A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 90
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập
179
Xin xem A Di Đà kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang ba trăm bảy mươi bốn:
Nhị, phong thụ diễn
pháp.
(Kinh)
Xá Lợi Phất, bỉ Phật quốc độ, vi phong
xuy động, chư bảo hàng thụ, cập bảo la
vơng, xuất vi diệu âm. Thí như bách thiên chủng nhạc,
đồng thời câu tác. Văn thị âm giả, tự
nhiên giai sanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng
chi tâm.
二 風 樹 演 法。
(經) 舍 利 弗。彼 佛 國 土。微
風 吹 動。諸 寶 行 樹。及
寶 羅 網。出 微 妙 音。譬
如 百 千 種 樂。同 時 俱 作。聞
是 音 者。自 然 皆 生 念 佛
念 法 念 僧 之 心。
(Hai, gió và cây diễn pháp.
Kinh: Này Xá Lợi Phất! Cơi nước Phật ấy,
gió nhẹ thổi động các hàng cây báu, và mành lưới
báu, phát ra âm thanh vi diệu, ví như trăm ngàn thứ nhạc
ḥa tấu cùng lúc. Nghe âm thanh ấy, tự nhiên đều
sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng).
Đoạn
kinh văn này có khoa đề (科題: tiểu đề
mục) là Phong Thụ Diễn Pháp, nói đến chuyện
vô t́nh thuyết pháp trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Trong phần trước, các loài chim là hữu t́nh,
nay kinh nói về gió và cây. Như vậy là trong thế giới
ấy, hữu t́nh và vô t́nh cùng tuyên diệu pháp. Đây là một
nhân tố quan trọng khiến cho người tu hành trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng bị
thoái chuyển.
(Sớ)
Tiền ngôn hàng thụ, la vơng, kim ngôn thử chư thụ
vơng, nhân phong xuất âm, như thượng điểu
minh, hóa đạo chúng sanh, lợi ích vô tận dă.
(疏) 前 言 行 樹 羅 網,今
言 此 諸 樹 網,因 風 出 音,如
上 鳥 鳴,化 導 眾 生,利
益 無 盡 也。
(Sớ: Trong phần
trước, [kinh văn] đă nói lưới mành giăng
trên các hàng cây, nay nói đến các lưới trên cây do gió
thổi qua mà phát ra âm thanh giống như tiếng chim hót
trong phần trên, giáo hóa chúng sanh, lợi ích vô tận).
Trong
phần trước, [chánh kinh] đă nói đến các mành
lưới giăng nơi hàng cây trong thế giới Tây
Phương, đoạn này lại tiếp tục nói những
tấm lưới căng trên các hàng cây v́ gió thổi qua mà
phát ra âm thanh, giống như những cái chuông gió (phong linh,
wind chime) trong thế gian, âm thanh rất hay. Phong linh trong cơi
chúng ta tối đa là vang tiếng ḥa nhă mà thôi, chẳng thể
thuyết pháp. Cây trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới là cây báu, lá cây đều bằng bảy báu, âm thanh
ấy hay đẹp chúng ta chẳng có cách nào tưởng
tượng được! [Âm thanh của lưới và
cây] giống như trong phần trước đă nói chim có
thể diễn diệu pháp, hướng dẫn, giáo hóa
chúng sanh.
(Sớ)
Phong viết vi giả, phong chi mỹ dă. Âm viết vi diệu
giả, âm chi mỹ dă. Vi diệu tức ḥa nhă ư.
(疏) 風 曰 微 者,風 之 美 也;音 曰 微 妙 者,音 之 美 也,微 妙 即 和 雅 意。
(Sớ: Gió nói là Vi tức là gió dịu, âm thanh mà nói là Vi Diệu,
tức là âm thanh rất tuyệt diệu. Vi Diệu có ư
nghĩa ḥa nhă).
“Ḥa” (和) là ôn ḥa, “nhă” (雅) là trang nhă, chánh
đáng, âm thanh chánh đáng.
(Sớ)
Bách thiên chủng nhạc giả, dĩ thiểu huống
đa.
(疏) 百 千 種 樂 者,以 少 況 多。
(Sớ: “Trăm ngàn
loại nhạc”: Dùng số ít để sánh ví cho số nhiều).
Trăm
ngàn loại: Giống như nhạc giao hưởng trong hiện
thời.
(Sớ)
Tán kỳ chí mỹ, cực nhân thiên nhạc, sở bất
năng cập.
(疏) 讚 其 至 美,極 人 天 樂,所 不 能 及。
(Sớ:
Nhằm tán thán [các âm thanh do cây và lưới báu phát ra] hay
đẹp tột cùng, các loại nhạc tuyệt diệu
của trời người đều chẳng thể sánh
bằng).
Đây
là tán thán tới mức độ cùng cực, âm nhạc
trong nhân gian hay cơi trời đều chẳng có cách nào sánh
bằng!
(Sớ)
Kỳ âm diệc tuyên Căn, Lực, Giác, Đạo.
(疏) 其 音 亦 宣 根 力 覺 道。
(Sớ: Âm thanh ấy
cũng tuyên nói Căn, Lực, Giác, Đạo).
Các
âm thanh cũng tuyên nói Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất
Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo. Bốn khoa này
tượng trưng cho vô lượng Phật pháp, chẳng
có pháp nào không được diễn nói.
(Sớ)
Chủng chủng Đạo Phẩm, bất ngôn giả,
văn tỉnh dă.
(疏) 種 種 道 品,不 言 者,文 省 也。
(Sớ:
Không nói tới các thứ Đạo Phẩm là do kinh văn
nói tỉnh lược).
“Tỉnh” (省) là tỉnh lược.
(Sớ)
Hựu Đại Bổn vân “vi phong xúc thân”, kim bất ngôn
giả, diệc văn tỉnh dă.
(疏) 又 大 本 云:微 風 觸 身。今 不 言 者,亦 文 省 也。
(Sớ:
Kinh Đại Bổn lại nói “gió nhẹ chạm vào
thân”, nay [kinh này] chẳng nói th́ cũng là do kinh văn tỉnh
lược vậy).
Kinh Di Đà văn tự ít, nói
đơn giản. Tuy chẳng nói, nhưng ư nghĩa đều
được bao gồm trong ấy, v́ chúng ta xem kinh Đại
Bổn Vô Lượng Thọ sẽ biết.
(Sao)
Vi phong vi mỹ giả, thử độ cụ phong xuy
động, tắc xuất khuynh tưu đảo hạp,
khả chiến cụ thanh.
(鈔) 微 風 為 美 者,此 土 颶 風 吹 動,則 出 傾 湫 倒 峽,可 戰 懼 聲。
(Sao: “Vi phong là gió dịu”:
Trong cơi này, gió băo thổi lên, ắt sẽ nghiêng ao, lật
khe núi, phát ra âm thanh đáng kinh sợ).
Trong
thế gian này có những loại gió khiến chúng ta chẳng
ưa thích cho lắm. Ví như Đài Loan có Đài Phong (gió lốc)[1], ở
Mỹ có Long Quyển Phong (gió trốt, ṿi rồng, tornado). “Cụ phong” (颶風) là trận gió lớn.
Đài Phong chính là trận băo lớn. “Khuynh tưu đảo hạp” (傾湫倒峽), “tưu” (湫) là ao nước, [“hạp” (峽) là khe núi]. Gió thổi khiến
nước trong ao bị văng ra ngoài, có sức mạnh
to lớn dường ấy. Hễ gặp phải trận
gió như vậy, chúng ta rất kinh hăi.
(Sao)
Mănh phong xuy động, tắc xuất hám ốc bạt mộc,
khả yếm ác thanh.
(鈔) 猛 風
吹 動,則 出 撼 屋 拔 木,可
厭 惡 聲。
(Sao: Gió dữ thổi
lên ắt phát ra âm thanh rung nhà, trốc cây đáng ghê sợ).
“Mănh phong” chính là Đài Phong.
(Sao)
Năi chí Tỳ Lam phong xuy động, tắc xuất tồi
sơn toái nhạc, hoại chư thế giới, vô khả
tỵ thanh.
(鈔) 乃 至 毗 嵐 風 吹 動,則 出 摧 山 碎 嶽,壞 諸 世 界,無 可 避 聲。
(Sao: Cho đến gió Tỳ Lam thổi lên, ắt phát ra âm thanh vỡ núi
tan non, tan nát các thế giới, chẳng thể tránh né).
Chúng
ta chẳng gặp gió Tỳ Lam (Vairambhaka). Nếu gặp phải, thế giới
này chẳng c̣n nữa! Trong kinh, đức Phật đă
nói tới Tam Tai (Saṃvartanī), có Đại Tam
Tai và Tiểu Tam Tai. Đại Tam Tai là Hỏa Tai, Thủy
Tai, và Phong Tai. Phong Tai được gọi là Tỳ Lam
Phong.
Lúc một tam thiên
đại thiên thế giới sắp hoại, Tam Tai bèn xuất
hiện:
1) Hỏa Tai có thể
cháy đến Sơ Thiền Thiên. Từ Sơ Thiền
Thiên trở xuống, toàn thể Thái Dương Hệ bị
cháy sạch. Qua viễn vọng kính thiên văn, chúng ta quan
sát thấy trong vũ trụ, một tinh hệ bị biến
mất, hủy mất, đó là Hỏa Tai trong Đại
Tam Tai như đức Phật đă nói.
2) Loại thứ
hai là Thủy Tai, có thể ngập đến Nhị Thiền
Thiên, c̣n đáng sợ hơn Hỏa Tai. Từ Nhị Thiền
Thiên trở xuống đều chẳng c̣n!
3) Loại thứ
ba là Phong Tai. Gió Tỳ Lam thổi tan Tam Thiền Thiên. Từ
Tam Thiền trở xuống đều bị hủy diệt,
núi Tu Di cũng chẳng c̣n. Đến Đệ Tứ Thiền
mới an toàn.
Tứ Thiền
được gọi là Phước Thiên, có thể tránh khỏi
Tam Tai. Bất cứ loại nào trong Đại Tam Tai, thế
giới này đều chẳng thể hứng chịu!
Tiểu
Tam Tai như đức Phật đă nói chính là chiến
tranh hạch tử (chiến tranh hạt nhân, chiến tranh
bằng vũ khí nguyên tử) trong hiện tại. Tiểu
Tam Tai là Binh Đao Kiếp, tức là chiến tranh kéo dài bảy
ngày, ôn dịch bảy tháng và đói kém bảy năm bảy
tháng. Hai mươi năm trước, tôi đến
thăm Trường Kỳ (Nagasaki) và Quảng Đảo
(Hiroshima) của Nhật Bản, hoảng nhiên đại ngộ!
Tiểu Tam Tai như trong kinh đă nói vốn là t́nh h́nh ấy.
Sau khi chiến tranh hạt nhân bùng nổ, trên thân nhiễm bụi
bức xạ (bụi phóng xạ, radioactive dust), sau bảy
tháng chẳng chết th́ mới có thể giữ được
mạng. [Như vậy th́] bệnh ôn dịch chính là bệnh
bức xạ. Trên mặt đất, cỏ cây chẳng mọc,
khi tôi đến đó đă là năm thứ tám, mới vừa
mọc cỏ. Kinh nói bảy năm bảy tháng cỏ cây chẳng
mọc, đương nhiên là đói kém. Chiến tranh hạt
nhân có thể tránh được hay chăng? Nh́n vào thế
giới hiện thời, dường như chẳng có cách
nào tránh né! Cơ Đốc Giáo tiên đoán tận thế
vào năm 1999, tiên tri cổ xưa của Trung Hoa cũng nói
trong thời kỳ ấy sẽ có đại kiếp nạn,
thế giới này sẽ khôi phục trật tự, khôi phục
ḥa b́nh, ước chừng là sau năm 2020. Ba mươi
năm sau, trên thế giới mới có ḥa b́nh. Hiện thời,
dân cư trên thế giới quá đông, dễ nẩy sanh
chiến tranh. Nhất là giàu nghèo chẳng quân b́nh, đại
đa số người sống trong thế gian này oán trời
hờn người, đó là điều hết sức
đáng sợ! Trong thế giới ngày nay, những quốc
gia có vũ khí nguyên tử dần dần tăng thêm nhiều,
quan niệm luân lư và đạo đức trên cả thế
giới bị đọa lạc, đáng sợ quá! V́ thế,
hiện thời chẳng ai có thể dự đoán cục
diện thế giới biến hóa [như thế nào],
đúng là nháy mắt đă biến hóa ngàn phần!
Chúng
ta biết trạng huống trước
mắt, chớ nên không nghiêm túc tu học Phật pháp! Chúng
ta biết trong cộng nghiệp c̣n có bất cộng nghiệp,
có biệt nghiệp. Sau một trận kiếp nạn
rất lớn, vẫn có những người may mắn
tránh khỏi. Phàm những người may mắn tránh khỏi
đại nạn đều là người có phước.
Tục ngữ có câu: “Nạn lớn
chẳng chết, ắt có phước mai sau”. Người
ấy chẳng có phước th́ làm sao có thể thoát khỏi
tai nạn? V́ thế, chúng ta phải nghiêm túc tu phước.
Tu phước th́ phước đức thù thắng nhất
trong thế gian và xuất thế gian không ǵ hơn tu học
pháp môn Tịnh Tông.
(Sao)
Tức linh Minh Thứ, Thanh Minh đẳng phong, tuy diệc
xưng mỹ, chỉ thị phi phất sơn lâm, sanh
trưởng bách vật nhi dĩ.
(鈔) 即 令 明 庶 清 明 等 風,雖 亦 稱 美,止 是 披 拂 山 林 ,生 長 百 物 而 已。
(Sao: Ngay như các loại
gió như Minh Thứ, Thanh Minh[2] v.v… tuy cũng
được khen là gió tốt đẹp, nhưng chỉ
là thổi phơ phất trong chốn núi rừng, sanh
trưởng trăm vật mà thôi).
Đây
là nói tới các thứ gió ôn ḥa, trong mát khiến cho chúng ta cảm
thấy hết sức thoải mái, trăm vật nhờ
vào đó mà sanh trưởng. Lợi ích của chúng đến
tột cùng chỉ là như vậy mà thôi! Nói theo cách hiện
thời, [những loại gió ấy có tác dụng] điều
tiết khí hậu, bốn mùa rơ rệt, sanh trưởng vạn
vật.
(Sao)
Bỉ quốc chi phong, tự hữu, tự vô, phi hàn, phi
nhiệt, khinh tế thuần ḥa, bất khả vân dụ.
(鈔) 彼 國 之 風,似 有 似 無,非 寒 非 熱,輕 細 醇 和,不 可 云 喻。
(Sao: Gió trong cơi kia
dường có, dường không, chẳng lạnh, chẳng
nóng, nhẹ nhàng, êm dịu, thuần ḥa chẳng thể diễn
tả, sánh ví được).
Gió
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới quá tốt
lành, đáng yêu, v́ sao? Nó có thể thuận theo ḷng mong muốn.
Chúng ta hai người ở cùng một chỗ, tôi thích gió ấm
áp hơn, hoặc tôi thích gió mát hơn, nó có thể thích hợp
với nhiệt độ chúng ta mong tưởng. Rất mầu
nhiệm! Gió thổi tới thân mỗi người, cảm
xúc khác nhau. Trong thế giới Sa Bà, chẳng có chuyện
này, trong các thế giới của chư Phật nơi
phương khác cũng chẳng có. V́ sao mà biết? Các thế
giới của chư Phật nơi phương khác chẳng
khác thế giới Sa Bà của Thích Ca Mâu Ni Phật cho mấy!
“Tự hữu, tự vô”
(dường có, dường không), quư vị cảm giác là
có, nó bèn có. Chẳng cảm thấy nó, nó sẽ không có. “Phi hàn, phi nhiệt” (chẳng
lạnh, chẳng nóng): Gió này vô cùng ôn ḥa. “Khinh tế thuần ḥa, bất khả vân dụ”
(nhẹ nhàng, êm dịu, thuần ḥa, chẳng thể diễn
tả hay sánh ví được), tán thán chẳng ngớt, chẳng
có cách nào h́nh dung hay tỷ dụ được! Gió trong thế
giới Cực Lạc tốt đẹp dường ấy.
(Sao)
Quán Kinh vân: “Bát chủng thanh phong”. Thanh tức vi ư, huống
bỉ hàng thụ, cập chư la vơng, giai thị thất
bảo, bị dĩ vi phong, hỗ tương xao khấu,
tự nhiên nhi xuất vi diệu âm thanh, như bách thiên nhạc,
đồng thời tịnh tác. Tắc lục luật giao
sướng, bát âm khắc hài, ḥa chi cực dă, nhă chi chí dă.
(鈔) 觀 經 云:八 種 清 風。清 即 微 意,況 彼 行 樹,及 諸 羅 網,皆 是 七 寶,被 以 微 風。互 相 敲 叩 。自 然 而 出 微 妙 音 聲。如 百 千 樂,同 時 並 作。則 六 律 交 暢,八 音 克 諧,和 之 極 也,雅 之 至 也 。
(Sao: Quán Kinh nói “tám loại
thanh phong”, Thanh có nghĩa là dịu nhẹ. Huống chi các
hàng cây và các lưới mành đều bằng bảy báu,
do gió nhẹ luồn qua bèn khua chạm lẫn nhau, tự
nhiên phát ra âm thanh vi diệu, như trăm ngàn thứ nhạc
đồng thời ḥa tấu, nên lục luật chen nhau
thánh thót, tám âm ḥa hợp. Ḥa đến tột cùng, trang nhă
đến tột bậc).
Gió thổi tới
cây, khi lá chạm lá, cành đụng cành, giống như
phong linh [reo thánh thót] vậy, tự nhiên phát ra âm thanh dường
như trăm ngàn loại nhạc khí đồng thời diễn
tấu trong nhạc giao hưởng. “Lục luật[3]
giao sướng, bát âm[4]
khắc hài, ḥa chi cực dă, nhă chi chí dă”: Mấy câu này ca
ngợi nhạc giao hưởng, nhạc khí phối hợp
vô cùng ḥa nhă, nghe hết sức êm tai!
(Sao)
Bỉ phong thụ kư phi ty trúc, thùy vi Cung Thương, nhi
năng dữ bách thiên chủng nhạc, đồng thử
dương dương, thành vi hy hữu, nhân thiên mạc cập
giả.
(鈔) 彼 風 樹 既 非 絲 竹,誰
為 宮 商,而 能 與 百 千 種
樂,同 此 洋 洋,誠 為 希
有,人 天 莫 及 者。
(Sao: Tiếng gió luồn
qua cây ấy đă chẳng phải là tiếng tơ, tiếng
trúc, há do ai trỗi khúc Cung, Thương[5], mà có thể ḥa hợp
trăm ngàn loại nhạc cùng nhau réo rắt, thật là hy
hữu, [các thứ âm nhạc trong cơi] trời người
chẳng thể bằng được).
Tại
Trung Hoa vào thời cổ, nhạc khí phổ biến nhất
là “ty trúc”. Địch (笛: sáo
dọc), tiêu (簫: sáo ngang), sênh (笙: khèn)[6] dùng trúc chế thành,
đàn cổ cầm, cổ tranh dùng tơ [bện thành]
thành dây đàn, nên [âm nhạc thời cổ thường
được] gọi là “ty
trúc chi thanh” (tiếng tơ trúc). Thân cây và lá cây trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới chẳng phải
là trúc, mà cũng chẳng phải là tơ, nhưng nó có âm
thanh tuyệt vời ngần ấy, đúng là hy hữu, trời
người chẳng sánh bằng!
(Sao)
Như Đại Bổn ngôn: “Thế gian đế
vương chi nhạc, bách thiên vạn chủng, bất
như Đao Lợi thiên cung nhất âm chi mỹ”.
(鈔) 如 大 本 言:世 間 帝 王 之 樂,百 千 萬 種,不 如 忉 利 天 宮 一 音 之 美。
(Sao:
Như kinh Đại Bổn chép: “Trăm ngàn vạn thứ
nhạc của đế vương trong thế gian, chẳng
hay bằng một tiếng nhạc trong cung trời Đao
Lợi).
Kinh
Vô Lượng Thọ nói như vậy, tán thán Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Đế
vương thời cổ là đấng tôn quư nhất trong
thế gian, nên chỉ có âm nhạc trong cung đ́nh mới
trọn đủ viên măn, vũ đạo cũng giống
như vậy. Thời cổ nói đến giai cấp. Giai
cấp thấp hơn một bậc, nhạc khí phải giảm
bớt, số người nhảy múa cũng phải giảm
bớt. Xưa kia, thiên tử vũ là Bát Dật Vũ (八佾舞), gồm tám người cùng múa.
Chư hầu giảm thành Lục Dật, tức là sáu
người cùng múa. Các quan đại phu giảm tới bốn
người. Hiện thời, những hạn chế ấy
chẳng c̣n. Ca múa cung đ́nh cũng được
đưa lên sân khấu cho mọi giới thường dân
thưởng thức. Nhạc của đế
vương trong nhân gian tuy hay, vẫn kém xa nhạc trong
Đao Lợi Thiên, “bất
như Đao Lợi thiên cung nhất âm chi mỹ” (chẳng
hay đẹp bằng một tiếng nhạc trong cung trời
Đao Lợi).
(Sao) Đao Lợi
thiên cung bách thiên chủng nhạc, bất như Dạ Ma
thiên cung nhất âm chi mỹ.
(鈔) 忉 利 天 宮 百 千 種 樂,不 如 夜 摩 天 宮 一 音 之 美。
(Sao: Trăm ngàn loại
nhạc trong cung trời Đao Lợi chẳng hay đẹp
bằng một tiếng nhạc nơi cung trời Dạ
Ma).
Chư
thiên càng lên cao càng siêu thắng.
(Sao)
Triển chuyển chư thiên, năi chí bất như Cực Lạc
quốc trung, phong xuy thụ lâm, xuất diệu âm thanh chi mỹ,
thị siêu xuất nhân thiên dă.
(鈔) 展 轉 諸 天,乃 至 不
如 極 樂 國 中,風 吹 樹 林,出
妙 音 聲 之 美,是 超 出 人
天 也。
(Sao: Các cơi trời lần
lượt lên cao hơn [như vậy] vẫn chẳng hay
đẹp bằng âm thanh mầu nhiệm do gió thổi qua
rừng cây phát ra trong cơi Cực Lạc, âm thanh ấy vượt
trỗi trời, người).
“Chư thiên” [ở đây là lần
lượt] tính đến Đệ Lục Thiên, v́ sao?
Phía trên Đệ Lục Thiên là Sắc Giới, người
ta chẳng cần nghe những thứ này, tâm họ thanh tịnh,
không cần những thứ này để giải trí, vui thỏa.
Họ đă vượt thoát, trụ trong cảnh giới
Thiền Định. Âm nhạc trong Đệ Lục Thiên
tức Tha Hóa Tự Tại Thiên thua xa âm thanh hay đẹp
do gió thổi qua rừng cây trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Tây Phương Cực Lạc thế giới
là Nhất Chân pháp giới, thọ dụng viên măn trọn
đủ. Trong thế gian này, sự thọ dụng trong Dục
Giới, xét theo sự tướng th́ thảy đều trọn
đủ, nhưng tâm chẳng thanh tịnh. Đối với
sự thọ dụng trong Tứ Thiền Thiên và Tứ
Không Thiên, tâm họ vô cùng thanh tịnh, hưởng niềm
vui tịch tĩnh, nhưng chẳng có sự, nên cũng là
“Sự và Lư, Tánh và Tướng chưa thể viên dung”. Tây
Phương Cực Lạc thế giới Lư Sự viên dung,
Tánh Tướng bất nhị, nên mới là chân lạc! Lư
chẳng ngại Sự, Sự chẳng ngại Sự, kinh
Hoa Nghiêm nói là “Lư Sự vô ngại,
Sự Sự vô ngại”, đấy mới là thật sự
đạt đến rốt ráo viên măn, chẳng lệch về
bên nào. Phàm phu lệch về sự tướng, chẳng biết
Lư, nên họ có đau khổ. Nhị Thiền thiên trọng
Lư, thường được gọi là “trụ trong Không Tịch”, chẳng có sự tướng,
không được hoàn mỹ! Đều lệch về một
bên! Chỉ riêng cảnh giới của các vị đại
Bồ Tát là viên dung, Tây Phương Cực Lạc thế
giới là đạo tràng Nhất Thừa Phật pháp viên
măn, nên vượt trỗi trời, người.
(Sao) Diệc tuyên Đạo Phẩm
giả, dĩ kinh trung đản xưng diệu âm, kỳ
thật ư hàm thuyết pháp.
(鈔) 亦 宣 道 品 者,以 經 中 但 稱 妙 音,其 實 意 含 說 法。
(Sao: “Cũng tuyên nói
Đạo Phẩm”: Do trong kinh chỉ nói “âm thanh mầu nhiệm”,
thật ra cũng bao hàm ư nghĩa thuyết pháp).
Đây
là kinh văn tỉnh lược, trong các âm thanh ấy có
thuyết pháp.
(Sao)
Nhược phi pháp âm, hà năng sử nhân ức niệm
Tam Bảo.
(鈔) 若 非 法 音,何 能 使 人 憶 念 三 寶。
(Sao:
Nếu chẳng phải là pháp âm, làm sao có thể khiến
cho người ta nghĩ nhớ Tam Bảo?).
Đây
là chứng cớ: Nghe tiếng gió rung cây đều có thể
khiến cho người ta phát tâm niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng. Ở đây nói đến Phật,
Pháp, Tăng, nói nông cạn là niệm Giác, niệm Chánh, niệm
Thanh Tịnh. Nói cách khác, quư vị nghe tiếng gió thổi
qua rừng cây, vừa nghe liền giác ngộ, liền phá mê
khai ngộ, chẳng thể nghĩ bàn! Vừa nghe liền
là chánh tri chánh kiến, đánh thức chánh tri chánh kiến
của chính ḿnh. Sau khi đă nghe, tâm địa ngày càng thanh
tịnh. Đó gọi là “niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng”. Chẳng phải
là nghe âm thanh ấy, quư vị liền niệm A Di Đà Phật,
niệm kinh Vô Lượng Thọ, niệm Quán Âm, Thế
Chí, chẳng phải như vậy! Nếu hiểu như vậy
tức là đă hiểu kinh ngây ngốc. Sau khi đă nghe,
giác tâm, chánh tâm, thanh tịnh tâm không ngừng tăng trưởng,
nên họ chẳng bị thoái chuyển.
(Sao)
Cố Đại Bổn vân: “Vi phong từ động, xuy
chư bảo thụ, hoặc tác âm nhạc, hoặc tác pháp
âm”, thị kỳ chứng dă.
(鈔) 故 大 本 云:微 風 徐 動,吹 諸 寶 樹,或 作 音 樂,或 作 法 音,是 其 證 也。
(Sao:
Do đó, kinh Đại Bổn
chép: “Gió nhẹ thong thả trỗi, thổi qua các cây báu, hoặc
phát ra tiếng nhạc, hoặc phát ra pháp âm”, đó là chứng
cớ vậy).
Kinh
Đại Bổn nói rơ ràng. Kinh văn có câu “hoặc tác pháp âm”,
“tác pháp âm” chính là âm thanh thuyết pháp. Âm thanh ấy có thể
thuyết pháp.
(Sao)
Dĩ tiền lệ hậu, giai văn tỉnh cố.
(鈔) 以 前 例 後,皆 文 省 故。
(Sao:
Đối chiếu phần trước để suy ra ư
nghĩa trong phần sau, đều là do kinh văn tỉnh
lược vậy).
Đối
chiếu phần kinh văn phía trước với đoạn
sau này, liền biết trong Tiểu Bổn có nhiều chỗ
tỉnh lược. Ngôn ngữ tuy giản lược,
nhưng ư nghĩa vẫn viên măn. Đối với kẻ
sơ học mà nói, kinh Tiểu Bổn khá khó, v́ chẳng nói
rơ ràng, chúng ta đọc sẽ khó hiểu trạng huống
thực tế, chẳng bằng niệm kinh Đại Bổn
Vô Lượng Thọ. Đại Bổn nói rất tỉ
mỉ. Sau khi đă niệm nhuần nhuyễn Đại Bổn,
lại niệm Tiểu Bổn sẽ rất có ư vị. V́
sao? Bao nhiêu ư nghĩa được bao hàm trong mỗi câu
quư vị đều biết. Tiểu Bổn văn tự
ít, dễ nhiếp thọ. V́ thế, trước hết phải
đổ công từ Đại Bổn, đến lúc thấu
triệt thuần thục, khi thọ tŕ có thể dùng Tiểu
Bổn.
(Sao)
Ngôn xúc thân giả, Đại Bổn vân: “Bỉ quốc nhất
thiết hữu t́nh, vị phong xuy thân, an ḥa thích duyệt,
do như tỳ-kheo đắc Diệt Tận Định”,
tắc diệc bất thuyết pháp chi thuyết pháp dă.
(鈔) 言 觸 身 者,大 本 云:彼 國 一 切 有 情,為 風 吹 身,安 和 適 悅,猶 如 比 丘 得 滅 盡 定。則 亦 不 說 法 之 說 法 也。
(Sao:
“Nói chạm đến thân”: Kinh Đại Bổn chép: “Hết
thảy hữu t́nh trong cơi ấy, được gió thổi
vào thân, an ḥa, thơ thới, vui sướng, giống
như tỳ-kheo đắc Diệt Tận Định”, tức
là chẳng thuyết pháp mà thuyết pháp vậy).
Kinh
Vô Lượng Thọ có một đoạn như vậy,
nhưng kinh Di Đà tỉnh lược. Gió nhẹ thổi
đến thân chúng ta, thân sẽ có cảm nhận. Hăy đặc
biệt chú ư kinh văn nói: “Bỉ
quốc nhất thiết hữu t́nh” (hết thảy hữu
t́nh trong cơi ấy), v́ sao? Đă là “hết thảy” th́ chúng ta đến đó,
cũng có phần! Ngài chẳng nói riêng một loại
người văng sanh nào! Hết thảy hữu t́nh tức
là từ thượng thượng phẩm văng sanh cho đến
hạ hạ phẩm văng sanh, thảy đều chẳng
phải là ngoại lệ, thậm chí bao gồm Biên Địa.
Tôi tin tưởng trong Biên Địa, họ sung sướng
giống như trong cung trời Đao Lợi hoặc trong
cung trời Dạ Ma, bất quá khi gió thổi đến
thân, họ không hiểu ư nghĩa trong lời thuyết pháp,
nhưng nhất định là được thoải mái.
Sợ rằng đối với chuyện niệm Tam Bảo,
họ bị chướng ngại, v́ kinh dạy: “Trong năm trăm năm chẳng
nghe danh tự Tam Bảo”. Gió thổi đến bên thân
bèn cảm nhận “giống
như tỳ-kheo đắc Diệt Tận Định”.
(Diễn)
Diệt Tận Định giả, Cửu Thứ Đệ
Định chi tối hậu Định dă.
(演) 滅 盡 定 者,九 次 第 定 之 最 後 定 也。
(Diễn:
Diệt Tận Định là môn Định cuối cùng trong
Cửu Thứ Đệ Định).
Trong
hội Lăng Nghiêm, đức Phật đă nói rất rơ
ràng: A La Hán và Bích Chi Phật đắc Cửu Thứ Đệ
Định. Cửu Định là do đâu mà có? Từ
Sơ Thiền tiến lên cao hơn. Tứ Thiền Thiên có
bốn loại Định, lại lên cao hơn là Vô Sắc
Giới Thiên có bốn tầng, cũng cần phải cậy
vào tu Định th́ mới có thể sanh về đó. Thiền
Định thế gian trong Sắc Giới và Vô Sắc Giới
chẳng ra khỏi tam giới, chúng ta gọi chung là Tứ
Thiền Bát Định. Chư vị phải biết: Trên
thực tế, Tứ Thiền Bát Định là Bát Định,
chẳng phải là ngoài Tứ Thiền c̣n có Bát Định.
Bốn loại Định của Tứ Thiền Thiên cộng
thêm bốn loại Định của Tứ Không Thiên, hợp
lại thành Bát Định. Đó là Thiền Định thế
gian.
Nếu
quư vị đắc loại Thiền Định Sơ Thiền
này, có thể ngồi xếp bằng nhập Định suốt
nửa tháng, một tháng, hai tháng, ba tháng, thảy đều
làm được. Thật sự đắc Thiền Định,
nhập Định ba tháng chín mươi ngày, chẳng cần
ăn cơm, uống nước. Người ấy xuất
Định, tinh thần sung măn, chẳng nói: “Đă không
ăn nhiều ngày như vậy, đói ră ruột!” V́ sao chẳng
bị đói? V́ nhiệt lượng của một bữa
ăn đủ để nuôi dưỡng thân thể suốt
một trăm ngày, người ấy có năng lực này.
V́ sao? Chẳng bị tiêu hao! Nay những thứ chúng ta
ăn vào, vào đến bên trong sẽ có tác dụng hóa học
biến hóa chúng thành năng lượng, năng lượng
ấy bù đắp cho sự tiêu hao của mỗi tế
bào trong thân thể. Người ta nhập Định,
lượng tiêu hao giảm bớt, giảm bớt đến
mức gần như zero, chẳng cần tiêu hao. Chư vị
phải biết: Nhập Định chẳng phải là ngồi
ở đó ngủ gật, ngồi ở đó ngủ gà ngủ
gật th́ chẳng được rồi. Nay chúng ta thấy
rất nhiều người ngồi xếp bằng ngủ
gà ngủ gật, chẳng được!
Ngủ th́ vẫn tiêu hao năng lượng y như vậy,
chỉ tiêu hao ít hơn lúc tỉnh táo một chút! V́ sao?
Động tác chậm răi, máu cũng tuần hoàn chậm
răi, chẳng nhanh như khi hoạt động lúc tỉnh
táo, nên lượng tiêu hao cũng ít hơn. Sơ Thiền
đă có bản lănh này, huống ǵ Tứ Thiền Bát Định?
Người
ta hễ nhập Định, một năm hoặc hai
năm chẳng xuất Định cũng có! Xưa kia, lúc
Huyền Trang đại sư sang Ấn Độ cầu
học, trên đường qua Tây Vực, gặp một
người đang nhập Định. Người ấy
nhập Định đă bao lâu chẳng ai biết, mặt
đầy bụi bặm, tóc rất dài, chim làm tổ ngay
trên mặt. Quư vị nghĩ xem, người ấy nhập
Định trong thời gian bao lâu? Huyền Trang đại
sư là bậc tái lai, chẳng phải là phàm nhân. Phàm nhân
trông thấy cũng có lẽ tưởng là tượng
đắp bằng đất sét, tối đa là vái chào rồi
bỏ đi, đâu có quan tâm tới? Huyền Trang đại
sư đến gơ dẫn khánh bên tai người ấy, gơ
chốc lát người ấy bèn xuất Định, mở
mắt nh́n Huyền Trang đại sư: “Thầy gọi
tôi xuất Định để làm ǵ?” Huyền Trang đại
sư đáp: “Hai người chúng ta có duyên rất sâu. Nay
tôi sang Ấn Độ thỉnh kinh, ông hăy nhanh chóng đầu
thai nơi nước Đại Đường. Sau khi tôi
quay về, ông sẽ làm đệ tử của tôi”. Cụ
già ấy vâng lời, liền nhập diệt, thần thức
đầu thai nơi Trung Hoa, tức là Khuy Cơ đại
sư. Ngài Huyền Trang từ Ấn Độ trở về,
thời gian trước, sau, lưu lại Ấn Độ
tổng cộng mười chín năm. Khi Sư quay về,
Khuy Cơ đại sư đă mười bảy, mười
tám tuổi, là một người trẻ tuổi. Ngài Huyền
Trang t́m được Khuy Cơ, bảo Khuy Cơ xuất
gia. Khuy Cơ đầu thai cũng chọn một gia
đ́nh rất giàu có, làm cháu của
Uất Tŕ Kính Đức (gọi Uất Tŕ Kính Đức,
tức Uất Tŕ Cung, bằng chú). Uất Tŕ Kính Đức
là đại tướng của Đường Thái Tông,
được phong hầu[7]. Nếu
Huyền Trang đại sư chẳng phải là bậc
tái lai, Ngài làm sao biết được? Thuở đó, Huyền
Trang đại sư tuổi tác cũng không cao, khi Ngài qua
Tây Vực cầu học cũng chỉ hai mươi mấy
tuổi. Những vị này đều là bậc tái lai, sự
tích được ghi chép trong truyện kư. Có thể thấy
là người nhập Định sanh tử tự tại
đều là đại Bồ Tát tái lai, chắc chắn chẳng
phải là phàm nhân, các Ngài muốn đi lúc nào th́ đi, muốn
đầu thai nơi đâu bèn đầu thai nơi đó,
tự tại dường ấy. Tổ sư đời
thứ nhất của Pháp Tướng Duy Thức Tông Trung
Hoa là Khuy Cơ đại sư.
Tứ
Thiền Bát Định chẳng thể thoát khỏi tam giới,
chẳng có cách nào liễu sanh tử, nhất định phải
tiếp tục không ngừng nâng cao công phu, tiến cao
hơn một tầng nữa, biến thành Đệ Cửu
Định. Trong tam giới chẳng có Đệ Cửu
Định, cao nhất trong tam giới là Đệ Bát
Định. V́ vậy, Đệ Cửu Định thoát khỏi
tam giới, chứng quả A La Hán. A La Hán và Bích Chi Phật
đều tu Đệ Cửu Định. Chư vị phải
biết: Phật môn gọi sự tu học ấy là “thụ xuất” (thoát khỏi
tam giới theo chiều dọc), hết sức khó khăn!
Lại thưa cùng chư vị, trừ pháp môn Tịnh
Độ ra, các pháp môn khác đều là thụ xuất,
đều thoát khỏi tam giới theo cách ấy. Vượt
thoát như vậy, quư vị nghĩ xem: Khó lắm! Tịnh
Độ Tông thuận tiện v́ chẳng phải là thụ
xuất, mà là “hoành siêu”
(vượt tam giới theo chiều ngang), [tức là] từ
nhân đạo thoát ra, chẳng phải là thụ xuất từ
nơi đây. Cổ nhân dùng con sâu ở trong cây trúc để
tỷ dụ. Cây trúc có từng lóng một, Tứ Thiền
Bát Định giống như cây trúc có chín đốt. Con
sâu từ bên trong đục ra, đục từng lóng một,
nó phải cắn nát mới chui qua được, phải
từ từ đục thủng cả chín mắt trúc, mới
thoát ra từ phía trên. Dùng chuyện này để tỷ dụ:
Phải đạt tới Đệ Cửu Định mới
thoát ra. V́ thế, biết là thoát tam giới
khó khăn. Tịnh Độ Tông chẳng phải là [thoát
ra] ở phía trên, mà cắn thủng ra từ bên cạnh, cắn
một lần đă thoát ra. Thông minh hơn, đỡ tốn
sức hơn! Dưới đây là mô tả h́nh trạng
của Định.
(Diễn)
Thử Định thất thức hằng hành tâm tâm sở,
lục thức chi bất hằng hành tâm tâm sở, tất
giai diệt tận.
(演) 此 定 七 識 恆 行 心 心 所,六 識 之 不 恆 行 心 心 所,悉 皆 滅 盡。
(Diễn: Đối
với Định này, các tâm và tâm sở hằng hành
tương ứng với thức thứ bảy và tâm, tâm
sở bất hằng hành tương ứng với thức
thứ sáu, thảy đều diệt hết).
Thức
thứ bảy là Mạt Na Thức. Mạt Na Thức
được gọi là “hằng
hành”. “Hằng” (恆) là thường
hằng, chẳng thay đổi. Tác dụng của thức
thứ bảy là cố chấp, chấp trước, chấp
trước điều ǵ? Chấp trước Ngă. Ngă Kiến,
Ngă Chấp là thức thứ bảy. “Tâm sở” là nói đến các tâm sở
tương ứng với thức thứ bảy, v́ nó hết
sức chấp trước, nên các tâm sở tương ứng
với nó cũng không nhiều. Thức thứ sáu là phân biệt,
chẳng chấp trước. Do phân biệt, nên nó chẳng
thường hằng. Thức thứ bảy luôn suy xét, cân
nhắc! Tâm sở của thức thứ sáu vô cùng nhiều,
gần như tất cả tâm sở đều
tương ứng với thức thứ sáu. Nói theo Bách
Pháp, thức thứ sáu tức ư thức tương ứng
với năm mươi mốt tâm sở hữu pháp.
Các
tâm sở tương ứng với thức thứ sáu và thức
thứ bảy đều chẳng khởi tác dụng, “tất giai diệt tận”
(thảy đều diệt tận). “Độc hữu bát thức, cố viết diệt
tận” (chỉ có thức thứ tám, nên nói là diệt tận).
Thức thứ tám c̣n tồn tại. Chỗ này là nói rơ cái
được gọi là “chuyển
tám thức thành bốn trí” trong Đại Thừa Phật
pháp, công phu đă đạt tới giới hạn, muốn
chuyển nhưng chẳng có cách nào chuyển được.
V́ sao người ấy chẳng có cách nào chuyển
được? C̣n có chấp trước vi tế, chúng ta
thường nói là “tập khí
Tiểu Thừa”. Người ấy đă thật sự
bỏ được tâm sở nơi tâm, nhưng chưa
đoạn tập khí, đấy là chỗ khó khăn trong
sự tu học của hàng Tiểu Thừa, chẳng
được nhanh chóng như Đại Thừa. Trong
Đại Thừa, đặc biệt
là người căn tánh viên đốn, tâm lượng to
tát, đối với hết thảy mọi sự, có thể
thấy thấu suốt, buông xuống, chẳng tính
toán, so đo chi ly, chẳng ghim măi trong ḷng, người Hoa
thường nói là “phóng khoáng”. Người phóng khoáng tu học
Đại Thừa dễ dàng, tu Tiểu Thừa sẽ khó
khăn. V́ sao? Tiểu Thừa thứ ǵ cũng chấp
trước, giữ chặt từng điều giới luật
một, người Đại Thừa cảm thấy rất
phiền phức, chẳng dễ dàng tu học. Người
tu học Tiểu Thừa, do tập khí Tiểu Thừa, thấy
hàng Đại Thừa gai mắt: “Các ngươi tu hành cái
quái ǵ vậy?”
Thời cổ,
hai vị Khuy Cơ và Đạo Tuyên luật sư
tương phản tột bậc. Đạo Tuyên luật
sư cũng là một người rất lỗi lạc.
Trong mười tông phái tại Trung Hoa, Ngài là tổ sư
khai sơn của Luật Tông, giới luật tinh nghiêm, trời
người đều tôn kính. Người tŕ giới hằng
ngày ăn một bữa, cảm động thiên thần
đến dâng cơm. Mỗi buổi ngọ trai do thiên thần
đến cúng dường. Pháp sư Khuy Cơ là người
tu hành phóng khoáng, chẳng câu nệ tiểu tiết. Tuy là Bồ
Tát, nhưng đầu thai th́ vẫn bị mê khi cách ấm.
Huyền Trang đại sư thấy Ngài, khuyên Ngài xuất
gia, Ngài vẫn không muốn. Về sau, vâng lời, nhưng
đặt điều kiện, v́ Ngài từ nhỏ sống
trong cung đ́nh, chú được phong hầu, là con cháu nhà
vương hầu, từ nhỏ đă quen thói được
bao nhiêu cung nữ hầu hạ. Nay phải xuất gia, Ngài
nói: “Khi con xuất gia, phải chở theo một xe mỹ nữ
hầu hạ con, phải chở theo một xe vàng, phải
chở theo một xe sách”. Do vậy, người ta gọi
Ngài là “tam xa pháp sư”, thuyết
pháp rất giỏi, biện tài vô ngại! Đạo Tuyên
luật sư đương nhiên rất bội phục,
nhưng cũng có chỗ xem thường. V́ sao? Giới luật
chẳng nghiêm! Giáo lư rất thông thạo, thuyết pháp rất
giỏi, nhưng tŕ giới chẳng ra làm sao cả!
Có một
hôm, Khuy Cơ đại sư đi qua núi Chung Nam, tiện
dịp đến bái phỏng Đạo Tuyên luật
sư. Đạo Tuyên luật sư nghĩ, giữa
trưa sẽ có thiên thần đến cúng dường, có
thể khoe khoang với pháp sư Khuy Cơ một chút:
“Ngươi thấy ta giới luật tinh nghiêm, chư
thiên đều đến cúng dường”. Nào ngờ, hôm
đó, thiên thần chẳng đến cúng dường.
Đạo Tuyên luật sư rất thất vọng, ngày
hôm đó cũng chẳng dùng cơm. Tới hôm sau, giữa
trưa, thiên thần lại đến cúng dường.
Ngài liền quở trách vị trời đó: “Sao hôm qua ông
chẳng cúng dường cho ta?” Thiên thần liền
thưa: “Ngày hôm qua có bậc Đại Thừa Bồ Tát ở
trên núi này, khắp núi đều là thần hộ pháp, con
không dám tiến vào”. Đạo Tuyên luật sư nghe lời
ấy, hết sức hổ thẹn, khắp thân toát mồ
hôi, mới biết chính ḿnh chẳng bằng kẻ khác!
Giới
Đại Thừa và giới Tiểu Thừa khác nhau. Giới
Tiểu Thừa coi trọng sự tướng, chẳng thể
vi phạm về mặt sự tướng, trong tâm khởi
vọng niệm, họ chẳng quan tâm. Giới Tiểu Thừa
kết tội luận theo Sự, chẳng luận tâm. Giới
Đại Thừa là luận tâm, chẳng luận sự.
Trong hai loại giới ấy, giới Đại Thừa
khó tŕ! Giới Tiểu Thừa chỉ cần chẳng phạm
về mặt Sự, đúng quy củ chẳng phạm là
được rồi! Giới Đại Thừa xét theo
khởi tâm động niệm. V́ thế, tâm địa
hàng Đại Thừa thanh tịnh, trong hết thảy cảnh
giới, chẳng khởi tâm, không động niệm, chẳng
phân biệt, không chấp trước. Tam Học Giới,
Định, Huệ niệm niệm trọn đủ, Tiểu
Thừa kém xa, chẳng thể sánh bằng!
Hàng
Tiểu Thừa chẳng thể chuyển tám thức thành bốn
trí, then chốt ở ngay chỗ này. Họ chú trọng sự
tướng đă thành thói quen, hễ bảo họ cởi
mở, họ hết sức chẳng dám, chẳng có cách nào
[cởi mở] được! Do vậy, trong kinh Pháp Hoa,
đức Phật đă nói, nói theo cách hiện thời là
“tiên đoán”, [cổ nhân nói là] đức Phật “huyền kư”: Thời kỳ Mạt
Pháp, để hoằng dương Phật pháp th́ hăy nên hoằng
dương Đại Thừa. Chúng ta ngẫm lại, hiện
thời, lời ấy rất có lư, khế cơ, khế
lư! V́ trong xă hội hiện đại, chúng ta gọi là xă hội
cởi mở, Đại Thừa là cởi mở, Tiểu
Thừa là bảo thủ. V́ thế, Tiểu Thừa hết
sức thích hợp với xă hội phong kiến, ai nấy
vâng theo nề nếp, tuân theo quy củ. Trong xă hội hiện
tại, ngôn luận, tư tưởng tự do, Đại
Thừa Phật pháp hết sức thích hợp. Nếu quư vị
nói với đại chúng rằng [Phật pháp] chẳng
tính toán tiểu tiết chi ly, [họ sẽ nghĩ]
được lắm! Rất được hoan nghênh, rất
dễ tiếp nhận. Cầm lấy giới luật Tiểu
Thừa, trước kia tôi có mấy người bạn
đọc kinh Phật, vừa xem đến Sa Di Luật
Nghi: “Làm sao mà học được! Cứ hở ra liền
phạm giới, thôi đi, tôi không học!” Tức là chẳng
thích hợp với thời đại này! V́ thế, khế
hợp căn cơ thời đại này nhất là Đại
Thừa Phật pháp. Đại Thừa Phật pháp viên dung
hơn Tiểu Thừa Phật pháp. Nói thật ra là tu học
sống động, nhưng phải thật sự dụng
công, phải dụng công ngay nơi tâm địa của
chính ḿnh, tu giác, tu chánh, tu tâm thanh tịnh.
(Diễn) Đắc thử Định
giả, lục căn hư tĩnh, vô phục tŕ dật, nội
ngoại trạm minh, nhập vô sở nhập, chân an ḥa
thích duyệt chi cực, cố dĩ dụ vi phong xuy thân.
(演) 得 此 定 者,六 根 虛 靜,無 復 馳 逸,內 外 湛 明,入 無 所 入,真 安 和 適 悅 之 極,故 以 喻 為 風 吹 身 。
(Diễn: Người
đắc Định này sáu căn rỗng rang, vắng lặng,
chẳng c̣n rong ruổi, buông lung, trong ngoài tĩnh lặng,
sáng suốt, nhập vào chỗ không có ǵ để nhập,
thật sự an ḥa, thoải mái, vui sướng cùng cực,
nên tỷ dụ như được gió [êm dịu] thổi
vào thân).
Phàm phu chúng ta chẳng
thể tưởng tượng nổi niềm vui sướng
trong Diệt Tận Định. Không chỉ là Diệt Tận
Định, mà đắc một chút Thiền Định,
kinh thường nói là “pháp hỷ
sung măn”. Cảnh giới cao hơn pháp hỷ là Thiền
Duyệt. Thiền Duyệt làm thức ăn: Người
đắc Sơ Thiền trở lên chẳng cần ăn
uống. Chúng ta phải cậy vào thức ăn để
duy tŕ sanh mạng, từ Sơ Thiền Thiên trở lên bèn
không cần, v́ sao? Họ có Thiền Duyệt, dùng Thiền
Duyệt để bồi đắp, nuôi dưỡng sanh
mạng. V́ Tứ Thiền Thiên là Sắc Giới, Sắc Giới
có thân thể, chẳng cần ăn uống, ngủ nghê!
Năm món dục tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ
nghê họ đều chẳng cần tới. Vẫn
chưa thoát khỏi năm thứ ấy th́ là Dục Giới.
Quan trọng nhất đối với sanh mạng của
chúng ta là ăn uống và ngủ nghỉ. Chúng ta chẳng
ăn cơm, chẳng ngủ nghỉ, sẽ không xong,
người ta do công phu ấy nên có thể chẳng cần
phải ngủ. Nhập Định chẳng phải là ngủ
nghê, đầu óc tỉnh táo, chẳng phải là hôn trầm,
hiểu biết rành rẽ, phân minh. Trong Định có cảnh
giới, cảnh giới ấy sung sướng vô cùng. Ngay
cả Sơ Thiền mà c̣n đạt được Thiền
Duyệt pháp hỷ, huống hồ Cửu Thứ Đệ
Định, công phu cao hơn chín tầng! Trong kinh, đức
Phật đă sánh ví cảnh giới ấy với cảm
xúc và sự thoải mái do gió thổi tới thân trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới. “Tắc diệc bất thuyết pháp chi thuyết pháp
dă” (đấy cũng là cách thuyết pháp bằng việc
không thuyết pháp): Tuy chẳng nói là thuyết pháp, nhưng
gió thổi tới thân, có thể đạt được
sự thoải mái giống như tỳ-kheo đắc Diệt
Tận Định. Trong Diệt Tận Định có cảnh
giới, gió ấy thổi tới thân cũng giống
như cảnh giới nhập Định, đó là “chẳng nói mà nói”.
(Sớ)
Hựu thử bảo thụ đẳng, tam chủng bảo
trung, kim thị tối thắng, năng tác Phật sự cố.
(疏) 又 此 寶 樹 等,三 種 寶 中,今 是 最 勝,能 作 佛 事 故。
(Sớ: Lại nữa,
các cây báu ấy, so trong ba thứ báu, bèn là thù thắng nhất,
v́ có thể làm Phật sự).
Đại
sư lại v́ chúng ta nói cặn kẽ về cây báu.
(Sao)
Trí Luận ngôn, bảo hữu tam chủng.
(鈔) 智 論 言,寶 有 三 種。
(Sao:
Đại Trí Độ Luận nói có ba thứ báu).
Giải
thích ba thứ báu, đây là điều được nói
trong Đại Trí Độ Luận.
(Sao)
Nhất nhân bảo giả, Luân Vương chi bảo,
năng vũ chư vật.
(鈔) 一 人 寶 者,輪 王 之 寶,能 雨 諸 物。
(Sao:
Một là vật báu trong nhân gian, tức vật báu của
Luân Vương, có thể tuôn ra các vật).
Chúng
ta chưa hề thấy “Luân
Vương chi bảo”, cũng chưa từng nghe nói tới,
v́ trong giai đoạn hiện tại, thế giới này chẳng
có Chuyển Luân Thánh Vương. Chuyển Luân Thánh
Vương là người có phước báo lớn nhất
trong thế gian, nhà vua có vật báu. Vật báu “năng vũ chư vật” (có
thể tuôn ra các vật). Nói theo cách hiện thời, “vũ” (雨) là “sanh ra”.
Chư vị có lẽ hiểu được ư nghĩa này,
vật báu ấy là ǵ? Cỗ máy! Đối với cỗ
máy, bỏ nguyên liệu vào đầu này, đầu kia sẽ
ra thành phẩm, đó là ư nghĩa “có thể tuôn ra các thứ
báu”. Đương nhiên Luân Vương xuất hiện, nhất
định là khoa học kỹ thuật càng phát triển.
Tây Phương Cực Lạc thế giới là nơi khoa
học kỹ thuật đạt đến tột đỉnh
trong tận hư không khắp pháp giới. Một chút khoa học
kỹ thuật nhỏ nhoi của chúng ta trong hiện thời
c̣n sanh ra những tác dụng phụ rất lớn, khiến
cho môi trường bị ô nhiễm. Người ta ở
bên đó sản xuất đủ thứ vật dụng hằng
ngày, chắc chắn chẳng bị ô nhiễm. Lại c̣n
là biến hóa thuận theo ḷng mong muốn. Nay chúng ta vẫn
chẳng thể thuận theo ḷng mong muốn, sản phẩm
dẫu tốt cách mấy, sau khi sử dụng một khoảng
thời gian đều bị trục trặc, bên cơi của
người ta chắc chắn chẳng có t́nh h́nh này. Vật
báu của Luân Vương thuộc t́nh h́nh này, là một cỗ
máy tinh vi, tất nhiên là có thể tích nhỏ, thao tác dễ
dàng, chẳng có tác dụng phụ, có thể chế tạo
những vật dụng hằng ngày thật tinh xảo,
đẹp đẽ. Có ư nghĩa này! Thứ hai là…
(Sao)
Nhị, thiên bảo giả, chư thiên chi bảo, năng
tùy sử lệnh.
(鈔) 二 天 寶 者,諸 天 之 寶,能 隨 使 令。
(Sao:
Hai là vật báu trong cơi trời, là vật báu của chư
thiên, có thể sai khiến tùy ư).
Thiên
đạo cũng là một loại chúng sanh, phước
báo của chư thiên lớn hơn nhân gian chúng ta. Chẳng
biết phước báo của thiên vương cơi trời
to hơn phước báo của Chuyển Luân Thánh
Vương trong nhân gian bao nhiêu lần! “Thiên bảo, năng tùy sử lệnh” [nghĩa là
có thể tùy thuận sự sai khiến], thuận theo ư của
con người. Ở đây, quá nửa là nói về Dục
Giới Thiên, v́ Dục Giới Thiên hoàn toàn chưa ĺa khỏi
tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê, bất
quá là càng lên cao hơn, ư niệm ấy càng nhạt mỏng.
Đối với các thứ thọ dụng vật chất,
có thể thỏa ư mọi người. Theo kinh điển,
chúng ta thấy Đao Lợi Thiên mới là tầng trời
thứ hai, thường được gọi là Địa
Cư Thiên [v́ cơi trời ấy] c̣n chưa rời khỏi
núi Tu Di. Trong kinh đức Phật đă nói về trạng
huống cuộc sống của chư thiên rất rơ ràng. Nếu
chư vị ngại tra duyệt kinh điển phiền
phức, hăy xem Pháp Uyển Châu Lâm, hoặc Kinh Luật Dị
Tướng[8]. Hai loại sách ấy
do các vị đại đức đời Đường
đă biên tập từ hết thảy các kinh luận, chia
thành một trăm loại. Những điều được
nói trong kinh luận nếu cùng thuộc một loại
đều chép vào cùng một chỗ, quư vị vừa xem liền
thấy toàn bộ. Quư vị muốn xem về đời sống
của chư thiên Đao Lợi Thiên, hăy mở đến
chương ấy, những điều kinh luận nói về
Đao Lợi Thiên đều được biên chép cùng một
chỗ, quư vị có thể thấy được.
Chư
thiên cơi Đao Lợi mặc quần áo tự tại
hơn chúng ta. Quần áo của chúng ta phải cắt may, họ
chẳng cần cắt may y phục. “Thiên y vô phùng”, (áo
trời không cắt may), chẳng cần cắt may, chất
liệu lại vô cùng mềm nhẹ, mặc vào thoải mái
lắm! “Phiêu phiêu dục tiên”
(bồng bềnh dường như lên tiên) chính là nói đến
ư nghĩa này. Nó có thể giữ ấm, màu sắc vô cùng
tươi đẹp, chẳng cần giặt, vĩnh viễn
chẳng dơ bẩn, chẳng có bụi bặm. Nếu quần
áo của họ dính bụi bặm, vị trời ấy sắp
hết thọ mạng. Bảy ngày trước khi vị trời
ấy hết tuổi thọ, sẽ có hiện tượng
ấy. Trước khi chỉ c̣n sống được bảy
ngày, chẳng có hiện tượng ấy. Chư thiên chẳng
ngă bệnh. Chư thiên thích cài hoa, bất luận nam hay nữ,
trên măo đều cài hoa, toàn là hoa tươi, hết sức
tươi đẹp. Bảy ngày trước khi mạng
chung, hoa khô héo, quần áo dơ bẩn, khi ấy họ vô
cùng hoảng sợ, hết sức đau khổ, biết
chính ḿnh chẳng c̣n sống được bao lâu. Thức
ăn của họ cũng là thức ăn trăm vị.
Đức Phật nói t́nh h́nh cuộc sống tại Biên
Địa Nghi Thành của Tây Phương Cực Lạc thế
giới giống như Đao Lợi Thiên hoặc Dạ Ma
Thiên, tự tại y hệt. Đúng là “nghĩ đến áo bèn có áo, nghĩ tới ăn bèn
có ăn”, nhưng Đao
Lợi và Dạ Ma có lúc mạng chung, Biên Địa Nghi
Thành trong Tây Phương Cực Lạc chẳng có lúc mạng
chung. Cho tới năm trăm năm, hoa nở thấy Phật,
cảnh giới ngày càng tốt đẹp hơn. V́ vậy,
thọ mạng của chư thiên tuy dài, vẫn có ngày chấm
dứt. Thứ ba là…
(Sao)
Tam Phật Bảo giả, năng ư thập
phương nhi tác Phật sự, kim năng thuyết pháp.
Thị vi bảo trung tối thắng, xuất quá nhân thiên cố.
(鈔) 三 佛 寶 者,能 於 十 方 而 作 佛 事,今 能 說 法,是 為 寶 中 最 勝,出 過 人 天 故。
(Sao: Ba là Phật Bảo,
có thể làm Phật sự trong mười phương,
nay có thể thuyết pháp. Đây là vật thù thắng nhất
trong các món báu, vượt trỗi trời người).
Dù
là bảo vật trong nhân gian hay cơi trời, chỉ có thể
thỏa măn nhu cầu vật chất, [giúp cho chúng ta] hưởng
thụ vật chất, chúng chẳng thể thuyết pháp,
chẳng thể khiến cho chúng ta giác ngộ, chẳng thể
khiến cho chúng ta minh tâm kiến tánh. V́ thế, báu vật
của trời người đều thua kém Phật Bảo,
Phật Bảo mới là “bảo
trung tối thắng” (vật thù thắng nhất trong
các vật báu). Đây là giải thích [v́ sao Phật Bảo]
là thù thắng trong ba thứ báu.
(Sớ) Hựu Phật
đạo thụ thuyết pháp, kim bất ngôn giả, diệc
văn tỉnh cố, lệ tiền tŕ thủy giai thuyết
pháp cố. Hựu Hoa Nghiêm, Bát Nhă đẳng, giai hữu thử
nghĩa.
(疏) 又 佛 道 樹 說 法,今 不 言 者,亦 文 省 故,例 前 池 水 皆 說 法 故,又 華 嚴 般 若 等,皆 有 此 義。
(Sớ: Lại nữa,
cây đạo tràng của Phật có thể thuyết pháp,
nhưng nay kinh chẳng nói, cũng do kinh văn tỉnh
lược. Phỏng theo lệ trên, nước trong các ao
đều thuyết pháp. Các kinh như Hoa Nghiêm, Bát Nhă v.v… lại
đều có ư nghĩa này).
“Đạo thụ” là cây
nơi đạo tràng. Chúng ta đă đọc từ kinh Vô
Lượng Thọ thấy đó là những cây mọc
quanh giảng đường thuyết pháp của A Di
Đà Phật. Những rừng cây ấy, nói thật ra, Tây
Phương Cực Lạc thế giới là một thế
giới b́nh đẳng, do những cây ấy ở gần
bên A Di Đà Phật, nên kinh đặc biệt nói tới
chúng. Nhưng chư vị phải ghi nhớ, ca ngợi A
Di Đà Phật, ca ngợi hoàn cảnh cư trụ của
A Di Đà Phật, cũng là nhằm bảo chúng ta: Trong
tương lai, chúng ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, hoàn cảnh cư trụ sẽ tốt
đẹp dường ấy. Đấy là chỗ khác nhau
giữa tông này và các tông khác. Các tông khác tu học có thứ tự,
quả báo có đẳng cấp. Trong tông này, tu cái nhân chẳng
có thứ tự. Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc, Quán
Âm cũng do niệm câu A Di Đà Phật mà văng sanh. Các Ngài
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới
cũng nhờ tín nguyện tŕ danh. Nay chúng ta tuy một phẩm
phiền năo chẳng đoạn, nhưng cũng do niệm
câu Nam-mô A Di Đà Phật mà văng sanh, nên chúng ta tu nhân b́nh
đẳng với các Ngài. Nếu quư vị hỏi: “V́ sao
thế giới ấy b́nh đẳng?” Nhân đă là b́nh
đẳng, đương nhiên quả báo b́nh đẳng,
điều này phù hợp với chân lư được nói
trong Phật pháp. Các pháp môn khác đích xác là cái nhân bất
b́nh đẳng, nên quả đương nhiên là bất
b́nh đẳng. Ví như ta phá tám mươi tám phẩm Kiến
Hoặc, người khác phá tám mươi mốt phẩm
Tư Hoặc, do cái nhân bất b́nh đẳng, sẽ chứng
quả khác nhau. Phá tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc,
chỉ có thể chứng quả Tu Đà Hoàn. Lại lên cao
hơn một bước, sẽ phá tám mươi mốt
phẩm Tư Hoặc, chứng quả A La Hán. Quả A La
Hán và Tu Đà Hoàn tuyệt đối chẳng b́nh đẳng,
do tu nhân khác nhau.
Nay
chúng ta cùng với chư Phật, Bồ Tát, trên từ Đẳng
Giác Bồ Tát, dưới cho tới địa ngục
chúng sanh, chúng ta tu nhân toàn là b́nh đẳng, Tín, Nguyện,
Tŕ Danh, ba điều kiện văng sanh Tịnh Độ ấy
hoàn toàn b́nh đẳng, cho nên đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới, thọ dụng y báo và chánh báo
cũng hoàn toàn b́nh đẳng. Tuy hoàn toàn b́nh đẳng, nhưng
trong tâm th́ một đằng là tâm thanh tịnh, một đằng
là tâm c̣n có phiền năo. Đây là sự thật, chẳng c̣n
phải bàn căi chi nữa! Đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới, sẽ dần dần đoạn,
v́ thế, nói với quư vị có bốn cơi, ba bậc, chín
phẩm. Bốn cơi, ba bậc, chín phẩm là nói theo nội
tâm, chẳng phải là nói theo hoàn cảnh; đối với
hoàn cảnh, quyết định chẳng có bốn cơi, ba bậc,
chín phẩm. Chúng ta văng sanh là “hoành
siêu tam giới”, đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn “hoành sanh tứ độ”.
Đức Phật trụ trong cơi Thường Tịch Quang,
Bồ Tát trụ trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Bồ Tát
chưa phá vô minh, trụ trong cơi Phương Tiện Hữu
Dư. Những kẻ giống như chúng ta, một phẩm
Kiến Tư phiền năo chưa đoạn, trụ trong
cơi Phàm Thánh Đồng Cư; nhưng người trong bốn
cơi ấy, hằng ngày cùng nắm tay nhau. Đó là nói “hoành sanh tứ độ”. Phải
hiểu nguyên lư này, quư vị mới biết pháp môn này thật
sự chẳng thể nghĩ bàn. Hôm nay chúng tôi giảng tới
đây!
Tập
180
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm bảy mươi bảy:
(Sao)
Đạo thụ giả, Đại Bổn ngôn: “Phật
đạo tràng thụ, chúng bảo trang nghiêm, bảo vơng
phú thượng, vi phong từ động, xuất vô lượng
diệu pháp âm thanh, biến chư Phật sát, chúng sanh
văn giả, đắc thâm Pháp Nhẫn, trụ Bất
Thoái Chuyển, dĩ chí thành tựu Vô Thượng Bồ
Đề”.
(鈔) 道 樹 者,大 本 言:佛
道 場 樹,眾 寶 莊 嚴,寶
網 覆 上,微 風 徐 動,出
無 量 妙 法 音 聲,遍 諸 佛
剎,眾 生 聞 者,得 深 法
忍,住 不 退 轉,以 至 成
就 無 上 菩 提。
(Sao: “Cây đạo
tràng”: Kinh Đại Bổn nói: “Cây đạo tràng của
Phật, trang nghiêm bằng các thứ báu, lưới báu phủ
lên trên. Gió nhẹ khẽ lay động, phát ra vô lượng
âm thanh diệu pháp vang vọng khắp các cơi Phật. Chúng
sanh nghe tiếng bèn đắc Pháp Nhẫn sâu, trụ Bất
Thoái Chuyển, cho đến thành tựu Vô Thượng Bồ
Đề).
Đây
là giải thích câu “hựu Phật
đạo thụ thuyết pháp” (cây đạo tràng của
Phật lại thuyết pháp) trong lời Sớ, chuyện
này được nói trong kinh Vô Lượng Thọ. Không chỉ
là các cây đạo tràng gần giảng đường của
A Di Đà Phật, mà toàn thể các hàng cây ở khắp
nơi trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
đều chẳng khác ǵ những cây ở đạo
tràng. Khi chúng ta đọc Đại Kinh đă thấy hiện
tượng này. V́ Tây Phương Cực Lạc thế giới
là một thế giới b́nh đẳng, nếu chánh báo
b́nh đẳng, tướng mạo và dung nhan của chúng
ta hoàn toàn giống với A Di Đà Phật, hoàn cảnh
cư trụ của chúng ta đương nhiên sẽ chẳng
khác biệt A Di Đà Phật. Nếu có sai biệt, chẳng
thể coi thế giới ấy là một thế giới
b́nh đẳng. Dẫu là hạ phẩm hạ sanh, y báo và
chánh báo trang nghiêm đều giống như chư Phật,
Bồ Tát.
“Phật đạo tràng thụ,
chúng bảo trang nghiêm” (Cây đạo tràng của Phật
được trang nghiêm bằng các món báu), v́ Tây
Phương đều là do các thứ báu hợp thành.
Đôi khi kinh nói là bảy báu. Trong Sớ Sao, Liên Tŕ đại
sư nói: Do người thế gian chúng ta coi những thứ
ấy là quư báu, nghĩ chúng vô cùng trân quư, nên [kinh văn] nêu
đại lược bảy thứ. Trên thực tế,
trân bảo trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
vô lượng vô biên. Trên mỗi cây đều có phủ “la vơng”, đẹp đẽ
dị thường! Quán Kinh có nói: Những lưới mành ấy
c̣n tỏa ra ánh sáng, trong quang minh lại hóa hiện Phật.
Cảnh giới ấy quá đẹp đẽ. Các cơi
nước của mười phương chư Phật
lại c̣n hiện bóng rơ rệt trong ánh sáng của lưới
mành, giống như chúng ta xem TV, có thể thấy các thế
giới của hết thảy chư Phật trong những
phương khác. Đương nhiên, địa cầu
trong thế giới Sa Bà cũng ở trong ấy. Đối
với một hội của chúng ta ở đây trong hiện
thời, chúng ta giảng kinh và nghe kinh ở đây, họ
cũng thấy rơ ràng trong lưới báu, họ thấy rơ
h́nh dáng của mỗi người chúng ta.
“Vi phong từ động, xuất
vô lượng diệu pháp âm thanh” (gió nhẹ khẽ thổi,
phát ra vô lượng âm thanh diệu pháp): Gió thổi qua cây,
cành va vào nhau, lá chạm lẫn nhau, đều phát ra âm
thanh. Âm thanh du dương là một chuyện khác, càng mầu
nhiệm hơn là những âm thanh ấy có thể thuyết
pháp. Thuyết pháp ǵ? Chúng ta muốn nghe pháp ǵ, nó liền nói
pháp ấy, đích xác là mầu nhiệm. Trong thế gian
này, chúng ta chỉ đọc trong kinh Đại Thừa [thấy
nói]: “Phật dùng một âm thanh
để thuyết pháp, chúng sanh tùy theo từng loài đều
hiểu”. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới,
vô t́nh thuyết pháp. Cây cối là vô t́nh, thực vật cũng
có thể thuyết pháp. Cây báu trọn khắp Tây
Phương quốc độ, nên thuyết pháp cũng là
trọn khắp mỗi góc của Tây Phương. Càng mầu
nhiệm hơn là dưới mỗi cội cây báu đều
có hóa thân của Tây Phương Tam Thánh. Đến nơi ấy,
đúng là không lúc nào, không chỗ nào chẳng thấy A Di
Đà Phật. Chẳng như trong thế gian này, địa
phương quá lớn, Tổng Thống chỉ ở Thủ
Đô, các nơi biên địa chẳng trông thấy, tối
đa là nh́n thấy phút chốc trên TV. Trong Tây Phương
Cực Lạc thế giới, Phật hóa thân, hóa thân trọn
khắp quốc độ, hóa hiện thân giống hệt
như bản thân Ngài. Cũng có thể nói là quư vị lúc
nào, chỗ nào, cũng đều thấy A Di Đà Phật.
A Di Đà Phật chẳng rời quanh ta. Đúng là mầu
nhiệm chẳng thể diễn tả được!
Sau
khi chúng sanh nghe Phật pháp, “đắc
thâm Pháp Nhẫn” (đắc Pháp Nhẫn sâu xa); đấy
là lợi ích thù thắng do nghe pháp mà đạt được,
đắc Pháp Nhẫn rất sâu. Câu này, nói theo thực tế
là phẩm vị của chúng ta được nâng cao. Trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới, nếu xét
theo cách nói thông thường, xét theo tŕnh độ, quả
thật có năm mươi hai đẳng cấp, từ
địa vị Sơ Tín cho đến địa vị
Diệu Giác. Thường xuyên nghe pháp, sẽ dần dần
nâng cao phẩm vị của chính ḿnh, từ địa vị
Thập Tín đạt đến Thập Trụ, từ Thập
Trụ đạt đến Thập Hạnh, từ Thập
Hạnh đạt đến Thập Hồi Hướng,
Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác. Ở
đây, chúng ta phải chú ư là “nghe pháp”. V́ sao tu hành trong
mười phương thế giới bị thoái chuyển?
Do chẳng nghe pháp. Không nghe pháp sẽ dễ dàng thoái chuyển,
v́ sao? Đừng nói là từ quá khứ vô lượng kiếp
tới nay, nói ngay trong một đời này, từ lúc chúng
ta hiểu chuyện cho đến hiện tại, lục
căn của chúng ta tiếp xúc cảnh giới bên ngoài
đều là ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn,
nên bất tri bất giác bị phiền năo huân tập.
Xă hội
hiện đại đă mất trật tự. Trong truyền
thống từ xưa tại Trung Hoa, “trật tự” là
đạo, đức, nhân, nghĩa, lễ. Cao nhất là
đạo, đạo chẳng có th́ c̣n có đức. Đức
chẳng có th́ lại nói đến nhân. Nhân cũng chẳng
có, bèn nói tới nghĩa. Nghĩa chẳng có, bèn nói lễ.
Lễ cũng chẳng có th́ ôi thôi! Thiên hạ đại loạn.
Theo sử sách Trung Hoa ghi chép, thời đại viễn cổ
là thời Tam Hoàng Ngũ Đế[9], “Tam Hoàng hành đạo, vô vi nhi trị”
(Tam Hoàng hành đạo, vô vi mà b́nh trị), thiên hạ thái
b́nh. Đến Ngũ Đế, đạo đă mất,
nhưng do định chế, điển chương, chế
độ ước thúc, chẳng phải là vô vi nhi trị,
bắt đầu hữu vi, bèn dùng đức, sử dụng
đức để thâu phục kẻ khác. Sau thời
đại Ngũ Đế chính là Tam Vương, tức
là Hạ, Thương, Châu, đức cũng đă mất,
dùng nhân để cai trị, suy từ ḿnh mà nghĩ đến
người khác. Thời đại Tam Vương qua
đi, đến thời Xuân Thu Chiến Quốc Ngũ Bá[10],
bèn nói tới nghĩa khí, nói tới nghĩa. Sau khi thời
đại Ngũ Bá qua đi, từ nhà Tần thống nhất
măi cho đến nhà Thanh đều là dùng Lễ để
trị thiên hạ, lễ c̣n hiện diện. Hiện thời,
lễ cũng không được nhắc tới, nên gọi
là mất trật tự; v́ thế, chúng sanh khổ sở!
Nếu
tu đạo mà chẳng thể thường xuyên nghe pháp, tất
nhiên là bị tập khí phiền năo thế gian huân tập,
há lẽ nào chẳng thoái chuyển? Tu hành trong đạo
tràng thời cổ, mỗi ngày là “hai thời giảng kinh”. Một thời của Ấn
Độ bằng bốn giờ hiện thời. Hai thời
giảng kinh, mỗi ngày nghe kinh tám tiếng đồng hồ,
rồi tu hành tám tiếng đồng hồ. V́ thế, mỗi
ngày có mười sáu giờ công khóa, người ấy sẽ
chẳng suy tưởng lung tung, v́ sao?
Có một chút thời gian bèn vội vă nghỉ ngơi một
chút, tám giờ c̣n lại vừa ăn cơm, làm lụng,
ngủ nghỉ. Thuở đức Phật tại thế,
[thời gian] ngủ nghỉ là bốn giờ. “Trung dạ thùy miên” (ngủ vào lúc giữa
đêm), nên họ chẳng bị hôn trầm. Trung dạ là
ǵ? Từ mười giờ tối đến hai giờ
sáng. Sơ dạ là từ sáu giờ tối đến
mười giờ đêm. Trung dạ là mười giờ
đến hai giờ. Hậu dạ là từ hai giờ
đến sáu giờ sáng hôm sau. Thời gian ngủ nghỉ
chỉ có trung dạ, đúng là tinh thần Đầu
Đà, nghiêm túc nỗ lực. Họ phải nghe kinh tám tiếng
đồng hồ, đó là giải môn; tu hành tám tiếng
đồng hồ, tu hành thuở ấy là tĩnh tọa,
niệm Phật, tŕ chú, ba loại lớn ấy. Nghe kinh
trong giảng đường mỗi ngày tám tiếng đồng
hồ. Đó là công khóa tu tập chủ yếu trong các tự
viện, am đường thuở trước.
Đại
khái, hành môn là đại đồng tiểu dị, giải
môn th́ mỗi tông phái chọn lựa kinh điển khác
nhau. Ví như tông Hoa Nghiêm, Thanh Lương đại sư
cả một đời giảng kinh Hoa Nghiêm năm
mươi lần. Giảng năm mươi lần
như thế nào? Giảng một bộ kinh từ đầu
đến cuối tối thiểu phải là ba ngàn giờ,
mỗi ngày giảng tám tiếng đồng hồ. Một
năm sẽ giảng viên măn một bộ kinh. Năm sau lại
giảng từ đầu. Lăo nhân gia giảng lặp đi
lặp lại năm mươi lượt, suốt
năm mươi năm, đúng là phi thường! Lăo nhân
gia sống hơn trăm tuổi, một đời Ngài trải
qua chín vị hoàng đế[11],
là thầy của bảy vị hoàng đế, Ngài là quốc
sư. Người đời sau tôn xưng Ngài là Hoa Nghiêm Bồ
Tát. Ngài giảng năm mươi lượt, học tṛ học
với Ngài bèn được huân tu từng lần một.
Chư vị ngẫm xem: Lẽ đâu họ chẳng thành
tựu? Thật sự phải có ḷng kiên nhẫn, chẳng
kiên nhẫn sẽ không được! V́ vậy, nghe pháp là
điều tất yếu trong Tín, Giải, Hạnh của
chúng ta. Tín được kiến lập trên cơ sở
lư giải. Nếu giải thấu triệt, tín tâm tự
nhiên kiên cố, tự nhiên chẳng bị dao động.
Khó trách thuở ấy Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện
trong nhân gian, thuyết pháp mỗi ngày, chẳng nghỉ
ngơi ngày nào! “Thuyết pháp bốn
mươi chín năm, giảng kinh hơn ba trăm hội”,
thật giống như mở Phật học giảng ṭa.
Trong bốn mươi chín năm, Ngài tổ chức hơn
ba trăm lần. V́ thế, giảng và học hết sức
trọng yếu.
Giải
và Hành cùng thực hiện th́ mới thật sự đạt
được thành tựu, thành tựu là quả vị
tăng cao hơn. Ở đây nói là “đắc thâm Pháp Nhẫn”, v́ sao lại hiểu
câu này là tăng cao quả vị? Chúng ta đọc kinh Nhân
Vương liền biết, đối với năm
mươi hai địa vị Bồ Tát, kinh Nhân
Vương đều dùng chữ Nhẫn để nói,
chia thành năm đẳng cấp. Năm đẳng cấp
là phân chia sơ lược, tức Ngũ Nhẫn Bồ
Tát. Đầu tiên là Tín Nhẫn, địa vị cuối
cùng là Tịch Diệt Nhẫn. Trước Tịch Diệt
Nhẫn là Vô Sanh Pháp Nhẫn. “Đắc
thâm Pháp Nhẫn” là địa vị Bồ Tát không ngừng
tăng cao hơn. Nói theo Tịnh Độ Tông sẽ là phẩm
vị tăng cao, mang ư nghĩa ấy. “Trụ Bất Thoái Chuyển”: Hạ phẩm hạ
sanh cũng viên chứng ba món Bất Thoái. “Dĩ chí thành tựu Vô Thượng Bồ Đề”
(cho đến thành tựu Vô Thượng Bồ Đề):
Đấy là chứng Viên Giáo Phật quả, Vô Thượng
Bồ Đề là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác.
(Sao)
Kim bất ngôn giả, như tiền Sớ dẫn nhiếp
hàng thụ trung, vị hàng thụ thượng năng thuyết
pháp, Phật thụ ninh độc bất nhiên, cố viết
“văn tỉnh”.
(鈔) 今 不 言 者,如 前 疏 引 攝 行 樹 中,謂 行 樹 尚 能 說 法 ,佛 樹 寧 獨 不 然 ,故 曰 文 省。
(Sao: “Nay chẳng nói”: Như lời Sớ trong phần
trước đă nói điều này được gộp
trong phần nói về hàng cây, nghĩa là: Hàng cây c̣n có thể
thuyết pháp, lẽ đâu riêng cây của Phật lại
chẳng như vậy, nên nói là “kinh văn tỉnh lược”).
Kinh Di Đà chẳng nói cây nơi
đạo tràng thuyết pháp. Trong phần trước
đă nói hàng cây thông thường có thể thuyết pháp, vậy
th́ cây nơi đạo tràng của A Di Đà Phật
đương nhiên lại càng chẳng cần phải nói
nữa! Đây là chuyện tỉnh lược nơi mặt
văn tự. Tuy văn tự tỉnh lược, nhưng
ư nghĩa xác thực là viên măn.
(Sao)
Hựu lệ suy chi, như tiền chỉ thuyết bảo
tŕ, Sớ dẫn nhị bộ kinh văn, tắc bảo
thủy lưu diễn, giai thuyết diệu pháp cố.
(鈔) 又 例 推 之,如 前 止 說 寶 池,疏 引 二 部 經 文,則 寶 水 流 衍,皆 說 妙 法 故。
(Sao: “Lại nữa,
theo như đó mà suy”: Như trong phần trước chỉ
nói đến ao báu, lời Sớ bèn trích dẫn kinh văn
từ hai bộ kinh khác, chứng tỏ nước báu tuôn
chảy đều có thể nói diệu pháp).
Kinh Di Đà nói đến ao bảu
báu, Lời Sớ bèn trích dẫn kinh văn từ hai bộ
kinh là kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng Thọ
Phật để chứng tỏ kinh nghĩa ở nơi
đây đă bao hàm ư nghĩa như thế này: Nước
cũng có thể thuyết pháp.
(Sao)
Hựu lệ suy chi, như Đại Bổn ngôn: Kỳ
đạo tràng thụ, chúng sanh kiến giả, vô kỳ
nhăn bệnh. Văn kỳ hương giả, diệc vô tỵ
bệnh, thực kỳ quả giả, thiệt diệc vô
bệnh, thụ quang chiếu giả, thân diệc vô bệnh,
quán tưởng thụ giả, tâm đắc thanh tịnh,
vô phục tham sân phiền năo chi bệnh
(鈔) 又 例 推 之,如 大 本 言:其 道 場 樹,眾 生 見 者,無 其 眼 病;聞 其 香 者,亦 無 鼻 病;食 其 果 者,舌 亦 無 病;樹 光 照 者,身 亦 無 病;觀 想 樹 者,心 得 清 淨,無 復 貪 瞋 煩 惱 之 病。
(Sao:
“Lại theo lệ ấy mà suy” th́ như kinh Đại Bổn
nói: “Cây đạo tràng ấy, chúng sanh hễ trông thấy,
chẳng bị bệnh mắt, ngửi mùi hương ấy,
chẳng bị bệnh mũi. Ăn quả cây ấy,
lưỡi cũng chẳng bệnh. Được ánh sáng
từ cây ấy chiếu đến, thân cũng chẳng bệnh.
Quán tưởng cây ấy, tâm được thanh tịnh,
chẳng c̣n các bệnh tham, sân, phiền năo”).
Cây
này đúng là cây báu. Nay chúng ta bệnh tật rất nhiều,
đă tới Tây Phương Cực Lạc thế giới,
bệnh ǵ cũng đều chẳng có. Thưa cùng chư
vị, quư vị hăy buông hết thảy vạn duyên xuống,
tưởng cây trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới, hễ quư vị nghĩ tưởng th́ bệnh ǵ
cũng chẳng có. Hết thảy các pháp sanh từ tâm
tưởng. Do đó, đọc kinh văn này, nghĩ tới
kinh văn này th́ kinh văn này thật sự có thể trị
bệnh! Nói cách khác, tâm nhất định phải thanh tịnh.
Những ư niệm trong tâm toàn là y báo và chánh báo trang nghiêm
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, há c̣n có
bệnh ǵ nữa? Chẳng có bệnh! Nếu chúng ta niệm
niệm tưởng quá khứ, tưởng vị lai,
tưởng ngũ dục, lục trần trong thế gian,
đương nhiên sanh bệnh, v́ sao? Đó là bệnh
căn, hằng ngày nghĩ tới bệnh căn, làm sao
người không đổ bệnh cho được? Chúng
tôi thấy nhiều người tu hành, không chỉ lúc b́nh
thường chẳng ngă bệnh, mà lúc sắp mất
cũng chẳng ngă bệnh, cao minh thay! Đó gọi là “biết trước lúc mất”,
muốn đi lúc nào bèn đi lúc đó, đi tự tại
như vậy, chẳng bị bệnh đau khổ. Đối
với sanh, lăo, bệnh, tử, người ấy thật
sự chẳng có lăo khổ, chẳng có bệnh khổ, chẳng
có tử khổ; sanh th́ đă qua rồi, quên mất rồi.
Hết thảy chúng sanh chẳng thể tránh bốn nỗi
khổ sanh, lăo, bệnh, tử ấy, người tu hành chẳng
có. Bốn nỗi khổ ấy đều chẳng có, thật
đấy, chẳng giả tí nào! Nếu quư vị muốn
bất sanh, bất tử, chẳng lăo, chẳng bệnh,
hăy nương theo kinh điển này để tu hành.
Người khác có thể làm được, có thể tu
được, tôi tin tưởng chúng ta cũng có thể
tu được, chỉ sợ quư vị chẳng chịu
tu. Nếu quư vị chịu tu, chắc chắn là có thể
đạt được!
Đối
với các cây báu trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới, nếu đă đến thế giới Cực Lạc,
chẳng cần phải nói ǵ nữa. Nay chúng ta tưởng,
tưởng công đức của cây sẽ sanh ra hiệu
quả. Một câu nói quan trọng nhất ở đây là “tâm đắc thanh tịnh, vô phục
tham sân phiền năo” (tâm được thanh tịnh, chẳng
c̣n có tham, sân, phiền năo) Nay chúng ta niệm kinh, tưởng
cảnh giới trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới, tưởng công đức trang nghiêm của các cây
báu, v́ sao đạt được hiệu ứng? Do hiện
thời quư vị “tâm đắc
thanh tịnh, vô phục tham sân phiền năo”, đạo
lư ở chỗ này. Bản thân chúng ta có thể tu như vậy,
được oai thần của Tây Phương Cực Lạc
thế giới A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí và các vị
thượng thiện nhân gia tŕ, chúng ta hiện thời có
thể thoát ĺa nỗi khổ sanh, lăo, bệnh, tử, hiện
thời chẳng có [những nỗi khổ ấy].
(Sao)
Hựu vân: Kiến thử thụ giả, đắc tam
Pháp Nhẫn.
(鈔) 又 云:見 此 樹 者,得 三 法 忍。
(Sao:
Lại nói: “Người thấy cây ấy, sẽ đắc
ba Pháp Nhẫn”).
“Tam Pháp Nhẫn” sẽ
được chú giải dưới đây bằng kinh
văn của kinh Vô Lượng Thọ:
1) “Nhất, Âm Hưởng Nhẫn, nhân văn thánh giáo
đắc ngộ nhập cố” (Một là Âm Hưởng
Nhẫn, do nghe thánh giáo mà được ngộ nhập).
Chúng sanh trong thế giới Sa Bà, Nhĩ Căn nhạy bén
nhất trong lục căn. Trong hội Lăng Nghiêm, Văn
Thù Bồ Tát chọn lựa pháp Viên Thông, đă nói: “Thử phương chân giáo thể,
thanh tịnh tại âm văn” (Chân giáo thể
phương này, thanh tịnh nơi nghe tiếng). Âm Hưởng
(音響) là pháp âm. Sau khi
nghe âm thanh thuyết pháp của đức Phật, tập
khí phiền năo của chính ḿnh dần dần tiêu mất.
Đó là loại Nhẫn thứ nhất.
2) Công phu tăng
lên tới giai đoạn thứ hai: “Nhị, Nhu Thuận Nhẫn, chiết phục phiền
năo toàn bất khởi cố” (Hai là Nhu Thuận Nhẫn,
chiết phục phiền năo, khiến chúng hoàn toàn chẳng
dấy lên). Nh́n theo giai đoạn tu hành trong Tịnh Tông
th́ Âm Hưởng Nhẫn là công phu thành phiến, Nhu Thuận
Nhẫn là Sự nhất tâm bất loạn, phiền năo
hoàn toàn chẳng dấy lên.
3) “Tam, Vô Sanh Pháp Nhẫn, vô sanh chi Lư nhẫn khả
ư tâm cố” (Ba là Vô Sanh Pháp Nhẫn, tâm có thể nhẫn
lư Vô Sanh). Đây là Lư nhất tâm bất loạn. Ở
đây gọi ba loại công phu Niệm Phật là ba thứ
Nhẫn.
Nếu
chúng ta muốn công phu thành phiến th́ “đọc tụng, thọ tŕ, v́ người khác diễn
nói” rất quan trọng. Nói thật ra, hiện nay, thời
gian huân tập của chúng ta vẫn chẳng đủ, thời
gian huân tập quá ít. Tuy đạo tràng này mỗi tuần
giảng kinh bốn lần, mỗi ngày giảng một tiếng
rưỡi, nhưng trong hai mươi bốn giờ, chỉ
có một tiếng rưỡi huân tập Phật pháp, c̣n
hai mươi hai giờ rưỡi là tham, sân, si, mạn
phiền năo huân tập, tính toán kiểu nào đây? Rất
khó thành tựu! V́ thế, tôi khuyên các đồng tu, chỉ
cần có lúc rảnh rỗi, hăy niệm Phật, học thuộc
kinh, niệm kinh, nhằm bổ túc sự thiếu sót trong
nghe pháp, khiến cho thời gian huân tập Phật pháp
được dài hơn. Nói nghiêm ngặt, mỗi ngày chúng
ta nếu niệm Phật, tụng kinh, nghe pháp mười
hai giờ, hăy c̣n mười hai giờ là hôn trầm, phiền
năo, công phu là năm mươi phần trăm, có thể
thành tựu hay không, vẫn chẳng đáng trông cậy cho
lắm! Phương pháp như của cổ nhân th́ đáng
tin cậy, v́ sao? Hai phần ba là huân tập Phật pháp, [thời
gian] chẳng thể huân tập Phật pháp chỉ có một
phần ba. Mỗi ngày họ công phu mười sáu giờ,
đích xác là nắm rất vững!
Nay
nếu chúng ta có một đạo tràng như vậy, chỉ
sợ chẳng có một đồng tu nào đến
đó, chẳng ai tới cả! Đạo tràng hiện thời
sắp đặt càng lắm tiết mục xen tạp th́
người càng đông: Ca hát, khiêu vũ, cắm hoa, thật
nhiều bộ môn, náo nhiệt phi phàm, giống như cái chợ,
môn đ́nh như cái chợ. C̣n như chúng ta ở đây,
giảng kinh khô khan, vô vị, người đến chẳng
nhiều lắm, chẳng náo nhiệt phô trương
như chỗ của họ. Đạo tràng giống
như cổ nhân, người hiện tại càng chẳng
có. Khó trách lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ vài ba lượt
bảo chúng tôi: “Đồng tu
quư tinh chuyên, chẳng cần đông”. Dăm ba người
chẳng kể là ít, thật sự có đạo tâm, thật
sự có thể văng sanh, đó là đúng. Chúng ta xem sách Tây
Phương Xác Chỉ, học tṛ của Giác Minh Diệu Hạnh
Bồ Tát là mười hai người, tuy đạo tràng
nhỏ, nhưng thật sự đắc thọ dụng.
(Sao)
Tắc tri thụ sắc hương vị, giai diệc diễn
sướng Căn, Lực, Giác, Đạo, như thị
đẳng pháp, chúng sanh văn giả, hàm niệm Tam Bảo.
(鈔) 則 知 樹 色 香 味,皆 亦 演 暢 根 力 覺 道,如 是 等 法,眾 生 聞 者,咸 念 三 寶。
(Sao: Nên biết sắc,
hương, vị của cây cũng đều diễn nói
lưu loát Căn, Lực, Giác, Đạo, các pháp như vậy.
Chúng sanh nghe thấy, đều niệm Tam Bảo).
Nói
rơ vô t́nh thuyết pháp trong thế giới ấy, chẳng
có pháp nào không được tuyên dương.
(Sao)
Hựu lệ suy chi.
(鈔) 又 例 推 之。
(Sao:
Lại theo lệ ấy mà suy).
Lại
theo lệ trên đây mà suy luận.
(Sao)
Bỉ quốc kim sa.
(鈔) 彼 國 金 沙。
(Sao:
Cát vàng trong cơi ấy).
Cát
vàng trải dưới đáy ao bảy báu.
(Sao)
Bỉ quốc giai đạo.
(鈔) 彼 國 階 道。
(Sao:
Bậc thềm, lối đi trong cơi ấy).
“Giai” là bậc thềm, “đạo” là đường.
(Sao)
Bỉ quốc lâu các, bỉ quốc liên hoa, thiên nhạc,
thiên hoa, y kích, thực khí, nhất thiết chư vật,
giai diệc diễn sướng Căn, Lực, Giác, Đạo,
như thị đẳng pháp, chúng sanh văn giả, hàm niệm
Tam Bảo.
(鈔) 彼 國 樓 閣,彼 國 蓮 華,天 樂 天 華,衣 裓 食 器,一 切 諸 物,皆 亦 演 暢 根 力 覺 道。如 是 等 法,眾 生 聞 者,咸 念 三 寶。
(Sao: Lầu, gác, hoa
sen, nhạc trời, hoa trời, đồ đựng hoa,
vật dụng để ăn uống, hết thảy các
vật trong cơi ấy cũng đều diễn nói lưu loát
Căn, Lực, Giác, Đạo,
các pháp như thế. Chúng sanh nghe thấy đều niệm
Tam Bảo).
Người
b́nh phàm chẳng thể nghĩ đến ư nghĩa này! Do vậy,
ta cũng biết Liên Tŕ đại sư nhận thức
thế giới Tây Phương sâu hơn chúng ta, xác thực
là như vậy. Y báo, chánh báo, chẳng có ǵ không nói pháp, tuyệt
diệu! Hiện thời, quư vị ở nơi đây chẳng
thể thuyết pháp, đă tới Tây Phương Cực Lạc
thế giới bèn có thể thuyết pháp, v́ sao? Tự tánh
khai phát. Mục tiêu giáo học của Tây Phương Cực
Lạc thế giới A Di Đà Phật đă được
kinh Vô Lượng Thọ nói rất rơ ràng: “Khai hóa, hiển thị Chân Thật chi tế”. “Chân Thật chi tế” là Chân
Như bản tánh. Hễ đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới bèn minh tâm kiến tánh.
(Sao)
Như Hoa Nghiêm hương vân đài vơng, giai xuất tụng
ngôn.
(鈔) 如 華 嚴 香 雲 臺 網,皆 出 頌 言。
(Sao:
Như mây hương, đài, lưới trong Hoa Nghiêm đều
phát ra tiếng nói kệ).
Liên
Tŕ đại sư nói những lời này là có căn cứ
từ kinh văn, Ngài chỉ ra kinh Hoa Nghiêm có cảnh giới
này. Thế giới Hoa Tạng đă có chuyện này th́ Tây
Phương Cực Lạc thế giới nhất định
phải có, v́ Hoa Tạng chẳng khác Cực Lạc, Cực
Lạc là Hoa Tạng. Trong kinh Hoa Nghiêm, mây hương, lọng
báu, lưới mành, thảy đều thuyết pháp. Chúng
ta có thể đọc thấy điều này trong mười
hai cuốn đầu của kinh Hoa Nghiêm.
(Sao)
Hựu Đao Lợi thiên cổ, diễn mạc trắc
chi chân thuyên.
(鈔) 又 忉 利 天 鼓,演 莫 測 之 真 詮。
(Sao: Lại nữa,
cái trống trên cơi trời Đao Lợi diễn nói lời
chân thật không thể suy lường).
Phần
trước là nói về thế giới Hoa Tạng, nay lại
quay về nh́n trong thế giới Sa Bà, cái trống trời
trong Dục Giới Thiên cũng có t́nh h́nh như vậy.
(Diễn)
Hoa Nghiêm vân: Đao Lợi chư thiên trước ngũ dục
lạc, hành phóng dật thời, thiên cổ chi trung, tự
nhiên xuất âm, nhi cáo chi ngôn: “Thử lạc vô thường,
mạc hành phóng dật đẳng”.
(演) 華 嚴 云:忉 利 諸 天 著 五 欲 樂,行 放 逸 時,天 鼓 之 中,自 然 出 音,而 告 之 言,此 樂 無 常,莫 行 放 逸 等。
(Diễn: Kinh Hoa Nghiêm
nói: Khi chư thiên cơi Đao Lợi tham đắm năm món
dục lạc, làm chuyện buông lung, trong cái trống trời
tự nhiên phát ra tiếng bảo: “Lạc này là vô thường,
đừng làm những chuyện buông lung” v.v…).
Đao
Lợi Thiên thuộc về Dục Giới Thiên. Tầng trời
này cũng chẳng cao, ở trên Tứ Vương Thiên,
dưới Dạ Ma Thiên, đối với sự vui thú
ngũ dục tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ
nghê vẫn hết sức nồng đậm. Khi hưởng
lạc hơi mê say, do buông lung bèn mê đắm, cái trống
trời[12] sẽ nhắc nhở
họ. Khi trống trời Đao Lợi vang ra tiếng, nó
có thể phát ra âm thanh cảnh giác mọi người: “Quư
vị đừng hưởng lạc quá lố, lạc ấy
là vô thường”. Nó đưa ra lời cảnh cáo. Hiện
nay, khoa học kỹ thuật phát triển, có lúc cũng lợi
dụng máy móc để cảnh cáo. Ví dụ như những
thứ [thiết bị cảnh báo] pḥng cháy, pḥng ngừa trộm
cắp. Thậm chí, các máy móc chạy bằng điện
trong gia đ́nh, nếu vượt qua mức độ an
toàn, liền tự động phát ra âm thanh nhắc nhở
chúng ta về sự nguy hiểm. Trong tương lai, lại
tiến hơn nữa, người máy có thể nói chuyện,
thấy chúng ta buông lung cũng có thể đưa ra lời
cảnh cáo. Nhân gian và cơi trời c̣n có thể làm được,
huống ǵ thế giới Hoa Tạng và thế giới Cực
Lạc? Đây là suy luận theo lư, lại c̣n t́m được
căn cứ trong kinh văn, xác thực là như vậy.
(Sao)
Lôi Âm bảo lâm, thuyết Vô Sanh chi diệu kệ.
(鈔) 雷 音 寶 林,說 無 生 之 妙 偈。
(Sao:
Rừng báu chốn Lôi Âm nói bài kệ Vô Sanh mầu nhiệm).
Lôi
Âm là cơi Phật, “bảo lâm”
là nói tới cây cối trong cơi Phật, giống như cây
nơi đạo tràng đều có thể thuyết pháp.
(Sao) Hựu Đại Bát Nhă vân: Tịnh
Độ thụ lâm đẳng nội ngoại vật
trung, thường hữu vi phong xung kích, phát vi diệu âm,
thuyết nhất thiết pháp giai vô tự tánh đẳng,
đồng thử nghĩa dă.
(鈔) 又 大 般 若 云:淨 土 樹 林 等 內 外 物 中,常 有 微 風 衝 擊,發 微 妙 音,說 一 切 法 皆 無 自 性 等,同 此 義 也。
(Sao: Kinh Đại Bát Nhă lại nói: “Các vật
trong ngoài rừng cây nơi Tịnh Độ, thường
có gió nhẹ thổi lay động, phát ra tiếng vi diệu,
nói hết thảy các pháp đều chẳng có tự tánh
v.v…”, có cùng ư nghĩa này).
Điều
này được nói trong kinh Đại Bát Nhă. Do vậy,
có thể biết: Vô t́nh thuyết pháp không chỉ được
nói trong ba kinh Tịnh Độ, mà các kinh như Hoa Nghiêm,
Bát Nhă cũng đều có nói. Chúng ta có thể tin tưởng
chuyện này.
(Sớ)
Thiện hội chi giả, thử độ hữu t́nh, vô
t́nh, diệc giai thuyết pháp, như văn oanh kích trúc
đẳng, huống phục Tịnh Độ!
(疏) 善 會 之 者,此 土 有 情 無 情,亦 皆 說 法,如 聞 鶯 擊 竹 等,況 復 淨 土。
(Sớ: Đối với
người khéo hiểu th́ hữu t́nh lẫn vô t́nh trong cơi
này cũng đều thuyết pháp, như nghe tiếng chim
oanh hót, tiếng trúc khua v.v… Huống hồ Tịnh Độ).
“Hội” (會) là thấu hiểu,
hiểu ư. Thiền Tông thường nói “hội ma?”, [nghĩa
là] quư vị có hiểu hay không? Mang ư nghĩa ấy, quư vị
có thể ngay lập tức thấu hiểu ư của
người ấy hay không? Lục trần trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới thuyết pháp, có
bao giờ lục trần trong thế gian này chẳng
thường thuyết pháp? Tâm của người trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới thanh tịnh, nên
họ có thể hiểu diệu pháp do lục trần tuyên
thuyết. Tâm người trong thế gian này quá thô tháp, hời
hợt, hờ hững, nên lục trần thuyết pháp mà
chẳng biết! Nói với quư vị mỗi ngày, quư vị
vẫn chẳng giác ngộ, vẫn mê hoặc, điên đảo.
Nếu chúng ta dùng tâm thanh tịnh đối với lục
trần, xác thực cũng chẳng kém Tây Phương.
Đă
là nói như vậy, v́ sao chúng ta vẫn mong sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới? Nói theo lư luận,
hoàn toàn chẳng sai, có thể chẳng cần đến
Tây Phương, nhưng quư vị tu hành trong thế giới
này, đối với hoàn cảnh chung quanh, hoàn cảnh nhân
sự, hoàn cảnh vật chất, quư vị có bị chúng ảnh
hưởng hay không? Tuy tâm quư vị thanh tịnh, nhưng
thanh tịnh chưa đầy mấy phút lại bị kẻ
khác nhiễu loạn, chuyện này phiền phức to lớn.
Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới,
tâm ai nấy đều thanh tịnh, chỗ tốt đẹp
là đây! Nếu trong thế gian này, người và sự
quanh ta thứ ǵ cũng đều thanh tịnh, chúng ta sẽ
chẳng bắt buộc phải đến Tây Phương
Cực Lạc thế giới. So sánh giữa đôi bên, hoàn
cảnh bên kia tốt đẹp hơn bên này, ở bên ấy
đức Phật thọ vô lượng, Phật thuyết
pháp, Bồ Tát thuyết pháp, vô t́nh thuyết pháp vĩnh viễn
chẳng gián đoạn, c̣n trong thế gian này, chúng ta chẳng
có những chuyện ấy.
(Sao)
Thiện hội giả, vị bất dĩ cảnh vi cảnh,
nhi hội cảnh tức tâm.
(鈔) 善 會 者,謂 不 以 境 為 境,而 會 境 即 心。
(Sao:
“Khéo hiểu” nghĩa là chẳng chấp cảnh là cảnh,
mà hiểu cảnh chính là tâm).
Chuyện
này thật sự chẳng dễ dàng, cảnh giới ấy
quá cao. Trong ấy có đạo lư, tận hư không khắp
pháp giới, nói theo Phật pháp, y báo và chánh báo trang nghiêm
trong mười pháp giới do đâu mà có? Do tự tâm biến
hiện. Kinh Hoa Nghiêm đă nói rất hay: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”.
Tâm và thức đều là Chân Như bản tánh; nói cách
khác, t́nh và vô t́nh đều do Chân Như bản tánh của
chính ḿnh biến ra. [Đă là] những thứ do Chân Như bản
tánh biến ra, có ǵ chẳng phải là Chân Như bản
tánh? Cổ nhân nói: “Dĩ kim tác
khí, khí khí giai kim”, [nghĩa là] dùng vàng làm đồ vật,
có món nào chẳng phải là vàng? Nói theo pháp, t́nh và vô t́nh có ǵ
chẳng phải là Chân Như bản tánh? Khi ấy, sẽ
chẳng gọi là cảnh, mà toàn là tánh.
Nếu
đối với ư nghĩa này, chúng ta vẫn c̣n chưa dễ
lănh hội cho lắm, chúng tôi dùng mộng làm tỷ dụ,
rất nhiều cảnh giới trong mộng do đâu mà có
? Do tâm của chính ḿnh biến hiện. Nếu quư vị
giác ngộ một thoáng, giác ngộ là quư vị đă hiểu,
khéo thấu hiểu: “Toàn thể
mộng chính là tâm”. Ngay trong khi ta nằm mộng, toàn thể
tâm biến thành mộng cảnh, tâm giống như thế
nào? Cảnh giới ấy chính là h́nh tướng của
tâm. “Ngoài tâm chẳng có pháp,
ngoài pháp chẳng có tâm”. Tâm và cảnh bất nhị, Tánh
và Tướng như một, đến chỗ này chính là cảnh
giới của Biệt Giáo Sơ Địa Bồ Tát trở
lên (đến Bát Địa mới viên dung tự tại),
đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh,
kiến tánh thành Phật. V́ thế, có cảnh hay không? Chẳng
có, toàn là tự tánh. Đến khi ấy:
(Sao)
Tắc vật vật đầu đầu, giai tổ
sư ư.
(鈔) 則 物 物 頭
頭,皆 祖 師 意。
(Sao:
Mọi vật mọi sự đều là ư tổ sư).
“Tổ sư ư” là ǵ? Minh tâm kiến
tánh.
(Sao)
Kim cô cử nhị sự dă.
(鈔) 今 姑 舉 二 事 也。
(Sao:
Nay chỉ nêu ra hai chuyện).
Nay
nêu lên hai ví dụ, đây là hai công án trong Thiền Tông. Công
án thứ nhất là…
(Sao)
Văn oanh giả.
(鈔) 聞 鶯 者。
(Sao:
Nghe tiếng chim oanh…)
“Oanh” (鶯) là chim hoàng oanh (黃鶯). Hoàng oanh kêu trên cành liễu khiến cho người
ấy khai ngộ, há chẳng phải là hoàng oanh đang thuyết
pháp ư? Lần này người ấy nghe hiểu. Trong quá
khứ, mỗi ngày nghe chim oanh thuyết pháp, nhưng chẳng
nghe hiểu. Lần này nghe đă hiểu, bèn khai ngộ.
Đó là hữu t́nh thuyết pháp.
(Sao)
Nhất tăng nhân nghi Pháp Hoa vân.
(鈔) 一 僧 因 疑 法 華 云。
(Sao: Một vị
Tăng do nghi [một câu] được nói trong kinh Pháp
Hoa).
Đối
với một câu kinh văn của kinh Pháp Hoa, vị ấy
có nghi t́nh. Nghi t́nh tức là vị ấy chẳng liễu
giải, chứ chẳng phải là hoài nghi. Hoài nghi là không
tin tưởng, đó là hoài nghi, là tham, sân, si, mạn nghi,
là phiền năo, chẳng có tác dụng ǵ hết! C̣n nghi t́nh
là ǵ? Ta không liễu giải, nhưng ta tin tưởng, tin
tưởng lời Phật dạy quyết định là
chân thật, nhưng ta không hiểu, đó gọi là “nghi t́nh”. Thiền Tông nói: “Đại nghi bèn đại ngộ,
tiểu nghi bèn tiểu ngộ”, chẳng nghi ngờ sẽ
không thể ngộ. Ở đây nói tới nghi t́nh, tuyệt
đối chẳng phải là hoài nghi. Hoài nghi th́ không
được rồi, hoài nghi là phiền năo. Kinh Pháp Hoa có
hai câu như sau:
(Sao)
Chư pháp tùng bổn lai, thường tự tịch diệt
tướng.
(鈔) 諸 法 從 本 來,常 自 寂 滅 相。
(Sao:
Các pháp từ xưa nay, tướng thường tự tịch
diệt).
“Chư pháp” là hết thảy
các pháp. Hết thảy các pháp trước nay đều là
thanh tịnh, tịch diệt. Kinh văn c̣n có hai câu kế
đó: “Chư pháp trụ pháp vị,
thế gian tướng bất hoại” (các pháp trụ
pháp vị, tướng thế gian chẳng hoại). Đó
đều là những câu rất khó hiểu trong kinh Pháp Hoa.
Tướng thế giới chẳng hoại, tức là bất
sanh bất diệt. Đó cũng là bất sanh bất diệt.
Hai câu ấy đều nhằm nói: Hết thảy các pháp bất
sanh bất diệt. Nếu quư vị thật sự hiểu
hai câu ấy, sẽ chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn,
chẳng phải là Bồ Tát b́nh phàm. Nói theo Tịnh Độ
Tông, quư vị chứng đắc Lư nhất tâm bất loạn.
Nếu chúng ta nới rộng khuôn khổ, Lư nhất tâm bất
loạn Bồ Tát sẽ là Viên Giáo Sơ Trụ. Nếu nói
nghiêm ngặt, Lư nhất tâm bất loạn là từ Thất
Địa trở lên, tối thiểu cũng là Đăng
Địa Bồ Tát, đó là Viên Giáo. Kinh Nhân Vương
nói Vô Sanh Pháp Nhẫn là Thất Địa, Bát Địa, Cửu
Địa. Thất Địa là hạ phẩm Vô Sanh Nhẫn;
Bát Địa là trung phẩm Vô Sanh Nhẫn; Cửu Địa
là thượng phẩm Vô Sanh Nhẫn, địa vị của
quư vị cao lắm!
(Sao)
Cửu tham vị ngộ.
(鈔) 久 參 未 悟。
(Sao:
Tham đă lâu nhưng chưa ngộ).
Vấn
đề này ghim trong ḷng rất lâu, chẳng hiểu rơ [hai
câu ấy] có nghĩa là ǵ. Có một ngày, đây cũng là v́
tham cứu lâu ngày, tâm đă tịnh. V́ vấn đề này
thường chẳng thể giải quyết, dẫu chẳng
thể giải quyết cũng chớ nên suy tưởng,
[hễ suy tưởng tức là] quư vị nghiên cứu, trật
mất rồi! Chỉ có thể khởi lên nghi t́nh, thường
có nghi t́nh ấy, chứ vọng tưởng ǵ cũng
đều chẳng có. Thiền Tông dùng phương pháp ấy
để xóa sạch vọng tưởng, chấp trước.
Thời gian càng lâu, tâm càng thanh tịnh, nói không chừng sẽ
gặp một cơ hội nào đó, hễ gặp
được sẽ thông suốt. Đối với vị
xuất gia ấy, hoàng oanh hót tại đó mỗi ngày, vị
ấy nghe hót mỗi ngày, vẫn chẳng khai ngộ. Hôm ấy,
nước chảy thành khe, tâm địa thanh tịnh mới
đạt đến độ thuần thục, vừa gặp
gỡ liền khai ngộ.
(Sao)
Hốt văn oanh thanh, toại đắc đại triệt.
(鈔) 忽 聞 鶯 聲,遂 得 大 徹。
(Sao:
Chợt nghe tiếng chim oanh hót bèn được đại
triệt).
Nghe
hoàng oanh vừa hót, bèn đại triệt đại ngộ!
Ngài bèn nói một bài kệ:
(Sao)
Chư pháp tùng bổn lai, thường tự tịch diệt
tướng, xuân đáo bách hoa hương, hoàng oanh đề
liễu thượng.
(鈔) 諸 法 從 本 來,常 自 寂 滅 相,春 到 百 花 香,黃 鶯 啼 柳 上。
(Sao: Các pháp từ xưa nay,
tướng thường tự tịch diệt, xuân đến
trăm hoa ngát, oanh hót trên cành liễu).
Đây
là hai câu trong kinh Pháp Hoa, đă tham lâu chẳng ngộ, nay bỗng
dưng khai ngộ. Xuân đă tới, trăm hoa tự nhiên
nở ngát hương, chim hoàng oanh hót trên cây liễu. Đối
với bài kệ sau khi khai ngộ của Ngài, chúng ta đọc
có thể khai ngộ hay không?
(Sao)
Kích trúc giả.
(鈔) 擊 竹 者。
(Sao:
Đụng vào trúc là…)
Đây
là vô t́nh thuyết pháp. Trong phần trước là hữu
t́nh, phần này là vô t́nh. Có thể thấy hữu t́nh lẫn
vô t́nh đều thuyết pháp ở đó, chúng ta có hiểu
hay không? Đây là nói tới tôn giả Hương Nham,
cũng là một vị đại đức trong Thiền
Tông.
(Sao)
Hương Nham dĩ bất hội “phụ mẫu vị
tiền sanh” cú, phát phẫn trụ sơn.
(鈔) 香 巖 以 不 會 父 母 未 前 生 句,發 憤 住 山。
(Sao: Ngài Hương
Nham do chẳng hiểu câu “diện mạo vốn có trước
khi được cha mẹ sanh ra”, nên phát phẫn trụ
trong núi).
[Sách
Diễn Nghĩa nói] “Hương
Nham tại Bách Trượng hội trung, cơ phong mẫn
tiệp” (Ngài Hương Nham ở trong hội của
ngài Bách Trượng, cơ phong nhanh lẹ). Ngài là học
tṛ của tổ Bách Trượng, sống vào đời
Đường. Vị này hết sức thông minh, trí huệ
rất cao, trong Thiền Đường đối đáp
như nước chảy. “Hậu
tham Quy Sơn” (sau đến tham phỏng ngài Quy Sơn),
đến chỗ tổ sư Quy Sơn xin tham học. “Sơn vấn viết: - Nhữ
tại Bách Trượng, năng vấn
nhất đáp thập, vấn thập đáp bách, thị
phủ?” (ngài Quy Sơn hỏi:
“Ông ở chỗ ngài Bách Trượng có thể hỏi một
đáp mười, hỏi mười đáp trăm,
đúng không?”), đúng hay không? Rất thông minh, có thể thấy
thuở ấy ngài Hương Nham rất nổi danh. Thiền
sư Quy Sơn biết bản lănh của Ngài. “Hương Nham vân thị”
(Hương Nham thưa phải), chẳng sai, quả thật
là như vậy. “Sơn vân: Ngă
bất yếu nhữ đáp thập, đáp bách, đản
tương phụ mẫu vị sanh tiền bổn lai diện
mục đạo nhất cú lai” (ngài Quy Sơn nói: “Ta
không cần ông đáp mười, đáp trăm, chỉ
đem một câu ‘diện mạo vốn có trước khi
được cha mẹ sanh ra’ nói ra đi”). Ông nói câu “diện
mạo vốn có trước khi được cha mẹ
sanh ra” cho ta nghe thử xem, ta không cần ông đáp trăm,
đáp mười chi cả! “Nham
bất năng đáp” (ngài Hương Nham chẳng thể
đáp), lần này đúng là bị bắt bí mất rồi,
cơ duyên của Ngài không ở chỗ ngài Bách Trượng,
mà ở nơi pháp sư Quy Sơn. “Cầu Quy Sơn vị thuyết. Sơn vân: - Ngă
nhược vị nhữ thuyết phá, nhữ hậu lai mạ
ngă, thả khứ, bất vị nhữ thuyết”
(Sư cầu ngài Quy Sơn giảng cho. Ngài Quy Sơn nói: “Nếu
ta nói toạc ra với ông, sau này ông sẽ chửi ta. Hăy
đi đi, ta chẳng nói cho ông biết”). Thật vậy,
v́ sao chẳng thể nói? Sau khi nói ra, quư vị sẽ chẳng
khai ngộ. Giống như người nghe tiếng chim
oanh khai ngộ trên đây, nếu vị ấy nói ra, quư vị
có hiểu hay không? Người ta ngộ, nếu vị ấy
nói ra, quư vị sẽ chẳng khai ngộ, chuyện này nhất
định là chuyện của chính ḿnh. Chính quư vị sau
khi đă ngộ nhập, sẽ t́m vị ấy xin ấn
chứng, vị ấy sẽ bảo cho quư vị biết.
Nếu quư vị chẳng khai ngộ, vị ấy quyết
định chẳng nói cho quư vị biết. Nói cho quư vị
biết, sẽ ngăn lấp ngộ môn của quư vị,
trong tương lai, lẽ nào quư vị chẳng hận vị
ấy? Đương nhiên sẽ hận thấu
xương! Người hiện thời chẳng hiểu
[như vậy]! Người hiện thời nếu gặp
một vị thầy cao minh mà thầy chẳng nói, [sẽ
chê trách]: “Vị thầy này tiếc pháp, chẳng nói cho chúng
ta biết”.
Lần
ấy, ngài Hương Nham đúng là đă gặp một cửa
ải khó vượt. Ḥa Thượng chẳng bảo ban,
cũng chẳng nói với Ngài. “Hương
Nham phẫn vân: Ngă bạn nhất sanh, tố cá thường
hành chúc phạn tăng, quyết yếu tham phá”
(Hương Nham phát phẫn, nói: “Ta sống cả một
đời, thường làm một ông Tăng chỉ biết
ăn cơm, húp cháo, quyết phải tham thấu triệt
chuyện này”). Ngài phát phẫn, chẳng c̣n mỗi ngày biện
luận đấu cơ phong với người khác, mà thật
thà tu hành, mới hiểu điều ǵ? Thông minh như
trước đó, chẳng có một tí tác dụng ǵ cả,
bị người ta giáng cho một câu liền bí rị!
Ngài tu khổ hạnh trong chốn thường trụ. “Hậu nhân trị địa”
(về sau do vỡ đất), “trị
địa” (治地) là trồng trọt.
Bách Trượng đại sư đề xướng: “Nhất nhật bất tác, nhất
nhật bất thực” (một ngày không làm th́ ngày đó
chẳng ăn), Phật môn hiện thời nói là “xuất pha” (出坡: ra sườn núi). Xuất Pha do Bách Trượng
đại sư đề xướng, tức là đề
xướng người xuất gia tự trồng
lương thực, rau cỏ, chớ nên cầu từ
nơi người khác. Trong quá khứ, tự viện có rất
nhiều ruộng đất, núi rừng, đều do tín
đồ quyên tặng, họ dựa vào thâu nhập đó
để có lương thực. Ruộng đất
hơn phân nửa cho nông dân cấy rẽ, chính ḿnh thu tô,
cũng có một phần do chính ḿnh trồng trọt. Điều
này chẳng phù hợp giới luật. Thuở tại thế,
Thích Ca Mâu Ni Phật chắc chắn chẳng cho phép, v́
người xuất gia sống theo quy chế khất thực.
Nhưng Phật pháp truyền đến Trung Hoa, chẳng
thể tuân theo quy chế khất thực. V́ người
Hoa coi thường người khất thực, cho khất
thực là ăn mày. Tại Ấn Độ, người
xuất gia khất thực được mọi người
hết sức tôn trọng cúng dường. Phật pháp truyền
đến Trung Hoa thoạt đầu được quốc
gia cúng dường, v́ đều do hoàng đế phái đặc
sứ nghênh thỉnh pháp sư từ ngoại quốc đến
làm khách của cả nước, tiếp nhận sự
cúng dường của triều đ́nh. Về sau, Phật
pháp phổ biến, tiếp nhận các quan lại, trưởng
giả, cư sĩ tại địa phương cúng
dường, nên tại Trung Hoa chẳng có quy chế khất
thực.
Do vậy,
Bách Trượng đại sư đề xướng trồng
trọt. Trong giới luật, trồng trọt được
gọi là Hạ Khẩu Thực, là tà mạng. Bách Trượng
đại sư đề xướng là có đạo lư,
đức Phật chế định giới luật nhằm
phù hợp xă hội thuở đó. Chúng ta phải hiểu
rơ, tuân thủ tinh thần giới luật, chẳng thể
biến đổi, nhưng phương thức mỗi thời
đại mỗi khác. Cách sống đă khác, khu vực khác
nhau, thảy đều phải tu chỉnh. Cách làm như thế
nào phải tùy thời, tùy chỗ để tu chỉnh, ḥng
thích hợp t́nh h́nh sinh hoạt của đại chúng th́ Phật
pháp mới có thể phổ biến, hoằng dương,
mới có thể được người ta hoan hỷ
tiếp nhận. Nếu phương thức đă h́nh thành
bèn bất biến th́ Phật pháp chắc chắn bị
tiêu diệt. Chư vị phải hiểu, đặc biệt
là Đại Thừa Phật pháp, nhấn mạnh Trung
Đạo, Nho gia nói là Trung, giống như con sông cong cong
quẹo quẹo, nó vĩnh viễn ở giữa, chẳng
lệch sang đôi bờ. Phật pháp cũng là như thế,
bất luận trong thời đại nào, bất luận ở
chỗ nào, đều hành theo Trung Đạo. V́ thế, giới
luật quyết định chẳng thể chấp chết
cứng nơi giới điều, [hễ chấp chết
cứng] th́ trật rồi! Kinh giáo cũng chớ nên chấp
chết cứng nơi văn tự. Cùng một bộ kinh,
từ xưa tới nay có nhiều chú giải, mỗi cá
nhân có cách giảng khác nhau. Cách giảng ấy mang tánh chất
thời đại. Kinh văn chẳng biến đổi,
thời cổ cũng dùng bản ấy, hiện thời
cũng dùng bản ấy, nhưng thời cổ có cách giảng
của thời cổ, hiện tại có cách giảng của
hiện tại, do nhu cầu của đại chúng trong mỗi
thời mỗi khác, phải biết chuyện này.
Hiểu
nguyên tắc này, chúng ta đọc chú giải của cổ
nhân. Ví như chúng ta xem chú giải của người đời
Đường, qua bản chú giải ấy, từ cách giảng
của vị ấy, chúng ta có thể suy đoán h́nh thái ư thức
và cách sống trong thời Đường có những
điểm khó khăn nào, cách giải thích ấy nhằm giải
quyết những vướng mắc của họ, giống
như chúng ta nh́n vào toa thuốc liền biết người
ta mắc những bệnh ǵ. V́ vậy, đọc chú giải
mà chẳng hiểu những nguyên lư và nguyên tắc này,
cũng chấp chết cứng nơi câu văn của cổ
nhân, những ǵ quư vị học toàn là chết cứng. V́
thế, nhấn mạnh “thôi trần
xuất tân” (tiếp thu những điều cũ có chọn
lọc, tức là gạn lọc, phát huy những điều
tinh hoa đạt tới một mức độ cao
hơn, trừ khử những điều hạn chế,
sai lạc, thiên kiến trong cách nh́n của cổ nhân), chúng
ta phải có cách nh́n sống động. Nh́n sống động
th́ mới hiểu chúng ta ở trong thời đại này,
thời đại này rất khác quá khứ, chúng ta phải
biết giảng bộ kinh này theo cách nào th́ mới có thể
đối trị căn bệnh của người hiện
thời, cũng tức là đối trị cách nghĩ,
cách nh́n, cách làm sai lầm như thế nào? Cứu chữa
như thế nào? Phật pháp như vậy th́ mới phù hợp.
Vị
này cũng đă nêu gương. Từ đấy trở
đi, Ngài hoàn toàn buông xuống tiếng tăm, lợi
dưỡng, và thói ham cao, chuộng xa. Người có tài hoa
bèn ngạo mạn, Ngài có chỗ đáng để kiêu ngạo
mà! Ngài Hương Nham ở chỗ tổ Bách Trượng
có cái đáng để kiêu ngạo, đi tới chỗ
ngài Quy Sơn, đụng phải vấn đề khó nuốt,
chẳng dám kiêu ngạo nữa, thật thà làm lụng cực
nhọc. Câu “diện mạo vốn
có trước khi được cha mẹ sanh ra” luôn
ghim trong ḷng. Do ghim đă lâu, nên chẳng có vọng niệm,
hằng ngày tưởng “diện
mạo vốn có trước khi được cha mẹ
sanh ra”, nên vọng tưởng, chấp trước
đều chẳng có. Có một hôm, cũng rất ngẫu
nhiên, trong khi trồng trọt, cuốc phải một cục
đá, Ngài liền tùy tiện nhặt lên, quăng đi. Cạnh
đó là rừng trúc, nhằm lúc cục đá đập vào
thân trúc, vừa nghe âm thanh ấy, Ngài khai ngộ. Nói thật
ra, Ngài đă làm quăng như vậy không biết bao nhiêu lần,
cũng không biết đă nghe [tiếng đá văng vào
trúc] bao nhiêu lượt, nhưng đều chẳng khai ngộ,
lần này bèn khai ngộ. Tức là giống như người
nghe chim hoàng oanh hót, cũng chẳng biết là đă nghe mấy
trăm lượt, mấy ngàn lượt, đều chẳng
khai ngộ, lần này vừa đụng tới, [cơ
duyên] đă chín muồi, bèn khai ngộ.
“Năi hướng Quy Sơn tác lễ
viết: Nhược Quy Sơn tảo vị ngă thuyết,
yên đắc hữu kim nhật sự, nhất kích vong sở
tri” (Bèn hướng về Quy Sơn[13]
làm lễ, nói: “Nếu ngài Quy Sơn đă sớm nói cho con
biết, há có chuyện ngày hôm nay, vừa đụng liền
quên bẵng những ǵ đă biết”). Nếu trước
kia lăo ḥa thượng đă nói cho Ngài biết, Ngài sẽ chẳng
có cảnh giới hôm nay, chẳng đạt được.
V́ đó là của người khác, chẳng phải là của
chính ḿnh, phải do chính ḿnh ngộ nhập, đó là minh tâm
kiến tánh. Một người minh tâm kiến tánh, đại
triệt đại ngộ, chứng đắc Lư nhất
tâm bất loạn, không nhất định do cơ duyên
nào, chẳng có cách nào dự đoán được.
Nhưng quyết định chớ nên giữ ư niệm ấy.
Hễ giữ ư niệm ấy, chắc chắn quư vị chẳng
khai ngộ. Ví như chúng ta niệm Phật, mong đắc
nhất tâm bất loạn, hằng ngày nghĩ ngợi: “Cớ
sao ta vẫn chưa đắc nhất tâm bất loạn?”
Quư vị vĩnh viễn chẳng thể nào đạt
được nhất tâm, chẳng đạt được.
Chỉ có người thật thà niệm câu A Di Đà Phật,
điều ǵ cũng quên hết, giống như tham Thiền;
nhưng trong tham Thiền, có người tham suốt đời
cũng chẳng khai ngộ, nhiều lắm, quá ư là nhiều!
Người tham Thiền, trong một vạn người,
có thể khai ngộ trong một đời, thưa cùng
chư vị, chỉ là dăm ba vị mà thôi; do vậy,
pháp môn ấy chẳng bằng niệm Phật. Niệm Phật,
chẳng ngộ cũng chẳng sao, vẫn văng sanh như
thường, người ấy đới nghiệp văng
sanh.
Tham
Thiền mà tham đến mức công phu thành phiến, vô dụng!
Tham đến mức Sự nhất tâm bất loạn vẫn
vô dụng! Sự nhất tâm bất loạn là đắc
Định. Công phu thành phiến là Tương Tự Định,
công phu định lực ấy có thể khuất phục
phiền năo, nhưng trọn chẳng đoạn phiền
năo, vô dụng! Dẫu cho đă đoạn hết phiền
năo, vẫn chẳng có tác dụng, nhất định phải
là minh tâm kiến tánh. Khi chưa đạt tới cảnh
giới ấy, công phu suốt một đời đều
thành lăng phí. V́ thế, chẳng bằng niệm Phật, niệm
Phật chỉ cần công phu thành phiến, quyết định
văng sanh. Do đó, mười phương ba đời hết
thảy chư Phật tôn sùng pháp môn này. Pháp môn này được
gọi là “đạo dễ
hành” v́ ai nấy đều có phần. Thiện Đạo
đại sư bảo: “Trăm
người tu, trăm người văng sanh; ngàn người
tu, ngàn người văng sanh, chẳng sót một ai!” Thiền
chẳng dễ dàng như thế, Mật cũng chẳng dễ
dàng dường ấy. Đây là một pháp môn dễ dàng nhất,
nhanh chóng nhất, và cũng là ổn thỏa, thích đáng nhất
trong hết thảy các pháp môn.
(Sao)
Nhất nhật trị địa thứ.
(鈔) 一 日 治 地 次。
(Sao:
Một hôm, trong khi cày cuốc đất).
Nhằm
hôm Ngài đang trồng trọt ở nơi ấy.
(Sao)
Phao thạch kích trúc, khanh nhiên hữu thanh, hốt nhi đại
ngộ, tác tụng: “Hữu nhất kích vong sở tri, cánh bất
giả tu tŕ, động dung dương cổ lộ, bất
đọa tiễu nhiên cơ”.
(鈔) 拋 石 擊 竹,鏗 然 有 聲,忽 而 大 悟 作 頌:有 一 擊 忘 所 知,更 不 假 修 持,動 容 揚 古 路,不 墮 悄 然 機。
(Sao: Quăng đá
trúng cây trúc, vang thành tiếng lạch cạch, bỗng đại
ngộ, làm bài tụng như sau: “Vừa đụng bèn quên
sạch sở tri, chẳng c̣n nhọc sức phải tu
tŕ, hành vi, vẻ mặt phô đường cũ, chẳng
đọa vào trong nẻo tịch vi”).
Khi
ngài Ngộ, đă làm bài kệ ấy.
(Sao)
Đẳng ngữ, như thị, tắc diêm tiền
thước táo.
(鈔) 等 語,如 是,則 簷 前 鵲 噪。
(Sao:
“Đẳng” là [c̣n nhiều trường hợp giống]
như vậy, như chim khách kêu dưới mái hiên).
“Thước” (鵲) là hỷ thước (喜鵲: chim khách), chim
khách kêu dưới mái hiên trước nhà.
(Sao)
Dă ngoại tùng thanh.
(鈔) 野 外 松 聲。
(Sao:
Tiếng tùng reo ngoài đồng).
Nơi
rừng tùng ngoài đồng hoang, ta có thể thấy tùng
lượn sóng. Gió lùa qua cội tùng, tùng uốn lượn
rập rờn như sóng trên mặt biển, âm thanh ấy
cũng êm tai lắm, đó là tiếng tùng reo.
(Sao)
Nhất văn, nhất dăng.
(鈔) 一 蚊 一 蠅。
(Sao:
Một con muỗi, một con ruồi).
Nghe tiếng muỗi, ruồi vo ve.
(Sao) Nhất thảo, nhất diệp,
mạc bất diễn dương diệu pháp, cổ phát
đạo tâm, huống thanh tịnh Phật độ hồ?
(Diễn) Nhất kích vong sở
tri. Sở Tri tức Sở Tri Chướng.
(鈔) 一 草 一 葉,莫 不 演 揚 妙 法,鼓 發 道 心,況 清 淨 佛 土 乎。
(演) 一 擊 忘 所 知,所
知,即 所 知 障。
(Sao:
Một nhánh cỏ, một chiếc lá, không ǵ chẳng diễn
bày, tuyên dương diệu pháp, cổ vũ phát khởi
đạo tâm, huống hồ cơi Phật thanh tịnh
ư?
Diễn: “Vừa đụng bèn quên sạch sở tri”: Sở
Tri chính là Sở Tri Chướng).
Đă
phá Sở Tri Chướng! Chẳng phá Sở Tri Chướng,
chẳng thể khai ngộ. V́ sao chớ nên nghiên cứu, chớ
nên suy tưởng kinh giáo? Quư vị nghiên cứu là tăng
trưởng Sở Tri Chướng. Do đó, đối với
kinh giáo, quư vị nghe, tiếp xúc, nếu hiểu th́ hiểu,
không hiểu th́ chẳng sao, đừng quan tâm, đó là
đúng. Một nguyên tắc là từ đầu tới cuối
giữ ǵn cái tâm thanh tịnh. Hiểu th́ hiểu, không hiểu
là không hiểu, đúng như Khổng lăo phu tử đă
nói: “Tri chi vi tri chi, bất tri
vi bất tri, thị tri dă” (biết th́ nói là biết,
không biết bèn nói không biết, đó là biết vậy),
đó là phương pháp cầu trí huệ thật sự.
Trí huệ của Khổng lăo phu tử cũng cầu từ
trong Định, cũng chẳng rớt vào tâm ư thức.
Đó là đă phá Sở Tri Chướng, bèn khai ngộ.
(Diễn)
Tức cừ vấn nhất đáp thập xứ, đáo
thử hốt nhiên hồn hóa, cố vân vong.
(演) 即 渠 問 一 答 十 處,到 此 忽 然 渾 化,故 云 忘。
(Diễn: Tức là khả
năng hỏi một đáp mười của Ngài đến
lúc ấy bỗng nhiên mất tăm mất tích, nên nói là
“quên bẵng”).
Trong
quá khứ, ngài Hương Nham nghe một biết mười,
nghe mười đáp trăm, toàn là Thế Trí Biện
Thông, chẳng phải là trí huệ chân thật. Khi ấy
(đă khai ngộ), trí huệ chân thật hiện tiền,
các thứ phân biệt, vọng tưởng trước kia
tới lúc đó đều hoàn toàn tiêu trừ, toàn bộ
đều chẳng có, tâm địa thanh tịnh, bỗng
nhiên sáng ngời, pháp thế gian và xuất thế gian không
ǵ chẳng biết, đó là trí huệ hiện tiền. Hôm
nay đă hết thời gian rồi.
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 90
hết
[1] Đài Phong (颱風) là một loại
băo lốc vùng nhiệt đới ở vùng biển Bắc
Thái B́nh Dương từ bờ biển Trung Hoa cho đến
Nhật Bản, Phi Luật Tân v.v…, thường được
biết dưới tên gọi Typhoon (chữ Đài Phong theo
giọng đọc Quảng Đông đă được
Anh hóa). Tuy thế, có một số người cho rằng
Typhoon xuất phát từ Tūfān (băo) của tiếng Ba
Tư cổ. Loại băo này thường giáng xuống
Đài Loan, Việt Nam, Phi Luật Tân, Nhật Bản, và các
tỉnh duyên hải Nam Trung Hoa. Trận băo Haiyan vừa
đánh vào Phi Luật Tân vừa qua chính là Typhoon.
[2] Minh Thứ Phong là tên gọi của Đông phong (gió
Đông), c̣n Thanh Minh Phong là gió Đông Nam. Sách Thuyết
Văn giảng: “Gió có tám loại.
Gió phương Đông gọi là Minh Thứ Phong, gió từ
Đông Nam gọi là Thanh Minh Phong, gió từ phương Nam
gọi là Cảnh Phong, gió từ phương Tây Nam gọi
là Lương Phong, gió từ phương Tây gọi là
Lư Hạp Phong, gió từ phía Tây Bắc gọi là Bất
Châu Phong, gió từ phương Bắc gọi là Quảng Mạc
Phong, gió từ phía Đông Bắc gọi là Dung Phong”. Sách
Sử Kư, chương Luật Thư giảng: “Minh Thứ Phong ở
phương Đông. Minh Thứ có nghĩa là mọi vật
đều xuất hiện”.
[3] Lục Luật nói ở đây chính là cách phân chia cao
độ các nốt nhạc trong cổ nhạc Trung Hoa.
Theo truyền thống, người ta tin mười hai nốt
nhạc ấy do cổ nhân dùng mười hai ống sáo (luật
quản) có độ dài khác nhau, phát ra mười hai âm
thanh tiêu chuẩn có cao độ khác nhau. Kể theo thứ
tự, sẽ là Hoàng Chung, Đại Lữ, Thái Thốc,
Giáp Chung, Cô Tuyển, Trọng Lữ, Nhuy Tân, Lâm Chung, Di Tắc,
Nam Lữ, Vô Tạ, Ứng Chung. Mười hai âm này lại
được chia thành sáu âm thuộc Dương và sáu âm
thuộc Âm, những âm thuộc Dương gọi là Lục
Luật, các âm thuộc Âm th́ gọi là Lục Lữ. Trong
cách phân chia này, những âm thuộc số lẻ là Dương,
số chẵn là Âm (chẳng hạn Hoàng Chung là
Dương, Đại Lữ là âm).
[4] Bát Âm là âm thanh do các loại nhạc khí được
chế bằng tám chất liệu khác nhau phát ra:
1) Kim (金) là các nhạc khí bằng kim
loại (thường là đồng) như chuông,
phương hưởng (giàn khánh dẹp, mỗi cái khánh có
h́nh như chữ L), biện chung (dàn chuông), thanh la, trống
đồng, năo bạt, linh, chiêng...
2) Thạch (石) là các loại
nhạc khí bằng đá như khánh đá.
3) Ty (絲) là các loại đàn, do thời
cổ, dây đàn bằng tơ bện, nên gọi là Ty,
như đàn cầm, đàn tranh, không hầu (gần giống
đàn harp), tỳ bà, đàn nguyệt (đờn ḱm), độc
huyền, nhị huyền (hồ cầm, nhị, đờn
c̣ v.v…), cách hồ (giống như hồ cầm, nhưng có
phần cộng hưởng được bịt bằng
da)…
4) Trúc (竹) là các
loại tiêu, sáo, kèn như tiêu (sáo thổi ngang), địch
(sáo thổi dọc), bát xích (sáo Nhật), tất lật, quản
tử, tỏa nạp (kèn Tàu), ba ô (sáo Mèo), mang đồng
(sáo ống, rất to, dài chừng hai thước)…
5) Bào (匏) là các loại nhạc khí thổi,
có bầu cộng hưởng bằng quả bầu hay có
h́nh dáng giống như quả bầu, như sênh, lô sênh, hồ
lô tư, hồ lô sênh…
6) Thổ (土) là các loại nhạc khí bằng
đất nung như huân (ocarina), phẫu (loại nhạc
khí này chỉ dùng trong lễ tế Khổng Tử, có h́nh thể
rất to như cái bàn vuông, có hộc ở bên hông, dùng chùy lớn
giộng vào phát ra âm thanh lộc cộc).
7) Cách (革) là các loại nhạc khí có
màng rung bằng da, như các loại trống.
8) Mộc là các loại nhạc
khí gơ bằng gỗ như mơ, phách v.v…
[5] Cung Thương là hai nốt nhạc trong truyền
thống Ngũ Âm của cổ nhạc châu Á, bao gồm
Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ (tương
đương với các nốt nhạc Mi, So, La, Do, Re
trong nhạc lư phương Tây).
[6] Sênh là một nhạc khí rất cổ mà vẫn
được sử dụng cho đến hiện thời,
thuộc loại thổi gồm nhiều ống sáo (thông
thường có đến 17 ống dài ngắn khác nhau, các
loại sênh cải tiến có số ống từ 24 đến
42 ống) cắm vào một bầu cộng hưởng ṿi
loe ra để thổi. Trong mỗi ống đều có
lưỡi gà để rung theo nhịp thổi. Sênh thường
được dùng để ḥa tấu với kèn tỏa nạp
và địch. Thời xưa lại
chia thành hai loại, loại to gọi là Vu, loại nhỏ
gọi là Ḥa. Người Hoa tin Sênh do họ Nữ Oa chế
ra. Trong khi đó, khèn (khene, khaen) là một loại nhạc
khí tương tự (phổ biến tại Lào, Thái Lan),
nhưng âm vực thấp hơn và các note nhạc không phong
phú bằng sênh, nhưng đôi khi có người cũng gọi
sênh là khèn.
[7] Hiểu theo nghĩa hẹp, phong hầu
(封侯) có nghĩa là được phong tước
hầu, nhưng ở đây, phải hiểu theo nghĩa
rộng là quan tước hiển hách, cao vời, v́ Uất
Tŕ Cung được phong quan chức cao nhất là Phu
Hạ Nhị Châu Đô Đốc (Đô Đốc
của Phu Châu và Hạ Châu), nhưng tước th́
được gia phong hai lần. Lần thứ nhất là
trong năm Trinh Quán nguyên niên (627), Uất Tŕ Cung được
phong tước Ngô Quốc Công, ăn lộc một ngàn ba
trăm hộc, giữ chức Kinh Châu Đạo Hành Quân
Tổng Quản. Lần thứ hai vào năm Trinh Quán 11
(637), ông được phong làm Ngạc Quốc Công,
thực ấp tại Tuyên Châu gồm một ngàn ba trăm
hộ, kiêm Tuyên Châu Thứ Sử, Quang Lộc Đại
Phu, kiêm Phu Châu Đô Đốc.
[8] Pháp Uyển Châu Lâm do ngài Đạo Thế biên soạn
vào đời Đường, gồm 100 quyển, hoàn thành
vào năm Tổng Chương nguyên niên (668). Từ năm
Hiển Khánh thứ tư (659), ngài Đạo Thế đă
dựa theo Kinh Luật Dị Tướng để biên soạn
bộ Chư Kinh Tập Yếu, sau đổi tên thành Pháp
Uyển Châu Lâm, trích dẫn hơn bốn trăm loại
kinh luận, bao gồm các thể loại kinh Phật, Nho
gia, Đạo giáo, sấm vĩ.., được coi là một
loại bách khoa toàn thư Phật giáo thời cổ, gồm
640 hạng mục bắt đầu từ Kiếp Lượng
Thiên và kết thúc bằng Truyện Kư Thiên. Trong tác phẩm
này, có trích dẫn những bản nguyên dịch của kinh
điển hoặc tác phẩm đă mất từ lâu
như Bồ Tát Bổn Hạnh Kinh, Quán Phật Tam Muội
Kinh, Tây Vực Chí, Trung Thiên Trúc Hành Kư v.v…
Kinh Luật Dị Tướng
gồm năm mươi quyển, do ngài Bảo Xướng
soạn, hoàn thành vào năm Thiên Giám 15 (516) đời
Lương. Sách này thâu thập những tướng trạng
kỳ lạ, thần dị trong các kinh luật. Sách do
Lương Vũ Đế sai ngài Bảo Xướng làm
chủ biên, các vị Tăng Hào, Pháp Sanh v.v… phụ tá. Sách
được chia thành hai mươi mốt bộ môn
như trời, đất, Phật, Bồ Tát, Thanh Văn,
quốc vương… cho đến địa ngục, quỷ
thần, súc sanh.
[9] Tam Hoàng có nhiều thuyết giải thích:
- Theo Sử Kư (do Tư Mă
Thiên soạn, phần Tam Hoàng Bản Kỷ) và Xuân Thu Vận
Đẩu Khu của Tư Mă Trinh Bổ th́ Tam Hoàng là Phục
Hy, Thần Nông và Nữ Oa.
- Theo Thượng Thư
(kinh Thư), Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế.
- Theo Thượng Thư
Đại Truyện và Lễ Vỹ Hàm Văn Gia, Tam Hoàng là
Phục Hy, Thần Nông và Toại Nhân.
- Theo Bạch Hổ Thông, Tam
Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Chúc Dung.
- Theo Thông Giám Ngoại Kỷ,
Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Cộng Công.
- Theo Vĩ Thư đời
Hán, Tam Hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng.
Ngũ Đế cũng có
nhiều thuyết khác nhau:
- Theo Sử Kư, Đại
Đới Lễ Kư, Dịch Truyện, và Xuân Thu Quốc Ngữ,
Ngũ Đế là Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc,
Nghiêu và Thuấn.
- Theo Thượng Thư, Bạch
Hổ Thông Nghĩa, Ngũ Đế là Thiếu Hạo,
Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu và Thuấn.
- Theo Chiến Quốc Sách,
Ngũ Đế là Hoàng Đế, Bào Hy, Thần Nông, Nghiêu
và Thuấn.
- Theo Lễ Kư, Lă Thị Xuân
Thu, và Hoài Nam Tử, Ngũ Đế là Hoàng Đế,
Chuyên Húc, Thái Hạo, Thiếu Hạo, Viêm Đế.
- Theo Tư Trị Thông Giám,
Ngũ Đế là Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc,
Nghiêu và Thiếu Hạo.
Thông thường, Ngũ
Đế được hiểu theo thuyết của Sử
Kư.
[10] Ngũ Bá (五霸) là năm vua chư hầu mạnh
nhất, thống lănh chư hầu trong thời Xuân Thu. Bá
có nghĩa là bá chủ, tức lănh tụ, có các chức trách:
Tôn vương (tức tuân phục thiên tử nhà Châu), trấn
áp các nước di địch chung quanh, ngăn cấm trừng
phạt những kẻ soán nghịch, giết vua, giúp các
nước chư hầu yếu kém, đập tan những
cuộc xâm lăng lẫn nhau giữa các nước chư
hầu. Đối với Ngũ Bá, cũng có nhiều thuyết:
- Theo Sử Kư, Ngũ Bá là Tề
Hoàn Công (Khương Tiểu Bạch), Tần Mục Công
(Doanh Nhậm Hảo), Tấn Văn Công (Cơ Trọng
(Trùng) Nhĩ), Sở Trang Vương (Hùng Lữ) và Tống
Tương Công (Tử Tư Phủ).
- Theo Từ Thông, Ngũ Bá là
Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, Tấn Văn Công, Sở
Trang Vương và Trịnh Trang Công (Cơ Ngụ Sanh).
- Theo Tứ Tử Hồng
Đức Luận, Ngũ Bá là Tề Hoàn Công, Tần Mục
Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương và Việt
Vương Câu Tiễn (Tự Câu Tiễn).
- Theo Bạch Hổ Thông,
Ngũ Bá là Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, Tấn Văn
Công, Sở Trang Vương và Ngô Vương Hạp Lư
(Cơ Quang).
- Theo Hán Thư Chú, Ngũ Bá
là Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, Tấn Văn Công, Tống
Tương Công, Ngô Vương Phù Sai (Cơ Phù Sai).
- Theo Tuân Tử, Ngũ Bá là Tề
Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương, Ngô
Vương Hạp Lư, Việt Vương Câu Tiễn.
[11] Thanh Lương Trừng Quán đại
sư (735-839). Ngài sanh vào năm Khai Nguyên
thứ hai mươi (737) đời Đường
Huyền Tông, viên tịch năm Khai Thành thứ tư (839)
tức là đă sống qua các đời vua Huyền Tông,
Túc Tông, Đại Tông, Đức Tông, Thuận Tông,
Hiến Tông, Mục Tông, Kính Tông và Văn Tông của nhà
Đường.
[12] Cái trống trời này được
nói tới trong phẩm Hiền Thủ. Sau khi Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói về các hạnh thanh tịnh (các
hạnh ấy được ghi lại trong phẩm
Tịnh Hạnh) bèn dùng kệ hỏi Hiền Thủ
Bồ Tát về công đức thù thắng do tu hành các
hạnh thanh tịnh ấy. Hiền Thủ Bồ Tát
liền nói kệ trả lời, trong ấy có đoạn
như sau: “Đao Lợi Thiên
trung hữu thiên cổ, tùng thiên nghiệp báo nhi sanh
đắc, tri chư thiên chúng phóng dật thời, không
trung tự nhiên xuất thử âm. Nhất thiết ngũ
dục tất vô thường, như thủy tụ
mạt tánh hư ngụy. Chư hữu như mộng,
như dương diễm; diệc như phù vân thủy
trung nguyệt. Phóng dật vi oán, vi khổ năo, phi cam lộ
đạo, sanh tử kính. Nhược hữu tác chư
phóng dật hạnh, nhập ư tử diệt
đại ngư khẩu. Thế gian sở hữu chúng
khổ bổn, nhất thiết thánh nhân giai yếm
hoạn, ngũ dục công đức diệt hoại tánh.
Nhữ ưng ái nhạo chân thật pháp. Tam thập tam thiên
văn thử âm, tất cộng lai thăng Thiện Pháp
Đường, Đế Thích vị thuyết vi diệu
pháp, hàm linh thuận tịch trừ tham ái. Bỉ âm vô h́nh
bất khả kiến, do năng lợi ích chư thiên
chúng, huống tùy tâm nhạo hiện sắc thân, nhi bất
tế độ chư quần sanh?” (trong trời
Đao Lợi có trống trời, do thiên nghiệp báo mà sanh
ra, biết lúc chư thiên đang buông lung, hư không tự
nhiên vang tiếng này, hết thảy ngũ dục
đều vô thường, như bọt nước
đọng, tánh hư ngụy, hữu vi như mộng,
như nắng dợn, cũng như mây nổi, trăng
trong nước. Buông lung là oán, là khổ năo, là
đường sanh tử, chẳng cam lộ. Nếu trót
làm các hạnh buông lung, sẽ lọt miệng cá lớn
tử diệt, tất cả cội khổ trong thế
gian, hết thảy thánh nhân đều chán nhàm. Công
đức ngũ dục tánh diệt hoại, hăy nên yêu thích
pháp chân thật. Chư thiên Đao Lợi nghe tiếng
ấy, thảy đều cùng lên Thiện Pháp
Đường, Đế Thích v́ họ thuyết diệu
pháp, khiến đều thuận tịch, trừ tham ái.
Tiếng ấy vô h́nh, chẳng thể thấy, c̣n hay
lợi ích các vị trời, huống tùy tâm thích hiện
sắc thân, mà chẳng tế độ các quần sanh?)
[13] Quy Sơn là một quả núi thuộc
tỉnh Hồ Nam, nằm trên ranh giới các huyện Ninh Hương,
Đào Giang và An Hóa. Ngọn cao nhất có tên là Linh Phong. Ngài
Quy Sơn Linh Hựu (771-853) là đệ tử nối pháp
của tổ Bách Trượng Hoài Hải. Ngài Linh Hựu
xuất gia năm mười lăm tuổi, mười
tám tuổi thọ Cụ Túc Giới tại chùa Long Hưng
ở Hàng Châu. Năm hai mươi ba tuổi đến
Giang Tây bái yết tổ Bách Trượng, trở thành
thủ tọa đệ tử. Trong niên hiệu Nguyên Ḥa
đời Đường Hiến Tông, Ngài vâng lệnh
tổ Bách Trượng đến núi Quy Ngưỡng
thuộc Đàm Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Nam), trụ
tŕ chùa Đồng Khánh. Đệ tử nối pháp của
ngài Quy Sơn có đến bốn mươi mốt
vị, nổi tiếng nhất là các vị Ngưỡng
Sơn Huệ Tịch, Kính Sơn Hồng Ân, Hương
Nghiêm Trí Nhàn v.v…