr nhân dân, giáo học làm đầu), dạy điều ǵ? Dạy quư vị khôi phục tự tâm thanh tịnh. Tâm quư vị thanh tịnh, tâm mỗi người đă thanh tịnh, l đâu thiên h chẳng thái b́nh? Tâm thanh tịnh, cảnh giới liền thanh tịnh, tâm có thể chuyển cảnh! Tự nhiên mưa thuận, gió ḥa, quốc thái, dân an, tự nhiên liền đạt được. Đó gọi là “vô vi nhi trị”, hữu vi s chẳng b́nh trị, thiên hạ đại loạn. Hiện thời, ai nấy đều rất thông minh, đều có một loạt biện pháp riêng, các thứ biện pháp ấy là các biện pháp nhiễu loạn khiến cho thiên hạ đại loạn. Thật sự muốn đạt tới thiên hạ thái b́nh, chẳng cần tới biện pháp nào cả, thiên h bèn thái b́nh, vô sự. Quư v hăy suy nghĩ đạo lư này cặn k một chút, chẳng khó hiểu đâu! Hôm nay đă hết thời gian rồi.

 

Tập 150

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm mười chín:

 

      (Sao) Cố kinh vân: “Thanh sắc, thanh quang, hoàng sắc, hoàng quang” đẳng, thị quang sắc bất nhị, Tịch Chiếu song dung dă.

      () 故 經 云:青 色 青 光,黃 色 黃 光 等,是 光 色 不 二,寂 照 雙 融 也。

      (Sao: V́ thế, kinh nói “sắc xanh, ánh sáng xanh; sắc vàng, ánh sáng vàng” v.v… chính là nói quang minh và màu sắc bất nhị, Tịch và Chiếu cùng viên dung).

 

      Kế đó là phần tổng kết, nhằm quy kết vào kinh này. “Thanh sắc, thanh quang”, thanh sắc là thật sắc, thanh quang là giả sắc. Giả sắc và thật sắc đều chẳng ĺa tâm thanh tịnh, trong kinh nói là “quang sắc bất nhị”, tức là ư nghĩa t tánh Tịch - Chiếu song dung”. C̣n có một cách giải thích khác, trong màu xanh có ánh sáng xanh, màu trắng có ánh sáng trắng, quang sắc bất nhị, Tịch Chiếu song dung, tức là nói quang ư nghĩa Chiếu, sắcư nghĩa Tịch. Quang minh và màu sắc của hoa bất nhị, cũng nhằm hiển th Tánh Th Tịch - Chiếu cùng viên dung. Dưới đây là lời giải thích rất tường tận.

 

      (Sao) Hựu tự tánh tịch, thị hoa hợp nghĩa. Tự tánh chiếu, thị hoa khai nghĩa.

  () 又 自 性 寂,是 華 合 義;自 性 照,是 華 開 義。

      (Sao: Lại nữa, t tánh tịch ư nghĩa hoa cụp lại. T tánh chiếu là ư nghĩa hoa nở).

 

      Đây là nói tới hoa sen khép lại hay x̣e nở. Trong t tánh bao hàm vạn đức, Lục Tổ đại sư nói vốn sẵn trọn đủ”, lượng nghĩa lư, vô biên sắc tướng, t tánh thảy đều trọn đủ. Trong Phật pháp, vô lượng vô biên được quy nạp lại th́ chẳng ngoài Th và Dụng. Tịch là nói đến Thể, Thể là thanh tịnh, tịch diệt. Nói Chiếu là nói tới tác dụng của nó. Nói Sắc th́ Sắc cũng nhằm t d bản th của t tánh. Nói Quang là nói tới tác dụng Chiếu của nó. Bất luận nói như thế nào, nếu quư vị hiểu đạo lư này, quy nạp chúng lại th́ một đằng là nói theo Thể, một đằng là nói theo Dụng. Vạn pháp trong vũ trụ, vô lượng vô biên Thể, Dụng, rốt ráo do đâu mà có? Chúng ta hiểu rơ, toàn là do tự tánh biến hiện. Sau khi hiểu đạo lư này, mục đích học Phật của chúng ta là muốn kiến tánh. Tánh Đức không thể hiện tiền; nói cách khác, Tánh Đức có vô biên diệu dụng, nhưng chúng ta làm thế nào cũng chẳng đạt được, dùng phương pháp cũng đều chẳng học được!

      Người trong thế gian hiện thời, bất luận người Trung Hoa hay ngoại quốc đều rất thích thần thông, thần thông là tác dụng. Thần thông có thể học được hay không? Thưa chư vị, chẳng học được! Nhưng có người học liền có [thần thông]. Thần thông là có, v́ sao nói là “chẳng học được”? Tôi bảo quư vị, h quư v học th́ sẽ học chẳng được! Nếu quư v học liền đắc thần thông th́ sẽ phiền phức to lớn. Thần thông do đâu mà có? Yêu ma quỷ quái dựa vào thân quư v để hiển lộ, sức thần thông ấy chẳng phải của chính quư vị, mà là của k khác. Chư vị đọc k kinh Lăng Nghiêm sẽ hiểu. Kinh Lăng Nghiêm nói năm mươi thứ Ấm Ma. Tâm quư v ưa chuộng thần thông, s kết hợp với bản lănh của yêu ma, qu quái [tạo thành thần thông, nhưng quư vị chẳng biết], quư vị lại ưa chuộng, hoan hỷ. Nói cách khác, rất d b ma gạt gẫm. Ma có th nh vào thân th của quư v để hiện một chút thần thông, quư vị đắc ư, ma cũng đắc ư! Nhưng ngày nào đó, nếu ma rời khỏi thân quư vị, năng lực ấy hoàn toàn b mất đi. Tôi tin tưởng các đồng tu đă đọc k kinh Lăng Nghiêm, hiểu khá rơ chuyện này. Rốt cuộc thần thông do đâu mà có? Thưa cùng chư vị, từ trong tâm thanh tịnh mà có. Sáu th thần thông là bản năng (năng lực sẵn có) của chúng ta, chẳng có một chút hiếm hoi, l lùng nào, chúng là những th phải nên có! Hiện thời, những năng lực ấy b mất đi, chẳng có, là do nguyên nhân ǵ? Do tâm q vị chẳng thanh tịnh. Do vậy, học Phật học ǵ? Khôi phục tâm thanh tịnh mà thôi. Tịch là trọng yếu!

      Trong các đồng tu chúng ta, cũng có một số người học giảng kinh. Q vị lên đài giảng kinh, giảng đến mức hoa trời rơi l tả, đó là Chiếu! sao q v th giảng? Tâm nhất định phải tịch, tâm địa đạt đến mức thanh tịnh tịch diệt, liền tương ứng với tâm Phật. Tâm Phật tâm thanh tịnh tịch diệt, tâm quư v cũng là tâm thanh tịnh tịch diệt, quư v và Phật tâm tâm tương ấn”. Những kinh do đức Phật đă giảng, quư vị vừa nh́n vào liền hiểu, sao? Giống hệt như từng th hiển hiện trong tâm của chính ḿnh, chẳng hai, chẳng khác. V́ thế, t xưa tới nay, các t sư đại đức hoằng pháp lợi sanh chẳng có một vị nào tâm không thanh tịnh. Trước đây, giảng đại ṭa, m đầu là hương tán, sau đó là tụng kinh, rồi hô chúng sanh kệ, rồi lại niệm Phật, rồi niệm k khai kinh, gần như là mất t nửa gi đến bốn mươi phút, trong lúc ấy, pháp sư giảng kinh trên giảng đài làm ǵ? Nhập định! Tâm đă định, do nhập Định, đă định rồi th́ mới có thể quán sát căn cơ, mới có th tương ứng. Hiện thời, do mọi người chẳng muốn lăng phí nhiều thời gian như thế, nên đơn giản hóa nghi thức, ch niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ba lần xong bèn niệm kệ Khai Kinh [rồi bắt đầu giảng kinh].

      vậy, Tịch Chiếu vô cùng trọng yếu, ngàn muôn phần chẳng th coi nhẹ! Tuy nay chúng ta là k thuộc lứa tuổi trung niên tr lên mới học Phật, đối với những chữ này, chớ nên chẳng coi trọng. Nếu quư vị chẳng coi trọng, nói cách khác, phiền năo chẳng th giảm bớt, niệm Phật không thể đắc nhất tâm. Đừng nói là đắc nhất tâm, công phu thành phiến cũng chẳng đạt được, vấn đề này hết sức nghiêm trọng. Công phu chân chánh, chính ḿnh năng lực liễu sanh tử, thoát tam giới, thể giúp đỡ người khác. Học Phật có thành tựu toàn do công phu định lực của chính ḿnh, nên tôi hy vọng mọi người hăy đặc biệt chú ư chuyện này. Tâm bất định, tâm chẳng thanh tịnh, sẽ chẳng khởi tác dụng.

 

      (Sao) Tự tánh cụ túc nhất thiết thiện pháp, thị vi diệu hương khiết nghĩa.

      () 自 性 具 足 一 切 善 法,是 微 妙 香 潔 義。

      (Sao: Tự tánh trọn đủ hết thảy thiện pháp là ư nghĩa vi diệu hương khiết).

 

      T t