A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 82

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 163

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm năm mươi mốt:

 

      (Sao) Tấn Căn giả, kư tín thử lư, cần cầu bất tức, thị danh vi Tấn.

      () 者,既 理,勤 息,是 進。

      (Sao: Tấn Căn là đă tin lư này, siêng cầu chẳng dứt, bèn gọi là Tấn).

 

      “Tấn” () nghĩa là cầu tiến bộ, chẳng thoái chuyển. Lời chú giải căn cứ trên những điều được nói trong Duy Thức Luận.

 

      (Diễn) Tấn giả, ư thiện ác phẩm tu đoạn sự trung, dũng hăn vi tánh, đối trị giải đăi, măn thiện vi nghiệp.

() 者,於 性,對 怠,滿 業。

(Diễn: Tấn là trong các sự tu tập nhằm đoạn các thứ thiện ác, dùng sự mạnh mẽ, can đảm làm tánh để đối trị giải đăi, chú trọng viên măn các điều thiện).

 

      Chúng ta có thể thấy Tấn được định nghĩa rất rơ rệt: Tấn là đối nghịch với giải đăi. Chẳng cầu tiến bộ, sẽ bị thoái chuyển, sẽ giải đăi, biếng nhác. Đối với Tín đă giảng trong phần trước, nếu có thể thật sự tin tưởng chuyện này, người ấy sẽ tự nhiên dũng mănh, tinh tấn.

      Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần, nói chung là Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm chính là cương lănh tu học của toàn thể Đại Thừa Phật pháp, đều có thể áp dụng cho bất cứ pháp môn nào. Thí dụ như Ba Mươi Bảy Phẩm được dùng trong nhà Thiền có cách giảng hoàn toàn khác với Tịnh Độ. Giáo Hạ như Thiên Thai, Hiền Thủ, Tam Luận, Pháp Tướng, mỗi tông đều có cách giải thích riêng, danh xưng hoàn toàn giống nhau, nhưng giải thích khác nhau. Ba Mươi Bảy Phẩm giống như một công thức được ứng dụng vô cùng sống động. Vận dụng vào Tịnh Độ, Ba Mươi Bảy Phẩm chẳng dùng cách nói ấy, [cách giảng giải được sử dụng] trong lời chú giải là cách nói của tông Pháp Tướng. Áp dụng vào Tịnh Độ Tông, Tín là điều thứ nhất trong ba tư lương, nhất định phải tin sâu chẳng nghi y báo và chánh báo trang nghiêm trong Tây Phương Tịnh Độ. Quư vị có thể thật sự tin sâu, tự nhiên sẽ nỗ lực niệm Phật, sẽ có thể tinh tấn.

      Tinh tấn sanh từ nơi đâu? Sanh từ Tín Căn. Cư sĩ Châu Quảng Đại ở Washington DC văng sanh, người ta niệm Phật ba ngày liền thấy Tây Phương Tam Thánh đến tiếp dẫn. Vài hôm trước, c̣n có một đồng tu kể cho tôi nghe một chuyện, ông ta nói: Có một phạm nhân lănh án tử h́nh, tự biết ḿnh đă bị phán tội tử h́nh, bèn ở trong tù chuyên niệm A Di Đà Phật, cũng chẳng biết đă niệm bao lâu. Trước khi bị đưa đi xử bắn, lăo nhân gia bèn tọa hóa, ngồi xếp bằng văng sanh trong ngục. Đấy là tâm sanh tử thiết tha, chẳng c̣n có hy vọng nào khác, chẳng hy vọng điều ǵ khác, chỉ có niềm hy vọng này, khẩn thiết niệm Phật, chẳng có ai không thành công. Chuyện này đích xác là có thể xảy ra. Chúng ta thấy Văng Sanh Truyện có chép pháp sư Oánh Kha đời Tống niệm Phật ba ngày ba đêm bèn cảm A Di Đà Phật hiện đến. A Di Đà Phật ước hẹn ba ngày sau sẽ đến tiếp dẫn Sư văng sanh, quả nhiên chẳng sai. Sư ra đi, cũng chẳng ngă bệnh. Vấn đề tùy thuộc bản thân chúng ta có tin tưởng hay không!

      Lũ phàm nhân chúng ta niệm Phật hiệu chẳng chuyên cần, nói thật ra là do tham luyến thế gian này, nên chẳng niệm tốt đẹp. Chúng ta thấy những người ấy tự tại văng sanh dường ấy, thậm chí kẻ lănh án tử h́nh cũng tự tại văng sanh, chẳng có nguyên nhân nào khác: Tâm sanh tử thiết tha, chẳng lưu luyến thế gian này! Cư sĩ Châu Quảng Đại [niệm Phật] ba ngày văng sanh cũng là như thế, tuy ông ta biết chính ḿnh bệnh rất nặng, cũng chẳng thể cứu chữa, trọn chẳng mong cầu phép lạ xuất hiện, cũng chẳng mong lành bệnh, mà cầu văng sanh thế giới Cực Lạc. Một niệm ấy thúc đẩy ông ta chuyên ṛng niệm Phật, đó là Tín Căn. Không chỉ là Tín Căn, mà ḷng tin ấy c̣n sanh ra sức mạnh rất lớn. Từ Ngũ Căn cho đến Ngũ Lực, ông ta có sức mạnh ấy, nên có thụy tướng tốt đẹp ngần ấy. Niệm Căn là trong tâm niệm niệm chẳng quên chuyện ấy.

 

      (Sao) Kư cầu thử lư, niệm tư tại tư, minh kư bất vong, thị danh vi Niệm.      

() 理,念 玆,明 忘,是 念。

       (Sao: Đă cầu lư ấy, niệm tại đâu, nghĩ tại đó, nhớ rơ chẳng quên, bèn gọi là Niệm).

 

      Chúng ta sống trong thế gian này, rốt cuộc v́ lẽ ǵ? Rốt cuộc, cả đời này có ư nghĩa ǵ? Có giá trị ǵ? Điều này rất đáng khiến cho chúng ta phản tỉnh. Qua kinh điển, đức Phật dạy chúng ta, nhân sinh là chuyện như thế nào? Kinh Phật nói một câu chẳng dễ nghe là “nhân sanh thù nghiệp” (đời người nhằm đền trả nghiệp), “thù”“báo thù” (報酬: đền đáp, báo đáp). Trong quá khứ, quư vị đă tạo nghiệp, hiện tại đáng nên thọ báo. Nói cách khác, một đời người để làm ǵ? Đến chịu đựng báo ứng! Trong quá khứ, quư vị tạo thiện nhân, đời này báo ứng tốt đẹp, nên mới hưởng sự báo ứng tốt đẹp. Trong đời quá khứ làm điều bất thiện, bèn hứng chịu quả báo chẳng tốt lành! Con người sanh trong thế gian chẳng có ǵ khác! Nhằm chịu báo! Mấy ai có thể giác ngộ?

      Chẳng gặp Phật pháp, nhất là chẳng gặp pháp môn này, xác thực là đời người nhằm đền trả nghiệp, chẳng có một tí biện pháp nào! Mạng của mỗi người đều đă được định sẵn, ai cũng đều chẳng thể trốn tránh vận mạng. Chư vị xem Liễu Phàm Tứ Huấn, số mạng suốt đời của Viên Liễu Phàm đă được định sẵn, số mạng một đời của mỗi người chúng ta cũng đều đă định sẵn, đó gọi là “một miếng ăn, một hớp uống, không ǵ chẳng được định trước”, đều đă được định sẵn, chẳng có ai là ngoại lệ. Nếu quư vị gặp một thầy bói thật sự cao minh, ông ta cũng biết rơ ràng. Nếu không hiểu đạo lư Phật pháp, sẽ chẳng có cách nào sửa đổi vận mạng. Được rồi! Ta hiểu đạo lư Phật pháp đôi chút, đoạn ác, tu thiện, sửa đổi vận mạng của chính ḿnh, bất quá là lại tạo một chút nhân lành, khiến cho vận mạng lại chuyển thành tốt hơn một chút, quả báo lại tốt đẹp hơn một chút. Nói cách khác, vẫn chẳng thoát khỏi nhân duyên quả báo! Câu nói “nhân sanh thù nghiệp” của Phật đă định sẵn cho quư vị. Nếu chúng ta thật sự liễu giải ư nghĩa bao hàm trong ấy, đích xác là một sự cảnh tỉnh to lớn: Đời người chẳng có ư nghĩa, chẳng có giá trị! V́ vậy, tổ sư bảo chúng ta phải nhàm ĺa Sa Bà, [v́] sanh trong Sa Bà là để đền trả nghiệp! Sau khi quư vị đă giác ngộ, hăy nên nhàm ĺa thế giới Sa Bà. Nếu có thể buông bỏ, hăy nhất tâm nhất ư cầu sanh Tịnh Độ, đó là người thật sự thông minh, triệt để giác ngộ.

      Tạm thời vẫn chưa muốn ra đi, nói thật ra là do hai nguyên nhân. Thứ nhất là do công phu chưa thành tựu, nên chẳng đi được. Đó là chuyện không thể làm ǵ khác được, phải nỗ lực, phải nghiêm túc tu học. Một loại khác là đă tu thành, có thể đi, nhưng chẳng đi, đây là đại từ đại bi thả chiếc bè Từ. Người ấy có năng lực ra đi, nhưng chẳng đi, vẫn trụ thêm mấy năm, do nguyên nhân nào? Chẳng phải là do tham luyến thế gian này, mà là hy vọng giới thiệu pháp môn này với mấy người nữa, giúp thêm mấy người cùng văng sanh. Đó là Bồ Tát phát tâm, chẳng cần chờ đến sau khi ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ trở lại độ chúng sanh, không cần! Ta có thể ra đi, nhưng không đi, đó là “thả chiếc bè Từ”, [cuộc sống của người ấy] có giá trị, có ư nghĩa. Trừ những trường hợp ấy ra, tôi thật sự nghĩ đời người chẳng có giá trị hay ư nghĩa ǵ! Do đó, đối với những đạo lư, những sự thật được nói trong kinh điển, y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới, những vị đại đức thuộc nhiều thế hệ đă nương theo pháp môn này tu học, quư vị thấy đó: Ai nấy đều thành tựu. Chúng ta phải lưu tâm chuyện này; trừ điều này ra, chẳng có ǵ liên quan đến chúng ta.

      Sáng nay có mấy vị pháp sư từ núi Sư Đầu[1] đến thăm, hỏi tôi mấy chuyện ngoài chuyện niệm Phật, họ hỏi: “Thưa pháp sư! Đối với cách nói của những vị pháp sư nào đó, thầy có cách nh́n như thế nào?” Tôi chắp tay: “A Di Đà Phật, tôi chẳng có cách nh́n chi hết!” V́ sao? Chẳng liên quan ǵ đến tôi! Chúng ta vẫn phải chia trí quan tâm pháp sư này, pháp sư nọ, phương pháp tu hành này, phương pháp tu hành nọ, th́ nói thật thà, chúng ta chẳng khéo niệm Phật, trong tâm vẫn c̣n xen tạp những thứ lộn xộn, tâm chúng ta làm sao có thể thanh tịnh cho được? Điều quan trọng nhất trong pháp môn này là không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn, há có tâm tư quan tâm tới chuyện của kẻ khác? Những chuyện ấy về căn bản là chẳng dính líu ǵ đến chúng ta, nên tôi khuyên họ hăy thật thà niệm Phật. Niệm y báo và chánh báo trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới; đó là chánh niệm. Niệm những chuyện khác đều là vọng niệm, đều là tạp niệm, gây chướng ngại rất lớn cho người tu Tịnh nghiệp chúng ta.

 

      (Sao) Định Căn giả, kư niệm thử lư, hệ duyên nhất cảnh, tương ứng bất tán, thị danh vi Định.

      () 者,既 理,繫 境,相 散,是 定。

      (Sao: Định Căn là đă niệm lư ấy, duyên chắc chắn nơi một cảnh, tương ứng chẳng tán loạn th́ gọi là Định).

 

      Chúng ta quy nạp toàn bộ vào Tịnh Độ để nói th́ tâm định nơi A Di Đà Phật, định nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới, suốt đời quyết định tu học pháp môn này. Ngoài pháp môn do chính ḿnh chuyên tu ra, đối với hết thảy các pháp môn do đức Phật đă nói, chúng ta cung kính, tán thán; đó là đúng. Đối với hết thảy các pháp môn “bất văn, bất thính”, “bất văn” là ta không nghe. Những kinh điển thuộc các pháp môn khác ta chẳng xem, mà cũng chẳng nghe, cũng chẳng hỏi tới. Ta chẳng có câu hỏi ǵ. Ta niệm A Di Đà Phật, há c̣n có thắc mắc ǵ? Chẳng có thắc mắc ǵ, thái độ ấy là đúng. Tâm chúng ta thanh tịnh. Đức Phật nói vô lượng vô biên pháp môn, chúng ta thảy đều nên cung kính, ai thích tu pháp môn nào cũng đều được cả! Chẳng có thứ ǵ không tốt đẹp! Tuyệt đối chớ nên nói: “Quư vị chẳng tu pháp môn Tịnh Độ, chẳng tốt”! Chớ nên dấy lên ư niệm ấy, ai nấy có nhân duyên riêng.

      Chúng ta biết pháp môn này tốt đẹp, nhưng c̣n có rất nhiều kẻ coi thường pháp môn này, đó là chuyện của họ, chẳng liên quan ǵ đến chúng ta! Chúng ta tu học pháp môn này, đừng nói là trước kia, ngay trong thời cận đại, chúng ta đă thấy bao nhiêu người thật sự nương theo pháp môn này văng sanh, có thụy tướng rất tốt lành, biết trước lúc mất, có người đứng văng sanh, có người nằm văng sanh, chẳng bị bệnh khổ, biết chính ḿnh sẽ văng sanh lúc nào, những trường hợp như vậy đều là chứng cớ rành rành. Những pháp môn khác tuy hay, hay đến mức độ nào, chúng ta cũng không biết, cũng chẳng hỏi tới, mà cũng chẳng nghiên cứu; nhưng tối thiểu là những gương thành tựu của họ chẳng nhiều, chẳng phổ biến bằng pháp môn này! Chúng ta biết học pháp môn này là thích hợp, tu những pháp môn khác có thể sẽ chẳng thể thành tựu trong một đời này. Cổ đức thường nói các pháp môn khác là “đạo khó hành”, pháp môn này là “đạo dễ hành”.

      Ngày hôm qua, tôi có nói với các vị đồng tu, tôi nói về Quán Âm Tam Kinh của Quán Thế Âm Bồ Tát, chẳng đơn giản đâu nhé! Trong kinh Hoa Nghiêm, Quán Thế Âm Bồ Tát đại diện các vị Bồ Tát thuộc địa vị Đệ Thất Hồi Hướng trong Viên Giáo. Căn cơ đối ứng với kinh Hoa Nghiêm, tức đối tượng giáo học [của bộ kinh ấy] là bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân Đại Sĩ, chúng ta chẳng có phần! Trong chương Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm, quư vị thấy “phản văn, văn tự tánh” (xoay cái nghe để nghe tự tánh), cách xoay lại là như thế nào? Xoay lại từ chỗ nào? Thật vậy! Dẫu kinh ấy giảng rơ ràng cách mấy, tôi thấy vẫn chẳng t́m được cửa để vào, chẳng có cách nào, chẳng dễ dàng! Phẩm Phổ Môn lại càng chẳng cần phải nói nữa! Phẩm Phổ Môn là Quán Âm Bồ Tát đă thành tựu, đại từ đại bi giáo hóa chúng sanh. Quư vị bèn hiểu đối tượng giáo học của những bộ đại kinh rất nhỏ hẹp, đích xác là bậc thượng căn lợi trí mới có phần, kẻ b́nh phàm chẳng có phần!

      Chỉ riêng pháp môn này nhiếp thọ căn cơ rộng lớn, đáng gọi là “thích hợp khắp ba căn, lợi căn lẫn độn căn đều hoàn toàn thâu nhiếp”. Dẫu tạo Ngũ Nghịch, Thập Ác, chỉ cần quư vị giác ngộ, chịu quay đầu, vẫn được văng sanh y hệt! Quư vị chớ nên nghĩ “ta tạo nghiệp rất nặng, chắc là phẩm vị văng sanh rất thấp, chỉ sợ là hạ hạ phẩm hạ sanh”, chưa chắc! Quư vị thấy phạm nhân can án tử h́nh luôn tạo tội nghiệp, bị phán án tử h́nh, do niệm Phật bèn có thể ngồi văng sanh tự tại trong ngục, chẳng ngă bệnh, cũng là biết trước lúc mất. Văng sanh như vậy th́ tuyệt đối chẳng phải là hạ phẩm hạ sanh, từ kinh luận Tịnh Tông, chúng ta có thể thấy điều này!

      Văng sanh là hai thứ công đức:

1) Một là tích công lũy đức văng sanh, giống như chúng ta nay đang niệm Phật; tu tập, tích lũy công đức mỗi ngày, văng sanh như thế đó.

2) Loại kia là kẻ có tội, tội nghiệp rất nặng, lâm chung sám hối văng sanh. Như pháp sư Oánh Kha là sám hối văng sanh, bản thân Sư biết chính ḿnh tội nghiệp rất nặng. Trong các kinh điển, chúng ta thấy A Xà Thế Vương Kinh, nhà vua cũng là sám hối văng sanh. Trong chú giải kinh Vô Lượng Thọ, lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ có đề cập, vua A Xà Thế khi lâm chung mới sám hối, biết chính ḿnh sai trái, tâm sám hối vô cùng dũng mănh. Nhà vua văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là thượng phẩm trung sanh. V́ vậy, phẩm vị cao hay thấp thường chẳng phải là bọn phàm phu chúng ta có thể tưởng tượng được. Một niệm hồi tâm dũng mănh đúng là người bậc thượng trong loài người.

      V́ thế, tâm nhất định phải định nơi pháp môn này, quyết định chẳng c̣n thay đổi nữa. Cho dù Thích Ca Mâu Ni Phật đích thân đến bảo chúng ta: “Ta c̣n có một pháp môn dễ dàng và thỏa đáng hơn pháp này”, quư vị bèn thưa: “Tạ ơn Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con tu pháp môn này là đủ rồi. Dẫu pháp môn ấy tốt đẹp đến mấy, con cũng không cần, con vẫn khăng khăng quyết chí tu pháp môn này”. Như vậy th́ mới được, tâm của quư vị mới thật sự định. Đó là yếu tố thành công, quyết định chớ nên sửa đổi, quyết định chớ nên biến cải!

 

      (Sao) Huệ Căn giả, kư định tâm tại đạo, phục chánh quán phân minh, quyết trạch thị phi, thị danh vi Huệ.

() 者,既 道,復 明,決 非,是 慧。

(Sao: Huệ Căn là tâm đă định nơi đạo. lại c̣n chánh quán phân minh, quyết trạch đúng sai, bèn gọi là Huệ).

 

      Huệ do đâu mà có? Huệ do Định mà có. Tâm đă thật sự định, thật sự thanh tịnh, liền sanh trí huệ. Khi ấy, quư vị không chỉ có thể thông đạt, hiểu rơ hết thảy Phật pháp, ngay cả hết thảy các pháp thế gian cũng đều hiểu rơ, cũng đều thông đạt. Đương nhiên lư này rất sâu, nhưng cũng chẳng khó lănh hội. Người thế gian thường nói: “Đương cục giả mê, bàng quan giả thanh” (người trong cuộc th́ quáng, người ngoài cuộc th́ sáng). Tâm thật sự định, sẽ có chủ tể. Nói cách khác, tuy chúng ta vẫn ở trong thế gian này, vẫn chưa đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhưng chúng ta đă buông xuống hết thảy sự việc thế tục trong thế gian này. Chẳng buông xuống nơi Sự, mà là tâm buông xuống, tâm không dính nhiễm. Nói cách khác, chẳng c̣n quan tâm những chuyện thế tục của thế gian này, đối với hết thảy Phật pháp Đại Thừa hay Tiểu Thừa đều không quan tâm. Không quan tâm là vượt thoát, là người ngoài cuộc. Người ngoài cuộc có cái nh́n khác với kẻ trong cuộc! V́ thế, quư vị quay đầu nh́n người thế gian, sẽ thấy họ mỗi ngày từ sáng đến tối bận bịu, mê hoặc, điên đảo, chúng ta không mê hoặc. Quư vị lại nh́n người học Phật dốc hết tánh mạng dùi mài, nghiên cứu nơi Đại Thừa hay Tiểu Thừa, chúng ta ở ngoài cuộc thấy rất rơ ràng. Tôi nghĩ chư vị có thể lănh hội ư nghĩa này. Chúng ta chẳng phải là kẻ trong cuộc, đă từ trong cuộc thoát ra, nên Huệ ở đây là thật, chẳng giả tí nào! Quư vị càng có thể buông pháp thế gian và xuất thế gian xuống, trí huệ của quư vị càng tăng trưởng, tâm quư vị càng thanh tịnh, trí huệ rộng lớn, nhất định thông đạt, hiểu rơ pháp thế gian và xuất thế gian, nhưng chính ḿnh xử sự đăi người, tiếp vật nhất định là khiêm cung, lễ độ, chẳng sanh tâm ngạo mạn, v́ đă thấy rơ ràng chân tướng của hết thảy sự thật.

 

      (Sao) Năng sanh thánh đạo giả.

     () 者。

      (Sao: Có thể sanh thánh đạo).

 

      Đây là nói Ngũ Căn có thể sanh ra thánh đạo.

 

      (Sao) Dĩ thử ngũ pháp, điều trị kỳ tâm, thí như âm dương ḥa thích, nhất thiết chủng tử giai đắc phát sanh cố.

() 法,調 心,譬 適,一 故。

(Sao: Do năm pháp ấy điều ḥa, đối trị cái tâm, ví như Âm và Dương ḥa hợp, khiến cho hết thảy hạt giống đều được sanh thành).

 

      Đây là dùng tỷ dụ. Ngũ Pháp là Tín, Tấn, Niệm, Định, và Huệ. Tôi vừa mới nói [năm pháp] ấy là một công thức, áp dụng thích hợp cho hết thảy các pháp. Không chỉ là phù hợp Niệm Phật, mà c̣n phù hợp các pháp thế gian trong cuộc sống hằng ngày của quư vị. Đối với bất cứ chuyện ǵ thuộc về pháp thế gian, chẳng hạn như chúng ta nấu nướng trong bếp, nếu quư vị có đầy đủ năm điều kiện ấy, thức ăn do quư vị nấu nhất định là sắc, hương, vị đều vô cùng ngon lành, đẹp đẽ, v́ sao? Do có Huệ, có Định. Định là toàn bộ tinh thần dốc hết vào đó để làm, nhất định sẽ làm hết sức tốt đẹp. Quư vị liền biết năm pháp ấy chung cho hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian. Thứ nhất là chính ḿnh có tín tâm, nấu thức ăn ta bèn có tín tâm, ta sẽ nấu rất ngon lành. Có thể thấy phạm vi của năm pháp ấy hết sức rộng lớn.

      Nếu áp dụng năm pháp ấy vào tu đạo, đạo nghiệp nhất định thành tựu, Vận dụng năm pháp ấy vào bất cứ chuyện ǵ, [chuyện ấy] chắc chắn thành tựu. Quư vị dùng năm pháp ấy trong buôn bán, nhất định kiếm lời, nhất định phát tài. Nói thật ra, Phật pháp hết sức thực dụng, đáng tiếc là nhiều kẻ trong thế gian này chẳng biết; đích xác là mấu chốt và bí quyết để thành công trong hết thảy sự nghiệp thế gian và xuất thế gian. Phật pháp là tâm pháp, sở cầu của Phật pháp là minh tâm kiến tánh; đó là tông chỉ của pháp Đại Thừa. bất luận tông nào hay pháp môn nào, đều lấy “minh tâm kiến tánh” làm mục tiêu. Ở đây cũng là nói lên ư nghĩa tổng quát, dùng năm pháp ấy để điều trị cái tâm. Cách nói của tôi như trong phần trước hoàn toàn là nói theo [quan điểm của] Tịnh Tông, nói theo pháp môn Niệm Phật. Tôi vừa mới nói, mỗi tông có cách giảng riêng, có cách tu tập riêng, nhưng danh xưng đều giống như nhau.

      Kế đó, dùng một tỷ dụ để nói: “Thí như âm dương ḥa thích, nhất thiết chủng tử giai đắc phát sanh cố” (Ví như âm dương ḥa hợp, hết thảy các hạt giống đều được sanh thành), tỷ dụ về thực vật. Thực vật sanh trưởng, đối với kiến thức thông thường này, chúng ta đều hiểu kha khá, thực vật cần thổ nhưỡng[2], nước, không khí, ánh sáng mặt trời, phân bón; ở đây, những điều ấy được gọi là “âm dương ḥa thích”. Trong các duyên ấy, có âm tánh và dương tánh; chẳng hạn như mặt trời thuộc loại dương tánh, nước thuộc loại âm tánh, sức người vun quén thuộc loại dương tánh. Nói “âm dương” là nói theo ư nghĩa này.

 

       (Sao) Câu Xá tam nghĩa giả, Câu Xá Luận minh tối thắng tự tại quang hiển vi Căn. Tối thắng giả, căn thể thắng cố. Tự tại giả, căn dụng thắng cố. Quang hiển giả Thể Dụng song chương cố. Ư trung khai nhị thập nhị căn, hữu Tín đẳng ngũ căn.

      () 者,俱 根。最 ,根 故;自 者,根 故;光 者,體 故。於 根,有 根。

      (Sao: “Câu Xá nêu ra ba nghĩa”: Câu Xá Luận nói Căn có nghĩa là tối thắng, tự tại và quang hiển. Tối thắng là v́ Thể của Căn thù thắng. Tự tại là Dụng của Căn thù thắng. Quang hiển là Thể và Dụng cùng phô bày. Luận ấy lập ra hai mươi hai Căn, trong số đó có Ngũ Căn như Tín v.v…)

 

      “Câu Xá tam nghĩa” là ba ư nghĩa tối thắng, tự tại, và quang hiển. Câu Xá Luận giải thích Căn có ba ư nghĩa: Ư nghĩa thứ nhất là Tối Thắng, tức là thù thắng nhất, v́ nó là Thân Nhân Duyên[3] của hết thảy các pháp.

 

      (Diễn) Tối thắng giả, tức thượng tŕ kỳ sở dĩ đắc, nhi tự phần bất thất dă.

      () 者,即 得,而 也。

(Diễn: “Tối thắng” là như trong phần trên (trong lời Sao giải thích về chữ Căn) [đă nói] “giữ ǵn những ǵ đă đắc, chẳng đánh mất chính ḿnh”).

 

      Giống như hạt giống, nó có thể ǵn giữ, chẳng để mất công năng. Đó là Tối Thắng.

 

       (Diễn) Tự tại giả, tức thượng sanh kỳ sở vị đắc, nhi thắng tấn thượng cầu dă.

   () 者,即 得,而 也。

(Diễn: “Tự tại” là trong phần trên (trong lời Sao giải thích về chữ Căn) [đă nói] “có thể sanh những điều chưa đạt được, lại c̣n tiến lên cầu cao hơn”).

 

      Nó có Sở Duyên Duyên[4]. Chỉ cần gặp được duyên, duyên phận đầy đủ, sẽ quyết định sanh trưởng. Ví như một hạt giống, hạt giống là Thân Nhân Duyên, là tối thắng. Tối thắng mà nếu chẳng có duyên, [chẳng hạn như] đặt hạt giống ấy trong chén trà, để đó cả trăm năm, nó vẫn chẳng thể mọc thành cây cối. [Tức là] hạt giống tuy tối thắng, nhưng thiếu Tăng Thượng Duyên. V́ thế, hễ có Tăng Thượng Duyên[5], nó nhất định có thể sanh trưởng, có thể đơm hoa, kết quả. Đó là ư nghĩa Tự Tại. Ư nghĩa thứ ba là “quang hiển”:

 

      (Diễn) Quang hiển Thể Dụng song chương giả, tức thượng “tức Thể khởi Dụng, tức Dụng hiển Thể”.

() 者,即 用,即 體。

(Diễn: “Quang hiển là Thể và Dụng cùng phô bày” chính là như trong phần trên đă nói: “Từ ngay nơi Thể mà khởi Dụng, từ ngay nơi Dụng mà hiển lộ Thể”).

 

      Trong Câu Xá Luận, đức Phật nói chủng tử có ba ư nghĩa ấy. Phần đầu của hai mươi hai Căn [được nhắc đến trong Câu Xá Luận] chính là Ngũ Căn. Hai mươi hai Căn[6] là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ, Ưu, Hỷ, Khổ, Lạc, Xả v.v…. Dưới đây, chúng ta lại xét đến Ngũ Lực:

 

       (Sớ) Ngũ Lực giả, tức tiền Ngũ Căn tăng trưởng, cụ hữu đại lực, cố danh vi Lực.

() 者,即 長,具 力,故 力。

(Sớ: Ngũ Lực là năm căn trên đây tăng trưởng, có sức mạnh to lớn, nên gọi là Lực).

 

      Điều thù thắng của Căn là nó có thể tăng trưởng, nhưng sức mạnh của nó khá yếu. Giống như một hạt giống, có thể sanh trưởng, nhưng lúc mới mọc chỉ là một cây non mà thôi, chẳng phải là một cội đại thụ. Cây non gặp phải gió to, liền bị thổi trốc rễ, v́ nó chẳng có sức. Nó ắt phải tăng trưởng không ngừng, sau khi trưởng thành, nó sẽ có sức, vững bền, chẳng bị bật trốc. Ngũ Lực là Ngũ Căn tăng trưởng; khi ấy, nó thật sự có tác dụng.

 

      (Sao) Lực hữu nhị nghĩa: Nhất giả bất vị tha phục, nhị giả hựu năng phục tha.

() 義:一 伏,二 他。

(Sao: Lực có hai nghĩa: Một là chẳng bị kẻ khác khuất phục, hai là lại có thể khuất phục kẻ khác).

 

      “Phục” () có nghĩa là hàng phục (降伏). Người thật sự có lực, sẽ chẳng bị kẻ khác hàng phục. Nếu sức quư vị càng thù thắng, sẽ c̣n có thể hàng phục đối phương. Sức mạnh ấy càng lớn hơn nữa.

 

      (Sao) Như Du Già Luận, thử Ngũ Lực giả, năng ư hậu hậu sở chứng xuất thế gian pháp, sanh thâm thắng giải, nan chế phục cố. Hựu cụ đại oai thế, tồi phục nhất thiết chư ma quân cố.

() 論,此 者,能 法,生 解,難 故。又 勢,摧 故。

(Sao: Như luận Du Già đă nói: Năm lực ấy có thể khiến cho [hành nhân] sanh khởi sự lư giải thù thắng sâu xa, khó thể chế phục đối với các pháp xuất thế gian được chứng sau này (như Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần v.v…). Lại c̣n [do năm lực ấy mà] trọn đủ oai thế, dẹp tan hết thảy ma quân).

 

      Theo Du Già Sư Địa Luận, đây là một bộ luận Đại Thừa, Câu Xá Luận là luận Tiểu Thừa. Du Già Luận là một bộ đại luận căn bản trọng yếu nhất trong tông Duy Thức. Tông Duy Thức căn cứ trên sáu kinh và mười một luận. Trong sáu kinh, bộ kinh điển quan trọng nhất, thuần túy giảng về lư luận Duy Thức là kinh Giải Thâm Mật. Trong mười một luận, hai bộ Du Già Luận và Thành Duy Thức Luận là luận căn bản của tông Duy Thức. Du Già Sư Địa Luận được gọi là đại luận, có tất cả một trăm cuốn, là căn bản đại luận. Bộ sách này giải thích pháp tướng hết sức cặn kẽ, chi tiết, tỉ mỉ. Bộ luận này do Di Lặc Bồ Tát soạn.

      “Năng ư hậu hậu sở chứng xuất thế gian pháp”, “hậu” là phía sau. Sau Ngũ Căn và Ngũ Lực là Thất Bồ Đề Phần và Bát Chánh Đạo Phần. Sách Diễn Nghĩa chú giải: “Hậu chi sở chứng xuất thế pháp, tức Giác Chi chánh đạo (Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo), Trụ, Hạnh, Hướng, Địa đẳng pháp” (các pháp xuất thế sẽ chứng sau này chính là các pháp Giác Chi chánh đạo (Thất Giác Chi và Bát Chánh Đạo), Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa v.v…). Đó là các pháp do hàng Đại Thừa Bồ Tát tu tập như Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, những pháp ấy đều được giảng rất tỉ mỉ trong kinh Hoa Nghiêm. Do đó, kinh Hoa Nghiêm cũng là một trong sáu kinh của Pháp Tướng Duy Thức Tông. Có thể nói các pháp môn đều hoàn toàn kiến lập trên cơ sở Ngũ Lực. Nói thật ra, Ngũ Căn và Ngũ Lực giống như nền tảng của cao ốc, chúng là cơ sở. Rời khỏi Căn và Lực, pháp môn nào cũng đều chẳng thể thành tựu, v́ sao? Quư vị chẳng có Căn. Chẳng có Căn sẽ giống như bèo trôi giạt trên mặt nước, chẳng thể thành công. Pháp thế gian và xuất thế gian đều phải có Căn. Nói thật ra, Căn là ư niệm, là tín niệm của quư vị. Do đó, Tín Căn đứng đầu [trong Ngũ Căn], Tín Lực đứng đầu trong các Lực. Quư vị có tín tâm chân thành, sau đấy Căn và Lực mới có thể sanh khởi. V́ thế, người ấy có năng lực “sanh thâm thắng giải”, “thắng” là thù thắng, “giải” là lư giải. Sự lư giải ấy chẳng nông cạn, mà là “thâm giải” (lư giải sâu xa), chẳng phải là lư giải thông thường, mà là lư giải hết sức thù thắng, cũng là thật sự thấu triệt, là lư giải thâm nhập, lư giải chân thật. Người ấy lư giải chẳng sai lầm, v́ có lư giải rất sâu như vậy. Đó chính là cơ sở Tín Căn. V́ sao người ấy có thể tin tưởng? Trong ấy có đạo lư, do thật sự hiểu rơ đạo lư ấy, nên người ấy thật sự tin tưởng.

      V́ sao nói Tịnh Độ Tông là pháp khó tin? Đúng là khó tin! V́ sao? V́ chẳng hiểu rơ Sự và Lư trong đó. Chẳng hiểu rơ mà bảo quư vị tin tưởng, chuyện ấy rất khó! Do đó, hết thảy chư Phật đều nói pháp môn này là pháp khó tin. Muốn sanh khởi lư giải thù thắng đối với Tịnh Tông, hăy giống như trước kia tôi theo thầy Lư ở Đài Trung học Di Đà Kinh Yếu Giải, thầy Lư hạn định ba tháng phải đệ tŕnh báo cáo. Đương nhiên, tôi vẫn phải đọc chú giải, tức các bộ Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh và Thân Văn Lục của pháp sư Bảo Tĩnh, thật sự dốc sức đọc tụng, nghiên cứu. Ba tháng sau, tôi nộp báo cáo cho thầy, tôi thưa với thầy: “Con hoàn toàn chẳng hiểu rơ trọn vẹn”. Thầy nghe tôi nói câu ấy, rất vừa ḷng, bảo: “Đích xác là chẳng dễ dàng. Nếu anh muốn liễu giải bộ Di Đà Kinh Yếu Giải, tối thiểu phải đọc hơn nửa Đại Tạng Kinh th́ anh mới có thể hiểu thấu ư nghĩa”. V́ vậy, sanh lư giải thù thắng sâu xa khó lắm!

      Để có thể sanh khởi tín tâm đối với Tịnh Tông, Tín Căn và Tín Lực có thể sanh khởi, tôi phải mất ba mươi năm! Trong ba mươi năm ấy, giảng bao nhiêu kinh luận Đại Thừa, đặc biệt đắc lực nơi Hoa Nghiêm. Đổ công sức giảng kinh Hoa Nghiêm mười mấy năm rồi mới tin tưởng, sanh thâm thắng giải. Do đó, quyết định chẳng bị dao động, chẳng dễ dàng! C̣n có nhiều người tốn thời gian nhiều hơn tôi, mà vẫn chưa thể thấu hiểu Giáo Hạ, người như vậy nhiều lắm! Nguyên nhân là đâu? Chẳng phải là họ không dụng công, chẳng phải là họ không tinh tấn, nói thật ra là do thiếu một vị cao nhân ở bên cạnh chỉ bảo. Quư vị thấy điều này có quan hệ trọng yếu lắm! Chính ḿnh ṃ mẫm sai lầm trên con đường ấy, nhưng chính ḿnh chẳng biết. Nói cách khác, đi theo con đường ấy rất oan uổng, uổng phí thời gian.

      V́ lẽ đó, tu học pháp thế gian hay xuất thế gian đều giống nhau, then chốt thành hay bại là phải có bậc thầy thật sự cao minh ở bên cạnh giám sát, hễ quư vị hơi đi chệch đường, thầy có thể giúp đỡ uốn nắn quư vị, như vậy th́ quư vị mới chẳng bị lạc lối oan uổng. Trong kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung, vừa mở đầu, đức Phật liền dạy, một điều kiện quan trọng nhất trong tu học là phải cầu “minh sư”. [Tôi nói] minh sư, chẳng phải là chữ “danh” trong danh nhân, mà là chữ “minh” trong quang minh[7]. Tiếng tăm lẫy lừng vô dụng! Nay chúng ta nói là “người rất nổi tiếng”, chưa chắc đă là bậc thầy thật sự tốt đẹp, bậc thầy thật sự tốt đẹp chưa chắc đă có người biết đến! [Minh sư là] người thật sự hữu tu hữu học, đương nhiên tốt nhất là người có chứng đắc, quư vị gặp được người như vậy, nghe lời vị ấy, nương theo lời vị ấy dạy bảo, sẽ hết sức ổn thỏa, thích đáng. Chẳng gặp bậc cao minh, chính ḿnh ṃ mẫm t́m lối sai lầm, rất uổng phí đời này! V́ thế, “sanh thâm thắng giải” rất khó đạt được!

      Hiện thời, có các đồng tu muốn tôi dạy họ phương pháp, tôi bèn dạy họ xếp hết thảy kinh luận lại, chuyên niệm một bộ kinh. Niệm bao lâu? Trước đây, cổ nhân lập kỳ hạn năm năm, hiện thời, sợ năm năm quá dài quư vị chịu không nổi, nên tôi rút ngắn kỳ hạn thành ba năm. Nếu cảm thấy ba năm c̣n quá dài, chẳng có cách nào cả! Không thể ít hơn ba năm. Ít hơn ba năm sẽ vô dụng, cũng có nghĩa là Căn của quư vị quá mỏng yếu! Trước kia, dùng thời gian năm năm để vun bồi Căn. Hơn nữa, thuở ấy, ḷng người thuần hậu, phong tục trong xă hội thiện lương, mà vẫn cần tốn thời gian năm năm để vun bồi. Thế giới hiện tại phồn hoa, quá nhiều vọng niệm, nói thật thà, năm năm chẳng đủ! Vẫn phải kéo dài hơn! Hiện nay, [con người cứ than van] thời gian năm năm quá dài, phải rút ngắn, làm thế nào được nữa! Chẳng có cách nào cả! Phải dốc sức ba năm để tu Căn Bản Trí, tu thanh tịnh tâm, chỉ có thân tâm thanh tịnh th́ mới có thể tiếp nhận thánh giáo của Như Lai. V́ Phật pháp lưu lộ từ tâm thanh tịnh của Phật, Bồ Tát, tâm quư vị chẳng thanh tịnh, có học một trăm năm cũng chẳng thể tiến nhập. V́ sao? Pháp và quư vị chẳng tương ứng, những ǵ quư vị đă học là văn tự, là bề ngoài, quyết định chẳng thể tiến nhập. V́ vậy, nhất định phải dốc sức từ tâm thanh tịnh.

      Đến khi nào lại học rộng nghe nhiều? Sau khi học rộng nghe nhiều th́ mới có thể “sanh thâm thắng giải”. Đó là tu học có từng giai đoạn, chẳng phải là đạt được ngay lập tức. Học rộng nghe nhiều sau khi đă xuất sư, nói theo lối thông tục của người Hoa là “xuất sư”, c̣n người hiện thời nói là “tốt nghiệp”, rời khỏi trường, rời khỏi thầy. Rời khỏi trường, rời khỏi thầy để làm ǵ? Khi đó gọi là “tham học”. Tham học là học rộng nghe nhiều, v́ sao? Hoàn toàn rời khỏi thầy, chẳng c̣n bị thầy ràng buộc, cơ sở Định Huệ của chính ḿnh đă được kiến lập. Cơ sở Định Huệ lấy ǵ làm tiêu chuẩn? Lấy [những điều đang được bàn luận] ở đây để nói, sẽ là Ngũ Căn, Ngũ Lực, Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ của quư vị hữu lực, thầy cho quư vị ra ngoài, có thể đi tham học, có thể học rộng nghe nhiều. Quư vị chẳng có Ngũ Căn, Ngũ Lực, sẽ là phường bèo giạt, có tư cách ǵ để tham học? Hễ tham học, sẽ nguy to, v́ sao? Nghe nói pháp sư này đường lối khá lắm, nghe nói vị kia đường lối cũng hay lắm! Nghe hai vị thầy giảng là hai con đường, ba vị thầy là ngă ba, bốn vị thầy bèn thành ngă tư, chẳng biết chọn đường nào mới nên! Bản thân chẳng có chủ ư, chẳng có Căn, chẳng có Lực, chạy theo kẻ khác, chẳng thể hàng phục người ta, luôn bị người ta hàng phục. V́ thế, người như vậy chẳng thể đi tham học. Từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy Thiện Tài đồng tử là học tṛ của Văn Thù Bồ Tát. Trong hội Văn Thù Bồ Tát, Ngài đạt được Căn, Lực, Ngũ Căn, Ngũ Lực thành tựu, Văn Thù Bồ Tát mới cho phép Ngài đi ra ngoài, mới tham học năm mươi ba lượt. Tham học năm mươi ba lượt rồi mới sanh sự lư giải thù thắng sâu xa! Chư vị đồng tu nhất định phải biết điều này!

      Thứ tự và quá tŕnh tu học trong Phật pháp là như vậy, chớ nên điên đảo, chẳng thể vượt ngoài thứ tự! Con người hiện thời tu học, nói thật ra, chẳng tuân theo phương pháp này! Vừa mở đầu liền học rộng nghe nhiều, vừa xuất gia, thậm chí [có kẻ] chưa xuất gia đă đến học trước tại Phật Học Viện. Khóa tŕnh trong Phật Học Viện là học rộng nghe nhiều; nhiều thầy, sắp xếp nhiều khóa tŕnh, kết quả là tốt nghiệp xong học được những thứ ǵ? Nói khó nghe một chút là tà tri tà kiến! Tâm quư vị chẳng tương ứng với đạo, tâm chẳng tương ứng với “giác, chánh, tịnh”, hết thảy Đại Thừa Phật pháp do quư vị đă học [sẽ là] “tăng trưởng tà kiến”, Thanh Lương đại sư đă nói như vậy đó! Chư vị hăy suy nghĩ cặn kẽ, rất có lư, đúng là tăng trưởng tà kiến! V́ những ư nghĩa trong kinh điển do quư vị lư giải chẳng phải là ư nghĩa của Phật, mà toàn là do chính quư vị dấy vọng tưởng, đó là ư nghĩa của quư vị. Trong bài kệ Khai Kinh có câu: “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”, quư vị suy tưởng nghĩa chân thật của Như Lai ở chỗ nào? Chính ḿnh phải thật sự đạt tới giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ chẳng nhiễm th́ tâm mới có thể thấu hiểu nghĩa chân thật của Như Lai. Chúng ta mê hoặc, điên đảo, tà tri tà kiến, phiền năo trùng trùng, làm sao có thể lư giải nghĩa chân thật của Phật cho được? Làm sao có thể tham học cho được?

      Nói thật thà, Phật Học Viện trong hiện thời là tham học. Có thể đến học tại Phật Học Viện, nhưng loại người nào đến học th́ mới có lợi ích? Phải đă trải qua huấn luyện cơ bản, thành tựu Ngũ Căn, Ngũ Lực rồi mới đến học tại Phật Học Viện th́ được. V́ sao? Có thể viên măn Hậu Đắc Trí. Nhưng quư vị phải có Căn Bản Trí! Chẳng có Căn Bản Trí, lấy đâu ra Hậu Đắc Trí? V́ lẽ đó, Phật Học Viện là năm mươi ba lần tham học, kẻ b́nh phàm chẳng thể đến học! Thiện Tài đồng tử mới có tư cách đến học. Nếu chẳng có Căn Bản Trí, mà quư vị đi tham học, nói thật ra, không chỉ chẳng đạt được lợi ích, xác thực là hủy diệt tiền đồ của chính ḿnh. Chúng ta phải hiểu đích xác, phải cảnh giác thật sâu chuyện này!

      Chúng ta chẳng đến học tại Phật Học Viện, Đại Tạng Kinh nhiều ngần ấy, trong ngoài nước rất nhiều cao tăng đại đức và các vị đại cư sĩ tại gia, chúng ta có nên tham học hay không? Không nên! Nếu là đại thiện tri thức chân chánh, quư vị muốn đến hỏi han, thỉnh giáo Ngài, Ngài sẽ đuổi quư vị đi. Trong Cao Tăng Truyện có chép chuyện ấy, quư vị đến tham học, Ngài bèn đuổi quư vị đi. Đó là thật sự yêu thương quư vị, v́ sao? Tu học pháp môn khác nhau, quư vị hăy nên thâm nhập một môn. Ắt phải là sau khi Căn Bản Trí của chính ḿnh đă thành tựu, khi ấy mới có tư cách tham học, nói thông tục là “đă xuất sư”, có thể rời khỏi thầy, v́ Căn đă hữu lực. “Hữu lực” là có thể độc lập; khi chưa có Lực, chẳng thể độc lập, cần có thầy nâng đỡ. Hiện thời, trong Phật môn, người hiểu đạo lư này chẳng nhiều, người nương theo phương pháp này để tu học lại càng ít ỏi.

      Do đó, [tuy] niệm Phật là đạo dễ hành, nhưng niệm câu Phật hiệu chẳng tốt đẹp, trọn chẳng thể tương ứng, sẽ chẳng thể văng sanh, học những thứ khác khỏi cần phải nói nữa! V́ vậy, tôi nói rơ cùng quư vị một câu “sanh thâm thắng giải” này chẳng phải là trong một thời gian rất ngắn một sớm một chiều mà ḥng đạt được. Mọi người nhất định phải có ḷng kiên nhẫn, tâm thường hằng, tâm tu học dài lâu. Hơn nữa, phải đặt trọng điểm tu học nơi tâm thanh tịnh, không cần phải mong  ta biết rất nhiều thứ, chẳng cần thiết, mà phải mong cầu tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh sanh trí huệ; sau khi trí huệ khai, pháp thế gian và xuất thế gian, quư vị chỉ tiếp xúc bèn thông đạt.

      Quán thông hoàn toàn một bộ Đại Tạng Kinh phải mất bao lâu? Thưa cùng quư vị, nửa năm là đủ rồi. Quư vị đă khai trí huệ, thường là chẳng cần xem một bộ kinh đến hết. Như Lục Tổ đại sư đă khai trí huệ, Ngài chưa từng xem kinh Pháp Hoa, mà cũng chưa hề niệm, cũng như chưa hề nghe, bảo sư Pháp Đạt niệm kinh. Sư niệm đến phẩm Phương Tiện, Lục Tổ nói: “Chẳng cần niệm nữa! Kinh này ta đă biết toàn bộ”. Hai mươi tám phẩm Sư chỉ niệm hai phẩm, Tổ liền biết toàn bộ, chẳng cần niệm tiếp, liền khai thị [cho Pháp Đạt]. Giảng xong, Pháp Đạt liền khai ngộ. Quư vị mới biết cách học các thứ như thế nào! Cứ học từng bộ kinh một, mệt chết luôn! Đó chính là như Thiền Tông nói “tầm chi trích diệp” (t́m cành vặt lá), tu nơi từng cành, từng lá một, rất khổ! Thời gian quá dài, lại c̣n chắc chắn chẳng thể học thành công.

Biết học, sẽ tu từ căn bản, căn bản là ǵ? Nói theo Tịnh Tông sẽ là tâm thanh tịnh. Tâm địa thanh tịnh là được rồi. Tâm tịnh, ắt cơi nước tịnh, đảm bảo văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tâm thanh tịnh lại sanh trí huệ, có thể cầu thắng giải. Khi ấy, quư vị có tư cách đọc Đại Tạng Kinh. Lật Đại Tạng Kinh ra, xem mấy trang đầu đă thông đạt toàn bộ; đă tốt nghiệp khoa mục ấy, lại lật sơ qua kinh khác bèn tốt nghiệp. V́ thế, tối đa là hơn nửa năm, một bộ Đại Tạng Kinh liền tốt nghiệp. Đây là tôi dạy quư vị phương pháp. Nếu không, đừng nói là thông đạt, trong một đời đọc hết Đại Tạng Kinh một lần, quư vị cũng chẳng có cách nào, làm không được! V́ thế, trong Phật pháp có bí quyết. Khi quư vị biết bí quyết ấy, đích xác chẳng phải là chuyện khó. Do đó, phải biết tu học như thế nào, con đường ấy hết sức trọng yếu.

      Quư vị triệt để thấu hiểu vấn đề này, triệt để hiểu rơ, đương nhiên sẽ chẳng bị kẻ khác lay động. V́ sao? Vừa nghe, quư vị liền biết người ấy c̣n chưa hiểu rơ chuyện này, chỉ hiểu biết nửa vời, làm sao người ấy có thể lay động quư vị cho được? Quư vị lại nói cho người ấy nghe, người ấy sẽ nói: “Có lư! Tôi chẳng hiểu biết bằng quư vị”. Người ấy đă bị quư vị hàng phục. Nan chế phục” là quư vị chẳng bị kẻ khác hàng phục, mà có năng lực hàng phục kẻ khác. “Tồi phục nhất thiết chư ma quân” (dẹp tan, hàng phục hết thảy các ma quân), “quân” () là quân đội, [từ ngữ này] nhằm tỷ dụ ư nghĩa đông đảo, ma quá đông! Hằng ngày từ sáng đến tối, chúng ta đều gặp các ma quân ấy. Quư vị có gặp kẻ này nói “Niệm Phật làm quái ǵ! Thiền hay hơn”, kẻ khác “Mật hay hơn!”, kẻ nọ lại nói “Kinh này hay lắm!” hay không? Toàn là ma quân, v́ sao? Họ mong sao quư vị bỏ qua pháp môn Niệm Phật, học theo họ. Thời thời khắc khắc chúng ta gặp phải những kẻ ấy.

 

      (Sao) Tín Lực giả.

       () 者。

      (Sao: Tín Lực).

 

      Đây là Tín Căn có sức mạnh.

 

      (Sao) Thâm tín Đế Lư, chuyển cánh tăng trưởng.

      () 理,轉 長。

      (Sao: Tin sâu Đế Lư, càng thêm tăng trưởng).

 

      Tín có Căn chính là câu đă nói trong phần trước: “Thâm tín Đế Lư”, nhưng nó vẫn chưa tăng trưởng. Chỉ là tin sâu, vẫn chưa thể phát sanh sức mạnh. Lúc này bèn có sức mạnh, đó [chính là] “chuyển cánh tăng trưởng”.

 

      (Sao) Năng giá nghi hoặc, bất vị động dao.

       () 惑,不 搖。

(Sao: Có thể ngăn che nghi hoặc, chẳng bị dao động).

 

      Đây là ư nghĩa “nan chế phục”. Tín Lực, có hai loại nguồn gốc:

1) Một là sanh từ thâm giải, [tức là] thật sự lư giải chân tướng sự thật. Ḷng tin ấy sanh ra sức mạnh.

2) Sức mạnh thứ hai là thiện căn trong đời quá khứ. Tuy chẳng liễu giải sự thật ấy, nhưng kẻ ấy tin tưởng, tin được! Cũng có không ít người như vậy. Quư vị hỏi họ đạo lư ǵ, họ cũng không hiểu, nhưng họ tin tưởng, chẳng bị lay động. Đó chính là thiện căn trong đời quá khứ, hết sức khó có! Người thiện căn sâu dầy, sẽ tin tưởng thầy, tin tưởng Phật, Bồ Tát. Đối với chân tướng sự thật và cơ sở lư luận tuy trọn chẳng biết ǵ, nhưng [những điều đó] do Phật nói, họ chẳng hoài nghi. Trường hợp này thuộc về thiện căn.

Loại thứ hai cần phải được thầy răn dạy, phân tích, giảng rơ ràng những chân tướng sự thật, cảnh giới luân lư, kẻ ấy nghe xong tâm phục, khẩu phục. Tín tâm sanh trưởng từ đó, sẽ sanh ra Tín Lực. Xét theo căn tánh, hết thảy chúng sanh có hai loại lớn như vậy. V́ thế, trong giáo học, đối với căn tánh thuộc loại nào th́ phải dùng phương pháp nào để giúp đỡ, khiến cho kẻ ấy “giá nghi hoặc” (ngăn che nghi hoặc). “Giá” () là ngăn chặn, đoạn dứt; chúng ta thường nói “đoạn nghi sanh tín”, người ấy chẳng nghi hoặc, chẳng bị dao động!

      Thí dụ như đối với sự tu học trong Tịnh Tông, những năm trước kia, lăo cư sĩ Trần Kiện Dân[8] đề xuất “tiêu nghiệp văng sanh”, bảo đới nghiệp không thể văng sanh. Chuyện này khiến những người tu học Tịnh Tông trên cả thế giới bị rúng động mạnh mẽ, rất nhiều lăo cư sĩ và lăo pháp sư đều hoài nghi. Đó là ǵ? Tín của họ tuy có Căn, nhưng thiếu Lực, nên nghe xong đều hoài nghi, kể cả lăo cư sĩ Châu Tuyên Đức. Tôi đến Lạc Sam Cơ (Los Angeles), cụ Châu đến đón tôi ở phi trường, câu đầu tiên là nói: “Thưa pháp sư! Làm thế nào đây? Tôi niệm Phật nhiều năm như thế, đới nghiệp không thể văng sanh, chẳng phải là công phu hoàn toàn uổng phí ư?” Cụ hỏi câu ấy, chứng tỏ Tín của cụ chưa có Lực. Chẳng có Lực th́ điều thứ nhất là thiện căn chưa đủ sâu dầy, chưa thể tin sâu lời Phật, Bồ Tát, chẳng nghi ngờ. Thứ hai, nghiên cứu lư luận Tịnh Tông quá ít, chưa hiểu rơ ràng! [Do đó], mới nêu ra câu hỏi ấy.

      Cụ nói: “Cách nói đới nghiệp văng sanh đích xác là chẳng t́m thấy trong kinh Phật, chẳng có những chữ ấy!” Những thứ chẳng viết ra nhiều lắm. Đức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, rất nhiều thứ chẳng nói. Tuy ngôn ngữ chẳng nói như thế, nhưng [xét theo] ư nghĩa th́ đă nói rồi. Tôi liền hỏi ngược lại cụ: “Trong kinh điển có nói bốn cơi, ba bậc, chín phẩm hay không?” Cụ đáp: “Có!” Tôi nói: “Nếu chẳng đới nghiệp, há có bốn cơi, ba bậc, chín phẩm? Bốn cơi, ba bậc, chín phẩm vẫn chẳng phải là do quư vị đới nghiệp nhiều hay ít mà phân ra sai khác đó ư? Quư vị mang theo nhiều, phẩm vị thấp hơn một chút. Mang theo ít, phẩm vị cao hơn một chút. Đó chẳng phải là rất hiển nhiên ư nghĩa đới nghiệp đă được bao gồm trong ấy ư?” Cụ suy nghĩ, [cảm thấy] có lư!

      Tôi lại thưa với cụ: “Nếu chẳng đới nghiệp, Tây Phương Cực Lạc thế giới trơ trọi, lạnh tanh, vắng vẻ, chỉ có ḿnh A Di Đà Phật”. Cụ hỏi: “V́ sao?” Tôi nói: “V́ Đẳng Giác Bồ Tát hăy c̣n kèm theo một phẩm sanh tướng vô minh, đó chẳng phải là nghiệp ư?” Cụ suy nghĩ: “Đúng vậy!” Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù, Phổ Hiền đều mang theo một phẩm sanh tướng vô minh, đều là đới nghiệp. Không đới nghiệp th́ chỉ c̣n sót lại một ḿnh A Di Đà Phật trơ trọi, Tịnh Độ thù thắng ở chỗ nào? Tôi nói như vậy, cụ bèn hiểu rơ. Đó là “tồi phục nhất thiết” (dẹp tan, hàng phục hết thảy), tâm cụ đă định. Chẳng hiểu rơ Lư Sự, người ta nói sơ sơ mấy câu, tâm liền dao động, hoảng hốt, hỏng bét! Đó là Tín của người ấy có Căn, nhưng chẳng có Lực. Tín có Lực th́ Tín Căn càng tăng trưởng, có sức mạnh, có thể đoạn nghi. “Bất vị động dao” (chẳng bị lay động), tín tâm tuyệt đối chẳng bị dao động bởi những tri kiến, chẳng thể nào xảy ra!

 

      (Sao) Năng cự tà ngoại.

       () 外。

      (Sao: Có thể chống lại tà thuyết, ngoại đạo).

 

      Người ấy có năng lực chống lại, đả phá những tà thuyết, tri kiến của ngoại đạo.

 

      (Sao) Bất vị mê loạn.

      () 亂。

      (Sao: Chẳng bị mê loạn).

 

      Chẳng bị người khác mê hoặc, cũng chẳng bị người ta nói dăm ba câu, tâm chính ḿnh liền bị loạn, chẳng thể nào! Tâm người ấy vĩnh viễn thanh tịnh, vĩnh viễn định, vĩnh viễn quang minh. Căn ấy bèn sanh ra sức mạnh.

 

      (Sao) Năng phá phiền năo, bất vị xâm hại cố.

      () 惱,不 故。

(Sao: Có thể phá phiền năo, chẳng bị xâm hại).

 

      Người có tín tâm, nói thật thà, chẳng sanh phiền năo. Hễ c̣n sanh phiền năo, tức là Tín vẫn chưa có Lực. Người có Tín Lực, chẳng sanh phiền năo, v́ sao? Tâm người ấy có chủ tể, có sự chuyên chú. Chẳng hạn như người niệm Phật, nếu Tín sanh ra sức mạnh, người ấy niệm niệm chỉ có Tây Phương Cực Lạc thế giới, c̣n có phiền năo chi nữa? Bất quá ở tạm trong thế giới này vài ngày mà thôi, [thế giới này là] quán trọ, nghỉ ngơi ở đây một chút, quư vị tốt đẹp cũng thế, mà chẳng tốt đẹp cũng thế, v́ sao? Chẳng liên quan ǵ đến ta. Hai hôm sau ta sẽ đi, ta chẳng so đo với quư vị, phiền năo ǵ cũng đều chẳng có. V́ sao người ta sanh phiền năo? Do coi thế gian này như quê nhà, đối với người, đối với sự, thứ ǵ cũng đều so đo, phiền năo chẳng xong! Thật sự sanh tín tâm đối với Tịnh Tông, nhất định là thân, tâm, thế giới hết thảy đều buông xuống, đó là “có thể phá phiền năo”. Phương pháp đúng là tuyệt diệu, Phiền Năo Chướng chẳng đoạn mà tự nhiên chẳng c̣n, cao minh lắm! V́ vậy, pháp môn được gọi là “diệu pháp”, rất có lư. Chẳng cần đoạn, mà chính ḿnh chẳng có [phiền năo]. “Bất vị xâm hại” (chẳng bị xâm hại), phiền năo quyết định chẳng thể tổn hại quư vị, không thể phá hoại tín tâm của quư vị.

 

      (Sao) Nhất tổng dư thừa, như thượng Căn lệ.

      () 承,如 例。

      (Sao: Điều thứ nhất là chung, những điều c̣n lại do nó sanh ra, giống như trong phần luận định về Căn ở phía trên).

 

      Ngũ Căn lấy Tín Căn làm tổng quát, bốn Căn c̣n lại đều do Tín Căn sanh ra. Ngũ Lực cũng chẳng ra ngoài lệ ấy. Ngũ Lực vẫn lấy Tín Lực làm tổng quát. Hễ Tín đă có sức mạnh th́ những điều sau đó như Tấn, Niệm, Định, và Huệ thảy đều có Lực. Tín chẳng có Lực, bốn điều sau đó cũng chẳng có Lực. Có thể thấy mối quan hệ này hết sức chặt chẽ.

      Do vậy có thể biết, vun bồi Tín tâm vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong pháp môn Tịnh Tông. Tín là điều kiện thứ nhất trong ba tư lương (ba điều kiện văng sanh), là điều kiện cơ bản nhất. Chư vị hăy suy ngẫm, chẳng có Tín th́ làm sao quư vị có thể phát nguyện cho được? Làm sao quư vị niệm Phật cho được? V́ có chân tín th́ mới có thể sanh khởi nguyện, nguyện sanh từ Tín. Đă có nguyện th́ mới bằng ḷng niệm. Chẳng nghĩ tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, người ấy niệm Phật để làm chi? Sẽ chẳng niệm! Do đó có thể biết: Tín là căn bản của căn bản, đích xác là điều kiện cơ bản.

      Chúng ta tu học, theo nhất định một vị thầy cũng là [v́ cùng một lư do] như thế. Nếu chẳng có tín tâm đối với thầy, dẫu quư vị theo thầy lâu đến mấy, phương pháp của thầy xảo diệu đến mấy, chỉ dạy quư vị, quư vị cũng chẳng đạt được ǵ cả! V́ sao? Chẳng tin tưởng thầy. Chẳng có tín tâm, tất nhiên khinh mạn thầy! V́ thế, một người tôn kính thầy, v́ sao người ấy tôn kính? Người ấy tin tưởng. Càng có tín tâm đối với thầy, càng cung kính thầy, biểu hiện ra ngoài là tôn sư. Thầy thấy quư vị tôn kính dường ấy, biết quư vị rất tin tưởng thầy, lời thầy nói ra quư vị có thể y giáo phụng hành, nên thầy sẽ nghiêm túc dạy. Thầy dạy dỗ, mà quư vị bề ngoài vâng nhận, trong ḷng chống trái, chỉ cung kính bề ngoài, chẳng có tác dụng ǵ hết, giả trất! Thầy chẳng thể dạy quư vị. V́ sao? Dạy quư vị, quư vị cũng học chẳng hiểu, uổng phí tinh thần, uổng phí thời gian, thầy chẳng làm chuyện ngốc nghếch ấy. Thật sự cung kính là y giáo phụng hành, tuyệt đối không phải là h́nh thức, chúng ta phải hiểu điều này. H́nh thức, quá nửa là làm cho người khác xem, nhằm tạo ảnh hưởng đến đại chúng. Mọi người chẳng biết đến học vấn và đạo đức của vị thầy ấy, cho nên ta dùng phương pháp ấy nhằm khơi gợi người khác, đó là thật sự từ bi. Cung kính thầy khiến cho người khác nh́n vào, [sẽ tự hỏi] v́ sao người ấy cung kính vị thầy ấy như vậy, nghe ngóng “vị ấy thật sự có học vấn, đạo đức”, bèn khởi tâm kính ngưỡng, thậm chí theo vị thầy ấy tu học, dụng ư ở chỗ này. Đó là ǵ? Biểu diễn. Biểu diễn trên sân khấu, một phen khổ tâm như vậy. Tuyệt đối chẳng phải là thầy đ̣i hỏi học sinh lễ phép bề ngoài hoặc chỉ có h́nh thức, không phải vậy!

      Cung kính nhất là y giáo phụng hành. Thật sự cúng dường cũng là y giáo tu hành để cúng dường, thầy đối với tṛ có một niềm kỳ vọng như thế mà thôi! “Tín vi đạo nguyên, công đức mẫu” (tín là nguồn đạo, mẹ công đức). Kinh Hoa Nghiêm nói đến cội nguồn nhập đạo, hết thảy công đức đều sanh trưởng từ tín tâm. Trong Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm, trong Ngũ Căn, Ngũ Lực, Tín xếp hàng đầu. Trong ba tư lương của Tịnh Tông, Tín cũng được xếp đứng đầu. Trong mười một món thiện pháp, thiện pháp đầu tiên là Tín. Trong kinh điển Đại Thừa và Tiểu Thừa của nhà Phật, sắp theo thứ tự thuận th́ đầu tiên là Tín. Chẳng tin, hết thảy sẽ chẳng thể thành tựu. Do đó, mở kinh điển ra, “như thị ngă văn” là Tín Thành Tựu, tức món đầu tiên trong sáu món thành tựu. Do đó, chúng ta phải hết sức coi trọng điều này.

      Kiến lập tín tâm có hai nguồn cội: Một là thiện căn trong đời quá khứ, tự nhiên sanh ḷng kính tín đối với Tam Bảo và đối với thầy. Loại thứ hai là đối với lư luận Phật pháp sẽ dần dần hiểu rơ, tín tâm tăng trưởng. Hôm nay chúng tôi giảng tới đây.

 

Tập 164

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm năm mươi ba.

 

      (Sao) Tấn Lực giả, Tấn Căn tăng trưởng, năng phá thân tâm chủng chủng giải đăi, thành biện xuất thế chủng chủng sự nghiệp cố.

      (Diễn) Tấn Căn tăng trưởng giả, tiền tuy hữu Tấn Căn, nhược vị hữu lực, tắc vô thỉ lai bất tu Tam Học, Lục Độ, chủng chủng giải đăi chủng tử, do năng phát sanh, đọa xuất thế chủng chủng sự nghiệp. Kim đắc Tấn Lực, tắc tinh tấn mănh tướng, năng phục giải đăi ma quân, thành biện Tam Học, Lục Độ chư sự nghiệp cố.

      () 者,進 長,能 怠,成 故。

() 者,前 根,若 力,則 度,種 子,猶 生,墮 業。今 力,則 將,能 ,成 故。

(Sao: Tấn Lực: Tấn Căn tăng trưởng, có thể phá các thứ giải đăi nơi thân tâm, thành tựu các thứ sự nghiệp xuất thế.

Diễn: Tấn Căn tăng trưởng: Trước kia, tuy có Tấn Căn, nhưng nếu chẳng có Lực, ắt các thứ chủng tử giải đăi chẳng tu Tam Học, Lục Độ từ vô thỉ đến nay vẫn có thể phát sanh, [khiến cho] các thứ sự nghiệp xuất thế bị thoái đọa. Nay đắc Tấn Lực, ắt mănh tướng tinh tấn có thể hàng phục ma quân giải đăi, thành tựu các sự nghiệp Tam Học, Lục Độ).

 

      Tuyệt đại đa số các đồng tu đều đầy đủ Ngũ Căn; tuy có Căn, nhưng chẳng đắc Lực, v́ sao? Đôi khi c̣n có khá nhiều phiền năo hiện tiền, chẳng thể nghiêm túc tu học; đó là tuy có Căn, nhưng chẳng có Lực. Thông thường, Phật môn nói là “thiện căn”. “Người nào đó có thiện căn”, “thiện căn” là nói tới Ngũ Căn: Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ. Tuy có thiện căn, nhưng chúng ta thường thấy họ thoái chuyển. Thậm chí, lúc mới học, Phật môn thường nói: “Bất thất sơ phát tâm, thành Phật hữu dư” (chẳng đánh mất cái tâm đă phát thuở đầu, thành Phật có thừa). Dũng mănh, tinh tấn, nhưng Tấn chẳng được bao lâu liền giải đăi, thoái chuyển, thậm chí đọa lạc, nguyên nhân là ǵ? Có Căn, nhưng chẳng có Lực. Do vậy, có thể biết, nếu Căn chẳng đắc Lực, chẳng thể thành tựu. V́ sao Căn chẳng đắc Lực? Có Căn, v́ sao không thể tăng trưởng trở thành Ngũ Lực? Có quan hệ rất lớn với duyên: Chẳng gặp thiện tri thức, chẳng gặp thiện duyên. Tuy có căn, gặp các ác duyên, người ấy liền bị thoái chuyển. Phàm các duyên khiến cho đạo nghiệp bị thoái chuyển, đều gọi là “ác duyên”. Ví như phát đại tâm, dũng mănh, tinh tấn, thậm chí xuất gia, cũng giảng kinh, thuyết pháp, cuối cùng lui sụt, hoàn tục kết hôn, đó là “ác duyên”. Gặp ác tri thức, nói chẳng dễ nghe là gặp “oan gia đối đầu”, tục ngữ thường nói: “Chẳng phải oan gia, chẳng gặp gỡ”; gặp phải oan gia đối đầu! Chuyện này đă có kể từ thời Thích Ca Mâu Ni Phật, mỗi thời đại, mỗi xứ sở đều rất thường thấy. Chúng ta thấy rơ ràng, tuy người ấy có thiện căn, nhưng căn ấy rất mỏng manh, chẳng có sức mạnh.

Trong chú giải đă định nghĩa rất rơ ràng, “Tam Học, Lục Độ”, Tam Học là Giới Học, Định Học, Huệ Học, chung cho Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Lục Độ là tiêu chuẩn tu hành của Bồ Tát. Nếu Tam Học, Lục Độ tăng trưởng, chứng tỏ Căn của người ấy có Lực. Tam Học, Lục Độ không thể tăng trưởng, [tức là] Căn ấy chẳng có Lực. Tấn chỉ giảng đến chỗ này, v́ trong Ngũ Căn có Tấn, trong Ngũ Lực cũng có Tấn, Thất Bồ Đề Phần và Bát Thánh Đạo đều có Tấn, nhưng ư nghĩa khác nhau. Ở đây, Tấn hiểu theo nghĩa rộng là Tam Học, Lục Độ. Tấn trong Thất Bồ Đề Phần th́ phải là Tinh Tấn, v́ Thất Bồ Đề Phần có Trạch Pháp, chẳng phải là nói chung chung, mà là có [ư nghĩa] chuyên tŕ.

 

      (Sao) Niệm Lực giả, Niệm Căn tăng trưởng, năng phá tà niệm, thành tựu nhất thiết xuất thế chánh niệm cố.

() 者,念 長,能 念,成 故。

(Sao: Niệm Lực là Niệm Căn tăng trưởng, có thể phá tà niệm, thành tựu hết thảy chánh niệm xuất thế).

 

      Niệm đắc lực, nói thật ra, chúng ta thường nói là công phu thật sự đắc lực, v́ sao? Vọng niệm ít. Hiện thời, chúng ta suốt ngày từ sáng đến tối vọng niệm tơi bời, tức là Niệm Căn chẳng đắc lực. Có rất nhiều đồng tu hết sức thẳng thắn, nói: “Tôi thật sự tin tưởng Tịnh Độ, nhưng vọng tưởng quá nhiều, càng niệm Phật, vọng tưởng càng nhiều. Niệm nhiều năm ngần ấy, dường như cũng chẳng giảm bớt”. Đó là Niệm Căn chẳng đắc lực. Nếu Niệm Căn hữu lực, vọng niệm tự nhiên ít đi; chữ “tà niệm” được nói ở đây chỉ vọng niệm. Chuyện này hăy nên tu theo cách nào? Nói thật ra, chúng ta quá vô ư, quá sơ sót đối với xứ cảnh trước mắt; v́ thế, công phu chẳng sử dụng được. Ngũ Căn chẳng thể nhanh chóng nâng cao thành Ngũ Lực, chẳng biết sanh tử là chuyện lớn, chẳng biết vô thường nhanh chóng, chẳng biết lục đạo đáng sợ. Nếu con người có thể thường nghĩ đến những chuyện ấy, thưa cùng chư vị, mạng người quả thật hết sức mong manh. Nhất là trong xă hội hiện thời, chẳng biết tai nạn sẽ phát sanh lúc nào? Ai có thể bảo đảm “năm nào cũng như ư, năm nào cũng b́nh an”? Đó là một câu nói [có ư nghĩa chúc tụng] tốt lành, ai dám bảo đảm sẽ đạt được? Xét thế gian này, quư vị xem báo chí, nhật báo mỗi ngày, trên toàn thế giới, thời thời khắc khắc đều có tai nạn. Thấy những người ngộ nạn, lại nghĩ đến chính ḿnh, một hơi thở ra không hít vào được nữa, sẽ như thế nào? Nhất là tai biến xảy ra liên tiếp như thế, chúng ta có phước báo to cỡ nào mà ḥng may mắn thoát khỏi? Nếu có tâm cảnh giác như vậy, Ngũ Căn cũng rất dễ dàng tăng cao, có sức mạnh, Niệm bèn có Lực. Tấn chẳng có Lực, Niệm chẳng có Lực, là do đối với cảnh giới trước mắt coi nhẹ, xem thường. Lời chú giải có nói: “Thế gian ngũ dục lục trần tà niệm do vị tận trừ” (hăy c̣n chưa trừ sạch ngũ dục, lục trần thế gian), nên chánh niệm không thể hiện tiền. Niệm Căn ắt phải có sức mạnh, vọng tưởng tạp niệm ít ỏi, công phu tu học của quư vị bèn đắc lực. V́ Ngũ Căn và Ngũ Lực chung cho Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa Phật pháp, chung cho hết thảy các pháp môn; ở đây chỉ nói một nguyên tắc, nguyên tắc ấy dùng chung cho cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa Phật pháp.

 

      (Sao) Định Lực giả, Định Căn tăng trưởng, năng phá nhất thiết chư tạp loạn tưởng, phát khởi sự lư chư Thiền Định cố.

() 者,定 長,能 想,發 故。

(Sao: Định Lực: Định Căn tăng trưởng, có thể phá hết thảy các tạp loạn tưởng, phát khởi các thứ Thiền Định Sự và Lư).

 

      Nói thật ra, Niệm Lực là tiền phương tiện của Định Lực, trước hết, nhất định là Niệm đắc lực, sau đó bèn có Định. Định Lực có thể phá hết thảy vọng tưởng tạp loạn, khiến cho tâm quư vị có thể đắc Định. Nói theo Ngũ Thừa Phật pháp là Tứ Thiền, Bát Định, nói theo Nhị Thừa là Cửu Thứ Đệ Định, người ấy có thể đạt được. Câu “Tứ Thiền, Bát Định, Cửu Thứ Đệ Định, mười sáu pháp thù thắng đặc biệt v.v…” là nói về công phu Thiền Định. Thấu hiểu điều này chẳng khó. Trong thế gian hiện thời, phong khí học Thiền rất thịnh; nếu có người đến mời mọc, bản thân chúng ta phải nghiêm túc phản tỉnh một phen, [chính ḿnh] có phải là căn khí học Thiền hay không? Phải là căn khí như thế nào th́ mới có thể học Thiền? Tâm địa rất thanh tịnh, vọng tưởng tạp niệm rất ít, người ấy có thể học Thiền. Nếu vọng tưởng tạp niệm rất nhiều, tâm chẳng dễ định được, thường bị ảnh hưởng bởi cảnh giới bên ngoài; nói cách khác, quư vị học Thiền chắc chắn chẳng thể thành công. Có phải là căn khí Thiền hay không? Chẳng cần hỏi người khác, chính ḿnh rất rơ ràng. Do vậy, có thể biết, căn khí được nhiếp thọ bởi Thiền Tông chẳng rộng lớn như Tịnh Tông. [Căn khí] nào chẳng thể nhiếp thọ bởi Thiền Tông, Tịnh Độ Tông sẽ có thể nhiếp thọ. Đây là chỗ đặc biệt thù thắng của Tịnh Độ, mà cũng là lư do khiến cho hết thảy chư Phật tán thán pháp môn này; đạo lư ở ngay chỗ này.

 

(Diễn) Hựu bất minh Đế Lư, đản đắc thế gian Thiền, danh viết Sự Thiền.

() 理,但 禪,名 禪。

(Diễn: Lại chẳng hiểu rơ Đế Lư, chỉ đắc thế gian Thiền, bèn gọi là Sự Thiền).

 

      Người ấy chẳng hiểu nghĩa thú Phật pháp rất sâu, vọng tưởng ít, tạp niệm ít, Định do người ấy học là Thiền Định thế gian, là Sự Thiền. Sự Thiền cao nhất chỉ có thể đạt đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, chẳng thoát khỏi tam giới. Nói cách khác, Định của người ấy chỉ thuộc trong Tứ Thiền Bát Định, chẳng thể tiến cao hơn.

 

      (Diễn) Thâm minh Đế Lư, đắc xuất thế gian Thiền, cập xuất thế thượng thượng Thiền, danh viết Lư Thiền.

() 理,得 禪,及 禪,名 禪。

(Diễn: Hiểu sâu Đế Lư, đắc xuất thế gian Thiền, và xuất thế thượng thượng Thiền, th́ gọi là Lư Thiền).

 

      “Thâm minh Đế Lư”: “Đế” là Tứ Đế, tức là đạo lư trong pháp Tiểu Thừa. “Lư” là lư luận Đại Thừa. Phật pháp Đại Thừa và Tiểu Thừa đều được bao gồm trong hai chữ Đế Lư. “Đắc xuất thế gian Thiền, cập xuất thế thượng thượng Thiền”. Xuất thế gian Thiền là Cửu Thứ Đệ Định của Thanh Văn, Duyên Giác, xuất thế gian thượng thượng Thiền là vô lượng tam-muội, Hoa Nghiêm tam-muội, Lăng Nghiêm đại định... những thứ ấy. Đó là sở chứng của chư Phật Như Lai, “danh viết Lư Thiền” (gọi là Lư Thiền). V́ thế, chẳng thể không biết Phật pháp. Nếu chẳng thông đạt lư luận, đích xác là có chướng ngại. Nhất định phải hiểu Lư, để hiểu Lư th́ phải đọc kinh. V́ thế, đọc kinh vô cùng trọng yếu. Nghiên cứu, thảo luận có thể giúp chúng ta khơi mở Hậu Đắc Trí, đọc kinh nhằm bồi dưỡng Căn Bản Trí. Phải đọc tụng một thời gian dài, đọc đến mức tâm địa thanh tịnh, b́nh đẳng, giác chứ không mê.

Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác hay lắm. “Đại Thừa” là giáo, chẳng phải là Tiểu Thừa, “Vô Lượng Thọ” là Lư, là bản thể, tức bản thể của Chân Như bổn tánh. “Trang Nghiêm” là tướng, “Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác” là tác dụng. Học Phật là học những điều ấy, học tâm thanh tịnh, tâm địa b́nh đẳng, giác chứ không mê. V́ thế, bộ kinh ấy là tinh tủy của toàn thể Phật pháp, đạt được bộ kinh này là đạt được toàn thể Phật pháp, nay chúng ta v́ sao không thể khăng khăng nhất quyết niệm bộ kinh này, vẫn cứ muốn xem thứ này, xem thứ nọ? Đó là có Căn nhưng chẳng có Lực, vẫn bị dao động bởi cảnh giới bên ngoài. Truy cứu nguyên nhân th́ là v́ chẳng nhận biết Phật pháp rơ ràng. Nếu thật sự nhận biết rơ ràng, tâm sẽ định. Người ấy có Niệm Lực, có Định Lực, định nơi pháp môn này, chẳng bị ngoại cảnh lay chuyển, như vậy th́ chính ḿnh mới có thể thành tựu. Chính ḿnh không thành tựu, mà muốn hóa độ chúng sanh, giúp đỡ người khác, chắc chắn chẳng thể làm được!

      “Thác hạ nhất cá tự chuyển ngữ, đọa ngũ bách thế dă hồ thân” (nói sai một chữ chuyển ngữ, đọa làm thân chồn hoang năm trăm đời). Có một đồng tu hỏi: Hai câu “bất lạc nhân quả, bất muội nhân quả” có nghĩa là ǵ? Đây là công án Bách Trượng đại sư trong Thiền Tông, nói sai một chữ, đọa làm thân chồn hoang năm trăm đời. Nếu chính ḿnh chẳng khai ngộ, khó tránh nói sai; do vậy, muốn độ người khác, phải độ chính ḿnh trước. Độ người khác cần phải có Hậu Đắc Trí, độ chính ḿnh cần đến Căn Bản Trí, [do đó] mới hiểu tầm trọng yếu của Căn Bản Trí. Tuy có thể đồng thời dốc sức nơi Căn Bản Trí và Hậu Đắc Trí, nhưng có phân biệt chủ và khách, chánh và trợ. Căn Bản Trí là chủ tu, là chánh tu, chúng ta chọn lựa phương pháp đọc tụng. Trong các buổi giảng, tôi thường nhắc nhở các đồng tu, dùng tâm thanh tịnh, dùng tâm b́nh đẳng, dùng tâm chân thành, dùng tâm cung kính để đọc tụng, chẳng cần cầu hiểu nghĩa, đó là cầu Căn Bản Trí. Đọc tụng như vậy, Tam Học, Lục Độ đều ở trong đó, toàn bộ đều bao gồm, rất trọng yếu! Nghiên cứu chú giải, đồng tham đạo hữu cùng nhau nghiên cứu, thảo luận, đó là Hậu Đắc Trí. Mỗi tuần dành ra một hai lần là đủ rồi, mỗi lần là một hai tiếng đồng hồ.

      Huấn luyện Căn Bản Trí mỗi ngày, chớ nên gián đoạn. Các đồng tu tại gia công việc rất bận bịu, mỗi ngày tối thiểu có thời gian một tiếng đồng hồ để nghiêm túc thực hiện. Trong một giờ ấy, dùng tâm chân thành, buông hết thảy sự vụ xuống, khiến cho tâm địa thanh tịnh, b́nh đẳng, chân thành, cung kính, dùng một giờ để đọc kinh. Nếu kinh niệm thuần thục, một giờ một bộ đă đủ rồi. Người xuất gia mỗi ngày tối thiểu phải niệm hai, ba tiếng trở lên, v́ quư vị xuất gia, phát tâm chuyên tu, chẳng giống như người tại gia công việc bận bịu ngần ấy. V́ thế, mỗi ngày tối thiểu phải niệm từ hai bộ đến ba bộ. Chuyện này chẳng giống cách đọc sách trong thế gian; sử dụng phương pháp này để tu thanh tịnh, b́nh đẳng, chân thành, cung kính, đó gọi là tu Căn Bản Trí. Khi niệm kinh, chớ nên dấy vọng tưởng. Hễ khởi vọng tưởng, dấy động ư niệm: “Câu kinh này có ư nghĩa ǵ?” Tức là bốn điều ấy đều chẳng có. Tam Học, Lục Độ, chân thành, cung kính, thanh tịnh, b́nh đẳng hoàn toàn chẳng có, sai mất rồi, đă biến sự tu hành trong Phật pháp thành cách đọc tụng trong pháp thế gian, biến thành đọc sách thế gian. Do đó, nhà Phật nói đến đọc tụng th́ đó là một thứ phương pháp tu hành, hoàn toàn khác với niệm kinh thông thường, công phu mỗi ngày đều chẳng thể gián đoạn. Hành măi như thế, huấn luyện trong nửa năm hay một năm, tâm bèn thanh tịnh. Tâm thanh tịnh có thể sanh trí huệ, sau đấy, quư vị mới niệm câu Phật hiệu, đó là Lư niệm, chẳng phải là Sự niệm. Lư niệm đắc Niệm Phật tam-muội, đắc nhất tâm bất loạn, so với việc chỉ hành Sự Tŕ sẽ nhanh chóng hơn rất nhiều!

 

      (Diễn) Hựu Tiểu Thừa duyên Không trực nhập, năi chí viên nhân trực tâm chánh niệm Chân Như, danh viết Lư Thiền. Tiểu Thừa đới sự kiêm tu, năi chí viên nhân tùng hạnh thác sự phụ pháp, tam chủng quán pháp, giai Sự Lư kiêm tu, danh viết Sự Lư Thiền, chủng chủng bất nhất, cố vân “chư” dă.

() 入,乃 如,名 禪。小 修,乃 法,三 法,皆 修,名 禪。種 一,故 也。

(Diễn: Lại nữa, Tiểu Thừa duyên theo Không để tiến nhập trực tiếp, cho đến người căn cơ viên măn dùng trực tâm chánh niệm Chân Như th́ gọi là Lư Thiền. Tiểu Thừa tu kèm thêm Sự, cho đến người căn cơ viên đốn, từ hạnh nhờ vào Sự để bổ trợ Phật pháp. Ba thứ quán pháp đều là Lư và Sự cùng tu, nên gọi là Sự Lư Thiền. Các thứ khác nhau, nên nói là “các”).

 

      Thiền vô lượng vô biên. Ở đây, cũng chỉ có thể dùng phương pháp quy nạp, quy nạp [vô lượng vô biên môn Thiền] thành ba loại: Sự Thiền, Lư Thiền, và Sự Lư Thiền. Trong Thiền có Lư và Sự, ở đây nói cũng khá dễ hiểu. “Tiểu Thừa” chỉ Thanh Văn, bao gồm Duyên Giác. “Năi chí viên nhân” là nói về Bồ Tát. Bồ Tát có Thông Giáo Bồ Tát, Biệt Giáo Bồ Tát, và Viên Giáo Bồ Tát; Tạng Giáo là thuộc loại Tiểu Thừa. Dùng chữ “năi chí” nhằm tỉnh lược Thông Giáo và Biệt Giáo. Có thể nói: Căn tánh khác nhau, phương pháp tu hành khác nhau, lư luận để căn cứ cũng khác nhau, nhưng đều gọi là Lư Thiền. Chúng ta có thể hiểu rơ, thông đạt lư luận của Tịnh Tông, có thể đoạn nghi sanh tín th́ một câu A Di Đà Phật là Lư Thiền. Tịnh Độ Tông không gọi là Thiền, mà gọi là Lư Tŕ và Sự Tŕ, [Tŕ là] tŕ danh niệm Phật. Thật sự đắc Thiền Định, chúng ta gọi nó là Niệm Phật tam-muội. Niệm Phật tam-muội là Thiền Định, nhất tâm bất loạn là Thiền Định sâu hơn một tầng. Danh từ Niệm Phật tam-muội có hàm nghĩa hết sức rộng răi. Sự nhất tâm, Lư nhất tâm đều bao gồm trong ấy; từ công phu thành phiến cho đến Lư nhất tâm bất loạn, đều gọi là Niệm Phật tam-muội. Nói công phu thành phiến, Sự nhất tâm, Lư nhất tâm tức là những danh xưng chỉ công phu Niệm Phật tam-muội cạn hay sâu khác nhau. Tiểu Thừa có “đới Sự kiêm tu” (tu kèm thêm Sự), A La Hán và Bích Chi Phật thường hiển thị phương pháp tu hành ấy. Đại Thừa Bồ Tát càng tự tại hơn, t́nh h́nh ấy càng nhiều.

      “Tùng hạnh thác sự phụ pháp”: Câu này thường được pháp Đại Thừa nói là “lịch sự luyện tâm” (trải qua sự việc để luyện tâm). Họ học Định Huệ ở chỗ nào? Ngay trong cuộc sống hằng ngày, trong xử sự, đăi người, tiếp vật, tu Thiền, tu Định, tu Huệ trong ấy. Cụ thể nhất là năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử. Năm mươi ba vị thiện tri thức, đủ các ngành nghề, nam, nữ, già, trẻ, đều tu Thiền Định rất sâu, nhưng họ chẳng vứt bỏ cuộc sống, cũng chẳng trở ngại sự nghiệp. Không chỉ chẳng trở ngại sự nghiệp và cuộc sống, mà c̣n sống mỹ măn, sự nghiệp tăng tấn. V́ thế, Đại Thừa Phật pháp, đặc biệt là Đại Thừa Viên Giáo, Hoa Nghiêm là Đại Thừa Viên Giáo, là phương pháp tu hành cao nhất trong Phật pháp, hoàn toàn dung hợp thành một với cuộc sống. “Sự” là hết thảy các sự nghiệp trong thế gian, “pháp” là Phật pháp. Phật pháp và hết thảy sự trong thế gian dung hợp thành một Thể, đó gọi là “có pháp nào chẳng phải là Phật pháp?” “Viên nhân sở thuyết, pháp pháp giai như, pháp pháp giai thị” (người viên măn nói pháp, pháp nào cũng đều Như, pháp nào cũng đều đúng). Chẳng có một pháp nào không phải là Phật pháp. Nói kiểu này, sợ mọi người hiểu lầm, biến thành Ác Thủ Không, khuyết điểm sẽ trở thành quá lớn. Do đó, quyết định chớ nên hiểu lầm chỗ này!

      “Pháp nào cũng đều là Phật pháp”, Phật pháp là ǵ? Kinh Bát Nhă đă nói một câu trọn hết, Phật pháp là “vô sở đắc”, “vô trí, mà cũng vô đắc”. Trong hết thảy các pháp, Viên Giáo Bồ Tát biết các pháp đều là Không, các pháp đều vô sở đắc, nên trong hết thảy các pháp, chẳng có mảy may phân biệt, chấp trước nào. Trong hết thảy các pháp, các Ngài hiển thị tâm địa thanh tịnh, b́nh đẳng, chân thành đến cùng cực. Chẳng như Tiểu Thừa và Biệt Giáo Bồ Tát phải rời khỏi pháp th́ tâm mới thanh tịnh, Viên Giáo không cần rời khỏi. V́ sao không cần rời khỏi? “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, cần ǵ phải ĺa? “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”, “ngay nơi bản thể chính là Không, ngay nơi tướng chính là Đạo”, đó là “viên nhân”. Viên nhân tu hành đúng là tự tại, vui sướng, vô chướng, vô ngại. Nếu chúng ta chẳng phải là hạng người căn tánh viên đốn, sẽ chẳng học được, v́ sao? Người ấy vô ngại trong cảnh giới, chúng ta chẳng phải là căn tánh ấy, quyết định bị chướng ngại trong cảnh giới. Ở đây, chúng ta phải tự ḿnh nghiêm túc phản tỉnh, chúng ta là căn tánh ǵ? Phải nên học theo tiêu chuẩn nào? Căn tánh viên đốn đương nhiên học theo tiêu chuẩn của năm mươi ba vị thiện tri thức trong kinh Hoa Nghiêm, thành tựu mau chóng! Nếu là căn tánh Biệt Giáo, không thể học theo tiêu chuẩn ấy, mà dùng tiêu chuẩn ǵ? Tiêu chuẩn của Phạm Vơng Bồ Tát Giới. Phạm Vơng Bồ Tát Giới là Biệt Giáo, hoặc là kinh luận Duy Thức, đặc biệt là Duy Thức Luận, Thành Duy Thức Luận cũng thuộc loại Biệt Giáo. V́ vậy, nhất định phải nhận rơ căn tánh của chính ḿnh, chọn lựa một phương pháp nào có lợi ích chân thật cho chính ḿnh. Chọn sai, sẽ chẳng được lợi ích. Nếu căn tánh Biệt Giáo mà chọn Viên Giáo, sẽ hết sức tệ, sẽ bị đọa lạc, sẽ tạo rất nhiều tội nghiệp. Nếu căn tánh Viên Giáo mà chọn pháp Biệt Giáo, tuy chẳng bị đọa lạc, nhưng tiến bộ rất chậm. V́ lẽ đó, chọn lựa pháp phải khế cơ; Cơ là căn cơ của chính chúng ta. [Pháp môn] phù hợp căn cơ của chính ḿnh sẽ học nhanh chóng, học rất thuận lợi.    

 

(Sao) Huệ Lực giả, Huệ Căn tăng trưởng, năng phá nhất thiết tà ngoại đẳng kiến, năng đoạn nhất thiết thiên tiểu đẳng chấp cố.

() 者,慧 長,能 見,能 故。

(Sao: Huệ Lực là Huệ Căn tăng trưởng, có thể phá hết thảy các kiến giải tà vạy, ngoại đạo, có thể đoạn hết thảy những chấp trước Thiên, Tiểu v.v…).

 

      Huệ Căn có sức mạnh, h́nh dạng của nó cũng là tác dụng của nó. Nó có năng lực phân biệt tà, chánh, có năng lực phá trừ chấp trước của chính ḿnh. Nói thật ra, tu học trong Phật pháp từ đầu tới cuối, “đầu” là mới phát tâm, “cuối” là thành Phật đạo, tu ǵ? Phá chấp trước mà thôi. Do phá Nhân Ngă Chấp, bèn chứng A La Hán; phá Pháp Ngă Chấp, bèn là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo. Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo đă thành Phật, có thể giống như ba mươi hai ứng thân được nói trong phẩm Phổ Môn hay chương Quán Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm, nên dùng thân Phật để độ kẻ khác bèn có thể hiện ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo. Nhà Thiền nói “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”, Sơ Trụ Bồ Tát của Viên Giáo đă kiến tánh, phá một phẩm vô minh, thấy một phần bổn tánh. Chỉ cần thấy một phần bổn tánh, bèn có năng lực dùng ba mươi hai tướng, có năng lực Phổ Môn Thị Hiện giống như Quán Âm Bồ Tát. Trong hội Lăng Nghiêm, Quán Âm Bồ Tát thị hiện thân phận Sơ Trụ trong Viên Giáo. Trong kinh Hoa Nghiêm, Quán Âm Bồ Tát thị hiện Đệ Thất Hồi Hướng trong Viên Giáo. Trong kinh Pháp Hoa, Ngài thị hiện Đẳng Giác Bồ Tát của Viên Giáo. Có thể thấy trong mỗi pháp hội, Bồ Tát có thân phận khác nhau. Đó là sức mạnh của Huệ Căn, nó khởi ra tác dụng ấy.

      Do vậy, có thể biết: Chúng ta chẳng có năng lực phân biệt hết thảy các pháp tà - chánh, chẳng có năng lực đoạn phiền năo, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chính ḿnh, đều do Huệ Căn chẳng có sức mạnh. Đọc kinh nhiều, nghe giảng cũng lắm, biết có những điều này, nhưng chính ḿnh chẳng đạt được, là v́ chẳng có sức mạnh. Ắt phải có sức, tức là nói b́nh thường chúng ta công phu đắc lực, khi nào công phu sẽ đắc lực? Ngũ Căn đều có lực, công phu bèn đắc lực. Khi Ngũ Căn chẳng đắc lực, đích xác là công phu của chúng ta hời hợt. Hăy suy nghĩ, chúng ta học Phật đă lâu dường ấy, có thành tựu ǵ? Có thể đưa một thành tích biểu khả quan hay không? Nếu chẳng đưa thành tích biểu ra được, tức là chẳng đắc lực! Công phu đắc lực, sẽ có thể đưa ra thành tích biểu. Tiếp theo đây là Thất Bồ Đề Phần (Sapta Bodhyanga), đây là khoa thứ sáu trong Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm:

 

      (Sớ) Thất Bồ Đề Phần giả, tức Thất Giác Chi.

      () 者,即 支。

      (Sớ: Thất Bồ Đề Phần chính là Thất Giác Chi).

 

      “Bồ Đề” (Bodhi) là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Giác. “Phần” là chia thành nhánh. Bảy điều được nói ở đây đều là trí huệ khởi tác dụng.

 

      (Sớ) Diệc diêu tiền Căn, Lực, đắc thử Huệ dụng.

       () 力,得 用。

      (Sớ: Cũng là do Căn và Lực trên đây mà đạt được tác dụng này của Huệ).

 

      Do vậy, có thể biết: Chẳng có Căn và Lực, Thất Bồ Đề Phần tuyệt đối chẳng thể dùng được. Điều thứ nhất trong Thất Bồ Đề Phần là Trạch Pháp. Chẳng có trí huệ, quư vị làm sao có thể chọn lựa pháp môn cho được? Chọn lựa pháp môn phải cậy vào trí huệ. Trí huệ có lớn, nhỏ, cạn, sâu, thiên, viên khác nhau, quư vị quyết trạch (chọn lựa, quyết định) pháp môn sẽ khác nhau, tùy thuộc quư vị chọn lựa pháp ǵ trong biển cả Phật pháp?

 

      (Sớ) Vị nhất Niệm, nhị Trạch Pháp, tam Tinh Tấn, tứ Hỷ, ngũ Y, lục Định, thất Xả. Nhất vân: Nhất, Trạch Pháp, nhị Tinh Tấn, tam Hỷ, tứ Trừ, ngũ Xả, lục Định, thất Niệm. Kim y hậu thích.

() ,二 法,三 進,四 喜,五 猗,六 定,七 捨。一云 :一 法,二 進,三 喜,四 除,五 捨,六 定,七 念。今 釋。

(Sớ: Nghĩa là: Một là Niệm, hai là Trạch Pháp, ba là Tinh Tấn, bốn là Hỷ, năm là Y, sáu là Định, bảy là Xả. Một thuyết khác nói là: Một là Trạch Pháp, hai là Tinh Tấn, ba là Hỷ, bốn là Trừ, năm là Xả, sáu là Định, bảy là Niệm. Nay dựa theo thuyết sau để giải thích).

 

      Ở đây, Liên Tŕ đại sư giải thích theo thuyết sau. Hai cách nói ấy đều xuất phát từ kinh điển, thuyết sau dễ hiểu, có thể hiểu rơ dễ dàng!

 

      (Diễn) Thất Giác tự thể, tức Trạch Pháp đẳng, thử chi vi Dụng, vị đoạn kiến đạo chư tà kiến cố.

       () 體,即 等,此 用,為 故。

(Diễn: Tự thể của Thất Giác chính là Trạch Pháp v.v… những thứ ấy là Dụng, nhằm đoạn các tà kiến kiến đạo).

 

      Địa vị Kiến Đạo của Tiểu Thừa là quả Tu Đà Hoàn, địa vị Kiến Đạo của Đại Thừa là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo. Cảnh giới trong kinh Kim Cang là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo. [Cảnh giới trong] Đại Thừa Khởi Tín Luận cũng là Sơ Trụ trong Viên Giáo. Trong chương Hai Mươi Lăm Pháp Viên Thông của kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm, hai mươi lăm vị Bồ Tát biển diễn đều là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo. Quư vị biết sử dụng những pháp ấy, sẽ dễ dàng chứng đắc địa vị Kiến Đạo. Dưới đây là giới thiệu từng điều; trước hết là giới thiệu danh tướng Thất Giác Chi:

 

      (Sao) Giác Chi giả, Giác tức Bồ Đề, Chi tức thị Phần, vị phần phần tùy nghi nhi dụng dă.

() 者,覺 提,支 分,謂 也。

(Sao: Giác Chi: Giác tức là Bồ Đề, Chi là Phần, ư nói mỗi phần tùy nghi sử dụng).

 

      Thất Giác Chi c̣n gọi là Thất Bồ Đề Phần. “Phần phần tùy nghi nhi dụng”, bảy điều ấy có thể dùng riêng lẻ, hoặc có thể hợp hai điều để dùng, cũng có thể gộp ba điều lại để dùng, tùy thuộc chính ḿnh ở trong t́nh huống nào, cần dùng điều nào bèn dùng điều ấy, nhằm mục đích giúp quư vị kiến đạo. Nói cách khác, giúp quư vị đoạn Hoặc, chứng Chân.

 

      (Sao) Diêu tiền giả, Du Già vân: “Chư dĩ chứng nhập chánh vị giả, như thật giác huệ”.

(Diễn) Chư dĩ chứng nhập chánh vị giả, chánh vị tức chánh tánh, dĩ do tiền Căn Lực, năng phá nhất thiết kiến chấp, bất đọa đoạn thường, giác pháp chánh tánh. Chánh tánh giả, tức Tứ Đế như thật tánh.

() 者,瑜 云:諸 者,如 慧。  

() 者,正 性,以 力,能 執,不 常,覺 。正 者,即 性。

(Sao: “Do các pháp [Căn và Lực] trên đây”: Luận Du Già chép: “Những người đă chứng nhập chánh vị, giác huệ như thật”.

      Diễn: “Những người đă chứng nhập chánh vị”: Chánh vị là chánh tánh, Do các Căn và Lực trên đây có thể phá hết thảy kiến chấp, chẳng đọa trong Đoạn hay Thường, giác pháp chánh tánh. Chánh tánh chính là tánh như thật của Tứ Đế).

 

      “Năng phá nhất thiết kiến chấp” (có thể phá hết thảy kiến chấp), nó có năng lực phá trừ những chấp trước nơi kiến giải của quư vị. “Bất đọa đoạn thường” (chẳng đọa đoạn, thường), chẳng chấp trước Thường Kiến và Đoạn Kiến. “Giác pháp chánh tánh” (giác ngộ chánh tánh của các pháp), chánh tánh là ǵ? Chánh tánh chính là tánh như thật của Tứ Đế. Đây cũng là lư luận do đức Phật đă giảng, quư vị có thể thật sự thông đạt, hiểu rơ. Pháp Tứ Đế là Khổ, Tập, Diệt, Đạo, là hai tầng nhân quả thế gian và xuất thế gian. Khổ và Tập là nhân quả thế gian. Diệt và Đạo là nhân quả xuất thế gian. Quư vị thật sự thông đạt, hiểu rơ, sẽ chẳng chấp trước Đoạn Kiến, cũng chẳng chấp trước Thường Kiến. Đoạn Kiến là ǵ? Nêu tỷ dụ, người có kiến giải như thế này rất nhiều: Người chết th́ hết thảy đều hết chuyện, chẳng tin có đời sau, chẳng tin có luân hồi, ngỡ con người chỉ có một đời này. V́ thế, v́ cầu sự hưởng thụ cho chính ḿnh trong một đời này, mà chẳng e ngại chọn lựa bất cứ thủ đoạn nào, chẳng tin có đời sau. Đó gọi là Đoạn Kiến. Thường Kiến là ǵ? Cho rằng người đă chết, hai mươi năm sau lại là một trang hảo hán, cũng có nghĩa là [tin rằng] con người sau khi đă chết [đầu thai vào] đời sau vẫn là người. Chó đă chết, đời sau vẫn làm chó, vĩnh viễn chẳng biến đổi. Đó là Thường Kiến. Hai thứ kiến giải ấy đều là sai lầm.

      Đức Phật giảng pháp Tứ Đế, Khổ và Tập là nguyên lư luân hồi trong lục đạo khắp ba đời. Người đă chết có đời sau, đời sau chẳng nhất định làm người; chó đă chết cũng có đời sau, đời sau không nhất định là chó. Nó cũng có thể thành người, cũng có thể sanh lên trời. Người đă chết cũng có thể sanh lên trời, cũng có thể đọa trong ba ác đạo. Luân hồi trong lục đạo, ai làm chúa tể? Luân hồi trong lục đạo, quư vị là chúa tể của chính ḿnh. Không chỉ là lục đạo, mà cát hung họa phước chúng ta gặp gỡ trong đời này đều do chính ḿnh làm chúa tể. Do đó, vận mạng có thể sửa đổi hay không? Có thể sửa, v́ là chính ḿnh là chúa tể. Ai sửa? Phải do chính ḿnh sửa. Bất luận kẻ nào cũng không có sức mạnh sửa đổi vận mạng của quư vị, quư vị phải biết điều này! V́ sao? Vận mạng do chính quư vị tạo, vẫn phải do chính quư vị sửa. Vận mạng của quư vị chẳng do kẻ khác tạo. Nếu do kẻ khác tạo, đương nhiên người khác có thể sửa đổi. Nhưng chẳng do ai khác tạo, mà do chính ḿnh tạo; dẫu Phật, Bồ Tát thần thông rộng lớn cỡ nào, trí huệ viên măn đến mấy đi nữa, vẫn chẳng thể thay đổi cho chúng ta.

      Cựu Kim Sơn (San Francisco) động đất, Phật, Bồ Tát cũng chẳng làm sao được! Ngày hôm qua, xảy ra tai nạn phi cơ, Phật, Bồ Tát có thấy hay không? Thấy! Chẳng có lẽ nào không thấy! Có cách nào sửa đổi hay không? Chẳng có cách nào! Chúng sanh có nghiệp lực của chính ḿnh. Sức mạnh ǵ có thể sửa đổi? Sức mạnh của chính ḿnh có thể sửa. Phật dạy chúng ta lư luận, chân tướng sự thật ấy. Có rất nhiều người nương theo lư luận và phương pháp do đức Phật đă giảng để sửa đổi vận mạng của chính ḿnh. Viên Liễu Phàm đă đem chuyện của chính ḿnh viết thành một cuốn sách nhỏ lưu thông, mọi người đều biết. C̣n có rất nhiều người chẳng viết, chẳng tuyên bố với mọi người, rất nhiều! Tôi đích thân trông thấy mười mấy người, những người ấy hăy c̣n sống, xác thực đă sửa đổi vận mạng của chính ḿnh. V́ lẽ đó, quư vị phải tin tưởng! “Chánh tánh” được nói ở đây chính là “Tứ Đế như thật tánh”. Nói theo cách bây giờ, sẽ là chân lư, sự lư thực tại, quư vị phải tin tưởng.

 

      (Diễn) Tức dụng thử như thật giác huệ, dĩ vi Chi Phần, hợp nghi tắc dụng dă.

() 慧,以 分,合 也。

(Diễn: Tức là dùng giác huệ như thật ấy làm Chi Phần, hễ thích hợp bèn sử dụng).

 

      Thích hợp bèn có thể dùng, tùy thời có thể dùng nó.

 

      (Diễn) Tức Tứ Đế như thật tánh giả, tánh tức Khổ vi bức bách tánh, Tập vi chiêu cảm tánh đẳng.

() 者,性 性,集 等。

(Diễn: “Tức là tánh như thật của Tứ Đế”: Tánh chính là Khổ có tánh chất bức bánh, Tập có tánh chất chiêu cảm v.v…)

 

      “Tánh” là tánh chất. “Khổ” là bức bách, thân tâm đều chẳng tự tại, thân tâm bất an, đó là Khổ. “Tập” là mê hoặc tạo nghiệp, chính ḿnh chiêu cảm khổ báo.

 

      (Diễn) Như thật, tức thị Sanh Diệt, Vô Sanh, Vô Lượng, Vô Tác. Thử tứ các xưng đương giáo chi lư, danh viết “như thật”.

() 實,即 滅、無 生、無 量、無 作。此 理,名 實。

(Diễn: “Như thật” tức là Sanh Diệt, Vô Sanh, Vô Lượng, Vô Tác. Bốn điều này, mỗi điều đều có thể là lư của một giáo tương ứng, nên gọi là “như thật”).

 

      “Sanh Diệt, Vô Sanh, Vô Lượng, Vô Tác”, là nói tới bốn loại Tứ Đế, bao gồm toàn thể Phật pháp. Thiên Thai Trí Giả đại sư giảng khoa Tứ Niệm Xứ trong Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm, “quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngă”, bốn câu gồm mười sáu chữ, tác phẩm của Ngài dày như thế, gồm có bốn quyển để giải thích bốn câu ấy. Quyển thứ nhất trong bốn quyển nhằm giảng về Sanh Diệt Tứ Niệm Xứ. Quyển thứ hai giảng về Vô Sanh Tứ Niệm Xứ. Quyển thứ ba giảng về Vô Lượng Tứ Niệm Xứ. Quyển thứ tư giảng về Vô Tác Tứ Niệm Xứ. Bốn câu ấy là Tạng, Thông, Biệt, Viên. Tạng Giáo giảng Sanh Diệt, Thông Giáo giảng Vô Sanh, Biệt Giáo giảng Vô Lượng, Viên Giáo giảng Vô Tác. Do đó, Tứ Niệm Xứ thông bốn giáo; Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo thảy đều thông Tứ Giáo, Lục Độ, Vạn Hạnh cũng đều thông Tứ Giáo, pháp nào cũng viên thông. Không chỉ thông tứ giáo, mà c̣n thông pháp thế gian. Nếu chẳng thông pháp thế gian, người căn cơ viên đốn làm sao có thể “thác sự phụ pháp”? Người căn cơ viên đốn có thể thác sự phụ pháp là do Tứ Giáo Tứ Đế đều thông với pháp thế gian, chẳng có pháp nào không thông, pháp nào cũng viên dung. Điều này mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, nên gọi là “đạo diệu”. “Thử tứ các xưng đương giáo chi lư” (bốn điều này, mỗi điều đều có thể gọi Lư của một giáo tương ứng): Sanh Diệt gọi là Lư của Tạng Giáo. Vô Sanh gọi là Lư của Thông Giáo. Vô Tác gọi là Lư của Viên Giáo, được gọi là “như thật”. Nh́n từ chỗ này, Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm xuyên suốt hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, há có thể coi nó là pháp Tiểu Thừa? Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm được nói trong pháp Tiểu Thừa là Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm Sanh Diệt.

      Chư dĩ chứng nhập chánh vị giả” (những người đă chứng nhập chánh vị), các vị Bồ Tát trong bốn giáo, bất luận chứng địa vị nào, các nguyên lư ấy đều sử dụng được. Điều các Ngài ứng dụng và giáo pháp các Ngài đă học, quyết định tương ứng với lư luận. Tiểu Thừa tương ứng với Tạng Giáo. Đại Thừa Thông Giáo Bồ Tát tương ứng với lư luận của Thông Giáo. Biệt Giáo Bồ Tát tương ứng với lư luận của Biệt Giáo. “Như thật giác huệ, dụng thử vi Chi, cố tri Căn Lực kư cố” (Giác huệ như thật, dùng điều này làm Chi, nên biết là Căn và Lực đă kiên cố). “Cố” () là kiên cố, Ngũ Căn và Ngũ Lực khá kiên cố, “hậu tu giác Huệ, hợp nghi tắc dụng” (sau đó cần phải có giác huệ, hễ thích hợp bèn sử dụng). Khi ấy, trong vô lượng pháp môn, người ấy có thể chọn lựa chắc chắn một pháp môn, nhất định thành tựu pháp môn đó. Người mới học mờ mịt, pháp môn nhiều ngần ấy, chẳng biết học pháp nào mới nên? Chẳng biết tu pháp nào mới tốt? Vẫn là tu đến già, mà vẫn chưa thể quyết trạch pháp môn, vô cùng khổ! Giống như quư vị ngồi thuyền trong biển cả, chẳng biết phương hướng, chẳng có mục tiêu, lênh đênh trong biển cả, đó là chuyện khổ sở. Căn Lực kiên cố, có thể chọn lựa phương hướng, chọn lựa mục tiêu, có thể tính ra khi nào sẽ đạt tới mục tiêu.

      “Y hậu thích giả” (giải thích theo thuyết sau). Trong lời Sớ về Thất Bồ Đề Phần đă nêu ra hai cách giải thích, Liên Tŕ đại sư chọn thuyết sau. “Dĩ Thiên Thai sở thích, ư minh hiển cố” (Do cách giải thích của ngài Thiên Thai ư nghĩa rơ ràng). Theo cách nói trước, pháp thứ nhất là Niệm; trong cách giảng sau, pháp thứ nhất là Trạch Pháp, tông Thiên Thai sử dụng cách nói sau, tông Hoa Nghiêm cũng dùng cách nói này. Cách nói này có ư nghĩa hết sức rơ rệt, xác đáng, lư giải dễ dàng. “Hựu Hoa Nghiêm Sớ, diệc dĩ Trạch Pháp vi tự thể, dư phần vi phân cố” (lại nữa, Hoa Nghiêm Sớ cũng lấy Trạch Pháp làm tự thể, các phần khác phát sinh từ đó): Nói rơ, tổ sư tông Hoa Nghiêm và tổ sư tông Thiên Thai có cách nh́n nhất trí, chọn lựa cách nói theo thuyết sau. Do đó, Liên Tŕ đại sư cũng tuân theo sự quyết trạch của cổ đức, chọn lấy cách nói sau.

 

       (Sao) Nhất Trạch Pháp giả, quán chư pháp thời, thiện năng giác liễu, giản biệt chân ngụy cố.

() 者,觀 時,善 了,揀 故。

      (Sao: Một là Trạch Pháp, khi quán các pháp, có thể khéo giác liễu, phân biệt chân và ngụy).

 

      Điều này bao hàm ư nghĩa hết sức rộng răi. Trong nguyên tắc Trạch Pháp (Dharma-vicaya), điều rất trọng yếu là “hợp nghi tắc dụng” (hễ thích hợp bèn sử dụng), tiêu chuẩn của sự thích hợp là phù hợp với pháp môn chính ḿnh đang tu. Do vậy, có thể biết, phạm vi của Trạch Pháp rất rộng. Trong cuộc sống, ăn, mặc, đi, ở, trong xă hội, chúng ta chọn lựa nghề nghiệp. Đă chọn vững nghề nghiệp rồi, chúng ta dùng phương pháp ǵ để lo liệu? Đều là Trạch Pháp, không phải chỉ là chọn lựa pháp môn nào trong tám vạn bốn ngàn pháp môn để tu hành, đương nhiên đó cũng là Trạch Pháp. Quư vị mới biết sau khi học Phật pháp, đúng là học đến mức hữu dụng th́ học xong bèn dùng được ngay. Học mà chẳng thể áp dụng trong cuộc sống, sở học ấy vô dụng, chúng ta học những thứ ấy để làm ǵ? Chẳng có tác dụng! Học rồi lập tức sử dụng được, điều này có giá trị, có ư nghĩa.

      Nêu tỷ dụ để nói, nay chúng ta tu Tịnh Độ Tông. Mục tiêu gần của Tịnh Độ Tông là tâm địa thanh tịnh, mục tiêu xa là cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Mục tiêu gần và mục tiêu xa tương ứng. Tâm tịnh, ắt cơi nước tịnh. Trong cuộc sống, chúng ta từ sáng đến tối, ăn, mặc, ở, đi lại, nếu tương ứng với tâm thanh tịnh của chúng ta, chúng ta liền chọn pháp ấy. Tương ứng với tâm thanh tịnh, tương ứng với tín, nguyện, hạnh, như vậy là chẳng sai. Bất luận trong cuộc sống, trong sự nghiệp, trong xử thế, quư vị liền biết chúng ta phải chọn lựa như thế nào. Đương nhiên quan trọng nhất, căn bản nhất là quyết trạch pháp môn Tịnh Độ trong tám vạn bốn ngàn pháp môn. Pháp môn Tịnh Độ rất khó được, chúng ta chọn lựa pháp môn Tŕ Danh Niệm Phật, đó là pháp được chúng ta quyết trạch. Sau đấy, hết thảy trong cuộc sống đều tương ứng với pháp môn ấy, biến tất cả hết thảy các pháp đều thành Tăng Thượng Duyên để tu tịnh nghiệp, đó là “biết trạch pháp”. Tôi lại nói cụ thể một chút, trong hết thảy các pháp, đương nhiên chúng ta đặc biệt nói tới pháp thế gian, kể cả Phật pháp, nhất định phải khuất phục tham, sân, si, mạn, phiền năo, vọng tưởng, tri kiến. Trong phương diện cuộc sống, vừa đúng mức bèn thôi, biết đủ thường vui, v́ sao? Tâm chúng ta mới có thể giữ ǵn thanh tịnh. Nếu không, tham dục tăng trưởng, làm sao tâm quư vị có thể thanh tịnh cho được? Quyết định chớ nên để cho tham, sân, si, mạn tăng trưởng.

      Những vị đại đức thời cổ, xuất gia, tại gia đă nêu gương rất nhiều. Cuộc sống của họ rất giàu có, v́ sao bỏ sạch? Chính Thích Ca Mâu Ni Phật đă nêu gương cho chúng ta thấy, Ngài là vương tử, từ bỏ phú quư, phú là của cải, quư là địa vị, chẳng cần ngôi vua, chẳng cần của cải, đến chỗ không người lui tới trong Tuyết Sơn để tu khổ hạnh, biết đủ thường vui. Đó là gương mẫu, khuôn phép cho chúng ta. Ở Trung Quốc, hàng xuất gia chẳng cần nói tới, trong hàng cư sĩ tại gia có nhiều vị đem của cải của chính ḿnh quyên tặng hết để làm chuyện từ thiện, chính ḿnh suốt đời sống cuộc đời kham khổ, chẳng có tâm tham. Tham là phiền năo căn bản bậc nhất; chẳng tham sẽ không ngu si. Chẳng tham, sẽ chẳng có tâm sân khuể. Do tham không được nên mới sanh tâm sân khuể. Nếu tham được, sẽ không sanh sân khuể. V́ thế, người ta nghiêm túc giữ cho tâm địa thanh tịnh, vứt bỏ những ngoại duyên ấy. Vô tham, vô sân, vô si là ba thiện căn; người ấy tu ba thiện căn, hết thảy thiện pháp thế gian và xuất thế gian đều sanh từ các căn ấy. Phước báo nhường cho chúng sanh hưởng, sung sướng lắm! Phước chẳng phải để riêng ḿnh hưởng, mà dành cho hết thảy chúng sanh cùng chung hưởng. Giác Phần, tức Bồ Đề Phần là trí huệ chân thật. Kẻ chẳng có trí huệ, phước báo để riêng ḿnh hưởng, chẳng chia sẻ với người khác. Chỉ có người thật sự giác ngộ, người thật sự có trí huệ, để cho chúng sanh chung hưởng phước báo, chính ḿnh chẳng hưởng, v́ sao? Tự và tha như một, để cho chúng sanh hưởng mới là chính ḿnh thật sự hưởng thụ.

      Phàm phu mê, chấp trước, vạch giới hạn giữa chính ḿnh và người khác, chẳng biết tự và tha chẳng hai, chẳng biết vạn pháp như một. Đương nhiên đây là trí huệ cao cấp, trí huệ quá sâu. Trong Tứ Giáo, chỉ có người căn tánh Viên Giáo biết, Biệt Giáo vẫn chưa được! Nói theo công phu đoạn chứng, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Biệt Giáo là Sơ Địa Bồ Tát, Viên Giáo là Sơ Trụ Bồ Tát. Tuy công phu đoạn chứng như nhau, nhưng trí huệ khác nhau. Trí huệ của Biệt Giáo Sơ Địa Bồ Tát kém Viên Giáo Sơ Trụ rất xa, do nguyên nhân nào? Người căn tánh Viên Giáo “đại nhi hóa chi”[9], vạn vật trong trời đất và chính ḿnh là một, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước, tâm khai ư giải. Biệt Giáo ít nhiều c̣n có chút dấu vết, chẳng thể trừ sạch. Chúng ta thường nói là “tập khí chưa đoạn”. Tuy chẳng có giới hạn, nhưng tập khí chưa đoạn. Kinh Kim Cang gọi giới hạn ấy là “tứ tướng”, tức ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng và thọ giả tướng. Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát, tập khí tứ tướng và tứ kiến đều chẳng có; Biệt Giáo Sơ Địa Bồ Tát đă phá tứ tướng, và tứ kiến, nhưng c̣n có tập khí.

      Do vậy, có thể biết, căn tánh viên đốn đáng quư. Đương nhiên điều này có liên quan đến sự tu tŕ trong nhiều đời nhiều kiếp của chính ḿnh, đó là Nhân. Trong một đời này, có thể thường xuyên tiếp nhận kinh điển Đại Thừa, huân tập kinh điển Viên Giáo, mối quan hệ này cũng rất lớn. Đó là Duyên. Kinh điển Viên Giáo, kinh Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ là viên nhất trong các pháp viên, đốn nhất trong các pháp đốn. Quư vị thấy trong sách Chú Giải của lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ, cụ đă trích dẫn sự phán giáo của cổ đại đức đối với kinh này. Cổ đức nói: “Nếu so sánh giữa hết thảy các pháp do Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói trong bốn mươi chín năm, chỉ có Hoa Nghiêm là chân thật nhất, những kinh khác chẳng chân thật bằng Hoa Nghiêm. So sánh kinh Hoa Nghiêm và kinh Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ chân thật nhất, kinh Hoa Nghiêm kém hơn. Lại so sánh trong kinh Vô Lượng Thọ, bốn mươi tám nguyện là chân thật nhất. Nếu so sánh mỗi điều trong bốn mươi tám nguyện, nguyện thứ mười tám chân thật nhất”. Cổ nhân đă so đi sánh lại, so sánh đến cuối cùng, nguyện thứ mười tám là chân thật nhất trong các thứ chân thật. Do đó, đây là Viên Giáo trong Viên Giáo, Đại Thừa trong Đại Thừa, Nhất Thừa giữa Nhất Thừa, thật sự chẳng dễ ǵ gặp gỡ!

      Chư vị phải biết: Quư vị niệm một bộ kinh Vô Lượng Thọ này, tức là niệm toàn bộ những kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật đă giảng trong bốn mươi chín năm, chẳng sót một bộ nào. Không chỉ là các kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói trong bốn mươi chín năm, mà các kinh do mười phương ba đời hết thảy chư Phật đă nói, quư vị cũng đều đọc hết. Đúng như kinh Hoa Nghiêm đă nói: “Một tức là hết thảy”. Kinh Vô Lượng Thọ là hết thảy các kinh. “Hết thảy chính là một”, hết thảy các kinh quy nạp đến cuối cùng là bộ kinh này. Lũ chúng sanh chúng ta trong đời này, tuy rất khổ, khổ hơn bất cứ thời đại nào, nhưng chúng sanh càng khổ nạn, Phật, Bồ Tát đại từ đại bi đặc biệt chiếu cố chúng ta, khiến cho chúng ta có thể nghe được vô thượng bảo điển viên măn rốt ráo này, đó là sự hiển thị thật sự đại từ đại bi của chư Phật, Bồ Tát. Nếu không, làm sao chúng ta có thể gặp gỡ [pháp môn này và kinh điển Tịnh Độ] cho được? Làm sao có thể gặp gỡ viên măn như vậy được? Cư sĩ Hạ Liên Cư là Phật, Bồ Tát tái lai. Nếu cụ chẳng hội tập lần nữa, tu chỉnh kinh này, biên tập thành bản này, nói thật thà, chúng ta cũng chẳng muốn đọc năm bản dịch gốc, [v́ các bản dịch ấy] không trôi chảy, đọc rất trúc trắc, đúng như Mai lăo cư sĩ đă nói: “Bản dịch không hay lắm”. Hơn một ngàn năm qua, người ta thường chẳng chuộng đọc kinh này.

      Mọi người niệm kinh A Di Đà, đối với kinh A Di Đà c̣n niệm bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, chẳng niệm bản dịch của ngài Huyền Trang. Đọc bản dịch của ngài Huyền Trang sẽ cảm thấy có chỗ trúc trắc, chẳng lưu loát như bản dịch của ngài La Thập. Điều này được gọi là “khế cơ”, bản dịch của ngài La Thập khế cơ. Bản hội tập do lăo cư sĩ Hạ Liên Cư biên soạn cũng khế cơ, khiến cho kinh Vô Lượng Thọ từ nay trở đi có thể lưu thông không trở ngại, chúng sanh khổ nạn trong thời kỳ Mạt Pháp đạt được lợi ích chân thật nơi Phật pháp. Kinh Di Đà được Liên Tŕ đại sư soạn Sớ Sao, Ngẫu Ích đại sư soạn Yếu Giải, những nghĩa lư rất sâu, cảnh giới viên măn đă bao hàm trong bộ kinh này đều được nêu rơ trước mắt chúng ta. Nay chúng ta có thể đọc, có thể cùng nhau nghiên cứu tu học, phước báo ấy không chỉ cổ nhân, mà thậm chí mười phương chúng sanh đều hâm mộ, họ cầu c̣n không được. Pháp hội này thù thắng khôn sánh, hiếm có khôn sánh, chúng ta hăy nên quư trọng. Nghiêm túc tu học pháp môn này, quư vị sẽ có con mắt Trạch Pháp. Quư vị có con mắt Trạch Pháp, th́ nói cách khác, Căn và Lực của quư vị tự nhiên thành tựu. Quư vị chẳng có Căn và Lực, làm sao có thể có con mắt Trạch Pháp cho được? Chỉ có Căn và Lực kiên cố th́ quư vị mới có con mắt Trạch Pháp.

      Chư vị đồng tu, giảng đường thành lập đến năm nay là mười năm. Trong mười năm có rất nhiều vị đồng tu đă lâu vẫn nghe kinh ở đây, vẫn nghe tôi giảng cho tới hiện thời. Quư vị hăy nghĩ xem, khi nào tôi nhấn mạnh Tịnh Tông như vậy? Quư vị liền hiểu rơ, trong quá khứ, khi tôi bắt đầu đến Đài Bắc giảng kinh, có Ngũ Căn, nhưng chẳng có Ngũ Lực, dần dần có Lực, nhưng Lực vẫn chẳng kiên cố! Đến hai năm nay, buông xuống hết thảy các kinh luận Đại Thừa, chuyên giảng Tịnh Độ Ngũ Kinh và Văng Sanh Luận, đó là Trạch Pháp. Chẳng c̣n bị dao động bởi những bộ đại kinh khác nữa. Quư vị mời tôi, tôi đề cử người khác: “Hăy thỉnh pháp sư khác hoặc đại đức khác giảng cho quư vị, tôi chẳng giảng”. Nhiều năm ngần ấy, t́nh h́nh dần dần tiến bộ, các đồng tu hăy nên thể nghiệm. Hôm nay chúng tôi giảng đến chỗ này!

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 82 hết



[1] Sư Đầu là một quả núi rất nổi tiếng ở Đài Loan, nằm giữa hai làng Tam Loan và Nam Trang thuộc huyện Miêu Lật. Núi này được coi là đạo tràng Phật giáo và Đạo giáo lớn nhất Đài Loan. Từ năm 1895, đă có tăng lữ kết am tu hành trong hang động tự nhiên trên núi, đặt tên là Sư Nham Động (về sau là chùa Nguyên Quang). Các chùa miếu nổi tiếng là Khuyến Hóa Đường, Phạm Âm Tự, Phụ Thiên Cung, Khai Thiện Tự v.v…

[2] Thổ nhưỡng: Cấu tạo đặc trưng của một vùng đất do các lớp đất khác nhau tạo thành. Nói thông thường, thổ nhưỡng được phân loại chủ yếu do cấu tạo khoáng chất, vật chất hữu cơ và hóa học cũng như kết cấu của các hạt đất.

[3] Thân Nhân Duyên là một trong bốn duyên. Đây là duyên chánh yếu khiến cho một quả được kết thành. Chẳng hạn Thân Nhân Duyên của cây táo chính là hạt táo.

[4] Sở Duyên Duyên nghĩa là cái duyên có thể phan duyên, có thể bị duyên (tác động đến, ảnh hưởng đến). Chẳng hạn như tâm thức là Năng Duyên, c̣n cảnh giới là Sở Duyên. Như vậy cảnh giới được gọi là Sở Duyên Duyên của tâm thức.

[5] Tăng Thượng Duyên là duyên giúp cho Lực Dụng của Thân Nhân Duyên hiện hành.

[6] Nói đầy đủ, hai mươi hai Căn gồm Lục Căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư), Nam Căn, Nữ Căn, Mạng Căn (căn nguyên của sanh mạng), Ngũ Thọ Căn (Khổ, Lạc, Ưu, Hỷ, Xả), Ngũ Căn (Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ) và Tam Vô Lậu Căn (Vị Tri Đương Tri Căn, Dĩ Tri Căn và Cụ Tri Căn).

[7] Do Danh và Minh cùng phát âm là Míng (trong âm Quan Thoại), nên ḥa thượng phải nhấn mạnh như vậy.

[8] Trong nguyên văn, người ghi lại lời giảng đă ghi sai tên ông này thành Trần Kiến Minh. Trần Kiện Dân (陳健民, 1906-1987), thường được gọi là Yogi C.M. Chen, không rơ quê quán. Theo các học tṛ, ông ta từng tu Mật Tông tại vùng Tây Khang năm năm, nhưng có người nói ông ta ẩn tu tại Kalimpong (Ấn Độ) năm năm, trước khi chuyển đến Hoa Kỳ. Theo lạt-ma Ole Nydahl, ông Trần thuở trẻ tu tiên, cầu trường sanh, về sau, đổi sang tu Phật giáo, sang Tây Tạng học Mật, sống nhiều năm trong hang. Có người nói ông ta đă thọ pháp với nhiều vị lạt-ma nổi tiếng và có hai đệ tử người Anh nổi tiếng là tỳ-kheo Sangharakshita (người sáng lập ḍng tu Tây Phương Phật Hữu, FWBO) và Khantipalo (ông này là một trong các vị tỳ-kheo theo truyền thống Nam Tông hai mươi năm, sáng lập tự viện Nam Tông tại Úc như Wat Buddhadharma và trung tâm Phật giáo Bodhicitta. Về sau, hoàn tục, lập gia đ́nh để học Mật Tông Tây Tạng theo truyền thống Dzogchen. Năm 2010, ông lại xin thọ giới sa-di theo truyền thống Đại Thừa Việt Nam với pháp danh Minh An, rồi phải vào viện dưỡng lăo v́ bệnh Alzheimers). Tác phẩm Buddhist Meditation, Systematic and Practical được coi là biên bản ghi chép cuộc đối thoại về Thiền Định giữa ba thầy tṛ, nhưng người khiến cho ông Trần Kiện Dân nổi tiếng trong cộng đồng người Hoa là tiến sĩ Lâm Ngọc Đường. Ông Lâm được coi là học tṛ đắc pháp của Trần Kiện Dân, tích cực truyền bá tư tưởng của ông Trần, và xuất bản bộ Khúc Quăng Trai Toàn Tập (曲肱齋全集, toàn tập các trước tác của Trần Kiện Dân). Có lẽ chỉ có ông Trần Kiện Dân chủ trương thuyết này nhằm lật đổ quan niệm “đới nghiệp văng sanh”. Các vị hành giả đại đức thông thạo Mật Tông Trung Hoa như lăo ḥa thượng Mộng Tham, Nguyên Âm lăo nhân và giáo sư Nam Hoài Cẩn đều lên tiếng phủ định quan điểm của ông Trần.

[9] Đây là một thành ngữ trích từ câu nói “đại nhi hóa chi, vị Thánh” trong thiên Tận Tâm Hạ sách Mạnh Tử. Các nhà chú giải thường giải thích câu này có nghĩa là phẩm đức, phẩm hạnh to tát, tốt đẹp rạng rỡ, khiến cho người chung quanh cho đến khắp thiên hạ đều bị cảm hóa; người như vậy đáng gọi là bậc Thánh.