A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 95
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong
Tập
189
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm tám mươi chín:
(Diễn)
Hựu Pháp Thân giả, sư quỹ Pháp Tánh, hoàn dĩ Pháp
Tánh vi thân. Thử thân phi sắc chất, diệc phi tâm trí,
phi Ấm, Giới, Nhập chi sở nhiếp tŕ, cưỡng
chỉ Pháp Tánh vi Pháp Thân nhĩ.
(演) 又 法 身 者,師 軌 法 性,還 以 法 性 為 身,此 身 非 色 質,亦 非 心 智,非 陰 界 入 之 所 攝 持,強 指 法 性 為 法 身 耳。
(Diễn: Lại nữa,
Pháp Thân noi theo Pháp Tánh, lại c̣n lấy Pháp Tánh làm thân. Thân ấy
chẳng phải là sắc chất, cũng chẳng phải
là tâm trí, chẳng bị nhiếp tŕ bởi Ấm, Giới,
Nhập, cưỡng gọi Pháp Tánh là Pháp Thân mà thôi).
Pháp
Hoa Kinh Thọ Lượng Phẩm Sớ (lời Sớ cho
phẩm Thọ Lượng của kinh Pháp Hoa) chép: “Thọ giả thọ dă, nhược
Pháp Thân, Chân Như bất cách chư pháp, cố danh vi Thọ”
(Thọ mạng là Thọ (lănh chịu). Nếu là Pháp Thân,
do Chân Như chẳng cách ngăn các pháp, nên gọi là Thọ
(lănh chịu)), giải thích Pháp Thân là ǵ. Sách Diễn
Nghĩa đă giảng rất rơ ràng, văn tự vắn tắt,
ư nghĩa trọn đủ, dễ nhớ. “Sư quỹ Pháp Tánh”: Pháp Thân là Pháp Tánh. Pháp Tánh chẳng
phải là vật chất, nên nó chẳng phải là sắc
pháp, mà cũng chẳng phải là tâm trí, cho nên cũng chẳng
phải là tâm pháp, nhưng hết thảy sắc pháp và tâm
pháp đều do nó biến hiện. Triết học cận
đại gọi nó là “bản thể của vạn hữu
trong vũ trụ”; trong Phật pháp, nó được gọi
là Pháp Thân. “Sư quỹ Pháp
Tánh”, “sư” (師) có nghĩa là sư pháp (師法: tuân theo, vâng theo),
tuân theo pháp. “Quỹ” (軌) là quỹ tắc (軌則: đường
lối, khuôn khổ), giống như xe lửa chạy trên
đường rầy. Pháp Tánh là thể tánh của hết
thảy các pháp, chúng ta gọi nó là Pháp Tánh, nó cũng là bản
thể của hết thảy các pháp. Chúng ta gọi Pháp Tánh
là thân, thân ấy chẳng phải là thân thể của chúng
ta, mà là thân của vạn pháp trong toàn thể vũ trụ;
thân ấy được gọi là Pháp Thân.
“Thử thân phi sắc chất, diệc
phi tâm trí” (thân ấy chẳng phải là sắc chất,
mà cũng chẳng phải là tâm trí). Pháp Thân chẳng phải
là sắc pháp, mà cũng chẳng phải là tâm pháp. Đức
Phật nói đến sắc và tâm, thường triển
khai tỉ mỉ thành Ngũ Ấm, Thập Nhị Xứ,
Thập Bát Giới, kinh Lăng Nghiêm nói rất cặn kẽ.
Pháp Thân có phải là những thứ ấy hay không? Chẳng
phải! Thảy đều chẳng phải! Pháp Thân
cũng chẳng rời ĺa những thứ ấy, v́ hết
thảy các pháp đều do Pháp Tánh biến hiện, nơi
hữu t́nh chúng sanh, chúng ta gọi nó là Phật Tánh, nơi
vô t́nh chúng sanh th́ gọi là Pháp Tánh. Chư vị phải biết:
Pháp Tánh có phạm vi bao quát c̣n lớn hơn Phật Tánh. Nói
thật ra, chúng là một tánh, chẳng phải là hai tánh. Hiểu
đạo lư này, chúng ta mới chẳng hoài nghi câu “t́nh và vô t́nh, cùng viên thành Chủng
Trí” trong kinh Hoa Nghiêm, v́ tất cả vạn pháp đều
sanh từ cùng một căn nguyên.
“Cưỡng chỉ”, “cưỡng” (強) là miễn cưỡng. Trên thực tế, chỉ
có thể hiểu ư, chẳng thể diễn tả bằng
ngôn ngữ. V́ thế, nói đến chỗ này, “ngôn ngữ dứt bặt, tâm
hành xứ diệt”. Không chỉ là nói chẳng được,
mà ngay cả nghĩ tưởng cũng chẳng thể
nghĩ tưởng được! Hễ nghĩ tưởng
bèn rơi vào tâm trí, hễ nói năng sẽ rớt vào sắc
chất. Nó có thật, chẳng phải là không có, thật sự
tồn tại. Tuy tồn tại, lục căn của
chúng ta chẳng có cách nào tiếp xúc. Nói thật ra, chẳng
phải là lục căn không thể tiếp xúc! Nếu bảo
là lục căn không thể tiếp xúc, cớ sao Phật
và đại Bồ Tát có thể tiếp xúc? Có thể thấy
bọn phàm phu chúng ta sở dĩ chẳng thể tiếp
xúc là v́ c̣n có chướng ngại trong ấy. Chướng
ngại ǵ vậy? Chướng ngại rất nhiều,
trong kinh, đức Phật đă quy nạp khá nhiều thứ
chướng ngại ấy thành hai loại lớn: Một
loại lớn là Phiền Năo Chướng, loại lớn
kia là Sở Tri Chướng. Chỉ cần hai thứ
chướng ngại này tồn tại, sẽ chẳng có
cách nào thấy Pháp Thân.
Thấy
Pháp Thân th́ mới coi như t́m được chính ḿnh, tức
là cái được Thiền gia gọi là “diện mạo vốn có trước khi được
cha mẹ sanh ra” (phụ mẫu vị sanh tiền bản
lai diện mục), coi như quư vị đă t́m được
chính ḿnh. Chẳng thấy Pháp Thân, nói thật ra là mê mất
chính ḿnh, chính ḿnh ở đâu chẳng biết! Do vậy có
thể biết, chuyện này hết sức trọng yếu,
chúng ta học Phật nhằm mục đích nào? Mong t́m
được Pháp Thân, Thiền Tông nói là “minh tâm kiến tánh”, kiến tánh đă t́m
được [Pháp Thân]. Tánh là ǵ? Tánh là Pháp Tánh, là Pháp Thân,
đă t́m được nó. Phải như thế nào th́ mới
kiến tánh? Phải minh tâm. Nay cái tâm của chúng ta chẳng
minh, tâm một mực hồ đồ. Do đó, phải thực
hiện “công tác” minh tâm!
Phải
làm sao th́ tâm mới minh? Vậy th́ trước hết quư vị
trước phải tự hỏi: V́ sao tâm chẳng minh?
Trong tâm có vọng niệm sẽ chẳng minh, có phân biệt
sẽ không minh, có vọng tưởng sẽ không minh, có phiền
năo, có chấp trước sẽ không minh. Những thứ ấy
điều nào chúng ta cũng có đầy đủ; v́ thế,
tâm chẳng minh, chẳng thấy Pháp Tánh! Mê mất chính
ḿnh, do mê nên mới có lục đạo luân hồi. Lục
đạo luân hồi do ai tạo ra? Mê tạo ra! Chính ḿnh mê,
chính ḿnh tạo, chính ḿnh hứng chịu, quư vị thấy
oan uổng quá đi! Trong kinh, đức Phật thường
cảm thán: “Kẻ đáng thương xót”, rất đáng
thương! Tự làm, tự chịu. Có những thứ ấy
hay chăng? Thưa cùng chư vị, thật sự chẳng
có, lục đạo cũng chẳng có, luân hồi cũng
chẳng có. Tuy chẳng có, nhưng chính quư vị khăng
khăng tạo ra cho có, giống như nằm mộng, mộng
là thật hay giả? Thật sự chẳng có! [Đă là]
thật sự chẳng có, mà quư vị cứ khăng
khăng muốn nằm mộng, mỗi ngày gặp ác mộng,
mỗi ngày sợ đến nỗi toàn thân mướt mồ
hôi lạnh, do đâu mà khổ sở thế? Do mê mất
chính ḿnh nên mới có hiện tượng này.
Cảnh
giới Lư nhất tâm bất loạn được nói
trong Tịnh Độ Tông chẳng hai, chẳng khác [cảnh
giới] “minh tâm kiến tánh, kiến
tánh thành Phật” trong nhà Thiền. Chư vị phải
biết: So sánh giữa Thiền và Tịnh, Thiền khó
khăn! Thiền nếu không thấy tánh, chẳng có thành tựu.
Nói cách khác, luống uổng một đời! Dẫu
đắc Thiền Định, sanh lên Sắc Giới Thiên
hoặc Vô Sắc Giới Thiên, khi thọ mạng đă hết,
vẫn phải đọa lạc. V́ vậy, chẳng thể
coi là thành tựu, vẫn phải luân hồi trong lục
đạo y như cũ. Nhưng muốn do Thiền mà kiến
tánh, có mấy ai [tu thành công]? Nếu chúng ta đọc lịch
sử Thiền Tông, từ xưa tới nay, có mấy ai
khai ngộ kiến tánh do Thiền? Chưa được một
phần vạn! Trong một vạn người, khó có
được một kẻ thành tựu. Đó là trong quá
khứ, cận đại th́ chỉ sợ trong mười
vạn người hoặc trăm vạn người, chẳng
t́m được một ai! V́ sao? Tâm họ chẳng
tĩnh được. Xă hội hiện thời có sức
dụ dỗ, mê hoặc quá lớn, dụ dỗ, mê hoặc
quá nhiều, quá phức tạp. Xă hội xưa kia
đơn thuần mà thành tựu c̣n ít ỏi ngần ấy,
huống hồ hiện thời!
Pháp
môn Tịnh Độ Tông, vạn người tu vạn
người đến, một vạn
người tu, một vạn người thành công. Thiền
là một vạn người tu, khó có một kẻ
thành công, quư vị vẫn hành pháp ấy hay sao? Phải hiểu
rơ chân tướng sự thật, biết pháp môn ấy
không thể theo! Chẳng phải là pháp môn không hay, mà là do
nghiệp chướng của chính ḿnh quá nặng, chẳng
thể hành trót lọt! Pháp môn này (Tịnh Độ) là
đới nghiệp văng sanh; v́ thế, hành trót lọt, chẳng
cần đoạn phiền năo. Tuy chẳng đoạn phiền
năo, nhưng chư vị phải biết: Ắt phải do
một câu Phật hiệu khuất phục phiền năo th́
mới có thể văng sanh. Khuất phục phiền năo dễ
hơn đoạn phiền năo quá nhiều. Chúng ta suy
nghĩ [sẽ thấy chính ḿnh] chẳng có năng lực
đoạn phiền năo, nhưng chế phục phiền
năo th́ vẫn có thể làm được! Phải quư trọng
pháp môn này, đến Tây Phương Cực Lạc thế
giới bèn thành tựu Lư nhất tâm bất loạn, đó
là chứng Pháp Thân.
Chiếu
theo cách nói trong kinh Vô Lượng Thọ, pháp môn này thật
sự là pháp khó tin. Không văng sanh th́ thôi, chẳng bàn tới nữa,
chứ văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
dẫu là hạ hạ phẩm văng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng
Cư, kinh đă dạy rơ ràng: Bốn mươi tám nguyện
chẳng giả, đức Phật nói người sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới đều chứng
đắc A Bệ Bạt Trí. A Bệ Bạt Trí là cảnh
giới ǵ? Cảnh giới của bậc Thất Địa
Bồ Tát trong Đại Thừa Viên Giáo, tuyệt diệu
thay! Sơ Trụ đă minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành
Phật. Từ Sơ Trụ đạt đến Thất
Địa, chẳng thể nghĩ bàn! Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, ba mươi địa
vị ấy, lại thêm Thất Địa, tức là
đă vượt trỗi ba mươi bảy địa vị,
làm sao có thể khiến cho kẻ khác tin tưởng cho
được! Do vậy, pháp môn này được gọi
là pháp khó tin. Không chỉ là phàm nhân khó tin, mà khá nhiều bậc
Đại Thừa Bồ Tát cũng chẳng thể tin
tưởng.
Kinh
cũng nói rất hay: Nếu pháp môn này chẳng được
Phật lực gia tŕ, tuyệt đối chẳng phải
là chúng sanh trong chín pháp giới có thể cậy vào năng lực
của chính ḿnh để liễu giải! Chín pháp giới
bao gồm cả Bồ Tát, trong hàng Bồ Tát bao gồm
Đẳng Giác Bồ Tát. Nếu Đẳng Giác Bồ Tát
chẳng được Phật lực gia tŕ, cũng chẳng
hiểu rơ Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Nay chúng ta có thể tin tưởng, có thể phát nguyện,
đều là do Phật lực gia tŕ. Chẳng do Phật lực
gia tŕ, ngay cả Đẳng Giác Bồ Tát cũng không [tin
pháp môn này], chúng ta là hạng phàm phu lè tè sát đất làm sao
có thể tin tưởng cho được? Do đó, ngày
nay có khá nhiều người chẳng thể tiếp nhận,
chẳng thể tin tưởng pháp môn này, quư vị ngàn vạn
phần đừng hoài nghi, đừng nên chê trách. Chúng ta
có thể tin tưởng tức là rất may mắn,
chướng ngại ít hơn một chút, được
Phật gia tŕ; những kẻ chẳng thể tiếp nhận,
nghiệp chướng nặng nề, Phật lực có muốn
gia tŕ họ cũng chẳng thể gia tŕ được,
do có chướng ngại trong ấy.
(Diễn)
Chân như bất cách giả, dĩ nhất thiết pháp tất
giai chân cố, nhất thiết pháp giai đồng như cố.
(演) 真 如 不 隔 者,以 一 切 法 悉 皆 真 故,一 切 法 皆 同 如 故。
(Diễn: Chân Như
chẳng ngăn cách: Do hết thảy các pháp đều thật,
hết thảy các pháp đều Như).
Hai
câu này có ư nghĩa quá sâu. Bậc Viên Giáo Sơ Trụ trở
lên thấy Pháp Tánh, chúng ta chẳng thấy, là do đạo
lư “Chân Như bất cách”.
Chân Như chẳng có chướng ngại, đó gọi là
“Lư Sự vô ngại, Sự Sự
vô ngại”. Thế gian này đích xác là chẳng có chướng
ngại, chướng ngại do đâu mà có? Do mê mà có. Mê là
phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, phiền
năo, do có những thứ ấy nên có chướng ngại.
Chẳng có những thứ ấy, tất cả chướng
ngại đều chẳng có. V́ Chân Như chẳng
ngăn cách, nên không có một pháp nào chẳng Chân, chẳng
có pháp nào không Như! “Chân” là
nói tới bản thể của Pháp Tánh, tức tánh thể;
Như là nói tới tác dụng của Pháp Tánh. Nó chẳng có
tướng, mà nó có thể biến hiện hết thảy
tướng. Nó chẳng phải là sắc pháp, mà có thể biến hiện sắc pháp. Nó chẳng
phải là tâm pháp, mà có thể biến hiện tâm trí. Sắc
và tâm đều do nó biến. V́ thế, sắc và tâm
đều giống hệt như nhau!
Vừa mở kinh
điển Đại Thừa ra, câu đầu tiên là
Như Thị Ngă Văn. Như Thị được giải
thích như thế nào? Chính là “Chân
Như bất cách” như đang nói ở đây. Hết
thảy các pháp đều Chân, hết thảy các pháp đều
Như. Như Thị có ư nghĩa như vậy đó. Hai chữ
Như Thị đă nói trọn vẹn tất cả Phật
pháp. Một bộ Đại Tạng Kinh ngàn vạn ngôn từ
đều nhằm chú giải hai chữ Như Thị mà
thôi! Quư vị hiểu hai chữ ấy, có c̣n phải xem
Đại Tạng Kinh nữa hay không? Chẳng cần! Do
đó, chư vị thật sự ngộ nhập, đă hiểu,
khi ấy, có thể vỗ tay cười to ha hả, những
ǵ đức Thích Ca Mâu Ni Phật đă giảng trong suốt
bốn mươi chín năm là một đống to đùng
lời lẽ thừa thăi! Đại Tạng Kinh là giấy
lộn, rác rưởi! Ai cần nó? Người mê mới
cần! Người đă ngộ chẳng cần tới.
Kẻ miệt mài trong đống giấy cũ, suốt một
đời vẫn chẳng thể khai ngộ. Học Phật,
Phật bảo quư vị khai ngộ, chẳng phải là bảo
quư vị miệt mài trong đống giấy cũ, chẳng
bảo quư vị đọc rất nhiều kinh. Chớ nên
hiểu lầm, hăy ngộ ǵ? Ngộ Pháp Tánh, Pháp Tánh mới
là căn bản, mới là diện mạo chính ḿnh vốn sẵn
có, điều này là trọng yếu! Ba thân lấy Pháp Thân
làm căn bản. Ai nấy đều trọn đủ
Pháp Thân. Nếu quư vị chẳng có Pháp Thân, cái thân này do
đâu biến hiện? Cảnh giới trước mắt
chúng ta do đâu biến hiện? Toàn là do Pháp Thân biến hiện.
V́ thế, Pháp Thân ai nấy đều trọn đủ,
chẳng ai không có, lại c̣n chắc chắn là b́nh đẳng,
Pháp Thân là b́nh đẳng.
Tựa
đề Đại Kinh đă phô bày [rơ rệt]: Pháp Thân Lư
thể là Vô Lượng Thọ, thật sự vô lượng,
chẳng phải là “hữu
lượng chi vô lượng”, mà là thật sự vô lượng,
tức là vô lượng thọ. Tướng Pháp Thân là Trang
Nghiêm, tác dụng của Pháp Thân là Thanh Tịnh B́nh Đẳng
Giác. Chúng ta tu hành, tu những ǵ? Tu thanh tịnh, tu b́nh đẳng,
tu giác chứ không mê, quả là trang nghiêm, là vô lượng
thọ, quư vị thảy đều đạt được.
Trang Nghiêm là Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. Vô
Lượng Thọ là Chân Như biến hiện hết thảy
các pháp, pháp nào cũng đều Như, pháp nào cũng đều
thật.
Người
biết học nắm vững cương lănh, nắm những
thứ này để học, chẳng cần phải học
những thứ cành lá! V́ sao nhập môn bèn bảo quư vị
dùng đọc kinh để nhập môn? Đọc kinh nhằm
tu tâm thanh tịnh, tu tâm b́nh đẳng, tu giác tâm, tu những
điều ấy. Quư vị niệm kinh này một lần,
tâm quư vị bèn thanh tịnh một lần. Mỗi lần
là hai tiếng đồng hồ, quư vị tu tâm thanh tịnh
hai tiếng đồng hồ. Niệm một tiếng
đồng hồ là quư vị tu tâm thanh tịnh một tiếng
đồng hồ. Do đó, niệm kinh chẳng cần
mong hiểu nghĩa, hiểu nghĩa chính là suy nghĩ loạn
xạ. Kinh chẳng có ư nghĩa, quư vị cứ khăng
khăng t́m ṭi ư nghĩa trong ấy, chẳng phải là hỏng
bét ư! Nó vừa chẳng phải là sắc pháp, mà cũng
chẳng phải là tâm trí, há có ư nghĩa ǵ? Chẳng có ư
nghĩa, cứ khăng khăng t́m ư nghĩa trong ấy,
đó gọi là “dấy vọng
tưởng, chẳng thật thà”, quư vị vĩnh viễn
chẳng t́m thấy thanh tịnh Pháp Thân! Điều này vô
cùng khẩn yếu. Lại xem đến Báo Thân, Báo Thân là
Pháp Thân hiện tướng, là Pháp Thân khởi tác dụng.
Báo Thân là tác dụng của Pháp Thân.
(Diễn)
Hựu Báo Thân giả, tu hành sở cảm.
(演) 又 報 身 者,修 行 所 感。
(Diễn:
Lại nữa Báo Thân là do tu hành cảm vời).
Báo
Thân là trí huệ, là tâm trí, [tức là] trí huệ.
(Diễn)
Pháp Hoa vân: “Huệ quang chiếu vô lượng, cửu tu
nghiệp sở đắc”.
(演) 法 華 云:慧 光 照 無 量,久 修 業 所 得。
(Diễn:
Kinh Pháp Hoa chép: “Huệ quang chiếu vô lượng, nghiệp
tu lâu đạt thành”).
Đối
với hai câu này, tôi nghĩ chẳng có chữ nào là khó,
đều nhận ra, mà cũng có thể niệm được,
nhưng có thể thấu hiểu ư nghĩa hay không? Nếu
quư vị thật sự lănh hội, chắc chắc sẽ
thành tựu trong một đời này. Kinh chẳng cần
nhiều, một câu hoặc hai câu là đủ dùng rồi,
thọ dụng suốt một đời này chẳng hết.
Trong đây, điều quan trọng nhất là phải Chiếu,
kế đó là “tu lâu”, đó
là những chữ then chốt trong câu này. Như nhà Thiền
đă nói, mọi người thường niệm Tâm Kinh,
[trong ấy có câu] “chiếu kiến
Ngũ Uẩn giai không”. Cương lănh tu học trong nhà
Thiền không chỉ thích hợp với Thiền Tông. Hễ
nói tới cương lănh th́ Đại Thừa lẫn Tiểu
Thừa đều thích hợp. Trong phương pháp tu hành,
bước đầu là sử dụng
Quán Chiếu. Quán chiếu lâu ngày sẽ định, tức
là Chiếu Trụ. Chiếu Trụ là đắc Định.
Trong Định lại khai trí huệ, trí huệ vừa
khai liền Chiếu Kiến. Trong ba bậc công phu ấy, tầng
thứ nhất là Quán Chiếu, tầng thứ hai là Chiếu
Trụ, tầng thứ ba là Chiếu Kiến, Tâm Kinh là Chiếu
Kiến.
Đem
phối hợp với Tịnh Độ, chúng ta gọi
Quán Chiếu là công phu thành phiến. Ví như nay chúng ta dùng
phương pháp niệm kinh Vô Lượng Thọ, đích
xác là một phương pháp tốt đẹp. Ta mỗi
ngày niệm ba lượt hoặc năm lượt, đó
là tu Quán Chiếu. Tịnh Độ Tông nói là “chế phục phiền năo”. Ta
dùng phương pháp này để chế phục phiền
năo. Chế phục lâu ngày, phiền năo chẳng c̣n nữa,
đoạn mất. Phiền năo đoạn mất sẽ
là Sự nhất tâm bất loạn. Thiền Tông gọi Sự
nhất tâm bất loạn là Chiếu Trụ, Tịnh Độ
Tông gọi là Niệm Phật Tam Muội. Công phu lại
tăng cao hơn bèn chứng Lư nhất tâm bất loạn.
Lư nhất tâm bất loạn là Chiếu Kiến, là thấy
bản tánh. Do vậy có thể biết: Sự nhất tâm
chỉ đắc Định, chẳng khai huệ; Lư nhất
tâm bèn khai trí huệ, là bậc Viên Giáo Sơ Trụ Bồ
Tát trở lên. Nói theo Lục Tức Phật của tông Thiên
Thai, Pháp Thân là Lư Tức Phật, tức là Lư Thể ai nấy
đều có. Công phu thành phiến là Quán Hạnh Tức Phật,
Quán Chiếu như Thiền gia đă nói chính là Quán Hạnh
Tức Phật. Chiếu Trụ là Sự nhất tâm bất
loạn, là Tương Tự Tức Phật. Tương Tự
nghĩa là rất giống Phật, nhưng vẫn chưa
phải là Chân Phật, mà là Tương Tự Phật.
Đạt đến Chiếu Kiến bèn là Lư nhất tâm bất
loạn, là Phần Chứng Tức Phật. Đó là thật,
chẳng giả, nhập địa vị Phần Chứng.
V́ lẽ đó, Báo Thân là từ Sơ Trụ trở lên,
cũng là cảnh giới “chiếu
kiến Ngũ Uẩn giai Không” như Tâm Kinh đă nói,
chính là cảnh giới Lư nhất tâm bất loạn trong Tịnh
Độ Tông.
V́ vậy,
cương lănh trọng yếu trong tu hành là phải quán chiếu,
phải là huệ quang chiếu vô lượng. Huệ quang
trong Tịnh Tông là tụng kinh, tŕ danh. Một tiếng Phật
hiệu là một tiếng vô lượng quang minh, từng
tiếng Phật hiệu là từng tiếng vô lượng
quang. Quư vị niệm kinh hay niệm Phật là vô lượng
quang, vô lượng thọ, không ngừng chiếu. Nay chúng
ta cũng niệm kinh, cũng niệm Phật, v́ sao chẳng
có hiệu quả? Quư vị chẳng tu đă lâu! Lâu là lâu cỡ
nào? Tôi nói cho quư vị biết: Ba tháng! Quư vị có chịu
làm hay không? Ba tháng mà quư vị cũng chẳng chịu làm,
c̣n nói chi nữa! Phải tŕ thường hằng th́ quư vị
mới có thể thành công. Tuyệt đối chẳng phải
là tu đôi ba ngày bèn có hiệu quả, chẳng hề có
chuyện đó! Tôi dạy quư vị một phương
pháp, mỗi ngày niệm kinh Vô Lượng Thọ một
lượt, hoặc hai lượt, ba lượt, mỗi
ngày [đều niệm như thế] chẳng gián đoạn;
sau ba tháng quư vị sẽ có cảm nhận, tâm sẽ thanh
tịnh, phiền năo ít đi, trí huệ tăng trưởng,
đó chính là hiệu quả. Quư vị niệm càng nhiều,
sức mạnh càng lớn. Người thật sự niệm
suốt ba tháng, bèn có tín tâm, v́ sao? Đă nếm được
pháp vị, bèn có thể sanh tâm hoan hỷ. Niệm nửa
năm, tâm sẽ kiên cố, chẳng bị dao động.
Các pháp môn khác dụ dỗ, mê hoặc, người ấy
chẳng dễ dàng bị dao động. V́ sao? Người
ấy đă dần dần đặt vững căn cội
nơi ấy, đă nếm được công đức lợi
ích. Nay chúng ta c̣n bị cảnh giới bên ngoài dao động,
vẫn c̣n nghĩ Đông tưởng Tây, tức là ngay cả
căn c̣n chẳng có, thật sự chẳng có hai chữ
“tu lâu”! Ba tháng công phu mà chúng ta cũng chẳng có, nói ǵ
được nữa!
Đối
với các bậc cổ đức, chư vị đọc
ngữ lục của Thiền Tông, hoặc đọc Cao
Tăng Truyện, Nho lẫn Phật đều nói tới
sư thừa, học theo một vị thầy, thầy dạy
những ǵ? Từ truyện kư hoặc lịch sử, chúng
ta chẳng thấy thầy giảng kinh, thuyết pháp cho học
tṛ mỗi ngày. Gương điển h́nh nhất
[được ghi chép trong] Lục Tổ Đàn Kinh. Lục
Tổ ở núi Hoàng Mai, Ngũ Tổ dạy Ngài những
ǵ? Ngày đầu tiên gặp mặt, nói mấy câu, liền
sai Ngài đến làm việc trong xưởng xay xát, đó
là truyền pháp, có mấy ai biết? Làm lụng nhọc nhằn
tám tháng, Ngũ Tổ biết Ngài đă thành tựu, bèn nửa
đêm canh ba t́m Ngài truyền y bát cho. Suốt tám tháng Lục
Tổ chẳng bước vào Thiền đường, chẳng
nghe Ngũ Tổ thuyết pháp, đó gọi là truyền
tâm! Làm việc là tu phước, trong khi làm lụng chẳng
có một vọng tưởng nào, một niệm chẳng
sanh, Định lẫn Huệ đều thành tựu. V́ thế,
Lục Tổ ở Hoàng Mai tám tháng là phước huệ
song tu! [Sau khi đă tu viên măn bèn] rời khỏi sư phụ,
ra đi!
Sư
phụ dạy đồ đệ, trao cho quư vị một
bản kinh, trao cho quư vị kinh Pháp Hoa hoặc kinh Lăng
Nghiêm, mỗi ngày niệm một lần, niệm suốt
năm năm. Niệm xong năm năm mới lại đến
gặp ta, ta sẽ truyền pháp cho ngươi. Niệm
xong năm năm, hướng về sư phụ thỉnh
pháp, sư phụ bảo: “Pháp
tại nhữ biên” (pháp ở ngay nơi ngươi),
ngay lập tức đạt được! V́ sao? Trong
năm năm ấy, Định và Huệ đă thành tựu
viên măn. Đó là vị thầy Căn Bản, sau đấy
mới ra ngoài tham học, tham học nhằm thành tựu Hậu
Đắc Trí. Thành tựu Căn Bản Trí từ tay thầy, Căn Bản Trí là Bát Nhă
vô tri. Do đó, đối với sư thừa, thầy dạy
quư vị vô tri, chẳng nhằm dạy quư vị hữu
tri! Dạy quư vị hữu tri là hỏng rồi! Dạy
quư vị đắc tâm thanh tịnh như thế nào, trong
tâm thanh tịnh tự nhiên sanh ra trí huệ. Nếu quư vị
chẳng nghe lời thầy, vẫn lén lút mong học điều
này, học điều nọ, thôi rồi. Thầy thấy
vậy: “Đứa học tṛ này hết cách, đă hết
cách th́ cũng chẳng thể miễn cưỡng!” Trong Phật
pháp, nhất định chẳng thể miễn cưỡng
một ai! Nghe lời th́ quư vị sẽ tự nhiên đạt
thành tựu; chẳng nghe lời, chẳng thể thành tựu.
Thầy thật sự dạy, thật sự dạy những
ǵ? Thứ ǵ cũng không dạy! Điều ǵ cũng không
dạy là thật sự dạy! Mầu nhiệm ở chỗ
này! Phật pháp hoàn toàn khác pháp thế gian, hy vọng mọi
người hăy thường thấu hiểu, đó là pháp vị.
“Cửu tu nghiệp sở
đắc” (là điều đạt được do
hạnh nghiệp tu tŕ đă lâu), một pháp môn!
Trong
các buổi giảng, chúng tôi thường kể với
chư vị: Đồ đệ của lăo ḥa thượng
Đế Nhàn niệm một câu A Di Đà Phật, niệm
ba năm bèn đứng văng sanh. Sau khi đă văng sanh, vẫn
đứng sững ba ngày, chờ sư phụ đến
lo liệu hậu sự cho chính ḿnh. Ông ta chỉ có một
câu A Di Đà Phật. Quư vị thấy lăo ḥa thượng
dạy ông ta đơn giản lắm: “Ông cứ thật thà niệm. Niệm mệt bèn nghỉ
ngơi. Nghỉ khỏe khoắn xong bèn niệm tiếp”.
Ông ta thật sự nghe lời, niệm ba năm, do nghiệp
tu đă lâu bèn đạt được, niệm đến
mức nhất tâm bất loạn! Biết trước lúc
mất, chẳng ngă bệnh, trước ngày văng sanh, c̣n
đến gặp thân thích, bằng hữu để từ
biệt, ngày hôm sau tự tại ra đi. Nếu ông ta chẳng
thật thà, c̣n muốn xem kinh này, vừa muốn theo đuổi
kinh sám, vừa muốn làm pháp hội, vừa muốn giao tế,
thù tạc, thôi rồi, ba mươi năm cũng chẳng
thể thành tựu! Vị thầy ấy mới đúng là
ân sư! Lăo pháp sư Đế Nhàn đưa ông ta đến
một ngôi chùa nhỏ tại vùng quê, trước nay chẳng
gặp ông ta một lần! Sau khi đưa ông ta đến
đó ba năm, lại đến lo liệu hậu sự,
Ngài là vị thầy chân chánh. Há có phải là thầy suốt
ngày từ sáng đến tối trông chừng, đó là thầy
kiểu ǵ vậy! Nh́n vào các tấm gương sư thừa
xưa nay, hăy nên lănh ngộ, nhất định phải là
phước huệ song tu. V́ lẽ đó, hai câu kinh Pháp Hoa
này rất hay! Phải học!
(Diễn) Niết
Bàn vân: Đại Bát Niết Bàn tu đạo đắc cố.
(演) 涅 槃 云:大 般 涅 槃 修 道 得 故。
(Diễn: Kinh Niết
Bàn nói: “Đại Bát Niết Bàn là do tu đạo mà đắc”).
Niết
Bàn (Nirvāṇa) là tiếng Phạn,
dịch sang nghĩa tiếng Hán là Diệt, [hàm ư] diệt
phiền năo, diệt vọng tưởng, diệt sanh tử,
những thứ ấy đều diệt th́ gọi là Niết
Bàn. Niết Bàn c̣n dịch là Viên Tịch, Viên (圓) là viên măn, Tịch (寂) là thanh tịnh tịch
diệt. Người hiện thời lầm lạc, ngỡ
chết là Niết Bàn. Nếu chết là Niết Bàn, th́ Niết
Bàn có c̣n phải tu nữa không? Chẳng cần phải tu,
nhất định phải hiểu điều này! Đấy
là lầm lẫn quá đỗi! Chư vị phải hiểu:
Niết Bàn là chứng đắc ngay trong khi c̣n sống, chẳng
phải là chết rồi mới chứng đắc. Đại
Bát Niết Bàn (Mahāparinirvāṇa): Đại là
Đại Thừa. Tiểu Thừa bát Niết Bàn, chỉ
diệt Kiến Tư phiền năo, hăy c̣n có Trần Sa và Vô
Minh mà họ chẳng biết. Đại Bát Niết Bàn là
Trần Sa phiền năo và Vô Minh phiền năo thảy đều
diệt hết, là do “tu đạo
đắc cố” (do tu đạo mà đạt
được). Đại Bát Niết Bàn là do tu đạo
th́ mới có thể đạt đến. Đại Bát Niết
Bàn là Pháp Tánh, là Pháp Thân được nói trong phần
trước, nhất định phải tu đạo th́ mới
có thể đạt đến.
(Diễn)
Thử thân phi thân, phi bất thân, cưỡng danh thử
trí vi Báo Thân nhĩ.
(演) 此 身 非 身 非 不 身,強 名 此 智 為 報 身 耳。
(Diễn: Thân này chẳng
phải là thân, chẳng phải là không phải thân, cưỡng
gọi trí ấy là Báo Thân mà thôi).
Chẳng
thể nói Báo Thân là thân, mà cũng chẳng thể nói nó không
phải là thân. Quư vị nói nó chẳng phải là thân ư?
Thân tồn tại. Quư vị bảo nó là thân ư? Thân này chẳng
phải là Báo Thân. Tuy thân này chẳng phải là Báo Thân,
nhưng nó là chỗ nương vào của Báo Thân. Báo Thân là
trí huệ, tức là đối với vũ trụ, đối
với nhân sinh, đối với hoàn cảnh, đối với
chính ḿnh, đều triệt để nhận biết, triệt
để hiểu rơ, nương tựa vào cái thân này, “phi thân, phi bất thân” (chẳng
phải là thân, chẳng phải là không phải thân). Chư vị nhất định
phải biết: Báo Thân là nói theo phương diện trí huệ,
trí huệ là nói theo sự ngộ nhập Pháp Tánh. V́ lẽ
đó, hàng Bồ Tát b́nh phàm chẳng có Báo Thân. Từ Viên
Giáo Sơ Trụ trở lên mới có Báo Thân. Nói cách khác, chẳng
kiến tánh, thân này chẳng gọi là Báo Thân. Ngày nào, quư vị
minh tâm kiến tánh, thân này là Báo Thân. Chúng ta niệm Phật,
niệm đến mức Lư nhất tâm bất loạn,
đắc Lư nhất tâm bất loạn th́ khi ấy, thân
này là Báo Thân. Chẳng chứng đắc Lư nhất tâm, bèn
chẳng phải là Báo Thân; nhưng cũng coi như là Báo
Thân, cái Báo Thân ấy chính là thân nghiệp báo! Thân nghiệp
báo chẳng giống Báo Thân của hàng Bồ Tát. Báo Thân của
Bồ Tát là trí báo, là trí huệ Bát Nhă, c̣n thân chúng ta là thân do
nghiệp thiện ác [cảm vời], là thân nghiệp báo! V́
vậy, [thân của] lục đạo chúng sanh là thân nghiệp
báo.
(Diễn) Cảnh trí tương ứng giả, như như trí chiếu như như cảnh, Bồ Đề trí huệ, dữ Pháp Tánh tương ứng, tương minh dă.
(演) 境 智 相 應 者,如 如 智 照 如 如 境,菩 提 智 慧,與 法 性 相 應 相 冥 也。
(Diễn: Cảnh trí
tương ứng, như như trí chiếu như như
cảnh, trí huệ Bồ Đề tương ứng và
ngầm khế hợp Pháp Tánh).
Nêu
rơ cảnh giới của Báo Thân, tâm và cảnh như một,
dung thông vô ngại. Giống như trong giảng đường
của chúng ta có nhiều đèn như thế. Sau khi bật
đèn, ánh sáng ḥa nhập lẫn nhau. Mỗi ngọn đèn
có ánh sáng riêng của nó, nhưng ở đây, quư vị có thể
tách bạch giới tuyến ánh sáng của từng ngọn
đèn hay không? Chỗ nào là do ánh sáng của ngọn đèn ở
đây [chiếu sáng], có thể tách bạch hay không? V́ sao?
Chúng đă dung ḥa thành một thể, giống như nước
và sữa ḥa lẫn, các ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau.
Cảnh
(境) là cảnh giới, Trí (智) là tâm trí. Chúng ta thường nói là “tánh, tướng
chẳng hai, Lư, Sự như một” đều nhằm nói
về chuyện này. “Như
như trí chiếu như như cảnh”, như như
trí là năng chiếu, như như cảnh là sở chiếu.
V́ sao phải thêm “như
như” vào trí? Hai chữ Như ấy, chữ Như thứ
nhất là động từ, chữ Như thứ hai là
danh từ. Chữ Như thứ hai chính là Chân Như, là Pháp
Tánh, bản tánh, cũng có thể nói nó là chân tâm. Chân tâm khởi
tác dụng là trí huệ. Cảnh giới cũng là như thế,
như như cảnh mà! Như chính là Như trong câu Như
Thị Ngă Văn mở đầu một bản kinh, nói trọn
hết các pháp. Nếu tâm quư vị chẳng Như, cảnh
cũng chẳng Như. Tâm và cảnh c̣n có chướng ngại,
tức là Lư Sự hữu ngại! Tâm và cảnh có chướng
ngại, giữa các Sự đều có chướng ngại,
giữa các cảnh với nhau đều có chướng ngại.
Đó là Sự Sự hữu ngại! Nếu quư vị minh
tâm kiến tánh, Lư Sự vô ngại, Sự Sự cũng vô
ngại, cảnh giới ấy chính là “cảnh trí tương ứng, như như trí chiếu
như như cảnh”. Thưa cùng chư vị, đối
với câu nói này, [tức câu] “như
như trí chiếu như như cảnh”, một phẩm
cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm là Phổ Hiền Bồ Tát
Hạnh Nguyện Phẩm gồm bốn mươi quyển
nhằm giảng điều ǵ? Nhằm giảng một câu
này! Câu này nếu nói cặn kẽ sẽ là bốn
mươi quyển của kinh Hoa Nghiêm. Năm mươi
ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử
là “như như trí chiếu
như như cảnh”, Lư Sự vô ngại, Sự Sự
vô ngại, Nhất Chân pháp giới, đó là cảnh giới
của thế giới Hoa Tạng, là cảnh giới của
Tây Phương Cực Lạc thế giới. V́ vậy,
câu này là đề mục của bốn mươi quyển
cuối trong kinh Hoa Nghiêm, kinh văn trong bốn mươi
quyển nhằm giải thích tỉ mỉ [một câu kinh
này]. V́ lẽ đó, hai chữ Như Như quan trọng lắm!
Khi
nào th́ tâm chúng ta mới có thể giống như chân tâm bản
tánh? Tu hành mà chẳng chú trọng chuyện này, sẽ là sai
lầm đặc biệt to lớn. Khi nào quư vị có thể
thành tựu? Chẳng thể nào có chuyện ấy. Nói theo
thực tiễn cụ thể, nhất định là phải
tu tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, v́ chúng là như
như. Tâm không thanh tịnh, tâm bất b́nh đẳng, thấy
ǵ cũng đều có chướng ngại. Tâm thanh tịnh,
tâm b́nh đẳng, tuyệt đối chẳng phải là
có thể đạt được từ [xem đọc,
nghiên cứu] kinh điển; v́ vậy, mọi người
ngàn muôn phần đừng mê tín kinh điển. Quư vị
niệm Đại Tạng Kinh, đem Đại Tạng
Kinh niệm từ đầu đến cuối, niệm
suốt một đời, tâm quư vị vẫn chẳng
thanh tịnh! V́ sao? Trong kinh này, đức Phật nói
như thế này, trong kinh kia đức Phật nói như
thế nọ, càng xem nhiều, [sẽ cảm thấy]
dường như Thích Ca Mâu Ni Phật nói năng cũng
mâu thuẫn lung tung! Một hồi nói Không, một hồi
nói Có, rốt cuộc là Không hay Có? Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng
nói rơ ràng. V́ lẽ đó, quư vị chẳng xem th́ c̣n đỡ,
vừa xem liền bị kinh điển làm mê!
V́
thuở ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh, quư vị
chẳng đích thân hiện diện, chẳng biết v́ sao
Ngài phải nói những điều ấy. Đối với
người chấp trước Có, Thích Ca Mâu Ni Phật nói
Không, khiến cho người ấy đừng nên chấp
trước Có. Đối với kẻ chấp trước
Không bèn nói Có, khiến cho người ấy đừng chấp
trước Không. Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng mâu thuẫn,
Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng nói một câu nào! Không ǵ chẳng
nhằm trừ khử chấp trước cho người
khác mà thôi! Nay quư vị chấp trước đă quá nhiều,
vẫn sợ chẳng đủ, lại chấp trước
lời Thích Ca Mâu Ni Phật, càng thêm hỏng bét! Tam thế
Phật đều ứa lệ, học Phật kiểu
đó làm sao có thể học thành công cho được? Phật
[giảng kinh, thuyết pháp] nhằm trừ khử phân biệt,
chấp trước. Phân biệt và chấp trước là
cái gốc bệnh. Phẩm [Như Lai] Xuất Hiện của
kinh Hoa Nghiêm đă nói rất hay: “Hết
thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng
của Như Lai, chỉ v́ vọng tưởng, chấp
trước nên chẳng thể chứng đắc”.
Đức Phật xuất hiện trên thế gian để
làm ǵ? Nhằm giúp chúng ta trừ khử vọng tưởng
và chấp trước mà thôi. Người biết dụng
tâm, y giáo phụng hành, chẳng có một ai không thể thành
tựu. Những kinh văn được trích dẫn ở
đây, câu nào cũng đều là tinh hoa, cũng đều
hết sức quan trọng. “Bồ
Đề trí huệ, dữ Pháp Tánh tương ứng
tương minh” (trí huệ Bồ Đề tương
ứng, ngầm hợp Pháp Tánh). “Tương
ứng” là ǵ? “Tương
minh” là ǵ?
(Diễn)
Tương ứng giả, như hàm cái tương ứng.
(演) 相 應 者,如 函 蓋 相 應。
(Diễn: Tương
ứng là như hộp và nắp khít khao).
Hàm
(函) chính là cái hộp. Hộp và nắp
vừa khít chặt chẽ, dùng chuyện này để tỷ
dụ hai vật phù hợp, vô ngại. Hộp to th́ nắp
cũng to, hộp nhỏ th́ nắp cũng nhỏ.
(Diễn)
Tương minh giả, như thủy nhũ tương
minh.
(演) 相 冥 者,如 水 乳 相 冥。
(Diễn: “Ngầm khế
hợp” là như nước và sữa ḥa lẫn).
“Minh” (冥) có nghĩa là dung
nhập, như nước và sữa ḥa lẫn vào nhau.
Người hiện thời thường uống sữa
ḅ. Sữa bỏ vào nước liền ḥa tan, nước
và sữa ḥa lẫn thành một, cũng chẳng tách rời
được, đó là “tương
minh”.
Ư
nghĩa ở đây là tương ứng và dung nhập
cùng Pháp Tánh. Khi ấy, tâm chính ḿnh là hư không, là pháp giới;
hư không pháp giới là chính ḿnh, đấy mới là “tương ứng, tương
minh”. Có thể làm được hay không? Thưa cùng
chư vị, thật sự có thể làm được.
Như thế nào th́ mới làm được? Một niệm
chẳng sanh bèn tương ứng, bèn tương minh; hễ
động một niệm, sẽ chẳng tương ứng.
Chân tâm ly niệm, trong chân tâm chẳng có niệm. Hễ có
niệm th́ là vọng niệm, phải ghi nhớ điều
này. Ta có một niệm “phải độ hết thảy
chúng sanh” tức là vẫn có vọng niệm. Trong kinh, đức
Phật đă nói “Phật chẳng
độ chúng sanh”, Phật c̣n chẳng độ chúng
sanh, quư vị làm sao có thể độ chúng sanh? Suốt
ngày dấy vọng tưởng! Phật cũng chẳng
thuyết pháp, quư vị c̣n có thể thuyết pháp ư? Chuyện
lạ đấy nhé! Kinh Kim Cang đă nói rất hay: Nếu
có kẻ nào nói đức Phật thuyết pháp th́ đó là
báng Phật, đức Phật chẳng thuyết pháp. Thật
vậy! Đích xác là đức Phật chẳng thuyết
pháp, v́ đức Phật trước nay chưa hề khởi
tâm động niệm. Giống như chuông trống
chưa hề nói chính ḿnh ngân vang, chẳng hề có! Quư vị
gơ nó, nó liền phát ra tiếng. Chẳng gơ, sẽ không kêu.
Đó gọi là cảm ứng đạo giao. Chúng sanh có cảm,
Phật bèn có ứng. Sự cảm ứng ấy tận
hư không khắp pháp giới. Nơi nào có cảm, sẽ ứng
nơi đấy. Trong Quán Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm
đă nói sự tướng này rất rơ ràng: “Thiên xứ kỳ cầu, thiên xứ
ứng” (ngàn xứ khẩn cầu, ngàn xứ ứng).
V́ sao có năng lực to dường ấy? Năng lực
là bản năng (năng lực sẵn có), là như thế
đó. Chỉ cần trong tâm quư vị chẳng có chướng
ngại, chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước,
tâm địa thanh tịnh bèn chẳng có chướng ngại,
sợ nhất là khởi tâm động niệm.
Đấy
là Báo Thân, ư nghĩa và cảnh giới của Báo Thân. Văn
tự không nhiều lắm, rất đơn giản,
nhưng nói rơ ràng, dễ hiểu. Báo Thân là dùng trí huệ làm
thân, c̣n Pháp Thân dùng Lư Thể làm thân. Loại thứ ba…
(Diễn)
Hựu Ứng Thân giả, ứng đồng vạn vật
vi thân dă, ứng đồng liên tŕ vi thọ dă
(演) 又 應 身 者,應 同 萬 物 為 身 也,應 同 連 持 為 壽 也。
(Diễn: Lại nữa,
Ứng Thân là ứng hiện giống như vạn vật
để làm thân, ứng hiện giống như được
duy tŕ liên tục để làm thọ lượng vậy).
Thân
tướng hiện tại của chúng ta là Ứng Thân. Vạn
vật đều có h́nh trạng, chúng ta cũng có một
h́nh trạng, coi h́nh trạng ấy là Thân. Bất luận hữu
t́nh hay vô t́nh đều có một thân tướng, có h́nh trạng
tồn tại. Chén trà có “thân” của chén trà, nến có thân của
nến, đều có một h́nh tướng, nên gọi là
Thân. Đă có thân th́ thân có thọ mạng, thọ mạng là
“liên tŕ vi thọ”. “Liên” (連) là tồn tại liên tục, nên gọi là thọ. Thời
gian liên tục, dài hay ngắn chẳng nhất định.
Liên tục có nghĩa là tiếp nối, dùng chữ này quá
hay. “Liên tŕ” (連持) là tiếp nối (tương tục). Tiếp nối
th́ chẳng phải là thật sự tồn tại. Thật
sự tồn tại th́ làm sao có thể dùng từ ngữ
“tiếp nối” cho được? Tiếp nối là cái
này tiếp theo cái kia, cái kia tiếp theo cái nọ, chẳng
ngừng! Giống như chúng ta xem phim,
phim xi-nê là từng tấm phim nối tiếp nhau, chẳng
ngừng. Hễ ngừng, sẽ chẳng phải là “tiếp
nối”.
Dùng
hai chữ “tiếp nối”
hoặc “liên tŕ” (duy tŕ liên tục),
nhằm bảo với chúng ta: Thân hiện tại chẳng
thật, mà là tướng tiếp nối đó thôi! Một giây
trước và một giây sau khác nhau! [Nói là] “một giây
trước” th́ thời gian ấy c̣n quá dài! [Nói đúng ra
là] khác nhau trong từng sát-na, nó tiếp nối mà! [Nói là tiếp
nối] trong từng sát-na vẫn là quá dài, kinh bảo một
cái khảy ngón tay có sáu mươi sát-na, một sát-na là một
phần sáu mươi [của thời gian] khảy ngón tay.
Trong một sát-na có chín trăm lần sanh diệt, chín
trăm lần sanh diệt tiếp tục chẳng ngừng
trong ấy, há có thứ ǵ là thật? Chẳng có! Quư vị
nghĩ hết thảy các pháp trong thế gian là thật, tức
là lầm lẫn đặc biệt to lớn, hoàn toàn thấy
sai bét mất rồi!
Kinh
Kim Cang đă nói chân tướng của vũ trụ và nhân
sinh rất rơ ràng: “Phàm những
ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương,
cũng như chớp, hăy nên quán như thế”. Đúng
vậy, đó là chân tướng của vũ trụ và nhân
sinh! Do đó, hết thảy các hiện tượng, chẳng
có một hiện tượng nào tồn tại! Những
ǵ chúng ta thấy trong hiện thời đều là tướng
tiếp nối. Phải nhận rơ điều này. Sau khi
đă nhận biết rơ ràng, quư vị sẽ chẳng c̣n chấp
trước hết thảy hiện tượng. Thưa
cùng quư vị, không chấp trước sẽ chẳng có
phiền năo, v́ sao? Ư niệm được mất chẳng
c̣n, biết là chẳng có được mà cũng chẳng
có mất. Do có được, nên mới có mất. Có thể
đạt được hay không? Không đạt
được. “Đạt được” là vọng
tưởng, chẳng đạt được! Trong Bách
Pháp, khái niệm “đắc”
(đạt được) chính là môn thứ nhất trong
hai mươi bốn pháp Bất Tương Ứng. Bất
Tương Ứng hoàn toàn là khái niệm trừu tượng,
trọn chẳng phải là sự thật, thuần túy là vọng
tưởng. Quư vị đạt được ǵ? Thân thể
của chính ḿnh mà c̣n chưa đạt được, nó
sanh diệt trong từng sát-na, huống hồ vật ngoài
thân? Chẳng có ǵ để có thể đạt được!
Nhưng
có biện pháp để có thể đạt được:
Chỉ cần quư vị t́m được Pháp Tánh, sẽ
đạt được. Nếu quư vị chẳng t́m
được Pháp Tánh, thứ ǵ cũng chẳng đạt
được! Truy đến tận cội nguồn, Pháp
Tánh trọng yếu lắm! Nói cụ thể, nhất tâm bất
loạn là trọng yếu, tâm thanh tịnh là trọng yếu.
Có tâm thanh tịnh bèn chẳng có chướng ngại, chẳng
có giới hạn. Có giới hạn, có nhân ngă, có thị
phi, tâm chẳng thanh tịnh. Thị phi, nhân ngă, vọng
tưởng thảy đều chẳng có, tâm thanh tịnh.
Tâm thanh tịnh to cỡ nào? Tận hư không khắp pháp
giới là một tâm; khi ấy, quư vị biến thế
nào đi nữa cũng chẳng ra ngoài bản tánh. V́ thế,
quư vị thảy đều đạt được, chẳng
có ǵ không đạt được. Nếu chẳng đạt
đến cảnh giới ấy, thứ ǵ cũng chẳng
đạt được! Phật pháp nhằm khiến cho
chúng ta thật sự đạt được, đạt
được viên măn! Phật pháp chẳng tiêu cực,
trong quá tŕnh tu học, [nh́n bề ngoài] dường như
là tiêu cực, nhưng sau khi thành tựu, thật sự là
chẳng thể nghĩ bàn!
Trước
khi nói đến phần chú giải kế tiếp, tôi phải
nói cho quư vị biết một chuyện: Vô lượng thọ
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là thật,
chẳng phải là giả. Cơi Phàm Thánh Đồng Cư và
cơi Phương Tiện Hữu Dư trong các thế giới
phương khác đều chẳng thật, chỉ riêng
cơi Phàm Thánh Đồng Cư trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới là thật, điều này chẳng thể
nghĩ bàn. Phải thật sự hiểu rơ sự thật
này th́ quư vị mới có thể thật sự mong mỏi,
hâm mộ Tây Phương. V́ sao? Thành tựu trong một
đời! Hơn một năm qua, tại Mỹ rất
chẳng thể nghĩ bàn! Tại Lạc Sam Cơ (Los
Angeles), pháp sư Ấn Hải giảng kinh Vô Lượng
Thọ, niệm A Di Đà Phật. Pháp sư Diệu Cảnh
ở Cựu Kim Sơn (San Francisco) cũng niệm A Di
Đà Phật, cũng đọc kinh Vô Lượng Thọ,
điều này chẳng thể nghĩ bàn! Trong quá khứ, họ
chẳng tin pháp môn này, nay đều quay về. Không chỉ
là tự ḿnh học, mà c̣n hoằng dương bên đó,
khuyên người khác học. Do đó, thế giới Cực
Lạc hết sức hy hữu, thật sự chẳng thể
nghĩ bàn!
(Diễn)
Trí dữ thể minh, năng khởi đại dụng.
(演) 智 與 體 冥,能 起 大 用。
(Diễn: Trí và Thể
ngầm hợp, có thể khởi tác dụng to lớn).
“Thể” là Pháp Tánh, là Pháp Thân, “Trí” là Báo Thân, chúng là một,
không hai, tuy một mà hai, tuy hai mà một, tương ứng,
dung nhập. Hễ tương ứng, dung nhập, chúng liền
khởi tác dụng.
(Diễn)
Như thủy ngân ḥa chân kim, năng đồ chư sắc
tượng, công đức ḥa Pháp Thân, xứ xứ ứng
hiện văng.
(演) 如 水 銀 和 真 金,能 塗 諸 色 像,功 德 和 法 身,處 處 應 現 往。
(Diễn: Như thủy
ngân và vàng ṛng [ḥa tan vào nhau] có thể dùng để sơn
phết các h́nh tượng, công đức và Pháp Thân đến
ứng hiện khắp nơi).
Khởi
tác dụng, h́nh dung tác dụng của nó to lớn chẳng
thể nghĩ bàn. Thủy ngân và vàng ṛng ḥa hợp, nay ta gọi
là vàng K[1], bất
luận vật phẩm ǵ cũng đều có thể dùng
nó để trang sức. Như Lai “công đức ḥa Pháp Thân”, Pháp Thân là vàng ṛng, công
đức giống như thủy ngân. Thân ứng hóa của
Phật “xứ xứ ứng
hiện văng” (đến ứng hiện khắp nơi),
tận hư không khắp pháp giới, chúng sanh nơi nào có
cầu, Phật, Bồ Tát lập tức ứng hiện.
Hư không pháp giới to như vậy, xa như vậy, v́
sao các Ngài có thể lập tức hiện tiền? V́ tâm
chư Phật, Bồ Tát thanh tịnh, b́nh đẳng, không
đâu chẳng tồn tại. Các Ngài có từ nơi xa
đến hay không? Chẳng hề đến, các Ngài ở
ngay trước mặt quư vị, nhưng chính quư vị chẳng
nhận biết! Quư vị cầu trong một niệm, các
Ngài liền hiện ngay trong một niệm. Quư vị chẳng
cầu, các Ngài chẳng hiện, quư vị nhất định
phải hiểu nguyên lư này. Chúng ta cầu Phật, Phật
hiện tiền; cầu Bồ Tát, Bồ Tát hiện tiền;
cầu quỷ, quỷ hiện tiền; cầu ma, ma hiện
tiền. Hiện thời, có kẻ chẳng học Phật
cũng bị ma dựa, mà người học Phật bị
ma dựa cũng chẳng ít! Chuyện này phiền phức
to lớn! Yêu ma quỷ quái tràn ngập trong thế gian này, hễ
một niệm bất chánh liền rơi vào ma chưởng,
muốn trốn thoát rất khó. Trong thế giới ma cảnh,
tham, sân, si, mạn, quần ma quay cuồng này, để có
thể bảo toàn chính ḿnh th́ chúng ta ắt phải có chánh
niệm.
Chánh
niệm là ǵ? Chúng ta tu Tịnh Độ Tông, một niệm
A Di Đà Phật là chánh niệm. Niệm niệm chẳng
ĺa A Di Đà Phật, niệm niệm nương tựa A
Di Đà Phật, nhất tâm mong thấy A Di Đà Phật,
mong sanh về thế giới Cực Lạc; đó là chánh
niệm, quyết định chẳng sai! Chúng ta c̣n mong
nghiên cứu kinh điển, c̣n mong hoằng pháp lợi
sanh, thưa cùng chư vị, đều là tà niệm, chẳng
phải là chánh niệm! Ư niệm đều tà, c̣n có thể
hoằng pháp lợi sanh ư? Trong quá tŕnh hoằng pháp lợi
sanh, quư vị chẳng bị nẩy sanh rối loạn
ư? Ư niệm đă tà! Ắt phải do tâm trí thuần chánh
hiển lộ, phát xuất, th́ khi ấy mới có thể
hoằng pháp lợi sanh. Do đó, phải phát nguyện “chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ”, nhưng chẳng phải là thực hiện
trong hiện thời. Điều phải làm trong hiện thời
là “phiền năo vô tận thệ
nguyện đoạn”, phải làm chuyện này! [Chưa
đoạn phiền năo mà] pháp môn vô lượng thệ nguyện
học th́ thôi rồi, hỏng rồi! Phiền năo đă
đoạn hết th́ mới có thể học pháp môn,
đó là đúng! Phiền năo chẳng đoạn hết, học
pháp môn bèn tăng trưởng tà tri tà kiến, trong
tương lai sẽ giúp quư vị làm xằng, làm càn, họa
hại chúng sanh. Nói cách khác, [chưa đoạn phiền năo
mà đă pháp môn vô lượng thệ nguyện học chính
là] hy vọng quư vị sớm có ngày đọa địa
ngục! Do đó, Phật pháp là đoạn phiền năo
trước rồi mới thành trí huệ, chẳng thể
đồng thời học những thứ này!
Do cổ
nhân tuân theo thứ tự ấy, cho nên thành tựu rất
nhanh chóng, người thành tựu rất nhiều. Người
hiện tại tu học tràn lan, chẳng thực hiện từng
bước theo thứ tự, học
đồng thời cả bốn nguyện trong Tứ Hoằng
Thệ Nguyện, tự xưng là Phật chi đó hoặc
Bồ Tát chi đó tái lai. Hiện thời, tôi nghe các đồng
tu cho biết tại Cựu Kim Sơn (San Francisco) nước
Mỹ nghiễm nhiên có bọn ngoại đạo tạo
ra tân kinh gọi là Chân Phật Kinh[2].
Những kinh Phật trước kia chẳng cần niệm,
mà niệm chân kinh do chính hắn ta viết ra, quư vị thấy
có hỏng bét hay là không! Kẻ ấy Phật đạo vô
thượng đă thành, tứ hoằng thệ nguyện tu
đồng thời, cùng một lúc, ngay lập tức thành
Phật. V́ thế, mọi người đều như
ong vỡ tổ kéo đến. Chư vị phải hiểu,
giống như chúng ta dựng căn nhà to có bốn tầng
lầu, xây lầu cùng lúc, có thể thành công hay chăng?
Người ta xây lầu th́ trước hết xây tầng
thứ nhất, rồi lại xây tầng thứ hai, rồi
lại xây đến tầng thứ ba, tiếp tục xây
tầng thứ tư, c̣n họ xây cả bốn tầng
cùng lúc, người hiện thời thích làm theo kiểu ấy,
toàn là yêu ma quỷ quái, há có chuyện ấy!
Nếu chư vị
muốn thật sự thành tựu, hăy học từ chỗ
nào? Học từ đoạn phiền năo, học từ tu
tâm thanh tịnh, những điều khác đều chẳng
cần làm! Chúng tôi cũng in Đại Tạng Kinh rất
nhiều, in để làm ǵ? Để cho người khác
ngộ. Liên Tŕ đại sư nói: “Tam Tạng mười hai bộ nhường cho kẻ
khác ngộ”. Chúng ta cũng in Tam Tạng mười hai bộ,
nhường cho kẻ khác ngộ, mọi người nhất
định phải hiểu đạo lư này. Bản thân
chúng ta chọn lựa một bộ kinh từ Đại Tạng
Kinh, trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, chúng ta chọn lựa
một pháp môn niệm A Di Đà Phật, quyết định
thành tựu!
Năm
ngoái, tôi giảng kinh Vô Lượng Thọ ở Tân Gia Ba,
các đồng tu bên ấy chép lại, đưa cho tôi sửa
chữa. Tôi vừa coi bản thảo ấy, [thấy
đúng là] nói nhăng nói cuội, chẳng thể dùng
được! Gần như là phải viết lại hai
phần ba! Cảnh giới năm xưa khác với năm
nay. Ngày mai chúng tôi sẽ lại giảng lại từ
đầu, là cảnh giới mới, chẳng giống
trước kia. Những ǵ đă giảng xưa kia đều
phải bỏ hết, tôi chẳng giảng kinh! Nếu quư vị
nói tôi giảng kinh cũng là hủy báng! Tôi chưa hề giảng
kinh. Các đồng tu phải ghi nhớ, tu tâm thanh tịnh,
thâm nhập một môn, mỗi ngày một vui sướng
hơn, ngày càng hạnh phúc hơn. Đó là lợi ích chân thật
trong Phật pháp. Kinh đă nói rất rơ ràng: “Trụ chân thật huệ”. Trí huệ chân thật
là ǵ? Là một câu A Di Đà Phật. Kinh Vô Lượng Thọ
chân thật nhất. Cổ nhân bảo: Trong hết thảy
các kinh, Hoa Nghiêm chân thật bậc nhất. So sánh giữa
Hoa Nghiêm và kinh Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ
chân thật nhất. So giữa kinh Vô Lượng Thọ và
danh hiệu A Di Đà Phật, danh hiệu A Di Đà Phật
chân thật nhất. Chân thật huệ là một câu Phật
hiệu A Di Đà Phật, lợi ích chân thật.
Lợi
ích chân thật là quư vị thọ tŕ một câu Phật hiệu
A Di Đà Phật này. Quư vị có thể thọ tŕ giống
như người đồ đệ của lăo pháp
sư Đế Nhàn, thọ tŕ ba năm, đứng văng
sanh, đó là lợi ích chân thật, chẳng phải giả!
Nếu so với người ấy, trong tương lai
chúng ta chẳng thể nằm mà ra đi. Nằm th́ sẽ
chẳng bằng người ta. Ngă bệnh th́ càng tệ
hơn nữa, càng thua kém người ta. Nếu chẳng muốn
mất mặt, phải ra đi chẳng khác ông ta cho mấy,
tức là vạn duyên buông xuống, trụ chân thật huệ,
thật thà niệm Phật, đó là đúng. Chớ nên bày
tṛ hoa dạng nữa! Bày tṛ hoa dạng chắc chắn tổn
hại chính ḿnh. Đó là nói “xứ
xứ ứng hiện văng” (chỗ nào cũng đều
ứng hiện tới đó), Ngài có năng lực to lớn
ấy. Hôm nay đă hết thời gian rồi!
Tập
190
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bổn, trang ba trăm chín mươi:
(Diễn)
Hựu Ứng Thân giả, ứng đồng vạn vật
vi thân dă, ứng đồng liên tŕ vi thọ dă. Trí dữ thể
minh, năng khởi đại dụng, như thủy ngân
ḥa chân kim, năng đồ chư sắc tượng, công
đức ḥa Pháp Thân, xứ xứ ứng hiện văng.
(演) 又 應 身 者,應 同 萬 物 為 身 也,應 同 連 持 為 壽 也。智 與 體 冥,能 起 大 用,如 水 銀 和 真 金,能 塗 諸 色 像,功 德 和 法 身,處 處 應 現 往。
(Diễn: Lại nữa
Ứng Thân là ứng hiện giống như vạn vật
để làm thân, ứng hiện liên tục tiếp nối
giống như vậy để làm thọ lượng.
Trí và thể dung nhập, có thể khởi tác dụng to lớn,
như thủy ngân ḥa lẫn vàng ṛng có thể dùng để
sơn phết các h́nh tượng, công đức và Pháp Thân
chỗ nào cũng đều ứng hiện đến).
Chủ yếu nói
đến Ứng Thân của đức Phật. Ứng
Thân biến hiện từ Pháp Thân, kinh Lăng Nghiêm đă giảng
chuyện này rất rơ ràng: “Tùy
chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng” (thuận theo
tâm chúng sanh mà ứng hiện phù hợp với khả
năng nhận biết của họ). Do đâu mà có Ứng
Thân? Có phải là do Phật hữu ư hiện thân ấy hay
chăng? Trọn chẳng phải là như vậy! Ứng
Thân là do chúng sanh có cảm, Phật bèn có ứng, đó gọi
là “cảm ứng đạo giao”. Chúng sanh có cảm, tức
là có tâm, Như Lai ứng hiện là vô tâm; giống như
chúng ta gơ khánh. Chúng ta hữu ư gơ nó, khánh ngân vang là vô t́nh ngân
vang. Chúng ta gơ mạnh, âm thanh ngân to, tiếng ngân kéo dài. Chúng
ta gơ nhẹ, tiếng ngân cũng nhẹ, thời gian ngân
cũng ngắn. Khánh vô tâm, do vô tâm nên mới có thể ứng.
Do vậy
có thể biết, Phật có vô lượng vô biên Ứng
Thân. V́ sao? Pháp Thân không đâu chẳng tồn tại, nên Ứng
Thân trọn khắp pháp giới. Nói thật ra, chẳng có
đến đi, đúng như kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Sanh ra từ nơi đâu, bèn diệt
tận tại đó”. Chẳng đến, chẳng
đi, bất sanh, bất diệt. Tuy là Ứng Thân, vẫn
là bất sanh, bất diệt. Nay chúng ta thấy Ứng Thân
là tướng sanh diệt, là do bọn phàm phu chúng ta dùng cái
tâm sanh diệt để nh́n sự thật ấy. Nói thật
ra, chẳng có sanh diệt, thân ứng hóa trọn chẳng
có sanh diệt. Trong đoạn trên đây, câu quan trọng
nhất là “công đức và
Pháp Thân, không nơi đâu chẳng ứng hiện đến
đó”. Nói thật ra, há có đến? Hễ có đến
là có tới, tức là có lui tới, [thật ra], chẳng có
đến đi. Vẫn là kinh Lăng Nghiêm nói sự thật,
nói rốt ráo, sanh ra ở nơi đâu, sẽ diệt tận
ở ngay nơi đó!
(Diễn)
Nhiên thử ứng thân, hữu thắng, hữu liệt. Thắng
tức Tha Thọ Dụng, thị nghiệp thức sở
kiến giả, thử y Trung Lư nhi trụ. Liệt tức
sanh thân, sự thức sở kiến giả, thử y Chân
Lư nhi trụ.
(演) 然 此 應 身,有 勝 有 劣,勝 即 他 受 用,是 業 識 所 見 者,此 依 中 理 而 住;劣 即 生 身,事 識 所 見 者,此 依 真 理 而 住。
(Diễn: Nhưng Ứng
Thân ấy có thắng và liệt. Thắng Ứng Thân chính là
Tha Thọ Dụng, được thấy bởi nghiệp
thức, thân này nương vào Trung Lư để trụ. Liệt
Ứng Thân chính là sanh thân, được thấy bởi sự
thức, thân này nương vào Chân Lư để trụ).
Cách
nói này tuân theo giáo nghĩa của tông Thiên Thai. Tông Thiên Thai
nói Chân, Giả, Trung, điều đó được gọi
là Tam Đế Tam Quán. “Ứng
Thân” ở đây chính là Ứng Hóa Thân. Quả thật là
Ứng Hóa Thân có thân rất thù thắng, mà cũng có thân khá
kém cỏi. Ví như đức Phật giáo hóa chúng sanh trong
chín pháp giới, chúng ta thấy phẩm Phổ Môn trong kinh
Pháp Hoa có nói đến ba mươi hai ứng thân của
Quán Thế Âm Bồ Tát, nên dùng thân ǵ để độ
được, bèn hiện thân ấy. Nên dùng thân Phật
để độ được, bèn hiện thân Phật.
Ứng Thân ấy cũng rất thù thắng. Đáng nên dùng
thân người để độ liền hiện thân
người. Thân người tuy kém Phật rất xa, kể
ra vẫn c̣n khá. Đáng nên dùng thân súc sanh để độ
liền hiện thân súc sanh, thân tướng ấy c̣n thua cả
loài người. Thậm chí hiện thân thảo mộc. Nói
theo Phật pháp, quư vị đọc kinh Địa Tạng
sẽ biết: Hoa, cỏ, cây cối đều có quỷ
thần ở trong ấy. V́ thế, có thần cây, thần
hoa, thân phận c̣n thấp kém hơn thân súc sanh b́nh phàm. Thậm
chí hiện thân quỷ vương, thị hiện thân địa
ngục. Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa chúng sanh trong địa ngục, hiện thân địa
ngục, chẳng phải là thân mà chúng ta thấy trong hiện
thời. Nay chúng ta thấy Ngài là thân Bồ Tát. Thân Bồ
Tát vào trong địa ngục, chúng sanh trong địa ngục
chẳng thấy Ngài; nhất định phải hiện thân đồng loại
th́ mới có thể khiến cho những chúng sanh tiếp nhận
sự hóa độ của Ngài hoan nghênh. [Như vậy là]
thân này (Ứng Thân) c̣n có thân thù thắng và thân hèn kém.
Ở
đây nói tới thù thắng và hèn kém, vẫn chẳng phải
là ư nghĩa như tôi vừa mới nói, mà c̣n thù thắng
hơn ư nghĩa vừa được đề cập!
Nói đến Thắng Ứng Thân th́ “Thắng tức Tha Thọ Dụng thân”, Tha Thọ
Dụng Thân là nói đến hạng người nào? Nói
đến Thập Địa Bồ Tát. Đức Phật
nhằm độ bậc Địa Thượng Bồ
Tát bèn hiện thân tướng hết sức trang nghiêm,
đó là độ hàng Bồ Tát. Tam Hiền Thập Thánh thấy
[thân tướng của] Phật là Thắng Ứng Thân, tức
Tha Thọ Dụng. “Nghiệp
thức sở kiến giả” (được thấy
bằng nghiệp thức): Nghiệp thức khác sự thức,
nghiệp thức có sự phân biệt vi tế, sự thức
có sự phân biệt rất thô. “Sự
thức” là ǵ? Nói theo tám thức, sáu thức trước
đều thuộc về sự thức, thức thứ bảy
tức Mạt Na là chuyển thức, A Lại Da mới là
nghiệp thức. Có thể thấy là khi sắp chuyển
A Lại Da thành Đại Viên Kính Trí, khi đó mới thấy
Thắng Ứng Thân. Nếu như A Lại Da đă chuyển
thành Đại Viên Kính Trí, chẳng phải là thấy Ứng
Thân Phật, mà là thấy Báo Thân Phật, v́ sao? Bản thân
người ấy đă chứng đắc Báo Thân. V́ vậy,
Ứng Thân và Báo Thân vẫn có sai biệt. Nghiệp thức
nương vào lư Trung Đạo để trụ, sự
thức nương vào Chân Lư để trụ. [Sách Diễn
Nghĩa nói Trung Lư và Chân Lư] chính là như tông Thiên Thai đă
nói Chân, Giả, Trung, [Chân Lư là] Chân Đế. Nhưng
chư vị phải biết, [những điều
được tŕnh bày trong đoạn này] đều là nói
theo cách thông thường. Phật trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, ba thân là một Thể, là Pháp Thân,
đồng thời cũng là Báo Thân và Ứng Thân, tuy một
mà ba, tuy ba mà một. V́ lẽ đó, thế giới Tây
Phương thù thắng chẳng thể nghĩ bàn!
(Diễn)
Nhất kỳ báo đắc bách niên bất đoạn giả.
(演) 一 期 報 得 百 年 不 斷 者。
(Diễn:
Một kỳ hiện báo là trăm năm chẳng đoạn).
Đây
là nêu một thí dụ, nêu Thích Ca Mâu Ni Phật làm thí dụ.
V́ đức Thích Ca Thế Tôn xuất hiện trong thế
giới này, đối với chúng ta, Ngài thân thuộc nhất.
Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, trong ba thân th́ là
thân nào? Là Ứng Thân. Thuở đức Phật tại thế,
thuở ấy, người thế gian thông thường có
tuổi thọ b́nh quân là một trăm năm. Nay chúng ta
đang thuộc giảm kiếp, cứ mỗi một
trăm năm giảm một tuổi, từ khi Phật
Thích Ca diệt độ cho tới hiện thời là ba
ngàn lẻ mười bảy năm, nên hiện thời tuổi
thọ b́nh quân của con người là bảy mươi
tuổi.
Đức
Phật trọn chẳng trụ thế một trăm
năm. Ngài thị hiện viên tịch lúc tám mươi tuổi.
Nói cách khác, Ngài c̣n có thể trụ thế hai mươi
năm, nhưng đă đi trước hai mươi
năm. Kinh đă nói rất rơ ràng, đức Phật cúng
dường phước báo trong hai mươi năm ấy
cho các đệ tử xuất gia trong thời Mạt. Quư vị
thật sự phát tâm học Phật, sẽ chẳng phải
lo lắng về chuyện thọ dụng vật chất.
V́ sao? Đức Phật đă đem hai mươi năm
phước báo ban cho quư vị, đó là di sản, quư vị
hưởng thụ chẳng hết! Nếu quư vị chẳng
tin, đi t́m kẻ khác, đó là trái nghịch ư Phật, chẳng
phải là học tṛ đức Phật! Học tṛ đức
Phật quyết định chớ nên lo lắng cuộc sống
vật chất, v́ sao? Quư vị tiếp nhận di sản
hai mươi năm phước báo của đức
Như Lai, nhất định có chư Phật Như Lai và
thần hộ pháp chăm nom quư vị, chính ḿnh phải có tín
tâm đối với điều này th́ mới được!
(Diễn)
Như ngă Thế Tôn, vương cung xuất gia, khổ hạnh
thành đạo, tam thập nhị tướng, bát thập
chủng hảo, thuyết pháp ngũ tuần.
(演) 如 我 世 尊,王 宮 出 家,苦 行 成 道,三 十 二 相 八 十 種 好,說 法 五 旬。
(Diễn:
Như đức Thế Tôn của chúng ta, [ĺa khỏi]
vương cung xuất gia, khổ hạnh, thành đạo,
ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo,
thuyết pháp năm mươi năm).
Đây
là nói tṛn số, trên thực tế, đức Phật thuyết
pháp bốn mươi chín năm, “ngũ tuần” (五旬) là năm
mươi năm.
(Diễn)
Trụ thế bát thập.
(演) 住 世 八 十。
(Diễn:
Ở trên đời tám mươi năm).
Nói
tṛn số, trên thực tế, Thích Ca Mâu Ni Phật viên tịch
khi Ngài bảy mươi chín tuổi.
(Diễn)
Song Lâm thụ hạ, năi nhập Niết Bàn, thử tức
Liệt Ứng sanh thân dă.
(演) 雙 林 樹 下,乃 入 涅 槃,此 即 劣 應 生 身 也。
(Diễn: Dưới
cội cây trong rừng Song Lâm, bèn nhập Niết Bàn. Đấy
chính là sanh thân Liệt Ứng).
V́ đức Phật xuất hiện
trong thế gian này nhằm thời Mạt Pháp, lại c̣n nhằm
đời ô trược, ngũ trược ác thế, nhằm
khi con người chỉ thọ một trăm tuổi.
Kinh bảo chúng ta: Khi con người trong thế gian này có
tuổi thọ dài nhất sẽ là tám vạn bốn ngàn
năm, có thể thấy người trong thuở ấy có
phước báo rất lớn, thọ mạng rất dài,
tâm địa cũng thanh tịnh. Hiện thời, tuy y
dược tiến bộ hơn xưa kia, có những
người thọ mạng dài hơn trong hiện thời,
[khiến cho chúng ta cảm thấy] dường như kinh
Phật nói chẳng đúng. Thật ra, đó là một thứ
cảm giác sai lầm. V́ nếu quư vị khảo sát sự
sanh tử của dân cư trên cả thế giới, sẽ
biết đức Phật nói rất chánh xác. Ngài nói tới
tuổi thọ b́nh quân, người hai mươi, ba
mươi tuổi đă chết rất nhiều, trọn
chẳng nhất định là do bị bệnh, mà do thiên
tai, nhân họa! Giống như pháp sư Khai Tâm đă nói
xưa kia, Ngài nói thế giới này có tai nạn, cả một
đống người vô duyên vô cớ chết ngắc,
đích xác là có t́nh h́nh này! Thống kê theo phương diện
này, tuổi thọ con người thật sự là bảy
mươi tuổi. Đoạn này thuật bày chuyện
Thích Ca Mâu Ni Phật nên rất dễ hiểu!
(Diễn)
Pháp Thân dĩ như lư tam cú, vị Pháp Thân dĩ Lư vi thân, cố
tức như lư vi mạng.
(演) 法 身 以 如 理 三 句,謂 法 身 以 理 為 身 故 即 如 理 為 命。
(Diễn:
Ba câu “Pháp Thân dùng như lư…” ư nói: Do Pháp Thân lấy Lư làm thân
tức là lấy như lư làm mạng).
Tiếp
đó là giải thích thọ mạng của Pháp Thân, Báo Thân,
và Ứng Hóa Thân. Pháp Thân chẳng có h́nh tướng, nó là cội
nguồn của hết thảy h́nh tướng. Nói cách
khác, y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới từ
đâu mà có? Đều từ Pháp Thân biến hiện. Pháp
Thân là Thể, nó có thể hiện, có thể biến, hết
thảy vạn pháp trong vũ trụ là cái được
biến, đó là hiện tướng của bản thể.
Do vậy, nó có Thể, có Tướng. Đă có tướng,
đương nhiên c̣n có tác dụng. Thể, Tướng,
Dụng là phân chia đại lược thành ba phần,
đối với ba phần, chư vị nhất định
phải nhớ rơ, là một mà ba, tuy ba mà một, chẳng
thể độc lập. Nếu chúng ta lănh ngộ chỗ
này th́ mới thật sự hiểu tận hư không khắp
pháp giới là một Thể, là một, không hai. Pháp giới
này quả thật như đức Phật đă nói là Nhất
Chân pháp giới. Nói “mười pháp giới” hoặc “chín
pháp giới”, hay nói lục đạo, đều là đức
Như Lai nói phương tiện, pháp giới xác thật là
Nhất Chân. Từ nghĩa lư của Pháp Thân, chúng ta có thể
thấu hiểu rất rơ ràng; v́ thế, nó là “dĩ Lư vi thân” (dùng Lư làm thân),
“như Lư vi mạng” (như
Lư làm mạng), đó là vô lượng thọ, thật sự
vô lượng, [bởi lẽ] Lư là vô lượng vô biên.
(Diễn)
Báo Thân dĩ trí huệ vi thân cố tức trí huệ vi mạng.
(演) 報 身 以 智 慧 為 身 故 即 智 慧 為 命。
(Diễn: Do Báo Thân lấy
trí huệ làm thân nên trí huệ chính là mạng).
Cớ
sao biết có Lư? Quư vị đă biết có Lư ấy, thấu
hiểu cái Lư ấy. Sự nhận biết, thấu hiểu
ấy chính là trí huệ Bát Nhă. Do vậy có thể biết,
Báo Thân là nói tới trí huệ, là cái có thể biết. Pháp
Thân là Lư được biết (sở tri chi Lư), Báo Thân là
trí huệ nhận biết [cái Lư ấy] (năng tri chi Trí).
Năng và Sở chẳng hai, năng tri và sở tri là một,
không hai. Nếu coi là hai, sai rồi, chúng là một chuyện.
Do vậy có thể biết: Trong Phật pháp chẳng có
Năng và Sở đối lập, tự ḿnh biết chính
ḿnh, Năng và Sở đều là chính ḿnh. V́ thế, Báo
Thân có khởi đầu, chẳng có kết thúc, cũng là
vô lượng thọ, Pháp Thân là chẳng có khởi đầu,
chẳng có kết thúc.
Khi
quư vị chưa khai ngộ, mê mất chính ḿnh, tức là mê
mất Pháp Thân của chính ḿnh, nay chúng ta giác ngộ, đă
t́m được chính ḿnh. Nay chúng ta có giác ngộ hay không?
Có t́m được hay không? Thưa cùng chư vị, hiện
thời là nghe nói mà thôi, chẳng t́m được, cũng
chẳng giác ngộ, chỉ là nghe Thích Ca Mâu Ni Phật nói có
một chuyện như thế. Đức Phật bảo
cho chúng ta biết tin tức này, t́m lại chính ḿnh như thế
nào? Đó là một đại sự trọng yếu từ
nay trở đi. Phải t́m lại chính ḿnh, Thiền Tông
thường nói “phụ mẫu
vị sanh tiền bản lai diện mục” (diện mạo
vốn có trước khi được cha mẹ sanh ra) tức
là nói tới Pháp Thân. Phải dùng thứ ǵ để t́m lại
nó? Phải dùng trí huệ. Trí huệ do đâu mà có? Trí huệ
từ Thiền Định mà có. V́ thế, quư vị chẳng
có Định, sẽ chẳng có trí huệ, chắc chắn
chẳng t́m được chính ḿnh.
V́ lẽ
đó, học Phật, chư vị đồng tu ngàn muôn
phần phải ghi nhớ, muốn thật sự
được thọ dụng, phải lấy Định
làm then chốt. Đức Phật đă nói rất rơ ràng:
Tu học phải có thứ tự, chẳng thể tràn lan.
Thứ tự chính là trước hết đoạn phiền
năo, sau đó học pháp môn. Sau khi đoạn hết phiền
năo bèn khai ngộ, sau khi đă khai ngộ bèn thông đạt
hết thảy các pháp môn. V́ thế, học pháp môn vào lúc nào? Năm mươi ba lần tham học
của Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm là
gương mẫu tốt nhất, đó chính là Thích Ca Mâu
Ni Phật đă dạy chúng ta cách học Phật pháp
như thế nào. Trong quá khứ, tiên sinh Phương
Đông Mỹ đă tán thán Phật pháp tột bậc, nhất
là kinh Hoa Nghiêm. Cụ là một triết gia, công nhận kinh
Hoa Nghiêm là sách khái luận triết học hay nhất trên
toàn thế giới xưa nay, trong ngoài nước. Kinh có lư
luận viên măn, có phương pháp tinh vi. Cuối kinh c̣n có
biểu diễn, năm mươi ba lần tham học nhằm
làm cho chúng ta thấy. Cụ nói: “Trên thế giới há có
sách giáo khoa nào hoàn bị dường ấy?” Thật sự
chẳng thể nghĩ bàn!
Chúng
ta hiểu rơ, khi nào Thiện Tài đồng tử học vô
lượng pháp môn? Sau khi đă đại triệt đại
ngộ dưới ṭa của Văn Thù Bồ Tát, mới có
tư cách “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.
Ngài “phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”
trong hội của Văn Thù Bồ Tát, theo thầy, chẳng
có ǵ khác, đoạn phiền năo mà thôi! Phiền năo đă
đoạn hết, Văn Thù Bồ Tát mời Ngài đi
tham học, nhằm thành tựu vô lượng pháp môn. Giáo học
cổ đại tại Trung Quốc đều căn cứ
theo phương pháp lư luận này. Trước khi khai ngộ,
chẳng có tư cách tham học! Tham học là chuyện sau
khi đă khai ngộ. Khai ngộ là cảnh giới ǵ? Là cảnh
giới của bậc Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát theo
kinh Hoa Nghiêm, vượt trỗi A La Hán quá nhiều. A La Hán,
Bích Chi Phật, và Quyền Giáo Bồ Tát đều chẳng
có đủ tư cách đi tham học.
Người
trẻ tuổi trong hiện thời rất lỗi lạc,
vừa học Phật bèn tham học, chẳng cần “phiền năo vô tận thệ nguyện
đoạn”, vừa bắt đầu bèn là “pháp môn vô lượng thệ nguyện
học”, chắc chắn là chẳng thể nào [có thành tựu
được]! Học pháp môn như vậy, đúng là “tà
tri tà kiến” như Thanh Lương đại sư
đă viết trong phần giảng giải tựa đề
kinh của bộ Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao. Sở học và sự
thành tựu đều là tà tri tà kiến, quư vị nói xem có
hỏng bét hay là không? Đó chẳng phải là trí huệ.
Trong Phật pháp, nói dễ nghe hơn một chút là Thế
Trí Biện Thông, đó là tà tri tà kiến. Do vậy có thể
biết, đoạn phiền năo trọng yếu dường
ấy! Các đồng tu chúng ta nhất định phải
ghi nhớ điều này!
Nay
chúng ta dùng phương pháp ǵ để đoạn phiền
năo? Phương pháp rất nhiều, thường nói là là
tám vạn bốn ngàn pháp môn, chúng đều là phương
pháp. Tám vạn bốn ngàn pháp môn có thể quy nạp thành bốn
loại lớn: Thứ nhất là tham Thiền, đây là một
phương pháp. Loại thứ hai là đọc kinh, Giáo Hạ
dùng phương pháp đọc kinh, đọc tụng; Tịnh
Độ Tông dùng phương pháp niệm Phật, Mật
Tông dùng phương pháp tŕ chú. Bốn loại phương
pháp này đều nhằm tu Định, do đă Định
bèn có thể khai Huệ. Chẳng hề nói: Kẻ tâm bất
định, c̣n có thị phi, nhân ngă, c̣n có tham, sân, si, mạn
mà có thể học pháp môn, chẳng thể nào có chuyện ấy
được! Mở kinh bổn ra, chữ nào cũng
đều biết, nhưng chẳng hiểu ư nghĩa! Ư
nghĩa trong kinh từ chỗ nào lưu lộ? Từ tâm
thanh tịnh lưu lộ. Quư vị mới biết tu tâm
thanh tịnh là căn bản to lớn trong giáo học Phật
pháp. Tâm chẳng thanh tịnh, vô dụng!
Muốn
cho tâm được thanh tịnh, phương pháp quan trọng
nhất là phải tŕ giới. Giới là kỹ xảo nhằm
giúp cho chúng ta đạt đến thanh tịnh. Tâm địa
đă thanh tịnh bèn có những cái được gọi
là Đạo Cộng Giới và Định Cộng Giới,
tâm thanh tịnh làm sao có thể lầm lỗi cho được?
Chẳng phạm lầm lỗi! Người đắc Thiền
Định chẳng phạm lầm lỗi, tâm người
ấy định, nên gọi là Định Cộng Giới.
Do trí huệ hiện tiền, nên gọi là Đạo Cộng
Giới. “Đạo” được nói trong Phật pháp
chính là trí huệ Bát Nhă, ở đây nói là “dĩ trí huệ vi thân” (lấy trí huệ làm thân),
“dĩ trí huệ vi mạng”
(lấy trí huệ làm mạng). Giới, Định, Huệ
Tam Học. Người ấy khai Huệ, khai Huệ là
Đạo Cộng Giới. Trước khi khai Huệ phải
có Định, Định ở địa vị này
được gọi là Định Cộng Giới, ngay cả
Định cũng chẳng có th́ là Luật Nghi Giới!
Do vậy
có thể biết: Từ sơ học măi cho đến khi
thành Phật đều chẳng ĺa khỏi giới luật!
Luật Nghi Giới là có sự tướng. Định Cộng
Giới và Đạo Cộng Giới có khi chẳng có sự
tướng. Chúng ta biết, mục đích của giới
luật là giúp cho chúng ta đắc Định, mục
đích của Định là giúp chúng ta khai huệ. Mục
tiêu chung cực của Phật pháp là khai Huệ, mở mang
trí huệ. Trí huệ vừa khai, bèn chứng đắc Báo
Thân. V́ thế, nói theo Viên Giáo, Sơ Trụ Bồ Tát phá một
phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, Báo Thân liền
hiện tiền. Sơ Trụ là Pháp Thân, Báo Thân và Hóa Thân, ba
thân đều cùng hiện tiền. Chúng ta học Phật
phải hiểu đạo lư này, phải hiểu
phương pháp tu học này th́ chúng ta mới có thể
thành tựu.
Nay
chúng ta niệm kinh th́ mục đích niệm kinh là ǵ? V́ sao
phải niệm kinh? V́ sao phải niệm Phật? Nhất
định phải hiểu! Chẳng niệm kinh, không niệm
Phật, bèn dấy vọng tưởng, vọng tưởng
là ǵ? Vọng tưởng là nghiệp chướng. Có
người nói: “Tôi nghiệp chướng rất nặng!”
Quư vị hỏi người ấy: “Nghiệp chướng
là ǵ?” Người ấy cũng chẳng thể nói ra. Tội
nghiệp rất nặng, nhưng tội nghiệp là ǵ th́
cũng chẳng hiểu rơ! Kinh Địa Tạng đă giảng
rơ ràng: “Diêm Phù Đề chúng sanh,
khởi tâm động niệm, vô bất thị nghiệp,
vô bất thị tội” (Chúng sanh trong Diêm Phù Đề
khởi tâm động niệm, không ǵ chẳng phải là
nghiệp, không ǵ chẳng phải là tội). Tội nghiệp
là ǵ? Tội nghiệp là khởi tâm động niệm, là
dấy vọng tưởng. Do vậy có thể biết,
người học Phật đang học những ǵ? Chỉ
nhằm trừ bỏ vọng tưởng mà thôi! Vọng
tưởng đă trừ bỏ, tâm định, tâm thanh tịnh.
Tâm thanh tịnh khởi tác dụng là trí huệ. Học Phật
rốt cuộc là học ǵ, tu ǵ? Nhất định phải
hiểu rơ những điều này! Tuyệt đối chẳng
phải là ta niệm bao nhiêu bộ kinh, hoặc niệm bao
nhiêu bộ luận, ta cũng có thể viết lách, cũng
có thể giảng giải, vô dụng! Mọi người
trên thế gian đều có thể làm được
điều ấy. Coi Phật pháp như một loại học
thuật thế gian để nghiên cứu, người ấy
làm chuyện thuộc về Phật học, chẳng phải
là chuyện học Phật. Học Phật là phải hành
tŕ Giới, Định, Huệ, c̣n Phật học là lo toan
Thế Trí Biện Thông, hoàn toàn là hai chuyện [khác hẳn nhau]!
Học Phật th́ thành tựu là công đức. Phật học,
thành tựu là tạo nghiệp, chẳng phải là công
đức. Không chỉ chẳng có công đức, mà nói thật
thà, phước đức cũng chẳng có. Thật sự
nói lời thật thà th́ là “tạo nghiệp”! Bản thân
chúng ta rốt cuộc là đang tu tập, tích lũy công
đức, hay vẫn là đang tạo nghiệp? Chẳng
thể không hiểu rơ điều này.
(Diễn)
Ứng Thân dĩ ứng cơ phó cảm vi thân, cố
dĩ nhân duyên vi mạng.
(演) 應 身 以 應 機 赴 感 為 身 故 以 因 緣 為 命。
(Diễn:
V́ Ứng Thân do cảm ứng thuận theo căn cơ, nên
lấy nhân duyên làm mạng).
Ứng
Thân là Dụng, Pháp Thân là Thể, Báo Thân là Tướng. Ứng
Thân là khởi tác dụng, từ Thể khởi tác dụng,
tác dụng ǵ vậy? Giúp người khác khai ngộ, giúp
người khác chứng đắc Pháp Thân. V́ lẽ
đó, chư Phật, Bồ Tát thị hiện trong thế
gian này, đó là “ứng cơ
phó cảm”. Chữ Cơ (機) chỉ hết
thảy chúng sanh. Hết thảy chúng sanh mong được
học, chỉ cần quư vị dấy một niệm muốn
học, sẽ lập tức cảm ứng đạo
giao, Phật, Bồ Tát liền hiện thân. Các đồng
tu nhất định phải biết một đạo
lư, đấy là chân lư: Phật, Bồ Tát có thể ứng
cơ phó cảm, yêu ma quỷ quái cũng có thể ứng
cơ phó cảm. Trong tâm quư vị nghĩ đến quỷ,
quỷ liền đến. Nghĩ tưởng yêu quái, yêu
quái bèn hiện tiền. Quư vị nghĩ ǵ bèn hiện nấy,
v́ sao? V́ Pháp Thân là tự tánh, tự tánh vốn sẵn đầy
đủ hết thảy vạn pháp. Phật ở trong tự
tánh, Bồ Tát cũng ở trong tự tánh, yêu ma quỷ quái
thảy đều ở trong tự tánh. Ứng cơ phó cảm
là bản tánh phó cảm, chẳng phải là ǵ khác! Người
hiện thời ham chuộng kỳ quái. Ư niệm kỳ
quái ấy vừa động, yêu ma quỷ quái đều
đến, Phật, Bồ Tát đều chẳng thấy,
v́ sao? Phật, Bồ Tát chẳng có cơ duyên, nhưng yêu ma
quỷ quái có cơ duyên.
Cơ
duyên ǵ vậy? Thích cảm ứng, chuộng thần thông,
ham Thiền Định, thích làm các chuyện ấy, chuộng
thấy thần, thấy quỷ, ngỡ những chuyện
ấy là rất tuyệt vời! Chỉ cần quư vị
động một niệm ấy, bèn có [cơ duyên gặp
gỡ yêu ma quỷ quái], thật sự trông thấy, tiếp
xúc, thấy người ta phóng quang, thấy thân h́nh kẻ ấy
ngồi ở đó mà ĺa khỏi mặt đất ba
thước. Tâm như thế nào, bèn có cảm ứng
như thế ấy. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ đă
nói rất hay: “Nào ngờ tự
tánh, vốn sẵn trọn đủ”, y báo và chánh báo
trang nghiêm trong mười pháp giới vốn sẵn trọn
đủ. “Nào ngờ tự
tánh, có thể sanh ra vạn pháp”. Quư vị tưởng
Phật sẽ thấy Phật, tưởng Bồ Tát sẽ
thấy Bồ Tát. Đó là ta mong thành Phật, mong thành Bồ
Tát, trọn chẳng phải là mong thấy Phật, thấy
Bồ Tát. Quư vị muốn thấy th́ sai bét rồi! “Phàm những ǵ có h́nh tướng
đều là hư vọng”, đức Phật đă
nói rất rơ ràng [như vậy] trong kinh Kim Cang. Do bản
thân chúng ta mong thành Phật, thành Bồ Tát, mong minh tâm kiến
tánh, nên khởi cảm ứng đạo giao cùng chư Phật,
Bồ Tát.
Ứng
Thân là có thọ mạng, thọ mạng là “nhân duyên vi mạng” (lấy nhân duyên làm mạng).
Có duyên phận này, Phật sẽ trụ trong thế gian
này. Chẳng có duyên phận, Phật liền diệt độ,
cũng chẳng hiện h́nh. Chính là ư nghĩa “sanh ra từ nơi đâu, sẽ
diệt mất từ nơi đó”. [Do trong thế gian
có] nhiều người học Phật, thời gian Phật
trụ thế bèn lâu hơn một chút. Ít người học
Phật, thời gian Ngài trụ thế bèn ngắn hơn
đôi chút. Chẳng phải là đức Phật hữu ư
trụ thế dài hay ngắn, chẳng phải vậy, Ngài
chẳng có ư nghĩ ấy. Nếu có ư nghĩ ấy, Ngài là
phàm phu, chẳng phải là thánh nhân. Do Ngài chẳng có ư
nghĩ, đức Phật trụ thế dài hay ngắn tùy
thuộc duyên phận của chúng sanh, tức là [tùy thuộc]
cơ duyên tu học của chúng sanh. V́ lẽ đó, thọ
mạng của Phật, Bồ Tát do từ chỗ này mà có!
Thuở
đức Phật trụ thế, các đệ tử chẳng
biết cầu Phật trụ thế, quên bẵng, sơ
sót chuyện này. Ma Vương Ba Tuần thấy đức
Phật hằng ngày đều độ chúng sanh, dạy
chúng sanh ai nấy đều vượt thoát tam giới,
trong tâm hắn rất bồn chồn. Do chẳng có ai thỉnh
Phật trụ thế th́ hắn ta đến [chỗ
đức Phật], đến để làm ǵ? Thỉnh Phật
hăy mau chóng nhập Bát Niết Bàn, thỉnh Phật ra đi
ngay lập tức: “Ngài ở đây đă độ chẳng
ít người, cũng được rồi, đủ rồi,
chẳng cần độ thêm nữa”. Đức Phật
rất từ bi, nhận lời. Đức Phật chẳng
nói dối, đă đáp ứng th́ nhất định phải
thực hiện. V́ lẽ đó, Thích Ca Mâu Ni Phật nhập
Bát Niết Bàn sớm hai mươi năm là do Ma
Vương Ba Tuần khải thỉnh, các đệ tử
nhất thời hồ đồ, bỏ sót!
(Diễn) Nhân tức
chúng sanh năng cảm chi nhân, duyên tức chư Phật
năng ứng chi duyên. Nhân duyên thời chí, cảm ứng
đạo giao, nhân duyên biệt ly, cảm ứng tư mẫn.
(演) 因 即 眾 生 能 感 之 因,緣 即 諸 佛 能 應 之 緣,因 緣 時 至,感 應 道 交,因 緣 別 離,感 應 斯 泯。
(Diễn: Nhân là chúng
sanh có thể cảm, duyên là chư Phật có thể ứng.
Khi nhân duyên đă tới, bèn cảm ứng đạo giao.
Khi nhân duyên đă tách ĺa, sự cảm ứng bèn chấm dứt).
Đây
là nói về Ứng Thân. Chúng ta cần phải biết cảm
ứng đạo giao cùng Phật th́ cảm ứng theo cách
nào? Nay chúng ta cầu Phật, toàn là cảm ứng yêu ma quỷ
quái kéo đến, v́ sao chẳng thể cảm ứng Phật,
Bồ Tát thật sự hiện tiền? Điều này
đáng cho chúng ta nghiêm túc phản tỉnh: Chúng ta đă dụng
tâm sai lầm mất rồi! Chúng ta chẳng dùng chân tâm, mà
dùng vọng tâm. Vọng tâm chẳng thể khởi cảm ứng
cùng Phật, Bồ Tát. Đừng nói là cảm ứng với
Phật, Bồ Tát, từ A La Hán trở lên [mà dùng vọng
tâm th́] đều chẳng có cách nào cảm ứng. Vọng
tâm có thể cảm lục đạo, v́ lục đạo
phàm phu, dẫu là chư thiên thuộc cơi trời Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng vẫn dùng thức thứ sáu, tức tâm
ư thức. Nay chúng ta dùng thức thứ sáu, tức tâm ư thức,
để cầu Phật, Bồ Tát, sẽ chẳng cảm
được vị Phật thật sự. Nếu muốn
cảm ứng đạo giao với Phật, Bồ Tát, phải
dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm cung
kính th́ mới được, mới có thể cảm ứng
đạo giao. Dùng cái tâm thị phi, nhân ngă, tâm tham, sân, si, mạn,
tâm ganh tỵ, ngu si, làm sao có thể cảm ứng đạo
giao cùng thánh nhân? Chẳng thể nào có chuyện ấy!
Đừng nói là trong thời đại này, Phật, Bồ
Tát chẳng đến, chẳng phải vậy, mà là do
chúng ta chẳng có cách nào khởi cảm ứng cùng các Ngài.
Chúng ta vẫn tưởng chính ḿnh thông minh, học Phật
như vậy, cả một đời này vẫn luống
uổng, rất khó thành tựu.
Tu
hành, trong ba nghiệp thân, khẩu, ư, quan trọng nhất là
ư nghiệp, cũng là tu từ tâm địa, sửa đổi
quan niệm và tư tưởng sai lầm. Tâm đă chánh,
ngôn ngữ và sự tạo tác nơi thân thể tự nhiên
đều chánh. V́ thế, người biết tu bèn tu từ
căn bản, căn bản là tu pháp môn tâm địa.
Người Tiểu Thừa tu theo sự tướng,
người Đại Thừa tu từ tâm địa.
Đối với giới luật, Tiểu Thừa luận
sự, chẳng luận tâm, Đại Thừa luận tâm,
chẳng luận sự. V́ thế, tại Thái Lan, Tích Lan,
hàng Tiểu Thừa xem thường Đại Thừa Phật
giáo của Trung Quốc! V́ sao? [Nh́n bề ngoài] Đại
Thừa Phật giáo chẳng tŕ giới, họ (Tiểu Thừa)
tŕ giới rất nghiêm, nhưng tŕ nơi sự tướng.
Giới Đại Thừa tŕ nơi tâm địa. Nếu
tâm địa chẳng thanh tịnh, nói thật thà, đúng
là chẳng bằng họ. Do đó, giới Đại Thừa
khó hơn giới Tiểu Thừa quá nhiều. Giới
Đại Thừa xét theo chỗ khởi tâm động niệm.
Hiểu
rơ đạo lư tam thân trong đoạn này, đồng thời,
quư vị cũng biết cảm ứng đạo giao cùng
chư Phật, Bồ Tát như thế nào. Phải biết:
Hết thảy chư Phật, hết thảy Bồ Tát hiện
hữu khắp nơi, v́ sao? Pháp Thân trọn khắp pháp giới.
Pháp Thân Phật, trong kinh Hoa Nghiêm gọi là Tỳ Lô Giá Na, dịch
sang nghĩa tiếng Hán là Biến Nhất Thiết Xứ
(trọn khắp hết thảy mọi nơi). Pháp Thân trọn
khắp hết thảy mọi nơi, há có chỗ nào chẳng
tồn tại! Thiền Tông Trung Hoa có một công án kể rằng:
Có một chú tiểu sa-di rất nghịch ngợm, đại
tiện trong Đại Hùng Bảo Điện, rắn mắt
quá sức! Hết nói nổi luôn! Thầy duy-na trông thấy
bèn vội báo lên Trụ Tŕ, phải xử phạt nó, đại
bất kính đối với đức Phật! Kết quả
là ḥa thượng đến mắng nó: “Ngươi làm vậy
quá thiếu cung kính”, tiểu sa-di trả lời bằng một
câu: “Xin ḥa thượng kiếm chỗ nào chẳng có Phật
để con đại tiện”. Một câu nói khiến ḥa
thượng bí rị, t́m chẳng thấy! Tận hư
không khắp pháp giới đều là Phật hóa thân, đến
chỗ nào để t́m [một nơi chẳng có Phật]!
Lăo ḥa thượng quá chấp tướng, bị một
câu nói cảnh tỉnh, lăo ḥa thượng bèn khai ngộ.
Đó là người thật sự khai ngộ, dùng kỹ xảo
ấy để giúp cho người khác khai ngộ.
V́
thế, đối với cảm ứng đạo giao,
ngàn vạn phần đừng hiểu lầm là chỉ có
Phật mới có cảm ứng đạo giao, mà [thật
ra] yêu ma quỷ quái thảy đều cảm ứng đạo
giao với quư vị! Lư là một; do đó, tâm chánh, tâm thanh
tịnh quan trọng hơn bất cứ thứ ǵ khác! Y
báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới có bao giờ
chẳng do cảm ứng đạo giao biến hiện?
Tùy thuộc ư niệm của quư vị biến đổi
theo cách nào. Đúng như kinh Đại Thừa đă nói “duy tâm sở hiện”, cảnh
giới do tâm hiện, “duy thức
sở biến”. Duy tâm sở hiện bèn hiện Nhất
Chân pháp giới, biến Nhất Chân pháp giới thành mười
pháp giới là biến như thế nào? Do thức biến,
thức là phân biệt, chấp trước, kinh Hoa Nghiêm nói
là “vọng tưởng, chấp trước”. Nếu chẳng
có vọng tưởng, chấp trước, sẽ bất
biến, bất biến chính là Nhất Chân! Pháp giới là
Nhất Chân. Hễ có vọng tưởng, chấp trước,
liền biến Nhất Chân thành mười pháp giới.
Trong mười pháp giới có thù thắng, có kém cỏi,
nhưng trong Nhất Chân pháp giới chẳng có thù thắng
hay kém cỏi, mà là b́nh đẳng.
Do
đó, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta nhất
định phải học, học ǵ vậy? Gặp chuyện
quái lạ nào cũng đừng nghĩ là lạ, tâm chúng ta
sẽ thanh tịnh. Chớ nên bị dao động bởi
hoàn cảnh, chớ nên bị nhuốm bẩn bởi hoàn cảnh,
hăy tu tâm thanh tịnh, tu tâm b́nh đẳng trong hoàn cảnh,
đó là đúng. Thấy người lành, chuyện tốt
cũng thế, mà thấy kẻ ác, chuyện xấu
cũng thế, đều coi b́nh đẳng, đó là thật
sự tu hành. Đương nhiên, công phu của chúng ta c̣n
chưa đủ, vẫn chưa có cách nào tu tâm thanh tịnh
và tâm b́nh đẳng trong hai cảnh giới cực
đoan, công phu chưa đến mức! Khi công phu chưa
đến mức, tốt nhất là xa ĺa chúng, tâm chúng ta sẽ
thanh tịnh.
Tâm
địa thật sự thanh tịnh, cũng chẳng phải
là cố ư tiếp cận, v́ sao? Hóa độ chúng sanh. Chúng
sanh ở nơi nào cơ duyên đă chín muồi, mời quư
vị đến giảng kinh, thuyết pháp, mời quư vị
trụ tŕ đạo tràng, quư vị có thể đến
đó. Xưa kia, trụ tŕ đạo tràng toàn là Phật, Bồ
Tát, hoặc bậc tái lai, v́ sao? Trong cảnh giới chẳng
động tâm th́ mới có tư cách trụ tŕ giáo hóa một
phương. Vẫn bị cảnh giới bên ngoài ảnh
hưởng th́ chỉ có thể làm học tṛ, làm thanh tịnh
chúng, chẳng thể trông nom sự vụ. Trông nom sự vụ
sẽ phải tiếp xúc với người khác, hễ tiếp
xúc với người khác mà c̣n có phiền năo, phiền năo
ngày càng tăng trưởng, trái nghịch đạo tâm.
Người học đạo mong sao phiền năo mỗi
ngày một ít đi, chẳng thể là ngày một tăng
thêm. Ngày một tăng thêm là tu lục đạo luân hồi,
tu ba ác đạo, sai mất rồi, chắc chắn là chẳng
thể làm theo cách ấy! V́ thế, đối với cảm
ứng đạo giao, chúng ta nhất định phải
liễu giải, nhất định phải coi trọng.
(Sao)
Quán Kinh Sớ vân: “Thị đồng sanh diệt, hữu
thỉ hữu chung giả, Ứng Thân thọ dă. Nhất
đắc vĩnh đắc, hữu thỉ vô chung giả,
Báo Thân thọ dă. Phi thọ phi bất thọ, vô thỉ vô
chung giả, Pháp Thân thọ dă”.
(鈔) 觀 經 疏 云:示 同 生 滅,有 始 有 終 者,應 身 壽 也;一 得 永 得,有 始 無 終 者,報 身 壽 也;非 壽 非 不 壽,無 始 無 終 者,法 身 壽 也。
(Sao: Quán Kinh Sớ viết:
“Thị hiện cùng sanh diệt [giống như chúng sanh],
có khởi đầu, có kết thúc, đó là thọ mạng
của Ứng Thân. Hễ đạt được sẽ
vĩnh viễn đạt được, có khởi đầu,
chẳng có kết thúc, đó là thọ mạng của Báo
Thân. Chẳng phải là thọ, chẳng phải là không thọ,
chẳng có khởi đầu, chẳng có kết thúc,
đó là thọ mạng của Pháp Thân”).
Giảng
về vô lượng thọ, đối với vô lượng
thọ bèn giảng giải theo ư nghĩa của ba thân.
(Diễn)
Quán Kinh Sớ vân hạ thập cú.
(演) 觀 經 疏 云 下 十 句。
(Diễn:
Mười câu kể từ “Quán Kinh Sớ viết” trở
đi).
Chính
là đoạn chúng ta vừa đọc.
(Diễn) Lục
đạo hữu sanh diệt, Pháp Thân khởi ứng, diệc
thị hữu sanh diệt, vương cung giáng tích, song lâm
Niết Bàn, hữu thỉ, hữu chung, Ứng Thân thọ
dă.
(演) 六 道 有 生 滅,法 身 起 應,亦 示 有 生 滅,王 宮 降 蹟,雙 林 涅 槃,有 始 有 終,應 身 壽 也。
(Diễn: “Có sanh diệt
trong lục đạo”: Pháp Thân ứng hiện, cũng thị
hiện có sanh diệt, thị hiện giáng sanh trong cung vua,
nhập Niết Bàn chốn Song Lâm, có khởi đầu, có
kết thúc, đó là thọ mạng của Ứng Thân).
Lấy
đức Phật làm thí dụ. Thích Ca Mâu Ni Phật thị
hiện trong nhân gian, thị hiện trong lục đạo.
Thị hiện trong lục đạo bèn giống như lục
đạo. Nếu thị hiện khác biệt, rất khó
kiến lập sự giáo hóa. Nếu đức Phật thị
hiện trụ trong thế gian, măi cho đến nay vẫn
c̣n hiện diện, chúng ta có thể học theo Ngài hay
chăng? [Chúng ta sẽ thưa]: “Ngài là Phật! Ngài sống
hơn ba ngàn năm, chứ chúng con th́ không được,
chúng con làm sao có thể học được?” Học chẳng
được, mọi người chẳng chịu học
theo Ngài. Nhất định là phải thị hiện có
hoàn cảnh sống giống như chúng ta, sau đấy mới
bảo: “Ta có thể làm được th́ các vị cũng
có thể làm được”. Chúng ta suy nghĩ bèn gật
đầu: “Chẳng sai! Ngài làm được th́ con
cũng có thể làm được!” Đó là phương
tiện giáo hóa nhiếp thọ chúng sanh. Đức Phật
xuất hiện trong nhân gian, có thọ mạng giống
như loài người. Nếu thị hiện trên cơi trời,
sẽ có thọ mạng giống như chư thiên. Ngài ở
trong đường nào, nhất định phải có t́nh
huống giống như chúng sanh trong đường ấy.
Đây là nói về thọ mạng của Ứng Thân, nói
theo sự cảm ứng.
(Diễn) Tam kỳ
hạnh măn, vô minh đoạn tận, Bát Nhă hiện tiền,
tùng Tự Thọ Dụng, hiện Tha Thọ Dụng, ư
Sắc Cứu Cánh Thiên hiện tối cao đại thân, tận
vị lai tế thuyết pháp giáo hóa, hữu thỉ vô chung
giả, Báo Thân thọ dă.
(演) 三 祇 行 滿,無 明 斷 盡,般 若 現 前,從 自 受 用,現 他 受 用,於 色 究 竟 天 現 最 高 大 身,盡 未 來 際 說 法 教 化,有 始 無 終 者,報 身 壽 也。
(Diễn: Tu hành trọn ba A-tăng-kỳ, đoạn
sạch vô minh, Bát Nhă hiện tiền, từ Tự Thọ
Dụng hiện Tha Thọ Dụng, hiện thân to lớn
cao nhất trong Sắc Cứu Cánh Thiên, thuyết pháp, giáo
hóa đến tận đời vị lai, có khởi đầu,
chẳng có kết thúc, đó là thọ mạng của Báo
Thân).
“Tam kỳ” là ba A-tăng-kỳ
kiếp. Trong hết thảy các kinh, đức Như Lai
thường bảo từ sơ phát tâm cho đến khi
thành Phật phải mất thời gian bao lâu? Phải mất
ba A-tăng-kỳ kiếp. Sơ phát tâm tuyệt đối
chẳng phải là nói chúng ta phát tâm trong hiện thời.
Nói thật thà, hiện thời chúng ta về căn bản
là chẳng phát tâm, đạo tâm của chúng ta trong hiện
thời, nói theo thuật ngữ Phật giáo là “lộ thủy đạo tâm”
(đạo tâm mong manh như sương buổi sáng).
Sương buổi sáng th́ mặt trời vừa mọc liền
tan mất, đạo tâm như sương buổi sáng chẳng
thể coi là phát tâm được! Sơ phát tâm như kinh
đă nói là sơ phát tâm theo kiểu nào? Quư vị hăy đọc
Đại Thừa Khởi Tín Luận, [nói] “Đại Thừa Khởi Tín” th́ Khởi là mới
vừa phát tâm, quư vị có thể nhập cảnh giới
của Đại Thừa Khởi Tín Luận th́ mới
được coi là thật sự phát tâm. Bắt đầu
kể từ ngày hôm ấy, [trải qua] ba A-tăng-kỳ
kiếp bèn thành Phật. Thật sự chẳng dễ dàng!
Sơ phát tâm th́ mức độ thấp nhất là phải
chứng đắc Vị Bất Thoái. Vị Bất Thoái
là địa vị ǵ? Tiểu Thừa Sơ Quả. Tiểu
Thừa Sơ Quả là cảnh giới ǵ? Kinh đă dạy
rất rơ, phải đoạn sạch tám mươi tám phẩm
Kiến Hoặc trong tam giới, tính từ ngày hôm ấy trở
đi. Kể từ ngày hôm ấy, trải qua ba đại
A-tăng-kỳ kiếp mới thành Phật. Nếu chẳng
đạt tới này cảnh giới, thảy đều
chẳng tính. Trong đời quá khứ, chúng ta tu hành không chỉ
là ba A-tăng-kỳ kiếp, mà là đă tu vô lượng
A-tăng-kỳ kiếp, nhưng mỗi đời mỗi
kiếp đều chẳng đạt tới tiêu chuẩn
này, nên thoái chuyển trong lục đạo. Tiến tiến
lùi lùi, không ngừng thoái chuyển, chẳng có lần nào
đạt tới tiêu chuẩn Vị Bất Thoái. Nếu
quư vị đạt tới tiêu chuẩn này, quyết định
sẽ chẳng làm phàm phu, chẳng thoái chuyển. Do đó,
ba đại A-tăng-kỳ kiếp là tính từ Vị Bất
Thoái. Nói theo Viên Giáo, sẽ là Sơ Tín Vị Bồ Tát. Quả
vị Viên Giáo Bồ Tát gồm năm mươi mốt
giai cấp, Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác,
năm mươi mốt địa vị. Năm
mươi mốt địa vị phải tu ba A-tăng-kỳ
kiếp th́ mới có thể tu viên măn, gọi là “hạnh măn”, khi ấy “vô minh đoạn tận”, tới
lúc ấy, Kiến Tư, Trần Sa, Vô Minh phiền năo thảy
đều đoạn tận, đă thành Phật, “Bát Nhă hiện tiền”.
“Tùng Tự Thọ Dụng thân, hiện
Tha Thọ Dụng thân” (từ Tự Thọ Dụng
thân, hiện Tha Thọ Dụng thân): Thân Tha Thọ Dụng
nhằm giáo hóa bậc Địa Thượng Bồ Tát, v́
Địa Thượng Bồ Tát chứng đắc Báo
Thân, thân tướng rất lớn. Trong bài kệ tán Phật
có câu: “Bạch hào uyển chuyển
ngũ Tu Di, cám mục trừng thanh tứ đại hải”.
Thân tướng này của đức Phật ở trước
mặt chúng ta, chúng ta chẳng thấy, quá to lớn. Đầu
đức Phật to hơn địa cầu quá nhiều,
hai mắt đức Phật c̣n to hơn Thái B́nh
Dương, làm sao quư vị có thể thấy được?
Căn bản là chẳng thấy. Bạch Hào là một trong
ba mươi hai tướng, là hai sợi lông quấn lại
một chỗ giữa hai chân mày giống như một hạt
châu, to cỡ nào? To bằng năm quả núi Tu Di. Báo Thân Bồ
Tát cũng là thân to dường ấy. Quư vị muốn hóa
độ họ, cũng hiện thân to ngần ấy. Nếu
không, quư vị hiện thân tướng nhỏ, họ sẽ
không thấy quư vị, mà quư vị cũng chẳng thấy
họ, nhất định phải là hiện thân tướng
bằng nhau. V́ thế, hiện thân to lớn là Tha Thọ Dụng,
cũng là Địa Thượng Bồ Tát cảm ứng
Phật tướng có thân tướng to lớn ngần ấy.
“Ư Sắc Cứu Cánh Thiên hiện
tối cao đại thân” (trong Sắc Cứu Cánh Thiên,
hiện thân to lớn cao nhất), Sắc Cứu Cánh Thiên là
tầng trời cao nhất trong Tứ Thiền Thiên, cao nhất
trong Sắc Giới. Lên cao hơn nữa là Vô Sắc Giới
bèn chẳng có thân tướng, “tận
vị lai tế thuyết pháp giáo hóa” (thuyết pháp giáo
hóa đến tận đời vị lai).
Chư
vị phải biết: Thuyết pháp giáo hóa chúng sanh phải
là chuyện sau khi chính ḿnh đă khai trí huệ. Trí huệ
chưa khai, thuyết pháp phải cẩn thận. Cổ
nhân đă có tiền lệ rồi đó: “Nói sai một chữ chuyển ngữ, đọa làm
thân chồn hoang năm trăm đời”, đó là chuyện
rất đáng sợ! Quyết định chẳng thể
tùy tiện nói, càng chẳng thể tùy tiện viết. Giảng
kinh chẳng thể tùy tiện giảng, kinh điển
đương nhiên càng chẳng thể tùy tiện phiên dịch.
Hiện thời có nhiều người muốn dịch
kinh Phật sang tiếng Anh, vấn đề này rất
nghiêm trọng! Chính ḿnh trí huệ chẳng hiện tiền,
phiền năo chẳng đoạn sạch, chớ nên lỗ
măng. Tại Trung Hoa, từ xưa tới nay, các vị Tam Tạng
pháp sư dịch kinh, mức độ thấp nhất
đều là thánh nhân đă chứng từ Tam Quả trở
lên, tâm các Ngài thanh tịnh lắm nên mới có khởi tác dụng
cảm ứng với Phật. Nhất là đối với
bộ kinh này, Ngẫu Ích đại sư nói: Nếu chẳng
do Phật lực gia tŕ, hữu t́nh chúng sanh trong chín pháp giới
tuyệt đối chẳng thể cậy vào năng lực
của chính ḿnh để tin hiểu, chẳng phải là
chuyện đơn giản! Nhất định phải cầu
cảm ứng, mong cầu Phật, Bồ Tát gia tŕ. Cầu
cảm ứng chỉ có một phương pháp là chân thành,
thanh tịnh, b́nh đẳng, cung kính th́ mới có thể
được Phật, Bồ Tát gia tŕ. Trong tâm có thị
phi, nhân ngă, có tà niệm, có [ư niệm ham cầu] tiếng
tăm, lợi dưỡng, quyết định chẳng
thể được Phật lực gia tŕ, mà được
yêu ma quỷ quái gia tŕ. Yêu ma quỷ quái phá hoại chánh pháp,
chúng lợi dụng quư vị, quư vị lợi dụng
chúng, đôi bên kết hợp làm công tác hủy diệt Phật
pháp, quả báo trong tương lai là A Tỳ địa ngục,
hết sức đáng sợ!
Do
đó, phải ghi nhớ, Bát Nhă hiện tiền. Chuyện
này khó lắm! Rất khó! Nhưng trong kinh Vô Lượng Thọ
có nói, chuyện này chẳng khó, chẳng khó là v́ người
có phước mới được gặp gỡ. Kẻ
chẳng có duyên, chẳng có phước báo sẽ chẳng
gặp! V́ sao? Kinh Vô Lượng Thọ và kinh A Di Đà là
chân thật huệ! Kinh dạy “trụ
chân thật huệ”, Trụ là tâm an trụ, an trụ
trong trí huệ chân thật. Trí huệ Bát Nhă chân thật là
ǵ? Là kinh Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ. Quư vị có
thể mỗi ngày đọc tụng là trụ chân thật
huệ, thọ tŕ một câu danh hiệu này, Nam-mô A Di Đà
Phật chính là trụ chân thật huệ. Trong tâm quư vị
chẳng trụ chân thật huệ, nhất định sẽ
dấy vọng tưởng. Dấy vọng tưởng
th́ nói thật thà sẽ là tu lục đạo luân hồi.
Chẳng dấy vọng tưởng th́ niệm kinh hay niệm
Phật hiệu đều là tu Tây Phương Tịnh
Độ.
Mỗi
ngày quư vị phải lắng ḷng suy tưởng, hôm nay ta
đă tu lục đạo luân hồi bao nhiêu tiếng đồng
hồ? Tu Tây Phương Cực Lạc thế giới mấy
tiếng đồng hồ? Nếu thời gian tu lục
đạo luân hồi dài, thời gian tu thế giới Tây
Phương ít ỏi th́ vẫn phải luân hồi trong lục
đạo, vẫn chẳng thể văng sanh! Nếu tu thứ
này mười hai giờ, mà thứ kia cũng là tu mười
hai giờ, vẫn chẳng đáng tin cậy cho lắm! Tôi
nói lời thật cùng mọi người, tôi chẳng lừa
gạt các quư vị. Nếu lừa gạt quư vị tức
là có lỗi với quư vị. V́ thế, tâm an trụ nơi
hai bộ Đại Bổn và Tiểu Bổn, nơi một
câu Phật hiệu, quyết định phải hơn
mười hai tiếng đồng hồ th́ chúng ta mới
thật sự nắm chắc văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Đă thế, chính ḿnh c̣n cảm
giác nắm chắc, chính ḿnh nhận biết, v́ sao? Tâm
đă thanh tịnh, phiền năo quả thật ít hơn, vọng
niệm ít hơn, chẳng c̣n muốn làm chuyện thị
phi, nhân ngă, trong hết thảy các pháp, ư niệm tham, sân, si
dần dần nhạt mỏng hơn. Đó gọi là “thấy
thấu suốt, buông xuống”, là tiến bộ, là lợi
ích chân thật, đức Phật ban cho chúng sanh lợi ích
chân thật chính là những điều này. Đối với
các pháp môn khác, thưa cùng chư vị, chẳng t́m thấy
[những lợi ích ấy], chỉ riêng pháp môn này là có!
“Chân Thật Tế” chính là ba
thân Pháp, Báo, Ứng đă nói trên đây, ba thân chính là Chân Thật
Tế. Đại Bổn và Tiểu Bổn là kinh Vô Lượng
Thọ và kinh A Di Đà, là chân thật huệ. Chúng ta có thể
nghiêm túc thọ tŕ, sẽ đạt được lợi
ích chân thật. Đến khi đó, trí huệ mở mang,
đấy mới là “tận vị
lai tế, thuyết pháp giáo hóa, hữu thỉ vô chung”
(thuyết pháp, giáo hóa đến tận đời vị
lai, có khởi đầu, chẳng có kết thúc). Đấy
là vô lượng thọ, là thọ lượng của Báo
Thân. Báo Thân đă là có khởi đầu, chẳng có kết
thúc, thưa cùng chư vị, Ứng Hóa Thân vẫn là có khởi
đầu, chẳng có kết thúc!
(Diễn)
Báo Ứng tức Pháp, cố phi thọ.
(演) 報 應 即 法,故 非 壽。
(Diễn:
Báo Thân và Ứng Thân chính là Pháp Thân, nên chẳng phải là thọ).
Báo
Thân và Ứng Thân đều từ Pháp Thân biến hóa mà ra,
bản thể của chúng là thanh tịnh Pháp Thân. Đối
với Pháp Thân, chẳng thể nói đến thọ và vô
thọ!
(Diễn)
Pháp tức Báo, Ứng, cố phi bất
thọ.
(演) 法 即 報 應,故 非 不 壽。
(Diễn:
Pháp Thân chính là Báo Thân và Ứng Thân, nên chẳng phải là
không có thọ lượng).
Nói
theo Thể, sẽ chẳng nói tới thọ mạng. Nói
theo tướng và tác dụng, bèn có thể miễn cưỡng
nói đến thọ lượng.
(Diễn)
Thụ cùng tam tế, vô thỉ, vô chung giả, Pháp Thân thọ
dă.
(演) 豎 窮 三 際,無 始 無 終 者,法 身 壽 也。
(Diễn:
Theo chiều dọc trọn khắp ba đời, chẳng
có khởi đầu, không có kết thúc chính là thọ
lượng của Pháp Thân).
Khi
Hiền Thủ quốc sư giảng kinh Hoa Nghiêm, đă
nêu tỷ dụ: “Dùng vàng làm
đồ vật, món nào cũng đều là vàng”, vàng là
ǵ? Pháp Thân. Đồ vật là Báo Thân và Ứng Thân, đều
do Pháp Thân biến hóa. Pháp Thân chẳng có khởi đầu,
chẳng có kết thúc. Nói thật thà, Ứng Thân và Hóa Thân
cũng là chẳng có khởi đầu và kết thúc.
Đó là nói chân tướng với chư vị, đó là Thật
Tướng của các pháp. Lời này thoạt nghe dường
như rất khó hiểu, nhưng người hiện thời
đă có kiến thức khoa học, sẽ chẳng khó hiểu
cho lắm! Các khoa học gia hiện tại đă chứng
thực: Vật chất bất diệt. Ứng Thân là vật
chất, vật chất bất diệt th́ phải là vô
lượng thọ, phải là chẳng có khởi đầu,
chẳng có kết thúc. Lại nói tinh thần bất diệt,
tinh thần là trí huệ, là Báo Thân. Báo Thân cũng là vô lượng
thọ, cũng là bất sanh, bất diệt, v́ sao? Thể
là bất sanh, bất diệt. Ba thân tuy một mà ba, tuy ba mà
một, chẳng thể tách nó làm ba thân.
Nếu chư vị
khế nhập từ chỗ này, chúng ta cũng rất vui
sướng, v́ sao? Thân hiện tại bất sanh bất diệt.
Thân này do nghiệp báo mà có, là thân tướng có được
bởi nghiệp thiện hay ác đă tạo trong đời
quá khứ. Nhưng kể từ hôm nay, chúng phải chuyển
biến thân nghiệp báo thành Báo Thân thanh tịnh. Thân này do
chính ḿnh tạo ra, nên chính ḿnh có thể chuyển. Do chính
ḿnh tạo, nên người khác chẳng có cách nào chuyển
thay cho ta. V́ thế, mọi người đầu óc phải
tỉnh táo, đừng bị kẻ khác lừa bịp. Mạng
do chính ḿnh tạo, quyết định là do chính ḿnh chuyển!
Nếu người khác có thể chuyển thay cho chúng ta, Phật,
Bồ Tát đại từ đại bi, ắt sẽ chuyển
thay cho chúng ta, chúng ta cũng chẳng cần phải tu hành,
ai nấy đều thành Phật. Phật, Bồ Tát chẳng
thể chuyển thay cho chúng ta! Phật, Bồ Tát dẫu tốt
với quư vị cách mấy, ưa chuộng quư vị cách
nào đi nữa, đều chẳng có cách nào chuyển nghiệp
thay cho quư vị. V́ thế, sửa đổi vận mạng,
chuyển biến quả báo, thảy đều phải cậy
vào chính ḿnh.
Những
điều chúng tôi nói hôm nay chính là nguyên lư, đă hiểu Lư
th́ về Sự đương nhiên sẽ là chuyện có thể
thực hiện được! Do đó, chúng ta phải
nghiêm túc nỗ lực tu học nơi sự tướng,
điều then chốt trong sự tu học là quyết
định phải đoạn hết thảy ác, tu hết
thảy thiện. Thiện ác là ǵ? Đức Phật đă
dạy một tiêu chuẩn rất thấp: Phàm những ǵ
có lợi ích cho chính ḿnh đều là ác, phàm những ǵ lợi
ích đại chúng th́ là thiện. Chúng ta nghe lời ấy
có khi rất khó tiếp nhận, đối với ta có lợi
ích, cớ sao là ác? Quư vị hăy nghiêm túc suy nghĩ, [sẽ
thấy] đúng là như vậy. V́ Phật pháp từ đầu
tới cuối là phá chấp trước, phá Ngă Chấp bèn
chứng quả A La Hán, phá Pháp Chấp bèn thành Pháp Thân đại
sĩ, thành Phật. Niệm niệm đều là lợi
ích của ta, Ngă Chấp sẽ tăng trưởng trong mỗi
niệm, quư vị vĩnh viễn chẳng thể phá [Ngă Chấp].
Nói cách khác, chẳng thể phá Ngă Chấp, bèn chẳng thể
thoát tam giới, đó có phải là ác hay chăng? Niệm niệm
nghĩ đến chính ḿnh, chẳng thoát khỏi tam giới,
do đó, đức Phật bảo là ác. Niệm niệm v́
chúng sanh, quên bẵng chính ḿnh, khởi tâm động niệm
đều nghĩ tới đại chúng, nghĩ tới hết
thảy chúng sanh, đừng nghĩ tới chính ḿnh, dần
dần quên sạch chính ḿnh, chẳng đoạn Ngă Chấp
mà Ngă Chấp tự nhiên chẳng c̣n, đó là đại thiện.
Hăy nên học tập điều này. Do đó, phải đoạn
hết thảy ác, tu hết thảy thiện.
Trong
đoạn ác tu thiện, khẩu nghiệp là nặng nhất.
Kinh Địa Tạng nói về chuyện đọa địa
ngục, địa ngục có ba loại: Thân tạo tội
nghiệp ít, đọa trong tiểu địa ngục. Khẩu
tạo tội nghiệp nặng nề, khẩu nghiệp rất
nặng, thường rêu rao lỗi lầm của kẻ
khác, nói dối, nói đôi chiều. Nói đôi chiều là
khơi gợi thị phi, nói chuyện chẳng chịu
trách nhiệm, đáng sợ lắm! Khẩu nghiệp đọa
trong mười tám địa ngục, là đọa đại
địa ngục. Ư niệm càng nặng hơn, nên nói là do
ư nghiệp bèn đọa Vô Gián địa ngục. V́ vậy,
chúng ta nói chuyện phải hết sức cẩn thận,
đừng nói tới khuyết điểm của người
khác. Cổ nhân đă nói: “Quân tử
tuyệt giao, bất xuất ác ngôn” (quân tử nghỉ
chơi, chẳng thốt lời ác), đó là đúng. Quư vị
và người khác xích mích, bèn kể lể điều xấu
của người ta, người khác nghe kể sẽ cảnh
giác, v́ sao? Ngươi đă có thể nói xấu kẻ khác,
trong tương lai sẽ bêu xấu ta, ta phải kiêng dè,
lánh xa ngươi! V́ thế, người đầu óc tỉnh
táo đôi chút, chắc chắn chẳng dám làm bạn với
quư vị, v́ sao? Biết là trong tương lai nhất định
sẽ bị quư vị làm hại! Trước đây,
đi ra ngoài tham học, quải đơn (xin nhập
chúng), sau khi người ấy rời khỏi ngôi chùa ấy,
có người hỏi: “Chùa ấy như thế nào?” Kẻ
đó nói không tốt như thế này, không hay như thế
nọ! Người ta nghe xong, tối đa là đăi quư vị
một bữa cơm, mời quư vị lên đường,
ở đây tôi không dám giữ quư vị. V́ sao? Quư vị ở
đây vài hôm, đến chỗ khác, lại nói chỗ tôi
đây chẳng ra ǵ! Không ai dám lưu quư vị! V́ thế, vẫn
là chính ḿnh bị thua thiệt, chẳng phải là ai khác, khiến
cho người khác dấy ḷng nghi kỵ. Do vậy, quyết
định đừng kể lể lỗi lầm của
kẻ khác, người như vậy, chẳng có ai không tôn
trọng quư vị, chẳng có ai không ưa thích, đều
bằng ḷng kết bạn với quư vị. Thường kể
lể lầm lỗi của kẻ khác, chính ḿnh bị thua
thiệt quá to lớn!
Quư
vị biết lầm lỗi, tật xấu, đó là giác
ngộ; có thể sửa đổi th́ là tu hành. Tu hành chẳng
phải là mỗi ngày lạy Phật, niệm Phật. Nếu
làm những việc ấy một cách h́nh thức, sẽ chẳng
có tác dụng ǵ, đều là thực hiện bề ngoài, bề
ngoài th́ chẳng có lợi ích chân thật. Phải nghiêm túc
tu hành! Hôm nay chúng tôi giảng tới chỗ này!
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 95
hết
[1] Thật ra vàng K và vàng pha thủy ngân để sơn phết tượng là hai thứ khác nhau. Vàng và thủy ngân ḥa lỏng theo tỷ lệ 1:9, sẽ thành một dung dịch lỏng, thường gọi là “hỗn hống” (混汞), có thể quét lên tượng bằng kim loại, rồi đem nung nhẹ cho thủy ngân bốc hơi, chỉ c̣n lại vàng. Đó là cách mạ vàng truyền thống. C̣n K chính là viết tắt của chữ Karat, tức là đơn vị đo lường dành cho quư kim. Vàng K tức là các loại vàng không thuần, pha thêm các kim loại khác (thường là đồng, bạc, thiếc. Chẳng hạn như “vàng trắng” có tỉ lệ vàng 75%, palladium 10%, kền 10%, thiếc 5%, hoặc chỉ là vàng pha bạch kim). Ta thường nói là vàng 24K, vàng 18K… Thấp nhất là vàng 14K, tức là lượng vàng chỉ chiếm tối đa là 62,5%, trong khi vàng 24K có lượng vàng chiếm đến 99,9%. Chữ Karat là biến thể của chữ Carat (hiện thời, Carat là đơn vị đo lường các loại bảo thạch, ngọc, nhất là kim cương) phát xuất từ chữ Qīrāt trong tiếng Ả Rập. Chữ này lại phát xuất từ chữ Kerátion của tiếng Hy Lạp có nghĩa là hạt Carob (một loại đậu, thường gọi là đậu sừng), vốn là đơn vị đo lường thời cổ. Người ta tin rằng hoàng đế Constantine đệ nhất của Hy Lạp đă cho đúc đồng tiền vàng solidus từ một phần bảy mươi hai của một libra (một pound của La Mă) vàng, có trọng lượng bằng 24 siliqua. Một siliqua chính là tiền thân của cách đo bằng carat về sau này.
[2] Chân Phật Kinh là bản kinh do Liên Sanh Hoạt Phật (danh hiệu tự xưng của Lô Thắng Ngạn, giáo chủ tà giáo Chân Phật Tông tại Đài Loan. Hiện thời, tà phái này có tổng bản sơn là chùa Lôi Tạng tại Seatle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ), được rất nhiều người Hoa tin theo tại các tiểu bang miền Tây như California, Oregon và Washington. Cái gọi Chân Phật Tông thật ra là một tổng hợp bát nháo của Đạo giáo, Mật Tông Trung Hoa, Mật Tông Tây Tạng và những tín ngưỡng mê tín dân gian. Lô Thắng Ngạn tự xưng ḿnh là Liên Hoa đồng tử từ Tây Phương Cực Lạc thế giới chuyển thế và tự lưu bố bản kinh này với danh xưng Chân Thật Phật Pháp Tiêu Tai Tứ Phước Kinh, nhằm đề cao bản thân Đại Bạch Liên Hoa Đồng Tử (tức là danh hiệu của ông ta tại Tây Phương Cực Lạc thế giới), dạy đệ tử phải tŕ câu chú “Ông, câu lỗ liên sanh tất địa sa bà ha” (nói cách khác là niệm danh hiệu của chính ông ta). Câu Lỗ là phiên âm của chư Guru (đạo sư), Tất Địa là Siddhi (thành tựu).