A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 77
http://new.amtb-aus.org/Item/5309.aspx
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang Lộc
và Đức Phong
Tập
153
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm hai mươi tám.
Đây là quyển thứ ba của bộ Sớ Sao Diễn Nghĩa. Hôm nay chúng ta bắt đầu dùng bản mới. Trong bản này, Sớ Sao và Diễn Nghĩa được ghép chung lại. Kinh bổn này hết sức khó có! Văn bản do chúng ta sử dụng trong quá khứ đă tách rời Sớ Sao và Diễn Nghĩa [thành hai bản], nên phải xem bằng cách đối chiếu hai bản, khá bất tiện, mà cũng dễ bỏ sót. In [gộp chung] thành hội bổn, có ích rất lớn cho sự tu học. Đây là bản sau khi tu chỉnh lần thứ hai lại ấn hành lần nữa. Chúng tôi tin tưởng phần lớn các chữ bị sai đă được
sửa chữa, có thể lưu thông bản này sẽ có ích rất lớn cho sự tu học và hoằng dương Tịnh Tông. Từ hôm nay trở đi, chúng ta bắt đầu dùng bản mới này.
Tam, thiên nhạc vũ hoa.
三、天樂雨華。
(Ba, nhạc trời, mưa hoa).
Chúng ta xem đoạn thứ nhất:
Sơ, thiên nhạc.
初、天樂。
(Thứ nhất, nhạc
trời).
“Kinh” là kinh văn, “Sớ” là chú giải kinh, “Sao”
là chú giải của chú giải (chú giải lời Sớ), “Diễn Nghĩa” là tầng chú giải thứ ba (tức chú giải lời Sao). [Đối với mỗi phần, trong bản in mới này] chúng tôi đều dùng ô vuông [bao quanh những chữ Kinh, Sớ, Sao, Diễn] để chỉ rơ.
(Kinh) Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ
Phật quốc độ, thường tác thiên nhạc.
(經) 又 舍 利 弗。彼 佛 國
土。常 作 天 樂。
(Kinh: Lại
này Xá Lợi Phất! Cơi Phật ấy thường
tấu nhạc trời).
Kinh văn của kinh Di Đà ngắn ngủi, nhưng nội dung trọn chẳng kém kinh Vô Lượng
Thọ. Liên Tŕ đại sư nói kinh Vô
Lượng Thọ là Đại Bổn của kinh này, gọi kinh Di Đà là Tiểu Bổn. Văn tự nhiều hay ít khác nhau, nhưng nói theo phương diện nghĩa lư, chẳng có sai biệt. Chúng ta xem phần chú giải câu kinh văn này.
(Sớ) Thượng tự bảo tŕ, thử
đàm kim địa chi thượng, hoa nhạc giao huy dă.
(疏) 上 敘 寶 池,此 談 金
地 之 上,華 樂 交 輝 也。
(Sớ: Phần trước là trần thuật ao báu,
ở đây nói trên đất vàng, hoa và nhạc giao xen
rạng ngời).
“Thượng”
là phía trước. Ở phía trước đă nói về sự trang nghiêm nơi ao bảy báu và đức thủy (nước tám công đức) trong ao báu của Tây Phương
Cực Lạc thế giới. Đoạn kinh
văn này nói đến những sự trang nghiêm trên mặt đất trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Kim địa chi thượng,
hoa nhạc giao huy” (trên đất vàng, hoa và nhạc giao xen rạng ngời), “hoa” là thiên hoa, “nhạc” là thiên nhạc.
(Sớ) Thiên nhạc giả, dị thế
nhạc cố. “Thường tác” giả, vô gián yết
cố. (疏) 天 樂 者,異 世 樂 故。常
作 者,無 間 歇 故。
(Sớ: “Thiên
nhạc” khác với nhạc thế gian, “thường tấu” là chẳng gián đoạn, ngưng dứt).
Dưới đây có chú giải mấy câu này.
(Sao) Dị thế nhạc giả.
(鈔) 異 世 樂 者。
(Sao: Khác
với nhạc thế gian).
“Dị” (異) là bất đồng, âm nhạc của Tây Phương Cực Lạc thế giới khác với thế gian này. Rốt cuộc là khác nhau như thế nào? Đại sư dẫn chứng kinh điển để giảng rơ, có thể thấy Ngài nói một câu “dị thế nhạc” chẳng phải là nói tùy tiện.
(Sao) Đại
Bổn vân.
(鈔) 大 本
云。
(Sao: Kinh
Đại Bổn nói).
“Đại
Bổn” là kinh Vô Lượng
Thọ.
(Sao) Đệ nhất Tứ Thiên Vương Thiên.
(鈔) 第 一
四 天 王 天。
(Sao: Tầng
thứ nhất là trời Tứ Thiên Vương).
Từ thế giới này đi lên, tầng trời thứ nhất là Tứ [Thiên] Vương Thiên, [tức cơi trời của] Tứ Đại Thiên Vương. Tứ Thiên Vương là Đông, Nam, Tây, Bắc, ở giữa là núi Tu Di (Sumeru). Phương Đông là Tŕ Quốc Thiên Vương (Dhṛtarāṣṭra), tay cầm
đàn tỳ bà. Phương Nam là Tăng Trưởng Thiên
Vương (Virūḍhaka), tay cầm bảo kiếm. Phương Tây là Quảng Mục Thiên Vương (Virūpākṣa), tay cầm một con rắn. Phương Bắc là Đa Văn Thiên Vương (Vaiśravaṇa), tay cầm một cái tán. Sắp xếp theo thứ tự thuận, người Hoa sẽ nói là “phong
điều vũ thuận”, bảo kiếm sanh Phong, tỳ bà Điều huyền (điều ḥa dây đàn), tán che mưa (Vũ), loài tiểu động vật trên tay là Thuận tùng.
(Sao) Cập chư thiên nhân, bách thiên
hương hoa, bách thiên âm nhạc, dĩ cúng dường Phật, cập
chư Bồ Tát, Thanh Văn chi chúng.
(鈔) 及 諸
天 人,百 千 香 華,百 千
音 樂,以 供 養 佛,及 諸
菩 薩 聲 聞 之 眾。
(Sao: Và các
vị trời, dùng trăm ngàn thứ hương hoa,
trăm ngàn loại âm nhạc, cúng dường Phật, và
các vị Bồ Tát, Thanh Văn).
Nói rơ Tứ Vương Thiên cúng dường đạo tràng của Phật, Bồ Tát bằng “hương hoa” và “âm
nhạc”. Đương
nhiên là hương hoa và âm nhạc của Tứ Vương Thiên thù thắng hơn nhân gian rất nhiều. V́ sao biết là thù thắng? Chúng ta nh́n từ chỗ nông cạn và gần gũi nhất, nơi thế gian này, hương hoa trong nhà người phú quư chẳng giống hương hoa
trong nhà kẻ nghèo khó, tôi nghĩ chư vị có thể lănh hội điều này. Phước báo của Tứ Vương Thiên lớn hơn nhân gian chúng ta. Đừng nói chi khác, lấy thọ mạng để nói, một ngày trên Tứ Vương Thiên bằng năm mươi năm trong nhân gian chúng ta. Họ có thọ mạng là năm trăm năm, một ngày bằng năm mươi năm trong nhân gian, cũng coi như một năm là ba trăm sáu mươi ngày, họ lại thọ năm trăm năm, nhân gian chúng ta chẳng có cách nào sánh bằng! Phước báo của họ to hơn chúng ta rất nhiều, đương
nhiên thọ dụng thù thắng hơn chúng ta rất nhiều! Họ là thần hộ pháp của Phật. Khi Phật, Bồ Tát giảng kinh, thuyết pháp, họ đều đến nghe. Đến nghe, đương nhiên là trước đó phải cúng Phật, cúng Bồ Tát. Thanh Văn là A La Hán, họ cũng phải cúng dường, những vị ấy đều là thánh nhân.
(Sao) Ư thị đệ nhị Đao
Lợi Thiên Vương, Dục Giới chư thiên, dĩ
chí đệ thất Phạm Thiên, nhất thiết chư
thiên, hương hoa âm nhạc, chuyển tương
bội thắng.
(鈔) 於 是 第 二 忉 利 天 王,欲
界 諸 天,以 至 第 七 梵 天,一
切 諸 天,香 華 音 樂,轉
相 倍 勝。
(Sao: Kế tiếp
là tầng trời thứ hai là Đao Lợi Thiên
Vương, chư thiên trong Dục Giới, cho đến
tầng trời thứ bảy là Phạm Thiên, hết
thảy chư thiên, hương, hoa, âm nhạc càng lên cao càng thù thắng gấp
bội).
Càng lên cao, phước báo của chư thiên càng to. Đao Lợi Thiên là tầng trời thứ hai. Người Hoa gọi Đao Lợi Thiên Chúa là Ngọc Hoàng Đại Đế, rất nhiều tôn giáo gọi ông ta là Thượng
Đế. Phước báo trong tầng trời này to gấp đôi Tứ Vương Thiên, thọ mạng cũng dài. Một ngày trong Đao Lợi Thiên bằng một trăm năm trong nhân gian chúng ta, họ thọ một ngàn năm. Nay chúng ta thấy những con số này cũng là con số thiên văn. Phước báo đương nhiên vượt trỗi Tứ Vương Thiên rất nhiều. Lên cao hơn c̣n có Dạ Ma Thiên, Đâu Suất
Thiên, Hóa Lạc Thiên, và Tha Hóa Tự Tại Thiên. Câu “Dục Giới chư thiên” đă bao gồm trọn vẹn [những tầng trời ấy]. “Dĩ chí
đệ thất Phạm Thiên” (cho đến tầng trời thứ bảy là Phạm Thiên). Tầng trời thứ bảy là Sơ Thiền trong Sắc Giới, tức là Đại Phạm Vương Thiên, vượt khỏi Dục Giới vào Vô Sắc Giới. “Nhất thiết chư thiên”
(hết thảy chư thiên) là nói từ Sắc Giới trở lên. Sắc Giới gồm Tứ Thiền, có mười tám tầng trời. Ở đây, không nói tới Vô Sắc Giới, chỉ nói Sắc Giới, v́ sao? Nó có h́nh sắc, chúng ta có thể trông thấy. [Đoạn kinh
văn này] nói rơ chư thiên trong các cơi trời từ Tứ Thiền trở xuống, thảy đều cúng Phật, cúng dường Bồ Tát, cúng dường các vị A La Hán.
(Sao) Hựu vân: “Diệc hữu tự nhiên
vạn chủng kỹ nhạc, vô phi pháp âm, thanh
sướng ai lượng (liêu lượng), vi diệu ḥa
nhă, nhất thiết âm thanh, sở bất năng cập.
(鈔)
又 云:亦 有 自 然 萬
種 伎 樂,無 非 法 音,清
暢 哀 亮(嘹 亮),微 妙
和 雅,一 切 音 聲,所 不
能 及。
(Sao: Lại nói: “Cũng có vạn thứ kỹ nhạc tự nhiên, không ǵ chẳng phải là pháp âm, trong trẻo, du dương, êm ái, réo rắt (rơ ràng), vi diệu ḥa nhă, hết thảy các âm thanh khác đều chẳng thể bằng”).
Đoạn này nói về âm nhạc tự nhiên. Trong phần trước là chư thiên cúng dường; trong đoạn này [âm nhạc] là “tự nhiên có”, chẳng do chư thiên cúng dường. Điều này hết sức kỳ diệu, v́ sao tự nhiên có? Thật vậy, chẳng giả. Chư vị niệm Phật đă có công phu kha khá, khi chẳng niệm, vẫn nghe tiếng Phật hiệu. Đó gọi là “thiên nhạc”, thiên nhạc chưa chắc đă do chư thiên cúng dường, có khi là tự nhiên. Tự nhiên từ đâu sanh ra?
Thưa cùng chư vị, từ trong Pháp Tánh lưu lộ. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ đại sư đă nói rất hay: “Nào
ngờ tự tánh vốn tự trọn
đủ”, hương, hoa, âm nhạc đều vốn trọn đủ trong tự tánh của chúng ta.
Tu hành là tu ǵ? Tu hành phải chú ư những ǵ? Điều này vô cùng quan trọng. Chúng ta thấy hiện nay có bao nhiêu người học Phật, học suốt một đời, chẳng phải là họ không tinh tấn, họ thật sự tinh tấn, nhưng học suốt một đời chẳng thành tựu một điều
ǵ! Đúng là hết sức đáng tiếc. Đó là do chẳng hiểu đạo lư, chẳng hiểu phương pháp, dùng sai công phu!
(Sao) Quán Kinh vân: “Vô lượng chư thiên, tác thiên
kỹ nhạc. Hựu hữu nhạc khí huyền xử
hư không, như thiên bảo tràng, bất cổ tự
minh”.
(鈔) 觀 經 云:無 量 諸 天,作
天 伎 樂。又 有 樂 器 懸 處
虛 空,如 天 寶 幢,不 鼓
自 鳴。
(Sao: Quán Kinh
chép: “Vô lượng chư thiên, tấu kỹ nhạc cơi trời.
Lại có các thứ nhạc khí treo lơ lửng trên không,
như tràng báu cơi trời, chẳng ai tấu mà tự phát ra âm thanh”).
Câu “vô
lượng chư thiên” bao gồm Dục Giới và Sắc Giới. Đoạn này và nửa đoạn sau nói về cùng một chuyện, tức là âm nhạc tự nhiên trong hư không. Có thể thấy khi đức Phật giảng kinh, thường nói đến chuyện này. Có thể thấy đức Phật không chỉ nói đến chuyện này trong một pháp hội, mà thường tuyên thuyết trong nhiều pháp hội, bất quá Liên Tŕ đại sư nêu đại lược hai bộ kinh mà thôi. Đoạn kế tiếp là kết luận.
(Sao) Dĩ thị thiên nhân sở tác chi
nhạc, phi nhân gian sở hữu, cố vân “dị thế nhạc” dă.
(鈔) 以 是
天 人 所 作 之 樂,非 人 間
所 有,故 云 異 世 樂 也。
(Sao: Do là loại
nhạc của chư thiên tấu lên, nên trong nhân
gian chẳng có, v́ thế nói là “khác với nhạc
thế gian”).
Đây là nói [âm nhạc cơi trời] chẳng giống âm nhạc trong thế gian.
(Sao) Vô gián yết giả.
(鈔) 無 間 歇 者。
(Sao: Chẳng
gián đoạn, ngưng dứt).
Đây là thường tấu. “Vô gián yết” là thiên nhạc chẳng hề gián đoạn.
(Sao) Thế nhạc tu nhân, hữu
tác, hữu chuyết.
(鈔) 世 樂
須 人,有 作 有 輟。
(Sao: Nhạc
thế gian cần phải có người [tấu nhạc],
có lúc tấu, có lúc ngưng).
Âm nhạc thế gian cần phải có người diễn tấu. Khi quư vị tấu nhạc th́ có tiếng nhạc; khi không tấu, tiếng nhạc bèn gián đoạn. Nói rơ [nhạc thế gian] có gián đoạn.
(Sao) Thiên nhạc tự minh, cố vân
“thường tác” dă.
(鈔) 天 樂
自 鳴,故 云 常 作 也。
(Sao: Nhạc trời tự
trỗi, nên nói là “thường tấu”).
Thiên nhạc chẳng gián đoạn, ngày đêm cũng chẳng gián đoạn. Nếu chúng ta có Thiên Nhĩ Thông, bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào, quư vị muốn nghe, đều có thể nghe thấy; nhưng mọi người chớ nên khởi lên ư niệm “ta muốn đắc thần thông”. Mong đắc thần thông chẳng
phải là không đạt được,
nhưng sau khi đạt được,
sẽ bị rắc rối, có những tác dụng
phụ, tuyệt đối chẳng
phải là chuyện tốt đẹp. V́ thế, người học Phật hăy nên thật thà niệm Phật, đừng cầu thần thông, mà cũng chẳng cần phải cầu cảm ứng.
(Sao) Kim nhân niệm Phật, lâm chung chi
nhật, thiên nhạc nghênh không, chánh duy Tịnh Độ
thường tác thiên nhạc cố.
(鈔) 今 人
念 佛,臨 終 之 日,天 樂
迎 空,正 唯 淨 土 常 作 天
樂 故。
(Sao: Nay người niệm Phật, nhằm ngày lâm chung, thiên nhạc vang rền hư không, đó chính là v́ Tịnh
Độ thường tấu nhạc trời vậy).
Đây là nói trong thế giới này, có nhiều người niệm Phật khi văng sanh có thụy
tướng ấy, trên không trung trỗi âm nhạc. Không chỉ người văng sanh nghe thấy, mà người trợ niệm bên cạnh, thậm chí chẳng
phải là người trợ niệm, những người ở gần đó đều có thể nghe thấy. Do vậy có thể biết, chuyện này là thật, chẳng giả. Lần này tôi ở Mỹ, đến Dallas. Ở Washington DC, có một vị đồng tu lâu
năm là cư sĩ Cung Chấn Hoa, ông Cung là một người niệm Phật kiền thành nhất, cũng chuyên niệm kinh Vô Lượng Thọ, chuyên niệm A Di Đà Phật. Trong nhà ông ta có Phật
đường, Phật đường ấy rất lớn; hai vợ chồng đều học Phật, chuyên tu, chuyên hoằng, hết sức
khó có! Ông ta gọi điện thoại kể cho tôi nghe chuyện vừa mới xảy ra gần đây nhất. Ở DC có tiên sinh Châu Quảng Đại là chủ tiệm bánh ḿ. Ông Châu bị ung thư gan, bệnh ấy hết sức đau đớn, suốt đời chẳng nghe Phật pháp, chưa hề tiếp xúc Phật giáo. Đến lúc sắp lâm chung, bác sĩ đă ngừng trị liệu, chẳng có cách nào chữa trị. Khi ấy, vợ ông ta rất lo lắng, đi khắp nơi lạy thần cầu cảm ứng v́ thấy chồng đau đớn dường ấy! Vợ ông Cung Chấn Hoa mở quán cơm tại Hoa Thịnh Đốn, nói chung, thường đến chỗ họ mua bánh ḿ, rất thân thiết với bà Châu. Bà Châu liền đem t́nh h́nh bệnh tật của chồng kể cho bà Cung biết, hỏi bà Cung có cách nào cứu chữa hay không. Bà Cung về nhà kể chuyện với Cung cư sĩ, bảo Cung cư sĩ hăy đến thăm.
Ông Cung Chấn Hoa cũng rất sốt sắng, đến thăm một phen. Sau khi trông thấy [t́nh trạng bệnh nhân], ông ta nghĩ thầm: “Căn bệnh này chẳng thể nào lành được”. [Đối với chuyện] cầu Phật, cầu Quán Âm Bồ Tát gia hộ cho ông Châu lành bệnh, Cung cư sĩ nói chẳng thể nào có chuyện ấy được.
Ông ta liền rành rẽ khuyên ông Châu Quảng Đại: “Chớ nên cầu lành bệnh, hăy cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Ông sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới làm Bồ Tát, làm Phật, sau đó, lại quay
trở lại đây độ vợ ông, độ con cái, người nhà quyến thuộc của ông. Đấy chẳng phải là chuyện tốt lành ư?” Tiên sinh Châu Quảng
Đại vừa nghe liền tiếp nhận, rất khó! Rất chẳng dễ dàng! Cả đời chưa hề nghe Phật pháp, vừa nghe người ta khuyên cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, ông ta không chỉ chẳng tức giận, mà rất hoan hỷ tiếp nhận, bảo vợ và con cái niệm A Di Đà Phật giúp ông ta sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, bắt đầu niệm Phật, phát nguyện cầu văng sanh.
Ông Cung Chấn Hoa trợ niệm cho ông ta, mặt khác báo tin cho hội Phật giáo DC, tức là Hoa Phủ Phật Giáo Hội, có mười mấy vị đồng tu
thay phiên nhau tới trợ niệm. Niệm đến ngày hôm sau, niệm cảm được Địa
Tạng Bồ Tát hiện tới, Cung cư sĩ liền bảo ông ta: “Bất
luận Phật, Bồ Tát nào đến, đều
chớ đi theo, vẫn nhất tâm niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh
Độ”. Câu khai thị ấy vô cùng trọng yếu, mấu chốt ở đó. Tôi chẳng ngờ ông Cung Chấn Hoa có bản lănh ấy; đó cũng là Phật, Bồ Tát cảm ứng. Ông ta nói: “Điều
ǵ chúng ta cũng không cầu, chỉ cầu A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương”. Niệm đến ngày thứ ba, A Di Đà Phật tới, Tây Phương Tam Thánh, Quán Âm, Thế Chí, A Di Đà Phật từ trên mây giáng xuống tiếp dẫn, bọn họ mười mấy người
đều trông thấy. Lại nữa, kể từ lúc Châu cư sĩ phát tâm niệm Phật, chẳng c̣n đau khổ, điều này rất chẳng thể
nghĩ bàn! Đến cuối cùng, khi ra đi, ông ta niệm mấy chục câu Phật hiệu, trung khí[1] vẹn mười. Cung cư sĩ kể ông Châu nằm trên giường, niệm Phật trong pḥng ngủ, ở ngoài đường
c̣n nghe tiếng.
V́ vậy, ông Cung gọi điện thoại cho tôi, kể:
- “Hoặc
từ một ngày cho đến bảy ngày”, trước đây, con thấy sách viết như vậy, chẳng ngờ tại Washington
trông thấy thụy tướng ấy, [niệm Phật] ba ngày mà thôi!
Ba ngày niệm Phật, nói thật ra, hoàn toàn tương ứng với kinh Vô Lượng Thọ đă dạy: “Phát Bồ Đề tâm, một mực chuyên niệm”. Ư niệm phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ của ông ta là Vô Thượng Bồ
Đề tâm, ba ngày ba đêm chẳng gián đoạn. Từ lúc mới phát tâm cho đến khi văng sanh, Phật hiệu chẳng gián đoạn, một mực chuyên niệm, ông ta đă làm được. Tại DC c̣n có chẳng ít người học Mật, thấy t́nh h́nh ấy, nay đă khăng khăng một mực niệm A Di Đà Phật, thật sự chính mắt trông thấy mà! V́ lẽ đó, chuyện này chẳng giả, chúng ta phải nghiêm túc, phải nỗ lực, v́ lúc lâm chung thấy thiên hoa, thiên nhạc, Phật, Bồ
Tát đến tiếp dẫn, hoàn toàn tương ứng với những điều
kinh đă nói, hoàn toàn giống hệt. Duyên quá tốt đẹp, ông ta trọn đủ ba duyên sau đây:
- Duyên thứ nhất là khi lâm chung, thần trí sáng suốt; tuy rất đau khổ, nhưng chẳng mê hoặc.
- Thứ hai là gặp thiện tri thức, vừa được chỉ dạy, liền lập tức tiếp nhận, liền thật sự niệm.
- [Điều thứ ba là nhất tâm nhất ư chuyên niệm].
Trọn đủ ba điều kiện ấy, kinh dạy “bảy ngày văng sanh”. Chẳng ngờ trong thời đại này, trong một xă hội như vậy, chúng ta vẫn c̣n thấy sự thật này!
Đoạn tiếp theo là Xứng Lư, cũng là “tiêu quy
tự tánh” như trong Phật môn thường nói. Cổ nhân thường nói “xem kinh phải biết tiêu quy tự tánh”. Cách tiêu quy như thế nào? Đoạn này là tiêu quy tự tánh, Liên Tŕ đại sư đă nói rơ cho chúng ta biết. Nếu chẳng nói ra, bản thân chúng ta cũng có thể xứng lư như vậy, quư vị cũng sẽ được thọ dụng rất lớn.
(Sớ) Xứng
Lư, tắc tự tánh vạn đức ḥa dung, thị thiên
nhạc nghĩa.
(疏) 稱 理,則 自 性 萬 德
和 融,是 天 樂 義。
(Sớ: Xứng
Lư th́ vạn đức ḥa hợp, dung
nhập trong tự tánh chính là ư nghĩa của thiên
nhạc).
Trừ chư thiên cúng dường
thiên nhạc ra, c̣n có âm nhạc tự nhiên. Âm nhạc tự nhiên là thứ vốn sẵn có trong bổn tánh, sẵn có như thế nào? Do “Tánh Đức ḥa dung” nên tự nhiên có âm nhạc.
(Diễn) Nhạc khả dĩ dưỡng nhân
chi tánh t́nh, nhi đăng địch kỳ tà uế, tiêu dung
kỳ tra chỉ, thị hữu ḥa dung chi nghĩa.
(演) 樂 可
以 養 人 之 性 情,而 蕩 滌
其 邪 穢,消 融 其 渣 滓,是
有 和 融 之 義。
(Diễn: Nhạc có
thể di dưỡng tánh t́nh của con người,
gột rửa tà uế, tiêu tan những cặn bă, nên có ư
nghĩa “ḥa dung”).
“Nhạc” là một phương pháp giáo dục cao thượng, trong Phật môn gọi là “thiện xảo phương tiện”. Nói theo
cách hiện thời, nhạc là một kỹ xảo giáo dục. Trong xă hội cổ xưa của Trung Quốc, phương pháp giáo học của Khổng lăo phu tử đă chú trọng lễ nhạc. Lễ nhằm “điều thân”, nhất cử nhất động nơi thân chúng ta phải phù hợp lễ tiết. Nhạc nhằm “điều
tâm”, nhằm dưỡng tánh t́nh. Trong lúc tâm t́nh chúng ta phiền bực, xáo động, hát một bài, tâm bèn b́nh lặng, an tĩnh. V́ thế, nhạc nhằm dưỡng tâm, dưỡng tánh t́nh. Có thể điều ḥa tốt đẹp hai thứ ấy, phẩm cách con người tự nhiên thăng hoa, trong
Phật môn nói là “siêu phàm nhập thánh”, trong giáo học Nho gia gọi là “biến hóa khí chất”. Có thể thấy nhạc giáo (giáo dục bằng âm nhạc) hết sức trọng yếu.
Thế gian hiện thời là đời loạn, lễ và nhạc đều chẳng có. Trước kia,
nhạc là dưỡng tâm, quư vị nghe âm nhạc hiện thời chỉ sợ tâm chẳng động, đáng sợ quá! Nghe âm nhạc trong Phật môn so ra vẫn tốt hơn bất cứ loại nhạc nào, nhưng nhạc chương[2] hiện thời trong Phật môn, những loại phạm bái, tán tụng có thể nói là chẳng bằng trước kia, càng xướng càng lạc điệu! Nguyên nhân ở chỗ nào? Người tu hành hiện thời chỉ tu bề ngoài, chẳng tu tâm. Nếu tâm thanh tịnh, tự nhiên sẽ phù hợp nhạc chương. Tâm người hiện thời
chẳng thanh tịnh, những kẻ b́nh phàm chẳng học Phật trong xă hội lại càng chẳng cần phải nói nữa. Do vậy có thể biết tầm trọng yếu của nhạc giáo.
(Sao) Tự tánh như thật không, tắc
bất lập nhất trần; như thật bất không, tắc giao
la vạn đức.
(鈔)
自 性 如 實 空,則 不
立 一 塵,如 實 不 空,則
交 羅 萬 德。
(Sao: Tự tánh là như thật
Không nên chẳng lập mảy trần, tự tánh là như
thật bất không nên muôn đức giao xen).
Bốn câu này có ư nghĩa rất sâu, hết sức trọng yếu. Trong sách Diễn Nghĩa
có chú giải Không và Bất Không là một, tuyệt đối chẳng
phải là chia làm hai chuyện. Nếu chúng ta coi nó như hai chuyện, quư vị chẳng có cách nào lănh hội chân nghĩa ở đây. Bài kệ Khai Kinh có câu: “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”. V́ sao nói là một chuyện? Do nói tới Thể và Dụng của tâm. Bản thể của chân tâm là Không, Lục Tổ đă nói: “Vốn chẳng có một vật”. Chẳng có một vật là Không! Tuy chẳng có một vật, nó có thể khởi tác dụng, biến hiện sâm la vạn tượng, nên nó lại là Bất Không (chẳng
phải là Không). Không là chân thật, Bất Không vẫn là chân thật. Tuy biến hiện sâm la vạn tượng, chư vị phải hiểu, sâm la vạn tượng quyết
định là trọn bất khả đắc, v́ sao? Chúng tuy có h́nh tướng, nhưng chẳng có tự thể, chỉ có h́nh tướng mà thôi. V́ lẽ đó, trong Phật pháp gọi Tướng là Giả Tướng, hoặc Huyễn Tướng. Kinh Kim Cang đă nói rất hay: “Phàm những ǵ có
tướng đều là hư vọng”, “hết thảy
các pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Tướng có hay không? Có, nhưng chẳng chân thật, quư vị chớ nên coi nó là thật. Nếu quư vị nghĩ nó là thật, sẽ bị rắc rối to, quư vị liền mê hoặc, điên đảo, tạo nghiệp thọ báo, làm những chuyện đó. Nói thật ra, quư vị làm những chuyện ấy th́ những chuyện ấy vẫn đều là giả! Tuy là giả, nhưng quư vị phải chịu khổ, có Khổ Thọ. Thí dụ như nằm mộng, quư vị gặp ác mộng, trong mộng rất khổ, rất sợ hăi; sau khi tỉnh mộng bèn biết [những nỗi sợ hăi ấy] là giả. Mộng tuy là giả, nhưng khi quư vị nằm mơ, chẳng biết đó là mộng. Hoàn cảnh hiện thực của chúng ta xác thực là như vậy. Thật vậy, đó là Thật Tướng, là Thật Tướng của hết thảy các pháp. Chúng ta đă mê mất Thật Tướng một thời gian rất lâu. Do mê mất chân tướng, nên ngỡ các cảnh giới là chân thật. Đó là mê hoặc, đó gọi là vô minh.
Khoa học hiện đại đă tiến bộ hơn trước rất nhiều. Các khoa học gia hiện nay đă phát hiện trong thế giới này chẳng có vật chất, các hiện tượng [vật chất] là ǵ? Là các hiện tượng được
sanh từ sự dao động của ánh sáng, xác thực là chẳng có vật chất tồn tại. Học thuyết ấy tương ứng với những điều kinh Phật đă dạy. Chúng ta thường xem TV, trên màn h́nh huỳnh quang là không gian hai chiều. Nếu khoa học kỹ thuật trong tương lai tiến bộ hơn, TV có thể biến thành không gian ba chiều, chư vị hăy nghĩ xem sẽ thành như thế nào? Hiện thời, chúng ta sống trong không gian ba chiều, chúng ta thường nói là TV lập thể, con người thật sự có thể bước ra khỏi màn ảnh. Có loại TV ấy hay không? Có, hiện thời ở bên ngoại quốc có. Quư vị đến chơi Địch Sĩ Ni Lạc Viên (khu giải trí Disney) của
nước Mỹ, xem TV lập thể, toàn là h́nh ảnh tạo bởi ánh sáng, lại c̣n chiếu chính quư vị vào đó. Quư vị thấy [mỗi h́nh ảnh] đối diện với chính ḿnh, chẳng cảm thấy chúng là giả, v́ sao? Quư vị thấy hoàn toàn là [h́nh tượng] lập thể, nhưng nó là h́nh ảnh, chẳng thật. Nếu có thể đạt đến bốn chiều, năm chiều, th́ nay chúng ta nói là chuyện “thần tiên”! Không gian chẳng có hạn lượng, đó là Thật Tướng của các pháp, là tướng chân
thật của hết thảy các pháp. V́ thế, phải biết Không và Có là một, không hai.
Kinh giảng về Chân Như, Chân là nói đến tánh thể, Như là nói về tác dụng của
tánh. Tuy hiện vô lượng vô biên hiện tướng, tướng giống như tánh, tánh giống như tướng, tánh và tướng bất nhị. Giống như chúng ta nằm mộng, trong cái tâm nằm mộng của chúng ta vốn chẳng có mộng, tâm là Chân, là Không, nhưng nó có tác dụng biến hiện mộng cảnh. Mộng cảnh là có, là Như, Như là như thế nào? Là Tướng Phần của cái tâm quư vị, tướng chẳng thể ĺa tánh, tánh chẳng thể
ĺa tướng. Cổ nhân nói: “Dùng vàng làm đồ vật, món nào cũng
đều là vàng”, đồ vật chẳng thể rời khỏi vàng, vàng cũng chẳng thể rời khỏi đồ vật; vàng là đồ vật, đồ vật là vàng. Quư vị hiểu đạo lư này, Không là Có, Có là Không. V́ thế, Không và Bất Không là một, không hai. Quư vị phải thấu hiểu từ chỗ này.
Thật sự có thể ngộ nhập, quư vị sẽ đạt đến giải thoát, v́ sao? Thọ dụng hết thảy, chẳng có phiền năo. V́ sao chẳng có phiền năo? Chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có vọng tưởng. Chư Phật, Bồ Tát chẳng khác ǵ chúng ta, chỗ khác nhau là trong hết thảy vạn tượng, các Ngài xác thực đă vĩnh viễn đoạn trừ vọng tưởng, chấp
trước. Phàm phu chúng ta khởi lên vọng tưởng, chấp
trước đối
với vạn tượng. Kinh
Hoa Nghiêm đă nói hết thảy chúng sanh mê hoặc, điên đảo “chỉ v́ vọng tưởng, chấp trước, nên chẳng thể chứng đắc”. Nay chúng ta vẫn dùng vọng tưởng, chấp trước để niệm Phật, vẫn dùng vọng
tưởng, chấp trước để học Phật, rất khó thành tựu! Do vậy, cương lănh trọng yếu trong tu học là ở chỗ nào? Làm thế nào để xóa sạch vọng
tưởng, chấp trước, quư vị sẽ thành công. Đây là một đại sự vô cùng khẩn yếu! Phải làm như thế nào th́ mới có thể trừ bỏ vọng tưởng,
chấp trước? Thưa cùng chư vị, hiểu rơ ràng, rành rẽ hết thảy các pháp, thật sự chẳng khởi niệm, không động tâm, tức là không phân biệt, không chấp trước. Cảnh giới [không phân
biệt, chấp trước] ấy tương ứng với
cảnh giới của Phật, Bồ
Tát. Quư vị có thể
ǵn giữ lâu dài cảnh ấy, bèn là Phật, Bồ
Tát. Quư vị có thể giữ ǵn trong một niệm bèn tương ứng trong một niệm, niệm niệm ǵn giữ bèn niệm niệm tương
ứng.
“Giao la
vạn đức” là nói đến y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều là Tánh Đức, nên chúng là b́nh đẳng. Phàm phu chẳng thấy chân tướng này v́ có phân biệt, có chấp
trước ở trong ấy, khởi lên [phân biệt] đây là thiện, kia là ác, đây là tốt, kia là xấu, dấy lên
phân biệt, chấp trước trong ấy, nên chẳng thấy chân tướng. Chư Phật, Bồ
Tát chẳng có phân biệt và chấp
trước, nên các Ngài thấy hết
thảy các pháp b́nh đẳng. Thiên đường và địa ngục b́nh đẳng, phàm thánh b́nh đẳng, sanh Phật b́nh đẳng, [tức là] chúng sanh và Phật b́nh đẳng, tịnh uế b́nh đẳng, [tức là] Tịnh Độ và uế độ b́nh đẳng. V́ sao b́nh đẳng? V́ tâm các Ngài b́nh đẳng. Chúng ta thấy những thứ bất b́nh đẳng, điều ǵ bất b́nh đẳng? Chẳng phải là cảnh giới bất b́nh đẳng, mà là tâm chúng ta bất b́nh đẳng, hỏng bét! Nói thật thà, một câu Phật hiệu này nhằm mong cho quư vị niệm đến mức b́nh đẳng, niệm đến mức thanh tịnh. Nếu trong cảnh giới vẫn chưa thể quay đầu, dẫu niệm Phật hiệu nhiều đến mấy, đến khi lâm chung chỉ sợ nẩy sanh vấn đề, vẫn không đắc lực. V́ thế, tu hành là tu ở chỗ nào? Tu trong cảnh giới bất b́nh đẳng tột bậc, tu cái tâm b́nh đẳng của chính ḿnh. Đến khi tâm quư vị đă b́nh đẳng, quư vị mới thật sự cảm thấy cảnh giới b́nh đẳng, rất kỳ diệu! Mới biết đức Phật chẳng gạt ta, Phật nói lời thật!
Chính ḿnh phải đích thân tự chứng cảnh giới
ấy, quư vị mới có thể chân thật thọ dụng. Chính quư vị chưa thể đích thân chứng cảnh giới
ấy, dẫu nghe đă nhàm tai, ở trong cảnh giới vẫn thấy có cao, thấp, vẫn bất b́nh, chẳng có cách nào cả, vẫn chẳng khởi tác dụng! Nói cách khác, dẫu niệm Phật tốt đẹp cách mấy, quư vị chẳng thể thọ dụng! V́ thế, tu học Phật pháp nhất định phải ḥa nhập thành một khối với cuộc sống của chính ḿnh
th́ quư vị mới có thọ dụng. Nếu tu hành thuộc về tu hành, niệm Phật thuộc về niệm Phật, lạy Phật thuộc về lạy Phật, cuộc sống thuộc về cuộc sống, [như vậy là] hoàn toàn trật khớp, há có tác dụng ǵ đâu? Vô dụng! Người khác tu theo cách nào, chúng ta chẳng cần phải quan tâm, phải tu cho chính ḿnh, điều này mới là trọng yếu, đó gọi là “kẻ khác mê, ta không mê”.
Nếu nói cụ thể hơn một chút, tu hành là tu ǵ? Đầu tiên là quư vị trừ bỏ dục vọng, tham, sân, si, mạn, phải bỏ sạch những thứ ấy. Ngàn vạn phần chớ nghĩ dục vọng chẳng thể bỏ, người khác đều đang
truy cầu, làm sao chúng ta có thể bỏ cho được?
V́ sao đức Phật bảo chúng ta bỏ sạch hết thảy các dục vọng? V́ có đạo lư, từ vô thỉ kiếp tới nay, chúng ta đời đời kiếp kiếp sanh tử luân hồi là do dục vọng giở tṛ. Chẳng có dục vọng, sẽ chẳng có luân hồi. Do đó, đức Phật bảo chúng ta đoạn hết thảy dục vọng là đúng,
tiếng tăm, lợi dưỡng thảy đều chẳng cần, chẳng dính mắc tí nào. Dính vào ngũ dục lục trần bèn sanh tử luân hồi, đương
nhiên là như vậy. Người khác cần, chúng ta không cần. Những thứ chúng ta cần, người khác cũng chẳng cần! V́ thế, chúng ta và người khác đối xử với nhau, kinh nói là “vạn đức ḥa dung”. V́ sao? Chẳng xung đột! Chẳng xung đột với bất cứ ai. Những ǵ quư vị cần, tôi đều không cần, những ǵ tôi cần, quư vị cũng chẳng cần, làm sao có xung đột cho được?
Trong ấy có pháp hỷ thật sự, có lợi ích chân thật. Đại Kinh có nói: “Huệ
dĩ chúng sanh chân thật chi lợi” (ban cho chúng sanh lợi ích chân thật). Lợi ích chân thật chính là điều này: Khiến cho quư vị trong một đời này, tâm và cảnh như một, pháp
hỷ sung măn, đời sau thấy Phật, thành Phật. Chúng ta phải nhớ điều này, phải nghiêm túc tu học.
(Sao) Điều ḥa nhi khắc hài bất
bột, dung dịch nhi nhất vị vô quai.
(鈔) 調 和
而 克 諧 不 悖,融 液 而 一
味 無 乖。
(Sao:
Điều ḥa, nhịp nhàng, chẳng chơi nhau, một mực ḥa hợp chẳng trái nghịch).
Hai câu này đều nhằm tán thán nhạc chương.
(Diễn) Thuấn Điển vân: “Bát âm khắc
hài, vô tương đoạt luân”. Kim tư
vạn đức diệc nhiên, thường, lạc, ngă, tịnh, bất bột chân thật thức tri. Biến chiếu pháp giới, bất
bột thanh lương bất biến, bất ly, bất đoạn, bất dị, bất tư
nghị, tức khắc hài bất bột.
(演) 舜 典 云:八 音 克 諧,無 相 奪 倫。今 茲 萬 德 亦 然,常 樂 我 淨,不 悖 真 實 識 知;遍 照 法 界,不 悖 清 涼 不 變,不 離、不 斷、不 異、不 思 議,即 克 諧 不 悖。
(Diễn: Thuấn
Điển[3] chép: “Tám âm điều ḥa, đừng bị rối loạn
trật tự”. Nay vạn đức cũng giống
như thế, thường, lạc, ngă, tịnh, chẳng
trái nghịch với sự hay biết chân thật, chiếu
khắp pháp giới, chẳng trái
nghịch thanh lương, bất biến, chẳng ĺa,
chẳng đoạn, chẳng khác, chẳng nghĩ bàn chính
là “hài ḥa, chẳng chống trái”).
“Bát âm[4] khắc hài” là nhạc giao hưởng. Thời cổ, nhạc khí đơn giản, nhạc khí hiện thời
phức tạp, không phải chỉ là tám loại. Quư vị thấy dàn nhạc giao hưởng diễn tấu, nhạc khí có tới mấy chục loại, diễn tấu quả thật vô cùng êm tai, mỗi loại nhạc khí đều có điểm đặc sắc. Dùng những điều ấy để sánh ví Tánh Đức. Đối với Tánh Đức, trong kinh thường tán thán “thường, lạc, ngă, tịnh”. Người thế gian có bốn danh xưng ấy, nhưng chẳng có thực chất. V́ sao hữu danh vô thực? V́ Tánh Đức của quư vị chưa thể tỏ lộ, bốn chuyện ấy chỉ có Tánh Đức mới trọn đủ.
“Thường”
là vĩnh viễn bất biến, đó là Tánh Đức. Thưa cùng
chư vị, nếu chúng ta muốn thấu lộ Tánh Đức, đạt được thọ dụng chân thật, dùng phương pháp ǵ? Niệm Phật là phương pháp tốt nhất. Chúng ta niệm Phật nhằm mong đạt được ǵ? Chẳng phải là để được cảm ứng, chẳng
phải nhằm đắc thần thông, cũng chẳng
phải là để thấy thụy
tướng, cũng chẳng phải là để thấy Phật hay thấy quang minh, những thứ ấy đều chẳng phải! Niệm Phật nhằm mục đích đắc nhất tâm bất loạn; nói cách khác, niệm nhằm đạt được
cái tâm thanh tịnh, trong tâm thanh tịnh chẳng có một
vọng niệm nào! Khi một vọng niệm cũng chẳng có, bèn là Thường, tâm vĩnh viễn là như vậy. Tâm phàm phu vô thường, v́ sao? Niệm này khởi, niệm kia diệt, ư niệm sanh diệt không ngừng, suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ loạn xạ, đó là vô thường. Người niệm Phật trong mười hai thời chỉ có một niệm A Di Đà
Phật, ngoại trừ A Di Đà Phật ra, chẳng có niệm nào khác. Niệm ấy là Thường.
Trong tâm thanh tịnh chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có phiền năo, chẳng có ưu lự, đó là Lạc, đấy là Chân Lạc. Lạc trong Thường - Lạc - Ngă - Tịnh chẳng phải là Lạc trong Khổ Lạc. Lạc trong Khổ Lạc là tương đối. Trong Chân Như bổn tánh, khổ và lạc đều chẳng có, đó là Chân Lạc. Nói thật thà, đối với người thế gian chúng ta, lạc cũng là khổ, há có lạc? Có một câu thường nói rất hay: “Lạc cực sanh bi”, lạc có thể biến thành bi, biến thành khổ, lạc ấy há có phải là chân lạc? Chẳng phải là chân lạc! Chân lạc vĩnh viễn bất biến, đó là chân lạc.
“Ngă” có nghĩa là chúa tể, chính ḿnh thật
sự làm chủ. Lục đạo phàm phu trong thế gian này đều chẳng làm được
chuyện này. Đừng nói là lục đạo phàm phu, ngay cả A La Hán và Quyền Giáo Bồ Tát đều chẳng làm được!
Chính ḿnh có thể làm chủ tể, đầu tiên là chúng ta chẳng muốn già, có thể làm được hay không? Chúng ta muốn bất tử. Tôi nói lời thật cùng quư vị, người niệm A Di Đà Phật chẳng già, mà cũng chẳng chết. Mọi người phải luôn nhớ, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, tôi thường nói là văng sanh trong khi c̣n sống, chẳng phải là chết rồi mới văng sanh, mọi người hăy nghe cho rơ lời này. Như tiên sinh Châu Quảng
Đại, ông ta thấy Tây Phương Tam Thánh đến đón tiếp, theo Phật ra đi, sau khi đă đi mới chết, chẳng phải là chết trước rồi sau đấy mới thấy Phật. Thấy Phật đến đón, “ta theo Phật ra đi”, đó là ra đi trong khi c̣n sống. Sau khi đă ra đi mới chết, chẳng phải là chết rồi mới đi, phải hiểu rơ điều này! Quư vị phải hiểu rơ sự thật này, người ấy chẳng chết, mà là theo Phật ra đi. V́ vậy, pháp môn này là bất sanh, bất diệt, phải hiểu rơ chân tướng sự thật này.
“Tịnh” là thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, thân liền thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh, thế giới này liền thanh tịnh, hoàn cảnh liền thanh tịnh, đúng như kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Cảnh chuyển theo tâm”. Phàm phu trong thế gian là “tâm chuyển theo
cảnh”, rất khổ, bị ngoại cảnh xoay chuyển. Chư Phật, Bồ
Tát chẳng bị ngoại cảnh chuyển! Quư vị không bị ngoại cảnh xoay chuyển, c̣n có năng lực chuyển hoàn cảnh bên ngoài, c̣n có năng lực chuyển cảnh. Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: “Nếu có thể chuyển cảnh, ắt giống như Như Lai”, quư vị chẳng khác ǵ Như Lai! Quư vị chuyển cảnh giới, chẳng c̣n bị cảnh giới xoay chuyển chính ḿnh. Người chuyển cảnh giới đắc đại tự tại, người bị cảnh giới chuyển khổ lắm! Có các đồng tu thường nói với tôi, [họ dự tính] t́m một hoàn cảnh tu hành tốt đẹp. Đến đâu để t́m? Hoàn cảnh nào tốt đẹp? Đưa quư vị đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị vẫn chẳng vừa ư, vẫn thấy không thuận mắt! V́ sao? Bản thân quư vị có phiền năo, quư vị đến đâu để t́m được một hoàn cảnh tốt đẹp? Hoàn cảnh tốt đẹp ở chỗ nào? Trong tâm quư vị. Khi trong tâm quư vị chẳng có vọng niệm, hoàn cảnh bèn tốt đẹp. T́m trong hoàn cảnh y báo nơi thế giới này, sẽ chẳng t́m được. Thật vậy! Tâm đă thanh tịnh th́ chẳng chỗ nào không thanh tịnh. Do đó, phải cầu từ trong nội tâm.
“Biến chiếu pháp giới, bất bột
thanh lương, bất biến, bất ly, bất
đoạn, bất dị, bất tư nghị” (chiếu khắp pháp giới, chẳng
trái nghịch thanh lương, bất biến, chẳng ĺa,
chẳng đoạn, chẳng khác, chẳng nghĩ bàn). “Pháp
giới” ở đây là nói tới mười pháp giới. Nếu nói cụ thể hơn một chút, sẽ là xă hội hiện thực của chúng ta. Các tầng lớp khác nhau trong xă hội giống như mười pháp giới. Trong xă hội, chúng ta thường nói có người thiện, có kẻ ác. Người thiện như ba thiện đạo, kẻ ác như tam ác đạo, hoàn cảnh có thuận cảnh và nghịch cảnh, chẳng khác ǵ mười pháp giới! “Biến
chiếu” là quư vị đối với tất cả những cảnh giới
ấy, đối
với những tầng lớp trong toàn thể xă hội, thảy đều hiểu rơ ràng, rành
rẽ, nhưng tuyệt đối chẳng trái nghịch sự “thanh lương bất biến”
của chính ḿnh. Tâm địa hết sức thanh lương, chẳng bị biến đổi bởi cảnh giới bên ngoài. Tâm quư vị thanh tịnh, nhưng vẫn chẳng tách rời, chẳng thoát khỏi xă hội. Tâm và cảnh trọn chẳng phải là hai thứ, [đó là] bất dị! Cảnh giới ấy chẳng thể nghĩ bàn. Đó là ḥa hài, là vạn đức ḥa dung, chúng ta dụng công là dụng công ở chỗ này. V́ thế, tổ Liên Tŕ dùng chữ “bất tư nghị” để tổng kết, ư nghĩa này rất sâu.
Tâm và cảnh đích xác là chẳng thể suy nghĩ, Tư là tư duy. Hễ quư vị có Tư là c̣n có giới hạn, c̣n có phân biệt, chấp
trước. Quư vị thấy chữ Tư (思) là
một chữ thuộc loại Hội Ư, phía trên chữ Tâm
(心)
vẽ một chữ Điền
(田), [tức
là cái tâm] có giới hạn! Nói cách khác, quư vị có vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, Tư là vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. Do đó, chớ nên Tư! Chẳng thể Tư th́ ta chẳng có phân biệt, chẳng có vọng tưởng, chẳng có chấp
trước, đó là dung hợp vạn
đức. “Nghị” (議) là nghị luận. Chẳng có nghị luận! Tất cả hết thảy ngôn ngữ, thưa cùng chư vị, đều gọi là “phế
thoại” (廢話: lời thừa), đều chẳng có ư nghĩa. Quư vị thấu hiểu ư nghĩa chân thật bằng tự tâm, chẳng thể nói ra được! Do đó, nhà Phật thường nói: “Ngôn ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt”. Quư vị có thể thực hiện công phu như vậy, Thật Tướng của các pháp liền hiện tiền, Tánh Đức liền biểu lộ. Đối với hết thảy
các pháp, không nghĩ ngợi, không bàn luận, hiểu rơ ràng, rành rẽ, chiếu khắp pháp giới, đó là “khắc hài
bất bột” (hài ḥa, chẳng trái nghịch), chẳng trái phạm tự tánh. Bất luận trong cảnh giới nào cũng đều chẳng trái phạm tự tánh, đều thuận theo tự tánh, nên Tánh Đức
biểu lộ.
(Diễn) Kim tư vạn đức diệc
nhiên, xác thực hữu thử chư công đức
nghĩa, nhi vô sai biệt chi tướng, đẳng
đồng nhất vị, duy nhất Chân Như dă.
(演) 今 茲 萬 德 亦 然,確 實 有 此 諸 功 德 義,而 無 差 別 之 相,等 同 一 味,唯 一 真 如 也。
(Diễn: Nay vạn
đức cũng giống như thế, xác thực là có
các ư nghĩa công đức ấy, nhưng chẳng có tướng sai biệt, cùng là một vị như nhau, chỉ là một Chân Như mà thôi).
Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều do Tánh Đức lưu lộ. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, ao bảy báu, nước tám công đức, vàng ṛng lót đất, đó là Tánh Đức. Núi đao, vạc dầu trong địa ngục cũng là Tánh Đức. V́ thế, nói theo Tánh Đức th́ chẳng khác ǵ nhau, chân tâm năng biến
(có thể biến) chẳng khác nhau, nhưng hiện tướng được
biến ra khác nhau, nên có sai biệt. Trong sai biệt có vô sai biệt, vô sai biệt là tánh có thể biến, sai biệt là tướng. Tánh - tướng như một, sai biệt là chẳng có sai biệt. Kết
luận là “đẳng đồng nhất vị,
duy nhất Chân Như dă” (cùng là một vị như nhau, chỉ
là một Chân Như), câu này có ư nói: Trong tận hư không khắp pháp giới, trên là các cơi Phật thanh tịnh, dưới là A Tỳ địa ngục, “đẳng
đồng nhất vị, duy nhất Chân Như”, quư vị chia rời như thế nào đây? Quư vị đắc nhất tâm
bất loạn sẽ là cảnh giới
này. Ta niệm Phật, có niệm đến mức nhất tâm hay không? Quư vị hăy phản tỉnh: Cảnh giới trước mắt có phải là như vậy hay không? Cảnh giới trước mắt quả nhiên là như vậy th́ gần như là công đức của quư vị đă thành tựu. Phải ghi nhớ: Kẻ khác có phân biệt, ta vô phân biệt. Ta phân biệt là v́ kẻ khác phân biệt nên bèn phân biệt, chẳng phải v́ chính ḿnh có phân biệt. Do đó, Phật, Bồ
Tát thuyết pháp là Tha Thọ Dụng, phân biệt giùm người khác, bản thân Phật, Bồ
Tát có phân biệt hay không? Chẳng có! Chính ḿnh vĩnh viễn là tâm và cảnh như nhau, “đẳng
đồng nhất vị, duy nhất Chân Như” là cảnh giới của
chính vị Phật hay Bồ Tát đó.
(Sao) Nhẫn, Tấn tương dữ
đê ngang, tắc huân minh, tŕ tấu.
(鈔) 忍 進 相 與 低 昂,則
塤 鳴 篪 奏。
(Sao: Nhẫn
và Tấn cao thấp tương ứng, tức là huân thổi, địch
tấu[5]).
Trong Bồ Tát hạnh, nêu ra hai thứ là Nhẫn Nhục và Tinh Tấn, đây là hai thứ trong Lục Độ. Lục Độ là khuôn phép và tiêu chuẩn cho cuộc sống và hành vi của Bồ Tát, gồm có sáu điều. Trong sáu điều, đặc biệt chỉ ra hai điều nhằm chuyên nói với người tu Tịnh
Độ, cũng nhằm nói rơ: Chúng ta niệm Phật công phu không đắc lực do đă sơ sót hai chữ [Nhẫn và Tấn] ấy. V́ sao? Chẳng thể
nhẫn nại chịu đựng, một tí chẳng vừa ư vặt vănh bèn vứt bỏ ngay, làm sao có thể thành công cho được?
(Diễn) Nhẫn giả, ác mạ chúy đả,
giai tất năng nhẫn, do như đại địa,
do như kiều lương, nhậm nhất thiết
tiễn đạp, nhi bất khởi nhất niệm,
cố viết Đê.
(演) 忍 者,
惡 罵 捶 打,皆 悉 能
忍,猶 如 大 地,猶 如 橋
梁,任 一 切 踐 踏,而 不
起 一 念,故 曰 低。
(Diễn: “Nhẫn”: Chửi bới nặng nề, đánh đập, đều có thể nhẫn, giống như đại địa, hoặc như cầu bến, mặc cho hết thảy giày xéo nhưng chẳng khởi một niệm, nên nói là Thấp).
Chúng ta có thể làm được hay không? Chư vị phải luôn nhớ một câu, “trong hết thảy cảnh giới mà chẳng thể nhẫn, kẻ ấy chẳng thể thành tựu”. Người nào thành tựu? Điều ǵ cũng đều có thể chịu đựng, loại
người ấy thành tựu! Trong Bồ Tát hạnh, trước hết phải chịu đựng
nghịch cảnh. Nói cách khác, phải ở trong hoàn cảnh xấu xa, kém cỏi nhất mà đoạn cái tâm sân khuể của chính ḿnh. Tâm sân khuể chẳng có, chẳng đọa địa ngục. V́ thế, khi tu hành, v́ sao phải tu trong nghịch cảnh? Tôn giả Đại Ca Diếp xuất thân từ gia đ́nh phú quư. Sau khi xuất gia, Ngài bèn tu khổ hạnh, nhẫn được
những điều kẻ khác chẳng thể nhẫn. Trong xă hội ngày nay, người
thật sự biết tu hành thành tựu mau, mà bị đào thải cũng mau! Chẳng thể nhẫn bèn bị đào thải, có thể chịu đựng bèn thành tựu. Thường có người chửi bới, đánh đập, hủy nhục chúng ta, th́ đối
với một người tu hành chân chánh, kẻ đó là một vị đại thiện tri thức. Chúng ta tiêu trừ nghiệp chướng từ vô thỉ kiếp tới nay như thế nào? Kẻ ấy đă tiêu trừ thay cho chúng ta. Quư vị thấy trong năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử, Cam Lộ Hỏa Vương là thiện tri thức giống như vậy. Suốt ngày từ sáng đến tối kiếm chuyện gây khó dễ, hễ đôi chút trái ư bèn đánh, chửi, lại c̣n giết quư vị. Đă thế, chẳng giết ngay, mà c̣n lăng tŕ xử tử, khiến cho quư vị chết từ từ. Đó là đại thiện tri thức, là vị thầy về Nhẫn Nhục Ba La Mật, cách dạy Nhẫn Nhục Ba La Mật là như vậy. Nếu quư vị có thể tiếp nhận, học chẳng động tâm trong cảnh giới, sẽ đoạn hết sân khuể. Không trải qua cửa ải này, sân khuể chẳng dễ ǵ đoạn được! Ư niệm sân khuể rất sâu, b́nh thường bản thân quư vị chẳng thể phát giác, khi cảnh giới hiện tiền, nó bèn tự nhiên bộc lộ.
V́ thế, phải đoạn trừ sân khuể trong nghịch cảnh th́ tâm chúng ta mới đạt
được thanh tịnh. Thật sự đoạn trừ tâm sân khuể, tức là tu thành công Nhẫn Nhục Ba La Mật. Lại tu trong thuận cảnh, tu ǵ trong thuận cảnh? Đoạn tâm tham, đoạn tham ái. V́ vậy, người b́nh phàm tu hành, trước hết là [tu] từ nghịch cảnh sẽ dễ thành tựu; vừa mở đầu bèn tu trong thuận cảnh, chẳng dễ ǵ thành tựu! Nếu chư vị lắng ḷng quan sát một phen, sẽ thấy từ xưa tới nay, trong và
ngoài nước, những nhân vật anh hùng hào kiệt thật sự trỗi vượt người khác, gần như đều là con em nhà nghèo hèn. Quư vị hăy xem trong lịch sử, có mấy ai xuất thân là con em nhà giàu có? Quá ít! Thuận cảnh thường khiến cho chí khí của con người bị hủy diệt, nghịch cảnh dễ rèn luyện con người. V́ thế, dạy chúng ta hăy học theo đại địa. Địa
Tạng Vương Bồ Tát đại diện cho Nhẫn Nhục Ba La Mật, đại địa mặc cho kẻ khác giẫm đạp, nó vẫn có thể chịu đựng!
(Diễn) Tấn giả, hiểu dạ vong b́,
tinh tấn bất giải, do như nhất nhân dữ
vạn nhân địch, dũng mănh trực tiền, cố
viết Ngang.
(演) 進 者,曉
夜 忘 疲,精 進 不 懈,猶
如 一 人 與 萬 人 敵,勇 猛
直 前,故 曰 昂。
(Diễn: Tấn là
đêm ngày quên mệt, tinh tấn chẳng lười nhác,
giống như một người chống lại vạn
người, dũng mănh tiến thẳng lên phía
trước, nên gọi là Cao).
Tấn là tinh tấn. Có nhiều người, dường như cũng rất dụng công, mỗi ngày cũng Tấn, nhưng chẳng phải là Tinh Tấn, mà là Tạp Tấn, dũng mănh tạp tấn, dũng mănh loạn tấn, làm sao thành công cho được? Chẳng thể
thành công! Thuần mà chẳng tạp, thâm nhập một môn, đó mới là Tinh Tấn. Học rất nhiều thứ, rất tạp, không được! Ngày đêm quên mệt, tinh tấn chẳng lười nhác, dũng mănh tiến thẳng lên trước, sức mạnh nào thúc đẩy kẻ ấy? Thưa cùng chư vị, pháp hỷ! Kẻ ấy càng tu càng hoan hỷ, sức mạnh đó thúc đẩy kẻ ấy. Nếu tu học chẳng đạt được pháp hỷ, quyết định sẽ đi vào lối rẽ. Nếu quư vị chẳng đi sai đường, nhất định có pháp hỷ, pháp hỷ sung măn, thật sự sung sướng, thật sự tự tại. Nếu học Phật càng học càng khổ, sai mất rồi, chắc chắn là đă đi lạc đường.
Người học Phật nhất định là càng học càng vui sướng, càng học tâm địa càng thanh tịnh, càng học tâm lượng càng rộng lớn, đích xác là phiền năo, ưu lự thảy đều dần dần phai nhạt, quên đi, đến cuối cùng t́m chẳng thấy nữa! Người ấy lẽ nào chẳng vui sướng? Thông đạt, hiểu rơ hết thảy Lư Sự, nhưng chẳng khởi một niệm, liền tương ứng với Tánh Đức. Hiểu rơ, thông đạt hết thảy, nhưng c̣n có vọng niệm
th́ chưa phải là Phật, Bồ Tát, chúng ta phải nhận biết rơ ràng điều này. Nhẫn nhục và tinh tấn cũng là đồng thời.
(Diễn) Chánh nhẫn nhục thời, chánh tinh tấn, dũ tinh tấn thời, dũ nhẫn nhục.
(演) 正 忍 辱 時,正 精 進;愈
精 進 時,愈 忍 辱。
(Diễn: Ngay trong
lúc nhẫn nhục là lúc tinh tấn, khi càng tinh tấn th́
càng nhẫn nhục).
Trong ấy có pháp vị thật sự,
có thọ dụng thật sự. Nói cách khác, người không tinh tấn chẳng thể nhẫn. Người chẳng thể nhẫn tức là không có tinh tấn. Đó là đạo lư nhất
định.
(Diễn) Huân minh tŕ
tấu giả, huân, thổ vi chi, tŕ, trúc vi chi, nhị khí
hỗ tương xướng họa.
(演) 塤 鳴 篪 奏 者,塤,土
為 之,篪,竹 為 之,二
器 互 相 唱 和。
(Diễn: “Huân minh,
tŕ tấu”: Huân làm bằng đất, Tŕ làm bằng tre. Hai
thứ nhạc khí cùng nhau xướng họa).
Trong kinh Thi có một đoạn chép về [hai thứ nhạc khí này]. Huân và Tŕ đều là nhạc khí thời cổ. Huân làm bằng đất sét, có h́nh dạng giống như cái nậm, dưới đáy có mấy lỗ để thổi. Tŕ làm bằng tre. Hai thứ nhạc khí này có thể ḥa tấu với nhau. “Thi vân:
Bá thị xuy huân, trọng thị xuy tŕ” (Kinh Thi chép: “Anh thổi huân, em thổi tŕ”). “Bá” (伯) là anh, “Trọng” (仲) là em, [dùng chữ Huân Tŕ] để sánh ví anh em ḥa thuận.
(Diễn) Kim thử Nhẫn Tấn, đê ngang
hỗ tạo, như huân tŕ chi hỗ vi cao hạ dă.
(演) 今 此
忍 進,低 昂 互 造,如 塤
篪 之 互 為 高 下 也。
(Diễn: Nay Nhẫn và Tấn cao thấp nâng
đỡ nhau, như tiếng Huân và tiếng Tŕ cao thấp
hỗ trợ nhau).
Giống như hai thứ nhạc khí Huân và Tŕ, một nhạc khí âm thanh thấp, một nhạc khí âm thanh cao, hai thứ điều ḥa cho nhau. V́ thế, người ấy khiêm hạ chẳng phải là thật sự khiêm hạ, mà là dũng mănh tinh tấn. Tuy dũng mănh tinh tấn, người ấy có thái độ rất nhún nhường, chẳng kiêu mạn, chẳng ngạo mạn. Ư nghĩa này hết sức vi diệu, hết sức
viên măn, hy vọng các đồng tu hăy chú tâm lănh hội, nhất định phải đạt được sự thọ dụng chân thật trong Phật pháp. Cũng là nhất định học sao cho có thể ứng dụng trong cuộc sống, ứng dụng vào xử sự, đăi người, tiếp vật, chúng ta sẽ đạt được lợi ích chân thật. Trong cuộc sống, trong hoàn cảnh nhân sự hằng ngày, bản thân chúng ta thật sự
đạt được
tâm thanh tịnh, thật sự thành tựu từ bi, Nhẫn và Tấn đầy đủ, như vậy th́ mới có thể thành tựu. Hôm nay chúng tôi giảng đến đây.
Tập
154
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm ba mươi:
(Sao) Chỉ
Quán song thành Định - Huệ, tắc ngọc chấn kim thanh.
(鈔) 止 觀
雙 成 定 慧,則 玉 振 金 聲。
(Sao: Chỉ
Quán cùng thành tựu Định và Huệ, tức là
tiếng ngọc rung, tiếng vàng chạm).
Đây là câu thứ ba để giải thích Tánh Đức. Chú giải nói rất tỉ mỉ, đáng cho chúng ta lưu ư. “Chỉ Quán” là nhân, “Định - Huệ” là quả. Nói theo nghĩa rộng, Phật pháp bất luận Đại Thừa hay Tiểu Thừa đều lấy Tam
Học Giới, Định, Huệ làm tông chỉ tu học. Đối với Tam Học, Tiểu Thừa và Đại
Thừa chỉ là do công phu sâu hay cạn mà có sai biệt, c̣n những điều khác trọn chẳng khác ǵ nhau. V́ lẽ đó, các đồng tu học Phật chúng ta phải nỗ lực tranh thủ tăng thượng Tam Học. Trong
thế gian hiện thời, từ trong và ngoài nước, chúng ta thấy rất rơ rệt là Tam Độc
tăng thượng, phiền phức to lớn. Tam Độc là tham, sân, si, mỗi năm một nghiêm trọng hơn. Đó là cội nguồn khiến cho thế giới động loạn, bất an, tai nạn xảy ra, tuyệt đối chẳng phải
là chuyện tốt. Trong rất nhiều kinh luận, đức Phật đă dạy, tuy mọi người chúng ta trong thế gian này có cộng nghiệp, nhưng trong cộng nghiệp c̣n có biệt nghiệp, có bất cộng nghiệp. Do vậy, chúng ta đổ công dốc sức nơi Tam Học, ḥng có thể tiêu tai miễn nạn, có thể đạt được hạnh phúc viên măn.
Tu Giới, Định, Huệ từ chỗ nào? Từ Chỉ Quán, v́ thế, “Chỉ Quán là nhân”. Chỉ (止) là ngưng dứt những ǵ? Trong phần trên đă nói là “chỉ
kỳ tán” (dứt tán loạn). “Tán” rốt cuộc là ǵ? Là vọng niệm, suy nghĩ loạn xạ. Chữ Tán (散) chỉ sự suy nghĩ loạn xạ. Quư vị muốn ngưng tất cả hết thảy vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước th́ Chỉ là công phu, Chỉ lâu ngày sẽ đắc
Định. Do vậy có
thể biết, nếu chẳng ngừng nghỉ vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, quư vị tu bất cứ pháp môn ǵ cũng chẳng thể thành tựu. Đối với niệm Phật, cổ đức nói mỗi ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu vẫn uổng công, “rách toạc cổ họng uổng công thôi!” V́ sao? Vọng tưởng tạp niệm của quư vị không ngừng được!
V́ sao chẳng nói ngừng thân và ngữ? Thưa quư vị, hễ niệm thanh tịnh, thân và miệng tự nhiên thanh tịnh. V́ thế, công phu này dùng nơi ư địa, dùng trên tâm địa. Tâm đă thanh tịnh, thưa cùng quư vị, tự nhiên sẽ ít nói, tự nhiên chẳng có lầm lỗi, đó là đạo lư nhất định, v́ sao? Ư niệm đă chánh.
Chúng ta niệm Phật mong niệm đến mức nhất tâm
bất loạn, nhất tâm bất loạn là Định. Chưa thể đạt đến nhất tâm
bất loạn, bèn mong đắc công phu thành phiến. Công phu thành phiến cũng là Định. Nói cách khác, đều phải từ Chỉ Quán quư vị mới ḥng đạt được.
Do vậy, phải tiêu trừ vọng niệm.
Chuyện không bắt buộc phải biết, tốt nhất là chẳng cần biết đến. V́ lẽ đó, tôi khuyên các đồng tu ít xem báo chí, ít xem TV, tốt nhất là không xem. Hằng ngày trong tâm chẳng có chuyện ǵ, thiên hạ thái b́nh. Ít tiếp xúc hết thảy mọi người, v́ quư vị vừa tiếp xúc bèn tạp tâm chuyện gẫu, họ Trương giỏi, họ Lư dở. Tiếp xúc kẻ khác ắt có thị phi, cổ đức bảo: “Biết
chuyện ít, phiền năo cũng ít; biết nhiều
người, lắm nỗi thị phi”, biết chuyện ít th́ phiền năo của quư vị sẽ ít đi. Ít quen biết người khác, chuyện thị phi cũng ít, tâm quư vị mới thanh tịnh th́ mới có thể Chỉ được.
Nói cách khác, chúng ta phải biết cách Chỉ như thế nào? Tốt nhất là chớ nên đi lung tung khắp nơi bên ngoài, ít tiếp xúc những hoàn cảnh bên ngoài, tâm chúng ta bèn Chỉ. Muốn tu tâm thanh tịnh, muốn tu nhất tâm
bất loạn, muốn tu công phu thành phiến, mà vẫn phan duyên khắp nơi, làm sao có thể thành công cho được? Chẳng thể nào thành công, v́ cách làm của quư vị hoàn toàn tương phản! V́ thế, chúng ta phải chú tâm thấu hiểu giáo huấn của cổ đức, những giáo huấn ấy đích xác là rất hữu lư. Bởi lẽ, Chỉ lâu ngày bèn thành Định, công phu thành phiến. Công phu thành phiến lâu ngày sẽ đắc nhất tâm
bất loạn.
“Quán” là ǵ? Quán là trong tâm hiểu rành mạch, rơ ràng th́ là Quán. Chẳng phải là hồ đồ, chẳng
phải là mê hoặc, điên
đảo, mà là rơ ràng. Đă rơ ràng lại c̣n chẳng có vọng niệm
th́ mới gọi là Quán. Nếu có vọng niệm, chẳng gọi là Quán. Chúng ta dốc sức tu Quán th́ phải biết bắt đầu từ chỗ nào? Thưa cùng quư vị, khởi đầu bằng chấp tŕ danh hiệu. Trong tâm chẳng có một vọng niệm hay tạp niệm là Chỉ, mỗi câu Phật hiệu
rơ ràng từng chữ, câu này nối tiếp câu kia, suốt ngày từ sáng đến tối chẳng gián đoạn, đó là Quán. Quư vị có Chỉ sẽ không dừng ở bên Có; có Quán sẽ không dừng ở bên Không. Chẳng rớt vào hai bên Có và Không, trong Đại Thừa Phật pháp thường nói là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa.
V́ lẽ đó, niệm Phật là tu Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa, đó gọi là “Chỉ - Quán song
vận, Định - Huệ đẳng học” (vận dụng cả Chỉ lẫn Quán, Định và Huệ đều học cân bằng), chính là một câu A Di Đà Phật. Các vị hăy suy nghĩ cặn kẽ, so với các pháp môn khác, phương pháp này thật sự đơn giản hơn, dễ dàng hơn rất nhiều! Phương pháp Chỉ Quán trong các pháp môn khác đích xác là rất khó học, chẳng dễ ǵ học được!
Phương pháp Chỉ Quán trong pháp môn Niệm Phật rất dễ học, ai nấy đều có thể học, ai nấy đều biết học. V́ vậy, Chỉ Quán song thành Định - Huệ. Chẳng thể nói: “Đối với hai thứ ấy, tôi tu một thứ”. Tu một thứ chẳng được.
Tu một thứ sẽ lệch vào một bên, một bên cũng chẳng được, ắt phải là “Chỉ Quán
đẳng học” th́ Định - Huệ mới đều thành tựu.
Câu cuối cùng là tỷ dụ: “Ngọc chấn kim thanh”,
chữ “kim” và “ngọc” đều chỉ nhạc khí. “Kim” là chuông. Thời cổ, trước khi tấu nhạc bèn gơ chuông. Hiện thời, trong Quốc Nhạc[6] hoặc nhạc giao hưởng, đôi khi gơ thanh la, thanh la cũng là nhạc khí thuộc loại Kim. Chúng ta nói “khai la” (đánh thanh la để mở đầu).
Trong diễn tuồng, trước khi khai diễn bèn đánh thanh la trước; [c̣n trong cổ nhạc], trước khi diễn tấu bèn gơ chuông. Chuông để dẫn nhập, “bát âm vị tác, tắc tiên kích bác chung, dĩ tuyên
kỳ thanh” (trước khi nhạc bát âm tấu lên, trước hết gơ chuông to, dùng âm thanh ấy để tuyên dương tiếng nhạc). “Ngọc” là khánh. Khánh vào thời cổ, dùng ngọc thạch chế thành, là một thứ nhạc khí thuộc bộ gơ, có h́nh dạng giống như cái thước cong, bẻ thành góc vuông chín mươi độ, chính giữa có lỗ để có thể treo trên giá. Dàn khánh (biên khánh) gồm một loạt những cái khánh lớn hay nhỏ khác nhau, gơ lên sẽ có âm thanh khác nhau. Sau khi âm nhạc tấu xong bèn gơ khánh, tiếng khánh để kết thúc, [báo hiệu] nhạc khúc ấy đă tấu xong. “Hậu tập đặc khánh, dĩ thâu
kỳ vận” (Để kết thúc, đặc biệt dùng khánh, nhằm thâu kết âm vận của khúc nhạc). Hai chữ ấy (kim và ngọc) được dùng ở đây [nhằm diễn tả ư] từ đầu tới cuối: Đầu tiên là Chỉ Quán, cuối cùng là Định -
Huệ, có ư nghĩa này.
Tông Thiên Thai nói Chỉ Quán, c̣n người niệm Phật chúng ta chẳng chú trọng [Chỉ Quán], [nếu nghĩ như vậy] th́ sai mất rồi! Một câu Phật hiệu của người niệm Phật hoàn toàn sử dụng cả Chỉ lẫn Quán. V́ vậy, câu Phật hiệu này chẳng thể nghĩ bàn, đích xác là toàn thể vô lượng pháp môn trong Phật pháp đều được
hàm nhiếp trong ấy. Do đó, chúng ta phải đặc biệt coi trọng Chỉ Quán. Tôi lại nói đơn giản hơn một chút, Chỉ là quư vị khuất phục tập khí vọng tưởng phiền năo; Quán là giữ ǵn sự tỉnh giác sáng suốt, chẳng quên mất A Di Đà
Phật, đó là Quán. Giảng kiểu này mọi người sẽ dễ hiểu!
(Sao) Từ bi, tắc ai hĩ bất thương, hỷ
xả, tắc lạc nhi bất dật.
(鈔) 慈 悲,則
哀 矣 不 傷;喜 捨,則 樂
而 不 泆。
(Sao: Từ bi
là xót xa, nhưng chẳng bi thương; hỷ xả là vui
vẻ, nhưng chẳng buông lung).
“Từ bi
hỷ xả” là Tứ Vô Lượng Tâm. Tâm thể là vô lượng, kinh Lăng Nghiêm có nói: “Tâm bao thái hư, lượng châu
sa giới”, tâm là vô lượng. Từ, bi, hỷ, xả là tác dụng của tâm, Thể là vô lượng, nên Dụng cũng rộng lớn vô lượng. Hiện thời, tâm chúng ta có tác dụng rất nhỏ. Tự tư tự lợi, tâm lượng rất bé, trái nghịch thể tướng của tự tâm, mê mất tự tánh, đó là phàm phu.
“Từ” là ban sự vui sướng cho hết thảy chúng sanh. Chúng ta thấy chúng sanh khổ, làm thế nào để có thể khiến cho hết thảy chúng sanh sung sướng. Đó là Từ. Bi là dẹp khổ cho chúng sanh. Chúng sanh có khổ, chúng ta dùng phương pháp ǵ giúp họ giải quyết. Đó là tâm từ bi. Thưa cùng
chư vị, tâm từ bi là ứng dụng chánh đáng của chân tâm. Khi đánh mất tâm từ bi, tâm ấy bị biến chất, chẳng chánh đáng, đúng mực. Tác dụng chánh đáng, đúng mực nhất định là từ bi, lại c̣n là đại từ đại bi. “Đại”
có nghĩa là ǵ? Đại là thanh tịnh, b́nh đẳng. Từ bi đối với hết thảy chúng sanh, khởi tác dụng chắc chắn chẳng có phân biệt, ḷng Từ ấy là đại từ. Nếu chúng ta đối với hết thảy chúng sanh c̣n có phân biệt, đối với người thân thiết, gần
gũi với ta, ta bèn đối xử với kẻ ấy tốt đẹp hơn, đối với kẻ chẳng thân thiết, gần gũi, bèn đối đăi kém hơn; tâm từ bi kiểu đó chẳng thể gọi là đại từ bi! Đại từ bi chẳng có giới hạn, chẳng có những thứ phân biệt, chấp
trước th́ mới là đại từ đại bi. Do vậy, phải vun bồi tâm từ bi.
Tâm từ bi là vốn có, nhưng bản thân chúng ta từ vô thỉ kiếp tới nay đă mê mất, chẳng biết mối quan hệ giữa chính ḿnh và kẻ khác. Tuy chúng ta tiếp xúc Phật pháp, đọc tụng kinh điển Đại
Thừa, nghe đức Phật dạy: “Tự tha nhất thể, sanh
Phật bất nhị” (ta và người là một Thể, chúng sanh và Phật chẳng hai),
nghe đă nhàm tai, nhưng chẳng làm được,
người thân vẫn là thân, kẻ sơ vẫn là sơ. V́ sao chẳng làm được?
Mê quá sâu, chấp
trước quá nặng! Tuy đức Phật nói như vậy, chúng ta cũng thường nghe, nhưng vẫn chưa thể hiểu rơ chân tướng thật sự. Nếu quư vị thật sự hiểu rơ, thưa cùng quư vị, buông xuống rất dễ dàng! Thật sự khó là khó thấy thấu suốt, chứ buông xuống rất dễ dàng! Nh́n không thấu suốt,
nói thật ra là do chẳng buông xuống được! Không buông xuống là v́ chẳng thấy thấu suốt! Thật sự thấy thấu suốt sẽ lập tức buông xuống, v́ sao? Kẻ đó thật sự triệt để hiểu rơ chân tướng sự thật, quyết định chẳng có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, chẳng thể nào có [những phiền năo
ấy nữa]. Nếu c̣n có những thứ ấy, nói cách khác, kẻ ấy vẫn chưa thấy thấu suốt. Đức Phật giảng lư ấy, kẻ đó chưa thật sự
thấu hiểu. Tuy kẻ ấy cũng có thể nói, nhưng nói được là v́ nghe đức Phật nói như thế, chẳng phải là lời lẽ chân thật lưu lộ từ trong tự tánh của kẻ đó. Thật sự thấy thấu suốt, ngôn ngữ sẽ từ trong tự tánh lưu lộ, khác hẳn, mảy may t́nh chấp đều chẳng có! T́nh là vọng tưởng, Chấp là chấp trước. Chẳng có t́nh chấp, không kèm theo t́nh chấp.
Thật sự hiểu chúng sanh và chính ḿnh là một Thể, niệm niệm đều nghĩ đến sự khổ vui của chúng sanh, chẳng nghĩ đến chính ḿnh. V́ sao chẳng nghĩ tới chính ḿnh? Chúng sanh là chính ḿnh, tự và tha là một Thể mà! Nếu quư vị chuyển biến quan niệm thành như vậy, quư vị trở thành Bồ Tát. Niệm niệm c̣n nghĩ có Ngă, chắc chắn là phàm phu. Phàm phu có Ngă, từ A La Hán trở lên chẳng có Ngă, Ngă Chấp đă phá. Do vậy, niệm niệm c̣n có Ngă th́ chính ḿnh phải giác ngộ, chắc chắn là ta chưa chứng A La Hán. A La Hán chẳng có Ngă, nay ta c̣n có Ngă. Nếu lấy tiêu chuẩn của kinh Kim Cang để nói, ta c̣n có “ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng”. Kiên tŕ giữ chặt những phân biệt, chấp trước ấy, chẳng bỏ, quư vị là phàm phu, chẳng phải là Bồ Tát. Bồ Tát thật sự phá sạch bốn tướng ấy, quư vị c̣n chấp trước bốn tướng ấy, nên chẳng phải là Bồ Tát, kinh Kim Cang nói “tức phi Bồ Tát” (chẳng phải là Bồ Tát). Đă thọ Bồ Tát Giới vẫn chẳng phải là Bồ Tát. Chẳng phải là nói “ta thọ Bồ Tát Giới th́ là Bồ Tát!” Nếu chẳng có bốn tướng ấy, dẫu chẳng thọ Bồ Tát Giới, vẫn là Bồ Tát, quư vị là Bồ Tát thật sự. Có thể thấy: Muốn phá tan chấp trước ấy, phá tan bốn tướng, dùng phương pháp ǵ? Dùng từ, bi, hỷ, xả, chuyển biến cái tâm chỉ quan tâm chính ḿnh thành cái tâm quan tâm hết thảy chúng sanh.
Chữ Hỷ rất trọng yếu, nó phá trừ phiền năo ganh tỵ, chướng
ngại. Nói thật ra, lục đạo phàm phu tâm ganh tỵ rất nặng. Thấy người ta có điều hay,
trong tâm ḿnh rất khó chịu. Hỷ là phá trừ tâm ganh tỵ, thấy điều hay của người khác bèn hoan hỷ. “Hỷ chúng sanh ly khổ đắc lạc” (Vui thích chúng sanh ĺa khổ, được vui). Chính ḿnh chịu khổ chẳng sợ, chẳng muốn chúng sanh chịu khổ sở, mong mỏi chúng sanh có thể ĺa khổ được vui.
Xả là buông xuống. “Nhất pháp bất trước,
vạn duyên giai xả” (chẳng chấp một pháp, muôn duyên đều xả). Không chỉ chẳng chấp pháp thế gian, mà Phật pháp cũng chẳng chấp. Nếu ta chẳng chấp pháp thế gian, nhưng chấp Phật pháp th́ sự chấp trước của quư vị có khác ǵ đâu? Chỉ bất quá là thay đổi đối tượng mà thôi, vô dụng! Do đó, phải thật sự buông xuống. Buông xuống, quư vị sẽ tự tại, sẽ an lạc. Do đó nói: Ưu lự, vướng mắc, vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước thảy đều buông xuống. Câu này nói dễ dàng, nhưng thực hiện rất khó, ắt phải thật sự giác ngộ th́ mới chịu làm như vậy! Thật sự giác ngộ ǵ vậy? Giác ngộ sanh tử luân hồi đáng sợ. Nếu quư vị chẳng buông xuống; nói cách khác, quư vị phải vĩnh viễn sanh tử luân hồi!
Hễ sanh tử luân hồi, tôi đặc biệt nhắc nhở chư vị đồng tu, đời sau chắc chắn chẳng bằng đời này. Đời này chúng ta ở trong nhân đạo của lục
đạo, đời sau đi về đâu? Nhất định đọa trong ba
ác đạo. Đừng nói là học Phật
[chẳng sợ đọa ác đạo], người học Phật đọa ác đạo càng nhiều, người xuất gia cũng chẳng phải là ngoại lệ. Các vị xem truyện kư của cổ nhân, [sẽ thấy] chùa Quốc Thanh là tổ đ́nh của tông Thiên Thai, là đạo tràng của Trí Giả đại sư. Hàn Sơn và Thập Đắc là Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát hóa thân, ḥa thượng Phong Can là hóa thân của A Di Đà Phật, lúc trụ trong thế gian, ba vị ấy đều ở chùa Quốc Thanh. Thuở ấy, chùa Quốc Thanh có vườn phóng sanh, Hàn Sơn và Thập Đắc thường đến t́m bọn súc sanh trong vườn phóng sanh, cho chúng ăn. Công việc của họ là làm tạp vụ trong nhà bếp, nên đem thức ăn thừa cho các con vật ăn. Khi họ cho chúng ăn, thường gọi các con vật bằng tên, kêu một tên th́ một con chạy lại. Mọi người nghe những tên được
gọi, thấy toàn là [pháp danh của]
những người xuất gia trước kia ở chùa Quốc Thanh đă chết. Trong Quốc Thanh Tự Tự Chí có chép chuyện này. Đời trước là người xuất gia, đời này là súc sanh, c̣n may là súc sanh được người ta phóng sanh. Người xuất gia c̣n như thế, người tại gia cũng chẳng có ngoại lệ. Chúng ta phải thật sự giác ngộ điều này.
Chúng ta chỉ có một sanh lộ là cầu sanh Tây Phương. Con đường này nhất định là có thể đi thông suốt, vấn đề là quư vị có chịu đi hay không? Nếu quư vị chịu đi, phải nhớ giáo huấn trong Tịnh Độ Ngũ Kinh, phải nỗ lực thực hiện, quyết định chẳng thể
vi phạm, thật thà niệm Phật như vậy th́ mới có thể đảm bảo văng sanh. Nếu tâm hạnh của chúng ta hoàn toàn trái nghịch giáo huấn của đức Phật, quư vị niệm Phật kiểu nào cũng uổng công, quư vị chỉ niệm tốt lành đằng miệng, tâm chẳng lành! Phật pháp là tâm pháp, thành Phật là tâm thành Phật, chẳng
phải là miệng thành Phật. Miệng chẳng thể thành Phật, tâm thanh tịnh th́ mới có thể thành Phật. V́ thế, Xả rất trọng yếu, phải là muôn duyên đều bỏ, phải bỏ từ tâm địa. Chúng ta cũng phải nhận thức rơ ràng điều này, không phải là bảo quư vị “từ nay về sau chuyện ǵ cũng chẳng muốn làm”, chẳng
phải vậy! Trong thế gian này, quư vị có gia đ́nh, có nghĩa vụ, có trách nhiệm, đó là nghiệp, chẳng có cách nào bỏ được, ắt phải gánh lấy trách nhiệm, phải tận hết chức trách. Nói cách khác, trừ những điều ấy ra, đối với những điều khác, phải tận hết sức buông bỏ, phải giữ bổn phận.
Học Phật cũng là như thế. Ta đă chọn lựa Tịnh Độ, đă phát nguyện văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chỉ giữ một bộ kinh này, hoặc tối đa là chọn Tịnh Độ Ngũ Kinh. Ngoài năm kinh ra, [các kinh, luận khác] ta phải bỏ, như vậy th́ mới phù hợp với “một bề
chuyên niệm” như kinh Vô Lượng Thọ đă dạy. Chuyên niệm th́ mới có thể thành tựu. Trong phần trước đă nói tới Chỉ Quán, chuyên th́ mới có thể Chỉ được! Quư vị học quá nhiều, học rất tạp, chẳng thể Chỉ được!
Quư vị xem kinh nhiều, thấy
trong kinh này, đức Phật nói như thế này, kinh kia lại nói như thế nọ, quư vị bèn dấy lên phân biệt, dấy ḷng nghi hoặc, khởi vọng tưởng, quư vị bị tổn hại rất lớn. V́ thế, học ǵ nhất
định cũng phải là thâm nhập một môn.
“Từ, bi, hỷ, xả” là Tánh Đức tự nhiên biểu lộ, nhưng Tánh Đức
biểu lộ vẫn phải nhờ Tu Đức giúp đỡ. Công phu Tu Đức chẳng đạt mức, Tánh Đức chẳng thể hiện tiền! Tánh Đức biểu lộ, đương nhiên là như đă nói ở đây: “Ai hĩ bất thương,
lạc nhi bất dật” (xót xa, nhưng
chẳng bi thương; vui vẻ, nhưng chẳng buông
lung). Hai câu này đều là nói: Từ bi hỷ xả chánh đáng, sẽ chẳng sanh ra những
khuyết điểm, không nẩy sanh tác dụng phụ. Hai câu này có dụng ư rất sâu và cũng hết sức trọng yếu. Trong Phật môn, chúng ta thường nói, Phật pháp là “từ bi làm gốc,
phương tiện làm cửa”, nhưng Phật môn cũng rất thường nói: “Từ bi lắm họa hại, phương tiện thành hạ lưu”. Có rất nhiều người học Phật pháp một cách ngây ngốc, học chết cứng, Phật pháp dạy họ phải đại từ đại bi, họ
[thực hiện lời dạy]
rất tốt, suốt ngày từ sáng đến tối đều từ bi, nhưng chuốc lấy một thân rắc rối!
Nhất là trong xă hội hiện thời, [con người] không nề hà thủ đoạn lừa đảo người
khác, kẻ từ bi ắt dễ bị lừa. Quư vị đă bị người ta lừa, mà chính ḿnh vẫn ngỡ ta đang tu từ bi, oan uổng quá! Do vậy, từ bi hỷ xả phải kiến lập trên cơ sở Định - Huệ. Hai câu này chẳng thể đảo lộn thứ tự! V́ sao, trước đó phải nói “Chỉ Quán song thành Định - Huệ” (Chỉ Quán cùng vận dụng để thành tựu Định -
Huệ), rồi mới nói từ bi hỷ xả? Quư vị chẳng có cơ sở Định -
Huệ, từ bi hỷ xả sẽ gặp phiền phức lớn. Quư vị hiểu đạo lư này, biết thứ tự tu học, hiện thời, chuyện khẩn yếu là ta tu Chỉ Quán trước tiên. Định -
Huệ của ta chưa thành tựu, từ bi hỷ xả sẽ có ngằn hạn. Sau khi Định - Huệ thành tựu, từ bi liền biến thành đại từ đại bi, v́ sao? Tâm địa quư vị thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần, quư vị có thần thông, có huệ nhăn, thấy rơ ràng, rành rẽ hết thảy người và sự vật trong
thế gian này, ai cũng chẳng thể lừa bịp quư vị, ai cũng chẳng thể dối gạt quư vị, khi ấy mới có thể hành đại từ bi, đại hỷ xả.
Chúng ta thấy đích xác là trong thời đại hiện tại cũng có những kẻ hảo tâm, đáng tiếc là thiếu phước báo, thiếu trí huệ, nghe đôi chút Phật pháp, [nghe kinh dạy] phải hỷ xả, bèn bỏ sạch tiền tài, tặng hết cho kẻ khác, tặng cho người khác làm chuyện ǵ [chính ḿnh cũng]
chẳng biết. Nếu kẻ đó là tà môn, tà đạo, nói cách khác, quư vị đă bỏ tiền tài giúp hắn tạo ác! Hắn chẳng có tiền tài, tạo ác hữu hạn. Hắn có lắm tiền tài, tạo nghiệp càng quá nặng, tương lai hắn là kẻ đầu sỏ gây họa, quư vị là ṭng phạm! Bỏ tiền kiểu đó bỏ tiền sai quấy, bỏ tiền tài lầm lạc!
Kể từ khi tôi học Phật đến nay, không ít đồng tu khuyên tôi: “Pháp sư ơi! Thầy phải có một đạo tràng”, tôi chưa từng có ư nghĩ ấy, v́ sao? Xây đạo tràng dễ dàng, nhưng đạo tràng xây xong có tánh chất ǵ? V́ tôi thấy đạo tràng trong thiên hạ, mười phần hết tám chín đều là đạo tràng đấu tranh. Dùng tài sản tốt lành của mười phương tín chúng để tạo dựng đạo tràng đấu tranh,
tội lỗi ấy chẳng thể tránh được! Quư vị phải thấy rơ ràng chân tướng sự thật, chuyện này chẳng thể làm! Vẫn là Định -
Huệ khẩn yếu, do Định -
Huệ quyết định có thể văng sanh. Từ bi hỷ xả chẳng thể văng sanh, v́ quư vị tu phước. Sau khi thật sự thành tựu Định - Huệ, từ bi hỷ xả sẽ khác hẳn, đó là Tánh Đức lưu lộ.
(Sao) Như tư
thiên nhạc, phi duy bất cổ, kiêm phục vô thanh, Vũ tịch, Cung trầm,
hưởng thiên chấn địa.
(鈔) 如 斯 天 樂,非 唯 不 鼓,兼 復 無 聲,羽 寂 宮 沉,響 天 震 地。
(Sao: Thiên nhạc như vậy,
không chỉ là chẳng tấu, mà c̣n không có tiếng,
tiếng Vũ lặng, tiếng Cung trầm[7], vang trời, rền đất).
Đoạn khai thị này của đại sư luận theo xứng tánh, tức là giảng về chân lạc trong tự tánh, giống như Định - Huệ và từ bi hỷ xả được nói trong phần trước là Tánh Đức của bổn tánh. Đó là nhạc thiên nhiên, chẳng cần đến nhạc khí. “Phi duy
bất cổ” (chẳng phải chỉ không tấu), “cổ” (鼓) là khảy gơ nhạc khí. Nếu chúng ta không khảy gơ nhạc khí, nó chẳng thể phát ra âm thanh. [Thiên nhạc trong cơi Cực Lạc]
chẳng cần, quư vị chẳng cần phải đụng tới những nhạc khí ấy. Thưa cùng quư vị, “thiên nhạc” vi diệu nhất chẳng có âm thanh, thật sự chẳng thể nghĩ bàn! Nay chúng ta nghe âm nhạc, nhất định phải có âm thanh; chẳng có âm thanh th́ nhạc ở đâu ra? Chẳng hiểu đại nhạc vô thanh! Quư vị chỉ có thể thưởng
thức nhạc chương trong
cơi phàm, chẳng thể thưởng thức đại nhạc chương của chư Phật, Bồ
Tát. Đại nhạc chương của chư Phật, Bồ
Tát chẳng có âm thanh! Tuy chẳng có âm thanh, đích xác là “hưởng thiên chấn địa” (vang trời, rền đất), chuyện này là như thế nào? Những lời này câu nào cũng đều chân thật! Hết thảy sắc tướng và âm thanh trong tận hư không khắp pháp giới đều thuộc loại thiên nhạc của tự tánh, những ǵ quư vị mắt thấy, tai nghe toàn là [thiên nhạc trong tự tánh]. Sắc tướng do đâu mà có? Sắc tướng sanh từ chấn động. Chấn động vừa có âm thanh, vừa có sắc tướng. Do đó, y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới là thiên nhạc của tự tánh. Sách Giảng Nghĩa ghi: “Phi duy bất cổ, kiêm phục vô thanh giả, Quán Kinh vân: ‘Như thiên bảo tràng, bất cổ tự minh’, kim năi phi duy
bất cổ tự minh, kiêm phục vô thanh khả thính, tự tánh chi nhạc, phi ngũ nhăn
năng khuy, nhị thính sở văn cố” (“Không chỉ là chẳng tấu, mà c̣n là không có tiếng”: Quán Kinh nói: “Như tràng báu cơi trời, chẳng gơ mà tự kêu”, nay [thiên nhạc] không chỉ là chẳng tấu mà tự kêu, lại c̣n không có tiếng để có thể nghe. Nhạc trong tự tánh, ngũ nhăn chẳng thấy được, nhị thính[8] chẳng nghe được), giảng rơ ư nghĩa này. Ư nghĩa của đoạn này hết sức sâu, hoàn toàn là tâm tánh lưu lộ, hoàn toàn là tiêu quy tự tánh. Điểm quư báu nhất của Sớ Sao là phần văn tự [Xứng Lư] sau mỗi đoạn [kinh văn]; đây là báo cáo tâm đắc tu học của Liên Tŕ đại sư. Tự tánh lưu lộ, giải thích khác với phần trước, [v́ lời giải thích trong các phần trước] là giải thích văn tự, c̣n phần này là tự tánh lưu lộ. Chúng ta lại xem khoa thứ hai:
Nhị, kim địa.
二、金 地。
(Hai, đất bằng vàng).
Kinh văn chỉ có một câu:
(Kinh) Hoàng kim vi địa.
(經) 黃 金
為 地。
(Kinh: Vàng ṛng làm đất).
Đây là nói tới sự trang nghiêm trên mặt đất trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới.
(Sớ) Thử nhiếp tiền khởi
hậu, vị Cực Lạc thế giới, thượng
tắc nhạc tác ư thiên, hạ tắc kim nghiêm kỳ
địa. Nhi cư thử hoàng kim địa
thượng, bất độc nhĩ văn thiên nhạc,
diệc thả nhăn kiến thiên hoa dă. Hoàng kim giả, vị lưu ly địa thượng, gián
dĩ hoàng kim, nhiên diệc chúng bảo vô định.
(疏) 此 躡
前 起 後,謂 極 樂 世 界,上
則 樂 作 於 天,下 則 金 嚴
其 地。而 居 此 黃 金 地 上,不
獨 耳 聞 天 樂,亦 且 眼 見
天 華 也。黃 金 者,謂 琉
璃 地 上,間 以 黃 金,然
亦 眾 寶 無 定。
(Sớ: Đây là
noi theo phần trước, để khởi đầu phần
sau. Ư nói: Trong thế giới Cực Lạc, trên th́ nhạc trỗi hư không, dưới th́ vàng trang nghiêm cơi đất. Nhưng ở trên đất vàng ṛng ấy, không chỉ là
tai nghe thiên nhạc, mà mắt cũng thấy hoa trời.
“Hoàng kim” là trên đất lưu ly, xen kẽ vàng ṛng,
nhưng cũng có các thứ báu [chen lẫn] không nhất
định).
Trong không trung của Tây Phương Cực Lạc thế giới có thiên nhạc, đó là nói về bầu trời, nh́n lên trên. Nh́n xuống dưới th́ là “vàng ṛng làm đất”. “Nghiêm”
là trang nghiêm, trên mặt đất trang nghiêm bằng vàng ṛng. Hiện thời, trong thế giới của chúng ta, dùng đá cẩm thạch lót đất th́ khá trang nghiêm. Trên thực tế, lót đất bằng đá cẩm thạch rất ít, chẳng nhiều lắm, trên mặt đất thông thường nhất là đường
sá trải nhựa đường.
Đường trải nhựa là cảnh trang nghiêm nơi cơi này, đường
sá trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới lót bằng vàng. Chúng ta coi vàng ṛng rất trân quư, mọi người làm thành đồ trang sức giắt trên thân rất đẹp đẽ, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, trông thấy
quê kệch quá! Sao lại dùng thứ lót đường giắt lên người? Mặt đất của chúng ta là bùn, cát, mặt đất trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là lưu ly, vàng ṛng lót trên mặt làm đường. “Cư
thử hoàng kim địa thượng, bất độc
nhĩ văn thiên nhạc, diệc thả nhăn kiến thiên
hoa” (sống trên đất vàng ṛng ấy, không
chỉ là tai nghe thiên nhạc, mà mắt cũng thấy hoa
trời), quư vị lại c̣n thấy sự trang nghiêm trên không trung. Trên hư không có hoa cơi trời, hoa từ trên trời rơi xuống, chầm chậm rơi xuống, hoa như thế nào? Quư vị thích hoa như thế nào, liền rơi xuống hoa như thế ấy, rất đẹp đẽ. V́ vậy, gọi là Thích Ư Hoa. Thích Ư Hoa là hợp với ư ḿnh, là thứ ta ưa thích.
“Hoàng kim giả, vị lưu ly địa
thượng, gián dĩ hoàng kim” (“Hoàng kim” là trên đất lưu ly, xen kẽ vàng ṛng), lót vàng ṛng trên đất lưu ly để làm thành mặt đường,
điều này phổ biến nhất trong thế giới Cực Lạc, giống như chúng ta trải nhựa đường làm thành đường
sá trong thế giới này. “Nhiên diệc chúng
bảo vô định” (nhưng cũng có các thứ báu, chẳng nhất định), cũng có chỗ mặt đường
không dùng hoàng kim, mà dùng những thứ trân bảo khác để lót. Giống như trong thế gian này, cả thế giới phổ biến nhất là dùng nhựa đường,
nhưng cũng có khi dùng xi-măng, cũng có khi dùng đá để
lót đường.
V́ vậy, ở bên kia, vàng ṛng dùng để lót mặt đường.
(Sao) Gián dĩ hoàng kim giả, như Quán Kinh vân, kiến lưu ly địa, nội ngoại ánh triệt.
(鈔) 間 以 黃 金 者,如 觀
經 云,見 琉 璃 地,內 外
映 徹。
(Sao: “Vàng ṛng
xen lẫn” là như trong Quán Kinh có nói: “Thấy đất
lưu ly, trong ngoài chiếu thấu suốt”).
Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật giảng rất tỉ mỉ. Đất trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới là “lưu ly địa”, lưu ly trong suốt. Lưu ly là loại ngọc màu xanh, tức ngọc Phỉ Thúy. Tây Phương Cực Lạc thế giới có rất nhiều Phỉ Thúy, toàn thể đại địa đều bằng ngọc Phỉ Thúy, trong suốt, từ trên mặt đất có thể thấy tận dưới nền đất. Thế giới ấy đích xác là quá nhiều bảo vật. Trong thế gian này, Phỉ Thúy là thứ bảo thạch hết sức hiếm có; trong Tây Phương Cực Lạc thế giới nó rất phổ biến, toàn thể đại địa đều là nó.
(Sao) Hạ hữu kim cang thất bảo kim
tràng, ḱnh lưu ly địa, kỳ tràng bát lăng, bách
bảo sở thành, nhất nhất bảo châu phóng thiên
quang minh, nhất nhất quang minh bát vạn tứ thiên
sắc, ánh lưu ly địa, như ức thiên nhật.
(鈔) 下 有 金 剛 七 寶 金 幢,擎
琉 璃 地,其 幢 八 棱,百
寶 所 成,一 一 寶 珠 放 千
光 明,一 一 光 明 八 萬 四
千 色,映 琉 璃 地,如 億
千 日。
(Sao: Phía dưới có kim tràng bằng kim cang
thất bảo nâng đỡ đất lưu ly. Tràng
ấy có tám cạnh, do trăm thứ báu hợp thành.
Mỗi viên bảo châu tỏa ra một ngàn quang minh. Mỗi quang minh có tám vạn bốn ngàn
màu, chói ngời đất lưu ly như ức ngàn
mặt trời)
Địa cầu của chúng ta là tinh cầu, Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng là một tinh cầu. Đất đá trên tinh cầu của chúng ta bị chướng ngại, đục ng̣m, chẳng thể nh́n xuyên suốt. Rốt cuộc trung tâm địa cầu là ǵ, chúng ta chẳng nh́n thấy. Đất của Tây Phương Cực Lạc thế giới là lưu ly trong suốt, nên thấy được địa tâm, địa tâm ấy rất đẹp. Trong ruột địa cầu là lửa, địa tâm của Tây Phương Cực Lạc thế giới là quang minh, chẳng phải là lửa cháy hừng hực.
Quư vị nh́n phía dưới đất lưu ly, phía dưới có “thất bảo kim tràng”. Tràng có h́nh tṛn, giống như cây cột. Do vậy, chúng ta cũng có thể nghĩ Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng giống như địa cầu của chúng ta, có Nam Cực và Bắc Cực, chính giữa có vật giống như cây cột, do cột có h́nh trụ nên gọi là Tràng. “Kỳ tràng
bát lăng” (tràng ấy tám cạnh), nó chẳng phải là h́nh tṛn, mà là h́nh bát giác, do “bách bảo sở thành” (trăm thứ báu hợp thành). Mỗi chất báu đều tỏa ánh sáng, nên phía dưới đại địa tỏa ánh sáng. Mỗi loại chất báu đều có quang minh, mỗi quang minh lại có “bát vạn tứ thiên sắc”
(tám vạn bốn ngàn màu). Quang sắc ấy vi diệu “như
ức thiên nhật” (như ức ngàn mặt trời). “Nhật”
là mặt trời. Ánh sáng của một vầng mặt trời đă ghê gớm lắm rồi, [ở đây là quang minh tỏa ra] giống như ức ngàn vạn vầng mặt trời.
Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có thứ ǵ không phóng quang, đất luôn tỏa ánh sáng, trong đất có quang minh thấu lộ ra ngoài! Những chỗ này chúng ta phải đọc cẩn thận mới hiểu được,
chớ nên coi thường đọc lướt qua! V́ sao? Trong kinh Đại Thừa, đức Phật đă dạy chúng ta:“Y báo
chuyển theo chánh báo”. Do y báo trang nghiêm như vậy, chúng ta mới biết người nơi ấy phước báo to lớn, tâm địa thanh tịnh. Tâm không thanh tịnh, y báo chẳng thể có quang minh. Chúng ta phải chọn lựa một nơi tốt đẹp để ở, nơi tốt nhất
trong tận hư không khắp pháp giới, không ǵ hơn thế giới Cực Lạc. Mong sanh về đó, ở bên đó A Di Đà Phật hoan nghênh, chẳng cự tuyệt, nên di dân rất dễ dàng, trừ phi chính quư vị chẳng muốn đến. Nếu quư vị muốn đến; chẳng có một ai không tu tập thành công.
(Sao) Lưu ly địa thượng, dĩ
hoàng kim thằng, tạp xí gián thác, giới dĩ thất
bảo, phân tề phân minh.
(鈔) 琉 璃
地 上,以 黃 金 繩,雜 廁
間 錯,界 以 七 寶,分 齊
分 明。
(Sao: Trên
đất lưu ly, dùng dây bằng vàng để giăng ngang dọc xen kẽ, dùng bảy báu để phân chia ranh
giới phân minh).
Trên đất lưu ly dùng vàng ṛng trải làm mặt đường,
rất giống như có từng giới tuyến, tạo thành từng con đường một.
(Sao) Cứ thử, tắc địa
bổn lưu ly.
(鈔) 據 此,則 地 本 琉 璃。
(Sao: Xét theo
đó, đất [trong cơi Cực Lạc] vốn là lưu
ly).
Đất trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới là đất lưu ly.
(Sao) Nhi hoàng kim giả, hựu địa
diện chi trang nghiêm dă.
(鈔) 而 黃 金 者,又 地 面
之 莊 嚴 也。
(Sao: Mà vàng ṛng
lại là thứ để trang nghiêm trên mặt
đất).
Vàng ṛng lót thành đường, tất nhiên là để trang nghiêm mặt đất.
(Sao) Đại Bổn vân: “Bỉ sát tự
nhiên thất bảo, thể tánh ôn nhu, tương gián vi
địa, hoặc thuần nhất bảo, quang sắc
hoảng diệu, siêu việt thập phương, khôi
khuếch khoáng đăng, bất khả cùng tận,
địa giai b́nh
chánh, vô hữu Tu Di cập chư sơn hải khanh
khảm tỉnh cốc u ám chi sở.
(鈔) 大 本 云:彼 剎 自 然 七 寶,體 性 溫 柔,相 間 為 地,或 純 一 寶,光 色 晃 耀,超 越 十 方,恢 廓 曠 蕩,不 可 窮 盡,地 皆 平 正,無 有 須 彌 及 諸 山 海 坑 坎 井 谷 幽 暗 之 所。
(Sao: Đại Bổn chép: “Bảy báu trong cơi ấy tự nhiên, thể tánh ôn ḥa, mềm mại, xen kẽ nhau hợp
thành mặt đất, hoặc thuần là một
thứ báu, ánh sáng và màu sắc chói ngời, vượt
trỗi mười phương.
[Đại địa cơi ấy] to tát, mênh mông chẳng thể cùng tận, cuộc
đất phẳng phiu, ngay ngắn, chẳng có núi Tu Di và
các núi, biển, hầm, hố, hang, hốc, các chỗ
tối tăm”).
Đoạn này là kinh văn trong kinh Vô Lượng Thọ, trần thuật t́nh trạng địa lư của Tây Phương Cực Lạc thế giới.
(Sao) Cứ thử, tắc diệc khả chuyên dĩ hoàng kim vi địa.
(鈔) 據 此,則
亦 可 專 以 黃 金 為 地。
(Sao: Xét theo
đó, th́ cũng có thể nói là chuyên lấy vàng ṛng làm
đất).
Nói theo đoạn kinh Vô Lượng Thọ này, đất trong Tây Phương Cực Lạc thế giới tuy bằng lưu ly, nhưng cũng có các loại bảy báu khác, trọn chẳng phải là một tinh cầu thuần túy bằng lưu ly, mà cũng có các thứ báu khác xen lẫn trong ấy. Nói như vậy th́ có thể gọi là “hoàng kim vi
địa” (vàng ṛng làm đất). Trong thế giới ấy, vàng có sản lượng phong phú, chiếm phân lượng khá lớn trong địa chất, nên cũng có thể nói là “vàng ṛng làm đất”. Đây là hợp hai bộ kinh lại để xem.
(Sao) Hoàng kim lưu ly, thả dĩ nhất
bảo, nhị bảo ngôn chi, chúng bảo vi chi,
đương diệc vô tận.
(鈔) 黃 金 琉 璃,且 以 一
寶 二 寶 言 之,眾 寶 為 之,當
亦 無 盡。
(Sao: [Nói đất bằng] vàng ṛng hay bằng
lưu ly là lấy một
thứ báu hay hai
thứ báu để nói, [như vậy] th́ các thứ báu [dùng làm đất] cũng phải là vô tận).
Tây Phương Cực Lạc thế giới, không chỉ người là vô lượng thọ, Phật, Bồ
Tát là vô lượng quang, mà tất cả sản vật đều là vô lượng. Chẳng có ai có thể nêu rơ danh xưng của từng sản vật trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Không chỉ chẳng thể nói kể danh xưng, mà số lượng cũng chẳng thể nói được! Chúng ta đă đọc thấy điều này trong kinh Vô Lượng Thọ. Kinh đă nêu tỷ dụ rất hay, chúng sanh trong mười phương thế giới thảy đều thành Bích Chi Phật, trí huệ và thần thông đều như Mục Kiền Liên, hợp sức tính toán, họ đều có thọ mạng ngàn ức năm vẫn chẳng tính ra. Tài nguyên của họ rất phong phú, chẳng có cách nào tưởng tượng, chẳng thể nghĩ bàn! V́ vậy, ở đây, Liên Tŕ đại sư kết luận, “thả dĩ
nhất bảo, nhị bảo ngôn chi, chúng bảo vi chi,
đương diệc vô tận” (là lấy một thứ báu hay hai thứ
báu để nói, [như vậy] th́ các thứ báu [dùng làm
đất] cũng phải là vô tận). Đó là lời chân thật, kinh Vô Lượng Thọ đă nói rất rơ ràng, xác thực là vô tận.
(Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh Chân Như b́nh đẳng, thị kim
địa nghĩa.
(疏) 稱 理,則
自 性 真 如 平 等,是 金 地
義。
(Sớ: Xứng
Lư, tự tánh Chân Như b́nh đẳng là ư nghĩa của
đất vàng).
Trong bảy báu, đầu tiên chúng ta nói tới vàng, v́ sao đặt vàng ở vị trí ở thứ nhất? Hoàng kim được người b́nh phàm coi trọng. Vàng có một đặc tánh khó có nhất là màu sắc tươi nhuận chẳng thay đổi, nên Phật pháp dùng nó để biểu thị pháp, biểu thị Chân Như. Chân Như vĩnh viễn không thay đổi giống như vàng. Đất bằng vàng có ư nghĩa biểu thị pháp là biểu thị Tánh Đức. “Tự tánh Chân Như b́nh
đẳng”, đúng là chẳng giả, v́ nó chẳng thay đổi.
(Sao) Chân Như, tắc vô tạp, vô uế, vô biến, vô thiên, lịch vạn kiếp nhi thường tân.
(鈔) 真 如,則 無 雜 無 穢,無
變 無 遷,歷 萬 劫 而 常 新。
(Sao: Chân
Như chẳng xen tạp, chẳng nhơ bẩn, chẳng
biến đổi, chẳng đổi dời, trải qua
vạn kiếp mà vẫn luôn mới mẻ).
Đây là ư nghĩa của vàng, h́nh dung chân tánh, chân tâm của chúng ta. Chân tâm chẳng có niệm. Hiện thời, cái tâm mà phàm phu chúng ta thường dùng là vọng tâm, chẳng dùng chân tâm! Chân tâm c̣n gọi là chân tánh, c̣n gọi là bổn tánh. Không chỉ lục đạo phàm phu mê mất chân tâm của chính ḿnh, đức Phật dạy, Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ Tát đều chưa kiến tánh. Nói cách khác, đều chưa biết dùng chân tâm tự tánh. Kinh Lăng Nghiêm nói rất thấu triệt, nói rất rơ ràng: Từ Quyền Giáo trở xuống dùng tâm ǵ? Dùng tâm tám thức, chúng ta toàn là dùng tám thức. Chỉ có những vị Đại Bồ Tát
thật sự minh tâm kiến tánh chuyển tám thức thành bốn trí! Các Ngài sử dụng bốn trí, chúng ta sử dụng tám thức. Chúng ta mê nhiễm hết sức nặng; A La Hán, Bích Chi Phật, Quyền Giáo Bồ Tát mê nhẹ hơn, nhưng đều chưa kiến tánh. Do đó, chân tánh vĩnh viễn bất biến, vĩnh viễn luôn mới mẻ.
Nếu chư vị đồng tu biết dùng tâm này, quư vị năm nào cũng là mười tám, vĩnh viễn chẳng suy, chẳng già! V́ sao bị già? Người thế gian thường nói: “Ưu
tư khiến con người già xọm!” Quư vị hằng ngày ưu lự, mỗi ngày một già, do dùng vọng tâm nên già, dùng chân tâm sẽ chẳng già! A La Hán, Bích Chi Phật có thể già, chứ Bồ Tát chẳng già. Bồ Tát biết sử dụng chân tâm; A La Hán, Bích Chi Phật vẫn chẳng biết dùng chân tâm. Quư vị bèn nghĩ đến tầm trọng yếu của việc dùng
chân tâm. Chúng ta hy vọng chính ḿnh chẳng già, hy vọng chính ḿnh thường măi thanh xuân, quư vị phải học cách dùng chân tâm. Trong chân tâm, thứ ǵ cũng đều chẳng có, chân tâm ly niệm, chẳng có vọng niệm. Lục Tổ nói “vốn chẳng có một một vật”, vốn chẳng có một vật là chân tâm, có một niệm sẽ không là chân tâm, mà là vọng tâm.
Nhưng chư vị phải hiểu, “niệm ǵ cũng đều chẳng có” th́ quư vị vẫn có một niệm, [tức
là vẫn c̣n] có một niệm “niệm ǵ cũng đều
chẳng có”, phiền phức to lớn! Có “hữu
niệm” là trật, có “vô niệm” vẫn trật, vẫn là vọng tâm. Trong chân tâm chẳng có “hữu niệm”, mà cũng chẳng có “vô
niệm”. Hữu niệm và vô niệm đều chẳng có, đó mới là chân tâm. Chuyện này khiến cho chúng ta rất khó hiểu, hữu niệm là trật, vô niệm cũng trật, rốt cuộc phải làm sao? Rất khó, đúng là khó! V́ thế, quay lại, nói
về pháp môn Niệm Phật, pháp môn Niệm Phật dễ dàng, v́ sao? Quư vị suốt ngày từ sáng đến tối niệm một câu A Di Đà Phật, chính là hữu niệm chẳng có, mà vô niệm cũng chẳng có. Ta hết thảy vọng niệm
đều chẳng có, đó là chẳng có “hữu
niệm”! Ta suốt ngày từ sáng đến tối niệm A Di Đà Phật, trọn chẳng phải là “một niệm cũng chẳng có”, ta chẳng phải là vô niệm! Vô niệm và hữu niệm hai bên đều chẳng có. Một câu A Di Đà Phật là Tánh Đức trong tự tánh của chúng ta, là âm thanh của bản thể tự tánh. Do đó, niệm câu A Di Đà Phật là niệm Chân Như bổn tánh, là niệm tự tánh b́nh đẳng, nên công đức vô lượng vô biên, chẳng thể
nghĩ bàn! Hy vọng chư vị dùng chân tâm, chân tâm là tâm b́nh đẳng.
(Sao) B́nh
đẳng, tắc bất tăng, bất
giảm, bất
cao, bất hạ, vi thiên thánh sở cộng lư.
(鈔) 平 等,則 不 增 不 減,不
高 不 下,為 千 聖 所 共 履。
(Sao: B́nh đẳng bèn chẳng tăng,
chẳng giảm, chẳng cao, chẳng thấp, là chỗ
thường hành của ngàn vị thánh).
“Thiên thánh” ở đây là nói đến một ngàn vị Phật xuất thế trong Hiền Kiếp, một ngàn vị Phật ấy tu hành thành tựu như thế nào? Tu “tự tánh Chân Như b́nh đẳng”, nên các Ngài mới có thể viên thành Phật đạo. Do đó, tánh b́nh đẳng phải hiện tiền. Nếu trong cảnh giới, chúng ta có mảy may chấp trước bèn chẳng b́nh đẳng. Có phân biệt th́ vẫn chưa sao, nhưng quyết định chớ nên chấp
trước; hễ có chấp trước bèn chẳng b́nh đẳng. B́nh đẳng là chân tánh, là chân tâm; bất b́nh đẳng là vọng tâm. Nếu nói nông cạn hơn một chút, b́nh đẳng là nhất tâm bất loạn, nhất tâm bèn b́nh đẳng, nhị tâm chẳng b́nh đẳng. Nhất định phải vận dụng điều này trong cuộc sống hằng ngày, ḥa thành một khối với cuộc sống, đó là tu hành, là chân chánh niệm Phật! Làm như thế nào để ḥa nhập thành một khối với cuộc sống? Chúng ta từ sáng đến tối, mặc quần áo, ăn cơm, đăi người, tiếp vật, đều hiểu rơ ràng, rành rẽ, đó là Huệ, là Quán; đối với hết thảy người và sự chẳng phân biệt, không chấp trước, đó là b́nh đẳng.
Thực hiện như thế nào? Nếu quư vị mong Phật dạy cho chúng ta chân tướng sự thật th́ kinh Kim Cang đă nói: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, do hư vọng nên b́nh đẳng. Tướng tốt là hư vọng, tướng xấu cũng là hư vọng. Thiện tướng là hư vọng, ác tướng cũng là hư vọng. Xứng ḷng thỏa ư là hư vọng, chẳng vừa ḷng trái ư vẫn hư vọng, cho nên b́nh đẳng. Phải biết hết thảy các tướng đều là giả tướng, đều chẳng chân thật, chớ nên khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước đối với các tướng hư vọng ấy, tâm chúng ta mới có thể b́nh đẳng. B́nh đẳng bèn Chỉ, Chỉ là như trong phần trước đă nói tới Chỉ Quán, liền ngưng dứt! Chỉ không được là do bất b́nh đẳng.
Tâm ắt phải khởi b́nh đẳng trong
cảnh giới; khi ấy, quư vị tu hành công phu mới đắc lực, mới thật sự có
thọ dụng. Sự thọ dụng ấy, nói nông cạn là quư vị đắc tự tại. Trong Phật pháp có nói Pháp Thân, Bát Nhă và Giải Thoát, đầu tiên quư vị
đạt được
tự tại, tự tại là giải thoát, quư vị chẳng có ưu lự, chẳng có phiền năo, chẳng có đau khổ, chẳng sợ hăi, đầu tiên là quư vị đạt được
những điều này. Dần dần trí huệ mở mang, hết thảy Lư Sự, hết thảy nhân quả, quá khứ, vị lai, quư vị dần dần hiểu rơ, thông đạt. Thân tâm và thế giới dung hợp thành một Thể, đó là Pháp Thân. Tận hư không khắp pháp giới và chính ḿnh là một, Pháp Thân
hiện tiền. Bởi lẽ, hết thảy chư Phật đều theo con đường này mà chứng đắc, thành tựu, chẳng có ngoại lệ. Chúng ta muốn tu học, muốn thành tựu, cũng phải đi theo con đường này.
Phật pháp đặc biệt chú trọng dùng vàng để biểu thị pháp. Tượng Phật được làm thành kim thân; thậm chí thời cổ, cung điện chú trọng toàn là màu vàng, nhằm biểu thị Chân, biểu thị b́nh đẳng, biểu thị chân thật b́nh đẳng.
(Sao) Tỳ Xá Như Lai, vị “đương b́nh tâm địa, tắc thế
giới b́nh”. Như Xá
Lợi Phất, tâm hữu cao hạ, năi kiến khâu, lăng, khanh, khảm thị dă. Thị cố
nhân nhân hành xứ thị hoàng kim, hà đăi Như Lai dĩ
túc chỉ án địa.
(鈔) 毗 舍 如 來,謂 當 平
心 地,則 世 界 平;如 舍
利 弗,心 有 高 下,乃 見
丘 陵 坑 坎 是 也。是 故 人
人 行 處 是 黃 金,何 待 如
來 以 足 指 按 地。
(Sao: Tỳ Xá
Như Lai nói: “Hăy nên b́nh tâm địa, ắt thế
giới b́nh”. Như tâm ngài Xá Lợi Phất có cao, thấp, bèn thấy [thế
giới Sa Bà] có g̣, núi, hầm, hố, là v́ lẽ đó. V́
thế, người nào cũng đi nơi đất vàng
ṛng, há cần chờ đức Như Lai nhấn ngón chân
xuống đất).
Câu nào trong đoạn văn tự này cũng đều có lai lịch. Sách Diễn Nghĩa đă nói rơ Tỳ Xá Như Lai nói câu này trong kinh Lăng Nghiêm: “Lăng Nghiêm kinh
vân: Tŕ Địa Bồ Tát, ư Phổ Quang Phật thời, vi
tỳ-kheo” (Kinh Lăng Nghiêm chép: “Tŕ Địa Bồ Tát làm tỳ-kheo trong thời Phổ Quang Phật”), nói về sự tu hành của Bồ Tát trong lúc tu nhân, lúc mới xuất gia, Ngài làm tỳ-kheo. “B́nh điền đạo lộ” (lấp bằng đường
sá), Ngài rất phát tâm, hằng ngày tu bổ cầu, sửa đường, làm chuyện tốt! Một ngày nọ, Ngài biết Tỳ Xá Phật sẽ đi qua, nên đặc biệt đổ hết công sức san đắp cho
đường sá rất phẳng phiu, để Phật đi qua. Đức Phật thấy Ngài bèn xoa đầu, bảo: “Hăy nên b́nh
tâm địa, ắt đại địa trong thế
giới hết thảy đều b́nh”, vẫn là nói rơ: Y báo chuyển theo chánh báo.
Chư vị đồng tu! Hiện thời mỗi cá nhân chúng ta đều có trách nhiệm rất lớn, trách nhiệm ǵ vậy? Cả thế giới
đều biết Đài Loan là phước địa, là một đảo báu! Hiện thời người khắp thế giới hâm mộ chúng ta, Đài Loan giàu có nhất thế giới!
Nhưng ở ngoại quốc, tôi cũng nghe có người nói: “Người Đài Loan sắp hưởng hết phước báo rồi!” Điều này thật sự
đáng cho chúng ta cảnh tỉnh! Nếu chúng ta muốn ǵn giữ cuộc sống phồn vinh, an định, yên ổn, ḥa b́nh, lợi lạc, nhất định phải tu tâm b́nh đẳng. Nói cách khác, phải tu “b́nh tâm địa”.
Tâm phải như thế nào th́ mới b́nh? Chư vị hăy suy nghĩ, nếu quư vị có tham, sân, si, mạn, tâm sẽ không b́nh. Người học Phật phải giác ngộ, phải hiểu rơ lư. Tôi c̣n nghe nói có nhiều đồng tu học Phật trước đây thường đến nghe kinh, nay chẳng thấy đến nữa, đi đâu? Nghe nói đi buôn bán cổ phiếu, sức dụ dỗ, mê hoặc của chuyện ấy rất lớn! Từ bỏ Tây Phương Cực Lạc thế giới, muốn làm chuyện lục đạo luân hồi! Muốn làm chuyện ấy, chư vị hăy suy nghĩ cặn kẽ, đó là tạo tham, sân, si, mạn nghi! Cứ làm như vậy, gần như là phước báo của chúng ta bị dùng hết nhanh lắm. Mọi người đều gạt bỏ phiền năo, khôi phục tự tánh thanh tịnh tâm th́ chúng ta mới có thể vĩnh viễn ǵn giữ phước báo, mới chẳng bị tiêu mất.
V́ vậy, muốn thiên hạ thái b́nh, phải làm từ chỗ nào? Làm từ chỗ tâm địa b́nh đẳng. Do đó, học Phật, tôi khuyên các đồng tu, quư vị hăy thử trước trong
thời gian ba tháng, không cần quá lâu, suốt ba tháng không đọc báo, không nghe radio, không la cà nhà người khác, giữ cho tâm định, thật thà niệm câu Phật hiệu này, đọc cuốn kinh Vô
Lượng Thọ này, quư vị thử trong ba tháng mà xem! Trong ba tháng ấy, tâm quư vị nhất định thanh tịnh hơn, quư vị mới có thể thấu hiểu sự thọ dụng chân thật trong Phật pháp. Nghe kinh, niệm Phật, nhưng hằng ngày c̣n đi lung tung khắp nơi, vô dụng! Hành suốt ba mươi năm vẫn uổng công, cảnh giới của quư vị chẳng khác ǵ hiện thời, vô dụng! Nhất định phải bỏ sạch hết thảy vạn duyên, khiến cho tâm quư vị thanh tịnh, b́nh đẳng, trí huệ và phước đức của quư vị thật sự hiện tiền. “Thị cố nhân nhân hành xứ
thị hoàng kim” (do đó, người nào cũng đi nơi đất vàng ṛng): Hành xứ của quư vị vĩnh viễn là b́nh đẳng, vĩnh viễn bất biến, chẳng bị cảnh giới bên ngoài lay động, trọng yếu lắm! Quyết định chớ nên để cảnh giới bên ngoài dụ hoặc, nhất là người học Phật.
Do đó, trong quá khứ tôi thường nhắc nhở các đồng tu, quư vị học Phật lúc đầu nhất định phải đọc Liễu Phàm Tứ Huấn ba trăm lượt. Sau khi quư vị thật sự
đọc ba trăm lượt, quư vị mới thật sự tin tưởng “một miếng ăn, một
hớp uống, không ǵ chẳng được định
sẵn”. Vậy th́ quư vị c̣n tham ǵ nữa? Trong mạng có của cải th́ chẳng cầu mà tự nhiên đưa đến. Trong
mạng đă có, quyết
định chẳng mất đi; trong mạng chẳng có, chớ nên cưỡng
cầu! Tâm tự nhiên an định, tự nhiên chẳng tạo tội nghiệp, hưởng phước mà chẳng tạo tội nghiệp. Người hiện thời trong khi hưởng phước tạo tội nghiệp nghiêm trọng, mà cũng không biết nhân quả báo ứng, không biết hễ tạo nghiệp th́ phải chịu quả báo đáng sợ. V́ thế, Liễu Phàm Tứ Huấn đă ban cho chúng ta sự hướng dẫn rất tốt. Niệm một, hai lượt, chẳng có tác dụng! Niệm mười lượt, hai
mươi lượt, chẳng có tác dụng, tối thiểu phải niệm ba trăm lượt th́ mới thật sự khởi tác dụng, thật sự có chỗ thấu hiểu, đọc kinh cũng là như vậy. Hôm nay, chúng tôi giảng tới chỗ này.
A Di Đà
Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 77
[1] “Trung khí”
có nhiều cách hiểu, nhưng ở đây có nghĩa là lượng khí hô hấp, vận
động khi nói, ca hát, hoặc xướng niệm. Do
người Hoa quan niệm, khi nói, hát, hay đọc
tụng, nếu chúng ta dùng luồng khí xuất phát từ
phần Trung Tiêu (từ dưới ngực đến Đan
Điền) th́ giọng đọc hoặc giọng hát
sẽ rền vang, mạnh mẽ, ấm áp, lưu loát, không
ngắc ngứ, không bị cụt hơi.
[2] Nhạc Chương là một thuật
ngữ hiểu theo nghĩa hẹp là từng phân
đoạn cấu trúc của một đại tác
phẩm, bao gồm tốc độ, tiết tấu, phong
cách, tŕnh tự riêng. Chẳng hạn một tác phẩm nhạc
giao hưởng thường chia thành nhiều phần
từ chậm đến nhanh mang sắc thái biểu
đạt t́nh cảm khác nhau. Ở đây, nhạc
chương chỉ có nghĩa là sắc thái đặc thù,
tiết tấu, giai điệu của một thể
loại âm nhạc.
[3] Thuấn Điển là một
chương sách của kinh Thư (Thượng Thư), ghi
chép về ngôn hạnh của vua Thuấn. Câu nói
được trích dẫn ở đây là lời vua
Thuấn dặn ông Quỳ: “Đế
viết: - Quỳ! Mạng nhữ điển nhạc, giáo
trụ tử, trực nhi ôn, khoan nhi lật, cương nhi
vô ngược, giản nhi vô ngạo. Thi ngôn chí, ca vịnh
ngôn, thanh y vĩnh, Luật ḥa thanh, bát âm khắc hài, vô
tương đoạt luân, thần nhân dĩ ḥa. Quỳ
viết: - Ư! Dư kích thạch, phụ thạch, bách thú
suất vũ” (Vua nói: “Ông Quỳ! Ta đặt ông làm
quan chủ tŕ âm nhạc, nhằm dạy bảo lũ
trẻ, khiến cho chúng nó chất trực, ôn ḥa, khoan dung
nhưng kiên quyết, cương nghị nhưng chẳng
thô bạo, giản dị, chẳng cao ngạo. Thơ
nhằm biểu lộ tư tưởng, t́nh cảm,
lời ca nhằm diễn đạt ngôn ngữ, năm âm
thanh căn cứ trên những quy định về
xướng âm, Lục Luật nhằm khiến cho năm âm
thanh được hài ḥa, âm thanh của tám loại
nhạc khí điều ḥa, chẳng bị rối loạn
trật tự, khiến cho thần và người
đều ḥa hợp”. Ông Quỳ tâu: “Thưa vâng! Thần sẽ
gơ khánh đá khiến cho trăm loài thú cùng nhảy múa”).
[4] Bát âm là âm thanh của tám loại
nhạc khí, phân loại dựa theo chất liệu tức
là:
- Kim: Nhạc khí bằng kim loại như chuông, khánh,
biện chung, biện khánh, phương hưởng, vân la,
trống đồng, cồng, chiêng, năo bạt, linh v.v….
- Thạch: Nhạc khí bằng đá, như khánh
đá chẳng hạn.
- Ty: Các loại đàn dây. Do dây đàn thuở xưa
se bằng tơ, nên gọi là các loại đàn được
gọi chung là Ty, như đàn cầm, đàn sắt, không
hầu, tỳ bà, nhị hồ, tam huyền, nguyễn
cầm, liễu cầm, nguyệt cầm, tranh v.v…
- Trúc: Các loại bằng tre, trúc, sậy, như sáo,
tiêu, địch, tỏa na (kèn Tàu), quyển, kèn tất
lật… Sau này, các loại nhạc khí thổi, nếu không
có bầu cộng hưởng, dù không làm bằng tre vẫn
được xếp vào bộ Trúc.
- Bào: Các loại nhạc khí làm bằng quả
bầu, hay có h́nh dáng bầu tṛn làm bầu cộng
hưởng như sênh, hồ lô tư (một loại kèn
gồm ba ống cắm vào một quả bầu), hồ
lô sênh (một loại sênh gồm có năm đến
bảy ống cắm vào quả bầu khô, trong khi loại
sênh thường có bầu cộng hưởng bằng
gỗ hay kim loại) v.v…
- Thổ: Nhạc khí bằng đất nung như
huân (giống kèn Ocarina của phương Tây), phẫu
(nhạc khí bằng đất nung có dạng ṿ, dùng cây
giộng vào ḷng phẫu tạo ra tiếng, nhạc khí này
hầu như chỉ dùng trong lễ tế Khổng
Tử)…
- Cách: Các loại nhạc khí bịt da như các
loại trống.
- Mộc: Nhạc khí bộ gơ bằng gỗ như
mơ, phách, bản tử, ngữ (nhạc khí h́nh con hổ,
trên lưng có 27 vạch nổi lên. Khi dùng sẽ dùng một
bó tre gồm 15 thanh tre cà lên những cái vạch gỗ
đó cho phát ra âm thanh loạt xoạt. Ngày nay, Ngữ chỉ
dùng trong lễ tế Khổng Tử) v.v…
[5] Huân (塤, c̣n viết là 壎) là
một thứ nhạc khí thường làm bằng
đất nung, h́nh hơi giống quả trứng, một
đầu nhọn, một đầu bằng. Đầu
nhọn khoét lỗ để thổi, chung quanh khoét lỗ,
thông thường là sáu lỗ, được chia thành hai
loại: Loại có h́nh như trứng con phượng,
gọi là Nhă Huân; loại giống h́nh trứng gà th́ gọi
là Tụng Huân. Huân đôi khi c̣n được gọi là
Đào Địch (ống sáo bằng đất nung), và
chữ Huân (Đào Địch) cũng thường
được dùng để dịch tên loại kèn Ocarina
của phương Tây (tuy Ocarina dẹp và nhỏ hơn
Huân).
Tŕ (篪) là loại sáo bằng trúc
thổi ngang, khoét tám lỗ hoặc bảy lỗ (trong khi
Tiêu là sáo thổi dọc). Hiện thời hầu như
không ai sử dụng Tŕ, trừ những dàn nhạc
tấu loại Nhă Nhạc thời Tùy - Đường
mới dùng đến. Tŕ gần giống như ống
Địch (sáo ngang) hiện thời, điểm khác
biệt là hai đầu của Tŕ bịt kín, trong khi
Địch để trống, Tŕ cũng ngắn hơn Địch.
Sách Nhĩ Nhă chép: “Tŕ dài
một thước bốn tấc, to ba tấc, thổi
ngang. Loại nhỏ chỉ dài hai tấc”.
[6] Quốc Nhạc (c̣n gọi là Dân
Nhạc, Trung Nhạc, Hoa Nhạc) là danh xưng
người Hoa Đài Loan dùng để gọi âm nhạc
truyền thống của họ, nhằm phân biệt
với các loại nhạc chịu ảnh hưởng
nhạc lư phương Tây, chủ yếu sử dụng các
nhạc cụ truyền thống của Trung Hoa.
[7] Cung và Vũ là hai âm trong quy định
về luật ngũ cung trong âm nhạc cổ truyền.
Cung gần tương ứng với note Do và Vũ
tương ứng với note La trong nhạc Âu Tây.
[8] “Nhị
thính” là khai thính và bế thính. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhất
giả khai thính, thính chủng chủng náo, tinh thần
mậu loạn. Nhị giả bế thính, tịch vô
sở văn, u phách
trầm một” (một là khai thính, nghe các thứ ồn
náo, tinh thần rối loạn. Hai là bế thính, vắng
lặng chẳng nghe thấy ǵ, thần phách ch́m
đắm). Pháp sư Viên Anh giảng: Do sự đối
ứng của Nhĩ Căn đối với động
và tịnh của Thanh Trần mà có hai loại nghe như
vậy.