A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 80

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 159

 

      Xin xem A Di Đà Kinh S Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm bốn mươi mốt:

 

      (Kinh) Phạn thực kinh hành.

       () 飯 食 經 行。

      (Kinh: Dùng cơm, kinh hành).

 

      Kinh văn ch có một câu, chúng ta xem chú giải.

 

      (Sớ) Thừa thượng thực thời, cố thứ ngôn thực. Kinh hành giả, tuần hoàn bất đoạn nghĩa. Phản dĩ nhi thực, thực dĩ nhi hành, phảng dương tự thích dă.

() 承 上 食 時,故 次 言 食。經 行 者 ,循 環 不 斷 義,返 已 而 食,食 已 而 行 ,彷 徉 自 適 也 。

(Sớ: Tiếp nối ư “[trở về trong khoảng] bữa ăn” trong phần trước, nên tiếp theo đó, nói đến “ăn”. “Kinh hành” nghĩa là tuần hoàn chẳng ngừng. Trở về bèn ăn, ăn xong đi kinh hành, thảnh thơi, thoải mái).

 

      Trong lời Sao, [tổ Liên Tŕ] dẫn kinh Vô Lượng Th để chứng minh.

 

      (Sao) Phạn thực giả, Đại Bổn vân: “Chư văng sanh giả, kỳ phạn thực thời, ngân bát, kim bát, chủng chủng bảo bát, tùy ư hiện tiền”.

() 飯 食 者,大 本 云:諸 往 生 者 ,其 飯 食 時,銀 缽 金 缽,種 種 寶 缽,隨 意 現 前。

(Sao: “Dùng cơm”, kinh Đại Bổn chép: “Những người đă văng sanh, khi ăn cơm, bát bạc, bát vàng, các thứ bát báu, tùy ư hiện ra trước mặt”).

 

      Trong thế gian này, cuộc sống của chúng ta cùng gian nan, rất vất vmới có th no ấm. Nói thật ra, cuộc sống tại Đài Loan khá d dàng, kiếm tiền d dàng, người ngoại quốc trông thấy rất hâm mộ. Trên thế giới này, có nhiều nơi cuộc sống k gian nan, đích xác là cuộc sống chẳng dễ dàng. Quay lại nh́n sang Tây Phương Cực Lạc thế giới, mới biết thế giới ấy tốt đẹp ch nào! V́ sao mười phương chúng sanh đều mong sanh v nơi đó? Hết thảy chư Phật đều khuyên chúng sanh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đích xác là do Cực Lạc những điều tốt đẹp mà các thế giới phương khác chẳng có!

Từ ng “c văng sanh giả” chỉ hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới có thể tin nhận lời Phật, nghe lời đức Phật khuyến cáo, bèn niệm Phật sanh v Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Kỳ phạn thực thời” (vào gi ăn), từ Đại Kinh, chúng ta thấy người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân th là “thanhchi thân, vô cực chi thể” (thân thanh hư, th vô cực), lẽ nào vẫn phải ăn cơm? Qu thật chẳng cần, chẳng cần nh vào các th lương thực ngũ cốc để duy tŕ thân thể. Nếu dựa vào các th lương thực ngũ cốc để duy tŕ thân thể, thân thể ấy ô uế, th sanh bệnh. Tứ Thiền Thiên trong Sắc Giới dùng Thiền Duyệt làm thức ăn, chẳng cần ăn uống, thế mà cơi ấy vẫn thuộc trong lục đạo, chẳng l Tây Phương Cực Lạc thế giới ngay c Tứ Thiền Thiên vẫn chẳng bằng hay sao? Chư vị phải hiểu, đây đức Phật nói đến ư niệm ăn, đó là tập quán của những k như chúng ta t thế giới Sa Bà sanh v thế giới Cực Lạc chưa được vài ngày, c̣n chưa quên mất tập khí ấy, suy tưởng: “V́ sao lâu như vậy chẳng ăn?” Có ư niệm ấy. Ư niệm ấy vừa động, cảnh giới liền hiện tiền. Hết thảy sự th dụng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới thuận theo ḷng mong muốn mà biến hóa ra. Đây là nói đến chúng sanh trong Dục Giới như chúng ta, đặc biệt nói đến phàm phu, trời người trong Dục Giới, sanh v bên đó, khi chúng ta nghĩ đến ăn uống [bèn có những điều như vừa nói trên đây], đây, quư vị thấy sự ăn uống bên đó tốt lành như vậy đó! “Ngân bát, kim bát, chủng chủng bảo bát (bát bạc, bát vàng, các th bát báu), nói theo cách hiện thời, đó là những vật dụng dùng trong ăn uống, những vật dụng ẩm thực ấy đẹp đẽ, chất liệu tốt đẹp, bằng bảy báu, tùy ư hiện tiền. Trong tâm nghĩ đến ǵ, bèn hiện ra th ấy. H́nh dạng, kích thước, màu sắc, kiểu dáng, chất liệu, chẳng không thuận theo ḷng mong muốn, chẳng cần phải lo liệu, chẳng cần phải tạo tác, h nghĩ đến bèn hiện tiền.

 

      (Sao) Bách vị ẩm thực, sung măn kỳ trung.

       () 百 味 飲 食,充 滿 其 中。

      (Sao: Thức ăn trăm vị, đầy ắp trong ấy).

 

      Trong các đồ đựng đều chứa đầy ắp, những th b́nh thường thích ăn đều bày ra trước mặt.

 

      (Sao) Toan, hàm, cam, đạm, các như sở nguyện.

      () 酸 鹹 甘 淡,各 如 所 願。

      (Sao: Chua, mặn, ngọt, nhạt, mỗi thứ đúng như ư nguyện).

 

      Hương vị ngon nhất, thích hợp với chính ḿnh nhất, do chính ḿnh biến hóa ra!

 

      (Sao) Bất dư, bất khuyết.

      () 不 餘 不 缺。

      (Sao: Chẳng thừa, chẳng thiếu).

 

      Những thức ăn được biến hiện không nhiều, mà cũng không ít, s lượng phù hợp.

 

      (Sao) Bất dĩ mỹ cố, quá lượng nhi thực.

      () 不 以 美 故,過 量 而 食。

(Sao: Chẳng v́ ngon lành mà ăn quá mức).

 

      Trong thế gian này, chúng ta gặp được thức ăn ngon bèn tham ăn, ăn nhiều hơn một chút. Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có hiện tượng này.

 

      (Sao) Thực dĩ tự tiêu, nhi vô di chỉ.

      () 食 已 自 消,而 無 遺 滓。

      (Sao: Ăn xong tự tiêu, chẳng c̣n sót lại cặn bă).

 

      Thức ăn ấy cũng chẳng phải thật sự ăn. Sau khi những th ấy hiện tiền, mắt trông thấy, mũi ngửi mùi vị, ư bèn nghĩ là đă ăn, đương nhiên chẳng có cặn bă.

 

(Sao) Hoặc kiến sắc, văn hương, ư dĩ vi thực, tự nhiên băo thích, vô sở vị trước.  

() 或 見 色 聞 香,意 以 為 食,自 然 飽 適,無 所 味 著。

(Sao: Hoặc thấy sắc, ngửi hương, bèn nghĩ là đă ăn, tự nhiên no đủ, thỏa thích, chẳng tham đắm mùi vị).

 

      Tuyệt đối chẳng chấp tướng. Sống lâu trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, tập khí ấy chẳng c̣n, chẳng c̣n có chuyện ấy nữa. Đây đều là những người vừa đến Tây Phương Cực Lạc thế giới chưa lâu, nên có những tập khí ấy, thức ăn th ứng theo ư niệm mà hiện tiền.

 

      (Sao) Thân tâm khinh lợi, thực tất hóa khứ.

       () 身 心 輕 利,食 畢 化 去。

       (Sao: Thân tâm nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, ăn xong, [những thức ăn và đồ đựng] bèn biến mất).

 

      Sau khi ăn xong, tự nhiên no đủ. Chẳng muốn nữa th́ những thức ăn và vật dụng để ăn uống đều chẳng c̣n nữa. Do l đó, chẳng cần dọn dẹp, chẳng cần rửa ráy, hết thảy đều là hóa hiện.

 

      (Sao) Thời chí phục hiện.

      () 時 至 復 現。

      (Sao: Đến lúc lại hiện ra).

 

      Đến bữa ăn, quư vị lại nghĩ tới, lại hiện tiền. Các thế giới khác chẳng có chuyện này. Kinh Hoa Nghiêm nói S Sự ngại pháp giới, Tây Phương Cực Lạc thế giới, dẫu hạ phẩm hạ sanh cũng đều Sự S ngại pháp giới chẳng thể nghĩ bàn! Đây là nói đến mặt tốt đẹp trong chuyện ăn uống nơi cơi ấy, chẳng cần phải quan tâm, chẳng cần phải vất v trù tính, lo toan.

      Dưới đây là nói v “kinh hành”. Kinh hành là một phương pháp tu học hết sức hay, kinh hành tản bộ. Ăn cơm xong bách bộ, hữu ích cho tiêu hóa, có ích rất lớn cho sức khỏe. Trong Phật môn, như khi đả Phật Thất, th trai xong bèn nhiễu Phật kinh hành, nhiễu mấy ṿng rồi mới kết trai, mọi người mới giải tán, đó là kinh hành. Kinh hành có rất nhiều lợi ích. V́ sao đi mà lại gọi là “kinh hành”? Thời cổ, trong tông Thiên Thai, h vừa tản b vừa học thuộc ḷng kinh điển, nên gọi là “kinh hành”. Nay chúng ta quá nửa là vừa đi vừa niệm Phật. Phương thức này, không chỉ có thể giúp ích tiêu hóa, c̣n là một loại vận động hết sức tốt. Loại vận động này không vội vàng, không r rà, hết sức điều ḥa. Kinh hành cũng thể đối trị hôn trầm, chẳng hạn như ngồi lâu liền hôn trầm, tinh thần chẳng th phấn chấn, thậm chí ng gà ng gật. Trong Phật môn, tu học bất luận tông nào, phái nào, kinh hành, l bái, ngồi xếp bằng, những phương thức ấy điều ḥa thích hợp lẫn nhau, thân th s chẳng b mệt mỏi.

      Người hôn trầm nặng nề, tốt nhất là nên đi nhiều, nhiễu Phật nhiều. Người tuổi cao dùng phương pháp này càng hay. Năm xưa, tôi đến giảng kinh tại B́nh Đông, gặp lăo cư sĩ Chung Cảnh Đức, c cho biết cụ đă ngoài tám mươi tuổi. Trước kia, c học Mật, học Thiền, rất dụng công, học mấy chục năm. Gặp g năm ấy, cụ bảo tôi: “Không được rồi, những th công phu ấy chẳng đủ sức, nay tôi thật thà niệm Phật, mỗi ngày niệm ba vạn câu”. Tuổi cao, c cũng không xem kinh, mà niệm Phật. Niệm ba vạn tiếng như thế nào? C đi khắp nơi trong làng B́nh Đông, c một bước niệm một câu, mỗi ngày niệm ba vạn tiếng, đi ba vạn bước. Niệm đến tám mươi mấy tuổi, v mặt hồng hào, tươi tắn, âm thanh sang sảng, đích xác là lợi cho thân thể. Niệm Phật tâm thanh tịnh; kinh hành, thân th vận động linh hoạt, hăy nên n lực học tập chuyện này!

 

       (Sao) Tuần hoàn giả, như kinh quán vĩ, lạc dịch liên miên, văng lai vô dĩ dă.

() 循 環 者,如 經 貫 緯,絡 繹 連 綿,往 來 無 已 也。

(Sao: “Tuần hoàn” là như t đường dọc xuyên suốt đường ngang, liên tiếp nối kết, qua lại không ngừng vậy)[1].

 

      H́nh dung cách kinh hành.

 

      (Sao) Thực dĩ nhi hành, nhất dĩ điều thân, sử vô ngưng trệ.

  () 食 已 而 行,一 以 調 身,使 無 凝 滯。

      (Sao: Ăn xong đi kinh hành th́ một là điều ḥa thân thể, khiến cho chẳng ngưng trệ).

 

      ư nghĩa tr giúp tiêu hóa, sau khi ăn xong bèn đi kinh hành.

 

      (Sao) Nhất dĩ điều tâm, sử bất phóng dật dă.

       () 一 以 調 心,使 不 放 逸 也。

       (Sao: Một là để điều tâm, khiến cho chẳng buông lung).

 

      Một tác dụng khác là điều tâm, tâm được thanh tịnh. khi quư v kinh hành, chẳng niệm kinh th́ cũng niệm Phật, trong tâm chẳng có vọng niệm.

 

      (Sao) Phảng dương giả , ưu du tự đắc ư.

() 彷 徉 者,優 遊 自 得 意。  

(Sao: “Phảng dương” là thong dong, thích ư).

 

      Tự đạt được s ung dung, h́nh dung niềm vui chân thật, lạc thú thanh tịnh trong ấy.

 

      (Sao) Thế nhân thực dĩ.

      () 世 人 食 已。

      (Sao: Người đời ăn xong).

 

      Nói tới những k b́nh phàm trong thế gian.

 

      (Sao) Phi bôn tẩu trần vụ, tắc tăng trưởng thụy miên.

    ()非 奔 走 塵 務,則 增 長 睡 眠。

(Sao: Nếu chẳng bôn ba việc đời th́ cũng ngủ nghê nhiều hơn).

 

      Người thế gian sau khi dùng cơm bèn vội vă làm việc. Người không đi làm, ăn xong bèn đi ngủ. Người học Phật ăn xong đi kinh hành.

 

(Sao) Bỉ quốc phạn thực kinh hành, giải thoát chi phong, tiêu dao chi trạng, khả tưởng kiến dă.

() 彼 國 飯 食 經 行,解 脫 之 風,逍 遙 之 狀,可 想 見 也。

      (Sao: Người trong cơi kia ăn xong đi kinh hành, có thể h́nh dung họ có phong thái giải thoát, tiêu dao).

 

      Miêu t cuộc sống thông thường của đại chúng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, t tại ung dung dường ấy.

 

      (Sớ) Duy ngôn phạn thực, bất cập y đẳng, duy ngôn kinh hành, bất cập tọa đẳng, diệc văn tỉnh cố.

       () 唯 言 飯 食,不 及 衣 等,唯 言 經 行,不 及 坐 等,亦 文 省 故。

      (Sớ: Chỉ nói ăn cơm, chẳng nói đến quần áo v.v.. Chỉ nói kinh hành, chẳng nói đến ngồi v.v… là v́ kinh văn nói tỉnh lược).

 

      Kinh Di Đà văn tự rất ít, nên đối với t́nh h́nh cuộc sống, ch nhắc tới đại lược, chẳng nói cặn kẽ, tỉnh lược rất nhiều. Đối với ăn, mặc, ở, đi lại, ch nói chuyện ăn, tỉnh lược chuyện phục sức. Nói đến kinh hành, chẳng nói đến tọa Thiền, tọa Thiền cũng b tỉnh lược. Những chuyện này được nói t m trong kinh Vô Lượng Thọ.

 

       (Sao) Y giả, Đại Bổn Pháp Tạng nguyệnn:Ngă tác Phật thời, ngă sát trung nhân, sở dục y phục, tùy niệm tức chí, bất giả tài phùng đảo nhiễm hoán trạc. Hựu phục hữu vô lượng thượng diệu y phục, bảo quan, hoàn, xuyến, nhĩ đang, anh lạc, hoa man, đới tỏa, chư bảo trang nghiêm, bách thiên diệu sắc, tự nhiên tại thân”.

      () 衣 者,大 本 法 藏 願 云:我 作 佛 時,我 剎 中 人,所 欲 衣 服,隨 念 即 至,不 假 裁 縫 擣 染 浣 濯;又 復 有 無 量 上 妙 衣 服,寶 冠 環 釧,耳 璫 瓔 珞,華 鬘 帶 鎖,諸 寶 莊 嚴,百 千 妙 色,自 然 在 身。

(Sao: “Y phục”: Trong kinh Đại Bổn, ngài Pháp Tạng nguyện rằng: “Khi ta thành Phật, người trong cơi ta, mong muốn y phục, vừa nghĩ bèn hiện tới. Chẳng cần phải cắt, may, đập[2], nhuộm, giặt, giũ. Lại có vô lượng y phục đẹp đẽ, quư giá nhất. Măo báu, ṿng, xuyến, bông tai, chuỗi ngọc, tràng hoa, đai áo đeo giắt các thứ vật báu để trang nghiêm, trăm ngàn màu sắc đẹp đẽ tuyệt vời, tự nhiên ở trên thân).

 

      Đây là nguyện văn trong phần bốn mươi tám nguyện của kinh Vô Lượng Thọ. Thích Ca Mâu Ni Phật thuật lại cho chúng ta biết. Phật Thích Ca thuật lại th́ cũng giống như A Di Đà Phật đích thân tự tuyên nói, chẳng sai khác, quyết định chân thật. Đây là nói các đại chúng sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế giới, “sở dục y phục, tùy niệm tức chí (mong mỏi những th quần áo, vừa nghĩ liền hiện tới). Đúng là “nghĩ áo được áo, nghĩ ăn được ăn”. Trong phần trước nói về ăn uống, phần này nói v quần áo. Quần áo chẳng cần cắt, may, chẳng b bẩn, không cần giặt giũ. “Thiên y vô phùng” [nghĩa là áo trời] chẳng cần may cắt, tất c đều do biến hóa ra. Quư v thích quần áo bằng chất liệu nào, nó bèn là chất liệu đó. Y phục bên Tây Phương đều là thất bảo. Chất báu trong cơi này th tánh cứng chắc, không thể làm quần áo. Vàng, bạc, lưu ly, bảy báu trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đều mềm mại, rất mỏng, giống như vải, có th làm quần áo. vậy, h “hữu vô lượng thượng diệu y phục” (có vô lượng y phục tốt đẹp bậc nhất). “Bảo quan hoàn xuyến”: [Bảo quan” là măo bằng chất báu], hoàn xuyến(環釧) một loại ṿng đeo tay. “Nhĩ đang (耳璫) bông tai; “anh lạc” (瓔珞) vật trang sức đeo trước ngực. Chúng ta thường thấy tượng đắp hoặc tượng v của Phật, Bồ Tát trước ngực có đeo anh lạc. “Hoa man đới tỏa”: Tràng hoa, hoa báu xâu thành chuỗi đeo trên người. “Đới” () đai áo, trong đai áo đeo bảy báu, nên gọi là “đới tỏa” (帶鎖).

      “Chư bảo trang nghiêm, bách thiên diệu sắc, tự nhiên tại thân” (các thứ vật báu để trang nghiêm, trăm ngàn màu sắp đẹp đẽ tuyệt vời, tự nhiên ở trên thân), đây là nói tới y phục và trang sức thuận theo ḷng muốn, t nhiên khoác trên thân. Thế giới Tây Phương là một thế giới b́nh đẳng, nên tướng mạo của mọi người như nhau. Trong cuộc sống, ăn, ở, phục sức tướng mạo như nhau. Đương nhiên, do mức độ đoạn Hoặc chứng Chân khác nhau, nên cũng có ch khác biệt, [tức là] quang minh của mỗi người lớn nh khác nhau. Nếu đoạn [phiền năo] nhiều, quang minh to lớn. Quang minh chiếu t một do-tuần, mười do-tuần, cho đến trăm ngàn do-tuần.

 

      (Sao) Hựu vân: Phục hữu lượng như ư diệu hương, đồ hương, mạt hương.

      () 又 云:復 有 無 量 如 意 妙 香,塗 香 末 香。

      (Sao: Lại nói: “Lại có vô lượng hương mầu nhiệm như ư, hương bôi, hương bột).

 

      “Đồ hương” có phạm vi rất rộng, giống như nước hoa, bôi trên người bèn gọi là “đ hương”. “Mạt hương” thuộc loại bột, bột thơm có th xoa lên người. Bột đàn hương có th đốt.

 

      (Sao) Kỳ hương phổ huân bỉ Phật quốc giới.

      () 其 香 普 熏 彼 佛 國 界。

      (Sao: Hương ấy xông khắp cơi Phật ấy).

 

      Phải chú ư câu này, cơi nước của A Di Đà Phật ch nào? Thưa cùng chư vị, cơi nước của A Di Đà Phật chẳngngằn mé, tận hư không khắp pháp giới là cơi nước của A Di Đà Phật. Điều này rất k diệu, sao? Nếu quốc độ này của chúng ta ngoài A Di Đà Phật, chúng ta làm sao có th văng sanh? Làm sao s giáo hóa của A Di Đà Phật th thấu đến ch chúng ta? nơi đây, chúng ta có kinh Vô Lượng Thọ, có kinh A Di Đà, nói cách khác, kinh điển tồn tại nơi đâu, nơi đó là ch Tây Phương Cực Lạc thế giới đạt đến. Do vậy, chúng ta chẳng b coi như ngoài quốc giới của A Di Đà Phật, mà là trong quốc giới của A Di Đà Phật. Tậnkhông khắp pháp giới mười phương ba đời hết thảy chư Phật đều khen ngợi A Di Đà Phật, đều giảng kinh Vô Lượng Thọ, đều khuyên hết thảy chúng sanh văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Do vậy, có th biết: Nói những cơi Phật khác c̣n có biên giới th́ có lẽ c̣n có thể nói xuôi tai, chứ quốc giới của A Di Đà Phật chẳng có ngằn mé, đích xácrộng lớn biên. Mùi hương ấy xông khắp pháp giới! Quang minh chiếu khắp, hương báu xông khắp. Tiếp theo đây, [t Liên Tŕ] giải thích v́ sao kinh Di Đà nói tỉnh lược.

 

      (Sao) Cố bất ngôn y, dĩ thực nhiếp y, cập nhất thiết tư sanh chi cụ cố.

       () 故 不 言 衣,以 食 攝 衣,及 一 切 資 生 之 具 故。

      (Sao: Bởi lẽ, chẳng nói đến y phục là v́ dùng chuyện ăn để bao gồm y phục và hết thảy các vật dụng cần thiết trong cuộc sống).

 

      Cơm áo, h nói một thứ, những th khác đều trong đó. “Tư” là tư dưỡng (資養: nuôi nấng), “sanh” () sanh mạng. Nói cách khác, hết thảy cuộc sống vật chất thảy đều bao gồm trong ăn uống, nên nói một điều là đủ rồi. Ẩm thực chính là vật cần thiết để nuôi dưỡng sanh mạng, bao gồm tất c cuộc sống vật chất.

 

      (Sao) Bất cập tọa giả.

       () 不 及 坐 者。

(Sao: Không nói đến “ngồi”).

 

      Chỉ nói kinh hành, chẳng nói đến ngồi. Nói thật ra, tu hành vẫn lấy kinh hành làm chủ, đặc biệt những người tu đă lâu. Người mới học phải ngồi, v́ tương đối d nhiếp tâm hơn. Người tu lâu chẳng coi trọng ngồi trên h́nh thức. Lục T đại sư nói “tọa Thiền” th́ đó chẳng phải ngồi xếp bằng nh́n vào vách. Ngài nói Ngồi với ư nghĩabất động. Điều ǵ bất động? Tâm bất động, chẳng phải thân bất động. Tâm bất động giữa ngũ dục lục trần, nên gọi là Tọa. Do đó, Ngài nói “ngoài chẳng chấp tướng” Thiền, “trong chẳng động tâm” là Tọa. Ngài tọa Thiền “tọatheo cách như vậy. l đó, Ngài đi, ở, ngồi, nằm, đều là tọa Thiền, chẳng phải ngồi xếp bằng nh́n vào vách. Nói thật ra, thuở ấy, Lục Tổ đại sư Hoàng Mai tám tháng, trước nay chưa h bước vào Thiền đường, Ngài hậu viện làm lụng cực nhọc, giă gạo, bửa củi. Tọa Thiền như Ngài đă nói chính là ngoài chẳng chấp tướng, trong chẳng động tâm”, thật sự tọa Thiền, chẳng phải là tọa Thiền theo h́nh thức. Tọa Thiền trong Thiền đường tọa Thiền theo h́nh thức, chưa chắc đă có Thiền Định! Nếu tâm vẫn phan duyên, vẫn chấp tướng, s chẳng có Thiền Định! Do đó, điều này hoàn toàn giống như lời trưởng gi Dục Hương đă nói trong kinh Hoa Nghiêm.

 

      (Sao) Giáo khai tứ chủng tam-muội.

      () 教 開 四 種 三 昧。

      (Sao: Trong Giáo, lập ra bốn loại tam-muội).

 

      Tam-muội là Thiền Định. Nói tổng quát, Thiền Định có bốn cách tu, loại th nhất

 

      (Sao) Nhất viết thường hành.

      () 一 曰 常 行。

      (Sao: Một là thường hành).

 

      “Thường hành là kinh hành, đặc biệt thích hợp cho người cao tuổi. Loại th hai…

 

      (Sao) Nhị viết thường tọa.

      () 二 曰 常 坐。

      (Sao: Hai là thường ngồi).

 

      “Thường ngồi” phải tu học khi c̣n trẻ, người tuổi cao chẳng được. Người lớn tuổi th lực chẳng đủ, ngồi lâu chịu không được! Thường ngồi th́ người tr c hai mươi, ba mươi tuổi tu được, v́ lúc ấy, chân người đó khá mềm dẻo, có thể ngồi đến mức công phu thật sự đắc lực, huyết mạch thông suốt, chẳng đến nỗi tê đau. T ba mươi tuổi tr lên, khó khăn hơn. Nhưng người tuổi cao như chúng tôi, khoanh chân ngồi, ngồi chưa lâu đùi đă nhức, chứng minh [tu cách này] không được! Các v lăo ḥa thượng có th ngồi mấy tiếng đồng h chẳng dời chỗ, là do các Ngài đă luyện khi c̣n trẻ. Chúng ta tui trung niên tr lên học Phật, [tu cách này] không được, chẳng cần phải miễn cưỡng học. Chúng ta học Thường Hành tam-muội, chẳng học Thường Tọa. Loại th ba…

 

      (Sao) Tam viết bán hành, bán tọa.

      () 三 曰 半 行 半 坐。

      (Sao: Ba là nửa đi, nửa ngồi).

 

      Nửa đi, nửa ngồi: Bản thân tôi niệm Phật thời gian đi kinh hành dài hơn thời gian ngồi niệm. Đi kinh hành tới khi mệt bèn ngồi xuống niệm. Ngồi một lát, khôi phục, lại đứng lên đi. Loại th tư:

 

      (Sao) Tứ viết phi hành, phi tọa.

      () 四 曰 非 行 非 坐。

      (Sao: Bốn là chẳng đi, chẳng ngồi).

 

      Nhà Phật thường nói bốn câu này, nêu rơ: Tu học tam-muội chẳng đặt nặng h́nh thức, mà coi trọng công phu chân thật. Công phu chân thật, nói theo cách đơn giản nhất, s là tâm địa thanh tịnh. Cương lănh tu học trong Đại Thừa Phật pháp Giác, Chánh, Tịnh. Giác, Chánh, Tịnh là một ba, tuy ba mà một. Đối với ba ch ấy, quư vị đạt được một, tất nhiên s đồng thời đạt được hai cái kia. Chẳng th nói tâm ta thanh tịnh, nhưng ta c̣n mê hoặc, điên đảo, ta c̣n tà tri kiến, chẳng có l ấy! Người thật sự giác ngộ tâm nhất định thanh tịnh, người đại khai viên giải chánh tri chánh kiến, nhất định là giác ngộ, nhất định là thanh tịnh. thế, đích xác là một mà ba, tuy ba mà một. Công phu thực hiện thuận tiện nhất, dễ dàng nhất, không ǵ hơn cầu Tịnh [trong Giác, Chánh, Tịnh]. Do đó, Tịnh Tông đặc biệt coi trọng tâm thanh tịnh, nhất tâm bất loạn, công phu thành phiến, chú trọng điều này. Tâm thật sự thanh tịnh, phiền năo ít, trí huệ liền tăng trưởng. T huệ tăng trưởng Giác, chẳng mê; mê là phiền năo, giác trí huệ, tự nhiên giác chứ không mê, chánh chứ không tà. thế, so với hết thảy các pháp môn để nói, đích thực là pháp này có ch đặc biệt thù thắng, học d dàng!

 

      (Sao) Tựu thử văn trung, tắc duy đệ nhất.

      () 就 此 文 中,則 唯 第 一。

      (Sao: Vậy th́ trong đoạn văn này, chỉ nêu ra cách thứ nhất).

 

      Trong kinh văn này, ch lấy loại th nhất trong bốn loại tam-muội Thường Hành. thể thấy người trong Tây Phương Cực Lạc b́nh thường tu hành, những người dùng phương thức th nhất chiếm đa số.

 

      (Sao) Nhiên nhị bộ trung, giai ngôn văng sanh giả, tọa liên hoa trung.

      () 然 二 部 中,皆 言 往 生 者,坐 蓮 華 中。

(Sao: Nhưng trong hai bộ kinh, đều nói người văng sanh ngồi trong hoa sen).

 

      “Nhị bộ” là hai b Đại Bổn và Tiểu Bổn. Kinh có kích thước lớn là kinh Vô Lượng Thọ, kinh có phân lượng nh là kinh A Di Đà. Trong hai kinh đều nói, khi văng sanh ngồi trong hoa sen văng sanh. Điều này qu thật đă nói rơ: Bên kia qu thật có ngồi, chẳng phải là không ngồi, có ngồi!

 

(Sao) Bát Châu tam-muội tắc phục ngôn lập, đương tri dĩ hành nhiếp tọa, cập tứ oai nghi cố.

() 般 舟 三 昧 則 復 言 立,當 知 以 行 攝 坐,及 四 威 儀 故。

(Sao: Bát Châu tam-muội lại nói là “đứng”, nên biết [kinh văn chỉ] nói đi đă bao gồm cả ngồi và bốn oai nghi).

 

      Kinh nói đơn giản, ch nói một [oai nghi] là Đi, nhưng đi, ở, nằm, ngồi đều thuộc trong ấy. Người bên cơi kia qu thật sống đời thanh nhàn, t tại!

 

      (Diễn) Giáo khai tứ chủng tam-muội, nhất viết Thường Hành, xuất Bát Châu Tam Muội Kinh, diệc danh Phật Lập tam-muội. Thành thời, kiến thập phương Phật tại không trung lập, dĩ cửu thập nhật vi nhất kỳ.

       () 教 開 四 種 三 昧,一 曰 常 行 者,出 般 舟 三 昧 經,亦 名 佛 立 三 昧。成 時 ,見 方 佛 在 空 中 立,以 九 十 日 為 一期。

(Diễn: “Trong Giáo, lập ra bốn thứ tam-muội”: Loại thứ nhất là Thường Hành, xuất xứ từ kinh Bát Châu Tam Muội, c̣n gọi là Phật Lập tam-muội. Khi tu thành, sẽ thấy mười phương Phật đứng trong hư không, [pháp tu này] lấy chín mươi ngày làm một kỳ [tu tập]).

 

      Kinh Bát Châu Tam Muội dạy điều này. Chư v đồng tu đọc kinh này đừng chấp trước. Ch nên vừa trông thấy điều này [bèn nghĩ] “ta phải phát tâm tu”. Q vị tu chẳng thành công! Ch nên miễn cưỡng, ch nên học cho d coi, ch nên lừa ḿnh, dối người, căn tánh của mỗi cá nhân khác nhau. Tu học Ban Châu Tam Muội, nói thật thà, thường là mười mấy, hai mươi tuổi [mới dễ tu], ba mươi tuổi tr đi, tu học khá khó khăn. Suốt chín mươi ngày không ng nghê. Không ch chẳng ngủ nghê, mà c̣n không được ngồi xuống, thể đứng, có th đi, nhưng không được ngồi xuống, đương nhiên càng không thể nằm xuống. Đó là Phật Lập Tam Muội, cũng là chuyên niệm A Di Đà Phật. Không được phép ngồi xuống, không được phép ngủ, ngày đêm [niệm Phật, kinh hành] chẳng gián đoạn suốt chín mươi ngày, gọi là Bát Châu tam-muội. Quư vị ngẫm xem, người nào tu được? Sau khi tu thành, ngườiy thấy mười phương chư Phật đứng trên không trung, đó cảm ứng.

      Hiện thời rất nhiều người nói: “Người nào đó thật sự phát tâm bế quan tu Bát Châu tam-muội”, tôi nghe nói, chắp tay chúc mừng, khó có, v́ sao? Tôi làm không được, tôi một ngày một đêm phải ngủ. Suốt chín mươi ngày, tức là ba tháng không ngủ, khó quá! Người b́nh phàm chẳng th làm chuyện này! Nếu nói suốt ba mươi ngày ng đẫy giấc niệm Phật, tôi tin tưởng, người b́nh phàm đều có thể làm được. Ba mươi ngày không ngủ nghê, không ngồi xuống, nói cho quư v biết, thật sự là bán tín bán nghi, đó là nói cho d nghe. Ch nói khó nghe là v căn bản tôi chẳng tin tưởng! Chư vị đồng tu phải biết: Chuyện này xác thực là có, nhưng người nào mới có th tu? Người tâm địa khá thanh tịnh! Người tâm địa thanh tịnh bèn ng ít. Chư thiên Sắc Giới đắc Thiền Định, chẳng ngủ. Do ngũ dục là tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ng nghê họ đều không có, cho nên chẳng cần ăn ǵ, cũng chẳng cần phải ngủ, đương nhiên chẳngvấn đề. Đừng nói là chín mươi ngày, chín trăm ngày, chín ngàn ngày cũng chẳng có vấn đề. Nhưng quư v chẳng có công phu ấy, s làm không được! Quư vị làm như vậy s phá hỏng thân thể, quyết định chớ nên miễn cưỡng. Do đó, trong Phật môn, ch nên khuyên k khác làm chuyện giống như chuyện này.

      Thầy Lư giảng kinh, thuyết pháp suốt bốn mươi năm tại Đài Trung, lăo nhân gia chẳng khuyên người khác ăn chay, mà khuyên quư vị học Phật, khuyên quư vị quy y, chẳng khuyên quư vị th giới, mấy điều Ngài chẳng nói đến, v́ sao? Quư vị công phu chẳng đủ. Cũng chẳng khuyên ăn chay, lại càng chẳng khuyên người khác ch ăn ngọ. Những vic như vậy chẳng th miễn cưỡng, phải do ngườiy t động phát tâm. Hơn nữa, đối với chuyện chỉ ăn ngọ, [tức là] buổi trưa ăn một bữa, nếu tâm địa khá thanh tịnh, phiền năo ít, s tự nhiên th làm được; v́ tâm địa thanh tịnh s tiêu hao ít năng lượng. Ăn uống là [bổ sung] nguồn năng lượng, [tức là] nguồn năng lượng tạo ra nhiệt độ thân thể, thức ăn chuyển đến d dày [được hấp thụ] liền sanh ra năng lượng bồi đắp s tiêu hao nơi thân thể. Thân th là một b máy. Nếu quư vị không thêm nhiên liệu, s b hỏng hóc; nhưng th chất nơi thân th mỗi người khác biệt, người tiêu hao nhiều, có k tiêu hao ít. Tiêu hao nhiều bèn b sung nhiều; tiêu hao ít, t nhiên b sung ít đi.

Tiêu hao năng lượng nhiều nhất là ǵ? Thưa cùng chư vị, là vọng tưởng. Chín mươi lăm phần trăm thức ăn của chúng ta b tiêu hao nơi vọng tưởng. Nếu quư vị chẳng có vọng tưởng, tự nhiên tiêu hao ít đi. Thật ra, lao tâm, lao lực tiêu hao rất ít, vọng niệm tiêu hao rất nhiều. A La Hán đắc Cửu Thứ Đệ Định, chẳngvọng niệm, tiêu hao ít, mỗi tuần ăn một lần là đủ rồi. Bích Chi Phật công phu định lực càng sâu hơn A La Hán, tiêu hao càng ít, nửa tháng ăn một bữa là đủ rồi. Một người b́nh phàm chúng ta ngày ăn ba bữa, c̣n phải ăn vặt, buổi tối phải ăn thêm bữa khuya, chứng t điều ǵ? Vọng niệm quá nhiều, chẳng bổ sung không được, không th nào chẳng bổ sung! Do đó, thầy Lư chẳng khuyên k khác tŕ ngọ. sao chẳng khuyên người khác ăn chay? có rất nhiều người muốn học Phật, nhưng sợ ăn chay, hễ nghe nói ăn chay, h s không đến. Thầy Lư nói không cần ăn chay, h đều tới, lôi kéo nhiều người tới. Thầy có phương pháp riêng, nên chẳng khuyên k khác ăn chay. Học Phật kiểu ấy bèn thuận tiện. Mọi người biết học Phật không nhất định phải ăn chay, nên chẳng sợ hăi.

      Chúng ta phải hiểu là có những phương pháp tu hành trong nhà Phật, người b́nh phàm tuyệt đối chẳng thể tu học. Tu thành môn tam-muộiy, tâm thật sự thanh tịnh, phiền năo nhẹ nhàng, trí hu tăng trưởng, đó là điều tất nhiên. Do đó, người học Phật chúng ta đầu óc phải sáng suốt, ch nên tùy tiện để k khác gạt gẫm. K nào đó nói: “Tôi đă từng tu Bát Châu tam-muội vào lúc nào đó”, đương nhiên quư v bội phục k ấy năm vóc sát đất, nhưng k ấy tu Bát Châu tam-muội trong chín mươi ngày có đúng chẳng ngồi xuống hay không? Hay là chín mươi ngày ngồi hoặc nằm trên giường tu? Chúng ta chẳng biết! Không biết th́ nh́n t ch nào? Nh́n vào tưởng, ngôn ngữ, hành tŕ của ngườiy s biết, những th ấy chẳng thể lừa người khác. Thật s trải qua công phu như vậy, ngườiy là thánh nhân, chẳng phải người thường. Bát Châu tam-muội chẳng giống các tam-muội khác, dẫu thoái thất, vẫn chẳng thoái thất rất nhiều. Người ấy tu công phu này quá sâu, nếu tâm chẳng thanh tịnh, nếu tín tâm chẳng kiên cố, chắc chắn chẳng th chịu đựng chín mươi ngày! Có th nói là ba tư lương Tín, Nguyện, Hạnh của ngườiy đă đạt tới cảnh giới kha khá. Sau chín mươi ngày ấy, có th nói một câu thật thà là ngườiy đă quyết định nắm chắc văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu hăy c̣n tham luyến, c̣n mê chấp tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần trong thế gian này, mà k ấy nói đă tu Bát Châu tam-muội, tôi chẳng dám tin tưởng! V́ sao? Chẳng tương xứng với lời nói và việc làm của k ấy, chúng ta phải nên hiểu điều này!

 

      (Diễn) Nhị viết thường tọa giả, xuất Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Kinh, diệc danh Nhất Hạnh tam-muội, duy chuyên niệm pháp giới cố dă, diệc dĩ cửu thập nhật vi nhất kỳ.

() 二 曰 常 坐 者,出 文 殊 師 利 所 說 摩 訶 般 若 波 羅 蜜 經,亦 名 一 行 三 昧,唯 專 念 法 界 故 也,亦 以 九 十 日 為 一 期。

(Diễn: Hai là Thường Tọa, phát xuất từ kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật, c̣n gọi là Nhất Hạnh tam-muội, v́ chỉ chuyên niệm pháp giới, cũng lấy chín mươi ngày làm kỳ hạn).

      Bát Châu tam-muội là chỉ th đi, ch có th đứng, chẳng th ngồi xuống. Trong kinh Văn Thù Bát N có nói phương pháp tu hành chẳng cần phải đi, chẳng cần phải đứng, mà là ngồi. Nói thật thà, ngồi chín mươi ngày d hơn Bát Châu tam-muội, trong chín mươi ngày ấy thật sự nhập Thiền Định. Các vị đọc Hư Vân Lăo Ḥa Thượng Niên Phổ, sẽ thấy lúc lăo ḥa thượng h nhập Định bèn nhập Định nửa tháng, hoặc một tháng, hai tháng là chuyện rất thường. Có lần ḥa thượng nhập Định nhằm tiết Đông, nhằm lúc giao thừa. Trước giao thừa, ḥa thượng luộc một nồi khoai. Sau khi b khoai vào nồi, nhóm lửa xong, lăo nhân gia tĩnh tọa bên cạnh bèn nhập Định. Hễ nhập Định, Ngài cũng chẳng hay biết ǵ, năm cũ đă trôi qua, sau Tết, có mấy người bạn đến chúc Tết Ngài. Khi đến chúc Tết, thấy lăo ḥa thượng c̣n đang tĩnh tọa, lại thấy khoai trong nồi đă mọc rêu, bèn dùng dẫn khánh gơ bên tai Ngài, ngay lập tức Ngài xuất Định: “Các ông đến đúng lúc quá, hăy cùng ăn nồi khoai tôi luộc”. “Lăo ḥa thượng, Ngài luộc khoai lúc nào?” “Ta luộc khoai hôm, vừa mới luộc mà!” Ngày Tết đă qua lâu rồi, Ngài nhập Định hơn nửa tháng, mà cảm thấy ch có vài phút. Lăo ḥa thượng Hư Vân suốt đời chẳng tu Bát Châu tam-muội, nhưng đích xác là Ngài thường tu Thường Tọa tam-muội. Thật s có công phu định lực th́ chuyện này là chuyện thể, cũng lấy chín mươi ngày làm một kỳ!

 

      (Diễn) Tam viết bán hành bán tọa giả, xuất Pháp Hoa, Phương Đẳng nhị kinh, Pháp Hoa tam thất nhật vi nhất kỳ, Phương Đẳng bất hạn thời tiết.

() 三 曰 半 行 半 坐 者,出 法 華 方 等 二 經,法 華 三 七 日 為 一 期,方 等 不 限 時 節。

(Diễn: Ba là “nửa đi, nửa ngồi, xuất phát t hai kinh Pháp Hoa và Phương Đẳng. Pháp Hoa lấy hai mươi mốt ngày làm hạn, Phương Đẳng chẳng hạn định thời gian).

 

      đây vừa có ngồi, vừa có đi, giống như nay chúng ta đả Phật Thất, nhiễu Phật ch tịnh là dùng phương pháp này trong kinh Phương Đẳng, chẳng hạn định kỳ hạn; nhưng trong kinh Pháp Hoa là hai mươi mốt ngày, [tức là] lấy hai mươi mốt ngày làm một kỳ.

 

      (Diễn) Tứ phi hành phi tọa giả, diệc danh tùy tự ư, ư khởi tức quán cố dă. Phương pháp xuất Thỉnh Quán Âm đẳng chư Đại Thừa kinh, thông ư tứ nghi, cập chư tác vụ.

() 四 非 行 非 坐 者,亦 名 隨 自 意,意 起 即 觀 故 也。方 法 出 請 觀 音 等 諸 大 乘 經,通 於 四 儀,及 諸 作 務。

(Diễn: Bốn là chẳng đi, chẳng ngồi, c̣n gọi là Tùy T Ư, v́ ư khởi lên liền quán. Phương pháp này phát xuất t các kinh Đại Thừa như Thỉnh Quán Âm v.v… áp dụng cho khắp bốn oai nghi và các việc làm lụng).

 

Hoàng Mai, Lục Tổ đại sư tu pháp này, giă gạo, bửa củi, chẳng đi, chẳng ngồi, Ngài làm lụng, làm lụng cũng là tam-muội. Đó là đi, đứng, ngồi, nằm đều có, chẳng hạn cuộc! Nói thật ra, chúng ta tu học phương pháp này hết sức thích hợp. Hơn nữa, trong xă hội hiện đại, mọi người công việc vô cùng bận rộn, sức ép rất nặng, chọn phương pháp này để tu hành là thuận tiện nhất.

      Trong Phật Thất ph thông, Hành Sách đại t sư đời th mười của Tịnh Tông, đă dùng phương pháp “nửa đi, nửa ngồi”. Ngài chia người niệm Phật thành ba ban, mỗi ban có bốn người xuất gia lănh chúng, dẫn một ban kinh hành, hai ban kia ch tĩnh. Người đi kinh hành phải niệm ra tiếng, người chỉ tĩnh không niệm, người chỉ tĩnh nghỉ ngơi, chuyên môn nghe, [tức là] nghe tiếng niệm Phật của người đi kinh hành, trong tâm chuyên nghe, chẳng khởi vọng niệm, nghe Phật hiệu, nhưng không niệm. Làm như vậy th́ mỗi ban niệm một ngàn câu, ban th nhất niệm một ngàn câu xong bèn ch tĩnh, ban thứ hai kinh hành, thay phiên nhau niệm. Ban th hai niệm một ngàn câu xong, ban th hai ch tĩnh, ban th ba kinh hành. Ban th ba niệm một ngàn câu xong, lại luân lưu tới ban th nhất. Ngài dùng phương thức này để niệm Phật quanh năm, ngày lẫn đêm đều dùng phương pháp này, giống như Phật Thất, lấy bảy ngày làm hạn, hoặc là hai thất, hoặc là ba thất, s dụng phương pháp này. Phương pháp này hay lắm, người ta chẳng mệt mỏi, h niệm một ngàn câu, có thời gian thích đáng để ngh ngơi, khôi phục thể lực, đến phiên lại niệm tiếp. Do vậy, h có th phấn chấn tinh thần, có th kéo dài thời gian; [v́ l đó, t Hành Sách] chọn lựa phương pháp này. Trong Niệm Phật Đường, thưa cùng chư vị, chỉ có một câu Phật hiệu, chẳng có ǵ khác. Phật Thất thông thường của chúng ta trong hiện tại, nói thật thà là pháp hội Phật Thất, sao? Trong ấy có xướng tán, tụng kinh, hồi hướng, thậm chí c̣n niệm sớ văn, có quá nhiều thứ! Đối với người niệm Phật nói, những th ấy là xen tạp, xen tạp rất nhiều th trong ấy, chẳng chuyên, chẳng tinh.

      Một Niệm Phật Đường thật sự, trong mười hai thời ch có một câu Phật hiệu. Tại núi Linh Nham Tô Châu, vào thời lăo pháp sư Ấn Quang tại thế, Niệm Phật Đường của Ngài là một câu Phật hiệu A Di Đà Phật từ sáng đến tối, t mùng Một tháng Giêng đến Ba Mươi tháng Chạp, ngày đêm đều chẳng gián đoạn. Cách niệm ngày đêm không gián đoạn như thế nào? Ban ngày mọi người luân lưu chia ban niệm như vậy, ban đêm luân lưu trực ban. Bốn người một ban, đại khái mỗi ban niệm hai tiếng đồng hồ. Người trực ban chẳng th nào không đến niệm, người không trực ban có th tùy hỷ. Quư v có tinh thần, thích niệm th́ cứ đến niệm theo. Nếu không niệm, quư vị trở v liêu pḥng ngh ngơi. Quy c trong Niệm Phật Đường là theo kiểu ấy.

      thế, bước vào Niệm Phật Đường, kinh cũng không xem. Đại chúng bên ngoài Niệm Phật Đường, chiếu theo khóa tụng sáng tối để tụng niệm. Khóa tụng trong Đại Hùng Bảo Điện hoàn toàn giống như b́nh thường: Chú Lăng Nghiêm, mười tiểu chú, chú Đại Bi, niệm những th ấy. Trong Niệm Phật Đường chẳng có; bước vào Niệm Phật Đường bèn chuyên tu Tịnh Độ, chẳng có những th xen tạp ấy. Lấy một thất hay bảy thất làm k hạn, hoàn tất bảy thất bèn có đại hồi hướng, kể ra rất đặc thù, đó là Phật Thất thông thường. Trong Niệm Phật Đường quanh năm chẳng có đại hồi hướng, sao? Mục đích của h là cầu sanh Tịnh Độ, nên pháp môn này được gọi là “pháp môn không hồi hướng”. Thật ra, chẳng hồi hướng chính vô thượng hồi hướng, niệm niệm hướng tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, niệm niệm mong thấy A Di Đà Phật, nên niệm niệm đều là hồi hướng, chẳng cần phải hồi hướng nữa!

      Hiện thời, chúng tôi lập ra ban niệm Phật tại ngoại quốc, phương pháp được chọn để s dụng là loại th tư “không đi, không ngồi”, chọn lựa cách tùy ư, tùy thuộc ư nghĩ của chính quư vị. ngoại quốc, tôi khuyên lơn, khích l các đồng tu mỗi tháng tối thiểu niệm Phật suốt một ngày, một ngày là hai mươi bốn tiếng đồng hồ, mỗi tháng niệm một ngày, trong hai mươi bốn giờ Phật hiệu chẳng gián đoạn, nhưng chọn lựa tùy ư. Khi niệm Phật th đi kinh hành, nhiễu Phật niệm, có th ngồi niệm, hoặc vừa lạy vừa niệm. Lúc nào kinh hành, lúc nào ngồi, lúc nào lạy, tùy thuận ư nghĩ của quư vị, chẳng cần cùng làm với đại chúng. Đại chúng cùng nhau làm s bị buộc, chẳng t tại!

      Chúng tôi chia Phật đường thành ba khu vực, giữa là ch đặt tượng Phật, đó là khu vực lạy Phật, quư vị thích lạy Phật, đến lạy nơi đó. Khu vực phía sau ch bái Phật ch ch tĩnh, ngồi niệm Phật đó, bên cạnh là khu nhiễu Phật. Q vị thích nhiễu Phật, quư vị đi nhiễu Phật bên cạnh. Nhiễu đă mệt, bèn đến ngồi phía sau. Ngồi chán rồi, quư v muốn lạy, bèn đến phía trước lạy. V́ vậy, chia Phật đường thành ba khu vực, hoàn toàn tùy ư; chẳng cần mọi người cùng nhau lạy, cùng nhau ngồi, cùng nhau kinh hành. C làm như vậy, h liền cảm thấy rất tự tại, rất hoan hỷ, chẳng b bó buộc! Quư vị đến trễ cũng chẳng sao, quư v lui ra sớm cũng chẳng sao, chẳng chào hỏi bất c ai, tiến vào Niệm Phật Đường một câu A Di Đà Phật, thấy bất cứ ai đều chẳng chào hỏi, niệm một câu Phật hiệu đến cùng! Quư vị có chuyện quan trọng phải đi sớm th́ thích lúc nào bèn đi lúc đó, lúc đi cũng chẳng cần phải chào hỏi ai. Quư v có chuyện, phải đến trễ một chút cũng chẳng sao. Cửa Niệm Phật Đường m toang, t do ra vào, mọi người đều thuận tiện, đều hoan hỷ.

      Phương pháp [được S Sao nói] đây là loại th tư, không đi, không ngồi, diệc danh tùy tự ư” (c̣n gọi là Tùy T Ư). Phương pháp này “thông ư tứ nghi” (gồm chung bốn oai nghi),tứ nghi” đi, ở, ngồi, nằm. Có những k sơ học, th lực không khá, hai mươi bốn gi chẳng ng s chẳng thể nào làm được. Khi rất mệt mỏi, có th ng gật, nhưng đừng nằm trên giường, chớ nên cởi áo hải thanh. Q vị ngồi trên sofa ng một chút, ngủ nửa tiếng hay một tiếng, h giật ḿnh tỉnh giấc lại niệm tiếp, chọn lựa phương pháp này. Niệm lâu ngày, tâm thanh tịnh, đích xác là càng niệm tinh thần càng tốt đẹp, chẳng cần ngủ. H c̣n phải ngủ, nói cách khác, công phu vẫn chưa thật sự đi vào n nếp. Người thật sự đi vào n nếp chẳng cần ngủ, nhưng suốt hai mươi bốn gi tinh thần sung măn. Quư vị tối đa nghỉ ngơi một, hai giờ, thể lực liền khôi phục, chẳng cảm thấy rất mệt mỏi, đó là quư vị công phu thật sự đắc lực. Cảm thấy rất mệt mỏi, c̣n phải đi ngủ, c̣n phải ng suốt tám gi đồng hồ, đều là chưa đi vào n nếp, công phu chưa đắc lực!

      Cập chư tác vụ, công tư thông cự” (và các công việc, công tư b bộn) chuyện công, chuyện tư, “thông cự” (怱遽) rất bận rộn, diệc bất ngại tu” (cũng chẳng tr ngại tu tập), dùng phương thức này chẳng tr ngại. Phương thức này” là tŕ danh niệm Phật. Tŕ danh niệm Phật, đi, ở, ngồi, nằm, chỉ cần là chuyện hoặc việc chẳng cần dùng đến suy nghĩ, đều có th niệm. V́ thế, đây là loại thuận tiện bậc nhất trong bốn loại tam-muội.

 

      (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh thường định, thị phạn thực nghĩa. Tự tánh thường huệ, thị kinh hành nghĩa.

       () 稱 理,則 自 性 常 定,是 飯 食 義。自 性 常 慧,是 經 行 義 。

      (Sớ: Xứng Lư, tự tánh thường định là ư nghĩa “ăn cơm”. Tự tánh thường trí huệ là ư nghĩa “kinh hành”).

 

       Điểm đặc sắc lớn nhất của S Sao là toàn b câu ch trong kinh văn đều tiêu quy t tánh. Xứng Lư là tiêu quy t tánh, th đọc kinh văn tương ứng với Chân Như bản tánh; chúng ta đọc Sớ Sao nhất định phải hiểu, phải học tập sự thật này. Trong tương lai, chúng ta đọc hết thảy kinh cũng giống như Liên Tŕ đại sư luôn có thể tiêu quy tự tánh, như vậy th́ quư vị sẽ đắc đại th dụng. Nhà Phật nói “tiêu quy tự tánh”, Nho gia nói “tâm đắc”. Sau khi quư v đọc xong, trong tâm thật sự đạt được, tiêu quy tự tánh bèn thật sự đạt được. Chẳng tiêu quy tự tánh, s chẳng đạt được. V́ thế, tâm đắc chẳng dễ dàng! Chúng ta đọc những báo cáo đọc sách tâm đắc của rất nhiều người, [thấy trong ấy toàn là] sao chép điều này, trích lục điều kia. Đó là bút kư, hoặc tạp kư, chẳng th coi là tâm đắc. Dẫu viết thật hay, bất quá là [tác giả] đọc xong [một tác phẩm] chút cảm tưởng. Tâm đắc là có điều thấu hiểu, điều lănh ngộ; đây nói là Xứng Lư, tức là Ngài có ch thấu hiểu, có lănh ngộ. Từ kinh văn này, Tổ ng ra “ăn cơm” là “tự tánh thường định, thường định”lấy Thiền duyệt làm thức ăn, kinh hành là “tự tánh thường huệ”.

 

      (Diễn) Tự tánh thường định giả, Na G thường tại Định,hữu bất định thời. Hựu vân: “Tâm địa vô tán, tự tánh định”.

       () 自 性 常 定 者,那 伽 常 在 定,無 有 不 定 時。又 云:心 地 無 散 自 性 定。

      (Diễn: “Tự tánh thường định”, Na Già thường tại Định, chẳng có lúc nào chẳng định. Lại nói: “Tâm địa chẳng tán loạn là tự tánh định”).

 

      Na Già là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là long tượng”. Chúng ta chưa h thấy rồng, nhưng đă từng thấy voi. Voi giống như thường trong Định. Nó bước đi, rất b́nh ổn chậm răi, tiêu sái, giống như trong Định, đi, đứng, nằm, ngồi đều trong Định, không lúc nào chẳng Định. Đây là nêu t dụ. V́ thế, chẳng cần khoanh chân ngồi xếp bằng mới là Định. Người ấy đi đường cũng định, đứng ch nào cũng là định, nằm ng vẫn là định. V́ thế, đi, đứng, ngồi, nằm đều trong Định, chẳng có lúc nào không Định.

      Lại nói “tâm địa vô tán”,tán () là tán loạn, nói t tánh vốn định. Chân tâm của chúng ta chưa h tán loạn, quư vị đọc kinh Lăng Nghiêm liền hiểu rơ. Nói thật ra, cái tâm tán loạn của chúng ta trong hiện thời là tâm ư thức, là tâm tám thức, chẳng phải là chân tâm! Chân tâm chưa h tán loạn! Thích Ca Mâu Ni Phật đă dạy v chân tâm bản tánh của hết thảy chúng sanh như sau: Hết thảy chúng sanh vốn đă thành Phật. Quan sát t bản th chân tâm của quư v th́ quư vị Phật chẳng hai. Hiện thời quư vị chẳng giống như Phật, quư v chẳng dùng bản tánh, mà dùng tám thức, rất tệ hại! V́ l đó, những rắc rối của phàm phu do đây mà có.

      Nếu điều này chẳng d hiểu cho lắm, chúng tôi lại nói đơn giản hơn; nhưng h đơn giản th́ ch thể nói mường tượng, rất khó nói phù hợp khít khao. Nay chúng ta thường nói là cảm t́nh và lư trí. Cảm t́nh giống như tám thức, lư trí giống như là Chân Như bản tánh. Quư vị chẳng dùng trí, mà thiên lệch dùng cảm t́nh, phiền phức to tát! Phật, Bồ Tát dùng lư trí, chẳng dùng cảm t́nh; phàm phu dùng cảm t́nh, chẳng dùng trí. thế, chân tâm là trí huệ, chân tâm bất động! Chỉ có bất động th́ mới có trí huệ; hễ tâm động bèn là vô minh, chẳng có trí huệ nữa! V́ thế, phải hiểu: Chân tâm của chúng ta chẳng tán loạn, chân tâm chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng đến, chẳng đi. V́ thế, cái được kinh Lăng Nghiêm gọi là “thường trụ chân tâm”, mỗi người chúng ta đều có đủ. Nơi Phật chẳng tăng thêm chút nào, nơi phàm phu chẳng khiếm khuyết chút nào. Đó là chân tâm, là bản tánh của chúng ta.

      Nay chúng ta học Phật là học ǵ? Không ǵ chẳng nhằm khôi phục bản tánh của chúng ta mà thôi! Khiến cho chúng ta từ nay tr đi, trong cuộc sống, trong sinh hoạt thường ngày, dùng chân tâm, chẳng dùng vọng tâm, đó gọi là Phật, là Bồ Tát. Phàm phu tuy có chân tâm, nhưng chẳng dùng, dùng vọng tâm, dùng vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, nên khởi Hoặc, tạo nghiệp, chịu báo, đây là chuyện rất oan uổng. Hiểu sự thật này, liền biết chư Phật, Bồ Tát chúng ta sai biệt ở chỗ nào? Dụng tâm sai biệt, các Ngài dùng chân tâm, chúng ta chẳng dùng chân tâm. thế, đức Phật giáo hóa, dạy chúng ta khôi phục bản năng (năng lực sẵn có), dùng chân tâm giống như Phật, B Tát, chẳng dùng vọng tâm. Đó là s giáo học của đức Phật.

 

       (Diễn) Tự tánh thường huệ giả, nhất thiết chúng sanh giai cụ Như Lai trí huệ đức tướng, hựu vân: “Tâm địa vô si tự tánh huệ”.

() 自 性 常 慧 者,一 切 眾 生 皆 具 如 來 智 慧 德 相,又 云 :心 地 無 痴 自 性 慧。

(Diễn: “T tánh thường huệ”: Hết thảy chúng sanh đều có đầy đủ trí huệ và đức tướng của Như Lai. Lại nói: “Tâm địa chẳng si là tự tánh huệ”).

 

      Câu trước [trong đoạn Diễn Nghĩa trên đây] trích t kinh Hoa Nghiêm. Trong phẩm [Như Lai] Xuất Hiện của kinh Hoa Nghiêm, đức Thế Tôn đă nói: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai”, nên hết thảy chúng sanh vốn đă thành Phật. Tuy có, thật sự có, nhưng hiện thời chẳng khởi tác dụng, sao chẳng khởi tác dụng? Trong câu kinh văn kế tiếp, đức Phật nói: “Chỉ v́ vọng tưởng, chấp trước, nên không thể chứng đắc”, đúng là một lời nói toạc gốc bệnh của chúng sanh từ th kiếp tới nay. Gốc bệnh của chúng ta là vọng tưởng, chấp trước, nên chẳng thể khôi phục tự tánh, chẳng th hiển l t huệ đức tướng của chính ḿnh. Do vậy, tu học Phật pháp t đầu đến cuối là phá chấp trước mà thôi. Nhân Ngă Chấp đă phá, chứng quả A La Hán. Pháp Ngă Chấp đă phá, bèn thành Phật. Nhị Chấp hai thứ chướng, Nhân Ngă Chấp Phiền Năo Chướng, Pháp Ngă Chấp Sở Tri Chướng, hai th chấp trước này sanh ra hai loại chướng ngại to lớn, chướng ngại trí huệ đức tướng của Như Lai chẳng thể hiện tiền. Quư vị hiểu chân tướng sự thật này, nay chúng ta niệm một câu Phật hiệu này, có tác dụng ǵ? Phải niệm cho hết hai loại chướng ngại ấy, phải niệm cho hết hai loại chấp trước ấy, như vậy th́ mới có thể văng sanh.

      Văng sanh phải cậy vào tâm tịnh, tâm tịnh ắt cơi nước tịnh, chẳng phải do quư vị mỗi ngày niệm Phật hiệu bao nhiêu câu, chẳng phải vậy! Mỗi ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu, nhưng tâm chẳng thanh tịnh, vẫn không thể văng sanh, cổ đức đă nói: “Rách toạc cổ họng cũng uổng công”. thế, trong Di Đà Kinh Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đă nói: Phẩm vị cao hay thấp, do công phu niệm Phật sâu hay cạn”, Ngài chẳng nói nhiều hay ít. Công phu sâu là niệm đến mức Lư nhất tâm bất loạn, hai th chấp trước đều phá tan. Công phu cạn hơn là niệm đến mức S nhất tâm bất loạn, phá một thứ chấp trước. Do vậy, có th biết: Nếu chúng ta mong thật sự thành tựu trong một đời này, thật sự văng sanh, thật sự đạt được lợi ích thù thắng như kinh điển đă nói th́ phải nghiêm túc, nhất định phải niệm sao cho hết sạch tập khí phiền năo, vọng tưởng, chấp trước! H những th ấy hiện hành bèn là nghiệp chướng hiện tiền, nghiệp chướng là ǵ? Vọng tưởng là nghiệp chướng, phân biệt là nghiệp chướng, chấp trước là nghiệp chướng. H những th ấy trồi lên, ngay lập tức [t nhủ] “nghiệp chướng của ta hiện tiền”. Sám hối nghiệp chướng bằng cách nào? A Di Đà Phật, nghiệp chướng liền chẳng c̣n nữa. Dấy lên một câu A Di Đà Phật sám trừ nghiệp chướng, thay thế vọng niệm vọng tưởng chấp trước bằng một câu A Di Đà Phật. Quư vị thật sự có thể thay thế, nghiệp chướng bèn tiêu trừ. Do đó, sám tr thực hiện nơi đâu? Bất c lúc nào, bất c ch nào! Tu sám tr nghiệp chướng trong khi khởi tâm động niệm, cách tu là như vậy. Tuyệt đối chẳng phải là nói “ta tội nghiệp rất nặng”, t́m mấy v pháp sư, t́m mấy đồng tu đến lạy Lương Hoàng Sám, vô dụng! Đang bái sám mà vẫn dấy vọng tưởng, nghiệp chướng hiện tiền y như cũ, vô dụng!

      thế, quư vị phải hiểu, thật sự tu hành, đừng làm theo h́nh thức, đừng bày ra dáng vẻ này nọ! Dáng v ấy là giả, chẳng thật, vô dụng. Tu hành thật sự công phu nơi tâm địa, sao cho quư vị th đạt được cái tâm thanh tịnh, ǵn gi nó, đó là công phu chân thật. Tâm địa vô si”, chẳngtham, sân, si. Trong chân tâm chẳngtham, sân, si, trong chân tâm chỉ có trí huệ Bát Nhă. Trong tám thức mới có tham, sân, si, tâm s tương ứng với tám thức mới có. Sáu căn bản phiền năo và hai mươi tùy phiền năo là tâm s hữu pháp, tám thức mới có [những tâm s ấy], trong Chân Như bản tánh chẳng. Do đó, nói theo t tánh, chẳngtham, sân, si, chẳngvọng tưởng, phân biệt, chấp trước, phiền năo, chỉ có trí huệ. Hôm nay chúng tôi giảng tới ch này.

 

Tập 160

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm bốn mươi ba:

 

      (Sao) Thiền duyệt vi thực, cố Định hữu thực nghĩa. Trí năng vận chuyển, cố Huệ hữu hành nghĩa. Như Luận Tụng vân: “Ái nhạo Phật pháp vị, Thiền tam-muội vi thực”. Hựu Phật Địa Luận: “Tịnh độ trung chư Phật, Bồ Tát, năng thuyết, năng thọ Đại Thừa pháp vị. Hựu chánh thể trí thọ Chân Như vị, năng trụ tŕ thân mạng, sử bất đoạn hoại, trưởng dưỡng vạn pháp, cố danh vi Thực”.

() 禪 悅 為 食,故 定 有 食 義;智 能 運 轉,故 慧 有 行 義。如 論 頌 云:愛 樂 佛 法 味,禪 三 昧 為 食。又 佛 地 論:淨 土 中 諸 佛 菩 薩,能 說 能 受 大 乘 法 味,又 正 體 智 受 真 如 味, 能 住 持 身 命,使 不 斷 壞,長 養 萬 法,故 名 為 食。

(Sao: Lấy Thiền Duyệt làm thức ăn, nên Định có ư nghĩa “ăn”. Trí có thể vận chuyển, nên Huệ có ư nghĩa “đi”. Như [Văng Sanh] Luận bài k như sau: “Yêu thích pháp vị của Phật, dùng Thiền tam-muội làm thức ăn”. Phật Địa Luận lại nói: “Chư Phật, Bồ Tát trong Tịnh Độ có thể nói, có thể nhận pháp vị Đại Thừa”. Lại nữa, chánh thể trí thọ Chân Như vị, có thể duy tŕ thân mạng, khiến nó chẳng bị đoạn mất, hư hoại, [lại c̣n] trưởng dưỡng muôn pháp, nên gọi là Thực”).

 

      “Thiền duyệt vi thực”: Phật pháp nói t Sơ Thiền tr lên chẳng cần ăn uống, nên [người th lấy Thiền Duyệt làm thức ăn] chẳng thuộc trong Dục Giới, mà là đă đạt đến Sắc Giới Thiên. Sắc Giới có Tứ Thiền, bao gồm mười tám tầng trời. Sơ Thiền, Nhị Thiền, và Tam Thiền mii đều có ba tầng trời, như Sơ Thiền là Phạm Thiên, gồm Phạm Chúng Thiên (Brahmapāriṣadya), Phạm Phụ Thiên (Brahmapurohita) Đại Phạm Thiên (Mahābrahmā). Đệ Tứ Thiền rất đặc biệt. Tứ Thiền là cơi Phàm Thánh Đồng Cư, trừ ba tầng trời b́nh thường [giống như Sơ Thiền, Nhị Thiền và Tam Thiền], c̣n có một tng ngoại đạo thiên (tức là Vô Tưởng Thiên, Asaṃjñāsattvāh). Người tu Vô Tưởng Định thành tựu ngoại đạo thiên. Ngoài ra, c̣n có nơi để thánh nhân cư trụ gọi là Ngũ Bất Hoàn Thiên (Śuddhāvāsa), gồm có năm tầng[3]. V́ thế, cộng thêm một tầng ngoại đạo thiên và kể cả ba tầng thông thường ra, T Thiền gồm chín tầng trời. Thêm nữa, do Sơ Thiền, Nh Thiền và Tam Thiền trước đó, mỗi nơi đều ba tầng, nên Sắc Giới có tất c mười tám tầng trời. Chư thiên trong các tầng trời ấy đều không cần ăn uống, càng lên cao, công phu Thiền Định càng sâu. Tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ng nghỉ, là Ngũ Dục. T Sơ Thiền tr lên, thảy đều chẳng có [Ngũ Dục], h chẳng cần ngủ, cũng không cần ăn uống. Trong Ngũ Dục, chúng ta thấy hai điều ấy vô cùng nghiêm trọng. Tài c̣n có th không cần, danh cũng có th chẳng cần, sắc cũng có th chẳng cần, ch ăn và ng chẳng th nào không cần! Chúng ta quyết định không th nào làm được! Do đó, phải hiểu, t Sắc Giới trở lên, trọn chẳng cần ăn uống, Thiền duyệt vi thực”.

      Chúng ta hăy nghĩ, người hạ h phẩm văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng vượt trỗi Tứ Thiền Thiên, bất luận công phu định lực, trí huệ hay phước báo đều vượt xa lục đạo. Đại Phạm Thiên Vương cũng chẳng th sánh bằng họ, l nào c̣n có ăn uống? Trong phần trước, t sư đă giải thích cũng rất có lư, nói [cơi Cực Lạc] “có ẩm thựcchỉ là đối với chúng sanh trong Dục Giới như chúng ta. Chúng ta niệm Phật đới nghiệp văng sanh, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, tập khí ăn uống và ng nghê vẫn chưa đoạn, thỉnh thoảng nghĩ tới: “C sao đă lâu rồi mà chưa ăn”, có ư niệm ấy. Tây Phương Cực Lạc thế giới rất kỳ diệu, hết thảy các pháp đều là biến hóa thành. Quư v vừa động một niệm, thức ăn trăm vị liền hiện tiền. Sau khi hiện tiền mới biết: Nay chúng ta đang trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng phải ở trong thế giới Sa Bà, chẳng dùng những th ấy. Chẳng cần nữa, chúng liền chẳng có, liền biến mất!

Trong Thiền Định sanh ra niềm vui thích có th bồi đắp tinh thần, khiến cho chúng ta tinh thần phấn chấn, chẳng mệt mỏi, nên [Thiền Định] c̣nư nghĩaăn uống. Trong Dục Giới, tác dụng lớn nhất của ăn uống cũng là vun bồi, nuôi nấng thân mạng, nên [Thiền duyệt] công năng và ư nghĩa giống hệt như vậy.

 

      (Diễn) Thiền duyệt vi thực, Định hữu thực nghĩa giả, Thiền Định tư thần, khinh an, thích duyệt cố.

() 禪 悅 為 食 定 有 食 義 者,禪 定 資 神,輕 安 適 悅 故。

(Diễn: Thiền duyệt làm thức ăn, Định ư nghĩa là “ăn”: Thiền Định có thể bồi bổ tinh thần, nhẹ nhàng, yên vui, thoải mái).

 

      () là bồi bổ, thần là tinh thần, [“tư thần”] là bồi b tinh thần. “Khinh an, thích duyệt: Không ch là tinh thần, ngay c thân th cũng được bao gồm trong ấy, thân lẫn tâm đều sung sướng! V́ thế, Thiền Định có ư nghĩaẩm thực”. Trong thế gian này, khi chúng ta ăn no, tinh thần thoải mái, th lực cũng khôi phục.

 

      (Diễn) T năng vận chuyển, Huệ hữu hành nghĩa giả, trí thể vô trụ, vận hành hoạt bát cố.

       () 智 能 運 轉 慧 有 行 義 者,智 體 無 住,運 行 活 潑 故。

      (Diễn: Trí có thể vận chuyển, nên huệ có nghĩa là “đi”: Do trí thể chẳng trụ, vận hành hoạt bát).

 

      Trí năng vận chuyển”, Trí là có th hiểu rơ, thông đạt hết thảy các pháp, nên nó có ư nghĩa làđi”. Đều là quy kết t tánh để nói, tức t tánh định, t tánh huệ. Trí thể vô trụ, vận hành hoạt bát cố”: Nay chúng ta tuy có th vận hành, nhưng chẳng hoạt bát. Người tuổi càng cao, hành động càng chẳng thuận tiện, chẳng nhanh nhẹn như k tr tuổi! Nói theo y học, nguyên nhân là do cao tuổi, b lăo hóa, hành động chẳng thuận tiện. Định Hu được nói trong Phật pháp chính là tâm địa thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh, không chỉ tinh thần no đủ, thân th cũng chẳng d ǵ b lăo hóa. Lăo hóa là điều không thể tránh được, nhưng ngườiy già suy rất chậm, chẳng giống những người thường già suy rất nhanh. Nếu công phu định lực rất sâu, ngườiy chẳng già, xác thực là có th khống chế thân thể.

      Trong kinh Phật nói, vào thời đại Thích Ca Mâu Ni Phật, đức Phật hai v đệ t cho đến hiện tại vẫn c̣n trong nhân gian. Chiếu theo cách tính toán của người Hoa, đức Phật diệt độ đă hơn ba ngàn năm, nhưng hai v ấy vẫn c̣n tại thế. Một v là tôn gi Ca Diếp, đức Phật phó chúc Ngài phải đợi Phật Di Lặc xuất hiện trong thế gian này, đem y bát của Thích Ca Mâu Ni Phật trao truyền cho Phật Di Lặc rồi mới thể diệt độ. Do đó, tôn gi Ca Diếp trong nhân gian chúng ta, chẳng nhập diệt. Vị thứ hai tôn gi Tân Đầu Lô, đức Phật không cho phép tôn gi nhập diệt, buộc Ngài làm phước điền cho hết thảy chúng sanh trong thời kỳ Mạt Pháp. Quư vị thành tâm thành ư cúng trai, Ngài s đến ứng cúng. Ngài thị hiện h́nh dạng ǵ? Không biết! Không ai nhận biết, Ngài biến hóa. Đây là do Thiền Định rất sâu, có th khiến cho sắc thân này thường trụ. A La Hán có năng lực ấy, huống h Bồ Tát? Huống h Phật? Đương nhiên là năng lực này! Chư Phật, Bồ Tát tuy có năng lực này, nhưng chẳng tr thế. Chẳng tr thế là do nguyên nhân nào? Chúng sanh phước mỏng! Nếu các Ngài dùng thân phận Phật, Bồ Tát để trụ thế, chẳng có lợi ǵ cho chúng sanh, v́ chúng sanh chẳng có tâm cung kính đối với các Ngài. Không ch chẳng cung kính, mà c̣n hủy báng Phật, Bồ Tát, tạo tội nghiệp càng nặng. Do đó, các v Phật, Bồ Tát chẳng dùng thân phận của chính ḿnh xuất hiện trên thế gian. Phật, Bồ Tát rất từ bi, có thể dùng thân biến hóa, biến hóa thành tại gia cư sĩ, biến hóa thành một người xuất gia tầm thường, quư vị thấy những ngườiy s chẳng hủy báng, chẳng tạo khẩu nghiệp. V́ l đó, các Ngài chẳng dùng thân phận vốn có để xuất hiện trên thế gian.

      [Sách Diễn Nghĩa giảng câu]: Như luận tụng vân: Ái nhạo Phật pháp vị, Thiền tam-muội vi thực” [như sau]:

 

      (Diễn) “Như luận” chi luận, thị Văng Sanh Luận. Như luận tụng vân hạ, thị dẫn chứng, thực hữu lục đoạn, hành hữu nhất đoạn.

       () 如 論 之 論,是 往 生 論。如 論 頌 云 下,是 引 證,食 有 六 段,行 有 一 段。