Đại Phương Quảng Phật

Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một,

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 10

大方廣佛華嚴經

(十一)淨行品

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Địa điểm: Hương Cảng Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội

Khởi giảng từ ngày mồng Bảy tháng Mười Một năm 2005

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Minh Tiến

 

Tập 1481

 

          Chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, cuối đoạn thứ tư trong phần trường hàng c̣n có một câu chưa giảng xong. Chúng ta đọc kinh văn một lượt:

 

          (Kinh) Vân hà đắc nhân lực, dục lực, phương tiện lực, duyên lực, sở duyên lực, căn lực, quan sát lực, xa-ma-tha lực, tỳ-bát-xá-na lực, tư duy lực?

          ()何得因力。欲力。方便力。緣力。所緣力。根力。觀察力。奢摩他力。毘缽舍那力。思惟力。

          (Kinh: Làm thế nào để đắc nhân lực, dục lực, phương tiện lực, duyên lực, sở duyên lực, căn lực, quan sát lực, xa-ma-tha lực, tỳ-bát-xá-na lực, tư duy lực?)

 

          Trong buổi trước, chúng ta đă học đến đoạn thứ mười của phần khai thị trong bộ [Hoa Nghiêm Kinh] Sớ Sao của Thanh Lương đại sư:

 

          (Sớ) Thập tức thử Phổ Môn chi trí vi chủ, cố đốn chiếu Phổ Môn pháp giới thời, tất nhiếp nhất thiết vi bạn, vô tận vô tận, thị thử Hoa Nghiêm sở cầu Chỉ Quán.

          ()十即此普門之智為主,故頓照普門法界時,必攝一切為伴,無盡無盡,是此華嚴所求止觀。

          (Sớ: Mười là dùng trí Phổ Môn ấy làm chủ, cho nên khi nhanh chóng chiếu soi pháp giới Phổ Môn, ắt sẽ gồm thâu hết thảy làm bạn, vô tận, vô tận. Đấy chính là Chỉ Quán được mong cầu trong Hoa Nghiêm).

 

          Đoạn này hết sức trọng yếu, [Thanh Lương đại sư] đă chỉ ra pháp Chỉ Quán được nói trong kinh Hoa Nghiêm. Phạm vi của Chỉ Quán hết sức rộng lớn, Hoa Nghiêm dùng ǵ để Chỉ Quán? Chúng ta đọc bộ đại kinh này, [sẽ thấy] ở đây, ngài Thanh Lương cho chúng ta biết [cảnh giới Chỉ Quán] phát xuất từ câu thứ chín [trong lời Sớ]. Câu thứ chín đă viết: “Sự tắc trùng trùng vô tận, Chỉ Quán diệc phổ nhăn tề chiếu” (Sự là trùng trùng vô tận, Chỉ Quán cũng là phổ nhăn cùng chiếu). Kinh Hoa Nghiêm lấy chuyện này làm chủ; v́ thế nói “tức thử Phổ Môn chi trí vi chủ” (lấy ngay trí Phổ Môn này làm chủ). “Phổ” () là phổ biến, Môn () là pháp môn. Chúng ta thường gọi Phổ Môn là “vô lượng pháp môn”, nhưng nhất định phải hiểu, “vô lượng là một, một là vô lượng, một và nhiều chẳng hai”, đấy mới là trí, đấy mới gọi là Phổ Môn, dùng trí ấy làm chủ. Trí là Chỉ Quán, trong phần trước, chúng ta đă học: “Chỉ thật sự sẽ nhất định có Quán, Quán thật sự sẽ nhất định có Chỉ. Chỉ và Quán chẳng hai. Chỉ chính là Quán, Quán chính là Chỉ”. Đấy mới là chân thật. Nói thành hai phương diện, trên thực tế là một chuyện, [đó là] hai mặt của một Thể. Tu học Phật pháp, chúng ta nói “tu hành Phật pháp” là tu ǵ vậy? Hai chữ Chỉ Quán đă bao gồm trọn hết! V́ thế, Chỉ Quán thâu nhiếp viên măn hết thảy các pháp!

          Tôi cũng từng đặc biệt thưa tŕnh với mọi người, thầy dạy tôi, Ngài đă thay đổi danh từ, v́ khi ấy tôi mới học Phật, vừa mới tiếp xúc Phật giáo chưa đầy một tháng, điều ǵ cũng đều chẳng hiểu. Tôi hướng về lăo nhân gia thỉnh giáo, thưa: “Con biết Phật pháp tốt đẹp, Phật pháp thù thắng, có phương pháp ǵ khiến cho con có thể khế nhập rất nhanh hay không?” Hỏi vấn đề ấy đúng là lớn quá! Lăo nhân gia quả thật có phương tiện thiện xảo, Ngài dạy tôi: “Thấy thấu suốt, buông xuống”. Thấy thấu suốt là Quán, buông xuống là Chỉ, Ngài chẳng dùng [từ ngữ] Chỉ Quán. Nếu Ngài nói Chỉ Quán, sẽ khiến cho tôi hồ đồ! Ngài dùng chữ “thấy thấu suốt, buông xuống”, dường như tôi nghe cũng có thể hiểu ư nghĩa, cũng có thể tiếp nhận. Đấy là phương tiện thiện xảo. Dạy kẻ sơ học như thế nào? Thầy đă làm gương cho chúng tôi thấy, chẳng cần phải nói bằng những danh từ, thuật ngữ [chuyên biệt]! [Dùng] danh từ thuật ngữ [để giảng giải] th́ có nói cả buổi cũng chẳng nói rơ ràng được! V́ thế, đây là tổng cương lănh, tổng nguyên tắc tu hành trong Phật pháp, từ sơ phát tâm cho đến địa vị Như Lai, quư vị đều chẳng rời khỏi nguyên tắc này. Chỉ giúp đỡ Quán, [nghĩa là] thấy thấu suốt giúp buông xuống, buông xuống lại giúp thấy thấu suốt. Hai chuyện ấy lần lượt làm chủ và khách cho nhau, dùng làm Thể và Dụng cho nhau, giống như lên cầu thang, [trèo lên] từng tầng một đạt tới viên măn rốt ráo.

          Tôi cũng thường thưa tŕnh cùng các đồng học: Chúng ta buông xuống hết thảy chấp trước, chẳng c̣n chấp trước hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, sẽ là A La Hán. Buông xuống hết thảy phân biệt, đối với hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian đều không phân biệt, quư vị thấy tâm thanh tịnh lắm, thanh tịnh là trí. Tâm thanh tịnh khởi tác dụng, chiếu kiến cảnh giới bên ngoài; sự chiếu kiến ấy là Quán. Chỉ chính là Quán, Chỉ là Thể. Quán là Dụng của Chỉ. Quán là Thể, Chỉ là Dụng. Nhằm đảm bảo cảnh giới định tĩnh ấy nhất định được nâng cao hơn, phải Quán. Chẳng thấy thấu suốt, quư vị sẽ không buông xuống được! Đối với người thế gian, khi tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần hiện tiền, mọi người tranh nhau mong cầu, đoạt lấy. Chỉ có người thấy thấu suốt, người ấy thấy thấu suốt như thế nào? Người ấy biết thế gian này là giả, là rỗng không. “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng”, vạn pháp vô thường, người ấy đă thấy thấu suốt. Đă thấy thấu suốt, sẽ như thế nào? Người ấy chẳng tranh, chẳng c̣n chấp trước nữa. Thấy thấu suốt giúp buông xuống. Sau khi đă buông xuống, sẽ có năng lực giúp cho quư vị thấy thấu suốt thêm một tầng, tăng cao hơn!

          Thấy thấu suốt những ǵ? Thấy thấu suốt Dục Giới Thiên. Dục Giới gồm có sáu tầng trời, thù thắng hơn nhân gian của chúng ta quá nhiều. Mỗi tầng trời sau đều thù thắng hơn tầng trời trước! Tuy phước báo lớn, thọ mạng dài, vẫn chẳng ĺa khỏi sanh, lăo, bệnh, tử. Đó là thấy thấu suốt! Sau khi đă thấy thấu suốt, có c̣n hâm mộ Dục Giới Thiên hay không? Chẳng hâm mộ! Đối với thiên vương cũng chẳng hâm mộ. Đối với Ngọc Hoàng đại đế như người Hoa đă nói, cũng không hâm mộ. Vậy là đă tiến lên một “tầng lầu” cao hơn nữa, quư vị đă buông Dục Giới xuống. Đă buông Dục Giới xuống, Sắc Giới hiện tiền. Trong Sắc Giới Thiên chẳng có dục, chẳng có những thứ dục như tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê. Họ có sắc tướng, có sắc thân, nhưng chẳng có ăn uống, ngủ nghê, nam nữ, chẳng có những thứ ấy, thanh tịnh hơn Dục Giới nhiều lắm! Quan sát cẩn thận, sẽ thấy Sắc Giới có mười tám tầng trời, tuy chẳng có Khổ Khổ, vẫn c̣n có Hoại Khổ, vẫn chẳng phải là rốt ráo y như cũ! Chư thiên Dục Giới thấy những điều đó hết sức hâm mộ. V́ thế, sau khi đă thấy thấu suốt, có c̣n mong muốn mười tám tầng trời của Sắc Giới nữa không? Chẳng cần, buông xuống!

          Lại lên cao hơn nữa, sẽ là Vô Sắc Giới Thiên. Vô Sắc Giới Thiên ngay cả thân thể cũng chẳng cần. Lũ b́nh phàm chúng ta thường gọi [Vô Sắc Giới Thiên] là “linh giới” (spirit world), họ chẳng có nhục thể. Lăo Tử đă nói như thế này: “Ngô hữu đại họa, vi ngô hữu thân”, [nghĩa là] Ngài nói ta có mối lo âu rất lớn, là ǵ vậy? Ta có thân thể! Chẳng có thân thể, sẽ tốt hơn nhiều! Lăo Tử nghĩ như vậy. Xác thực là chư thiên trong Vô Sắc Giới Thiên chẳng cần thân thể. Thân thể là thứ thừa thăi, phiền toái; v́ thế, [Vô Sắc Giới] càng thanh tịnh hơn Sắc Giới, nhưng như thế nào? Chẳng có cách nào phá vô minh, chẳng có cách nào thoát khỏi lục đạo. Cảnh giới tuy tốt đẹp, thọ mạng lâu dài. Đức Phật bảo thọ mạng của Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên là tám vạn đại kiếp, chẳng có cách nào tính toán! Thế nhưng tám vạn đại kiếp tuy dài, vẫn là có số lượng, có lúc kết thúc hay không? Đương nhiên là có lúc kết thúc. Đă kết thúc th́ vẫn phải đọa lạc xuống dưới, v́ phía trên chẳng có ǵ nữa, chẳng thể tiến lên cao hơn nữa. Hiện tượng luân hồi mà! Do vậy, quư vị đă thấy thấu suốt th́ mới có thể buông xuống!

          Hiện tượng luân hồi là ǵ? Nguyên nhân căn bản là chấp trước. Chấp trước là không buông xuống được! Đối với lục đạo, chẳng buông xuống t́nh chấp ấy! Sau khi đă buông xuống, quư vị mới có thể vượt thoát lục đạo, chuyện này quan trọng hơn bất cứ điều ǵ khác! Khi nào sẽ buông xuống? Lúc nào cũng đều phải buông xuống, quư vị mới chẳng bị chướng ngại. Chẳng phải là nói “ta đến khi nào đó sẽ buông xuống”, chẳng thể được! Lúc nào cũng đều buông xuống, tâm địa sạch làu làu, thứ ǵ cũng đều chẳng có. Nếu chúng ta mong văng sanh thế giới Cực Lạc, trong tâm chỉ có A Di Đà Phật, chỉ có thế giới Cực Lạc, những thứ khác thảy đều chẳng có, vậy th́ mới được! Hễ quư vị có mảy may lưu luyến nào, sẽ chẳng thể văng sanh! Hễ có mảy may lưu luyến thế gian này, quư vị chẳng có cách nào thoát ĺa thế gian này; nhưng quư vị lại phải hiểu rơ: Trong thế gian này, thân người khó có! Hăy ngẫm đến chính ḿnh, trong một đời này, đạo đức làm người cơ bản ta có làm được hay không? Nói theo người Hoa, “cơ bản” sẽ là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; nói theo Phật pháp, sẽ là Ngũ Giới, Thập Thiện, quư vị có làm được hay không?

          Đối với Ngũ Giới, Thập Thiện, phải đạt tiêu chuẩn là sáu mươi điểm, đời sau mới có thể chẳng đánh mất thân người, [nghĩa là] lại sanh trong thế gian, chẳng bị mất thân người. Nếu chúng ta đối với Ngũ Giới, Thập Thiện chẳng đạt tới sáu mươi điểm, sẽ vào tam đồ, tức súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục! V́ thế, người thế gian thường nói “người đă chết sẽ làm quỷ”; người đă chết bèn thành quỷ, nói kiểu ấy không hợp lư! Người ta sau khi đă chết, đời sau có đến sáu chỗ để đầu thai, quỷ là một trong sáu nơi ấy, lẽ nào lại nói người đă chết đều vào quỷ đạo? Nói kiểu này chẳng suông! Nhưng nghĩ kỹ, câu nói ấy cũng chẳng phải là vô lư! Nghĩa là sao? Người ta sau khi đă chết, đúng là quá nửa đều vào quỷ đạo. Nghiệp nhân của quỷ là ǵ? Xan tham! Quư vị hăy ngẫm xem, trong thế gian hiện thời, cái tâm tham của chúng ta có nặng hay không? Cái này cũng muốn, cái kia cũng muốn, do như vậy nên cũng chẳng thể xả để tặng cho người khác. Do như vậy mà chẳng nỡ ḷng cúng dường! Xan tham mà! Xan tham là nghiệp nhân của ngạ quỷ đạo; v́ thế, ngạn ngữ có câu “người đă chết đều biến thành quỷ”, ngẫm ra cũng có lư! Trong thế gian này, có mấy ai như nay chúng ta đang nói, làm được Đệ Tử Quy, giữ được Ngũ Giới, Thập Thiện, quyết định chẳng đánh mất thân người? Đời sau, người ấy nhất định sanh trong cơi trời người, tuyệt đối chẳng đọa trong ba ác đạo. Chúng ta nghĩ xem: Trong xă hội hiện thời, có mấy ai làm được? Chẳng cần nghĩ tưởng ai khác, hăy quay lại xét chính ḿnh. Chính ḿnh có làm được hay không? Nếu bản thân ta chẳng làm được, quư vị phải có ḷng cảnh giác cao độ. Đời sau, quư vị sẽ có phần trong tam đồ, chẳng có phần trong nhân thiên! Điều này đáng sợ quá!

          Do vậy, bất nhân, bất nghĩa, vô lễ, ngu si, vọng ngữ lừa người, tôi nói những điều ấy là ǵ? Tương phản với Ngũ Thường! Trung Hoa thường nói đến “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Vô nhân, vô nghĩa, vô lễ, ngu muội (ngu muội là vô tri), lừa gạt người khác là vô tín, đấy là nghiệp nhân của tam đồ. Có người nói: “Nếu nay chúng ta nói nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, nhưng người khác đối với ta chẳng bận tâm [tuân thủ những điều ấy], chẳng phải là ta bị thua thiệt, bị lừa gạt ư?” Không sai! Quư vị không chịu bị thua thiệt, bị lừa gạt, vậy th́ đời sau quư vị sẽ vào trong tam ác đạo. Quư vị chịu bị thua thiệt, chịu bị lừa, đời sau sẽ chẳng đọa tam đồ. Hăy tính toán chuyện này cho kỹ, chớ nên sơ ư, chớ nên qua loa! Chuyện phải nên ngưng dứt th́ phải ngưng dứt, phải nên buông xuống. Chuyện đáng nên thông đạt, hiểu rơ, quư vị phải thấy rơ ràng, thấy minh bạch, đó là thấy thấu suốt, tức là Quán. Có Chỉ, có Quán!

          Đạt đến “phổ nhăn”, trong phần trước, tôi đă nói với chư vị, [“phổ nhăn”] là nói về bậc Địa Thượng Bồ Tát, chẳng phải là phàm nhân! Nói nghiêm ngặt, sẽ là từ Thất Địa trở lên, rất gần với quả vị rốt ráo, [đó là] phổ nhăn. Phổ Môn, “phổ nhăn tề chiếu”, [nghĩa là] đối với toàn thể vũ trụ và nhân sinh, chúng ta thường nói là hoàn toàn thấy thấu triệt “tánh, tướng, lư, sự, nhân, quả”, chẳng có mảy may sai lầm nào, th́ gọi là Đại Bồ Tát, chẳng phải là phàm nhân! Trong lục đạo, điều quan trọng nhất là nhân quả. Thiện nhân nhất định cảm thiện quả, ác nhân nhất định mắc ác báo, nhân quả báo ứng chẳng sai sót mảy may! Cổ nhân thường nói: “Bất thị bất báo, thời hầu vị đáo” (Chẳng phải là không báo ứng, chỉ là chưa đến lúc). Khi đă đến lúc, hối hận chẳng kịp đâu nhé! Hăy thừa dịp chưa đến lúc mà gấp rút quay đầu, đó là đúng! Chỉ cần một hơi thở chưa dứt, hăy triệt để quay đầu, sẽ được cứu. V́ thế, Chỉ Quán của Hoa Nghiêm có thể nói là Chỉ Quán đạt đến rốt ráo viên măn, lấy trí Phổ Môn làm chủ; đấy chính là trí huệ Bát Nhă vốn sẵn có trong tự tánh, tức là Căn Bản Trí, [hoặc c̣n gọi là] Thật Trí.

          “Cố đốn chiếu Phổ Môn pháp giới” (V́ thế, nhanh chóng chiếu soi pháp giới Phổ Môn). Chúng ta thường gọi “Phổ Môn pháp giới”“trọn khắp pháp giới hư không giới”. “Đốn chiếu”: Một chiếu, hết thảy đều chiếu, chẳng sót một thứ ǵ! “Tất nhiếp nhất thiết vi bạn” (Ắt đều gồm thâu hết thảy làm bạn). “Tất” () là nhất định. Nhiếp hết thảy các pháp môn làm bạn, Hoa Nghiêm là chủ, chủ và bạn chẳng hai! “Vô tận, vô tận”: Đấy là [cảnh giới] của Hoa Nghiêm Chỉ Quán, chúng ta có thể thấu hiểu câu này. Nói đến Chỉ Quán được mong cầu trong kinh Hoa Nghiêm th́ đấy chính là cảnh giới của bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo trở lên. Phần kinh văn chúng ta đang đọc hiện thời [chính là cảnh giới của] hàng Thập Tín Bồ Tát, c̣n chưa đạt đến [Sơ Trụ], nhưng đă mấp mé gần đến, tiến lên cao hơn một cấp, sẽ là Sơ Trụ trong Viên Giáo, sẽ khế nhập cảnh giới ấy, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Quư vị thấy đó, buông xuống Kiến Tư phiền năo, Kiến Tư phiền năo là chấp trước, buông xuống Trần Sa phiền năo, Trần Sa phiền năo là phân biệt, Vô Minh phiền năo cũng buông xuống, Vô Minh phiền năo là vọng tưởng, chẳng ở trong mười pháp giới, đă vượt thoát mười pháp giới. Vượt thoát mười pháp giới, sẽ là thế giới Hoa Tạng. Do vậy, chúng ta hiểu: Hàng Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo trở lên, sẽ đạt được Hoa Nghiêm Chỉ Quán.

          Tuy trong thế giới Hoa Tạng c̣n có bốn mươi mốt tầng cấp, chư vị hăy ngẫm xem: Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều buông xuống. Tôi nói “vọng tưởng” là khởi tâm động niệm. Nói cách khác, chẳng khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, không chấp trước, ở trong cảnh giới ấy, lấy đâu ra tầng cấp? Nếu c̣n có Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, nói cách khác, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước sẽ thảy đều trọn đủ, toàn bộ đều tồn tại, chính là như thế đó! Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đều hoàn toàn chẳng có, lấy đâu ra tầng cấp? Thật sự là chẳng có tầng cấp! Chẳng có tầng cấp, [thế mà] đức Phật dạy có tầng cấp, những tầng cấp ấy do đâu mà có? Do tập khí vô thỉ vô minh chẳng đoạn, [tức là hành nhân] chẳng có vô minh, đă buông xuống [vô minh], nhưng chưa đoạn tập khí. Đối với tập khí, trong phần trước, tôi [đă nói] cổ nhân dùng mùi của cái b́nh đựng rượu để tỷ dụ tập khí, tỷ dụ ấy dễ hiểu. Cần phải tốn một thời gian dài, tự nhiên [mùi rượu trong b́nh] chẳng c̣n nữa. Cổ nhân nói: Ở đây, vận dụng [các phương pháp trừ phiền năo], sẽ chẳng đắc lực. V́ sao? Chẳng thể khởi tâm động niệm. Khởi tâm động niệm, tức là vô minh dấy lên hiện hành. Căn bản là chẳng khởi tâm, không động niệm, thanh tịnh tịch diệt; đấy là chân trí. Do vậy, phép Quán của người ấy có thể quán Phổ Môn pháp giới, tức là trọn khắp pháp giới hư không giới. Lại c̣n là pháp giới trùng trùng vô tận, người ấy đều thấy rơ ràng, đều thấy minh bạch. Trọn khắp pháp giới hư không giới là một Thể, một pháp giới, cho nên mới gọi là Nhất Chân. Pháp giới mới gọi là Nhất Chân. Từ chỗ này, chúng ta sẽ lănh hội đôi chút, thấu hiểu ít phần. Chỗ khác biệt giữa Pháp Thân Bồ Tát và chúng ta là ǵ? Đă nói rơ ràng [ở đây]!

          Sau đó, c̣n có [lực] thứ mười, lực thứ mười là tư duy, tức “tư duy lực”.

 

          (Sớ) Tư duy giả, trù lượng ưng tác bất ưng tác cố.

          ()思惟者,籌量應作不應作故。

          (Sớ: Tư duy là suy tính có nên làm hay không nên làm).

 

          Nay chúng ta nói [tư duy] là “suy xét”. Quư vị suy nghĩ nhiều lẽ, nếu đều hiểu minh bạch, rơ ràng mọi thứ, chẳng thể nói là “hiểu rơ mười phần”, có những thứ chỉ hiểu được một, hai phần, quư vị hăy suy nghĩ: “Trong thế gian hiện thời, chuyện nào ta nên làm? Chuyện nào ta chẳng nên làm?” Chuyện chẳng nên làm, quyết định chớ nên làm nữa! Chuyện đáng nên làm, sẽ thực hiện tốt đẹp; đó là đúng. Đại Thừa Phật pháp có Thể và Dụng. Nói theo phía bản thân ta: Không ngừng nâng cao cảnh giới của chính ḿnh là chuyện nên làm. Chuyện gây chướng ngại khiến cho cảnh giới chẳng thể nâng cao chính là chuyện chớ nên làm; phải hiểu điều này! Đối với người khác mà nói: Giúp chúng sanh ĺa khổ được vui, đáng nên làm. Khiến cho chúng sanh v́ ta mà chịu khổ, đấy là chuyện chớ nên làm. Chúng ta phải thực hiện, phải thật sự hành! Ta thật sự tu hành, thật sự đúng lư, đúng pháp, tự nhiên sẽ gia tŕ người khác. [Nghĩa là] người khác trông thấy, sẽ sanh tâm hoan hỷ, tán thán, học tập theo quư vị; đấy là lợi tha. Do vậy, tự lợi là lợi tha, lợi tha là thật sự tự lợi, Tự và Tha chẳng hai. Biết chuyện ǵ đáng nên làm, chuyện ǵ đừng nên làm, chuyện này quan trọng hơn bất cứ chuyện ǵ khác!

          Thanh Lương đại sư nói mười câu này rất hay, cả mười câu đều nói là Lực. Những lực ấy có thể giúp chúng ta tăng trưởng đạo nghiệp, có thể giúp chúng ta nâng cao cảnh giới, mười loại lực mà! Đương nhiên, những ǵ kinh đă nói đều là nêu ra những trường hợp tiêu biểu. Hiểu rơ đạo lư này, [sẽ biết] phàm những lực nào giúp chúng ta tăng trưởng đạo nghiệp, chúng ta thảy đều phải làm. Đó là Tăng Thượng Duyên cho sự tu hành của chúng ta. Lại xem đoạn kinh văn thứ năm tiếp theo. Đoạn thứ năm nói về Thiện Xảo. Chúng ta đọc một đoạn kinh văn:

 

          (Kinh) Vân hà đắc Uẩn thiện xảo, Giới thiện xảo, Xứ thiện xảo, Duyên Khởi thiện xảo, Dục Giới thiện xảo, Sắc Giới thiện xảo, Vô Sắc Giới thiện xảo, Quá Khứ thiện xảo, Vị Lai thiện xảo, Hiện Tại thiện xảo?

          ()何得蘊善巧。界善巧。處善巧。緣起善巧。欲界善巧。色界善巧。無色界善巧。過去善巧。未來善巧。現在善巧。

          (Kinh: Làm thế nào để đắc Uẩn thiện xảo, Giới thiện xảo, Xứ thiện xảo, Duyên Khởi thiện xảo, Dục Giới thiện xảo, Sắc Giới thiện xảo, Vô Sắc Giới thiện xảo, Quá Khứ thiện xảo, Vị Lai thiện xảo, Hiện Tại thiện xảo?)

 

          Chúng ta xem phần Sớ của Thanh Lương đại sư, đây là đoạn thứ tư trong phần Biệt Thuyết.

 

          (Sớ)Đệ tứ ư pháp thiện xảo, giai ước lưu chuyển dĩ minh.

          () 第四於法善巧,皆約流轉以明。

          (Sớ: Thứ tư, thiện xảo đối với các pháp, đều dựa theo sự lưu chuyển để minh định [những ư nghĩa này])

 

          Đoạn này hoàn toàn nói về Sự, chẳng nói về Lư, mà hoàn toàn là luận định Sự! Mười câu này được chia thành ba đoạn, bốn câu đầu là “lưu chuyển chi Thể” (cái Thể của sự lưu chuyển). Chúng ta gọi “lưu chuyển” là luân hồi trong lục đạo, chẳng thoát ra được! V́ thế, những lời này nhằm chuyên nói với chúng sanh trong lục đạo, có thể nói như thế đó! “Uẩn, Giới, Xứ, Duyên Khởi” là Thể của sự lưu chuyển. Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới là nơi chốn để lưu chuyển, quư vị lưu chuyển tại nơi nào? Lưu chuyển trong tam giới, trong ṿng tam giới. Tam giới là lục đạo, chẳng thoát ra được. “Quá khứ, vị lai, hiện tại” là nói tới thời gian, “tam thế, lưu chuyển chi thời” (ba đời là thời gian lưu chuyển). Các nhà khoa học hiện đại khá thông minh, họ đă phát hiện thời gian và không gian chẳng thật. Dưới một điều kiện nào đó, không gian bằng zéro, chẳng có không gian! Dưới điều kiện nào đó, thời gian bằng zéro! Thời gian và không gian đều chẳng chân thật, từ ba ngàn năm trước, đức Phật đă nói rơ điều này!

          Sách giáo khoa sơ học nhập môn của Tướng Tông là Bách Pháp Minh Môn Luận. Trong tài liệu giảng dạy ấy, đức Phật đă nói về không gian và thời gian. Đức Phật chia hết thảy các pháp thành năm loại lớn:

          - Loại thứ nhất là tâm pháp.

          - Loại thứ hai là tâm sở pháp, tức là hiện tượng tâm lư, hoạt động tâm lư.

          - Loại thứ ba nói về sắc pháp. Sắc pháp là vật chất. Tâm và Tâm Sở đều chẳng phải là vật chất, chúng ta gọi chúng là tinh thần, c̣n sắc pháp là vật chất.

          - Thứ tư là nói đến Bất Tương Ứng Hành Pháp. Có một thứ như thế đấy, nó lại chẳng phải là tâm pháp, mà cũng chẳng phải là Tâm Sở Pháp. Nó cũng chẳng phải là sắc pháp, nhưng cũng chẳng có cách nào ĺa khỏi những pháp ấy. Nói theo cách hiện thời, loại này chính là những khái niệm trừu tượng, chẳng thật! Thật ra, [bách pháp] cũng đều chẳng thật, nhưng thứ này (Bất Tương Ưng Hành Pháp) quá giả!

          - Loại thứ năm là pháp vô vi. Chúng là thật, vĩnh hằng bất biến.

          Trong năm loại lớn ấy, không gian và thời gian đều thuộc loại Bất Tương Ứng Hành Pháp. Nói theo cách hiện thời, do đâu mà có thời gian và không gian? Do khái niệm trừu tượng, tuyệt đối chẳng là sự thật. Từ ba ngàn năm trước, Thích Ca Mâu Ni Phật đă dạy chuyện này, đến nay giới khoa học phát hiện.

          Các khoa học gia nói “dưới một loại điều kiện nào đó”, điều kiện ấy là ǵ? Trong Phật pháp, điều kiện ấy được gọi là Chỉ Quán, Chỉ Quán là Thiền Định. Bởi lẽ, danh từ Thiền Định là Phạn Hoa hợp dịch, gồm hai chữ. Thiền () tức là chữ phiên âm [rút gọn] của Thiền Na (Dhyāna). Định () là văn tự Trung Hoa. V́ trong Thiền Na quả thật có ư nghĩa Định trong tiếng Hán; do vậy, người phiên dịch đă dịch Thiền Na thành Thiền Định. Giải thích, Thiền Định là Tĩnh Lự, Tĩnh () là vắng lặng. Lự () có nghĩa là sự tĩnh chỉ ấy chẳng chết cứng, mà là sống động. V́ thế, nó có Quán. Nếu nói nó Tĩnh chẳng có Lự, hoặc có Chỉ mà chẳng có Quán, cảnh giới cao nhất sẽ là Vô Tưởng Thiên trong Tứ Thiền Thiên. Người ấy có Định, công phu định lực rất sâu, nhưng trong Định chẳng có quán chiếu. V́ thế, Định ấy là loại Định chết cứng, chẳng khởi tác dụng. Định ấy chẳng sanh trí huệ, Định ấy vĩnh viễn chẳng khai ngộ. Sai mất rồi! Phật pháp nói trong Định có cảnh giới, cảnh giới ấy là Quán.

          Những điều này đă được nói trong phần trước. Những điều đă nói trong phần trước, có phạm vi to lớn, “phổ nhăn tề chiếu”, “đốn chiếu Phổ Môn pháp giới”. Phạm vi này to lớn, hàng Bồ Tát minh tâm kiến tánh mới có thể làm được. Những kẻ tu hành trong tam giới chẳng đạt đến, chẳng có Định sâu như thế. Do đó, chẳng có năng lực Chiếu to lớn như vậy. Người đắc tiểu định sẽ có năng lực quán chiếu nhỏ, đại định sẽ có năng lực quán chiếu to hơn. Công phu Định, nói nghiêm ngặt, mỗi cá nhân khác biệt! Cùng là một người, nếu người ấy thật sự tu hành, mỗi năm sẽ khác hẳn, mỗi năm sẽ một sâu hơn, trí huệ mỗi năm một lớn hơn, người ấy hằng ngày có tiến bộ! Đức Phật chỉ v́ chúng ta nói khái lược. Nếu nói chi tiết, sẽ chẳng có cách nào nói được! Mỗi người mỗi khác! Ngay như mỗi cá nhân, mỗi năm đều khác nhau, mỗi tháng chẳng giống nhau. V́ thế, Tĩnh Lự hay Tịch Chiếu đều là dịch từ chữ Thiền Định. Tịch () là tịch diệt, tịch diệt là Chỉ; Chiếu () là chiếu kiến. Đấy là Quán.

          “Thiện xảo” (善巧) hoàn toàn nói theo Quán, thấy những hiện tượng trong vũ trụ, thời gian và không gian cũng hết sức thiện xảo. Thiện () là tốt, Xảo () là khéo! Chúng ta không xem phần kinh văn này, nhưng nếu chúng ta quan sát kỹ lưỡng thân thể con người, quư vị hăy nói xem, có phải là thiện xảo đến tột cùng hay chăng? Mắt có thể nh́n, tai có thể nghe, mũi có thể ngửi, lưỡi có thể nếm, thân có thể tiếp xúc, ư có thể biết. Quư vị thấy chuyện này, trên thực tế, trong ấy đều có! Đó là ǵ? “Uẩn thiện xảo”. Những điều tôi đă nói đều được bao gồm trong Uẩn. Uẩn chính là Ngũ Uẩn (Pañca Skandha), tức Sắc (Rūpa), Thọ (Vedanā), Tưởng (Saṃjñā), Hành (Saṃskāra), Thức (Vijñāna). Sắc là vật chất, nay chúng ta nói là Nhăn Căn, Nhĩ Căn, Tỵ Căn, Thiệt Căn, Thân Căn, Ư Căn. Ư Căn thuộc loại tâm pháp; năm căn trước đó, tức Nhăn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, đều là sắc pháp. Trong tâm pháp có Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Đó là Ngũ Uẩn. Quư vị quan sát, tư duy cẩn thận, chúng có phải là thiện xảo tột bậc hay không? “Xảo” () là xảo diệu. Có hai con mắt, hai con mắt th́ mới điều chỉnh tiêu cự (focal length); có [điều chỉnh] tiêu cự th́ mới hiển thị xa gần. Nếu chỉ có một con mắt, xa gần sẽ nh́n chẳng ra. Rơ rệt nhất là như khi chúng ta dùng máy chụp h́nh: Khi dùng một máy chụp h́nh, h́nh chụp sẽ là hai chiều. Nếu dùng hai máy chụp ảnh, điều chỉnh tiêu cự đúng mức, sẽ là h́nh lập thể (ba chiều, 3D). Ở Mỹ, tôi đă từng xem phim 3D, chẳng có ǵ khác, chỉ là hai máy chiếu phim đồng thời, khiến cho quư vị cảm nhận rơ ràng cảm giác lập thể! Uẩn thiện xảo đấy!

          “Giới thiện xảo”, Giới là mười tám giới. Sáu căn, sáu trần, sáu thức, đấy là mười tám giới. Sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư là sáu căn. Sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Trong sáu trần, pháp trần là đối tượng của ư căn. Sáu thức là [các thức nơi] mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư. Mười tám món gồm sáu căn, sáu trần, sáu thức ấy đă gồm thâu toàn thể vũ trụ. Toàn thể vũ trụ chẳng ra ngoài mười tám giới ấy. “Giới” () là “giới hạn, giới phần”, chẳng ra khỏi mười tám [giới hạn ấy]. Sáu căn, sáu thức nơi bản thân loài người chúng ta, đó là Căn Thân của chúng ta. Căn () là sắc thân, chúng ta gọi Thức là “tinh thần”. Cái thân của động vật là một hiện tượng do tinh thần và vật chất ḥa hợp như thế đó. Cảnh giới bên ngoài gồm có lục trần, tức sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đă bao gồm toàn thể vũ trụ. Nay đă hết thời gian rồi, hăy nghỉ ngơi mấy phút.

***

          Chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Chúng ta xem tiếp:

 

          (Kinh) Uẩn thiện xảo, Giới thiện xảo, Xứ thiện xảo.

          ()善巧。界善巧。處善巧。

          (Kinh: Uẩn thiện xảo, Giới thiện xảo, Xứ thiện xảo).

 

          “Xứ” (, Āyatana) là mười hai xứ (Dvadasayatanani). Trong kinh giáo, khi đức Phật khai thị cho đại chúng, đă dựa theo căn tánh bất đồng của chúng sanh. Nói theo kiểu hiện thời, tinh thần cùng vật chất được Phật pháp gọi là “sắc, tâm”. Sắc là vật chất, Tâm là tinh thần. Đối với kẻ mê Sắc nhẹ, mê tâm nặng nề, tức là đối với phương diện tinh thần, người ấy mê nặng nề, đối với phương diện vật chất, người ấy mê nhẹ hơn, đức Phật nói Ngũ Uẩn. Quư vị thấy Ngũ Uẩn, Sắc chỉ nói một điều, Tâm nói đến bốn điều, tức là Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Đấy là đức Phật thuyết pháp thiện xảo. Mười hai xứ [là để nói với kẻ] hoàn toàn tương phản với hạng người trước, kẻ đó mê tâm nhẹ, mê sắc nặng, tức là đối với phương diện vật tướng (物相, h́nh tướng của vạn vật) bèn mê rất nặng. V́ thế, đức Phật nói nhiều về sắc tướng. Trong Sắc, nói ra sáu trần, tức sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, nêu ra sáu loại trần. Đối với thân bèn nói năm căn. Năm căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, mười một điều ấy, tức là năm căn cộng với sáu trần, mười một món đều là sắc pháp, chỉ có ư căn là tâm. Như vậy là đối với tâm pháp chỉ nói một điều, sắc pháp nói mười một điều. Đấy là kẻ mê tâm pháp nhẹ, mê sắc pháp nặng, đức Phật liền nói theo cách ấy.

          Nếu đối với sắc và tâm đều mê rất nặng, đức Phật bèn nói mười tám giới (Astādaśa Dhātavah). Trong mười tám giới, tâm pháp được nói thành bảy món, sáu thức là tâm pháp, tức Nhăn Thức, Nhĩ Thức, Tỵ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ư Thức, sáu món, đấy là tâm pháp. Trong lục căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, năm căn ấy là sắc pháp, ư căn là tâm pháp. Do vậy, trong mười tám giới, tâm pháp nói ra bảy món, sắc pháp nói ra mười một món, gộp chung lại là mười tám món. Đấy là đức Phật thuyết pháp thiện xảo, cho nên có ba cách thuyết pháp là Uẩn, Xứ, Giới. Ba cách thuyết pháp ấy mở rộng ra sẽ là toàn thể vũ trụ, quư vị hăy cẩn thận quan sát, chẳng có ǵ không thiện xảo!  

          Chúng ta xem con người. Con người được sanh ra, như trong hiện thời, dùng khoa học kỹ thuật để tạo ra con người, tạo kiểu nào cũng chẳng tạo được! Thiện xảo mà! Quư vị lại xem các tiểu động vật. Quư vị thấy trứng gà nở ra một con gà con. Con gà con vừa được sanh ra, quư vị hăy quan sát nó cẩn thận. Chúng ta dùng khoa học kỹ thuật tạo ra con gà con, có thể tạo ra một quả trứng nở ra gà giống như vậy, tinh xảo dường ấy hay không? Vũ trụ tạo ra vạn vật, thiện xảo đến tột cùng. Để h́nh dung chuyện ấy, bọn phàm phu chúng ta chỉ đành dùng bốn chữ “chẳng thể nghĩ bàn”. Chúng ta thấy muôn h́nh muôn vẻ trong vũ trụ, v́ sao có thể thiện xảo dường ấy? Do vậy, các tôn giáo đều nói những thứ ấy do thần tạo ra, chẳng phải do con người làm ra, mà là do thần tạo ra. Nhưng [cách nói ấy] lại có vấn đề: Thần tạo ra vạn vật, ai tạo ra thần? [Nếu bảo] “thần không do ai tạo”, nói kiểu ấy chẳng suông! Thần không do ai tạo mà có, vậy th́ vạn vật chẳng bắt buộc phải do thần tạo ra, mà cũng có thể tự ḿnh có. Mâu thuẫn trong cách nói này hết sức nhiều! Chúng ta thấy đức Phật giải thích như thế nào? Đức Phật nói tới duyên khởi, vạn pháp do nhân duyên sanh. Duyên hết sức phức tạp; nay chúng ta miễn cưỡng gọi Duyên là “điều kiện”. Nó phải trọn đủ khá nhiều điều kiện, hiện tượng do vậy sẽ phát sanh. Các điều kiện ấy nếu thiếu một, hai điều, hiện tượng sẽ chẳng thể phát sanh. V́ thế, đức Phật giải thích hiện tượng vạn hữu trong vũ trụ bằng “nhân, duyên, quả”, nói đến ba điều; nhưng Ngài chẳng nói đến nhân mà nói về duyên!

          Cái nhân của y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, chính là các chủng tử nghiệp tập được chứa đựng trong A Lại Da Thức, gần như hết thảy chúng sanh thảy đều có. Do vậy, trong A Lại Da Thức của mỗi người, cũng là trong nội tâm của quư vị, có chủng tử Phật, có chủng tử Bồ Tát, có chủng tử Thanh Văn, [chủng tử] Duyên Giác, có chủng tử trời, có chủng tử người, mà cũng có chủng tử ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, thảy đều trọn đủ. Trong tâm thảy đều trọn đủ! Chủng tử nào sẽ dấy lên hiện hành? Phải nhờ vào duyên. Chủng tử chẳng có duyên, nó sẽ không thể dấy lên hiện hành, cũng có nghĩa là nó sẽ không thể hiện tướng, nhất định phải cậy vào duyên. V́ lẽ này, Phật pháp nói “duyên sanh”, chẳng nói “nhân sanh”, [luôn luôn] nói là “duyên sanh”.

          Bốn pháp duyên sanh là Thân Nhân Duyên, Sở Duyên Duyên, Vô Gián Duyên, và Tăng Thượng Duyên. Đấy là nói đại lược. Đức Phật quy nạp vô lượng nhân duyên thành bốn loại lớn. Trong bốn loại lớn ấy, ba loại lớn đầu tiên bản thân chúng ta đều có, chỉ có một loại Tăng Thượng Duyên là ở ngoài, là trợ duyên bên ngoài, c̣n ba thứ kia chính bản thân ta đều trọn đủ.

          Sở Duyên Duyên là những ǵ chúng ta mong mỏi. Chúng ta mong mỏi chủng tử nào sẽ dấy lên hiện hành; đấy là Sở Duyên Duyên. Trong kinh giáo, đức Phật thường diễn tả điều này bằng câu: “Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”. Sở Duyên Duyên là tâm tưởng. Thật sự là chủng tử của mười pháp giới chúng ta đều có. Nay chúng ta đang tâm tâm niệm niệm mong muốn điều ǵ? Mong sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới làm Phật, ư niệm ấy chính là Sở Duyên Duyên. Sở Duyên Duyên thù thắng, thù thắng khôn sánh! Quư vị chẳng nghĩ ǵ khác, mong làm Phật. Vậy th́ v́ sao rất nhiều người niệm Phật chẳng thể văng sanh? Tâm niệm của họ chẳng chuyên! Tuy tưởng Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhưng vẫn nghĩ tới tiếng tăm, lợi dưỡng, vẫn nghĩ tưởng ngũ dục, lục trần, vậy là chẳng có cách nào hết! Tâm tưởng của họ chẳng thuần, tạp loạn. V́ thế, người ấy chẳng thể văng sanh được! Đạo lư ở chỗ này.

          Do vậy, kinh Vô Lượng Thọ đă dạy: “Phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”, sẽ thành công. Phát Bồ Đề tâm, một mực chuyên niệm, thưa cùng chư vị, đều thuộc loại Sở Duyên Duyên. Một mực chuyên niệm cũng là Vô Gián Duyên. Quư vị chẳng thể gián đoạn chuyện này. Gián đoạn sẽ không được, niệm tại đâu, nghĩ tại đó. Quư vị chớ nên thay đổi ư niệm. Ư niệm thay đổi, nhất niệm sẽ bị gián đoạn. Do vậy, chúng ta quan sát cẩn thận, quan sát chính ḿnh, quan sát người khác, [sẽ thấy] nguyên nhân khiến cho công phu niệm Phật chẳng đắc lực, chẳng thể thành tựu là ở chỗ nào? Tạp niệm quá nhiều! Kẻ ấy chẳng phải là chuyên niệm, chẳng phải là nhất tâm, mà là loạn tâm, quá nhiều vọng niệm! Vọng niệm, tạp niệm, làm sao có thể thành công cho được? Há có lẽ ấy! Nếu nhất tâm chuyên niệm, sẽ thành công.

          Niệm niệm chẳng quên, đấy là chuyên niệm. Nói thật thà, chẳng cần một thời gian rất dài, ba năm hoặc năm năm. Thông thường, phần lớn là ba năm, tối đa là năm năm, quư vị sẽ thành công. Sau khi đă niệm thành công, văng sanh tự tại, quư vị muốn văng sanh, sẽ thật sự văng sanh. Chẳng muốn trụ trong thế gian này, đi sớm một chút, dẫu có thọ mạng mà chẳng cần đến, quư vị có công phu này. Có công phu này, vẫn ở trong thế gian thêm mấy năm nữa, đó là ǵ? Đó là v́ có duyên phận. “Duyên phận” là trong thế gian này c̣n có khá nhiều người có thể tiếp nhận sự giáo huấn, tiếp nhận sự khuyên dạy của quư vị, họ chịu nghe theo. Người khác khuyên họ niệm Phật, họ không tin tưởng, quư vị có duyên với họ. Vậy th́ quư vị do giúp đỡ kẻ hữu duyên, bèn trụ trong thế gian này thêm mấy năm nữa. Cái hay là quư vị thật sự đắc công phu thành phiến, chưa phải là nhất tâm. Hễ công phu thành phiến, sanh tử bèn tự tại.

          Khi nào muốn ra đi, bèn ra đi lúc ấy; muốn trụ thêm mấy năm nữa cũng được, chẳng trở ngại. Đó gọi là “sanh tử tự tại”. Đối với thế gian này, xác thực là chẳng nhiễm mảy trần. Đối với những thứ tốt đẹp kiểu nào đi nữa, chẳng hề tham luyến, chẳng động niệm. Đối với những thứ chẳng tốt đẹp đến mấy đi nữa, cũng sẽ chẳng dấy lên ác niệm, chẳng có sân khuể. Nói cách khác, lục căn tiếp xúc hết thảy người, sự, vật, xác thực là chẳng dấy lên tham, sân, si, mạn, nghi, những điều ấy đều gọi là vọng niệm, chẳng khởi lên những thứ ấy! Ư niệm ấy là ǵ? Xác thực là Chỉ Quán như vừa mới nói trong phần trước! Không khởi tâm động niệm là Chỉ, hiểu rành mạch, rơ ràng, minh bạch là Quán. Quán là Huệ, có Định và Huệ. Định là không khởi tâm, không động niệm, chẳng có chuyện ǵ không hiểu rơ ràng, không hiểu rành rẽ, Quán đấy! Có Chỉ, có Quán.

          Trong một đời, chúng ta phải đổ công dốc sức, thật sự đổ công dốc sức ở chỗ này, công phu có thể đắc lực, tức là quư vị thật sự có thể buông xuống. Quư vị thật sự mong công phu đắc lực, nhưng lại không buông xuống được, vậy là không có cách chi hết! V́ sao bao nhiêu người công phu không đắc lực? Do chẳng buông xuống cảnh duyên. “Cảnh” () là nói đến vật chất, “duyên” () là nói tới nhân sự. Quư vị c̣n có người thân ái, hoặc người ưa thích không buông được. Đấy là “duyên”. Quư vị c̣n có tài sản, c̣n có tiếng tăm, lợi dưỡng không buông xuống được. Đấy là vật chất, thuộc về cảnh giới. Thảy đều phải buông xuống! Không chỉ là nhân gian phải buông xuống, mà cảnh giới trên cơi trời tốt đẹp ngần ấy cũng đều phải buông xuống. Nếu quư vị chẳng buông xuống được, sẽ như thế nào? Không buông xuống được, trong tương lai sẽ sanh lên trời, chẳng đến thế giới Cực Lạc được!

          Vô Trước, Thiên Thân, và Sư Tử Giác là ba anh em học Phật, công phu đều khá lắm. Các Ngài tu Duy Tâm Thức Định, tu đến mức độ khá lắm. Sư Tử Giác văng sanh trước, các Ngài cầu sanh về Di Lặc Tịnh Độ trong Đâu Suất Thiên. Ba người ước định, người nào đi trước, đến đó, phải nhanh chóng trở về báo tin. Sau khi Sư Tử Giác văng sanh, từ đầu tới cuối chẳng trở về, chẳng có tin tức chi hết! Sau đấy, Vô Trước Bồ Tát cũng văng sanh, sau khi sanh lên Đâu Suất Thiên, ngay lập tức quay về, báo với Thiên Thân Bồ Tát. Thiên Thân Bồ Tát hỏi: “V́ sao ba năm anh mới trở lại báo tin?” Ngài nói: “Ta gặp mặt Di Lặc Bồ Tát, ngay lập tức trở về. Cơi trời và nhân gian thời gian sai khác rất lớn. Một ngày trong Đâu Suất Thiên là bốn trăm năm trong nhân gian” Quư vị nghĩ xem, ba năm, người ta ở trên đó vừa gặp mặt liền quay về ngay, đă mất ba năm! Một ngày trên đó là bốn trăm năm trong nhân gian. Thiên Thân bèn hỏi: “Sư Tử Giác th́ sao?” Vô Trước nói Sư Tử Giác đă tới tầng trời thứ tư của Dục Giới là Đâu Suất Thiên. Đâu Suất Thiên có ngoại viện, những thiên nữ ở ngoại viện rất đẹp, [Sư Tử Giác] bị thiên nữ mê hoặc, hiện thời c̣n chưa đến nội viện! Hăy nghĩ phước báo trên cơi trời nhân gian chẳng thể sánh bằng, gặp cảnh giới ấy, quư vị có thể bỏ được hay không? Quư vị có thể buông xuống hay không? Có thể thấy thấu suốt hay không? V́ lẽ ấy, lục đạo rất khó vượt thoát. Chuyện này cũng khó trách đức Phật dạy đệ tử, “lấy giới làm thầy, lấy khổ làm thầy”, có đạo lư đấy!

          Chớ nên tham cầu hưởng thụ. Tập khí tham cầu hưởng thụ rất nặng, thuận cảnh thiện duyên hiện tiền, ngay lập tức quư vị đọa lạc. Phải bỏ, trong lúc b́nh thường phải bỏ, càng bỏ sạch càng hay! V́ sao? Chẳng có vướng mắc! Đối với chuyện này, nói “bỏ” nghĩa là trong tâm không chấp trước, thật sự buông xuống. Nhưng có cần phải buông xuống nơi Sự hay không? Sự có thể ảnh hưởng đến cái tâm của quư vị; v́ thế, đức Phật dạy kẻ sơ học phải buông xuống từ Sự. C̣n như người tu hành trong tứ thánh pháp giới, do đă vượt thoát lục đạo luân hồi, có buông xuống nơi Sự hay không, chẳng sao cả! Tâm họ đă thanh tịnh, quyết định chẳng có tham nhiễm. [Nếu] họ có tham nhiễm, sẽ không thoát khỏi lục đạo. A La Hán thoát khỏi lục đạo, [tức là] trong Kiến Tư phiền năo, [các Ngài] chẳng có năm Lợi Sử, mà năm Độn Sử[1] cũng chẳng có. Kiến Tư phiền năo bao gồm Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Thủ Kiến, Tà Kiến, [những kiến chấp ấy] đều chẳng có, tham, sân, si, mạn, nghi chẳng có, thảy đều đoạn hết sạch, sẽ chứng quả A La Hán. Có Sự hay không, chẳng liên quan chi hết, chẳng tiêm nhiễm mảy may nào! Người ấy thật sự thấy thấu suốt.

          Phàm phu không được! Quư vị thấy sắc nghe tiếng bèn khởi tâm động niệm, hỏng mất rồi! Khi ấy, làm như thế nào? Giống như chúng ta cũng mong cầu đới nghiệp văng sanh, hăy tận hết sức tránh né, tận hết sức trừ bỏ, ĺa khỏi cảnh duyên. Đấy là hợp lư! Quư vị công phu chẳng đủ, chẳng thấy thấu suốt, chỉ đành dùng phương pháp này. Sử dụng phương pháp này lâu dài, sẽ dần dần trở thành thói quen, rất có hiệu quả; khi lâm chung, niệm Phật chẳng nẩy sanh chướng ngại. Phải hiểu [điều này]! Do vậy, đối với kinh này, trong các phần trước, tôi đă tŕnh bày cùng quư vị: Kinh chẳng thể không nghe, chẳng thể không đọc, chẳng thể không niệm Phật, chẳng thể không tŕ giới, chẳng thể không tu phước, chẳng thể không cầu sanh Tịnh Độ. Như vậy th́ mới có thể bảo đảm chúng ta văng sanh Tịnh Độ trong một đời này. Kẻ mới học, người tu lâu, đều phải thời thời khắc khắc nhắc nhở chính ḿnh.

 

          (Kinh) Duyên khởi thiện xảo.

          ()起善巧。

          (Kinh: Duyên khởi thiện xảo).

         

          Trong một phẩm thuộc phần trước, chương thứ nhất là “duyên khởi thậm thâm” (duyên khởi rất sâu), Thanh Lương đại sư đă chú giải: “Duyên khởi, Lục Địa quảng minh”, nghĩa là đến phần sau, trong phẩm Thập Địa, nơi chương Lục Địa, sẽ nói rất cặn kẽ [về duyên khởi]. Trong phần trước, chúng ta đă thấy duyên khởi quá sâu. Bốn câu “Uẩn, Xứ, Giới, Duyên Khởi” chính là Thể của sự lưu chuyển. Xác thực là ai đang lưu chuyển luân hồi trong lục đạo? Bốn điều ấy đều có dính líu! Ngũ Uẩn, mười tám giới, mười hai xứ, “duyên khởi” (Pratītya Samutpāda) có thể nói là Thập Nhị Nhân Duyên (Dvādaśanidāna). Trong Thập Nhị Nhân Duyên, có quá khứ, hiện tại, vị lai, mười hai nhân duyên trong ba đời!      Chúng tôi giới thiệu đơn giản đôi chút về danh từ Thập Nhị Nhân Duyên. Thứ nhất là Vô Minh (Avidyā), thứ hai là Hành (Saṃskāra), thứ ba là Thức (Vijñāna), thứ tư là Danh Sắc (Nāmarūpa), thứ năm là Lục Nhập (Ṣaḍāyatana), thứ sáu là Xúc (Sparśa), thứ bảy là Thọ (Vedanā), thứ tám là Ái (Tṛṣṇā), thứ chín là Thủ (Upādāna), thứ mười là Hữu (Bhava), thứ mười một là Sanh (Jāti), thứ mười hai là Lăo Tử (Jarāmaraṇa), mười hai danh tướng ấy. Vô Minh ở đây chẳng phải là Căn Bản Vô Minh, trong kinh luận, đức Phật bảo: Đấy chính là Chi Mạt Vô Minh. Vô Minh [trong Thập Nhị Nhân Duyên] là Chi Mạt Vô Minh, chẳng phải là Căn Bản Vô Minh (Mūlāvidyā). Vô Minh duyên Hành, Vô Minh ở đây là tập khí phiền năo, là chủng tử trong A Lại Da Thức. Chủng tử gặp duyên, duyên là ǵ? Duyên là hạnh nghiệp. Gặp duyên, người ấy sẽ đầu thai, Thức bèn đầu thai. V́ thế, Vô Minh và Hành là cái nhân trong đời quá khứ, từ Thức đến Thọ là quả báo trong đời này. Trong Phật pháp, có Dẫn Nghiệp và Măn Nghiệp. Hành chính là Dẫn Nghiệp, dẫn dắt quư vị đi đầu thai.

          Đầu thai cũng phải có điều kiện, chẳng phải là vô điều kiện. Con cái và cha mẹ có bốn loại duyên, đức Phật dạy điều này! Nếu chẳng có cái duyên ấy, nó sẽ chẳng thể đầu thai vào nhà quư vị:

          1) Loại thứ nhất là báo ân. Trong quá khứ, quư vị có ân đối với nó, nó hết sức cảm ơn, sẽ đầu thai làm con cái trong nhà quư vị. Đứa con ấy từ bé cũng rất ngoan ngoăn, hiếu tử hiền tôn (con hiếu, cháu hiền). Do có cái nhân từ đời quá khứ, đấy là báo ân.

          2) Thứ hai là báo oán. Trong đời quá khứ, quư vị quá trớn đối với nó, có cừu oán, oán hận, đời này nó đến báo cừu. Nó sẽ là đứa con ngỗ nghịch, bất hiếu, bại hoại gia đ́nh, có thể khiến cho quư vị tan cửa nát nhà, đến báo cừu mà!      

          3) Loại thứ ba là trả nợ. Trong đời quá khứ, quư vị đă bố thí cho nó rất nhiều, hoặc là nó thiếu nợ quư vị rất nhiều. Đời này gặp gỡ, nó c̣n có phước báo, bèn đến để trả nợ. Như vậy th́ con cháu sẽ cung phụng quư vị về mặt vật chất chẳng thiếu thốn, tuy chẳng có hiếu tâm, chẳng có ḷng cung kính đối với cha mẹ, nhưng sẽ chiếu cố đời sống của cha mẹ. Lại c̣n tùy thuộc vào nợ nhiều hay ít. Nếu thiếu nhiều, nó sẽ trả nhiều, cuộc sống vật chất của quư vị rất sung túc. Nếu thiếu nợ ít, nó sẽ trả ít, miễn cưỡng làm cho quư vị có thể sống qua ngày, quư vị chẳng được dư dả chi cả!

          4) Lại c̣n có một loại là đ̣i nợ, tức là cha mẹ thiếu nợ nó. Thiếu nợ ít, đại khái là trẻ sanh ra, sống đến ba bốn tuổi bèn chết ngắc, nó bỏ đi. Thiếu nợ nhiều, mười mấy tuổi, hai mươi tuổi mới chết, nó đă ra đi. Quư vị vun quén cho nó học hành, học đến khi tốt nghiệp đại học, chết ngắc, [cha mẹ] tốn không ít tâm huyết, hao tốn chẳng ít tiền. Đ̣i nợ đấy mà!

          Bốn thứ duyên đấy nhé! Chẳng có bốn loại duyên ấy, sẽ chẳng sanh vào nhà đó!

          V́ thế, hiện thời, chúng tôi thấy rất nhiều người làm cha mẹ than với tôi trẻ nhỏ khó dạy. Do nguyên nhân nào? Đại khái đều là do báo oán, đều là do đ̣i nợ. V́ thế, chính ḿnh phải suy nghĩ, quư vị có phải là ưa thích bố thí, thích cúng dường, thích giúp đỡ những người khổ sở, khó khăn hay không? Quư vị bố thí ân đức, vậy th́ con cái quư vị sẽ tốt đẹp, đều đến để báo ân, đều đến để trả nợ, chẳng phải là báo oán, chẳng nhằm đ̣i nợ. Làm sao chẳng tốt đẹp cho được? Nếu khởi tâm động niệm đều là ích kỷ, luôn mang ư niệm tổn người, lợi ḿnh, thôi rồi! Trong tương lai, con cháu của quư vị toàn là đến đ̣i nợ, hoặc đến báo oán, chuyện này phiền toái to lớn!

          Một người trong một đời, bất luận là ai, những chuyện gặp gỡ suốt một đời trong thế gian này đều có mối quan hệ nhân quả báo ứng với đời trước. Nếu quư vị hiểu rơ ràng, sẽ chẳng oán trời, sẽ chẳng hờn người. V́ sao? Tự làm tự chịu, quư vị có thể trách ai được chớ? Đức Phật đă giảng những chuyện này quá rơ ràng. Người một nhà, con hiếu, cháu hiền, chẳng phải là chuyện dễ! Trong đời quá khứ, đă bố thí ân đức, làm lành tích đức; do vậy, người ấy mới có quả báo tốt lành đó. Phàm là những kẻ ích kỷ, tổn người, lợi ḿnh, tuyệt đối chẳng có con cháu tốt đẹp! Chư vị hăy xem xét kỹ càng lịch sử Trung Hoa và ngoại quốc, rồi quư vị lại nh́n kỹ xă hội hiện thời, xem xét những ḍng họ quư tộc đầy quyền thế, hăy xem con cháu họ có thể hưng vượng mấy đời? Hai đời là đă khá lắm rồi, chẳng hề có ba đời đâu nhé! Do đạo lư nào? Quư vị học nhiều Phật pháp sẽ hiểu rơ, chẳng cần phải hỏi ai khác!

          V́ thế, Vô Minh (無明) và Hành () là chủng tử của nghiệp tập đời trước, đời này gặp duyên, tức là quư vị và cha mẹ có bốn loại duyên ấy, sẽ đầu thai vào nhà họ. Đầu thai là Thức, người Hoa gọi Thức là “linh hồn”, nó đến [đầu thai].

          Kế đó là Danh Sắc (名色). Đại khái, Danh Sắc là thọ mạng trong một, hai tuần. Nó chỉ là một khối thịt, gọi bằng ǵ cũng đều không được, cho nên gọi nó là Danh Sắc. “Danh” là nói tới tinh thần, “Sắc” là nói về vật chất. Nó là tinh thần và vật chất hỗn hợp trong cùng một khối thịt.

          Danh từ kế tiếp là Lục Nhập (六入). Lục Nhập là thai nhi đă thành h́nh người, có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Nó có h́nh dáng giống như một người, nhưng chưa thể gọi là người, bèn gọi là Lục Nhập.

          Măi cho đến khi nó sanh ra, khi sanh ra bèn gọi là Xúc (). Nó tiếp xúc cảnh giới bên ngoài, thoát khỏi thân mẹ bèn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài. Xúc là từ sanh ra cho đến già chết, hằng ngày quư vị luôn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài.

          Thọ () là quư vị cảm nhận. Cảm nhận khổ, lạc, ưu, hỷ, xả.

          Đấy là năm thứ quả báo trong đời hiện tại, tức Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ. Ba thứ đầu trong năm loại này là khi đang ở trong thai, khi c̣n đang ở trong thai mười tháng. Sanh ra th́ gọi là Xúc, bèn có Thọ. Do vậy, Xúc và Thọ là suốt đời cho đến khi già, chết. Đó là quả! Thọ khổ, thọ lạc, lục căn tiếp xúc khổ, lạc, ưu, hỷ, xả, trong Phật pháp gọi những điều này là Măn Nghiệp, tức là những quả báo đạt được trong đời này từ những việc hành thiện, tạo ác trong đời trước.

          Trong đời hiện tại, ngoài việc hứng chịu quả báo ra, kẻ ấy sẽ c̣n tạo tác. Tạo tác dẫu nhiều, đức Phật đă quy nạp chúng thành ba điều, tức là ba chi trong hiện tại, là ǵ vậy? Chính là nghiệp nhân cho đời sau. Điều thứ nhất là Ái (). Ái là Vô Minh, Ái là phiền năo. Ư nghĩa này là hiểu theo nghĩa rộng. Người mà ta ưa thích thường mong mỏi ở chung một chỗ. Kẻ ta chẳng ưa, hy vọng hắn sẽ xa ĺa ta. [Những điều ấy] đều dùng chữ này (Ái) để biểu thị. Do vậy, hàm nghĩa (ư nghĩa được bao hàm) trong chữ này rất rộng, rất sâu.

          Ái là một ư niệm. Hễ có ư niệm ấy, kẻ đó sẽ mong đạt được. V́ thế, [chi nhân duyên] tiếp theo gọi là Thủ (), tức là đạt được. “Thủ” ở đây hiểu theo nghĩa rộng, [có ư nghĩa] ham thích, mong mỏi ta sẽ đạt được; đối với thứ ta chẳng ưa thích, mong mỏi sẽ xa ĺa. Những điều ấy đều thuộc về Thủ, dùng chữ này để biểu thị. Chúng ta chia hết thảy cảnh duyên bên ngoài, “cảnh” () là hoàn cảnh vật chất, “duyên” () là hoàn cảnh nhân sự, thành hai loại lớn: Một là yêu, hai là ghét, tức là chán ghét nó. Chia thành hai loại lớn ấy! Do vậy, Ái có hai loại lớn, Thủ cũng có hai loại lớn. Ưa thích th́ mong mỏi đạt được, chẳng ưa thích th́ mong mỏi vứt bỏ, đều thuộc về Thủ. Tạo tác đấy nhé! Hiện thời đang tạo tác. Do tạo tác, trong A Lại Da Thức của quư vị lại có chủng tử. Hễ có chủng tử thiện ác, bèn có một cái Hữu (). Chủng tử thiện ác ấy chính là Vô Minh và Hành trong đời sau. Hiện tại gọi nó là Hữu, đời sau gọi nó là Vô Minh và Hành. V́ thế, đời sau, quư vị sẽ lại đi đầu thai!

          Hai chi trong vị lai, tức là đời sau quư vị lại có Sanh. Hễ có Sanh bèn có già chết. “Sanh” là không nhất định thọ sanh vào một đường nào trong lục đạo. Bất luận ở trong đường nào, đều có lăo, đều có tử. Đức Phật nói mười hai chữ, mười hai danh từ, chỉ rơ nhân quả ba đời, chúng ta chớ nên không biết chuyện này! Nếu quư vị biết đạo lư này, dẫu trong đời này có rất nhiều chuyện chẳng như ư, ta hiểu đấy là ǵ? Chính là trong đời quá khứ, ta đă tạo tác hết thảy quả báo bất thiện! Đă hiểu, ta sẽ sửa lỗi, đổi mới, nhất định sẽ đoạn ác tu thiện trong một đời này. Như vậy th́ sẽ có thể biến đổi quả báo trong một đời này!

          Gần đây, có không ít đồng học đă quay Liễu Phàm Tứ Huấn thành phim bộ nhiều tập. Quay phim sớm nhất là Mă Lai, phim chỉ có hai tập, dài hai tiếng đồng hồ, cũng khá hay khéo, tôi đă xem rồi. Sau này, tại Bắc Kinh, chúng tôi đă một lần cho quay phim dài sáu tiếng. Trong sáu tiếng ấy, có những chỗ không thỏa đáng cho lắm; v́ thế, sau đó, rút gọn thành bốn giờ. C̣n có rất nhiều đồng học khác đưa kịch bản cho tôi xem, đều mong mỏi sẽ được quay thành phim. Bản thân chúng tôi cũng sang Bắc Kinh t́m một người bạn, chúng tôi muốn quay một bộ phim TV nhiều kỳ dài đến hai mươi tập. Phim hai, ba tập, đài truyền h́nh chẳng tiếp nhận, tối thiểu là hai mươi tập, phim Liễu Phàm Tứ Huấn đấy nhé. Sửa đổi vận mạng như thế nào? Vận mạng chắc chắn là có, do nghiệp nhân trong đời trước, đời này hứng chịu quả báo, mạng đă định sẵn rồi! Tuy vận mạng đă định, vẫn có thể sửa vận mạng, chẳng phải là không thể sửa. V́ sao? Cái nhân do chính ḿnh đă tạo, đương nhiên là chính ḿnh hứng chịu cái quả! Đă là chính ḿnh tạo nhân, chính ḿnh sẽ có thể sửa đổi cái nhân đó! Do vậy, quư vị nhất định phải hiểu: Kẻ khác đến giúp quư vị sửa đổi, đó là giả trất, gạt người! Xem tướng, đoán mạng, sửa đổi Phong Thủy ǵ đi nữa, toàn là lừa người! Hăy sửa từ khởi tâm động niệm của chính quư vị. V́ thế, Liễu Phàm Tứ Huấn là một giáo huấn rất tốt.

          Ngoài ra, c̣n có một bộ sách là Du Tịnh Ư Ngộ Táo Thần Kư cũng hết sức hay! Nếu quay thành phim nhiều tập, tôi tin là c̣n hay khéo hơn Liễu Phàm Tứ Huấn. Nhưng tài liệu về ông ta chẳng phong phú như tiên sinh Liễu Phàm, chỉ có một người đồng hương là La tiên sinh viết một thiên truyện kư về ông ta, tức là tác phẩm Ngộ Táo Thần Kư (kư sự về chuyện gặp ông Táo), viết rất hay! Hai hôm nay, pháp sư Ngộ Đạo đem đến một kịch bản phim truyền h́nh cho tôi xem. Tôi xem xong, thấy không dài, sáu tập. Đấy là [kịch bản phim] Du Tịnh Ư Ngộ Táo Thần Kư được viết rất tốt, khá lắm, có thể quay thành phim để lưu thông, nhằm dạy người ta sửa đổi vận mạng như thế nào. Đấy gọi là “phùng hung hóa cát, ngộ nạn thành tường” (gặp hung hiểm mà thành tốt lành, gặp nạn bèn thành may mắn).

          Đức Phật giảng về nghiệp nhân quả báo rất sâu, rất rộng, rất kín nhiệm. Ở đây, điều quan trọng nhất là trong một niệm có trọn đủ mười hai nhân duyên. Chớ nên chẳng chú ư đến ư niệm, chớ nên không cẩn thận. Một niệm sanh ái (yêu mến) tức là Vô Minh dấy lên. Vô minh là ǵ? Chẳng liễu giải chân tướng sự thật, quư vị mới có thể khởi tâm động niệm. Nếu quư vị liễu giải chân tướng sự thật, chân tướng sự thật là ǵ? “Hết thảy các pháp vô sở hữu, rốt ráo không, trọn chẳng thể được”, người liễu giải chân tướng sự thật, tâm địa thanh tịnh, bất luận cảnh giới ǵ hiện tiền, đều như như bất động, hiểu rành mạch. Đấy là Quán Chiếu, là Định Huệ. “Như như bất động” là Định; “hiểu rành mạch” là Huệ. Do vậy, tâm quư vị vừa động một niệm, chúng ta nói là “dấy động cảm t́nh”, vô minh bèn khởi lên. Do cảm t́nh, quư vị mới tạo nghiệp, đó là Hành. Quư vị chuyên tâm nghĩ tới nó, đó là Thức. Thức kết hợp với Sắc thành Danh Sắc. Lục căn, tức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, đều chuyển theo ư niệm của quư vị, đó gọi là Lục Nhập. Lục Nhập xúc động sự cảm nhận, tức là Xúc. Ba thứ cảm nhận là khổ, lạc, vô kư đều tự nhiên dấy lên. Đó là Thọ. Triền miên chẳng bỏ là Ái. Ở đây, hăy ghi nhớ, ghét bỏ, ôm nỗi oán hận, chẳng vui thích, cũng chẳng chịu buông xả, khó chịu mất vài ngày. Những điều này đều thuộc về Ái.

          Nay đă hết thời gian rồi, phía sau hăy c̣n có mấy điều chúng tôi chừa lại để lần sau có thời gian, sẽ học tập tỉ mỉ cùng các vị đồng học. Những điều ấy sẽ giúp cho chúng ta quan sát chân tướng sự thật.

 

Tập 1482

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, đoạn thứ năm trong phần trước của phần trường hàng. Chúng tôi đọc kinh văn một lượt để quư vị ḍ đúng chỗ.

 

          (Kinh) Vân hà đắc Uẩn thiện xảo, Giới thiện xảo, Xứ thiện xảo, Duyên Khởi thiện xảo?

          (經)云何得蘊善巧。界善巧。處善巧。緣起善巧。

          (Kinh: Làm thế nào để đắc Uẩn thiện xảo, Giới thiện xảo, Xứ thiện xảo, Duyên Khởi thiện xảo?)

 

          Chúng ta đọc tới chỗ này. Đối với mười thiện xảo trong đoạn này, bốn câu đầu trong phần mười thiện xảo nói về “lưu chuyển chi Thể” (cái Thể của sự lưu chuyển), “lưu chuyển” (流轉) là sanh tử luân hồi, luân hồi trong lục đạo. “Uẩn, Giới, Xứ” tức là Ngũ Uẩn, mười tám giới, mười hai xứ, và duyên khởi, đều là nói về Thể. Tiếp đó, Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới là nói tới nơi chốn để quư vị lưu chuyển, luân hồi. Quư vị luân hồi ở nơi đâu, ở chỗ nào, nêu ra nơi chốn. Sau đấy nói “quá khứ, vị lai, hiện tại” là nói về thời gian. Chúng ta có thể nói Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới là không gian; “quá khứ, hiện tại, vị lai” là thời gian. Ở trong không gian và thời gian nào sẽ phát sanh hiện tượng sanh tử luân hồi? Trong phần trước, đă giới thiệu Ngũ Uẩn, mười tám giới, mười hai xứ. Hôm nay, chúng tôi nói về Duyên Khởi thiện xảo để biết sanh tử luân hồi rốt cuộc là chuyện như thế nào? Thông thường, nói theo Phật pháp, điều này thuộc về nhân duyên, tức là nhân duyên quan. Bích Chi Phật trong tứ thánh [pháp giới] học tập điều này. Trong kinh luận, đức Phật đă nói về những chuyện này rất nhiều!

          Trước hết, chúng tôi phải giới thiệu duyên khởi đôi chút. Duyên khởi là ǵ? Phật pháp thường nói ba chữ “nhân, duyên, quả”. Trong giáo pháp Đại Thừa, đức Phật thường nói về bốn thứ duyên sanh ra pháp:

          - Duyên thứ nhất trong bốn duyên là Thân Nhân Duyên; nói thật ra là nhân.

          - Duyên thứ hai gọi là Sở Duyên Duyên.

          - Duyên thứ ba là Vô Gián Duyên.

          - Duyên thứ tư là Tăng Thượng Duyên.

          Tâm và tâm sở pháp nếu thiếu một trong bốn duyên ấy, sẽ chẳng thể sanh, chẳng thể dấy lên hiện hành. Nếu chúng ta nói tới thực vật, thực vật và khoáng vật chỉ cần hai loại duyên, một loại là Thân Nhân Duyên, loại kia là Tăng Thượng Duyên. Chúng chẳng cần Sở Duyên Duyên, chẳng có Vô Gián Duyên! Hữu t́nh và vô t́nh sai biệt ở chỗ này. Nói chung, hữu t́nh lẫn vô t́nh thảy đều là duyên khởi. Phàm là duyên khởi (được sanh khởi bởi duyên), phàm là duyên sanh hay duyên khởi, đều chẳng có tự tánh, chẳng có tự thể, thường nói là “đương thể tức Không” (chính cái bản thể của nó là Không), trọn chẳng thể được. Bậc Duyên Giác quan sát từ chỗ này mà giác ngộ, chúng ta nói là “tỉnh ngộ”, các Ngài mới có thể chứng đắc cảnh giới Niết Bàn. Niết Bàn có cạn và sâu. Cạn là Thiên Chân Niết Bàn của Tiểu Thừa, sâu là Vô Trụ Niết Bàn của Đại Thừa. Chúng ta đều phải hiểu rơ ư nghĩa của những danh tướng ấy.

          Nay chúng tôi giới thiệu đơn giản duyên khởi đôi chút. “Duyên Khởi thiện xảo” là biết hết thảy sự, hết thảy vật trong vũ trụ phát sanh như thế nào. Nếu xét theo những điều Phật pháp đă dạy, tất cả hết thảy sự vật đều chẳng có cách nào rời khỏi duyên, đều là “đăi duyên nhi khởi” (đợi duyên mà dấy lên), “đăi” () là chờ đợi. Nói theo cách hiện thời, Duyên là điều kiện. Điều kiện thảy đều trọn đủ, sẽ dấy lên hiện tượng. Nếu điều kiện chẳng đầy đủ, hiện tượng ấy sẽ chẳng thể phát sanh. Bất luận là hữu t́nh hay vô t́nh, người hiện thời gọi “hữu t́nh” là động vật, gọi “vô t́nh” là thực vật và khoáng vật cùng với hiện tượng thiên nhiên, đều là có khá nhiều điều kiện, giống như kinh Đại Thừa đă nói là “vô lượng nhân duyên” th́ mới sanh khởi hiện tượng ấy, chẳng phải là rất đơn thuần. Chỉ có Phật và Pháp Thân Bồ Tát hiểu rơ ràng chuyện này, các Ngài hiểu rơ ràng; điều đó gọi là chân tướng của vũ trụ và nhân sinh.

          Người hiểu rơ chân tướng là giác ngộ, giác chứ không mê. Bọn phàm phu chúng ta, không chỉ riêng loài người, mà phàm phu trong lục đạo đều chẳng giác ngộ. Tứ thánh pháp giới tuy giác ngộ, nhưng chẳng viên măn, phải hiểu điều này. Tứ thánh là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật; “Phật” ở đây là Phật trong mười pháp giới, chính là Tương Tự Tức Phật như Thiên Thai đại sư đă nói. Nói cách khác, các vị ấy chẳng phải là chân Phật. “Chân” được định nghĩa như thế nào? “Chân” là phải phá một phẩm vô minh, thấy một phần chân tánh, chứng một phần Pháp Thân. Đó là Chân, giáo pháp Đại Thừa cũng gọi vị ấy là Pháp Thân Bồ Tát. Pháp Thân Bồ Tát là chân Phật, Thiên Thai đại sư gọi vị ấy là Phần Chứng Tức Phật. Tuy Ngài chẳng viên măn, Ngài là [Phật] thật, chẳng giả. Sở dĩ Ngài không viên măn là v́ tập khí vô thỉ vô minh chưa đoạn sạch. Trong những phần trước, chúng tôi đă nói điều này rất nhiều.

          Tập khí vô thỉ vô minh rất khó đoạn, phải mất một thời gian rất dài sẽ tự nhiên chẳng c̣n. V́ thế, giáo pháp Đại Thừa thường nói tới bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ. Điều này có nghĩa là trong Nhất Chân pháp giới có giai cấp hay không? Thưa cùng chư vị, chẳng có! Nếu c̣n có giai cấp, [tức là] c̣n có sai biệt, sẽ chẳng gọi là Nhất Chân. Đă là chẳng có sai biệt, v́ sao đức Phật lại nói bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ? Bốn mươi mốt địa vị ấy chẳng phải là bốn mươi mốt giai cấp hay sao? Kinh Hoa Nghiêm đă nói rất rơ ràng, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, bốn mươi mốt địa vị. Nói thật ra, chẳng thể nói bốn mươi mốt địa vị ấy là có. Nhất Chân pháp giới là b́nh đẳng, người tu hành đạt đến cảnh giới ấy chẳng khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, không chấp trước, thảy đều là như vậy. Chẳng khởi tâm, không động niệm, lấy đâu ra giai cấp? Trong thế gian này, trong mười pháp giới, sanh ra giai cấp như thế nào? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước! Vọng tưởng là khởi tâm động niệm. Do quư vị khởi tâm động niệm, v́ quư vị có phân biệt, có chấp trước, cho nên mới có nhiều thứ bậc như vậy, mới có lắm sai biệt ngần ấy. Trong Nhất Chân pháp giới chẳng có sai biệt, trong thế giới Cực Lạc chẳng có sai biệt.

          Nhưng quư vị nghe [nói như vậy], sẽ cảm thấy kỳ quái! Thế giới Cực Lạc có bốn cơi, ba bậc, chín phẩm, ư nghĩa này và ư nghĩa của bốn mươi mốt địa vị trong thế giới Hoa Tạng chẳng sai biệt cho mấy! Đó là ǵ? Chính là v́ tập khí vô minh chẳng đoạn. Trong thế giới Hoa Tạng, xác thực là vô minh tập khí (tập khí vô thỉ vô minh) chưa đoạn, trong thế giới Cực Lạc chẳng phải vậy. Trong thế giới Cực Lạc, không chỉ là tập khí vô thỉ vô minh, mà c̣n kèm thêm tập khí Kiến Tư và Trần Sa, đúng là chẳng dễ dàng! Điều này gọi là “đới nghiệp văng sanh”, vẫn đèo thêm những thứ ấy! V́ thế, đức Phật nói thế giới Cực Lạc có bốn cơi: Có cơi Phàm Thánh Đồng Cư, có cơi Phương Tiện Hữu Dư, có cơi Thật Báo Trang Nghiêm, có cơi Thường Tịch Quang Tịnh Độ. Chư vị phải hiểu: Trong thế giới Cực Lạc, chẳng có những danh xưng ấy! Trong thế giới Hoa Tạng cũng chẳng có [những danh xưng ấy]! Đức Phật v́ chúng ta [nói ra những điều ấy], cho nên chẳng thể nói chúng là có, mà cũng chẳng thể nói là chúng không có. V́ sao chẳng thể nói chúng là không có? Xác thực là xét theo phía người tu hành, tập khí vô thỉ vô minh đúng là có dầy hay mỏng khác nhau! Chẳng hạn như Thập Địa Bồ Tát tập khí rất ít, rất mỏng; các vị Bồ Tát thuộc địa vị Tam Hiền tập khí khá nặng! Nhưng chư vị phải biết: Chúng chẳng phải là Kiến Tư, chẳng phải là Trần Sa, mà là vô thỉ vô minh. Chúng ta chẳng có cách nào lănh hội, chớ nên không biết điều này!

          Trong kinh, đức Phật đă dạy: “Nhất thiết chi hữu vi pháp, giai tự duyên nhi khởi giả” (Hết thảy các pháp hữu vi đều do duyên của chúng mà dấy lên). “Hữu vi” là có sanh, có diệt; chư vị hăy ngẫm xem, có pháp nào chẳng sanh diệt? Trong kinh, đức Phật thường nói đến động vật, loài người chúng ta là động vật, có sanh, lăo, bệnh, tử, thực vật có sanh, trụ, dị, diệt, khoáng vật (là địa cầu, tinh cầu) có thành, trụ, hoại, không. Phàm những ǵ có các hiện tượng ấy, sẽ đều gọi là pháp hữu vi. Theo Bách Pháp Minh Môn Luận, trong một trăm pháp, có chín mươi bốn pháp hữu vi, sáu pháp cuối cùng gọi là pháp vô vi. Đối với pháp vô vi, chẳng thể nói tới duyên được. Nó chẳng phải là đợi duyên mà sanh, nó thật sự tự nhiên tồn tại, tồn tại vĩnh hằng. Trong các pháp vô vi, chỉ có một pháp là vô vi thật sự (tức Chân Như vô vi), năm thứ khác đều là tương tự vô vi, chúng chẳng thể gộp vào trong các pháp hữu vi. Như hư không, hư không là vô vi. Chúng ta chẳng thấy hư không có sanh diệt, chẳng thấy sự biến hóa của nó, hư không thuộc về pháp vô vi. Rơ ràng là bất cứ loại nào, động, thực, khoáng vật, hiện tượng tự nhiên, thảy đều là do có duyên mà sanh. Nay chúng ta gọi Duyên là điều kiện. Nếu trọn đủ những điều kiện sanh sản ấy, nó sẽ sanh khởi, hiện tượng sẽ hiện tiền.

          Trong Trung Quán Luận Sớ có giải thích đơn giản.

 

          (Sớ) Trung Quán Luận Sớ, thập.

          (疏)中觀論疏十。

          (Sớ: Trung Quán Luận Sớ, quyển mười).

 

          “Thập” là quyển thứ mười. Cuối quyển thứ mười, có mấy câu như thế này.

 

          (Sớ) Duyên khởi giả, thể tánh khả khởi.

          ()緣起者體性可起。

          (Sớ: “Duyên khởi” là Thể Tánh có thể dấy lên).

 

          Cần phải nói rơ điều này. Thể tánh là nhân, Thể là Pháp Thân, Tánh là Pháp Tánh. Quư vị thấy trong các kinh Đại Thừa, trong các kinh luận Đại Thừa, đức Phật luôn dạy: Vũ trụ do đâu mà có? Sanh mạng do đâu mà có? Đức Phật đă nói rất hay: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Ở đây, cái tâm và cái thức ấy được gọi là Thể Tánh. Thể tánh là nhân, nó có thể hiện, có thể biến, đấy là duy tâm sở hiện. Nhất Chân pháp giới do thể tánh hiện khởi, y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đợi duyên mà sanh khởi. Các vị thuộc tông Pháp Tướng đă gọi “đợi duyên để sanh khởi”“duy thức sở biến”, chúng thuộc vào mười pháp giới. Thức là ǵ? Thức là Thể Tánh đă mê th́ gọi là Thức. Giác ngộ th́ gọi là Tánh. Nói theo Thể, nó là thật, là chân tâm. Nói theo Tướng, nó là hư vọng. V́ thế, chúng ta nói A Lại Da Thức là chân vọng ḥa hợp.

          Chúng ta là chúng sanh trong mười pháp giới, tứ thánh pháp giới cũng là chúng sanh. Chúng ta phải hiểu rơ ư nghĩa của danh từ này. Do các duyên ḥa hợp cùng sanh khởi th́ gọi là Chúng Sanh. Đợi duyên để phát khởi chính là chúng sanh. Duyên quá nhiều, vô lượng, vô biên, chẳng đơn thuần; do vậy, hễ là “duyên sanh” (pháp được sanh bởi các duyên) th́ đều gọi là chúng sanh! “Chúng sanh” có ư nghĩa hết sức rộng lớn, chúng ta thường gọi loài người là chúng sanh, đấy là nói theo ư nghĩa rất hẹp! Tất cả động vật là chúng sanh, tất cả thực vật là chúng sanh, tất cả khoáng vật là chúng sanh, tất cả các hiện tượng tự nhiên đều là chúng sanh, [bởi lẽ, chúng đều] do các duyên mà phát khởi, ḥa hợp, sanh ra các hiện tượng. Phải hiểu rơ ràng hai chữ “chúng sanh”, phải hiểu rơ ràng ư nghĩa của nó!

          V́ thế, “thể tánh khả khởi”. Có thể khởi mà nó chẳng phát khởi được là v́ lẽ nào? Duyên không trọn đủ. Ví như loài người chúng ta, đức Phật nói, hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh; lại nói, tất cả hữu t́nh chúng sanh, “hữu t́nh chúng sanh” là nói đến động vật, đương nhiên bao gồm loài người trong ấy, “đều có trọn đủ cái nhân của mười pháp giới”. Nay trong các hữu t́nh, chúng ta chỉ nói đến loài người, trong các hữu t́nh chúng sanh, chúng ta chỉ nói một loại này. Mỗi người chúng ta đều có Phật Tánh. Nói cách khác, đều có thể tánh làm Phật. Trong thể tánh của chúng ta có Phật, v́ sao nay chẳng phải là Phật? Duyên chẳng trọn đủ! Nay chúng ta tu hành, tu là ǵ? Tu là duyên, hy vọng sẽ khiến cho cái duyên thành Phật (điều kiện làm Phật) thảy đều trọn đủ. Nhân đă có, ai nấy đều có cái nhân Bồ Tát. Trong mười pháp giới, cái nhân thứ nhất cũng là duyên. Cái duyên thứ nhất quan trọng nhất. Đức Phật nói [cái duyên ấy] chính là tâm Phật b́nh đẳng. Có ai trong chúng ta chẳng có tâm b́nh đẳng? Có chứ! B́nh đẳng th́ là Phật!

          Quư vị hăy ngẫm xem, giáo pháp Đại Thừa thường dạy chúng ta: Nếu có thể thật sự buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quư vị chính là Phật! Nay quư vị niệm Phật mà chẳng thể thành Phật, là v́ quư vị có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, cho nên quư vị bị đọa lạc thành phàm phu. Phàm phu và Phật sai biệt ở chỗ này! Chúng ta nh́n vào tứ thánh pháp giới, sẽ hiểu rất rơ ràng. Quư vị buông chấp trước xuống, chẳng c̣n chấp trước hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian nữa, quư vị là A La Hán. Tiến cao hơn một bước, không chỉ là chẳng có chấp trước, mà phân biệt cũng chẳng có, quư vị là Bồ Tát. Nếu tiến hơn bước nữa, không chỉ là chẳng có vọng tưởng, chấp trước, mà khởi tâm động niệm cũng chẳng có. Chẳng khởi tâm, không động niệm, quư vị là Phật. Quư vị hăy ngẫm xem, chúng ta có phải đều là trọn đủ hay không? Vấn đề ở chỗ nào? Chẳng buông xuống được! V́ không buông xuống được, cho nên mới làm phàm phu, cho nên mới đọa lạc trong lục đạo luân hồi.

          Đức Phật dạy chúng ta lư luận thoát luân hồi là một câu này: “Buông chấp trước xuống!” Chấp trước là Kiến Tư phiền năo, buông chấp trước xuống tức là đoạn Kiến Tư phiền năo, vượt thoát lục đạo, chứng quả A La Hán. Buông xuống phân biệt, phân biệt là Trần Sa Hoặc. Đoạn trừ Trần Sa Hoặc, chứng quả vị Bồ Tát. Khởi tâm động niệm là vọng tưởng, là Vô Minh Hoặc. Chẳng khởi tâm, không động niệm, đă phá vô minh, buông xuống vô minh, sẽ thành Phật. Nói theo Thể Tánh, chúng ta đều trọn đủ. Cái nhân làm Phật đă trọn đủ, cái nhân làm Bồ Tát đă trọn đủ, cái nhân làm Thanh Văn, Duyên Giác thảy đều trọn đủ. Nghiệp nhân của thiên đạo là Tứ Vô Lượng Tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả, cộng thêm Thượng Phẩm Thập Thiện, sẽ sanh thiên. Chúng ta có [những cái nhân ấy] hay không? Có chứ! V́ sao biết là có? Ngay cả Nho gia cũng nói, tức là như trẻ nhỏ tại Trung Hoa học Tam Tự Kinh, câu đầu tiên là “nhân chi sơ, tánh bổn thiện” (con người thoạt đầu tánh vốn lành). Đấy là ǵ vậy? Cái nhân để sanh lên cơi trời!

          Bản tánh của loài người đều là thiện lương, v́ sao lại biến thành bất thiện? Chẳng có ai dạy họ, học theo thói xấu! V́ thế, Trung Hoa hết sức coi trọng giáo dục, có kinh nghiệm hết sức phong phú. Người Hoa biết: Thánh nhân là do dạy dỗ mà có, thiện nhân cũng là do dạy dỗ mà ra, kẻ xấu cũng là do dạy dỗ mà ra. Xă hội hiện thời loạn dường ấy, người tốt ngày càng ít, kẻ xấu ngày càng đông là chuyện như thế nào? Do dạy dỗ mà ra! Trước kia có nhiều người tốt, đó là ǵ? Trong thế gian, thánh nhân và quân tử nhiều, [đại chúng trong xă hội] chịu ảnh hưởng của họ. Trong xă hội hiện thời, có lắm kẻ ích kỷ, khởi tâm động niệm toàn là tổn người, lợi ḿnh. Học từ đâu ra? Học từ TV, học từ Internet, học từ điện ảnh, những thứ ấy đă dạy họ. Dạy người ta những thứ ấy. Quư vị nói xem, TV, Internet trong hiện thời, tôi không xem những thứ ấy, chúng có nội dung là ǵ? Các đồng học đă kể với tôi, [toàn là] sắc dục, bạo lực, giết, trộm, dâm, dối. Quư vị giáo dục kiểu đó, đương nhiên là xă hội này đều ngả theo bạo lực, sắc dục, ngả theo giết, trộm, dâm, dối, lẽ nào xă hội chẳng loạn cho được? Do dạy dỗ mà ra! Giáo dục quan trọng hơn bất cứ điều nào khác!

          Mấy hôm trước, lần này chúng tôi ngừng giảng mười ngày, tôi sang Mă Lai tham dự hội nghị ḥa b́nh quốc tế. Trong hội nghị ấy, tôi đă giới thiệu cùng mọi người tham gia đại hội về nền giáo dục luân lư đạo đức của Trung Hoa vào thời cổ. Nếu muốn hóa giải xung đột, thật sự thực hiện thế giới ḥa b́nh, ngoài giáo dục ra, chẳng có cách nào khác! Dùng thủ đoạn chiến tranh, chỉ khiến cho vấn đề này càng thêm phức tạp. Hội nghị khai mạc, đây là lần thứ sáu tôi tham dự hội nghị quốc tế. Bắt đầu từ năm 1970, Liên Hiệp Quốc đă khởi xướng, hy vọng có thể xúc tiến ḥa b́nh trên thế giới. Chẳng biết hằng năm đă mở không biết bao nhiêu cuộc họp, đầu tư nhân lực, vật lực, tài lực suốt ba mươi lăm năm, chẳng biết đă họp bao nhiêu lần, [thế mà] thế giới này mỗi năm một loạn hơn, tai nạn mỗi lần càng nghiêm trọng hơn!

          Từ sự thật này, chúng ta hiểu ra: Hội nghị chẳng thể giải quyết vấn đề, chiến tranh chẳng thể giải quyết vấn đề! Giải quyết vấn đề bằng phương pháp nào? Vẫn là như người Hoa đă nói: “Kiến quốc, quân dân, giáo học vi tiên” (Xây dựng đất nước, cai trị dân chúng, dạy học làm đầu). Năm ngàn năm qua, Trung Hoa đă dựa vào đâu mà khiến cho quốc gia, dân tộc này đứng sừng sững trên thế giới chẳng bị suy thoái? Nguyên nhân chẳng có chi khác, chính là giáo dục. Người Hoa biết giáo dục, coi trọng giáo dục. V́ vậy, giáo dục tại Trung Hoa có lịch sử năm ngàn năm, năm ngàn năm kinh nghiệm, năm ngàn năm trí huệ, năm ngàn năm phương pháp, năm ngàn năm nội hàm, năm ngàn năm hiệu quả, chớ nên xem nhẹ điều này! Quư vị có thể vận dụng cách thức này của Trung Hoa để hóa giải, bất cứ xung đột nào trên thế giới cũng đều có thể hóa giải, bất cứ là ai cũng đều có thể hợp tác, thế giới an định, ḥa b́nh. Quư vị chẳng dùng giáo dục th́ dùng ǵ đây?

          Khi tôi tham gia những hội nghị quốc tế ấy, đều giới thiệu quan niệm trọng yếu ấy với mọi người. Những người tham gia hội nghị đều là các nhân sĩ thiện tâm, đúng là chẳng t́m ra phương pháp thích đáng, biết tánh chất nghiêm trọng của vấn đề, nhưng chẳng t́m được biện pháp cứu vớt! Tại Trung Hoa, Hồ Diệu Bang đề xướng xă hội ḥa hài, thực hiện bằng cách nào? Tôi bảo mọi người, hài ḥa phải thực hiện từ tâm hạnh của chính ḿnh, phải dốc sức từ chỗ ấy. Hài ḥa thực hiện từ nhà ta, hài ḥa thực hiện từ thôn của ta, hài ḥa bắt đầu từ trấn của ta, hài ḥa bắt đầu từ huyện của ta. Dần dần mở rộng, từ huyện mở rộng đến tỉnh, từ tỉnh mở rộng ra quốc gia, từ quốc gia mở rộng ra thế giới. Nhất định phải thực hiện từ chính bản thân ta th́ mới có thể thâu được hiệu quả. Nếu quên bẵng [chẳng thực hiện hài ḥa từ chính ḿnh], quên bẵng nhà ḿnh, quư vị mong cầu thế giới ḥa b́nh, há có lẽ ấy? Kinh Phật nói điều này là “vô hữu thị xứ” (chẳng có lẽ ấy); v́ thế, phải biết bắt đầu từ chỗ nào! Quan trọng là khái niệm, v́ sao phải hài ḥa? Kinh Phật đă nói thấu triệt. Hai mươi câu hỏi của [Trí Thủ] Bồ Tát trong đoạn kinh văn này đều là những vấn đề to lớn. Quư vị thấy Văn Thù Bồ Tát giải đáp, một hỏi, một đáp, chúng ta nghe hiểu minh bạch, sẽ khai trí huệ, biết hiện tượng vạn pháp trong vũ trụ, biết chính ḿnh phải nên làm như thế nào!

          Thể tánh có thể khởi, đợi duyên để phát khởi. Trong phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa cũng có nói: “Phật chủng tùng duyên khởi” (Ḍng giống Phật khởi từ duyên). Tổ sư đại đức trích dẫn câu này, Phật chủng sanh từ duyên, hợp lư quá! Chúng ta học Phật, bởi lẽ, Phật pháp coi trọng duyên, chẳng nói là “nhân sanh”, mà nói là “duyên sanh”, rất có lư! V́ nhân, tức là các chủng tử trong A Lại Da Thức đều có trọn đủ, nhưng chúng tùy thuộc duyên. Trong phần trước, chúng tôi đă nói, những cái nhân trong tứ thánh pháp giới, tức Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, chúng ta thảy đều có. Đối với lục đạo, chúng tôi cũng nói: Con người tánh vốn lành. “Tánh con người vốn lành” th́ chính là thiên đạo và nhân đạo. Đối với ba ác đạo, ngạ quỷ là do tâm tham, xan tham là ngạ quỷ, sân khuể là địa ngục, ngu si là súc sanh. Trong A Lại Da Thức của quư vị, thảy đều có [những chủng tử ấy]. Vậy th́ nay quư vị hăy xét xem, duyên của nghiệp nhân nào thù thắng nhất? Chúng ta nghĩ tới xă hội hiện thời, quư vị hăy lắng ḷng quan sát, sau đấy, quay lại nghĩ về chính ḿnh. Nh́n ra bên ngoài, bên ngoài là một tấm gương, từ gương hăy hồi quang phản chiếu, soi xét chính ḿnh: Trong A Lại Da Thức của ta có tham, sân, si; tham, sân, si là nghiệp nhân của ba ác đạo. Hiện thời, trong cuộc sống hằng ngày, nếu chúng ta tăng trưởng duyên tham, sân, si, sẽ phiền toái, đời sau sẽ sanh về đâu, quư vị tự hiểu rành rành! Tâm tham nặng nề, nhất định đọa ngạ quỷ. Tâm sân khuể nặng nề, hay cáu giận, sẽ đọa địa ngục. Ngu si là chẳng hiểu rơ đúng, sai, không biện định tà hay chánh; ngu si sẽ đọa súc sanh đạo.

          Trong xă hội hiện thời, chúng tôi nói những ǵ TV, Internet, phim ảnh, xă hội đều là dạy quư vị tham, sân, si, đều dạy quư vị khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác tổn người lợi ḿnh. Tổn người lợi ḿnh sẽ tăng trưởng tham, sân, si. Nói cách khác, đều nhằm dạy con người vào trong ba ác đạo, chẳng phải là dạy con người sanh lên trời hay làm Phật, chẳng phải vậy! Quư vị nói xem, có đáng sợ lắm hay không? Chúng ta được làm thân người, nghe Phật pháp, hết sức khó khăn! Đă được làm thân người, nghe Phật pháp, ngay trong một đời này, chúng ta phải vứt bỏ tham, sân, si, chẳng cần những thứ ấy!

          Tôi [bắt đầu] học Phật lúc hai mươi sáu tuổi, lần đầu tiên trong đời đến thưa hỏi một vị thiện tri thức là Chương Gia đại sư. Đấy là lần đầu tiên qua lại cùng người xuất gia. Tôi thỉnh giáo lăo nhân gia: “Nay con biết Phật pháp tốt đẹp, Phật pháp hết sức thù thắng”, tôi thưa: “Có cách nào khiến cho con có thể khế nhập rất nhanh hay không?” Lăo nhân gia dạy tôi sáu chữ. Tôi nói “có cách nào hay không?” Ngài bảo có, “thấy thấu suốt, buông xuống”. Tôi nghe rồi dường như hiểu, câu nói ấy rất đơn giản. Tôi thỉnh giáo lăo nhân gia: “Thực hiện từ chỗ nào?” Ngài dạy tôi: “Bố thí”, [nghĩa là] hăy thực hiện từ bố thí. V́ sao? Lúc trẻ, tập khí tham, sân, si rất nặng nề. Tôi lại c̣n sanh trưởng ở nông thôn, hoàn cảnh gia đ́nh hết sức nghèo khó, cuộc sống rất gian khổ; v́ thế, chẳng có tâm bố thí, chẳng có ư niệm ấy. Thầy dạy tôi học bố thí, giảng cho tôi biết Tài Bố Thí, Pháp Bố Thí, và Vô Úy Bố Thí. Bố thí là buông xuống, giúp quư vị thấy thấu suốt; thấy thấu suốt là trí huệ. “Buông xuống” là buông xuống phiền năo, bố thí xan tham, bố thí sân khuể, bố thí tập khí phiền năo. Do vậy, tâm thanh tịnh hiện tiền. Tâm thanh tịnh sanh trí huệ, do trí huệ mới có thể thấy thấu suốt, mới có thể liễu giải chân tướng của vạn hữu trong vũ trụ. Đấy là Phật pháp, là sự giáo dục của đức Phật. V́ thế, Phật giáo xác thực là chẳng giống những tôn giáo thông thường.

          Các tôn giáo thông thường nói vũ trụ do đâu mà có? Do thần tạo ra, đều là do một vị chân thần nào đó tạo ra vũ trụ. Tôi qua lại với rất nhiều tôn giáo trên thế giới, chúng tôi lại c̣n là bạn bè hết sức thuận thảo. Tôi đă từng nói với họ, theo như Thánh Kinh của Thiên Chúa Giáo và Cơ Đốc Giáo đă nói, vũ trụ do Chúa tạo ra, tức Thượng Đế tạo ra. Bảy ngày tạo xong vũ trụ, tạo ra con người. Đạo Y Tư Lan (đạo Hồi) nói vũ trụ do An Lạp (Allah) tạo ra. Họ gọi [thượng đế] là An Lạp, có nghĩa là Thượng Đế. Ấn Độ giáo nói vũ trụ do Đại Phạm Thiên tạo ra. V́ thế, tôi hỏi họ: “Vũ trụ chỉ có một, do vị thần nào tạo? Quư vị có từng nghĩ đến vấn đề này hay không? Hay là quư vị có nhiều vị thần trong các tôn giáo như thế, mọi người cùng nhau tạo ra? Hay là các vị thần cùng nhau kiến tạo?” Họ chẳng thừa nhận chuyện các vị thần cùng tạo, họ thừa nhận có một vị chân thần duy nhất. Tôi nói: “Đúng vậy! Tôi cũng tin tưởng là do một vị chân thần tạo ra”.

          Tôi hỏi họ: “Quư vị có tin chân thần có trí huệ viên măn hay không?” Họ đều tin chuyện này: Chân thần trí huệ vô lượng, chúng ta không có cách nào tưởng tượng. Chân thần có thần thông hay không? Ngài có thể biến hóa hay không? Họ đều tin tưởng chuyện này, tin tưởng chân thần có biến hóa, có thần thông. Tôi nói: “Vậy th́ dễ biện định rồi! Vị chân thần ấy ở Trung Hoa, Ngài biến hóa thành Khổng Tử, Mạnh Tử, Lăo Tử, Trang Tử. Ngài có thể biến, chân thần hóa thân. Trong Phật giáo, Ngài biến thành Thích Ca Mâu Ni. Trong Cơ Đốc Giáo, Ngài biến thành Gia Tô (Jesus). Trong Do Thái Giáo, Ngài biến thành Ma Tây (Moses). Trong đạo Hồi, biến thành Mục Hăn Mặc Đức (Mohamed). Quư vị có tin hay không?” Bọn họ nghe nói đều ngây người, cuối cùng đồng ư với cách nh́n của tôi. Tôi nói: “Đều là một vị chân thần. V́ sao trên thế giới, vị chân thần ấy phải tạo ra nhiều tôn giáo như vậy? Phải hóa thân nhiều ngần ấy? Đối với chuyện hóa thân, mọi người chẳng hoài nghi, v́ trong kinh điển đều có nói. Chỉ v́ trong thời đại ấy, giao thông chẳng phát triển, chẳng có thông tin, phạm vi sống trong một đời của nhân dân (tức là phạm vi sinh hoạt) rất nhỏ, tới khi già chết, chẳng qua lại với nhau. Thần muốn giáo hóa chúng sanh, phải đến các nơi hóa thân, sáng lập tôn giáo, tùy thuận phong tục, t́nh cảm và tập quán sống của người từng địa phương, cho nên mới có nhiều hiện tượng tôn giáo khác biệt phát sanh!”

          Hiện thời, trên quả địa cầu này, khoa học kỹ thuật phát triển, thông tin phát triển, giao thông nhanh chóng, thuận tiện, [dân cư trên] địa cầu đă biến thành người một nhà. Hiện thời, [đă công nhận] những vị thần ấy đều là hóa thân của chân thần, chúng ta cũng phải gộp họ lại để xem như một chỉnh thể th́ mới có thể đạt được trí huệ rất sâu. Họ có thể tiếp nhận và đồng ư với cách nh́n này của tôi. Do vậy, tôi kết giao với họ, tôi thường đọc kinh Phật, mà cũng đọc Tân Cựu Ước. Tôi đọc Tân Cựu Ước th́ tôi là tín đồ Cơ Đốc kiền thành, hoặc tín đồ Thiên Chúa Giáo kiền thành. Tôi đọc kinh Cổ Lan (Qur'an), tôi là Mục Tư Lâm (Muslim, tín đồ Hồi Giáo) kiền thành, chẳng có giới hạn. Chẳng thể nói họ là ngoại đạo! Nếu quư vị [thấy có] một kẻ ngoại đạo, quư vị c̣n có một vạch giới hạn, chẳng đạt được giáo huấn thật sự trong kinh điển! Chúng ta phải thấy như thế nào? Đấy là hóa thân của Phật. Nhà Phật nói: “Đáng nên dùng thân nào để độ, bèn hiện thân ấy. Đáng nên dùng phương pháp nào để giáo hóa, bèn dùng phương pháp ấy”. Phật chẳng có h́nh tướng nhất định, Phật, Bồ Tát chẳng có một pháp nhất định để có thể nói, [điều này thường được diễn tả là] “vô hữu định pháp khả thuyết”. Như vậy th́ chúng ta mới biết trí huệ viên măn, đức dụng viên măn.

          Tôi vốn cho rằng trong lần tiếp xúc ấy, c̣n có những người chẳng thể tiếp nhận, vẫn cần mất một thời gian dài để biện luận, thế mà trong những năm qua, tại các nơi trên thế giới đều thuận buồm xuôi gió, [người nghe] đều có thể tiếp nhận. Lăo ḥa thượng Trung Thôn Khang Long (Nakamura Kouryuu)[2] của Nhật Bản, năm nay đă một trăm lẻ một tuổi, mỗi lần sang Nhật, tôi đều đến gặp Ngài. Lần đầu tiên tôi gặp Ngài (vào năm năm trước), khi ấy, Ngài đă chín mươi sáu tuổi. Ngài bảo tôi: “Tất cả những người sáng lập tôn giáo trên toàn thể thế giới đều là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Ba mươi hai ứng thân của Quán Thế Âm Bồ Tát đều là Quán Âm Bồ Tát”. Tôi nghe nói rất hoan hỷ. Vị lăo ḥa thượng ấy nói như thế đó! Sau khi tôi rời đi, những đồ đệ của Ngài bảo tôi: “Suốt đời, lăo ḥa thượng chưa hề nói lời ấy, [thế mà] Ngài lại bảo thầy điều ấy!” Lăo ḥa thượng tạo tín tâm cho tôi, cách nghĩ và cách nh́n ấy của tôi không sai! Lăo nhân gia đă chứng thực cho tôi, tôi rất cảm kích Ngài!

          Chúng ta nhất định phải khẳng định điều này, toàn thể vũ trụ, quư vị thấy đức Phật dạy rất hay. Đức Phật không nói đến chân thần, đức Phật nói ǵ? Ngài nói Pháp Tánh, Pháp Thân, đấy chính là “chân thần” như những kẻ khác đă nói. Tâm hiện, thức biến, chân thần là ǵ? Chân thần là tánh thức. Tánh thức, quư vị nói thông tục hơn một chút, sẽ là chân tâm và vọng tâm. Chân tâm có thể hiện, vọng tâm có thể biến, thức là vọng tâm. Chân và vọng là một, không hai, v́ sao? Chân tâm mê, bèn gọi nó là A Lại Da Thức; A Lại Da Thức giác ngộ, sẽ là Chân Như bản tánh. Do vậy, Pháp Tướng Tông nói A Lại Da Thức là chân và vọng ḥa hợp. Từ phương diện mê th́ gọi là A Lại Da, từ phương diện ngộ th́ gọi là Pháp Tánh; cách nói khác nhau, nhưng có cùng một ư nghĩa. Từ cơ sở này, từ quan niệm này, có thể đoàn kết các loại tôn giáo khác nhau trên thế giới, người một nhà mà! Hăy nên đối đăi b́nh đẳng, cư xử ḥa thuận, hăy nên hỗ trợ hợp tác, phải giúp cho người thế gian giác ngộ. Khổ do mê mà có, lạc do giác mà có. Chỉ cần giác ngộ, sẽ có thể ĺa khổ được vui.

          Phật pháp nói đến bốn loại duyên khởi, bốn loại duyên khởi ấy được nói trong Hoa Nghiêm.

          1) Loại thứ nhất là nghiệp cảm duyên khởi, thuộc giáo pháp Tiểu Thừa. Giáo pháp Tiểu Thừa nói đến nghiệp cảm. “Nghiệp” là thiện nghiệp hoặc ác nghiệp do quư vị đă tạo, chúng chiêu cảm, sanh khởi hiện tượng.

          2) Loại thứ hai là A Lại Da duyên khởi. Lại Da duyên khởi là Đại Thừa Thỉ Giáo. [Loại duyên khởi này] do Pháp Tướng Tông nêu ra.

          3) Loại thứ ba là Như Lai Tạng duyên khởi, thuộc về Đại Thừa Chung Giáo, Như Lai Tạng được nói đến trong kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm.

          4) Loại thứ tư là pháp giới duyên khởi; đấy là Viên Giáo. Kinh Hoa Nghiêm luôn nói về pháp giới duyên khởi. Hoa Nghiêm nói ngũ giáo, tức Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, [Viên]. [Cách biện định duyên khởi này] thiếu Đốn, nhưng có Viên. V́ sao không nói đến Đốn? Riêng loại trừ Đốn là v́ Đốn giáo chẳng chấp tướng, nó chẳng có ngôn ngữ, lấy “vô tướng, rời ĺa ngôn ngữ” làm tông, đạo lư ở chỗ này! Chúng ta phải hiểu điều này!

           Hoa Nghiêm nói Thập Huyền, tức là mười huyền môn. Trong phần trước của kinh Hoa Nghiêm, chúng tôi đă giới thiệu điều này. Đến khi nào mới giải thích tỉ mỉ? Tôi nghĩ phải cho đến khi giảng xong toàn bộ kinh Hoa Nghiêm, cuối cùng, sẽ dùng phần Huyền Nghĩa của Thanh Lương đại sư để làm tổng kết. V́ đối với Huyền Nghĩa, tức là đối với toàn thể một bộ kinh mà nếu chẳng có sự nhận thức khái lược, cứ đàm huyền thuyết diệu, sẽ giống như vướng vào trong màn sương rộng năm dặm, quư vị chẳng ṃ được ngằn mé. Đă thông thuộc kinh Hoa Nghiêm, năm tầng Huyền Nghĩa sẽ có ư vị vô cùng. Do vậy, tôi không giảng ở đằng trước, mà đặt ra sau để giảng, đạo lư ở chỗ này! Mười huyền môn ấy chính là pháp giới duyên khởi, nói về pháp giới duyên khởi. Chúng tôi giới thiệu đại ư của Duyên Khởi đến đây. Nay đă hết thời gian rồi, chúng ta nghỉ ngơi mấy phút.

***

          Chư vị đồng học, chư vị pháp sư, xin mời ngồi xuống. “Duyên khởi thiện xảo”, quan trọng nhất là nói rơ đạo lư và chân tướng sự thật của sanh tử luân hồi. Học Phật, bất luận tu học tông phái nào, hay pháp môn nào, chẳng thể không biết chuyện này! Điều này thuộc về chân tướng của vũ trụ và nhân sinh. Đức Phật đă dạy mười hai duyên khởi thuộc về ba đời. Tôi nêu thí dụ để nói, [chẳng hạn như] một người, kinh gọi là một hữu t́nh (một người được nêu lên ở đây chính là một hữu t́nh chúng sanh), nay chúng ta gọi hữu t́nh chúng sanh là động vật, duyên khởi lưu chuyển trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Điều này chỉ rơ: Bất cứ một chúng sanh nào, kẻ đó có quá khứ, có hiện tại, có vị lai, [những điều ấy] gọi là “nhân quả ba đời”. Nhân quả ba đời được chia thành mười hai đoạn để thuyết minh. Điều này được gọi là Thập Nhị Duyên Khởi, hoặc gọi là Tam Thế Thập Nhị Nhân Duyên.

          Đầu tiên, chúng ta phải hiểu rơ ràng mười hai danh từ ấy. Tốt nhất là quư vị có thể ghi nhớ, những danh từ ấy cũng hết sức quan trọng. Nói chung, nếu có thể hiểu rất rơ ràng, rất minh bạch, đối với sự tu hành của chính ḿnh, giới thiệu cho người khác, quư vị sẽ chẳng mê hoặc tí nào! Danh từ thứ nhất trong mười hai danh từ ấy là Vô Minh, thứ hai là Hành, thứ ba là Thức, thứ tư là Danh Sắc, thứ năm là Lục Nhập, thứ sáu là Xúc, thứ bảy là Thọ, thứ tám là Ái, thứ chín là Thủ, thứ mười là Hữu, thứ mười một là Sanh, thứ mười hai là Lăo Tử. Phải ghi nhớ mười hai danh từ ấy. Đức Phật dạy, trong giáo pháp Đại Thừa, [từ ngữ Thập Nhị Duyên Khởi] là nói theo lối tân dịch. Tân và cựu là dựa theo Huyền Trang đại sư để nói. Phiên dịch kể từ Huyền Trang đại sư về sau được gọi là tân dịch, trước ngài Huyền Trang sẽ gọi là cựu dịch. Trong Phật môn, thường nói “tân dịch” và “cựu dịch” là do lấy chuyện này làm tiêu chuẩn. Tân dịch gọi là Thập Nhị Duyên Khởi, cựu dịch gọi là Thập Nhị Nhân Duyên. Trên thực tế là nói cùng một chuyện, nhưng giữa tân dịch và cựu dịch, có [danh xưng] khác biệt đôi chút!

          Duyên khởi là nhân duyên, lại gọi bằng một danh xưng đơn lẻ là Nhân Duyên Quán. Nhân Duyên Quán chính là Bích Chi Phật, c̣n gọi là Chi Phật Quán. [Chi Phật tức là] Bích Chi Phật, coi pháp ấy là Quán môn của Bích Chi Phật. Quán môn là phương pháp tu hành của Ngài. Quán: Như trong phần trước, tôi đă nói với quư vị về Chỉ Quán. [Nếu] nói một chữ, bèn nói là Chỉ. Trong Chỉ có Quán; nói Quán, trong Quán có Chỉ. Chỉ và Quán chẳng tách rời. Chỉ là buông xuống, Quán là thấy thấu suốt. Do vậy, Chương Gia đại sư dạy tôi, sau khi tôi khế nhập Phật môn, đối với phương tiện giáo học thiện xảo của lăo nhân gia hết sức bội phục. Quư vị ngẫm xem, tôi mới nhập môn, chẳng biết ǵ hết, nghiễm nhiên nêu ra một vấn đề lớn như vậy. Nếu Ngài giảng về Chỉ Quán, có giảng suốt một tháng tôi nghe cũng chẳng hiểu rơ, sẽ khiến cho tôi hồ đồ, mơ màng! Ngài thay đổi danh từ thành “thấy thấu suốt, buông xuống”. Thấy thấu suốt là Quán, buông xuống là Chỉ, cao minh tột bậc! Đối đăi thành phần trí thức trong hiện thời phải có phương tiện thiện xảo. Ư nghĩa vẫn là như vậy, nhưng cách nói khác đi, khiến cho họ dễ dàng lư giải, rất dễ tiếp nhận. Đấy là thiện xảo, là thật sự cao minh. Đó gọi là “thâm nhập thiển xuất” (thâm nhập, nhưng diễn tả nông cạn). Thuyết pháp th́ nhất định là quư vị phải khiến cho đối phương nghe hiểu, nhất định là phải khiến cho đối phương có thể khế nhập. Như vậy tức là đạt được hiệu quả, chúng ta và họ học tập chẳng uổng công!

          Mười hai điều ấy nhằm nói đến duyên khởi theo thứ tự của sự luân hồi trong lục đạo trải khắp ba đời của chúng sanh. Do vậy, Huyền Trang đại sư dịch là Duyên Khởi. Dịch theo lối cổ là Nhân Duyên, chẳng sai, nhưng dịch là Duyên Khởi th́ có lẽ ư nghĩa sẽ cạn hơn một chút, càng dễ lư giải hơn đôi chút. V́ thế, gộp hai lối tân và cựu dịch lại để xem, chúng ta sẽ hiểu rơ. Mười hai chữ ấy nói về ba đời, hai tầng nhân quả trong ba đời. Trong kinh giáo, đức Phật thường nói: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị” (Muốn biết nhân đời trước, những ǵ phải hứng chịu trong đời này chính là nó đấy). Ta nghĩ trong đời quá khứ đă làm những ǵ ư? Quả báo ta hứng chịu trong một đời này chính là nó đấy. Có nhân th́ sẽ có quả. Đức Phật dạy: “Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị” (Muốn biết quả trong đời sau, những ǵ đă làm trong đời này chính là nó đấy). Nếu lại nghĩ quả báo trong đời sau của ta sẽ ở đâu ư? Quả báo của ta tốt hay xấu? Đức Phật dạy, những ǵ quư vị đă tạo tác trong đời này chính là nó. Tạo tác trong đời này là nhân, là cái nhân cho đời sau, đời sau sẽ cảm quả báo. Do vậy, hai tầng nhân quả trong ba đời, đă tạo nhân trong đời quá khứ, đời này chịu quả báo. Tạo nhân trong đời này, đời sau chịu quả báo. Hai tầng nhân quả, ba đời!

          Trong rất nhiều tôn giáo, toàn là quan niệm hai đời, [tức là] chỉ có đời này và đời sau, chẳng nói đến đời quá khứ. Chẳng hạn như Cơ Đốc Giáo, Thiên Chúa Giáo, Y Tư Lan Giáo đều là quan niệm hai đời, chẳng nói đến ba đời. Nhưng chúng ta xem kinh cho kỹ, sẽ nhận thấy trong kinh [của các tôn giáo] thật sự có ba đời. Do vậy, tôi đặc biệt dùng bút đỏ khoanh những đoạn kinh văn ấy. Tức là trong kinh Cổ Lan, Chân Chúa (Allah) đă nói. Chân Chúa là Thượng Đế, là chân thần. Ông ta nói: “Ta dựa theo sự tiền định để sáng tạo vạn vật”. Thượng Đế tạo ra vạn vật, Thượng Đế tạo ra con người, hoặc là cho quư vị hưởng phước hay chịu tội trong đời này, có phải là do ư nghĩ của Thượng Đế hay không? Chẳng phải. Thượng Đế nói Ngài dựa theo sự tiền định, “tiền định” chính là những điều thiện hay ác do quư vị đă tạo từ trước! Đời trước, quư vị làm lành, đời này Thượng Đế sẽ ban phước cho quư vị, quư vị là người hưởng phước. Nếu đời trước quư vị làm ác, Thượng Đế sẽ khiến cho quư vị đời này phải chịu khổ, phải mắc nạn. Đấy là có đời trước! Tôi đưa đoạn kinh văn ấy cho họ xem: “Trong kinh điển của quư vị có nói đến đời trước!”

          Kinh Cổ Lan nói đến sáu thứ tín, tức là tín điều cơ bản có sáu thứ. Trong sáu thứ ấy, thứ nhất là tin vào Allah, tức là phải tin một vị chân thần duy nhất. Allah là Thượng Đế của họ, là chân thần duy nhất, phải tin vào Allah! [Thứ hai là] Tin thiên sứ, Allah đă phái những thiên sứ như Mục Hăn Mặc Đức (Mohamed) thuộc loại thiên sứ, do Thượng Đế hóa thân, quư vị phải tin tưởng thiên sứ. [Thứ ba là] tin kinh điển, phải tin tưởng kinh Cổ Lan. [Thứ tư là] tin vào tận thế, tức là ngày tận thế như kinh Cổ Lan đă nói. [Thứ năm là] tin vào tiền định, điều này trọng yếu. “Tiền định” là có đời trước! Nhất định là quư vị có đời trước. Đó là cái nhân, đời này quư vị hưởng quả báo. Do vậy, t́m ṭi trong kinh điển, t́m ṭi cẩn thận, sẽ thấy quả thật cũng là có tam thế. V́ thế, Thượng Đế chẳng phải tùy tiện định ra chuyện cát, hung, họa, phước cho bất cứ ai. Chẳng phải là ta thích kẻ đó, kẻ đó tin ta, ta ưa chuộng hắn, sẽ ban phước cho hắn. Kẻ đó chẳng tin ta, ta liền giáng tai họa cho hắn! Chẳng phải như vậy, [mà là] tiền định, căn cứ trên tiền định, điều này nói rất có lư.

          Đương nhiên, nói tỉ mỉ nhất, rơ ràng nhất, minh bạch và thấu triệt nhất, sẽ là kinh Phật. Mười hai nhân duyên nhân quả ba đời, nói khá tỉ mỉ. Thứ nhất là Vô Minh. Vô Minh là phiền năo tập khí từ đời quá khứ. Nếu chẳng có phiền năo tập khí, tức là quư vị chẳng tạo nghiệp. Nói tổng quát, đức Phật quy nạp phiền năo thành ba loại lớn: Vô Minh phiền năo, Trần Sa phiền năo, Kiến Tư phiền năo; nói chung, chẳng ra ngoài ba loại lớn phiền năo tập khí ấy! V́ tập khí phiền năo, quư vị mới tạo nghiệp. Tạo nghiệp chính là điều thứ hai, tức Hành. Hành là hành vi. Hành vi là ǵ? Dựa vào phiền năo trong đời quá khứ mà tạo tác hạnh nghiệp thiện hay ác. V́ thế, Hành là tạo tác. Tạo tác có thiện và ác. Đấy là nghiệp.

          Vô minh là duyên, nghiệp là nhân, phải hiểu rơ mối quan hệ này. Nếu chúng ta dùng ba đời để tỷ dụ, Vô Minh giống như ông nội, Hành là cha, Thức ở sau đó mới là chính ḿnh. Đấy là quả báo. V́ Vô Minh nên mới có Hành, do Hành nên mới có Thức, Thức ấy đầu thai. Cái nhân gần với sự đầu thai nhất, được gọi là Thân Nhân Duyên. Cái xa xôi hơn, xa hơn một chút, sẽ gọi là Tăng Thượng Duyên, nó chẳng phải là Thân Nhân Duyên. Nó có nhân và duyên, chúng ta phải phân định rơ, cái nào là nhân? Cái nào là duyên? Cái nào là quả? Do v́ có duyên mới sanh ra các nghiệp nhân. Trong đời quá khứ đă tạo tác nghiệp nhân thiện hay ác, hiện tại thọ quả báo. Điều thứ nhất trong quả báo là đầu thai, [tức là] Thức nương theo cái nghiệp trong đời quá khứ để nhận lấy một niệm thọ thai trong đời hiện tại. Thức là thần thức, người Hoa gọi nó là “linh hồn”, trong Phật pháp gọi là Thức. Ai đến đầu thai? Nó (Thức) đến đầu thai. Thức ấy là A Lại Da Thức. A Lại Da Thức của chính chúng ta đến đầu thai.

          Đầu thai cũng cần có duyên, tức là có duyên với cha mẹ. Chẳng có duyên, quư vị sẽ chẳng thể đến chỗ họ để đầu thai được! V́ thế, đức Phật thường nói quan hệ cha con có bốn loại duyên. Bốn loại duyên là:

          1) Báo ân: Trong đời quá khứ, ta và kẻ khác có ân, tức là kẻ khác đối với ta có ân, ta thấy người ấy bèn sanh ḷng hoan hỷ, ta đến báo đáp kẻ ấy. Đứa con đến đầu thai để báo ân sẽ là con hiếu, cháu hiền, do quan hệ trong đời trước dẫn khởi, cha mẹ có ân đối với con.

          2) Loại thứ hai hoàn toàn trái nghịch, tức là báo oán. Đời trước cha mẹ và con là cừu nhân. Lần này, sau khi trông thấy, bèn đến đầu thai trong nhà kẻ thù để báo cừu. Báo cừu th́ lúc bé nhất định sẽ khiến cho cha mẹ hết sức yêu quư, sau khi trưởng thành, con sẽ bất hiếu, là phá gia chi tử, nhất định sẽ khiến cho quư vị nhà tan, người chết! Bất luận là hữu ư hay vô t́nh, đều là do nghiệp lực dẫn dắt. Chuyện này rất đáng sợ!

          3) Loại thứ ba là đ̣i nợ. Trong quá khứ, cha mẹ thiếu tiền con, nó đến đ̣i nợ. Sanh vào nhà quư vị, quư vị chăm sóc, nuôi nấng nó kỹ càng, nó cũng khiến cho cha mẹ vui sướng lắm. Hai, ba tuổi chết tươi. Đấy là ǵ? Thiếu nợ ít, quư vị đổ tâm huyết, tốn kém tiền bạc cho nó, nó đ̣i xong rồi, đi mất! Nếu mắc nợ nhiều, đại khái đến hai mươi tuổi, ví như quư vị chăm chút nó, rất vất vả vun vén cho nó trưởng thành, tốt nghiệp, giành được học vị Tiến Sĩ, tự ḿnh có thể dấn thân vào xă hội, bèn chết ngắc, đi mất rồi! Món tiền quư vị phải chi dụng, nó đă đ̣i xong, đ̣i xong xuôi bèn ra đi. Nó với quư vị chẳng có mối quan hệ nào khác, nó đến đ̣i nợ, là quỷ đ̣i nợ.

          4) Loại thứ tư là trả nợ. Trả nợ là ǵ? Đời trước, con cái thiếu tiền cha mẹ. V́ thế, đời này, nó phải kiếm tiền nuôi nấng cha mẹ. Nếu nó thiếu cha mẹ rất nhiều, nó phụng dưỡng cũng rất sung túc, cha mẹ thứ ǵ cũng chẳng thiếu. Nếu nó thiếu nợ ít, sẽ có thể chiếu cố cuộc sống của cha mẹ, nhưng chẳng phụng dưỡng sung túc. Chúng ta quan sát xă hội này cẩn thận, sẽ có thể thấy được. Quư vị sẽ thấy những đứa trẻ đến đ̣i nợ, đến trả nợ, đến báo ân, hay là đến báo oán.

          V́ thế, hiện thời có rất nhiều kẻ làm cha mẹ đến kể với tôi, con cái bất hiếu, khó dạy! Do nguyên nhân nào? Chính ḿnh phải nên hiểu, chúng ta có phải là đời đời kiếp kiếp bố thí ân đức cho hết thảy chúng sanh hay không? Nếu tâm địa quư vị quả thật thiện lương, bố thí ân đức, trong nhà quư vị sẽ có nhiều con hiếu cháu hiền, đều là đến báo ân. Nếu chúng ta khởi tâm động niệm đều là tổn người lợi ḿnh, quư vị sẽ kết cừu oán với người khác, con cháu của quư vị [là những kẻ] đến báo oán. V́ thế, làm người, quyết định chớ nên có tà niệm, chớ nên mong chiếm tiện nghi của người khác. Quư vị phải biết: Chẳng thể chiếm tiện nghi của kẻ khác đâu nhé! Quư vị chiếm tiện nghi [lúc này], trong tương lai, sẽ phải đền trả kẻ đó! Phật pháp nói rất hay, như khi ăn thịt th́ đức Phật dạy: “Người chết làm dê, dê chết làm người”. Quư vị ăn nó nửa cân, trong tương lai sẽ phải đền nó tám lượng, chuyện là như thế đó. Há có dễ dàng như vậy! Quư vị ăn nó, chẳng đền trả nó, chẳng có lẽ ấy! Thiếu nợ cũng giống như thế, nay quư vị nghĩ trọn mọi phương pháp để mưu đoạt tài sản của người khác về tay ḿnh, kết quả là ǵ? Đời sau, quư vị vẫn phải đền trả cho họ, nhân duyên quả báo chẳng sai sót mảy may! V́ thế, làm sao có thể tùy tiện đoạt tài sản hoặc tùy tiện gây hại người khác cho được? Chẳng thể. Dẫu quư vị có phương cách trốn tránh luật pháp thế gian, thường nói là “t́m kẽ hở luật pháp”, nhưng nhân quả sẽ trốn chẳng thoát!

          Trong xă hội hiện tại, con hiếu cháu hiền ít ỏi, đó là v́ nguyên nhân nào? Người hiện thời chẳng biết bố thí ân đức, chẳng biết dùng thiện tâm thành ư đối với người khác, nguyên nhân ở ngay chỗ này! V́ thế, hiện thời chúng tôi đề xướng giáo dục điều ấy. Tôi thường nói, trong mỗi lần hội nghị quốc tế, tôi nhất định sẽ nói, v́ người tham gia hội nghị mỗi lần khác nhau. Tôi luôn nói ba loại giáo dục có thể hóa giải xung đột, có thể giúp thế giới này khôi phục an định, ḥa b́nh. Thế giới này vốn an định, ḥa b́nh. V́ thế, tôi không nói là “xúc tiến”, mà nói là “khôi phục”. Ba loại giáo dục nào vậy? Thứ nhất là giáo dục luân lư, thứ hai là giáo dục nhân quả, quư vị phải hiểu nhân quả trong Thập Nhị Nhân Duyên. Sau khi đă hiểu rơ đạo lư ấy, làm sao chúng ta có thể dùng ác ư đối với kẻ khác cho được? Tuyệt đối chẳng thể! Quư vị biết chân tướng sự thật, sẽ kết thiện duyên cùng hết thảy chúng sanh.

          Tôi thường nói (các đồng học thường thân cận tôi đều biết) muỗi cắn chúng ta, muỗi chích chúng ta, quư vị hăy ngẫm xem, v́ sao nó nhất định phải chích quư vị? Vẫn chẳng phải là v́ đói mà muốn ăn no một bữa hay sao? Ư nghĩa là như vậy đó. Nếu quư vị chịu bố thí, cúng dường cho nó, cho nó ăn, nó ăn no xong, để cho nó tự bay đi. Nó chẳng phạm tội chết. Quư vị đập nó chết tươi, sẽ kết oán với nó, oan oan tương báo, chẳng hết, chẳng xong! Quư vị phải biết: Trong tương lai, nó biến thành người, quư vị biến thành muỗi. Quư vị chích nó, nó cũng đập bốp một phát, đánh chết quư vị. Oan oan tương báo! Quư vị không chịu bố thí, đuổi nó đi là được rồi, nó chẳng đáng tội chết, cớ sao phải giết hại nó? Ngay cả muỗi, kiến, quư vị đều biết thương yêu, giúp đỡ nó, chẳng tổn hại nó, đó là từ bi, là bố thí ân đức. Không sát sanh, không ăn thịt, [chính là] vô úy bố thí, quả báo là khỏe mạnh, sống lâu!

          Do tài bố thí được của cải. Do pháp bố thí, được thông minh, trí huệ. Do vô úy bố thí, được khỏe mạnh, sống lâu. V́ sao không tu bố thí? [Quư vị viện cớ] “tôi chẳng có tiền”, chẳng có tiền th́ càng phải tu tài bố thí. V́ sao? Trong tương lai, của cải quư vị chẳng thiếu dùng! Nếu quư vị chẳng chịu bố thí, đời đời kiếp kiếp nghèo túng, đời này khốn quẫn, vất vả hơn đời trước! Nếu chúng ta chẳng gặp được thầy giỏi, chẳng gặp gỡ Phật pháp, làm sao hiểu được đạo lư này? Giáo dục luân lư là dạy người khác làm người tốt, chẳng phải là dạy người ta làm quan to, chẳng phải là dạy người ta phát tài to. V́ sao? Chức vị, phát tài th́ phải có vận mạng, đă định sẵn bởi đời trước. Đời trước quư vị chẳng tu, đời này chẳng đạt được, đó là đạo lư nhất định. Nhưng quư vị chỉ cần làm người tốt, chịu tu, chịu học, gieo cái nhân cho đời sau. Đời này ta tu nhân, đời sau có quả báo tốt lành, chẳng cần hưởng quả báo trong đời này! Đời này tu cái nhân tốt, đời này làm người tốt, đấy là giáo dục luân lư, giáo dục nhân quả, đạt đến viên măn rốt ráo là giáo dục tôn giáo. Chỉ có giáo dục tôn giáo mới có thể nói rơ ràng, minh bạch chân tướng của vũ trụ và nhân sinh là chuyện như thế nào!

          V́ thế, quư vị thấy đó, Vô Minh duyên Hành, hai điều này là cái nhân trong đời quá khứ, thuộc về đời quá khứ. Đời này đạt được quả báo, năm điều từ Thức cho đến Thọ là quả báo. Thức, nương theo nghiệp trong đời quá khứ mà thọ một niệm thụ thai trong đời này. Gặp được duyên, cha mẹ là duyên, tức là bốn loại duyên như tôi vừa mới nói. Chỉ cần có bốn loại duyên ấy, sau khi gặp gỡ, một niệm dấy lên, người ấy bèn nhập thai, ở trong thai, chúng ta nói là “đầu thai”, là chuyện như thế đó. Chẳng có kẻ nào làm chúa tể. Quỷ thần làm chúa tể, Diêm La làm chúa tể ư? Chẳng có chuyện ấy! Chính là một niệm của chính quư vị, do có duyên với cha mẹ mà dấy động một niệm. Một niệm ấy chính là phiền năo dấy lên hiện hành, sẽ vào trong thai. Niệm ấy là ǵ vậy? Ái dục!

          Điều kế tiếp là Danh Sắc. Danh Sắc là ở trong thai, thân tâm dần dần tăng trưởng, gọi bằng danh xưng này. Danh là v́ nó là sống động, Sắc là vật chất. Nó là một khối thịt trong thai mẹ, nhưng khối thịt ấy sống động, chẳng chết cứng. Nó tăng trưởng dần dần, dần dần tăng trưởng trở thành h́nh dáng con người. Khi đă hoàn toàn h́nh thành h́nh dạng con người, bèn gọi là Lục Xứ (Lục Nhập). Lục Xứ là sáu căn, tức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đều đă trưởng thành. Dần dần, sáu căn thảy đều trọn đủ, kẻ ấy bèn xuất thai, bèn sanh ra. V́ thế, từ khi thai nhi h́nh thành mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, măi cho đến trước khi được sanh ra, đều gọi là Lục Xứ, đều gọi bằng danh xưng là Lục Xứ.

          Kế đó là Xúc. Nói “Xúc” tức là nói theo kiểu trước kia. Xúc là ǵ? Đứa bé vừa xuất thai, tiếp xúc cảnh giới bên ngoài. V́ thế, phải biết Xúc là xuất thai, tức là sanh ra. Sanh ra, sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) của nó tiếp xúc với thế giới bên ngoài thân thể mẹ, nó có cảm xúc. Quư vị thấy nó sanh ra bèn khóc, v́ sao? Đau khổ. Ở trong thai mẹ là một hoàn cảnh sống, khi rời khỏi thai mẹ, sẽ là một hoàn cảnh bất đồng vời vợi, nó chịu không nổi. V́ thế, nó rất đau khổ. Nó phải tập quen dần dần, tập quen với bên ngoài thai mẹ, tập quen với hoàn cảnh bên ngoài thân thể mẹ, nó phải tập quen dần. V́ thế, khi trẻ nhỏ sanh ra, chẳng có đứa nào không khóc. Quư vị nghe kỹ tiếng khóc, [sẽ thấy là] “Khổ a! Khổ a!” Kêu khổ, đến thế gian này sẽ phải khổ suốt đời! Quư vị thấy trẻ nhỏ nào vừa sanh ra bèn cười to ha hả? Chẳng có! V́ thế, quư vị nh́n từ những hiện tượng ấy, quan sát cẩn thận, sẽ liễu giải đời người xác thực là khổ. Do vậy, Xúc là tiếp xúc, từ khi sanh ra măi cho đến lúc già chết, có ngày nào chẳng tiếp xúc? Tiếp xúc xă hội bên ngoài, tiếp xúc hết thảy người, sự, vật. Đó là Xúc.

          Kế đó là Thọ. Trước kia, Thọ là sau khi đă sáu, bảy tuổi; hiện thời, Thọ sớm hơn. Chúng ta thấy điều này rất rơ ràng. Trước kia, xác thực là sau sáu, bảy tuổi, dần dần trẻ nhỏ đối với hết thảy sự vật, do nhận biết khổ lạc khác biệt mà có cảm nhận. Hiện thời như tôi thấy, thông minh một chút th́ trẻ nít một tuổi đă có Thọ. Trẻ nít một, hai tuổi đă có thể quan sát sắc mặt, suy xét lời nói [của người lớn], lợi hại quá! Học từ đâu ra? Tôi nghĩ là học từ TV. Quư vị thấy sau khi nó vừa sanh ra, c̣n ngủ trong nôi, mỗi ngày xem những ǵ? Mỗi ngày xem TV. Cha mẹ chẳng dạy mà là TV dạy nó. Nó học được rất nhiều thứ từ TV. Tuy nó chưa thể nói chuyện, chẳng đi được, trong tâm nó biết rất rơ ràng, rất minh bạch. Nhất cử nhất động của người lớn, nó mắt thấy, tai nghe, sẽ có phản ứng. Chỉ cần quư vị nh́n từ phản ứng, bèn biết là nó có Thọ, có ưa thích, có chán ghét, có những cảm nhận khổ lạc, có thể thấy rất rơ ràng.

          Thọ là do có cảm nhận mà dấy lên, cũng là măi cho đến khi già, chết, mỗi ngày quư vị đều đang Thọ. Trong cuộc sống, quư vị đều thọ, thọ trong công việc, lại c̣n thọ trong xử sự, đăi người tiếp vật. Thọ là ǵ? Đức Phật nói năm loại [cảm nhận] lớn là khổ, lạc, ưu, hỷ, xả. Suốt một đời, nói chung, quư vị chẳng vượt ra khỏi năm chữ ấy. Thân có khổ, lạc, tâm có ưu, hỷ; khi khổ, lạc, ưu, hỷ tạm ngừng th́ gọi là Xả. Nói chung, chẳng ra ngoài năm loại lớn ấy. V́ thế, gọi là Ngũ Thọ. Năm tầng cấp từ Thức đến Thọ là quả báo. Trong ấy, quư vị đến đầu thai, Phật pháp nói rất rơ ràng, Dẫn Nghiệp, tức là thiện ác đă tạo trong đời quá khứ dẫn dắt quư vị đi đầu thai, chẳng phải là có chúa tể khác biệt. Xác thực là đúng như kinh Cổ Lan đă nói, Allah đă dựa theo tiền định để ban cho quư vị, chẳng phải do ư nghĩ của chính ông ta, mà là dựa theo tiền định. Phật pháp nói rất thấu triệt, trong đời quá khứ từng tŕ Ngũ Giới, từng tu Thập Thiện, [vậy th́] Ngũ Giới, Thập Thiện sẽ dẫn dắt quư vị đến đầu thai trong nhân gian. Chuyện là như thế đó, dẫn dắt quư vị [đi đầu thai]! Khổ, lạc, ưu, hỷ, xả trong một đời này [gọi chung] là Măn Nghiệp.

          V́ thế, chúng ta sanh trong nhân đạo, Dẫn Nghiệp giống nhau, Măn Nghiệp khác nhau. Măn Nghiệp là do những điều thiện ác đă làm trong đời quá khứ tích lũy lại, cảm lấy quả báo trong đời này, tức là quả báo do khổ, lạc, ưu, hỷ, xả trong đời này. V́ vậy, giáo dục hết sức trọng yếu. Do người Hoa hiểu đạo lư này, [họ nhận biết] giáo dục có thể giúp quư vị cải thiện. Ví như trong quá khứ đă tạo ác nghiệp quá nhiều, trong đời này, quư vị phải chịu khổ. Nếu quư vị được giáo dục rất tốt, giác ngộ, trong một đời này, nếu sửa đổi tập khí, tật xấu, đoạn ác, tu thiện, tích lũy công đức, sẽ có thể chuyển đổi vận mạng của chính ḿnh. Quư vị thấy Liễu Phàm Tứ Huấn là một tấm gương rất tốt. Du Tịnh Ư Công Ngộ Táo Thần Kư toàn là sự thật, hoàn toàn chẳng giả. Hiện thời, có đồng tu muốn quay Du Tịnh Ư Ngộ Táo Thần Kư thành phim, làm thành phim nhiều tập, đem kịch bản đến chỗ tôi. Tôi đọc thấy viết rất khá, chỉ sửa chữa sơ lược đôi chút, tổng cộng chỉ có sáu tập. Tôi nghĩ trong tương lai, chư vị đều có thể xem [bộ phim ấy]. Cách sửa đổi và quả báo đạt được của Du Tịnh Ư c̣n thù thắng hơn tiên sinh Liễu Phàm.

          Điều này cho chúng ta biết: Có mạng vận hay không? Có! Có định số (vận số nhất định). Những ǵ đă tạo trong đời trước chính là định số; nhưng quư vị phải hiểu, ngoài định số c̣n có biến số. Biến số là ǵ? Những ǵ ta đă tạo trong đời này. Trong đời quá khứ, tạo ác nhiều, đời này chẳng làm ác, chuyên làm lành, điều thiện trong đời này đủ để che lấp những điều ác trong quá khứ. Như vậy là quư vị có thiện, chẳng có ác, mạng của quư vị hoàn toàn sửa đổi. Chúng ta thấy tiên sinh Liễu Phàm sửa đổi có hiệu quả, thu nhập hằng năm gia tăng. Đấy là do Tài Bố Thí mà tăng thêm, tăng trưởng thông minh, trí huệ. Thi cử hằng năm, Khổng tiên sinh tiên đoán cho ông ta, tiên đoán thứ tự đỗ đạt [của Viên Liễu Phàm] trong mỗi lần khảo thí đều chẳng sai. Ông Viên gặp thiền sư Vân Cốc, biết sửa lỗi, đổi mới, dốc hết tánh mạng nỗ lực tu thiện. Lại đi dự thi, thứ tự [đỗ đạt] cao hơn. Có một lần Khổng tiên sinh coi bói cho ông Viên, nói ông Viên sẽ đậu hạng ba, kết quả, ông Viên đậu hạng nhất, tiến cao hơn. Hiệu quả chẳng thể nghĩ bàn! Do vậy, nếu người thật sự hiểu nhân quả, hăy nên nỗ lực đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, sáng tạo vận mạng mới toanh cho chính ḿnh. Đấy mới gọi là người thông minh, có trí huệ.

          Đến đây là một tầng nhân quả, là một thứ nhân quả trong hai đời, tức quá khứ và hiện tại. Cái nhân trong quá khứ là Vô Minh, Hành là duyên (nhân duyên), đời này là quả báo. Nhưng trong một đời này, chúng ta vẫn có thể tạo tác; do vậy, tạo nghiệp. Tạo nghiệp th́ dùng ba chữ đă bao gồm, tức là Ái, Thủ. Hữu. Giải thích Ái th́ sau mười bốn, mười lăm tuổi, sanh ra các thứ ái dục mạnh mẽ. Hiện thời, độ tuổi này đă sớm hơn, đại khái là mười tuổi đă có ái dục rất mạnh mẽ, thậm chí bảy, tám tuổi, ái dục mạnh mẽ đă hiện tiền. Do nguyên nhân nào? Giáo dục. Người hiện thời từ bé đă được dạy thói ích kỷ! Giáo dục phương Tây đă dạy điều ǵ từ nhỏ? Cạnh tranh! Cứ làm như không có cạnh tranh, sẽ chẳng thể sanh tồn! Từ nhỏ đă dạy cạnh tranh, cạnh tranh là “có ta, sẽ chẳng có ngươi”. Do vậy, trong quan niệm toàn là tổn người, lợi ḿnh, đấy là tạo ác nghiệp. Chúng ta biết cạnh tranh ở mức độ cao hơn sẽ là đấu tranh, đấu tranh nâng cao hơn th́ là chiến tranh. Do vậy, quan niệm giáo dục đi vào tử lộ. Chúng ta hồi tưởng cổ thánh tiên hiền dạy người khác, từ nhỏ đă dạy ǵ? Dạy nhân nhượng, dạy tôn trọng người khác. Mọi chuyện đều biết nhường nhịn, lễ độ, nhún nhường. Đấy là hài ḥa.

          Nho gia nói đến lễ. Tinh thần của Lễ là “tự ty, tôn nhân” (chính ḿnh khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác), hoàn toàn tương phản với quan niệm giáo dục của phương Tây. Chúng ta phải chú tâm suy nghĩ, những thứ truyền thống của chúng ta tốt đẹp, hay những thứ của ngoại quốc tốt hơn? Quư vị phải hiểu rơ ràng, v́ nó có liên quan đến hạnh phúc của quư vị trong một đời này, liên quan đến quả báo trong đời sau! Do vậy, chúng ta thật sự tin tưởng nhân quả ba đời. Có ư niệm ái dục, ư niệm dục vọng sanh khởi, do có dục vọng, kẻ ấy sẽ Thủ, [tức là] sẽ muốn đoạt lấy. Hiện thời, chẳng phải là sau khi đă trưởng thành [mới là như vậy]! Hiện nay, thanh thiếu niên đă là như thế. Ái dục càng mạnh, kẻ rong ruổi theo các cảnh để giành lấy những điều mong cầu ḥng thỏa măn dục vọng của chính ḿnh. Danh từ mới mẻ hiện thời là “cạnh tranh với kẻ khác”, nhất định phải chiến thắng, nhất định là chính ḿnh phải giành phần thắng. Hễ quư vị thắng, kẻ khác sẽ thua. Chẳng biết những thứ ấy vốn có trong mạng, chẳng phải là ai cũng có thể tranh giành được! V́ thế, nói đến mạng, chẳng thể không tin tưởng!

          Có Thủ, Thủ là tạo nghiệp, sau đấy bèn kết nghiệp! Hữu chính là phiền năo nương tựa vào Ái và Thủ. Tạo các thứ nghiệp, chắc chắn sẽ có quả trong tương lai. Nghiệp ấy là ǵ? Kết nghiệp trong A Lại Da Thức; nghiệp ấy giống như chúng ta trong đời này nói đến Hành trong đời trước vậy. Những ǵ chúng ta đă làm trong đời này, Ái và Thủ thuộc về Vô Minh. Ái là vô minh, là mê hoặc, thứ ǵ cũng đều mong chiếm hữu, đấy là tạo nghiệp. Nghiệp là như thế nào? Nghiệp sẽ cảm vời quả báo trong đời sau. Do vậy, nghiệp dẫn đến hậu hữu. Quư vị lại có nhân duyên cho đời sau, bèn có đời sau. V́ vậy, Ái, Thủ, Hữu là nghiệp nhân đă tạo trong đời này, cảm vời Sanh và Lăo Tử trong đời sau. Quư vị thấy đức Phật dùng phương pháp đơn giản như vậy để giảng rơ ràng, giảng minh bạch nhân quả ba đời. Bích Chi Phật lănh ngộ từ chỗ này, hiểu được ǵ? Từ vô lượng kiếp đến nay, sanh tử luân hồi không ngừng, vốn là chuyện như thế đó!

          Làm thế nào để thoát ly luân hồi? Hăy đổ công dốc sức ngay nơi Ái, Thủ, Hữu. Có thể thật sự buông xuống ái dục, chẳng c̣n tham ái, đối với thứ ưa thích chẳng tham ái, đối với thứ không ưa thích chẳng nóng giận. Sống trong thế gian này, đối với hết thảy hoàn cảnh, hoàn cảnh nhân sự cũng thế, mà hoàn cảnh vật chất cũng thế, thảy đều dùng cái tâm b́nh đẳng để đối đăi, dùng cái tâm thanh tịnh để đối đăi, chẳng mê hoặc. Sống trong thế gian này, bất luận làm chuyện ǵ, đều là tùy duyên, chứ không phan duyên, [đó là] chẳng Thủ. Hễ Thủ, quư vị sẽ tạo nghiệp. Bởi lẽ, phan duyên bèn tạo nghiệp, tùy duyên chẳng tạo nghiệp. Tự ḿnh nhất định chớ nên nghĩ ta phải làm chi đó. Đấy là tạo nghiệp, hăy tùy duyên! Những chuyện đă làm đều là v́ chúng sanh. Người học Phật là v́ hai chuyện, một là v́ chánh pháp tồn tại lâu dài, hai là v́ lợi lạc hữu t́nh, chẳng v́ chính ḿnh. Chẳng có chính ḿnh, quư vị sẽ không tạo nghiệp, như vậy th́ mới có thể liễu sanh tử, thoát tam giới. Kinh Kim Cang đă dạy chúng ta cách Quán, dạy chúng ta cách sửa đổi quan niệm sai lầm ấy. Quư vị thấy kinh dạy rất hay: “Nếu Bồ Tát có ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, sẽ chẳng phải là Bồ Tát!” Chúng ta phải thường nghĩ tưởng câu kinh văn này, ḥng cảnh tỉnh chính ḿnh. Chính ḿnh dấy lên một ư niệm bất thiện, dấy lên ư niệm ích kỷ, hăy niệm mấy câu kinh văn này nhiều lượt. “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, “hết thảy các pháp hữu vi đều như mộng, huyễn, bọt, bóng”, niệm mấy câu này nhiều lượt, sẽ tỉnh lại, chẳng c̣n mê hoặc. Có muốn hay không? Chớ nên muốn! Hễ muốn, quư vị sẽ bị phiền toái!

          Thích Ca Mâu Ni Phật lăo nhân gia suốt cả một đời đă nêu gương tốt nhất. Thích Ca Mâu Ni Phật có lập đạo tràng hay không? Chẳng có. Suốt đời Ngài hướng dẫn một tăng đoàn khá lớn, đệ tử thường tùy là một ngàn hai trăm năm mươi lăm vị! Trụ ở nơi đâu? Nghỉ đêm dưới gốc cây, ăn th́ sao? Khất thực! Giữa trưa ăn một bữa, tối nghỉ dưới cội cây. Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng dựng đạo tràng, phải ghi nhớ điều này. Quốc vương, đại thần, trưởng giả, cư sĩ cúng dường đạo tràng là tạm thời. Có lúc thỉnh Ngài đến giảng kinh, bèn cung cấp hoàn cảnh [cư trụ cho Tăng đoàn], giảng xong bèn ra đi. Đức Phật xuất gia, nếu quư vị lại dựng đạo tràng, chẳng phải là lại biến thành có nhà ư?

          Đạo tràng là thập phương đạo tràng, chẳng phải là của cá nhân, nhằm cung cấp phương tiện cho người tu hành chân chánh. Chúng ta cung cấp tứ sự cúng dường, hiện thời c̣n cúng dường đạo tràng, cúng dường cơ sở, khiến cho quư vị an tâm ở đấy tu đạo, phải hiểu đạo lư này. Nếu chiếm đạo tràng ấy làm của riêng tư, làm đạo tràng của ta, được thôi! Đời sau quư vị có thể ĺa khỏi đạo tràng hay không? Chẳng thể! Nhưng người ở trong đạo tràng là người xuất gia, chẳng có nam nữ giao phối, đời sau quư vị đầu thai vào đạo tràng này, sẽ đầu thai thành ǵ? Trong đạo tràng có chuột, có gián, có kiến, chúng nó giao phối, đời sau quư vị sanh trong ngôi tự viện ấy, sẽ sanh trong những loài đó. V́ sao? Quư vị chấp trước đạo tràng ấy là của quư vị, chẳng chịu buông bỏ, chẳng chịu buông xuống, đời sau sẽ biến thành những loài ấy. Trong kinh giáo đă nói rất rơ ràng, rất minh bạch. Người xuất gia buông xuống muôn duyên, sáu căn thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần, đấy mới là hợp lư!

          V́ lẽ này, người học Phật bất luận tại gia hay xuất gia, chẳng thể không đọc kinh, chẳng thể không nghe kinh, chẳng thể không tu hành. Nhất định phải hiểu tu hành là uốn nắn hành vi sai lầm của chính ḿnh. Chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác chẳng giống như kinh luận đă nói, chúng ta đă sai mất rồi! Phải nương theo kinh luận, uốn nắn những sai lầm của chính ḿnh; đấy là tu hành. Chớ nên không hiểu điều này! V́ thế, tu hành là sửa chữa hành vi sai lầm của chính ḿnh. Đức Phật dạy chúng ta phải lễ kính chư Phật, phải xưng tán Như Lai. Chư Phật là ǵ? Chư Phật có quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật. Quá khứ, hiện tại được nói trong kinh, c̣n vị lai Phật là ǵ? Vị lai Phật là hết thảy chúng sanh. Tôi mỗi lần lên xuống thang, đều thấy có nhiều đồng tu chăm sóc, ngăn cản người khác để cho tôi lên xuống trước. Chuyện này dường như là đối xử lễ kính đối với tôi, nhưng chẳng công bằng đối với người khác. Có cần phải lễ kính người khác hay không? Họ có phải là chư Phật hay không? Phải! Phải b́nh đẳng, phải lễ ngộ, phải khách sáo, phải đều chiếu cố trọn khắp, như vậy th́ trong tâm người ta mới sanh ḷng hoan hỷ. Quư vị một mực ích kỷ, ta phải đi trước, các vị theo sau, chẳng tốt! Hành vi ấy là sai lầm. Hy vọng các đồng học chúng ta phải giác ngộ, phải sửa đổi. Đối với bất luận người nào, cũng đều đối đăi b́nh đẳng, đối với bất cứ ai cũng đều phải tôn kính, đều phải lễ phép, nhân nhượng, như vậy th́ mới nên! A! Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói tới đây!       

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một, Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 10 hết

 

 

 



[1] Lợi Sử chính là năm thứ kiến (Kiến phiền năo), tức Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Thủ Kiến, Tà Kiến. Độn Sử (Tư phiền năo) là tham, sân, si, mạn, nghi.

[2] Vị ḥa thượng này sanh năm 1906, viên tịch năm 2008, pháp hiệu Tâm Dự, là môn chủ đời thứ tám mươi sáu của tổ đ́nh Tri Ân Viện (Chion-in) thuộc Tịnh Độ Tông (Jōdo-shū) Nhật Bản, chi phái Tây Sơn (Seizan, chi phái được sáng lập bởi ngài Chứng Không, đồ đệ của tổ Pháp Nhiên) và chi phái Trấn Tây (Chinzei). Ngài từng đảm nhiệm chức vụ Giám Học Trưởng của đại học Đại Chánh, là pháp chủ của chùa Tăng Thượng, kiêm hội trưởng hội Phật giáo Nhật Bản.