A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 83

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong

Tập 165

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang ba trăm năm mươi lăm:

 

      (Sao) Nhị, Tinh Tấn giả, tu đạo pháp thời, thiện năng giác liễu, bất mậu hành ư vô ích khổ hạnh cố.

() 者,修 時,善 了,不 故。

(Sao: Hai là Tinh Tấn, khi tu đạo pháp, khéo có thể giác ngộ, hiểu rơ, chẳng lầm lạc hành khổ hạnh vô ích).

 

      Đối với Tinh Tấn trong Thất Bồ Đề, sau khi chọn lựa pháp môn, chuyện khẩn yếu nhất Tinh Tấn. Tinh Tấn th́ nhất định phải chuyên ṛng. Thiện căn của Bồ Tát gồm một điều là Tinh Tấn. Đức Phật dạy thiện căn thế gian gồm ba thiện căn, hết thảy các thiện pháp thế gian đều sanh từ ba điều ấy, tức tham, sân, si. Thiện căn của Bồ Tát Tinh Tấn. Nếu thật sự tinh tấn, bất cứ pháp môn nào cũng chắc chắn thành tựu. Thành tựu lớn hay nhỏ nhất định tỷ lệ thuận với công phu tinh tấn của người ấy. Nếu tấn, nhưng không biết chuyên ṛng, khó tránh khỏi tu tập những khổ hạnh vô ích! Rất tinh tấn, nhưng chẳng thu được hiệu quả.

 

      (Diễn) trạch pháp hậu, thứ tức tu đạo, cố vân “tu đạo pháp thời”.

      () 後,次 道,故 時。

(Diễn: Do sau khi chọn pháp, kế đó, liền tu đạo, nên nói “khi tu đạo pháp”).

 

      Sau khi quư vị đă chọn nhất định một pháp môn, sẽ chuyên tâm tu tập.

 

       (Diễn) Nhiên ngoại đạo cửu thọ cần khổ, tinh tấn tu hành, bất thành thánh quả giả, dĩ bất đạt chân tánh, duy dụng vọng thức tu hành, danh viết Tinh Tấn, thật đồng giải đăi.

() 苦,精 行,不 者,以 性,惟 行,名 進,實 怠。

(Diễn: Nhưng ngoại đạo đă siêng khổ tinh tấn tu hành từ lâu, mà chẳng thành thánh quả, là do chẳng thông đạt chân tánh, chỉ dùng vọng thức để tu hành. Tuy nói là tinh tấn, nhưng thật ra giống như giải đăi).

 

      Câu này có ư nghĩa hết sức sâu rộng. Các đồng tu học Phật chúng ta đại đa số phạm phải căn bệnh này, nên tu lâu mà chẳng thể thành tựu. Tổ đại đức nói “thật đồng giải đăi, [có nghĩa là] giống như giải đăi, “bất thành thánh quả”, chẳng đạt được kết quả. như chúng ta niệm Phật, kết quả nông cạn nhất trong niệm Phật công phu thành phiến. Chúng ta niệm lâu ngần ấy, chẳng đạt đến công phu thành phiến, chẳng kết quả! Chẳng kết quả th́ trong ấy nhất định xuất hiện vấn đề. Đó cũng là đă biến thành ngoại đạo, trong Phật môn thường gọi loại ngoại đạo này là “môn nội ngoại(ngoại đạo ở trong nhà Phật). Chính ḿnh tu hành, bất tri bất giác tu thành ngoại đạo, do cầu pháp ngoài tâm, chẳng tương ứng với pháp, liền biến thành ngoại đạo!như chúng ta tu Tịnh Độ, nhưng tưởng, kiến giải, hành vi của chúng ta chẳng tương ứng với những điều được dạy trong Tịnh Độ Ngũ Kinh th́ là ngoại đạo. thế, niệm câu Phật hiệu này, nhất định phải niệm cho tương ứng. “Tương ứng chẳng trái nghịch với giáo huấn trong kinh điển. Đó là tương ứng. Niệm câu Phật hiệu, những điều tâm ta nghĩ, ư ta tưởng chẳng tương ứng với những điều đă nói trong kinh, bèn là ngoại đạo. [Dẫu] niệm Phật, cũng niệm thành ngoại đạo. Tôi nói lời ấy có quá lố hay không? Nói thật ra, lời này chẳng phải do tôi nói, mà là trong tác phẩm Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông Chương Sớ Sao, Từ Vân Quán Đảnh đại đă nói: Niệm Phật, niệm thành ngoại đạo.

      Nếu mắc chứng bệnh này, đă biết, hăy sửa đổi, nhất định phải tương ứng. Trong các buổi giảng, chúng tôi đă nói về sự tương ứng ấy rất nhiều, nhưng tôi thấy vẫn c̣n những đồng tu chẳng tin tưởng. Nh́n từ chỗ nào để thấy họ không tin tưởng? Họ c̣n đọc các kinh luận khác, vẫn chưa thật sự chuyên tâm nơi năm kinh hoặc chuyên tinh nơi Sớ Sao hoặc Yếu Giải, đó chính là không tin tưởng. Đă thật sự tin tưởng, chắc chắn trong năm năm, tối thiểu là ba năm, sẽ chuyên tâm đọc bộ sách này, tuyệt đối không đọc bộ thứ hai. Vẫn c̣n đọc bộ thứ hai, tức là chẳng chuyên! Học nhiều năm ngần ấy, chẳng kết quả, xuất hiện khuyết điểm ở chỗ này! Tu học kiểu ấy tuy chịu khổ, chịu khó, vẫn giống như giải đăi, v́ quư vị chẳng tiến bộ!

      Học Phật th́ trong ṿng ba năm hay năm năm đầu tiên, chúng ta là người tu pháp môn Niệm Phật, mục tiêu đặt nơi Niệm Phật tam-muội, chẳng đặt nơi khác. Công phu thành phiến, Sự nhất tâm bất loạn, Lư nhất tâm bất loạn đều gọi là Niệm Phật tam-muội. Công phu thành phiến Niệm Phật tam-muội [ở mức độ] nông cạn nhất, nhất tâm bất loạn Niệm Phật tam-muội [có mức độ] sâu nhất, cầu điều ấy! Phải buông xuống hết thảy! Tâm chúng ta không chỉ chẳng vướng mắc pháp thế gian,tất cả hết thảy Phật pháp cũng đều buông xuống. Đến khi tam-muội thành tựu, mức độ thấp nhất phải đạt đến là công phu thành phiến, tâm đạt đến mức khá thanh tịnh. Khi ấy, c̣n phải được thầy đồng ư, thầy cho phép quư vị mở rộng, tiếp xúc hết thảy các kinh luận, lúc đó mới được. Nếu thầy chẳng đồng ư, vẫn phải thâm nhập một môn.

      Nếu c vị đọc ngữ lục hoặc truyện kư của các vị cổ đại đức trong Đại Tạng Kinh, quư vị sẽ biết người thuở trước tu học, tối thiểu là năm năm. Người có căn tánh độn một chút, trong năm năm chưa thể thành tựu tam-muội, thời gian kéo dài hơn, có trường hợp mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, thầy vẫn chẳng cho phép người ấy đọc kinh luận khác, sao? Chưa thành tựu tam-muội. Người hiện thời muốn tu học thật sự thành tựu, [hăy nhớ kỹ] Phật pháp chẳng phải là pháp thế gian. Pháp thế gian tiến bộ theo thời đại, phương pháp cũng không ngừng cải tiến; Phật pháp chẳng giống như vậy! Phật pháp chẳng biến đổi. Hễ sửa đổi Phật pháp th́ sai mất rồi, đường lối để cổ thánh tiên hiền và chư Phật Như Lai cùng noi theo, làm sao quư vị có thể sửa đổi cho được? Hễ sửa đổi, Phật pháp sẽ biến thành thế gian pháp. Nói cách khác, hễ sửa đổi, giác đạo trở thành tà đạo, tinh tấn biến thành giải đăi. Hằng ngày luôn nỗ lực, nhưng vẫn là giải đăi!

      Chúng ta hăy suy ngẫm câu “khổ hạnh vô ích”, phải là chúng ta mỗi ngày đều hành khổ hạnh vô ích hay không? Nói thật ra, kiểm điểm trọn chẳng k khăn. Mỗi ngày, quư vị phản tỉnh một phen, “giác, chánh, tịnhhằng ngày có tiến bộ. Đó là đúng! Nếu ba chữ “giác, chánh, tịnh” chẳng có tiến bộ, ngày đó lại bị luống uổng, đấy là giải đăi. Hăy phản tỉnh: Phiền năo, vọng niệm, phân biệt, chấp trước giảm thiểu hay không? Nếu [phiền năo] chẳng giảm thiểu, hăy c̣n có, lại c̣n dường như thường dấy lên hiện hành y như cũ, thậm chí c̣n nhiều hơn trước khi học Phật, hỏng bét rồi! Vậy là quư vị học Phật pháp chắc chắn đi vào lối rẽ! “Thiện năng giác liễu”,giác giác ngộ, “liễu” hiểu rơ. Giác liễu tự giác, chính ḿnh quan sát xem bản thân ḿnh có đang noi theo đạo Bồ Đề hay không? Niệm Phật cũng là Bồ Đề đạo; rời khỏi Bồ Đề đạo th́ chính là ngoại đạo.

      Ngài nói tới chuyện tu hành, nói quư vị “bất đạt chân tánh, duy dụng vọng thức tu hành (chẳng thông đạt chân tánh, chỉ dùng vọng thức để tu hành). Cảnh giới này cao lắm, chúng ta chưa làm được! Khi nào mới nhập cảnh giới ấy? Thưa cùng quư vị, nhất tâm bất loạn mới nhập cảnh giới ấy. Trong cuộc sống hằng ngày, người ấy có thể dùng căn tánh của sáu căn, chẳng dùng tám thức, đúng như kinh Lăng Nghiêm dạy: “Xả thức dùng căn”, thể nói là “thuần chánh, . Biết “bỏ thức, dùng căn”, quư vị là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo; trong Biệt Giáo, quư vị Địa Bồ Tát, điều này chúng ta chẳng làm được. Chẳng làm được, bất đắc cầu điều thấp hơn, tức là: Tâm chúng ta phải tương ứng với giáo huấn trong kinh điển; như vậy là tốt đẹp. sao khuyên mọi người phải đọc tụng kinh này? Quư vị niệm rất thuộc, hễ khởi tâm động niệm bèn nghĩ: Trong kinh, đức Phật dạy chúng ta như thế nào? Chúng ta nghĩ tưởng sẽ chẳng trái phạm giáo huấn trong kinh điển nhà Phật. V́ lẽ đó, phải nhớ kinh nằm ḷng. Không quen thuộc, lấy đâu ra ghi nhớ? Làm sao có thể nghĩ đến cho được?

      Do vậy, thể biết: Học Phật phải học khởi đầu từ đâu? Trước hết, học bắt đầu từ niệm thuộc kinh. Nếu không thuộc, chẳng cách nào phản tỉnh, chẳng có cách nào phản chiếu. Thuộc nhuyễn nhừ rồi th́ mới công năng ấy, cũng chính là dùng những tiêu chuẩn ấy để uốn nắn các hành vi sai lầm của chúng ta. Nhất định phải nhớ rất ràng tiêu chuẩn ấy, thời thời khắc khắc tiêu chuẩn ấy thể hiện tiền, chúng ta bèn so sánh [lời lẽ, hành vi, tâm tưởng của chính ḿnh] có hợp với các tiêu chuẩn ấy hay không? Kinh điển là tiêu chuẩn. thế, trước hết, phải niệm kinh thuộc làu, phải thuộc nhuyễn nhừ. Dẫu có thể thuộc ḷng, tối thiểu c̣n phải niệm thuộc ḷng ba ngàn lượt, thông thấu nhuyễn nhừ! Tư tưởng, kiến giải, và hành tŕ của quư vị tự nhiên giống như A Di Đà Phật. Quư vị ngẫm xem, lẽ nào người như vậy chẳng văng sanh? Quyết định văng sanh. cần phải xả “bỏ thức, dùng căn” hay không? Chẳng cần xả! Lâu ngày chầy tháng, tự nhiên nhập cảnh giới ấy. Nếu tâm mong cầu, hỏng rồi! Có tâm cầu, quư vị c̣n vọng niệm trong ấy; có vọng niệm chẳng thật thà! V́ lẽ đó, chẳng bận tâm tới nó. Ta chỉ thật thà làm như vậy, gặp phải cảnh giới nào, về căn bản là chẳng bận tâm đến nó, tự nhiên sẽ nhập cảnh giới. thế, Niệm Phật tam-muội không cầu tự đắc, điều này rất trọng yếu!

 

      (Sao) Tam hỷ giả, tâm đắc pháp hỷ thời, thiện năng giác liễu, bất tùy điên đảo chi pháp nhi sanh hỷ cố.

       () 者,心 時,善 了,不 故。

(Sao: Ba là Hỷ. Khi tâm đạt được pháp hỷ, bèn khéo có thể giác ngộ, hiểu rơ, chẳng vui theo pháp điên đảo).

 

      “Pháp hỷ: Tu pháp tương ứng, tự nhiên một niềm hỷ duyệt (vui sướng, thỏa thích). Niềm hỷ duyệt ấy chẳng do cảnh giới bên ngoài kích thích. Chúng ta thường nói khổ lạc; lạc và khổ là tương đối, đều do bị kích thích từ bên ngoài hiện tiền. Thuận với ư ḿnh, lạc dục hiện tiền; trái nghịch ư ḿnh, bèn đau khổ, khổ năo hiện tiền. Pháp hỷ chẳng phải là từ cảnh giới bên ngoài kích thích, nó từ trong nội tâm tự nhiên phát ra; đó là pháp hỷ. Pháp hỷ đương nhiên cũng cạn hay sâu khác nhau, tùy thuộc công phu cảnh giới của quư vịpháp hỷ mức độ khác nhau. Không chỉhọc Phật, trong pháp thế gian cũng có, sao? Khi tâm thanh tịnh bèn pháp hỷ. Câu đầu tiên của Khổng lăo phu tử trong Luận Ngữ là: Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? (Học rồi thường tu tập, cũng chẳng vui sao?). Duyệt () pháp hỷ, hoàn toàn khác với Lạc trong câu sau đó: “Hữu bằng hữu tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ? (Có bạn bè từ phương xa đến, cũng chẳng sướng sao?). Lạc ở đây ngoại cảnh, tức là Lạc trong khổ lạc. Bạn tốt từ nơi rất xa đến thăm viếng, cùng nhau thảo luận học vấn, chuyện rất vui, nhưng nó chẳng phải là pháp hỷ. vậy, Duyệt trong câu thứ nhất là hỷ duyệt sâu xa! Từ nội tâm xuất hiện, Hỷ trong Phật pháp được gọi là Pháp Hỷ, chúng ta thường nói “pháp hỷ sung măn.

      “Thiện năng giác liễu”: Hỷ cũng là từ trong giác liễu mà có, nên cũng biết Hỷ do chân tánh lưu lộ. “Bất tùy điên đảo chi pháp nhi sanh hỷ cố” (chẳng vui theo pháp điên đảo). Pháp điên đảopháp thế gian hoặc pháp ngoại đạo. Quư vị đạt được tiếng tăm, lợi dưỡng trong thế gian, bèn rất hoan hỷ, đó là do pháp điên đảo mà sanh hỷ. sao? Tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần đều nhân duyên của luân hồi trong lục đạo. Sự lạc ấy chẳng phải là rốt ráo. Sau khi lạc, bèn có đau khổ; đă thế, lạc ấy chắc chắn là ngắn ngủi, tạm bợ; đau khổ dài lâu, chắc chắn là như thế. Nói là vui sướng trong một đời người th́ cũng bất quá vài chục năm mà thôi, chỗ đau khổ trong tương lai ba ác đạo. Thời gian trong ba ác đạo quá dài, là chuyện rất đáng sợ. V́ thế, Bồ Tát khéo có thể giác liễu, Hỷ của Ngài là hoan hỷ chân thật, tuyệt đối chẳng phải điên đảo, tuyệt đối chẳng tương ứng với tam giới lục đạo,tương ứng với c Phật, Bồ Tát, nên mới pháp hỷ.

      Điều này là thật, chúng ta phải giác liễu! Lại c̣n phải ghi nhớ, chữ Thiện trong “thiện năng giác liễu” rất đáng quư! sao phải đặc biệt nhấn mạnh nhắc nhở như vậy? Chúng ta thường quên bẵng chuyện này, mê man nơi pháp hỷ điên đảo, lỗi lầm to lớn! Nói thật thà, v́ sao chúng ta chẳng thể tinh tấn? Do mê nơi pháp hỷ điên đảo, chẳng tương ứng với thánh giáo. Ví như chúng ta mới học, sao chẳng thể dùng thời gian năm năm để chuyên chú nơi một bộ kinh, mà vẫn muốn đọc tụng các kinh luận khác? Tu học pháp môn khác? Đóbị cảnh giới hoặc. Giống như thấy người khác đều niệm, người ta chuyện ǵ cũng biết, ta thứ ǵ cũng chẳng hiểu, bèn nghĩ chính ḿnh chẳng bằng kẻ khác, hăy nên học theo người ta, trọn chẳng biết đó là sai lầm to lớn! Vừa bắt đầu liền học rộng, nghe nhiều, Căn Bản Trí bị phá hoại. Chẳng Căn Bản Trí, lấy đâu ra Hậu Đắc Trí? Quư vị học suốt đời, học được điều ǵ? Thế Trí Biện Thông, quư vị học được thứ này! Trong một đời này, chắc chắn quư vị chẳng đạt được hai thứ trí huệ thật sự là Căn Bản TríHậu Đắc Trí.

      Nếu q vị muốn thật sự đạt được hai thứ trí huệ ấy, chỉ một phương pháp là thật thà niệm một quyển sách suốt năm năm. Trong năm năm ấy, chẳng buộc quư vị hiểu nghĩa, tốt nhất là quư vị thứ cũng không biết. Kinh Bát Nhă nói Bát Nhă tri, nay ta học ǵ? Ta dùng thời gian năm năm để học tri, chẳng phải là học hữu tri. Thời gian năm năm học tri Bát Nhă Căn Bản Trí. Sau năm năm ấy, tâm ta thật sự thanh tịnh, hết thảy tri kiến đều dứt sạch, sau đó lại học rộng nghe nhiều, đấy chính là năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử; đó Hậu Đắc Trí. Khi ấy, học ǵ cũng mau chóng! Lục căn tiếp xúc cảnh giới lục trần, vừa tiếp xúc liền thông đạt, hiểu rơ, sao? Người ấy tương ứng với Như Lai, tâm người ấy thanh tịnh, pháp thế gianxuất thế gian vừa tiếp xúc, chẳng không thông đạt, chẳng không hiểu rơ. Trong các buổi giảng, chúng tôi thường đôi ba lượt buốt ḷng rát miệng khuyên dạy chư vị, nhưng người tin tưởng ít ỏi, người chẳng tin đông đảo! Nghiệp chướng rất nặng, họ không tin tưởng.

 

      (Sao) Tứ Trừ giả, trừ chư kiến phiền năo thời, thiện năng giác liễu đoạn tuyệt hư ngụy, bất tổn chân chánh thiện căn cố.

() 者,除 時,善 偽,不 故。

 (Sao: Bốn là Trừ, khi trừ các kiến giải và các phiền năo, có thể khéo giác ngộ, hiểu rơ, đoạn dứt hư ngụy, chẳng tổn hoại thiện căn chân chánh).

 

      Thoạt nh́n, dường như Trừ và Xả có ư nghĩa tương thông, thật ra là hai chuyện. “Trừ” đoạn trừ, trừ hết thảy kiến giải, trừ hết thảy phiền năo. Chúng ta xem câu này liền hiểu rơ, nó chính là Kiến phiền năo, “kiến Kiến Hoặc, phiền năo Hoặc, phải bỏ sạch Kiến phiền năo.

 

      (Diễn) Kư đắc pháp hỷ, tức đoạn chư kiến phiền năo.

() 喜,即 惱。

(Diễn: Đă đắc pháp hỷ, liền đoạn các kiến phiền năo).

 

      Kiến Hoặc tuy mạnh mẽ, nhạy bén, nhưng dễ đoạn. Nếu đoạn Kiến Hoặc bèn chứng quả. Nói theo Tiểu Thừa, sẽTu Đà Hoàn quả. Nếu quư vị là người căn tánh Viên Giáo, sẽ là địa vị Sơ Tín Bồ Tát trong Viên Giáo. Chứng đắc địa vị ấy liền dự vào ḍng thánh, chẳng c̣n lui sụt làm phàm phu. Phiền năo Hoặc, tức tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.

      (Diễn) Nhiên tham đẳng hôn phiền chi pháp, thể thị hư ngụy, cố tu đoạn trừ.

() 法,體 偽,故 除。

(Diễn: Nhưng Thể của các pháp tối tăm, phiền năo như tham v.v… ngụy, nên cần phải đoạn trừ).

 

      Những Kiến phiền năo ấy, Thể thị ngụy (Thể của chúng là hư ngụy), chẳng thật. Cớ sao nói “Thể của chúng là ngụy? Chúng ta đọc Bách Pháp [Minh Môn Luận] liền hiểu: Tất cả Kiến phiền năo đều pháp hữu vi, các pháp ấy đều Tâm Sở pháp, thuộc vào năm mươi mốt Tâm Sở. Tâm, Tâm Sở, sắc pháp toàn là pháp hữu vi. Kinh Kim Cang dạy:Phàm những ǵ có tướng đều vọng,hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng. Quư vị thấy đó, Thể [của các pháp ấy] ngụy, nên cần phải đoạn trừ. Nếu Thể của nó là chân thường, chẳng nên đoạn trừ nó. Thể vọng, đoạn bằng cách nào? phải chúng ta chẳng cần đến chúng hay không? Chẳng phải vậy, mà là trong tâm vĩnh viễn chẳng phân biệt chúng, không chấp trước chúng; đó là đoạn. V́ lẽ đó, nhà Phật nói đến công phu Đoạn Chứng th́ tuyệt đối chẳng phải là nói theo sự tướng. Đoạn nơi sự tướng chẳng được, phải là đoạn vọng tưởng chấp trước trong tâm. Ta thật sự giác ngộ, thật sự biết nó là chuyện như thế nào, biết chân tướng của nó, từ nay trở đi, chẳng c̣n chấp trước nữa; nhưng trong cuộc sống hằng ngày,c̣n phải dùng tới nó hay không? Có lúc vẫn phải dùng nó, dùng nó th́ sẽ dễ làm việc.

      Bồ Tát giác ngộ hết thảy các pháp, chính ḿnh làm chủ nhân, hết thảy các pháp đều thủ hạ, là người hầu của ta, ta sai chúng nó đi làm việc thay cho ḿnh. Phàm phu rất đáng thương, chẳng biết chúng là kẻ hầu trong nhà, ngỡ chúng nó là thượng cấp ăn trên ngồi chốc của chính ḿnh! Hết thảy phải nghe theo lệnh của chúng, đó là điên đảo! Chủ nhân chính ḿnh! Tâm và Tâm Sở phải nên để cho ta sử dụng, chẳng phải chúa tể của ta. Do đó, Bồ Tát cũng dùng những thứ ấy. Chẳng dùng đến những thứ ấy, làm sao có thể giáo hóa chúng sanh? Ngài phải dùng những thứ ấy để giáo hóa chúng sanh, tức là biến nhiều thứ như vậy thành Hậu Đắc Trí. Chính ḿnh Căn Bản Trí, Căn Bản Trí làm chủ tể, khiến cho hết thảy đều trở thành cái để ta sử dụng. Phàm phu chẳng Căn Bản Trí, rất đáng thương, Chân Như bản tánh của chính ḿnh bị vọng cảnh xoay chuyển, chính ḿnh chẳng thể làm chủ trong cảnh giới, rất đáng thương! đây nói đến Trừ, phần sau nói đến Xả, đều đă giác.

 

      (Diễn) Nhược Tín đẳng Ngũ Căn.

      () 根。

      (Diễn: Như Ngũ Căn: Tín v.v…).

 

      Ngũ Căn là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần, cho đến lục độ, vạn hạnh do Bồ Tát tu, mười đại nguyện vương, những thứ ấy là thiện căn chân chánh, cũng có thể nói là Tánh Đức, tức Tánh Đức trong Chân Như bản tánh. Nếu chúng ta không bàn về Phật pháp, nói theo pháp thế gian th́ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, hiếu thảo cha mẹ, tôn trọng thầy, luân thường, bát đức chính Tánh Đức. Chúng thật, chẳng phải là vọng. Thể của chúng là chân tánh, chẳng như những thứ kể trong phần trước (Kiến Tư phiền năo), Thể của chúng là ngụy. Những thứ được nói đây do Tánh Đức biểu lộ. Nay chúng ta mất tự tánh, Thể chân thật, nhưng chúng ta coi thường nó, thường làm chuyện trái nghịch nó, [chẳng hạn như] bất hiếu với cha mẹ, bất kính trưởng, bất nhân, bất nghĩa, đóvi phạm Tánh Đức. Làm chuyện tham, sân, si, mạn, tương ứng với hết thảy các pháp ngụy phiền năo, nên mới tạo tác lục đạo luân hồi. Phật, Bồ Tát phàm phu sai biệt chỗ này. Trừ điều này ra, khác biệt? Phàm phu mặc quần áo, ăn cơm, Phật, Bồ Tát cũng phải mặc quần áo, ăn cơm, chẳng khác ǵ nhau! Phàm phu giao, phải đăi người, tiếp vật, Phật, Bồ Tát cũng phải xă giao! Thị hiện trong thế gian này, có ǵ khác biệt? Khác biệt ở chỗ dụng tâm khác nhau! Một đằng tưởng, kiến giải, hành tŕ tương ứng với chân tánh; một đằng là tư tưởng, kiến giải, hành tŕ tương ứng với Kiến phiền năo. Một đằng giác, một đằng mê! Đó là điểm khác nhau.

 

      (Diễn) Nhược Tín đẳng Ngũ Căn, cập phát túc thế thiện căn, năi xuất thế chân chánh thiện căn, nhược diệc đoạn trừ, thác mậu phi tiểu. Cố tu giác liễu chân ngụy, vật thác mậu cố.

() 根,及 宿 根,乃 根,若 除,錯 小,故 偽,勿 故。

(Diễn: Như Ngũ Căn: Tín v.v… và các thiện căn đă phát trong đời trước chính là thiện căn xuất thế chân chánh, nếu cũng đoạn trừ chúng th́ sai lầm chẳng nhỏ vậy. V́ thế, cần phải giác ngộ, hiểu rơ chân, ngụy, đừng lầm lẫn).

 

      Biện định chân giả từ chỗ nào? Biện định từ Thể của nó. Thể của nó là chân tánh th́ là thật. Hết thảy phải thuận tánh. Thể của nó là ngụy, chắc chắn là giả, chắc chắn chẳng cần ghim nó trong ḷng. Tiêu chuẩn để lấy, bỏ, đoạn trừ là ở nơi đây.

      (Sao) Ngũ Xả giả, xả sở kiến niệm trước chi cảnh thời, thiện năng giác liễu thủ xả hư ngụy, vĩnh bất truy ức cố.

() 者,捨 時,善 偽,永 故。

(Sao: Năm là khi xả cảnh đă thấy hoặc nghĩ tới, có thể khéo giác ngộ, hiểu rơ lấy và bỏ ngụy, vĩnh viễn chẳng nhớ lại).

 

      Trong câu này, đă định nghĩa rất rơ ràng Trừ Xả. Trừ là trừ nơi Năng (chủ thể), c̣n Xả là xả Sở (nơi đối tượng). Trừ là đoạn trừ phiền năo của chính ḿnh, Xả là chẳng chấp trước cảnh bên ngoài. Trừ đối với Tâm (tám thức) và Tâm Sở trong nội tâm, tức là chẳng chấp trước tám thức và năm mươi mốt Tâm Sở, nên gọi là Trừ, [tức là] đoạn trừ. Xả là ứng với cảnh giới bên ngoài, đối với ngũ dục, lục trần, chẳng chấp trước ngoại cảnh. Một đằng nói theo phía Năng, một đằng nói theo phía Sở.

      “Xả sở kiến niệm trước chi cảnh” (xả cảnh đă thấy hoặc nghĩ tới), đừng nghĩ, đừng chấp trước những cảnh giới ấy, cũng đừng để nó trong ḷng. Cảnh giới hiện tiền, hiểu rơ ràng, có thọ dụng hay không? Có thọ dụng. Sau khi cảnh giới đă qua, [tâm ta] sạch làu làu, giống như một tấm gương, quyết chẳng nhiễm mảy trần. Đó là đúng, tâm chớ nên nhiễm trước. Nói thông tục hơn một chút, nhiễm trước là vướng mắc. Trong tâm vẫn c̣n vướng mắc, không được rồi! Có người nói: Nếu chẳng vướng mắc, người ấy giống như kẻ tuyệt t́nh thiếu nghĩa! Nói thật ra, họ đă sai lầm! Hăy nên biết: Tâm chẳng vướng mắc th́ tâm quư vị là quang minh, thấy thấu suốt cảnh giới, đâm ra lại là quan tâm thật sự, v́ bất luận người ấy ở chỗ nào, quư vị luôn nhận biết rơ ràng, rành rẽ, [nên sẽ dễ dàng quan tâm, chiếu cố]. C̣n hễ quư vị vướng mắc, tâm bèn mê, khi muốn chiếu cố [kẻ khác] th́ năng lực đă mất rồi! Đối với hết thảy chúng sanh, Phật, Bồ Tát chẳng vướng mắc, nên hết thảy chúng sanh khởi tâm động niệm các Ngài đều biết. Nếu Phật, Bồ Tát cũng vướng mắc giống như chúng ta, sẽ là chuyện ǵ cũng chẳng biết! Bày ra ngay trước mặt vẫn hoặc, điên đảo, tâm không thanh tịnh!

      Chuyện này nói dễ dàng, làm khó khăn! Quư vị thể chẳng vướng mắc hay không? sao chẳng thể buông xuống được? Nói thật ra là do chúng ta sử dụng phương thức hoặc, điên đảo; từ lượng kiếp cho tới hiện thời, dùng măi thành thói quen, xả cũng chẳng xả được! Hiểu rơ như thế là không đúng, là sai lầm, muốn sửa đổi, nhưng chẳng đổi được! Tập khí dấy lên hiện hành, làm như thế nào? Pháp môn này hay lắm, pháp môn này được gọi là “phương tiện bậc nhất, vẫn sử dụng vướng mắc, nhưng chẳng cần vướng mắc điều ǵ khác! Vương vấn A Di Đà Phật, bận ḷng nơi kinh Vô Lượng Thọ. Chuyển đổi tập khí của quư vị, thay đổi phương hướng, mục tiêu. Quư vị vướng mắc như thế đó, vẫn y như cũ sử dụng vướng mắc, thưa cùng quư vị, đó gọi là “đới nghiệp văng sanh, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Nếu đă giác ngộ, ta cũng chẳng vướng mắc điều ấy, tốt lắm, quư vị sanh trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Như vậy là vướng mắc vẫn thể văng sanh, hay lắm, khó có! Các pháp môn khác trong tám vạn bốn ngàn pháp môn chẳng [chuyện này], chỉ riêng pháp môn Tịnh Độ có, nên đối với pháp môn Tịnh Độ, ai nấy đều có thể tu thành công do đạo này. Thế nhưng quư vị phải thay đổi phương hướng và mục tiêu vướng mắc th́ mới được. Nếu chẳng thay đổi, bụng dạ vừa vướng mắc pháp thế gian, lại c̣n vướng mắc những pháp môn khác, lại vừa niệm Phật cầu văng sanh, sẽ chẳng thực hiện được, đời này chẳng thể thành công, sẽ giống như trong phần trước đă nói là “vẫn giống như giải đăi”, quư vị chẳng đạt được kết quả. thế, phải thật sự chuyển, không chuyển th́ chẳng được! Phải thời thời khắc khắc cảnh giác. Nghe kinh cảnh giác, nhắc nhở quư vị; ba ngày không được nhắc nhở bèn quên tuốt, bệnh lại tái phát, phải thời thời khắc khắc cảnh tỉnh!

 

      (Diễn) Kư dĩ trừ chư kiến phiền năo, tắc danh “xả sở kiến cảnh, xả sở niệm trước cảnh thời”. Nhiên xả, năi đối thủ nhi ngôn, thủ kư hư ngụy, xả khởi đắc chân? Tịnh xả diệc xả, phất linh truy ức cố.

      () 惱,則 時。然 捨,乃 言,取 偽,捨 真。並 捨,弗 故。

 (Diễn: Đă trừ các kiến phiền năo th́ gọi là “khi trừ các cảnh đă thấy, đă niệm”. Nhưng Xả (bỏ) là nói tương phản với Thủ (lấy). Thủ đă là hư ngụy, há Xả là thật được sao? Ngay cả Xả cũng xả luôn, chẳng khiến cho nhớ lại).

 

      Phất () chẳng. Chẳng cần nhớ lại nữa; đấy mới là thật sự Xả. Nếu c̣n nhớ lại, rất phiền phức! Hễ “truy ức” (nhớ tưởng, hồi tưởng) bèn hối hận, Hối () cũng phiền năo. Mỗi lần quư vị nhớ lại chuyện quá khứ, ấn tượng lại được thêm vào A Lại Da Thức một lần. Ấn tượng tăng thêm một lần, nghiệp lực lại sâu hơn một tầng. Khi lâm chung, nghiệp lực mạnh mẽ, to lớn, sẽ b nghiệp lực dẫn dắt đi đầu thai, luân hồi. thế, đức Phật dạy chúng ta, chuyện quá khứ đều vọng, đừng nên nhớ lại để rồi áo năo, chớ nên hồi tưởng. Chuyện vị lai c̣n chưa xảy đến, chẳng cần phải nghĩ đến. Chuyện quá khứ đă qua, cũng chẳng cần nghĩ đến, tâm quư vị liền thanh tịnh. Tâm thanh tịnh Chân Như bản tánh của chính ḿnh, tâm thanh tịnh chân tâm. Niệm Phật n vậy mới một niệm tương ứng, niệm niệm tương ứng. Tương lai tự có phước đức, nhân duyên, chẳng cần phải lo nghĩ cho nhiều! Nếu nghĩ tương lai phải làm như thế nào ư? Quư vị lo nghĩ, vô dụng! Đó là dấy vọng tưởng, vọng tưởng thể giải quyết vấn đề ư? Dùng phương pháp để giải quyết vấn đề? Hiện tiền tu đức, tứctu thiện, tích đức [trong hiện tại], tương lai tự nhiên quả báo tốt đẹp. Hiện thời chẳng tu thiện, không tích đức, mong tương lai như thế này, như thế nọ, toàn là vọng tưởng, chuyện tương lai đúng như quư vị dự liệu hay không? Có đúng như quư vị tưởng tượng hay không? Đó là chuyện chẳng thể có, chẳng có cách nào dự liệu! Người thông minh đến mấy đi nữa trong thế gian cũng chẳng có cách nào dự liệu!

      Xưa kia, người có học vấn c̣n thể dự đoán tương lai; trong hiện thời, người có học vấn cũng chẳng có cách nào dự liệu tương lai. Người thuở trước dựa vào đâu để dự đoán? Dựa vào trật tự xă hội tuân theo quy củ thường hằng, mọi người đều thể tuân thủ, nên “tuy trăm năm vẫn có thể biết”. Tại Trung Quốc, từ nhà Hán trở đi, quốc gia thi hành giáo dục Khổng Mạnh, lấy giáo huấn của Khổng Mạnh làm chuẩn mực cho tư tưởng, kiến giải và hành vi của dân chúng trong cả nước, trên từ đế vương, dưới đến thường dân. Tuy có khác biệt đôi chút, nhưng nói chung chẳng rời khỏi khuôn khổ cho mấy! V́ thế, tuy trăm đời vẫn có thể biết. Mọi người tuân thủ quy tắc thường hằng ấy. Hiện thời đả đảo tiệm buôn họ Khổng[1], Phật pháp cũng chẳng cần đến, vứt bỏ toàn bộ giáo huấn của thánh nhân, người có học vấn cũng chẳng biết chuyện ngày mai, cũng chẳng thể dự liệu được. V́ sao? Chẳng tiêu chuẩn để có thể dùng làm căn cứ dự đoán, chẳng có cách nào suy lường trước được! Thiên hạ đại loạn. Xă hội hiện thời là xă hội mất trật tự, trật tự chệch choạc; mất trật tự chỉ là thấy đôi chút bên ngoài; nh́n sâu hơn, đă chẳng có trật tự th́ c̣n mất trật tự ở chỗ nào? Mất trật tự th́ phải có trật tự mới chệch choạc được. Chẳng có, c̣n mất ở chỗ nào nữa đây?

      Giống như trong quá khứ, có rất nhiều người đến hỏi tôi: “Người già qua đời, nên dùng lễ tiết như thế nào?Đối với tang lễtế lễ, hiện thời chẳng có lễ, quư vị thích làm như thế nào bèn làm như thế ấy! Chẳng có lễ, làm sao quư vị có thể nói là hợp lễ hay không? Hợp lễ hay không th́ phải có lễ mới th nóiđiều này hợp lễ, điều kia chẳng hợp lễ. Hiện thời chẳng có lễ, hợp lễ hay không đều chẳng nói được! Do đó, tại Đài Loan các đồng bào, khi người già qua đời, vẫn mặc sô gai, đó là lễ tiết từ đời Thanh. Có những người mặc áo dài đen, đó là lễ tiết của Cơ Đốc Giáo ngoại quốc. Trung Quốc lễ tiết hay không? Chẳng có! Nói thật thà, sau khi nhà Thanh vong quốc, lễ nghi Trung Quốc đă bị quên mất. Nói thật ra, chuyện đáng tiếc nuối nhất trong thời Dân Quốc chẳng thể chế định lễ nhạc. Trong lịch sử Trung Quốc, quư vị đọc hai mươi lăm bộ sử, [sẽ thấy] bất cứ triều đại nào, sau khi chánh quyền thành lập, sau khi thống nhất quốc gia, trong ṿng năm năm, chắc chắn hoạch định lễ nhạc, khiến cho toàn thể xă hội khôi phục trật tự b́nh thường, người trong cả nước, bất cứ ai, chẳng phân biệt là sang hay hèn, ắt đều phải tuân thủ.

      Cổ đức chế định lễ nhạc, dựa trên điều ǵ? Hết sức gần gũi với những điều được nói trong Phật pháp: Dựa vào Tánh Đức! Nói cách khác, lễ nhạc đều nhằm phát huy, hoằng dương Tánh Đức. Công tác này được khởi sự bởi Khổng lăo phu tử. Cống hiến vĩ đại nhất của Khổng lăo phu tử đối Trung Quốcsan định thi thư. Khổng lăo phu tử không cầm quyền, đương nhiên chẳng thể chế định lễ nhạc. Chế định lễ nhạc phải là người đang cầm quyền. Người chế định lễ nhạc Châu Công, vị này rất giỏi. Châu Công đại thánh nhân, một vị là thánh nhân cầm quyền, vị kia là thánh nhân chẳng cầm quyền; nhưng Khổng lăo phu tử dùng thân phận vô địa vị, đă có cống hiến lớn nhất trong việc truyền bá lễ nhạc và giáo học lễ nhạc. Châu Công chế định, Khổng Tử hoằng dương, lưu thông. Nhất Khổng Tử chu du liệt quốc, dạy học khắp nơi, ảnh hưởng không chỉ trong một nước. Do thuở ấy, quốc gia chưa thống nhất, nhưng Ngài dạy học hết sức rộng khắp. Nói thật ra, chế độ [lễ nhạc] của Châu Công được phổ biến toàn quốc nhờ vào công sức tuyên dương mạnh mẽ của Khổng Tử. Đức lớn thật sự của Khổng lăo phu tử là tuyên dương thánh giáo. Nếu thánh giáo chẳng thể phổ biến tuyên dương, sẽ chẳng thể phổ biến lợi ích chúng sanh. Dẫu tốt đẹp đến mấy, chỉ lợi ích mấy người, chỉ có phạm vi trong một khu vực rất nhỏ, chẳng thể phổ cập hết thảy chúng sanh.

      SởThích Ca Mâu Ni Phật đại, v́ thuở sanh tiền, lăo nhân gia chưa từng có lúc nghỉ ngơi. Trong toàn cơi Ấn Độ, địa bàn Ấn Độ khá lớn, từ kinh điển, chúng ta thấy Thích Ca Mâu Ni Phật phía Bắc từ núi Hỷ Mă Lạp Nhă (Himalayas), phía Nam cho đến đảo Tích Lan (Sri Lanka), tại các thành thị nổi tiếng của Ấn Độ, đức Phật đều giảng kinh nơi ấy, đúng phổ biến giáo hóa. Sau khi đức Phật diệt độ, các đệ tử của Ngài lại truyền bá Phật pháp khắp thế giới, đó là công đức chân thật. Chúng ta phải nên biết điều này, phải nên phỏng theo. Nay chúng ta được lợi ích nơi Phật pháp, phải dùng phương pháp nào khiến cho hết thảy chúng sanh cùng được hưởng lợi ích!

 

      (Sao) Lục Định giả, phát chư Thiền Định thời, thiện năng giác liễu chư Thiền hư giả, bất sanh kiến ái cố.

() 者,發 時,善 假,不 故。

(Sao: Sáu là Định, khi phát khởi các Thiền Định, có thể khéo giác ngộ, hiểu rơ các môn Thiền là hư giả, chẳng sanh ḷng yêu thích).

 

      Tu hành, bất luận là chánh pháp hay pháp, Phật đạo hay ngoại đạo, đều thể đắc định. “Định”chuyên tâm, pháp thế gianxuất thế gian pháp đều Thiền Định. Đă đắc định, quả thật đều có thể khai trí huệ. Thiền Định thế gian sẽ sanh trí huệ thế gian; Thiền Định xuất thế gian sẽ sanh trí huệ xuất thế gian. Pháp thế gianxuất thế gian đều coi trọng Định. Quư vị có thể bỏ sạch năng kiến và sở kiến, tâm đă thanh tịnh, rất d đắc định, định cảnh sẽ hiện tiền.

 

      (Diễn) Kư x sở kiến chi cảnh, tắc năng phát chư Thiền Định.

      () 境,則 定。

      (Diễn: Đă có thể bỏ cảnh trông thấy, sẽ có thể phát sanh các Thiền Định).

 

      Chư () là nhiều thứ. Chủng loại Thiền Định rất nhiều.

 

      (Diễn) Nhiên Thiền duyệt thần, năng sanh ái trước.

       () 神,能 著。

      (Diễn: Nhưng do niềm vui Thiền Định có thể bồi bổ tinh thần, nên [hành giả] có thể sanh ḷng đắm).

 

      dưỡng (資養: vun bồi, bồi đắp), thần () tinh thần. Người có công phu Thiền Định chẳng cần ăn uống, chẳng cần ngủ nghỉ, tinh thần no đủ, Thiền Duyệt làm thức ăn mà! thế, để vun đắp, bồi bổ thân thể, thứ ǵ bổ nhất? Thiền Định bổ nhất. Bất cứ thuốc bổ nào trong thế gian đều chẳng sánh bằng Thiền Định và tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh không chỉ bảo đảm quư vị trăm bệnh chẳng sanh, c̣n là tinh thần no đủ, giữ măi tuổi xuân, trường sanh bất lăo, quư vị thấy tốt đẹp lắm! Nhưng người ta hễ đạt cảnh giới ấy bèn tham ái; hễ tham đắm Thiền Định th́ sai mất rồi, v́ sao? Tham đắm Thiền Định th́ Định chẳng thể phát huy, công phu định lực chẳng thể tiến triển cao hơn nữa. V́ thế, đức Phật đặc biệt nhắc nhở chúng ta: Quyết định chớ nên tham đắm!

 

      (Diễn) Cố tu giác liễu Thiền Định hư ngụy. Dĩ định, đối động nhi hữu, động kư thị vọng, định khởi thị chân? Vật sanh đam nhạo cố.

() 偽。以 ,對 有,動 妄,定 真,勿 故。

(Diễn: V́ thế, cần phải giác ngộ, hiểu rơ Thiền Định ngụy. Định tương ứng với động mà có. Động đă là vọng, há Định là thật? Do đó, chớ sanh ưa đắm).

 

      Thiền Định chân lạc! Sự thọ dụng, niềm vui ấy, bất cứ sự vui sướng nào do hưởng th trong thế gian đều chẳng thể sánh bằng! Nhưng sự vui sướng ấy vẫn chẳng phải là thật, sao? Chưa kiến tánh! Bao nhiêu người tu hành đạt đến cảnh giới ấy liền chấp trước vào chỗ này, nên công phu chẳng thể tiến triển, vẫn biến thành giải đăi, đọa lạc, cho nên phải xả! Trong chương Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm đă nói về “lục kết, tam không”[2], [lục kết] là Động, Tĩnh, Căn, Giác, Không, Diệt; Định là điều thứ hai (tức Tĩnh). Trong sáu tầng lầu, mới lên được tầng thứ hai, người ấy đă rất thỏa ư, liền tham đắm. Giải khai lục kết mới địa vị Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo, phá một phẩm minh, thấy một phần chân tánh, thật sự chẳng dễ dàng! Trong pháp môn Niệm Phật, sáu kết đều giải khai th́ mới là nhất tâm bất loạn. Bắt đầu từ Định, [tức là] Định, Căn, Giác, Không, Diệt, khi Diệt chưa phá th́ đều gọi là Sự nhất tâm bất loạn. Nếu nói miễn cưỡng, Định là Tĩnh, Tĩnh thuộc về công phu thành phiến. Tu các pháp môn khác, cảnh giới ấy chẳng tác dụng, không thoát khỏi tam giới.

      Dẫu cho Tứ Thiền, Bát Định đă đạt đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, vẫn đềuThiền Định thế gian, chẳng thể đột phá, rất khó thành tựu. Người có công phu định lực sâu, thể hễ ngồi xếp bằng bèn ngồi hai tuần hoặc ba tuần chẳng xuất định, thậm chí ngồi đến hai, ba tháng; công phu càng sâu hơn có thể ngồi hai ba năm chẳng xuất định. Hữu dụng hay không? Chẳng thoát khỏi tam giới. Nếu người tu pháp môn Tịnh Độ, có công phu như vậy, quyết định văng sanh! Pháp môn này thù thắng. Trong pháp môn này, nếu đắc định, sẽ công phu thành phiến. Quư vị thể bỏ hết thảy động thái, tâm bèn đạt được thanh tịnh. V́ thế, bảo quư vị chớ nên chấp trước. Chẳng chấp trước, cảnh giới của quư vị thể tăng lên không ngừng, nhất định sẽ tăng cao đến mức toàn bộ sáu kết giải khai. Sanh diệt diệt, tịch diệt hiện tiền(Sanh diệt đă diệt, tịch diệt hiện tiền), kinh Lăng Nghiêm nói như vậy. Tịch diệt hiện tiền là Định ǵ? Đó là Tánh Định xuất hiện, chân thật. Trước khi diệt hết sanh diệt, định của quư vị không thoát khỏi phạm vi của A Lại Da thức thứ sáu là ư thức, Định ấy chẳng phải là thật.

      đây nói: Động thị vọng, định khởi thị chân” (động đă là vọng, há định là thật?). Định chẳng phải là thật, đương nhiên định ấy thuộc về Lục Kết đă nói trong kinh Lăng Nghiêm, tức là Tĩnh, Căn, Giác, Không, Diệt, nói một chữ Định đă bao gồm trọn hết. Kinh Lăng Nghiêm nói cặn kẽ, nói ra năm chữ. Đấy là công phu Định cạn hay sâu, nhưng thảy đều ở trong tâm ư thức, chẳng phải bản tánh, nên chẳng phải thật. Đến khi sanh diệt đă diệt, tịch diệt hiện tiền, sẽ là tánh định, đó thật, Thể của nó là Chân Như, Thể là tự tánh. C̣n Thể [của Định trước khi sanh diệt đă diệt”]tám thức, thức thứ sáu tức ư thức, nên chẳng phải là thật. Nói thật ra, những điều này khá vi tế, cũng chính là tiêu chuẩn như đă nói trong phần trước: Hễ tương ứng với chân tánh, [những ǵ mà] Thể [của chúng] là chân tánh, [th́ sẽ là] Tánh Đức, đó là chân. [Những ǵ mà] Thể [của chúng] chẳng phải là Tánh Đức th́ đều là vọng. vọng th́ đương nhiên phải xả, đương nhiên chớ nên chấp trước.

 

      (Sao) Thất niệm giả, tu xuất thế đạo thời, thiện năng giác liễu, thường sử Định Huệ quân b́nh.

() 者,修 時,善 了,常 使 平。

(Sao: Bảy là Niệm, khi tu đạo xuất thế, có thể khéo giác ngộ, hiểu rơ, thường khiến cho Định và Huệ quân b́nh).

 

      “Niệm” có nghĩa là Định và Huệ giữ cân bằng, Định và Huệ phải b́nh đẳng. Bất b́nh đẳng sẽ mắc khuyết điểm ǵ?

 

      (Sao) Nhược tâm trầm một, đương niệm dụng Trạch, Tấn, Hỷ tam chi, sát nhi khởi chi.

      () 沒,當 支,察 之。

(Sao: Nếu tâm ch́m đắm, hăy nên nghĩ dùng ba giác chi là Trạch Pháp, Tinh Tấn, và Hỷ để soi xét, khiến cho cái tâm phấn chấn).

 

      Nay chúng ta gọi “trầm một” (沈沒) là hôn trầm, tinh thần chẳng thể phấn chấn nổi, muốn dụng công nhưng ngủ gật. Trong Phật Thất, điều này dễ thấy nhất. Vừa chỉ tĩnh, rất nhiều người liền ngủ gục, thậm chí ngáy o o, đó là hôn trầm. Thông thường, chúng ta công phu chẳng thể đắc lực do hai căn bệnh lớn: Một là vọng niệm rất nhiều; haichẳng vọng niệm, nhưng ngủ gục. Kinh hành th́ vừa đi vừa ngủ gật, thậm chí khi lạy Phật, họ cũng ngủ gật. Khi lạy xuống, gần cả buổi chẳng đứng lên, người ấy đang ngủ ở đó, ngủ một chốc, bừng tỉnh mới lồm cồm ḅ dậy. Hôn trầm bệnh. Quư vị dùng Trạch Pháp để tuyển chọn một phương pháp khác. Ví dụ như ngồi một chỗ bị hôn trầm, ta đứng dậy lễ Phật, hoặc là đứng dậy kinh hành. Kinh hành chầm chậm vẫn không được, phải đi nhanh. Tấn là tiến lên, chẳng lùi. Hỷ là pháp hỷ sung măn, hễpháp hỷ, bèn lên tinh thần. Chẳng pháp hỷ, tinh thần chẳng thể nào phấn khởi được! Dùng ba phương pháp ấy có thể xóa sạch hôn trầm, [lời Sao đây] dạy cho chúng ta phương pháp sử dụng [nhằm khắc phục hôn trầm]. V́ thế, Trạch Pháp, pháp rất nhiều, pháp nào có thể đối trị căn bệnh hiện tiền của chúng liền ngay lập tức chọn lấy.

      Do vậy, tu hành, đại chúng cùng nhau cộng tu, nếu dùng nghi thức cộng tu sẽ rất khó khăn, v́ sao? Mỗi cá nhân, nhất là cộng tu trong Phật môn, tuổi tác khác nhau, t́nh trạng thân thể khác nhau. Lạy Phật th́ người trẻ tuổi thể lực tốt, thích lạy mau, lạy nhiều; người lớn tuổi lạy một lạy phải mất một lúc lâu, làm sao có thể theo kịp được? V́ thế, chúng tôi mới suy nghĩ một phương pháp, tuy cùng nhau cộng tu, nhưng là mỗi cá nhân tu, cách này cũng rất tự tại. Lạy Phật không cần gơ dẫn khánh, mỗi người tự lạy. Quư vị thích lạy mau th́ lạy mau, quư vị thích lạy chậm liền lạy chậm, mọi người chẳng cần lạy chung với nhau. Khi cùng nhau lạy theo tiếng dẫn khánh, người lạy mau sẽ hiềm quá chậm, người lạy chậm sẽ ngại quá nhanh, trong tâm dấy lên phiền năo. Do đó, ở nước ngoài, chúng tôi đề xướng niệm Phật, chỉ đề xướng cùng dùng một thứ thanh điệu để niệm Phật, c̣n kinh hành nhanh hay chậm, thời gian chỉ tĩnh dài hay ngắn, lạy Phật nhanh hay chậm, tùy ư mỗi nhân, chúng tôi nhất loạt chẳng dùng pháp khí. Do đó, mỗi nhân đều hoan hỷ, vui vẻ, chẳng bị buộc.

      Tôi vốn nghĩ phương pháp này do chính ḿnh nghĩ ra; về sau, đọc sách của cổ nhân, thấy vị tổ thứ mười của Tịnh Tông Hành Sách đại đă áp dụng cách này. Ngài Hành Sách là người sống trong niên hiệu Càn Long nhà Thanh. Phương pháp ấy hết sức thích hợp cho người hiện thời tu học. Người hiện thời công việc bận bịu, thời gian để cho người ta thật sự tu hành chẳng dài. Nếu có rất nhiều nghi thức, rất nhiều bó buộc, chúng ta cảm thấy rất bất tiện. V́ thế, pháp môn phải xem xét nhân tố trong hoàn cảnh hiện thực, phải nên dùng phương pháp ǵ khiến cho thân tâm của chúng ta t tại, thật sự đạt được pháp hỷ; đó là căn cứ để chúng ta chọn lựa.

 

      (Sao) Nhược tâm phù động.

      () 動。

      (Sao: Nếu tâm chao động).

      “Phù động” là vọng niệm quá nhiều. Không niệm Phật, chẳng có vọng niệm; càng niệm, vọng niệm càng nhiều. Đó cũng là chuyện phiền toái.

 

      (Sao) Đương niệm dụng Trừ, Xả, Định tam chi, nhiếp nhi phục chi, niệm niệm điều ḥa, sử trung thích cố .

      () 支,攝 之,念 調 和,使 故。

(Sao: Hăy nên nghĩ dùng ba giác chi là Trừ, Xả, và Định để nhiếp phục, niệm niệm điều ḥa, sao cho vừa phải, thích đáng).

 

      Huệ nhiều, Định ít! Huệ nhiều vọng niệm, phân biệt huệ, chẳng phân biệt Định. Định Huệ phải cân bằng th́ công phu cũng rất đúng nề nếp, lệch về bên nào sẽ đều không được. Huệ nhiều hơn Định dấy vọng tưởng, vọng tưởng rất nhiều. Định nhiều hơn Huệ bèn buồn ngủ, tinh thần không thể phấn chấn nổi. Đây là hai căn bệnh thường thấy nhất, rất nhiều đồng học mắc phải. Mắc phải cũng đừng sợ. Từ xưa tới nay, vào thời Thích Ca Mâu Ni Phật, các đệ tử cũng như vậy. Vấn đề là bản thân chúng ta phải biết điều ḥa cái tâm. Ví như trong lúc hôn trầm, kinh hành hoặc lạy Phật phương pháp, c̣n một phương pháp nữa là lớn tiếng niệm Phật. Khi vọng niệm nhiều, ắt phải dùng công phu Định, hoặc niệm Phật. Chúng ta thường nói là “truy đảnh niệm Phật, thể niệm Phật hiệu với tốc độ nhanh hơn. Câu này nối tiếp câu kia, khiến cho vọng niệm chẳng dễ dàng dấy lên; những cách ấy đều là phương pháp. Đối với các loại phương pháp, chính ḿnh có thể thí nghiệm một phen, phương pháp nào hữu hiệu, liền vận dụng phương pháp đó. thế, Niệm điều chỉnh công phu tu học chúng ta, chọn lựa phương pháp là đối với bảy loại trước đó, dùng một loại cũng được, dùng hai loại cũng được, dùng ba loại cũng được. Dùng hai loại đồng thời cũng được, dùng ba loại đồng thời đều có thể. Đức Phật nêu ra nguyên tắc cho quư vị tham khảo, khiến cho chúng ta trong khi dụng công chẳng đến nỗi hôn trầm, chẳng đến nỗi trạo cử. Hôm nay chúng tôi giảng đến chỗ này!

 

Tập 166

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang ba trăm năm mươi bảy:

 

      (Sớ) Bát Thánh Đạo giả, diệc danh Bát Chánh Đạo, diêu tiền trạch pháp, cố nhập chánh đạo. Vị nhất Chánh Kiến, nhị Chánh Tư Duy, tam Chánh Ngữ, tứ Chánh Nghiệp, ngũ Chánh Mạng, lục Chánh Tinh Tấn, thất Chánh Niệm, bát Chánh Định.

      (Diễn) Do tiền thất chi trạch pháp, năi đoạn Kiến Hoặc, tức nhập thánh đạo. Thánh giả, chứng dă, cố diệc danh Chánh. Bát Thánh tự thể, tức Chánh Kiến đẳng, thử chi vi dụng, vi đoạn tu đạo chư phiền năo cố.

() ,亦 道。繇 法,故 道。謂 見,二 惟,三 語,四 業,五 命,六 進,七 念,八 定。

     () 法,乃 惑,即 道。聖 者,證 也,故 正。八 體,即 等,此 用,為 故。

       (Sớ: Bát Thánh Đạo c̣n gọi là Bát Chánh Đạo. Do trước đó đă chọn lựa pháp, nên nhập Chánh Đạo, tức là: Một là Chánh Kiến, hai Chánh Tư Duy, baChánh Ngữ, bốn là Chánh Nghiệp, năm là Chánh Mạng, sáu là Chánh Tinh Tấn, bảy là Chánh Niệm, tám là Chánh Định.

Diễn: Do Trạch Pháp trong Thất Giác Chi trước đó mà đoạn Kiến Hoặc, bèn nhập thánh đạo. Thánh là chứng, nên cũng gọi là Chánh. Tự thể của tám thánh đạo chính là Chánh Kiến v.v.., những điều c̣n lại Dụng, v́ nhằm tu đạo, đoạn các phiền năo).

 

      Lời giải thích ở đây nhằm thuyết minh ư nghĩa thông thường được bao hàm trong danh từ Bát Chánh Đạo (Āryaṣṭāṅgamārgaḥ). T lời chú giải, chúng ta biết tiêu chuẩn của Chứng là “đoạn Hoặc”. Trong pháp Tiểu Thừa, đoạn Kiến Hoặc bèn chứng Thánh Đạo, chứng đắc Quả. Quả thánh nhân, nên bốn quả từ Tu Đà Hoàn đến A La Hán đều gọi thánh nhân. Kinh thường nói tới ba thứ Bất Thoái, khi ấy, đă đạt V Bất Thoái, tuyệt đối chẳng lui sụt xuống địa vị phàm phu. Từ đó trở đi, bảy lần qua lại trong cơi trời và nhân gian, nhất định chứng quả A La Hán. Nếu lần thứ bảy sanh trong nhân gian, mà nhân gian chẳng Phật pháp th́ sẽ như thế nào? Chẳng Phật pháp, vị ấy bèn thành Độc Giác, tứcBích Chi Phật, vẫn chứng quả, tuyệt đối chẳng cần chờ đến lần thứ tám. Do đó, bảy lần quyết định chứng quả. ĐóBát Chánh Đạo của Tiểu Thừa.

      Đối với Đại Thừa, bộ kinh này là đại pháp viên đốn. Đại Thừa Viên Giáo cũng nói đoạn Kiến Hoặc. Đă đoạn Kiến Hoặc, bèn chứng đắc địa vị Tín Bồ Tát, cũng Vị Bất Thoái. Tịnh Tông thường nói tới tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tiêu chuẩn hay không? Có! Tiêu chuẩn thấp nhất đoạn Kiến Hoặc, tiêu chuẩn cao hơn một tầng là đoạn Hoặc. Đă đoạn Kiến Hoặc Sự nhất tâm bất loạn. Chư vị phải biết: Sự nhất tâm bất loạn cạn và sâu, đây là Sự nhất tâm ở mức độ cạn nhất. Địa vị Sự nhất tâm sâu nhất sẽ bằng A La Hán trong Tiểu Thừa, Hoặc cũng đoạn sạch. Tuy chẳng đoạn Kiến Hoặc, nhưng có năng lực khuất phục chúng, tức là Kiến phiền năo chẳng khởi tác dụng, chúng c̣n có hay không? Có! Chưa đoạn! Nhưng một câu Phật hiệu đắc lực, Phật hiệu thể khuất phục phiền năo, khiến cho phiền năo chẳng khởi tác dụng, đó gọi là “công phu thành phiến”. năng lực ấy, quyết định đới nghiệp văng sanh, sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Nếu đắc Sự nhất tâm bất loạn, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, cơi Phương Tiện Hữu Dư. thế, [người văng sanh về] cơi Phương Tiện Hữu đều người chứng quả, mức độ thấp nhất cũng là chứng đắc Quả.

Do trạch pháp trong phần trước, Thất Bồ Đề Phần chọn lựa pháp môn; trong lượng biên pháp môn, quư vị tự ḿnh chọn lựa. Sau khi đă chọn lựa chắc chắn, bèn dùng sáu chi c̣n lại để giúp quư vị tu học thành tựu; nhưng trong tu học, nhất định phải chú trọng đoạn phiền năo. Phiền năo chẳng đoạn, chẳng thể coi là thành tựu, chư vị ngàn vạn phần phải ghi nhớ điều này. Chúng ta tu hành, tu học một thời gian dài, nhưng chẳng đạt được hiệu quả tu học mong đợi, nguyên nhân do chúng ta đă sơ sót chuyện đoạn Hoặc, nhất là người hiện thời, người hiện thời tu học ǵ? Do giáo dục phổ cập, mọi người học hành mấy ngày đều nhận biết mấy chữ, nên tu hành biến thành tu văn tự Phật pháp! Tu văn tự Phật pháp nhiều, không chỉ chẳng có lợi, mà c̣n biến thành văn tự chướng. Dẫu quư vị thành tựu, nhưng thành tựu lớn nhất là trở thành một nhà Phật học, hoặc tiếnPhật học, như vậy mà thôi! Một phẩm Kiến phiền năo cũng không đoạn. Không chỉ chẳng thể đoạn, mà c̣n tăng trưởng, sao? Học vấn to lớn, mắt trợn ngược lên đỉnh đầu, xem thường kẻ khác, kiêu căng, ngă mạn, học Phật bèn học thành như vậy, rất đáng tiếc! Chúng ta thấy cổ đại đức tu học chú trọng đoạn phiền năo, đoạn tập khí, phải diệt trừ tập khí phiền năo. Kinh luận hiểu nhiều hay ít chẳng sao cả, thậm chí kinh luận chẳng thông chút nào, nhưng người ta đoạn sạch Kiến phiền năo, chứng quả thành thánh nhân.

      Các đồng tu nghe giảng với tôi đều đă nghe kể chuyện một bạn học của lăo pháp sư Đàm Hư. Học tṛ, tức đồ đệ của lăo ḥa thượng Đế Nhàn, xuất thân là một người làm việc nặng, chẳng biết chữ nào, cũng chưa nghe giảng kinh lần nào, cuộc sống rất khổ, cuộc sống khổ sở đến mức sống không nổi, bèn t́m pháp sư Đế Nhàn, muốn theo Ngài xuất gia. PhápĐế Nhàn chỉ dạy ông ta sáu chữ Nam-mô A Di Đà Phật; ông ta rất thật thà, rất nghe lời. Suốt ngày từ sáng đến tối niệm một câu Nam-mô A Di Đà Phật, niệm đă mệt bèn nghỉ ngơi. Nghỉ khỏe khoắn rồi lại niệm, người ta niệm ba năm bèn đứng văng sanh. Biết trước lúc mất, chẳng ngă bệnh, đứng mất, sư phụ là lăo pháp sư Đế Nhàn c̣n chẳng bằng ông ta! Lăo pháp Đế Nhàn thông Tông, thông Giáo, là một vị tổ sư thuở ấy mà cũng chẳng bằng ông ta, thật đấy! Chẳng giả tí nào! Sau khi đă chết c̣n đứng sững ở đó ba ngày, chờ lăo ḥa thượng đến lo liệu hậu sự cho ḿnh, chẳng đơn giản!

      Do vậy, thể biết, kinh giáo học cho nhiều, chẳng hay ho ǵ! Tu học Phật pháp là khiến cho tâm thật sự thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần, tu giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ chẳng nhiễm. Những kinh điển có tác dụng ǵ? Kinh điển nhằm khuyên quư vị tin tưởng! Do quư vị không tin, nên đức Phật mới buốt ḷng rát miệng khuyên bảo, giảng những đạo lư to lớn ấy. Đă tin tưởng, chẳng cần kinh nữa, tức là chẳng có tác dụng lớn lao ǵ! Kinh giúp quư vị khởi tín, giúp quư vị hiểu lư, đoạn Hoặc, sanh tín, có tác dụng như vậy. Huống hồ từ xưa tới nay, khi Thích Ca Mâu Ni Phật bắt đầu giáo học, người nào hướng về đức Phật nêu câu hỏi, xin Thích Ca Mâu Ni Phật khai thị, những lời Ngài nói với kẻ ấy về sau được ghi chép trở thành kinh. Kinh điển do đâu mà có? Do như thế mà có. Kinh điển chẳng phải là nói với hết thảy mọi người, mà là chuyên nói với đối tượng đặc biệt, nhất định nào đó. Giống như bác đơn thuốc, sau khi đă chẩn đoán, bèn kê toa thuốc cho quư vị. Toa thuốc ấy kê cho quư vị, chẳng phải toa cho ai khác. Chúng ta có sự hiểu biết thông thường như thế này: Quư vị bị bệnh, bác bèn kê toa thuốc; tôi có bệnh, chắc chắn chẳng dựa theo toa thuốc của quư vị để uống. Tam Tạng kinh điển của đức Phật các toa thuốc thuở ấy. Chỉ có một toa thuốc có thể thông dụng cho hết thảy chúng sanh, toa thuốc A Di Đà Phật, chẳng có đối tượng riêng biệt, nhất định. Từ Đẳng Giác Bồ Tát cho tới chúng sanh trong địa ngục, hết thảy chúng sanh thảy đều hữu hiệu. Cổ nhân gọi toa thuốc đặc biệt ấy là “môn dư đại đạo”, môn tám vạn bốn ngàn pháp môn. “Môn dư” (門餘) là một pháp môn đặc biệt ở ngoài tám vạn bốn ngàn pháp môn, chẳng phải dành riêng một loại đối tượng đặc biệt, nhất định nào, nó hữu dụng trọn khắp!

      Đối với Bát Chánh Đạo th́ trong mỗi tông đều có Bát Chánh Đạo, mỗi pháp môn cũng Bát Chánh Đạo. dụ như pháp môn Niệm Phật giải thích Bát Chánh Đạo sẽ chẳng giống như cách giải thích của Giáo Hạ, cũng chẳng giống với cách giải thích của Thiền Tông, chúng ta nhất định phải biết điều này. Ở đây, cách giải thích của Liên Tŕ đại tuân theo cách giải thích thông thường, không giới hạn trong một tông nào, hoặc một pháp môn nào, chỉ giải thích ư nghĩa được bao hàm trong tám danh từ ấy; nhưng chư vị phải hiểu: Chúng ta chọn lựa một pháp môn nào, tu học một pháp môn nào, cách giải thích sẽ khác nhau. Ngài giải thích quá nửa là dùng theo cách của Pháp Tướng Tông, Pháp Tướng Tông là nói theo đường lối thông thường.

 

      (Sao) Nhất, Chánh Kiến giả, Tạp Tập vân: Nhược giác chi thời, sở đắc chân giác, dĩ huệ an lập, đế lư phân minh, vô hữu thác mậu cố.

() 一、正 者,雜 云:若 時,所 覺,以 立,諦 明,無 故。

(Sao: Một là Chánh Kiến, luận Tạp Tập nói: “Nếu khi tu giác chi, đă đạt được chân giác, dùng huệ để kiến lập vững vàng, hiểu rành rẽ đế lư, chẳng bị sai lầm”).

 

      Tạp Tập Luận[3] luận điển của Pháp Tướng Tông.

 

      (Diễn) Nhược tu Giác Chi, sở đắc Chân Giác.

       () 支,所 覺。

      (Diễn: Nếu tu Giác Chi, đạt được chân giác).

 

      Giác Chi Thất Giác Chi, quan trọng nhất trong Thất Giác Chi Trạch Pháp Giác Chi. Q vị chọn lựa pháp môn này là chánh xác, đó chân giác.

 

      (Diễn)trí an lập.

      () 立。

      (Diễn: Dùng trí để an lập).

 

      Tâm trí của quư vị an trụ trong pháp môn này, ư nghĩa này nhằm nói tới sự chuyên tu. Sau khi đă chọn quyết định pháp môn này bèn chuyên tu. Chuyên tu trí huệ. Chẳng có trí huệ, sẽ không thể chuyên. trí huệ th́ người ấy mới có thể chuyên tu, biết pháp đă được chọn chẳng sai lầm, chọn lựa rất chánh xác. sao biết là chánh xác?

 

      (Diễn) Ngă sở đắc giả, dữ Tu Đa La hợp da? Bất dữ Tu Đa La hợp da? Tất linh đế lư phân minh, vô hữu thác mậu.

() 者,與 耶?不 耶?必 明,無 謬。

(Diễn: Điều ta đạt được phù hợp Kinh Tạng ư? Chẳng phù hợp Kinh Tạng ư? Ắt hiểu rơ Đế Lư, chẳng lầm lạc).

 

      Tiêu chuẩn để chọn lựa chánh xác phải dựa theo kinh. Tu Đa La (Sūtra) kinh điển. Nếu giống với các luận, phương pháp,cảnh giới được nói trong kinh điển th́ là tương ứng, chẳng sai lầm. Ắt phải hiểu rành rẽ đế lư, quyết định chẳng sai lầm. Kiến giải ấy là chánh tri chánh kiến. Cách nói này đích xác là áp dụng chung cho hết thảy các pháp môn, chung cho hết thảy các tông phái. Nếu nh́n lại, chúng ta tu Tịnh Độ Tông, Chánh Kiến (Samyag-dṛṣṭi) được giảng như thế nào? Nói từ ch thiển cận nhất, cũng là nói khẩn yếu nhất, [Chánh Kiến trong Tịnh Độ Tông là] quyết định tin tưởng Tây Phương Cực Lạc thế giới thật sự có, tin tưởng A Di Đà Phật cũng thật sự có, tin tưởng A Di Đà Phật đă phát ra bốn mươi tám đại nguyện, nguyện nào cũng chân thật, nguyện nào cũng viên măn. Chúng ta nương theo bốn mươi tám nguyện, vâng theo lời Thích Ca Mâu Ni Phật khuyến cáo mà tín nguyện niệm Phật, trong tương lai quyết định văng sanh, cách nh́n ấy là đúng. V́ sao biết là đúng? [Dựa trên] ba kinh hoặc năm kinh Tịnh Độ, điều được nói trên đây phù hợp Tu Đa La! Hiểu rành mạch, rơ ràng đạo lư, phương pháp, cảnh giới (sự tướng) trong ấy, quyết định chẳng sai lầm. Huống hồ trước mắt chúng ta đă thấy rất nhiều trường hợp.

      Trong phần sau của Niệm Phật Luận, lăo pháp sư Đàm Hư đă nhắc tới ba trường hợp văng sanh. Trước hết, sư Tu Vô là người xuất gia. Trước khi xuất gia, sư Tu Vô xuất thân là cu-li, mù chữ. Về sau xuất gia, Sư chuyện ǵ cũng chẳng biết làm, liền niệm A Di Đà Phật. Đàm lăo pháp là một người rất lỗi lạc, Phật pháp ở miền Đông Bắc Trung Quốc do lăo nhân gia hưng khởi, miền Đông Bắc có chín ngôi chùa do Ngài dựng. Sau khi Ngài đă dựng xong chùa Cực Lạc ở Trường Xuân (Harbin), muốn mở giới đàn tại đó, thỉnh thầy Ngài là lăo ḥa thượng Đế Nhàn làm Đắc Giới Ḥa Thượng. Sư Tu Vô phát tâm đến giới đàn giúp việc, chưa được một vài ngày đă muốn xin nghỉ. Sư nói: “Tôi phải đi”. Khi ấy, Giám Viện[4] là pháp sư Định Tây rất bực bội, quở trách: “Thầy là người chẳng có tâm thường hằng, chẳngtâm dài lâu. Mở giới đàn bất quá cũng hơn hai tháng mà thôi. Đă phát tâm giúp đỡ th́ giúp cho đến cùng, v́ sao mới vài hôm đă muốn đi rồi?” Sư đáp: “Tôi chẳng phải đến nơi khác, tôi sắp đến Tây Phương Cực Lạc thế giới”. Đây là chuyện lớn v́ c Đàm và Định Tây cũng đều tu pháp môn Niệm Phật, vừa nghe nói, chuyện này rất khó có, chẳng dễ dàng, bèn hỏi Sư: “Hôm nào thầy sẽ đi?” “Không quá mười ngày”. Nói xong, Sư bước ra, xin lăo ḥa thượng chuẩn bị cho Sư một căn pḥng, chuẩn bị mấy trăm cân củi để sau khi Sư văng sanh sẽ hỏa táng thân th này. Tới hôm sau, Sư lại đến t́m lăo ḥa thượng, thưa: “Con chờ không kịp! Con phải đi trong ngày hôm nay”. Pháp sư Định Tây luống cuống, vội vă t́m một gian pḥng trống ở phía sau, kê giường tạm thời, t́m mấy người đến trợ niệm. Sư chẳng sanh bệnh, vẫn khỏe mạnh. Người trợ niệm yêu cầu sư Tu Vô: “Thầy văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, phải nói kệ, lưu lại một bài thơ để làm kỷ niệm cho chúng tôi”. Sư nói: “Tôi xuất thân quê mùa, chưa từng học hành, cũng chẳng biết đặt kệ, bất quá tôi để lại lời thật thà cho mọi người”. Sư nói rất rơ ràng: “Năng thuyết, bất năng hành, bất thị chân trí huệ” (Nói được, chẳng làm được. Chẳng phải trí huệ thật). Cuối cùng nói một câu như thế. Mọi người niệm Phật cho Sư, chưa đầy một khắc, Sư đă qua đời. Một khắc là mười lăm phút! Chúng ta thấykhông sanh bệnh, biết khi nào ra đi, đứng đi, ngồi đi, những trường hợp sống động ấy bày ngay trước mặt, mà chúng ta vẫn chẳng tin tưởng, tức là ngu si đến cực điểm. Những người ấy cách chúng ta rất gần, lăo pháp sư Đàm viên tịch ở Hương Cảng. Hương Cảng Đông Lâm Niệm Phật Đường do pháp sư Định Tây kiến tạo; về sau, hai vị [Định Tây và Đàm Hư] đều đến Hương Cảng, gần như là sống đến chín mươi mấy tuổi mới văng sanh. Ảnh Trần Hồi Ức Lục là truyện kư của lăo pháp sư Đàm Hư, suốt đời Ngài chính mắt thấy người niệm Phật văng sanh, chẳng bị bệnh, biết trước lúc mất, ra đi tự tại, hơn hai mươi người! Ở Đài Loan cũng không ít người niệm Phật ra đi, chẳng bệnh mà mất, đứng mất, ngồi mất, không chỉ là hai mươi trường hợp! Chúng ta thật sự tin tưởng chuyện này, chẳng hoài nghi tí nào, đó là Chánh Kiến của người niệm Phật.

 

      (Sao) Nhị, Chánh Tư Duy giả, kiến thử lư thời.

      () 、正 者,見 時。

(Sao: Hai là Chánh Tư Duy, khi thấy lư ấy).

 

      Chánh Tư Duy (Samyak-saṃkalpa) do Chánh Kiến mà có, quư vị thấy đạo lư ấy.

 

      (Sao) Vô lậu tâm tương ứng, duy trù lượng, vị linh tăng trưởng nhập Niết Bàn cố.

      () 應,思 量,為 故。

      (Sao: Tương ứng với tâm vô lậu, suy nghĩ, trù tính, nhằm tăng trưởng nhập Niết Bàn).

 

      duy điều ǵ? Tư duy chân lư, đây là cách nói theo đường lối thông thường. “Vô lậu tâm” là giác tâm, chánh tâm, thanh tịnh tâm, niệm niệm tương ứng với giác, chánh, tịnh; như vậy th́ mới có thể hướng đến Đại Niết Bàn. Trong pháp môn Tịnh Độ, Chánh Duy là duy lượng hạnh nguyện của A Di Đà Phật, tư duy công đức tiếp dẫn hết thảy chúng sanh của A Di Đà Phật, duy khi A Di Đà Phật tu nhân đă phát đại tâm. Những điều ấy hoàn toàn có trong kinh Vô Lượng Thọ và kinh Di Đà; chúng ta đọc tụng kinh điển Chánh Tư Duy. Lăo Hạ Liên đă biên soạn bộ Tịnh Tu Tiệp Yếu, hiện thời, có chẳng ít người nương theo phương pháp ấy để tu hành. Trong đó, có tất cả ba mươi hai lạy, trong mỗi lạy đều Chánh Tư Duy, nội dung duy yếu nghĩa” (nghĩa quan trọng, chủ chốt) trong ba kinh Tịnh Độ, cùng hay. Đó là Chánh Tư Duy trong Tịnh Độ Tông.

 

      (Sao) Tam, Chánh Ngữ giả, bất duy tâm vô tà tư, dĩ vô lậu trí, nhiếp khẩu tứ nghiệp, trụ tứ thiện ngữ cố.

() 三、正 者,不 思,以 智,攝 業,住 故。

(Sao: Ba là Chánh Ngữ, không chỉ là tâm không suy nghĩ tà vạy, mà c̣n dùng vô lậu trí để khéo nhiếp bốn nghiệp nơi miệng, khiến chúng trụ trong bốn thiện ngữ).

 

      Điều này hết sức trọng yếu. Tạo nghiệp th́ so giữa ba nghiệp, tạo khẩu nghiệp nhiều nhất nặng nhất. sao thể tạo khẩu nghiệp nhiều nhất, nặng nhất? Tập khí từ vô thỉ kiếp tới nay! Nói dối, nói đôi chiều, ác khẩu, nói thêu dệt chẳng hay chẳng biết, suốt ngày từ sáng đến tối đều phạm, tập khí quá sâu! Người thật sự tu đạo, không chỉ tâm chẳng ư nghĩ tà vạy, mà c̣n quyết định chẳng phạm khẩu nghiệp, phải nhiếp bốn khẩu nghiệp, trụ nơi bốn thiện ngữ. Bốn thiện ngữ không nói dối, không nói đôi chiều, không ác khẩu, không nói thêu dệt; đó là bốn thiện nghiệp thuộc về khẩu trong Thập Thiện Nghiệp Đạo. Tuy bốn thiện nghiệp nơi miệng rất trọng yếu, nhưng trọng yếu nhất vẫn là mội khối thiện tâm. Tâm thiện th́ lời lẽ đương nhiên là thiện. Nhưng khi mới học, thường thiện tâm, nhưng lời lẽ vẫn chưa tốt đẹp, do nguyên nhân nào? Tập khí. Người ấy trọn chẳng muốn nói dối, nhưng do tập khí [mà nói dối]. Xác thực là người ấy chẳng ác ư, nhưng do lâu ngày quen thói, tự nhiên chúng lộ ra. V́ vậy, ác nghiệp dễ đoạn, tập khí khó trừ. Đoạn ác nơi tâm địa, nhưng trong thân khẩu vẫn c̣n thường có những tập khí ấy, tập khí cũng phải đoạn trừ dần dần!

      Chánh Ngữ (Samyag-vāk) của người niệm Phật một câunam-mô A Di Đà Phật, câu này Chánh Ngữ. Trừ A Di Đà Phật ra, những lời lẽ chẳng cần thiết đều là ngữ, đều chẳng được gọi là Chánh Ngữ. Niệm niệm đều niệm A Di Đà Phật, quyết định chẳng tạo bốn loại khẩu nghiệp trước. Quư vị cùng người khác nói chuyện, “A Di Đà Phật, người ta hỏi quư vị điều ǵ? Trước hết là A Di Đà Phật, nói xong cũng A Di Đà Phật. A Di Đà Phật câu nói mở đầu, mà cũng là câu cuối cùng để kết thúc. Câu m đầu bằng A Di Đà Phật, câu kết thúc cũng bằng A Di Đà Phật; đó là Chánh Ngữ của người niệm Phật. Phải biết câu A Di Đà công đức chẳng thể nghĩ bàn; chẳng thâm nhập đại kinh sẽ không biết! Cổ nhân đă nói về câu Phật hiệu rất hay như sau: “Tâm năng niệm là Thỉ Giác, Phật hiệu được niệm Bổn Giác. Niệm Phật Thỉ Giác hợp với Bổn Giác, đó lậu trí.

 

      (Sao) Tứ, Chánh Nghiệp giả, dĩ vô lậu trí, trừ thân tam chủng nhất thiết tà nghiệp, trụ thanh tịnh thân nghiệp cố.

() 四、正 者,以 智,除 業,住 故。

(Sao: Bốn là Chánh Nghiệp, dùng vô lậu trí trừ hết thảy [những nghiệp thuộc về] ba loại tà nghiệp nơi thân, trụ trong thân nghiệp thanh tịnh).

 

      Chánh Nghiệp (Samyak-karmānta): Nghiệp tạo tác. Trong lúc đang tạo tác th́ gọi là Sự, sau khi đă tạo tác xong, kết quả [của sự tạo tác ấy] được gọi là Nghiệp. Quư vị tạo chuyện tốt, kết quả thiện nghiệp; quư vị tạo chuyện bất hảo, kết quả ác nghiệp. nghiệp bèn phải chịu báo, thiện nghiệp đạt thiện báo, ác nghiệp ắtác báo, quả báo thiện ác chẳng sai mảy may. Do đó, đức Phật dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật, niệm A Di Đà Phật được coi là nghiệp ǵ? Trong ba thiện đạo của lục đạo chẳng có A Di Đà Phật, trong ba ác đạo cũng chẳng A Di Đà Phật, chúng ta tạo nghiệp ấy không ở trong lục đạo luân hồi, lục đạo luân hồi chẳng nghiệp ấy. Nghiệp ấy tương ứng với Tây Phương Cực Lạc thế giới, nên Phật môn gọi nghiệp đă tạo của người niệm Phật là tịnh nghiệp”. Quư vị tạo nghiệp Tây Phương Tịnh Độ, đă tạo thành, đương nhiên quả báo ở tại Tây Phương Tịnh Độ, tốt lắm! Thế gian rất nhiều chuyện tốt, việc thiện, kinh Vô Lượng Thọ nói rất hay: “Túng nhiên cúng dường hằng hà sa số Phật, Bồ Tát, thánh nhân, bất như nhất niệm cầu Chánh Giác” (Dẫu cúng dường hằng sa số Phật, Bồ Tát, thánh nhân, chẳng bằng một niệm cầu Chánh Giác). Cúng dường Phật, Bồ Tát nhiều ngần ấy là tu thiện nghiệp. Thiện nghiệp th́ quả báo trong tương lai trong ba thiện đạo, không thoát khỏi tam giới. Kinh Vô Lượng Thọ nói “kiên dũng cầu Chánh Giác (kiên quyết, dũng mănh cầu Chánh Giác) nghĩa niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi. Đó mới là đại thiện chân chánh, đại thiện bậc nhất. Hy vọng các đồng tu phải giác ngộ; trong hết thảy các thiện pháp, niệm Phật là điều thiện bậc nhất, chẳng c̣n tạo những nghiệp khác nữa!

      báo Phật ân, chúng ta giới thiệu, đề cao, phổ biến công đức, lợi ích, pháp môn thù thắng bậc nhất này cho người khác, khuyên người khác hăy phổ biến tu học. Tuy làm, nhưng chẳng chấp tướng, không trở ngại sự thanh tịnh của ta. Nếu làm những chuyện này mà c̣n chấp tướng, sẽ gây trở ngại đối với chuyện văng sanh của chính quư vị. Có cần làm mọi việc hay không? Phải làm, phải nghiêm túc làm, nhưng làm mà chẳng chấp tướng. Bản thân ta trong mười hai thời một câu A Di Đà Phật, làm như vậy sẽ tương ứng với vô lậu trí. Làm nhưng không làm, không làm mà làm”. Sự nghiệp thành hay bại, lợi ích lớn hay nhỏ là do phước báo của chúng sanh, là duyên phận của mỗi cá nhân. Nếu nói theo kinh này, do thiện căn, phước đức, nhân duyên của mỗi người khác nhau, nên chúng ta chẳng cần phải bận ḷng! Quư vị ghim chuyện ấy trong tâm, do vướng mắc, công phu liền bị xen tạp, Phật hiệu bị gián đoạn. Phải nghiêm túc làm, nhưng đừng nên vướng mắc, chớ nên chấp trước, hết thảy tùy duyên, mặc cho tự nhiên, công đức ấy phần nào cũng viên măn!

      “Trừ thân tam chủng nhất thiết tà nghiệp” (trừ hết thảy các nghiệp thuộc ba loại tà nghiệp nơi thân), ba tà nghiệp nơi thân là giết, trộm, dâm. Không chỉ là ba thứ này chẳng thể làm, mà ba thứ ư niệm ác nghiệp cũng chớ nên sanh. Quư vị chẳng làm ba nghiệp ấy, thân sẽ thanh tịnh; ư niệm chẳng sanh, tâm liền thanh tịnh. Đương nhiên quan trọng nhất là tâm thanh tịnh, văng sanh chẳng phải là thân văng sanh, là tâm văng sanh. Thân thanh tịnh, tâm không thanh tịnh, vô dụng! Tâm thanh tịnh, thân không thanh tịnh, hữu dụng, quyết định thể văng sanh. sao? Tâm thanh tịnh, thân nhất định thanh tịnh; thân tâm thanh tịnh, thế giới liền thanh tịnh. Xác thực là y báo chuyển theo chánh báo! Chánh báo thân tâm. Do đó, nhất định phải đoạn trừ ác nghiệp. Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật giảng về Tam Phước, trong điều thứ nhất có “từ tâm bất sát, tu Thập Thiện Nghiệp, trừ giết, trộm, dâm nơi thân, những điều này đều thuộc trong Thập Thiện Nghiệp. Tam Phước điều kiện cơ bản để văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

 

      (Sao) Ngũ, Chánh Mạng giả, dĩ vô lậu trí, thông trừ tam nghiệp trung ngũ chủng tà mạng cố.

() 、正 者,以 智,通 故。

(Sao: Năm là Chánh Mạng, dùng trí vô lậu để trừ năm thứ tà mạng nơi ba nghiệp).

 

      Trong quá khứ, Chánh Mạng (Samyag-ājīva) nhằm chuyên nói với người xuất gia; hiện thời, kẻ tại gia cũng có phần. Người tại gia mở Phật đường, nói khó nghe là “mở tiệm buôn Phật” rất nhiều. Mở tiệm buôn Phật là tà mạng, chẳng phải Chánh Mạng. Trong phần tiểu chú, năm điều ấy được ghi rất rơ ràng, chúng ta phải đặc biệt đề cao cảnh giác, sao? Nếu quư vị phạm vào một điều, tuy trường trai niệm Phật, thậm chí giới luật tinh nghiêm, tương lai quả báo đều trong tam đồ. sao? H́nh dáng rất chân chánh, nhưng tâm tà, tâm bất chánh.

 

      (Diễn) Chánh Mạng giả, bất duy thân nghiệp thanh tịnh, dĩ vô lậu trí, thông trừ tam nghiệp trung ngũ chủng tà mạng thực, linh trụ chánh mạng cố.

() 者,不 淨,以 智,通 食,令 故。

(Diễn: Chánh Mạng không chỉ thân nghiệp thanh tịnh, mà do trí vô lậu, trừ hết năm loại kiếm sống tà mạng nơi ba nghiệp để trụ nơi chánh mạng).

 

      Thực() cách quư vị kiếm sống.

 

      (Diễn) Ngũ chủng tà giả, nhất, vị lợi dưỡng trá hiện kỳ đặc tướng, thuộc thân nghiệp

() 者,一、為 相,屬 業。

(Diễn: Năm thứ tà: Một là v́ lợi dưỡng bèn dối trá hiện tướng đặc biệt, lạ lùng. Điều này thuộc về thân nghiệp).

 

      Hiện thời, chẳng ít kẻ làm bộ làm tịch, hoặc trên thân tỏa ánh sáng, hoặc rời khỏi mặt đất ba thước, hiện dáng vẻ rất lạ lùng! [Tỏ lộ] có thần thông phi phàm, nhằm mục đích nào? Khiến cho mọi người đến cúng dường kẻ ấy, nên làm những tṛ ảo thuật đó! Nếu q vị hỏi: “Thân kẻ ấy có phóng quang hay không? Có phải là thân có thể rời khỏi mặt đất ba thước hay không?” Tôi nói cho quư vị biết, có thật đấy! Những chuyện ấy tuyệt đối chẳng phải là giả! một chút thuật th́ xác thực là có thể làm được. Tà thuật có thể có loại thần thông ấy, [người luyện] Khí Công cao minh cũng có thể làm được, chẳng phải là chuyện khó! Hiện thời, trong ngoài nước rất phổ biến, hễ gặp người xuất gia liền hỏi: “Quư vị có thần thông hay không?” Tôi giảng kinh ở Cựu Kim Sơn, gặp một người đến từ Đại Lục, ông ta dạy Khí Công tại Mỹ, cũng dùng Khí Công để chữa bệnh cho người khác. Tôi giảng kinh bên đó, ông ta đến nghe vài lần, ngồi ở dưới nói với các đồng tu: “Vị pháp sư này công phu bậc nhất, thuộc loại cao”. Tôi giảng xong, [các đồng tu bên ấy hỏi]: “Pháp sư! Ông đó nói thầy công phu, công. Tôi đáp: “Tôi luyện công phu là niệm A Di Đà Phật”. Ông ta nh́n vào khí sắc và tinh thần, nh́n từ chỗ ấy. Người luyện các công phu ấy, đại khái đối với khí trên thân người (khí cũng quang), đích xác là có thể nh́n ra, chẳng phải là gạt người! Kẻ ấy dùng chuyện này nhằm mục đích cầu tiếng tăm, lợi dưỡng, dùng thủ đoạn ấy chính là mạng!

      Từ xưa tới nay, rất nhiều vị cao tăng đại đức thần thông hay không? Có. Quư vị đọc Thần Tăng Truyện trong Đại Tạng Kinh, Huyền Trang đại đă thị hiện thần thông ǵ? Khi Ngài sang Ấn Độ, trên đường gặp một cụ già, khoảng một, hai trăm tuổi đang nhập định ở đấy. Vị lăo nhân ấy râu tóc rất dài, công phu Thiền Định rất sâu, chim làm tổ trên thân. Q vị ngẫm xem, cụ đă ngồi ở đó rất lâu, chạm đến vẫn bất động. Ngài dùng dẫn khánh gơ bên tai cụ, cụ xuất Định. Sau khi xuất định, Ngài bảo cụ: “Tôi với ông có duyên, nay tôi sang Ấn Độ thỉnh kinh, cầu học. Ông hăy nhanh chóng đến đầu thai tại Trung Quốc, chờ khi tôi trở về, sẽ nhận ông làm đồ đệ, chúng ta cùng nhau hoằng dương Đại Thừa Phật pháp. Huyền Trang đại sư có thần thông nhưng chẳng để lộ, đích xác là chẳng tỏ lộ tại Trung Quốc, nhưng ở Tây Vực có chuyện như thế. Trọn chẳng dùng phương pháp ấy để cầu tiếng tăm, lợi dưỡng, chẳng thể. Nhất là trong thời kỳ Mạt Pháp, trong thời kỳ Mạt Pháp chẳng thần thông th́ phải làm ǵ? Phải bày vẽ! Lần trước, họ mời tôi đến giảng kinh tại sân vận động, muốn phô trương rầm rộ, tôi đều chẳng cần! Đó là những tṛ ph họa trong diễn tuồng[5], đích xác là chẳng ư nghĩa ǵ! Chẳng cần làm chuyện phô trương, v́ đó cũng là chuyện thị hiện tướng đặc biệt, lạ lùng. Trong Cốc Hưởng Tập, cư Hoàng Niệm Tổ đă nói rất hay: Thời kỳ Mạt Pháp, chúng ta trọng thực chất, chẳng nhấn mạnh h́nh thức, thật thà, quy củ học Phật, chẳng cần phải bày vẽ phô trương, chẳng cần phải làm chuyện náo nhiệt, sao? Thời kỳ Mạt Pháp, người thật sự thiện căn chẳng nhiều. Nếu làm chuyện bày vẽ rầm rộ như vậy sẽ vô dụng, mệt người, tốn của, chẳng có một chút ư nghĩa ǵ! Có một địa điểm, có thiết bị phóng thanh là đủ rồi, có băng ghế để ngồi là được rồi, cảnh tượng ǵ cũng chẳng cần, có tượng Phật hay không cũng chẳng sao, đều chẳng quan trọng, nhất định phải nhấn mạnh thực tế.

 

      (Diễn) Nhị, vị lợi dưỡng tự thuyết công đức.

() 二、為 德。

(Diễn: Hai, v́ lợi dưỡng mà tự nói công đức).

 

      Đây là tự tán, tuy chẳng hủy báng kẻ khác, nhưng ca ngợi chính ḿnh: “Ta bao nhiêu công đức? Ta thần thông, thậm chí c̣n nói họ là Phật, Bồ Tát nào đó tái lai. Nói xong, vẫn chẳng tịch. Kỳ quái! Từ xưa tới nay, hễ có ai nói ra [thân phận thật sự], sau khi nói xong liền tịch, đó là thật. Nói rồi vẫn sống nhăn, rất kỳ quái, tôi chưa hề thấy một gương như vậy! Như Di Lặc Bồ Tát thị hiện thân phận Bố Đại ḥa thượng, Ngài t nói ra. Sau khi nói xong, bèn tọa hóa, như vậy th́ được. Hễ bộc lộ thân phận, tuyệt đối chẳng c̣n có thể trụ trong nhân gian nữa, đó thật. Tự ḿnh nói ta là Bồ Tát nào đó tái lai, vẫn không đi; đó là một trong các loại tà mạng, chẳng phải là Chánh Mạng, do v́ lợi dưỡng, nên tự khoe công đức.

 

      (Diễn) Tam, chiêm tướng cát hung.

      () 三、占 凶。

      (Diễn: Ba là xem tướng, cát hung).

 

      Làm thầy bói, xem tướng cho tín đồ, xem Phong Thủy, tiên đoán cát, hung, họa, phước cho họ, nhằm mục đích cầu tiếng tăm, lợi dưỡng. Đó là loại tà mạng thứ ba.

 

      (Diễn) Tứ, cao thanh hiện oai, linh nhân úy kính.

       () 四、高 威,令 敬。

      (Diễn: Bốn là lớn tiếng ra oai khiến cho kẻ khác kính sợ).

 

      Nói chuyện với âm thanh rất lớn, [để làm ra vẻ] như có oai đức vậy.

 

      (Diễn) Thử tam thuộc khẩu nghiệp.

      () 業。

(Diễn: Ba điều ấy thuộc về khẩu nghiệp).

 

      Điều thứ hai, thứ ba và thứ tư khẩu nghiệp.

 

      (Diễn) Ngũ, thuyết đắc cúng dường, động nhân tâm, thử thuộc ư nghiệp.

       () 五、說 養,以 心,此 業。

(Diễn: Năm, khoe [chính ḿnh] đă được cúng dường khiến cho người khác động tâm, điều này thuộc về ư nghiệp).

 

       Nói với tín đồ: “Kẻ nào đó cúng dường ta bao nhiêu, người khác lại cúng dường ta bao nhiêu”, ư muốn quư vị cũng nên làm như thế. Tôi đă từng thấy. Hiện tại là thời kỳ Mạt Pháp, thủ đoạn của họ chúng ta chẳng thể ngờ được. Thuyết phục không được, bèn dùng phương pháp biểu diễn. Tín đồ của chính ḿnh cầm phong b́: “Thưa sư phụ! Con cúng dường thầy hai mươi vạn”,thưaphụ! Con cúng dường thầy hai trăm vạn”. Sư phụ nhận lấy rồi lén trả lại cho kẻ đó. Làm cho người khác thấy, khiến những người đó vội vă cúng dường; c̣n có cách như vậy! Tôi c̣n nghe nói có kẻ giúp chùa miếu hóa duyên để ăn chia tứ lục: [Tức là] nay chùa của tôi cần xây đại điện, [quư vị đến xin]: “Tôi làm đại diện cho chùa miếu”, [nhà chùa] bèn giao sổ hóa duyên cho quư vị. Quư vị hóa duyên được một trăm vạn, quư vị lấy bốn chục vạn, thường trụ lấy sáu mươi vạn. Bốn mươi vạn nhằm trả công quư vị bươn bả [kêu gọi k khác quyên góp]! Thời kỳ Mạt Pháp, chuyện kỳ quái, không chuyện lạ lùng nào chẳng có. Do đó, chúng ta phải tin tưởng lời Phật: Tạo tội nghiệp như vậy, ắt đọa tam đồ. Trong thế gian này, con người sống được mấy năm? Dẫu khổ đến mấy cũng phải cắn chặt răng vượt qua, đời sau chẳng đọa trong ác đạo. Tham cầu hưởng thụ trong mấy chục năm ngắn ngủi, về sau phải thọ quả báo lượng kiếp; được chẳng bù nổi mất, hạng người đó mới là kẻ ngu si nhất. Trong Ngũ Giới, năm điều này đều thuộc loại giới trộm cắp, chẳng phải là phương thức chánh đáng, lừa gạt đoạt lấy tài vật của người khác, lợi dưỡng quá nửa là tài vật, tạo nghiệp hết sức nặng. Do đó, chúng ta phải chú tâm cẩn thận.

      Dựng đạo tràng, tuyệt đối chẳng phải chuyện dễ dàng. Hiện thời, Đài Loan có rất nhiều đồng tu tại gia lập đạo tràng. Chúng tôi chẳng tiện nói, nhưng bản thân các đồng tu chúng ta phải chú ư, hy vọng quư vị đừng dấy lên ư niệm lập đạo tràng. Đạo tràng của quư vị thành lập, tiếng tăm, lợi dưỡng đều đưa đến. Tiếng tăm, lợi dưỡng đưa đến, quư vị tiêu hóa như thế nào? Quư vị thể tiêu thụ nổi không? Phật môn thường nói: “Một hạt gạo thí chủ, to bằng núi Tu Di, đời này chẳng liễu đạo, mang lông, đội sừng đền”. Thành lập đạo tràng phải chịu trách nhiệm, công năng của đạo tràng giáo hóa một phương, mức độ thấp nhất là khuyên người nơi ấy đoạn ác tu thiện, khuyên người nơi đó phá khai ngộ th́ lập đạo tràng ấy bèn có công đức. Nếu đạo tràng chẳng làm được chuyện ấy, tức là đạo tràng đó phạm lỗi. Đạo tràng giống như trường học, ta mở trường, chẳng làm chuyện xấu, nhưng không có thầy dạy, quư vị nghĩ xem trường ấy sẽ ra sao? Trường đă thành lập, đă chiêu sinh, nhưng chẳng có thầy dạy, [làm sao có thể nói là] chẳng làm chuyện xấu ǵ! Nhưng dưới t́nh h́nh đó, hiệu trưởng có bị cách chức, điều tra hay không? Quư vị nói xem: Có tội lỗi hay không? Tục ngữ có câu: “Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chánh” (chẳng nắm giữ địa vị, chẳng mưu toan chuyện chánh trị), quư vị chẳng trách nhiệm. Quư vị đă lập đạo tràng, phải trách nhiệm. Đạo tràng giống như một trường học,