Thọ Khang Bảo Giám
壽康寶鑒
Phần 2
Ấn Quang
đại sư tăng đính
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(theo bản in
của Giai Phương Ấn Loát Hữu Hạn Công Ty,
năm 1991)
Giảo duyệt:
Đức Phong và Huệ Trang
Giới
chi tại sắc phú (bài phú khuyên răn kiêng giữ sắc
dục)
(dùng chữ
trong tựa đề để gieo vần)
T́nh thiên lồng lộng, dục
giới mịt mờ. Trí huệ đă mê, si ngốc khó chuộc,
cũng đều nghĩ tới vợ vợ, chồng chồng.
Nghiêm giữ nếp nhà chẳng rối, ngơ hầu cháu cháu,
con con. Giữ nghiêm ngặt khuê môn chẳng hư bại, lẽ
đâu có kẻ khoét vách? Trọn chẳng có mối mai ong
bướm rập rờn, sao đến nỗi có gă vượt
tường, đền chẳng hết món nợ uyên
ương? Muôn điều ác, dâm xếp hàng đầu, chốn
Diêm Phủ ắt có thêm người! Trăm mối họa
ương, đều giáng xuống thân, không chỉ chết
non, bại xụi! Xóa tên sổ quế[1], sống
th́ buồn suông nơi ngơ hẻm bần cùng, chặt hết
nhánh cành[2]; chết
đi, mộ hoang lấy ai cúng bái? Người người
nhớ kỹ Trung Dung, quên khuấy một kinh tránh xa sắc
dục trong chín kinh[3].
Ai nấy đọc Luận Ngữ làu làu, không nhớ điều
kiêng sắc từ thuở thiếu niên trong ba điều
răn dạy. Huyết khí phần nhiều chưa định,
kẻ trí, người ngu, ai giữ vẹn [giới sắc]
chẳng dời, đó chính là ḥa. Tinh có thể bồi bổ
gân cốt, kẻ tham dâm quá đáng, thể lực khôn bề
chống đỡ[4]! Cậy
thế bức hiếp bà góa, phá hoại danh tiết khiến
người chồng đă mất khóc thầm! Ôm ấp gái
trinh, cô dâu mới ôm nhục nghi nan[5].
Nghĩ mụ ở dễ giở tṛ gian dâm, cha con cùng chung
chạ! Thấy chị vú dễ bề xâm phạm, độc
hại há thể chữa lành? Tớ gái xinh đẹp
thường bị vợ cả ghen tuông hành hạ. Cặp
kè nam sắc, thói xấu long dương[6]
càng khó biết. Đầu lâu đắp thịt, riêng mê
đắm kỹ nữ điên cuồng. Bồ Tát rủ
mày, cũng giận kẻ ô nhục ni cô thanh tịnh.
Kinh truyện[7]
chép: “Nam hữu thất, nữ
hữu gia, vật tương độc dă” (Trai có vợ,
gái có chồng, chẳng nên khinh nhờn họ). Sách Lễ
Kư nói: “Nội ngoại loạn,
cầm thú hạnh, tắc tất diệt chi, tắc hữu
thiệt thượng sán hoa, hà đoan thố thái” (Trong
ngoài dâm loạn[8], tức
là làm chuyện cầm thú, quốc gia ấy sẽ bị
tiêu diệt, lưỡi mọc ung nhọt lở loét, lông mày
tạp loạn, lộ vẻ tà dâm)[9]. Dụ
người đọa lạc núi tà, phạt ngươi trầm
luân biển khổ! Kẻ tự phụ văn nhân tài tử,
nhiều phen thốt lời gợi thú phong lưu, khiến
người nữ lâm vào cảnh oán thán, bậc trượng
phu thất chí, trở thành dung tục. Tả những chuyện
ḥ hẹn dưới trăng, bàn chuyện trong buồng the;
một lời tổn thương sự ḥa hợp trong trời
đất, xằng bậy soạn dâm thư, muôn kiếp
chịu tội trong chốn Nê Lê. Diễn xuất vở tuồng
dâm uế, tiếng hát, nụ cười, có ai nghĩ ngợi?
Vẽ vời tranh ảnh dâm đăng trong chốn kín đáo,
phơi bày vẻ lơa lồ, há [kẻ nào] có thể không bị
vấy bẩn? Say sưa ca hát khúc nhạc diễm t́nh, hồn
phiêu đăng, phách nay tan nát! Ngụy tạo toa thuốc tiên,
bổ dương, thái âm, chính là đường lối dẫn
vào tam đồ, há chẳng gây thêm oan nghiệt gấp cả
trăm lần?
Đă có lời giáo huấn vứt
bỏ những khúc ca nước Trịnh[10],
hăy nên nghe theo lời ấy. Nghĩ những bài Tụng
nước Lỗ[11],
đều không chứa lời tà vạy. Những giáo huấn
ấy hăy c̣n, sao không dứt niệm dâm, chuyển thành chuộng
đức? Không suy nghĩ ḥng giữ đạo vô vi; hễ
có vật, ắt sẵn pháp tắc. Nghĩ đến lúc sẩy
tay nơi vách đá cheo leo, lửa dục khó hừng! Hăy gấp
quay đầu nơi bờ kia, đừng đắm ch́m
trong làn sóng dữ!
Có thể sửa lỗi,
phước vẫn có thể tự cầu, thiện càng có
thể chuyển dời; chắc chắn có thể tiêu họa
chẳng lường. Kẻ áo xanh dẫn đi, Hồng học
sĩ tăng thêm tuổi thọ. Giấy vàng gởi tới,
Hạng tú tài chợt đỗ đạt cao[12].
Thoát bởi đó, mà xoay chuyển cũng nhờ vào đó,
báo ứng phân minh, chẳng thể trốn tránh, vẫn có
thể thay đổi. Văn hồi trong khoảnh khắc, tội
chẳng giáng xuống kẻ sám hối. Mộng dự vào
cơi thanh lương, chuyện phi lễ chớ nên theo đuổi[13].
Bóng, mền mênh mang trời đất[14], hăy
chí thành thực hiện. Trong luân thường kỷ
cương, chỉ chú trọng hiền đức, chẳng
quan tâm sắc đẹp[15],
vui thú vợ con. Cưới hỏi đúng lễ, ai nấy
ngâm bài “đào non vu quy”[16].
Đừng ham vẻ đẹp tươi non, mơn mởn
bên ngoài, màn loan đẹp mộng, cúi đầu vẻ mặt
mơ hồ, sáo phượng, lời ca mới mẻ, bóng
quỷ kéo lưỡi đáng gờm![17]
Trong tâm răn dè như sắt,
há vướng vào lưới pháp hay sao? Trên đầu chữ
Sắc (色), vốn đă chứa đao (刀),
sát cơ đă lộ. Sống ham niềm hoan lạc hữu
hạn, chết chịu nỗi khổ vô cùng. Có thể nhẫn,
kiên nhẫn, nhẫn nại rất mực, thần phải
kính phục. Thấy chuyện dâm, ư dâm, lời dâm, đều
ngừa trời giận. Phải cự tuyệt kẻ toan
dâm bôn, ngâm câu gió mát, trăng thanh[18],
càng phải nêu cao quyết liệt câu “khe sương, sông tuyết!”[19]
Đối với thú vui chồng vợ, cũng chớ nên
ham hố quá nhiều! Chuyện giường chiếu của
người khác, há nên dễ dăi rêu rao? Kẻ khinh bạc chốn
thanh lâu, thôi đừng phóng túng ba năm! Ngọc trắng
không tỳ vết, do nhàn nhă, viết thành bài phú.
Nhận định: Bài phú
này do danh sĩ xứ Việt Trung[20]
là thương nhân Bái Đ́nh soạn. Có một đêm, ông
ta mộng thấy Văn Xương Đế Quân bảo:
“Ngươi có tài soạn thơ
phú, sao không soạn một bài phú giới sắc, hăy v́ ta mà
cảnh tỉnh người đời”. Tỉnh giấc,
ông ta liền viết ra bài này. Lúc đặt bút viết,
dường như có thần giúp sức, từng chữ
đều khít khao đúng lư, từng câu đều khiến
[người đọc] sáng mắt, kinh tâm. Nguyện bậc
văn nhân tài sĩ trong thiên hạ, hăy nên ngâm vịnh nhiều
lượt, suy nghĩ kỹ càng!
Phước
thiện án (những câu chuyện kể về được
phước do làm lành)
* Trong niên hiệu Tuyên Đức[21] đời
Minh, Văn Trung Công Tào Năi thi đậu khoa thi Hương,
được bổ làm Học Chánh[22]. Do
ông không nhậm chức, nên được đổi sang
làm chức Điển Sứ[23]
huyện Thái Ḥa. Do bắt cướp, bắt được
một cô gái, giữ tại công quán. Cô ta rất đẹp,
muốn theo ông. Ông nghiêm khắc quở: “Há có thể xâm phạm
gái chưa chồng ư?” Bèn lấy giấy viết bốn
chữ “Tào Năi bất khả”
(Tào Năi chẳng thể) đem đốt. Sáng ra, gọi mẹ
cô ta đến lănh về. Về sau, khi đang làm văn
sách trong kỳ thi Đ́nh, chợt có một tờ giấy
bay tới rớt trước ghế, có bốn chữ “Tào Năi bất khả”, thế
là ư văn dồi dào, đậu Trạng Nguyên.
* Thầy thuốc họ Trần
ở Dư Hàng, có người nghèo mắc bệnh nguy ngập
được ông Trần chữa lành, mà cũng chẳng
đ̣i phải đền đáp. Về sau, do đụt
mưa, ông Trần vào nhà ấy. Mẹ chồng bảo vợ
người ấy hăy ngủ với ông để báo ân. Người
vợ vâng lời, đến khuya bèn ṃ đến
chỗ ông, thưa: “Ngài đă cứu chồng thiếp.
Đây là ư mẹ chồng”. Ông Trần thấy cô ta trẻ tuổi,
xinh đẹp, cũng động tâm, tận lực kiềm
chế [dục niệm], tự nhủ: “Không thể
được”. Cô ta nài ép, ông Trần liên tiếp bảo:
“Không được!”, ngồi đợi trời sáng. Cuối
cùng, gần như chẳng thể kềm ḿnh được,
lại hô to hai chữ: “Hai chữ
‘không thể’ quá khó!” Trời vừa rạng sáng bèn bỏ
đi. Ông Trần có đứa con đi thi. Quan giám khảo
loại bỏ bài văn của nó, chợt nghe có tiếng
hô: “Không thể”. Khêu đèn đọc lại, lại gạt
bỏ. Lại nghe có tiếng hô liên tiếp: “Không thể”.
Cuối cùng quyết ư loại bỏ, chợt nghe có tiếng
hô to “hai chữ ‘không thể’
khó quá” liên tục không dứt. Do vậy bèn cho đậu.
Sau khi yết bảng [công bố kết quả], [quan chủ
khảo] bèn gọi nó đến hỏi nguyên do. Đứa
con ấy cũng chẳng hiểu. Trở về, kể với
cha, cha bảo: “Đấy là chuyện lúc ta c̣n trẻ, không
ngờ trời báo đáp ta như thế”.
* Phùng Thương tuổi
đă trung niên chẳng có con. Vợ thường khuyên chồng
cưới thiếp để sanh con trai. Về sau, trên
đường lên kinh đô, ông mua một người thiếp.
Đă kư xong bằng khoán, giao tiền, hỏi tên tuổi cô
ta; cô ta nức nở, không đáp được. Cố gạn
hỏi, cô đáp: “Do cha thiếp nhận chuyển giao hàng
hóa cho quan phủ, [bị thất thoát] mà mắc nợ, phải
đem thiếp bán đi để lấy tiền trả nợ”.
Ông Phùng thương xót, lập tức trả cô ta về với
cha, chẳng đ̣i tiền lại. Khi trở về, vợ
hỏi: “Người thiếp đâu rồi?” Ông kể cặn
kẽ nguyên do. Vợ bảo: “Ông dụng tâm như thế,
lo ǵ không con”. Mấy tháng sau, vợ hoài thai. Buổi tối
hôm vợ ông sắp sanh, người trong làng đều thấy
tiếng trống, tiếng kèn rộn ră, tuyên bố:
“Đưa Trạng Nguyên tới nhà họ Phùng”. Sanh con trong
ngày hôm ấy, tức là Phùng Kinh. Về sau, [Phùng Kinh] đỗ
Tam Nguyên, làm quan tới chức Thái Tử Thiếu Sư[24], rồi
làm Tể Tướng, quan chức rất vinh hiển.
* Đời Minh, ông Tôn Kế
Cao ở Vô Tích, dạy học tại một nhà nọ. Bà
chủ sai cô hầu gái biếu thầy một chén trà, trong
chén có bỏ một chiếc nhẫn vàng. Ông Tôn giả vờ
không biết, bảo cô hầu gái dọn đi. Đêm đến,
cô hầu đến gơ cửa, bảo: “Bà chủ đến
đấy!” Ông vội lấy một tấm ván lớn, chặn
cửa không cho vào. Ngày hôm sau xin về, người khác hỏi
nguyên do, ông đáp: “Học tṛ không thể dạy được!”
Trọn chẳng lộ chuyện ấy. Về sau, ông Tôn
đỗ Trạng Nguyên, con cháu quư hiển.
* Cha ông Châu Toàn ở Ôn Châu,
đông con, nhà nghèo. Hàng xóm giàu có, không con, sai người thiếp
xin giống. Đêm đến, mời cha ông Châu Toàn uống
rượu, người chồng giả vờ say lui ra,
người thiếp ra bồi tiếp, nói rơ nguyên nhân. Cha
ông Toàn kinh ngạc, vùng đứng dậy, nhưng cửa
đă đóng, bèn vung tay viết lên không trung rằng: “Muốn truyền thuật gieo giống,
lại sợ thần trên trời”, xoay mặt vào vách, không
ngó ngàng tới [người thiếp ấy]. Năm Ất
Măo niên hiệu Chánh Thống[25], ông
Châu Toàn thi Hương trúng tuyển. Thái Thú[26] nằm
mộng thấy đón tiếp vị Tân Trạng Nguyên, tức
là ông Châu Toàn, trên cờ hiệu đề chữ lớn “muốn truyền thuật gieo giống,
lại sợ thần trên trời”. Quan Thái Thú chẳng
đoán được nguyên do. Quả nhiên, ông Toàn đỗ
Trạng Nguyên vào năm Bính Th́n. Thái Thú chúc mừng, nhân
đấy, kể lại chuyện đă thấy trong mộng.
Cha ông Toàn thưa: “Đấy là câu nói do lăo phu đă viết
lên không trung vào hai mươi năm trước”, c̣n tên họ
của người trong chuyện trọn chẳng nói ra.
* Đời Minh, ông Lục
Công Dung ở Thái Thương, dáng dấp rất đẹp
đẽ. Vào năm Thiên Thuận thứ ba (1459)[27],
đi thi ở Nam Kinh. Trong quán trọ, có nữ nhân nửa đêm
đến chỗ ông ngủ, toan tằng tịu. Thoạt đầu,
ông viện cớ mắc bệnh, hẹn đêm sau. Cô ta lui
ra. Ông bèn làm thơ rằng: “Phong
thanh nguyệt bạch dạ song hư, hữu nữ lai
khuy tiếu độc thư, dục bả cầm tâm thông
nhất ngữ. Thập niên tiền dĩ bạc
Tương Như” (Song thưa gió mát trăng thanh, cô gái ngấp
nghé trêu anh học tṛ, mượn đàn toan những hẹn
ḥ, mười năm trước đă phụ phàng
Tương Như). Đợi đến sáng, ông mượn
cớ rời khỏi. Mùa Thu năm ấy đi thi. Trước
đó, cha ông ta nằm mộng thấy quan Quận Thủ tặng
cờ, tấm, [kèm thêm một đội] trống, kèn. Trên
tấm biển ấy, đề bốn chữ “nguyệt bạch phong thanh”.
Người cha nghĩ là điềm báo con thi đậu,
viết thư gởi cho ông. Ông càng thêm dè dặt. Về
sau, đỗ Tiến Sĩ, làm quan tới chức Tham Chánh[28].
* Ở Tỳ
Lăng, có một ông họ là Tiền, làm việc thiện,
nhưng không có con nối dơi. Trong làng có cụ Dụ bị
kẻ có thế lực xiết nợ, bị gông xiềng
giam cầm, vợ con đói rét, xin vay tiền ông. Ông trao tiền
đúng số, chẳng giữ bằng khoán mượn nợ.
Chuyện được giải quyết, cụ Dụ dẫn
vợ con đến cảm tạ. Bà vợ ông Tiền thấy
con gái của họ xinh đẹp, muốn mua về làm thiếp.
Vợ chồng ông Dụ hoan hỷ. Ông Tiền bảo: “Thừa
dịp người ta gặp khó khăn tức là bất
nhân. Ư ta vốn làm lành, kết cục trở thành chuyện
để thỏa dục, tức là bất nghĩa. Ta thà
không có con, quyết chẳng dám phạm!” Vợ chồng ông
Dụ khóc lóc bái tạ, lui về. Tối hôm ấy, vợ
ông Tiền nằm
mộng thấy có vị thần bảo: “Chồng bà âm
đức rất trọng, sẽ ban cho bà đứa con
quư”. Năm sau, quả nhiên sanh một trai, đặt tên là
Thiên Tứ. Vào năm mười tám tuổi, [Thiên Tứ] liên
tiếp đỗ đạt, làm quan đến chức Ngự
Sử.
* Trầm Đồng ở
Quy An, có tên tự là Quán Di, nhà nghèo. Người anh trong họ
là Tốn Châu giới thiệu ông đến nhà sui gia dạy
trẻ vỡ ḷng. [Nhà ấy] mẹ góa, con thơ. Một
đêm, bà góa đến dụ dỗ ông làm chuyện chim chuột,
Trầm Đồng nghiêm khắc cự tuyệt. Ngày hôm sau
liền từ tạ trở về. Bà góa sợ lộ chuyện,
sắm sửa lễ vật van nài [Trầm Đồng trở
lại dạy học]. Lại thúc giục Tốn Châu mời
giùm mấy lượt, ông đều chẳng nhận lời.
[Tốn Châu] vặn hỏi nhiều lần, ông Đồng
trọn chẳng hé môi, chỉ nói “bất tiện” mà thôi!
Năm sau, [Trầm Đồng] đỗ đạt, làm
quan tới chức Tuần Phủ.
* Vương Chí Nhân là
thương gia ở tỉnh An Huy, đă ba mươi tuổi
không có con. Có thầy bói nói: “Vào tháng Mười này, ông sẽ
gặp đại nạn”. Ông Vương vốn hết sức
tin tưởng tài bói toán của người ấy; do vậy,
vội vàng sang Tô Châu kiểm điểm sổ sách để
[mau chóng] quay về quê nhà. Buổi chiều, ngẫu nhiên tản
bộ, thấy một phụ nữ gieo ḿnh xuống nước.
Ông Vương vội lấy mười lạng bạc, gọi
thuyền chài cứu lên. Hỏi nguồn cơn, cô ta
đáp: “Chồng tôi làm công sống qua ngày, tôi nuôi lợn bán
lấy lời. Hôm qua đem bán, không ngờ bị trả
toàn là bạc giả, sợ chồng trở về trách mắng,
không muốn sống nữa, cho nên toan t́m cái chết”. Ông
Vương thương xót, bù tiền đầy đủ.
Cô ta trở về kể với chồng, chồng không tin,
bèn cùng với vợ tới chỗ ông Vương hỏi
han. Ông Vương đă ngủ. Bà vợ gơ cửa, gọi
to: “Người đàn bà gieo ḿnh xuống nước đến
cảm tạ”. Ông Vương sẵng giọng quát:
“Ngươi là thiếu phụ, ta là người khách lẻ
loi. Đêm khuya làm sao gặp gỡ cho được?” Người
chồng run sợ, thưa: “Vợ chồng tôi cùng có mặt”.
Ông Vương bèn khoác áo ra tiếp. Cửa vừa mới mở,
bỗng tường đổ sụp, chiếc giường
ông đă nằm bị đè nát vụn. Vợ chồng
người ấy cảm thán từ biệt. Sau đó, ông
trở về nhà. Thầy bói gặp mặt, hết sức
kinh hăi, bảo: “Khắp mặt ông hiện toàn nét âm chất.
Ắt là ông đă từng cứu mạng người khác.
Sau này, phước sẽ chẳng thể lường
được!” Về sau, ông sanh liên tiếp mười một
đứa con, thọ đến chín mươi sáu tuổi,
vẫn khoẻ mạnh.
* Dương Hy Trọng
đời Tống là người huyện Tân Tân. Lúc c̣n hàn
vi, ngồi dạy học tại một nhà giàu ở Thành
Đô. [Tay nhà giàu ấy] có một người thiếp xinh
đẹp, tự phụ tài sắc, tới chỗ ông ở
để lả lơi cḥng ghẹo. Hy Trọng nghiêm mặt
cự tuyệt. Vợ ông Hy Trọng nằm mộng thấy
thần bảo: “Chồng bà ở một ḿnh nơi đất
khách, trong chốn pḥng kín chẳng dám khinh nhờn, sẽ
đỗ đạt đứng đầu nhiều người,
ḥng tỏ rơ thiện báo”. Năm sau, quả nhiên ông
Dương đỗ đầu tỉnh Tứ Xuyên.
* Hiếu liêm họ Tŕnh ở
Huy Châu, nhà ở bên một con suối nhỏ. Cây cầu gỗ
bắc qua suối rất hẹp. Có một cô gái đến
thăm người thân đi qua đó, trượt chân,
rơi xuống nước. Hiếu liêm sai người cứu
lên, sai vợ hong khô quần áo. Trời đă tối, [cô ta]
không thể trở về, lại bảo vợ ngủ
chung với cô ta. Hôm sau, đưa cô ta về nhà mẹ. Bố
mẹ chồng [sắp cưới của] cô ta nghe tin,
không vui, bảo: “Con dâu chưa qua khỏi cửa, đă ngủ
đêm tại nhà người ta, chẳng phải là hạng
gái tốt đẹp”, sai bà mối từ hôn. Hiếu liêm nghe
tin, đích thân đến đó, tận lực khuyên nhủ,
khiến cho cô ta được thành hôn. Chưa đầy
một năm, chồng chết, để lại một
đứa con trong bụng vợ. Từ đấy, bà góa dạy
con, đọc sách dưới đèn, thường ứa
nước mắt nói: “Nếu con thành danh, đừng quên
ơn của ông hiếu liêm họ Tŕnh”. Đứa con ấy
c̣n bé đă đỗ đạt, năm Bính Th́n đi thi Hội,
mỗi khi viết xong một bài, ắt đều đọc
to lên, vỗ bàn đắc ư. Sau đấy bỗng ̣a khóc ầm
ĩ. Khéo sao, hiếu liêm ở trong lều thi gần
đó, vội hỏi nguyên cớ. Thiếu niên đáp: “Bảy
bài văn đều tột bậc đắc ư, chẳng
ngờ muội đèn rơi xuống, đều đốt
thủng quyển chép bài thi, ắt sẽ bị loại bỏ.
Cháu khóc là do lẽ ấy”. Ông Tŕnh nói: “Tiếc cho bài văn
hay, trở thành vô dụng. Nếu chịu cho tôi chép lại,
thi đậu, tôi sẽ hậu tạ”. Thiếu niên bèn trao
quyển thi cho ông Tŕnh chép. Quả nhiên, ông đỗ Tiến
Sĩ. Sau khi yết bảng, thiếu niên đến chỗ
ông Tŕnh đ̣i báo đáp. Ông Tŕnh rót rượu mời uống;
do đó, thiếu niên hỏi: “Ngài có âm đức ǵ
chăng, do văn chương của tôi mà thành danh?” Ông
Tŕnh tự xét lại đời ḿnh, chẳng có âm đức
chi khác. Thiếu niên cố gạn hỏi không ngừng, thật
lâu sau, ông Tŕnh kể chuyện trước kia đă từng
cứu một người nữ. Thiếu niên quỳ mọp
xuống đất, lạy thưa: “Tiên sinh là đại
ân nhân của mẹ cháu, dám đ̣i báo đáp ư?” Nhân
đó, kể lại lời mẹ thường khóc kể
trước đèn, và coi ông Tŕnh như là thầy ḿnh. Hai
nhà bèn kết sui gia.
* Từ Ngang là người xứ
Dương Châu, đi thi Hội vào mùa Xuân. Trong kinh thành có
thầy bói họ Vương đoán quẻ phần nhiều
rất đúng. Ông Từ đến xem bói, ông Vương bảo:
“Tướng ông không có con, biết làm sao được?” Về
sau, ông Từ thi đậu, làm quận thủ Tây An. Trên
đường, mua được một cô gái rất xinh
đẹp làm thiếp. Ông Từ hỏi han ḍng dơi. Cô ta
đáp: “Cha tôi là ông X… làm quan xứ nọ, mất vào năm
nọ. Vào năm đói kém, tôi bị kẻ cường bạo
bắt đem bán tới đây”. Ông Từ hết sức
thương xót, liền đốt bằng khoán, chẳng lấy
cô ta làm thiếp. Đến chỗ trấn nhậm, sắm
sửa đầy đủ của hồi môn, chọn
người đàng hoàng để gả. Măn nhiệm, trở
về kinh, ông Vương trông thấy, kinh hăi nói: “Tướng
ông khác hẳn, khắp mặt toàn là tướng có con cái. Lẽ
nào chẳng phải là do âm đức gây nên ư?” Chẳng
lâu sau, người tiểu thiếp của ông sanh liên tiếp
năm đứa con!
* Diêu Tam Cửu vốn họ
Biện, học rộng, giỏi thơ văn, ngồi dạy
học tại nhà họ Hoài. Có cô gái thường lén nḥm
ngó, ông Biện tỉnh bơ, chẳng ngó ngàng tới. Một
hôm, ông phơi giày ngoài sân, cô gái viết thư bỏ vào
đó. Nhận được thư, ông Biện mượn
cớ, từ tạ quay về. Viên Di Hạnh [viết thư
thăm ḍ, trong thư] có kèm một bài thơ, có những câu
[ngụ ư châm chọc] như sau: “Nhất
điểm trinh tâm kiên phi thạch, xuân phong đào lư mạc
tương sai” (Một tấm ḷng trinh bền tựa
đá, gió xuân đào mận chẳng thèm ngờ). Ông Biện
viết thư trả lời, cực lực biện định
hoàn toàn chẳng có chuyện [trăng hoa] ấy. Viên Di Hạnh
trịnh trọng viết lên phong b́ của bức thư ấy
như sau: “Đức hết sức
sâu dầy, con cháu ắt hưng thịnh”. Về sau, con
ông Biện là Kham, chắt là Tích, đều đỗ Tiến
Sĩ.
* Lâm Tăng Chí là người
Ôn Châu, thờ Phật, giữ giới. Một hôm, mộng
thấy bảng trời, thấy đề tên ḿnh đỗ
thứ mười. Dưới đó, viết sáu chữ: “Bất sát, bất dâm chi báo” (Quả
báo do chẳng giết, chẳng dâm). Năm Mậu Th́n, quả
nhiên ông đỗ hạng mười.
* Hà Trừng do làm nghề y
mà nổi tiếng. Có người họ Tôn ở cùng quận
mắc bệnh đă lâu chẳng lành, mời ông Trừng
đến chữa trị. Vợ người ấy ngầm
nói với ông Trừng: “Chồng tôi bị bệnh đă
lâu, của cải đă bán sạch hết rồi. Xin
đem thân tôi để đền đáp tiền thuốc”.
Ông Trừng nghiêm mặt, từ chối: “Sao bà lại hồ
đồ nói như vậy? Nhưng hăy yên tâm, đừng
lo, ta sẽ chữa trị cho chồng bà, đừng dùng
chuyện ấy làm xấu ta, cũng như ô nhục chính
ḿnh”. Vợ người ấy hổ thẹn, cảm kích,
lui ra. Đêm ấy, ông mộng thấy có một vị thần,
dẫn đến một ṭa công thự. Vị chủ ṭa
công thự ấy bảo: “Ngươi làm nghề y có công, lại
chẳng do người ta gặp cảnh ngặt nghèo mà dâm
loạn phụ nữ của kẻ khác. Ta tuân theo sắc
chỉ của Thượng Đế, thưởng cho
ngươi một chức quan, tiền năm vạn đồng”.
Chẳng lâu sau, Thái Tử bị bệnh, [hoàng đế] hạ
chiếu vời Hà Trừng đến chữa trị, [Thái
Tử] lành bệnh. Vua ban thưởng chức quan và tiền
bạc đúng như giấc mộng.
* Cha của Cao Thượng
Thư ở Dương Châu buôn bán khắp một giải
Nam Kinh và Hán Khẩu. Ở nơi quán trọ, thường
ngửi thấy mùi hương An Tức ngát mũi. Một
hôm, bỗng thấy một vệt kẽ hở nơi vách
tường, ông ḍm qua khe hở, thấy cô gái đang ngồi
một ḿnh. Hôm sau, ông hỏi thăm chủ nhân, hóa ra cô ấy
là con gái ông ta. Hỏi sao không gả đi, ông ta đáp: “Chọn
rể khó lắm!” Vài hôm sau, ông t́m kiếm được một
chàng rể, bảo chủ nhân: “Tôi thấy chàng X… ở hàng
xóm rất được, muốn đứng ra làm mai. Ông
thấy thế nào?” Chủ quán trọ đáp: “Ư tôi cũng
nghĩ thế, nhưng nhà đó nghèo nàn!” Ông bảo: “Không
sao đâu! Tôi sẽ cho họ mượn tiền chi phí hôn
lễ”. Bàn xong chuyện cưới gả, c̣n tặng nhà ấy
mấy chục lạng bạc để lo liệu tốt
đẹp hôn sự. Ông trở về, mộng thấy thần
nói: “Ông vốn không có con, nay ban cho ông một đứa, có
thể đặt tên là Thuyên”. Năm sau, quả nhiên sanh một
trai. Về sau, Thuyên đỗ Tiến Sĩ, làm quan tới
chức Thượng Thư.
* Chư sanh[29]
Trầm Loan ở Tùng Giang, tuổi đă trung niên vẫn
chưa có con nối dơi. Nhà nghèo, phải đi làm gia sư.
Một đêm, trở về nhà gặp mưa, cửa
đă đóng. Nghe trong nhà có tiếng gái tơ. Hỏi vợ
[vọng qua cửa] th́ ra là con gái nhà hàng xóm do thấy vợ
ông ta quạnh quẽ nên đến bầu bạn. Ông Trầm
dặn vợ đừng mở cửa, đội mưa
lánh đi, ngủ tại đạo quán. Trong đêm ấy,
mộng thấy Thượng Đế trao cho sợi
tơ hai màu. Tỉnh giấc th́ mới là giờ Tư. Thấy
trong điện thờ bốn phía sáng rực, năm sắc
chói mắt. Chính là v́ mây tan, trăng chiếu vào điện
thờ khiến mọi vật rực rỡ. Từ đấy,
ông sanh liên tiếp hai đứa con, trưởng là Văn
Hệ, thứ là Khả Thiệu, nối tiếp nhau đỗ
đạt.
* Đời Thanh, Thái Khải
Truyền ở huyện Đức Thanh thoạt đầu
đi thi Hương, khi ấy, không có con. Vợ dành riêng ba
mươi lạng để mua một người thiếp.
Đón người thiếp về, [cô ta] cứ khóc măi không
thôi. Ông hỏi nguồn cơn, [cô ta] thưa: “Chồng tôi
do mắc nợ trong quân doanh cho nên đến nỗi này”.
Ông bèn đi suốt đêm đi đến nhà chồng cô
ta, bảo [người nhà của anh ta]: “Tôi sẽ v́ mấy
người giải quyết chuyện này. Nay tôi không thể
về; hễ về th́ tâm tư lẫn hành vi đều
không minh bạch”. Đợi đến khi người lính
từ quân doanh trở về, ông Thái nói cặn kẽ nguyên
do cùng người đó, bảo: “Ông lấy giấy nợ
ra đây, tôi sẽ trả tiền”. Ông bèn sai người
đem kiệu rước người vợ trả lại
cho chồng, tặng họ ba mươi lạng bạc. Về
sau, phu nhân liền sanh con. Năm Canh Tuất (1670) đời
Khang Hy, ông thi đậu.
* Đời Minh, Văn Chánh Công
Tạ Thiên, thuở trẻ, ngồi dạy học tại
nhà nọ ở Tỳ Lăng. Có cô gái thừa dịp cha mẹ
đi vắng, đến dụ dỗ ông tằng tịu.
Ông khuyên can: “Phụ nữ chưa lấy chồng mà đă
thất thân với người khác, sẽ bị điếm
nhục suốt đời, sẽ khiến cho cha mẹ, chồng,
họ hàng đều bị mất mặt”. Ông nghiêm mặt,
cự tuyệt. Cô gái ấy hổ thẹn, rút lui. Ngày hôm
sau, ông lập tức từ tạ, xin nghỉ dạy. Về
sau, vào năm Ất Mùi (1475) trong niên hiệu Thành Hóa[30],
ông đỗ Trạng Nguyên, làm quan tới chức Thừa Tướng,
con là Phi làm quan đến chức Thị Lang[31].
* Phí Xu là người đất
Thục (Tứ Xuyên) lên kinh đô thi Hội. Vào lúc chạng
vạng, một người đàn bà tới bảo: “Tôi là
con nhà buôn vải vóc. Sau khi xuất giá, chồng chết,
nghèo hèn, không trở về nhà được, xin theo
nương cậy ông”. Ông Phí nói: “Ta chẳng muốn phạm
tội phi lễ, sẽ mời cha ngươi đến
đón”. Cho người hỏi ḍ cha người ấy khắp
nơi, cho biết t́nh trạng của nữ nhân ấy. Cha
cô ta khóc lóc, cảm tạ, đem con gái về. Ngay trong
năm ấy, ông Phí thi đậu, làm quan đến chức
Thái Thú.
* Ông Cận ở Trấn Giang
đă năm mươi tuổi mà không con. Dạy trẻ vỡ
ḷng tại huyện Kim Đàn. Thấy con gái nhà hàng xóm khá
xinh xắn, vợ ông liền bán thoa, xuyến, mua về làm
thiếp. Ông trở về nhà, bà vợ bày rượu trong
pḥng, bảo ông: “Tôi đă già chẳng thể sanh nở.
Nàng này khá hiền lành, chắc có thể sanh con nối ḍng
cho nhà họ Cận”. Ông cúi đầu, đỏ mặt
tía tai. Bà vợ cho rằng ḿnh có mặt th́ chồng sẽ
ngần ngại, bèn đi ra, đóng chặt cửa lại.
Ông bèn leo qua cửa sổ thoát ra, bảo vợ: “Ư bà tốt
lành, nhưng tôi thường bồng bế cô ta thuở bé,
luôn mong cô ta sẽ được gả vào chỗ đàng
hoàng. Tôi đă già rồi, lại c̣n lắm bệnh, chẳng
thể làm nhục cô ta được”, bèn trả cô ấy
về. Năm sau, bà vợ sanh ra Văn Hy Công, mười bảy
tuổi đă đậu Giải Nguyên[32],
năm sau đỗ nghè. Về sau, [Văn Hy Công] là một
vị Tể Tướng hiền đức.
* Thư sinh họ Tào ở Tùng
Giang đi thi. Ở quán trọ, có người đàn bà t́m
đến [dụ dỗ]. Ông Tào kinh hăi, vội chạy sang
chỗ khác tá túc. Đi nửa đường, thấy có
ánh đèn dẫn đường, dẫn vào một ṭa cổ
miếu. Nghe đánh trống thăng đường, ông
Tào phủ phục trước miếu. Nghe trong điện
thờ xướng danh những người được
ghi tên trong bảng tân khoa. Tới người thứ sáu, lại
[có nha lại] bẩm rằng: “Ông X… gần đây làm chuyện
sai trái, Thượng Đế gạch tên, hăy nên bù người
nào vào?” Thần nói: “Ông Tào ở Tùng Giang chẳng hành dâm với
người đàn bà ở quán trọ, là bậc chánh khí,
đáng thêm tên vào”. [Nha lại] bèn thêm tên ông Tào vào. Ông Tào
[nghe phán bảo như vậy] vừa sợ hăi, vừa vui
mừng. Quả nhiên [về sau] đỗ thứ sáu.
* Đời Minh, tại Chiết
Giang có viên Chỉ Huy Sứ[33],
mời thầy đến dạy con. Thầy bị bệnh,
con đem mền đắp cho thầy đổ mồ hôi,
vô ư cuộn theo cả chiếc hài của mẹ làm rớt
dưới giường của thầy. Thầy lẫn
tṛ đều không biết. Chỉ Huy Sứ trông thấy,
bèn nghi ngờ, vào hỏi vợ, vợ chẳng nhận,
bèn sai đứa tớ gái giả vờ vâng lệnh vợ
đến mời thầy, cầm đao chờ sẵn sau
đó. Hễ thầy mở cửa sẽ giết ngay. Thầy
nghe tiếng gơ cửa, hỏi chuyện ǵ. Đứa tớ
gái thưa: “Bà chủ cho mời thầy”. Thầy nổi giận,
quát mắng đứa tớ gái, không chịu mở cửa.
Chỉ Huy Sứ lại ép vợ ḿnh đích thân đến
mời. Thầy vẫn kiên quyết cự tuyệt, bảo:
“Tôi được ông Đông mời về, há lén lút làm chuyện
xấu xa ư? Xin hăy mau quay về”, trọn chẳng mở
cửa. Viên Chỉ Huy Sứ mau chóng nguôi giận. Hôm sau, thầy
xin thôi dạy. Viên Chỉ Huy Sứ cảm tạ, thưa:
“Tiên sinh đúng là bậc quân tử” rồi mới kể lại
chuyện ấy để tạ tội. Ngay trong năm ấy,
thầy thi đỗ, làm quan to.
* Ông Lâm Mậu Tiên ở Tín
Châu, tài học hơn người, đă được chọn
đi thi Hương. Nhà hết sức nghèo, đóng cửa,
đọc sách. Vợ một tay hàng xóm rất giàu, chán ghét
chồng thất học, riêng hâm mộ tài danh của Mậu
Tiên, ban đêm t́m đến toan chung chạ. Mậu Tiên quở
trách: “Nam nữ khác biệt, lễ pháp chẳng dung. Trời,
đất, quỷ thần la liệt đông kín, há có thể
ô nhục ta ư?” Bà ta hổ thẹn lui về. Năm sau,
Mậu Tiên thi đậu, ba đứa con trai đều
đậu Tiến Sĩ.
* Đời Thanh, ông Viên ở
Thiểm Tây. Do giặc Sấm (Lư Tự Thành)[34] dấy
loạn, cha con thất lạc, trôi nổi, ngụ tại Giang
Nam, muốn cưới thiếp sanh con. Vừa mua
được vợ, rước về nhà ông Viên, cô ta xoay
lưng về ánh đèn, khóc lóc. Ông Viên gạn hỏi, cô ta
đáp: “Chẳng có ǵ khác. Chỉ v́ trong nhà đói nghèo, chồng
muốn t́m cái chết, cho nên thiếp bán thân để chồng
được sống. Thiếp nghĩ tới vợ chồng
t́nh sâu nghĩa nặng trước nay; v́ thế, khôn ngăn
đau thương vậy”. Ông thương xót, xoay lưng ngồi đợi sáng. Ngoài số
tiền bán thân ra, c̣n tặng thêm một trăm lạng, trả
người vợ cho chồng, bảo họ hăy buôn bán. Vợ
chồng họ khóc lóc ra đi. Về sau, họ muốn t́m
một cô gái chưa chồng, tặng cho ông Viên để
sanh con, nhưng t́m đă lâu chẳng được. Ngẫu
nhiên tới Dương Châu, gặp một người
đem một đứa bé khôi ngô muốn bán; do vậy, họ
bàn riêng với nhau: “Ta chưa t́m được cô gái nào.
Trước hết, hăy mua đứa trẻ này về hầu
hạ ông Viên, có ǵ là không được?” Bèn mua lấy,
vượt sông, tặng nó cho ông Viên. Ông Viên nh́n kỹ, th́
ra là đứa con đă bị thất lạc. Báo ứng thần
kỳ như thế đó!
* Đời Minh, Văn Định
Công Lục Thụ Thanh là người xứ Vân Gian. Năm
Tân Sửu, ông lên miền Bắc. Khi ấy, quận thủ
là Vương Công Hoa nằm mộng thấy trong sân của
miếu Thành Hoàng có nhiều cây to đều vang ra tiếng
tán thán ông ta là bậc thiện sĩ. Do vậy, gọi bố
vợ của ông ta là ông Lư đến hỏi: “Thường
ngày, Thụ Thanh đă làm những việc thiện nào?” Ông
ta thưa không biết rơ, [chỉ biết Thụ Thanh] đối
với chuyện tà sắc chẳng cẩu thả mà thôi! Về
sau, [Thụ Thanh] đỗ đầu kỳ thi Hội, con
là Ngạn Chương đậu Tiến Sĩ vào năm Kỷ
Sửu.
* Đường Cao thuở
trẻ đọc sách dưới đèn, có cô gái lả
lơi cḥng ghẹo, xé giấy dán cửa sổ. Ông dán lại
xong xuôi, đề thơ rằng: “Đào chỉ song dung dị bổ, tổn nhân âm chất
tối nan tu” (Giấy dán song, xé rồi dễ vá; tổn
đức người, há dễ đền bù?) Về sau,
một vị Tăng đi qua cửa nhà ấy, thấy có
một tấm biển đề chữ Trạng Nguyên, hai
bên treo hai ngọn đèn, trên đèn viết hai câu ấy, lấy
làm lạ, hỏi han. Sau này, quả nhiên Đường Cao
đỗ Trạng Nguyên.
* Đời Minh, Trương
Úy Nham ở Giang Âm nằm mộng thấy ḿnh tới một
ṭa nhà cao, t́m được một danh sách ghi tên người
đỗ đạt, trong ấy có nhiều ḍng bị bỏ
trống. Hỏi người bên cạnh, họ bảo: “Đấy
là danh sách người dự thi năm nay”. Hỏi v́ sao nhiều
tên bị bỏ trống. Đáp: “Thi cử th́ cứ ba
năm khảo hạch [đức hạnh] một lần,
phải là kẻ tích đức, không lầm lỗi th́ mới
có tên. Những chỗ bị khuyết là tên của những
kẻ được ghi tên từ trước, do gần
đây mới phạm lỗi nên bị xóa tên”. [Người
ấy] chỉ vào một hàng sau đó, bảo: “Ông b́nh sinh
chẳng có dâm nghiệp, có lẽ sẽ được ghi
bổ sung vào đây, hăy nên biết tự thương xót
ḿnh”. Khoa thi năm ấy, quả nhiên đỗ hạng một
trăm lẻ năm.
* Đời Minh, thư sinh họ
Tôn ở Ninh Ba, nhà nghèo, đi dạy vỡ ḷng cho trẻ.
Suốt năm, chẳng qua là được trả mấy
lạng bạc. Về sau, mất chỗ dạy học,
bèn ở nhờ nhà họ Trương ở Đường
Tây, sao chép [sách vở để lấy tiền công sống
qua ngày]. Đứa tớ gái nhà ấy chờ đêm thâu t́m
đến rủ rê chim chuột. Ông nghiêm khắc cự tuyệt.
Đứa tớ gái bèn dan díu với một thầy giáo
khác cùng sống trong nhà ấy. Đến tiết Đoan Ngọ,
ông giáo ấy xin thôi dạy học v́ bị sanh ghẻ lở,
trị măi không lành. Ông được cử làm gia sư
để thay thế. Về sau, gặp người chú tại
cửa sông, người chú bảo: “Do con ta bị bệnh,
ta cầu đảo Thành Hoàng. Đên nằm mộng thấy
Thành Hoàng ngồi trên điện, gọi nha lại đem sổ
ghi tên kẻ đói rét ra sửa. Người hầu đọc
tên để thần xem xét. Đọc hơn mười mấy
tên, tới tên của cháu, ta ngầm hỏi nha lại: “Họ
Tôn do duyên cớ ǵ mà được sửa chữa?” Nha lại
đáp: “Người này năm bốn mươi sáu tuổi,
lẽ ra phải bị chết đói trong khi lưu lạc
bên ngoài. Do đêm Mười Tám tháng Tư năm nay, cự
tuyệt ả nọ dụ dỗ làm chuyện dâm bôn. V́ vậy
được tăng thêm tuổi thọ hai kỷ (hai mươi
bốn năm), sửa thành được ghi tên trong sổ
hưởng lộc. Ta rất mừng cho cháu vậy”. Về
sau, ông được người theo học càng đông. Mỗi
năm thu được hơn trăm lượng bạc.
Đến năm ông bốn mươi sáu tuổi, nhằm
đúng năm Vạn Lịch 36 (1608), giá gạo vọt lên
rất cao, người chết khá đông, nhưng ông vẫn
dư dả. Đến khi con ông đă trưởng thành,
nhà đă giàu to. Đến tuổi cổ hy (bảy
mươi), ông không bệnh tật mà mất.
* Văn Hy Công Đào Đại
Lâm lúc mười bảy tuổi, dung mạo đẹp
đẽ, đi thi Hương. Ở chỗ trọ, có cô
gái hàng xóm đến [dụ dỗ] ăn nằm; ba lần
t́m đến, ông đều ba lượt từ khước,
rồi t́m chỗ trọ khác. Chủ chỗ trọ ban đêm
nằm mộng thấy thần bảo: “Ngày mai có bậc tú
sĩ đến, chính là người sẽ đỗ đầu.
Do người ấy lập chí đoan chánh, có thể không
loạn dâm cùng đứa con gái dâm bôn, Thượng Đế
đặc biệt cho đỗ đầu”. Chủ chỗ
trọ kể chuyện nằm mộng với ông Đào,
ông Đào càng thêm gắng sức. Sau đó, ông Đào đỗ
Bảng Nhăn, làm quan tới chức Đại Tông Bá[35].
* Cha ông Thời Bang Mỹ là
nha tướng tại Trịnh Châu. Tuổi đă sáu
mươi mà không có con. Một lần, áp tải quân
lương tới Thành Đô, vợ bảo hăy mua thiếp
đem về. Ông t́m được một cô gái rất
đẹp, ngó thấy cô ta dùng vải trắng buộc tóc.
Hỏi han, cô ta khóc đáp: “Cha thiếp vốn là người
xứ Đô Hạ, làm lính hầu cho phó quan của châu này,
[bị chết], đưa quan tài đến đây th́ không
[đủ tiền để] trở về, [mẹ phải]
đem bán thiếp để lo tang ma”. Cha ông Bang Mỹ
thương xót, đem tiền giúp đỡ bà mẹ, trả
lại con gái. Lại c̣n lo liệu thỏa đáng cho họ
trở về. Khi trở về nhà, ông kể chuyện này với
vợ. Bà vợ bảo: “Giúp người ta trong cơn nguy
cấp, đức hạnh rất lớn; chuyện nạp
thiếp tôi sẽ lo liệu cho ông”. Không lâu sau, bà vợ
hoài thai. Một đêm, mộng thấy một người
sắc vàng tía ngồi đoan nghiêm giữa nhà. Sáng ra bèn sanh
Bang Mỹ. Bang Mỹ đỗ đầu kỳ thi Hội,
làm quan tới chức Lại Bộ Thượng Thư.
* Đời Minh, cha của
Triệu Bỉnh Trung, [Bỉnh Trung] là Trạng Nguyên năm
Mậu Tuất (1598) trong niên hiệu Vạn Lịch, làm ấp
duyện[36]. Có người do
thừa kế chức tước của cha mà làm Chỉ
Huy Sứ bị tù oan. Ông Triệu dốc sức giúp đỡ
mới được thả. Chỉ Huy Sứ cảm kích,
hổ thẹn v́ không thể đền ơn, bèn dâng con gái
làm hầu non cho ông. Ông Triệu xua tay bảo: “Đó là con
gái nhà đàng hoàng, không thể được”. Người
ấy cứ nài ép, lại xua tay: “Không được”. Rốt
cuộc chẳng thuận theo. Về sau, con ông (Triệu Bỉnh
Trung) ngồi xe công, trên đường có người bám vào
kiệu của ông nói: “Đây là vị Trạng Nguyên nhà ông
Không Được Phép”, nói mấy lượt như thế.
Khi thi đậu, Bỉnh Trung quay về, kể chuyện
cùng cha. Ông bố thở dài nói: “Đó là chuyện hai
mươi năm trước, ta chưa hề kể với
ai. Thế mà thần minh lại nói với con”.
* Ông Lữ Cung làm gia sư tại
nhà nọ, ban đêm thường đọc sách. Có góa phụ
trẻ tuổi ở gần nhà bỗng nương theo ánh
trăng t́m tới [gạ gẫm]. Ông nghiêm khắc cự
tuyệt. Hôm sau, cô ta lại sai thị tỳ cầm sang biếu
hai con cá bằng ngọc. Ông đập nát ngọc. Đứa
tớ gái hổ thẹn lui về. Về sau, ông làm tới
chức Cung Bảo, chưa hề kể với ai chuyện
này. Ngẫu nhiên, trong khi dạy học có nhắc tới, trọn
chẳng tiết lộ danh tánh của người ấy!
* Đời Tống, ông Hoàng
Tĩnh Quốc làm phán quan ở Nghi Châu. Một đêm, bị
dẫn vào cơi âm. Viên quan trong cơi âm hỏi: “Ở Nghi Châu có một
chuyện tốt đẹp, ông có biết hay không?” Sai nha lại
đem sổ cho xem. Th́ ra có thầy thuốc tên là Niếp
Tùng Chí, vào ngày tháng năm đó, đến chữa bệnh
tại một nhà nọ ở Hoa Đ́nh. Vợ người
bệnh ấy muốn dan díu với ông, Tùng Chí tận lực
cự tuyệt. Thượng Đế sắc truyền
Tùng Chí được tăng thọ hai kỷ, con cháu hai
đời đều đỗ đạt. Tĩnh Quốc
quay về, kể với Tùng Chí. Tùng Chí đáp: “Tôi chưa hề
kể chuyện này với vợ con, không ngờ đă
được ghi chép trong sổ sách cơi âm”. Về sau, quả
nhiên Tùng Chí sống thọ, con lẫn cháu đều đỗ
đạt.
* Đời Minh, Mao Lộc Môn
vào độ tuổi nhược quan (hai mươi tuổi)
sang Dư Diêu học, ở trọ nhà họ Tiền ngay
trước cửa miếu thờ Thành Hoàng. Có đứa
tớ gái xinh đẹp, hâm mộ phong thái của chàng Mao.
Một đêm, ṃ tới thư pḥng, [giả vờ] gọi
kiếm mèo. Lộc Môn bảo: “V́ sao cô một ḿnh tới đây
gọi kiếm mèo?” Đứa tớ gái cười
đáp: “Tôi chẳng phải là gọi tiểu miêu (mèo con),
mà là thích Đại Mao”. Lộc Môn nghiêm mặt, đáp: “Cha
sai ta đi xa cầu học. Nếu vô lễ xâm phạm cô,
ngày sau, làm sao nh́n cha được? Lại c̣n có mặt
mũi nào nh́n gặp chủ nhân của cô?” Đứa tớ
gái hổ thẹn lui ra. Về sau, Lộc Môn thi đỗ
vào khoa Mậu Tuất (1538) trong niên hiệu Gia Tĩnh, làm
quan tới chức Phó Sứ, thọ chín mươi tuổi.
* Viên nha lại họ Cố
ở Bắc Tân Quan, Hàng Châu, vâng lệnh quan sang Giang Nam lo
việc. Ban đêm, ông dừng thuyền bên bờ sông tại
Tô Châu, thấy một thiếu phụ toan trầm ḿnh, bèn
ngăn lại, hỏi han. Cô ta đáp: “Chồng thiếp do
thiếu quan lương[37]
mà bị bắt giam, tánh mạng sẽ mất trong sớm
tối, không nỡ ḷng thấy chồng chết trước,
cho nên tự tận”. Ông Cố mở túi tiền, biếu
cô năm mươi lạng bạc. Cô ta cảm tạ, rời
đi. Khi trở về, thuyền lại đi qua chỗ ấy,
ông đến quán rượu ngồi, khéo sao đối diện
cửa quán chính là nhà của thiếu phụ ấy. Vợ
kể chuyện ấy với chồng, mời ông về
nhà, bày rượu tiếp đăi. Chồng bảo vợ:
“Cái ân cứu mạng do nghèo nàn chẳng báo đáp được.
Nàng hăy ngủ với ông ta để
đền đáp”. Do vậy, họ giữ ông Cố ngủ
lại. Nửa đêm, người vợ đến chỗ
ông Cố ngủ [toan ân ái]. Ông Cố dứt khoát cự
tuyệt, khoác áo trốn về thuyền. Khi ấy, trong
thành Hàng Châu bị hỏa hoạn, cháy rụi mấy chục
nhà. Mọi người thấy trong ánh lửa có vị thần
mặc giáp vàng, tay vung vẩy lá cờ đỏ ṿng quanh một
ngôi nhà. Lửa cháy tới đó, bèn dồn ngược lại.
Khi lửa tắt nh́n xem th́ ra là nhà ông Cố, mọi người
đều cho là v́ âm đức mà ra!
* Đời Minh, Văn Nghị
Công La Luân đi thi Hội. Thuyền đi qua Tô Châu. Đêm
nằm mộng, [La Luân] thấy Phạm Văn Chánh Công (Phạm
Trọng Yêm) đến thăm, bảo: “Trạng Nguyên
năm sau thuộc về tay ngươi”. Ông Luân khiêm tốn
từ tạ, chẳng dám nhận. Ông Phạm bảo: “Chuyện
ở lầu nọ vào năm nọ, quả thật đă
gây tiếng vang rất lớn. Dùng chuyện này để
báo đền ngươi vậy!” Do đó, La Luân nhớ
năm xưa đă từng cự tuyệt kẻ nữ dâm
bôn ở lầu ấy. Giấc mộng đúng là chẳng
hư vọng, đến khi thi Đ́nh, quả nhiên đậu
hạng nhất.
* Đời Minh, Mạc Văn
Thông ở Vân Gian chuộng làm lành, sống cách quận thành
hai dặm. Nhà ông ta nhiều đời theo nghề nông. Một
hôm, cầm hai mươi lạng bạc vào hương trấn
mua thóc giống, đậu thuyền ở Hoàng Phố. Thấy
có hai người trói một cô gái, muốn d́m xuống bến
sông. Ông Mạc hỏi thăm, họ đáp: “Đây là con
gái của chủ nhân tôi. Chủ nhân tôi xét thấy cô này
tư t́nh với kẻ khác, nên sai đem d́m xuống ḍng
nước chảy xiết!” Ông Mạc nói: “Cô gái nhỏ này
th́ biết ǵ chớ? Lại chẳng chính mắt thấy
chuyện đó, không chừng là chuyện chẳng thật,
mong hăy thả đi, xin đền hai mươi lạng”.
Cô gái được cứu thoát, dập đầu trước
ông Mạc, xin theo hầu hạ chiếu chăn. Ông Mạc
bảo: “Há có phải v́ ta yêu mến dung mạo của cô!
Mà là đặc biệt thương xót cô trẻ tuổi bị
chết mờ ám đó thôi! Nay trời đă tối mịt,
mà thuyền ta nhỏ hẹp khó dung. Cô hăy mau lên bờ,
đi đến chỗ có ánh đèn là được rồi”.
Đêm ấy, trở về nhà, mộng thấy thần bảo:
“Ông cứu mạng người khác, âm đức sâu nặng.
Trời báo đáp cho ông có con cháu hiền ḥa”. Về sau, con
ông là Thắng do đậu khoa thi Minh Kinh[38],
được làm quan. Cháu là Hạo, đỗ thứ hai
trong kỳ thi Hương. Con Hạo tên là Ngu cũng đậu
Cử Nhân. Con của Ngu là Như Trung cũng đỗ thứ
hai trong kỳ thi Hương, đậu Tiến Sĩ vào
năm Mậu Tuất (1538) trong niên hiệu Gia Tĩnh, làm
quan tới chức Phương Bá[39].
Cô gái ấy bỏ trốn, được một văn
sĩ thâu nhận, sanh sáu đứa con trai, một đứa
trong số ấy bằng tuổi với Ngu. Hà Tam Úy viết
bộ Thiện Nhân Truyện đă chép chuyện này!
* Tường sanh họ Liễu
nhập học tại đất Hàng, do sang thăm người
thân, mắc mưa, t́m chỗ ngủ tạm tại một
vườn hoang. Trước đó, đă có một thiếu
phụ đụt mưa tại đấy. Liễu sinh suốt
đêm không có ư lạ ǵ khác, ngồi ngay ngắn dưới
mái thềm bên ngoài. Đến sáng bèn bỏ đi. Người
đàn bà ấy chính là vợ của tường sanh họ
Vương. Cô ta cảm phục đức hạnh của
Liễu sinh bèn kể chuyện với chồng. Ông chồng
đâm ra nghi ngờ. Về sau, Liễu sinh đi thi Hương,
bài văn của chàng đă bị loại. Trong khoảnh khắc,
bỗng lại thấy đặt trên bàn. Quan giám khảo
kinh dị, đọc kỹ bài văn ấy, chẳng thấy
có ư hay nào, lại loại bỏ. Về sau, sắp đem
các quyển bài thi đạt điểm tŕnh lên chủ khảo,
lại thấy quyển bài thi của Liễu sinh ở
trong số ấy. Do vậy nghĩ tên học tṛ này ắt
có âm đức, bèn cùng tŕnh lên. Rốt cuộc Liễu sinh đậu
hạng bảy mươi mốt. Khéo sao, [bài thi của] Vương
sinh được xếp cùng pḥng với Liễu sinh[40].
Khi tấn yết (thí sinh đến triều bái quan giám khảo
sau khi thi đậu), Vương sinh có mặt. Vị chủ
khảo của pḥng ấy kể rơ nguyên do chọn lựa
Liễu sinh; nhân đấy, cật vấn. Liễu sinh
nghĩ không c̣n chuyện nào khác, bèn thưa lại chuyện
đụt mưa. Vương sinh cảm thán, đón vợ
về sum họp, lại đem em gái gả cho Liễu sinh
tục huyền.
* Đời Minh, Cố Tá làm
châu lại[41] tại Thái
Thương, biết nỗi oan của người bán bánh
họ Giang bèn bẩm lên quan. Được thả ra, ông
Giang dẫn con gái tới nhà ông Tá, thưa: “Không có ǵ để
đền đáp, xin hăy nhận đứa con gái này làm thiếp”.
Ông Tá nhất quyết từ chối. Về sau, nhiệm kỳ
nha lại đă hết, ông Tá làm việc tại nha môn Thị
Lang. Một hôm, ông tới nhà riêng của quan Thị Lang. Phu
nhân của quan Thị Lang trông thấy ông Tá, bèn nói: “Ông chẳng
phải là Cố đề khống[42] ở
Thái Thương ư? Có biết tôi hay không?” Ông Tá ngạc nhiên.
Phu nhân nói: “Tôi là con gái người bán bánh. Về sau,
được bán cho một thương nhân. Thương
nhân nuôi tôi như con gái. Tôi được gả làm vợ
lẽ cho tướng công, sau đấy, trở thành chánh
thất (vợ cả). Thường hận không có cách nào
để báo đền ân đức. Tôi sẽ nói với
tướng công chuyện này”. Quan Thị Lang sau khi đă biết
rơ chuyện này, [tâu lên hoàng đế]. Vua Hiếu Tông [nhà
Minh] hết sức khen ngợi, thăng cấp cho Cố Tá
làm chức Lại Bộ Chủ Sự[43].
* Vào năm Kỷ Hợi (1659)
niên hiệu Thuận Trị nhà Thanh, Từ Lập Trai ở
Côn Sơn là người đỗ đầu khoa thi
Đ́nh. Vừa mới thi đỗ không lâu, có người
đến van vái tại miếu Thành Hoàng; do đó, bèn ngủ
lại miếu. Nửa đêm, thấy thần oai nghiêm
thăng ṭa, gọi người ấy bảo: “Ngươi
có biết duyên do khiến cho ông Từ đỗ Trạng
Nguyên hay không? Họ Từ nhiều
đời chẳng dâm, tích lũy đức hạnh đă
lâu, cảm động ḷng trời. Nay đỗ Trạng
Nguyên mới chỉ là khởi đầu [cho những
sự báo ứng tốt lành về sau]. Công danh tuy kín nhiệm,
quả báo sáng vằng vặc. Ta nói cho ngươi biết
tường tận, ḥng khiến cho những kẻ mê mờ
đối với chuyện đứng đầu trong muôn
điều ác (tức tà dâm) đều giác ngộ”. [Thành
Hoàng] nói xong, [thuộc hạ] thét dẹp đường, rời
đi. Người ấy kính cẩn ghi lại để
truyền bá rộng răi. Về sau, [em trai ông Từ] là Kiện
Am thi đậu trong khoa thi năm Canh Tuất, [người
em kế là] Ngạn Ḥa thi đỗ trong khoa thi năm Quư Sửu.
Ba anh em ruột đều đỗ Trạng Nguyên, con cháu
nối tiếp nhau đỗ đạt.
* Đời Minh, ở huyện
Tiền Đường, ông Lục Tả Thắc là người
hiếu thảo với cha mẹ, ḥa thuận với anh em,
học rộng, nghe nhiều, những hạnh tốt đẹp
không thể kể xiết, nhưng âm đức của ông
ta người khác càng khó biết tới. Ông đă từng trọ
tại một căn nhà riêng của người bạn. Tối
đến, có một phụ nữ xinh đẹp lén lút t́m
tới [giở tṛ quyến rũ]. Ông Thắc nghiêm khắc
cự tuyệt, chẳng chấp thuận. Cô ta xấu hổ,
lui ra. Hôm sau, ông bèn mượn cớ rời
đi, không ai biết chuyện. Đức hạnh, phẩm
đức của ông Thắc tuy chưa tỏ lộ rơ rệt,
nhưng con cháu ông ta đều do được tuyển
làm Hiếu Liêm hay đỗ các kỳ thi Minh Kinh mà vang
danh khắp làng nước. Chắt là Tông Giai đậu Giải
Nguyên trong khoa thi Hương, kế đó đỗ khoa thi
Hội[44]. Con cháu đều rạng
rỡ, thi đậu hạng cao, chưa hề gián đoạn.
Quan Thị Ngự Ngô Thanh Đàn ở Thạch Môn là học
tṛ của ông Thắc, từng nghe kể chuyện này bèn
chép lại. Hiện thời, [chuyện này] được
chép trong bộ Cảm Ứng Thiên Đồ Thuyết,
Vương Cú ở Kim Đàn đă soạn bài kư.
* Đời Minh, Mạo Khởi
Tông từ bé đă kiền thành tụng niệm Cảm Ứng
Thiên. Năm Mậu Ngọ đi thi Hương, hôn mê
như đang nằm mộng, cảm thấy thần giúp sức
viết xong văn sách, đỗ đạt trong kỳ thi
Hương, nhưng rớt kỳ thi Hội, phải quay về.
Ông phát nguyện viết chú giải thêm cho sách Cảm Ứng
Thiên. Do vậy, nghĩ tới chuyện hiếu sắc là
chuyện hết sức tổn đức. V́ thế, đối
với điều “kiến tha
mỹ sắc” (thấy sắc đẹp của kẻ
khác) đă chép đầy đủ các chuyện báo ứng.
Người giúp chép lại
là La Hiến Nhạc ở Nam Xương. Năm Tân Dậu,
ông La được chọn vào học trường huyện.
Đến tháng Giêng năm Mậu Th́n, ông La mộng thấy
ba vị tiên, một là cụ già đầu bạc áo vàng
[đứng giữa], hai thiếu niên mặc áo tía đứng
hầu hai bên. Ông cụ lấy ra một quyển sách, nh́n
thiếu niên bên trái, bảo: “Ngươi đọc đi”.
Người đứng bên trái đọc rơ ràng rất lâu,
ông La trộm nghe, th́ ra là toàn bộ lời chú giải của
ông Mạo đối với hai câu “kiến tha mỹ sắc…”. Đọc xong, ông cụ
bảo: “Đáng thi đậu!” Cụ xoay qua nh́n người
đứng bên phải, bảo: “Ngươi hăy làm một
bài thơ vịnh”. Người ấy liền vịnh rằng:
“Tham tương chiết quế
Quảng Hàn cung, tu tín tam thiên sắc thị không. Khán phá thế
gian mê nhăn tướng. Bảng hoa nhất đáo măn thành hồng”
(Cành quế cung trăng toan muốn bẻ, phải tin trần
thế, sắc là không. Nh́n thấu tướng mê trong thế
giới, bảng hoa nức tiếp khắp toàn thành). Ông La
tỉnh giấc, gởi thư cho Mạo Khởi Tông, thuật
cặn kẽ chuyện trong mộng, bảo: “Ngài sẽ thi
đậu, nhưng hai chữ Bảng Hoa khó hiểu”. Khi
niêm yết kết quả khoa thi, quả nhiên ông Mạo
đỗ cao. Về sau, ở thư pḥng của Trần
Tông Cửu, ông Mạo thấy trong sách Loại Thư có chú
giải về hai chữ Bảng Hoa như sau: “Vào thời Đường, khi bộ
Lễ yết bảng, sẽ gọi những họ hiếm
thấy là Bảng Hoa”. Họ Mạo (冒) [do hiếm
thấy] quả thật tương ứng [với chữ
Bảng Hoa].
Họa
dâm án (Những chuyện mắc họa v́ dâm)
* Lư Đăng đỗ Giải
Nguyên[45]
lúc mười tám tuổi. Về sau, đến tuổi năm
mươi, vẫn chẳng đỗ Tiến Sĩ. Đến
chỗ Diệp pháp sư để nhờ Sư hỏi
nguyên nhân. Sư thưa hỏi Văn Xương Đế
Quân. Đế Quân sai thư lại cầm sổ đến,
chỉ rơ: “Khi Lư Đăng sanh ra, được Thượng
Đế ban ấn ngọc, [định rằng] mười
tám tuổi đậu Giải Nguyên, mười chín tuổi
sẽ đỗ Trạng Nguyên. Hai mươi tuổi sẽ
làm Hữu Thừa Tướng. Chỉ v́ sau khi thi đỗ
[Giải Nguyên], ngấm ngầm ḍm ngó [cḥng ghẹo] gái hàng
xóm. Tuy [chuyện tà hạnh] không thành công, lại ngược
ngạo [kiếm cớ cáo giác], khiến cho cha cô ta bị
tù. Do chuyện này, công danh bị chậm trễ mười
năm, thứ hạng [từ Trạng Nguyên] bị giáng xuống
hàng Nhị Giáp. Kế đó, lại lấn chiếm nền
nhà của anh ḿnh, dẫn tới chuyện kiện cáo. [Công
danh] lại bị chậm trễ mười năm, thứ
bậc đỗ đạt giáng xuống Tam Giáp. Sau đó,
trong khách điếm tại Trường An, lại làm chuyện
dâm bôn với một người đàn bà nhà lành, [công danh]
lại bị chậm trễ mười năm. Nay lại
lén lút tằng tịu với con gái nhà hàng xóm, làm ác chẳng
hối cải, tài lộc hoàn toàn bị tước sạch,
sắp tới hạn kỳ chết rồi!” Sư trở
về thuật lại, ông Đăng xấu hổ, hối
hận mà chết.
Nhận định: Lư
Đăng đáng gọi là “kẻ tự chế tạo
gông cùm lặp đi lặp lại” vậy. Nếu sớm
sanh ḷng hối hận, tu đức để chuộc oan
khiên, ắt sẽ đậu Trạng Nguyên, làm Tể
Tướng, có thể trả lại ngọc bích cho nước
Triệu[46]. Nếu chẳng vậy,
lỡ làm quấy một lần, về sau chẳng tái phạm
nữa, ắt đối với chuyện đỗ đạt
hiển vinh, hăy c̣n được hưởng một nửa.
[Trạng Nguyên, Tể Tướng] là do trời đất
vun bồi, do tổ tông tích lũy [âm đức], nay v́ một
ḿnh ông ta [làm quấy mà bị] tước sạch! Phụ
bạc [ân đức của trời đất, tổ
tiên] quá đỗi!
Lại nữa, thú vui dâm tà so
với khoa bảng chẳng bằng một phần vạn;
thế mà đem đổi sự phú quư suốt cả một
đời bằng niềm vui sướng trong chốc lát,
há cũng chẳng phải là quá sức ngu muội ư! Ôi!
Người đỗ Trạng Nguyên sẽ làm Tể Tướng,
trong mấy trăm năm chỉ thấy một, hai người!
Do tạo chuyện oan nghiệt ấy, mất sạch chẳng
c̣n sót ǵ! Huống hồ vận mạng của người
khác chẳng bằng một phần vạn Lư Đăng mà
cùng tạo nghiệp giống như ông ta, tôi sợ rằng
vị thần chưởng quản tài lộc chưa chắc
đă chỉ phạt thứ bậc đỗ đạt
thấp hơn, lại c̣n kéo dài thời hạn để
mong ông ta sửa đổi! Nguy hiểm lắm thay! Những
kẻ tài cao học rộng trong hiện thời, đến
tận tuổi già vẫn nghèo túng, khốn đốn, hăy
nên tự xét những chuyện đă làm để xem có phải
là đă phạm vào loại tội nghiệt này hay chăng?
* Từ sinh là con cháu nhà quan,
tuổi trẻ đă nổi tiếng có tài, do lén lút ngấp
nghé sắc đẹp của gái hàng xóm, bèn dụ vợ mua
chuộc để chèo kéo cô ta đến nhà thêu thùa, khiến
cho cô ta thường qua lại. Một hôm, sau khi Từ sinh
đă nấp dưới gầm giường, vợ giả
vờ ra ngoài trông coi bếp núc. Từ sinh cưỡng gian
cô ta. Chuyện lộ ra. Cha mẹ cô gái ấy ép cô ta tự
tử. Sau đấy, mỗi lần Từ sinh vào trường
thi, đều thấy cô gái ấy mặc quần áo dính máu
đi đến, chẳng hề thi đậu. Về sau,
bị loạn quân giết chết!
* Trương Minh Tam theo cha
đến chỗ trấn nhậm ở vùng Quỳnh Nhai[47],
thông gian với hai cô con gái viên quan Chỉ Huy Sứ gần
đó, lén mang hai cô gái vượt biển. Cha họ gấp
rút đuổi theo, Minh Tam hết cách, đẩy hai cô xuống
nước cho chết đuối. Mười năm sau,
Minh Tam bị đau thắt lưng, đón thầy thuốc
họ Tôn đến chữa trị. Bệnh hơi bớt,
tối hôm ấy, ông Tôn mộng thấy hai cô gái lôi ông ta xuống
nước, bảo: “Thiếp vốn là người Quỳnh
Nhai, đến đ̣i mạng họ Trương, cớ
sao ông ngăn trở chúng tôi báo thù?” Ông Tôn kinh hăi, tỉnh giấc,
kể lại với Minh Tam. Minh Tam đấm ngực than
thở: “Oan nghiệt đă tới rồi! Ta nguy mất rồi!”
Một tháng sau bèn chết!
* Lưu Nghiêu Cử ở huyện
Long Thư thuê một chiếc thuyền chở ḿnh đi
thi. Chủ thuyền có một cô con gái, họ Lưu mấy
lượt ve văn, nhưng không có dịp nào ra tay. Tới ṿng
thi thứ hai, họ Lưu ra khỏi trường thi rất
sớm, nhằm đúng lúc chủ thuyền vào chợ mua
bán, bèn thông dâm với cô gái ấy. Đêm hôm ấy, cha mẹ
của ông Lưu mộng thấy thần bảo: “Cậu
nhà lẽ ra đỗ đầu, nhưng v́ làm chuyện bất
nghĩa, bảng trời đă xóa tên rồi!” Đến
khi yết bảng, mới biết quan chủ khảo vốn
đă tính lấy họ Lưu đỗ đầu,
nhưng do thấy [bài văn có chỗ] phạm trường
quy bèn loại bỏ. Họ Lưu hết sức hối hận;
sau đấy, suốt đời chẳng đỗ đạt
ǵ!
* Ở huyện Thường
Thục có một tay viên ngoại lang họ Tiền, cậy
vào tiền tài, thế lực, ức hiếp kẻ khác.
Trong làng, có một phụ nữ xinh đẹp, nhà nghèo, họ
Tiền bèn cho chồng cô ta mượn tiền để
buôn vải ở Lâm Thanh ḥng nhờ dịp đó, tư
thông với người vợ. Một hôm, chồng cô ta ra
khỏi cửa, do thủy triều cạn, không thể đi
được, lại quay về, thấy họ Tiền
đang ôm vợ ḿnh, chè chén khoái trá. Chồng vừa thẹn
vừa giận, quay về thuyền. Họ Tiền ngầm
mưu tính với vợ anh ta, đến đêm sai người
giả làm cướp giết chết. Họ hàng biết
chuyện, thưa lên quan. Đă nhận tội rồi, họ
Tiền lại rải tiền bạc để chạy chọt,
thoát khỏi xử phạt. Vừa ra tới cửa thành, bỗng
dưng giông tố ùa tới, hai kẻ đó đều bị
sét đánh chết tươi!
Nhận
định: Đă dâm vợ lại c̣n giết
chồng, thiên
lư khó dung, oan hồn chẳng nguôi cừu hận được!
V́ thế, tuy con người mưu mô xảo quyệt, trời
lẫn thần đều báo ứng. Thử xem hạng người
như vậy mà được b́nh yên không bị báo ứng,
trăm kẻ chẳng được một, cũng chẳng
khác ǵ vung đao tự giết ḿnh vậy!
* Đời Minh, Lục Trọng
Tích sanh ra đă có tài lạ. Khi mười bảy tuổi,
theo thầy là ông Khâu lên sống ở kinh đô. Nhà đối
diện có một cô gái rất đẹp. Hai người lén
ngấp nghé nhau, đều động tâm. Thầy xui: “Thành
Hoàng ở kinh đô thiêng nhất, ngươi hăy thử cầu
khẩn, may ra được thỏa nguyện”, bèn đến
cầu khấn. Đêm ấy, chàng Lục mộng thấy
ḿnh và thầy đều bị Thành Hoàng truy bắt, quở
trách nặng nề. [Thành Hoàng] sai thuộc hạ tra xét tài lộc,
địa vị. Kiểm sổ sách, thấy dưới tên
họ Lục có ghi chú: “Đỗ Trạng Nguyên năm Giáp
Tuất”, c̣n dưới tên họ Khâu chẳng có ǵ hết.
Thần bảo: “Ta sẽ tấu sớ lên Thượng
Đế, gạt bỏ tên ngươi khỏi sổ, rút
ruột họ Khâu”. Vừa mới tỉnh mộng, thằng
hầu trong quán trọ gơ cửa, báo tin: “Khâu tiên sinh bị
nghẽn ruột, sa đ́ chết mất rồi”. Sau này, Trọng
Tích nghèo hèn suốt đời!
* Đời Thanh, huyện lệnh
huyện Túc Tùng là Châu Duy Cao, làm giám khảo trường thi
khoa Kỷ Dậu ở Giang Nam, chấm đậu một
quyển bài thi. Đến đêm, nằm mộng, thấy
có người nói: “Người này ẩn giấu điều
ác, chẳng thể cho đậu được!” Dùng tay viết
một chữ Dâm cho ông Châu thấy. Hỏi tường tận
nguyên cớ, người ấy không đáp. Hôm sau, ông Châu quên
bẵng giấc mộng trên đây, đem quyển văn ấy
tŕnh lên. Quan chủ khảo hết sức tán thưởng ư
tứ mới lạ. [Quan chủ khảo] bỗng lấy bút
xóa đi hai chữ “hiểm trở”
trong bài văn. Ông Châu bẩm: “Trong quyển bài thi, những
chữ giống như vậy không ít, có lẽ chẳng nên
xóa đi”. Quan chủ khảo cũng hối tiếc, bảo
ông Châu tẩy nét đă gạch xóa. Đến khi xóa vết
gạch bỏ, dấu mực đă thấm xuống mấy
tầng giấy. Ông bỗng nhớ lại giấc mộng
trước đó, bèn loại bỏ bài văn đó. Nhưng
rốt cuộc ông Châu vẫn yêu mến bài văn ấy, đặc
biệt giữ lại bài viết ấy, nhưng không biết
tên họ [người viết bài ấy]. Viên giám khảo
thuộc pḥng ông Châu[48] là
Ngô Lư Thanh đă kể chuyện này.
* Trương Bảo làm tri
phủ ở Thành Đô, thấy vợ của Lư Úy ở
Hoa Dương xinh đẹp, muốn tư thông. Khéo sao, Lư
Úy do tham ô bị bại lộ; ông Bảo thừa cơ đàn
hặc, khiến cho ông Lư bị đày xuống Lănh Nam. Ông
ta chết trên đường đi. Ông Bảo mua chuộc
mẹ Lư Úy để xin cưới, hết sức vui thú.
Bỗng dưng vợ bị bệnh, thấy Lư Úy đứng
bên cạnh, bèn chết. Ông Bảo cũng nhiễm bệnh,
mộng thấy vợ nói: “Lư Úy đă thưa lên Thượng
Đế, sẽ bắt ông trong sớm tối, hăy nên ẩn
nấp cho kín”. Trương Bảo tỉnh giấc, ghi nhớ
trong ḷng. Một tối đang ngồi, thấy trước
dinh có người mặc áo, có tay áo màu hồng vẫy gọi.
Ông ta nghĩ là vợ của Lư Úy bèn vội vàng chạy tới,
th́ ra Lư Úy. Lư Úy ôm chặt Trương Bảo đấm đá,
[Trương Bảo] miệng mũi đều xuất huyết
mà chết.
* Đời Thanh, tường
sanh họ Uông ở Phượng Dương, trong nhà có một
cái ao nhỏ trồng sen, c̣n chưa trổ hoa. Năm Kỷ
Dậu (1669) thời Khang Hy, khi sắp đi thi, bỗng thấy
trong ao nở một cặp hoa sen chung cuống. Cha mẹ hết
sức vui mừng. Ban đêm, chàng Uông dùng rượu quyến
rũ, nài ép đứa tớ gái, vợ chẳng ngăn cản,
bèn tư thông với nó. Sáng dậy, nh́n hoa đă thấy găy
nát. Cha mẹ hết sức tiếc hận. Uông sinh mộng
thấy yết kiến Văn Xương [Đế Quân],
thấy tên ḿnh được ghi trên bảng trời, bỗng
bị Đế Quân gạch bỏ. Ứa nước mắt
lạy lục, van nài, ba lượt bị gạt xuống.
Trong tâm biết là chuyện chẳng lành, [nhưng kỳ thi
đă tới bèn] gấp rút lên đường. Khi ấy,
quan giám khảo Giản Văn Tông chấm bài rất công bằng.
Theo hạn ngạch từ trước, phủ Phượng
Dương được chọn đậu ba người,
tham dự kỳ thi lần này chỉ có ba người, riêng
ḿnh chàng Uông thi rớt! Thi cả ba lần đều trượt,
ứa nước mắt trở về.
* Đời Minh, tường
sanh họ Vương ở ấp Ngọc Sơn lấy vợ
ngay trong lúc c̣n làm đám tang cho mẹ. Ước định
hết kỳ cúng thất sẽ làm lễ động pḥng.
Chàng Vương ngủ bên linh cữu, c̣n vợ ngủ
trong pḥng. Ban đêm, nghe tiếng gơ cửa, đứa tớ
gái thưa “chàng rể đă tới”, vợ rước vào,
cùng ngủ với nhau. Nghe trống điểm canh năm,
[người ấy] bèn rời đi, bảo: “Sợ người
ngoài biết, trách tội ta bất hiếu”. Được
mấy hôm, [người ấy] lại hỏi đến của
hồi môn. Vợ đáp: “Ngoài quần áo sắp sẵn mang
theo, c̣n có tám mươi lạng bạc, cùng với trâm vàng,
bông tai đều đặt trong chiếc rương nhỏ”.
Trống canh năm vừa điểm, người ấy
bèn ôm đi, không giao trả lại. Đợi đến lúc
hết thất, chàng Vương bày tiệc rượu làm
lễ thành hôn, nói chuyện với nhau, vợ mới biết
đă bị kẻ giặc lừa gạt, giậm chân, đau
đớn khóc rống, thề chẳng muốn sống nữa.
Trở về thưa chuyện cùng cha mẹ rồi treo cổ
chết. Tới khi an táng, chàng Vương đưa quan tài
tới mộ, bỗng sấm chớp giao nhau giáng xuống,
chụp lấy một người đưa tới quỳ
trước quan tài, th́ ra là anh họ của chàng Vương,
hai tay ôm ṿng vàng và bạc trắng, vẫn quỳ tuy đă
bị sét đánh chết, thi thể tả tơi. Cả ấp
kinh hăi. Đấy là chuyện xảy ra vào năm Chánh Đức
thứ chín (1514)[49].
* Trong niên hiệu Thuận Trị
đời Thanh, có người họ Tiền ở huyện
Gia Hưng, khi chưa đi thi, ngồi dạy học tại
nhà của một người nọ là dân trong làng. [Người
ấy] có cô con gái mười bảy tuổi. Nhằm lễ
Thanh Minh, cả nhà đều đi tảo mộ, cúng bái,
chỉ để cô ta ở lại trông nhà. Họ Tiền
bèn lén lút tằng tịu với cô ta. Về sau, bụng cô
to dần. Cha mẹ cật vấn, cô ta bèn thú thật. Cha mẹ
cô thấy họ Tiền c̣n chưa cưới, muốn gả
tống gả tháo cô gái ấy đi để bưng bít
chuyện xấu ấy; do vậy, t́m đến họ Tiền
để bàn bạc cặn kẽ. Họ Tiền cố ư
ra vẻ giận dữ, bảo: “Con gái mấy người
không ra ǵ, muốn làm nhục kẻ khác hả?” Cha mẹ cô
ta căm phẫn, quay lại chửi bới cô. Cô gái ấy
bèn treo cổ tự tử. Về sau, họ Tiền thường
mộng thấy cô ta ôm con đứng trước mặt.
Sau khi thi đậu, làm quan coi án ở Giang Ninh. Khi đó, do
vùng Trấn Giang biến loạn, [quan trên] giao những kẻ
theo giặc làm loạn cho họ Tiền thẩm tra. [Về
sau], triều đ́nh do xét thấy họ Tiền ăn hối
lộ [tha bổng cho những kẻ phản loạn đó],
phán họ Tiền chịu án treo cổ. Ngay trong ngày [triều
đ́nh] xuống lệnh thi hành án, họ Tiền lại mộng
thấy cô gái ấy dùng mảnh khăn hồng buộc cổ
anh ta. Ngày hôm sau, họ Tiền liền bị tử h́nh.
* Thư sinh nọ ở Sơn
Đông, đêm trước ngày vào trường thi, đứa
đầy tớ bỗng chết, bèn tạm để xác
nó trong một căn pḥng. Đến khi anh ta ra khỏi
trường thi, đứa đầy tớ đă tỉnh
lại, kể: “Hôm qua, tôi theo chủ nhân vào trường
thi, nghe nói gia chủ đă được ghi tên đỗ
hạng mấy. Lại thấy [trước lều thi của]
những người thi đỗ đều có cờ hồng,
gia chủ cũng có”. Thư sinh hết sức mừng rỡ.
Đứa đầy tớ xin gia chủ sau khi thi đỗ,
sẽ cưới vợ cho nó. Thư sinh nói: “Tao sẽ
cưới cho mày đứa con gái ở nhà đối diện,
có được hay không?” Đứa đầy tớ khiêm
nhượng, thưa: “Không dám”. Thư sinh nói: “Sau khi tao đă
đậu, c̣n sợ ǵ họ chẳng dâng lên chứ?” Trong
ṿng thi thứ nhất, đứa đầy tớ lại
chết, khi sống lại, sắc mặt lộ vẻ giận,
nói: “Chủ nhân không đậu nổi đâu!” Thư sinh
kinh hăi, hỏi nguyên cớ. Đầy tớ thưa: “Tôi thấy
quan phủ điểm danh tới tên chủ nhân, bỗng nói:
‘Gă ấy chưa đậu mà đă ngấp nghé tạo ác!’
Sai người sửa lại, thay tên họ Triệu vào!
Trước tên của chủ nhân đă không thấy có cờ
hồng nữa”. Thư sinh nửa tin, nửa ngờ. Khi yết
bảng, quả nhiên họ Triệu đỗ hạng thứ
mấy [đúng như lời đứa đầy tớ đă
nói]. [Về sau, hỏi ra mới biết] khi các vị giám
khảo thâu nhận quyển văn tŕnh lên chủ khảo,
bảy bài văn sách của chàng thư sinh ấy đều
trọn vẹn. Nào ngờ khi chấm bài, các quyển văn
của chàng ta trong ṿng thi thứ ba đều bị tàn lửa
đèn đốt mất nửa trang, không thể tŕnh lên chánh
chủ khảo được. Do vậy, bèn lấy những
quyển lạc đề của chàng bù vào. Chàng thư sinh
ấy buồn rầu, hối hận chẳng thôi! Chuyện
này do chính tiên sinh Tống Lệ Thường ở Lai Dương
kể lại, do ông ta cùng làng với chàng thư sinh ấy,
nên không nói rơ tên.
* Đời Minh, có tiệm
nhuộm ở huyện Nghi Hưng, [chủ nhân là] một
góa phụ xinh đẹp tột bậc. Gă lái buôn gỗ
trông thấy bèn yêu mến, dụ dỗ đủ kiểu,
rốt cuộc vẫn không thể chinh phục được.
V́ thế, lập mưu ban đêm quăng mấy cây gỗ
vào nhà bà ta. Hôm sau, thưa bà ta can tội trộm cắp. Lại
hối lộ quan lại trên dưới, khiến cho bà ta hết
sức khốn quẫn, nhục nhă, mong bà ta sẽ phải
theo ḿnh. Trong nhà, bà ta thành kính thờ Triệu Huyền
Đàn[50], bèn khóc lóc bẩm
cáo. Đến đêm, mộng thấy thần dạy:
“Đă sai hắc hổ rồi!” Không đầy mấy
ngày, gă thương gia vào núi mua gỗ, từ trong rừng
cây, một con cọp đen xông ra, cắn đứt đầu
đem đi!
* Đời Thanh, tường
sanh họ Chi ở Gia Thiện, đi thi Hương vào mùa
Thu năm Kỷ Dậu (1669) triều Khang Hy trở về,
nói với người bạn họ Cố: “Tôi thần hồn
hoảng hốt, dường như bị quỷ quấy
nhiễu, muốn cậy vị Tăng nọ để sám
hối oan nghiệt xưa kia”. Ông Cố nói “rất nên”, mời
vị Tăng cùng đến thăm ông Chi. Ông Chi chợt phát
cuồng, nói: “Ta ngậm oan ba đời, nay mới hại
được ngươi!” Vị tăng hỏi: “Có thù hận
ǵ?” Trả lời: “Đời trước ta là thuộc
tướng của nó, nó là chủ tướng. Nó thuộc
họ Diêu là họ có công lao hiển hách trong triều. Nó thấy
vợ ta trẻ tuổi, xinh đẹp, sai ta đem quân xuất
chinh, bị vây hăm trong tử địa để mưu
chiếm đoạt vợ ta. Vợ tự vẫn. Một
nhà cốt nhục chia ĺa. Sau đó, nó chết v́ chuyện
trung nghĩa, ta chưa thể báo thù được. Đời
sau đó, nó là bậc cao tăng, lại chẳng báo thù
được. Đời thứ ba nó làm Tể Tướng,
tận hết trách nhiệm, thần phước lộc bảo
vệ nó, ta vẫn không trả thù được! Đời
này, lẽ ra nó đỗ đạt. [Đời này] ta đă
đợi suốt ba mươi năm, do gần đây nó
phạm dâm nghiệp, bị xóa tên trong sổ Văn
Xương, nên ta mới ra tay được”. Khi nói, căm
hận, giận dữ không thôi. Ông Cố bảo: “Oán hăy nên
cởi, chớ nên buộc”. Oan hồn đáp: “Nỗi hận
của ta khó thể giải trừ được! Chẳng
thể dung tha nó”. Rốt cuộc, ông Chi điên cuồng mà
chết.
* Thư sinh nọ ở Quư
Châu đi thi nhiều lần chẳng đậu, cầu khẩn
Trương chân nhân dâng sớ xin xem thiên bảng. Thần
phê rằng: “Mạng người này đáng lẽ đỗ
đạt, do lén lút với người thím nên bị gạt
bỏ”. [Trương chân nhân] xuất định nói với
thư sinh ấy. Thư sinh bảo không có chuyện đó,
bèn dâng điệp biện bạch. Thần lại phê rằng:
“Tuy chẳng có chuyện ấy, nhưng thật sự có cái
tâm ấy”. Thư sinh hối hận chẳng kịp, ấy
là v́ thuở trẻ, thấy bà thím xinh đẹp, ngẫu
nhiên dấy động một niệm mà ra!
* Nghiêm Vũ thuở trẻ
có hàng xóm là một vị tướng lănh trong quân đội.
Họ Nghiêm lén thấy con gái ông ta xinh đẹp, bèn dùng trăm
kế dụ dỗ theo ḿnh bỏ trốn. Vị tướng
quân vào cung tâu lên vua. Vua hạ chiếu truy bắt họ. Nghiêm Vũ sợ tội, thắt
cổ cho nàng ta chết để hủy diệt tung tích.
Đến khi mắc bệnh ở đất Thục (Tứ
Xuyên), thấy cô ta đến đ̣i mạng, bảo: “Thiếp
tuy mất nết, chẳng hề phụ chàng. Thế mà bị
chàng giết chết, đúng là kẻ tàn nhẫn. Thiếp đă
tố cáo lên Thượng Đế, kỳ hạn là ngày
mai!” Quả nhiên, rạng đông hôm sau, họ Nghiêm chết
ngắc!
* Ở đất Giang Ninh có
một sai dịch họ Lưu. Có một phạm nhân mắc
tội ngồi tù, cần phải dùng hơn mười lạng
bạc để chuộc tội th́ mới được
thả về. Phạm nhân cậy họ Lưu đến
nhà ḿnh bảo vợ bán con gái để chuộc tội. Họ
Lưu liền đến bàn bạc với vợ người
ấy. Do bà vợ khá xinh đẹp, họ Lưu muốn
gian dâm. Bà vợ v́ thấy tánh mạng của chồng cần
phải nhờ cậy gă này che chở, nên miễn cưỡng
thuận theo. Sau đó, bán con gái được hai mươi
lạng bạc, giao hết cho họ Lưu làm chi phí chuộc
tội. Họ Lưu cầm tiền tự xài, chẳng
giao nạp. Người vợ cứ nghĩ bạc đă
nộp cho quan, chắc không lâu chồng sẽ trở về.
Đợi mấy hôm, chẳng có tin tức ǵ, bèn cậy một
người trong họ ḍ hỏi, nhân đó, [người ấy]
kể rơ nguyên do với phạm nhân. Phạm nhân biết
chuyện, gào khóc rồi chết. Mười ngày sau, sai dịch
họ Lưu hết rét lại sốt, tự nói: “Người
đó đă kiện ta lên thần Đông Nhạc, tức khắc
phải bị thẩm tra”. Sau đấy, nằm gục xuống
chiếu, rên siết ai oán, tự nói: “Đáng chết!” Rồi
lại nói: “Do ta quen nói dối, phải dùng móc sắt kéo
lưỡi”. Trong khoảnh khắc, lưỡi thè ra mấy
tấc, tự cắn cho tan nát, huyết nhục đầm
đ́a mà chết.
* Họ Dương ở Túc
Tùng là người có tiếng tăm trong trường, thờ
phụng Quan Đế hết sức thành kính. Ban đêm, mộng
thấy Quan Đế ban cho cái ấn vuông, bèn nghĩ ắt
sẽ thi đỗ. Sau đó, ở dưới lầu,
gian dâm con gái nhà lành. Vào trường thi xong, trở về
nhà, lại mộng thấy Quan Đế đ̣i lại ấn.
Họ Dương nói: “Ấn đă cho tôi rồi, sao lại
đ̣i lấy?” Quan Đế nói: “Không chỉ là đ̣i ấn,
mà c̣n đ̣i mạng mày nữa! Chuyện dưới lầu
đó, vào tháng đó, mày an ḷng chưa?” Chưa đầy một
tháng, cha con bọn họ đều chết ráo!
* Trong niên hiệu Chánh Đức
đời Minh, Phù tú tài ở Tứ Minh sau khi đă chết,
báo mộng cho con: “Khi c̣n sống, ta đă phạm luật cấm
về gian dâm. Ngày mai sẽ đầu thai làm con chó trong nhà
Tạ ngũ lang ở phía Nam thành, hăy mau gấp làm chuyện
lành, sám hối cho ta”. Nói xong, một con quỷ buộc cổ
lôi đi. Một quỷ tốt khác lấy tấm da trắng
phủ lên đầu ông ta. Ông ta khóc lóc bi thương, tập
tễnh ra đi. Đứa con kinh hăi tỉnh mộng. Ngày
hôm sau, nhà họ Tạ quả nhiên có một con chó được
sanh ra, toàn thân trắng muốt. Đứa con xin đổi
lấy đem về nhà, v́ cha rộng làm các việc lành. Năm
sáu năm sau, chó bỏ ăn mà chết. Hơn tháng sau,
đứa a hoàn bé trong nhà, bỗng ngồi giữa nhà, nói
to, giống như dáng vẻ của Phù tú tài, gọi người
nhà đến bảo: “Ta thật sự chưa từng phạm
dâm. Do lúc mười tám tuổi, đi qua pḥng chị dâu. Chị
dâu vừa mới rửa sạch trang điểm, làm rớt
cái nhẫn xuống đất, sai ta nhặt lên. Do vậy,
ta hứng t́nh. Về sau, [chị dâu] lại thường cùng
ta cười nói, suưt nữa phá sạch lễ nghĩa! Rốt
cuộc chị dâu bị bệnh chết, ta cảm thấy
tinh thần rối loạn. Năm sau cũng chết. Sau
khi chết, có quỷ trói dẫn đến dưới sân
một ṭa quan phủ, hai tay chống xuống đất, đă
thành h́nh dạng chó. Nay nhờ ngươi làm việc thiện
có công, đă sám trừ sạch nỗi oan nghiệt trước
kia, sẽ sanh làm con thứ năm trong nhà thầy lang họ
Triệu ở Sơn Đông. Ta trở về nhà từ biệt”.
Nói xong, đứa tiểu a hoàn ngă lăn ra đất, tỉnh
lại.
* Họ Lữ ở Vân Gian là
con nhà thế gia, mặc sức dâm dục. Tớ gái, gia nhân
đều bị ông ta thường ô nhục đến nỗi
ngă bệnh. Về sau, con cái trai gái đều chết sạch.
V́ chuyện trong giới quan trường mà bị tan nhà nát
cửa, nhiều lần bị hạ ngục, tra tấn.
Tuổi trung niên chịu đủ mọi nỗi khốn
khổ tột bậc, lạnh không có áo, đói chẳng có ăn,
nhà không có được cái nóc rách, bệnh tật không có
người chăm sóc. Đến lúc chết, quan tài lẫn
vải liệm đều không có, gịi bọ khắp thân, người
trông thấy không ai chẳng kinh sợ!
* Đời Thanh, trong khoa thi
năm Quư Dậu (1693) triều Khang Hy, một lẫm sanh ở
Tùng Giang vào trường thi thứ nhất, vừa nhận
quyển thi[51], bỗng thấy một
con quỷ theo vào trường thi, khóc lóc ầm ĩ suốt
đêm, cả trường thi đều bất an. Đến
chiều hôm sau, [lẫm sanh ấy] vừa viết xong bản
nháp bài văn sách cho ṿng thi thứ ba, quỷ xông vào nắm
cổ [anh ta]. V́ thế, kêu gào những các thí sinh ở các lều
gần đó cứu mạng. [Anh ta] khóc lóc, nói: “Năm nọ
tôi đến đất Sở (Hồ Nam), do ưa thích một
người con gái, vờ hứa hẹn sẽ lấy cô ta
làm vợ. Cô ta vui thích bèn tư thông, lại c̣n tặng tiền
bạc cho tôi. Dẫn về nhà, vợ tôi chẳng dung, bị
chết. Nay cô ta đă tới, tôi không thể sống nổi
nữa”. Các thí sinh ở lều bên cạnh mềm mỏng
an ủi. Một lúc sau, nghe lẫm sanh ở trong lều van
lơn xin tha mạng. Lâu sau, tiếng kêu im bặt. Họ
bèn gọi người trông nom lều thi đốt đuốc,
thấy lẫm sanh ấy dùng sợi tơ đỏ [buộc
ở đuôi bút] để treo bút[52],
tự buộc vào cổ ḿnh, đă nghẹt thở mà chết.
Nhận
định: Sách Nam Lăng Đơn Quế
Tịch ghi: “Do tư thông với
một người nữ, ắt sẽ đến nỗi
vào trường thi mà chết. Lại
c̣n ắt khiến gă ấy tự nói nguyên cớ gây ra cái chết.
Lại c̣n ắt khiến cho sĩ tử cả trường
đều biết nguyên do bị chết. Trời cao hiển
thị sự báo ứng do dâm, răn nhắc tột bậc
sâu xa, sát sao vậy”.
* Vào đời Minh, tại Kinh
Khê có hai người chơi với nhau khá thân. Một người
giàu có, người kia nghèo túng. Do vợ người nghèo
xinh đẹp, gă giàu liền lập mưu, bảo bạn:
“Có một nhà giàu nọ, anh có thể đến đó làm
thuê”. [Anh nghèo nghe lời, cùng bạn] chuẩn bị thuyền
để chở theo vợ cùng đi. Đến Chỉ sơn[53],
[gă giàu] bảo: “Để vợ anh ở lại trông thuyền,
tôi với anh đi trước hỏi thăm”. Dẫn bạn
vào rừng, rút ŕu giắt sẵn sau lưng chém chết. Hắn
giả vờ khóc lóc, xuống núi, bảo vợ bạn: “Chồng
chị bị cọp vồ chết rồi”. Người vợ
khóc ầm lên, theo hắn lên núi t́m xác chồng. Hắn dẫn
vào chỗ núi sâu, ôm chặt lấy cô ta, đ̣i thỏa dâm.
Người vợ không chịu. Chợt có cọp xông ra, cắn
gă giàu lôi đi. Người vợ kinh hăi bỏ chạy,
cho là chồng đă gởi thây trong miệng cọp rồi,
buồn, hận khôn khuây! Bỗng thấy một người
từ xa khóc lóc đi tới, [hóa ra] người vừa tới
ấy chính là chồng ḿnh! Đôi bên kể lể sự t́nh,
chuyển buồn thành vui, quay về.
* Ở Dư Hàng có người
họ Trương sang Kim Lăng buôn bán, ở trong quán trọ.
Có người đàn bà nói ḿnh sống gần đó, tằng
tịu với họ Trương. Lâu sau, họ Trương
nhận thấy láng giềng sống quanh đó không có người
đàn bà ấy. Do nghi ngờ bèn cật vấn, người
đàn bà đáp: “Thật ra tôi có chuyện cần nhờ vả,
tôi chẳng phải là người. Có một người tên
là Dương Xu chẳng phải là người cùng làng với
ông hay sao?” “Đúng vậy!” Người đàn bà giậm chân,
nghiến răng nói: “Thằng đó bội bạc lắm!
Thiếp chính là kỹ nữ, thuở trẻ dan díu với thằng
Dương. Nó hết sức chiều chuộng thiếp,
không ǵ chẳng chăm sóc hết mực,
ước hẹn, thề nguyền sẽ đón thiếp
về nhà, sống chết cùng nhau. Thiếp trút hết của
cải dành dụm đưa cho nó, bền ḷng giữ
ḿnh theo lời hẹn. Đă lâu mà chẳng có tăm hơi
ǵ, nghe nói nó đă lấy người khác rồi! V́ thế,
nuốt hận mà chết. Quán trọ này chính là chỗ ở
cũ của thiếp. Muốn đi theo thuyền của ông
để xem vợ mới của thằng Dương như
thế nào?’ Ông Trương đồng ư. Đă đến
nơi, bà ta từ biệt ông Trương, t́m tới nhà họ
Dương. Do mừng sinh nhật, họ Dương tấu
nhạc, mở tiệc đăi đằng khách khứa, bỗng
chết đột ngột. Bà vợ do hắn cưới
cũng mắc bệnh nguy kịch gần chết. Ông Trương
nghe chuyện, hết sức kinh hăi!
* Trương An Quốc có tài
văn chương, nhưng hạnh kiểm tệ hại.
Gian dâm một cô gái hàng xóm, khiến cho cô ấy chết
ngang trái. Về sau, hắn đi thi. Quan chủ khảo thích
thú văn tài, toan chọn hắn đỗ đầu. Chợt
nghe trên không trung có tiếng quát: “Há có kẻ dâm đăng hại
người lại được đỗ đầu bảng
à?” Quan chánh chủ khảo bỗng té nhào xuống đất,
đến khi tỉnh lại, đứng lên th́ thấy quyển
bài thi ấy đă bị xé rách tan nát. Sau khi yết bảng,
quan chánh chủ khảo bèn gọi An Quốc kể chuyện
này, An Quốc hổ thẹn mà chết.
* Chàng họ La ở Kiến
Xương do nhà nghèo, chẳng thể cưới vợ. Mẹ
anh ta bèn cải giá với ông Giang để có tiền cưới
Chương thị. Chàng La thấy mẹ [hy sinh như vậy],
chẳng nỡ ḷng ngủ chung với vợ. Chương
thị ḍ biết bèn tháo trâm cài, bông tai, quần áo đưa
cho chồng chuộc mẹ về. Chồng vui mừng, chạy
đến nói với mẹ. Do trời đă tối, bèn ngủ
lại. Nào ngờ con trai vợ trước của ông Giang
là Giang Thật đă lén nghe được, trong đêm giả
vờ là chàng La gơ cửa, xông vào nhà, vơ vét mọi vật,
lại c̣n đ̣i ân ái. Chương thị không biết kẻ
đó là giả, [Giang Thật] bèn ôm hết [của cải]
bỏ đi. Cho đến b́nh minh, chồng quay về, Chương
thị mới biết đă mắc lừa, xấu hổ,
ân hận, bèn treo cổ chết. Chồng sắm sửa
quan tài, đồ liệm, đưa linh cữu vợ ra
ngoại thành. Chợt sấm sét cùng nhau giáng xuống, sét đánh
chết một người, tay c̣n ôm trâm, bông tai, quần áo,
quỳ trước quan tài. Lưng viết bốn chữ: “Gian tặc Giang Thật”. Quan
tài gỗ vỡ vụn, Chương thị đứng bên
đường, thấy chồng bèn hỏi: “Chuyện này
là sao?” Thuật rơ mọi chuyện xong, vợ chồng d́u
nhau trở về. Cha ghẻ là Giang Triều cũng cảm
động khóc lóc. Do vậy, mời vợ chồng chàng La
về ở chung.
* Đời Minh, ở Tấn
Giang có Hứa Triệu Hinh, đỗ Cử Nhân năm Mậu
Ngọ. Trên đường đến bái yết vị chủ
khảo của ḿnh, ngẫu nhiên đi qua một ni am. Do mê
thích một ni cô trẻ tuổi, bèn cậy thế cưỡng
bức làm nhục cô ta. Ngày hôm sau, bỗng tự cắn
lưỡi đứt làm hai đoạn mà chết.
* Gă X… là người ở Diên
Sơn, mê thích sắc đẹp của vợ người
hàng xóm, dụ dỗ nhưng cô ta không thuận theo. Nhằm
lúc chồng cô ta ngă bệnh, trời đổ mưa to, sấm
sét ầm ĩ, bèn khoác áo hoa có hai cánh diều, nhảy vào nhà
hàng xóm, vung chùy sắt giết chết [người chồng],
rồi lại nhảy tường trở ra. Mọi người
đều tưởng là sét đánh chết người chồng.
Sau đấy, gă đó cậy mai mối xin cưới [người
vợ góa]. Người vợ do nghèo túng bèn cải giá, vợ
chồng ân ái hết mực. Một hôm, vợ sắp xếp
rương, thắc mắc quần áo may kiểu ǵ mà lạ
thế. Chồng nhân đó cười cợt, nói rơ chuyện.
Vợ giả vờ cười nói, đợi lúc chồng
đi vắng, bèn ôm áo cánh diều lên báo quan. Quan phán tội
treo cổ. Ngày xử giảo, sấm sét ầm ĩ, [gă đó]
đầu một nơi, thân một nẻo, tứ chi
đứt ĺa.
* Tường sanh Quách Hanh ở
Giang Ninh, năm Kỷ Măo vào trường thi. Khi chưa yết
bảng, người bạn là Dương sinh nói: “Gần
đây, tôi làm phán quan cho âm phủ, biết ông đáng lẽ
đậu hạng năm mươi bảy. Trong nhà ông có một
đứa tớ gái, bị ông cưỡng ép làm tiểu
thiếp. Nó uất ức nên đă chết. Nó đă nhiều
lần tố cáo ông [dưới cơi âm]. V́ lẽ này, tên ông
đă bị gạt bỏ”. Chàng Quách thoạt nghe, không tin,
đến chừng nhận lại quyển thi, [mới thấy]
giám khảo đă xếp [bài văn của ḿnh] vào loại
tŕnh lên chủ khảo, mới hối hận vô cùng! Quách
Hanh cả đời trung hậu, chỉ v́ vô ư chuyện
này, cả đời thất vọng!
Nhận
định: Xét theo Công Quá Cách, “ép tớ gái làm thiếp, phạm
ba mươi lỗi”. Đó là đặc biệt nói theo
Lư, chứ nếu xét theo t́nh, châm chước thế, sẽ
là tội lỗi vô cùng! Bởi lẽ, nam nữ kết hôn,
dẫu nghèo hèn đều mong xứng nguyện. Cưỡng
ép trở thành thiếp, tức là đă trái với ư nguyện
của họ, mà cũng là chuyện khó chịu đựng
nhất. Thường
có những trường hợp vợ trẻ đẹp phải
hầu hạ chồng già khú đế, hoặc người
dịu dàng, mềm mỏng gặp [vợ cả] hung tợn,
ghen tuông, sẽ ngậm hờn, nuốt oán, uất ức
mong chết đi cho rảnh! Kẻ gặp những nỗi
khổ ấy, thật là đáng thương! Suy xét nguồn
cơn, đều là do một kẻ không thể chế ngự
ḷng dục mà ra. Trong đám thê thiếp, nói xấu, chửi
bới, tranh chấp với nhau, chuyện trong chốn buồng
the, xấu xa, nhơ bẩn không thể che giấu, tai hoạn
chẳng phải là một mối! Con người nếu
chẳng phải là chuyện muôn phần bất đắc
dĩ, hăy thận trọng đừng tạo nỗi oan nghiệt
vô cùng ấy!
* Vương Cần Chánh ở
Trừ Dương thông gian với người đàn bà hàng
xóm, đă ước hẹn cùng nhau bỏ trốn. Do vậy,
bà ta bèn giết chồng. Cần Chánh nghe chuyện, sợ
quá, liền một ḿnh trốn tới huyện Giang Sơn
cách đó bảy mươi dặm, ngỡ là đă có thể
thoát họa. Đói bụng, vào quán cơm. Chủ quán dọn
cơm cho hai người ăn. Cần Chánh hỏi nguyên do.
Chủ quán bảo: “Chẳng lẽ người đầu
bù tóc rối đi theo ông không phải là người ư?”
Cần Chánh kinh hăi, biết là oán quỷ đi theo ḿnh, liền
đến cửa quan tự thú. Nam nữ đều phải
đền tội.
* Ở Dự Chương có
một cặp song sanh, tướng mạo và tiếng nói giống
hệt như nhau. Từ lúc c̣n ẵm ngửa cho tới lúc
ba mươi tuổi, những chuyện gặp gỡ, được
mất đều y hệt như nhau. Lúc ba mươi mốt
tuổi, do đi thi, anh em lên tỉnh. Một phụ nữ
ở gần đó góa chồng, xinh đẹp, quyến rũ
người anh. Người anh nghiêm mặt cự tuyệt,
lại c̣n đem chuyện ấy răn nhắc đứa
em. Đứa em giả vờ vâng dạ, nhưng lén lút gian
díu với người đàn bà ấy. Thoạt đầu,
bà ta chẳng biết đó là người em. Đôi bên t́nh
cảm sâu đậm; do vậy, ước hẹn với
bà ta: “Nếu ta thi đậu, ắt sẽ cưới nàng”.
Đến khi yết bảng, anh đậu, em rớt.
Người em lại gạt bà ta: “Đợi ta đỗ
ông nghè xong sẽ cưới nàng”. Lại c̣n than thở thiếu
hụt tiền chi dụng. Bà ta dốc hết tiền bạc
dành dụm trao cho. Mùa Xuân, người anh đỗ kỳ
thi Đ́nh, bà ta sớm chiều mong ngóng, chẳng thấy
tin tức ǵ, uất ức thành bệnh. Ngầm gởi thư
cho người anh, [không lâu sau] bà ta chết. Người
anh nhận được thư, kinh hăi, vặn hỏi
đứa em. Người em cúi đầu thừa nhận
đă lừa t́nh. Năm sau, con trai của người em bị
chết, con trai của người anh không sao. Người
em khóc lóc không ngừng, hai mắt bỗng mù hẳn! Không lâu
sau cũng chết. Người anh quyền cao tước
trọng, đông con, lắm cháu, có thể nói là hưởng
phước trọn vẹn.
Nhận định: Con người
thường là khi họa hoạn xảy tới, chẳng
thể đổ thừa hết cho số mạng
được! Hăy nên kinh sợ, tự xét hành vi trong
thường nhật xem đă trót tạo nỗi oan nghiệt
nào mà dẫn đến [nông nỗi] hiện thời! Tự
trách sâu xa, sửa lỗi đổi mới, ḥng có thể văn
hồi sự trút giận của thần minh. Nếu không,
cũng sẽ giống như người em ở Dự Chương
đó thôi!
* Thư sinh X… ở Duy Dương
vừa viết xong một quyển dâm thư, mộng thấy
thần quở trách. Tỉnh giấc bèn tự hối, liền
thôi [không viết nữa]. Về sau, do con thơ, nhà nghèo, vẫn
lấy ra đem in. Chẳng lâu sau, mắt mù, tay sanh ghẻ
độc, năm ngón tay đều co quắp mà chết.
* Thi Nại Am viết bộ
Thủy Hử, trong ấy, miêu tả những chuyện
gian dâm, cướp bóc [sống động] như vẽ.
Con cháu ba đời bị câm.
* Năm Bính Ngọ (1666) đời
Khang Hy nhà Thanh, tại một huyện thuộc Duyện Châu,
có Trịnh sinh là người đẹp trai, phong nhă, giỏi
văn chương. Mê thích con gái của người cậu
vừa đẹp vừa hiền thục, xin cưới; người
cậu chẳng chấp thuận, v́ đă nhận sính lễ
của nhà họ Tiêu ở ấp bên cạnh. Do chú rể bị
bệnh, nên cả năm chưa xuất giá. Trịnh sinh
mua chuộc tớ gái của cô ấy, lấy được
đôi hài dùng khi đi ngủ[54] và
túi thơm của cô ta. Trịnh sinh thường giắt
theo, khoe với họ nội của chàng Tiêu, bảo cô gái ấy
và ḿnh có tư t́nh; ấy là v́ muốn lập kế cho chàng
Tiêu biết đến, ắt sẽ ly hôn. Khi đă bị
ly hôn, [cô em họ] bị mang tiếng, chẳng có ai muốn
lấy; sau đấy, [Trịnh sinh] sẽ có thể xin
cưới được. Chàng Tiêu biết chuyện, nửa
tin, nửa ngờ, sai người đến hạch hỏi
mẹ cô ta. Cô gái nghe những lời báng bổ, phẫn hận
không thể kiềm chế nổi, vung dao sắc tự tử.
Cha cô ta kiện lên quan. Vị chủ ấp là ông X… tính t́nh
công chánh, cương nghị, bắt Trịnh sinh lên tra hỏi,
vạch trần sự thật. Trịnh sinh bị phán xử
tử.
Nhận
định: Đời Đường, cô
con gái người d́ của Nguyên Chẩn là Thôi Oanh Oanh, vốn
là tuyệt thế giai nhân. Chẩn cố công xin cưới,
nhưng bà Thôi vốn muốn gả [Oanh Oanh] cho cháu là Trịnh
Hằng. Chẳng được toại ư, Nguyên Chẩn hết
sức phẫn hận, do vậy, viết bộ Hội Chân
Kư[55]
để bêu xấu, đội tên Thôi Oanh Oanh viết những
bài thơ xướng họa lưu truyền trong cơi đời,
khiến cho ngọc trắng không tỳ vết bị lấm
lem muôn đời. So với Trịnh sinh, tội ấy càng
nặng hơn nữa. Về sau, Nguyên Chẩn mắc quả
báo lửa sét đốt thây, há cũng chẳng thích đáng
ư?
* Một thư sinh ở
Giang Nam, văn chương hay khéo, nhưng tính chuyên thích bàn
chuyện buồng the của kẻ khác. Năm Kỷ Dậu
đi thi Hội, đến khi vào tam trường, lúc được
ban đuốc[56],
bỗng dưng thấy trên quyển văn của ḿnh có bốn
chữ “háo đàm khuê khổn”
(ham bàn chuyện buồng the). Chàng vội vàng lấy tay xóa đi.
Khi kiểm lại, sửa lỗi, thấy phía sau quyển
thi đă bị chà nát. Khi khảo quan dùng bút son chấm bài,
thấy bảy bài văn do anh ta đă viết hết sức
hay khéo, tính lấy anh ta đỗ đầu, nhưng v́ không
có bài nộp cho ṿng thi thứ ba, chẳng thể chấm đậu.
Từ đấy, chàng thư sinh suốt đời lận
đận [chẳng đỗ đạt ǵ].
* Cuối đời Minh, ở
vùng Ngô Hạ (Tô Châu), có Tần sinh học giỏi, lắm
tài, giỏi nhất là sáng tác thi từ, nhạc phủ[57].
Anh ta là một kẻ hết sức khinh bạc, chỉ thích
châm biếm, nhạo báng cơi đời. Hễ thấy kẻ
nào dung mạo, h́nh dáng xấu xí bèn chẳng chịu nổi,
ngay lập tức làm một bài thơ [chế giễu] ngay
trước mặt [người đó]. Hễ nghe kẻ
khác làm chuyện ǵ đáng cười, lọt vào tai anh ta là
đă có ngay một khúc ca [nhạo báng]. Một người
bạn thân của anh ta đút lót để được
vào trường huyện, anh ta bèn làm bài thơ “Du Tường Thi” (thơ nhập
học trường huyện) gồm một trăm vần
để chúc mừng. Nhà hàng xóm có chuyện mèo chuột,
anh ta liền tặng cho mười bài thơ Chim Hoàng Anh,
xiên xỏ bóng gió tột bậc hay khéo, miệng đời
rao truyền thấu khắp xa gần. Do vậy, nhiều
lượt bị khốn đốn bởi nắm đấm,
lại c̣n bị thưa kiện lên quan, gần như bị
tước sạch danh vị, vẫn trọn chẳng thay
đổi. Đến tuổi xế chiều, bỗng bị
sốt rét phát cuồng, tự ăn phân của chính ḿnh, cầm
dao tự cắt lưỡi. Người nhà giằng lấy
dao, xiềng trong buồng trống. T́m dao không được,
bèn nhai lưỡi nát bét phun ra. Mùi thối lan ra tận ngoài
cửa. Sau đó, từ khe cửa sổ trông ra, thấy
trong sân có cái búa chẻ củi, bèn dũng mănh phá vỡ cửa
sổ thoát ra, vớ lấy búa tự chém chính ḿnh đến
chết!
Nhận
định: Trong bộ Giác Thế có nói: “Với tài năng ấy, Tần
sinh [hô hào khiến cho] dân chúng tuân theo phong tục tốt
đẹp, há khó khăn ǵ? Sao lại khiến cho cái tài
đó trở thành công cụ để giết ḿnh? Khác ǵ
Tùy Hầu dùng minh châu để ném chim sẻ, dùng
gươm Thái A để đốn củi!” Gần đây,
có một thư sinh, có tài lạ, tự cho rằng ắt sẽ
thi đậu, nhưng ưa dùng những giáo huấn trong
kinh sách [của thánh hiền] để châm chọc. Về
sau, [đi thi] nhiều lần được chấm điểm
cao, nhưng cứ vào ṿng thi sau bèn có chỗ viết sai, luôn
luôn bị trượt. Đấy chính là lẽ báo ứng
v́ đă vũ nhục lời lẽ thánh hiền! Những
kẻ có tài trong cơi đời thường phạm lỗi
này mà chẳng biết sai trái. Ôi! Đọc sách như vậy,
có khác ǵ kép hát diễn tuồng ư? H́nh tượng tư
văn[58] đă bị hạng
người ấy vùi xuống tận đất mất rồi!
* Lư Thúc Khanh luôn liêm khiết,
cẩn thận; đồng liêu là Tôn Nham ghen ghét, bịa
chuyện rêu rao cùng mọi người: “Thúc Khanh chỉ được
cái danh suông! Theo như tôi thấy, hắn chẳng bằng
chó, lợn!” Nếu có ai hỏi v́ sao nói như vậy, hắn
ta đáp: “Thúc Khanh ăn nằm với em gái của chính
ḿnh, c̣n đáng làm người ư?” Do vậy, [lời ong
tiếng ve] đồn đại ồn ào xa gần. Thúc
Khanh muốn biện minh, nhưng chẳng tiện mở miệng.
Nếu chẳng muốn nói rơ, phẫn hận, giận dữ
khó chịu nổi. V́ thế, ôm nỗi uất ức mà chết.
Em gái ông ta nghe tin, biết chuyện, hết sức kinh hoảng,
phẫn hận, cũng treo cổ tự tử. Chẳng
được mấy hôm, trời nổi giông tố, sét đánh
Tôn Nham chết tươi, quăng thây đến tận cửa
nhà Thúc Khanh. Đến khi đem chôn, sét lại đánh xuống
mồ hắn!
Nhận
định: Đây là kẻ có ư niệm
bịa chuyện ô nhục, khinh miệt người khác, cho
nên mắc phải quả báo nặng nề như vậy.
Dẫu không
có tâm châm biếm, cũng trọn chớ nên! Vào năm Nhâm Tư,
tại trường thi Chiết Giang, có một phụ nữ
bước vào khu vực đặt lều thi, vừa đi
vừa hét to: “Vương Nhị ở Đông Dương”.
Cả trường thi hoảng hồn, dùng đèn đuốc
soi, chẳng thấy bà ta đâu cả. Do vậy, t́m kiếm
trong dăy lều thi, quả thật có một người họ
Vương đứng hàng thứ hai. Mọi người kể
rơ nguyên do [t́m kiếm], rồi vặn hỏi nguyên nhân.
Người ấy suy nghĩ rất lâu, nói: “Mấy năm
trước, họ hàng tụ tập chuyện gẫu đùa
cợt. Ngẫu nhiên nói tới một bà góa thủ tiết
trong thôn, bèn bảo [thủ tiết] khó tin quá! Bà ta nghe chuyện,
phẫn hận chết đi, chắc là chuyện ấy!”
Do vậy, anh ta sợ hăi, không dám nộp quyển thi, thâu thập
hành lư ra khỏi lều thi, [bỗng dưng], vấp ngă nơi
bậc thềm, bị thương ở trán, đến sáng
bèn chết. Có thể thấy tai hại của sự đùa
bỡn, châm chọc. Đối với những chuyện
liên quan đến danh tiết của người khác, trọn
chẳng thể coi thường thốt ra lời
được!
* Lam Nhuận Ngọc tuổi
chớm hai mươi, rất mực
tài hoa, phong thái thanh tú. Các bạn học đều cho rằng
anh ta sẽ đỗ đạt, vinh hiển. Gần chỗ
anh ta ở là nhà của một vị Thượng
Thư nọ. Vị Thượng Thư có đứa con gái
đă hứa hôn, nhưng chưa gả. Cô ta tài sắc nức
tiếng một thuở. Có lần, ngẫu nhiên Lam sinh thấy
cô ta lên xe; trở về, khát khao mơ tưởng. Một
hôm, tản bộ nơi vườn sau, nghe cách tường
có tiếng con gái, trèo lên ḍm trộm, biết đó là người
[ḿnh đă từng thấy] trong xe, bèn ngấm ngầm khoét nửa
viên gạch ở chân tường để hằng ngày ngắm
nghía. Được nửa năm, cô ta về nhà chồng.
Chàng Lam không c̣n cách nào nh́n trộm được nữa! Buồn
bă, thất vọng quá sức. Do vậy, viết bài từ
Trường Tương Tư, bị một người bạn
đọc được. [Người ấy] liền
đốt ngay, lại căn dặn [Lam sinh] đừng nói
với ai, v́ sẽ gây tổn hại rất lớn cho
đức hạnh. Lam sinh cười chê lời ấy là vớ
vẩn. Về sau, vào trường thi, đêm mộng thấy
bị một vị thần khoét mắt. Chàng ta nằm ngủ
mà mắt rất đau, hai tṛng mắt như bị kim đâm,
chẳng thể mở mắt được. Do vậy, phải
để giấy trắng. Trở về nhà, vẫn không
ngừng đau, rồi mù cả hai mắt. Đến khi yết
bảng, người bạn thiêu hủy bài từ ấy
được xếp đỗ đầu.
* Công tử X… ở đất
Ngô, do muốn gian dâm một bà góa, bèn cùng với gă bạn hợp
ư bày mưu tính kế. Người bạn liền bày một
kế, ước hẹn sẽ thực hiện vào ngày nào đó.
Đến ngày ấy, cha hắn mộng thấy một vị
thần mặc áo đỏ bảo: “Con trai ngươi lẽ
ra đỗ đạt; do có tâm thuật bại hoại kẻ
khác, công danh bị tước sạch. Thằng bạn kia
vốn nghèo hèn, lại v́ người khác bày mưu xấu
xa, ắt sẽ bị cắt từng tấc ruột”. Ông
bố kinh hăi, tỉnh giấc, tới ngay thư pḥng, quả
nhiên nghe tin gă bạn ấy rên siết đau bụng rồi
chết. Công tử cũng dần dần phát cuồng,
đầu bù tóc rối lang thang khắp phố phường,
trọn chẳng thể cứu chữa!
* Có người họ Hoàng
Phủ ở Chiết Giang, đậu Tiến Sĩ dưới
đời Càn Long. Sau khi bị băi quan, bèn làm chủ giảng
tại thư viện Lệ Trạch. Về sau, chỉ có
hai vợ chồng già [sống cô quạnh], chết trong
nghèo túng. Ông ta thường nói với người khác: “Khi
ta làm Tri Huyện ở huyện nọ, có đứa môn sinh
là X… có tài nhưng vô hạnh. Sau khi đậu kỳ thi
Hương, nó chê người vợ đă đính hôn
[nhưng chưa cưới] nghèo hèn. Nhằm lúc cô ta mắc
bệnh cổ trướng, nó vu khống cô ta chửa
hoang, thưa lên tôi, xin ly hôn. Khi đó, tôi xử oan cô ta, chẳng
cho cô ta biện bạch. Cô ta rút dao tự mổ bụng
[minh oan]. Chuyện được tâu lên trên, thằng học
tṛ ấy phải đền tội, mà tôi cũng bị băi
chức. Tôi chỉ có một đứa con, đă từng
thi đậu, nào ngờ giữa ban ngày, thấy nữ quỷ
ấy hiện ra, chết tươi! Nay vợ chồng tôi
già cả, không nơi nương cậy, mắt sắp thấy
chính ḿnh trở thành quỷ tha hương, không ai cúng tế!
Quả báo cũng thảm khốc thay!”
Hối
lỗi án (những câu chuyện hối lỗi)
* Vào đời Minh, Hồng
Đảo một hôm đột ngột chết đi, hoảng
hốt thấy một người áo xanh dẫn tới âm
phủ. Họ Hồng hỏi về chuyện ăn lộc
của ḿnh trong một đời sẽ như thế nào?
Người áo xanh lấy từ trong tay áo một quyển
sổ to cho ông Hồng xem. [Ông ta thấy] dưới phần
ghi tên họ của chính ḿnh, chữ ghi [chi chít] nhỏ như
muỗi, chẳng thể đọc hết. Phía sau ghi chú: “Đáng lẽ được làm
Tham Tri Chánh Sự, nhưng do ngày… tháng… năm đă gian dâm với
cô gái chưa chồng tên là…, bị giáng xuống làm Bí Các Tu
Soạn Chuyển Vận Phó Sứ”. Ông Hồng rùng ḿnh, ứa
nước mắt, hỏi: “Làm thế nào đây?” Người
áo xanh nói: “Chỉ nên nỗ lực làm lành th́ được
rồi”. Trong chốc lát, tới trước một con suối
lớn, người áo xanh đẩy họ Hồng ngă xuống.
Ông Hồng hoảng hốt tỉnh lại, th́ ra đă chết
ba ngày. Do tim c̣n ấm, nên [người thân] chưa khâm liệm.
Ông bèn thống thiết tự hối lỗi, tận lực
làm lành. Về sau, ông do thấy được bổ làm chức
Bí Các Tu Soạn Tào Vận của Lưỡng Chiết[59] [ứng
hợp với điều] đă được đoán
trước, hết sức sợ hăi. Sau đấy, chẳng
có [chuyện bất ngờ] ǵ khác, làm quan tới chức Đoan
Minh Điện Học Sĩ, hưởng thượng thọ
rồi mất. Đấy chính là báo ứng do nỗ lực
hối lỗi vậy!
Nhận định: Người
đời thấy có kẻ phạm lỗi ấy mà vẫn
phú quư, bèn ngờ cảm ứng chẳng có căn cứ! Nào
có biết, lẽ ra ông Hồng làm tới chức Tham Tri Chánh
Sự, bị giáng xuống chức Bí
Các Tu Soạn! Lại chẳng biết ông Hồng nếu chẳng
tận lực hối lỗi, há có chuyển biến ngấm
ngầm [thăng chức cao hơn] ư? Hăy cẩn thận,
chớ sanh tâm không kính tín. Nếu cam ḷng như Lư
Đăng gạt bỏ Trạng Nguyên, Tể Tướng,
vẫn khăng khăng mừng v́ đă đậu Giải
Nguyên ư?
* Đời Thanh, ở Hán Dương
có một chư sanh có tài, nổi tiếng, nhưng đi
thi nhiều lần chẳng đậu. Một người
bạn bèn v́ ông ta cầu cơ thưa hỏi. Thần giáng
cơ: “Thư sinh ấy đáng lẽ đỗ đạt;
do v́ lúc tuổi trẻ, ngồi dạy học tại nhà nọ,
tư thông với một đứa tớ gái, chẳng thể
nào mong mỏi đỗ đạt được”. Thư
sinh nghe nói kinh sợ; do vậy, biên tập bộ Giới Dâm
Công Quá Cách, lại c̣n chú giải, ghi chép khá nhiều câu chuyện
thật sự sau mỗi đoạn, quyên góp tiền bạc
để ấn hành, biếu tặng. Tới khoa thi năm
Bính Tư đời Khang Hy (1696), bèn thi đậu, ai nấy
đều cho là báo ứng do đă sửa lỗi vậy.
* Đời Minh, ông Hạng
Hy Hiến vốn có tên là Đức Phân. Nằm mộng thấy
đỗ kỳ thi Hương năm Quư Măo, do ô nhục
hai đứa tớ gái nhỏ tuổi, bị thần gạt
bỏ khoa cử, bèn thề tránh tà dâm, nỗ lực làm lành
ḥng chuộc lỗi trước. Về sau, ông mộng thấy
đến một nơi, trông thấy có một tờ giấy
vàng, nơi ḍng thứ tám ghi họ Hạng, chữ chính giữa
không rơ ràng, chữ cuối cùng là Nguyên. Có người bên cạnh
nói: “Đấy chính là thứ tự trên bảng trời của
ngươi! Do ngươi gần đây đổi hạnh,
nên lại đạt được thứ hạng ấy”.
Do vậy, ông bèn đổi tên là Mộng Nguyên. Khoa thi Hương
năm Nhâm Tư, ông đỗ hạng hai mươi chín tại
phủ Thuận Thiên. Thi Hội năm Kỷ Mùi, đỗ
hạng hai. Rất nghi thứ hạng trong mộng sai lầm.
Tới khi thi Đ́nh, đỗ thứ năm trong hàng Nhị
Giáp. Ông mới hiểu thứ tự ấy phù hợp với
kết quả thi Đ́nh[60], đúng
là hạng tám. Bởi lẽ, kết quả thi Hương
và thi Hội đều dùng giấy trắng [để yết
bảng], chỉ riêng có bảng kết quả thi Đ́nh là
dùng giấy vàng!
Nhận định: Do mộng
mà tỉnh ngộ, thống thiết tự sửa đổi,
vẫn là người có phước. Nếu không, công danh đă
bị tước sạch mất rồi; há c̣n chiếm
được thứ hạng đỗ đạt nữa
ư? Có thể biết, đạo trời giáng họa cho
kẻ dâm, chẳng giáng tội người hối lỗi.
Kẻ có chí chẳng v́ trót sa chân bèn bảo là “không thể
chuyển dời được!”
* Giả Nhân đă năm mươi
tuổi, không con. Đêm mộng thấy ḿnh đến một
ṭa phủ đệ, biển đề Sanh Dục Từ.
Do vậy, Giả Nhân cầu khẩn có con nối dơi. Chủ
nhân lấy sổ sách cho xem, bảo: “Ngươi đă từng
gian dâm với vợ kẻ khác, muốn cầu con, chẳng
thể được”. Giả Nhân van xin: “Tiểu dân vô tri,
xin dung cho chuộc tội”. Thần nói: “Ngươi đă hối
lỗi, hăy khuyên mười người không dâm th́ mới
có thể chuộc tội. Nếu khuyến hóa nhiều
người hơn, ắt sẽ có con”. Giả Nhân tỉnh
giấc, thống thiết cải hối. Do vậy, sốt
sắng khuyên người đời, cảm hóa rất nhiều. Về sau, sanh hai con.
* Năm Tân Măo, trước hôm
bắt đầu khoa thi tại Chiết Giang, có một
người nằm mộng thấy thần thánh tụ hội
để xét đoán những người sẽ thi đậu,
[quyết định] người sẽ đỗ đầu
tên là Chung Lăng. Có một phụ nữ kêu oan. Vị thần
ngồi chính giữa bảo: “Như vậy th́ hắn không
thể đậu được!” Do vậy, ḍ xét để
t́m người khác điền vào chỗ đó. Người
bên cạnh đáp: “Vậy th́ lấy thằng bé con thế
vào”. Người ấy tỉnh giấc, kể lại giấc
mộng với ông Chung. V́ thế, ḍ hỏi cặn kẽ ông
Chung về ngọn ngành. Th́ ra trong nhà ấy có một đứa
tớ gái mang thai, do bà chủ (vợ ông Chung) chẳng dung, đem
d́m nước cho chết. Họ Chung thường v́ chuyện
này mà tâm bất an. Nghe kể chuyện nằm mộng, hết
sức kinh hăi. Quả nhiên, khoa ấy họ Chung thi rớt,
Dư Tuân đậu Trạng Nguyên, nói “thằng bé con” (Nhụ
Tử) chính là tên tự của Tuân vậy. Chẳng lâu sau,
vợ ông Chung bị bệnh chết. Ông Chung càng thêm sợ
hăi; do vậy, tận lực làm lành chẳng lười nhác.
Khoa thi sau, nhằm năm Giáp Ngọ, bèn đỗ Giải
Nguyên.
* Ông Trương ở Hoa Đ́nh
thuở trẻ phạm tà dâm. Về sau, sanh hai đứa
con đều chẳng nuôi được. [Chính ông ta] lại
bị bệnh lao, nhiều năm chẳng khỏi. Ngẫu
nhiên xem các câu chuyện trong bộ Đan Quế Tịch[61],
thấy quả báo do dâm dục rành rành, hối hận khôn
xiết, bèn đối trước thần thề: “Vĩnh
viễn kiêng tà dâm”. Lại c̣n in Âm Chất Văn thí tặng
rộng răi, căn bệnh ấy liền lành. Trong ṿng mấy
năm, sanh liên tiếp ba đứa con.
* Vào đời Minh, chàng họ
Điền phong thái tuấn nhă. Trong làng, có nhiều phụ
nữ quyến rũ, dan díu, bèn lánh sang chùa Nam Sơn ở
gần đó để đọc sách. Gần chùa cũng có
người đến [quyến rũ], trong ḷng họ Điền
biết là sai trái, nhưng chẳng nỡ cắt đứt
chuyện ong bướm. Thoạt đầu, ông thường
nằm mộng thấy một vị thần hết sức
lùn nhỏ. Sau đó, vị thần ấy hiện thân vào
ban ngày, bảo: “Ngươi vốn có phước lớn,
lẽ ra làm quan Ngự Sử, do ong bướm đa t́nh, công
danh đă bị tước sạch. Thượng Đế
sai ta giám sát ngươi. Nếu từ rày sửa đổi,
vẫn có thể chẳng đánh mất công danh”. Ông bèn hoảng
nhiên hối cải; về sau, quả nhiên thi đậu.
* Tào Trĩ Thao đỗ Tiến
Sĩ trong đời Sùng Trinh nhà Minh. Lúc c̣n là chư sanh, đă
tư thông với một người đàn bà hàng xóm. Chồng
cô ta biết chuyện, muốn giết chết, giả vờ
nói: “Ngày mai ta sẽ đi xa, vài hôm mới về”. Vợ
nghe nói mừng lắm, ngỡ là thật, liền hẹn ḥ
Trĩ Thao đến nhà. Ngày hôm ấy, nhằm đúng kỳ
hẹn các bạn văn họp mặt, từ sáng sớm,
bạn bè đă đến lôi kéo Trĩ Thao. Trĩ Thao từ
chối, bạn bè biết rơ nguyên do, cưỡng ép đến
chỗ họp mặt bàn luận thơ văn. Bạn bè nói
với vị chủ tŕ cuộc họp mặt: “Hôm nay viết
văn, phải chiếu theo cách thức viết trong trường
thi Hội. Tiệc đêm, ắt phải uống say khướt
mới về. Nếu chẳng tuân theo quy ước, sẽ
bị phạt”, lại bảo người chủ tŕ khóa
chặt cửa nẻo, các thư sinh chẳng được
tự tiện ra vào. Trĩ Thao hết sức bồn chồn,
bất đắc dĩ, ngoáy bút cho xong bài văn, muốn về
trước. Các bạn ồn ào: “Có hẹn trước à?
Về gấp vậy?” Đến tối, [trong khi] uống
rượu, Trĩ Thao có tâm sự, cố ư uống ít. Các bạn
ép phải uống, [không uống], sẽ trừng phạt
nghiêm khắc. Trĩ Thao say mèm, các bạn đưa về,
không thể đến chỗ hẹn được! Người
đàn bà hàng xóm chờ Trĩ Thao đă lâu, tựa cửa trông
ngóng. Có gă vô lại biết người đàn bà ấy quen
thói lăng nhăng, thấy bà ta tựa cửa chờ đợi,
ắt có kẻ ước hẹn chẳng tới, bèn ve văn,
bà ta cũng chẳng cự tuyệt. Người chồng
nấp sẵn, liếc thấy, cầm ŕu giết chết
hắn và giết luôn mụ vợ. Ngày hôm sau, Trĩ Thao
nghe chuyện ấy, bèn nhờ các bạn làm chứng, thề
với thần minh, thề sẽ làm lành bù lỗi, trọn
chẳng đi theo đường tà nữa. Mấy năm
sau, thi đỗ Tiến Sĩ. Thuở ấy, Trĩ Thao đang
sống mà đáng chết, lẽ ra phải chết mà
được sống, chỉ trong đường tơ
kẽ tóc, là do nhờ bạn lành cứu vớt. Gă vô lại
kia do thấy có thể làm chuyện dâm dục mà lao vào, quên
bẵng mối họa ẩn tàng, trong nháy mắt bị chết
dưới lưỡi ŕu. Ngạn ngữ có câu: “Gian tất sát” (Gian dâm ắt
bị giết), đúng thay!
* Trương Ninh tuổi già
không con, đến cầu đảo ở miếu thờ
của gia tộc, thưa: “Ninh tôi đă tạo nên đầu
mối tội lỗi nào mà đến nỗi dứt mất
ḍng dơi của tổ tiên?” Một người thiếp ở
bên cạnh nói: “Nếu ông chẳng làm lỡ làng cuộc
đời chúng tôi, đó chính là âm chất”. Trương
Ninh hoảng sợ, tỉnh ngộ, xét hỏi [những tiểu
thiếp] xem người nào chẳng muốn ở lại,
ngay hôm ấy, cho mấy người đi lấy chồng.
Năm sau, bèn sanh được một trai.
* Thôi Thư Nhân ở Thượng
Hải đă từng thuê người vẽ mười mấy
bức tranh khiêu dâm, [mỗi bức vẽ] đều mô tả
sự dâm đăng tột bậc. Về sau, bị sốt rét
không ngừng. Mỗi lần lên cơn sốt dữ dội,
đều thấy đàn ông, đàn bà xinh đẹp mười
mấy người, toàn là trần truồng, lơa lồ, bị
hai quỷ sứ kẹp lấy, mổ bụng, rút ruột,
máu tung tóe đầy đất. Kế đó, đến
phiên họ Thôi [bị quỷ hành h́nh], gào thét đau đớn,
[tự ḿnh] nói tường tận nguyên do, cả nhà đều
nghe. Họ Thôi tỉnh ngộ, vội vă đốt đi,
bệnh bèn được lành.
* Triệu Nham Sĩ thuở
trẻ từng phạm sắc giới, dần dần thân
h́nh yếu đuối, c̣m cơi, thân thể như bộ xương
khô, gần như chẳng c̣n mong sống được nữa.
Chợt đọc bộ Bất Khả Lục do ông Tạ
Hán Vân in, bất giác mồ hôi đẫm lưng, thống
thiết sửa đổi lỗi xưa, và thỉnh bản
in ấy, bỏ tiền ra ấn tống. Sau đấy,
tinh thần dần dần khá hơn, sanh liên tiếp sáu
đứa con.
* Trong niên hiệu Gia Tĩnh
đời Minh, có một chàng thư sinh nọ, láng giềng
ở phía Đông có một phụ nữ hết sức xinh
đẹp, đă nhiều lượt mày đi mắt lại.
Một hôm, thừa dịp chồng sang nơi khác, bà ta bèn
khoét tường, chèo kéo chàng ta. Chàng ta cũng động tâm,
hỏi từ đâu tới? Bà ta cười ghẹo: “Chàng
là người đọc sách, há chẳng nhớ câu ‘du đông gia tường’
(vượt tường phía Đông) ư?” Chàng bắc
thang trèo lên, chợt suy nghĩ lại: “Có thể lừa người,
chẳng thể lừa trời”. Bèn trèo xuống. Bà ta lại
đi đến chỗ cũ (chỗ tường đă bị
khoét) nũng nịu quyến rũ. Chàng lại động
t́nh, lại trèo lên thang. Đă ngồi ở đầu
tường, sắp nhảy sang, lại nghĩ: “Trọn
chẳng thể lừa dối trời”, mau chóng trở xuống,
đóng cửa, bỏ đi. Năm sau, do thi Hương, chàng
lên miền Bắc. Quan giám khảo vào tối hôm mở trường
thi, đốt đuốc ngồi một ḿnh, bỗng nghe
bên tai có tiếng nói: “Trạng Nguyên chính là chàng cưỡi
tường”. Sau khi đă yết bảng, bèn ḍ hỏi, mới
hiểu rơ chuyện trước kia.
* Năm Nhâm Tư (1612) đời
Vạn Lịch nhà Minh, Trương Vỹ ở Vũ Tấn
cùng chàng thư sinh X… sang Nam Kinh đi thi. Đêm đến
quán trọ, chủ nhân mộng thấy đón tiếp thiên
bảng mà Giải Nguyên chính là chàng thư sinh X… bèn kể lại
với thư sinh đó. Chàng ta dương dương
đắc ư. Chủ nhân có hai cô con gái ở trên lầu, vừa
đến tuổi cập kê, nghe nói bèn động tâm, sai tớ
gái chèo kéo chàng, từ trên lầu thả tấm vải xuống
để làm thang. Chàng ta lôi kéo Trương Vỹ cùng trèo
lên. Nửa chừng, Trương Vỹ bỗng tỉnh ngộ,
nói: “Ta đi thi, sao lại làm chuyện tổn đức này?”,
vội vàng tụt xuống. Chàng thư
sinh kia vẫn tiếp tục trèo lên. Tối hôm ấy,
chủ trọ lại mộng thấy bảng trời, Giải
Nguyên đă đổi thành tên Trương Vỹ, hết sức
kinh hăi, kể lại với chàng thư sinh ấy, lại
c̣n cật vấn gần đây đă làm chuyện ǵ. Chàng
ta đỏ mặt, không trả lời được. Khi
yết bảng, quả nhiên như vậy. Chàng thư sinh ấy
hết sức hổ thẹn, về sau nghèo hèn, uất ức
mà chết.
Nhận
định: Xét ra, Trương sinh và người
cưỡi tường đều tỉnh ngộ ngay khi ấy.
So ra, càng tốt đẹp hơn những kẻ
đă từng phạm rồi sau đó mới kiêng dè. Cho
đến lúc ấy, nếu chẳng bừng tỉnh, không chỉ là mất sạch công danh vốn nên có, mà c̣n
đọa nhập biển khổ vô biên. Đáng sợ thay!
* Hoàng
Sơn
Cốc đời Tống thích những ca từ diễm
t́nh, thường đến thăm Viên Thông
Tú
thiền sư. Tú thiền sư quở
trách: “Bậc đại trượng phu sẵn tài bút mực, cam tâm làm chuyện này ư?” Do khi ấy,
Tú thiền sư vừa răn nhắc Lư Bá Thời[62]
về chuyện vẽ ngựa. Sơn Cốc cười nói:
“Chẳng lẽ tôi cũng sẽ sanh trong bụng ngựa ư?”
Tú thiền sư bảo: “Bá Thời nghĩ tưởng ngựa,
bất quá ḿnh ông ta đọa lạc. Ông dùng lời lẽ
diễm t́nh khuấy động dâm tâm của mọi người
trong thiên hạ, không chỉ là sanh trong bụng ngựa, tôi
sợ ông sẽ bị đọa địa ngục vậy”.
Sơn Cốc hoảng sợ, hổ thẹn, từ tạ. Từ đấy, thôi không viết nữa.
* Tiền
Đại Kinh ở Tứ Xuyên, phong
tư, thần thái tuấn tú, hễ hạ bút bèn viết ngàn
lời. Mười bảy tuổi đă vào trường
huyện, nhiều lượt đi thi [nhưng chẳng đậu].
Đến khoa thi năm Canh Tư, chàng cầu đảo Văn
Xương Đế Quân. Đêm mộng thấy đồng
tử áo xanh dẫn đến trước Đế Quân.
Ngài sai thuộc hạ tra sổ, thấy chép: “Tiền Đại
Kinh hai mươi tuổi đậu thứ hai trong kỳ
thi Hương. Đỗ liên tiếp, đỗ Trạng
Nguyên đứng đầu thiên hạ. Làm quan tới cấp
nhị phẩm. Thọ bảy mươi ba tuổi. Do đă
soạn ba bộ dâm thư, bị gạt tên [khỏi sổ
quan lộc], tuổi thọ cũng không được dài
lâu như vậy”. Đế Quân khuyên dụ: “Ngươi có
ḷng trung hậu, lại chẳng thiếu hiếu hữu. Hiềm
rằng đă soạn dâm thư, khiến cho nam nữ bại
hoại thanh danh, chôn vùi tiết hạnh. Nếu không do
đời trước gieo đức rộng nhiều, đă
bị phán tội đọa địa ngục!” Đại
Kinh bèn lập trọng thệ, gặp ai cũng khuyên răn,
gặp dâm thư liền đốt sạch. Về sau, do
đỗ kỳ thi Minh Kinh, sống đến sáu mươi
hai tuổi bèn mất.
Thọ Khang Bảo Giám
壽康寶鑒
Phần 2 hết
[1] Sổ quế (桂籍: quế tịch):
Vào thời Tấn Vũ Đế, thượng thư bộ
Lại là Thôi Hồng đă tiến cử Khích Sân làm tả
thừa tướng. Tấn Vũ Đế hỏi Khích
Sân nghĩ như thế nào, Khích Sân tâu: “Thần như bẻ cành quế trong cung trăng,
như được một viên ngọc từ núi Côn Luân”.
Do vậy, sau này có những thành ngữ “nhất chi đan quế” (một cành quế
đỏ), “đan quế”, “phan quế” (vin cành quế), “Quảng Hàn chiết quế”
(bẻ quế từ cung trăng) v.v… để chỉ sự
thăng tiến trong quan trường. Dần dần, mở
rộng thành “Quảng Hàn chiết
quế” (bẻ quế từ cung trăng) với ư
nghĩa đỗ đạt. Từ đó, có mỹ từ
“quế tịch” để
chỉ danh sách những người thi cử đỗ
đạt trong khoa cử khi trước. “Xóa tên sổ quế” có nghĩa là công danh bị
giảm trừ hoặc mất sạch, chẳng đỗ
đạt.
[2] Con cháu ít ỏi,
hiếm hoi!
[3] Chín kinh (cửu
kinh) ở đây chính là chín điều trọng yếu
để thực hiện đạo Trung Dung của Nho
gia: 1) Tu dưỡng tự thân. 2) Kính trọng người
hiền. 3) Yêu thương che chở thân tộc. 4) Kính trọng
bậc đại thần. 5) Chăm sóc các quan, đồng
sự. 6) Thương yêu dân chúng. 7) Tận lực khuyến
khích các nghề nghiệp phát triển. 8) Ưu đăi khách
thương từ xa tới. 9) Đối xử ḥa thuận
ḥng giữ yên chư hầu. Xa lánh sắc dục là một
hạng mục trong “kinh thứ nhất” (tu dưỡng tự
thân).
[4] Nguyên văn “huyết
khí đa duyên vị định, trí ngu na đắc bất
di, ḥa giả dă. Tài tiên khả nhị, cưỡng hồ
tai, lực mạc năng chi”. Theo cách diễn giải của
ông Minh Tịch trong bộ Thọ Khang Bảo Giám Hiện
Đại Toàn Dịch, đoạn này phải hiểu
như thế này: Kẻ thiếu niên huyết khí chưa
định, thân tâm đa dục, bị sắc ma dẫn dụ,
dẫu kẻ trí hay người ngu đều khó thoát khỏi
ma chưởng, huyết và khí ḥa hợp mới sinh ra tinh,
đó gọi là “ḥa giả dă”.
Đă có Tinh th́ mới có thể bồi dưỡng cái thân
máu huyết, tráng kiện gân cốt cho nên nói là “tài khả tiên nhị”. “Tài”
chính là nói đến Tinh. “Nhị”
(餌) có nghĩa là gân cốt được
tinh bồi đắp mà tráng kiện. Thiếu niên đắm
đuối dâm dục nên gọi là “cưỡng”. “Cưỡng hồ tai” tức là
thiếu niên do thường hành dâm dục đến nỗi
thân thể thân thể bị hao tổn, mà vẫn không biết
từ bỏ. Do Tinh bị thiếu hụt, nên thân thể
suy yếu, sanh nhiều bệnh tật. V́ thế, “lực mạng năng chi” (sức
không chống đỡ được).
[5] Do bị hạn
cuộc theo cách viết trong nguyên văn, những câu này
hơi khó hiểu, chúng tôi mạn phép vẽ rắn thêm chân
như sau: Kẻ phóng đăng cḥng ghẹo gái chưa chồng,
hoặc làm chuyện suồng să, khiến cho cô dâu mới phải
gánh bao nhiêu lời ong tiếng ve châm biếm, nghi ngờ.
[6] Long
Dương: Long Dương tức là Long Dương Quân
(không rơ tên thật là ǵ), là tước hiệu của một
viên quan, do rất đẹp trai nên được Ngụy
An Ly Vương (Cơ Ngữ) say đắm, hết sức
sủng ái, phong cho một chức quan lớn để sớm
tối kề cận, hoan lạc. Theo chương Ngụy
Sách trong Chiến Quốc Sách, có lần cùng vua đi câu cá,
Long Dương Quân khóc lóc, tỏ ư lo ngại trong
tương lai sẽ có người dâng người đẹp
hơn để hầu hạ vua, khiến vua sẽ ruồng
rẫy ông ta. Ngụy An Ly Vương bèn hạ lệnh: “Kẻ
nào dám dâng mỹ nữ, mỹ nam lên vua, sẽ bị tru di
cửu tộc”. Sau này, chữ Long Dương thường
được dùng dùng để chỉ đồng tính luyến
ái nam.
[7] Truyện (傳) nói chung là những
bản chú giải các tác phẩm kinh điển trong Nho gia.
Câu này xuất phát từ sách Quả Tử, không rơ chữ
Truyện ở đây chỉ tác phẩm chú thích nào.
[8] Ông Minh Tịnh giảng: “Nội ngoại loạn” nghĩa là trong gia tộc
làm chuyện loạn luân, đó là nội loạn. Chung chạ
bừa băi với người ngoài, đó là ngoại loạn.
[9] Câu này trích từ
sách Lễ Kư, thiên Nhân Thể, chúng tôi dịch câu này theo lời
dẫn giải của trang từ điển trực tuyến
Bách Độ.
[10] Khổng Tử
đă từng phê b́nh những khúc dân ca nước Trịnh
chứa toàn lời lẽ dâm đăng.
[11] Lỗ Tụng là những bài hát ca ngợi
đức đẹp hoặc bậc hiền nhân trích từ
các khúc hát của nước Lỗ.
[12] Xin xem cụ thể
những chuyện này trong phần phước thiện và họa
dâm án.
[13] Theo ông Minh Tịch, đoạn này nên hiểu
như sau: Đă phạm tà dâm, báo ứng sẽ xảy
đến, chẳng thể trốn tránh nên nói là “chẳng
thể trốn tránh”, nhưng nếu khi gặp báo ứng,
sám hối, thề chẳng tái phạm th́ vẫn có thể
giảm nhẹ quả báo nên nói là “vẫn có thể thay
đổi”. Người đă sám hối, nghiệp chướng
tiêu trừ, xa ĺa ác báo, ngủ nghỉ an ổn, chẳng gặp
ác mộng.
[14] Câu này xuất
phát từ thành ngữ “khâm ảnh
vô tàm” (chẳng thẹn với bóng áo). Thành ngữ này lại
xuất phát từ chương Thận Độc trong bộ
Tân Luận: “Cố thân hằng
cư thiện, tắc nội vô ưu lự. Ngoại ô úy
cụ. Độc lập nhi bất quư ảnh, độc
tẩm bất quư khâm” (V́ thế, thân luôn giữ điều
thiện, ắt trong là chẳng có lo âu, ngoài chẳng sợ
hăi. Đứng một ḿnh chẳng thẹn với cái bóng của
chính ḿnh, ngủ một ḿnh chẳng thẹn với mền).
[15] Chỉ quan tâm vợ
có hiền thục, đức hạnh hay không, chẳng bận
tâm vợ có nhan sắc hay không.
[16] Đây là nói
đến bào Đào Yêu trong thiên Quốc Phong của kinh
Thi: “Đào chi yêu yêu, chước
chước kỳ hoa, chi tử vu quy, nghi kỳ thất
gia” (Cây đào non mởn, chi chít những hoa, nàng về
nhà chồng, êm ấm thuận ḥa). Cổ văn thường
dùng chữ Đào Yêu để chỉ hạnh phúc gia
đ́nh đầm ấm.
[17] Ông Minh Tịch giảng: Đừng ham
tưởng thiếu nữ xinh tươi đẹp đẽ,
hoặc thiếu niên dung mạo sáng sủa, khôi ngô, đến
nỗi do tham đắm sắc đẹp đến nỗi
trong giấc ngủ vẫn mơ mộng, trước tác
hoặc diễn tấu những ca từ dâm đăng để
rồi chết đi bị đọa vào địa ngục
Bạt Thiệt.
[18] Ư nói đến
chuyện ông Lục Công Dung cự tuyệt kẻ dâm bôn dùng
thơ quyến rũ, cḥng ghẹo (xin xem câu chuyện này
trong phần Phước Thiện).
[19] Luôn dè dặt
như vào khe sâu đầy sương phủ, hoặc
đi trên mặt sông đóng băng.
[20] Việt Trung
chính là Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang hiện thời.
[21] Tuyên Đức
là niên hiệu của Minh Tuyên Tông (Châu Chiêm Cơ) từ
năm 1425 đến năm 1435.
[22] Học Chánh (學正) là chức quan
quản nhiệm quy củ, khảo thí trong trường Quốc
Tử Giám.
[23] Điển sứ
(典史) là chức quan thuộc cấp
huyện, châu, thấp hơn Tri Huyện một bậc, có
trách nhiệm bắt phạm nhân, điều tra các vụ
án, canh tù, lưu giữ hồ sơ vụ án.
[24] Thái Tử Thiếu Sư chính là thầy
dạy học cho Thái Tử. Thái Tử thường có ba vị
quan kèm cặp, gọi là Thái Tử Thái Sư, Thái Tử Thái
Phó và Thái Tử Thái Bảo. Lại đặt ra ba chức
quan phụ tá gọi là Đông Cung Tam Thiếu, tức Thái Tử
Thiếu Sư, Thái Tử Thiếu Phó và Thái Tử Thiếu
Bảo.
[25] Chánh Thống là
niên hiệu từ năm 1436 đến năm 1449 của
Minh Anh Tông (Châu Kỳ Trấn). Ở đây, có lẽ
năm Âm Lịch đă bị chép lầm, v́ không có năm
nào là năm Ất Măo (乙卯) trong niên hiệu Chánh Thống. Có
lẽ là năm Đinh Măo (丁卯, 1447), tức
năm Chánh Thống thứ mười hai.
[26] Thái Thủ (太守, ta thường
đọc thành Thái Thú), c̣n gọi là Quận Thủ là
người đứng đầu một quận. Chức
vụ này đă có từ thời Chiến Quốc, v́ các
nước chư hầu đều chia thành nhiều quận,
viên quan đứng đầu một quận sẽ gọi
là Quận Thủ. Đến khi nhà Tần xóa bỏ chế
độ chư hầu, chia toàn thể Trung Hoa thành ba
mươi sáu quận th́ Quận Thủ có oai quyền rất
lớn. Măi đến đời Tây Hán mới đổi
Quận Thủ thành Thái Thủ. Sau khi nhà Đông Hán thiết
lập chức châu mục th́ Thái Thủ mới thấp
hơn Châu Mục hoặc Thứ Sử một cấp. Từ
đời Tùy trở đi, chức quan Thái Thủ bị
phế trừ. Từ đời Tống trở đi, Tri
Phủ hoặc Tri Châu thường được gọi
thông tục là Thái Thủ.
[27] Thiên Thuận là
niên hiệu của Minh Anh Tông (Châu Kỳ Trấn) từ
năm 1457 đến năm 1464 sau khi giành lại ngôi vua từ
tay em trai là Minh Cảnh Đế (Châu Kỳ Ngọc)
[28] Tham Chánh (參政) là một chức
quan khá cao cấp trong nền hành pháp thuở trước.
Cùng với Đồng B́nh Chương Sự (同評章事, Tể Tướng)
và Xu Mật Sứ (樞密使) gọi chung là Chấp Chánh. Các vị
như Phạm Trọng Yêm, Vương An Thạch… đă
đều từng đảm nhiệm chức vụ này.
[29] Chư sanh (諸生) là danh hiệu gọi chung những thư sinh
đă được vào học trường công. Nói chi tiết,
những người đă đỗ Tú Tài (c̣n gọi là Cống
Sanh), đă đủ tư cách dự vào tầng lớp
sĩ đại phu, được vào học các trường
quốc lập tại châu, huyện, phủ th́ gọi chung
là Tường Sanh. Nói cụ thể, người đă
đậu kỳ thi Hương với điểm ưu
có thể được chọn vào học trường Quốc
Tử Giám th́ gọi là Cống Sanh. Học tṛ xuất thân
là con quan, do thành tích ưu tú được vào học Quốc
Tử Giám th́ gọi là Giám Sanh. Học tṛ trường phủ
huyện, được cấp gạo hàng tháng th́ gọi
là Tăng Sanh. Những người được lấy
thêm ngoài con số quy định của Tăng Sanh th́ gọi
là Phụ Sanh. Những người học giỏi, hoàn cảnh
khó khăn, chưa đỗ đạt, sẽ được
châu huyện trợ cấp, nhưng mỗi năm phải
thi cử để xét xem có đủ tư cách giữ
địa vị ấy hay không, được cấp gạo
hàng tháng th́ gọi là Lẫm Sanh (hay Lẫm Thiện Sanh).
[30] Thành Hóa là niên hiệu
của Minh Hiến Tông (Châu Kiến Thâm) từ năm 1464
cho đến năm 1487. Ất Mùi là năm Thành Hóa thứ
mười một.
[31] Thị Lang (侍郎) là chức quan đă có từ
đời Hán, là thuộc hạ của Thượng
Thư. Đời Đông Hán quy định, năm đầu
nhậm chức sẽ gọi là Lang Trung, năm thứ hai
gọi là Thượng Thư Lang, năm thứ ba trở
đi mới gọi là Thị Lang. Từ đời Tùy trở
đi, quyền hành của Thượng Thư Đài lớn
dần, quyền lực và trách nhiệm của Thị Lang
cũng tăng theo. Đời Thanh, đối với mỗi
bộ lại c̣n lập ra Hữu Thị Lang và Tả Thị
Lang. Như vậy, Thị Lang tương đương với
chức Thứ Trưởng hiện thời.
[32] Kể từ đời Minh, người
đỗ đầu trong kỳ thi Hương gọi là Giải
Nguyên.
[33] Đời Minh,
nhằm phân tán quyền lực quan lại đứng đầu
các tỉnh (tức quan Tuần Phủ), triều đ́nh
đă lập ra ba chức quan khác biệt dưới Tuần
Phủ, gồm Đô Chỉ Huy Sứ (gọi tắt là Chỉ
Huy Sứ, trông nom việc quân sự), Bố Chánh Sứ (coi
hành việc hành chánh và tài chánh), và Án Sát Sứ (coi việc kiện
tụng, tư pháp).
[34] Lư Tự Thành
(1606-1645) vốn có tên là Hồng Cơ, người huyện
Mễ Chỉ tỉnh Thiểm Tây, giỏi vơ nghệ, xuất
thân là phu dịch trạm chuyên chạy công văn cho triều
đ́nh. Do làm ăn tắc trách, Tự Thành bị đuổi
việc, lại mắc nợ khắp nơi. Từng bị
thưa kiện, phải đeo gông cùm, may được bạn
bè chạy chọt mới thoát. Cuối năm đó, ông ta
giết chủ nợ. Khi biết vợ ngoại t́nh, ông giết
luôn vợ, trốn đi đăng lính, làm đến chức
Bả Tổng dưới trướng Tổng Binh Cam Châu
là Dương Khải Cơ. Do thất thoát quân
lương, để trốn tội, Lư Tự Thành bèn giết
cấp trên là tham tướng Vương Quốc và huyện
lệnh, dựng cờ khởi loạn. Do nhà Minh đă suy
yếu, đồng thời bị quân Hậu Kim tấn công
liên tiếp càng suy yếu hơn, Lư Tự Thành thừa thế
xưng vương, chiếm được kinh thành, lật
đổ nhà Minh, xưng đế, lấy hiệu là Đại
Thuận. Về sau, Ngô Tam Quế liên minh cùng quân Thanh
đánh bại Lư Tự Thành, quân Thanh chiếm trọn Trung
Hoa. Lư Tự Thành chạy trốn, đến chùa Giáp Sơn
ở huyện Thạch Môn, tỉnh Hồ Nam bèn xuống
tóc đi tu, xưng hiệu là ḥa thượng Phụng Thiên
Ngọc. Có thuyết khác nói ông ta bị giết tại núi Cửu
Cung, nhưng thuyết thứ nhất khả tín hơn v́
được chép trong nhiều sách huyện chí của tỉnh
Hồ Nam.
[35] Đại Tông
Bá (大宗伯) chính là một
chức quan coi về lễ nghi thuộc Lục Khanh vào
đời Tây Châu. Do vậy, sau này, người ta quen gọi
Lễ Bộ Thượng Thư là Đại Tông Bá.
[36] Ấp Duyện
(邑掾): Duyện (掾) có nghĩa là
“giúp đỡ”. Do vậy, chức phó quan thường gọi
là Duyện. Ấp Duyện là quan phó ấp. Chữ Ấp
không có nghĩa hẹp như xóm ấp trong tiếng Việt.
Thời Chiến Quốc, lănh thổ một nước
chư hầu gọi là Ấp (từ đó diễn thành ư
nghĩa “đất phong của các quan to cũng được
gọi là Ấp hay Thái Ấp”). Về sau, chữ Ấp chỉ
kinh đô của một nước, dần dần biến
chuyển thành ư nghĩa đô thành lớn, một thị trấn
đông dân cư. Ấp ở đây phải hiểu theo
nghĩa “huyện”, v́ quan huyện thường được
gọi là Ấp Úy hoặc Ấp Tể.
[37] Quan lương (官糧) ở đây là lương thực chu cấp
cho một cơ quan hành chánh như huyện, phủ vào thời
đấy. Chồng cô ta đảm trách chuyển vận
lương thực hay coi kho mà để thất thoát nên mới
bị tội.
[38] Minh Kinh là một khoa thi được
đặt ra từ đời Hán dưới thời Hán
Vũ Đế, đến đời Tống Thần Tông
th́ bị phế trừ. Do khoa thi này chú trọng khảo hạch
mức độ tinh thông nghĩa lư của kinh điển
Nho gia nhất là Tứ Thư và Ngũ Kinh, nên gọi là Minh
Kinh. Tuy vậy, Minh Kinh yêu cầu không cao lắm, có nhiều
cấp bậc, tối thiểu là thông thạo một bộ
đại kinh (chẳng hạn như Lễ Kư, Xuân Thu Tả
Truyện), một bộ trung kinh (như Châu Lễ, Lễ
Nghi) và một bộ tiểu kinh như Xuân Thu Cốc
Dương Truyện là được rồi. Do đó mới
có thành ngữ: “Tam thập lăo
Minh Kinh, ngũ thập thiếu Tiến Sĩ” (ba
mươi tuổi mà đậu Minh Kinh là đă quá già,
năm mươi tuổi mới đỗ Tiến Sĩ vẫn
c̣n trẻ lắm). Từ đời nhà Minh trở đi,
những người đă đỗ Cống Sanh (Tú Tài)
đều gọi chung là đậu Minh Kinh. Thậm chí, do
đỗ đạt làm quan đều gọi là “đă đậu
Minh Kinh”.
[39] Phương Bá là cách gọi thông tục
chức Thừa Tuyên Bố Chánh Sứ Ty Bố Chánh Sứ,
c̣n gọi là Phiên Đài hoặc Phiên Ty. Như tên gọi
đă chỉ ra, chức vụ này chính là vị Bố Chánh
Sứ đứng đầu cơ quan Thừa Tuyên Bố
Chánh Sứ Ty. Một Thừa Tuyên Bố Chánh Sứ Ty cai quản
một khu vực rất lớn, tương
đương với một tỉnh hiện thời.
Đến đời Thanh, chức vụ Bố Chánh Sứ
chỉ là phụ tá của Tuần Phủ, đặc trách
sự vụ hành chánh.
[40] Do số lượng quyển thi nhiều,
nên phải chia thành nhiều pḥng để chấm thi. Mỗi
pḥng do một vị khảo quan (thường là một vị
khoa bảng văn tài lỗi lạc) đứng đầu,
dưới vị ấy có các vị quan cấp thấp
hơn phụ tá.
[41] Châu lại: Tiếng
gọi chung người giúp việc hoặc thuộc cấp
của quan đứng đầu một châu (tức tri phủ
hoặc tri châu).
[42] Đề Khống
(提控) có hai nghĩa:
Một là chức quan trông coi về binh quyền; hai là tiếng
tôn xưng các nha lại làm việc dưới quyền tri
phủ hoặc tri huyện, v́ Đề Khống có
nghĩa gốc là khống chế hoặc chưởng quản.
Chữ Đề Khống ở đây hiểu theo nghĩa
thứ hai.
[43] Chủ Sự là cấp quan văn thuộc
hàm Chánh Lục Phẩm, trực thuộc các ty thuộc Lục
Bộ, Lư Phiên Viện, Thái Bộc Tự, và Tông Nhân Phủ.
Nhiệm vụ chủ yếu là quản lư văn kiện
cũng như ghi chép các sự kiện. Theo quy chế đời
Minh, trong Lại Bộ gồm nhiều ty, đứng đầu
mỗi ty là Lang Trung, viên phó quan sẽ gọi là Viên Ngoại
Lang, kế đó là Chủ Sự.
[44] Nguyên văn “tiệp nam cung” (nhận
được tin mừng từ nam cung). Theo quy chế
đời Hán, Thượng Thư Sảnh được
coi là nằm ở phía Nam của cung vua, cho nên Thượng
Thư Sảnh thường gọi là Nam Cung. Từ đời
Tống trở đi, do Lễ Bộ thuộc quyền quản
trị Thượng Thư Sảnh, nên Lễ Bộ
cũng gọi là Nam Cung. V́ các kỳ thi Hội đều
do Lễ Bộ tổ chức nên hễ thi đậu trong
kỳ thi Hội, đều gọi là “tiệp Nam Cung”.
[45] Giải Nguyên (解元): Người
đỗ đầu khoa thi Hương.
[46] Thời Chiến Quốc, nước
Triệu sở hữu viên ngọc Biện Ḥa, vua Tần
đem mười thành đ̣i đổi, nhưng vua Triệu
từ khước. Về sau, Triệu bị Tần áp bức
quá mức phải hiến ngọc. Thành ngữ “hoàn bích quy Triệu” được
sử dụng với ư nghĩa “sẽ trở lại tốt
đẹp như ban đầu”.
[47] Quỳnh Nhai là
một vịnh biển tại đảo Hải Nam.
[48] Nguyên văn “Châu công bổn pḥng”. Theo lệ
thi cử xưa, nhất là trong các kỳ thi Hương và
thi Hội, do số thí sinh đông đảo, các giám khảo
(thường gọi là “khảo quan”) phải chia thành nhiều
pḥng để chấm các quyển văn (bài thi thường
gọi là đối sách hoặc văn sách được
viết vào một quyển giấy trắng). Pḥng chấm
thi của một vị quan sẽ gọi là “bổn pḥng”. Mỗi vị khảo
quan lại có những viên quan chức vụ nhỏ hơn
phụ tá. Do ông Ngô Lư Thanh phụ tá ông Châu Duy Cao, nên gọi
là “Châu công bổn pḥng”.
[49] Chánh Đức
là niên hiệu của Minh Vũ Tông (Châu Hậu Chiếu),
vua thứ mười một nhà Minh.
[50] Triệu Huyền
Đàn (趙玄壇) là một vị
thần của Đạo giáo. Theo truyền thuyết, ông
ta tên là Triệu Lương, tự là Công Minh, là một
trong bốn vị đại hộ pháp nguyên soái của
Đạo giáo, nên c̣n gọi là Huyền Đàn Nguyên Soái (Huyền
Đàn có nghĩa là trai đàn, mang ư nghĩa hộ pháp). Ông
c̣n được coi là Vũ Tài Thần v́ thống lănh các
thuộc hạ là Chiêu Bảo Thiên Tôn, Nạp Trân Thiên Tôn,
Chiêu Tài Sứ Giả, và Lợi Thị Thiên Quan, được
gọi chung là Ngũ Lộ Tài Thần. Theo truyền thuyết,
ông là người sống trong núi Chung Nam, đă ở ẩn
trong núi từ đời Tần. Khi Trương Đạo
Lăng (sáng tổ Thiên Sư Giáo) tu hành tại Hạc Minh
Sơn, đă được Triệu Huyền Đàn thâu
làm đồ đệ, truyền thuật luyện đan,
và các loại bùa phép khác. Về sau, Trương Đạo
Lăng truyền đạo, lập ra Đạo giáo
(thường gọi là Chánh Nhất Đạo, hoặc
Thiên Sư Giáo, là một trong những phái Đạo giáo
đầu tiên). Triệu Huyền Đàn thường
được mô tả dưới diện mạo mặt
đen, râu dài, tay cầm roi sắt, cưỡi hắc hổ.
[51] Theo lề lối
thi cử thuở ấy, thí sinh phải nộp những quyển
giấy trắng đă đóng b́a theo đúng quy định,
trang đầu viết tên tuổi, quê quán v.v… Nhân viên
trường thi thu lấy, kiểm xem có đúng quy định
hay không, sau đó sẽ đóng dấu vào chỗ giáp trang.
Đến hôm thi, sẽ phát ra, trả lại cho thí sinh viết
bài thi vào đó. Trước khi nộp quyển thi, thí sinh
phải kiểm lại, ghi rơ những chữ nào đă sửa
v́ bị viết sai, thiếu nét, bao nhiêu chữ v́ phạm
húy mà viết bớt nét v.v… để khi giám khảo chấm
bài sẽ tŕnh lên chủ khảo, chứng minh bài thi ấy
do chính thí sinh viết, không có chuyện tráo bài hay ngụy tạo,
cũng như đảm bảo không có chuyện giám khảo
v́ cảm t́nh riêng mà sửa chữ trong bài văn. Quyển
thi phải lành lặn, không được rách b́a, sứt
trang, không được thiếu trang v.v…
[52] Thuở trước, bút lông dùng xong
thường nhúng nước cho sạch hết mực, rồi
treo lên giá bút cho ráo nước.
[53] Chỉ Sơn
là một quả núi thuộc huyện Trường Sa, tỉnh
Hồ Nam.
[54] Do khi xưa phụ nữ Trung Hoa bó chân,
nếu tháo vải bó chân ra, chân sẽ bị thốn đau
không đi lại được. Trước khi ngủ,
phải thay vải bó mới, rửa chân, ngâm hương liệu
cho khỏi hôi thối, bọc lại, dùng một loại
hài mềm riêng để dùng khi cần đi lại trong
nhà, khác với loại hài cứng, thêu thùa công phu dùng để
đi ra ngoài. Để giữ cho thân thể thơm tho, nữ
nhân cũng hay đeo những chiếc túi bằng lụa gấm,
thêu thùa cầu kỳ, đựng hương liệu. Ngay
cả nam giới thuộc các ḍng họ quyền quư cũng
hay đeo túi thơm ngang thắt lưng. Khi một cô gái có
t́nh ư với ai thường đích thân thêu túi thơm tặng
cho người ấy.
[55] Hội Chân Kư
c̣n gọi là Thôi Oanh Oanh Truyện, mô tả mối t́nh giữa
Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh. Theo bộ truyện đó,
Thôi Oanh Oanh do theo mẹ đưa quan tài của cha về quê, đă ở
nhờ dăy sương pḥng phía Tây chùa Phổ Cứu,
đă gian díu với Trương Quân Thụy, ăn nằm
với nhau trước khi cưới hỏi v.v… Đến
đời Nguyên, Vương Thực Phủ biên soạn
thành tuồng hát có tên là Tây Sương Kư.
[56] Do những buổi
thi kéo dài từ sáng đến tối, thí sinh phải dựng
lều trong khu vực trường thi, đến tối
được cấp đèn đuốc để tiếp
tục viết bài cho đến khi nghe trống chấm dứt
buổi thi và quyển thi được thu hồi.
[57] Nhạc Phủ
(樂府) là một loại
thơ, thuộc vào trong ba h́nh thức thơ cổ điển
của Trung Hoa (tức Cổ Thi, Cận Thể Thi, và Nhạc
Phủ). Nhạc Phủ vốn là loại thơ có thể
phổ nhạc để ca hát. V́ thế, sau này bất cứ
loại thi ca nào có thể phổ nhạc đều có thể
gọi là Nhạc Phủ. Nhạc Phủ là danh xưng từ
đời Tần để chỉ cơ quan quản lư âm
nhạc của triều đ́nh. Các triều đại sau
gọi cơ quan ấy là Nhạc Phủ Lệnh hoặc
Nhạc Phủ Thự. Điểm đặc sắc của
lối Nhạc Phủ là chịu ảnh hưởng các bài
thơ trong kinh Thi, chú trọng mô tả hiện thực, có
âm điệu du dương, văn tự uyển chuyển,
chú trọng miêu tả khắc họa và tự sự, dần
dần diễn biến thành nhiều loại như ca, hành,
ngâm, khúc, nhạc, lộng, tháo, dẫn v.v… Những tác phẩm
nổi tiếng như Lệ Nhân Hành, Binh Xa Hành của
Đỗ Phủ, Trường Hận Ca, Tỳ Bà Hành của
Bạch Cư Dị được coi là tiêu biểu cho lối
tân nhạc phủ.
[58] Tư văn (斯文) là từ ngữ
dùng để chỉ người có học thức, có sự
hàm dưỡng, lễ độ, biết tôn trọng
người khác. Hiểu theo nghĩa hẹp, từ ngữ
này được dùng để chỉ giới nho sĩ.
[59] Lưỡng Chiết
gọi đủ là Lưỡng Chiết Lộ, là một
đơn vị hành chánh từ thời Bắc Tống, dựa
theo danh xưng Chiết Đông Lộ và Chiết Tây Lộ
thời Đường. “Lộ”
(路) là một khu vực
hành chánh tương đương với tỉnh hiện
thời. Lưỡng Chiết bao gồm tỉnh Chiết
Giang hiện tại.
[60] Trong kết quả
thi Đ́nh, ba người đỗ đầu được
gọi là Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ, gồm Trạng
Nguyên, Bảng Nhăn và Thám Hoa, những người đỗ
kế đó được chia thành hai loại là Đệ
Nhị Giáp và Đệ Tam Giáp. Ông Hạng đỗ thứ
năm trong Nhị Giáp, tức là sau ba người trong
Đệ Nhất Giáp và bốn người trong Đệ
Nhị Giáp, cho nên đúng là đậu thứ tám.
[61] Đan Quế Tịch
chính là tên gọi chung những sách chú giải bài Văn
Xương Đế Quân Âm Chất Văn. Bài Âm Chất Văn
rất ngắn, nhưng sách chú giải đặc biệt
phong phú, do [bài văn ấy] có tác dụng khuyến thiện
rất mạnh, nên rất được Phật môn Trung
Hoa coi trọng. Sách chú giải nổi tiếng nhất là
Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn Quảng
Nghĩa. Sách này đă được ông Châu An Sĩ (Châu Mộng
Nhan) rút gọn, tạo thành quyển thứ nhất trong bộ
An Sĩ Toàn Thư. Mức độ nổi tiếng của
thiện thư này chẳng kém Thái Thượng Cảm Ứng
Thiên.
[62] Lư Bá Thời là
một họa gia nổi tiếng về tài vẽ ngựa
thời ấy. Ông say mê ngựa đến nỗi vẽ
đi, vẽ lại không chán. Lúc nào rảnh rỗi đều
ngắm nghía ngựa để t́m ra cách vẽ ấn tượng
nhất. Thiền sư Viên Thông Pháp Tú chùa Pháp Vân đă khuyên
can: “Ông luôn nghĩ đến
ngựa, chỉ sợ thân sau sẽ đọa lạc trong
bụng ngựa”.