A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 90

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 179

 

Xin xem A Di Đà kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang ba trăm bảy mươi bốn:

 

      Nhị, phong thụ diễn pháp.

      (Kinh) Xá Lợi Phất, bỉ Phật quốc độ, vi phong xuy động, chư bảo hàng thụ, cập bảo la vơng, xuất vi diệu âm. Thí như bách thiên chủng nhạc, đồng thời câu tác. Văn thị âm giả, tự nhiên giai sanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm.

       二 風 樹 演 法。

() 舍 利 弗。彼 佛 國 土。微 風 吹 動。諸 寶 行 樹。及 寶 羅 網。出 微 妙 音。譬 如 百 千 種 樂。同 時 俱 作。聞 是 音 者。自 然 皆 生 念 佛 念 法 念 僧 之 心。

      (Hai, gió và cây diễn pháp.

Kinh: Này Xá Lợi Phất! Cơi nước Phật ấy, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu, và mành lưới báu, phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm ngàn thứ nhạc ḥa tấu cùng lúc. Nghe âm thanh ấy, tự nhiên đều sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng).

 

      Đoạn kinh văn này có khoa đề (科題: tiểu đề mục) là Phong Thụ Diễn Pháp, nói đến chuyện vô t́nh thuyết pháp trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Trong phần trước, các loài chim là hữu t́nh, nay kinh nói về gió và cây. Như vậy là trong thế giới ấy, hữu t́nh và vô t́nh cùng tuyên diệu pháp. Đây là một nhân tố quan trọng khiến cho người tu hành trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng bị thoái chuyển.

 

      (Sớ) Tiền ngôn hàng thụ, la vơng, kim ngôn thử chư thụ vơng, nhân phong xuất âm, như thượng điểu minh, hóa đạo chúng sanh, lợi ích vô tận dă.

() 前 言 行 樹 羅 網,今 言 此 諸 樹 網,因 風 出 音,如 上 鳥 鳴,化 導 眾 生,利 益 無 盡 也。

(Sớ: Trong phần trước, [kinh văn] đă nói lưới mành giăng trên các hàng cây, nay nói đến các lưới trên cây do gió thổi qua mà phát ra âm thanh giống như tiếng chim hót trong phần trên, giáo hóa chúng sanh, lợi ích vô tận).

 

      Trong phần trước, [chánh kinh] đă nói đến các mành lưới giăng nơi hàng cây trong thế giới Tây Phương, đoạn này lại tiếp tục nói những tấm lưới căng trên các hàng cây v́ gió thổi qua mà phát ra âm thanh, giống như những cái chuông gió (phong linh, wind chime) trong thế gian, âm thanh rất hay. Phong linh trong cơi chúng ta tối đa là vang tiếng ḥa nhă mà thôi, chẳng thể thuyết pháp. Cây trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là cây báu, lá cây đều bằng bảy báu, âm thanh ấy hay đẹp chúng ta chẳng có cách nào tưởng tượng được! [Âm thanh của lưới và cây] giống như trong phần trước đă nói chim có thể diễn diệu pháp, hướng dẫn, giáo hóa chúng sanh.

 

      (Sớ) Phong viết vi giả, phong chi mỹ dă. Âm viết vi diệu giả, âm chi mỹ dă. Vi diệu tức ḥa nhă ư.

() 者,風 也;音 者,音 也,微 意。

(Sớ: Gió nói là Vi tức là gió dịu, âm thanh mà nói là Vi Diệu, tức là âm thanh rất tuyệt diệu. Vi Diệu có ư nghĩa ḥa nhă).

 

      “Ḥa” () là ôn ḥa, “nhă” () là trang nhă, chánh đáng, âm thanh chánh đáng.

 

      (Sớ) Bách thiên chủng nhạc giả, dĩ thiểu huống đa.

       () 者,以 多。

(Sớ: “Trăm ngàn loại nhạc”: Dùng số ít để sánh ví cho số nhiều).

 

      Trăm ngàn loại: Giống như nhạc giao hưởng trong hiện thời.

 

      (Sớ) Tán kỳ chí mỹ, cực nhân thiên nhạc, sở bất năng cập.

      () 美,極 樂,所 及。

      (Sớ: Nhằm tán thán [các âm thanh do cây và lưới báu phát ra] hay đẹp tột cùng, các loại nhạc tuyệt diệu của trời người đều chẳng thể sánh bằng).

 

      Đây là tán thán tới mức độ cùng cực, âm nhạc trong nhân gian hay cơi trời đều chẳng có cách nào sánh bằng!

 

      (Sớ) Kỳ âm diệc tuyên Căn, Lực, Giác, Đạo.

       () 道。

(Sớ: Âm thanh ấy cũng tuyên nói Căn, Lực, Giác, Đạo).

 

      Các âm thanh cũng tuyên nói Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo. Bốn khoa này tượng trưng cho vô lượng Phật pháp, chẳng có pháp nào không được diễn nói.

 

      (Sớ) Chủng chủng Đạo Phẩm, bất ngôn giả, văn tỉnh dă.

      () 品,不 者,文 也。

      (Sớ: Không nói tới các thứ Đạo Phẩm là do kinh văn nói tỉnh lược).

 

      “Tỉnh” () là tỉnh lược.

 

      (Sớ) Hựu Đại Bổn vân “vi phong xúc thân”, kim bất ngôn giả, diệc văn tỉnh dă.     

       () 云:微 身。今 者,亦 也。

      (Sớ: Kinh Đại Bổn lại nói “gió nhẹ chạm vào thân”, nay [kinh này] chẳng nói th́ cũng là do kinh văn tỉnh lược vậy).

 

       Kinh Di Đà văn tự ít, nói đơn giản. Tuy chẳng nói, nhưng ư nghĩa đều được bao gồm trong ấy, v́ chúng ta xem kinh Đại Bổn Vô Lượng Thọ sẽ biết.

 

      (Sao) Vi phong vi mỹ giả, thử độ cụ phong xuy động, tắc xuất khuynh tưu đảo hạp, khả chiến cụ thanh.

() 者,此 動,則 峽,可 聲。

(Sao: “Vi phong là gió dịu”: Trong cơi này, gió băo thổi lên, ắt sẽ nghiêng ao, lật khe núi, phát ra âm thanh đáng kinh sợ).

 

      Trong thế gian này có những loại gió khiến chúng ta chẳng ưa thích cho lắm. Ví như Đài Loan có Đài Phong (gió lốc)[1], ở Mỹ có Long Quyển Phong (gió trốt, ṿi rồng, tornado). “Cụ phong” (颶風) là trận gió lớn. Đài Phong chính là trận băo lớn. “Khuynh tưu đảo hạp” (傾湫倒峽), “tưu” () là ao nước, [“hạp” () là khe núi]. Gió thổi khiến nước trong ao bị văng ra ngoài, có sức mạnh to lớn dường ấy. Hễ gặp phải trận gió như vậy, chúng ta rất kinh hăi.

 

      (Sao) Mănh phong xuy động, tắc xuất hám ốc bạt mộc, khả yếm ác thanh.

() 猛 風 吹 動,則 出 撼 屋 拔 木,可 厭 惡 聲。

(Sao: Gió dữ thổi lên ắt phát ra âm thanh rung nhà, trốc cây đáng ghê sợ).

 

      “Mănh phong” chính là Đài Phong.

 

      (Sao) Năi chí Tỳ Lam phong xuy động, tắc xuất tồi sơn toái nhạc, hoại chư thế giới, vô khả tỵ thanh.

() 動,則 嶽,壞 界,無 聲。

(Sao: Cho đến gió Tỳ Lam thổi lên, ắt phát ra âm thanh vỡ núi tan non, tan nát các thế giới, chẳng thể tránh né).

 

      Chúng ta chẳng gặp gió Tỳ Lam (Vairambhaka). Nếu gặp phải, thế giới này chẳng c̣n nữa! Trong kinh, đức Phật đă nói tới Tam Tai (Saṃvartanī), có Đại Tam Tai và Tiểu Tam Tai. Đại Tam Tai là Hỏa Tai, Thủy Tai, và Phong Tai. Phong Tai được gọi là Tỳ Lam Phong.

Lúc một tam thiên đại thiên thế giới sắp hoại, Tam Tai bèn xuất hiện:

1) Hỏa Tai có thể cháy đến Sơ Thiền Thiên. Từ Sơ Thiền Thiên trở xuống, toàn thể Thái Dương Hệ bị cháy sạch. Qua viễn vọng kính thiên văn, chúng ta quan sát thấy trong vũ trụ, một tinh hệ bị biến mất, hủy mất, đó là Hỏa Tai trong Đại Tam Tai như đức Phật đă nói.

2) Loại thứ hai là Thủy Tai, có thể ngập đến Nhị Thiền Thiên, c̣n đáng sợ hơn Hỏa Tai. Từ Nhị Thiền Thiên trở xuống đều chẳng c̣n!

3) Loại thứ ba là Phong Tai. Gió Tỳ Lam thổi tan Tam Thiền Thiên. Từ Tam Thiền trở xuống đều bị hủy diệt, núi Tu Di cũng chẳng c̣n. Đến Đệ Tứ Thiền mới an toàn.

Tứ Thiền được gọi là Phước Thiên, có thể tránh khỏi Tam Tai. Bất cứ loại nào trong Đại Tam Tai, thế giới này đều chẳng thể hứng chịu!

      Tiểu Tam Tai như đức Phật đă nói chính là chiến tranh hạch tử (chiến tranh hạt nhân, chiến tranh bằng vũ khí nguyên tử) trong hiện tại. Tiểu Tam Tai là Binh Đao Kiếp, tức là chiến tranh kéo dài bảy ngày, ôn dịch bảy tháng và đói kém bảy năm bảy tháng. Hai mươi năm trước, tôi đến thăm Trường Kỳ (Nagasaki) và Quảng Đảo (Hiroshima) của Nhật Bản, hoảng nhiên đại ngộ! Tiểu Tam Tai như trong kinh đă nói vốn là t́nh h́nh ấy. Sau khi chiến tranh hạt nhân bùng nổ, trên thân nhiễm bụi bức xạ (bụi phóng xạ, radioactive dust), sau bảy tháng chẳng chết th́ mới có thể giữ được mạng. [Như vậy th́] bệnh ôn dịch chính là bệnh bức xạ. Trên mặt đất, cỏ cây chẳng mọc, khi tôi đến đó đă là năm thứ tám, mới vừa mọc cỏ. Kinh nói bảy năm bảy tháng cỏ cây chẳng mọc, đương nhiên là đói kém. Chiến tranh hạt nhân có thể tránh được hay chăng? Nh́n vào thế giới hiện thời, dường như chẳng có cách nào tránh né! Cơ Đốc Giáo tiên đoán tận thế vào năm 1999, tiên tri cổ xưa của Trung Hoa cũng nói trong thời kỳ ấy sẽ có đại kiếp nạn, thế giới này sẽ khôi phục trật tự, khôi phục ḥa b́nh, ước chừng là sau năm 2020. Ba mươi năm sau, trên thế giới mới có ḥa b́nh. Hiện thời, dân cư trên thế giới quá đông, dễ nẩy sanh chiến tranh. Nhất là giàu nghèo chẳng quân b́nh, đại đa số người sống trong thế gian này oán trời hờn người, đó là điều hết sức đáng sợ! Trong thế giới ngày nay, những quốc gia có vũ khí nguyên tử dần dần tăng thêm nhiều, quan niệm luân lư và đạo đức trên cả thế giới bị đọa lạc, đáng sợ quá! V́ thế, hiện thời chẳng ai có thể dự đoán cục diện thế giới biến hóa [như thế nào], đúng là nháy mắt đă biến hóa ngàn phần!

      Chúng ta biết trạng huống trước mắt, chớ nên không nghiêm túc tu học Phật pháp! Chúng ta biết trong cộng nghiệp c̣n có bất cộng nghiệp, có biệt nghiệp. Sau một trận kiếp nạn rất lớn, vẫn có những người may mắn tránh khỏi. Phàm những người may mắn tránh khỏi đại nạn đều là người có phước. Tục ngữ có câu: “Nạn lớn chẳng chết, ắt có phước mai sau”. Người ấy chẳng có phước th́ làm sao có thể thoát khỏi tai nạn? V́ thế, chúng ta phải nghiêm túc tu phước. Tu phước th́ phước đức thù thắng nhất trong thế gian và xuất thế gian không ǵ hơn tu học pháp môn Tịnh Tông.

 

      (Sao) Tức linh Minh Thứ, Thanh Minh đẳng phong, tuy diệc xưng mỹ, chỉ thị phi phất sơn lâm, sanh trưởng bách vật nhi dĩ.

() 風,雖 美,止 ,生 已。

(Sao: Ngay như các loại gió như Minh Thứ, Thanh Minh[2] v.v… tuy cũng được khen là gió tốt đẹp, nhưng chỉ là thổi phơ phất trong chốn núi rừng, sanh trưởng trăm vật mà thôi).

 

      Đây là nói tới các thứ gió ôn ḥa, trong mát khiến cho chúng ta cảm thấy hết sức thoải mái, trăm vật nhờ vào đó mà sanh trưởng. Lợi ích của chúng đến tột cùng chỉ là như vậy mà thôi! Nói theo cách hiện thời, [những loại gió ấy có tác dụng] điều tiết khí hậu, bốn mùa rơ rệt, sanh trưởng vạn vật.

 

      (Sao) Bỉ quốc chi phong, tự hữu, tự vô, phi hàn, phi nhiệt, khinh tế thuần ḥa, bất khả vân dụ.

() 風,似 無,非 熱,輕 和,不 喻。

(Sao: Gió trong cơi kia dường có, dường không, chẳng lạnh, chẳng nóng, nhẹ nhàng, êm dịu, thuần ḥa chẳng thể diễn tả, sánh ví được).

 

      Gió trong Tây Phương Cực Lạc thế giới quá tốt lành, đáng yêu, v́ sao? Nó có thể thuận theo ḷng mong muốn. Chúng ta hai người ở cùng một chỗ, tôi thích gió ấm áp hơn, hoặc tôi thích gió mát hơn, nó có thể thích hợp với nhiệt độ chúng ta mong tưởng. Rất mầu nhiệm! Gió thổi tới thân mỗi người, cảm xúc khác nhau. Trong thế giới Sa Bà, chẳng có chuyện này, trong các thế giới của chư Phật nơi phương khác cũng chẳng có. V́ sao mà biết? Các thế giới của chư Phật nơi phương khác chẳng khác thế giới Sa Bà của Thích Ca Mâu Ni Phật cho mấy! “Tự hữu, tự vô” (dường có, dường không), quư vị cảm giác là có, nó bèn có. Chẳng cảm thấy nó, nó sẽ không có. “Phi hàn, phi nhiệt” (chẳng lạnh, chẳng nóng): Gió này vô cùng ôn ḥa. “Khinh tế thuần ḥa, bất khả vân dụ” (nhẹ nhàng, êm dịu, thuần ḥa, chẳng thể diễn tả hay sánh ví được), tán thán chẳng ngớt, chẳng có cách nào h́nh dung hay tỷ dụ được! Gió trong thế giới Cực Lạc tốt đẹp dường ấy.

 

      (Sao) Quán Kinh vân: “Bát chủng thanh phong”. Thanh tức vi ư, huống bỉ hàng thụ, cập chư la vơng, giai thị thất bảo, bị dĩ vi phong, hỗ tương xao khấu, tự nhiên nhi xuất vi diệu âm thanh, như bách thiên nhạc, đồng thời tịnh tác. Tắc lục luật giao sướng, bát âm khắc hài, ḥa chi cực dă, nhă chi chí dă.

() 云:八 風。清 意,況 樹,及 網,皆 寶,被 風。互 。自 聲。如 樂,同 作。則 暢,八 諧,和 也,雅

(Sao: Quán Kinh nói “tám loại thanh phong”, Thanh có nghĩa là dịu nhẹ. Huống chi các hàng cây và các lưới mành đều bằng bảy báu, do gió nhẹ luồn qua bèn khua chạm lẫn nhau, tự nhiên phát ra âm thanh vi diệu, như trăm ngàn thứ nhạc đồng thời ḥa tấu, nên lục luật chen nhau thánh thót, tám âm ḥa hợp. Ḥa đến tột cùng, trang nhă đến tột bậc).

 

Gió thổi tới cây, khi lá chạm lá, cành đụng cành, giống như phong linh [reo thánh thót] vậy, tự nhiên phát ra âm thanh dường như trăm ngàn loại nhạc khí đồng thời diễn tấu trong nhạc giao hưởng. “Lục luật[3] giao sướng, bát âm[4] khắc hài, ḥa chi cực dă, nhă chi chí dă”: Mấy câu này ca ngợi nhạc giao hưởng, nhạc khí phối hợp vô cùng ḥa nhă, nghe hết sức êm tai!

      (Sao) Bỉ phong thụ kư phi ty trúc, thùy vi Cung Thương, nhi năng dữ bách thiên chủng nhạc, đồng thử dương dương, thành vi hy hữu, nhân thiên mạc cập giả.

() 彼 風 樹 既 非 絲 竹,誰 為 宮 商,而 能 與 百 千 種 樂,同 此 洋 洋,誠 為 希 有,人 天 莫 及 者。

(Sao: Tiếng gió luồn qua cây ấy đă chẳng phải là tiếng tơ, tiếng trúc, há do ai trỗi khúc Cung, Thương[5], mà có thể ḥa hợp trăm ngàn loại nhạc cùng nhau réo rắt, thật là hy hữu, [các thứ âm nhạc trong cơi] trời người chẳng thể bằng được).

 

      Tại Trung Hoa vào thời cổ, nhạc khí phổ biến nhất là “ty trúc”. Địch (: sáo dọc), tiêu (: sáo ngang), sênh (: khèn)[6] dùng trúc chế thành, đàn cổ cầm, cổ tranh dùng tơ [bện thành] thành dây đàn, nên [âm nhạc thời cổ thường được] gọi là “ty trúc chi thanh” (tiếng tơ trúc). Thân cây và lá cây trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng phải là trúc, mà cũng chẳng phải là tơ, nhưng nó có âm thanh tuyệt vời ngần ấy, đúng là hy hữu, trời người chẳng sánh bằng!

 

      (Sao) Như Đại Bổn ngôn: “Thế gian đế vương chi nhạc, bách thiên vạn chủng, bất như Đao Lợi thiên cung nhất âm chi mỹ”.

       () 言:世 樂,百 種,不 美。

      (Sao: Như kinh Đại Bổn chép: “Trăm ngàn vạn thứ nhạc của đế vương trong thế gian, chẳng hay bằng một tiếng nhạc trong cung trời Đao Lợi).

 

      Kinh Vô Lượng Thọ nói như vậy, tán thán Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đế vương thời cổ là đấng tôn quư nhất trong thế gian, nên chỉ có âm nhạc trong cung đ́nh mới trọn đủ viên măn, vũ đạo cũng giống như vậy. Thời cổ nói đến giai cấp. Giai cấp thấp hơn một bậc, nhạc khí phải giảm bớt, số người nhảy múa cũng phải giảm bớt. Xưa kia, thiên tử vũ là Bát Dật Vũ (八佾舞), gồm tám người cùng múa. Chư hầu giảm thành Lục Dật, tức là sáu người cùng múa. Các quan đại phu giảm tới bốn người. Hiện thời, những hạn chế ấy chẳng c̣n. Ca múa cung đ́nh cũng được đưa lên sân khấu cho mọi giới thường dân thưởng thức. Nhạc của đế vương trong nhân gian tuy hay, vẫn kém xa nhạc trong Đao Lợi Thiên, “bất như Đao Lợi thiên cung nhất âm chi mỹ” (chẳng hay đẹp bằng một tiếng nhạc trong cung trời Đao Lợi).

 

(Sao) Đao Lợi thiên cung bách thiên chủng nhạc, bất như Dạ Ma thiên cung nhất âm chi mỹ.

       () 樂,不 美。

(Sao: Trăm ngàn loại nhạc trong cung trời Đao Lợi chẳng hay đẹp bằng một tiếng nhạc nơi cung trời Dạ Ma).  

 

      Chư thiên càng lên cao càng siêu thắng.

 

      (Sao) Triển chuyển chư thiên, năi chí bất như Cực Lạc quốc trung, phong xuy thụ lâm, xuất diệu âm thanh chi mỹ, thị siêu xuất nhân thiên dă.

() 展 轉 諸 天,乃 至 不 如 極 樂 國 中,風 吹 樹 林,出 妙 音 聲 之 美,是 超 出 人 天 也。

(Sao: Các cơi trời lần lượt lên cao hơn [như vậy] vẫn chẳng hay đẹp bằng âm thanh mầu nhiệm do gió thổi qua rừng cây phát ra trong cơi Cực Lạc, âm thanh ấy vượt trỗi trời, người).

 

      “Chư thiên” [ở đây là lần lượt] tính đến Đệ Lục Thiên, v́ sao? Phía trên Đệ Lục Thiên là Sắc Giới, người ta chẳng cần nghe những thứ này, tâm họ thanh tịnh, không cần những thứ này để giải trí, vui thỏa. Họ đă vượt thoát, trụ trong cảnh giới Thiền Định. Âm nhạc trong Đệ Lục Thiên tức Tha Hóa Tự Tại Thiên thua xa âm thanh hay đẹp do gió thổi qua rừng cây trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tây Phương Cực Lạc thế giới là Nhất Chân pháp giới, thọ dụng viên măn trọn đủ. Trong thế gian này, sự thọ dụng trong Dục Giới, xét theo sự tướng th́ thảy đều trọn đủ, nhưng tâm chẳng thanh tịnh. Đối với sự thọ dụng trong Tứ Thiền Thiên và Tứ Không Thiên, tâm họ vô cùng thanh tịnh, hưởng niềm vui tịch tĩnh, nhưng chẳng có sự, nên cũng là “Sự và Lư, Tánh và Tướng chưa thể viên dung”. Tây Phương Cực Lạc thế giới Lư Sự viên dung, Tánh Tướng bất nhị, nên mới là chân lạc! Lư chẳng ngại Sự, Sự chẳng ngại Sự, kinh Hoa Nghiêm nói là “Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”, đấy mới là thật sự đạt đến rốt ráo viên măn, chẳng lệch về bên nào. Phàm phu lệch về sự tướng, chẳng biết Lư, nên họ có đau khổ. Nhị Thiền thiên trọng Lư, thường được gọi là “trụ trong Không Tịch”, chẳng có sự tướng, không được hoàn mỹ! Đều lệch về một bên! Chỉ riêng cảnh giới của các vị đại Bồ Tát là viên dung, Tây Phương Cực Lạc thế giới là đạo tràng Nhất Thừa Phật pháp viên măn, nên vượt trỗi trời, người.

 

       (Sao) Diệc tuyên Đạo Phẩm giả, dĩ kinh trung đản xưng diệu âm, kỳ thật ư hàm thuyết pháp.

() 者,以 音,其 法。

(Sao: “Cũng tuyên nói Đạo Phẩm”: Do trong kinh chỉ nói “âm thanh mầu nhiệm”, thật ra cũng bao hàm ư nghĩa thuyết pháp).

 

      Đây là kinh văn tỉnh lược, trong các âm thanh ấy có thuyết pháp.

 

      (Sao) Nhược phi pháp âm, hà năng sử nhân ức niệm Tam Bảo.

      () 音,何 使 寶。

      (Sao: Nếu chẳng phải là pháp âm, làm sao có thể khiến cho người ta nghĩ nhớ Tam Bảo?).

 

      Đây là chứng cớ: Nghe tiếng gió rung cây đều có thể khiến cho người ta phát tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Ở đây nói đến Phật, Pháp, Tăng, nói nông cạn là niệm Giác, niệm Chánh, niệm Thanh Tịnh. Nói cách khác, quư vị nghe tiếng gió thổi qua rừng cây, vừa nghe liền giác ngộ, liền phá mê khai ngộ, chẳng thể nghĩ bàn! Vừa nghe liền là chánh tri chánh kiến, đánh thức chánh tri chánh kiến của chính ḿnh. Sau khi đă nghe, tâm địa ngày càng thanh tịnh. Đó gọi là “niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng”. Chẳng phải là nghe âm thanh ấy, quư vị liền niệm A Di Đà Phật, niệm kinh Vô Lượng Thọ, niệm Quán Âm, Thế Chí, chẳng phải như vậy! Nếu hiểu như vậy tức là đă hiểu kinh ngây ngốc. Sau khi đă nghe, giác tâm, chánh tâm, thanh tịnh tâm không ngừng tăng trưởng, nên họ chẳng bị thoái chuyển.

 

      (Sao) Cố Đại Bổn vân: “Vi phong từ động, xuy chư bảo thụ, hoặc tác âm nhạc, hoặc tác pháp âm”, thị kỳ chứng dă.

      () 云:微 動,吹 樹,或 樂,或 音,是 也。

      (Sao: Do đó, kinh Đại Bổn chép: “Gió nhẹ thong thả trỗi, thổi qua các cây báu, hoặc phát ra tiếng nhạc, hoặc phát ra pháp âm”, đó là chứng cớ vậy).

 

      Kinh Đại Bổn nói rơ ràng. Kinh văn có câu “hoặc tác pháp âm”, “tác pháp âm” chính là âm thanh thuyết pháp. Âm thanh ấy có thể thuyết pháp.

 

      (Sao) Dĩ tiền lệ hậu, giai văn tỉnh cố.

     () 後,皆 故。

      (Sao: Đối chiếu phần trước để suy ra ư nghĩa trong phần sau, đều là do kinh văn tỉnh lược vậy).

 

      Đối chiếu phần kinh văn phía trước với đoạn sau này, liền biết trong Tiểu Bổn có nhiều chỗ tỉnh lược. Ngôn ngữ tuy giản lược, nhưng ư nghĩa vẫn viên măn. Đối với kẻ sơ học mà nói, kinh Tiểu Bổn khá khó, v́ chẳng nói rơ ràng, chúng ta đọc sẽ khó hiểu trạng huống thực tế, chẳng bằng niệm kinh Đại Bổn Vô Lượng Thọ. Đại Bổn nói rất tỉ mỉ. Sau khi đă niệm nhuần nhuyễn Đại Bổn, lại niệm Tiểu Bổn sẽ rất có ư vị. V́ sao? Bao nhiêu ư nghĩa được bao hàm trong mỗi câu quư vị đều biết. Tiểu Bổn văn tự ít, dễ nhiếp thọ. V́ thế, trước hết phải đổ công từ Đại Bổn, đến lúc thấu triệt thuần thục, khi thọ tŕ có thể dùng Tiểu Bổn.

 

      (Sao) Ngôn xúc thân giả, Đại Bổn vân: “Bỉ quốc nhất thiết hữu t́nh, vị phong xuy thân, an ḥa thích duyệt, do như tỳ-kheo đắc Diệt Tận Định”, tắc diệc bất thuyết pháp chi thuyết pháp dă.

       () 者,大 云:彼 情,為 身,安 悅,猶 定。則 也。

      (Sao: “Nói chạm đến thân”: Kinh Đại Bổn chép: “Hết thảy hữu t́nh trong cơi ấy, được gió thổi vào thân, an ḥa, thơ thới, vui sướng, giống như tỳ-kheo đắc Diệt Tận Định”, tức là chẳng thuyết pháp mà thuyết pháp vậy).

 

      Kinh Vô Lượng Thọ có một đoạn như vậy, nhưng kinh Di Đà tỉnh lược. Gió nhẹ thổi đến thân chúng ta, thân sẽ có cảm nhận. Hăy đặc biệt chú ư kinh văn nói: “Bỉ quốc nhất thiết hữu t́nh” (hết thảy hữu t́nh trong cơi ấy), v́ sao? Đă là “hết thảy” th́ chúng ta đến đó, cũng có phần! Ngài chẳng nói riêng một loại người văng sanh nào! Hết thảy hữu t́nh tức là từ thượng thượng phẩm văng sanh cho đến hạ hạ phẩm văng sanh, thảy đều chẳng phải là ngoại lệ, thậm chí bao gồm Biên Địa. Tôi tin tưởng trong Biên Địa, họ sung sướng giống như trong cung trời Đao Lợi hoặc trong cung trời Dạ Ma, bất quá khi gió thổi đến thân, họ không hiểu ư nghĩa trong lời thuyết pháp, nhưng nhất định là được thoải mái. Sợ rằng đối với chuyện niệm Tam Bảo, họ bị chướng ngại, v́ kinh dạy: “Trong năm trăm năm chẳng nghe danh tự Tam Bảo”. Gió thổi đến bên thân bèn cảm nhận “giống như tỳ-kheo đắc Diệt Tận Định”.

 

      (Diễn) Diệt Tận Định giả, Cửu Thứ Đệ Định chi tối hậu Định dă.

      () 者,九 也。

      (Diễn: Diệt Tận Định là môn Định cuối cùng trong Cửu Thứ Đệ Định).

 

      Trong hội Lăng Nghiêm, đức Phật đă nói rất rơ ràng: A La Hán và Bích Chi Phật đắc Cửu Thứ Đệ Định. Cửu Định là do đâu mà có? Từ Sơ Thiền tiến lên cao hơn. Tứ Thiền Thiên có bốn loại Định, lại lên cao hơn là Vô Sắc Giới Thiên có bốn tầng, cũng cần phải cậy vào tu Định th́ mới có thể sanh về đó. Thiền Định thế gian trong Sắc Giới và Vô Sắc Giới chẳng ra khỏi tam giới, chúng ta gọi chung là Tứ Thiền Bát Định. Chư vị phải biết: Trên thực tế, Tứ Thiền Bát Định là Bát Định, chẳng phải là ngoài Tứ Thiền c̣n có Bát Định. Bốn loại Định của Tứ Thiền Thiên cộng thêm bốn loại Định của Tứ Không Thiên, hợp lại thành Bát Định. Đó là Thiền Định thế gian.

      Nếu quư vị đắc loại Thiền Định Sơ Thiền này, có thể ngồi xếp bằng nhập Định suốt nửa tháng, một tháng, hai tháng, ba tháng, thảy đều làm được. Thật sự đắc Thiền Định, nhập Định ba tháng chín mươi ngày, chẳng cần ăn cơm, uống nước. Người ấy xuất Định, tinh thần sung măn, chẳng nói: “Đă không ăn nhiều ngày như vậy, đói ră ruột!” V́ sao chẳng bị đói? V́ nhiệt lượng của một bữa ăn đủ để nuôi dưỡng thân thể suốt một trăm ngày, người ấy có năng lực này. V́ sao? Chẳng bị tiêu hao! Nay những thứ chúng ta ăn vào, vào đến bên trong sẽ có tác dụng hóa học biến hóa chúng thành năng lượng, năng lượng ấy bù đắp cho sự tiêu hao của mỗi tế bào trong thân thể. Người ta nhập Định, lượng tiêu hao giảm bớt, giảm bớt đến mức gần như zero, chẳng cần tiêu hao. Chư vị phải biết: Nhập Định chẳng phải là ngồi ở đó ngủ gật, ngồi ở đó ngủ gà ngủ gật th́ chẳng được rồi. Nay chúng ta thấy rất nhiều người ngồi xếp bằng ngủ gà ngủ gật, chẳng được! Ngủ th́ vẫn tiêu hao năng lượng y như vậy, chỉ tiêu hao ít hơn lúc tỉnh táo một chút! V́ sao? Động tác chậm răi, máu cũng tuần hoàn chậm răi, chẳng nhanh như khi hoạt động lúc tỉnh táo, nên lượng tiêu hao cũng ít hơn. Sơ Thiền đă có bản lănh này, huống ǵ Tứ Thiền Bát Định?

      Người ta hễ nhập Định, một năm hoặc hai năm chẳng xuất Định cũng có! Xưa kia, lúc Huyền Trang đại sư sang Ấn Độ cầu học, trên đường qua Tây Vực, gặp một người đang nhập Định. Người ấy nhập Định đă bao lâu chẳng ai biết, mặt đầy bụi bặm, tóc rất dài, chim làm tổ ngay trên mặt. Quư vị nghĩ xem, người ấy nhập Định trong thời gian bao lâu? Huyền Trang đại sư là bậc tái lai, chẳng phải là phàm nhân. Phàm nhân trông thấy cũng có lẽ tưởng là tượng đắp bằng đất sét, tối đa là vái chào rồi bỏ đi, đâu có quan tâm tới? Huyền Trang đại sư đến gơ dẫn khánh bên tai người ấy, gơ chốc lát người ấy bèn xuất Định, mở mắt nh́n Huyền Trang đại sư: “Thầy gọi tôi xuất Định để làm ǵ?” Huyền Trang đại sư đáp: “Hai người chúng ta có duyên rất sâu. Nay tôi sang Ấn Độ thỉnh kinh, ông hăy nhanh chóng đầu thai nơi nước Đại Đường. Sau khi tôi quay về, ông sẽ làm đệ tử của tôi”. Cụ già ấy vâng lời, liền nhập diệt, thần thức đầu thai nơi Trung Hoa, tức là Khuy Cơ đại sư. Ngài Huyền Trang từ Ấn Độ trở về, thời gian trước, sau, lưu lại Ấn Độ tổng cộng mười chín năm. Khi Sư quay về, Khuy Cơ đại sư đă mười bảy, mười tám tuổi, là một người trẻ tuổi. Ngài Huyền Trang t́m được Khuy Cơ, bảo Khuy Cơ xuất gia. Khuy Cơ đầu thai cũng chọn một gia đ́nh rất giàu có, làm cháu của Uất Tŕ Kính Đức (gọi Uất Tŕ Kính Đức, tức Uất Tŕ Cung, bằng chú). Uất Tŕ Kính Đức là đại tướng của Đường Thái Tông, được phong hầu[7]. Nếu Huyền Trang đại sư chẳng phải là bậc tái lai, Ngài làm sao biết được? Thuở đó, Huyền Trang đại sư tuổi tác cũng không cao, khi Ngài qua Tây Vực cầu học cũng chỉ hai mươi mấy tuổi. Những vị này đều là bậc tái lai, sự tích được ghi chép trong truyện kư. Có thể thấy là người nhập Định sanh tử tự tại đều là đại Bồ Tát tái lai, chắc chắn chẳng phải là phàm nhân, các Ngài muốn đi lúc nào th́ đi, muốn đầu thai nơi đâu bèn đầu thai nơi đó, tự tại dường ấy. Tổ sư đời thứ nhất của Pháp Tướng Duy Thức Tông Trung Hoa là Khuy Cơ đại sư.

      Tứ Thiền Bát Định chẳng thể thoát khỏi tam giới, chẳng có cách nào liễu sanh tử, nhất định phải tiếp tục không ngừng nâng cao công phu, tiến cao hơn một tầng nữa, biến thành Đệ Cửu Định. Trong tam giới chẳng có Đệ Cửu Định, cao nhất trong tam giới là Đệ Bát Định. V́ vậy, Đệ Cửu Định thoát khỏi tam giới, chứng quả A La Hán. A La Hán và Bích Chi Phật đều tu Đệ Cửu Định. Chư vị phải biết: Phật môn gọi sự tu học ấy là “thụ xuất” (thoát khỏi tam giới theo chiều dọc), hết sức khó khăn! Lại thưa cùng chư vị, trừ pháp môn Tịnh Độ ra, các pháp môn khác đều là thụ xuất, đều thoát khỏi tam giới theo cách ấy. Vượt thoát như vậy, quư vị nghĩ xem: Khó lắm! Tịnh Độ Tông thuận tiện v́ chẳng phải là thụ xuất, mà là “hoành siêu” (vượt tam giới theo chiều ngang), [tức là] từ nhân đạo thoát ra, chẳng phải là thụ xuất từ nơi đây. Cổ nhân dùng con sâu ở trong cây trúc để tỷ dụ. Cây trúc có từng lóng một, Tứ Thiền Bát Định giống như cây trúc có chín đốt. Con sâu từ bên trong đục ra, đục từng lóng một, nó phải cắn nát mới chui qua được, phải từ từ đục thủng cả chín mắt trúc, mới thoát ra từ phía trên. Dùng chuyện này để tỷ dụ: Phải đạt tới Đệ Cửu Định mới thoát ra. V́ thế, biết là thoát tam giới khó khăn. Tịnh Độ Tông chẳng phải là [thoát ra] ở phía trên, mà cắn thủng ra từ bên cạnh, cắn một lần đă thoát ra. Thông minh hơn, đỡ tốn sức hơn! Dưới đây là mô tả h́nh trạng của Định.

 

      (Diễn) Thử Định thất thức hằng hành tâm tâm sở, lục thức chi bất hằng hành tâm tâm sở, tất giai diệt tận.

() 所,六 所,悉 盡。

(Diễn: Đối với Định này, các tâm và tâm sở hằng hành tương ứng với thức thứ bảy và tâm, tâm sở bất hằng hành tương ứng với thức thứ sáu, thảy đều diệt hết).

 

      Thức thứ bảy là Mạt Na Thức. Mạt Na Thức được gọi là “hằng hành”. “Hằng” () là thường hằng, chẳng thay đổi. Tác dụng của thức thứ bảy là cố chấp, chấp trước, chấp trước điều ǵ? Chấp trước Ngă. Ngă Kiến, Ngă Chấp là thức thứ bảy. “Tâm sở” là nói đến các tâm sở tương ứng với thức thứ bảy, v́ nó hết sức chấp trước, nên các tâm sở tương ứng với nó cũng không nhiều. Thức thứ sáu là phân biệt, chẳng chấp trước. Do phân biệt, nên nó chẳng thường hằng. Thức thứ bảy luôn suy xét, cân nhắc! Tâm sở của thức thứ sáu vô cùng nhiều, gần như tất cả tâm sở đều tương ứng với thức thứ sáu. Nói theo Bách Pháp, thức thứ sáu tức ư thức tương ứng với năm mươi mốt tâm sở hữu pháp.

      Các tâm sở tương ứng với thức thứ sáu và thức thứ bảy đều chẳng khởi tác dụng, “tất giai diệt tận” (thảy đều diệt tận). “Độc hữu bát thức, cố viết diệt tận” (chỉ có thức thứ tám, nên nói là diệt tận). Thức thứ tám c̣n tồn tại. Chỗ này là nói rơ cái được gọi là “chuyển tám thức thành bốn trí” trong Đại Thừa Phật pháp, công phu đă đạt tới giới hạn, muốn chuyển nhưng chẳng có cách nào chuyển được. V́ sao người ấy chẳng có cách nào chuyển được? C̣n có chấp trước vi tế, chúng ta thường nói là “tập khí Tiểu Thừa”. Người ấy đă thật sự bỏ được tâm sở nơi tâm, nhưng chưa đoạn tập khí, đấy là chỗ khó khăn trong sự tu học của hàng Tiểu Thừa, chẳng được nhanh chóng như Đại Thừa. Trong Đại Thừa, đặc biệt là người căn tánh viên đốn, tâm lượng to tát, đối với hết thảy mọi sự, có thể thấy thấu suốt, buông xuống, chẳng tính toán, so đo chi ly, chẳng ghim măi trong ḷng, người Hoa thường nói là “phóng khoáng”. Người phóng khoáng tu học Đại Thừa dễ dàng, tu Tiểu Thừa sẽ khó khăn. V́ sao? Tiểu Thừa thứ ǵ cũng chấp trước, giữ chặt từng điều giới luật một, người Đại Thừa cảm thấy rất phiền phức, chẳng dễ dàng tu học. Người tu học Tiểu Thừa, do tập khí Tiểu Thừa, thấy hàng Đại Thừa gai mắt: “Các ngươi tu hành cái quái ǵ vậy?”   

Thời cổ, hai vị Khuy Cơ và Đạo Tuyên luật sư tương phản tột bậc. Đạo Tuyên luật sư cũng là một người rất lỗi lạc. Trong mười tông phái tại Trung Hoa, Ngài là tổ sư khai sơn của Luật Tông, giới luật tinh nghiêm, trời người đều tôn kính. Người tŕ giới hằng ngày ăn một bữa, cảm động thiên thần đến dâng cơm. Mỗi buổi ngọ trai do thiên thần đến cúng dường. Pháp sư Khuy Cơ là người tu hành phóng khoáng, chẳng câu nệ tiểu tiết. Tuy là Bồ Tát, nhưng đầu thai th́ vẫn bị mê khi cách ấm. Huyền Trang đại sư thấy Ngài, khuyên Ngài xuất gia, Ngài vẫn không muốn. Về sau, vâng lời, nhưng đặt điều kiện, v́ Ngài từ nhỏ sống trong cung đ́nh, chú được phong hầu, là con cháu nhà vương hầu, từ nhỏ đă quen thói được bao nhiêu cung nữ hầu hạ. Nay phải xuất gia, Ngài nói: “Khi con xuất gia, phải chở theo một xe mỹ nữ hầu hạ con, phải chở theo một xe vàng, phải chở theo một xe sách”. Do vậy, người ta gọi Ngài là “tam xa pháp sư”, thuyết pháp rất giỏi, biện tài vô ngại! Đạo Tuyên luật sư đương nhiên rất bội phục, nhưng cũng có chỗ xem thường. V́ sao? Giới luật chẳng nghiêm! Giáo lư rất thông thạo, thuyết pháp rất giỏi, nhưng tŕ giới chẳng ra làm sao cả!

      Có một hôm, Khuy Cơ đại sư đi qua núi Chung Nam, tiện dịp đến bái phỏng Đạo Tuyên luật sư. Đạo Tuyên luật sư nghĩ, giữa trưa sẽ có thiên thần đến cúng dường, có thể khoe khoang với pháp sư Khuy Cơ một chút: “Ngươi thấy ta giới luật tinh nghiêm, chư thiên đều đến cúng dường”. Nào ngờ, hôm đó, thiên thần chẳng đến cúng dường. Đạo Tuyên luật sư rất thất vọng, ngày hôm đó cũng chẳng dùng cơm. Tới hôm sau, giữa trưa, thiên thần lại đến cúng dường. Ngài liền quở trách vị trời đó: “Sao hôm qua ông chẳng cúng dường cho ta?” Thiên thần liền thưa: “Ngày hôm qua có bậc Đại Thừa Bồ Tát ở trên núi này, khắp núi đều là thần hộ pháp, con không dám tiến vào”. Đạo Tuyên luật sư nghe lời ấy, hết sức hổ thẹn, khắp thân toát mồ hôi, mới biết chính ḿnh chẳng bằng kẻ khác!

      Giới Đại Thừa và giới Tiểu Thừa khác nhau. Giới Tiểu Thừa coi trọng sự tướng, chẳng thể vi phạm về mặt sự tướng, trong tâm khởi vọng niệm, họ chẳng quan tâm. Giới Tiểu Thừa kết tội luận theo Sự, chẳng luận tâm. Giới Đại Thừa là luận tâm, chẳng luận sự. Trong hai loại giới ấy, giới Đại Thừa khó tŕ! Giới Tiểu Thừa chỉ cần chẳng phạm về mặt Sự, đúng quy củ chẳng phạm là được rồi! Giới Đại Thừa xét theo khởi tâm động niệm. V́ thế, tâm địa hàng Đại Thừa thanh tịnh, trong hết thảy cảnh giới, chẳng khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, không chấp trước. Tam Học Giới, Định, Huệ niệm niệm trọn đủ, Tiểu Thừa kém xa, chẳng thể sánh bằng!

      Hàng Tiểu Thừa chẳng thể chuyển tám thức thành bốn trí, then chốt ở ngay chỗ này. Họ chú trọng sự tướng đă thành thói quen, hễ bảo họ cởi mở, họ hết sức chẳng dám, chẳng có cách nào [cởi mở] được! Do vậy, trong kinh Pháp Hoa, đức Phật đă nói, nói theo cách hiện thời là “tiên đoán”, [cổ nhân nói là] đức Phật “huyền kư”: Thời kỳ Mạt Pháp, để hoằng dương Phật pháp th́ hăy nên hoằng dương Đại Thừa. Chúng ta ngẫm lại, hiện thời, lời ấy rất có lư, khế cơ, khế lư! V́ trong xă hội hiện đại, chúng ta gọi là xă hội cởi mở, Đại Thừa là cởi mở, Tiểu Thừa là bảo thủ. V́ thế, Tiểu Thừa hết sức thích hợp với xă hội phong kiến, ai nấy vâng theo nề nếp, tuân theo quy củ. Trong xă hội hiện tại, ngôn luận, tư tưởng tự do, Đại Thừa Phật pháp hết sức thích hợp. Nếu quư vị nói với đại chúng rằng [Phật pháp] chẳng tính toán tiểu tiết chi ly, [họ sẽ nghĩ] được lắm! Rất được hoan nghênh, rất dễ tiếp nhận. Cầm lấy giới luật Tiểu Thừa, trước kia tôi có mấy người bạn đọc kinh Phật, vừa xem đến Sa Di Luật Nghi: “Làm sao mà học được! Cứ hở ra liền phạm giới, thôi đi, tôi không học!” Tức là chẳng thích hợp với thời đại này! V́ thế, khế hợp căn cơ thời đại này nhất là Đại Thừa Phật pháp. Đại Thừa Phật pháp viên dung hơn Tiểu Thừa Phật pháp. Nói thật ra là tu học sống động, nhưng phải thật sự dụng công, phải dụng công ngay nơi tâm địa của chính ḿnh, tu giác, tu chánh, tu tâm thanh tịnh.

 

       (Diễn) Đắc thử Định giả, lục căn hư tĩnh, vô phục tŕ dật, nội ngoại trạm minh, nhập vô sở nhập, chân an ḥa thích duyệt chi cực, cố dĩ dụ vi phong xuy thân.

      () 者,六 靜,無 逸,內 明,入 入,真 極,故

(Diễn: Người đắc Định này sáu căn rỗng rang, vắng lặng, chẳng c̣n rong ruổi, buông lung, trong ngoài tĩnh lặng, sáng suốt, nhập vào chỗ không có ǵ để nhập, thật sự an ḥa, thoải mái, vui sướng cùng cực, nên tỷ dụ như được gió [êm dịu] thổi vào thân).

     

Phàm phu chúng ta chẳng thể tưởng tượng nổi niềm vui sướng trong Diệt Tận Định. Không chỉ là Diệt Tận Định, mà đắc một chút Thiền Định, kinh thường nói là “pháp hỷ sung măn”. Cảnh giới cao hơn pháp hỷ là Thiền Duyệt. Thiền Duyệt làm thức ăn: Người đắc Sơ Thiền trở lên chẳng cần ăn uống. Chúng ta phải cậy vào thức ăn để duy tŕ sanh mạng, từ Sơ Thiền Thiên trở lên bèn không cần, v́ sao? Họ có Thiền Duyệt, dùng Thiền Duyệt để bồi đắp, nuôi dưỡng sanh mạng. V́ Tứ Thiền Thiên là Sắc Giới, Sắc Giới có thân thể, chẳng cần ăn uống, ngủ nghê! Năm món dục tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê họ đều chẳng cần tới. Vẫn chưa thoát khỏi năm thứ ấy th́ là Dục Giới. Quan trọng nhất đối với sanh mạng của chúng ta là ăn uống và ngủ nghỉ. Chúng ta chẳng ăn cơm, chẳng ngủ nghỉ, sẽ không xong, người ta do công phu ấy nên có thể chẳng cần phải ngủ. Nhập Định chẳng phải là ngủ nghê, đầu óc tỉnh táo, chẳng phải là hôn trầm, hiểu biết rành rẽ, phân minh. Trong Định có cảnh giới, cảnh giới ấy sung sướng vô cùng. Ngay cả Sơ Thiền mà c̣n đạt được Thiền Duyệt pháp hỷ, huống hồ Cửu Thứ Đệ Định, công phu cao hơn chín tầng! Trong kinh, đức Phật đă sánh ví cảnh giới ấy với cảm xúc và sự thoải mái do gió thổi tới thân trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Tắc diệc bất thuyết pháp chi thuyết pháp dă” (đấy cũng là cách thuyết pháp bằng việc không thuyết pháp): Tuy chẳng nói là thuyết pháp, nhưng gió thổi tới thân, có thể đạt được sự thoải mái giống như tỳ-kheo đắc Diệt Tận Định. Trong Diệt Tận Định có cảnh giới, gió ấy thổi tới thân cũng giống như cảnh giới nhập Định, đó là “chẳng nói mà nói”.

 

      (Sớ) Hựu thử bảo thụ đẳng, tam chủng bảo trung, kim thị tối thắng, năng tác Phật sự cố.

() 等,三 中,今 勝,能 故。

(Sớ: Lại nữa, các cây báu ấy, so trong ba thứ báu, bèn là thù thắng nhất, v́ có thể làm Phật sự).

 

      Đại sư lại v́ chúng ta nói cặn kẽ về cây báu.

 

      (Sao) Trí Luận ngôn, bảo hữu tam chủng.

     () 言,寶 種。

      (Sao: Đại Trí Độ Luận nói có ba thứ báu).

 

      Giải thích ba thứ báu, đây là điều được nói trong Đại Trí Độ Luận.

 

      (Sao) Nhất nhân bảo giả, Luân Vương chi bảo, năng vũ chư vật.

      () 者,輪 寶,能 物。

      (Sao: Một là vật báu trong nhân gian, tức vật báu của Luân Vương, có thể tuôn ra các vật).

 

      Chúng ta chưa hề thấy “Luân Vương chi bảo”, cũng chưa từng nghe nói tới, v́ trong giai đoạn hiện tại, thế giới này chẳng có Chuyển Luân Thánh Vương. Chuyển Luân Thánh Vương là người có phước báo lớn nhất trong thế gian, nhà vua có vật báu. Vật báu “năng vũ chư vật” (có thể tuôn ra các vật). Nói theo cách hiện thời, “vũ” () là “sanh ra”. Chư vị có lẽ hiểu được ư nghĩa này, vật báu ấy là ǵ? Cỗ máy! Đối với cỗ máy, bỏ nguyên liệu vào đầu này, đầu kia sẽ ra thành phẩm, đó là ư nghĩa “có thể tuôn ra các thứ báu”. Đương nhiên Luân Vương xuất hiện, nhất định là khoa học kỹ thuật càng phát triển. Tây Phương Cực Lạc thế giới là nơi khoa học kỹ thuật đạt đến tột đỉnh trong tận hư không khắp pháp giới. Một chút khoa học kỹ thuật nhỏ nhoi của chúng ta trong hiện thời c̣n sanh ra những tác dụng phụ rất lớn, khiến cho môi trường bị ô nhiễm. Người ta ở bên đó sản xuất đủ thứ vật dụng hằng ngày, chắc chắn chẳng bị ô nhiễm. Lại c̣n là biến hóa thuận theo ḷng mong muốn. Nay chúng ta vẫn chẳng thể thuận theo ḷng mong muốn, sản phẩm dẫu tốt cách mấy, sau khi sử dụng một khoảng thời gian đều bị trục trặc, bên cơi của người ta chắc chắn chẳng có t́nh h́nh này. Vật báu của Luân Vương thuộc t́nh h́nh này, là một cỗ máy tinh vi, tất nhiên là có thể tích nhỏ, thao tác dễ dàng, chẳng có tác dụng phụ, có thể chế tạo những vật dụng hằng ngày thật tinh xảo, đẹp đẽ. Có ư nghĩa này! Thứ hai là…

 

      (Sao) Nhị, thiên bảo giả, chư thiên chi bảo, năng tùy sử lệnh.

() 者,諸 寶,能 使 令。

      (Sao: Hai là vật báu trong cơi trời, là vật báu của chư thiên, có thể sai khiến tùy ư).

 

      Thiên đạo cũng là một loại chúng sanh, phước báo của chư thiên lớn hơn nhân gian chúng ta. Chẳng biết phước báo của thiên vương cơi trời to hơn phước báo của Chuyển Luân Thánh Vương trong nhân gian bao nhiêu lần! “Thiên bảo, năng tùy sử lệnh” [nghĩa là có thể tùy thuận sự sai khiến], thuận theo ư của con người. Ở đây, quá nửa là nói về Dục Giới Thiên, v́ Dục Giới Thiên hoàn toàn chưa ĺa khỏi tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê, bất quá là càng lên cao hơn, ư niệm ấy càng nhạt mỏng. Đối với các thứ thọ dụng vật chất, có thể thỏa ư mọi người. Theo kinh điển, chúng ta thấy Đao Lợi Thiên mới là tầng trời thứ hai, thường được gọi là Địa Cư Thiên [v́ cơi trời ấy] c̣n chưa rời khỏi núi Tu Di. Trong kinh đức Phật đă nói về trạng huống cuộc sống của chư thiên rất rơ ràng. Nếu chư vị ngại tra duyệt kinh điển phiền phức, hăy xem Pháp Uyển Châu Lâm, hoặc Kinh Luật Dị Tướng[8]. Hai loại sách ấy do các vị đại đức đời Đường đă biên tập từ hết thảy các kinh luận, chia thành một trăm loại. Những điều được nói trong kinh luận nếu cùng thuộc một loại đều chép vào cùng một chỗ, quư vị vừa xem liền thấy toàn bộ. Quư vị muốn xem về đời sống của chư thiên Đao Lợi Thiên, hăy mở đến chương ấy, những điều kinh luận nói về Đao Lợi Thiên đều được biên chép cùng một chỗ, quư vị có thể thấy được.

      Chư thiên cơi Đao Lợi mặc quần áo tự tại hơn chúng ta. Quần áo của chúng ta phải cắt may, họ chẳng cần cắt may y phục. “Thiên y vô phùng”, (áo trời không cắt may), chẳng cần cắt may, chất liệu lại vô cùng mềm nhẹ, mặc vào thoải mái lắm! “Phiêu phiêu dục tiên” (bồng bềnh dường như lên tiên) chính là nói đến ư nghĩa này. Nó có thể giữ ấm, màu sắc vô cùng tươi đẹp, chẳng cần giặt, vĩnh viễn chẳng dơ bẩn, chẳng có bụi bặm. Nếu quần áo của họ dính bụi bặm, vị trời ấy sắp hết thọ mạng. Bảy ngày trước khi vị trời ấy hết tuổi thọ, sẽ có hiện tượng ấy. Trước khi chỉ c̣n sống được bảy ngày, chẳng có hiện tượng ấy. Chư thiên chẳng ngă bệnh. Chư thiên thích cài hoa, bất luận nam hay nữ, trên măo đều cài hoa, toàn là hoa tươi, hết sức tươi đẹp. Bảy ngày trước khi mạng chung, hoa khô héo, quần áo dơ bẩn, khi ấy họ vô cùng hoảng sợ, hết sức đau khổ, biết chính ḿnh chẳng c̣n sống được bao lâu. Thức ăn của họ cũng là thức ăn trăm vị. Đức Phật nói t́nh h́nh cuộc sống tại Biên Địa Nghi Thành của Tây Phương Cực Lạc thế giới giống như Đao Lợi Thiên hoặc Dạ Ma Thiên, tự tại y hệt. Đúng là “nghĩ đến áo bèn có áo, nghĩ tới ăn bèn có ăn”, nhưng Đao Lợi và Dạ Ma có lúc mạng chung, Biên Địa Nghi Thành trong Tây Phương Cực Lạc chẳng có lúc mạng chung. Cho tới năm trăm năm, hoa nở thấy Phật, cảnh giới ngày càng tốt đẹp hơn. V́ vậy, thọ mạng của chư thiên tuy dài, vẫn có ngày chấm dứt. Thứ ba là…

 

      (Sao) Tam Phật Bảo giả, năng ư thập phương nhi tác Phật sự, kim năng thuyết pháp. Thị vi bảo trung tối thắng, xuất quá nhân thiên cố.

() 者,能 事,今 法,是 勝,出 故。

(Sao: Ba là Phật Bảo, có thể làm Phật sự trong mười phương, nay có thể thuyết pháp. Đây là vật thù thắng nhất trong các món báu, vượt trỗi trời người).

 

      Dù là bảo vật trong nhân gian hay cơi trời, chỉ có thể thỏa măn nhu cầu vật chất, [giúp cho chúng ta] hưởng thụ vật chất, chúng chẳng thể thuyết pháp, chẳng thể khiến cho chúng ta giác ngộ, chẳng thể khiến cho chúng ta minh tâm kiến tánh. V́ thế, báu vật của trời người đều thua kém Phật Bảo, Phật Bảo mới là “bảo trung tối thắng” (vật thù thắng nhất trong các vật báu). Đây là giải thích [v́ sao Phật Bảo] là thù thắng trong ba thứ báu.

 

(Sớ) Hựu Phật đạo thụ thuyết pháp, kim bất ngôn giả, diệc văn tỉnh cố, lệ tiền tŕ thủy giai thuyết pháp cố. Hựu Hoa Nghiêm, Bát Nhă đẳng, giai hữu thử nghĩa.

      () 法,今 者,亦 故,例 故,又 等,皆 義。

(Sớ: Lại nữa, cây đạo tràng của Phật có thể thuyết pháp, nhưng nay kinh chẳng nói, cũng do kinh văn tỉnh lược. Phỏng theo lệ trên, nước trong các ao đều thuyết pháp. Các kinh như Hoa Nghiêm, Bát Nhă v.v… lại đều có ư nghĩa này).

 

      “Đạo thụ” là cây nơi đạo tràng. Chúng ta đă đọc từ kinh Vô Lượng Thọ thấy đó là những cây mọc quanh giảng đường thuyết pháp của A Di Đà Phật. Những rừng cây ấy, nói thật ra, Tây Phương Cực Lạc thế giới là một thế giới b́nh đẳng, do những cây ấy ở gần bên A Di Đà Phật, nên kinh đặc biệt nói tới chúng. Nhưng chư vị phải ghi nhớ, ca ngợi A Di Đà Phật, ca ngợi hoàn cảnh cư trụ của A Di Đà Phật, cũng là nhằm bảo chúng ta: Trong tương lai, chúng ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, hoàn cảnh cư trụ sẽ tốt đẹp dường ấy. Đấy là chỗ khác nhau giữa tông này và các tông khác. Các tông khác tu học có thứ tự, quả báo có đẳng cấp. Trong tông này, tu cái nhân chẳng có thứ tự. Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc, Quán Âm cũng do niệm câu A Di Đà Phật mà văng sanh. Các Ngài đến Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng nhờ tín nguyện tŕ danh. Nay chúng ta tuy một phẩm phiền năo chẳng đoạn, nhưng cũng do niệm câu Nam-mô A Di Đà Phật mà văng sanh, nên chúng ta tu nhân b́nh đẳng với các Ngài. Nếu quư vị hỏi: “V́ sao thế giới ấy b́nh đẳng?” Nhân đă là b́nh đẳng, đương nhiên quả báo b́nh đẳng, điều này phù hợp với chân lư được nói trong Phật pháp. Các pháp môn khác đích xác là cái nhân bất b́nh đẳng, nên quả đương nhiên là bất b́nh đẳng. Ví như ta phá tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc, người khác phá tám mươi mốt phẩm Tư Hoặc, do cái nhân bất b́nh đẳng, sẽ chứng quả khác nhau. Phá tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc, chỉ có thể chứng quả Tu Đà Hoàn. Lại lên cao hơn một bước, sẽ phá tám mươi mốt phẩm Tư Hoặc, chứng quả A La Hán. Quả A La Hán và Tu Đà Hoàn tuyệt đối chẳng b́nh đẳng, do tu nhân khác nhau.

      Nay chúng ta cùng với chư Phật, Bồ Tát, trên từ Đẳng Giác Bồ Tát, dưới cho tới địa ngục chúng sanh, chúng ta tu nhân toàn là b́nh đẳng, Tín, Nguyện, Tŕ Danh, ba điều kiện văng sanh Tịnh Độ ấy hoàn toàn b́nh đẳng, cho nên đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, thọ dụng y báo và chánh báo cũng hoàn toàn b́nh đẳng. Tuy hoàn toàn b́nh đẳng, nhưng trong tâm th́ một đằng là tâm thanh tịnh, một đằng là tâm c̣n có phiền năo. Đây là sự thật, chẳng c̣n phải bàn căi chi nữa! Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ dần dần đoạn, v́ thế, nói với quư vị có bốn cơi, ba bậc, chín phẩm. Bốn cơi, ba bậc, chín phẩm là nói theo nội tâm, chẳng phải là nói theo hoàn cảnh; đối với hoàn cảnh, quyết định chẳng có bốn cơi, ba bậc, chín phẩm. Chúng ta văng sanh là “hoành siêu tam giới”, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn “hoành sanh tứ độ”. Đức Phật trụ trong cơi Thường Tịch Quang, Bồ Tát trụ trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Bồ Tát chưa phá vô minh, trụ trong cơi Phương Tiện Hữu Dư. Những kẻ giống như chúng ta, một phẩm Kiến Tư phiền năo chưa đoạn, trụ trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư; nhưng người trong bốn cơi ấy, hằng ngày cùng nắm tay nhau. Đó là nói “hoành sanh tứ độ”. Phải hiểu nguyên lư này, quư vị mới biết pháp môn này thật sự chẳng thể nghĩ bàn. Hôm nay chúng tôi giảng tới đây!

 

Tập 180

 

Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm bảy mươi bảy:

 

      (Sao) Đạo thụ giả, Đại Bổn ngôn: “Phật đạo tràng thụ, chúng bảo trang nghiêm, bảo vơng phú thượng, vi phong từ động, xuất vô lượng diệu pháp âm thanh, biến chư Phật sát, chúng sanh văn giả, đắc thâm Pháp Nhẫn, trụ Bất Thoái Chuyển, dĩ chí thành tựu Vô Thượng Bồ Đề”.

() 道 樹 者,大 本 言:佛 道 場 樹,眾 寶 莊 嚴,寶 網 覆 上,微 風 徐 動,出 無 量 妙 法 音 聲,遍 諸 佛 剎,眾 生 聞 者,得 深 法 忍,住 不 退 轉,以 至 成 就 無 上 菩 提。

(Sao: “Cây đạo tràng”: Kinh Đại Bổn nói: “Cây đạo tràng của Phật, trang nghiêm bằng các thứ báu, lưới báu phủ lên trên. Gió nhẹ khẽ lay động, phát ra vô lượng âm thanh diệu pháp vang vọng khắp các cơi Phật. Chúng sanh nghe tiếng bèn đắc Pháp Nhẫn sâu, trụ Bất Thoái Chuyển, cho đến thành tựu Vô Thượng Bồ Đề).

 

      Đây là giải thích câu “hựu Phật đạo thụ thuyết pháp” (cây đạo tràng của Phật lại thuyết pháp) trong lời Sớ, chuyện này được nói trong kinh Vô Lượng Thọ. Không chỉ là các cây đạo tràng gần giảng đường của A Di Đà Phật, mà toàn thể các hàng cây ở khắp nơi trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đều chẳng khác ǵ những cây ở đạo tràng. Khi chúng ta đọc Đại Kinh đă thấy hiện tượng này. V́ Tây Phương Cực Lạc thế giới là một thế giới b́nh đẳng, nếu chánh báo b́nh đẳng, tướng mạo và dung nhan của chúng ta hoàn toàn giống với A Di Đà Phật, hoàn cảnh cư trụ của chúng ta đương nhiên sẽ chẳng khác biệt A Di Đà Phật. Nếu có sai biệt, chẳng thể coi thế giới ấy là một thế giới b́nh đẳng. Dẫu là hạ phẩm hạ sanh, y báo và chánh báo trang nghiêm đều giống như chư Phật, Bồ Tát.

      “Phật đạo tràng thụ, chúng bảo trang nghiêm” (Cây đạo tràng của Phật được trang nghiêm bằng các món báu), v́ Tây Phương đều là do các thứ báu hợp thành. Đôi khi kinh nói là bảy báu. Trong Sớ Sao, Liên Tŕ đại sư nói: Do người thế gian chúng ta coi những thứ ấy là quư báu, nghĩ chúng vô cùng trân quư, nên [kinh văn] nêu đại lược bảy thứ. Trên thực tế, trân bảo trong Tây Phương Cực Lạc thế giới vô lượng vô biên. Trên mỗi cây đều có phủ “la vơng”, đẹp đẽ dị thường! Quán Kinh có nói: Những lưới mành ấy c̣n tỏa ra ánh sáng, trong quang minh lại hóa hiện Phật. Cảnh giới ấy quá đẹp đẽ. Các cơi nước của mười phương chư Phật lại c̣n hiện bóng rơ rệt trong ánh sáng của lưới mành, giống như chúng ta xem TV, có thể thấy các thế giới của hết thảy chư Phật trong những phương khác. Đương nhiên, địa cầu trong thế giới Sa Bà cũng ở trong ấy. Đối với một hội của chúng ta ở đây trong hiện thời, chúng ta giảng kinh và nghe kinh ở đây, họ cũng thấy rơ ràng trong lưới báu, họ thấy rơ h́nh dáng của mỗi người chúng ta.

      “Vi phong từ động, xuất vô lượng diệu pháp âm thanh” (gió nhẹ khẽ thổi, phát ra vô lượng âm thanh diệu pháp): Gió thổi qua cây, cành va vào nhau, lá chạm lẫn nhau, đều phát ra âm thanh. Âm thanh du dương là một chuyện khác, càng mầu nhiệm hơn là những âm thanh ấy có thể thuyết pháp. Thuyết pháp ǵ? Chúng ta muốn nghe pháp ǵ, nó liền nói pháp ấy, đích xác là mầu nhiệm. Trong thế gian này, chúng ta chỉ đọc trong kinh Đại Thừa [thấy nói]: “Phật dùng một âm thanh để thuyết pháp, chúng sanh tùy theo từng loài đều hiểu”. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, vô t́nh thuyết pháp. Cây cối là vô t́nh, thực vật cũng có thể thuyết pháp. Cây báu trọn khắp Tây Phương quốc độ, nên thuyết pháp cũng là trọn khắp mỗi góc của Tây Phương. Càng mầu nhiệm hơn là dưới mỗi cội cây báu đều có hóa thân của Tây Phương Tam Thánh. Đến nơi ấy, đúng là không lúc nào, không chỗ nào chẳng thấy A Di Đà Phật. Chẳng như trong thế gian này, địa phương quá lớn, Tổng Thống chỉ ở Thủ Đô, các nơi biên địa chẳng trông thấy, tối đa là nh́n thấy phút chốc trên TV. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, Phật hóa thân, hóa thân trọn khắp quốc độ, hóa hiện thân giống hệt như bản thân Ngài. Cũng có thể nói là quư vị lúc nào, chỗ nào, cũng đều thấy A Di Đà Phật. A Di Đà Phật chẳng rời quanh ta. Đúng là mầu nhiệm chẳng thể diễn tả được!

      Sau khi chúng sanh nghe Phật pháp, “đắc thâm Pháp Nhẫn” (đắc Pháp Nhẫn sâu xa); đấy là lợi ích thù thắng do nghe pháp mà đạt được, đắc Pháp Nhẫn rất sâu. Câu này, nói theo thực tế là phẩm vị của chúng ta được nâng cao. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, nếu xét theo cách nói thông thường, xét theo tŕnh độ, quả thật có năm mươi hai đẳng cấp, từ địa vị Sơ Tín cho đến địa vị Diệu Giác. Thường xuyên nghe pháp, sẽ dần dần nâng cao phẩm vị của chính ḿnh, từ địa vị Thập Tín đạt đến Thập Trụ, từ Thập Trụ đạt đến Thập Hạnh, từ Thập Hạnh đạt đến Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác. Ở đây, chúng ta phải chú ư là “nghe pháp”. V́ sao tu hành trong mười phương thế giới bị thoái chuyển? Do chẳng nghe pháp. Không nghe pháp sẽ dễ dàng thoái chuyển, v́ sao? Đừng nói là từ quá khứ vô lượng kiếp tới nay, nói ngay trong một đời này, từ lúc chúng ta hiểu chuyện cho đến hiện tại, lục căn của chúng ta tiếp xúc cảnh giới bên ngoài đều là ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn, nên bất tri bất giác bị phiền năo huân tập.

      Xă hội hiện đại đă mất trật tự. Trong truyền thống từ xưa tại Trung Hoa, “trật tự” là đạo, đức, nhân, nghĩa, lễ. Cao nhất là đạo, đạo chẳng có th́ c̣n có đức. Đức chẳng có th́ lại nói đến nhân. Nhân cũng chẳng có, bèn nói tới nghĩa. Nghĩa chẳng có, bèn nói lễ. Lễ cũng chẳng có th́ ôi thôi! Thiên hạ đại loạn. Theo sử sách Trung Hoa ghi chép, thời đại viễn cổ là thời Tam Hoàng Ngũ Đế[9], “Tam Hoàng hành đạo, vô vi nhi trị” (Tam Hoàng hành đạo, vô vi mà b́nh trị), thiên hạ thái b́nh. Đến Ngũ Đế, đạo đă mất, nhưng do định chế, điển chương, chế độ ước thúc, chẳng phải là vô vi nhi trị, bắt đầu hữu vi, bèn dùng đức, sử dụng đức để thâu phục kẻ khác. Sau thời đại Ngũ Đế chính là Tam Vương, tức là Hạ, Thương, Châu, đức cũng đă mất, dùng nhân để cai trị, suy từ ḿnh mà nghĩ đến người khác. Thời đại Tam Vương qua đi, đến thời Xuân Thu Chiến Quốc Ngũ Bá[10], bèn nói tới nghĩa khí, nói tới nghĩa. Sau khi thời đại Ngũ Bá qua đi, từ nhà Tần thống nhất măi cho đến nhà Thanh đều là dùng Lễ để trị thiên hạ, lễ c̣n hiện diện. Hiện thời, lễ cũng không được nhắc tới, nên gọi là mất trật tự; v́ thế, chúng sanh khổ sở!

      Nếu tu đạo mà chẳng thể thường xuyên nghe pháp, tất nhiên là bị tập khí phiền năo thế gian huân tập, há lẽ nào chẳng thoái chuyển? Tu hành trong đạo tràng thời cổ, mỗi ngày là “hai thời giảng kinh”. Một thời của Ấn Độ bằng bốn giờ hiện thời. Hai thời giảng kinh, mỗi ngày nghe kinh tám tiếng đồng hồ, rồi tu hành tám tiếng đồng hồ. V́ thế, mỗi ngày có mười sáu giờ công khóa, người ấy sẽ chẳng suy tưởng lung tung, v́ sao? Có một chút thời gian bèn vội vă nghỉ ngơi một chút, tám giờ c̣n lại vừa ăn cơm, làm lụng, ngủ nghỉ. Thuở đức Phật tại thế, [thời gian] ngủ nghỉ là bốn giờ. “Trung dạ thùy miên” (ngủ vào lúc giữa đêm), nên họ chẳng bị hôn trầm. Trung dạ là ǵ? Từ mười giờ tối đến hai giờ sáng. Sơ dạ là từ sáu giờ tối đến mười giờ đêm. Trung dạ là mười giờ đến hai giờ. Hậu dạ là từ hai giờ đến sáu giờ sáng hôm sau. Thời gian ngủ nghỉ chỉ có trung dạ, đúng là tinh thần Đầu Đà, nghiêm túc nỗ lực. Họ phải nghe kinh tám tiếng đồng hồ, đó là giải môn; tu hành tám tiếng đồng hồ, tu hành thuở ấy là tĩnh tọa, niệm Phật, tŕ chú, ba loại lớn ấy. Nghe kinh trong giảng đường mỗi ngày tám tiếng đồng hồ. Đó là công khóa tu tập chủ yếu trong các tự viện, am đường thuở trước.

      Đại khái, hành môn là đại đồng tiểu dị, giải môn th́ mỗi tông phái chọn lựa kinh điển khác nhau. Ví như tông Hoa Nghiêm, Thanh Lương đại sư cả một đời giảng kinh Hoa Nghiêm năm mươi lần. Giảng năm mươi lần như thế nào? Giảng một bộ kinh từ đầu đến cuối tối thiểu phải là ba ngàn giờ, mỗi ngày giảng tám tiếng đồng hồ. Một năm sẽ giảng viên măn một bộ kinh. Năm sau lại giảng từ đầu. Lăo nhân gia giảng lặp đi lặp lại năm mươi lượt, suốt năm mươi năm, đúng là phi thường! Lăo nhân gia sống hơn trăm tuổi, một đời Ngài trải qua chín vị hoàng đế[11], là thầy của bảy vị hoàng đế, Ngài là quốc sư. Người đời sau tôn xưng Ngài là Hoa Nghiêm Bồ Tát. Ngài giảng năm mươi lượt, học tṛ học với Ngài bèn được huân tu từng lần một. Chư vị ngẫm xem: Lẽ đâu họ chẳng thành tựu? Thật sự phải có ḷng kiên nhẫn, chẳng kiên nhẫn sẽ không được! V́ vậy, nghe pháp là điều tất yếu trong Tín, Giải, Hạnh của chúng ta. Tín được kiến lập trên cơ sở lư giải. Nếu giải thấu triệt, tín tâm tự nhiên kiên cố, tự nhiên chẳng bị dao động. Khó trách thuở ấy Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện trong nhân gian, thuyết pháp mỗi ngày, chẳng nghỉ ngơi ngày nào! “Thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng kinh hơn ba trăm hội”, thật giống như mở Phật học giảng ṭa. Trong bốn mươi chín năm, Ngài tổ chức hơn ba trăm lần. V́ thế, giảng và học hết sức trọng yếu.

      Giải và Hành cùng thực hiện th́ mới thật sự đạt được thành tựu, thành tựu là quả vị tăng cao hơn. Ở đây nói là “đắc thâm Pháp Nhẫn”, v́ sao lại hiểu câu này là tăng cao quả vị? Chúng ta đọc kinh Nhân Vương liền biết, đối với năm mươi hai địa vị Bồ Tát, kinh Nhân Vương đều dùng chữ Nhẫn để nói, chia thành năm đẳng cấp. Năm đẳng cấp là phân chia sơ lược, tức Ngũ Nhẫn Bồ Tát. Đầu tiên là Tín Nhẫn, địa vị cuối cùng là Tịch Diệt Nhẫn. Trước Tịch Diệt Nhẫn là Vô Sanh Pháp Nhẫn. “Đắc thâm Pháp Nhẫn” là địa vị Bồ Tát không ngừng tăng cao hơn. Nói theo Tịnh Độ Tông sẽ là phẩm vị tăng cao, mang ư nghĩa ấy. “Trụ Bất Thoái Chuyển”: Hạ phẩm hạ sanh cũng viên chứng ba món Bất Thoái. “Dĩ chí thành tựu Vô Thượng Bồ Đề” (cho đến thành tựu Vô Thượng Bồ Đề): Đấy là chứng Viên Giáo Phật quả, Vô Thượng Bồ Đề là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

 

      (Sao) Kim bất ngôn giả, như tiền Sớ dẫn nhiếp hàng thụ trung, vị hàng thụ thượng năng thuyết pháp, Phật thụ ninh độc bất nhiên, cố viết “văn tỉnh”.

() 者,如 中,謂 ,佛 , 省。

      (Sao: “Nay chẳng nói”: Như lời Sớ trong phần trước đă nói điều này được gộp trong phần nói về hàng cây, nghĩa là: Hàng cây c̣n có thể thuyết pháp, lẽ đâu riêng cây của Phật lại chẳng như vậy, nên nói là “kinh văn tỉnh lược”).

 

       Kinh Di Đà chẳng nói cây nơi đạo tràng thuyết pháp. Trong phần trước đă nói hàng cây thông thường có thể thuyết pháp, vậy th́ cây nơi đạo tràng của A Di Đà Phật đương nhiên lại càng chẳng cần phải nói nữa! Đây là chuyện tỉnh lược nơi mặt văn tự. Tuy văn tự tỉnh lược, nhưng ư nghĩa xác thực là viên măn.

 

      (Sao) Hựu lệ suy chi, như tiền chỉ thuyết bảo tŕ, Sớ dẫn nhị bộ kinh văn, tắc bảo thủy lưu diễn, giai thuyết diệu pháp cố.

() 之,如 池,疏 文,則 衍,皆

(Sao: “Lại nữa, theo như đó mà suy”: Như trong phần trước chỉ nói đến ao báu, lời Sớ bèn trích dẫn kinh văn từ hai bộ kinh khác, chứng tỏ nước báu tuôn chảy đều có thể nói diệu pháp).

 

       Kinh Di Đà nói đến ao bảu báu, Lời Sớ bèn trích dẫn kinh văn từ hai bộ kinh là kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật để chứng tỏ kinh nghĩa ở nơi đây đă bao hàm ư nghĩa như thế này: Nước cũng có thể thuyết pháp.

 

      (Sao) Hựu lệ suy chi, như Đại Bổn ngôn: Kỳ đạo tràng thụ, chúng sanh kiến giả, vô kỳ nhăn bệnh. Văn kỳ hương giả, diệc vô tỵ bệnh, thực kỳ quả giả, thiệt diệc vô bệnh, thụ quang chiếu giả, thân diệc vô bệnh, quán tưởng thụ giả, tâm đắc thanh tịnh, vô phục tham sân phiền năo chi bệnh

       () 之,如 言:其 樹,眾 者,無 病;聞 者,亦 病;食 者,舌 病;樹 者,身 病;觀 者,心 淨,無 病。

      (Sao: “Lại theo lệ ấy mà suy” th́ như kinh Đại Bổn nói: “Cây đạo tràng ấy, chúng sanh hễ trông thấy, chẳng bị bệnh mắt, ngửi mùi hương ấy, chẳng bị bệnh mũi. Ăn quả cây ấy, lưỡi cũng chẳng bệnh. Được ánh sáng từ cây ấy chiếu đến, thân cũng chẳng bệnh. Quán tưởng cây ấy, tâm được thanh tịnh, chẳng c̣n các bệnh tham, sân, phiền năo”).

 

      Cây này đúng là cây báu. Nay chúng ta bệnh tật rất nhiều, đă tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, bệnh ǵ cũng đều chẳng có. Thưa cùng chư vị, quư vị hăy buông hết thảy vạn duyên xuống, tưởng cây trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, hễ quư vị nghĩ tưởng th́ bệnh ǵ cũng chẳng có. Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng. Do đó, đọc kinh văn này, nghĩ tới kinh văn này th́ kinh văn này thật sự có thể trị bệnh! Nói cách khác, tâm nhất định phải thanh tịnh. Những ư niệm trong tâm toàn là y báo và chánh báo trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, há c̣n có bệnh ǵ nữa? Chẳng có bệnh! Nếu chúng ta niệm niệm tưởng quá khứ, tưởng vị lai, tưởng ngũ dục, lục trần trong thế gian, đương nhiên sanh bệnh, v́ sao? Đó là bệnh căn, hằng ngày nghĩ tới bệnh căn, làm sao người không đổ bệnh cho được? Chúng tôi thấy nhiều người tu hành, không chỉ lúc b́nh thường chẳng ngă bệnh, mà lúc sắp mất cũng chẳng ngă bệnh, cao minh thay! Đó gọi là “biết trước lúc mất”, muốn đi lúc nào bèn đi lúc đó, đi tự tại như vậy, chẳng bị bệnh đau khổ. Đối với sanh, lăo, bệnh, tử, người ấy thật sự chẳng có lăo khổ, chẳng có bệnh khổ, chẳng có tử khổ; sanh th́ đă qua rồi, quên mất rồi. Hết thảy chúng sanh chẳng thể tránh bốn nỗi khổ sanh, lăo, bệnh, tử ấy, người tu hành chẳng có. Bốn nỗi khổ ấy đều chẳng có, thật đấy, chẳng giả tí nào! Nếu quư vị muốn bất sanh, bất tử, chẳng lăo, chẳng bệnh, hăy nương theo kinh điển này để tu hành. Người khác có thể làm được, có thể tu được, tôi tin tưởng chúng ta cũng có thể tu được, chỉ sợ quư vị chẳng chịu tu. Nếu quư vị chịu tu, chắc chắn là có thể đạt được!

      Đối với các cây báu trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, nếu đă đến thế giới Cực Lạc, chẳng cần phải nói ǵ nữa. Nay chúng ta tưởng, tưởng công đức của cây sẽ sanh ra hiệu quả. Một câu nói quan trọng nhất ở đây là “tâm đắc thanh tịnh, vô phục tham sân phiền năo” (tâm được thanh tịnh, chẳng c̣n có tham, sân, phiền năo) Nay chúng ta niệm kinh, tưởng cảnh giới trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, tưởng công đức trang nghiêm của các cây báu, v́ sao đạt được hiệu ứng? Do hiện thời quư vị “tâm đắc thanh tịnh, vô phục tham sân phiền năo”, đạo lư ở chỗ này. Bản thân chúng ta có thể tu như vậy, được oai thần của Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí và các vị thượng thiện nhân gia tŕ, chúng ta hiện thời có thể thoát ĺa nỗi khổ sanh, lăo, bệnh, tử, hiện thời chẳng có [những nỗi khổ ấy].

 

      (Sao) Hựu vân: Kiến thử thụ giả, đắc tam Pháp Nhẫn.

      () 云:見 者,得 忍。

      (Sao: Lại nói: “Người thấy cây ấy, sẽ đắc ba Pháp Nhẫn”).

 

      “Tam Pháp Nhẫn” sẽ được chú giải dưới đây bằng kinh văn của kinh Vô Lượng Thọ:

1) “Nhất, Âm Hưởng Nhẫn, nhân văn thánh giáo đắc ngộ nhập cố” (Một là Âm Hưởng Nhẫn, do nghe thánh giáo mà được ngộ nhập). Chúng sanh trong thế giới Sa Bà, Nhĩ Căn nhạy bén nhất trong lục căn. Trong hội Lăng Nghiêm, Văn Thù Bồ Tát chọn lựa pháp Viên Thông, đă nói: “Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn” (Chân giáo thể phương này, thanh tịnh nơi nghe tiếng). Âm Hưởng (音響) là pháp âm. Sau khi nghe âm thanh thuyết pháp của đức Phật, tập khí phiền năo của chính ḿnh dần dần tiêu mất. Đó là loại Nhẫn thứ nhất.

2) Công phu tăng lên tới giai đoạn thứ hai: “Nhị, Nhu Thuận Nhẫn, chiết phục phiền năo toàn bất khởi cố” (Hai là Nhu Thuận Nhẫn, chiết phục phiền năo, khiến chúng hoàn toàn chẳng dấy lên). Nh́n theo giai đoạn tu hành trong Tịnh Tông th́ Âm Hưởng Nhẫn là công phu thành phiến, Nhu Thuận Nhẫn là Sự nhất tâm bất loạn, phiền năo hoàn toàn chẳng dấy lên.      

3) “Tam, Vô Sanh Pháp Nhẫn, vô sanh chi Lư nhẫn khả ư tâm cố” (Ba là Vô Sanh Pháp Nhẫn, tâm có thể nhẫn lư Vô Sanh). Đây là Lư nhất tâm bất loạn. Ở đây gọi ba loại công phu Niệm Phật là ba thứ Nhẫn.

      Nếu chúng ta muốn công phu thành phiến th́ “đọc tụng, thọ tŕ, v́ người khác diễn nói” rất quan trọng. Nói thật ra, hiện nay, thời gian huân tập của chúng ta vẫn chẳng đủ, thời gian huân tập quá ít. Tuy đạo tràng này mỗi tuần giảng kinh bốn lần, mỗi ngày giảng một tiếng rưỡi, nhưng trong hai mươi bốn giờ, chỉ có một tiếng rưỡi huân tập Phật pháp, c̣n hai mươi hai giờ rưỡi là tham, sân, si, mạn phiền năo huân tập, tính toán kiểu nào đây? Rất khó thành tựu! V́ thế, tôi khuyên các đồng tu, chỉ cần có lúc rảnh rỗi, hăy niệm Phật, học thuộc kinh, niệm kinh, nhằm bổ túc sự thiếu sót trong nghe pháp, khiến cho thời gian huân tập Phật pháp được dài hơn. Nói nghiêm ngặt, mỗi ngày chúng ta nếu niệm Phật, tụng kinh, nghe pháp mười hai giờ, hăy c̣n mười hai giờ là hôn trầm, phiền năo, công phu là năm mươi phần trăm, có thể thành tựu hay không, vẫn chẳng đáng trông cậy cho lắm! Phương pháp như của cổ nhân th́ đáng tin cậy, v́ sao? Hai phần ba là huân tập Phật pháp, [thời gian] chẳng thể huân tập Phật pháp chỉ có một phần ba. Mỗi ngày họ công phu mười sáu giờ, đích xác là nắm rất vững!

      Nay nếu chúng ta có một đạo tràng như vậy, chỉ sợ chẳng có một đồng tu nào đến đó, chẳng ai tới cả! Đạo tràng hiện thời sắp đặt càng lắm tiết mục xen tạp th́ người càng đông: Ca hát, khiêu vũ, cắm hoa, thật nhiều bộ môn, náo nhiệt phi phàm, giống như cái chợ, môn đ́nh như cái chợ. C̣n như chúng ta ở đây, giảng kinh khô khan, vô vị, người đến chẳng nhiều lắm, chẳng náo nhiệt phô trương như chỗ của họ. Đạo tràng giống như cổ nhân, người hiện tại càng chẳng có. Khó trách lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ vài ba lượt bảo chúng tôi: “Đồng tu quư tinh chuyên, chẳng cần đông”. Dăm ba người chẳng kể là ít, thật sự có đạo tâm, thật sự có thể văng sanh, đó là đúng. Chúng ta xem sách Tây Phương Xác Chỉ, học tṛ của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát là mười hai người, tuy đạo tràng nhỏ, nhưng thật sự đắc thọ dụng.

 

      (Sao) Tắc tri thụ sắc hương vị, giai diệc diễn sướng Căn, Lực, Giác, Đạo, như thị đẳng pháp, chúng sanh văn giả, hàm niệm Tam Bảo.

() 味,皆 道,如 法,眾 者,咸 寶。

(Sao: Nên biết sắc, hương, vị của cây cũng đều diễn nói lưu loát Căn, Lực, Giác, Đạo, các pháp như vậy. Chúng sanh nghe thấy, đều niệm Tam Bảo).

 

      Nói rơ vô t́nh thuyết pháp trong thế giới ấy, chẳng có pháp nào không được tuyên dương.

 

      (Sao) Hựu lệ suy chi.

       () 之。

      (Sao: Lại theo lệ ấy mà suy).

 

      Lại theo lệ trên đây mà suy luận.

 

      (Sao) Bỉ quốc kim sa.

       () 彼 國 金 沙。

      (Sao: Cát vàng trong cơi ấy).

 

      Cát vàng trải dưới đáy ao bảy báu.

 

      (Sao) Bỉ quốc giai đạo.

     () 道。

      (Sao: Bậc thềm, lối đi trong cơi ấy).

 

      “Giai” là bậc thềm, “đạo” là đường.

 

      (Sao) Bỉ quốc lâu các, bỉ quốc liên hoa, thiên nhạc, thiên hoa, y kích, thực khí, nhất thiết chư vật, giai diệc diễn sướng Căn, Lực, Giác, Đạo, như thị đẳng pháp, chúng sanh văn giả, hàm niệm Tam Bảo.

() 閣,彼 華,天 華,衣 器,一 物,皆 道。如 法,眾 者,咸 寶。

(Sao: Lầu, gác, hoa sen, nhạc trời, hoa trời, đồ đựng hoa, vật dụng để ăn uống, hết thảy các vật trong cơi ấy cũng đều diễn nói lưu loát Căn, Lực, Giác, Đạo, các pháp như thế. Chúng sanh nghe thấy đều niệm Tam Bảo).

 

      Người b́nh phàm chẳng thể nghĩ đến ư nghĩa này! Do vậy, ta cũng biết Liên Tŕ đại sư nhận thức thế giới Tây Phương sâu hơn chúng ta, xác thực là như vậy. Y báo, chánh báo, chẳng có ǵ không nói pháp, tuyệt diệu! Hiện thời, quư vị ở nơi đây chẳng thể thuyết pháp, đă tới Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn có thể thuyết pháp, v́ sao? Tự tánh khai phát. Mục tiêu giáo học của Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật đă được kinh Vô Lượng Thọ nói rất rơ ràng: “Khai hóa, hiển thị Chân Thật chi tế”. “Chân Thật chi tế” là Chân Như bản tánh. Hễ đến Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn minh tâm kiến tánh.

 

      (Sao) Như Hoa Nghiêm hương vân đài vơng, giai xuất tụng ngôn.

       () 網,皆 言。

      (Sao: Như mây hương, đài, lưới trong Hoa Nghiêm đều phát ra tiếng nói kệ).

 

      Liên Tŕ đại sư nói những lời này là có căn cứ từ kinh văn, Ngài chỉ ra kinh Hoa Nghiêm có cảnh giới này. Thế giới Hoa Tạng đă có chuyện này th́ Tây Phương Cực Lạc thế giới nhất định phải có, v́ Hoa Tạng chẳng khác Cực Lạc, Cực Lạc là Hoa Tạng. Trong kinh Hoa Nghiêm, mây hương, lọng báu, lưới mành, thảy đều thuyết pháp. Chúng ta có thể đọc thấy điều này trong mười hai cuốn đầu của kinh Hoa Nghiêm.

 

      (Sao) Hựu Đao Lợi thiên cổ, diễn mạc trắc chi chân thuyên.

() 鼓,演 詮。

(Sao: Lại nữa, cái trống trên cơi trời Đao Lợi diễn nói lời chân thật không thể suy lường).

 

      Phần trước là nói về thế giới Hoa Tạng, nay lại quay về nh́n trong thế giới Sa Bà, cái trống trời trong Dục Giới Thiên cũng có t́nh h́nh như vậy.

 

      (Diễn) Hoa Nghiêm vân: Đao Lợi chư thiên trước ngũ dục lạc, hành phóng dật thời, thiên cổ chi trung, tự nhiên xuất âm, nhi cáo chi ngôn: “Thử lạc vô thường, mạc hành phóng dật đẳng”.

       () 云:忉 樂,行 時,天 中,自 音,而 言,此 常,莫 等。

(Diễn: Kinh Hoa Nghiêm nói: Khi chư thiên cơi Đao Lợi tham đắm năm món dục lạc, làm chuyện buông lung, trong cái trống trời tự nhiên phát ra tiếng bảo: “Lạc này là vô thường, đừng làm những chuyện buông lung” v.v…).

 

      Đao Lợi Thiên thuộc về Dục Giới Thiên. Tầng trời này cũng chẳng cao, ở trên Tứ Vương Thiên, dưới Dạ Ma Thiên, đối với sự vui thú ngũ dục tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê vẫn hết sức nồng đậm. Khi hưởng lạc hơi mê say, do buông lung bèn mê đắm, cái trống trời[12] sẽ nhắc nhở họ. Khi trống trời Đao Lợi vang ra tiếng, nó có thể phát ra âm thanh cảnh giác mọi người: “Quư vị đừng hưởng lạc quá lố, lạc ấy là vô thường”. Nó đưa ra lời cảnh cáo. Hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển, có lúc cũng lợi dụng máy móc để cảnh cáo. Ví dụ như những thứ [thiết bị cảnh báo] pḥng cháy, pḥng ngừa trộm cắp. Thậm chí, các máy móc chạy bằng điện trong gia đ́nh, nếu vượt qua mức độ an toàn, liền tự động phát ra âm thanh nhắc nhở chúng ta về sự nguy hiểm. Trong tương lai, lại tiến hơn nữa, người máy có thể nói chuyện, thấy chúng ta buông lung cũng có thể đưa ra lời cảnh cáo. Nhân gian và cơi trời c̣n có thể làm được, huống ǵ thế giới Hoa Tạng và thế giới Cực Lạc? Đây là suy luận theo lư, lại c̣n t́m được căn cứ trong kinh văn, xác thực là như vậy.

 

      (Sao) Lôi Âm bảo lâm, thuyết Vô Sanh chi diệu kệ.

      () 林, 偈。

      (Sao: Rừng báu chốn Lôi Âm nói bài kệ Vô Sanh mầu nhiệm).

 

      Lôi Âm là cơi Phật, “bảo lâm” là nói tới cây cối trong cơi Phật, giống như cây nơi đạo tràng đều có thể thuyết pháp.

 

       (Sao) Hựu Đại Bát Nhă vân: Tịnh Độ thụ lâm đẳng nội ngoại vật trung, thường hữu vi phong xung kích, phát vi diệu âm, thuyết nhất thiết pháp giai vô tự tánh đẳng, đồng thử nghĩa dă.

() 云:淨 中,常 擊,發 音,說 等,同 也。

 (Sao: Kinh Đại Bát Nhă lại nói: “Các vật trong ngoài rừng cây nơi Tịnh Độ, thường có gió nhẹ thổi lay động, phát ra tiếng vi diệu, nói hết thảy các pháp đều chẳng có tự tánh v.v…”, có cùng ư nghĩa này).

 

      Điều này được nói trong kinh Đại Bát Nhă. Do vậy, có thể biết: Vô t́nh thuyết pháp không chỉ được nói trong ba kinh Tịnh Độ, mà các kinh như Hoa Nghiêm, Bát Nhă cũng đều có nói. Chúng ta có thể tin tưởng chuyện này.

 

      (Sớ) Thiện hội chi giả, thử độ hữu t́nh, vô t́nh, diệc giai thuyết pháp, như văn oanh kích trúc đẳng, huống phục Tịnh Độ!

() 者,此 情,亦 法,如 等,況 土。

(Sớ: Đối với người khéo hiểu th́ hữu t́nh lẫn vô t́nh trong cơi này cũng đều thuyết pháp, như nghe tiếng chim oanh hót, tiếng trúc khua v.v… Huống hồ Tịnh Độ).

 

      “Hội” () là thấu hiểu, hiểu ư. Thiền Tông thường nói “hội ma?”, [nghĩa là] quư vị có hiểu hay không? Mang ư nghĩa ấy, quư vị có thể ngay lập tức thấu hiểu ư của người ấy hay không? Lục trần trong Tây Phương Cực Lạc thế giới thuyết pháp, có bao giờ lục trần trong thế gian này chẳng thường thuyết pháp? Tâm của người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới thanh tịnh, nên họ có thể hiểu diệu pháp do lục trần tuyên thuyết. Tâm người trong thế gian này quá thô tháp, hời hợt, hờ hững, nên lục trần thuyết pháp mà chẳng biết! Nói với quư vị mỗi ngày, quư vị vẫn chẳng giác ngộ, vẫn mê hoặc, điên đảo. Nếu chúng ta dùng tâm thanh tịnh đối với lục trần, xác thực cũng chẳng kém Tây Phương.

      Đă là nói như vậy, v́ sao chúng ta vẫn mong sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới? Nói theo lư luận, hoàn toàn chẳng sai, có thể chẳng cần đến Tây Phương, nhưng quư vị tu hành trong thế giới này, đối với hoàn cảnh chung quanh, hoàn cảnh nhân sự, hoàn cảnh vật chất, quư vị có bị chúng ảnh hưởng hay không? Tuy tâm quư vị thanh tịnh, nhưng thanh tịnh chưa đầy mấy phút lại bị kẻ khác nhiễu loạn, chuyện này phiền phức to lớn. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, tâm ai nấy đều thanh tịnh, chỗ tốt đẹp là đây! Nếu trong thế gian này, người và sự quanh ta thứ ǵ cũng đều thanh tịnh, chúng ta sẽ chẳng bắt buộc phải đến Tây Phương Cực Lạc thế giới. So sánh giữa đôi bên, hoàn cảnh bên kia tốt đẹp hơn bên này, ở bên ấy đức Phật thọ vô lượng, Phật thuyết pháp, Bồ Tát thuyết pháp, vô t́nh thuyết pháp vĩnh viễn chẳng gián đoạn, c̣n trong thế gian này, chúng ta chẳng có những chuyện ấy.

 

      (Sao) Thiện hội giả, vị bất dĩ cảnh vi cảnh, nhi hội cảnh tức tâm.

      () 者,謂 境,而 心。

      (Sao: “Khéo hiểu” nghĩa là chẳng chấp cảnh là cảnh, mà hiểu cảnh chính là tâm).

 

      Chuyện này thật sự chẳng dễ dàng, cảnh giới ấy quá cao. Trong ấy có đạo lư, tận hư không khắp pháp giới, nói theo Phật pháp, y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới do đâu mà có? Do tự tâm biến hiện. Kinh Hoa Nghiêm đă nói rất hay: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Tâm và thức đều là Chân Như bản tánh; nói cách khác, t́nh và vô t́nh đều do Chân Như bản tánh của chính ḿnh biến ra. [Đă là] những thứ do Chân Như bản tánh biến ra, có ǵ chẳng phải là Chân Như bản tánh? Cổ nhân nói: “Dĩ kim tác khí, khí khí giai kim”, [nghĩa là] dùng vàng làm đồ vật, có món nào chẳng phải là vàng? Nói theo pháp, t́nh và vô t́nh có ǵ chẳng phải là Chân Như bản tánh? Khi ấy, sẽ chẳng gọi là cảnh, mà toàn là tánh.

      Nếu đối với ư nghĩa này, chúng ta vẫn c̣n chưa dễ lănh hội cho lắm, chúng tôi dùng mộng làm tỷ dụ, rất nhiều cảnh giới trong mộng do đâu mà có ? Do tâm của chính ḿnh biến hiện. Nếu quư vị giác ngộ một thoáng, giác ngộ là quư vị đă hiểu, khéo thấu hiểu: “Toàn thể mộng chính là tâm”. Ngay trong khi ta nằm mộng, toàn thể tâm biến thành mộng cảnh, tâm giống như thế nào? Cảnh giới ấy chính là h́nh tướng của tâm. “Ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài pháp chẳng có tâm”. Tâm và cảnh bất nhị, Tánh và Tướng như một, đến chỗ này chính là cảnh giới của Biệt Giáo Sơ Địa Bồ Tát trở lên (đến Bát Địa mới viên dung tự tại), đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. V́ thế, có cảnh hay không? Chẳng có, toàn là tự tánh. Đến khi ấy:

 

      (Sao) Tắc vật vật đầu đầu, giai tổ sư ư.

       () 則 物 物 頭 頭,皆 祖 師 意。

      (Sao: Mọi vật mọi sự đều là ư tổ sư).

 

      “Tổ sư ư” là ǵ? Minh tâm kiến tánh.

 

      (Sao) Kim cô cử nhị sự dă.

       () 也。

      (Sao: Nay chỉ nêu ra hai chuyện).

 

      Nay nêu lên hai ví dụ, đây là hai công án trong Thiền Tông. Công án thứ nhất là…

 

      (Sao) Văn oanh giả.

       () 者。

      (Sao: Nghe tiếng chim oanh…)

 

      “Oanh” () là chim hoàng oanh (黃鶯). Hoàng oanh kêu trên cành liễu khiến cho người ấy khai ngộ, há chẳng phải là hoàng oanh đang thuyết pháp ư? Lần này người ấy nghe hiểu. Trong quá khứ, mỗi ngày nghe chim oanh thuyết pháp, nhưng chẳng nghe hiểu. Lần này nghe đă hiểu, bèn khai ngộ. Đó là hữu t́nh thuyết pháp.

 

      (Sao) Nhất tăng nhân nghi Pháp Hoa vân.

       () 云。

      (Sao: Một vị Tăng do nghi [một câu] được nói trong kinh Pháp Hoa).

 

      Đối với một câu kinh văn của kinh Pháp Hoa, vị ấy có nghi t́nh. Nghi t́nh tức là vị ấy chẳng liễu giải, chứ chẳng phải là hoài nghi. Hoài nghi là không tin tưởng, đó là hoài nghi, là tham, sân, si, mạn nghi, là phiền năo, chẳng có tác dụng ǵ hết! C̣n nghi t́nh là ǵ? Ta không liễu giải, nhưng ta tin tưởng, tin tưởng lời Phật dạy quyết định là chân thật, nhưng ta không hiểu, đó gọi là “nghi t́nh”. Thiền Tông nói: “Đại nghi bèn đại ngộ, tiểu nghi bèn tiểu ngộ”, chẳng nghi ngờ sẽ không thể ngộ. Ở đây nói tới nghi t́nh, tuyệt đối chẳng phải là hoài nghi. Hoài nghi th́ không được rồi, hoài nghi là phiền năo. Kinh Pháp Hoa có hai câu như sau:

 

      (Sao) Chư pháp tùng bổn lai, thường tự tịch diệt tướng.

      () 來,常 相。

      (Sao: Các pháp từ xưa nay, tướng thường tự tịch diệt).

 

      “Chư pháp” là hết thảy các pháp. Hết thảy các pháp trước nay đều là thanh tịnh, tịch diệt. Kinh văn c̣n có hai câu kế đó: “Chư pháp trụ pháp vị, thế gian tướng bất hoại” (các pháp trụ pháp vị, tướng thế gian chẳng hoại). Đó đều là những câu rất khó hiểu trong kinh Pháp Hoa. Tướng thế giới chẳng hoại, tức là bất sanh bất diệt. Đó cũng là bất sanh bất diệt. Hai câu ấy đều nhằm nói: Hết thảy các pháp bất sanh bất diệt. Nếu quư vị thật sự hiểu hai câu ấy, sẽ chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, chẳng phải là Bồ Tát b́nh phàm. Nói theo Tịnh Độ Tông, quư vị chứng đắc Lư nhất tâm bất loạn. Nếu chúng ta nới rộng khuôn khổ, Lư nhất tâm bất loạn Bồ Tát sẽ là Viên Giáo Sơ Trụ. Nếu nói nghiêm ngặt, Lư nhất tâm bất loạn là từ Thất Địa trở lên, tối thiểu cũng là Đăng Địa Bồ Tát, đó là Viên Giáo. Kinh Nhân Vương nói Vô Sanh Pháp Nhẫn là Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa. Thất Địa là hạ phẩm Vô Sanh Nhẫn; Bát Địa là trung phẩm Vô Sanh Nhẫn; Cửu Địa là thượng phẩm Vô Sanh Nhẫn, địa vị của quư vị cao lắm!

 

      (Sao) Cửu tham vị ngộ.

       () 悟。

      (Sao: Tham đă lâu nhưng chưa ngộ).

 

      Vấn đề này ghim trong ḷng rất lâu, chẳng hiểu rơ [hai câu ấy] có nghĩa là ǵ. Có một ngày, đây cũng là v́ tham cứu lâu ngày, tâm đă tịnh. V́ vấn đề này thường chẳng thể giải quyết, dẫu chẳng thể giải quyết cũng chớ nên suy tưởng, [hễ suy tưởng tức là] quư vị nghiên cứu, trật mất rồi! Chỉ có thể khởi lên nghi t́nh, thường có nghi t́nh ấy, chứ vọng tưởng ǵ cũng đều chẳng có. Thiền Tông dùng phương pháp ấy để xóa sạch vọng tưởng, chấp trước. Thời gian càng lâu, tâm càng thanh tịnh, nói không chừng sẽ gặp một cơ hội nào đó, hễ gặp được sẽ thông suốt. Đối với vị xuất gia ấy, hoàng oanh hót tại đó mỗi ngày, vị ấy nghe hót mỗi ngày, vẫn chẳng khai ngộ. Hôm ấy, nước chảy thành khe, tâm địa thanh tịnh mới đạt đến độ thuần thục, vừa gặp gỡ liền khai ngộ.

 

      (Sao) Hốt văn oanh thanh, toại đắc đại triệt.

       () 聲,遂 徹。

      (Sao: Chợt nghe tiếng chim oanh hót bèn được đại triệt).

 

      Nghe hoàng oanh vừa hót, bèn đại triệt đại ngộ! Ngài bèn nói một bài kệ:

 

      (Sao) Chư pháp tùng bổn lai, thường tự tịch diệt tướng, xuân đáo bách hoa hương, hoàng oanh đề liễu thượng.

       () 來,常 相,春 香,黃 上。

     (Sao: Các pháp từ xưa nay, tướng thường tự tịch diệt, xuân đến trăm hoa ngát, oanh hót trên cành liễu).

 

      Đây là hai câu trong kinh Pháp Hoa, đă tham lâu chẳng ngộ, nay bỗng dưng khai ngộ. Xuân đă tới, trăm hoa tự nhiên nở ngát hương, chim hoàng oanh hót trên cây liễu. Đối với bài kệ sau khi khai ngộ của Ngài, chúng ta đọc có thể khai ngộ hay không?

 

      (Sao) Kích trúc giả.

       () 者。

      (Sao: Đụng vào trúc là…)

 

      Đây là vô t́nh thuyết pháp. Trong phần trước là hữu t́nh, phần này là vô t́nh. Có thể thấy hữu t́nh lẫn vô t́nh đều thuyết pháp ở đó, chúng ta có hiểu hay không? Đây là nói tới tôn giả Hương Nham, cũng là một vị đại đức trong Thiền Tông.

 

      (Sao) Hương Nham dĩ bất hội “phụ mẫu vị tiền sanh” cú, phát phẫn trụ sơn.

() 句,發 山。

(Sao: Ngài Hương Nham do chẳng hiểu câu “diện mạo vốn có trước khi được cha mẹ sanh ra”, nên phát phẫn trụ trong núi).

 

      [Sách Diễn Nghĩa nói] “Hương Nham tại Bách Trượng hội trung, cơ phong mẫn tiệp” (Ngài Hương Nham ở trong hội của ngài Bách Trượng, cơ phong nhanh lẹ). Ngài là học tṛ của tổ Bách Trượng, sống vào đời Đường. Vị này hết sức thông minh, trí huệ rất cao, trong Thiền Đường đối đáp như nước chảy. “Hậu tham Quy Sơn” (sau đến tham phỏng ngài Quy Sơn), đến chỗ tổ sư Quy Sơn xin tham học. “Sơn vấn viết: - Nhữ tại Bách Trượng, năng vấn nhất đáp thập, vấn thập đáp bách, thị phủ?” (ngài Quy Sơn hỏi: “Ông ở chỗ ngài Bách Trượng có thể hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm, đúng không?”), đúng hay không? Rất thông minh, có thể thấy thuở ấy ngài Hương Nham rất nổi danh. Thiền sư Quy Sơn biết bản lănh của Ngài. “Hương Nham vân thị” (Hương Nham thưa phải), chẳng sai, quả thật là như vậy. “Sơn vân: Ngă bất yếu nhữ đáp thập, đáp bách, đản tương phụ mẫu vị sanh tiền bổn lai diện mục đạo nhất cú lai” (ngài Quy Sơn nói: “Ta không cần ông đáp mười, đáp trăm, chỉ đem một câu ‘diện mạo vốn có trước khi được cha mẹ sanh ra’ nói ra đi”). Ông nói câu “diện mạo vốn có trước khi được cha mẹ sanh ra” cho ta nghe thử xem, ta không cần ông đáp trăm, đáp mười chi cả! “Nham bất năng đáp” (ngài Hương Nham chẳng thể đáp), lần này đúng là bị bắt bí mất rồi, cơ duyên của Ngài không ở chỗ ngài Bách Trượng, mà ở nơi pháp sư Quy Sơn. “Cầu Quy Sơn vị thuyết. Sơn vân: - Ngă nhược vị nhữ thuyết phá, nhữ hậu lai mạ ngă, thả khứ, bất vị nhữ thuyết” (Sư cầu ngài Quy Sơn giảng cho. Ngài Quy Sơn nói: “Nếu ta nói toạc ra với ông, sau này ông sẽ chửi ta. Hăy đi đi, ta chẳng nói cho ông biết”). Thật vậy, v́ sao chẳng thể nói? Sau khi nói ra, quư vị sẽ chẳng khai ngộ. Giống như người nghe tiếng chim oanh khai ngộ trên đây, nếu vị ấy nói ra, quư vị có hiểu hay không? Người ta ngộ, nếu vị ấy nói ra, quư vị sẽ chẳng khai ngộ, chuyện này nhất định là chuyện của chính ḿnh. Chính quư vị sau khi đă ngộ nhập, sẽ t́m vị ấy xin ấn chứng, vị ấy sẽ bảo cho quư vị biết. Nếu quư vị chẳng khai ngộ, vị ấy quyết định chẳng nói cho quư vị biết. Nói cho quư vị biết, sẽ ngăn lấp ngộ môn của quư vị, trong tương lai, lẽ nào quư vị chẳng hận vị ấy? Đương nhiên sẽ hận thấu xương! Người hiện thời chẳng hiểu [như vậy]! Người hiện thời nếu gặp một vị thầy cao minh mà thầy chẳng nói, [sẽ chê trách]: “Vị thầy này tiếc pháp, chẳng nói cho chúng ta biết”.

      Lần ấy, ngài Hương Nham đúng là đă gặp một cửa ải khó vượt. Ḥa Thượng chẳng bảo ban, cũng chẳng nói với Ngài. “Hương Nham phẫn vân: Ngă bạn nhất sanh, tố cá thường hành chúc phạn tăng, quyết yếu tham phá” (Hương Nham phát phẫn, nói: “Ta sống cả một đời, thường làm một ông Tăng chỉ biết ăn cơm, húp cháo, quyết phải tham thấu triệt chuyện này”). Ngài phát phẫn, chẳng c̣n mỗi ngày biện luận đấu cơ phong với người khác, mà thật thà tu hành, mới hiểu điều ǵ? Thông minh như trước đó, chẳng có một tí tác dụng ǵ cả, bị người ta giáng cho một câu liền bí rị! Ngài tu khổ hạnh trong chốn thường trụ. “Hậu nhân trị địa” (về sau do vỡ đất), “trị địa” (治地) là trồng trọt. Bách Trượng đại sư đề xướng: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm th́ ngày đó chẳng ăn), Phật môn hiện thời nói là “xuất pha” (出坡: ra sườn núi). Xuất Pha do Bách Trượng đại sư đề xướng, tức là đề xướng người xuất gia tự trồng lương thực, rau cỏ, chớ nên cầu từ nơi người khác. Trong quá khứ, tự viện có rất nhiều ruộng đất, núi rừng, đều do tín đồ quyên tặng, họ dựa vào thâu nhập đó để có lương thực. Ruộng đất hơn phân nửa cho nông dân cấy rẽ, chính ḿnh thu tô, cũng có một phần do chính ḿnh trồng trọt. Điều này chẳng phù hợp giới luật. Thuở tại thế, Thích Ca Mâu Ni Phật chắc chắn chẳng cho phép, v́ người xuất gia sống theo quy chế khất thực. Nhưng Phật pháp truyền đến Trung Hoa, chẳng thể tuân theo quy chế khất thực. V́ người Hoa coi thường người khất thực, cho khất thực là ăn mày. Tại Ấn Độ, người xuất gia khất thực được mọi người hết sức tôn trọng cúng dường. Phật pháp truyền đến Trung Hoa thoạt đầu được quốc gia cúng dường, v́ đều do hoàng đế phái đặc sứ nghênh thỉnh pháp sư từ ngoại quốc đến làm khách của cả nước, tiếp nhận sự cúng dường của triều đ́nh. Về sau, Phật pháp phổ biến, tiếp nhận các quan lại, trưởng giả, cư sĩ tại địa phương cúng dường, nên tại Trung Hoa chẳng có quy chế khất thực.

      Do vậy, Bách Trượng đại sư đề xướng trồng trọt. Trong giới luật, trồng trọt được gọi là Hạ Khẩu Thực, là tà mạng. Bách Trượng đại sư đề xướng là có đạo lư, đức Phật chế định giới luật nhằm phù hợp xă hội thuở đó. Chúng ta phải hiểu rơ, tuân thủ tinh thần giới luật, chẳng thể biến đổi, nhưng phương thức mỗi thời đại mỗi khác. Cách sống đă khác, khu vực khác nhau, thảy đều phải tu chỉnh. Cách làm như thế nào phải tùy thời, tùy chỗ để tu chỉnh, ḥng thích hợp t́nh h́nh sinh hoạt của đại chúng th́ Phật pháp mới có thể phổ biến, hoằng dương, mới có thể được người ta hoan hỷ tiếp nhận. Nếu phương thức đă h́nh thành bèn bất biến th́ Phật pháp chắc chắn bị tiêu diệt. Chư vị phải hiểu, đặc biệt là Đại Thừa Phật pháp, nhấn mạnh Trung Đạo, Nho gia nói là Trung, giống như con sông cong cong quẹo quẹo, nó vĩnh viễn ở giữa, chẳng lệch sang đôi bờ. Phật pháp cũng là như thế, bất luận trong thời đại nào, bất luận ở chỗ nào, đều hành theo Trung Đạo. V́ thế, giới luật quyết định chẳng thể chấp chết cứng nơi giới điều, [hễ chấp chết cứng] th́ trật rồi! Kinh giáo cũng chớ nên chấp chết cứng nơi văn tự. Cùng một bộ kinh, từ xưa tới nay có nhiều chú giải, mỗi cá nhân có cách giảng khác nhau. Cách giảng ấy mang tánh chất thời đại. Kinh văn chẳng biến đổi, thời cổ cũng dùng bản ấy, hiện thời cũng dùng bản ấy, nhưng thời cổ có cách giảng của thời cổ, hiện tại có cách giảng của hiện tại, do nhu cầu của đại chúng trong mỗi thời mỗi khác, phải biết chuyện này.

      Hiểu nguyên tắc này, chúng ta đọc chú giải của cổ nhân. Ví như chúng ta xem chú giải của người đời Đường, qua bản chú giải ấy, từ cách giảng của vị ấy, chúng ta có thể suy đoán h́nh thái ư thức và cách sống trong thời Đường có những điểm khó khăn nào, cách giải thích ấy nhằm giải quyết những vướng mắc của họ, giống như chúng ta nh́n vào toa thuốc liền biết người ta mắc những bệnh ǵ. V́ vậy, đọc chú giải mà chẳng hiểu những nguyên lư và nguyên tắc này, cũng chấp chết cứng nơi câu văn của cổ nhân, những ǵ quư vị học toàn là chết cứng. V́ thế, nhấn mạnh “thôi trần xuất tân” (tiếp thu những điều cũ có chọn lọc, tức là gạn lọc, phát huy những điều tinh hoa đạt tới một mức độ cao hơn, trừ khử những điều hạn chế, sai lạc, thiên kiến trong cách nh́n của cổ nhân), chúng ta phải có cách nh́n sống động. Nh́n sống động th́ mới hiểu chúng ta ở trong thời đại này, thời đại này rất khác quá khứ, chúng ta phải biết giảng bộ kinh này theo cách nào th́ mới có thể đối trị căn bệnh của người hiện thời, cũng tức là đối trị cách nghĩ, cách nh́n, cách làm sai lầm như thế nào? Cứu chữa như thế nào? Phật pháp như vậy th́ mới phù hợp.

      Vị này cũng đă nêu gương. Từ đấy trở đi, Ngài hoàn toàn buông xuống tiếng tăm, lợi dưỡng, và thói ham cao, chuộng xa. Người có tài hoa bèn ngạo mạn, Ngài có chỗ đáng để kiêu ngạo mà! Ngài Hương Nham ở chỗ tổ Bách Trượng có cái đáng để kiêu ngạo, đi tới chỗ ngài Quy Sơn, đụng phải vấn đề khó nuốt, chẳng dám kiêu ngạo nữa, thật thà làm lụng cực nhọc. Câu “diện mạo vốn có trước khi được cha mẹ sanh ra” luôn ghim trong ḷng. Do ghim đă lâu, nên chẳng có vọng niệm, hằng ngày tưởng “diện mạo vốn có trước khi được cha mẹ sanh ra”, nên vọng tưởng, chấp trước đều chẳng có. Có một hôm, cũng rất ngẫu nhiên, trong khi trồng trọt, cuốc phải một cục đá, Ngài liền tùy tiện nhặt lên, quăng đi. Cạnh đó là rừng trúc, nhằm lúc cục đá đập vào thân trúc, vừa nghe âm thanh ấy, Ngài khai ngộ. Nói thật ra, Ngài đă làm quăng như vậy không biết bao nhiêu lần, cũng không biết đă nghe [tiếng đá văng vào trúc] bao nhiêu lượt, nhưng đều chẳng khai ngộ, lần này bèn khai ngộ. Tức là giống như người nghe chim hoàng oanh hót, cũng chẳng biết là đă nghe mấy trăm lượt, mấy ngàn lượt, đều chẳng khai ngộ, lần này vừa đụng tới, [cơ duyên] đă chín muồi, bèn khai ngộ.

      “Năi hướng Quy Sơn tác lễ viết: Nhược Quy Sơn tảo vị ngă thuyết, yên đắc hữu kim nhật sự, nhất kích vong sở tri” (Bèn hướng về Quy Sơn[13] làm lễ, nói: “Nếu ngài Quy Sơn đă sớm nói cho con biết, há có chuyện ngày hôm nay, vừa đụng liền quên bẵng những ǵ đă biết”). Nếu trước kia lăo ḥa thượng đă nói cho Ngài biết, Ngài sẽ chẳng có cảnh giới hôm nay, chẳng đạt được. V́ đó là của người khác, chẳng phải là của chính ḿnh, phải do chính ḿnh ngộ nhập, đó là minh tâm kiến tánh. Một người minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ, chứng đắc Lư nhất tâm bất loạn, không nhất định do cơ duyên nào, chẳng có cách nào dự đoán được. Nhưng quyết định chớ nên giữ ư niệm ấy. Hễ giữ ư niệm ấy, chắc chắn quư vị chẳng khai ngộ. Ví như chúng ta niệm Phật, mong đắc nhất tâm bất loạn, hằng ngày nghĩ ngợi: “Cớ sao ta vẫn chưa đắc nhất tâm bất loạn?” Quư vị vĩnh viễn chẳng thể nào đạt được nhất tâm, chẳng đạt được. Chỉ có người thật thà niệm câu A Di Đà Phật, điều ǵ cũng quên hết, giống như tham Thiền; nhưng trong tham Thiền, có người tham suốt đời cũng chẳng khai ngộ, nhiều lắm, quá ư là nhiều! Người tham Thiền, trong một vạn người, có thể khai ngộ trong một đời, thưa cùng chư vị, chỉ là dăm ba vị mà thôi; do vậy, pháp môn ấy chẳng bằng niệm Phật. Niệm Phật, chẳng ngộ cũng chẳng sao, vẫn văng sanh như thường, người ấy đới nghiệp văng sanh.

      Tham Thiền mà tham đến mức công phu thành phiến, vô dụng! Tham đến mức Sự nhất tâm bất loạn vẫn vô dụng! Sự nhất tâm bất loạn là đắc Định. Công phu thành phiến là Tương Tự Định, công phu định lực ấy có thể khuất phục phiền năo, nhưng trọn chẳng đoạn phiền năo, vô dụng! Dẫu cho đă đoạn hết phiền năo, vẫn chẳng có tác dụng, nhất định phải là minh tâm kiến tánh. Khi chưa đạt tới cảnh giới ấy, công phu suốt một đời đều thành lăng phí. V́ thế, chẳng bằng niệm Phật, niệm Phật chỉ cần công phu thành phiến, quyết định văng sanh. Do đó, mười phương ba đời hết thảy chư Phật tôn sùng pháp môn này. Pháp môn này được gọi là “đạo dễ hành” v́ ai nấy đều có phần. Thiện Đạo đại sư bảo: “Trăm người tu, trăm người văng sanh; ngàn người tu, ngàn người văng sanh, chẳng sót một ai!” Thiền chẳng dễ dàng như thế, Mật cũng chẳng dễ dàng dường ấy. Đây là một pháp môn dễ dàng nhất, nhanh chóng nhất, và cũng là ổn thỏa, thích đáng nhất trong hết thảy các pháp môn.

 

      (Sao) Nhất nhật trị địa thứ.

       () 次。

      (Sao: Một hôm, trong khi cày cuốc đất).

 

      Nhằm hôm Ngài đang trồng trọt ở nơi ấy.

 

      (Sao) Phao thạch kích trúc, khanh nhiên hữu thanh, hốt nhi đại ngộ, tác tụng: “Hữu nhất kích vong sở tri, cánh bất giả tu tŕ, động dung dương cổ lộ, bất đọa tiễu nhiên cơ”.

() 竹,鏗 聲,忽 頌:有 知,更 持,動 路,不 機。

(Sao: Quăng đá trúng cây trúc, vang thành tiếng lạch cạch, bỗng đại ngộ, làm bài tụng như sau: “Vừa đụng bèn quên sạch sở tri, chẳng c̣n nhọc sức phải tu tŕ, hành vi, vẻ mặt phô đường cũ, chẳng đọa vào trong nẻo tịch vi”).

 

      Khi ngài Ngộ, đă làm bài kệ ấy.

 

      (Sao) Đẳng ngữ, như thị, tắc diêm tiền thước táo.

       () 語,如 是,則 噪。

      (Sao: “Đẳng” là [c̣n nhiều trường hợp giống] như vậy, như chim khách kêu dưới mái hiên).

 

      “Thước” () là hỷ thước (喜鵲: chim khách), chim khách kêu dưới mái hiên trước nhà.

 

      (Sao) Dă ngoại tùng thanh.

       () 聲。

      (Sao: Tiếng tùng reo ngoài đồng).

 

      Nơi rừng tùng ngoài đồng hoang, ta có thể thấy tùng lượn sóng. Gió lùa qua cội tùng, tùng uốn lượn rập rờn như sóng trên mặt biển, âm thanh ấy cũng êm tai lắm, đó là tiếng tùng reo.

 

      (Sao) Nhất văn, nhất dăng.

       () 蠅。

      (Sao: Một con muỗi, một con ruồi).

 

       Nghe tiếng muỗi, ruồi vo ve.

 

      (Sao) Nhất thảo, nhất diệp, mạc bất diễn dương diệu pháp, cổ phát đạo tâm, huống thanh tịnh Phật độ hồ?  

      (Diễn) Nhất kích vong sở tri. Sở Tri tức Sở Tri Chướng.

       () 葉,莫 法,鼓 心,況 乎。

  () 一 擊 忘 所 知,所 知,即 所 知 障。

      (Sao: Một nhánh cỏ, một chiếc lá, không ǵ chẳng diễn bày, tuyên dương diệu pháp, cổ vũ phát khởi đạo tâm, huống hồ cơi Phật thanh tịnh ư?

Diễn: “Vừa đụng bèn quên sạch sở tri”: Sở Tri chính là Sở Tri Chướng).

 

      Đă phá Sở Tri Chướng! Chẳng phá Sở Tri Chướng, chẳng thể khai ngộ. V́ sao chớ nên nghiên cứu, chớ nên suy tưởng kinh giáo? Quư vị nghiên cứu là tăng trưởng Sở Tri Chướng. Do đó, đối với kinh giáo, quư vị nghe, tiếp xúc, nếu hiểu th́ hiểu, không hiểu th́ chẳng sao, đừng quan tâm, đó là đúng. Một nguyên tắc là từ đầu tới cuối giữ ǵn cái tâm thanh tịnh. Hiểu th́ hiểu, không hiểu là không hiểu, đúng như Khổng lăo phu tử đă nói: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dă” (biết th́ nói là biết, không biết bèn nói không biết, đó là biết vậy), đó là phương pháp cầu trí huệ thật sự. Trí huệ của Khổng lăo phu tử cũng cầu từ trong Định, cũng chẳng rớt vào tâm ư thức. Đó là đă phá Sở Tri Chướng, bèn khai ngộ.

 

      (Diễn) Tức cừ vấn nhất đáp thập xứ, đáo thử hốt nhiên hồn hóa, cố vân vong.

() 處,到 化,故 忘。

(Diễn: Tức là khả năng hỏi một đáp mười của Ngài đến lúc ấy bỗng nhiên mất tăm mất tích, nên nói là “quên bẵng”).

 

      Trong quá khứ, ngài Hương Nham nghe một biết mười, nghe mười đáp trăm, toàn là Thế Trí Biện Thông, chẳng phải là trí huệ chân thật. Khi ấy (đă khai ngộ), trí huệ chân thật hiện tiền, các thứ phân biệt, vọng tưởng trước kia tới lúc đó đều hoàn toàn tiêu trừ, toàn bộ đều chẳng có, tâm địa thanh tịnh, bỗng nhiên sáng ngời, pháp thế gian và xuất thế gian không ǵ chẳng biết, đó là trí huệ hiện tiền. Hôm nay đă hết thời gian rồi.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 90 hết

 



[1] Đài Phong (颱風) là một loại băo lốc vùng nhiệt đới ở vùng biển Bắc Thái B́nh Dương từ bờ biển Trung Hoa cho đến Nhật Bản, Phi Luật Tân v.v…, thường được biết dưới tên gọi Typhoon (chữ Đài Phong theo giọng đọc Quảng Đông đă được Anh hóa). Tuy thế, có một số người cho rằng Typhoon xuất phát từ Tūfān (băo) của tiếng Ba Tư cổ. Loại băo này thường giáng xuống Đài Loan, Việt Nam, Phi Luật Tân, Nhật Bản, và các tỉnh duyên hải Nam Trung Hoa. Trận băo Haiyan vừa đánh vào Phi Luật Tân vừa qua chính là Typhoon.

[2] Minh Thứ Phong là tên gọi của Đông phong (gió Đông), c̣n Thanh Minh Phong là gió Đông Nam. Sách Thuyết Văn giảng: “Gió có tám loại. Gió phương Đông gọi là Minh Thứ Phong, gió từ Đông Nam gọi là Thanh Minh Phong, gió từ phương Nam gọi là Cảnh Phong, gió từ phương Tây Nam gọi là Lương Phong, gió từ phương Tây gọi là Lư Hạp Phong, gió từ phía Tây Bắc gọi là Bất Châu Phong, gió từ phương Bắc gọi là Quảng Mạc Phong, gió từ phía Đông Bắc gọi là Dung Phong”. Sách Sử Kư, chương Luật Thư giảng: “Minh Thứ Phong ở phương Đông. Minh Thứ có nghĩa là mọi vật đều xuất hiện”.

[3] Lục Luật nói ở đây chính là cách phân chia cao độ các nốt nhạc trong cổ nhạc Trung Hoa. Theo truyền thống, người ta tin mười hai nốt nhạc ấy do cổ nhân dùng mười hai ống sáo (luật quản) có độ dài khác nhau, phát ra mười hai âm thanh tiêu chuẩn có cao độ khác nhau. Kể theo thứ tự, sẽ là Hoàng Chung, Đại Lữ, Thái Thốc, Giáp Chung, Cô Tuyển, Trọng Lữ, Nhuy Tân, Lâm Chung, Di Tắc, Nam Lữ, Vô Tạ, Ứng Chung. Mười hai âm này lại được chia thành sáu âm thuộc Dương và sáu âm thuộc Âm, những âm thuộc Dương gọi là Lục Luật, các âm thuộc Âm th́ gọi là Lục Lữ. Trong cách phân chia này, những âm thuộc số lẻ là Dương, số chẵn là Âm (chẳng hạn Hoàng Chung là Dương, Đại Lữ là âm).

[4] Bát Âm là âm thanh do các loại nhạc khí được chế bằng tám chất liệu khác nhau phát ra:

1) Kim () là các nhạc khí bằng kim loại (thường là đồng) như chuông, phương hưởng (giàn khánh dẹp, mỗi cái khánh có h́nh như chữ L), biện chung (dàn chuông), thanh la, trống đồng, năo bạt, linh, chiêng...

2) Thạch () là các loại nhạc khí bằng đá như khánh đá.

3) Ty () là các loại đàn, do thời cổ, dây đàn bằng tơ bện, nên gọi là Ty, như đàn cầm, đàn tranh, không hầu (gần giống đàn harp), tỳ bà, đàn nguyệt (đờn ḱm), độc huyền, nhị huyền (hồ cầm, nhị, đờn c̣ v.v…), cách hồ (giống như hồ cầm, nhưng có phần cộng hưởng được bịt bằng da)…

4) Trúc () là các loại tiêu, sáo, kèn như tiêu (sáo thổi ngang), địch (sáo thổi dọc), bát xích (sáo Nhật), tất lật, quản tử, tỏa nạp (kèn Tàu), ba ô (sáo Mèo), mang đồng (sáo ống, rất to, dài chừng hai thước)…

5) Bào () là các loại nhạc khí thổi, có bầu cộng hưởng bằng quả bầu hay có h́nh dáng giống như quả bầu, như sênh, lô sênh, hồ lô tư, hồ lô sênh…

6) Thổ () là các loại nhạc khí bằng đất nung như huân (ocarina), phẫu (loại nhạc khí này chỉ dùng trong lễ tế Khổng Tử, có h́nh thể rất to như cái bàn vuông, có hộc ở bên hông, dùng chùy lớn giộng vào phát ra âm thanh lộc cộc).

7) Cách () là các loại nhạc khí có màng rung bằng da, như các loại trống.

8) Mộc là các loại nhạc khí gơ bằng gỗ như mơ, phách v.v…

[5] Cung Thương là hai nốt nhạc trong truyền thống Ngũ Âm của cổ nhạc châu Á, bao gồm Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ (tương đương với các nốt nhạc Mi, So, La, Do, Re trong nhạc lư phương Tây).

[6] Sênh là một nhạc khí rất cổ mà vẫn được sử dụng cho đến hiện thời, thuộc loại thổi gồm nhiều ống sáo (thông thường có đến 17 ống dài ngắn khác nhau, các loại sênh cải tiến có số ống từ 24 đến 42 ống) cắm vào một bầu cộng hưởng ṿi loe ra để thổi. Trong mỗi ống đều có lưỡi gà để rung theo nhịp thổi. Sênh thường được dùng để ḥa tấu với kèn tỏa nạp và địch. Thời xưa lại chia thành hai loại, loại to gọi là Vu, loại nhỏ gọi là Ḥa. Người Hoa tin Sênh do họ Nữ Oa chế ra. Trong khi đó, khèn (khene, khaen) là một loại nhạc khí tương tự (phổ biến tại Lào, Thái Lan), nhưng âm vực thấp hơn và các note nhạc không phong phú bằng sênh, nhưng đôi khi có người cũng gọi sênh là khèn.

[7] Hiểu theo nghĩa hẹp, phong hầu (封侯) có nghĩa là được phong tước hầu, nhưng ở đây, phải hiểu theo nghĩa rộng là quan tước hiển hách, cao vời, v́ Uất Tŕ Cung được phong quan chức cao nhất là Phu Hạ Nhị Châu Đô Đốc (Đô Đốc của Phu Châu và Hạ Châu), nhưng tước th́ được gia phong hai lần. Lần thứ nhất là trong năm Trinh Quán nguyên niên (627), Uất Tŕ Cung được phong tước Ngô Quốc Công, ăn lộc một ngàn ba trăm hộc, giữ chức Kinh Châu Đạo Hành Quân Tổng Quản. Lần thứ hai vào năm Trinh Quán 11 (637), ông được phong làm Ngạc Quốc Công, thực ấp tại Tuyên Châu gồm một ngàn ba trăm hộ, kiêm Tuyên Châu Thứ Sử, Quang Lộc Đại Phu, kiêm Phu Châu Đô Đốc.

[8] Pháp Uyển Châu Lâm do ngài Đạo Thế biên soạn vào đời Đường, gồm 100 quyển, hoàn thành vào năm Tổng Chương nguyên niên (668). Từ năm Hiển Khánh thứ tư (659), ngài Đạo Thế đă dựa theo Kinh Luật Dị Tướng để biên soạn bộ Chư Kinh Tập Yếu, sau đổi tên thành Pháp Uyển Châu Lâm, trích dẫn hơn bốn trăm loại kinh luận, bao gồm các thể loại kinh Phật, Nho gia, Đạo giáo, sấm vĩ.., được coi là một loại bách khoa toàn thư Phật giáo thời cổ, gồm 640 hạng mục bắt đầu từ Kiếp Lượng Thiên và kết thúc bằng Truyện Kư Thiên. Trong tác phẩm này, có trích dẫn những bản nguyên dịch của kinh điển hoặc tác phẩm đă mất từ lâu như Bồ Tát Bổn Hạnh Kinh, Quán Phật Tam Muội Kinh, Tây Vực Chí, Trung Thiên Trúc Hành Kư v.v…

Kinh Luật Dị Tướng gồm năm mươi quyển, do ngài Bảo Xướng soạn, hoàn thành vào năm Thiên Giám 15 (516) đời Lương. Sách này thâu thập những tướng trạng kỳ lạ, thần dị trong các kinh luật. Sách do Lương Vũ Đế sai ngài Bảo Xướng làm chủ biên, các vị Tăng Hào, Pháp Sanh v.v… phụ tá. Sách được chia thành hai mươi mốt bộ môn như trời, đất, Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, quốc vương… cho đến địa ngục, quỷ thần, súc sanh.

[9] Tam Hoàng có nhiều thuyết giải thích:

- Theo Sử Kư (do Tư Mă Thiên soạn, phần Tam Hoàng Bản Kỷ) và Xuân Thu Vận Đẩu Khu của Tư Mă Trinh Bổ th́ Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa.

- Theo Thượng Thư (kinh Thư), Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế.

- Theo Thượng Thư Đại Truyện và Lễ Vỹ Hàm Văn Gia, Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Toại Nhân.

- Theo Bạch Hổ Thông, Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Chúc Dung.

- Theo Thông Giám Ngoại Kỷ, Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Cộng Công.

- Theo Vĩ Thư đời Hán, Tam Hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng.

Ngũ Đế cũng có nhiều thuyết khác nhau:

- Theo Sử Kư, Đại Đới Lễ Kư, Dịch Truyện, và Xuân Thu Quốc Ngữ, Ngũ Đế là Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu và Thuấn.

- Theo Thượng Thư, Bạch Hổ Thông Nghĩa, Ngũ Đế là Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu và Thuấn.

- Theo Chiến Quốc Sách, Ngũ Đế là Hoàng Đế, Bào Hy, Thần Nông, Nghiêu và Thuấn.

- Theo Lễ Kư, Lă Thị Xuân Thu, và Hoài Nam Tử, Ngũ Đế là Hoàng Đế, Chuyên Húc, Thái Hạo, Thiếu Hạo, Viêm Đế.

- Theo Tư Trị Thông Giám, Ngũ Đế là Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu và Thiếu Hạo.

Thông thường, Ngũ Đế được hiểu theo thuyết của Sử Kư.

[10] Ngũ Bá (五霸) là năm vua chư hầu mạnh nhất, thống lănh chư hầu trong thời Xuân Thu. Bá có nghĩa là bá chủ, tức lănh tụ, có các chức trách: Tôn vương (tức tuân phục thiên tử nhà Châu), trấn áp các nước di địch chung quanh, ngăn cấm trừng phạt những kẻ soán nghịch, giết vua, giúp các nước chư hầu yếu kém, đập tan những cuộc xâm lăng lẫn nhau giữa các nước chư hầu. Đối với Ngũ Bá, cũng có nhiều thuyết:

- Theo Sử Kư, Ngũ Bá là Tề Hoàn Công (Khương Tiểu Bạch), Tần Mục Công (Doanh Nhậm Hảo), Tấn Văn Công (Cơ Trọng (Trùng) Nhĩ), Sở Trang Vương (Hùng Lữ) và Tống Tương Công (Tử Tư Phủ).

- Theo Từ Thông, Ngũ Bá là Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương và Trịnh Trang Công (Cơ Ngụ Sanh).

- Theo Tứ Tử Hồng Đức Luận, Ngũ Bá là Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương và Việt Vương Câu Tiễn (Tự Câu Tiễn).

- Theo Bạch Hổ Thông, Ngũ Bá là Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương và Ngô Vương Hạp Lư (Cơ Quang).

- Theo Hán Thư Chú, Ngũ Bá là Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, Tấn Văn Công, Tống Tương Công, Ngô Vương Phù Sai (Cơ Phù Sai).

- Theo Tuân Tử, Ngũ Bá là Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương, Ngô Vương Hạp Lư, Việt Vương Câu Tiễn.

[11] Thanh Lương Trừng Quán đại sư (735-839). Ngài sanh vào năm Khai Nguyên thứ hai mươi (737) đời Đường Huyền Tông, viên tịch năm Khai Thành thứ tư (839) tức là đă sống qua các đời vua Huyền Tông, Túc Tông, Đại Tông, Đức Tông, Thuận Tông, Hiến Tông, Mục Tông, Kính Tông và Văn Tông của nhà Đường.

[12] Cái trống trời này được nói tới trong phẩm Hiền Thủ. Sau khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói về các hạnh thanh tịnh (các hạnh ấy được ghi lại trong phẩm Tịnh Hạnh) bèn dùng kệ hỏi Hiền Thủ Bồ Tát về công đức thù thắng do tu hành các hạnh thanh tịnh ấy. Hiền Thủ Bồ Tát liền nói kệ trả lời, trong ấy có đoạn như sau: “Đao Lợi Thiên trung hữu thiên cổ, tùng thiên nghiệp báo nhi sanh đắc, tri chư thiên chúng phóng dật thời, không trung tự nhiên xuất thử âm. Nhất thiết ngũ dục tất vô thường, như thủy tụ mạt tánh hư ngụy. Chư hữu như mộng, như dương diễm; diệc như phù vân thủy trung nguyệt. Phóng dật vi oán, vi khổ năo, phi cam lộ đạo, sanh tử kính. Nhược hữu tác chư phóng dật hạnh, nhập ư tử diệt đại ngư khẩu. Thế gian sở hữu chúng khổ bổn, nhất thiết thánh nhân giai yếm hoạn, ngũ dục công đức diệt hoại tánh. Nhữ ưng ái nhạo chân thật pháp. Tam thập tam thiên văn thử âm, tất cộng lai thăng Thiện Pháp Đường, Đế Thích vị thuyết vi diệu pháp, hàm linh thuận tịch trừ tham ái. Bỉ âm vô h́nh bất khả kiến, do năng lợi ích chư thiên chúng, huống tùy tâm nhạo hiện sắc thân, nhi bất tế độ chư quần sanh?” (trong trời Đao Lợi có trống trời, do thiên nghiệp báo mà sanh ra, biết lúc chư thiên đang buông lung, hư không tự nhiên vang tiếng này, hết thảy ngũ dục đều vô thường, như bọt nước đọng, tánh hư ngụy, hữu vi như mộng, như nắng dợn, cũng như mây nổi, trăng trong nước. Buông lung là oán, là khổ năo, là đường sanh tử, chẳng cam lộ. Nếu trót làm các hạnh buông lung, sẽ lọt miệng cá lớn tử diệt, tất cả cội khổ trong thế gian, hết thảy thánh nhân đều chán nhàm. Công đức ngũ dục tánh diệt hoại, hăy nên yêu thích pháp chân thật. Chư thiên Đao Lợi nghe tiếng ấy, thảy đều cùng lên Thiện Pháp Đường, Đế Thích v́ họ thuyết diệu pháp, khiến đều thuận tịch, trừ tham ái. Tiếng ấy vô h́nh, chẳng thể thấy, c̣n hay lợi ích các vị trời, huống tùy tâm thích hiện sắc thân, mà chẳng tế độ các quần sanh?)

[13] Quy Sơn là một quả núi thuộc tỉnh Hồ Nam, nằm trên ranh giới các huyện Ninh Hương, Đào Giang và An Hóa. Ngọn cao nhất có tên là Linh Phong. Ngài Quy Sơn Linh Hựu (771-853) là đệ tử nối pháp của tổ Bách Trượng Hoài Hải. Ngài Linh Hựu xuất gia năm mười lăm tuổi, mười tám tuổi thọ Cụ Túc Giới tại chùa Long Hưng ở Hàng Châu. Năm hai mươi ba tuổi đến Giang Tây bái yết tổ Bách Trượng, trở thành thủ tọa đệ tử. Trong niên hiệu Nguyên Ḥa đời Đường Hiến Tông, Ngài vâng lệnh tổ Bách Trượng đến núi Quy Ngưỡng thuộc Đàm Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Nam), trụ tŕ chùa Đồng Khánh. Đệ tử nối pháp của ngài Quy Sơn có đến bốn mươi mốt vị, nổi tiếng nhất là các vị Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Kính Sơn Hồng Ân, Hương Nghiêm Trí Nhàn v.v…