A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 92

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 183

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang ba trăm tám mươi hai.

 

      (Kinh) Xá Lợi Phất! Ư nhữ ư vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A Di Đà?

      (Sớ) Thượng minh y báo chi thắng, nhi y tùng chánh sanh, cố thứ minh chánh báo.

      () 弗。於 何。彼 陀。

() 勝,而 生,故 報。

      (Kinh: Này Xá Lợi Phất! Ư ông nghĩ sao? Đức Phật ấy v́ sao hiệu là A Di Đà?

      Sớ: Những phần trên đă nói về sự thù thắng nơi y báo, nhưng y báo sanh từ chánh báo, nên tiếp theo đây sẽ nói về chánh báo).

 

      Trong đoạn lớn phía trước, đức Thế Tôn đă giới thiệu hoàn cảnh vật chất của Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Y báo” là hoàn cảnh sống của chúng ta, trong kinh gọi [hoàn cảnh ấy] là “y báo”. “Chánh báo” là thân thể chúng ta, nhưng y báo sanh từ chánh báo, câu này rất khó hiểu, sách Diễn Nghĩa có chú giải như sau:

 

      (Diễn) Y tùng chánh sanh giả, nhược cứ ngoại giáo, tắc tùng Thái Cực sanh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng sanh Bát Quái, thanh trược điện vị, Tam Tài triệu phân, tắc chánh tùng y sanh.

() 者,若 教,則 儀,兩 象,四 卦,清 位,三 分,則 生。

(Diễn: “Y báo sanh từ chánh báo”: Nếu xét theo ngoại giáo, ắt từ Thái Cực sanh ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng sanh Bát Quái, thanh và trược đă được đặt vững vị trí, Tam Tài[1] mới tách biệt, [hiểu theo cách như vậy] th́ chánh báo sanh từ y báo).

 

      Ngài nêu ra ngoại giáo, tức là cách nói của Nho gia. Những điều được nói trong Nho gia có mấy phần tương ứng với Phật pháp, nhưng chẳng nói cặn kẽ, rơ rệt như Phật pháp. Tuy vậy, xét theo nguyên tắc, đúng là hết sức gần gũi. Nhất là trong phần Hệ Từ Truyện của kinh Dịch, Khổng lăo phu tử đă nói: “Tinh khí vi vật, du hồn vi biến” (Tinh và Khí hợp lại thành vật, cái hồn vật vờ biến hóa)[2]. Nói thật ra, cách nh́n này rất gần với Phật pháp. Vật là y báo, Biến là chánh báo, là nói tới sự luân hồi trong lục đạo, “du hồn vi biến” (cái hồn lang thang, phiêu diêu bất định biến hóa). Khổng lăo phu tử không nói “linh hồn”, người thế tục nói con người sau khi đă chết bèn có linh hồn, chư vị hăy nghĩ xem: Nếu cái hồn ấy linh, tuyệt đối sẽ chẳng đầu thai trong ba ác đạo, biến thành lợn, biến thành dê. Dẫu đến đầu thai trong loài người, nhất định hồn sẽ chọn gia đ́nh đại phú, đại quư, cả đời làm thiếu gia, hay tiểu thư, chẳng muốn chịu khổ, lẽ đâu sanh vào nhà bần cùng? Do vậy có thể biết, hồn ấy chẳng linh, là mê hồn th́ mới đúng! [Gọi nó là] “linh hồn” là sai lầm!

      Khổng lăo phu tử chẳng nói linh, mà cũng chẳng nói mê, Ngài nói là “du hồn”, cách nói này rất có lư. Trong kinh, đức Phật đă dạy, tốc độ của linh hồn hết sức nhanh chóng. Chúng ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng phải là thân thể đến đó, mà là linh hồn đầu thai đến Tây Phương Cực Lạc thế giới. Kinh nói Tây Phương Cực Lạc thế giới cách chúng ta “mười vạn ức cơi Phật”. Nói thông thường, một cơi Phật (Phật quốc độ) là một hệ Ngân Hà, vậy th́ từ địa cầu này tới tinh cầu của Tây Phương Cực Lạc thế giới cách nhau mười vạn ức hệ Ngân Hà, quư vị nghĩ xem: Khoảng cách ấy xa lắm! Nhưng phải mất bao nhiêu thời gian để có thể đến đó? Đức Phật nói [thời gian ấy] bằng một cái khảy ngón tay, trong một sát-na bèn đến đó. Do đó mới biết tốc độ của linh hồn đích xác là vô cùng nhanh chóng. Làn sóng điện hoặc ánh sáng trong thế gian c̣n chậm hơn tốc độ của linh hồn quá nhiều. Do đó, Khổng lăo phu tử nói “du hồn” hết sức chánh xác. “Du hồn vi biến”, biến ǵ? Biến ra lục đạo, quư vị đến đầu thai trong đường nào bèn biến thành thân tướng trong đường ấy, xác thực là “du hồn vi biến”!

      “Tinh khí vi vật”: Ngài nói câu này đúng là chẳng thể nghĩ bàn, v́ “du hồn vi biến” (cái hồn trôi nổi biến hóa), nói thật ra, vẫn chưa khó! Ngoại đạo tại Ấn Độ vào thời cổ đều có thần thông, như các tu sĩ Bà La Môn, Số Luận[3] Du Già (Yoga) đều có năng lực sanh lên Tứ Thiền Thiên (Sắc Giới Thiên), nên họ hết sức liễu giải t́nh huống trong lục đạo, thấy rơ ràng, rành rẽ, nhưng bọn họ vẫn chưa nói “tinh khí vi vật”. Vật chất do đâu mà có? Chỉ có đức Phật đă nói trong kinh luận rằng thế giới vật chất là Tướng Phần của A Lại Da Thức, c̣n linh hồn là Kiến Phần của A Lại Da Thức. Trong quá tŕnh phát triển, Kiến Phần có trước rồi mới có Tướng Phần, nên y báo sanh từ chánh báo. Nguyên lư thật sự là y báo chuyển theo chánh báo, cũng có nghĩa là thế giới vật chất và hiện tượng tự nhiên chuyển biến theo ḷng người. Đó là chánh lư, quyết định là chánh xác. Khổng lăo phu tử nói “tinh khí vi vật” hết sức gần với [cách nói trong kinh Phật], v́ sao Ngài biết? Do đó, Khổng phu tử tuyệt đối chẳng phải là phàm nhân. Cổ nhân nói Khổng Tử, Lăo Tử, và Trang Tử đều là Phật, Bồ Tát ứng hóa tại Trung Hoa, nói theo lư luận th́ điều này xuôi tai, nhưng trên sự thực th́ chẳng có chứng cớ. Nho gia nói “chánh báo sanh từ y báo” chính là cách nh́n sai lầm.

 

      (Diễn) Kim nội giáo tắc y tùng chánh sanh.

      () 生。

      (Diễn: Nay xét theo nội giáo th́ y báo sanh từ chánh báo).

 

      “Nội giáo” là Phật pháp, ngoài Phật pháp th́ là ngoại giáo. Phật pháp: Phật có nghĩa là giác, giác là Phật, mê là ngoại đạo. Một đằng là giác, một đằng là bất giác, nội và ngoại được phân chia như vậy. Vàn muôn phần đừng nghĩ chúng ta học Phật th́ chẳng phải là ngoại đạo. Nói không chừng, quư vị chính là ngoại đạo, v́ sao? Quư vị vẫn bất giác, vẫn mê hoặc, điên đảo, đó là ngoại đạo. Thuật ngữ trong nhà Phật gọi hạng người này là “môn nội ngoại” (ngoại đạo trong nhà Phật). Quư vị đă học Phật, cũng đă thọ Tam Quy, thậm chí c̣n thọ giới, c̣n xuất gia, nhưng vẫn là cầu pháp ngoài tâm, vẫn kể như là ngoại đạo, được gọi là “môn nội ngoại”. Tiêu chuẩn nội ngoại trong kinh Lăng Nghiêm càng nghiêm ngặt hơn! Kiến tánh Bồ Tát mới gọi là nội giáo, chưa kiến tánh đều là ngoại đạo, v́ thế, [xét theo tiêu chuẩn ấy], A La Hán, Bích Chi Phật, Quyền Giáo Bồ Tát đều là ngoại đạo. Nói cách khác, ắt phải phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân th́ mới là Giác. Thông thường, chúng ta coi A La Hán và Bích Chi Phật đều là Chánh Giác, nhưng xét theo tiêu chuẩn trong kinh Lăng Nghiêm, giác ấy vẫn là tà giác, vẫn chẳng phải là chánh. Theo tiêu chuẩn của Lăng Nghiêm, Chánh Đẳng Chánh Giác mới được coi là Chân Giác, v́ quư vị giác bằng Phật. Phật là kiến tánh, là kiến tánh viên măn. Tuy quư vị chưa viên măn, nói chung là đă thấy một đôi phần, nhưng cái được thấy là chân tánh, nên quư vị bằng Phật, đó mới thật sự gọi là Giác.

      A La Hán vẫn chẳng giác bằng Phật, v́ sao? Ngài chưa kiến tánh. A La Hán, Bích Chi Phật, và Quyền Giáo Bồ Tát đều chưa kiến tánh, nhưng so với lục đạo, tư tưởng và kiến giải của các Ngài c̣n thuần chánh hơn nhiều, chúng ta gọi các Ngài là Chánh Giác, không thể gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác. Bản thân chúng ta học Phật th́ trong tâm phải hiểu biết và tự tin. Nói như vậy th́ khi nào chúng ta mới có thể đạt tới Chánh Đẳng Chánh Giác? Thưa cùng chư vị, chỉ sợ cả một đời này chẳng có hy vọng ǵ, nói thật đấy! Không chỉ là chẳng mong thành Chánh Đẳng Chánh Giác, mà chứng quả A La Hán cũng sợ chẳng trông mong được! Không chỉ là chứng quả A La Hán, mà Tiểu Thừa Sơ Quả Tu Đà Hoàn cũng khá khó chứng đắc. V́ sao? Tu Đà Hoàn phải đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới, ai có năng lực làm được?

      Năm Dân Quốc 52 (1963), sau khi tôi xuất gia, thọ giới chưa được bao lâu, tôi gặp một đồng tu là một Phật tử rất kiền thành, rất khẳng định nói với tôi: Ông ta đă chứng quả A La Hán. Tôi biết ngay là ông ta hiểu lầm, nhưng ông ta chẳng nói dối. Chẳng chứng A La Hán, mà cứ ngỡ chính ḿnh đă chứng quả A La Hán. Thật ra, ông ta trọn chẳng hiểu đạo lư nhà Phật nhiều nhơi ǵ! Nếu hiểu nhiều, sẽ chẳng hiểu lầm. Do chính ḿnh niệm Phật, tâm địa thanh lương một chút, phiền năo ít đi, bèn tự cho là chính ḿnh đă chứng quả! Chúng tôi ngồi nói chuyện trong pḥng khách. Tôi nói: “A La Hán có Lục Thông, ngoài tường là đường cái, ông có thể thấy rơ ràng hay không?” Người ấy đáp: “Tôi chẳng nh́n thấy”. Tôi nói: “A La Hán có Tha Tâm Thông, hiện thời trong tâm tôi đang suy nghĩ ǵ, ông có biết hay chăng?” “Không biết”. “Vậy là chẳng thật!” Như vậy th́ ông ta mới chịu phục, mới hiểu chính ḿnh chưa chứng đắc. Không chỉ là chưa chứng đắc A La Hán! Quả Tu Đà Hoàn c̣n có Thiên Nhăn, Thiên Nhĩ, Túc Mạng, ba thứ thần thông. Nhị Quả và Tam Quả có năm món thần thông, chứng đến Đệ Tứ Quả mới có Lậu Tận Thông. Người chưa chứng đắc mà nói với người khác [chính ḿnh đă] chứng đắc, đó là đại vọng ngữ, theo giới luật là tội địa ngục. Nếu chẳng phải là vọng ngữ, mà là hiểu lầm, th́ kinh Phật gọi là Tăng Thượng Mạn, cũng là một thứ phiền năo. V́ thế, người ấy chẳng phải là vọng ngữ, mà là Tăng Thượng Mạn. Chúng ta phải nhận biết điều này, tận hết sức tránh đừng cho chính ḿnh nẩy sanh sai lầm.

      Học các pháp môn khác, chẳng có hy vọng đạt được Chánh Giác và Chánh Đẳng Chánh Giác trong một đời này. Tu pháp môn Tịnh Độ, hễ ra sức tu tập bèn là Chánh Đẳng Chánh Giác, chẳng thể nghĩ bàn! Do đó, trong hết thảy các pháp môn, pháp môn này là pháp môn bậc nhất. Nếu chư vị thật sự chú tâm xem đọc các kinh điển Đại Thừa, như Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Lăng Già, Pháp Hoa, quư vị mới thật sự nhận biết pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn. Hàng Bất Thoái Bồ Tát từ vô lượng vô biên các cơi Phật trong mười phương, là những vị đă chứng đắc quả vị từ Viên Giáo Sơ Trụ trở lên, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có cách nào tính toán số lượng, kinh đă nói rất rơ ràng! Tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới đều thành A La Hán, thần thông đều như ngài Mục Kiền Liên, thọ mạng kể như ngàn ức năm, chung sức cùng nhau tính toán, tính chẳng ra số lượng người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là bao nhiêu; kinh đă nói chuyện này rất rơ ràng. Quư vị biết pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn, hàng Đẳng Giác Bồ Tát trong mười phương thế giới đều phải cầu sanh Tịnh Độ.

      Văng sanh như thế nào? Ba điều kiện Tín, Nguyện, Hạnh. Nay chúng ta vừa tu tập liền chọn lấy ba điều kiện Tín, Nguyện, Hạnh, [tức là] chúng ta tu cái nhân giống như mười phương Bất Thoái Bồ Tát, nên đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, quả báo cũng giống như các Ngài. Các Ngài tu vô lượng kiếp mới tu tới đó, chúng ta vừa bắt đầu liền học được ngay. Tôi bảo quư vị: Tôi quyết định chẳng phải là vọng ngữ, quư vị tu pháp môn này là Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong vô lượng vô biên pháp môn, v́ sao quư vị chẳng chọn lựa [những pháp môn khác] mà chọn lựa pháp môn này? Pháp môn này được hết thảy các vị Bất Thoái Bồ Tát chọn lựa, v́ sao quư vị cũng chọn lựa? Chẳng dễ dàng đâu nhé! Chọn lựa pháp môn này, quư vị chẳng khác Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền! Do đó, điều này đáng để an ủi chúng ta. Quư vị tu những pháp môn khác, chẳng có cách nói “đới nghiệp văng sanh” như vậy, nhất định là quư vị phải đoạn Kiến Tư phiền năo, Trần Sa phiền năo, Vô Minh phiền năo th́ mới có thể thành tựu. Pháp môn này th́ một phẩm phiền năo cũng chẳng phải đoạn, đều mang đến Tây Phương Cực Lạc thế giới; sau khi đă đến bên kia, gặp A Di Đà Phật, sẽ dần dần đoạn. Đối với pháp môn này, chỉ cần quư vị tin tưởng, phát nguyện, sẽ là Chánh Đẳng Chánh Giác, điều này chẳng thể nghĩ bàn!

      Pháp môn này tu học dễ dàng, được gọi là “dị hành đạo” (đạo dễ hành), hành rất dễ dàng, tin tưởng rất khó, phát nguyện cũng rất khó, khó tin, khó nguyện! Làm như thế nào để khiến cho bản thân chúng ta thật sự tin tưởng, thật sự phát nguyện, khăng khăng một mực tu học pháp môn này? [Để đạt được điều ấy], chẳng thể không biết lư luận của pháp môn này. Nếu muốn hiểu rơ lư luận, hiểu rơ thấu triệt, th́ phải là như thầy Lư đă nói xưa kia: “Nếu không nghiêm túc nghiên cứu, xem đọc nửa bộ Đại Tạng Kinh, quư vị sẽ chẳng thể hiểu”, sẽ gặp khó khăn, chẳng phải là chuyện dễ dàng! Đọc nửa bộ Đại Tạng Kinh là chuyện khổ lắm; nhưng cổ đức đă tạo phương tiện: Các Ngài đă trích lục tinh hoa của nửa bộ Đại Tạng Kinh, không cần chúng ta phải t́m ṭi, [thực hiện] chuyện phiền phức ấy. Đó là ǵ vậy? Chính là bộ Sớ Sao Diễn Nghĩa đang bày ra trước mặt mọi người trong hiện thời! Nội dung của bộ Sớ Sao Diễn Nghĩa này, nói thật ra, chính là cô đọng của cả bộ Đại Tạng Kinh. Ngẫu Ích đại sư tán thán [bộ sách này] là “bác đại tinh thâm” (rộng lớn, tinh vi, sâu xa), chẳng sai tí nào! Do vậy, Sớ Sao Diễn Nghĩa hết sức quan trọng. Nhưng Sớ Sao Diễn Nghĩa có phân lượng quá lớn, chúng tôi giảng một lượt, giảng lần thứ nhất chẳng giữ lại băng thâu âm. Giảng lần thứ hai, thâu âm thành ba trăm ba mươi lăm băng, mỗi cuốn băng là chín mươi phút. Giảng lần này là lần thứ ba, phân lượng rất nặng, c̣n tỉ mỉ hơn [giảng] kinh Vô Lượng Thọ. Yếu Giải là tinh yếu, bao gồm những điểm chủ yếu. Nếu quư vị mong thâm nhập trong một thời gian ngắn, hăy đọc Yếu Giải. Nếu quư vị có thời gian, mong nhận thức, liễu giải nhiều hơn, hăy dốc sức t́m ṭi nơi Sớ Sao Diễn Nghĩa. Thật sự nhận biết rơ ràng Tây Phương Cực Lạc thế giới, tín tâm được kiến lập, nguyện mới tha thiết, quyết định chẳng bị dao động, lại c̣n thật sự nắm chắc văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, ai nấy đều nắm chắc. Chúng ta chọn lựa pháp môn này, nương theo pháp môn này để học, đích xác là đă nhập nội giáo, thật sự là đăng đường nhập thất. Hoa Nghiêm và Pháp Hoa, tuy đăng đường, vẫn chưa nhập thất, c̣n pháp môn này là nhập thất; v́ Hoa Nghiêm và Pháp Hoa đến cuối cùng đều dẫn về Cực Lạc.

      Cách nói của nội giáo khác ngoại giáo. Nội giáo nói “y tùng chánh sanh” (y báo sanh từ chánh báo). Chuyển hoàn cảnh vật chất bên ngoài từ chỗ nào? Chuyển từ trong tâm. Đó gọi là “cảnh tùy tâm chuyển”. “Tâm sanh tắc pháp sanh, tâm diệt tắc pháp diệt” (tâm sanh ắt pháp sanh; tâm diệt ắt pháp diệt). Chúng ta thật sự hiểu rơ, khẳng định đạo lư này, cảnh giới chuyển theo tâm. Thân thể của ta là cảnh giới, nên thân thể này cũng có thể chuyển theo tâm chúng ta. Ví như tướng mạo, tục ngữ thường nói: “Ḷng mỗi người khác nhau bày rơ ra mặt”. V́ sao tướng mạo của quư vị trở thành khác nhau? Tâm chẳng giống nhau, cách nh́n và cách nghĩ của quư vị đối với hết thảy sự vật khác nhau, nên diện mạo chẳng giống nhau. Kinh văn nói: Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, tướng mạo đều giống hệt nhau, v́ sao? V́ tâm mọi người giống nhau, v́ mọi người điều ǵ cũng đều chẳng tưởng. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, tất cả những người văng sanh đều có tướng mạo hoàn toàn giống như A Di Đà Phật. Dẫu là phàm phu văng sanh c̣n có tưởng, [thế nhưng họ] tưởng ǵ vậy? Tưởng A Di Đà Phật! Họ chẳng nghĩ ǵ khác, tưởng A Di Đà Phật, liền biến thành A Di Đà Phật, tướng mạo giống nhau. Hiểu đạo lư này, chúng ta thường hy vọng tướng mạo của chính ḿnh có thể tốt lành hơn, đẹp đẽ hơn, vậy th́ tâm quư vị cũng tốt lành hơn, đẹp đẽ hơn, tướng mạo tự nhiên tốt đẹp. Tâm địa thanh tịnh, tự nhiên khỏe mạnh, sống lâu, đó là đạo lư nhất định. Suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ loạn cào cào, mà mong chính ḿnh khỏe mạnh, sống lâu, xinh đẹp, lầm lẫn quá đỗi, chẳng có lẽ ấy!

      Bởi lẽ, hết thảy các pháp sanh từ tâm. Người học Phật, nói thật thà là có thể chẳng sanh bệnh. Quư vị thật sự hiểu đạo lư này, biết bí quyết tu hành, xác thực là chẳng sanh bệnh. Người học Phật c̣n bị bệnh tật th́ chính ḿnh phải giác ngộ, bệnh tật là ǵ? Nghiệp chướng hiện tiền. Nghiệp chướng hiện tiền th́ phải nhanh chóng sám trừ nghiệp chướng. Nghiệp chướng đă sám trừ, chẳng c̣n, bệnh sẽ lành, chẳng c̣n có chuyện ǵ nữa! Người thật sự tin tưởng chẳng mấy, kẻ chẳng tin quá ư là nhiều. Đối với kinh luận Đại Thừa, phải đọc rộng, thâm nhập kha khá th́ mới hiểu đạo lư này, mới có thể mở rộng và sáng tạo vận mạng của chính ḿnh, quyết định chẳng c̣n bị túc mạng bó buộc. Cư sĩ Viên Liễu Phàm hiểu đạo lư này, tuy vẫn chưa hiểu triệt để, nếu thật sự triệt để, cách nghĩ và cách làm của ông ta sẽ khác hẳn, ông ta biết vài phần mà đă có thể có thể sửa đổi vận mạng. Nếu triệt để hiểu rơ, trong kinh giáo Đại Thừa, nhất là trong kinh luận Nhất Thừa viên đốn, Tịnh Độ Ngũ Kinh đều là Nhất Thừa viên đốn, mỗi ngày có thể đọc tụng, có thể xem đọc, mỗi lần [đọc tụng] là đem kinh luận in vào trong A Lại Da Thức của chính ḿnh, chắc chắn sẽ có chỗ lợi lạc. “Kim nội giáo tắc y tùng chánh sanh” (nay theo nội giáo th́ y báo sanh từ chánh báo), hoàn cảnh do tâm chúng ta biến hiện.

 

      (Diễn) Nhất niệm vô minh, dẫn sanh tam tế.

      () 明,引 細。

      (Diễn: Một niệm vô minh dẫn khởi sanh ra ba tế tướng).

 

      Đây chính là như Duy Thức đă nói: “Một niệm bất giác là vô minh”. Vô minh là mê, bản tánh vốn là minh. Câu này rất có ư nghĩa, mà cũng hết sức sâu xa, uyên áo. Như thế nào là minh? Chẳng có một niệm là minh. Hễ có một niệm, minh bị mất đi, minh chẳng c̣n nữa. Có thể thấy: Hễ có một niệm là hỏng, một niệm liền mê, một niệm sẽ chẳng giác. Chuyện này rất phiền phức! Được rồi, nay chúng ta thấy đức Phật nói kiểu ấy, từ nay trở đi, chúng ta liền một niệm chẳng sanh, ư niệm ǵ cũng chẳng nghĩ tới; đó có phải là minh hay không? Chỉ sợ vẫn là vô minh! Cớ sao vẫn là vô minh? V́ quư vị vẫn c̣n nghĩ tưởng “một niệm chẳng sanh”, vẫn rơi vào một niệm. Chẳng rơi vào hữu niệm, bèn rớt trong vô niệm. Tu kiểu ấy, càng tu càng hỏng bét, biến thành tu Vô Tưởng Định. Thật sự tu thành công Vô Tưởng Định cũng chẳng dễ dàng, quả báo là Vô Tưởng Thiên trong Tứ Thiền Thiên, đó là ngoại đạo.

      Phật pháp nói “một niệm chẳng sanh”, ngay cả [ư niệm] “một niệm chẳng sanh” cũng chẳng sanh, chẳng có cách nào nói được! Nói “ngôn ngữ dứt bặt, tâm hạnh xứ diệt” đều là dây cà, dây muống, vẫn rớt trong dấu tích. Cảnh giới ấy chỉ có tự ḿnh thấu hiểu, chẳng có cách nào nói ra được. Nói thật ra, không chỉ là chẳng thốt nên lời, mà cũng chẳng thể suy tưởng, v́ quư vị hễ có tưởng sẽ c̣n có niệm, dẫu có suy nghĩ cũng chẳng thể được! V́ thế, gọi là chẳng thể nghĩ bàn. “Tư” () là suy nghĩ, chẳng thể suy nghĩ được; “nghị” () là bàn luận, nói năng, thốt chẳng nên lời, chẳng thể nghĩ bàn. Thật sự chẳng thể nghĩ bàn, đó là giác. Hễ rớt vào trong nghĩ bàn th́ là vô minh. Vô minh c̣n tồn tại trước cả ba tế tướng. Ba tế tướng là Nghiệp Tướng, Kiến Tướng (Chuyển Tướng) và Cảnh Giới Tướng của A Lại Da Thức. Kiến Phần biến hiện Tướng Phần, Tướng Phần là Cảnh Giới Tướng.

 

      (Diễn) Cảnh giới vi duyên, dẫn khởi lục thô.

     () 緣,引 粗。

(Diễn: Cảnh giới làm duyên, dẫn khởi sáu thô tướng[4]).

 

      Thứ tự phát triển như vậy, rất giống như kinh Dịch đă nói: “Thái Cực sanh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng sanh Bát Quái, Bát Quái sanh vạn vật”. V́ thế, Phật pháp nói về quá tŕnh phát triển rất gần với cách quan sát và diễn tả của tổ tiên người Hoa.

 

      (Diễn) Sơn hà đại địa, nhân vô minh nhi hữu, vọng tưởng nhi thành, y tùng chánh sanh dă.

       () 地,因 有,妄 成,依 也。

(Diễn: Núi, sông, đại địa, do vô minh mà có, do vọng tưởng mà thành, [tức là] y báo sanh từ chánh báo).

 

      Đây là một câu khẳng định. Toàn thể thế giới vật chất xác thực là cảnh giới do tâm chúng ta biến hiện; v́ vậy, cảnh giới chẳng chân thật. Kinh Kim Cang nói rất hay: “Hết thảy các pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Pháp hữu vi là như trong Duy Thức đă nói về Bách Pháp, Bách Pháp là hết thảy các pháp. Di Lặc Bồ Tát tạo Du Già Sư Địa Luận, đă quy nạp hết thảy các pháp thành sáu trăm sáu mươi pháp. Thiên Thân Bồ Tát sợ kẻ sơ học chẳng dễ tiếp nhận, nên quy nạp sáu trăm sáu mươi pháp thành một trăm pháp. Do đó, Bách Pháp là hết thảy vạn pháp được quy nạp thành một trăm cương lănh. Trong một trăm pháp ấy, pháp hữu vi là pháp sanh diệt, có biến hóa, có sanh diệt, tổng cộng có chín mươi bốn loại. Trong chín mươi bốn loại ấy, trước hết là Tâm Pháp gồm tám thứ, tức là tám pháp về tâm thức. Chư vị biết tâm là pháp hữu vi, ngay cả A Lại Da Thức cũng chẳng ra ngoài lệ ấy. A Lại Da Thức cũng là pháp hữu vi. Đă là pháp hữu vi th́ [sẽ như] kinh Kim Cang đă nói “như mộng, huyễn, bọt, bóng”, A Lại Da Thức như mộng, huyễn, bọt, bóng, huống hồ những thứ khác! Tâm Sở Hữu Pháp gồm năm mươi mốt loại lớn. Nói thật ra, nay chúng ta gọi Tâm Sở Hữu Pháp là “tác dụng tâm lư”. Tám thức là Thể; có Thể th́ đương nhiên sẽ có tác dụng, tác dụng gồm năm mươi mốt loại lớn. Sắc Pháp có mười một loại. [Trong đó], Ngũ Căn gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là Sắc Pháp, Sắc Pháp là vật chất; Lục Trần bên ngoài, lục căn của chúng ta tiếp xúc cảnh giới bên ngoài, những thứ ấy thuộc loại Sắc Pháp. Ngũ Căn và Lục Trần hợp thành mười một loại lớn [thuộc về Sắc Pháp]. Những thứ này đều là pháp hữu vi. C̣n có hai mươi bốn Bất Tương Ứng Hành Pháp. Nói theo cách hiện thời, chúng là khái niệm trừu tượng, chẳng phải là Tâm Pháp, chẳng phải là Tâm Sở Hữu Pháp, mà cũng chẳng phải là Sắc Pháp, nhưng chúng nẩy sanh từ ba loại pháp ấy, sanh ra một loại khái niệm. Khái niệm ấy là trừu tượng, gồm có hai mươi bốn loại. Chẳng hạn như thời gian và không gian là những khái niệm rất trừu tượng, những thứ ấy (Bất Tương Ứng Hành Pháp) chẳng phải là Sắc, mà cũng chẳng phải là Tâm. Tất cả những pháp ấy (Sắc pháp, Tâm Pháp (Tâm Vương), Tâm Sở Hữu Pháp, Bất Tương Ứng Hành Pháp) gộp chung thành chín mươi bốn loại [pháp hữu vi].

      Sáu thứ sau cùng gọi là vô vi pháp, vô vi pháp là ǵ? Chẳng phải là pháp sanh diệt. Trong sáu pháp vô vi, năm pháp trước là tương tự vô vi, vẫn chẳng phải là vô vi thật sự, chỉ có Chân Như vô vi là thật. Chân Như vô vi là ǵ? Là Chân Như bản tánh, là chân tâm của chính chúng ta. Chín mươi bốn loại pháp hữu vi đều là vật được biến hiện bởi chân tâm. Cái có thể biến là chính ḿnh, đối với cái được biến lại ngược ngạo chẳng nhận biết, coi nó là vật ngoài thân, sai lầm mất rồi! Khi nào thật sự triệt để hiểu rơ, năng biến (có thể biến) là tự tánh, sở biến (cái được biến) cũng đều là chính ḿnh, vậy là tốt rồi, chúc mừng quư vị, quư vị đă chứng đắc thanh tịnh Pháp Thân. Do đó, y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều là vật được biến hiện bởi tự tâm. Tâm là năng biến, hết thảy quả báo nơi y báo và chánh báo đều là sở biến. Năng và Sở chẳng hai, Tánh và Tướng như nhau! Đó là cảnh giới chân thật. Câu này có quan hệ rất lớn đối với sự tu học của chúng ta, mà cũng có quan hệ mật thiết với sự hạnh phúc của bản thân chúng ta. Trong các phần trước đă nói về hoàn cảnh nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới, nay sẽ giới thiệu chánh báo trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, tức là hết thảy các nhân vật, “cố thứ minh chánh báo” (v́ thế, kế tiếp là nói về chánh báo).

 

      (Sớ) Ư ư vân hà? Thẩm kỳ giải phủ dă.

      () 何,審 也。

      (Sớ: “Ư ông nghĩ sao?” Xét coi ngài Xá Lợi Phất có hiểu hay không?)

 

      Đức Thế Tôn gọi ngài Xá Lợi Phất, hỏi Ngài: “Ư ư vân hà?”, [nghĩa là] ư ông nghĩ ra sao? Câu này nhằm hỏi Ngài, hỏi ngài Xá Lợi Phất có thể lư giải sự thật ấy hay không? Có biết danh hiệu của đức Phật bên cơi ấy là A Di Đà hay chăng?

 

      (Sớ) Dĩ tri bỉ Phật hiệu A Di Đà, vị tri kỳ nghĩa.

      () 陀,未 義。

      (Sớ: Đă biết đức Phật ấy hiệu là A Di Đà, nhưng chưa biết ư nghĩa).

 

      A Di Đà nghĩa là ǵ? Chúng ta hằng ngày niệm câu Nam-mô A Di Đà Phật, sáu chữ ấy có nghĩa là ǵ? Nếu chẳng hiểu rơ ràng, đó là mê. V́ thế, có rất nhiều người niệm Phật, sau khi đă niệm được mấy năm bèn chẳng niệm nữa, càng niệm càng cảm thấy chẳng có ư vị ǵ! Có người dự mấy Phật thất, niệm Phật rất vất vả, lần sau chẳng đến dự nữa. Vất vả là thật, mà chẳng đạt được lợi ích, đương nhiên lần sau người ta không đến nữa. Có thể niệm Phật sao cho hễ niệm sẽ sanh tâm hoan hỷ, càng niệm càng hoan hỷ, người ta sẽ chẳng bỏ đi. Chứ càng niệm càng khổ sở, càng niệm càng mê hoặc, đương nhiên người ta sẽ bỏ đi. Do vậy có thể biết, tuy pháp môn này dễ tu, thế nhưng hằng tâm nghị lực cũng chẳng dễ dàng! Hằng tâm nghị lực do đâu mà có? Do hiểu rơ lư mà có. Quư vị thật sự thấu hiểu lư, tâm sẽ kiên cố, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển. Chúng tôi chọn bộ Sớ Sao có phân lượng to lớn để giảng cặn kẽ là do đạo lư này. Nói thật ra, trong thế gian này, hiện thời, Đài Loan thật sự có phước báo. Những nơi khác người ta mời tôi đến giảng bộ này, tôi rất thích giảng, nhưng chẳng có ai nghe, họ chẳng có thời gian dài như thế, cũng chẳng có ai kiên nhẫn như vậy để đến nghe bộ kinh lớn này. Kinh A Di Đà ngắn, nhưng Sớ Sao là một bộ [sách chú giải] kinh to lớn, phân lượng chẳng kém Pháp Hoa, chẳng thua Lăng Nghiêm, xác thực là một bộ đại kinh. V́ thế, chẳng có phước báo, sẽ chẳng có cách nào khai giảng Sớ Sao, huống chi chúng tôi c̣n [giảng kèm] thêm sách Diễn Nghĩa.

      Niệm một câu Phật hiệu, sáu chữ ấy nghĩa là ǵ, nhất định phải hiểu rơ ràng th́ niệm mới tương ứng. Giống như chúng ta đánh điện báo đến Phật, gởi điện báo đi, có hồi đáp th́ mới có thú vị. Đánh chán chê, sau khi đă gởi đi, chẳng thấy hồi đáp ǵ, về sau sẽ bỏ mất tín tâm. Quư vị thật sự hiểu rơ th́ từng tiếng [niệm Phật] đều có cảm ứng, có cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn!

 

      (Sớ) Dĩ bỉ Phật năi nhất kinh chánh chủ, cố tu thẩm vấn.

() 主,故 問。

(Sớ: Do đức Phật ấy là nhân vật chủ yếu của một bộ kinh, nên cần phải xét hỏi).

 

      A Di Đà Phật là “chánh chủ” của kinh này. “Chủ” là chủ nhân. Người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới rất nhiều, ai nấy đều là chủ nhân. Mỗi người đều là chủ nhân, chẳng sai! Nhưng A Di Đà Phật là vị chủ nhân chánh yếu bậc nhất v́ thế giới ấy do Ngài tạo ra, tất cả hết thảy chúng sanh đều do Ngài tiếp dẫn, do Ngài giáo hóa. Ngài là vị chủ nhân thứ nhất. Chúng ta niệm Ngài, phải nên nhận biết, phải nên liễu giải Ngài. V́ lẽ đó, ở đây, đức Phật hỏi tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Xá Lợi Phất cũng đại diện cho mọi người chúng ta, hỏi ngài Xá Lợi Phất chẳng khác ǵ hỏi chúng ta.

 

      (Sao) Chánh chủ giả, báo hữu y chánh, Phật cư kỳ chánh cố. Chánh hữu chủ bạn, Phật vi kỳ chủ cố.

() 者,報 正,佛 故;正 伴,佛 故。

(Sao: “Chánh chủ”: Do báo có y và chánh, Phật thuộc về chánh. Trong chánh báo lại có chủ và bạn, Phật là chủ).

 

      Nói rơ ư nghĩa của hai chữ Chánh và Chủ. Báo là quả báo; có nhân, ắt có quả. Trong lúc tu nhân, A Di Đà Phật đă phát nguyện, tu hành. Chúng ta đă đọc thấy sự phát nguyện của Ngài trong kinh Vô Lượng Thọ. Trong kinh đă trần thuật Ngài năm kiếp tu hành, kết thành đại nguyện, tạo thành Tây Phương Cực Lạc thế giới, nên đó là “có nhân, có quả”. Trong cái quả ấy, c̣n có y báo và chánh báo, nên “Phật cư kỳ chánh” (Phật thuộc về chánh báo). Phần trước là y báo, hoàn cảnh vật chất đă nói xong, nay giới thiệu A Di Đà Phật, là chánh báo trong quả báo. Chánh báo rất nhiều, phàm những ai sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới đều thuộc loại chánh báo. Nói theo cách hiện thời, người thế gian b́nh phàm chúng ta chia hết thảy vạn pháp thành ba loại là động vật, thực vật, và khoáng vật. Trong nhà Phật chỉ chia thành hai loại là chánh báo và y báo. Nay chúng ta gọi chánh báo là động vật, y báo nay được gọi là thực vật và khoáng vật, tức hoàn cảnh vật chất. Chánh báo là hữu t́nh chúng sanh, y báo là vô t́nh chúng sanh. Chánh báo trong Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng rất nhiều, chẳng có cách nào tính toán. Trong chúng sanh đông đảo ngần ấy, A Di Đà Phật là chủ, Ngài là thầy, Ngài là giáo chủ. Giáo chủ là vị thầy chịu trách nhiệm chánh yếu trong sự giáo học, có ư nghĩa này.

 

      (Sao) Nghĩa tu thẩm giả.

      () 者。

(Sao: Cần phải xét rơ ư nghĩa).

 

      Phải suy xét rơ ràng ư nghĩa này.

 

      (Sao) Dĩ Di Đà vạn đức chi hiệu, kỳ nghĩa thâm quảng, ưng vi khai xiển, sử nhân hiểu liễu, sanh hướng mộ cố.

() 號,其 廣,應 闡,使 了,生 故。

(Sao: Do danh hiệu Di Đà vạn đức, ư nghĩa sâu rộng, hăy nên khai thị, xiển dương, khiến cho người khác hiểu rơ, sanh ḷng ngưỡng mộ, hướng về).

 

      Danh hiệu Di Đà có ư nghĩa vô cùng sâu rộng, nên phải khai thị, phải nói rơ ràng, minh bạch, khiến cho chúng sanh trong mười phương thế giới nẩy sanh tâm ngưỡng mộ, th́ họ mới phát tâm niệm A Di Đà Phật, mong thấy A Di Đà Phật, mong đến Tây Phương Cực Lạc thế giới. Danh hiệu được giải thích trong phần kinh văn phía sau.

 

      (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh chánh tư duy, thị “ư ư vân hà” nghĩa.

      () 理,則 惟,是 義。

      (Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh chánh tư duy là ư nghĩa của câu “ư ông nghĩ sao”).

 

       Đoạn văn kế tiếp là tiêu quy tự tánh, cũng là nói xứng tánh. “Tự tánh chánh tư duy” có ư nghĩa rất sâu. Người b́nh phàm nói đến tư duy th́ đó là thức thứ sáu, tức ư thức khởi tác dụng. Công năng của thức thứ sáu, tức ư thức, hết sức rộng răi. Hướng ra ngoài, nó có thể phan duyên tận hư không khắp pháp giới; hướng vào trong, nó có thể duyên đến A Lại Da Thức, nhưng chẳng thể duyên bản tánh. V́ vậy, sử dụng thức thứ sáu, tức ư thức, để cầu minh tâm kiến tánh sẽ chẳng thể thực hiện được. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đă nói rất rơ ràng, dùng thức thứ sáu, tức tâm ư thức tu hành mà mong thành Phật, khác nào “chưng sa tác phạn”, [nghĩa là] mong nấu cát thành cơm, chẳng thể nào! Nấu hết kiếp cũng chẳng thành cơm. V́ sao? Nhân khác nhau. Tu hành th́ tâm tu nhân và sự giác ngộ nơi quả nhất định phải tương ứng.

      Do vậy có thể biết, Tiểu Thừa nói Bát Chánh Đạo có Chánh Tư Duy. Đại Thừa cũng có Bát Chánh Đạo, Chánh Tư Duy của Đại Thừa khác Tiểu Thừa ở chỗ nào? Chánh Tư Duy của Tiểu Thừa dùng tám thức, nói thật ra, họ vẫn chưa biết dùng tám thức, mà dùng thức thứ sáu, tức ư thức. Đại Thừa nói tám thức, Tiểu Thừa nói sáu thức, họ sử dụng ư thức. Chánh Tư Duy của Đại Thừa dùng Chân Như bản tánh, tự tánh khởi tác dụng; đó là Chánh Tư Duy của Đại Thừa. Vậy th́ họ chẳng có Tư hay sao? Nói thật ra, chẳng có Tư. Tư duy là một phù hiệu tượng trưng, tượng trưng cho hết thảy đều hiểu rơ, hết thảy thông đạt. Phàm phu chúng ta đối với mỗi chuyện đều phải suy nghĩ th́ mới hiểu rơ; chẳng nghĩ, sẽ không biết. Bồ Tát đă minh tâm kiến tánh có phải tưởng hay không? Ngài chẳng cần tưởng, v́ hễ suy tưởng liền rơi vào thức thứ sáu, tức ư thức. Chẳng cần suy nghĩ, mắt vừa thấy liền hiểu rơ, vừa nghe liền hiểu rơ. Các Ngài là trực giác, không thông qua tâm ư thức, nên gọi là Chánh Tư Duy.

      Câu “ư ư vân hà” được nói trong kinh có ư nghĩa rất sâu! Chúng ta vốn đọc kinh Di Đà, thấy kinh Di Đà rất cạn, dường như rất dễ hiểu. Liên Tŕ đại sư giải thích, chú giải, càng giải càng sâu! Thật ra, có phải là Ngài chú giải quá sâu hay không? Chẳng phải vậy! Ư nghĩa trong kinh vốn sâu, đó là chỗ mầu nhiệm của kinh. Người nông cạn thấy rất nông cạn, người sâu xa thấy rất sâu, nên đọc trăm lượt chẳng chán. Người nông cạn niệm kinh, rất hoan hỷ, v́ họ niệm bèn hiểu. Người tŕnh độ sâu niệm kinh cũng rất hoan hỷ, v́ sao? Họ hiểu thâm ư. Kinh này từ sơ phát tâm măi cho đến khi thành Phật đều niệm không chán, đạo lư ở ngay chỗ này. Liên Tŕ đại sư chú giải cho chúng ta, nói thật ra, vẫn là chú giải rất nông cạn, dễ hiểu; chỉ v́ nếu chú giải sâu xa, chúng ta sẽ chẳng có cách nào tiếp nhận. Chúng ta lại xem đoạn kế tiếp giải thích chữ Ư. “Ư ư vân hà” th́ Ư là ǵ?

 

      (Sao) Trù lượng danh Ư. Thế nhân khởi ư ư thức, niệm niệm trục ngoại trù lượng, thị tà tư duy dă.

      () 意,世 識,念 量,是 也。

      (Sao: Trù tính, suy lường gọi là Ư. Người đời khởi ư thức, niệm niệm trù tính, suy lường bên ngoài, đó là tà tư duy).

 

      Đó chẳng phải là Chánh Tư Duy, nói đến người thế gian. Người thế gian sử dụng thức thứ sáu, tức ư thức, cũng chính là “cái tâm” như người b́nh phàm thường nói. Trong tâm quư vị tưởng ǵ? Tâm ấy là thức thứ sáu, tức tâm ư thức. Trong tâm quư vị suy nghĩ điều ǵ th́ chính là thức thứ sáu, tức tâm ư thức đang suy nghĩ. Chân tâm chẳng suy nghĩ, chân tâm là thanh tịnh. Chân tâm ly niệm, tức là một niệm chẳng sanh; chỉ trong vọng tâm th́ mới có suy nghĩ. V́ thế, suy nghĩ được gọi là vọng tưởng, là suy nghĩ loạn xạ. Chúng ta suốt ngày từ sáng đến tối đều suy nghĩ, thảy đều là suy nghĩ loạn xạ. Quư vị suy nghĩ chánh pháp, suy nghĩ Phật pháp, suy nghĩ ǵ th́ cũng đều là suy nghĩ loạn xạ, nghĩ đến Phật cũng được coi là suy nghĩ loạn xạ. Do đó, bảo quư vị niệm kinh, quư vị liền thật thà ngoan ngoăn niệm, nhưng vừa niệm vừa nghĩ ngợi ư nghĩa trong ấy, đó vẫn gọi là suy nghĩ loạn xạ. V́ sao gọi là suy nghĩ loạn xạ? V́ kinh do chân tâm lưu lộ. Chân tâm chẳng có ư niệm, chẳng có ư nghĩa, lưu lộ cũng là vô ư, cũng chẳng có ư nghĩa. Chỉ cần quư vị thật thà niệm, sẽ có thể dẫn xuất tự tánh, có thể minh tâm kiến tánh. Nếu vừa niệm kinh, vừa nghiên cứu nó có ư nghĩa ǵ, thôi rồi, v́ sao? Toàn bộ đều rơi vào trong ư thức, chẳng thể khai ngộ! Dẫu cho quư vị nghiên cứu thấu triệt, giảng đến nỗi hoa trời rơi tán loạn, nói thật thà th́ là tà tri tà kiến, chẳng chân thật! Quư vị chỉ một mực niệm, một niệm chẳng sanh. Người ta mời quư vị giảng, quư vị thấy người ấy tŕnh độ sâu bèn giảng sâu, thấy tŕnh độ nông cạn bèn giảng nông cạn, lời giảng có thể sâu, cạn, dài, ngắn, hoàn toàn chẳng thông qua ư thức. Đó là tự tánh của quư vị lưu lộ, là trí huệ Bát Nhă. V́ vậy, chớ nên nghiên cứu kinh, cứ thật thà niệm là được rồi.

      Bản chú giải này của Liên Tŕ đại sư cũng từ tự tánh lưu lộ, nên chú giải của Ngài có thể sâu, cạn, dài, ngắn. Chư vị hăy đối chiếu với ba trăm ba mươi lăm băng giảng trong lần thứ hai của tôi với lần này, [sẽ thấy] chẳng giống! Tôi giảng lại từ đầu một lần nữa, ư nghĩa sẽ lại khác với lần này. Bởi lẽ, kinh này càng giảng càng hoan hỷ. Nếu ư nghĩa luôn như nhau, tôi giảng cũng chẳng có hứng thú ǵ! Giống như thầy giáo dạy học trong nhà trường xưa kia, mỗi năm dạy một lớp, dạy suốt một đời chỉ có một quyển sách, một quyển bút kư, có thể dùng cả đời, càng dạy càng tẻ nhạt, chẳng có ư vị ǵ! Kinh có ư vị, mỗi lần có ư nghĩa khác nhau! Quư vị thật sự tu học, pháp hỷ sung măn, đúng là sự hưởng thụ cao nhất trong một đời người. Trước kia, tiên sinh Phương Đông Mỹ đă truyền cho tôi, cụ bảo: “Phật pháp là sự hưởng thụ cao nhất trong đời người”.

 

      (Diễn) Trù lượng danh Ư giả, Tướng Tông vân: “Tập khởi danh Tâm, tập chư chủng tử, khởi chư hiện hành cố. Trù lượng danh Ư, trù lự tư lượng, tự phần cảnh giới cố. Liễu biệt danh Thức, chiếu liễu phân biệt tiền cảnh giới cố”.

() 者,相 云:集 心,集 子,起 故;籌 意,籌 量,自 故;了 識,照 故。

(Diễn: “Trù lượng gọi là Ư”: Tướng Tông nói: “Tập khởi th́ gọi là Tâm, v́ [tâm] gom góp các chủng tử, khởi lên các hiện hành. Trù tính suy lường gọi là Ư, do nó suy tính, lo toan, cân nhắc, thuộc về cảnh giới của chính ḿnh. Thấu hiểu phân biệt rơ ràng th́ gọi là Thức, v́ nó soi tỏ, phân biệt rơ ràng cảnh giới bên ngoài”).

 

      Tâm là ǵ? Ư là ǵ? Thức là ǵ? Tướng Tông đă định nghĩa, Tâm có ư nghĩa “tập khởi”. “Tập” () là ǵ? Tập là gom góp chủng tử. Tập là thâu thập, giống như một cái kho, ta đều thâu thập, đó là ư nghĩa của chữ Tập. “Khởi” () là ǵ? “Khởi” là dấy lên hiện hành. Tiếp đó nói: “Khởi chư hiện hành”. Chủng tử gặp duyên bèn sanh trưởng. Tâm ấy là ǵ? Tâm ấy là A Lại Da Thức. A Lại Da Thức là cái kho, thu thập hết thảy chủng tử cất trong kho để ǵn giữ, giống như “pḥng lưu trữ hồ sơ” hiện thời. Tất cả hết thảy tạo tác của chúng ta đều có “hồ sơ”. Chỉ cần quư vị tạo tác, hồ sơ đều được bảo tồn, đó là ư nghĩa của Tập. Do đó, tạo tác không chỉ là thân thể tạo tác, ngôn ngữ tạo tác, [mà c̣n là] khởi tâm động niệm. Quư vị vừa động một niệm, trong A Lại Da Thức liền lưu ấn tượng. Trong kinh, đức Phật khuyên, dạy chúng ta, chớ nên hối hận chuyện đă qua. Quá khứ đă tạo tác rất nhiều tội nghiệp, thường nghĩ một lần, hừm! Nghĩ một lần là lại tạo nghiệp một lần, nghĩ thêm lần nữa là lại tạo lần nữa. Thôi rồi! Tội nghiệp trong A Lại Da Thức ngày càng nhiều hơn. Đừng nghĩ tới quá khứ, chủng tử đă có, chúng ta chẳng cần tăng thêm lần nữa, hăy giữ nguyên trạng, đừng tăng thêm. Chuyện vị lai c̣n chưa đến, chớ nên suy nghĩ lung tung. Quư vị nghĩ đến vị lai cũng là tạo nghiệp trong đó, mới biết là đáng sợ! Đầu óc chúng sanh suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ loạn xạ, tưởng quá khứ, tưởng hiện tại, tưởng vị lai, tưởng đến nỗi chẳng biết trong A Lại Da Thức có bao nhiêu chủng tử! Trong kinh, đức Phật đă nói, nếu những chủng tử ấy có thể tích, dẫu thể tích nhỏ đến mấy đi nữa, giống như vi trần, đức Phật dạy, từ vô lượng kiếp cho đến hiện thời, chủng tử nghiệp tập của chúng ta tận hư không khắp pháp giới chẳng thể dung nạp được! May là các chủng tử chẳng có h́nh tướng!

      Ư nghĩa thứ hai là “Hiện Hành”, Hiện Hành là ǵ? Hễ gặp duyên, chủng tử bèn xuất hiện, nó liền khởi tác dụng. Do đó, Hiện Hành cũng là tâm. Chúng tôi nêu một tỷ dụ, từ tỷ dụ này, quư vị sẽ thấu hiểu, liễu giải Hiện Hành là ǵ? Hiện Hành là chủng tử khởi tác dụng. Chủng tử chẳng gặp duyên, sẽ chẳng khởi tác dụng. Ví như hạt dưa hấu đem cất giữ trong b́nh, nó vĩnh viễn chẳng mọc thành dưa, v́ sao? Chẳng có duyên! Nếu chúng ta muốn nó kết thành trái dưa, chỉ cần thêm duyên là được. Duyên của nó cần phải có đất màu, phân bón, ánh sáng, nước. Nếu nhiều điều kiện như vậy đều rất viên măn th́ hạt giống nhất định sẽ nẩy mầm, sẽ có thể đơm hoa, kết quả, sẽ sanh ra quả dưa rất ngon lành, đó gọi là Hiện Hành. V́ thế, Hiện Hành là nhân của chủng tử, chủng tử lại là cái nhân của Hiện Hành. Dưa là quả, hạt dưa là nhân; dưa là nhân, hạt dưa lại là quả. V́ thế, dưa và hạt dưa đều là tâm. Chư vị hăy chú ư nơi đây sẽ thấu hiểu: Đó là chủng tử và Hiện Hành. Sanh trưởng, trổ hoa, kết thành trái dưa là Hiện Hành; nhưng trong dưa lại sanh ra chủng tử. Những điều này đều gọi là tâm. Quư vị hiểu đạo lư này, [sẽ biết] nhân và quả toàn là tác dụng của tâm. Điều này mở rộng ra, sẽ là tận hư không khắp pháp giới. Trong kinh nhà Phật thường nói y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới do đâu mà khởi? Từ trong tâm của chính chúng ta biến hiện.

Hiểu đạo lư này, chúng ta vừa vui, vừa sợ. Sợ là v́ lục đạo luân hồi tam ác đạo do chính ḿnh biến hiện, vui là v́ Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật cũng do chính ḿnh biến hiện. Chủng tử của mười pháp giới thảy đều có trong A Lại Da Thức của chúng ta, ai nấy đều có, tuyệt đối chẳng có người nào khiếm khuyết. Nay quư vị muốn cho chủng tử nào dấy lên hiện hành là do chính ḿnh nắm quyền thao túng, không do người khác khống chế. Giống như trong cái chén trà này, các loại hạt dưa đều có, đều đựng trong đó. Ta muốn ăn dưa hấu, bèn lấy hạt dưa hấu đem trồng. Ta muốn ăn đậu, lấy hạt đậu đem trồng. Quyền thao túng nơi tay ta, chẳng ở trong tay người khác.

      Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, quư vị muốn thành Phật, quyết định có thể thành Phật, toàn là nằm trong tay của chính ḿnh. Chúng ta có chủng tử thành Phật, chỉ cần kết hợp đúng duyên bèn đạt được. Đối với Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng ta có chủng tử “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”, đó là nói theo chủng tử. Chúng ta chỉ cần thêm vào Tín, Nguyện, Hạnh, đó là duyên, giống như dưa cần đất, phân, nước, thêm những thứ ấy vào là được, tự nhiên sẽ kết quả. V́ lẽ đó, muốn thành Phật bèn thành Phật, muốn làm Bồ Tát liền làm Bồ Tát, muốn đời sau được làm thân người bèn làm thân người, muốn làm quỷ, sẽ làm quỷ. Quỷ là duyên ǵ? Duyên nhiều nhất th́ quỷ là do tâm tham nặng nề. Quư vị nghĩ xem chúng ta có tâm tham hay không? Cái này cũng tham, cái kia cũng tham, đó là duyên chủng tử của ngạ quỷ hằng ngày tăng trưởng; mai sau, quả báo tự nhiên liền biến thành ngạ quỷ. Địa ngục là sân khuể, súc sanh là ngu si. Nếu mọi người hiểu duyên của mười pháp giới, chính ḿnh sẽ có thể khống chế. Chẳng hạn như bất luận gặp chuyện ǵ chẳng thuận tâm, ta tuyệt đối chẳng nổi giận, v́ sao? Đối với cái nhân địa ngục, ta chẳng tạo duyên cho nó, ta đoạn trừ nó, chắc chắn chẳng đọa địa ngục. Đối với thuận cảnh như thế nào, ta chẳng có tâm tham, không tham ái, duyên trong ngạ quỷ đạo cũng đoạn mất. Trong hết thảy cảnh giới, ta hiểu rơ, không mơ hồ, duyên súc sanh đạo bị đoạn mất.

      Đức Phật giảng những pháp ấy, chúng ta thật sự tâm phục, khẩu phục. V́ vậy, thành Phật, thành Bồ Tát, chẳng phải là do các Ngài giúp đỡ chúng ta, các Ngài chẳng giúp được! Nếu các Ngài giúp được, Phật, Bồ Tát đại từ đại bi, chúng ta cần ǵ phải tự ḿnh tu hành? Bản thân chúng ta phải tu hành nhọc nhằn như thế mới thành tựu, Phật, Bồ Tát từ bi ở chỗ nào? Chư vị phải hiểu: “Hết thảy chỉ do tâm tạo”, hết thảy do chính ḿnh tạo, chẳng liên quan ǵ đến người khác. Trong kinh Kim Cang, đức Phật đă dạy rất thẳng thừng: “Phật chẳng độ chúng sanh”, chúng sanh độ bằng cách nào? Chính ḿnh độ chính ḿnh. Phật cũng là một Tăng Thượng Duyên cho bản thân chúng ta, là một trong khá nhiều điều kiện. Cũng có nghĩa là Ngài bảo cho chúng ta biết chân tướng sự thật này, chúng ta mới hoảng nhiên đại ngộ, mới biết làm thế nào để khống chế duyên ấy. V́ thêm duyên vào th́ mới kết thành quả, chỉ cần cái nhân mà chẳng có duyên th́ sẽ không kết thành quả. Nhân chẳng thể thay đổi, không có cách nào khống chế, nhưng duyên do chính chúng ta nắm quyền thao túng; do đó, Phật pháp nói “duyên sanh”. Chúng ta hiểu chân tướng sự thật này, hăy khéo khống chế duyên, duyên của chín pháp giới đều bỏ đi, nhất định chẳng vun bồi chúng, chuyên vun bồi cái duyên thành Phật, như vậy là tốt lắm. Duyên thành Phật thù thắng nhất, dễ dàng nhất, đáng tin cậy nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất, không ǵ hơn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Pháp môn này xác thực là có căn cứ lư luận, chẳng phải là nói tùy tiện. Chẳng có lư luận khá đáng tin cậy, làm sao chúng ta có thể tin sâu cho được?

      Do đó, đối với “tập khởi”, hiểu Tập là ǵ? Khởi là ǵ? Đó là tâm. V́ thế, tâm quá ư to lớn. Tận hư không khắp pháp giới là một tâm, là một A Lại Da Thức. Nếu quư vị hỏi, tâm ở chỗ nào? Kinh Lăn g Nghiêm vừa khởi đầu, Thích Ca Mâu Ni Phật hỏi ngài A Nan, nói thật ra, Thích Ca Mâu Ni Phật cũng chẳng nói rơ ràng, cũng chẳng nói là chân tâm hay vọng tâm, bất luận là chân tâm là vọng tâm: Ông nói “có tâm”, vậy tâm ở chỗ nào? Ông hăy nói cho tôi nghe xem. Trước tiên, ngài A Nan nói tâm ở bên trong, đức Phật không đồng ư. Nói ở bên ngoài, cũng không đồng ư, ở giữa cũng chẳng đồng ư. Nói ra bảy chỗ, đức Phật đều chẳng chấp thuận. Rốt cuộc tâm ở chỗ nào? Cuối cùng, ngài A Nan cũng chẳng có cách nào. Thưa cùng chư vị, tận hư không khắp pháp giới là một tâm của chúng ta, điều này rất chẳng dễ hiểu, rất khó hiểu. Tôi dùng chuyện nằm mộng để tỷ dụ để mọi người dễ hiểu. Mỗi ngày, quư vị đều nằm mơ, trong mộng có núi, sông, đại địa, có chính ḿnh, và cũng có rất nhiều nhân vật, chẳng khác ǵ chúng ta đă thấy lúc ban ngày. Mộng do đâu mà có? Chúng ta biết mộng là do cái tâm của chính ḿnh biến hiện. Khi tâm đang biến hiện mộng cảnh, khi ấy, nếu hỏi quư vị, tâm giống như ǵ? Toàn thể mộng cảnh là tâm, toàn thể tâm là mộng, toàn thể tâm thành mộng, toàn thể mộng chính là tâm. Ngoài tâm chẳng có mộng, ngoài mộng chẳng có tâm. Từ chỗ này, quư vị lại hiểu thêm một chút, hiện tại, tận hư không khắp pháp giới là một A Lại Da Thức. A Lại Da Thức là hư không pháp giới, pháp giới là A Lại Da Thức.

      Trong hội Lăng Nghiêm, ngài A Nan chẳng hiểu điều này, nên bị đức Phật bắt bí. Nếu quư vị thật sự nhận biết, nhà Thiền có một câu: “Nhược nhân thức đắc tâm, đại địa vô thốn thổ” (Nếu người hiểu biết tâm, đại địa không tấc đất). Cớ sao nói đại địa không có tấc đất? V́ đều là tự tâm, ngoài tự tâm ra, chẳng có một vật nào. Kinh Hoa Nghiêm đă dạy: “Ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo” (nên quán tánh pháp giới, hết thảy do tâm tạo). Tánh là bản thể, Triết Học nói là “bản thể của vạn hữu trong vũ trụ”. Vạn hữu trong vũ trụ có bản thể là ǵ? Kinh Hoa Nghiêm nói là tâm, tâm ấy c̣n gọi là A Lại Da Thức. Kinh điển y cứ của Pháp Tướng Tông gồm có sáu bộ kinh và mười một bộ luận. Kinh Hoa Nghiêm là một trong sáu bộ kinh ấy. Đó là tâm. Điều khẩn yếu là quư vị phải hiểu rơ Tập là ǵ, Khởi là ǵ, phải hiểu rơ ràng hai chữ này. Nói thật ra, hai chữ ấy rất khó hiểu.

Trù lượng danh Ư”, Trù () là trù tính, Lượng () là so lường, đó là Ư. Ư là ǵ? Là Tư (suy nghĩ), chúng đang suy xét, dự tính, đó là Ư. “Trù lự tư lượng, tự phần cảnh giới cố” (v́ trù tính, lo toan, cân nhắc, thuộc về cảnh giới của chính ḿnh). “Liễu biệt danh Thức”: Liễu () là hiểu rơ, Biệt () là phân biệt, do định nghĩa này, chúng ta bèn gọi nó là Thức, “chiếu liễu phân biệt tiền cảnh giới cố” (do soi tỏ, phân biệt cảnh giới bên ngoài). Do vậy có thể biết: Đối tượng của Ư là đối với chính ḿnh, đối nội, chẳng đối ngoại, c̣n Thức là trong lẫn ngoài đều có. Trong lẫn ngoài đều là đối tượng của nó, đối tượng của nó rộng lớn. Thức thứ tám, thức thứ bảy, thức thứ sáu và năm thức trước, tám thức ấy đều có tác dụng tập khởi, nên đều được gọi là Tâm. Chúng ta gọi chúng là Tám Tâm Vương, tâm thật nhiều! Chẳng phải chỉ có một tâm. Phàm phu có rất nhiều tâm, có tám tâm. Phật, Bồ Tát chỉ có một tâm, chỉ có chân tâm; phàm phu chúng ta có tám tâm, nên tâm rất nhiều! Tám tâm ấy đều có ư nghĩa “tập khởi”, cũng đều có ư nghĩa “trù lượng”. Do đó, tám thứ ấy cũng gọi là Ư. Tám thứ ấy đều có công năng phân biệt, nên cũng gọi là tám thức. Tám thứ ấy, quư vị có thể gọi chúng là tám tâm, mà cũng có thể gọi là tám ư, mà cũng có thể gọi là tám thức. V́ sao? Các ư nghĩa ấy đều có!

      Nếu chúng ta lại thâm nhập phân tích, tuy mỗi thức đều có ba loại công năng ấy, nhưng mỗi thức có thiên trọng, có sức mạnh hay yếu. Có sức tập khởi mạnh mẽ nhất là thức thứ tám, là A Lại Da Thức. Do đó, nếu chúng ta tách ra để nói, tâm ư thức, thức thứ tám là A Lại Da Thức [được gọi] là Tâm. Nó có công năng tập khởi lớn nhất, bảy thức kia chẳng thể sánh bằng. Thức thứ bảy là Mạt Na Thức, Mạt Na Thức có công năng trù tính, so lường đặc biệt thù thắng, bảy thức khác đều chẳng sánh bằng, chúng ta thường nói là “chấp trước”. Mạt Na Thức chấp trước nhất, chấp trước kiên cố nhất. Những thức khác cũng có, nhưng rất mỏng, chẳng kiên cố như Mạt Na Thức. V́ thế, Mạt Na Thức là Ư. Trong sáu thức trước, năng lực phân biệt mạnh nhất là thức thứ sáu, tức ư thức, nên thức thứ sáu là Thức. Trong Tướng Tông, nếu tách “tâm ư thức” ra để nói th́ Tâm là thức thứ tám A Lại Da, ư là thức thứ bảy Mạt Na, thức là thức thứ sáu, tức ư thức. Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng tới chỗ này!

 

Tập 184

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang thứ ba trăm tám mươi ba, hăy xem đoạn thứ hai trong sách Diễn Nghĩa.

      Chúng tôi tiếp tục giải thích tâm ư thức. “Tập khởi danh Tâm, trù lượng danh Ư, liễu biệt danh Thức” (Tập khởi là Tâm, trù tính, suy lường là Ư, hiểu rơ, phân biệt là Thức), Pháp Tướng Tông nói như vậy. Tám thức đều có công năng “tập khởi, trù lượng, liễu biệt”; trong ba thứ công năng ấy, hễ công năng nào đặc biệt mạnh nhất, ta bèn gọi nó là Tâm, hay gọi là Ư, hay gọi nó là Thức. Công năng tập khởi thù thắng nhất là A Lại Da Thức, trù lượng thù thắng nhất là thức thứ bảy.

 

      (Diễn) Hựu Ư giả, tức đệ thất thức. Trù lượng giả, tư duy trù lượng, đệ bát Kiến Phần thị Ngă cố dă. Thử chánh thủ đệ thất Tâm Vương tự thể tư lượng danh Ư, diệc kiêm thủ Biến Hành ngũ sở trung Tư dă.

() 者,即 識。籌 者,思 量,第 也。此 意,亦 也。

 (Diễn: Lại nữa, Ư là thức thứ bảy. Trù lượng là suy nghĩ, toan tính, so lường, Kiến Phần thứ tám là Ngă vậy. Đây là chủ yếu dựa trên [đặc tánh] tự thể suy nghĩ, so lường của Tâm Vương thứ bảy mà gọi là Ư, cũng lấy kèm thêm [ư nghĩa của] Tư [Tâm Sở] trong năm món Tâm Sở thuộc loại Biến Hành).

 

      Đại Thừa Phật pháp thường nói tới Ngă Chấp. Ngă Chấp có hai loại: Một loại là Nhân Ngă Chấp, loại kia là Pháp Ngă Chấp. Hai thứ Ngă Chấp này đều có cội nguồn từ thức thứ bảy. V́ thế, trong tu hành, cổ đức đă nói một nguyên tắc, nguyên tắc này rất trọng yếu: “Thính giáo phải tiêu quy tự tánh”, “thính giáo” là nghe giảng kinh. Nếu có thể tiêu quy tự tánh, đó là thật sự nghe, cũng là như chúng tôi thường nói: Dùng Phật pháp để khải phát trí huệ và quang minh trong tự tánh của chúng ta, đó gọi là “tiêu quy tự tánh”. Trong bộ chú giải này, cuối mỗi đoạn, Liên Tŕ đại sư đều có phần Xứng Lư. Xứng Lư là tiêu quy tự tánh: “Tu hành phải chuyển Thức thành Trí”. Chuyển thức, mà “thức” có tám thức. Chuyển tám thức thành bốn trí, đó gọi là tu hành. Liễu Phàm Tứ Huấn dạy chúng ta nguyên tắc sửa lỗi tu thiện. Sửa lỗi tối thượng thừa là sửa từ trong tâm, kế đến là sửa từ nơi Lư, thấp nhất là sửa từ nơi Sự. Tu hành mà nói “chuyển Thức thành Trí” th́ là tu nơi tâm địa, là cách tu học tối thượng thừa, là chuyển thức thành trí.

      Đối với Thức, chúng ta hiểu ư nghĩa thật sự của nó, cách chuyển như thế nào? Đây là một môn học mà người tu hành trong hiện tại phải biết. Trong Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ, Giao Quang đại sư đă đề xướng “bỏ Thức dùng Căn”, bỏ Thức dùng Căn là chuyển Thức thành Trí. Trong tám thức, chỉ có hai thức được chuyển trong khi tu nhân, sáu thức kia chuyển nơi quả địa. Nói cách khác, thật sự dụng công là dụng công nơi thức thứ sáu và thức thứ bảy. Thức thứ sáu và thứ bảy được chuyển trong khi tu nhân. Hễ nhân đă chuyển, quả liền chuyển theo. A Lại Da Thức và năm thức trước tự nhiên liền chuyển. Thức thứ bảy là tư duy, trù tính, suy lường, thức thứ sáu khéo phân biệt, nên chúng tôi thường nói: “Chẳng phân biệt, không chấp trước”, đó là chuyển. Chẳng phân biệt liền chuyển thức thứ sáu, tức ư thức, thành Diệu Quán Sát Trí. Không chấp trước liền chuyển Mạt Na Thức thành B́nh Đẳng Tánh Trí. Hiện thời, người thế gian chúng ta bất b́nh đẳng, v́ sao bất b́nh đẳng? Mỗi người đều có chấp trước, hễ chấp trước, sẽ chẳng b́nh đẳng. Nếu bỏ sạch tất cả hết thảy chấp trước, sẽ b́nh đẳng; bỏ hết thảy phân biệt, diệu huệ liền hiện tiền. Biết tu hành là ở nơi dụng công, đối với hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian chẳng phân biệt, không chấp trước. Trong các buổi giảng, chúng tôi cũng thường nhắc nhở đồng tu hăy tự khích lệ chính ḿnh, v́ sao phải làm như vậy? Hiện thời, từ đoạn kinh văn này chúng ta thấy: Đó là chuyển Thức thành Trí. Phân biệt và chấp trước là hư vọng, tuyệt đối chẳng phải là chân thật, nên đức Phật mới bảo chúng ta vứt bỏ. Nếu là chân thật, đức Phật quyết định sẽ chẳng bảo chúng ta vứt bỏ, [vứt bỏ là v́ chúng] là giả, chẳng thật!

Hết thảy chúng sanh chấp trước Ngă, Ngă là ǵ? Thân là Ngă. Đức Phật bảo chúng ta vô ngă, Vô Ngă là dạy chúng ta “thân chẳng phải là Ngă”. Ngă ở chỗ nào? Thân chẳng phải là Ngă, mọi người nghe xong, sợ hăi, học Phật đến cuối cùng Ngă cũng chẳng có, khiếp quá! Nếu Ngă chẳng có, ai thành Phật? Do vậy, thành Phật, ta thành Phật, có thành Phật hay không? Chẳng thành! V́ quư vị có Ngă Chấp, làm sao có thể thành Phật cho được? Đừng nói là chẳng thành Phật được, mà A La Hán cũng chẳng thành, v́ A La Hán đă phá Ngă Chấp. Kinh Kim Cang nói Tu Đà Hoàn chẳng có Ngă Chấp, điều này đáng cho chúng ta phản tỉnh rất sâu.

      “Tư duy trù lượng, đệ bát Kiến Phần thị Ngă cố dă. Thử chánh thủ đệ thất Tâm Vương tự thể tư lượng danh Ư, diệc kiêm thủ Biến Hành Ngũ Sở trung Tư dă” (Tư duy trù lượng, Kiến Phần thứ tám là Ngă. Đây chính là chủ yếu dựa trên đặc tánh tự thể suy lường của Tâm Vương thứ bảy mà gọi là Ư, cũng như kèm thêm [ư nghĩa của] Tư Tâm Sở trong năm món Tâm Sở thuộc loại Biến Hành). Nếu quư vị chẳng từng đọc Bách Pháp, chẳng có cơ sở Duy Thức, đọc đoạn văn này sẽ chẳng dễ ǵ hiểu được! Thức thứ tám và Chân Như bản tánh là một Thể, bảy thức trước hoàn toàn là hư vọng. Nói theo cách hiện thời, sẽ là “cảm nhận sai lầm”, [bảy thức trước] sanh từ cảm nhận sai lầm, chẳng chân thật; nhưng A Lại Da Thức là thật. Tuy là thật, nó mê, tuy mê nhưng vẫn là thật, cũng chẳng phải là giả! Các nhà Duy Thức nói A Lại Da Thức là nửa thật, nửa giả, [bởi lẽ], Thể là thật, nhưng tác dụng của nó là mê. Do mê, nên mới khởi lên bảy thức trước. Trong A Lại Da Thức có ba tế tướng. Tướng thứ nhất trong ba tế tướng là Vô Minh Nghiệp Tướng, nghiệp là động. Nói cách khác, tâm động là mê. Kinh luận của tông Duy Thức thường nói: “Một niệm bất giác bèn có vô minh”. Bất giác là tâm đă động, giác tánh mất đi, công năng giác bị mất đi, liền biến thành bất giác. Nghiệp là động tướng, là tướng thứ nhất. Tâm vừa động, bèn khởi tác dụng, khởi tác dụng ǵ? Có thể thấy tướng. Nay chúng ta gọi “có thể thấy tướng” là tinh thần, hiểu lầm cái “có thể” là chính ḿnh. “Ta có thể”, chấp trước bắt đầu từ chỗ này!

      Như vậy th́ Thể của ta là ǵ? [Chính là] Kiến Phần của A Lại Da Thức, Kiến Phần có thể thấy, muốn thấy, [nhưng] trong Chân Như bản tánh chẳng có tướng, thứ ǵ cũng chẳng có. Chẳng có mà cứ khăng khăng muốn thấy, đă muốn thấy, nó sẽ hiện tướng. Ví như trong hư không thứ ǵ cũng đều chẳng có, quư vị trừng mắt nh́n lên hư không, nh́n hồi lâu trong không trung sẽ hiện tướng (các đốm sáng chao lượn), v́ sao hiện tướng? Do mắt mỏi mệt, liền có thể hiện huyễn tướng. Kiến Phần của quư vị muốn thấy, muốn thấy quá mức, nên A Lại Da Thức mệt mỏi, liền hiện Tướng Phần, nay chúng ta gọi Tướng Phần là vật chất.

      Hết thảy sâm la vạn tượng từ đâu mà có? Do Kiến Phần biến hiện. Cảnh do tâm biến hiện, [nói cách khác] vật chất do tinh thần biến hiện. Tâm và vật chất đích xác là cùng một cội nguồn. Cội nguồn ấy, nói nông cạn là A Lại Da Thức, nói sâu xa sẽ là Chân Như bản tánh. Ở đây, chỗ khác nhau là: Tướng được thấy bởi các phàm phu chính là Tướng Phần của A Lại Da Thức, c̣n Tây Phương Cực Lạc thế giới là Tướng Phần của Chân Như bản tánh, nên cơi ấy là Pháp Tánh Độ. Trong Pháp Tánh Độ, Sự Sự vô ngại. Chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ, hoặc là đọc Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, quư vị thấy chư Phật, Bồ Tát, đích xác là Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, v́ sao? Đó là Pháp Tánh Độ, là Tướng Phần của Chân Như bản tánh, cũng có nghĩa là Tướng Phần của A Lại Da Thức khi nó hoàn toàn giác chứ không mê. Nay chúng ta mê mà chẳng giác, tuy hiện Tướng Phần, nhưng chẳng được tự tại trong Tướng Phần ấy, chẳng thể xứng tâm như ư, nguyên nhân là ở chỗ này!

      Cớ sao sanh ra Ngă? V́ năng kiến (Kiến Phần của A Lại Da Thức) nhất định muốn thấy, nên trong A Lại Da Thức mới biến hiện Tướng Phần. V́ vậy, Tướng Phần ấy chẳng phải là thật, hư huyễn chẳng thật. Kinh Kim Cang nói rất hay: “Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”. Tướng Phần có thể duy tŕ bao lâu tùy thuộc Kiến Phần của quư vị duy tŕ được bao lâu. Ngày nào Kiến Phần của quư vị chẳng mong thấy nó, tướng sẽ chẳng c̣n nữa. Thức thứ bảy luôn suy xét, cân nhắc, Ngă Chấp sẽ không gián đoạn. Khi ngủ, Ngă cũng chẳng đoạn; thậm chí đă chết, chấp trước về Ngă vẫn chẳng đoạn. Nếu đă đoạn trừ, sẽ chẳng đầu thai, chẳng luân hồi trong lục đạo. Do Ngă Chấp quá kiên cố, vĩnh viễn không chịu bỏ, nên người ta mới phải luân hồi trong lục đạo.

      “Chánh thủ đệ thất Tâm Vương tự thể tư lượng vi Ư” [nghĩa là] Mạt Na Thức có ư nghĩa chánh yếu là luôn suy xét, cân nhắc. “Diệc kiêm thủ Biến Hành ngũ sở trung Tư dă”, [nghĩa là] c̣n kèm thêm Tư Tâm Sở trong năm thứ Biến Hành. Trong năm mươi mốt Tâm Sở, có năm Tâm Sở [được xếp vào loại] Biến Hành[5]. Năm Biến Hành chính là năm thứ tác dụng tâm lư mà tám thức đều có, nên chúng được gọi là Biến Hành Tâm Sở, có tất cả năm thứ. Trong năm thứ ấy có Tư. Tư lại đặc biệt tương ứng với chuyện luôn suy xét, cân nhắc, cho nên Ư kiêm thêm Tư Tâm Sở trong năm Biến Hành.

 

      (Diễn) Ư thức vị ư chi thức, tức đệ lục thức dă.

      () 識,即 也。

      (Diễn: Ư thức là nói thức của ư, tức thức thứ sáu).

 

      “Ư” [được nói trong câu này] là Mạt Na, Mạt Na là Ư Căn (thức thứ bảy). Thức thứ sáu, tức ư thức, là do Mạt Na khởi tác dụng, khởi lên tác dụng phân biệt, chúng ta liền gọi nó (tác dụng ấy) là thức thứ sáu. Có thể thấy thức thứ sáu và thức thứ bảy có mối quan hệ hết sức mật thiết.

 

      (Diễn) Luận vân: Ngôn ư thức giả, tức thử Tương Tục Thức, y chư phàm phu thủ trước chuyển thâm, kế ngă, ngă sở, chủng chủng vọng chấp, tùy sự ban duyên, phân biệt lục trần, danh vi Ư Thức, diệc danh Phân Ly Thức, hựu phục thuyết danh Phân Biệt Sự Thức, thị dă.

() 云:言 者,即 識,依 深,計 所,種 執,隨 緣,分 塵,名 識,亦 識,又 識,是 也。

(Diễn: Luận viết: “Nói đến ư thức th́ chính là Tương Tục Thức, nương theo sự chấp giữ của phàm phu mà chuyển thành sâu đậm. So đo ngă, ngă sở, các thứ chấp trước hư vọng, nắm níu theo sự, phân biệt sáu trần, nên gọi là Ư Thức. C̣n gọi là Phân Ly Thức, lại c̣n nói Phân Biệt Sự Thức” chính là nói về điều này).

 

      “Luận vân” là theo như Duy Thức Luận[6] đă nói. Tướng Tông là một môn Tâm Lư Học khá phức tạp. Nếu quư vị đă đọc kinh luận của Tướng Tông, sẽ chẳng c̣n muốn đọc các tác phẩm về Tâm Lư Học trong ngoài nước nữa! V́ chúng quá ấu trĩ, chẳng đáng xem. Pháp Tướng Tông là Tâm Lư Học Phật pháp, vô cùng cao minh. Bộ sách đơn giản nhất về Pháp Tướng là Tướng Tông Cương Yếu do lăo cư sĩ Mai Quang Hy biên soạn, biên soạn hết sức khéo, nội dung hoàn toàn là quy nạp nguyên văn từ kinh luận. Ví như nói đến A Lại Da Thức, cụ sao chép tất cả những điều kinh luận giảng về A Lại Da Thức cùng một chỗ; nói đến Mạt Na, bèn sao chép [những ǵ kinh điển đă giảng về Mạt Na] vào cùng một chỗ. Quư vị muốn tra cứu kinh luận Pháp Tướng Tông th́ kinh luận quá nhiều, chẳng dễ t́m, cụ đă quy nạp các điểm trọng yếu vào một chỗ, nên tra duyệt rất thuận tiện.

      Tuy Phật pháp có rất nhiều tông phái, rất nhiều pháp môn, nhưng trong đó, có ba thứ mà mỗi tông, mỗi pháp môn đều phải tu học:

- Thứ nhất là giới luật. Giới luật là khuôn phép sinh hoạt. Các tông phái Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, chẳng có tông phái nào không tuân thủ giới luật.

- Thứ hai là Duy Thức. Duy Thức nói đến lư luận, bất luận các tông, các phái Đại Thừa hay Tiểu Thừa, lư là một, chẳng có lư luận thứ hai.

- Thứ ba là Tịnh Độ, Tịnh Độ là quy túc. Bất luận quư vị học tông nào hay pháp môn nào, cuối cùng đều quy về Tịnh Độ, khác đường nhưng về cùng một chỗ.

Do vậy có thể biết, giới luật, pháp tướng, và Tịnh Độ là khóa tŕnh bắt buộc trong Phật pháp, những thứ khác quư vị có thể chọn lựa để tu tập trong Phật pháp, nhưng ba thứ ấy chẳng thể không tu.

      Từ ngữ “ư thức” chỉ thức thứ sáu. Kẻ b́nh phàm tưởng lầm thức thứ sáu là chân tâm của chính ḿnh, coi thức thứ sáu tức ư thức là tâm. Tác dụng lớn nhất của thức thứ sáu, tức ư thức, là nó có thể nghĩ, có thể dấy vọng tưởng. Thức thứ bảy là Mạt Na có tác dụng lớn nhất là chấp trước, cố chấp. Thức thứ sáu, tức ư thức, phân biệt, vọng tưởng, công năng này lớn nhất. V́ thế, đức Phật dạy chúng ta tu hành phải hạ thủ từ hai thức này. Nó muốn phân biệt, ta chẳng phân biệt. Nó muốn chấp trước, ta chẳng chấp trước. Không chấp trước, thiên hạ thái b́nh, vạn pháp b́nh đẳng. Hễ có chấp trước, sẽ không b́nh đẳng.

      Trong các chấp trước, chấp trước kiên cố nhất là Ngă Chấp. Có Ngă, làm sao có thể b́nh đẳng cho được? Ta luôn cao hơn người khác một chút, luôn mạnh hơn kẻ khác một chút, nẩy sanh ngă mạn, đó là phiền năo ngạo mạn. Nghèo hèn đến tột cùng như kẻ được gọi là “hoa tử”[7], phải ăn xin, “nghèo” là chẳng có của cải, “hèn” là chẳng có địa vị, kẻ ấy có ngạo mạn hay không? Ngạo mạn y chang! Thấy người có tiền, hoặc người làm quan to đi qua, kẻ ấy vẫn hấm hứ: “Có ǵ ghê gớm đâu chứ! Chẳng qua là có mấy đồng tiền hôi thối mà thôi!” Vẫn cảm thấy ḿnh chẳng thua ai! Chư vị phải biết: Thức thứ bảy tức Mạt Na Thức là “tứ đại phiền năo thường tương tùy” (thường đi kèm theo bốn đại phiền năo). Trong bốn đại phiền năo c̣n có ngạo mạn. Hễ có Ngă, nhất định là có Mạn. Lễ Kư có nói: “Ngạo bất khả trưởng”, [cổ nhân] biết ngạo mạn là bẩm sinh, [“ngạo bất khả trưởng” là] đừng nên tăng trưởng [ngạo mạn] là được rồi. Nho gia mong khống chế ngạo mạn, chẳng để cho nó tăng trưởng. Phật pháp biết Mạn là đại phiền năo, tham, sân, si, mạn, nhất định phải đoạn. Nếu chẳng đoạn phiền năo, Ngă Chấp chắc chắn chẳng đoạn được!

      Bắt tay vào tu học Phật pháp, nguyện thứ nhất trong các nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát là “lễ kính chư Phật”, lễ kính là tu ǵ? Là chiết phục ngạo mạn. Phật pháp như thế, mà pháp thế gian cũng chẳng ra ngoài lệ ấy. Trong sự giáo học xưa kia, ai nấy đều phải đọc Lễ Kư, giống như chúng ta học các sách giáo khoa của các môn Công Dân và Tu Thân trong hiện thời. Câu đầu tiên trong Lễ Kư là: “Khúc Lễ viết: Vô bất kính” (Khúc Lễ nói: “Không ǵ chẳng kính”). “Vô bất kính” là cung kính hết thảy. Định nghĩa của Lễ là ǵ? “Tự ty nhi tôn nhân”, [nghĩa là] phải tự hạ ḿnh, phải tôn trọng người khác. Giáo học Nho gia cũng nhằm chế phục ngă mạn, thánh nhân thế gian và xuất thế gian có cách nh́n giống nhau, phương châm giáo học cũng giống nhau. Kinh Đại Thừa nói “chuyển Thức thành Trí”, bất quá Nho gia chẳng thể chuyển rất triệt để, chỉ chế phục mà thôi. Phật pháp kiên quyết chuyển biến nó!

      Mạt Na Tương Tục Thức, tức là Mạt Na Thức có tác dụng kéo dài. “Y chư phàm phu thủ trước chuyển thâm” (do các phàm phu chấp giữ mà càng thêm sâu), “thủ” () là giữ lấy tướng, “trước” () là chấp trước. “Kế ngă, ngă sở” (so đo ta và cái của ta), “kế” () là so lường, phân biệt, tức là trù tính, cân nhắc, phân biệt, phân biệt Ngă, phân biệt Ngă Sở. Ngă Sở là cái ta vốn có. Những vật ngoài thân đều là cái của ta, gia đ́nh ta, tài sản của ta, sự nghiệp của ta, quyến thuộc của ta, thảy đều là những thứ ta có! Ngă rất khó đoạn, đức Phật có pháp phương tiện: Trước hết, trừ bỏ Ngă Sở, sẽ dễ hơn một chút. Từ Ngă Sở, sau đó sẽ phá trừ Ngă Chấp. Chúng ta phải hiểu, phương pháp có rất nhiều loại, thường nói là “tám vạn bốn ngàn pháp môn”, “pháp” là phương pháp, “môn” là cửa nẻo. Nhưng quả thật chẳng dễ bỏ, đừng nói là Ngă khó bỏ, ngay cả Ngă Sở cũng chẳng bỏ được. Nếu chấp trước kiên cố Ngă và Ngă Sở, chẳng thể buông xuống, nói cách khác, sẽ chắc chắn ở trong lục đạo, quyết định chẳng thể nào vượt thoát được!

      Lục đạo được h́nh thành như thế nào? Do Ngă và Ngă Sở biến hiện. Sơ Quả Tu Đà Hoàn đă trừ bỏ Ngă Sở, chứng đắc Vị Bất Thoái. Tuy chẳng vượt thoát luân hồi, đảm bảo chẳng đọa trong ba ác đạo, v́ sao? Các Ngài đă trừ bỏ Ngă Sở, nhưng chưa trừ bỏ Ngă, đă bỏ được Ngă Sở, ngă tham, ngă sân, ngă si, ngă mạn đều chẳng có, đă bỏ hết. Do Tu Đà Hoàn chẳng có tham, sân, si, mạn, nên gọi là thánh nhân. Đắc quả A La Hán, Ngă Chấp liền phá trừ, không chỉ chẳng có Ngă Sở, mà Ngă cũng trừ bỏ, bèn vượt thoát tam giới, chẳng c̣n luân hồi. Tu Đà Hoàn vẫn c̣n luân hồi, Ngài qua lại trong cơi trời và nhân gian bảy lần, tức là bảy lần luân hồi, sẽ chứng quả A La Hán, bèn vượt thoát.

      Nay chúng ta chẳng bỏ Ngă Sở Hữu được! Đáng sợ quá! Người thế gian quả thật khó thể buông xuống, v́ sao? Chẳng liễu giải chân tướng sự thật. Ví như hiện thời chúng tôi bảo quư vị bố thí, quư vị đem tất cả tài vật bố thí, sẽ nghĩ: “Ngày mai làm thế nào để có cơm ăn?” V́ nghĩ đến ngày mai ta vẫn phải ăn cơm, ta có bố thí th́ cũng phải chừa tiền lại để có cơm ăn ngày mai, vẫn chẳng thể bỏ sạch sành sanh. Nay chúng ta đang tu tập để bỏ Ngă Sở, chỉ có thể bỏ được một hai phần trăm Ngă Sở mà thôi. Có thể bỏ đến mười phần trăm, hoặc hai mươi phần trăm, sẽ rất lỗi lạc! Đó là nguyên nhân v́ sao người tu hành suốt cả một đời mà chẳng thể thành tựu, chẳng dứt khoát[8], chẳng trừ sạch sành sanh. Tu hành kiểu đó làm sao có thể thành tựu cho được? V́ thế, muốn có thành tựu, thật sự phải có “đảm thức” (can đảm và hiểu biết). Chữ Thức (: nhận thức) trong Đảm Thức quan trọng lắm, quư vị phải có nhận thức, sau đó, quư vị mới có ḷng can đảm, mới nhanh chóng trừ bỏ. Để kiến lập đảm thức, tôi cảm thấy tốt nhất là đọc Liễu Phàm Tứ Huấn. Liễu Phàm Tứ Huấn đọc một hai lần vô dụng, chẳng thể sanh ra hiệu quả. Trước kia, tôi khuyên lơn khích lệ các đồng tu, đọc Liễu Phàm Tứ Huấn từ đầu đến cuối chẳng ngừng, mỗi ngày tối thiểu niệm hai ba lượt. Quư vị niệm đến ba trăm lượt, sẽ thay đổi quan niệm. Đọc một hai lần th́ do tập khí của quư vị quá nặng, ấn tượng rất mỏng manh, yếu ớt, chẳng sanh ra hiệu quả; ba trăm lần, cho đến ba ngàn lần, trong đầu nẩy sanh tác dụng, sau đấy, quư vị mới dám xả. V́ sao dám xả? Biết “một hớp uống, một miếng ăn, không ǵ chẳng định trước”, ta đều bỏ hết, ngày mai tự nhiên sẽ có cơm ăn, cơm từ đâu ra? Chẳng biết! Ngày mai quư vị vẫn đương nhiên có cơm ăn, rất mầu nhiệm! Nhưng mọi người chẳng dám tin tưởng điều này!

      Tôi thưa cùng chư vị đồng tu: Thuở tôi vừa mới học Phật, lăo cư sĩ Châu Kính Trụ tặng tôi một quyển Liễu Phàm Tứ Huấn. Tôi đọc xong, rất cảm động, cảm thấy rất có lư, liền bắt đầu bỏ, vẫn chưa phải là bỏ sạch ngay, mà là bỏ từ từ. Chương Gia đại sư dạy tôi tu sáu năm, trong sáu năm, tôi bỏ sạch sành sanh, thứ ǵ cũng đều chẳng có. Khi đó, các bạn đồng nghiệp hỏi tôi: “Nay anh chẳng có một đồng nào, lại muốn thôi việc, anh sống bằng cách nào?” Bạn bè thân thiết, cấp trên, đồng nghiệp đều lo lắng giùm tôi. Tôi thôi việc, là do tự ḿnh bỏ việc, bỏ việc th́ chẳng nhận được đồng nào, [công ty] chỉ phát một tháng tiền lương. Tôi rất vui vẻ nhận lấy, v́ chỉ bằng ḷng cho tôi thôi việc là được rồi, một đồng tôi cũng chẳng cần! Khi ấy, đồng nghiệp và cấp trên, mọi người đóng góp chút tiền, tặng tôi hai ngàn đồng, tôi đem món tiền ấy đến Ấn Kinh Xứ của Châu lăo cư sĩ để in kinh, thay họ làm việc thiện. V́ chính bọn họ chẳng chịu phát tâm in kinh, nên tôi dùng tên bọn họ để in kinh. Sau khi in xong, tặng mỗi người một quyển để làm kỷ niệm, tôi chẳng cần đến đồng nào! Tôi nói với cấp trên và đồng nghiệp: “Nếu tôi có số đáng phải chết đói, nay quư vị trao ngân hàng Đài Loan cho tôi, tôi vẫn bị chết đói. Trong mạng tôi chẳng bị chết đói, thứ ǵ tôi cũng đều chẳng cần, ngày mai tự nhiên có cơm ăn”. Bọn họ nghe nói đều sững sờ, tôi c̣n có niềm tin như thế đó! Do số tôi không chết đói, nên măi cho đến hiện thời, chưa hề bị đói bữa nào, xác thực là như thế đấy! V́ vậy, “đảm thức” hết sức trọng yếu, quư vị thật sự có nhận thức th́ mới có đảm lượng (ḷng can đảm).

      Khi tôi cầu học với thầy Lư ở Đài Trung, từng dẫn hai vị pháp sư đến đó. Vị thứ nhất là pháp sư Huệ Nhẫn, nay ở Hương Cảng. Vị này rất thông minh, tôi dẫn theo thầy ấy. Thầy ấy ở Đài Trung mười tháng, có tiền lắm, v́ cho vay nặng lăi, mỗi tháng được hơn ba trăm đồng tiền lời. Vào khoảng năm Dân Quốc 50 (1961), ba trăm mấy chục đồng rất đáng giá. Thầy ấy thân thể không khỏe, thường mua thuốc bổ uống, tôi khuyên thầy ấy: “Thầy dùng tiền để mua thuốc uống hết, chẳng đáng tí nào, chẳng có ư nghĩa ǵ hết, sao không quyên món tiền ấy cho bệnh viện để cứu tế những người đang bị bệnh khổ?” Thầy ấy đáp: “Sau khi tôi quyên tặng rồi, lỡ chính tôi bị bệnh th́ làm sao?” Tôi đáp: “Thầy quyên cúng sạch trơn, sẽ chẳng ngă bệnh. Thầy chuẩn bị sẵn một mớ tiền thuốc, c̣n chưa bị bệnh mà đă chuẩn bị sanh bệnh, làm sao chẳng ngă bệnh cho được? Cảnh chuyển theo tâm, thầy nhất định sẽ đổ bệnh”. Nếu tôi có sẵn món tiền dành dụm để lo thuốc thang, tôi sẽ ngă bệnh. Tôi chẳng có tiền thuốc men, v́ thế, từ trước đến nay tôi chẳng ngă bệnh. Tôi khuyên thầy ấy, nhưng ông ta chẳng tin tưởng. Dẫu cho thân thể chẳng khỏe, hễ có tiền, bèn đem món tiền ấy quyên tặng bệnh viện, chính ḿnh sẽ chẳng đổ bệnh. [Quyên tặng tiền cho bệnh viện th́ có nghĩa là] tiền thuốc men vẫn cứ phải chi ra y hệt như vậy, nhưng chính ḿnh chẳng sanh bệnh, tốt lắm, thông minh đấy! Cớ ǵ cứ phải nắm chặt món tiền ấy, tiền chẳng giữ lâu được, vẫn phải bỏ ra, chính ḿnh lại c̣n chuốc lấy bệnh khổ, oan uổng quá! Chuyện này cần phải có trí huệ, phải nhận rơ chân tướng sự thật. Chư vị đồng tu nếu muốn chính ḿnh chẳng sanh bệnh, hăy quyên tặng món tiền dành dụm để lo thuốc men. Người trong thế gian bệnh khổ rất nhiều, giúp đỡ họ, chính ḿnh chẳng sanh bệnh. V́ lẽ đó, đối với “đảm thức”, quư vị thật sự có nhận thức th́ mới có ḷng can đảm, mới dám thật sự làm, làm đến mức sung sướng vô ngằn, mới có thể sanh trí huệ.

      Thức thứ sáu tức ư thức là mỗi ngày đều phan duyên. “Tùy sự ban duyên, phân biệt lục trần” (nắm níu theo sự việc, phân biệt lục trần), lục căn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài, ai phân biệt? Thức thứ sáu tức ư thức phân biệt. Đó là ư thức, cũng gọi là Phân Biệt Sự Thức.

 

      (Diễn) Niệm niệm trục ngoại trù lượng giả, niệm niệm tùy trục ngoại trần, tư lượng, trù độ, tằng bất tạm ly, nhật dạ an ư mê loạn, nhi bất giác dă, duy sanh, duy tử, tự nhược ư phân nhiễu chi trung, vô cổ, vô kim, tương vong ư tán loạn chi nội, khả cụ dă.

() 者,念 塵,思 度,曾 離,日 亂,而 也,唯 死,自 中,無 今,相 內,可 也。

(Diễn: “Niệm niệm trù tính, suy lường theo bên ngoài”: Niệm niệm đuổi theo ngoại trần, suy nghĩ, trù tính, cân nhắc, chưa từng tạm ĺa, ngày đêm ở yên trong mê loạn mà chẳng nhận biết. Chỉ sống, chỉ chết, tự đặt ḿnh trong sự nhiễu loạn, chẳng xưa, chẳng nay, quên bẵng trong tán loạn, đáng sợ thay!)

 

      “Ngoại trần” là cảnh giới bên ngoài, v́ sao cảnh giới bên ngoài gọi là Trần? Trần () là tỷ dụ, có ư nghĩa ô nhiễm. Tâm thanh tịnh của chúng ta bị cảnh giới bên ngoài ô nhiễm. Nói thật ra, cảnh giới bên ngoài có bao giờ ô nhiễm tâm thanh tịnh của quư vị? Ô nhiễm cũng là tỷ dụ, trọn chẳng phải là ô nhiễm thật sự. Do v́ quư vị phân biệt, chấp trước, nên giống như bị nhuốm bẩn. Nếu đối với cảnh giới lục trần bên ngoài, quư vị chẳng phân biệt, không chấp trước, chúng ta thường nói là “không khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, không chấp trước”, ngoại cảnh có thể hưởng thụ, có thể thọ dụng, có trở ngại chính ḿnh hay không? Không trở ngại. Đó là Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. V́ lẽ đó, nói thật ra, cuộc sống của chư Phật, Bồ Tát chẳng khác chúng ta. Trên h́nh thức, sự tướng, chẳng khác ǵ nhau; nhưng tâm lư khác nhau. Chúng ta phân biệt, chấp trước, nên bị ô nhiễm; các Ngài chẳng phân biệt, không chấp trước, nên chẳng bị ô nhiễm. Nói theo phía các Ngài là Sự Sự vô ngại; nói theo phía chúng ta th́ là “gặp chuyện bèn thành chướng ngại”, đâu đâu cũng đều là chướng ngại. Quư vị phải truy cứu nguyên nhân, chướng ngại do đâu mà có? Chướng ngại là từ tâm lư khởi tác dụng, lại c̣n chấp trước hư vọng, trọn chẳng phải là thật sự có chướng ngại, mà do quan niệm của chính ḿnh sai lầm. Do quan niệm sai lầm ấy, tạo ra rất nhiều chướng ngại; do có những chướng ngại ấy nên khởi phiền năo. Do có phiền năo, nên dẫn khởi khổ báo, tam đồ là khổ báo.

      “Niệm niệm tùy trục ngoại trần” (niệm niệm đuổi theo ngoại trần), bị cảnh giới bên ngoài dối gạt, bị cảnh giới bên ngoài lôi đi, tâm chuyển theo cảnh, khổ lắm! Khổ quá! Trong Phật pháp thường nói đến chuyện bị “ma dựa”, ma cảnh. Ma có rất nhiều loại, kinh Bát Đại Nhân Giác chia ma thành bốn loại lớn, trong đó ba loại lớn thuộc về bản thân, chỉ có một loại ở bên ngoài. Ngũ Ấm Ma và Phiền Năo Ma thuộc về bản thân, chính ḿnh vốn sẵn có; Tử Ma là sanh tử, cũng là bản thân sẵn có, chỉ có Thiên Ma là ở bên ngoài. Thiên Ma là ǵ? Trừ ba loại lớn thuộc về bản thân ra, đều gọi là Thiên Ma. Có phải là Thiên Ma thật sự có thể chướng ngại chúng ta? Chẳng phải vậy! V́ bên trong quư vị có ba loại ma ấy, bên ngoài mới có thể khởi tác dụng. Nếu ba thứ bên trong chẳng có, bên ngoài chắc chắn chẳng có Thiên Ma. Chư vị đọc kinh Hoa Nghiêm, năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử chẳng gặp phải Thiên Ma, v́ sao chẳng có? V́ chính Ngài chẳng có Ngũ Ấm Ma, Phiền Năo Ma, Tử Ma, nên bên ngoài cũng chẳng có Thiên Ma. Bản thân chúng ta có phiền năo, nên bên ngoài có ma. Thiện Tài đồng tử thấy cảnh giới bên ngoài là cảnh giới thiên nhiên, cảnh giới tự nhiên, toàn là thiện tri thức. T́nh và vô t́nh đều là thiện tri thức, nên Ngài là Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại.

      Do vậy có thể biết, ma sanh từ đâu? Ma sanh từ tâm, cũng tức là ma sanh từ quan niệm và tư tưởng sai lầm của quư vị. Nếu kiến giải và tư tưởng của quư vị chánh chứ không tà, giác chứ không mê, quyết định chẳng có ma. Tư tưởng và kiến giải sai lầm, thưa cùng chư vị, ngay cả A Di Đà Phật và Thích Ca Mâu Ni Phật đều là ma, v́ sao? Quư vị sẽ bị các Ngài thử thách, thật đấy, chẳng giả tí nào! Nếu đối với hết thảy các tướng, quư vị chẳng phân biệt, không chấp trước, yêu ma, quỷ quái đều là thiện tri thức, đều chẳng phải là ma, quư vị mới thật sự hiểu rơ cảnh chuyển theo tâm.

      Cho nên tu hành là tu ǵ? Tu cái tâm của chính ḿnh, thanh tịnh tâm. Tuy nói ba tâm, giác tâm, chánh tâm, thanh tịnh tâm, một mà ba, ba mà một. Trong ba loại tâm ấy, thanh tịnh tâm thuận tiện nhất, dễ dàng tu nhất. Tâm đă thanh tịnh, đương nhiên là chánh tri chánh kiến, đương nhiên là giác chứ không mê. Thiền tu tập từ nơi giác tâm, chẳng dễ dàng cho lắm! Giáo Hạ tu tập từ chánh tâm, tức là chánh tri chánh kiến, cũng chẳng phải chuyện dễ dàng. Niệm Phật tu tập từ tâm thanh tịnh.

      Chúng ta hiểu chân tướng sự thật này, phải nên chuyển ngược lại, xoay chuyển lại. Niệm niệm đừng nên đuổi theo ngoại trần nữa, đừng bị dao động bởi cảnh giới bên ngoài, chính ḿnh có chủ trương, chính ḿnh làm chủ tể, chẳng bị cảnh giới bên ngoài xoay chuyển. Quư vị có bản lănh ấy, sẽ chẳng khác Phật, Bồ Tát. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu có thể chuyển cảnh, ắt giống như Như Lai”. Như Lai có bản lănh ǵ? Như Lai chẳng bị cảnh giới chuyển. Chúng ta bị cảnh giới chuyển, nên là phàm phu. Chẳng bị cảnh giới chuyển, sẽ là Phật, Bồ Tát.

      “Tư lương trù độ, tằng bất tạm ly, nhật dạ an ư mê loạn, nhi bất giác dă” (Suy lường, trù tính, cân nhắc, chưa hề tạm rời, ngày đêm ở yên trong mê loạn, mà chẳng hay biết). Đây là nói về phàm phu. “Duy sanh, duy tử”, sanh sanh tử tử, vĩnh viễn chẳng xong, luân hồi trong lục đạo. “Tự nhược ư phân nhiễu chi trung, vô cổ, vô kim, tương vong ư tán loạn chi nội, khả cụ dă” (tự đặt ḿnh trong sự nhiễu loạn, không xưa, không nay, quên bẵng trong ṿng tán loạn, đáng sợ thay). Chữ “nội” chỉ lục đạo luân hồi. Tự ḿnh mê mất, nên thấy hết thảy chúng sanh đều mê, mà vẫn cứ ngỡ đó là chánh xác. Thuở tôi c̣n trẻ, thích đọc lịch sử, sau này học Phật, chẳng c̣n đọc Nhị Thập Ngũ Sử nữa, tôi buông một câu phê b́nh “chó cắn sủa nhau”. Lịch sử xưa nay, trong ngoài nước đều là như vậy, thật ra là đang tạo nghiệp. Trước kia, tại Đài Loan hằng năm đều tuyển chọn người tốt, chuyện tốt, thầy Lư viết trên bảng đen chữ Hảo Nhân (người tốt), dưới chữ Hảo bèn khuyên một cái, [thành ra] “hảo nhân háo sự!” (người tốt ham bới ra việc)[9]. Lại nghĩ tới Bàng cư sĩ đă bảo: “Hảo sự chẳng bằng vô sự”. Nếu mỗi người đều chẳng muốn làm chuyện tốt, sẽ đều vô sự, thưa cùng chư vị, thiên hạ thái b́nh. V́ sao hiện thời Đài Loan loạn như thế? Người “tốt” lắm quá! Ai nấy đều muốn làm chuyện tốt! Quư vị thấy ngay cả viện Lập Pháp (Quốc Hội) cũng đấu đá như vậy, háo sự đấy!

      Công việc chúng ta đang làm hiện thời, đối với quốc gia, đối với xă hội, đối với thế giới có sự cống hiến nhất định, tuyệt đối chẳng ít hơn những việc họ làm, nhưng công việc của chúng ta thanh tịnh hơn. Việc người ta chẳng muốn làm, chúng ta sẽ làm. Những ǵ người ta muốn, thảy đều nhường cho quư vị làm; nếu quư vị chẳng làm, chúng tôi sẽ làm. Những người làm chuyện tốt ấy, bảo họ xuống tóc, xuất gia, giảng kinh, họ chẳng làm. Họ chẳng làm, tức là họ chẳng làm chuyện tốt đẹp ấy. V́ thế, phải hiểu chuyện tốt là ǵ, tiêu chuẩn của chuyện tốt cũng rất khó nhận biết rơ ràng. Chẳng có trí huệ kha khá, sẽ chẳng có cách nào phân biệt thị phi, thiện ác. Thị phi, thiện ác đều chẳng thể phân biệt, coi nhất loạt như nhau, ngay cả lợi hại cũng chẳng thể phân biệt, đó là ngu si tới tột cùng!

      Trong lời Sao có nói: “Thế nhân khởi ư ư thức, niệm niệm trục ngoại trù lượng, thị tà tư duy dă” (Người đời khởi lên ư thức, niệm niệm trù tính, suy lường theo bên ngoài; đó là tà tư duy). Liên Tŕ đại sư đă kết luận: Thức thứ sáu và thức thứ bảy khởi tác dụng là tà tư duy, chẳng phải là chánh tư duy! Tà tư duy là tà tri tà kiến, chẳng phải là trí huệ chân chánh.

 

       (Sao) Toàn kỳ ư thức, khấu kỷ nhi tham, tư chi hựu tư, tư tận hoàn nguyên, tư vô sở tư, toàn thân tức thọ, tức quang, hà luận bỉ Phật, thử Phật?

      () 識,扣 參,思 思,思 源,思 思,全 光,何 佛。

      (Sao: Xoay chuyển ư thức, quay trở lại tham cứu chính ḿnh, suy đi nghĩ lại, suy nghĩ cho đến khi hết hẳn suy nghĩ sẽ trở về nguồn, toàn thân chính là thọ, là quang, c̣n luận định Phật này, Phật kia chi nữa?)

 

      Đây là trở về tự tánh, chuyển thức thành trí, dạy chúng ta cách tu học như thế nào? “Toàn kỳ ư thức” (xoay chuyển ư thức) th́ cách xoay là như thế nào? Tham cứu như thế nào?

 

      (Diễn) Toàn kỳ ư thức giả.

       () 者。

      (Diễn: Xoay chuyển ư thức).

 

      “Toàn” () là quay đầu. Trong Phật môn thường nói “hồi đầu thị ngạn” (quay đầu sẽ là bờ). Quán Thế Âm Bồ Tát rất biết vận dụng phương pháp này. Quư vị xem Quán Thế Âm Bồ Tát Viên Thông Chương của kinh Lăng Nghiêm, sẽ thấy Ngài giảng phương pháp tu hành của Ngài.

 

      (Diễn) Vị sơ tâm nhân, vị năng cự y nghiệp thức tu hành, chỉ khả tức tựu ư thức hồi quang phản chiếu dă. Cố chư tu hành nhân vị đắc định giả, giai tán vị độc đầu ư thức vi quán Thểđắc thượng định giả, diệc thị định ư thức hiện lượng quán sát dă.

() 謂 初 心 人,未 能 遽 依 業 識 修 行,只 可 即 就 意 識 回 光 返 照 也。故 諸 修 行 人 未 得 定 者,皆 散 位 獨 頭 意 識 為 觀 體;得 上 定 者,亦 是 定 意 識 現 量 觀 察 也。

       (Diễn: Ư nói kẻ sơ tâm chẳng thể dựa ngay trên nghiệp thức để tu hành, chỉ có thể từ ngay nơi ư thức mà hồi quang phản chiếu. V́ lẽ đó, người tu hành mà chưa đắc Định đều dùng tán vị độc đầu ư thức[10] để quán Thể. Người đă đắc Định bậc thượng cũng là dùng Định hiện lượng ư thức để quán sát).

 

      Chúng ta chớ nên không biết chân tướng sự thật này, v́ lư luận này xuyên suốt tất cả các pháp môn. Chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ cũng cùng một nguyên lư như vậy. Người sơ phát tâm quyết định dùng thức thứ sáu, tức ư thức, để tu hành. Thiên Thai đại sư do kinh Pháp Hoa mà khai ngộ, sau khi đă ngộ, bèn sáng chế phương pháp tu hành Tam Chỉ Tam Quán. Phương pháp này của Ngài hết sức gần với phương pháp được giảng trong kinh Lăng Nghiêm. Thuở đó, cao tăng Ấn Độ đến núi Thiên Thai thăm viếng Trí Giả đại sư, nghe Ngài giảng pháp môn tu hành, đă bội phục năm vóc sát đất. Do kinh Lăng Nghiêm chưa truyền đến Trung Hoa, Ngài nghiễm nhiên suy nghĩ một phương pháp tương ứng với kinh Lăng Nghiêm. Tuy là giống nhau, trên thực tế, vẫn có chỗ bất đồng, bất đồng ở chỗ nào? Giao Quang đại sư đă nói rất rơ ràng: Tam Chỉ Tam Quán của ngài Thiên Thai dùng tâm ư thức để tu. Xa Ma Tha, Tam Ma Địa, Thiền Na được nói trong kinh Lăng Nghiêm dùng tự tánh để tu, chẳng dùng ư thức, đó là chỗ bất đồng. Nh́n bề ngoài, Xa Ma Tha là Chỉ, Tam Ma Địa là Quán, Thiền Na là Chỉ Quán đẳng vận (Chỉ và Quán cùng vận dụng), xác thực là giống như Tam Chỉ Tam Quán do Thiên Thai đại sư đă nói, [thật ra là] phương pháp giống nhau, nhưng dụng tâm khác nhau. Lăng Nghiêm khó, Lăng Nghiêm phải bỏ thức dùng căn, Thiên Thai dễ dàng, Thiên Thai dùng tâm ư thức, chúng ta ai nấy đều có thể tu học. Chú giải kinh Lăng Nghiêm chia làm hai phái lớn. Ngài Giao Quang là tân phái, chủ trương bỏ thức dùng căn. Ngài Trường Thủy[11] là cựu phái, chủ trương vận dụng tư tưởng của tông Thiên Thai, theo lối này, người b́nh phàm đều có thể tu học.

      Tâm ư thức khẩn yếu ở chỗ hồi quang phản chiếu, phải biết quay đầu. “Quay đầu” là chẳng hướng ra ngoài phan duyên, mà là hướng nội phan duyên. Ngoại phan duyên là duyên theo lục trần, hướng nội phan duyên là duyên theo tự tánh. Bất luận chuyện ǵ, hễ có thể quay đầu, như vậy là tốt đẹp. Người tu hành chưa đắc Định, giống như chúng ta hiện thời chưa đắc Định, ai làm chủ? Tán vị độc đầu ư thức làm chủ. Nay chúng ta nói niệm Phật cũng thế, mà tu quán tưởng cũng thế, đọc tụng kinh điển cũng như vậy, đều là dùng tâm ư thức. Quư vị đă đắc Định, người niệm Phật đắc Định được gọi là Niệm Phật tam-muội. V́ quư vị thông thường dùng tâm ư thức sẽ dần dần có thể quay đầu, có thể phản quán, cũng là đối với hết thảy cảnh giới bên ngoài, pháp thế gian lẫn Phật pháp thảy đều buông xuống. Pháp môn Tịnh Tông chỉ duyên theo một câu A Di Đà Phật, chỉ tư duy một bộ kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Di Đà cũng là kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta suy nghĩ, nghĩ nhớ trong phạm vi ấy, không chạy theo bên ngoài, dần dần sẽ đắc Định, tâm thanh tịnh.

      Thoạt tiên, quư vị đạt được cái gọi là “công phu thành phiến” trong Tịnh Tông. Công phu thành phiến chẳng phải là Định thật sự, nhưng coi như là Định, v́ công phu của quư vị có thể chế phục tâm tán loạn. Công phu như vậy chắc chắn văng sanh, đó gọi là “đới nghiệp văng sanh”, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Nếu công phu sâu hơn một tầng, thật sự đoạn Kiến Tư phiền năo, chúng chẳng c̣n khởi tác dụng, chẳng khởi hiện hành, thật sự đă đoạn, bèn chứng đắc Sự nhất tâm bất loạn. Sự nhất tâm bất loạn là Niệm Phật tam-muội thật sự. Công phu thành phiến là tương tự tam-muội, chẳng phải là thật sự, nhưng chắc chắn văng sanh. Đạt đến Sự nhất tâm, sanh về cơi Phương Tiện Hữu Dư trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng phải là cơi Phàm Thánh Đồng Cư, địa vị văng sanh đương nhiên cao. Công phu như vậy, nói thật ra, kẻ b́nh phàm chúng ta rất khó làm được!

      Nói tới công phu thành phiến, có thể nói là bất cứ ai, chỉ cần quư vị thật sự nỗ lực, thật sự chịu tu, chẳng có một ai chẳng đạt được! Điều này có nghĩa là pháp môn này “vạn người tu, vạn người đến”. Hơn nữa, trong công phu thành phiến, cũng có ba bậc chín phẩm. Trong ba phẩm thượng của công phu thành phiến, [hành nhân] biết trước lúc mất, sanh tử tự tại, điều này có tác dụng cổ vũ chúng ta rất lớn. Sanh tử tự tại th́ ta muốn đi lúc nào bèn ra đi lúc ấy, muốn ở thêm mấy năm bèn ở thêm mấy năm, tự tại! Bất cứ học vấn hay tôn giáo nào trong thế gian cũng đều chẳng làm được điều này, chỉ riêng trong Phật pháp là có thể làm được, sanh tử tự tại, thật vậy, chẳng giả! Ba phẩm trung của công phu thành phiến tuy không thể tự tại, nhưng có thể biết trước lúc mất, có thể đứng mất, ngồi mất, lúc mất chẳng bị bệnh khổ. Hễ c̣n chết trong bệnh khổ th́ phẩm vị chẳng cao cho lắm!

      Trong quá khứ, khi thầy Lư tại thế, đă có lần giảng kinh tại đại hội trường Trung Hưng, cụ công khai tuyên bố cụ sanh tử tự tại. Lúc ấy, cụ chỉ mới bảy mươi lăm tuổi. Cụ có thể làm được th́ chúng ta cũng có thể làm được, phải có ư niệm này th́ mới được. Cụ làm được, chúng ta rất hâm mộ, nhưng chúng ta làm không được, vậy là chẳng có ư nghĩa ǵ hết! Cụ có thể làm, chúng ta cũng có thể làm. Cụ bảy mươi lăm tuổi làm được th́ chúng ta sáu mươi lăm tuổi phải làm được, đó gọi là “kẻ đến sau mà ở trước”, nói chung, chẳng lọt sau người ta! Quư vị chỉ cần hiểu rơ lư luận, t́m được phương pháp, nghiêm túc tu học, chẳng có ai không thành tựu!

Phật pháp chẳng phải là đặc quyền [cho riêng một ai], mà là b́nh đẳng, ai nấy đều có thể tu thành, ai nấy đều có thể đạt được, vấn đề là quư vị có chịu tu hay không? Đó gọi là “ông tu ông đắc, bà tu bà đắc”, không tu sẽ không đắc, quyền kiểm soát vấn đề này hoàn toàn nằm trong tay của chính ḿnh. Dẫu đắc Định, vẫn là ư thức làm chủ trong Định, chẳng phải là bản tánh. Thật sự làm chủ th́ nhất định phải chuyển thức thành trí. Trong Phật pháp, Đại Thừa Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát mới chẳng dùng tâm ư thức, ĺa khỏi tâm ư thức. Thiền Tông nói đến chuyện tham Thiền, Tham là ǵ? Ĺa tâm ư thức mới là Tham. Nay chúng ta nói “nghiên cứu”, Phật pháp chẳng nói “nghiên cứu”. Nghiên cứu là dùng tâm ư thức, dùng thức thứ sáu, tức ư thức, đó là tà tư duy, chẳng phải là chánh tư duy. Ĺa khỏi tâm ư thức, sẽ là chánh tư duy, là chánh tri chánh kiến. Chánh tri chánh kiến cũng là “Phật tri Phật kiến” như kinh Pháp Hoa đă nói. Vị Phật ấy chẳng phải là Phật ở bên ngoài, mà là vị Phật của chính ḿnh, tức tự tánh Phật, tự tánh Bát Nhă lưu lộ. Đức Phật dạy chúng ta làm như vậy, chẳng phải là dạy chúng ta dựa vào tri kiến, ư tưởng của Ngài. Phật chẳng phải là như vậy, Phật dạy chúng ta khai phát chánh tri chánh kiến trong tự tánh.

 

      (Diễn) Khấu kỷ nhi tham giả, vị bất trục ngoại trù lượng, đản hướng nhất cú A Di Đà Phật thượng trước đảo, niệm niệm thể sát, niệm niệm cứu thẩm, cúc kỳ căn nguyên dă.

() 者,謂 量,但 倒,念 察,念 審,鞫 也。

(Diễn: Tham cứu chính ḿnh là chẳng trù tính, suy lường theo bên ngoài, chỉ hướng về một câu A Di Đà Phật mà nghiền ngẫm, niệm niệm nghĩ xét, niệm niệm tham cứu cặn kẽ, tra xét nguồn cội của nó).

 

      Chúng ta thường nói là trong hết thảy cảnh duyên, chẳng phân biệt, không chấp trước, chẳng khởi tâm, không động niệm, giữ ǵn tâm địa thanh tịnh, b́nh đẳng, đó là chân chánh tu hành. Đó là quay đầu, trở về tự tánh. Trong phần trước đă nói, “toàn kỳ ư thức” (xoay chuyển ư thức), chúng ta phải quay đầu như vậy. “Đản hướng nhất cú A Di Đà Phật thượng trước đảo, niệm niệm thể sát, niệm niệm cứu thẩm, cúc kỳ căn nguyên dă” (chỉ hướng về một câu A Di Đà Phật mà nghiền ngẫm, niệm niệm nghĩ xét, niệm niệm tham cứu cặn kẽ, tra xét nguồn cội của nó): Đó là nói theo phía người tu Tịnh Độ, v́ tu pháp môn Tịnh Độ là dễ dàng nhất trong tất cả các pháp môn, mà cũng là pháp môn ổn thỏa, thích đáng nhất, đắc lực nhất. Chúng ta chẳng hướng ra ngoài phan duyên, chư vị nhất định phải biết: Đọc kinh luận càng ít càng hay! Quư vị niệm nhiều chẳng có lợi ǵ! Niệm nhiều, mà nếu chẳng thể hội quy tự tánh, chắc chắn sẽ tăng trưởng tà kiến. Thanh Lương đại sư nói lời này, v́ sao? Quư vị niệm nhiều, vọng tưởng nhiều, chấp trước nhiều, phân biệt nhiều, phiền phức ở ngay chỗ này!

      Học đạo chẳng giống như cầu học. Lăo Tử đă nói: “Vi học nhật ích” (v́ sự học mà ngày càng tăng), đó là học thuật thế gian, càng học nhiều càng tốt. “Vi đạo nhật tổn”, v́ đạo, học đạo th́ trong tâm mỗi ngày phải buông xuống, mỗi ngày trừ bỏ, bỏ đến khi chẳng c̣n ǵ để bỏ, quư vị sẽ thành tựu, sẽ thành công. V́ lẽ đó, quư vị biết chuyện càng ít càng hay, những thứ quư vị đọc, xem, nghe càng ít càng hay! Hiện thời, người học đạo chẳng dễ thành tựu, là do các đồng tu học đạo biết quá nhiều chuyện, đến các chùa miếu khắp nơi, đi khắp nơi để xem kinh điển loạn xạ, xem đến nỗi một thân toàn là khuyết điểm! V́ vậy, kinh Phật có thể cứu người, mà cũng có thể hại người, hại chết quư vị mà quư vị cũng chẳng biết. Oan uổng quá! V́ vậy, bị Thích Ca Mâu Ni Phật hại chết. Thuở tôi thân cận thầy Lư, khi ấy, tôi c̣n chưa xuất gia, tôi nói: “Kinh Phật có thể hại chết người”. Các bạn học nghe nói chẳng phục, đến hỏi thầy. Thầy gật đầu: “Chẳng sai! Kinh Phật có thể hại chết người”. Họ nghe nói sững sờ! Kinh Phật giống như thuốc, thuốc trong tiệm thuốc đều là thuốc tốt lành, đều để chữa bệnh, nhưng quư vị có thể uống tùy tiện hay sao? Chắc chắn là uống vô chết ngắc, không đúng chứng bệnh mà! Kinh Phật là pháp dược, có thể đoạn dứt Pháp Thân huệ mạng của chúng ta, nên kinh Phật chẳng thể tùy tiện xem, chẳng thể tùy tiện nghe!

      Khi tôi bái cụ Lư Bỉnh Nam làm thầy, thầy đặt ra ba điều kiện. Ba điều kiện ấy là ba điều giới luật:

- Điều kiện thứ nhất, chỉ cho phép nghe cụ giảng kinh. Trừ cụ ra, bất luận kẻ nào giảng kinh cũng chẳng được phép nghe.

 - Điều kiện thứ hai, xem sách Phật hoặc sách thông thường, nếu chẳng được cụ đồng ư, chẳng được phép xem.

- Điều kiện thứ ba càng hà khắc hơn: “Những ǵ anh đă học trước đây tôi đều chẳng thừa nhận, nhất loạt bỏ đi. Nay anh đến chỗ tôi để học th́ phải học lại từ đầu!” Điều kiện này rất lợi hại, thầy nói ǵ chỉ được phép nghe theo, chẳng thể biện bác, nói “trong quá khứ, con đă xem ở đâu đó, chẳng giống như thầy nói”. Thầy bảo: “Tôi chẳng thừa nhận điều ấy, bỏ nó đi!” V́ thế, ngay cả cơ hội nói năng cũng chẳng có, chỉ đành ngoan ngoăn nghe theo.

Về sau, chúng tôi mới hiểu rơ ba điều kiện ấy, chẳng phải là thầy Lư độc đoán. Từ xưa tới nay, tổ sư đại đức truyền dạy học tṛ đều là ba điều kiện ấy, chúng ta mới hiểu sư thừa là ǵ. Thầy đoạn tuyệt tất cả hết thảy vọng tưởng, phân biệt, ư kiến của quư vị, khiến cho tâm địa quư vị thật sự khôi phục sự thanh tịnh th́ mới có thể tiếp nhận pháp môn quảng đại vi diệu rất sâu này. Về sau, tôi biết pháp sư Diễn Bồi cũng được giáo dục như vậy: Lúc Ngài làm tiểu sa-di theo lăo ḥa thượng Đế Nhàn, lăo ḥa thượng Đế Nhàn cũng đặt ra ba điều kiện ấy.

      Hiện thời, các đồng tu trong Phật môn chúng ta, rất nhiều đồng tu xuất gia, quư vị nghĩ xem, họ làm sao có thể thành tựu cho được? Chẳng thể thành tựu, v́ sao? Xem kinh quá nhiều, khi xem quá nhiều th́ vọng niệm quá nhiều, phân biệt, chấp trước quá nhiều, chẳng có cách nào nói chuyện Phật pháp với họ được. Kinh này nói như thế này, kinh kia nói như thế ấy, luôn đem [các kinh ấy] ra để tranh căi, đầy một bụng Phật pháp, nhưng trong tâm phiền năo tầng tầng, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nhiều hơn bất cứ ai. Khi chưa học Phật c̣n ít, càng học [vọng tưởng, phân biệt, chấp trước] càng nhiều, làm sao có thể thành tựu cho được? V́ thế, ba đại nguyên tắc trong Phật pháp là: “Giác chứ không mê”, kẻ ấy là mê chứ chẳng giác. “Chánh chứ không tà”, kẻ ấy là tà, chẳng chánh. “Tịnh chứ chẳng nhiễm”, kẻ ấy là nhiễm chứ không tịnh. Do đó, sự tu học của người ấy là mê, tà, nhiễm, càng mê càng sâu, càng nhiễm càng sâu, lỗi lầm đặc biệt quá lớn.

      Chư vị nhất định phải biết: Phật pháp tu ǵ? Phật pháp cầu ǵ? Cầu minh tâm kiến tánh. Người niệm Phật chúng ta cũng nhằm minh tâm kiến tánh, mục tiêu bậc nhất của người niệm Phật là nhất tâm bất loạn. Trong nhất tâm bất loạn, Sự nhất tâm bất loạn là Định, Lư nhất tâm bất loạn là Huệ, là minh tâm kiến tánh. Lư nhất tâm bất loạn hoàn toàn giống như minh tâm kiến tánh trong nhà Thiền, Giáo Hạ nói là “đại khai viên giải”. Chúng ta dùng phương pháp tuyệt diệu, một câu A Di Đà Phật khiến cho cái tâm định, khăng khăng một mực dựa vào một câu A Di Đà Phật, dựa vào một quyển kinh A Di Đà. Hiện thời, chúng tôi đề xướng hai loại chú giải kinh Di Đà, một là Sớ Sao Diễn Nghĩa, loại kia là Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư. Đối với Đại Bổn, chúng ta dựa vào kinh Vô Lượng Thọ là đủ rồi. Thật sự có thể tuân thủ trong phạm vi nhỏ nhoi này, quư vị là người bậc thượng trong loài người, là căn tánh thượng thượng, v́ sao? Quư vị khăng khăng một ḷng. Ở Trung Hoa xưa kia có một vị thiền sư, biệt hiệu là Chân Hiết Liễu, Hiết () là nghỉ ngơi, [Chân Hiết Liễu] là thật sự nghỉ ngơi. Nếu chúng ta có thể dốc trọn một ḷng niệm A Di Đà Phật, chúng ta đă thật sự nghỉ ngơi, chẳng có chuyện ǵ, chính ḿnh cũng chẳng có chuyện ǵ, thiên hạ thái b́nh, thật sự nghỉ ngơi, thanh tịnh vô vi. Đó là bí quyết nhập môn, cũng là [bí quyết] nhập môn minh tâm kiến tánh, nhập môn Lư nhất tâm bất loạn. Chẳng có công phu như vậy, chẳng có điều kiện như vậy, sẽ chẳng thể nhập môn.

      Đó gọi là “khấu kỷ nhi tham”, thứ ǵ cũng chẳng cần hỏi, tự nhiên đạt được nhất tâm bất loạn, tự nhiên minh tâm kiến tánh, tự nhiên cảm ứng đạo giao cùng A Di Đà Phật. Hôm nay đă hết thời gian rồi!

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 92 hết



[1] Thái Cực (太極) là từ ngữ để chỉ trạng thái nguyên thủy tối sơ của vũ trụ, c̣n được hiểu là thời kỳ sau lúc Âm Dương hỗn độn chưa phân (thường gọi là Vô Cực,無極), nhưng trước khi vũ trụ h́nh thành. Lưỡng Nghi là Âm và Dương, nhằm biểu thị sự đối lập trong vũ trụ, như ngày là Dương, đêm là Âm, trời là Dương, đất là Âm v.v… Tứ Tượng chính là Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương. Bát Quái là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Mỗi Quái (thường gọi nôm na là Quẻ) gồm có ba vạch nối liền hay đứt ở giữa, mỗi vạch ấy gọi là một Hào (). Có thể hiểu thô thiển là Bát Quái tượng trưng cho mối quan hệ sinh thành giữa Âm và Dương mà tạo thành tám loại h́nh thể và cấu trúc tổng quát của vạn vật trong vũ trụ. Từ đó, họ mở rộng ra và gán mọi vật trong vũ trụ đều thuộc về một trong Bát Quái. Chẳng hạn quẻ Càn tượng trưng cho trời, có tánh chất mạnh mẽ, biểu thị người cha trong gia đ́nh, là biểu trưng của loài ngựa, là cái đầu trong thân thể, là năo trong các nội tạng, thuộc về phương Nam, là Kim trong Ngũ Hành, là Thuần Dương. Quẻ Chấn là sấm, có tánh chất chấn động, là trưởng nam trong gia đ́nh, là rồng trong loài vật, là chân trong thân thể, là tim trong nội tạng, thuộc phương Đông Bắc, là Mộc trong Ngũ Hành v.v… Để dễ nhớ h́nh tượng của Bát Quái, trong sách Châu Dịch Bổn Nghĩa, Châu Hy đă viết: “Càn tam liên, Khôn lục đoạn, Chấn ngưỡng vu, Cấn phúc oản, Ly trung hư, Khảm trung măn, Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn” (Càn ba liền, Khôn sáu đứt, Chấn chén ngửa, Cấn bát úp, Ly giữa rỗng, Khảm giữa đầy, Đoài trên khuyết, Tốn dưới đứt), có nghĩa là: Quẻ Càn gồm ba vạch nối liền, Khôn là ba vạch đều đứt (nên tạo thành sáu vạch nhỏ), Chấn th́ hai vạch trên cùng đứt, vạch dưới nối liền, trông như cái chén lật ngửa, Cấn th́ vạch trên nối liền, hai vạch dưới đứt, giống như cái bát úp xuống. Quẻ Ly vạch chính giữa đứt, hai vạch trên và dưới liền. Quẻ Khảm th́ vạch chính giữa liền, vạch trên và dưới đứt. Quẻ Đoài th́ vạch trên đứt, hai vạch dưới liền. Quẻ Tốn th́ hai vạch trên đều liền, vạch dưới cùng đứt đoạn. Tam Tài là Thiên, Địa, Nhân.

[2] Chúng tôi dịch câu này theo cách diễn giải trong sách Châu Tử Ngữ Loại: Tinh Khí vi vật, thị hợp Tinh dữ Khí nhi thành vật. Tinh phách nhi Khí hồn dă. Biến tắc thị hồn phách tương ly. Tuy độc thuyết Du Hồn, nhi bất ngôn phách, nhi ly phách chi ư tự khả kiến hỹ…. Lâm An Khanh vấn ‘Tinh Khí vi vật, du hồn vi biến’, viết: Thử thị lưỡng cá hợp, nhất cá ly. Tinh Khí hợp, tắc hồn phách ngưng kết nhi vi Vật. Ly tắc Dương dĩ tán nhi Âm vô sở quy, cố vi Biến. Tinh, Âm dă. Khí, Dương dă. Nhân giả kiến chi vị chi nhân, trí giả kiến chi vị chi trí. Nhân, Dương dă. Trí, Âm dă” (tạm dịch: “Tinh Khí vi vật” là hợp Tinh và Khí thành vật. Tinh là phách, Khí là hồn. Biến là hồn và phách tách rời. Tuy chỉ nói đến Du Hồn, chẳng nói đến phách, nhưng ư nghĩa “ĺa phách” có thể tự thấy được... Lâm An Khanh hỏi về chuyện “tinh khí vi vật, du hồn vi biến”, bèn nói: “Đó là hai thứ hợp lại, một thứ tách ĺa. Tinh và Khí hợp lại, hồn phách bèn ngưng kết thành vật. Hễ ĺa th́ Dương đă phiêu tán, Âm không có chỗ nào để trở về, nên là Biến. [Trong câu] “Tinh Khí vi vật”, Tinh là Âm, Khí là Dương. Người nhân thấy là nhân, người trí thấy là trí, Nhân là Dương, Trí là Âm).

[3] Số Luận (Sāṃkhya) là một trong sáu học phái được coi là chính thống của Ấn Độ Giáo, đồng thời là một trường phái triết học xa xưa của Ấn Độ. Học phái này được coi là do Kapila lập ra. Trường phái này nhấn mạnh quan niệm nhị nguyên. Họ cho rằng vũ trụ bao gồm hai thực thể Bốc Lô Sa (Puruṣa, tinh thần tối cao, thần ngă) và Nguyên Chất (Prakriti, vật chất nguyên thủy). Từ đó phát sanh hai mươi lăm Tát Đỏa (Tattvas, chân lư).

[4] Sáu thô tướng là:

1) Trí Tướng: Chẳng thể hiểu rơ cảnh giới được hiện bởi thức chính là huyễn ảnh của tự thức, lầm lạc phát sanh “trí huệ” phân biệt các pháp. Đây là Pháp Chấp bẩm sinh.

2) Tương Tục Tướng: Do trí tướng phân biệt, đối với cảnh yêu thích, sanh cảm giác vui sướng. Đối với cảnh không yêu thích, sanh cảm giác khổ sở, dẫn khởi đủ thứ mê vọng tiếp nối chẳng ngừng.

3) Chấp Thủ Tướng: Chẳng hiểu rơ những cảnh khổ lạc v.v… là hư vọng, chẳng thật, thường duyên niệm những cảnh giới ấy, nắm níu khổ, vui, sanh tâm chấp trước.

4) Kế Danh Tự Tướng: Do những nỗi điên đảo trên đây, bèn gán ghép tên gọi cho những cảnh giới mà chính ḿnh đă chấp trước, so đo, phân biệt.

5) Khởi Nghiệp Tướng: Chấp trước tên gọi, so đo rồi dấy động các nghiệp thiện ác nơi thân khẩu ư.

6) Nghiệp Hệ Khổ Tướng: Do nghiệp thiện ác mà cảm lấy khổ quả sanh tử, chẳng được tự tại.

 

[5] Năm Tâm Sở thuộc loại biến hành là Tác Ư, Xúc, Thọ, Tưởng, Tư. Biến () có nghĩa là trọn khắp, không đâu chẳng đến, Hành () chính là tâm vận hành. Lại c̣n có bốn ư nghĩa trọn khắp: Trọn khắp hết thảy các pháp thiện ác, trọn khắp hết thảy tam giới cửu địa, trọn khắp hết thảy thời gian dài ngắn, trọn khắp hết thảy các thức.

[6] Duy Thức Luận được nói ở đây chính là bộ Thành Duy Thức Luận của ngài Huyền Trang biên soạn nhằm giải thích bộ Duy Thức Tam Thập Tụng (Triṃśikā Vijñaptimātratā) của ngài Thế Thân. Ngài Huyền Trang đă dùng tác phẩm chú giải của ngài Hộ Pháp làm luận điểm chính yếu và tổng hợp những giáo thuyết của mười đại luận sư khác để biên soạn tác phẩm này.

[7] Đây là cách gọi châm biếm người ăn mày. Do người ăn mày rách rưới quần áo vá chằng vá đụp bằng đủ thứ vải nhặt nhạnh được nên trông loang lổ, nhiều màu. Hơn nữa, họ c̣n bị ghẻ lở, hay bôi thuốc lam nham như “trổ hoa”.

[8] Nguyên văn “tha nê đới thủy” (拖泥帶水: lôi bùn, dầm nước, h́nh dung kẻ đi trên con đường lầy lội, càng sợ bẩn, càng rón rén, càng dính đẫm bùn, ướt nước), c̣n nói là “ḥa nê hợp thủy” (和泥合水: khuấy bùn vào nước), là một thuật ngữ chuyên dụng trong Phật giáo, hàm ư chẳng thể gạt sạch triền phược, chẳng thể dứt khoát dũng mănh đoạn trừ. Từ ngữ này thường được sử dụng rất phổ biến trong nhà Thiền để phê phán những kẻ do dự, chẳng quả quyết, chẳng dũng mănh gạt bỏ triền phược để đốn siêu trực nhập, hay nói cách khác là chẳng “đơn đao trực nhập”.

[9] Cụ Lư Bỉnh Nam chơi chữ. Chữ Hảo là tốt, và chữ Háo (ham chuộng) viết cùng một chữ, chỉ có giọng đọc khác nhau. “Hảo nhân hảo sự” (người tốt, việc tốt) được cụ đọc thành “hảo nhân háo sự (người tốt ham bới ra chuyện này nọ).

[10] “Độc đầu ư thức” (獨頭意識) là thuật ngữ hàm ư: Ư thức chẳng cùng sanh khởi với năm thức trước, mà là sanh khởi độc lập. Nói cách khác, khi năm căn tiếp xúc năm trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc) sanh khởi năm thức, năm thức ấy lại chuyển các h́nh bóng của tiền trần cho ư thức phân biệt, lưu giữ ấn tượng trong A Lại Da. Ư thức kiểu đó chẳng phải là độc đầu. Độc đầu ư thức chỉ duyên với pháp cảnh, tức h́nh ảnh của pháp trần. Độc đầu ư thức gồm bốn loại:

1) Mộng trung độc đầu ư thức: Khi nằm ngủ, ư thức phan duyên cảnh giới trong mộng, sanh ra ư thức. So trong tam lượng, cảnh trong mộng được xếp vào phi lượng (chẳng thuộc trong tam lượng).

2) Định trung độc đầu ư thức: Khi Thiền Định, cảnh giới trong thiền định khiến ư thức sanh khởi, loại này chỉ thuộc vào hiện lượng.

3) Tán vị độc đầu ư thức: Chẳng phải là mộng mà cũng chẳng phải là trong định, chẳng duyên theo cảnh của năm thức trước. Trong t́nh huống b́nh thường, tâm tán loạn dấy lên, ư thức rong ruổi, trước sau, xưa nay, chợt nghĩ nọ, nghĩ kia, loạn tưởng chẳng ngừng th́ gọi là tán vị độc đầu ư thức. Nói cách khác, tán vị độc dầu ư thức chính là vọng tưởng.

4) Cuồng loạn độc đầu ư thức: Khi con người điên đảo, hoặc thần kinh thác loạn, thường tự nói, tự kể, thậm chí hoa chân múa tay, nói năng lộn xộn, ư thức khi ấy được gọi là cuồng loạn độc đầu ư thức.

[11] Ngài Tú Châu Trường Thủy Tử Tuyền (965-1038), tự là Trọng Vi, hiệu Trường Thủy, là cao tăng thuộc tông Hoa Nghiêm, sống vào đời Bắc Tống, họ ngoài đời là Trịnh. Năm chín tuổi, xin xuất gia với ngài Khế Tông chùa Phổ Huệ, học tập kinh Lăng Nghiêm. Năm mười hai tuổi, thọ giới Sa Di. Trong niên hiệu Thái B́nh Hưng Quốc, ngài đến chùa Linh Quang thuộc Tú Châu, theo học kinh Lăng Nghiêm với ngài Mẫn Huệ, được ngài Mẫn Huệ phó pháp. Về sau, Sư đến tham phỏng ngài Huệ Giác núi Lang Gia, hoảng nhiên đại ngộ, xin làm thị giả. Ngài Huệ Giác thấy tông Hoa Nghiêm đă suy vi, bèn phó chúc Sư chấn hưng. Ngài bèn vâng lời lui về học Hoa Nghiêm, tham cứu sâu xa huyền chỉ. Về sau, Sư trụ tại chùa Trường Thủy, chuyên giảng Hoa Nghiêm và Lăng Nghiêm, trong đời Ngài đă giảng kinh Lăng Nghiêm hơn ba mươi lần. Năm Thiên Thánh thứ tám (1030), đại sư soạn Lăng Nghiêm Nghĩa Sớ hai mươi quyển (đây chính là bộ sách thường được gọi là Lăng Nghiêm Trường Thủy Sớ), Kim Cang Bát Nhă Kinh Toản Yếu Khoa (một quyển), Khởi Tín Luận Bút Sao Kư (hai mươi quyển). Ngài c̣n giảng Hạnh Nguyện Sao, Pháp Giới Quán, Viên Giác Kinh, Thập Lục Quán Kinh mấy chục hội. Năm Đại Trung Tường Phù nguyên niên (1013), triều đ́nh ban tặng sư áo ca-sa tía và tước hiệu Trường Thủy Sớ Chủ Lăng Nghiêm Đại Sư. Trước khi Hoa Lục rơi vào tay Mao Trạch Đông, huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang c̣n có chùa Lăng Nghiêm. Đây chính là nơi Ngài từng ở để viết chú giải kinh Lăng Nghiêm. Trong chùa có ngôi điện Vũ Hoa Đường, theo truyền thuyết, khi Ngài viết chú giải, chư thiên rải hoa cúng dường, nên ngôi điện ấy có tên như vậy. Năm 1935, Thái Hư đại sư từng giảng Lăng Nghiêm Kinh Đại Ư tại nơi này.