A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 98

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong

Tập 195

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang ba trăm chín mươi sáu:

 

      (Sớ) Nhược khảo A Di Đà Phật, thành Phật dĩ tiền nhân địa, bất đản Pháp Tạng nhất nhân, hữu đa chủng nhân, như chư kinh trung thuyết.

       () 佛,成 地,不 因,有 因,如 說。

(Sớ: Nếu khảo sát về nhân địa của A Di Đà Phật trước khi Ngài thành Phật th́ không chỉ là một thời kỳ tu nhân của tỳ-kheo Pháp Tạng, mà c̣n có nhiều nhân như trong các kinh đă nói).

 

      Đoạn này nói rơ về những sự tích (dấu tích ứng hiện nơi mặt Sự) của A Di Đà Phật trước khi Ngài thành Phật, c̣n đang tu nhân. Thông thường, chúng ta giới thiệu [nhân địa của A Di Đà Phật] chỉ dựa theo kinh Vô Lượng Thọ. Thật ra, trong nhiều kinh điển Đại Thừa, đức Phật đă từng nói đến chuyện tu nhân chứng quả của A Di Đà Phật. Nếu chúng ta gộp chung các kinh luận ấy để xem, sẽ biết: Lần này, A Di Đà Phật thị hiện thành Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng phải là lần đầu tiên thành Phật, mà là thị hiện thành Phật giống như Thích Ca Mâu Ni Phật đă thị hiện trong thế gian này. Chúng ta đọc kinh điển Đại Thừa, như kinh Phạm Vơng có nói: “Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện thành Phật trong thế giới Sa Bà lần này là lần thứ tám ngàn”. V́ thế, chẳng phải là Ngài ba mươi tuổi thành đạo dưới cội Bồ Đề, trong đêm thấy sao Mai bèn hoảng nhiên đại ngộ. Đó là diễn tuồng cho chúng ta xem, diễn tuồng giống như vậy lần này là lần thứ tám ngàn, chẳng phải là Ngài thành Phật trong một đời này, mà là đă thành Phật nhiều đời nhiều kiếp. Do vậy có thể biết, A Di Đà Phật thị hiện trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng khác đức Bổn Sư cho mấy. Thật ra, Ngài cũng đă sớm thành Phật từ kiếp lâu xa!

 

(Sao) Pháp Tạng nhân giả.

() 者。

      (Sao: Cái nhân của ngài Pháp Tạng).

 

      Kinh Vô Lượng Thọ nói nhân địa của A Di Đà Phật là tỳ-kheo Pháp Tạng, chúng ta vẫn dùng danh xưng này.

 

      (Sao) Đại Bổn vân: Định Quang Phật tiền ngũ thập tam Phật, danh Thế Tự Tại Vương, Pháp Tạng thời vi quốc vương, xả vị xuất gia, phát tứ thập bát nguyện, kim A Di Đà Phật thị Pháp Tạng sở thành chi Phật dă.

      () 云:定 佛,名 王,法 王,捨 ,發 願,今 佛,是 也。

(Sao: Kinh Đại Bổn chép: Trước Định Quang Phật năm mươi ba vị Phật, có một vị tên là Thế Tự Tại Vương. Khi ấy, ngài Pháp Tạng làm quốc vương, bỏ ngôi, xuất gia, phát ra bốn mươi tám nguyện, A Di Đà Phật hiện nay chính là vị Phật do Pháp Tạng tu thành).

 

      Đây là nói Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật trong hiện tại chính là do tỳ-kheo Pháp Tạng tu thành. Sự tu thành này giống như Thái Tử Tất Đạt Đa tu thành Thích Ca Mâu Ni Phật, chư vị phải hiểu sự thật này. Từ kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta đều đă đọc thấy những chuyện này, rất quen thuộc! Chuyện này đáng để nhắc tới, cũng là nhắc nhở bản thân chúng ta, đánh thức chính ḿnh. Đối với các pháp thế gian như tiếng tăm, lợi dưỡng, người thế gian tham luyến, chẳng nỡ buông xuống, tỳ-kheo Pháp Tạng đă nêu gương, Ngài thảy đều buông xuống. Nếu chẳng thể buông xuống, nói thật ra, sẽ là lục đạo luân hồi! Đă luân hồi trong lục đạo th́ quan hệ với hết thảy chúng sanh trong thế gian sẽ là quan hệ ân oán. Nói thật ra, kết ân huệ với chúng sanh cực ít, kết cừu oán với chúng sanh chiếm đại đa số, bản thân chúng ta khéo phản tỉnh đôi chút sẽ biết ngay. Kết thù oán nhiều ngần ấy, càng kết càng sâu, mai sau giải quyết bằng cách nào? V́ thế, người thật sự có trí huệ nêu gương cho chúng ta thấy, mong chúng ta thảy đều buông xuống.

      Người thế gian tranh danh trục lợi! Thuở ấy, ngài Pháp Tạng mang thân phận là quốc vương. Nói theo phương diện danh vọng, lợi dưỡng, Ngài phú quư tột bậc, thường nói là “quư vi thiên tử, phú hữu tứ hải” (thiên tử sang quư, giàu có khắp bốn biển), ngũ dục, lục trần trong thế gian này Ngài đều đạt được. V́ sao lại bỏ sạch để đi xuất gia? Đạt được danh lợi thế gian là một đời này, quư vị có thể hưởng thụ trong một thời gian hết sức ngắn ngủi, tạm bợ! Trong khi hưởng thụ, sẽ tạo vô lượng tội nghiệp; trong tương lai, nhất định sẽ phải đền trả những việc đă làm, tuyệt đối chẳng có chuyện may mắn [tránh né, khỏi phải trả nợ]. Sát nghiệp càng nặng, giết chết chúng sanh, đó là thiếu nợ mạng. Thiếu mạng th́ phải đền mạng, thiếu nợ th́ phải đền tiền, chẳng có kẻ nào may mắn thoát khỏi! Nếu chúng ta thật sự nh́n vào nhân trước, quả sau, sẽ chẳng dám dấy khởi một vọng niệm, chẳng dám khởi một ác niệm, chẳng dám làm chuyện xấu, nhân quả thông suốt ba đời mà! Kẻ mê hoặc điên đảo chỉ nh́n chuyện trước mắt, chẳng biết quả báo tương lai đáng sợ. Ngài (Pháp Tạng) thấy nhân quả mai sau, quốc vương cũng chẳng muốn làm, biết pháp thế gian chẳng có ǵ không rỗng tuếch, đúng là “tay trắng đến, tay trắng ra đi”. Đó gọi là “muôn thứ chẳng mang được, chỉ có nghiệp theo thân!” Tạo một thân đầy tội nghiệp, vô cùng đáng sợ! Do đó, người ta làm quốc vương, ngôi vua cũng bỏ phứt, theo Phật xuất gia. Đấy là sự thị hiện của A Di Đà Phật trong giai đoạn này nhằm cảnh tỉnh, răn nhắc chúng ta. Tiếp theo đây, [đại sư] giới thiệu các kinh, dẫn ra tám bộ kinh luận:

 

      (Sao) Đa chủng nhân giả, nhất, Pháp Hoa kinh, Đại Thông Trí Thắng Như Lai thời, thập lục vương tử, xuất gia tịnh tu phạm hạnh, cầu Vô Thượng Bồ Đề, Phật diệt độ hậu, thường nhạo thuyết thị Diệu Pháp Hoa kinh, hậu tất thành Phật. Đệ cửu vương tử ư Tây Phương thành Phật. Bỉ vương tử giả, kim A Di Đà Phật thị.

() 者,一、法 經,大 時,十 子,出 行,求 提,佛 後,常 經,後 佛,第 西 ,彼 者,今 是。

(Sao: “Có nhiều nhân”: Một là như trong kinh Pháp Hoa, vào thời Đại Thông Trí Thắng Như Lai, mười sáu vương tử xuất gia tịnh tu phạm hạnh, cầu Vô Thượng Bồ Đề. Sau khi đức Phật đă diệt độ, họ thường thích nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, về sau, đều thành Phật. Vương tử thứ chín thành Phật ở phương Tây, vương tử ấy nay là A Di Đà Phật).

 

      Đây là chuyện trong kiếp xa xưa của đức Phật được nói trong phẩm Thọ Lượng của kinh Pháp Hoa, Thích Ca Mâu Ni Phật cũng là một trong mười sáu vương tử. Vào thời Đại Thông Trí Thắng Như Lai (Mahābhijñā Jñānābhibhū), Thích Ca Mâu Ni Phật và A Di Đà Phật là anh em. Mười sáu người anh em các Ngài thảy đều xuất gia, sau này đều thành Phật. Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật trong hiện tại chính là vị vương tử thứ chín thuở ấy. Đây là nói đến nhân địa xưa kia, rất lâu xa, chẳng phải là chuyện trong khoảng mười kiếp, mà là chuyện từ nhiều kiếp lâu xa về trước!

 

      (Sao) Nhị, Bi Hoa kinh vân: “Vô lượng kiếp tiền, hữu Chuyển Luân vương, danh Vô Tránh Niệm, cúng dường Bảo Tạng Như Lai. Thời vương phát nguyện, nguyện thành Phật thời, quốc trung chủng chủng thanh tịnh trang nghiêm. Phật dữ thọ kư, quá hằng hà sa kiếp, Tây Phương thế giới tác Phật, quốc danh An Lạc. Bỉ quốc vương giả, kim A Di Đà Phật thị”.

() 二、悲 云:無 前,有 王,名 念,供 來。時 願,願 時,國 嚴,佛 記,過 劫,西 佛,國 樂,彼 者,今 是。

(Sao: Hai là kinh Bi Hoa chép: Vô lượng kiếp trước, có Chuyển Luân Vương tên là Vô Tránh Niệm, cúng dường Bảo Tạng Như Lai. Khi ấy, nhà vua phát nguyện, nguyện khi thành Phật, trong nước các thứ thanh tịnh trang nghiêm, Phật bèn thọ kư cho vua: Sau hằng hà sa kiếp, sẽ làm Phật trong thế giới Tây Phương, cơi nước tên An Lạc. Quốc vương ấy chính là A Di Đà Phật hiện thời).

 

       Kinh Bi Hoa nói nhân địa của Phật Di Đà vượt quá hằng hà sa số đại kiếp, đúng là vô lượng kiếp, đâu phải chỉ là mười kiếp! Kinh Vô Lượng Thọ nói “mười kiếp”; do vậy có thể biết, A Di Đà Phật trong thế giới Tây Phương là thị hiện, được gọi là “nhất kỳ thị hiện” (thị hiện trong một giai đoạn), giống như mở trường học, là một khóa học mà thôi. Trước khóa ấy, c̣n có rất nhiều khóa khác. Đây là nói rơ: Đức Phật đă thành Phật từ nhiều kiếp xa xôi trước.

 

      (Sao) Tam, Đại Thừa Phương Đẳng Tổng Tŕ Kinh vân: Vô Cấu Diễm Xưng Khởi Vương Như Lai thời, hữu Tịnh Mạng tỳ-kheo, tổng tŕ chư kinh thập tứ ức bộ, tùy chúng sanh nguyện nhạo, quảng vị thuyết pháp. Bỉ tỳ-kheo giả, kim A Di Đà Phật thị.

      () 三、大 云:無 時,有 丘,總 部,隨 樂,廣 法,彼 者,今 是。

   (Sao: Ba là Đại Thừa Phương Đẳng Tổng Tŕ Kinh[1] nói: Thời Vô Cấu Diễm Xưng Khởi Vương Như Lai, có tỳ-kheo Tịnh Mạng tổng tŕ các kinh số đến mười bốn ức bộ, tùy theo ḷng ưa muốn của chúng sanh mà rộng v́ họ thuyết pháp. Vị tỳ-kheo ấy nay là A Di Đà Phật).

 

      Bộ kinh này tuy chẳng nói rơ thời kiếp, chẳng nói thời gian dài hay ngắn, nhưng từ chuyện Ngài tổng tŕ các kinh mười bốn ức bộ, [ta biết ngay] đấy chẳng phải là thời kiếp thông thường. Nay kinh luận do Thích Ca Mâu Ni Phật lưu lại, dịch sang tiếng Hán bất quá là hơn ba ngàn bộ! Mười bốn ức bộ, dẫu theo cách tính của Ấn Độ coi “mười vạn là một ức”, th́ cũng là một trăm bốn mươi vạn bộ! Đấy là chúng ta nói tối thiểu, tính theo cách tối thiểu, tuyệt đối chẳng phải là người b́nh phàm có thể thọ tŕ. Nếu chẳng có thọ mạng rất dài, làm sao có thể thọ tŕ kinh điển nhiều ngần ấy? Lại c̣n rộng v́ chúng sanh tuyên thuyết, cho nên nhất định là sự tu học nơi nhân địa từ nhiều kiếp lâu xa trước.

 

      (Sao) Tứ, Hiền Kiếp kinh vân: Vân Lôi Hống Như Lai thời, hữu vương tử danh Tịnh Phước Báo Chúng Âm, cúng dường bỉ Phật. Bỉ vương tử giả, kim A Di Đà Phật thị.

() 四、賢 云:雲 時,有 音,供 佛,彼 者,今 是。

(Sao: Bốn là kinh Hiền Kiếp nói: Vào thời Vân Lôi Hống Như Lai, có một vương tử tên là Tịnh Phước Báo Chúng Âm cúng dường đức Phật ấy. Vị vương tử ấy nay là A Di Đà Phật).

 

      Kinh Hiền Kiếp do đức Phật nói. Xét theo kinh văn, trong vô lượng kiếp quá khứ, Phật Di Đà đă phước huệ song tu, nên lần này Ngài gặp Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai, tu thành Tây Phương Cực Lạc thế giới, chỉ dùng thời gian năm kiếp, kinh Vô Lượng Thọ đă nói rất rơ ràng! Đức Phật thuyết pháp cho Ngài ngàn ức năm, ngàn ức năm cũng chẳng coi như rất dài; v́ khi ấy, đức Phật trụ thế bốn mươi hai kiếp, trong năm kiếp Ngài (Phật Di Đà) đă tạo thành thế giới Cực Lạc. [Thoạt nh́n sẽ thấy sao mà] thực hiện dễ dàng quá! Chẳng biết Ngài đă tích lũy công đức từ vô lượng kiếp trước, đă sớm thành Phật. Giống như Thích Ca Mâu Ni Phật kiến lập Phật pháp trong thế gian này là lần thứ tám ngàn. Thoạt nh́n, Ngài kiến lập rất dễ dàng, từ năm vị tỳ-kheo tại Lộc Dă Uyển, chẳng bao lâu sau đă có một tăng đoàn khổng lồ!

 

      (Sao) Ngũ, bỉ kinh hựu vân: Kim Long Quyết Quang Phật thời, hữu pháp sư danh Vô Hạn Lượng Bảo Âm Hạnh, lực hoằng kinh pháp. Bỉ pháp sư giả, kim A Di Đà Phật thị.

() 五、彼 云:金 時,有 行,力 法。彼 者,今 是。

(Sao: Năm, kinh ấy lại nói: Vào thời Kim Long Quyết Quang Phật, có pháp sư tên Vô Hạn Lượng Bảo Âm Hạnh, tận lực hoằng dương kinh pháp. Vị pháp sư ấy nay là A Di Đà Phật).

 

      Trong nhân địa (khi tu nhân), thân phận nào A Di Đà Phật cũng đều từng trải qua.

 

      (Sao) Lục, Quán Phật Tam Muội đệ cửu kinh vân.

      () 六、觀 云。

      (Sao: Sáu là quyển chín kinh Quán Phật Tam Muội[2] có nói).

 

       Kinh Quán Phật Tam Muội, quyển thứ chín.

 

(Sao) Không Vương Phật thời, hữu tứ tỳ-kheo, phiền năo phú tâm, không trung giáo linh quán Phật, toại đắc Niệm Phật tam-muội, bỉ đệ tam tỳ-kheo, kim A Di Đà Phật thị.

() 時,有 丘,煩 心,空 佛,遂 昧,彼 丘,今 是。

 (Sao: Vào thời Không Vương Phật có bốn vị tỳ-kheo, phiền năo che lấp tâm, [nghe] trong hư không [có tiếng] truyền dạy hăy nên quán Phật, bèn đắc Niệm Phật tam-muội. Vị tỳ-kheo thứ ba khi ấy nay là A Di Đà Phật).

 

      Sau khi chúng ta đọc đoạn kinh văn này, có thể đạt được đôi chút lợi ích chân thật. V́ sao? Phiền năo che lấp tâm, đây là trạng huống của chúng ta trong hiện thời. Nay trong tâm chúng ta toàn là phiền năo. Ngoài phiền năo ra, chẳng có thứ ǵ khác, học đầy ắp một bụng Phật pháp vẫn là phiền năo! Trong kinh thường có tỷ dụ, [dùng] các đồ đựng [để tỷ dụ]: Như cái chén trà này, trước kia đă từng đựng thuốc độc; nay đă đổ hết thuốc độc đi, nhưng vẫn chưa rửa sạch sẽ. Lại đổ đề-hồ vào, đề-hồ cũng biến thành thuốc độc! Huống chi chúng ta vẫn chưa trừ hết phiền năo, phiền năo đầy dẫy, lại bỏ thêm đề-hồ Phật pháp vào, toàn thể đề-hồ đều biến thành thuốc độc! Do phiền năo che lấp tâm đó mà!

      V́ lẽ này, chư Phật, Bồ Tát truyền pháp, nhất định phải t́m người như thế nào? T́m pháp khí, thật sự là pháp khí. Pháp khí là ǵ? Cái chén này sạch sẽ, tuy trước kia từng đựng thuốc độc, nhưng đă rửa sạch sẽ, một tí cặn cũng chẳng sót lại. Như vậy th́ mới được, đấy mới là pháp khí, đựng đề-hồ sẽ không bị biến chất! C̣n có một chút phiền năo chưa đoạn, sẽ bị biến chất. Chư vị hăy nghĩ xem, đoạn phiền năo quan trọng như thế đó! Phiền năo chẳng đoạn, không thể nào đạt được thành tựu. Chúng ta ngàn muôn phần phải ghi nhớ điều này, tuyệt đối chẳng thể đùa bỡn. V́ sao? Có mối quan hệ chặt chẽ với sự văng sanh Tịnh Độ trong tương lai của chúng ta. Tâm thanh tịnh th́ mới có thể sanh về Tịnh Độ, đới nghiệp chỉ là mang theo nghiệp cũ, chẳng mang theo nghiệp mới.

      Nghiệp cũ và nghiệp mới tính từ ngày nào? Tôi nói cho quư vị biết, quư vị có thể rất yên ḷng: Tính từ ngày quư vị văng sanh. Khi văng sanh mà nghiệp c̣n hiện tiền, sẽ chẳng thể văng sanh. V́ sao biết là tính từ lúc văng sanh? Kinh có nói: Khi lâm chung, [kẻ trót tạo tội] Ngũ Nghịch, Thập Ác gặp thiện tri thức, một niệm hay mười niệm đều có thể văng sanh. Có thể thấy là nghiệp cũ và nghiệp mới được tính từ lúc văng sanh. Nhưng quư vị phải hiểu, tuy tính từ lúc ấy, chúng ta phải chuẩn bị từ hiện thời. Hiện thời không chuẩn bị, đến khi văng sanh, đối với một niệm lúc lâm chung, quư vị có thể bảo đảm khi đó sẽ có thể chế phục cựu nghiệp, khiến cho nó chẳng dấy lên hiện hành hay chăng? Quư vị chẳng nắm chắc! Chẳng nắm chắc, nói cách khác, sanh tử chẳng nắm chắc, sẽ chẳng đảm bảo văng sanh! V́ thế từ ngay trong hiện thời phải nghiêm túc nỗ lực, phải thấy thấu suốt, phải buông xuống.

      Đương nhiên chuyện này cũng cần phải có phương pháp. Kinh dạy chúng ta phương pháp rất hay. “Không trung giáo lệnh” (tiếng truyền dạy trong hư không), “không trung” [là tiếng truyền dạy] của Không Vương Phật (Dharmagahanābhyudgata-rāja), dạy họ hăy dùng phương pháp Quán Phật. Quán Phật là niệm Phật, “toại đắc Niệm Phật tam-muội” (bèn đắc Niệm Phật tam-muội), thành tựu Niệm Phật tam-muội. Phương pháp này thật sự hay lắm! A Di Đà Phật dùng phương pháp ǵ để thành Phật? Ngài cũng do niệm Phật mà thành Phật. Chúng ta hăy nên biết chân tướng sự thật này. Từ nay trở đi, tâm chúng ta trong mỗi niệm đều niệm Phật, trong mỗi niệm đều tưởng Phật, hết thảy những thứ khác đều chẳng nghĩ tới, chẳng vương vấn. Mọi người chớ nghĩ: Nếu như vậy th́ có phải là chúng ta quá lạnh nhạt đối với người nhà quyến thuộc hay không? Nếu quư vị chẳng lạnh nhạt mà rất nhiệt t́nh, hễ nhiệt t́nh sẽ phải luân hồi trong lục đạo! Luân hồi trong lục đạo th́ kết quả, nói thật ra, bất quá cũng là ngắn ngủi, tạm bợ mấy chục mùa nóng lạnh, sau khi đă chết, ai nấy đều bươn bả theo tương lai riêng, muốn gặp lại khó lắm, rất ư là khó! Phải thật sự hiểu rơ điều này!

      Nếu có thể thật sự buông xuống, niệm Phật văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chính ḿnh niệm Phật sanh về Tịnh Độ, đối với người nhà quyến thuộc đều có thể khuyên họ văng sanh Tịnh Độ. Do thọ mạng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới dài lâu, như vậy th́ mới có thể thật sự ở cùng một chỗ. V́ thế, người niệm Phật thoạt nh́n dường như rất lạnh nhạt, tiêu cực, thật ra là hành vi tích cực nhất, chẳng có ǵ tích cực hơn! Người thế gian nh́n bề ngoài là tích cực, nói thật ra, thật sự là tiêu cực, thật sự xem nhẹ hiện thực! V́ thế, ngàn muôn phần đừng coi rẻ pháp môn Niệm Phật này! Những lo nghĩ, vướng mắc thảy đều phải buông xuống, biến đổi tất cả phiền năo trong tâm thành A Di Đà Phật th́ sẽ thành công.

 

      (Sao) Thất, Như Huyễn Tam Ma Địa Vô Lượng Ấn Pháp Môn Kinh vân: Sư Tử Du Hư Kim Quang Như Lai thời, hữu quốc vương danh Thắng Oai, tôn trọng cúng dường bỉ Phật, tu Thiền Định hạnh, bỉ quốc vương giả, kim A Di Đà Phật thị.

      () 七、如 云:獅 時,有 威,尊 佛,修 行,彼 者,今 是。

 (Sao: Bảy là kinh Như Huyễn Tam Ma Địa Vô Lượng Ấn Pháp Môn[3] nói: Vào thời Sư Tử Du Hư Kim Quang Như Lai, có quốc vương tên Thắng Oai tôn trọng cúng dường đức Phật ấy, tu Thiền Định hạnh. Vị quốc vương ấy nay là A Di Đà Phật).

 

      Từ chỗ này chúng ta cũng biết, khi tu nhân, Phật Di Đà không chỉ tu pháp môn Niệm Phật, mà là trong đời quá khứ, pháp môn ǵ Ngài cũng đều đă tu. Trong thời kỳ này, Ngài tu Thiền Định, đúng là “vô lượng pháp môn thệ nguyện học”, Ngài thảy đều đă tham học. Chỉ có như thế th́ ngày nay Ngài dạy chúng ta pháp môn Niệm Phật, chúng ta mới có thể tin tưởng! A Di Đà Phật không chỉ biết một pháp môn này, mà pháp môn nào Ngài cũng đều biết, pháp môn nào Ngài cũng đều đă từng học. So trong hết thảy các pháp môn, pháp môn này thù thắng, rốt ráo, thuận tiện bậc nhất, đáng gọi là “đơn giản, dễ dàng, thẳng chóng, ổn thỏa, thích đáng”. Trong hết thảy các pháp môn, không có pháp nào vượt hơn pháp môn này! Trong vô lượng kiếp, [pháp môn nào] Ngài cũng đều đă từng tu, điều này đáng để cho chúng ta nghiêm túc phản tỉnh.

 

      (Sao) Bát, Nhất Hướng Xuất Sanh Bồ Tát Kinh vân: A Di Đà Phật, tích vi Thái Tử, văn thử vi diệu pháp môn, phụng tŕ tinh tấn, thất thiên tuế trung, hiếp bất chí tịch.

      () 八、一 云:阿 佛,昔 子,聞 門,奉 進,七 中,脅 席。

(Sao: Tám là kinh Nhất Hướng Xuất Sanh Bồ Tát[4]: A Di Đà Phật xưa kia làm Thái Tử, nghe pháp môn vi diệu này, phụng tŕ tinh tấn, trong bảy ngàn năm, chẳng ngả lưng xuống chiếu).

      “Pháp môn vi diệu” là nói về bộ kinh điển Nhất Hướng Xuất Sanh Bồ Tát. Ngài tu học [bộ kinh ấy] trong thời hạn bảy ngàn năm; do vậy có thể biết: Thọ mạng thuở ấy cũng là dùng kiếp số để luận. “Hiếp bất chí tịch” (hông chẳng chạm chiếu) là không nằm xuống giường, ngồi suốt, chẳng nằm! Không nằm xuống chẳng phải là ngồi ngủ, ngồi ngủ th́ chẳng thà nằm xuống ngủ, thoải mái hơn! Có rất nhiều người học đ̣i hạnh “không nằm xuống đơn” (giường của tăng sĩ), sai lầm mất rồi, họ học cách ngủ ngồi! Người ta không nằm xuống ngủ để tu Thiền Định. Trong Định, ư thức sáng suốt, c̣n ngủ nghê là hôn trầm. Hôn trầm chẳng phải là Định! Chúng ta thường thấy có kẻ ngồi đó ngủ kh́, lại c̣n ngáy ầm ầm, chứng tỏ kẻ ấy tuyệt đối chẳng phải là đang nhập Định, mà đang học ngủ ngồi! Ngồi lâu, ngồi ngủ tại đó th́ đương nhiên tinh thần chẳng thể phấn chấn được, đầu cũng ngoẹo đi, đầu và chân [gần như] chạm nhau, lưng cũng kḥm xuống. Quư vị thấy tượng Phật tĩnh tọa, ngực vị nào cũng vươn thẳng, tinh thần luôn luôn sung măn, chẳng có vị nào ngoẹo đầu, kḥm lưng!

      Lăo ḥa thượng Hư Vân là người thật sự có công phu hiếm có trong Thiền Tông cận đại, Ngài chưa hề kḥm lưng, nghiêng hông, bất luận đứng hay ngồi, ngực luôn vươn thẳng. Chúng ta đọc Niên Phổ thấy chép: Có lúc Ngài tĩnh tọa mấy chục ngày, tuyệt đối chẳng phải là đang ngủ, mà là thật sự nhập Định. Sau khi xuất Định, Ngài thường kể cùng mọi người cảnh giới trong Định. Có một dịp Tết, Ngài nhập Định hơn nửa tháng, lên trời Đâu Suất nghe Di Lặc Bồ Tát giảng kinh, nghe hết một hội mới xuất Định. Trước khi nhập Định, Ngài nấu một nồi khoai; sau khi xuất Định t́m khoai để ăn th́ kết quả là [khoai] trong nồi đều nổi mốc hết! Chính Ngài cảm thấy thời gian [nhập Định] khoảng chừng hai mươi phút, đâu biết là trong thế gian này đă hơn nửa tháng [trôi qua]!

 

      (Sao) Bất niệm ái dục tài bảo, bất vấn tha sự, thường độc xử chỉ, ư bất khuynh động.

      () 寶,不 事,常 止,意 動。

(Sao: Chẳng nghĩ tới ái dục, của cải, không hỏi đến chuyện khác, thường ở riêng một chỗ, ư chẳng khuynh động).

 

      Thưa cùng chư vị, bốn câu này chính là đại định chân chánh. Câu “hiếp bất chí tịch” (hông chẳng chạm chiếu) trong đoạn trước là nhập Định h́nh thức, bốn câu sau này chính là đi, đứng, nằm, ngồi đều ở trong Định. Đó gọi là “Na Già thường tại Định, chẳng lúc nào không Định”, Định là tâm bất động! Kinh Kim Cang dạy: “Bất thủ ư tướng, như như bất động” (chẳng chấp lấy tướng, như như bất động), “bất thủ tướng” là chẳng chấp tướng. “Bất niệm ái dục, tài bảo, bất vấn tha sự” (chẳng nghĩ tới ái dục, của cải, chẳng hỏi đến chuyện khác) chính là không chấp tướng. “Thường độc xử chỉ, ư bất khuynh động” (thường ở riêng một chỗ, ư chẳng khuynh động) là như như bất động. Đây là nói tâm bất động, chẳng phải là nói thân bất động. V́ sao? Đoạn kế tiếp nói:

 

      (Sao) Phục giáo hóa bát thiên ức vạn na-do-tha nhân, đắc bất thoái chuyển.

      () 人,得 退 轉。

(Sao: Lại c̣n giáo hóa tám ngàn ức vạn na-do-tha người đắc bất thoái chuyển).

 

      Ngài giáo hóa chúng sanh, giáo hóa chúng sanh là động. Tuy hằng ngày giáo hóa chúng sanh, tuy cùng đại chúng ở chung một chỗ, nhưng Ngài chẳng chấp tướng, chẳng động tâm, thời thời khắc khắc đều ở trong Định, chúng ta phải nên học điều này. Bồ Tát chẳng giống phàm phu ở chỗ này. Sáu căn của phàm phu tiếp xúc cảnh giới sáu trần bèn khởi tâm động niệm, chấp tướng, tham đắm sắc tướng, khởi lên những ư niệm tham, sân, si, mạn. Bồ Tát chẳng khởi tâm, không động niệm, khác nhau ở ngay chỗ này. Nếu chúng ta muốn siêu phàm nhập thánh, phải học ở chỗ này.

      Hiện thời, trong Phật môn, thực hiện sự nghiệp từ thiện là chuyện rất phổ biến. Đấy là chuyện tốt, nhưng đó là pháp thế gian, chẳng phải là Phật pháp. Phật pháp là tu tâm thanh tịnh, liễu sanh tử, thoát tam giới. Nếu làm sự nghiệp từ thiện thế gian, tâm địa thanh tịnh, ngoài chẳng chấp tướng, trong chẳng động tâm th́ được! Đó là hành Bồ Tát đạo. Nếu làm những chuyện ấy mà chúng ta khởi tâm động niệm, khởi tham, sân, si, mạn, chớ nên làm những chuyện ấy! Hễ làm th́ sẽ như thế nào? Chính ḿnh đọa lạc luân hồi, những ǵ đă tu đều là phước báo hữu lậu. Đối với phước báo hữu lậu ấy, tôi trọn chẳng thêm vào hai chữ “nhân thiên”. V́ sao? Chưa chắc đă hưởng trong nhân thiên! Chuyện này rất đáng sợ, chúng ta hăy nên cảnh giác. Không thoát khỏi tam giới, không thể văng sanh, nói thật thà, đáng ngại lắm! Vấn đề này rất nghiêm trọng. Trong một đời này, hễ gặp gỡ Phật pháp th́ quyết định phải văng sanh, quyết định phải thấy Phật. Chúng ta chỉ có một mục tiêu này, chỉ có một phương hướng này, chỉ có một mong cầu này, những thứ khác thảy đều chẳng có. Do đó, chúng ta làm việc là hoằng pháp lợi sanh, vẫn chẳng phải là sự nghiệp từ thiện thông thường, cũng phải tùy duyên, chớ nên phan duyên. Hơi phan duyên đôi chút, tâm chúng ta chẳng thanh tịnh. Đánh mất tâm thanh tịnh th́ tệ lắm! Dẫu hoằng pháp lợi sanh, vẫn là thiện pháp hữu lậu, cũng là phước báo hữu lậu trong thế gian. Nhất định phải nhận thức rơ ràng điểm này!

      Nhận thức rơ ràng là “giác chứ không mê”, tuyệt đối chẳng mê nơi sự tướng. Nhất tâm nhất ư niệm câu A Di Đà Phật, trong mười hai thời chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, đó là “chánh chứ không tà”. Trong tâm Phật hiệu chẳng gián đoạn bèn chẳng có phiền năo, đó là “tịnh chứ chẳng nhiễm”. Chúng ta tu ǵ? Chúng ta dùng câu A Di Đà Phật, dùng bộ kinh Vô Lượng Thọ và kinh Di Đà để tu giác, chánh, tịnh. Giác, chánh, tịnh viên măn bèn thành Phật. Chẳng viên măn bèn là Bồ Tát, thật sự phát Bồ Đề tâm tu Bồ Tát đạo.

 

      (Sao) Bỉ Thái Tử giả, kim A Di Đà Phật thị. Dĩ thượng lược cử sổ đoan, nhược kỳ đa kiếp đa nhân, diệc ưng vô lượng.

      () 者,今 是。以 端,若 因,亦

 (Sao: Vị Thái Tử ấy nay là A Di Đà Phật. Trên đây đă nêu đại lược vài chi tiết. Nếu [A Di Đà Phật] đă là nhiều lượt tu nhân trong nhiều kiếp th́ cũng phải là vô lượng).

 

      Nếu nói rộng ra, sẽ nói chẳng tận! Đây là nói đại lược nhân địa của A Di Đà Phật nhằm chứng tỏ từ nhiều kiếp lâu xa trước, Ngài đă sớm thành Phật. Lần này, ở Tây Phương Cực Lạc thế giới là một kỳ ứng hiện. Tuy ứng hiện, cũng thật sự là chẳng thể nghĩ bàn, thọ mạng chẳng thể nghĩ bàn, thế giới chẳng thể nghĩ bàn, trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn, người văng sanh chẳng thể nghĩ bàn, đại chúng thành tựu chẳng thể nghĩ bàn! Thế giới ấy thù thắng hơn hết thảy một thời kỳ thị hiện của hết thảy chư Phật Như Lai quá nhiều!

 

      (Diễn) Đa chủng nhân giả, nhất nhạo thuyết, nhị phát nguyện, tam tổng tŕ, tứ cúng dường, ngũ hoằng kinh, lục niệm Phật, thất tu Thiền, bát hành độ.

() 者,一 說,二 願,三 持,四 養,五 經,六 佛,七 禪,八 度。

 (Diễn: “Nhiều thứ nhân”: Một là thích nói, hai là phát nguyện, ba là tổng tŕ, bốn là cúng dường, năm là hoằng kinh, sáu là niệm Phật, bảy là tu Thiền, tám là hành Lục Độ).

 

      Đương nhiên tám loại này là nêu đại lược, chúng ta cũng phải nên học tập những điều này. Học tập, phải đừng chấp tướng, đừng kể công: “Ta làm bao nhiêu chuyện tốt, ta làm bao nhiêu công đức”, [nếu kể công] tâm địa sẽ chẳng thanh tịnh, [những công đức đă làm đều] biến thành phước báo hữu lậu. Quư vị tu tập tích lũy hết thảy thiện pháp, tâm thanh tịnh, chẳng nhiễm trước, đó là công đức vô lậu. Ghi công, ta làm bao nhiêu chuyện tốt, bao nhiêu việc thiện, niệm niệm chẳng quên, đấy là hữu lậu, bèn biến thành phước báo thế gian. Làm giống hệt như vậy, nhưng tâm khác hẳn, kết quả sẽ khác hẳn. Quả báo của tịnh nghiệp là ở trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nghiệp chẳng tịnh, sẽ luân hồi ngay trong lục đạo của thế giới Sa Bà, quả báo chênh lệch quá lớn! Sai sót hào ly, lạc đi ngàn dặm!

      Thứ nhất là Nhạo Thuyết. Chữ Nhạo () đọc giọng Khứ Thanh, nên hiểu như động từ, nghĩa là yêu chuộng, ưa thích, thích nói. Thích nói ǵ vậy? Chẳng phải là bảo quư vị lắm mồm, ham nói, [nếu hiểu “nhạo thuyết’ là lắm mồm, ham nói] th́ sai mất rồi! Thích nói ở đây là dùng pháp môn A Di Đà Phật để khuyên bảo, hướng dẫn kẻ khác, cũng tức là khuyên người khác niệm Phật, thích nói cho người khác nghe, nói bộ kinh này, nói công đức của danh hiệu Di Đà, nói y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới, ưa thích nói những chuyện này.

      Thứ hai là Phát Nguyện. Nguyện này chẳng phải là nguyện nào khác, chỉ có một nguyện: Nguyện sanh Tịnh Độ. Thông thường, Đại Thừa Phật pháp hễ nói tới phát nguyện đều nêu lên Tứ Hoằng Thệ Nguyện. Tứ Hoằng Thệ Nguyện thảy đều bao gồm trong “nguyện sanh Tịnh Độ” của Tịnh Tông. Tứ Hoằng Thệ Nguyện là nguyện chung của mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai, bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật là biệt nguyện. Biệt nguyện chẳng ra ngoài bốn loại lớn ấy, nên Tứ Hoằng Thệ Nguyện thảy đều được bao gồm. Một niệm cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới của chúng ta là để độ chúng sanh. Bởi lẽ, chẳng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng ta chẳng có năng lực độ chúng sanh, nên điều thứ nhất [trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện] đă được bao gồm. Nhất tâm xưng niệm A Di Đà Phật, phiền năo trong tâm đều biến thành A Di Đà Phật, phiền năo liền đoạn. “Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”, dùng phương pháp ǵ để đoạn? Một câu A Di Đà Phật. Hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước trong tâm quư vị thảy đều dùng một câu A Di Đà Phật để thay thế, thay đổi chúng, phiền năo chẳng c̣n nữa, phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn!

      Đại Thế Chí Bồ Tát bảo chúng ta, Ngài và những người cùng chí hướng, “ngũ thập nhị đồng luân”, “đồng luân” (同倫) là cùng chí hướng. “Năm mươi hai” là kể từ địa vị Sơ Tín cho đến thành Phật, [tức là] Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác, năm mươi hai [cấp bậc] cùng chí hướng. Cùng chí hướng ǵ vậy? Thảy đều niệm A Di Đà Phật. Từ sơ phát tâm măi cho đến thành Phật, chẳng dùng phương pháp thứ hai, mà dùng một câu A Di Đà Phật, nêu rơ: Dùng câu A Di Đà Phật để đoạn Kiến Tư phiền năo, đoạn Trần Sa phiền năo, đoạn Vô Minh phiền năo, ngay cả đối với một phẩm sanh tướng vô minh cuối cùng vẫn dùng câu Phật hiệu này để đoạn, chẳng dùng phương pháp khác. V́ thế, những người thuộc nhóm của Đại Thế Chí Bồ Tát là loại người “một bộ kinh, một câu danh hiệu”. Trong Tịnh Tu Tiệp Yếu, lăo cư sĩ Hạ Liên Cư đă nói Tịnh Tông Sơ Tổ là Đại Thế Chí Bồ Tát, nói chẳng sai tí nào, Ngài mới thật sự là Sơ Tổ của Tịnh Độ Tông. Một bộ kinh, một câu danh hiệu, từ sơ phát tâm măi cho đến khi thành Phật, chẳng dùng phương pháp thứ hai, đúng là “chẳng nhờ vào phương tiện, mà tự được tâm khai”, chẳng cần dùng tới phương pháp thứ hai! Do đó, Đại Thế Chí Bồ Tát mới là thật thà niệm Phật đúng tiêu chuẩn. Lũ b́nh phàm chúng ta chẳng thật thà, v́ sao? Vẫn muốn đọc kinh này, xem luận nọ, đấy là chẳng thật thà! Nhóm người Đại Thế Chí Bồ Tát, những người cùng chí hướng ấy mới thật sự là thật thà niệm Phật. Đó là đoạn hết phiền năo.

Niệm một câu A Di Đà Phật đến mức tâm khai ư giải. Đại Thế Chí Viên Thông Chương có nói “tự đắc tâm khai”. Hễ tâm khai th́ vô lượng pháp môn thành tựu. “Vô lượng pháp môn thệ nguyện học”, chẳng học mà thành tựu, đều thông suốt, v́ sao? Đă kiến tánh, nên vô lượng pháp môn thảy đều thông đạt, Sơ Trụ Bồ Tát bèn thông đạt. Sơ Trụ Bồ Tát phá một phẩm vô minh, thấy một phần chân tánh, chính là Phần Chứng Tức Phật trong Lục Tức Phật của tông Thiên Thai. Vị ấy là Phật thật sự, minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật, trong Tịnh Độ Tông là Lư nhất tâm bất loạn. Chỉ cần niệm Phật niệm đến mức Lư nhất tâm bất loạn, đối với hết thảy các pháp môn, chẳng có một pháp môn nào không thông đạt. Một câu A Di Đà Phật, “pháp môn vô lượng thệ nguyện học” ở ngay trong một câu A Di Đà Phật. Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. V́ vậy, chỉ phát tâm cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, Tứ Hoằng Thệ Nguyện bèn viên măn, bèn trọn đủ. Phát nguyện [là như vậy đấy]!

Thứ ba là Tổng Tŕ. Tổng Tŕ có nghĩa là “tổng nhất thiết pháp, tŕ nhất thiết nghĩa” (bao gồm hết thảy các pháp, nắm giữ hết thảy các nghĩa). Nói theo cách hiện thời, sẽ là “nắm vững cương lănh”. Chỉ cần nắm được cương lănh, quư vị sẽ đạt được hết thảy. Chúng ta biết: Không riêng ǵ hết thảy các kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật đă giảng, mà hết thảy kinh do mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai đă nói, cương lănh là ǵ? Chính là kinh này! Hai bản kinh Đại Bổn và Tiểu Bổn, Đại Bổn là kinh Vô Lượng Thọ, Tiểu Bổn là kinh A Di Đà. Đại Bổn và Tiểu Bổn là tổng cương lănh của hết thảy các pháp môn do mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai đă nói. Đến tuổi xế bóng, Liên Tŕ đại sư triệt để giác ngộ, đă nói: “Tam Tạng mười hai bộ, nhường cho kẻ khác ngộ”, chẳng cần nữa! Nếu chẳng triệt để giác ngộ, Ngài chẳng nắm được cương lănh này. Nắm được cương lănh này, chẳng cần đến những thứ khác, những thứ khác do kẻ khác ngộ, là chuyện của họ. Họ học bộ kinh nào, bộ luận nào đó, chúng ta trông thấy đều chắp tay, hết sức hoan hỷ, hết sức cung kính. Chúng ta tán thán, lễ kính họ, nhưng vẫn niệm kinh Di Đà của chính ḿnh, niệm A Di Đà Phật của chính ḿnh. Bởi lẽ, một câu A Di Đà Phật là cương lănh của các cương lănh, là pháp môn đại tổng tŕ.

      Thứ tư là Cúng Dường. Chúng ta cúng dường Phật, cúng dường Pháp, cúng dường Tăng, cúng dường hết thảy chúng sanh, dùng ǵ để cúng dường? Tôi thưa cùng chư vị đồng tu, cúng dường vô thượng, cúng dường bậc nhất là một câu Nam-mô A Di Đà Phật. Chúng ta dùng một câu Phật hiệu này để cúng dường hết thảy chư Phật Như Lai, dùng một câu Phật hiệu này để cúng dường hết thảy Pháp Bảo, dùng một câu Phật hiệu này để cúng dường Tăng Bảo, dùng một câu Phật hiệu này để cúng dường chúng sanh trong chín pháp giới. Đây là cúng dường bậc nhất, cúng dường vô thượng. Chúng sanh trong chín pháp giới “một phen thoảng qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo”. Trong tương lai, gặp duyên, [hạt giống ấy] bèn chín muồi, họ sẽ có thể niệm Phật cầu sanh về thế giới Tây Phương. Đó là sự cúng dường tốt nhất, có mấy ai hiểu? Chúng ta vừa thấy “cúng dường” liền nghĩ tới tiền tài; đó là loại cúng dường vặt vănh, sự cúng dường ấy có lợi ích quá ít ỏi, mỏng manh. Phẩm [Phổ Hiền] Hạnh Nguyện có nói: “Nhất thiết cúng dường trung, pháp cúng dường tối” (trong hết thảy các thứ cúng dường, pháp cúng dường bậc nhất). Trong hết thảy các pháp cúng dường, một câu Nam-mô A Di Đà Phật là bậc nhất! Hiểu rơ đạo lư này, quư vị sẽ biết tu cúng dường, những ǵ quư vị tu tập sẽ là cúng dường bậc nhất, là vô thượng cúng dường.

      Thứ năm là Hoằng Kinh: Tùy phần, tùy sức giải nói với người khác chính là hoằng kinh. In tặng kinh sách cũng là hoằng kinh. Làm băng ghi h́nh, đĩa CD/DVD cũng là hoằng kinh. Giới thiệu lợi ích thù thắng do bản thân chúng ta đạt được từ Phật pháp cùng chúng sanh hữu duyên. Được gọi là “hữu duyên” tức là sau khi họ tiếp xúc, sẽ có thể sanh tâm hoan hỷ, có thể tin tưởng, có thể phụng hành. Đó là chúng sanh hữu duyên, chúng ta phải tận tâm tận lực thực hiện [sự nghiệp hoằng kinh]. Trừ những phương pháp này ra, chúng ta đem Đại Tạng Kinh làm thành đĩa DVD/CD, dùng phương thức này để truyền bá th́ sẽ tiện lợi hơn, ít tốn công hơn in kinh. Khi cần dùng, cần phải in ra bao nhiêu phần th́ máy in sẽ in ra bấy nhiêu phần, thuận tiện lắm!

Sáu là Niệm Phật, bảy là tu Thiền, tám là hành Lục Độ: Ba hạng mục này nói về sự tu tŕ. Trong tất cả hết thảy các pháp môn tu tŕ, niệm Phật thù thắng nhất. Niệm vị Phật nào? Trong quá khứ, Văn Thù Bồ Tát dạy thiền sư Pháp Chiếu niệm A Di Đà Phật. A Di Đà Phật đặc biệt có duyên với thế giới Sa Bà, Văn Thù Bồ Tát dạy đấy nhé! Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng dạy chúng ta điều này. Không chỉ là đức Bổn Sư dạy chúng ta, mà trong đoạn sáu phương Phật ở phần sau kinh này, sáu phương chính là mười phương, mười phương tất cả chư Phật chẳng có vị nào không tán thán kinh này. Tán thán là ǵ? Tán thán là tuyên giảng. Nói cách khác, hết thảy chư Phật chẳng có vị nào không giảng kinh A Di Đà, chẳng có vị nào không khuyên người ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Điều này nêu rơ: Niệm A Di Đà Phật là lời khuyên chân thật của hết thảy chư Phật đối với chúng ta, có lợi ích tuyệt đối.

Tu Thiền chẳng phải là bảo quư vị hằng ngày xếp bằng tĩnh tọa.Thiền Định như Lục Tổ đại sư đă giảng trong Đàn Kinh chẳng phải là kiểu Thiền Định tĩnh tọa nh́n vách. Lăo nhân gia giảng Thiền Định là “ngoài chẳng chấp tướng là Thiền, trong chẳng động tâm là Định”. Ngoài chẳng chấp tướng là “bất thủ ư tướng” như kinh Kim Cang đă dạy. Trong chẳng động tâm là “như như bất động” như kinh Kim Cang đă nói. Lăo nhân gia do kinh Kim Cang mà khai ngộ. Do lẽ đó, chẳng chấp tướng, không động tâm chính là tu Thiền Định.

      “Hành độ”: Độ () là Lục Độ (六度). Lục Độ là cương lănh trọng yếu trong cuộc sống của chúng ta, là nguyên tắc sống phải tuân thủ. Trong cuộc sống hằng ngày, một người học Phật căn cứ vào đâu? Căn cứ vào Lục Độ. Bố Thí là buông xuống. Tŕ Giới là vâng giữ quy củ, tuân theo khuôn pháp. Nhẫn Nhục là có tâm nhẫn nại, có tâm thường hằng, có tâm dài lâu, Tinh Tấn là cầu tiến bộ, đổi mới mỗi ngày! Thiền Định là tâm địa thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần. Bát Nhă là chánh tri chánh kiến, giác chứ không mê. Sáu cương lănh tu học của Bồ Tát thảy đều nằm trong cuộc sống, tu hành ngay ở chỗ xử sự, đăi người tiếp vật, chẳng ĺa khỏi thế gian này, chẳng rời khỏi xă hội.

 

      (Diễn) “A Di Đà Phật tích vi Thái Tử” hạ nhất tiết, cụ túc Lục Độ.

() 節,具 度。

(Diễn: Từ sau đoạn “A Di Đà Phật xưa kia làm Thái Tử” trở đi là trọn đủ Lục Độ).

 

      Đoạn này trọn đủ ư nghĩa Lục Độ.

 

      (Diễn) Thất thiên tuế trung, hiếp bất chí tịch, Tinh Tấn Độ.

() 席,精 度。

(Diễn: Trong bảy ngàn năm, hông chẳng chạm chiếu là Tinh Tấn Độ).

 

      V́ sao nói Ngài tinh tấn? Người b́nh phàm đêm ngủ, công phu bị gián đoạn. Chẳng ngủ nghê, công phu của Ngài chẳng gián đoạn, đó là chân tinh tấn. Ngài nhập Định có thể khôi phục tinh thần và thể lực, cảnh giới trong Định rơ rệt, phân minh, quyết định chẳng có hôn trầm. Hôn trầm là thoái chuyển, gián đoạn. Ngài chẳng bị hôn trầm, thật sự tinh tấn.

 

      (Diễn) Bất niệm ái dục, Giới Độ.

      () 欲,戒 度。

      (Diễn: Chẳng nghĩ tới ái dục là Giới Độ).

 

      Đây là Tŕ Giới Ba La Mật, là đoạn phiền năo.

 

      (Diễn) Bất niệm tài bảo, Thí Độ.

      () 寶,施 度。

      (Diễn: Chẳng nghĩ tới của cải là Thí Độ).

 

      Đây là Bố Thí. Ngài thật sự buông tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần xuống, trong tâm chẳng có những thứ ấy, thảy đều buông xuống, thân tâm thanh tịnh. Chúng ta phải học những điều này. Nay chúng ta tuy tu Tịnh Độ, mong tu tâm thanh tịnh, nhưng nói chung, tâm chẳng thanh tịnh, do nguyên nhân nào? Không buông xuống, làm sao có thể thanh tịnh cho được? Những thứ ấy nhiễm ô tâm tánh nghiêm trọng; chẳng thể triệt để trừ bỏ những thứ ấy, khi nào th́ tâm mới có thể thanh tịnh? Chẳng thể nào có chuyện đó! Tâm thanh tịnh là Niệm Phật tam-muội. Tam-muội là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Chánh Thọ, [nghĩa là] một loại hưởng thụ đúng mực, b́nh thường. Tâm địa thanh tịnh là sự hưởng thụ đúng mực, chánh đáng; chẳng thanh tịnh th́ là bất b́nh thường. Phàm phu bất b́nh thường, Phật, Bồ Tát mới là b́nh thường.

 

      (Diễn) Bất vấn tha sự, thường độc xử chỉ, Thiền Độ.

      () 事,常 止,禪 度。

      (Diễn: Chẳng hỏi đến chuyện khác, thường ở riêng một ḿnh, chính là Thiền Độ).

 

      Chuyện chẳng thuộc về bổn phận của chúng ta, chớ nên bận ḷng. Cớ ǵ rỗi hơi lo chuyện bao đồng? Càng bận tâm lắm chuyện, phiền năo càng nhiều, thị phi càng lắm, những thứ ấy đều chướng ngại cái tâm thanh tịnh. V́ thế, trong thiên hạ, người như thế nào là có phước? Người chẳng cần quan tâm chuyện ǵ hết là người có phước! Thân tâm thanh tịnh, trong tâm vô sự, thân cũng vô sự, đó là đại phước báo bậc nhất! Đích xác là chẳng dễ dàng đạt được. Người thật sự thông minh bèn đối với cơm áo có thể miễn cưỡng sống qua ngày, chẳng hề lo lắng ǵ. Người thông minh hăy nên bỏ sạch hết thảy mọi chuyện.

      Người Hoa vào thời cổ, như Vương Long Thư có thể sống cho qua ngày, đỗ Tiến Sĩ, nhưng chẳng làm quan, suốt ngày từ sáng đến tối ở trong nhà niệm A Di Đà Phật. Ông ta có phước, đấy mới thật sự là người thông minh. Giống như Bành Tế Thanh, giác ngộ rất nhanh chóng, [giác ngộ khi c̣n] rất trẻ tuổi, hai mươi mấy tuổi đă giác ngộ. Ông Bành lúc mười mấy tuổi, chưa đến hai mươi tuổi, đă đỗ Tiến Sĩ. Cha ông làm Binh Bộ Thượng Thư thời hoàng đế Càn Long[5], tương đương với Bộ Trưởng Quốc Pḥng hiện thời. Ông Bành xuất thân là vương tôn, công tử, mười mấy tuổi đă đỗ Tiến Sĩ, đích xác là hết sức có tài, rất khó có một người như thế. Ông chỉ làm quan một thời gian rất ngắn, sau đó chẳng làm quan nữa. Do hoàn cảnh gia đ́nh khá giả, nên chuyện ǵ ông ta cũng chẳng làm, mọi chuyện thảy đều buông xuống, cũng là thật thà niệm Phật. Ông viết không ít tác phẩm, thảy đều là trước tác về Phật giáo. Trong các trước tác, trọng yếu nhất là Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận và Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận, người thông minh lắm!

      Bàng cư sĩ (Bàng Long Uẩn) càng thông minh hơn. Ông ta cũng rất giàu có, tài sản trong nhà thảy đều chẳng cần tới! Ông chất hết vàng, bạc, của cải, vật báu trong nhà lên một chiếc thuyền lớn, chèo chiếc thuyền ấy ra giữa ḍng Trường Giang, đục lỗ cho thuyền ch́m lỉm. Cách làm ấy khiến cho người khác chất vấn, người ta nhất định hỏi ông ta: “Ông Bàng ơi! Tài sản to tát như vậy ông chẳng cần đến th́ hăy đem làm một chút sự nghiệp từ thiện hoặc làm đôi chút chuyện tốt cho xă hội chớ?” Ông ta dẫn dụ kẻ khác hỏi câu ấy để giải đáp: “Chuyện tốt chẳng bằng vô sự”. Câu nói ấy trở thành danh ngôn. Vô sự, tâm thanh tịnh. Sau đó, cả nhà ông ta sinh sống bằng cách nào? Bện giày cỏ. Mỗi ngày bện mấy đôi giày cỏ, bán được mấy đồng để sống qua ngày, tự tại, sung sướng! Nói thật ra là do ông ta đă đắc đạo, sanh tử tự tại, nên chẳng quan tâm tới! Lúc ông sắp mất, bảo con gái ra ngoài xem [tiết trời]. Khi đó, chẳng có đồng hồ, nh́n ánh nắng mặt trời bên ngoài để biết là lúc nào. Con gái ông biết ông sắp mất, kết quả là ở bên ngoài, nói dối: “C̣n chưa đến lúc”. Cha cô ta đành phải đợi một lát nữa, đâu biết cô con gái đă đứng văng sanh ở ngoài, đă ra đi rồi. Người cha nói: “Ta tưởng ta đi rồi, nó sẽ lo liệu hậu sự cho ta. Kết quả là nó đi trước, ta c̣n phải lo hậu sự cho nó, bị trễ tràng bảy ngày”. Quư vị thấy đó, người nhà ấy ai nấy đều có bản lănh. V́ sao người ta có bản lănh ấy? Tâm thanh tịnh, chẳng tham nhiễm, nên người ta đắc đại tự tại, đến đi tự tại.

 

      (Diễn) Ư bất khuynh động, Nhẫn Độ. Phục giáo hóa tha nhân, Trí Độ.

      () 動,忍 度。復 人,智 度。

      (Diễn: Ư chẳng khuynh động là Nhẫn Độ. Lại c̣n giáo hóa người khác là Trí Độ).

 

      Ư nghĩa Lục Độ viên măn.

 

      (Diễn) Như thượng sở dẫn chư nhân, hoặc vi quốc vương, vương tử, hoặc vi Luân Vương, hoặc vi tỳ-kheo, hoặc vi pháp sư, hoặc cúng dường Phật, hoặc thuyết pháp lợi nhân, hoặc phát Tứ Hoằng Thệ, hoặc hành Lục Độ, sở vị căn thâm quả mậu, nguyên viễn lưu trường, đạo bất lăng giai, tùy công thiệp vị nhĩ.

() 因,或 子,或 王、或 丘,或 師,或 佛,或 人,或 誓,或 度,所 茂,源 長,道 階,隨 耳。

(Diễn: “Các nhân đă dẫn như trên đây”: Hoặc làm quốc vương, vương tử, hoặc làm Luân Vương, hoặc làm tỳ-kheo, hoặc làm pháp sư, hoặc cúng dường Phật, hoặc thuyết pháp lợi người, hoặc phát Tứ Hoằng Thệ, hoặc hành Lục Độ. Đó gọi là “rễ sâu, quả xum xuê, do nguồn xa, ḍng chảy sẽ dài”, đạo chẳng vượt cấp, tùy theo công hạnh mà đạt quả vị vậy).

 

      Tán thán Phật Di Đà tu hành nơi nhân địa, thật sự là nhiều kiếp lâu xa lại càng lâu xa hơn, nên nay Ngài mới có thành tựu chẳng thể nghĩ bàn. Hôm nay tôi giảng tới chỗ này.

 

Tập 196

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang ba trăm chín mươi tám:

 

      (Diễn) Như thượng sở dẫn chư nhân, hoặc vi quốc vương, vương tử, hoặc vi Luân Vương, hoặc vi tỳ-kheo, hoặc vi pháp sư, hoặc cúng dường Phật, hoặc thuyết pháp lợi nhân, hoặc phát Tứ Hoằng Thệ, hoặc hành Lục Độ, sở vị căn thâm quả mậu, nguyên viễn lưu trường, đạo bất lăng giai, tùy công thiệp vị nhĩ.

() 因,或 子,或 王、或 丘,或 師,或 佛,或 人,或 誓,或 度,所 茂,源 長,道 階,隨 耳。

(Diễn: “Các nhân đă dẫn như trên đây”: Hoặc làm quốc vương, vương tử, hoặc làm Luân Vương, hoặc làm tỳ-kheo, hoặc làm pháp sư, hoặc cúng dường Phật, hoặc thuyết pháp lợi người, hoặc phát Tứ Hoằng Thệ, hoặc hành Lục Độ. Đó gọi là “rễ sâu, quả xum xuê, do nguồn xa, ḍng chảy sẽ dài”, đạo chẳng vượt cấp, tùy theo công hạnh mà đạt quả vị vậy).

 

      Đoạn này vẫn là giải thích chuyện tu hành nơi nhân địa của A Di Đà Phật đă được nhắc đến trong lời Sao. Trong lời Sao đă dẫn một đoạn kinh văn trong kinh Nhất Hướng Xuất Sanh Bồ Tát; ở đây, nêu ra một tổng kết. Lời tổng kết ấy có ư nghĩa hết sức rộng răi: A Di Đà Phật không chỉ tu hành nhân địa trong một đời, mà Phật đă đời đời kiếp kiếp tu hành nhân địa. Bồ Tát ứng thế do thuận theo cơ duyên của chúng sanh, như trong phẩm Phổ Môn đă nói: “Đáng nên dùng thân ǵ để đắc độ, bèn thị hiện thân phận như thế ấy”. Ở đây đă nêu ra [các thân phận] quốc vương, vương tử, Luân Vương, đều là sự thị hiện của Bồ Tát. Do vậy có thể biết, trong quá tŕnh Ngài thị hiện, đời đời kiếp kiếp đều phát Bồ Đề tâm, phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, tu Lục Độ, vạn hạnh. Kế đó là lời tổng kết: “Căn thâm, quả mậu” (rễ sâu, quả xum xuê). Những chuyện này chúng ta đều phải làm theo, phải học tập. Người ta đời đời kiếp kiếp tu hành, chẳng phải là thành tựu trong một đời một kiếp, tùy theo công phu mà quả vị tăng tấn, măi cho đến khi viên măn thành Phật.

 

      (Diễn) Kim nhân nhất hạnh bất tu, dục hy thắng quả, kỳ do quyền thạch vị biện, dục lũy thất tằng bảo tháp, kỳ khả đắc hồ?

() 修,欲 果,其 辦,欲 塔,其 乎。

(Diễn: Người đời nay chẳng tu một hạnh nào cả, cứ mong muốn quả thù thắng, ví như chưa sắm sửa đá cuội mà toan dựng tháp báu bảy tầng, há có được chăng?)

 

      Nói tới chúng ta trong hiện tại; đây cũng là răn nhắc chúng ta rất sâu! Đương nhiên, trong quá khứ, chúng ta cũng là đời đời kiếp kiếp tu hành cái nhân, nhưng bản thân chúng ta phản tỉnh bèn biết: Đời kiếp kiếp kiếp tu hành, nay vẫn là phàm phu, vẫn là nghiệp chướng, phiền năo trùng trùng, chẳng được giải thoát, tuyệt đối chẳng phải là Bồ Tát thừa nguyện tái lai. Nếu là Bồ Tát thừa nguyện tái lai, tâm địa sẽ thanh lương tự tại, biết quá khứ, hiện tại, vị lai, chúng ta chẳng có năng lực ấy. Chúng ta phải ghi nhớ lời giáo huấn ở chỗ này. Chúng ta tu hằng ngày, nhưng trọn chẳng có ǵ là tu tập nghiêm túc, tu tập thật thà. Nếu muốn cầu đạt được quả báo thù thắng, sẽ là chuyện khó khăn. Kế đó là một tỷ dụ: “Quyền thạch” (拳石) là ḥn đá nhỏ chừng bằng nắm tay. Một ḥn đá bé tẹo như vậy mà c̣n chẳng có, làm sao quư vị có thể dựng tháp báu bảy tầng cho được? Tỷ dụ này ngụ ư: Quả địa Phật, Bồ Tát là phải do tích công lũy đức th́ mới có thể tu thành, tuyệt đối chẳng phải là do chụp giật, lươn lẹo mà ḥng đạt được!

 

(Diễn) Vi diệu pháp môn giả, vị tâm pháp diệu, Phật pháp diệu, chúng sanh pháp diệu.

() 者,謂 妙,佛 妙,眾 妙。

 (Diễn: “Vi diệu pháp môn” là tâm pháp diệu, Phật pháp diệu, và chúng sanh pháp diệu).

 

      Kinh Pháp Hoa giảng ba thứ diệu này rơ ràng nhất. Quy nạp lại, “diệu” chẳng ngoài ba pháp:

1) Thứ nhất là “tâm pháp diệu”. Tâm có thể hiện hết thảy vạn pháp, nhưng chẳng nhiễm hết thảy vạn pháp. Nó diệu là diệu ở chỗ này! Nếu hiện hết thảy vạn pháp, lại nhiễm hết thảy vạn pháp, tâm ấy chẳng diệu! Tâm phàm phu chẳng diệu, v́ sao? Suốt ngày từ sáng đến tối khởi tâm động niệm toàn là dấy vọng tưởng. Tuy giống chư Phật, Bồ Tát biến hiện y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, nhưng bị nhuốm bẩn, bị trói buộc bởi hết thảy các pháp, nên chẳng diệu! Họ chẳng biết muôn pháp không có tự tánh, hết thảy vạn pháp vốn không tịch, chẳng hiểu chân tướng sự thật này, nên nhiễm trước hết thảy vạn pháp, đánh mất diệu tâm, mê mất diệu tâm.

2) Thứ hai là “Phật pháp diệu”. Phật pháp là giác, Phật pháp là không mê. Đối với diệu tâm và diệu cảnh (“diệu cảnh” chính là “chúng sanh pháp” sẽ được nói trong đoạn kế tiếp), thông đạt rành rành chân tướng sự thật này, tự tại vô ngại. Đó là Phật pháp diệu.

3) Thứ ba là “chúng sanh pháp diệu”. “Chúng sanh pháp” là nói về tướng.

Ba câu này nếu nói theo thuật ngữ triết học hiện đại th́ “tâm pháp diệu” là bản thể diệu, “Phật pháp diệu” là nhận thức diệu, trong triết học gọi là Nhận Thức Luận (Epistemology), “chúng sanh pháp diệu” là hiện tượng diệu. Trong triết học [ba điều này được gọi] là bản thể, hiện tượng, và nhận thức. Phật pháp là nhận thức, có thể nhận thức chánh xác hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, kinh điển thường gọi sự nhận thức ấy là “chư pháp Thật Tướng”, người ấy hiểu rơ chân tướng của hết thảy các pháp. “Chúng sanh pháp diệu” là hết thảy các tướng đă hiện. “Chúng sanh” ở đây không chỉ là nói về hữu t́nh mà c̣n bao gồm vô t́nh. Tất cả hết thảy các hiện tượng, thường gọi là y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, thảy đều là vật được biến hiện bởi tự tâm, xác thực là ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp chẳng có tâm. Vạn pháp do tâm biến hiện; tâm có một niệm thiện liền biến ra tứ thánh pháp giới, một niệm ác liền biến thành lục phàm pháp giới.

      Pháp giới trọn đủ viên măn, đúng như Lục Tổ đă nói: “Nào ngờ tự tánh vốn sẵn trọn đủ”, y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới vốn trọn đủ trong tự tánh. Vốn trọn đủ, khi biến hiện bèn là: “Một pháp giới hiện, chín pháp giới ẩn”. “Hiện” th́ nó chỉ có thể hiện một cảnh giới, một pháp giới, c̣n chín pháp giới kia tạm thời chẳng hiện. Nay chúng ta gọi những pháp giới ấy là “không gian nhiều chiều”. Nhân pháp giới (pháp giới loài người) của chúng ta là không gian ba chiều, súc sanh pháp giới là ba chiều và hai chiều, pháp giới của quỷ thần là bốn chiều hoặc năm chiều. Con người chết rồi đầu thai, nói thật ra là chuyển biến không gian, từ một chiều không gian này chuyển sang một chiều không gian khác, chuyện là như thế đó. Nói kiểu này, những người học khoa học có thể thấu hiểu, cũng sẽ thừa nhận, nói theo lư luận sẽ suông sẻ. Hết thảy các pháp giới là “duy tâm sở hiện”: Tâm thanh tịnh hiện Tịnh Độ, tâm chẳng thanh tịnh hiện uế độ; hết thảy đều biến hiện từ tâm. V́ thế, tu hành chẳng phải là tu nơi cảnh giới, mà phải tu từ nơi tâm địa. Tâm là căn bản, tâm là cái có thể biến, cảnh là cái được biến, nhất định phải hiểu rơ chuyện này!

 

      (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh bổn lai thành Phật, thị thập kiếp nghĩa.

      () 理,則 佛,是 義。

      (Sớ: Xứng Lư, tự tánh vốn sẵn thành Phật là ư nghĩa của “mười kiếp”).

 

      Chúng ta xem phần giải thích cho câu này trong lời Sao. Đừng hiểu “mười” ở đây là một con số cố định, nó được dùng với ư nghĩa biểu thị pháp. Dưới đây, [đại sư] đă dẫn một thí dụ trong kinh Hoa Nghiêm.

 

      (Sao) Hoa Nghiêm cử thập, thị biểu vô tận. Tức kim tự tánh thành Phật dĩ lai, hà chỉ Oai Âm na biên cánh na biên, trần sa kiếp hựu trần sa kiếp dă.

() 十,是 盡。即 來,何 邊,塵 也。

(Sao: Kinh Hoa Nghiêm nêu ra “mười” nhằm biểu thị sự vô tận. Tức là [“mười kiếp” trong kinh này phải hiểu là] kể từ khi tự tánh thành Phật đến nay, há có phải chỉ là trước thời Oai Âm Vương Phật, mà lại c̣n là trước thời đó nữa, là trần sa kiếp trước trần sa kiếp vậy).

 

      Đây là nói lời thật cùng chúng ta. Sách Diễn Nghĩa có chú thích mấy câu này.

 

      (Diễn) Hoa Nghiêm cử thập biểu vô tận giả, nhất giả số chi thỉ, thập giả số chi chung.

      () 者,一 始,十 終。

(Diễn: “Hoa Nghiêm nêu ra Mười nhằm biểu thị vô tận”: Một là con số khởi đầu, mười là con số kết thúc).

 

      Nêu ra con số Mười là nói tới sự kết thúc, dùng theo ư nghĩa viên măn.

 

      (Diễn) Thiên vi thập bách, vạn vi thập thiên, kinh trung sổ sự, tất cử thập giả, biểu vô tận dă.

      () 百,萬 千,經 事,必 者,表 也。

(Diễn: Ngàn là mười lần một trăm, vạn là mười ngàn, trong kinh hễ nói tới nhiều sự đều dùng Mười để biểu thị sự vô tận).

 

      Chúng ta thấy điều này từ kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm bất luận nói tới pháp nào, đều kể ra mười pháp, nhằm biểu thị các pháp vô tận, các pháp viên dung, pháp pháp vô ngại, hiển thị cảnh giới được gọi là Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại của kinh Hoa Nghiêm. Ở đây cũng có ư nghĩa này, v́ cổ đức gọi kinh này là Tiểu Bổn Hoa Nghiêm. Do đó, nghĩa thú trong kinh này và nghĩa thú của Hoa Nghiêm chẳng khác ǵ nhau! Hoa Nghiêm nói bốn vô ngại pháp giới, kinh này cũng trọn đủ bốn món vô ngại. Hoa Nghiêm nói Thập Huyền Môn, kinh này cũng trọn đủ Thập Huyền Môn, các kinh khác chẳng có những điều này. V́ thế, cổ nhân gọi kinh Vô Lượng Thọ là Trung Bổn Hoa Nghiêm, gọi kinh A Di Đà là Tiểu Bổn Hoa Nghiêm, đích xác là có căn cứ. Điều này đă nêu rơ ư nghĩa: Tự tánh vốn đă thành Phật là vô tận, chẳng có ngằn mé. Trong kinh Hoa Nghiêm và Viên Giác, đức Phật đă tuyên bố minh bạch: “Hết thảy chúng sanh vốn đă thành Phật”, do Ngài nh́n từ chỗ này. V́ thế, chẳng nói tới thời gian. “Mười kiếp” ở nơi đây nhằm biểu thị [ư nghĩa] chẳng có khởi đầu, không có kết thúc, biểu thị ư nghĩa này, vốn đă thành Phật!

      “Hà chỉ Oai Âm na biên” (đâu phải chỉ là thời Oai Âm Vương Phật), “Oai Âm” là nói về Oai Âm Vương Phật (Bhīşma-garjitasvara-rāja). Trong kinh điển, đức Thế Tôn có nói trong vô lượng kiếp trước, con số này hết sức to lớn, có một vị Phật xuất thế hiệu là Oai Âm [Vương]. Kinh thường nói: “Trước thời Oai Âm Vương, chẳng có thầy, chính ḿnh có thể ngộ đạo. Sau Oai Âm Vương Phật, nếu chẳng có sư thừa [mà tự ḿnh ngộ đạo] th́ đều là thiên nhiên ngoại đạo”. Do đó, sau thời Oai Âm Vương ắt phải có sư thừa. Chúng ta đọc Đàn Kinh, sẽ thấy đoạn này trong phần chép về thiền sư Huyền Giác.

 

      (Sao) Nhược định chấp thập kiếp, tích nhân đạo, do thị Vương lăo sư nhi tôn.

      () 劫,昔 道,猶 孫。

      (Sao: Nếu chấp khăng khăng [thật sự là chỉ đúng] mười kiếp, cổ nhân bảo [kẻ chấp trước như vậy] vẫn là con cháu của Vương lăo sư).

 

      Có những người xem kinh văn bèn chấp trước. Kinh nói “mười kiếp”, họ bèn chấp trước thật sự có mười kiếp. [Hiểu] thật sự là mười kiếp th́ có sai lầm hay không? Chẳng sai, nhưng tầm nh́n quá nông cạn! Nếu có thể thấy A Di Đà Phật vốn đă thành Phật, cách nh́n ấy là sâu xa, ư nghĩa viên măn. Nói theo sự tướng là mười kiếp, tức là nh́n theo dấu tích thị hiện, đấy chính là A Di Đà Phật thị hiện trong giai đoạn hiện tại ở Tây Phương Cực Lạc thế giới.

      Liên Tŕ đại sư hy vọng chúng ta đọc kinh và nghe giáo đều có thể tiêu quy tự tánh. Trong ấy có vô lượng công đức, chẳng mong chúng ta chỉ chấp trước nơi tướng ngôn ngữ, văn tự. [Chấp trước] như vậy tuy có thể văng sanh, nhưng phẩm vị rất thấp, sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Nếu đối với kinh, chỗ nào cũng đều có thể kiến tánh, xứng lư là kiến tánh, là tiêu quy tự tánh, trong tương lai văng sanh Tây Phương Cực Lạc, sẽ là thượng thượng phẩm văng sanh, sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Từ chỗ này, ta có thể thấy đại sư rát miệng buốt ḷng khuyên bảo người đời sau. “Do thị Vương lăo sư nhi tôn” (vẫn là con cháu của Vương lăo sư), đây là một công án trong Thiền Tông.

 

      (Diễn) Do thị Vương lăo sư nhi tôn giả, Nam Tuyền tánh Vương, thường tự xưng Vương lăo sư.

      () 者,南 王,常 師。

      (Diễn: “Vẫn là con cháu của Vương lăo sư”: Ngài Nam Tuyền họ Vương, thường tự xưng là “Vương lăo sư”).

 

      Tổ sư Nam Tuyền[6] của Thiền Tông cũng là một người rất lỗi lạc. Họ ngoài đời của Ngài là Vương, nên thường tự xưng là Vương lăo sư.

 

      (Diễn) Hoàng Bá chí Nam Tuyền.

() 泉。

      (Diễn: Ngài Hoàng Bá tới chỗ ngài Nam Tuyền).

 

      Trong Thiền Tông, thiền sư Hoàng Bá cũng rất nổi tiếng, đều là những vị đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Ngài Hoàng Bá là văn bối, thuở trẻ tham học, đến chỗ ngài Nam Tuyền thỉnh giáo.

 

      (Diễn) Nhất nhật trai thời.

      () 時。

      (Diễn: Một hôm, trong lúc thọ trai).

 

      Có một ngày, trong lúc thọ trai vào giữa trưa.

 

      (Diễn) Phủng bát hướng Nam Tuyền vị thượng tọa.

      () 坐。

      (Diễn: Bưng bát tiến đến ngồi ở chỗ của ngài Nam Tuyền).

 

      Cảnh giới của ngài Hoàng Bá cũng khá cao. Trong lúc thọ trai, Ngài cầm bát đến chỗ của phương trượng Nam Tuyền ngồi xuống. Thuở ấy, ngài Nam Tuyền là phương trượng ḥa thượng, Hoàng Bá là thanh chúng.

 

      (Diễn) Nam Tuyền lai kiến tiện vấn.

      () 便 問。

      (Diễn: Ngài Nam Tuyền thấy Sư tiến đến liền hỏi).

     

Ngài Nam Tuyền trông thấy liền hỏi Sư.

 

      (Diễn) Trưởng lăo thậm ma niên trung hành đạo.

      () 道。

      (Diễn: Trưởng lăo đă hành đạo bao nhiêu năm?)

 

      Người thật sự có đạo hạnh trong Thiền Tông, bất luận là người học đă lâu hoặc mới học, trong mắt họ luôn b́nh đẳng cung kính đối với người đă tu lâu hay mới học. Giống như thuở trước Lục Tổ đại sư ở núi Hoàng Mai, Ngài đă minh tâm kiến tánh, hễ thấy người trẻ mới mười mấy tuổi c̣n để tóc tu hành trong tự viện đều gọi là “thượng nhân”. Cách xưng hô ấy hết sức cung kính, vô cùng khách sáo. Tự ḿnh khiêm hư, Tổ gọi Sư là trưởng lăo: “Trưởng lăo, thậm ma niên trung hành đạo?” “Hành đạo” là tu hành. Câu này có nghĩa là thầy tu hành đă bao lâu?

 

      (Diễn) Bá vân Oai Âm na bạn.

      () 畔。

      (Diễn: Ngài Hoàng Bá đáp: “Trước thời Oai Âm Vương Phật”).

 

      Sư trả lời cũng rất tuyệt diệu! Thầy hỏi tôi bắt đầu từ khi nào, tôi nói là trước cả thời Oai Âm Vương Phật, [đó là ư nghĩa của từ ngữ] “Oai Âm na bạn”.

 

      (Diễn) Tuyền vân: “Do thị Vương lăo sư nhi tôn”.

      () 孫。

      (Diễn: Ngài Nam Tuyền bảo: “Vẫn là con cháu của Vương lăo sư”).

 

      Ngài Nam Tuyền nói: “Vậy th́ thầy vẫn chẳng bằng tôi, vẫn là văn bối của tôi!” Quư vị nghe lời này có hiểu hay không? Hai người họ một hỏi, một đáp, ngụ ư ǵ vậy? “Oai Âm na biên cánh na biên” (vào trước thời của trước thời Oai Âm Vương Phật), đáng nể quá! V́ sao vẫn chẳng bằng ngài Nam Tuyền? Ư nghĩa thật sự ở đây là ngài Hoàng Bá c̣n chấp tướng, ngài Nam Tuyền đă chẳng chấp tướng. [Ngài Nam Tuyền bảo] tuy thầy (Hoàng Bá) nói là “Oai Âm Vương na biên cánh na biên”, vẫn là chấp tướng! Vẫn y như cũ rớt vào trong số lượng, vẫn chưa hoàn toàn trừ sạch vọng tưởng, chấp trước. Ngài Nam Tuyền chẳng có vọng tưởng, chấp trước; đă chẳng có th́ c̣n nói đến niên đại chi nữa! Một đằng chấp tướng, một đằng ly tướng, chẳng thể sánh bằng! Ư nghĩa là [hễ chấp tướng th́] vẫn là văn bối, vẫn chẳng thể ngồi ngang hàng với ta!

      Ở đây, [Liên Tŕ đại sư] dùng một tỷ dụ trong Thiền Tông để giảng rơ: Chấp chặt “A Di Đà Phật thành Phật tới nay là mười kiếp” tức là chấp tướng. Hễ chấp tướng, chắc chắn chẳng thể kiến tánh. Ĺa tướng th́ mới biết vốn đă thành Phật. A Di Đà Phật vốn đă thành Phật, bản thân chúng ta lẽ nào chẳng vốn đă thành Phật? Tự và Tha chẳng hai. Ư nghĩa thật sự của Liên Tŕ đại sư là ở chỗ này.

      Đoạn nói về hóa chủ A Di Đà Phật đă giới thiệu xong, đoạn kế tiếp sẽ giới thiệu các đại chúng từ mười phương thế giới văng sanh. Đoạn trước nói A Di Đà Phật là vị thầy trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, nay chúng ta xem đến [phần nói về] các đồng học bên ấy.

 

      Nhị, hóa bạn. Sơ kiến tại, nhị văng sanh.

      生。

      (Hai là hóa bạn. Một là các đại chúng đang ở bên ấy, hai là người văng sanh).

 

      Đoạn kinh văn này được chia thành hai khoa nhỏ. Tiểu khoa thứ nhất là Kiến Tại, tiểu khoa thứ hai là nói về chuyện văng sanh. Chúng ta xem đoạn thứ nhất:

 

      Sơ, kiến tại. Sơ, Thanh Văn, nhị, Bồ Tát, tam, tổng kết.

      在。初 聞,二 薩,三 結。

      ([Tiểu khoa] thứ nhất nói về đại chúng đang ở bên ấy. [Tiểu khoa này được chia thành ba mục nhỏ]: Một là Thanh Văn, hai là Bồ Tát, ba là tổng kết).

 

Trong đoạn thứ nhất có Thanh Văn chúng và Bồ Tát chúng, sau đó c̣n có tổng kết.

 

      (Kinh) Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử, giai A La Hán, phi thị toán số chi sở năng tri.

   (Sớ) Chủ tất hữu bạn, tiên Thanh Văn, thứ Bồ Tát.

() 弗。彼 子。皆 漢。非 知。

() 伴,先 聞,次 薩。

(Kinh: Lại này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử, đều là bậc A La Hán, chẳng thể nào tính toán để biết được.

      Sớ: Chủ ắt có bạn, trước là Thanh Văn, sau là Bồ Tát).

 

      Thầy nhất định có tṛ. Nếu chẳng có học tṛ, làm sao có thể gọi vị ấy là thầy cho được? Trong hàng học tṛ [của A Di Đà Phật] có Thanh Văn và Bồ Tát.

 

      (Sơ) Minh giai hiền thánh chi lữ dă.

      () 也。

      (Sớ: Nói rơ bạn lữ đều là bậc hiền thánh).

 

      Nói rơ Tây Phương Cực Lạc thế giới toàn là bậc thánh hiền, chẳng có phàm phu. Chư vị nhất định phải biết điều này. Từ đại kinh, chúng ta thấy thế giới Tây Phương là một thế giới thuần nhất Bồ Tát. Nói “trời, người” hoặc nói Thanh Văn là nhằm vào ư nghĩa khác, chẳng phải là thật sự có trời, người, Thanh Văn. Gọi họ là Thanh Văn là do hai ư nghĩa:

1) Ư nghĩa thứ nhất: Trước khi đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, ở thế giới phương khác, những người ấy đă chứng quả Thanh Văn, từ Sơ Quả cho đến Tứ Quả đều có. Họ nghe pháp môn này, hoan hỷ tin nhận, phát nguyện văng sanh. Sanh đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, v́ trước kia họ là Thanh Văn, nên vẫn gọi là Thanh Văn. Đây là một ư nghĩa.

2) Ư nghĩa thứ hai: Tuy thế giới Tây Phương là một thế giới b́nh đẳng, nhưng đoạn Hoặc chẳng b́nh đẳng. Nếu ở trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đă đoạn Kiến Tư phiền năo, nhưng Trần Sa và Vô Minh vẫn chưa đoạn, người ấy bèn được gọi là Thanh Văn, v́ quả vị đoạn chứng của người ấy bằng với quả vị Tiểu Thừa trong mười phương thế giới. Trong mười phương thế giới, đoạn Kiến Tư phiền năo bèn chứng quả Thanh Văn. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, giống như chúng ta là đới nghiệp văng sanh, sang bên ấy, đương nhiên là trước hết đoạn Kiến Tư. Đoạn Kiến Tư phiền năo sẽ bằng với Thanh Văn ở các thế giới phương khác.

Ngàn vạn phần phải ghi nhớ, trong thế giới Tây Phương, ngay cả Thanh Văn và Duyên Giác đều chẳng có, lấy đâu ra nhân thiên?

 

      (Sớ) Kim sơ Thanh Văn. Thanh Văn giả, văn Tứ Đế thanh giáo nhi đắc chứng quả. A La Hán giả, giản phi tiền tam dă. Bất ngôn Duyên Giác, nhiếp Thanh Văn trung cố. Phi toán số giả, thậm ngôn kỳ đa dă.

      () 聞,聲 者,聞 果。阿 者,揀 也。不 覺,攝 故。非 者,甚 也。

(Sớ: Nay trước hết nói về Thanh Văn. Thanh Văn là người nghe thanh giáo Tứ Đế bèn được chứng quả. [Nói là] A La Hán nhằm chỉ rơ chẳng phải là ba quả vị trước đó. Chẳng nhắc tới Duyên Giác v́ đă được gộp trong Thanh Văn. “Chẳng thể tính toán”, ư nói hết sức nhiều).

 

      Những chuyện này chẳng cần phải nói chi tiết. Chúng ta xem đoạn Diễn Nghĩa kế tiếp, có thể nói đoạn này là thường thức trong Phật học.

 

      (Diễn) Tứ Đế thanh giáo giả.

      () 者。

      (Diễn: Thanh giáo[7] Tứ Đế).

 

      Là nói tới Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

 

      (Diễn) Nhất, Khổ Đế.

      () 一、苦 諦。

      (Diễn: Một là Khổ Đế).

 

      “Đế” (Satyāni) có nghĩa là chân thật, người ta thường nói là “chân lư”, tức là chuyện chân thật. Khổ là nói tới quả báo. Lục đạo khổ sở, đó là sự thật. Phàm nhân sống trong đau khổ mà chẳng biết khổ, đó là ngu si. Nói “giác ngộ” nghĩa là đă biết con người rất khổ, biết lục đạo rất khổ, có mức độ tự giác khá sâu. Biết lục đạo khổ, người ấy mới chịu phát tâm rời ĺa lục đạo. Nếu ở trong lục đạo mà vẫn chẳng cảm nhận nỗi khổ, làm sao có thể ĺa khỏi lục đạo cho được? Mê và giác phân định từ chỗ này. Biết đời người là khổ, biết lục đạo là khổ, người ấy đă giác ngộ, đă khai ngộ.

 

      (Diễn) Nhị thập ngũ Hữu, y chánh nhị báo thị.

      () 有,依 是。

(Diễn: Hai mươi lăm Hữu là y báo và chánh báo).

 

      Sách Giáo Thừa Pháp Số và Phật Học Từ Điển đều giải thích hai mươi lăm Hữu[8]. Hữu là có quả báo sanh tử. Có nhân th́ đương nhiên có quả. Đức Phật chia nhân và quả của lục đạo luân hồi thành hai mươi lăm loại, gọi là Nhị Thập Ngũ Hữu. Hai mươi lăm Hữu tương ứng với tam giới lục đạo. “Y chánh nhị báo” là nói tổng quát.

 

      (Diễn) Biệt tắc nhị thập ngũ Hữu, tổng tắc lục đạo sanh tử.

      () 有,總 死。

      (Diễn: Nói riêng biệt th́ có hai mươi lăm Hữu, nói tổng quát th́ có sanh tử trong lục đạo).

 

      Hai mươi lăm Hữu chẳng thường được nhắc tới v́ rất phiền phức, quá nhiều! Chúng ta thường quy nạp, nói đến cương lănh của chúng. Cương lănh chính là y báo và chánh báo trong lục đạo.

 

      (Diễn) Nhất, địa ngục đạo, tác thượng phẩm Ngũ Nghịch, Thập Ác giả, cảm thử đạo thân.

      () 一、地 道,作 者,感 身。

      (Diễn: Một là địa ngục đạo, kẻ tạo Ngũ Nghịch Thập Ác thượng phẩm sẽ cảm vời thân trong đường này).

 

      Tạo nghiệp nặng hay nhẹ là do tâm! Ví như tạo ác nghiệp, tâm kẻ ấy rất hung hăng, quyết liệt, sẽ tạo nghiệp nặng. Chẳng hạn như sát sanh, do cái tâm oán hận, tâm cừu hận cực sâu, thủ đoạn vô cùng tàn khốc, tội ấy sẽ nặng nề, kết tội thuộc loại thượng phẩm. Ngũ Nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá ḥa hợp Tăng, làm thân Phật chảy máu. Nếu kẻ ấy dùng ác tâm, ác ư, tội ấy cũng rất nặng. Thập Ác: Thân tạo giết, trộm, dâm; miệng nói dối, nói đôi chiều, nói thêu dệt, nói lời thô ác, trong tâm tham, sân, si. Bất luận là đối với pháp thế gian hay xuất thế gian pháp, chỉ cần có Thập Ác hiện diện, thảy đều là chướng đạo! V́ sao chúng ta niệm Phật chẳng thể đắc nhất tâm bất loạn? V́ sao tham Thiền chẳng thể khai ngộ? Đừng nói là khai ngộ, ngay cả Thiền Định c̣n chẳng đạt được, do nguyên nhân nào? Tập khí Thập Ác quá nặng, chướng ngại chúng ta tu hành, chướng ngại công phu, chớ nên không biết chuyện này! Nếu cứ tiếp tục làm măi, sẽ tạo [thành quả báo] địa ngục. Địa ngục do đâu mà có? Chính ḿnh tạo ra, tự làm, tự chịu, ai cũng chẳng có cách nào cứu quư vị. Ngàn muôn phần đừng nghĩ Địa Tạng Bồ Tát là U Minh giáo chủ, trong tương lai ta đọa địa ngục, Địa Tạng Bồ Tát sẽ đến cứu quư vị. Có tâm như vậy th́ sai mất rồi, Địa Tạng Bồ Tát cũng không thể nào cứu quư vị được! Địa Tạng Bồ Tát có thể cứu kẻ nào đă giác ngộ. Bản thân người ấy đă giác ngộ th́ Ngài có thể giúp đỡ. Chính quư vị chẳng giác ngộ, Phật, Bồ Tát chẳng thể giúp được, tuyệt đối chẳng phải là các Ngài thiếu từ bi!

 

      (Diễn) Nhị, súc sanh đạo, tác trung phẩm ác nghịch giả, cảm thử đạo thân.

      () 二、畜 道,作 者,感 身。

(Diễn: Hai là súc sanh đạo. Kẻ tạo ác nghịch trung phẩm sẽ cảm vời thân trong đường này).

 

      Ác là Thập Ác, Nghịch là Ngũ Nghịch. Tâm tạo Ngũ Nghịch, Thập Ác nhẹ hơn địa ngục đôi chút, chẳng độc địa dường ấy, sẽ sanh trong súc sanh đạo.

 

      (Diễn) Tam, ngạ quỷ đạo, tác hạ phẩm ác nghịch giả, cảm thử đạo thân.

      () 三、餓 道,作 者,感 身。

      (Diễn: Ba là ngạ quỷ đạo, kẻ tạo ác nghịch hạ phẩm, sẽ cảm thân trong đường này).

 

Hạ phẩm, tâm tạo tác Ngũ Nghịch, Thập Ác càng nhẹ hơn. Trong đoạn này, sách Diễn Nghĩa sử dụng Thập Thiện và Thập Ác để giải thích lục đạo luân hồi.

 

      (Diễn) Tứ, Tu La đạo, tác hạ phẩm Thập Thiện, cảm thử đạo thân.

      () 四、修 道,作 善,感 身。

      (Diễn: Bốn là Tu La đạo, tạo hạ phẩm Thập Thiện, cảm thân trong đường này).

 

      Người ấy có tu Thập Thiện hay không? Tu Thập Thiện. V́ sao tu Thập Thiện được gọi là hạ phẩm? Khi tu Thập Thiện, trong tâm chen lẫn ngạo mạn, thường gọi là “cống cao ngă mạn”. Người như vậy chúng ta thường thấy trong hiện thời. Họ thật sự làm chuyện tốt; tuy làm chuyện tốt, nhưng luôn nghĩ chính ḿnh đă làm rất nhiều chuyện tốt. Trong chùa chiền, họ ganh nhau làm chuyện tốt. Ví như đối với chuyện xuất tiền làm công đức, người khác bỏ ra một vạn, ta bỏ ra hai vạn, ta phải vượt trội kẻ khác. Đó là tâm ngạo mạn, tâm kiêu căng, đều là hạ phẩm thiện, tương lai hưởng phước trong A Tu La đạo. Điều này rất đau khổ! A Tu La là đấu tranh kiên cố. Không chỉ là đấu đá với người ngoài, mà đối với chính ḿnh cũng muốn đấu đá!

 

      (Diễn) Ngũ, nhân đạo, tứ châu bất đồng, giai khổ lạc tương gián. Tại nhân chi thời, hành Ngũ Thường, Ngũ Giới, cập trung phẩm Thập Thiện, cảm thử đạo thân.

      () 五、人 道,四 同,皆 間。在 時,行 戒,及 善,感 身。

      (Diễn: Năm là nhân đạo, [tuy có] bốn châu khác nhau, đều là khổ và vui chen lẫn. Trong lúc tu nhân, đă hành Ngũ Thường, Ngũ Giới và trung phẩm Thập Thiện, nên cảm thân trong đường này).

 

      Tứ Châu là nói tới tứ đại bộ châu ở bốn phía núi Tu Di. Loài người trong mỗi châu khác nhau, nhưng nhân quả chẳng sai biệt cho mấy. “Giai khổ lạc tương gián” (đều là khổ và vui chen lẫn), có khổ và vui. Trong quá khứ, tu nhân là hành Ngũ Thường Ngũ Giới. Ngũ Thường do Nho gia chế định. Giáo dục Nho gia lấy luân thường làm chủ yếu, đó là tông chỉ giáo học. “Luân” () là luân lư, “Thường” () là khuôn phép đạo đức. Nói cách khác, [luân thường là] điều kiện cơ bản để làm người: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là Ngũ Thường. “Thường” là vĩnh hằng, quyết định chẳng thể biến đổi, quyết định chẳng thể khuyết thiếu, giống như loài người chúng ta sống trong thế gian nhất định phải ăn uống. Chẳng ăn, chẳng uống, con người sẽ chẳng thể nào sống sót. Sách Tả Truyện viết: “Nhân khí thường, tắc yêu hưng” (con người vứt bỏ lẽ thường, ắt yêu quái dấy lên). Nếu người nào chẳng có Ngũ Thường, kẻ ấy chính là yêu ma quỷ quái. Yêu ma quỷ quái chẳng phải là mặt xanh nanh chĩa. Yêu ma quỷ quái mặt xanh nanh chĩa chẳng thể hại người. V́ sao? Chúng ta vừa trông thấy đă kinh hăi, đă sớm ẩn núp rồi, họ chẳng hại được loài người. Yêu ma quỷ quái thật sự hại người, quư vị trông thấy chúng sẽ rất hoan hỷ! Năm thứ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín thảy đều chẳng có, chính là yêu ma quỷ quái hiện tiền.

      Ngũ Thường và Ngũ Giới nhà Phật giống nhau. “Nhân” () là nhân từ, là không sát sanh; Nghĩa () là những điều phải nên có, là bổn phận. Một người có thể vâng giữ bổn phận sẽ chẳng thể trộm cắp, Nghĩa là chẳng trộm cắp. Lễ () là chẳng tà dâm; Trí () là chẳng uống rượu. Uống rượu say khướt bèn hồ đồ. Tín () là chẳng nói dối. Ngũ Giới tương đương Ngũ Thường, là điều kiện cơ bản để làm người. Nếu chẳng làm được năm điều này, đời sau chẳng được làm thân người, mà vào trong tam đồ. Những điều chúng ta tạo tác, thực hiện trong hiện thời đương nhiên chẳng ra ngoài lục đạo. Trong lục đạo, chúng ta tạo tác ba thiện đạo hay là ba ác đạo? Chẳng cần phải hỏi ai khác, chính ḿnh biết rành rành! Nếu khởi tâm động niệm trái nghịch Ngũ Giới Thập Thiện, ắt đọa trong tam đồ. Đức Phật rất từ bi, dạy chúng ta sự thật này, chúng ta chẳng nghe theo, vẫn cứ muốn tiếp tục tạo tác. Chuyện này chẳng thể trách Phật, hăy tự trách ḿnh! Chính ḿnh phải gánh chịu trách nhiệm!

      “Cập trung phẩm Thập Thiện” (và trung phẩm Thập Thiện), một người có thể vâng giữ Ngũ Thường, tŕ Ngũ Giới, tu trung phẩm Thập Thiện, đời sau mới có thể được làm thân người. Thân người khó được, dễ mất! Nay chúng ta được làm thân người là do trong đời quá khứ “hành Ngũ Thường, Ngũ Giới, tu trung phẩm Thập Thiện”, đời này cảm được quả báo. Nếu đời này chẳng tiếp tục nỗ lực hành tŕ, đời người rất ngắn, sau khi đă mất [thân người], mong được làm người lần nữa cũng chẳng được! Trong kinh Đại Thừa, đức Phật đă dạy: “Thân người khó được mà dễ mất”. V́ sao khó được? Chính chúng ta hăy lắng ḷng suy nghĩ: Chúng ta suốt ngày từ sáng đến tối, từ đầu năm đến cuối năm, khởi ác niệm nhiều, hay là thiện niệm nhiều? Bèn hiểu rơ ngay! Nếu ác niệm nhiều, niệm niệm trái nghịch Ngũ Thường, Ngũ Giới, Thập Thiện, đương nhiên sẽ vào trong tam đồ, há c̣n có thể sanh vào nhân đạo? V́ thế, hễ suy nghĩ, [sẽ thấy] được làm thân người lần nữa đích xác là chẳng dễ dàng.

 

      (Diễn) Lục, thiên đạo, nhị thập bát thiên bất đồng.

      () 六、天 道,二 同。

      (Diễn: Sáu là thiên đạo, hai mươi tám tầng trời khác nhau).

 

      Cơi trời có hai mươi tám loại, gồm hai mươi tám tầng. Quả báo trong mỗi tầng trời khác nhau, đương nhiên nhân hạnh của họ cũng khác nhau.

 

      (Diễn) Tu thượng phẩm Thập Thiện, cập Thiền Định vi nhân, cảm thử đạo thân.

() 善,及 因,感 身。

      (Diễn: Do tu thượng phẩm Thập Thiện và Thiền Định làm nhân mà cảm thân trong đường này).

 

      Chỉ tu thượng phẩm Thập Thiện th́ cao nhất là chỉ có thể sanh về trời Đao Lợi. Từ Dạ Ma Thiên trở lên đều phải tu Thiền Định, chẳng có Thiền Định sẽ chẳng đến đó được! Trong Dục Giới, bốn tầng trời Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, Hóa Lạc Thiên và Tha Hóa Tự Tại Thiên đều chưa đắc Định. Chẳng tu Thiền Định thành công, họ có công phu Thiền Định, nhưng chẳng có thành tựu nơi Thiền Định. Nếu Thiền Định thành tựu, họ sẽ thoát khỏi Dục Giới, sanh về Sắc Giới. [Sanh lên] Sắc Giới và Vô Sắc Giới [phải cậy vào] Tứ Thiền Bát Định. Thành tựu thấp nhất trong Thiền Định là ǵ? Trong Thiền Định chẳng có dục, dục vọng ǵ vậy? Tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê, tiếng tăm, lợi dưỡng, quư vị c̣n có những ư niệm ấy hay không? Nếu có những ư niệm ấy, quư vị chẳng thể đến Sơ Thiền Thiên được. Dẫu quư vị tu Thiền Định tốt đẹp cách mấy, vẫn sanh trong bốn tầng trời Dục Giới, thọ quả báo trong ấy. Thật sự tu Thiền Định thành công, đoạn hết Ngũ Dục, đối với năm thứ tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê đều có thể đoạn hết, có thể chẳng cần ăn uống, Thiền duyệt làm thức ăn. Nay chúng ta v́ cơm áo mà bươn chải, khổ khôn kể xiết! Thiền Định thành công, chẳng cần tới ăn uống nữa! V́ thế, người có công phu Thiền Định càng sâu, ăn uống càng ít, v́ sao? Tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh bèn tiêu hao năng lượng ít.

      Ăn uống nhằm bổ sung năng lượng, [thức ăn] là cội nguồn của năng lượng. Thân là một cỗ máy, cỗ máy hoạt động cần phải có năng lượng thúc đẩy. Ăn uống là [nạp thêm] năng lượng, bổ sung hằng ngày. Ăn thứ ǵ đó, trong bụng bèn có các phản ứng hóa học, biến chúng thành năng lượng để hấp thâu, chúng ta gọi là dinh dưỡng, thật ra là năng lượng. Các năng lượng bị tiêu hao vào đâu? Chín mươi lăm phần trăm trở lên bị tiêu hao bởi vọng niệm. Vọng niệm càng nhiều, quư vị ăn càng nhiều. Vọng niệm ít, quư vị ăn ít đi. Có những người muốn học kiểu “giữa trưa ăn một bữa”, muốn tŕ ngọ, nhưng vọng niệm rất nhiều, vọng niệm chẳng đoạn được, lại muốn học, học để làm ǵ? Vẫn là v́ tiếng tăm, lợi dưỡng, muốn nở mày rạng mặt: “Ta giữa trưa ăn một bữa, các ngươi đều chẳng làm được!” Họ tiêu hao nhiều như vậy, bổ sung năng lượng chẳng đủ, kết quả nhất định là ngă bệnh, chẳng b́nh thường mà! Người ta tu Định thật sự có công phu, tâm địa thanh tịnh, vọng niệm ít, tự nhiên cần [bổ sung năng lượng] ít. Do đó, đấy là chuyện tự nhiên, chẳng có tí ti miễn cưỡng nào!

      Thuở Phật tại thế, những vị xuất gia hằng ngày theo Phật ra ngoài thác bát (khất thực), mỗi ngày ăn một bữa. Trong kinh, đức Phật có nói A La Hán bảy ngày ăn một bữa, Bích Chi Phật nửa tháng ăn một bữa. Công phu định lực của Bích Chi Phật sâu hơn A La Hán, tâm địa càng thanh tịnh, tiêu hao càng ít, nửa tháng ăn một bữa là đủ. Đó là ǵ? V́ Ngài có thân thể. Nếu chẳng cần đến thân, cũng chẳng cần ăn uống nữa. V́ thế, trong hai mươi tám tầng trời, sáu tầng trời phía dưới thuộc Dục Giới Thiên có ăn uống, từ Sơ Thiền trở lên bèn chẳng có ăn uống. Đoạn hết ăn uống, ngủ nghê cũng đoạn trừ. Người thật sự có Thiền Định chẳng ngủ. Người có ngủ nghê chứng tỏ là người ấy chẳng có Định. Ngồi ngủ ở đó tức là chẳng Định, người có Thiền Định chẳng ngồi ngủ ở đó mà đang nhập Định, khác hẳn kẻ [ngồi] ngủ. Cũng có thể nói là người ấy tỉnh táo, chẳng hôn trầm. Ngủ nghê là hôn trầm.

      Nhưng từ Sắc Giới trở lên, [tức là trong] Sắc Giới và Vô Sắc Giới, từ Sơ Thiền trở lên, ngoài việc tu Thiền Định (Tứ Thiền Bát Định) ra, c̣n phải tu Tứ Vô Lượng Tâm (Tứ Vô Lượng Tâm là từ, bi, hỷ, xả), đó gọi là thượng thượng phẩm Thập Thiện. V́ lẽ đó, người từ Sơ Thiền trở lên, quyết định chẳng có sân khuể, ghen tỵ, quyết định chẳng có điều ǵ khiến cho tâm bực bội. Nếu có những hiện tượng ấy, sẽ thuộc về Dục Giới, chứ chư thiên Sắc Giới chẳng có [những hiện tượng ấy]. Chúng ta cần phải biết những điều này, có thể chú tâm quan sát xem chính ḿnh đă đạt đến cảnh giới ǵ. Tâm địa hơi đạt được đôi chút thanh tịnh, bèn tưởng lầm là chính ḿnh đă đắc nhất tâm bất loạn, đă đắc Thiền Định, đó gọi là Tăng Thượng Mạn, là hiểu lầm, chẳng phải là thành tựu thật sự.

 

      (Diễn) Thượng lai sở thích.

      () 釋。

      (Diễn: Những điều đă giải thích trên đây).

 

      Những điều vừa được giải thích trên đây.

 

      (Diễn) Tùng địa ngục chí Phi Tưởng Thiên.

      () 天。

      (Diễn: Từ địa ngục tới trời Phi Tưởng).

 

      Phi Tưởng Thiên là tầng thứ hai mươi tám, là tầng cao nhất trong Tứ Không Thiên.

 

      (Diễn) Tuy khổ lạc bất đồng, vị miễn tử nhi phục sanh, sanh nhi phục tử.

      () 同,未 生,生 死。

(Diễn: Tuy khổ vui khác nhau, chẳng tránh khỏi tử rồi lại sanh, sanh rồi lại tử).

 

      Nói về lục đạo, dẫu tu đạt đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, thọ mạng tám vạn đại kiếp, tám vạn đại kiếp là có hạn lượng, khi đă đến hạn th́ vẫn phải luân hồi, vẫn phải đọa lạc, lại c̣n đọa rất nặng. Nguyên nhân đọa lạc nặng nề là do lúc gần bị đọa lạc, họ hủy báng Tam Bảo, tưởng là Phật đă lừa gạt, chẳng biết cảnh giới của chính ḿnh là chưa thoát khỏi tam giới, cứ ngỡ cảnh giới của chính ḿnh là đă nhập Vô Dư Niết Bàn, đă thành Phật, [nên ấm ức]: “Cớ sao đă thành Phật mà c̣n bị thoái chuyển? Cớ sao bị đọa lạc? Những ǵ chư Phật đă nói trước kia đều là lừa người!” V́ báng Phật, báng Pháp, hủy báng Tam Bảo, nên quyết định đọa địa ngục; đó gọi là “trèo cao ngă nặng”. Hễ té nhào liền rớt xuống địa ngục. Trong địa ngục, quá nửa là những chúng sanh như vậy!

 

      (Diễn) Thử thị Tạng Giáo thật hữu Khổ Đế.

      () 諦。

      (Diễn: Đây là Tạng Giáo thật sự có Khổ Đế).

 

      Tứ Đế phối hợp với tứ giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên. Lục đạo phàm phu chúng ta nhận thức Tạng Giáo. Trong quan niệm cảm xúc lâu dài của chúng ta, xác thực là có lục đạo luân hồi. Những điều được giảng trong đoạn này đều là nói về quả báo.

 

      (Diễn) Nhị, Tập Đế giả.

      () 二、集 者。

      (Diễn: Hai là Tập Đế).

 

      “Tập Đế” là nói tới cái nhân. Quư vị hứng chịu quả báo, có quả ắt có nhân. V́ sao đức Phật chẳng nói tới nhân trước, mà phải nói quả báo trước? Đây là thuyết pháp thiện xảo, v́ nói tới quả báo, đó chính là những điều quư vị đang phải hứng chịu, quư vị sẽ cảm nhận dễ dàng, có thể thấu hiểu. Sau đấy mới lại giải thích do nguyên nhân nào mà nay chúng ta sống khổ sở dường ấy, quư vị sẽ lưu ư nghe dạy.

 

      (Diễn) Tức Kiến Tư Hoặc, hựu vân Tứ Trụ, hựu vân Chi Mạt Vô Minh, hựu vân Thông Hoặc, hựu vân Giới Nội Hoặc, tuy danh bất đồng, đản Kiến Tư nhĩ.

() 惑,又 住,又 明,又 惑,又 惑,雖 同,但 耳。

(Diễn: Chính là Kiến Tư Hoặc, c̣n gọi là Tứ Trụ, lại gọi là Chi Mạt Vô Minh, lại gọi là Thông Hoặc, lại gọi là Giới Nội Hoặc. Tuy tên gọi khác nhau, nhưng chỉ là Kiến và Tư mà thôi).

 

      Đối với Kiến Tư phiền năo, trong kinh, đức Phật đă nói rất nhiều danh từ. Danh từ khác nhau, ư nghĩa như nhau. V́ sao cùng là một chuyện mà đức Phật nói ra lắm tên gọi như vậy? Điều này là có dụng ư, đức Phật dạy chúng ta chớ nên chấp trước tướng danh tự, đừng nên chấp trước tướng ngôn thuyết. Đó gọi là “y nghĩa, bất y ngữ”. Tên gọi nói tùy tiện như thế nào cũng được, chỉ cần hiểu đúng ư nghĩa là được rồi, đừng nên chấp trước danh tướng rồi tranh luận! V́ lẽ đó, cách nói này vẫn là nhằm mục đích phá chấp trước. Trong các danh từ, chúng ta thường dùng nhất là Kiến Tư phiền năo. Quư vị hiểu Kiến Tư phiền năo là ǵ. Tiếp đó, [các danh từ] Tứ Trụ Phiền Năo, Chi Mạt Vô Minh, Thông Hoặc, Giới Nội Hoặc như sách đă nêu ra đều là những thứ mê hoặc trong tam giới, quư vị đều hiểu rơ. Biết một điều, hết thảy đều hiểu.

 

      (Diễn) Kiến Hoặc hữu bát thập bát Sử.

      () 使。

      (Diễn: Kiến Hoặc có tám mươi tám Sử).

 

      Kiến Hoặc có tám mươi tám Sử[9], c̣n gọi là tám mươi tám phẩm. Tư Hoặc có tám mươi mốt phẩm[10], tức là tam giới có chín địa, trong mỗi địa có chín phẩm, tổng cộng là chín lần chín thành tám mươi mốt. Chúng được gọi là Kiến Tư phiền năo. Tập Đế là Kiến Tư phiền năo.

 

      (Diễn) Dĩ Ngũ Độn, Ngũ Lợi, Thập Sử.

      () 使。

      (Diễn: Do Ngũ Độn và Ngũ Lợi mà hợp thành Thập Sử).

 

      “Sử” (使) là tỷ dụ. Trước kia, có kẻ phạm tội, chánh quyền bèn phái công sai đi bắt người. “Sử” là bắt người, giống như đội cảnh sát h́nh sự hiện thời. Chư vị hăy suy nghĩ, “đội cảnh sát h́nh sự” Kiến Hoặc gồm tám mươi tám “người”, Tư Hoặc có tám mươi mốt. Cảnh sát h́nh sự đông ngần ấy, hằng ngày chầu chực quanh quư vị, muốn bắt quư vị, quư vị c̣n có thể chạy đi đâu nữa? Chẳng có cách nào, chạy chẳng thoát! Nhằm thuận tiện thuyết pháp, chúng ta quy nạp những món ấy thành Ngũ Độn Sử và Ngũ Lợi Sử. Chỉ cần hiểu rơ mười điều ấy, đại khái có thể liễu giải tám mươi tám phẩm [Kiến Hoặc] và tám mươi mốt phẩm [Tư Hoặc].

Ngũ Lợi: Lợi () là nhạy bén, mạnh mẽ. Tuy mạnh mẽ, nhạy bén, nhưng nếu đoạn trừ chúng th́ thật sự vẫn là khá dễ dàng, đó là nói về Kiến Hoặc. Món thứ nhất trong Kiến Hoặc là Thân Kiến, món thứ hai là Biên Kiến, món thứ ba là Giới Thủ Kiến, món thứ tư là Kiến Thủ Kiến, món thứ năm là Tà Kiến. Nói chung, nay chúng ta gọi năm loại lớn này là kiến giải sai lầm. Kiến () là kiến giải, Hoặc () là mê hoặc. Kiến giải của quư vị sai lầm, kiến giải đă mê. Có năm loại lớn như vậy.

Tư Hoặc: Tư () là tư tưởng, quư vị nghĩ sai lầm, tư tưởng đă mê hoặc. Mê hoặc về tư tưởng cũng có năm thứ: Tham, sân, si, mạn, nghi. Gộp chung lại thành mười loại, tức là Ngũ Độn và Ngũ Lợi hợp thành Thập Sử. Ngũ Độn là Tư Hoặc, Ngũ Lợi là Kiến Hoặc.

      Lũ phàm nhân chúng ta luôn ngỡ thân thể này là chính ḿnh, đó gọi là Thân Kiến (身見), nó là cội nguồn tội ác của hết thảy họa hoạn. Tiêu chuẩn thiện ác ở chỗ nào? Đức Phật dạy: Phàm những ǵ tự lợi đều là ác, phàm những ǵ lợi tha đều là thiện. Chúng ta thường nghe chẳng hiểu, chuyện tốt đẹp cho chính ḿnh, có lợi ích cho chính ḿnh, cớ sao nói là ác? Chư vị hăy suy nghĩ, sẽ hiểu rơ Kiến Tư phiền năo, sẽ có thể cảm nhận: Hễ là tự lợi, sẽ tăng trưởng Ngă Kiến, ta phải phá trừ! Phải phá Thân Kiến, phá Ngă Chấp. Hằng ngày quư vị tăng trưởng Ngă Chấp và Thân Kiến, ư niệm hễ dấy lên bèn nghĩ đến ta. Nói thật thà, hết thảy các sự tu học của chúng ta đều chẳng tăng trưởng nhanh chóng dường ấy, kiên cố ngần ấy! Khởi tâm động niệm chẳng có ǵ khác, đầu tiên là Ngă. Quư vị nói Ngă Chấp kiên cố quá, làm sao có thể thoát khỏi tam giới? Nếu quư vị muốn thoát khỏi tam giới, phải phá Ngă Chấp. Đức Phật đă nói Nhân Ngă Chấp và Pháp Ngă Chấp. Phá Nhân Ngă Chấp bèn chứng quả La Hán và Bích Chi Phật. Phá Pháp Ngă Chấp bèn chứng Bồ Tát, thành Phật. V́ thế, chẳng dễ ǵ phá tan Ngă Chấp. Hễ khởi tâm động th́ niệm đầu tiên là nghĩ đến chính ḿnh, có mấy ai quên đi cái Ta? Do đó, trong pháp Bồ Tát, điều thứ nhất là tu bố thí, bố thí nhằm dụng ư ǵ? Hy vọng sẽ quên mất cái Ta. Bố thí là niệm niệm nghĩ tới người khác, chẳng nghĩ tới ḿnh! Lợi ích ấy vô lượng vô biên, có thể khiến cho quư vị vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, thật sự liễu sanh tử, thoát tam giới! Há có phải là bố thí một chút tài vật để đạt được một tí phước báo nhân thiên hữu lậu! Chẳng phải là ư nghĩa ấy! Bố thí nhằm mục đích phá trừ Ngă Kiến, trừ bỏ Ngă Chấp. Đức Phật dạy Bồ Tát niệm niệm đừng nghĩ tới chính ḿnh, niệm niệm hăy nghĩ tới chúng sanh. Phương pháp này đích xác là cao hơn, khéo hơn Tiểu Thừa. Tiểu Thừa phá Ngă Chấp vô cùng khó khăn, phương pháp của họ rất vụng về! Phương pháp của hàng Đại Thừa Bồ Tát thiện xảo, khởi tâm động niệm đều chẳng nghĩ tới chính ḿnh, niệm niệm mong làm thế nào để lợi ích hết thảy chúng sanh. Hết thảy chúng sanh được lợi ích th́ chính ḿnh là một chúng sanh, đương nhiên cũng sẽ được lợi ích. V́ vậy, Ngài chẳng nghĩ cho chính ḿnh. Đó là phương tiện tu học thiện xảo của Đại Thừa Bồ Tát. V́ thế, đầu tiên là phá Thân Kiến. Thân Kiến họa hoạn vô cùng! Không chỉ là đối với chuyện liễu sanh tử, mà đối với niệm Phật văng sanh Tịnh Độ, nó cũng là chướng ngại to lớn bậc nhất. Chỉ cần có thứ này tồn tại, rất khó văng sanh.

      Thứ hai là Biên Kiến (邊見). Biên Kiến là kiến giải sai lầm. Biên Kiến là ǵ? Lục đạo phàm phu ai nấy đều có, các khoa học gia hiện thời gọi [Biên Kiến] là “quan niệm tương đối”. Tương đối là hai bên. Chúng ta nói đến ta, th́ đối lập với ta là người khác, đều là do tương đối mà kiến lập. Có dài th́ đối lập với dài là ngắn. Có lớn th́ đối lập với lớn là nhỏ. Đối lập với thiện là ác. Đấy là Nhị Biên. Quư vị có kiến giải nhị biên, kiến giải nhị biên chẳng thật. Kiến giải nhị biên là mê, chẳng ngộ! Trong Đàn Kinh, Lục Tổ đă nói: Nhị biên là hai pháp, hai pháp chẳng phải là Phật pháp, Phật pháp là pháp bất nhị. Có nhị biên, tâm quư vị làm sao thanh tịnh cho được? Nói cách khác, quyết định chẳng đắc Thiền Định. Nếu quư vị muốn thật sự đắc Thiền Định, người niệm Phật chúng ta muốn thật sự đắc tâm thanh tịnh, đắc công phu thành phiến, ắt phải vứt bỏ Nhị Biên.

      Chúng ta thấy Đàn Kinh có chép Huệ Minh truy đuổi Lục Tổ để đoạt lại y bát. Cuối cùng, Tổ bị Sư đuổi kịp, y bát thật sự có thần hộ pháp hộ tŕ. Sư vốn là tứ phẩm tướng quân, nghiễm nhiên chẳng thể lay động y bát, nên mới thật sự sanh tâm hổ thẹn, hiểu là sức người chẳng thể đoạt lấy vật ấy được. Sư hướng về Huệ Năng cầu pháp, Huệ Năng dạy Sư: “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác”. Thiện và ác là Nhị Biên, Biên Kiến đấy! Quư vị buông Nhị Biên xuống, hai bên đều vứt bỏ. Khi ấy, Tổ chỉ điểm một câu: “Chính ngay khi ấy, diện mạo vốn có của thượng tọa Huệ Minh là ǵ?” Do câu nói ấy, Sư liền khai ngộ. V́ sao chúng ta không thể khai ngộ? Chẳng bỏ Nhị Biên. Khi đó, Sư chí thành, cung kính, tâm thật sự sám hối, do tâm cung kính, thầy dạy như thế nào, Sư liền làm như thế ấy. Sau khi đă bỏ hai bên, được chỉ điểm bằng một câu nói liền tỉnh ngộ. Nói thật ra, mê và ngộ là trong một niệm! V́ sao hiện thời chúng ta được chỉ điểm cách nào cũng đều chẳng tỉnh, chẳng thể khai ngộ? Là do quư vị chưa từng có sát-na nào ĺa khỏi hai bên! Các khoa học gia Tây phương nói chúng ta sống trong thế giới tương đối. Phật pháp gọi thế giới tương đối là Biên Kiến.

      Người Hoa gọi hai thứ Kiến Thủ Kiến và Giới Thủ Kiến là thành kiến, [ta thường nói] “người nào đó có thành kiến rất sâu”, đó là chấp trước! Giới Thủ Kiến (戒取見) là thành kiến nơi nhân, Kiến Thủ Kiến (見取見) là thành kiến nơi quả. Thành kiến đều là sai lầm, trọn chẳng hiểu rơ sự thật. Trong Phật pháp giải thích bằng hai câu: “Phi nhân kế nhân”, [nghĩa là] chẳng phải là nhân mà người ấy tưởng lầm là nhân, đó là Giới Thủ Kiến. “Phi quả kế quả”, chẳng phải là quả báo, lầm tưởng là quả báo; đó là Kiến Thủ Kiến.

      Thí dụ như sanh thiên. Sanh thiên là quả báo, phải như thế nào th́ mới có thể sanh lên trời? Ở Ấn Độ, có kẻ tŕ ngưu giới. Tŕ ngưu giới là học theo trâu ḅ: Trâu ḅ ăn cỏ, kẻ ấy cũng đi ăn cỏ. Trâu ḅ cày ruộng cho con người, người ấy cũng đến thay trâu cày ruộng, hằng ngày ăn cỏ. Cứ ngỡ làm theo kiểu ấy sẽ có thể sanh thiên. Người nào tu kiểu đó? Đương nhiên chẳng phải là kẻ thông thường, mà là kẻ có công phu kha khá, tu Thiền Định. Trong khi Thiền Định, thấy trâu sau khi chết được sanh lên trời, bèn hiểu lầm: “Vốn là trâu sau khi chết bèn được sanh lên trời”. Thấy con người chết đi đều đọa địa ngục, hoặc biến thành ngạ quỷ, người ấy [nẩy sanh quan niệm] phải học theo trâu. Đó là do người ấy chỉ thấy sự thật, chẳng hiểu nhân duyên thật sự. Sanh thiên là do tu thượng phẩm Thập Thiện, cớ sao trâu có thể sanh lên trời? Đó gọi là “quả báo thông ba đời”. Chẳng phải là do trong cuộc đời làm trâu có công đức ǵ nên có thể sanh thiên, [mà là do] trong đời quá khứ, người ấy từng tu thượng phẩm Thập Thiện, tới lúc này, cái nhân ấy chín muồi. Người tu Định trông thấy [chuyện đó], nhưng chẳng biết chuyện trong quá khứ, hiểu lầm, cứ tưởng làm như vậy sẽ có thể sanh thiên. Đó gọi là Giới Thủ Kiến.    

Kiến Thủ Kiến là [hiểu lầm] đối với quả báo, có rất nhiều người ngỡ là hễ sanh thiên th́ cơi trời sẽ là sống đời đời, v́ [họ tưởng lầm] sanh lên cơi trời bèn bất sanh bất tử, sẽ sống đời đời, đó là quan niệm sai lầm. Dẫu sanh đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, thọ mạng tám vạn đại kiếp, vẫn phải luân hồi trong lục đạo, huống chi Dục Giới Thiên? Do đó, đấy chẳng phải là quả báo chân thật. Chẳng phải là quả báo chân thật, mà tưởng là quả báo chân thật, chấp trước kiên cố, đó gọi là Kiến Thủ Kiến, là sai lầm. Hai loại này, một là thành kiến nơi nhân, một là thành kiến nơi quả, đều thuộc loại vọng tưởng, chấp trước.

      Loại thứ năm là Tà Kiến (邪見), chẳng thuộc vào bốn loại trước. Hết thảy các tri kiến sai lầm được quy nạp vào cùng một chỗ, gọi là Tà Kiến. Phối hợp Tứ Đế với tam giới, tổng cộng gồm tám mươi tám phẩm, [tức là] tám mươi tám loại. Tư Hoặc có tám mươi mốt phẩm, quy nạp thành Ngũ Độn Sử. Độn () là rất chậm chạp, chẳng dễ đoạn. Quư vị mong đoạn nó th́ như thường nói là “dẫu ĺa ngó ư, c̣n vương tơ ḷng”. Ngũ Lợi Sử là Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Thủ Kiến, Kiến Thủ Kiến, và Tà Kiến. Hễ giác ngộ th́ chúng thật sự dễ đoạn. Ngũ Độn Sử là tham, sân, si, mạn, nghi, rất khó đoạn!

      Tham là tham ái, đây là căn bản sanh tử. Cổ đức thường nói: “Ái chẳng nặng, chẳng sanh Sa Bà”, tức là luân hồi trong lục đạo. Luân hồi trong lục đạo là do sức mạnh nào thúc đẩy? Do ái dục thúc đẩy. “Niệm chẳng nhất, chẳng sanh Tịnh Độ”, phải như thế nào th́ mới có thể văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới? Niệm phải chuyên nhất. Nói là Một th́ quyết định chẳng thể xen tạp, quyết định chẳng thể gián đoạn. Thật sự làm được chẳng hoài nghi, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, niệm ấy là Nhất. “Một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”, đấy là pháp môn Bất Nhị để thoát tam giới, liễu sanh tử, thoát luân hồi, thành Phật đạo. Do vậy, nhất định phải đoạn tham ái, nó nhất định chẳng phải là thứ tốt đẹp, đời đời kiếp kiếp chúng ta đă bị thứ này hại thê thảm. Sân khuể là nghiệp nhân của địa ngục. Ngu si là nghiệp nhân của súc sanh đạo. Ngạo mạn, hoài nghi là nghiệp nhân của đoạn thiện căn. V́ sao thiện căn của chúng ta chẳng thể hiện tiền? Ngạo mạn, hoài nghi thánh giáo, nói với quư vị, quư vị sẽ không tin, khó lắm! Cổ thánh tiên hiền vô lượng kiếp khổ tu đă đạt được kinh nghiệm, đạt được giáo huấn quư báu, trao truyền cho chúng ta, chúng ta chẳng tin, chẳng muốn tiếp nhận. Như đối với pháp môn Niệm Phật là kết luận đạt được do sự tu hành trong vô lượng kiếp của vô lượng chư Phật, các Ngài truyền cho chúng ta pháp môn vi diệu nhất, chúng ta hoài nghi pháp ấy, pháp khó tin đó mà!

      Cớ sao có tám mươi tám phẩm và tám mươi mốt phẩm? Trong sách Giáo Thừa Pháp Số có biểu giải[11], điều này thuộc loại Phật học thường thức, nên ở đây tôi chẳng rườm lời. Hôm nay chúng tôi giảng tới chỗ này.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 98 hết

 

 

 



[1] Kinh Đại Thừa Phương Đẳng Tổng Tŕ do ngài Tam Tạng Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch vào đời Tùy, gồm một quyển.

[2] Bộ kinh này có tên gọi đầy đủ là Phật Thuyết Quán Phật Tam Muội Hải Kinh, do ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch vào thời Đông Tấn. Kinh dạy về cách quán tướng hảo của đức Phật và công đức do sự quán tưởng. Ngoài quán tưởng các tướng hảo nơi Báo Thân, kinh c̣n dạy cách quán Pháp Thân và phép quán Thật Tướng, cũng như các mẫu chuyện trong đời đức Phật như chuyện bà lăo thành Đông tuy ở ngay cạnh Kỳ Viên vẫn không chịu thấy Phật, hoặc các phương tiện độ sanh thiện xảo của đức Phật như để độ một cô gái xinh đẹp, có tâm tham đắm vẻ đẹp của người nam rất nặng, đức Phật liền dùng thần thông biến hóa ra một hóa nhân đẹp đẽ tuyệt luân đến xin cưới cô ta, và khiến cho cô ta từ thỏa thích dục vọng đâm ra chán ngán, kinh sợ. Đă thế, chàng thanh niên ấy không được thỏa dục bèn tự sát, nhưng vẫn ôm chặt lấy cô ta không chịu rời, khiến cô phải đeo cái xác thối chương ph́nh suốt mấy ngày, nên hiểu rơ thế gian hư huyễn, sắc tướng vô thường, thiện căn trong đời quá khứ do đó phát khởi bèn dốc sức tu tập, trừ sạch tham dục…

[3] Kinh này được ngài Thi Hộ dịch vào năm Thái B́nh Hưng Quốc thứ năm (980) đời Tống. Trước đó, kinh này đă được dịch ba lần: Bản đầu tiên có tựa đề là Quang Thế Âm Đại Thế Chí Thọ Quyết Kinh (chữ Quang ở đây là ánh sáng) do ngài Trúc Pháp Hộ dịch trong khoảng niên hiệu Thái Thỉ nhà Tây Tấn. Bản thứ hai là Quán Thế Âm Thọ Kư Kinh do ngài Nhiếp Đạo Chân dịch trong khoảng niên hiệu Thái Khang - Vĩnh Gia nhà Tây Tấn. Hai bản dịch này hiện thời bị tàn khuyết, chỉ dùng để tham khảo. Bản thứ ba do ngài Đàm Vô Kiệt dịch năm Nguyên Gia thứ ba (426) đời Lưu Tống, có tựa đề là Quán Thế Âm Bồ Tát Đắc Đại Thế Bồ Tát Thọ Kư Kinh, thường gọi tắt là Quán Thế Âm Thọ Kư Kinh. Bản này khá đầy đủ và thông dụng hơn bản dịch của ngài Thi Hộ. Kinh nói về nhân địa của A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, và Đại Thế Chí Bồ Tát.

[4] Nhất Hướng Xuất Sanh Bồ Tát Kinh (Anantamukhasā-dhakadhāraṇī-sutra) do ngài Xà Na Quật Đa dịch vào đời Tùy, gồm một quyển. Trong kinh này, đức Phật đă dạy ngài Xá Lợi Phất Vô Biên Môn Đà La Ni. Kinh này c̣n có một bản dịch khác mang tựa đề A Nan Đà Mục Khư Ni Ha Ly Đà Kinh do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào thời Lưu Tống.

[5] Cha ông Bành Tế Thanh là Bành Khải Phong (1701-1784), tự Hàn Văn, hiệu Chi Đ́nh, đỗ Trạng Nguyên năm Ung Chánh thứ năm (1727), giữ chức Hàn Lâm Viện Tu Soạn, rồi giữ chức Hành Tẩu tại Nam Thư Pḥng, làm quan đến chức Binh Bộ Thượng Thư. Về sau do tính bộc trực, can vua không kiêng dè, nên nhiều lần bị trách phạt, từng bị giáng chức. Măi đến năm Càn Long 33 (1768) mới được phục nguyên chức.

[6] Ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện (748-834) là một vị thiền sư hữu danh vào giữa đời Đường. Ngài quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu (nay là trấn Tân Trịnh, huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam), họ Vương. Năm mười tuổi, Sư quỳ gối van nài cha mẹ cho phép xuất gia, cha mẹ đành nhượng bộ cho phép Sư theo học với ngài Đại Huệ Hoài Nhượng. Sư siêng năng, chuyên tinh học đạo, thọ Cụ Túc Giới vào năm Đại Lịch 12 (777) tại chùa Hội Thiện ở Tung Sơn, chuyên học Luật theo truyền thống của luật sư Pháp Lệ. Không lâu sau, tham học các nơi nghe giảng các kinh Lăng Già, Hoa Nghiêm v.v... lại c̣n thông đạt huyền nghĩa của Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận v.v… Về sau, đến tham yết Mă Tổ Đạo Nhất bèn tỉnh ngộ, được Tổ phó pháp. Năm Trinh Quán 11 (795), Sư sáng lập thiền viện Nam Tuyền ở huyện Thang Tŕ tỉnh An Huy, tự cày cấy nuôi thân, xiển dương Thiền đạo, hơn ba mươi năm chẳng ra khỏi núi. Măi đến niên hiệu Thái Ḥa đời Đường Văn Tông, do nhận lời cầu thỉnh của thái thú Thang Tŕ, Tuyên Phủ Sứ Lục Hằng, và Hộ Quân Bành Thành Lưu Công, Sư mới xuống núi thâu nhận học tṛ, thanh danh vang dội, thường được người đương thời xưng tụng là Nam Tuyền Cổ Phật. Có một hôm hai chúng Đông đường và Tây đường tranh luận ồn ào con mèo có Phật tánh hay không, Sư nắm cổ con mèo, bảo đại chúng: “Nếu các ông nói được th́ cứu nó. Nếu nói chẳng được, ta sẽ chém chết nó”. Đại chúng không ai đáp được, Sư bèn chém chết con mèo. V́ thế có thành ngữ “Nam Tuyền trảm miêu”. Đến tối, ngài Triệu Châu về tới, đại chúng kể lại, phàn nàn: “Sư huynh có nhà th́ đă cứu được con mèo rồi”. Ngài Triệu Châu vào gặp Sư, Sư lặp lại câu hỏi, ngài Triệu Châu bèn tháo dép đội lên đầu bước ra. Sư thị tịch vào năm Thái Ḥa thứ tám (834), học tṛ nối pháp có các vị Triệu Châu Tùng Thẩm, Trường Sa Cảnh Sầm, Tử Hồ Lợi Tung, Đàm Chiếu v.v… hơn mười bảy người.

[7] Thanh giáo: Giáo pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật được gọi là “thanh giáo” v́ Ngài dùng âm thanh để thuyết pháp hóa độ, gọi như vậy để phân biệt với các phương pháp hóa độ khác (chẳng hạn trong cơi Hương Tích, dùng cơm thơm để hóa độ).

[8] Theo Phật Học Từ Điển: Dục Giới có mười bốn Hữu (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Tu La, tứ đại châu, sáu tầng trời trong cơi Dục), Sắc Giới có bảy Hữu (Tứ Thiền Thiên, Đại Phạm Thiên, Tịnh Cư Thiên, và Vô Tưởng Thiên), Vô Sắc Giới có bốn Hữu (Tứ Không Xứ Thiên). Tổng cộng là hai mươi lăm Hữu. Như vậy, hai mươi lăm hữu chỉ là tam giới được nói chi tiết.

[9] Theo Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú, tám mươi tám món Sử là do phối hợp Thập Sử với Tứ Đế và tam giới mà thành. Đối với Dục Giới, Khổ Đế có đủ mười Sử, Tập Đế và Diệt Đế mỗi Đế có bảy Sử (tức là không có Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Thủ Kiến), Đạo Đế có tám Sử (tức là không có Thân Kiến và Biên Kiến). Do đó, Tứ Đế trong Dục Giới hợp thành ba mươi hai Sử. Sắc Giới và Vô Sắc Giới số lượng mỗi Sử giống như trong Dục Giới nhưng loại trừ Sân Sử. Do đó, mỗi giới có hai mươi tám Sử. V́ thế, Vô Sắc Giới và Sắc Giới có tất cả năm mươi sáu Sử cộng với ba mươi hai Sử của Dục Giới thành tám mươi tám Sử trong tam giới.

[10] Cũng theo Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú, coi Dục Giới là một địa, coi từ Sơ Thiền đến Tứ Thiền của Sắc Giới là bốn Địa, coi bốn Không Xứ Thiên của Vô Sắc Giới là bốn địa. Do vậy, tam giới có tổng cộng chín địa. Đối với Tư Hoặc (tham, sân, si, mạn), Dục Giới có đủ chín phẩm (thượng thượng, thượng trung, thượng hạ, trung thượng, trung trung, trung hạ, hạ thượng, hạ trung, hạ hạ), tám địa của Sắc Giới và Vô Sắc Giới, mỗi địa cũng đều có đủ chín phẩm, nên chín địa nhân với chín phẩm thành tám mươi mốt phẩm.

[11] Biểu giải: Xếp những khái niệm thành bảng, vẽ các đường mũi tên nối kết nhằm giảng giải quá tŕnh h́nh thành diễn biến của từng pháp.