Đại Phương Quảng Phật

Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một,

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 14

大方廣佛華嚴經

(十一)淨行品

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Địa điểm: Hương Cảng Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội

Khởi giảng từ ngày mồng Bảy tháng Mười Một năm 2005

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Minh Tiến

 

 

Tập 1489

 

          Chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống, xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, xem từ đoạn thứ mười trong phần trường hàng. Chúng tôi đọc kinh văn một lượt:

 

          (Kinh) Vân hà đắc dữ nhất thiết chúng sanh vi y, vi cứu, vi quy, vi thú, vi cự, vi minh, vi chiếu, vi đạo, vi thắng đạo, vi phổ đạo?

          ()云何得與一切眾生為依。為救。為歸。為趣。為炬。為明。為照。為導。為勝導。為普導。

          (Kinh: Làm thế nào để là nơi nương tựa, nơi cứu tế, nơi quay về, nơi hướng đến, làm đuốc, làm ánh sáng, chiếu soi, dẫn dắt, dẫn dắt thù thắng, dẫn dắt trọn khắp cho hết thảy chúng sanh?)

 

          Đối với mười câu này, hôm qua chúng ta đă học đến “vi y, vi cứu”, hôm nay xem từ câu thứ ba, tức là “vi quy”, cũng là “vân hà đắc dữ nhất thiết chúng sanh vi quy” (làm thế nào để làm chỗ quay về cho hết thảy chúng sanh). “Quy” () là quay đầu. Trong phần [kinh văn của địa vị] Sơ Hồi Hướng [trong phẩm Thập Hồi Hướng kinh Hoa Nghiêm], Thanh Lương đại sư đă bảo “giai linh đắc ly chư bố úy cố” (v́ đều làm cho [hết thảy chúng sanh] được ĺa các sự sợ hăi). Câu ấy đă nói rất rơ ràng, nay chúng ta đọc xong, có cảm xúc vô cùng sâu đậm! V́ xă hội hiện tại đáng gọi là “xă hội khủng bố”, làm thế nào để có thể hóa giải xung đột, xa ĺa sợ hăi chính là chủ đề đàm luận của mọi người trong mấy năm gần đây. Do vậy, chúng tôi đọc câu kinh văn này, cảm xúc càng sâu hơn!

          “Quy” là quay đầu, nhà Phật thường nói “hồi đầu thị ngạn” (回頭是岸, quay đầu là bờ), phải từ trong nỗi sợ hăi mà quay lại. “Bố úy” (怖畏) được nói trong Phật pháp c̣n đáng kinh sợ hơn những phần tử khủng bố như người hiện thời thường nói. “Bố úy” ở đây chính là nói đến tam đồ, tức địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Như thế nào mới có thể ĺa khỏi tam đồ? Vậy th́ quư vị phải biết tam đồ do như thế nào mà có? Trong kinh luận Đại, Tiểu Thừa, đức Phật đă dạy cặn kẽ, nhất là địa ngục quá sức kinh sợ, [tam đồ] là do trong đời này chúng ta đă tạo các nghiệp bất thiện mà cảm vời! Vô lượng h́nh phạt trong địa ngục nói chẳng cùng tận! Trong các kinh điển, đức Phật đă nói đến, đă nói rất nhiều. Nói thật ra, [những điều Ngài đă nói] chỉ là t́nh huống đại khái trong địa ngục mà thôi! V́ sao nói chẳng cùng tận? Chúng sanh tạo nghiệp vô lượng vô biên, cho nên nghiệp báo cũng là vô lượng vô biên. Chúng ta nhất định phải hiểu đạo lư này. Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, đức Phật đă dạy, chỉ cần chẳng tạo mười ác nghiệp, mỗi điều trong mười ác nghiệp đều là cương lănh [của các ác nghiệp]. Nói cặn kẽ, mỗi điều sẽ đều nói chẳng cùng tận! Không sát sanh, sẽ không kết oán cừu với hết thảy chúng sanh. Giết hại chúng sanh, chẳng biết đến nỗi oán hận của chúng sanh. Nỗi oán hận ấy sẽ là oan oan tương báo, chẳng hết, chẳng xong, đời đời kiếp kiếp! Quư vị nói xem, chuyện này đáng sợ lắm thay! Khi quư vị lấn hiếp kẻ khác, người ta sẽ báo cừu, đời này chẳng thể báo cừu, [sẽ đợi tới] đời sau!

          Các đồng học học Phật đều biết, quư vị đều đă đọc Từ Bi Tam Muội Thủy Sám. Từ Bi Tam Muội Thủy Sám nói về chuyện của Ngộ Đạt quốc sư là người thời Đường. Ngài bị một mụt ghẻ mặt người, gần như mất mạng! Do đâu mà có mụt ghẻ mặt người ấy? Nguyên lai là trong mười đời trước, Ngài đă từng giết một người. Người ấy oán hận Ngài, cả mười đời đều theo sát bên Ngài. Nhưng đến đời thứ hai, Ngài xuất gia, tu hành rất khá, có thần hộ pháp bảo vệ. Mỗi đời tiếp theo, Ngài suốt mười đời tŕ giới tinh nghiêm, chẳng tạo ác nghiệp. V́ thế, cả mười đời chẳng mất thân người, lỗi lạc thay! Mười đời chẳng mất thân người, lại c̣n mười đời đều xuất gia, đều tu hành, tu hành rất khá. Đời thứ mười một, làm thầy của hoàng đế, tức quốc sư, vinh diệu tột bậc! Nhà vua biếu Ngài một ṭa báu bằng trầm hương. Sau khi Ngài nhận lấy, hết sức hoan hỷ, dấy lên tâm ngạo mạn (ngạo mạn là phiền năo, tham, sân, si, mạn), cảm thấy chính ḿnh rất vinh diệu, người xuất gia trong thiên hạ chẳng có kẻ nào mà ḥng sánh bằng Ngài! Vừa sanh ư niệm ấy, thần hộ pháp bỏ đi, oan gia t́m tới, đấy chính là [nguyên cớ nổi] mụt ghẻ mặt người, đến báo cừu mà! Khéo sao, Ngài tu hành mười đời, xác thực là chẳng uổng phí công phu, cảm động một vị A La Hán, tức tôn giả Ca Nặc Ca. Tôn giả Ca Nặc Ca điều giải cho Ngài, đối phương kể ra nhân duyên, “do nguyên nhân ǵ mà t́m đến ngươi”! Nay được tôn giả Ca Nặc Ca điều giải, người ấy cũng hoan hỷ tiếp nhận, ĺa khỏi, ghẻ mặt người khỏi hẳn!

          Do vậy, chư vị nên hiểu là những kẻ oán hận đời đời kiếp kiếp ở bên cạnh quư vị chờ đợi cơ hội. Khi quư vị có phước báo, họ chẳng dám đến quấy phá quư vị. Khi quư vị tu công tích đức, nhất định là có thiện thần che chở, họ chẳng có cơ hội. Nhưng quư vị dấy lên một niệm tham, sân, si, mạn, họ sẽ có cơ hội đến báo thù. Quư vị nói chuyện này có đáng kinh hăi lắm hay không? Đấy [mới chỉ] là người [đến báo thù]. Ngoài người ra là súc sanh. Súc sanh đều có linh tánh. Mỗi ngày quư vị giết chúng, ăn chúng, chúng nó có cam tâm t́nh nguyện cúng dường quư vị hay không? Nếu chẳng cam ḷng, chẳng t́nh nguyện, quư vị phải nghĩ đến sau khi đă kết thành mối oán cừu ấy th́ phải làm sao? Trong đời quá khứ, trong đời này, nói thật thà, kể từ trước khi chúng ta tiếp xúc Phật pháp, chúng ta đều ăn thịt, đều sát sanh. Trong đời này, kết mối oán cừu cùng những chúng sanh ấy, chẳng nghĩ th́ không biết; hễ nghĩ đến, sẽ hết sức kinh hăi! Trong đời này, gặp gỡ khá nhiều chuyện chẳng vừa ư, gian nan, khốn khổ, cho đến bệnh tật là do đâu mà ra? Chính là v́ từ chỗ này mà ra! Nghiệp nhân quả báo, chẳng sai suyển mảy may. Quư vị càng nghĩ, càng kinh hăi. Đấy mới là hoa báo, quả báo ở trong đời sau, đáng sợ quá! Làm thế nào để có thể ĺa khỏi nỗi kinh sợ trong ác đạo, nỗi kinh sợ trong tai nạn? Đức Phật dạy chúng ta quay đầu, quay đầu là bờ!

          Hôm nay, có một đồng tu bên Úc gọi điện thoại cho tôi, cho biết ở bên Nam Dương có một người có công năng đặc dị bảo ông ta: “Sau tháng Giêng, sẽ phát sanh ôn dịch[1]. Đă thế, trận ôn dịch này hết sức nghiêm trọng!” Ông ta kể với tôi tin tức ấy, hỏi tôi cách dự pḥng như thế nào? Trong năm nay, không chỉ là một lần, mà tối thiểu là có đến ba lần có người đến nói với tôi về chuyện này. Hiện thời, tổ chức Y Tế Thế Giới cũng cảnh báo, trận ôn dịch ấy chính là dịch cúm gà. Họ nói, trận dịch ấy hễ bộc phát sẽ lan tràn khắp thế giới, ước tính sẽ lây nhiễm đến một ức người, tỷ lệ tử vong là một phần hai[2], rất kinh khủng! Nhưng có tin tức cho tôi biết, người ăn chay, người niệm Phật, tâm địa thiện lương sẽ chẳng bị cảm nhiễm (lây bệnh). Hôm nay, khi người ấy nói với tôi về tin ấy, tôi liền thuật lại lời này với ông ta: Chớ nên hoảng sợ, chớ nên kinh hoàng, hăy suy ngẫm [tu tập sao cho] chính ḿnh là thiện tâm, tư tưởng thiện, hành vi thiện, tức là như trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, đức Phật đă dạy: “Bồ Tát có một pháp có thể ĺa hết thảy các nỗi khổ trong thế gian”. Trận ôn dịch ấy là khổ, nghĩ đến câu nói ấy của đức Phật trong kinh rất hữu lư, không tính sẵn mà phù hợp với các điều do những người được gọi là “thông linh”[3] đă nói. Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo dạy “thường niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp, quan sát thiện pháp”, quư vị sẽ có thể tránh khỏi [các thứ kinh sợ như tai nạn, ôn dịch v.v...]

          Trong nền y học xa xưa của Trung Hoa, đă có một câu nói về kinh nghiệm như thế này: “Đông ôn” (冬瘟), tức là bệnh dịch phát sanh vào mùa Đông, nếu thời gian xảy ra ôn dịch vào mùa Đông không dài, vào mùa Xuân sẽ chẳng có ôn dịch. Trận ôn dịch ấy không nghiêm trọng. Nếu ôn dịch từ mùa Đông kéo dài đến mùa Xuân, lan tiếp sang mùa Xuân, sẽ rất nghiêm trọng. T́nh h́nh ấy hoàn toàn chẳng nhiều, nhưng năm nay, rất có thể trận ôn dịch từ mùa Đông kéo dài thành trận dịch mùa Xuân, là một trận ôn dịch nghiêm trọng! Từ kinh điển của nhà Phật, từ các tin tức do các linh môi[4] cung cấp, nhất là nói đến bệnh cúm gia cầm, chúng ta ngẫm lại, [sẽ thấy]: Chúng ta đă kết oán sâu đậm cùng bọn cầm thú. Quư vị thích ăn gà, ưa ăn vịt, thích ăn những loài phi cầm ấy, chúng nó phải báo thù mối oán cừu ấy. Đạo lư là như thế đó, chúng nó sẽ đến báo cừu, cho nên mới có lời truyền báo “người ăn chay sẽ chẳng bị lây bệnh”. Ăn chay nhiều năm, mối oán kết sẽ được giảm bớt ít nhiều. Nhất là đă biết yêu thương, bảo vệ sanh mạng, không chỉ là ăn chay, mà c̣n thường xuyên phóng sanh, kết thiện duyên cùng chúng. Khi chưa học Phật chẳng biết, không có ai dạy! Sau khi đă học Phật, bèn hiểu rơ, quyết định chẳng kết oán cừu với chúng sanh!

          Chúng ta hăy ngẫm xem, trong giáo dục đạo đức, trong giáo dục nhân quả, trong giáo dục tôn giáo, đều có nói! Bản thân chúng ta phải có tín tâm, phải “quay đầu là bờ”, từ Thập Ác Nghiệp quay trở lại tu Thập Thiện Nghiệp, như vậy th́ quư vị sẽ vĩnh viễn xa ĺa hết thảy kinh sợ, quư vị mới có thể vĩnh viễn ĺa khỏi, đúng như kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo đă nói “năng ly nhất thiết thế gian khổ” (có thể ĺa hết thảy các nỗi khổ thế gian), nhất định phải nghiêm túc hành tŕ! Chúng tôi cũng đă giảng mười điều ấy (Thập Thiện Nghiệp) khá cặn kẽ. Đĩa CD và sách Giảng Kư của kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo cũng được lưu thông rất nhiều. Có thể từ Thập Ác trở về Thập Thiện, đấy chính là “ly bố úy”. Xă hội hiện thực có bao giờ chẳng phải là như vậy! Hiện nay, chúng ta nói đến chuyện hóa giải xung đột, quư vị hăy suy nghĩ cặn kẽ, xung đột phát sanh như thế nào? Chẳng ĺa khỏi Thập Ác! Như thế nào th́ mới có thể hóa giải xung đột, khôi phục xă hội an định, ḥa b́nh? Một đạo lư [mà thôi]! Tâm là thiện th́ mới có thể thật sự hóa giải. Chuyện này quyết chẳng thể đổ trách nhiệm cho kẻ khác, [hễ đổ thừa], quư vị đă sai mất rồi! Hăy thực hiện từ chính ḿnh! Quư vị chớ nên đ̣i hỏi người khác phải làm, người khác chưa chắc đă chịu nghe theo quư vị! Trước hết, hăy khởi đầu làm từ chính ḿnh. Chính ḿnh đắc độ rồi mới có thể độ người khác. Trong đại tai nạn, chính ḿnh b́nh an vượt qua, người ta trông thấy sẽ học tập theo, quư vị sẽ giảng những đạo lư này cho người ta nghe.

          Kẻ b́nh phàm có một quan niệm sai lầm: “Ăn chay chẳng đủ dinh dưỡng, gây trở ngại cho sức khỏe”, toàn là dùng lư do này! Người học Phật tại Trung Hoa, bất luận tại gia hay xuất gia, đă gần hơn một ngàn năm qua, chuyện ăn chay tại Trung Hoa là do Lương Vũ Đế đề xướng. Thời gian ấy chẳng thể coi là ngắn, bao nhiêu người ăn chay nhiều năm như thế, người khỏe mạnh, sống lâu rất nhiều, quư vị có thể nói là “ăn chay thiếu dinh dưỡng” ư? Sau khi tôi đă hiểu đạo lư này, bèn nghiêm túc chọn lựa ăn chay. Sang năm, tôi đă ăn chay năm mươi lăm năm rồi! Tại khá nhiều nơi ở nước ngoài, h́nh tượng này đă độ chẳng ít người. Có nhiều người cùng tuổi với tôi, thậm chí nhỏ hơn tôi mấy tuổi, chúng tôi đứng chung một chỗ, tôi trông trẻ hơn họ, thân thể tôi khỏe mạnh hơn họ. Họ cũng rất hâm mộ: “Thưa pháp sư! Thầy dùng phương pháp ǵ để bảo dưỡng thân thể?” Họ chẳng hỏi chi khác, nhất định sẽ hỏi điều này! Ngay cả Tiến Sĩ Giang Bổn Thắng của Nhật Bản, khi chúng tôi lần đầu dùng cơm với nhau, ông ta cũng rất hâm mộ. Ông ta mới sáu mươi mấy tuổi, bệnh tật rất nhiều, hỏi tôi cách bảo dưỡng như thế nào? Ngay lúc đó, tôi liền bảo ông ta: “Phương pháp tôi bảo dưỡng thân thể chính là kết luận rút ra từ việc nghiên cứu của ông!” Ông ta trố mắt: “Kết luận ǵ vậy?” “Yêu thương, cảm ơn! Tôi sống trong thế giới yêu thương và cảm ơn. Đấy chính là kết luận ông đă thu được từ chuyện kết tinh của nước!” Ông ta thu được kết luận, nhận biết chân lư trong vũ trụ, điều thù thắng khôn sánh chính là tâm yêu thương và cảm tạ. Ông ta đạt được kết luận ấy. Tôi nói: “Tôi đă thực hành cái tâm yêu thương và cảm tạ ấy. Ông đă nghiên cứu t́m ra, nhưng vẫn chưa làm được”.

          Chư vị hăy ngẫm xem, đối với ái tâm (tâm yêu thương), đă có ái tâm viên măn, làm sao có thể tạo ác nghiệp cho được? Thập Thiện toàn là ái tâm, Thập Ác và ái tâm hoàn toàn tương phản. Do vậy, nói đến Ái, điều thứ nhất là “tự ái” (biết yêu thương chính ḿnh). Đă yêu thương chính ḿnh th́ quư vị mới có thể yêu thương kẻ khác. Quư vị hoàn toàn chẳng biết yêu thương chính ḿnh, làm sao quư vị có thể yêu thương người khác cho được? Há có lẽ ấy! Biết yêu thương chính ḿnh, chắc chắn sẽ tu Thập Thiện Nghiệp. Chúng ta lừa gạt một người nào đó, tức là chẳng biết yêu thương chính ḿnh. V́ sao? Lừa gạt là tội ác. Chúng ta khuấy động thị phi, nói đôi chiều, chính là chẳng biết yêu thương chính ḿnh. V́ sao là chẳng biết yêu thương chính ḿnh? Khuấy động thị phi, trong tương lai sẽ đọa vào địa ngục Bạt Thiệt (拔舌, kéo lưỡi). Quư vị nói xem, kẻ ấy có biết yêu thương chính ḿnh hay chăng? Kẻ biết yêu thương chính ḿnh c̣n mong đọa vào địa ngục Bạt Thiệt ư? Kẻ biết yêu thương chính ḿnh tuyệt đối chẳng có một ác niệm, chẳng có ác tư duy, chẳng có ác ngôn, ác ngữ, sẽ chẳng có hành vi ác. Giảng kinh đă nhiều năm như vậy, tôi thường nói điều này, thường khuyên dạy mọi người: “Đối với hết thảy người, sự, vật, chúng ta quyết định chẳng có ư niệm khống chế, quyết định chẳng có ư niệm chiếm hữu”. V́ sao? Hễ quư vị có ư niệm khống chế người khác, khống chế sự vật, chiếm hữu, những ư niệm ấy đều là bất thiện. Do [ư niệm] bất thiện, sẽ chiêu cảm quả báo bất thiện. Đấy là chẳng biết yêu thương chính ḿnh. Người biết yêu thương chính ḿnh, sẽ tuyệt đối chẳng có ác niệm. V́ thế, người hành Thập Thiện Nghiệp Đạo mới là biết yêu thương chính ḿnh. Người biết yêu thương chính ḿnh, quyết định chẳng có kinh sợ, chẳng có hoảng hốt, chẳng có kinh hăi. Kẻ chẳng biết yêu thương chính ḿnh th́ sẽ có [những nỗi kinh hoảng ấy].

          Nếu nói rơ ràng hơn một chút, người biết yêu thương chính ḿnh chắc chắn chẳng ăn thịt chúng sanh. Có những kẻ nêu lời phản bác: “Ngươi ăn gạo, ăn rau dưa, đó là thực vật. Thực vật cũng có sanh mạng, đấy chẳng phải là ngươi vẫn đang sát sanh ư?” Chẳng sai! Không chỉ là thực vật có sanh mạng, ngay cả khoáng vật cũng đều là sống động. Ông Giang Bổn Thắng khi làm thí nghiệm với nước, đă chỉ ra: “Khoáng vật đều là sống động”. Trong kinh, đức Phật đă nói chẳng sai tí nào. Vạn vật do đâu mà có? Tâm hiện, thức biến. Nhà Phật gọi cái tâm ấy là Pháp Tánh, hoặc chân tâm. Chân tâm vốn sẵn có “thấy, nghe, hay, biết”. Chân tâm hiện tướng, quyết định có sắc, thanh, hương, vị. Pháp Tánh thân, Pháp Tánh độ, bản chất của tất cả hết thảy vạn vật là Pháp Tánh. Do vậy, đương nhiên là nó có thấy, nghe, hay, biết. Quư vị hiểu rơ đạo lư này, trong kinh, đức Phật đă giảng rất thấu triệt: “Toàn thể vũ trụ là một thể hữu cơ”; thế nhưng động vật, thực vật, và khoáng vật hoàn toàn bất đồng! Tuy thực vật là sanh vật, chúng chẳng giống động vật. Động vật có t́nh thức. Nói cách khác, động vật có thất t́nh, tức là mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham muốn, chúng nó có tham, sân, si, mạn. Những động vật đều có [những t́nh thức] ấy, cho nên chúng có cái tâm báo thù. Thực vật chẳng có thất t́nh, ngũ dục, chẳng có tham, sân, si, mạn, nên chẳng trả thù. Phải hiểu đạo lư này! Quư vị vẫn là chọn lựa ăn uống theo kiểu này!

          Ăn uống, nói thật ra là bất thiện. V́ phải duy tŕ thân mạng này, chẳng thể không ăn uống. Đối với chuyện ăn uống, chớ nên quá lố! V́ thế, thuở đức Phật tại thế, giữa trưa ăn một bữa, thân tâm thanh tịnh, nhu cầu ăn uống của Ngài ít ỏi. Chẳng có tạp niệm th́ một bữa cơm có đủ hay không? Chắc chắn là đủ! Thuở c̣n trẻ, chúng tôi đă thật sự làm thử chuyện này. Mỗi ngày tôi ăn hai bữa, tức là không ăn cơm tối. Nhà Phật gọi là “tŕ ngọ”. Thuở tôi mới học Phật, cuộc sống rất kham khổ. Tŕ ngọ mười lăm năm, trong đó, có năm năm chỉ ăn một bữa giữa trưa, bữa sáng cũng chẳng có, bớt việc! Qua đó, chúng tôi đă thể nghiệm: Thân thể con người là một cỗ máy; để cỗ máy hoạt động, cần phải có năng lượng. Năng lượng lấy từ thực phẩm. Nhưng chúng ta phải nên biết trạng huống tiêu hao năng lượng, từ chín mươi phần trăm trở lên đă bị tiêu hao bởi vọng niệm! Mỗi người chúng ta suốt ngày từ sáng đến tối, niệm trước diệt, niệm sau sanh, toàn là vọng tưởng, chuyện này tiêu hao năng lượng lớn nhất. Nếu quư vị nói “lao tâm, lao lực”, thật ra, năng lượng tiêu hao [v́ lao tâm, lao lực] không lớn!

          Tôi theo thầy Lư Bỉnh Nam mười năm, tôi cẩn thận quan sát thầy. Lăo nhân gia ăn một bữa giữa trưa, ăn rất ít; nhưng so sánh giữa khối lượng công việc của thầy với những kẻ b́nh phàm, thầy làm công việc bằng năm người! Mỗi ngày, thầy làm việc bằng năm người khác, [thế mà] mỗi ngày chỉ ăn một bữa! Do vậy, tôi cảm thấy lao tâm hay lao lực tiêu hao năng lượng cũng chẳng lớn, mà chính là vọng niệm [gây tiêu hao nhiều nhất]. Thuở ấy, tôi ăn một bữa trưa là học theo thầy. V́ tôi cũng đă không ăn tối rất lâu, đă nhiều năm rồi, bỏ bữa sáng cũng không sao, bắt đầu làm thử. Tôi làm thử đến tháng thứ tám mới tŕnh lên thầy. Tôi nói: “Thưa thầy! Nay con cũng chỉ ăn bữa trưa”. Thầy cũng rất hoan hỷ, hỏi: “Đă bao lâu?” Tôi thưa: “Tám tháng ạ!” “Tinh thần và thể lực như thế nào?” Tôi đáp: “Con chẳng cảm thấy [có ǵ khác biệt], hết thảy đều rất b́nh thường”. Thầy vỗ bàn: “Tốt lắm! Hăy giữ vĩnh viễn. Suốt đời chẳng phải cầu cạnh ai, nhu cầu ít ỏi”. Tôi thật sự có ư nguyện giữ vững chuyện ấy. Về sau, rời khỏi Đài Trung, đến Đài Bắc giảng kinh, hoằng pháp, gặp gỡ Hàn quán trưởng. Hàn quán trưởng kiên tŕ: “Không được! Pháp sư à! Thầy nhất định phải ăn ba bữa, chẳng thể ăn một bữa được! Thầy ăn một bữa, trong tương lai, thể lực không đủ, chúng tôi không gánh trách nhiệm được!” Làm như thế nào đây? Phân vân đôi ngả; do vậy, tôi đổi một bữa thành ba bữa. Khi tôi ăn một bữa, mỗi bữa là ba chén cơm nhỏ. Được rồi! Do cả nhà bọn họ yêu cầu, tôi nói: “Được! Tôi ăn ba bữa. Mỗi bữa ăn một chén, số lượng vẫn là như vậy”. Một hai ngày không ăn cũng chẳng sao, đều rất b́nh thường. Đấy là một thói quen.

          Có phải là có thể hoàn toàn đoạn trừ chuyện ăn uống hay không? Được chứ! Sắc Giới Thiên đă đoạn. Tứ Vương Thiên có ăn uống, Đao Lợi Thiên có ăn uống, càng lên cao [nhu cầu ăn uống] càng nhạt mỏng. Đến Dạ Ma Thiên và Đâu Suất Thiên, họ ăn uống bằng cách ngửi, ngửi hương vị là được rồi, chẳng cần [thật sự ăn]! Nếu lên cao hơn nữa, ngửi cũng chẳng cần! Đến Sơ Thiền Thiên, hoàn toàn đoạn ẩm thực! Do vậy, trong Sắc Giới Thiên chẳng có ẩm thực. Ẩm thực, nam nữ chẳng có, đấy là Sắc Giới Thiên. Càng tiến lên cao hơn, sẽ thật sự chẳng có [ngũ dục]. Do vậy, nhà Phật gọi “tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê” là Ngũ Cái (五蓋, năm điều che đậy), c̣n gọi là Ngũ Dục (五欲, năm điều ham muốn). Những điều ấy chẳng b́nh thường; “b́nh thường” th́ phải là chẳng có những thứ ấy. Trong kinh điển, đức Phật đă dạy: Từ Sơ Thiền trở lên, [Ngũ Dục] thảy đều chẳng có. Nếu chư vị xem kinh Phật cho nhiều, sẽ hiểu rơ chuyện này. V́ thế, có thể ĺa [Ngũ Dục].

          Các đồng học! Quư vị phải biết: Nếu phiền năo của quư vị rất nặng, vọng niệm rất nhiều, chớ nên thí nghiệm: “Từ hôm nay trở đi, ta bắt đầu ăn một bữa!” Chẳng thể được! Chắc chắn quư vị sẽ ngă bệnh, chịu không nổi, v́ sao? Mỗi ngày quư vị có nhu cầu tiêu hao nhiều ngần ấy, khi quư vị bổ sung chẳng đủ, thân thể sẽ bị ảnh hưởng rất lớn! Hăy nên làm như thế nào? Giảm thiểu vọng niệm. Vọng niệm của quư vị càng ít, sẽ cần càng ít năng lượng. Đạo lư là như thế đó, thường phải hiểu rơ, hiểu minh bạch đạo lư. Thuở ấy, tôi thưa tŕnh sự lănh hội như thế lên thầy Lư, thầy đồng ư, t́nh huống xác thực là như vậy đó! Do vậy, chuyện này có lư luận, có đạo lư, chẳng phải là không có lư luận, phải hiểu điều này! Do vậy, đối với chuyện ẩm thực, phải chọn lựa. Ăn uống phải đơn giản! Đối với chuyện này, tôi cảm thấy người ngoại quốc cũng có ưu điểm. Họ coi trọng dinh dưỡng, chẳng đặt nặng khẩu vị! Người Hoa chú trọng dinh dưỡng, lại c̣n phải coi trọng sắc, hương, vị, chú trọng quá đáng! Ẩm thực cũng biến thành văn hóa tại Trung Hoa, điều này khác biệt với quan niệm phương Tây đôi chút. Họ (người phương Tây) ăn uống đơn giản, chẳng có lắm thứ kiểu cọ ngần ấy!

          Do vậy, muốn ĺa kinh sợ th́ phải ĺa hết thảy ác niệm, ĺa hết thảy ác tư duy, ĺa hết thảy ngôn ngữ và tạo tác bất thiện. Đấy là thật sự xa ĺa. V́ thế, Quy là trở về, tức là trở về tự tánh, trở về bổn thiện. “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện” (con người thoạt đầu tánh vốn lành). Trong bổn thiện chẳng có ác niệm, chẳng có ác nghiệp, sẽ chẳng chiêu cảm khổ báo trong tam đồ lục đạo, sẽ chẳng có!

          Thứ tư là “vi thú”, “vân hà đắc dữ nhất thiết chúng sanh vi thú” (làm thế nào để làm chỗ hướng đến cho hết thảy chúng sanh). Trong phần Sơ Hồi Hướng [thuộc phẩm Thập Hồi Hướng của kinh Hoa Nghiêm] đă có nói: “Linh đắc chí ư Nhất Thiết Trí cố” (v́ làm cho đạt đến Nhất Thiết Trí). “Thú”“thú hướng” (趣向, hướng đến), cũng có thể nói: Trong cuộc đời này, trong thế gian này, mục tiêu của chúng ta là ǵ? Phương hướng là ǵ? “Thú” chính là phương hướng. Chúng ta có mục tiêu, có phương hướng, đời người trong thế gian sẽ có ư nghĩa, sẽ có niềm lạc thú, đó gọi là “có giá trị, có ư nghĩa”. Nếu quư vị chẳng có phương hướng, chẳng có mục tiêu, sẽ sống rất đau khổ, giống như một chiếc thuyền lạc lối trong biển cả, chẳng có phương hướng, chẳng có mục tiêu, trôi giạt trong biển cả, đúng là khổ chẳng thể nói nổi! Từ tỷ dụ này, chư vị có thể lănh ngộ đôi chút. Do vậy, nhất định là phải có phương hướng, phải có mục tiêu. Nếu quư vị đem vấn đề này hỏi những kẻ trẻ tuổi trong hiện thời, thậm chí những người nay đă trưởng thành, quư vị hỏi họ, [sẽ thấy] họ xác thực là chẳng có mục tiêu, chẳng có phương hướng. Cả một đời này, chỉ biết t́m cầu sự sung sướng, chẳng nề hà thủ đoạn, đúng như ngạn ngữ đă nói: “Tổn người, lợi ḿnh”. Nói thật ra, [sẽ là] sống được bữa nào, hay bữa đó!

          Học Phật, cũng có những tôn giáo tin tưởng nhân quả ba đời, chúng ta có kiếp trước, có đời sau. Tôi tin là mỗi người trong một đời đều có kinh nghiệm rất rơ rệt về chuyện này. Khi xưa, tôi ở Mỹ, rất nhiều đồng tu hỏi tôi: “Đối với quá khứ, có ǵ để có thể chứng minh là chúng ta có quá khứ?” Đến hỏi tôi vấn đề ấy. Tôi hỏi ngược lại họ: “Chính quư vị hăy lắng ḷng suy nghĩ cẩn thận, trong một đời này, có bao giờ quư vị gặp trường hợp lần đầu tiên đến một nơi, xác thực là trước nay chưa hề đến đó, mới đến lần đầu, bỗng dưng cảm thấy chỗ ấy rất quen thuộc, có cảm giác ấy hay không?” Rất nhiều người đều nói có. Tôi nói: - Nếu chẳng có đời trước, sẽ giải thích hiện tượng này chẳng xuôi! Quư vị cảm thấy chỗ ấy rất quen thuộc, chắc chắn là trong đời quá khứ, quư vị đă từng sống ở đó. Không nhất định là thân ǵ, có thể là thân người, cũng có thể là thân quỷ thần, cũng có thể là thân súc sanh. Nói chung, quư vị đă từng ở nơi đó, mới có cảm giác quen thuộc đối với chỗ đó như vậy. Chuyện ấy đối với rất nhiều người không chỉ là một lần. Chúng ta du hành ở bên ngoài, bỗng thấy nơi ấy rất quen thuộc, rất thân thuộc. Nếu nói là chẳng có đời trước, sẽ chẳng thể nói xuôi tai chuyện này được!

          Tôi c̣n gặp một vị đồng học, tức cư sĩ Thái Văn Hùng, nay c̣n đang sống ở Mỹ, nghe nói hiện thời ông ta đă dọn sang Gia Châu (California), đă rất nhiều năm chúng tôi không liên lạc. Thuở ấy, ông ta làm hội trưởng của hội Phật giáo Đạt Lạp Tư (Dallas). Ông ta có kể cho tôi nghe một chuyện, là kinh nghiệm của chính bản thân ông ta. Năm xưa, ông ta đến Mỹ kinh doanh, cùng các bạn lái một chiếc xe đến vùng phụ cận của Cựu Kim Sơn (San Francisco) ở California. Có lần họ lạc đường, lái vào một tiểu trấn (town). Vừa vào tiểu trấn ấy, ông ta cảm thấy rất quen thuộc, liền bảo người bạn đang lái xe: “Ông hăy chạy theo con đường nào đó”. Hầu như đường phố nào ông ta cũng đều có thể nói vanh vách. Lại cũng có thể kể tên rất nhiều kiến trúc. Sau khi lái vào đó, quả nhiên chẳng sai, giống như ông ta rất quen thuộc, nghiễm nhiên ghi nhớ rơ ràng ngần ấy! Ông ta bảo tôi: “Chuyện đă hơn mười năm rồi”. Xác thực là lần đầu tiên ông ta đến đó, mọi người đều là lần đầu tiên [đến đó], trước nay chưa hề đi qua! Ông hỏi: “V́ sao có hiện tượng ấy?” Hỏi tôi, tôi đáp: “Nhất định là trong đời quá khứ ông đă ở đó rất lâu, có thể là ngay trong đời trước, ông chẳng làm chuyện ǵ xấu. Đời này lại được làm thân người, vẫn kinh doanh phát đạt. Thuở ấy, có rất nhiều người Hoa đến Mỹ đăi vàng. Trước kia, Cựu Kim Sơn có mỏ vàng, [ông đến đó] nhằm thời đang khai thác mỏ vàng”. Tôi nói: “Có thể ông là thợ đào vàng”. Ông ta cười x̣a: “Có thể lắm chớ!” Chuyện này nói rơ điều ǵ? Xác thực là có đời trước. “Nếu ông chẳng có đời trước, giải thích chuyện này như thế nào đây? Chẳng có cách nào giải thích!” Ông ta có thể hướng dẫn đường sá, chỉ ra trên đường phố ấy có những kiến trúc [như thế nào], quả nhiên những kiến trúc ấy vẫn c̣n đó. V́ thế, [ắt là phải] có đời trước.

          Có đời trước, có đời này, sẽ có đời sau. Vậy th́ quư vị phải nghiêm túc nghĩ tưởng cho đời sau! Chúng ta phải có một mục tiêu rơ rệt, xác định. Đức Phật đă chỉ cho chúng ta phương hướng, mục tiêu thật sự trong đời này là ǵ? Cầu trí huệ chân thật! Chuyện này chắc chắn chẳng sai! Chỉ có trí huệ th́ mới có thể giải quyết hết thảy vấn đề. Do trí huệ, sẽ có thể liễu giải chân tướng của vũ trụ và nhân sinh, có thể giải quyết vấn đề. Phương hướng trong Phật pháp là trí huệ, mục tiêu cũng là trí huệ. Quư vị thấy đối với người học Phật, trong kinh điển có một câu là “quy thú” (歸趣, hướng về, trở về), đó là chỗ quy thú của người học Phật. Câu ấy chính là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, đấy là phiên âm tiếng Phạn. Thật ra, có thể dịch, v́ sao không dịch? Do tôn trọng, nên không dịch. Đấy là phương hướng và mục tiêu chung cực trong Phật pháp, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ở đây nói là Nhất Thiết Trí. “Giác” là giác ngộ, hiểu rơ. Giác ngộ chánh xác, quyết định chẳng có sai lầm, quyết định chẳng lệch lạc; do vậy, gọi là Chánh Giác. Chánh Đẳng Chánh Giác cao hơn một cấp, Đẳng () là ǵ? Bằng với Phật. Bằng Phật, đương nhiên chẳng phải là Phật, vẫn kém Phật một bậc! Mục tiêu chung cực là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đấy là viên măn. Do vậy, sở cầu trong Phật pháp là trí huệ viên măn rốt ráo, há c̣n có thể sai lầm ư?

          [Trí huệ được nói] trong kinh Hoa Nghiêm là trí huệ viên măn rốt ráo, giảng rơ chân tướng sự thật của vũ trụ, khắp pháp giới hư không giới. Quư vị thấy hai vị Bồ Tát ở đây một hỏi, một đáp, đều nhằm bảo chúng ta: Chẳng có trí huệ, sẽ chẳng thể giải quyết những vấn đề trong xă hội hiện thời! Quư vị có trí huệ th́ mới có thể giải thích chánh xác. Do vậy, từ đấy, mới ĺa khổ được vui. V́ thế, nếu cuộc đời con người có phương hướng, có mục tiêu, quư vị sẽ chẳng sống uổng một đời, sẽ có cảm giác thành tựu. Người hiện thời gọi “cảm giác thành tựu” là “giá trị, ư nghĩa”. Quư vị có thành tựu! Đấy là thành tựu chân thật, chẳng bị tiêu mất theo vật chất. Bất cứ thành tựu nào trong thế gian cũng đều bị tiêu mất, chứ trí huệ chẳng tiêu mất. Đó là thành tựu chân thật. A! Nay đă hết thời gian rồi!

***

          Chư vị đồng học, xin mọi người hăy ngồi xuống. Chúng ta xem tiếp câu thứ năm:

 

           (Kinh) Vi cự.

          ()為炬。

          (Kinh: Là đuốc).

 

          “Vân hà đắc dữ nhất thiết chúng sanh vi cự” (làm thế nào để là đuốc cho hết thảy chúng sanh). “Cự” () là nói tới cây đuốc, đuốc có thể chiếu sáng. Trong phần Sơ Hồi Hướng, đă giảng: “Phá bỉ nhất thiết vô minh ám cố” (V́ phá hết thảy tối tăm vô minh cho họ). Những câu [chánh kinh] sau đó đều nói đến trí huệ. Nói thật ra, đối với “vi y, vi cứu” (làm chỗ nương tựa, làm chỗ cứu vớt) đă nói trong phần trước, nếu nói đến chỗ viên măn rốt ráo, hết thảy đều nhằm hiển thị trí huệ chân thật. Trí huệ chẳng phải cầu từ bên ngoài, mà là vốn sẵn có trong tự tánh. Nó là vốn sẵn có, chính là khái niệm “nhân tánh bổn thiện” (tánh con người vốn lành) trong nền giáo học truyền thống của Trung Hoa. Câu đầu tiên trong Tam Tự Kinh, “nhân chi sơ, tánh bổn thiện” (con người thoạt đầu tánh vốn lành), chính là quan niệm trọng yếu trong nền giáo học truyền thống Trung Hoa. Giáo dục được hưng khởi từ chỗ này.

          V́ sao phải giáo dục? Con người đă mê mất bản tánh, đă mê mất bổn thiện, đă nhiễm những tập khí bất thiện. Do vậy, cần phải giáo dục. Giáo dục chẳng nhằm mục đích nào khác, chỉ nhằm giúp cho con người từ mê hoặc và bất thiện mà quay lại, quay về bản tánh vốn lành, giáo dục đă viên măn. Quan niệm này hoàn toàn giống như Phật pháp. Người Hoa gọi là “trở về bổn thiện”, Phật pháp bảo “trở về tự tánh”. Tự tánh vốn lành, bởi lẽ, nó có trọn đủ trí huệ, trí huệ ấy chẳng do từ bên ngoài mà có! Sau khi đă mê mất, [dường như] chẳng có trí huệ, trí huệ đă biến thành t́nh thức, tham, sân, si, mạn, thất t́nh, ngũ dục. Quư vị phải biết: Bản thể của chúng là trí huệ. Sau khi đă mê, trí huệ biến thành những thứ ấy. Đă giác ngộ, do giác ngộ, những thứ ấy toàn là trí huệ.

          V́ lẽ này, trong Phật pháp chỉ có mê và ngộ. Ngoài mê và ngộ ra, chẳng có vật chi cả! Đấy là “vốn chẳng có một vật” như Đàn Kinh đă nói. Ngoài mê và ngộ ra, vốn chẳng có một vật. Mê th́ là phàm phu, ngộ bèn là Phật, Bồ Tát. Phật, Bồ Tát và phàm phu chẳng hai, chẳng khác. Sau khi đă ngộ, trí huệ và đức tướng chẳng cầu mà tự đạt được! V́ sao? Vốn có, c̣n cầu chi nữa? Sau khi đă mê, những thứ ấy đều bị vùi mất, biến thành ǵ? Biến thành y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới. Chúng ta mê càng sâu, sẽ biến thành lục đạo luân hồi. Mê sâu hơn nữa, sẽ biến thành tam đồ địa ngục, hết sức kinh sợ! V́ thế, Bồ Tát nương theo nguyện lực của chính ḿnh “vi thú, vi cự” (làm chỗ hướng về, làm đuốc). Chúng ta có phương hướng nhất định, có mục tiêu nhất định, điều chúng ta mong cầu là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

          Câu này đă được kinh điển (phẩm Thập Hồi Hướng của kinh Hoa Nghiêm) giải thích là “phá bỉ nhất thiết vô minh ám cố” (v́ phá hết thảy tối tăm vô minh cho họ). Chữ “bỉ” () chỉ chúng sanh trong mười pháp giới chưa phá vô minh! Phật [pháp giới] trong mười pháp giới đă phá chấp trước, phá phân biệt, nhưng chưa phá vô minh. V́ thế, nh́n câu này từ cảnh giới, sẽ là cảnh giới cao nhất trong mười pháp giới. Sau khi đă phá vô minh, họ sẽ thoát ĺa mười pháp giới. Đấy gọi là “vĩnh viễn ĺa hết thảy các nỗi khổ trong thế gian”, “hết thảy thế gian” là nói tới mười pháp giới. Người ấy trở về Hoa Tạng, trở về Cực Lạc, trở về Nhất Chân pháp giới, [khi ấy], “vi y, vi cứu” mới đạt tới viên măn.

          Áp dụng câu này vào hiện tiền, [sẽ là] trước hết phải phá vô minh của chính ḿnh. Chính ḿnh chưa phá vô minh, làm thế nào để có thể giúp những người khác phá vô minh cho được? Đây là đạo lư nhất định. Câu này đúng như cổ thánh tiên hiền Trung Hoa đă nói: “Hành hữu bất đắc, phản cầu chư kỷ” (Có điều ǵ chẳng làm được, hăy quay lại xét ḿnh). Chúng ta giúp đỡ người khác, gặp chướng ngại, hăy quay lại [phản tỉnh]: Chướng ngại ấy chẳng từ bên ngoài, nhất định là ở nơi chính ḿnh. Bản thân chúng ta chẳng đủ trí huệ và đức năng, mới sanh ra chướng ngại. Nếu trí huệ và đức năng trọn đủ, lấy đâu ra chướng ngại? Bất luận là chướng ngại về vật chất hay là chướng ngại về nhân sự, đều chẳng có ngoại lệ. Do vậy, có thể biết: Tu huệ, tu đức quan trọng dường ấy. Đối với tu huệ và tu đức, trong Phật pháp thường nói ba cương lănh là Giới, Định, Huệ, thực hiện từ chỗ nào? Khởi đầu từ Giới, tức là tŕ giới. Đối với vô minh, phá một phẩm vô minh là điều chúng ta niệm niệm mong cầu, nhưng nhất định phải thực hiện từ tŕ giới. Phá một phẩm vô minh, giống như chúng ta có ước nguyện to lớn là giành được học vị Tiến Sĩ, phải thực hiện từ chỗ nào? Vẫn là phải học từ lớp nhỏ nhất trong trường mẫu giáo, sau đó học Tiểu Học, Trung Học, Đại Học, Cao Học, quư vị mới có thể thực hiện được nguyện vọng ấy. Tŕ giới chính là lớp học của trẻ mẫu giáo, chớ nên coi thường!

          Hiện thời, đối với chúng ta, Giới học trở thành vấn đề! Mọi người đều biết tánh chất trọng yếu của nó, đều biết nói [Giới là trọng yếu]. Trước khi đức Thế Tôn nhập diệt, Ngài đă dạy các đệ tử đời sau: “Lấy giới làm thầy, lấy khổ làm thầy”. Người hiện thời chẳng thể chịu khổ, chú trọng hưởng thụ, chẳng thể tŕ giới, nguyên nhân là ǵ? Chúng tôi cũng đă suy xét rất sâu. So sánh giữa hiện thời và thuở trước, trước kia có gia giáo, có Nho giáo; do vậy, họ (người thuở trước) có căn cội, hiện thời chẳng có gia giáo, Nho giáo cũng chẳng có, chẳng có căn cội! Chẳng có căn cội, con người khởi tâm động niệm đều là trái nghịch Tánh Đức một trăm tám mươi độ, biến thành ích kỷ, chỉ biết trước mắt, tầm nh́n hết sức hạn hẹp! Chỉ có hiện tiền, đến nỗi năm sau, hay năm sau nữa, chẳng hề màng tới, chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt. Nguy hiểm lắm thay! Đấy là do vô minh quấy rối, thứ ǵ họ cũng đều chẳng hiểu rơ. V́ thế, căn cội của chuyện giáo học và tu hành xác thực là ở trong Đệ Tử Quy, trong Thập Thiện Nghiệp Đạo, trong Sa Di Luật Nghi. Ấn Quang đại sư suốt đời đề xướng giáo dục nhân quả, [v́ nhân quả giáo dục] hết sức trọng yếu! Nay trên quốc tế, chúng tôi nhắc nhở mọi người, giới thiệu giáo dục luân lư, giáo dục đạo đức, giáo dục nhân quả, giáo dục tôn giáo, bốn loại ấy! Bốn loại giáo dục ấy là một Thể, chẳng thể tách ĺa, nhất định phải nói rơ ràng, nói minh bạch khiến cho người khác giác ngộ. Nhất định phải thực hiện từ Đệ Tử Quy, nhập môn từ Thập Thiện Nghiệp Đạo, chúng ta mới có căn cội, mới có cơ sở.

          Theo mẫu mực ấy, do đă có phương hướng, có mục tiêu, bèn tiến cao hơn từng tầng một, trước hết là phá Kiến Tư, kinh Hoa Nghiêm [gọi Kiến Tư] là chấp trước. Khi nào chúng ta có thể đối với hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, thật sự là tùy duyên, chẳng phan duyên, những điều tôi vừa nói đều là căn bản nhất. Ắt phải buông xuống hết thảy những ư niệm đối lập, khống chế, chiếm hữu đối với người, sự, vật. Nếu chẳng buông xuống ba ư niệm ấy, sẽ chẳng thể vào cửa Đại Thừa! Đừng nói là [cửa] Đại Thừa, cửa Nho và Đạo cũng chẳng vào được! Đối với Nho và Đạo, chỉ cần buông xả một phần, Đại Thừa th́ phải triệt để buông xuống mới có thể khế nhập, mới có thể đạt tới “ĺa hết thảy tối tăm vô minh”, thật sự nêu gương tốt cho hết thảy chúng sanh. “Học vi nhân sư, hành vi thế phạm” (Học làm thầy người, hành vi làm khuôn mẫu cho cơi đời). Ở đây, những câu như làm đuốc, làm sự sáng, làm đèn, làm người hướng dẫn, đều chẳng ngoài hai câu này: “Nêu gương tốt cho hết thảy chúng sanh, giúp hết thảy chúng sanh trở về tự tánh, [tức là] giúp hết thảy chúng sanh trở về bổn thiện”. Kế đó là câu thứ sáu.

 

          (Kinh) Vi minh.

          ()明。

          (Kinh: Làm sự sáng).

 

          “Vân hà đắc dữ nhất thiết chúng sanh vi minh” (Làm thế nào để là sự sáng cho hết thảy chúng sanh). Trong phần Sơ Hồi Hướng (địa vị thứ nhất của Thập Hồi Hướng) đă nói: “Linh đắc trí quang diệt si ám cố” (V́ khiến cho [hết thảy chúng sanh] được ánh sáng trí huệ soi thấu diệt hết si ám). Đối với ba độc tham, sân, si, chỉ có quang minh trí huệ là có thể chuyển phiền năo thành Bồ Đề, chuyển biến tham, sân, si thành Giới, Định, Huệ. Do vậy, Giới, Định, Huệ là Tánh Đức, Nho gia gọi Giới, Định, Huệ là “bổn thiện”. Ắt cần phải là quang minh trí huệ th́ mới có thể làm được. Trong quá tŕnh tu học, quư vị nhất định phải biết: “Nhân Giới đắc Định, nhân Định khai Huệ”. V́ lẽ này, quư vị chẳng có Giới, lấy đâu ra Định? Chẳng có Định, quyết định là chẳng có trí huệ. Trong kinh, đức Phật thường sánh ví tâm như nước, chuyện này rất có ư nghĩa! Đức Phật đă tỷ dụ rất hay khéo! Quư vị thấy khi nước lặng, nó giống như một tấm gương, tỏa ánh sáng, soi rơ núi, sông, đại địa trong ấy. Đấy chính là trí quang diệt si ám. Nếu nước bị gió thổi gợn sóng, sóng trào lên, tác dụng chiếu hoàn toàn bị mất đi. Gió là ǵ? Cảnh giới! Nhà Phật nói “gió cảnh giới vừa động”, tâm thủy của chúng ta bèn nổi sóng cuồn cuộn!

          Quư vị thấy đó: Thuận cảnh, thiện duyên, quư vị liền sanh khởi tâm hoan hỷ. Hễ hoan hỷ, sẽ chẳng thanh tịnh; hoan hỷ là cuộn sóng! Đối với nghịch cảnh, ác duyên, sanh tâm sân khuể; sân khuể là sóng to, gió lớn. Người đang trong lúc hoan hỷ hoặc trong lúc sân khuể, đánh mất lư trí, nói năng sẽ chẳng thành lề lối ǵ! V́ thế, trong thánh huấn của đạo Hồi có một điều như sau: “Trong cuộc sống, dù phẫn nộ hay hoan hỷ, đều phải nói lời công bằng”. Các vị hăy suy ngẫm sẽ thấy câu nói ấy rất có ư vị. Kẻ đang hoan hỷ, hoặc đang giận dữ, sẽ đánh mất cái tâm công bằng, chánh trực, hoàn toàn là ǵ? Xử sự theo t́nh cảm. Cảm t́nh xung đột sẽ gây ra rất nhiều ác nghiệp. Trong cảnh giới ấy mà c̣n có thể nói lời công bằng, tức là người ấy phải có mấy phần công phu trấn định, c̣n có thể kiềm chế. Hồi giáo nói như thế đó!

          Trong cuộc sống hằng ngày, hai loại cảnh giới ấy luôn hiện hữu. Chúng hiện hữu, rất tốt! Công phu tu hành của chúng ta được khảo nghiệm ngay trong các cảnh giới ấy. Thuận cảnh, thiện duyên, do tập khí từ vô thỉ kiếp tới nay, có phàm phu nào chẳng động tâm? Có ai mà chẳng xúc động? Hy vọng tâm quư vị sẽ động với biên độ nhỏ hơn một chút. Đối với nghịch cảnh, ác duyên, hy vọng quư vị nhẫn nại một chút. Khi ấy, chính là tu Nhẫn Nhục Ba La Mật. Nhẫn trong thuận cảnh, chẳng dấy ḷng tham luyến; nhẫn trong nghịch cảnh, chẳng dấy ḷng sân khuể. Nói cách khác, khi gió cảnh giới dấy động, tu tâm b́nh đẳng, tu tâm thanh tịnh, tu tâm từ bi. Trong một ngày, các cảnh giới ấy xảy ra chẳng biết bao nhiêu lượt! Thật sự chịu dụng công, chúng ta thấy các vị đại đức thời cổ, quư vị đọc Cao Tăng Truyện hoặc Cư Sĩ Truyện sẽ thấy: Người thật sự tu hành, lợi căn, dăm ba năm sẽ chẳng bị cảnh giới ảnh hưởng. Bất luận cảnh giới như thế nào, các Ngài đều có thể giữ cho tâm b́nh khí ḥa, chẳng bị cảnh giới bên ngoài quấy nhiễu, đấy chính là công phu. Nho gia gọi chuyện này là “tu dưỡng”.

          [Nói] “người nào đó có tu dưỡng”, tu dưỡng là ǵ? Chính là ở trong cảnh giới, tâm b́nh khí ḥa, chẳng bị xúc động, như vậy th́ mới có thể thành tựu Định Huệ. Tiểu định, tiểu trí huệ; đại định, đại trí huệ. Trước hết, phải học thấy thấu suốt; v́ sao kẻ b́nh phàm chẳng thể nhẫn? Họ chẳng liễu giải những chân tướng sự thật này. Chân tướng sự thật là ǵ? Kinh Kim Cang nói rất hay: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Quư vị chấp trước chúng để làm ǵ? Không chỉ là chẳng chấp trước, mà phân biệt cũng chẳng có, quư vị thấy các hiện tướng (現相,tướng được hiện ra) trong cảnh giới là mộng, huyễn, bọt, bóng. Quư vị thấy hết thảy chúng sanh đang làm ác, sẽ thấy nhân quả báo ứng. Đối với hiện tượng luân hồi trong mười pháp giới, chính mắt quư vị thấy rơ ràng, rành rẽ, minh bạch. Chúng sanh khổ nạn đều có Phật Tánh, bản tánh của họ vốn lành, cớ sao lại trở thành nông nỗi này? Không chỉ là chớ nên trách móc, mà c̣n phải sanh ḷng thương xót độ thoát. Họ tạo nghiệp, chẳng có cách nào khác. Phật, Bồ Tát đều chẳng thể chịu thay, họ nhất định phải tiếp nhận. Thiện có thiện quả, ác có ác báo; nhân duyên quả báo, chẳng sai sẩy tí nào! V́ sao họ dám làm? Do chẳng liễu giải chân tướng sự thật. Liễu giải chân tướng sự thật, chẳng có kẻ nào dám làm! Lợi ích nhỏ nhoi trước mắt, mai sau chịu khổ to lớn. V́ thế, cổ nhân nói: “Bị thua thiệt là phước”. Chịu thua thiệt trước mắt đôi chút, sẽ tiêu tai, miễn nạn!

          Hơn nữa, nhân sĩ thiện tâm đều là [những người] phát khởi thiện tâm, vẫn bị kẻ khác lừa gạt, vẫn bị kẻ khác hăm hại, đấy là chuyện như thế nào? Thảy đều là có nhân quả. Ở trong cảnh giới ấy, quư vị có thể hoát nhiên đại ngộ, thật sự có thể buông xuống, buông xuống tham, sân, si, mạn, công phu đấy nhé! Chuyện này giống như học hành rồi đi thi, cảnh giới hiện tiền nhằm khảo nghiệm ḥng tiêu nghiệp chướng cho quư vị. Ta mong làm chuyện tốt, từ xưa tới nay, ngạn ngữ thường nói: “Hảo sự đa ma” (好事多磨, làm việc tốt thường có lắm nỗi gian nan). V́ sao có nhiều thử thách? Đời đời kiếp kiếp trong quá khứ, chúng ta cũng đă làm chẳng ít những chuyện quá trớn đối với hết thảy chúng sanh. Đời này gặp gỡ, hễ gặp gỡ, đương nhiên là phải trả báo. Chúng ta hiểu rơ nhân duyên quả báo này bèn hoan hỷ tiếp nhận. Sau khi đă trả báo, về sau gặp lại, họ sẽ không lừa gạt, mà cũng chẳng hăm hại quư vị nữa! V́ sao? Báo đền trả hết rồi! Ở đây, đúng như cổ nhân đă nói: “Các nhân nhân quả, các nhân phụ trách” (nhân quả của người nào, người ấy hứng chịu). Chúng ta chẳng so đo, nâng cao chính ḿnh, do đó mà nâng cao cảnh giới.

          Cứu độ chúng sanh, chúng sanh khó độ. Kinh Địa Tạng đă nói rất hay: “Diêm Phù Đề chúng sanh, cang cường nan hóa” (Chúng sanh trong Diêm Phù Đề ương ngạnh, khó giáo hóa), nhất là trong thế gian hiện thời! Ương ngạnh, khó hóa độ, có cần phải giúp đỡ họ hay không? Phải! Chẳng giúp đỡ sao được? Họ đáng thương lắm! Quư vị giúp đỡ họ, họ c̣n muốn phá quư vị, chẳng cảm ơn, mà c̣n xem quư vị như oan gia đối đầu! Đấy là chuyện tất nhiên, v́ sao? Trong đời này, họ chưa hề thấy người tốt thật sự! Quư vị là người tốt thật sự, lẽ nào họ chẳng cảm thấy quái lạ? Lẽ nào họ chẳng hoài nghi? Đấy là ǵ? Ngu si, chẳng có trí huệ! Do vậy, chúng ta phải dùng ánh sáng trí huệ của chính ḿnh để giúp đỡ họ, chớ nên có kiến thức b́nh phàm giống như họ! Phải có ḷng nhẫn nại, phải tốn một thời gian dài, chẳng thể là trong một thời gian ngắn [mà mong cảm hóa thành công] được! Cảm hóa họ trong một thời gian dài, khiến cho họ “quay đầu là bờ”, quư vị sẽ biến kẻ ác thành người tốt. Biến một kẻ “không điều ác nào chẳng làm” thành thiện nhân. Đấy là công đức chân thật, đấy là giáo học thành công. Người như vậy quay đầu, cũng sẽ cảm động khá nhiều người quay đầu. V́ thế, theo đuổi [công tác] giáo dục chẳng phải là chuyện đơn giản. Chúng ta lại xem câu kế tiếp:

 

          (Kinh) Vi chiếu.

          ()照。

          (Kinh: Làm sự chiếu sáng).

 

          Trong phần Sơ Hồi Hướng [của kinh Hoa Nghiêm], chẳng dùng chữ Chiếu (), mà dùng chữ Đăng (). [Kinh chép] “tác đăng” (làm đèn), “tác đăng” có ư nghĩa tương thông với “vi chiếu”. “Linh trụ cứu cánh thanh tịnh xứ cố” (V́ để khiến cho chúng sanh trụ nơi thanh tịnh rốt ráo). Người thế gian thường nói: “Làm tháp đèn cho người lạc đường”. Trong hàng hải, tàu bè hiện thời có nhiều máy móc, chứ xưa kia, chẳng có những thứ máy móc ấy, tháp đèn (tháp hải đăng) là một công cụ hết sức quan trọng. Đối với câu “linh trụ cứu cánh thanh tịnh xứ cố”, các đồng học Tịnh Độ chúng ta trông thấy câu này, nhất định sẽ nghĩ đến thế giới Cực Lạc, chỗ thanh tịnh rốt ráo chính là thế giới Cực Lạc. C̣n trong thế gian này, [nơi thanh tịnh rốt ráo] là ǵ? Nơi rốt ráo thanh tịnh là nơi có Phật pháp! Hiện thời, có nhiều nơi có Phật pháp hay chăng? Trên h́nh thức th́ rất nhiều, chẳng có thực chất! Cớ sao nói như vậy? Mỗi người học Phật ắt phải thực hiện giáo huấn của đức Phật. Không nói chi khác, trong giáo pháp Đại, Tiểu Thừa, điều mục tu hành căn bản trong Phật pháp là Thập Thiện Nghiệp Đạo, ai nấy đều có thể tu Thập Thiện, chỗ ấy chính là “thanh tịnh xứ” đúng như đức Phật đă dạy. Đương nhiên là mức độ thanh tịnh trong thế gian chẳng bằng nhau, nói chung là chúng ta sẽ đạt được thanh tịnh.

          Người học Phật trong hiện thời, nói thật thà, mê tín đông lắm, đến chùa thắp nhang, lạy Phật, v́ sao? V́ [mong cầu] thăng quan, phát tài, v́ cầu được che chở b́nh an, đều là v́ những thứ ấy! Phật là ǵ, hoàn toàn chẳng biết! Đấy là mê tín. Họ cầu Phật, lạy thần, có đạt được những điều tốt lành hay chăng? Chẳng đạt được, toàn là tự ḿnh an ủi chính ḿnh đó thôi! [Họ kháo nhau]: “Chỗ này Phật rất thiêng, rất cảm ứng”. Hễ cầu mà thật sự đạt được là do trong mạng đă định sẵn, chẳng liên quan ǵ đến chuyện lạy thần, cầu Phật! Nếu thật sự linh thiêng như vậy, [ắt phải là] một trăm người cầu, thảy đều đạt được. Đấy mới là thật! Một trăm người cầu mà chỉ có một, hai kẻ đạt được, những kẻ khác đều chẳng đạt được, chẳng lẽ Phật, Bồ Tát c̣n có ḷng thiên vị ư? Do ưa thích hai kẻ ấy, các Ngài bèn ban cho. Chẳng ưa gă kia, không ban cho! Há có lẽ ấy? Chẳng có lẽ ấy! Trung Hoa có một định nghĩa về thần minh: “Chánh trực th́ gọi là thần”. Chánh trực th́ có lẽ nào chẳng công bằng?

          Ngay cả kinh Cổ Lan (Qur’an) của Y Tư Lan (Islam) cũng nói, các tín đồ đạo Hồi đều tin tưởng: Tất cả hết thảy mọi người trong thế gian này, thọ mạng trong một đời dài hay ngắn, giàu sang hay nghèo hèn, đều do Thượng Đế ấn định. Cớ sao Thượng Đế cho kẻ này phú quư, cho người kia nghèo hèn? Có phải là Thượng Đế thiếu công bằng hay không? Thượng Đế nói rất khéo, họ (tín đồ đạo Hồi) không gọi là Thượng Đế, mà gọi là Chân Chúa (Allah). Allah đă nói rất hay: “Đối với vạn vật, ta đều dựa theo tiền định để sáng tạo chúng”. V́ vậy, đạo Hồi có sáu niềm tin; trong sáu niềm tin, có một điều là “tin vào tiền định”, vẫn là nói đến nhân quả ba đời! Thượng Đế quyết định quư vị đời này giàu sang hay nghèo hèn như thế nào? Dựa vào tiền định! Tiền định là nghiệp do chính quư vị đă tạo. Quư vị tạo thiện nghiệp, Thượng Đế ban cho quư vị phú quư. Quư vị tạo ác nghiệp, sẽ cho quư vị chịu tội! Thượng Đế rất công bằng, chẳng có một chút tâm riêng tư nào!

          Tại Trung Hoa, điều này được gọi là giáo dục nhân quả. Người Hoa cũng nói đến trời, đất, cũng nói đến Thượng Đế, thiên vương, địa phủ Diêm Vương. Kinh Địa Tạng đă nói rất rơ ràng: Diêm Vương cũng rất từ bi, chẳng phải là Ngài muốn quư vị chịu các h́nh phạt. Các h́nh phạt ấy là ǵ? Tự làm, tự chịu. Đối với điều này, quả thật xưa kia chúng tôi cũng có nghi hoặc. Đến viếng miếu Thành Hoàng, nh́n Biến Tướng của Thập Điện Diêm Vương. Thuở đó, những tượng tôi thấy trong điện Diêm Vương đắp bằng đất, đắp rất khéo, đó là nghệ thuật cao độ, rất sống động! Tạo tội nghiệp như thế nào, sẽ chịu quả báo như thế ấy. Đă trông thấy, sẽ khắc sâu ấn tượng, khiến cho mọi người khởi tâm động niệm sẽ đều cảnh giác, không dám làm chuyện xấu, không dám dấy một ác niệm. V́ sao? Sẽ nghĩ đến quả báo ở ngay trước mắt, cái được chẳng bù nổi cái mất, chẳng dám làm! Quư vị biết điện Diêm Vương đă cứu bao nhiêu chúng sanh. Chỉ cần khiến cho chúng sanh chẳng dám tạo tội nghiệp, là đă cứu họ. V́ sao? Trong tương lai, họ chẳng đọa vào tam đồ, chẳng hứng chịu các khổ báo! V́ thế, đối với dân tộc Trung Hoa, miếu Thành Hoàng đă cống hiến rất lớn, vô lượng công đức, rất đáng tán thán!

          Ai nấy đều chẳng dám làm ác, thiên hạ thái b́nh, nơi ấy chính là chốn thanh tịnh! Do vậy, trong hiện tiền, xă hội hiện thời là một xă hội động loạn, hết sức hỗn loạn, thiên tai nhân họa xảy ra liên tiếp chẳng cùng tận, nhân dân rất khổ, chẳng biết nguyên nhân của khổ là ǵ? Nguyên nhân của khổ là ǵ vậy? Không thanh tịnh, tâm không thanh tịnh. Đấy cũng chính là như trong kinh Phật thường nói: “Cảnh chuyển theo tâm”. Ḷng người chẳng thanh tịnh, chúng ta sống trong hoàn cảnh, sống trong xă hội chẳng thanh tịnh. V́ thế, trong Tịnh Tông thường nói: “Tâm tịnh, ắt cơi Phật tịnh”. Nếu chúng ta muốn xă hội an định, thế giới ḥa b́nh, hăy làm từ chỗ nào? Khởi sự làm từ cái tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, cảnh giới bên ngoài sẽ thanh tịnh, tự nhiên là thiên tai nhân họa chẳng có.

          Cũng có lẽ nói [tâm tịnh] sẽ chẳng có nhân họa th́ [người ta] vẫn có thể tin tưởng, [nhưng họ sẽ hoài nghi] lẽ nào tai hại thiên nhiên cũng chẳng có luôn? Thật đấy! Tai họa thiên nhiên biến hóa thuận theo ḷng người. Bởi lẽ, ngay cả thiên nhiên cũng là sống động, chẳng phải là chết cứng. Tuy nó chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, mà cũng chẳng có vọng tưởng, nhưng nó cảm ứng thuận theo ḷng người. Hễ ḷng người có cảm, nó bèn có ứng! Nó sẽ dấy lên sự biến hóa. Ḷng người tốt lành, núi, sông, đại địa biến thành hết sức đẹp đẽ, dành cho quư vị hưởng thụ, nó bèn hiến dâng, cúng dường. Thực vật cũng chẳng phải là ngoại lệ, quư vị đối xử tốt với nó, nó cũng bằng ḷng cúng dường quư vị. Giới luật của nhà Phật [có dạy] “tỳ-kheo thanh tịnh chẳng giẫm đạp cỏ tươi”, hiển thị ḷng từ bi. Ngoại trừ chỗ ấy chẳng có đường đi, ắt đành phải đi qua đó th́ được. Nếu có đường, sẽ đi theo đường đó, chẳng thể đi trên cỏ, tôn kính nó! Trong ấy có đạo lư rất sâu, hiển thị tâm thanh tịnh là trí huệ. Kế đó…

 

          (Kinh) Vi đạo.

          ()導。

          (Kinh: Là sự dẫn dắt).

 

          “Đắc dữ nhất thiết chúng sanh vi đạo” (Được làm người dẫn dắt hết thảy chúng sanh), “đạo” () là “đạo sư” (導師, người hướng dẫn). [Phẩm Thập Hồi Hướng nói] “linh đắc cứu cánh an ổn xứ cố” (v́ khiến cho đạt được chỗ an ổn rốt ráo). Quư vị phải hướng dẫn đại chúng đến chỗ rốt ráo an ổn. So sánh với xă hội hiện tại, trước kia chưa hề có [t́nh trạng] xă hội [rối ren, khủng bố như trong] hiện tại. Trong xă hội hiện tại có phần tử khủng bố, xác thực là khiến cho đại chúng sống trong hoảng sợ. Hoảng sợ là chẳng an ổn, huống hồ là đạt được chỗ an ổn rốt ráo? Đến đâu để t́m được chỗ an ổn rốt ráo? Quư vị vào núi sâu, vào biển cả, đều chẳng t́m được, ở chỗ nào đây? Chỗ an ổn rốt ráo là như trong phần trước tôi đă đề cập với quư vị, “tâm chân thành, thanh tịnh”. Người thật sự giác ngộ, đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện, thân tâm an ổn, bất cứ tai hại nào giáng xuống, chẳng kinh hoảng, chẳng sợ hăi, đấy mới là chỗ rốt ráo an ổn. Quyết định chẳng có sợ hăi, chẳng kinh hoảng, tâm là định, đấy là công phu tu hành. Bản thân chúng ta chẳng làm được, chẳng có cách nào giúp đỡ người khác, người ta chẳng tin tưởng, vẫn là đầu tiên chính ḿnh phải làm được. Nhất là trong xă hội hiện đại, bản thân chúng ta thật sự làm được, sẽ có thể dạy người khác, người ta sẽ có thể tin tưởng. Câu thứ chín:

 

          (Kinh) Vi thắng đạo.

          ()勝導。

          (Kinh: Là dẫn dắt thù thắng).

 

          “Thắng” () là thù thắng (殊勝), cao hơn phần trước một cấp. [Trong phẩm Thập Hồi Hướng của kinh Hoa Nghiêm, có giải thích điều này như sau] “dẫn kỳ linh nhập chân thật pháp cố” (v́ dẫn họ nhập pháp chân thật). Trong giai đoạn hiện tiền này, chúng ta hướng dẫn hết thảy chúng sanh khế nhập pháp chân thật, đấy chính là pháp Tịnh Độ. Không lẽ các pháp môn khác chẳng chân thật? Đều là pháp chân thật, nhưng quư vị chẳng tiến nhập được! Đấy là như cổ nhân đă nói, tám vạn bốn ngàn pháp môn, có nan hành đạo và dị hành đạo. Nan hành đạo (難行道,đạo khó hành) là ǵ? Nan hành đạo là phải đoạn phiền năo th́ mới có thể nhập. Dị hành đạo (易行道,đạo dễ hành) là chẳng đoạn phiền năo, vẫn có thể nhập. Chẳng đoạn phiền năo, cớ sao có thể nhập? Dị hành đạo là chế phục phiền năo; chế phục sẽ dễ dàng, đoạn khó lắm! Dùng ǵ để chế phục? Một câu Phật hiệu, “A Di Đà Phật”, “Nam-mô A Di Đà Phật” chế phục phiền năo. Cũng có nghĩa là cảnh giới hiện tiền, chúng ta khởi tâm động niệm. Cổ đức nói “chẳng sợ niệm khởi”, khởi tâm động niệm không sợ, “chỉ sợ giác chậm”. Nếu quư vị chẳng giác ngộ, phiền năo liền phát tác, tham, sân, si liền phát tác. Nếu quư vị sớm giác ngộ, trong tâm vừa mới động một niệm, ngay lập tức “A Di Đà Phật” để đè nén ư niệm ấy. Có thể làm được công phu ấy, quư vị thật sự chịu làm, có người dăm ba năm chắc chắn làm được. Người lợi căn th́ một năm là đă có thể làm được. Dùng một câu Phật hiệu để đè nén vọng tưởng và tạp niệm của quư vị, công phu ấy đắc lực sẽ có thể văng sanh cơi Phàm Thánh Đồng Cư trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, công đức ấy tuyệt diệu thay! Dẫn họ nhập pháp chân thật! Điều cuối cùng:

 

          (Kinh) Phổ đạo.

          ()導。

          (Kinh: Dẫn dắt trọn khắp).

 

          Đây là nguyện thứ nhất trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện, tức là chúng sanh vô biên, quư vị phải phát tâm giúp đỡ họ, phải phổ độ họ, [đó là] “phổ đạo”. [Phẩm Thập Hồi Hướng nói] “dữ kỳ vô ngại đại trí huệ cố” (v́ để ban cho họ đại trí huệ vô ngại). Trong hiện thời, “đại trí huệ vô ngại” chính là kinh điển của Tịnh Tông, phân lượng ít, chẳng khó hiểu! Chính ḿnh học tập, nghiêm túc học tập, đi khắp nơi tuyên giảng, khuyên kẻ khác đoạn ác tu thiện, tin sâu nhân quả, tŕ giới, niệm Phật. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thấy A Di Đà Phật, đại trí huệ vô ngại hiện tiền, chẳng phải là lời giả đâu nhé! “Phổ đạo” là đại sự, Phật mới có thể làm được! Chúng ta giới thiệu [pháp môn Tịnh Độ] với người khác, đưa họ sang thế giới Cực Lạc để A Di Đà Phật giáo hóa họ, chẳng khác Phật tiếp dẫn chúng sanh cho mấy! Nay thời gian đă hết rồi, hôm nay chúng tôi giảng tới chỗ này.

 

Tập 1490

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, đoạn cuối cùng trong phần nêu câu hỏi, tức là đoạn thứ mười một. Chúng tôi đọc kinh văn một lượt.

 

          (Kinh) Vân hà ư nhất thiết chúng sanh trung vi đệ nhất, vi đại, vi thắng, vi tối thắng, vi diệu, vi cực diệu, vi thượng, vi vô thượng, vi vô đẳng, vi vô đẳng đẳng?

          ()云何於一切眾生中為第一。為大。為勝。為最勝。為妙。為極妙。為上。為無上。為無等。為無等等。

          (Kinh: Làm thế nào để trong hết thảy chúng sanh sẽ là bậc nhất, là lớn, là thù thắng, là tối thắng, là diệu, là cực diệu, là thượng, là vô thượng, là vô đẳng, là vô đẳng đẳng?)

 

          Đây là đoạn cuối cùng, hỏi về chuyện “siêu thắng tôn quư”. Trong lời chú giải, Thanh Lương đại sư trong phần trước đă nói…

 

          (Sớ) Do bổn hạnh lực, vi đệ nhất đẳng.

          ()由本行力,為第一等。

          (Sớ: Do sức bổn hạnh là bậc nhất).

 

          Từ “đẳng” ấy (đệ nhất đẳng) măi cho đến “vô đẳng đẳng” là mười câu. Mười câu ấy, nói gộp lại, sẽ là một câu, tức “do bổn hạnh lực” (do sức bổn hạnh). Bồ Tát từ Sơ Phát Tâm cho đến địa vị Như Lai, do sức tu hành trong thời gian dài vô lượng kiếp đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, cho nên mới cảm được quả báo thù thắng như thế. Điều này đă ban cho chúng ta một khải thị rất lớn, đối với những vấn đề ([được nêu trong] mười câu này), chư vị ngẫm xem, có ai mà không mong cầu? Có ai mà chẳng hy vọng đạt được? Trong chú giải, ngài Thanh Lương chỉ nêu ra đại lược. V́ sao? Đến cuối cùng, trong Thập Địa Luận sẽ giải thích tường tận. Thập Địa Luận chính là chú giải phẩm Thập Địa [trong kinh Hoa Nghiêm[5], trong bộ luận ấy] đă có giải thích tường tận.

 

          (Sớ) Kim tựu Phật quả, lược thích kỳ tướng, vị Như Lai công đức hải măn, cánh vô sở thiểu, cố xưng đệ nhất. Thử diệc tổng cú.

          ()今就佛果略釋其相,謂如來功德海滿,更無所少,故稱第一,此亦總句。

          (Sớ: Nay dựa theo Phật quả để giải thích đại lược tướng ấy, nghĩa là biển công đức của Như Lai viên măn, chẳng thiếu khuyết ǵ; v́ thế, gọi là đệ nhất. Đây cũng là câu nói tổng quát).

 

          Câu này là Tổng Thuyết (nói tổng quát), chín câu dưới đó là Biệt Thuyết (nói riêng từng điều). Phần Biệt Thuyết mới là hiển thị sự thù thắng tôn quư đă được nêu tổng quát [trong câu Tổng Thuyết]. Trong câu này, [lời Sớ] nói đại lược “Như Lai công đức hải măn, cánh vô sở thiểu” (biển công đức của Như Lai viên măn, chẳng thiếu khuyết ǵ)! Mười chữ ấy trọng yếu lắm. Công đức viên măn, viên măn là ǵ? Là Lục Độ, Tứ Đẳng. “Vi y, vi cứu” (là chỗ nương tựa, là cứu vớt) như đă nói trong phần trước chính là “viên măn”. Tôi nêu tỷ dụ để nói. Có một năm, tôi ở Mă Lai, h́nh như lần đó hoằng pháp ở Mă Lục Giáp (Malacca)[6], có một vị pháp sư Tiểu Thừa người Thái cũng rất có tiếng tăm ở nơi ấy. Sư ở vùng biên cương của Thái Lan và Mă Lai, có đạo tràng ở nơi ấy. Sư đặc biệt đến gặp tôi, nêu ra một câu hỏi: “Đức Phật nói chúng sanh chẳng độ hết, Ngài chẳng thành Phật. Ngài c̣n chưa độ tôi, cớ sao đă thành Phật?” Hỏi một câu như thế! Lại hỏi: “Đối với bố thí Phật pháp, kinh Phật nói Pháp Bố Thí thù thắng nhất, c̣n có khá nhiều chúng sanh chẳng được nghe Phật pháp như vậy, cớ sao Ngài đă thành Phật?” Câu hỏi ấy có nghĩa là “công đức của đức Phật chẳng viên măn, tôi c̣n chưa được độ, c̣n có rất nhiều người chẳng được nghe Phật pháp, v́ sao Ngài có thể thành Phật?” Hỏi một vấn đề như thế.

          Tôi tin rằng không phải chỉ một ḿnh vị sư ấy có nỗi thắc mắc ấy, chắc chắn là có rất nhiều người có cùng thắc mắc ấy. Ở đây, [lời chú giải] nói: “Như Lai công đức hải măn, cánh vô sở thiểu”, phải hiểu lời này như thế nào? Quư vị phải hiểu, trong kinh, đức Phật đă giảng rất rơ ràng, Lục Độ chẳng nhằm độ người khác, Tứ Vô Lượng Tâm từ, bi, hỷ, xả cũng chẳng phải là để dạy người khác, mà nhằm dạy chính ḿnh. Nếu là dạy người khác, độ người khác, sẽ chẳng có cách nào thành Phật, sẽ giống như t́nh h́nh do vị tỳ-kheo Tiểu Thừa đă nói: “Cả đống chúng sanh c̣n chưa đắc độ như thế, làm sao có thể thành Phật cho được?” Đức Phật chẳng nói kiểu ấy! Lục Ba La Mật nhằm độ tập khí phiền năo của chính ḿnh. Ví như Bố Thí Độ (Đàn Ba La Mật) viên măn, chẳng bị thiếu ǵ, tức là chẳng thiếu, chẳng thừa, thảy đều thật sự rốt ráo viên măn. Đó là ǵ? Tâm keo kiệt chẳng có, “viên măn” được hiểu theo ư nghĩa này.

          Những thứ ta sở hữu đều hoan hỷ cúng dường cho người khác. Phật là cúng dường, chẳng phải là bố thí. Chư vị xem mười nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát sẽ biết, đọc Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm sẽ biết, Đại Thừa Bồ Tát là bố thí, Phổ Hiền Bồ Tát là cúng dường, cái tâm ấy luôn là viên măn. Đại Thừa Bồ Tát [c̣n thấy] “ta là Bồ Tát, đó là chúng sanh”, cho nên vẫn c̣n có giới hạn. Phổ Hiền Bồ Tát chẳng có, chẳng hề có giới hạn ấy! Phổ Hiền Bồ Tát thấy hết thảy chúng sanh đều là vị lai Phật, là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai. V́ thế, chẳng nói là “bố thí” mà nói là “cúng dường”. Quư vị thấy mười nguyện Phổ Hiền: Lễ kính chư Phật, xưng tán Như Lai, rộng tu cúng dường, đối với chính ḿnh bèn sám hối nghiệp chướng. Trong cảm nhận của Ngài, thảy đều là chư Phật Như Lai, quá khứ Phật, hiện tại Phật, hết thảy chúng sanh đều là vị lai Phật, quyết chẳng dám giải đăi, khinh mạn! V́ thế, kinh Hoa Nghiêm mới nói: “Bồ Tát chẳng tu hạnh Phổ Hiền, chẳng thể viên thành Phật đạo”, là v́ công đức của vị ấy chẳng thể viên măn. Chúng ta hiểu ư nghĩa này, mới hiểu: Thành Phật là khôi phục viên măn Tánh Đức của chính ḿnh. Chúng ta đừng nói là thành tựu, [mà nói là] “khôi phục”. V́ sao? Tự tánh của hết thảy chúng sanh là viên măn.

          Mười pháp giới trong vũ trụ, kể cả Nhất Chân pháp giới, do đâu mà có? Tâm hiện, thức biến. “Tâm hiện” là nói về Phật pháp giới, Bồ Tát pháp giới, Nhất Chân pháp giới, giống như Hoa Tạng được nói trong Hoa Nghiêm. Kinh Đại Thừa thường gọi nó là Thật Báo Độ của chư Phật, Bồ Tát. Tịnh Độ của chư Phật, chẳng hạn như thế giới Cực Lạc, tức thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật là “duy tâm sở hiện”, trong ấy chẳng có thức. Phàm phu do một niệm bất giác, bèn dấy lên vô minh, mê mất tâm tánh, tâm tánh đă bị mê mất bèn gọi là Thức. V́ thế, Tánh và Thức là một, không hai. Khi giác ngộ, chúng ta gọi nó là “tâm tánh”. Khi mê, chúng ta gọi nó là “t́nh thức”. Mê th́ mới có t́nh; đă giác ngộ, sẽ chẳng có t́nh! Chẳng có t́nh, vậy th́ t́nh đi đâu rồi? T́nh đă biến thành trí. V́ thế, cảm t́nh và trí huệ là cùng một chuyện! Đă giác ngộ, cảm t́nh biến thành trí huệ. Đă mê, trí huệ biến thành cảm t́nh. Cảm t́nh tạo nghiệp, trí huệ chẳng tạo nghiệp. V́ thế, Phật pháp nói đến chỗ rốt ráo, sẽ là giác hay mê. Phàm phu giác ngộ là Phật, Bồ Tát; hễ mê, sẽ trở thành phàm phu, chuyện là như thế đó! Phải hiểu rơ ràng, phải hiểu minh bạch, quư vị mới có thể đoạn nghi sanh tín.

          Do vậy, bố thí như thế nào th́ sẽ viên măn? Tài Bố Thí viên măn là đối với tiền tài chẳng có mảy may tham luyến. Tài Bố Thí viên măn tức là quyết định chẳng tham tài. Chịu xả những ǵ chính ḿnh đang có, chẳng có tâm xan lận (keo kiệt, tiếc nuối). Chúng ta thường nói là “chẳng nỡ xả”, chẳng có ư niệm ấy! Chúng sanh nào thiếu thốn, chúng sanh nào hy vọng đạt được, đều hoan hỷ cúng dường. Đấy là quư vị đă Tài Bố Thí viên măn. Pháp Bố Thí viên măn: Ta có năng lực giúp đỡ người khác, dạy bảo người khác, sẽ chẳng giấu giếm mảy may, đấy là Pháp Bố Thí viên măn. Tôi chịu dạy quư vị, người Hoa gọi là “giăi bày trọn hết”, chẳng giữ lại mảy may. Người trong thế gian xác thực là nếu dạy kẻ khác th́ chính ḿnh vẫn phải giấu giếm. V́ sao? Sợ trong tương lai người khác sẽ vượt trỗi chính ḿnh, họ có cái tâm đề pḥng. Ta có mười phần bản lănh, ta chỉ dạy ngươi tám phần, ngươi sẽ vĩnh viễn chẳng thể vượt ta được! Pháp Bố Thí kiểu đó không viên măn. Phật, Bồ Tát có mười phần sẽ dạy mười phần, chẳng giữ lại mảy may! Đó gọi là Pháp Bố Thí viên măn.

          Vô Úy Bố Thí viên măn, đó là đại từ đại bi, khắp hư không pháp giới, tâm thương xót chúng sanh vĩnh viễn chẳng bỏ. Chúng sanh tạo tác chuyện ác đến mấy đi nữa, tạo tác chuyện bất thiện đến mấy đi nữa, vẫn chẳng để trong ḷng, cái tâm giúp đỡ, cứu độ họ chẳng hề giảm thiểu mảy may. Đấy là Vô Úy Bố Thí viên măn. Viên măn là bậc nhất. Chẳng viên măn, đó là thứ hai, thứ ba. Viên măn là bậc nhất, chẳng phải là thứ hai, thứ ba. Viên măn là bậc nhất, chẳng thể không biết điều này! Tŕ Giới Ba La Mật viên măn, tŕ giới nhằm độ ác nghiệp, vĩnh viễn chẳng dấy lên ác niệm, chẳng có ác tâm, chẳng có ác niệm, chẳng có ác ngôn, chẳng có ác hạnh. Niệm nào cũng đều nhằm lợi ích chúng sanh, quyết định chẳng chướng ngại, tổn thương, gây hại chúng sanh, quyết định chẳng có những ư niệm ấy. Đấy là Tŕ Giới Ba La Mật viên măn.

          Nhẫn Nhục Ba La Mật viên măn, bị chúng sanh gây tổn thương cực lớn, quyết định chẳng có tâm sân khuể, chẳng có tâm trả thù. Giống như trong kinh điển, đức Phật đă kể một thí dụ: Thích Ca Mâu Ni Phật lúc c̣n tu nhân, đang tu Nhẫn Nhục Ba La Mật, Nhẫn Nhục Bồ Tát bị vua Ca Lợi cắt chặt thân thể. Quư vị thấy Ngài không chỉ chẳng sân khuể, chẳng báo thù, ngược lại, c̣n phát nguyện: “Ta thành Phật, người được độ đầu tiên sẽ là ngươi”, Nhẫn Nhục đă viên măn! Tinh Tấn là như trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo đă nói, trong tâm chẳng có mảy may bất thiện nào xen tạp. Khi tôi nói, c̣n thêm vào một câu: “Chẳng có mảy may bất tịnh xen tạp”. Tâm địa đạt đến thuần tịnh, thuần thiện, Tinh Tấn đă viên măn.

          Thiền Định viên măn là như như bất động. Bất luận ở trong cảnh giới nào, đều ở trong mười pháp giới giúp đỡ những chúng sanh ấy. Chúng sanh có cảm, Phật, Bồ Tát luôn ứng. Tuy có ứng, tuy giúp đỡ họ, có thể đồng thời giúp đỡ vô lượng vô biên chúng sanh, quyết định chẳng bị cảnh giới bên ngoài ảnh hưởng. [Đấy là] Thiền Định Ba La Mật đă viên măn. Đấy gọi là “Na Già thường tại Định, vô hữu bất định thời” (Na Già[7] thường trong Định, không lúc nào chẳng định). Lư và Sự này đều rất sâu, trong khi [giảng giải] bộ đại kinh này, tôi cũng thường đề cập, chư vị thường nghe, sẽ dần dần có thể thấu hiểu, có thể hiểu rơ, xác thực là có ư nghĩa rất sâu. Bát Nhă Ba La Mật viên măn, đấy chính là như kinh Bát Nhă đă nói: “Bát Nhă vô tri, không ǵ chẳng biết”. Đối với tâm và hạnh của hết thảy chúng sanh trong khắp pháp giới hư không giới, chẳng có ǵ không biết. Đó gọi là viên măn. Từ, bi, hỷ, xả cũng giống như thế.

          Có sự chỉ bày ấy, chúng ta bèn hiểu: Chúng ta học Phật, tu hành là tu ǵ? Chính là tu những điều ấy. Chúng ta phát thiện tâm, quư vị học Phật có một giai đoạn khế nhập cảnh giới, bèn phát thiện tâm mong làm chuyện tốt. Nhưng người thế gian chẳng có cảnh giới giống như chúng ta, họ chẳng muốn làm chuyện tốt, chỉ nghĩ tự lợi. Gặp gỡ quư vị, có cơ duyên như thế, họ vẫn lừa gạt quư vị, vẫn muốn hăm hại, vẫn muốn chiếm tiện nghi, vẫn muốn phá hoại chuyện tốt của quư vị. Khi ấy, sẽ làm như thế nào? Quư vị có nổi giận hay không? Chẳng thể! Quư vị tức giận, sẽ chẳng nhập cảnh giới của Phật. Quư vị phải thương xót họ. Không chỉ là chẳng trách móc họ, chẳng chỉ trích họ, mà thương xót họ. Thương họ v́ lẽ ǵ? Điều đáng thương là họ vô tri, chẳng có duyên phận tiếp xúc giáo huấn của thánh hiền, [cho nên] tạo tác loại tội nghiệp ấy, tạo tội nghiệp đó!

          Kinh Phật đă dạy: “Thí chủ nhất lạp mễ, đại như Tu Di sơn, kim sanh bất liễu đạo, phi mao đới giác hoàn” (Một hạt gạo thí chủ, to như núi Tu Di, đời này chẳng liễu đạo, mang lông, đội sừng đền), đấy là ǵ? Chính là nói: Người xuất gia nếu chẳng nghiêm túc tu hành đàng hoàng, quư vị sẽ chẳng thể thọ dụng sự cúng dường của mười phương! Chẳng phải là người xuất gia, quy y Tam Bảo hay không, hễ đến xâm phạm, tổn hại của thường trụ, cũng tức là dùng các thủ đoạn để chiếm đoạt những thứ do mười phương cúng dường Tam Bảo, bất luận là tiền tài hay vật phẩm, quả báo đều là A Tỳ địa ngục! Không nghe kinh, không nghe pháp, chẳng biết điều ǵ, cứ tưởng chiếm được tiện nghi trước mắt, rất hoan hỷ, rất sung sướng, chẳng biết chớp mắt đă thành không. Quả báo trong tương lai là trong địa ngục, trong tam đồ, không biết sẽ phải hứng chịu bao nhiêu kiếp nạn, quư vị nói xem họ có đáng thương lắm hay không? Lẽ nào quư vị có thể trách móc họ cho được? Thương xót c̣n chẳng kịp, chớ nên chỉ trích. Chúng ta cũng đừng nên khó chịu, đấy là ǵ? Do nghiệp lực chiêu cảm!

          Chúng ta đă tận tâm tận lực bảo vệ Tam Bảo, nhưng rốt cuộc chúng ta chưa phải là những vị La Hán hay Bồ Tát đă đắc đạo, chẳng phải! Chúng ta chẳng có Thiên Nhăn, chẳng có Túc Mạng, làm sao có thể nh́n nhận người khác chuẩn xác cho được? Nh́n người khác, chúng ta hăy luôn nghĩ đều là người tốt. Chỉ cần quy y Tam Bảo, nghe danh hiệu Phật, Bồ Tát bèn chắp tay niệm Phật một tiếng th́ đều là người tốt. Cái tâm ấy là tâm Bồ Tát, hăy nên là như thế. Nào có biết từ vô lượng kiếp đến nay tập khí ác quá nặng, thấy tiện nghi bèn mong chiếm đoạt, chúng ta chẳng có cách nào đề pḥng! V́ thế, chúng ta phải mượn cảnh giới này để nâng cao chính ḿnh, phải thương xót chúng sanh. Đối với mọi chuyện, có phải làm hay không? Phải làm. Dẫu bị thua thiệt đến mấy đi nữa, bị thua thiệt là phước. Dẫu bị lừa gạt to lớn cách mấy, vẫn là tiêu nghiệp chướng. Từ chỗ này, Ngài nhắc nhở chúng ta: Nay chúng ta chịu thua thiệt, bị lừa gạt vẫn là chuyện nhỏ nhặt, chúng ta bèn cảnh giác. Sau này, xử sự, đăi người tiếp vật phải hết sức cẩn thận, hy vọng tránh khỏi những lỗi lầm to lớn.

          Có một năm, tôi ở Cựu Kim Sơn, cùng các đồng học đến chơi Kim Sơn đại kiều (cầu Golden Gate), quán trưởng cũng đi. Tôi thường đeo một cái túi nhỏ (túi xách du lịch), h́nh như là từ Mỹ trở lại Đài Loan. V́ thế, giấy tờ, vé máy bay và một ít tiền đều bỏ trong túi áo. Tại cầu lớn Kim Sơn, bỗng có một đám người trẻ tuổi vây quanh tôi, tôi thấy họ trông đàng hoàng, nào ngờ bọn người ấy là lũ móc túi. Họ kéo khóa túi da, lấy mất ví tiền, cũng may là vé máy bay và giấy tờ chẳng đặt cùng một chỗ, đại khái có chừng hai ba ngàn Mỹ kim bị họ lấy mất. Tôi cũng rất hoan hỷ, v́ khi đó, đúng nhằm lúc chúng tôi dự tính du lịch Trung Hoa, trở về thăm tổ quốc. Chuyện này đă cảnh giác chúng tôi rất lớn, bọn móc túi rất nhiều, quư vị phải nên đề pḥng.

          Do vậy, tôi bèn nghiên cứu làm ra một cái hầu bao, tôi c̣n tặng cho rất nhiều đồng tu. Tôi làm khoảng hai ba trăm cái hầu bao, giống như dây thắt lưng vậy. Tiền bạc của quư vị để trong đó, chắc chắn an toàn! Đấy là kinh nghiệm, là học tập. Học tập th́ phải đóng học phí. Quư vị không đóng học phí, làm sao học được? Do vậy, đấy là tổn thất nhỏ nhoi. Nếu chúng tôi chẳng có kinh nghiệm này, cũng [không cẩn thận] như vậy khi du hành bên Trung Hoa Đại Lục, vạn nhất gặp đứa móc túi, sẽ bị tổn thất tiền tài nhiều hơn, toàn bộ tiền chi dụng cho chuyến đi bị mất! V́ thế, đây chẳng phải là chuyện xấu, mà là chuyện tốt! Từ bị thua thiệt, bị lừa lọc, sẽ học được trí huệ, tổn thất tiền bạc sẽ khiến cho trí huệ của quư vị tăng trưởng, khiến cho quư vị biết về sau nên xử trí như thế nào. Quư vị học được [kinh nghiệm] từ đấy!

          Chuyện nhỏ, kinh nghiệm nhỏ; chuyện lớn, sẽ có kinh nghiệm lớn. Do vậy, cổ nhân nói rất hay: “Hoạt đáo lăo, học đáo lăo” (Sống đến già, học đến già), quư vị mới có thể trở thành bậc nhất. Giống như chư Phật, Bồ Tát trong quá tŕnh tu hành, tôi tin là những chuyện các Ngài chịu thua thiệt, bị lừa gạt c̣n hơn chúng ta rất nhiều! Chúng ta chẳng có cách nào tưởng tượng, các Ngài đă từng trải như thế đó! Bất luận trong cảnh giới nào, [đều là] tâm b́nh khí ḥa. Đấy là tu Tam Học Giới, Định, Huệ, tu Lục Độ, tu Tứ Vô Lượng Tâm. Trong tất cả các cảnh giới, chẳng ĺa những điều ấy, công đức của các Ngài mới có thể viên măn, chúng ta chớ nên không biết điều này! Niệm niệm đều có cái tâm cứu vớt, bảo vệ chúng sanh!

          Trong kinh, đức Phật đă dạy, kinh Phật chẳng hề nói đến tận thế, chẳng nói tới chuyện này. Nhưng trong kinh Phật có nói: Động vật có sanh, lăo, bệnh, tử, thực vật có sanh, trụ, dị, diệt, thế giới có thành, trụ, hoại, không. Hoại và Không có phải là tận thế hay không? Các tôn giáo thông thường nói [tận thế] là nói tới chuyện này, nhưng đức Phật nói Hoại, Không rồi nó sẽ lại Thành, đấy là một hiện tượng luân hồi. “Thành, trụ, hoại, không” là hiện tượng luân hồi. Luân hồi chẳng gián đoạn; do vậy, đây là một hiện tượng rất b́nh thường. Quư vị thấy hoa nở, hoa tàn, con người sanh, lăo, bệnh, tử, [đấy là những] hiện tượng b́nh thường. Con người chết rồi có phải là thật sự chết mất hay không? Chẳng có! Chư vị nhất định phải hiểu điều này. Hiện thời, các nhà khoa học nói “vật chất bất diệt, tinh thần bất diệt”. Nhà Phật nói sự h́nh thành của các hiện tướng (現相, các tướng được biến hiện) là do duyên tụ. Thân thể loài người cũng là như thế, duyên tụ th́ h́nh tướng bèn thành tựu. Duyên tán, hiện tướng ấy sẽ chẳng có. Duyên tụ, duyên tán! Xác thực là vật chất chẳng diệt, tinh thần cũng chẳng diệt. Do vậy, Phật pháp nói đến Niết Bàn, Niết Bàn là bất sanh, bất diệt. Đạo lư này sâu lắm, kinh giáo Đại Thừa đă nói rất nhiều, nói rất thấu triệt. Trong kinh Hoa Nghiêm đă nhắc đến hơn mười mấy lần! V́ thế, ưu điểm của kinh Hoa Nghiêm là nếu đối với phần trước chưa nghe hiểu, dần dần nghe đến phần sau sẽ hiểu!

          Thầy tôi giới thiệu Phật pháp cho tôi, đặc biệt giới thiệu kinh Hoa Nghiêm. Khi đó, thầy dạy tôi Triết Học, tôi theo học Triết Học. Chúng tôi coi kinh Hoa Nghiêm như Triết Học trong kinh Phật. Thầy Phương đặc biệt dạy bảo: Kinh Hoa Nghiêm là khái luận của triết học Phật giáo, là khái luận Triết Học trong kinh Phật. Thầy nói bộ sách này biên soạn rất khéo, là bộ sách độc nhất vô song trên toàn thể thế giới. V́ sao? Có lư luận, có phương pháp, năm mươi ba lần tham học ở phần sau c̣n kèm thêm phần biểu diễn, [tức là] áp dụng những lư luận và phương pháp ấy vào cuộc sống, vận dụng trong xử sự, đăi người tiếp vật, làm cho quư vị thấy! Bộ sách giáo khoa ấy hiếm có! Trên toàn thế giới, chẳng t́m thấy quyển sách thứ hai, thầy đặc biệt giới thiệu với tôi. Tôi tiếp xúc bằng cách coi sơ qua bộ kinh này, cũng hết sức hoan hỷ; thật ra, hoàn toàn chẳng hiểu kinh Hoa Nghiêm, [thế mà] nẩy sanh tâm hoan hỷ. Sau này học Phật, thầy Lư bảo: “Do cái duyên từ đời trước, trong đời quá khứ đă từng học rồi. V́ thế, vừa tiếp xúc, tuy chẳng biết ǵ hết, vẫn sanh khởi cái tâm hoan hỷ đối với kinh ấy”. Có tâm hoan hỷ, sẽ học tập chẳng khó, người ấy có hứng thú. Nếu mở bộ kinh này ra, quư vị cảm thấy nó thật xa lạ, cảm thấy nó rất trúc trắc, khó khăn, [tức là] trong đời quá khứ, quư vị chưa từng học. Trong quá khứ chưa từng học, đời này học tập sẽ khá khó khăn. Đă học trong quá khứ, đời này tiếp tục học, sẽ dễ hơn rất nhiều!

          Do con người xác thực là có đời quá khứ, trong A Lại Da Thức đă có những hồ sơ tài liệu học tập những thứ ấy trong quá khứ, nay lại học tập, sẽ lại lôi ra những hồ sơ tài liệu trước kia, V́ thế, mỗi đời sau chắc chắn sẽ có tiến bộ rất lớn so với đời trước! Tiến bộ đến khi nào quư vị mới có thể tự làm chủ tể? Chắc chắn là khi phiền năo nhẹ, trí huệ tăng trưởng, phải nhẹ đến một mức độ nhất định. Ví như chúng tôi vừa mới nêu tỷ dụ: “Bị thua thiệt, bị lừa gạt”. Trong khi bị thua thiệt, bị lừa gạt, quư vị tâm b́nh khí ḥa, chẳng có sân khuể, chẳng trách tội người khác, chính ḿnh phản tỉnh, tự ḿnh kiểm thảo, tự ḿnh sửa lỗi, đổi mới; đó là đúng. Hăy nhớ, thánh nhân, hiền nhân, chư Phật, Bồ Tát vĩnh viễn chẳng trách tội kẻ khác. [Chuyện] vua Ca Lợi cắt chặt thân thể [Nhẫn Nhục Bồ Tát] nếu quay thành một bộ phim, sẽ hết sức náo nhiệt, mà cũng hết sức cảm động ḷng người. Đấy là một đề tài giáo dục rất tốt. Đúng như một câu trong kinh Đại Thừa: “Nếu người thật tu đạo, chẳng thấy lỗi thế gian”. Chúng sanh trong thế gian chẳng có lầm lỗi, [dẫu] họ tạo tác Ngũ Nghịch, Thập Ác, vẫn chẳng có lầm lỗi. V́ sao chẳng có lầm lỗi? Giống như đứa trẻ nít hai ba tuổi gây tạo ác nghiệp, quư vị hỏi nó có lầm lỗi hay không ư? Nó vô tri; [đă là] vô tri, quư vị làm sao có thể nói nó phạm lỗi lầm cho được? Quư vị phải yêu thương, dạy dỗ nó. Tuy vô tri, tạo tác tội nghiệp, có quả báo hay không? Có quả báo. Chẳng thể nói là do vô tri tạo tác tội nghiệp sẽ chẳng có quả báo đâu nhé! Chẳng có lẽ ấy!

          Giống như trong thế gian, chúng ta không hiểu pháp luật, ta giết người, phóng hỏa, bị phán tội tử h́nh. [Dẫu chúng ta biện bạch] “tôi không biết có pháp luật ấy”, vẫn bị phán định h́nh phạt ấy. Chẳng thể nói: Do quư vị không hiểu pháp luật, nên quư vị phạm tội, pháp luật chẳng thể xét xử được! Nói kiểu ấy chẳng xuôi tai! Huống hồ nhân quả báo ứng, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, một niệm thiện sẽ là phước báo trong đường trời người, một niệm ác, sẽ là địa ngục súc sanh. Đến khi lâm chung, tùy thuộc ư niệm thiện hay ác trong A Lại Da Thức, niệm nào mạnh hơn? Niệm nào mạnh hơn sẽ xuất hiện trước, quư vị sẽ thọ báo trước. Nếu ư niệm tham rất mạnh, sẽ vào trong ngạ quỷ đạo. Ư niệm sân hận rất mạnh, sẽ vào địa ngục đạo. Ngu si, thị phi, thiện ác, lợi hại, chẳng thể phân biệt, sẽ vào súc sanh đạo! Nếu là một niệm Lục Độ, Tứ Vô Lượng Tâm, người ấy sẽ vào Bồ Tát đạo. Một niệm Thập Thiện, Ngũ Giới, người ấy sẽ là nhân đạo. Một niệm thượng thượng phẩm thiện, từ, bi, hỷ, xả, đấy là thiên đạo. Quư vị đời sau đầu thai vào chỗ nào là do một niệm cuối cùng khi quư vị tắt hơi trong một đời này. Ư niệm nào mạnh mẽ, sẽ đến nơi đó để chịu báo. V́ thế, [nguyên do] v́ sao bảo quư vị niệm Phật, đạo lư ở ngay chỗ này. Khi lâm chung, ư niệm ǵ cũng đều chẳng có, chỉ có ư niệm A Di Đà Phật dấy lên hiện hành, chúc mừng kẻ ấy, kẻ ấy sẽ sanh về thế giới Cực Lạc. Một niệm cuối cùng đấy nhé!

          Quư vị hiểu rơ đạo lư này, [sẽ hiểu] v́ sao khi người lâm chung, chẳng thể đụng chạm người đó. Người có kiến thức thông thường ấy, [sẽ biết] lâm chung tốt nhất, quan trọng nhất là tám tiếng đồng hồ. Bất luận người ấy ngủ trong tư thế nào, cũng chớ nên đụng vào, mà cũng chớ nên rờ đụng người ấy. V́ sao? Trong kinh đức Phật đă dạy: Người b́nh phàm là tám tiếng đồng hồ. Tuy đă tắt hơi, thần thức của người ấy chẳng ĺa khỏi. Chúng ta gọi “thần thức” là “linh hồn”, linh hồn của người ấy chưa rời khỏi. Khi quư vị đụng chạm người ấy, người ấy biết đau, sẽ sanh tâm sân hận. Hễ sanh tâm sân hận, sẽ phiền phức lắm, đi vào trong địa ngục đạo. Sanh tâm tham ái, hoặc tâm tham luyến, sẽ đi vào ngạ quỷ đạo. V́ thế, tốt nhất là trong ṿng tám tiếng đồng hồ, đừng chạm vào người chết, an toàn nhất là sau mười hai giờ. Suốt mười hai tiếng đồng hồ, chẳng chạm vào người ấy. Sau mười hai tiếng mới tắm rửa thân thể, thay y phục th́ được. Đấy là rất an toàn, thần thức của người ấy đă rời khỏi.

          Nhưng kẻ có rất nhiều chấp trước hết sức nghiêm trọng, [thần thức] sẽ rất khó rời khỏi. Tham ái thân thể này, ngỡ thân thể là ta, chẳng nỡ rời khỏi thân thể này; sau khi chết, sẽ làm quỷ giữ thây. Thân thể họ ở chỗ nào, họ bèn canh giữ ở đó. Quỷ giữ thây rất nhiều năm vẫn chẳng chịu chẳng rời khỏi nơi đó, đương nhiên là t́nh h́nh này thuộc loại thiểu số. Nhưng hiện thời chúng ta thấy trong thế gian, đại khái là “thiểu số” cũng chẳng ít, [có không ít kẻ] coi trọng quá lố thân thể của chính ḿnh! V́ thế, thông thường, Phật, Bồ Tát dạy chúng ta phải xem nhẹ, đừng quá coi trọng thân thể. Tốt nhất là sau khi đă năm sáu mươi tuổi, phải có quan niệm: “Thế giới này là quán trọ, chúng ta do lữ du mà đến thế giới này”. Trong kinh, đức Phật đă dạy rất có lư, là thật, chẳng giả: “Vạn ban tương bất khứ, duy hữu nghiệp tùy thân” (Muôn thứ chẳng mang được, chỉ có nghiệp theo thân). Quư vị phải giác ngộ: Chẳng có thứ ǵ trong thế gian này là của quư vị, đều chẳng mang theo được, cần ǵ phải lưu luyến chúng? V́ sao quư vị không buông xuống được? Tôi giảng kinh bốn mươi tám năm, thường hay nói, thuở trẻ chúng tôi cũng đă nói rồi: “Sống trong thế gian này, chúng ta chỉ cần cầu có quyền sử dụng, chẳng cần có quyền sở hữu”. V́ sao? Lúc quư vị ra đi, sẽ dễ vứt bỏ, chẳng tham luyến. Chúng ta ở trong quán trọ là chúng ta có quyền sử dụng. Tôi ở trong quán trọ một tuần, căn pḥng ấy thuộc quyền tôi sử dụng. Quyền sở hữu thuộc về chủ nhân quán trọ, là của người ấy, chẳng phải là của tôi! Chúng ta đến quả địa cầu này, mấy chục năm nóng lạnh ngắn ngủi, phải biết chẳng khác ǵ sống trong quán trọ! Thứ ǵ cũng đều chớ nên lưu luyến! Bất cứ lúc nào cũng đều có thể buông xuống được, quư vị sẽ được tự tại.

          Đối với câu kế tiếp, “chỉ có nghiệp theo thân”, quư vị phải lưu ư: Quư vị tạo ác nghiệp, sẽ mang theo ác nghiệp. Quư vị tạo thiện nghiệp, sẽ mang theo thiện nghiệp. Đấy là ǵ? Đời sau quư vị sẽ đi về đâu là do nghiệp thiện và ác làm chủ tể, kinh Cổ Lan (Qur’an) gọi điều này là “tiền định”. Đời này làm việc thiện, đời sau quyết định sanh về chỗ tốt lành. Đời này làm một thiện nhân, dẫu bị kẻ khác hăm hại chết, vẫn sanh tâm cảm tạ, v́ sao? Sớm được sanh về chỗ tốt lành! Nếu là người niệm Phật bị kẻ khác hại chết, kẻ ấy đă đưa quư vị sang thế giới Cực Lạc trước thời hạn! Nếu không, quư vị c̣n phải chịu khổ thêm mấy năm nữa trong thế giới này! Kẻ ấy đă đưa quư vị đi sớm một chút. V́ thế, không chỉ là chẳng trách, chẳng hận kẻ đó, mà ngược lại, phải cảm tạ kẻ ấy. Những kẻ b́nh phàm chẳng có cách nào lư giải điều này. V́ sao phải cảm tạ kẻ đó? Cảm tạ quư vị đă đưa tôi đi trước. Do vậy, người thật sự tu hành tâm địa thiện lương, những kẻ b́nh phàm chẳng có cách nào tưởng tượng được! Đấy là thật! Quư vị mang theo được!

          Cho nên chúng ta thấy kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo là môn học đầu tiên của đức Phật dành cho hết thảy chúng sanh và hết thảy những người mới học Phật. Đức Phật chẳng giấu giếm tí nào; v́ thế, Pháp Bố Thí viên măn, bố thí viên măn! Quư vị thấy: Vừa tiếp xúc trong ngày đầu tiên, đă hoàn toàn truyền trao cương lănh và nguyên tắc tu học của Phật pháp cho quư vị, nói rơ hiệu quả của công đức: “Bồ Tát có một pháp có thể ĺa hết thảy các nỗi khổ trong thế gian”, nói trọn hết. Một pháp ấy là pháp ǵ vậy? “Thường niệm, tư duy, quan sát thiện pháp”, “thiện pháp” liên quan đến những điều đă nói trên đây. Nếu chúng ta không ngại rườm rà, hăy đọc rơ ràng hơn một tí, tức là “thường niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp, quan sát thiện pháp”. Cốt sao khiến cho thiện pháp liên tục trong từng niệm, chớ nên gián đoạn. Lại c̣n đặc biệt dặn ḍ chúng ta: “Chẳng để cho mảy may bất thiện xen tạp”. Chẳng thể xen tạp mảy may bất thiện, quư vị sẽ đạt đến thuần tịnh, thuần thiện. Há chẳng phải là ngày đầu tiên đă dạy cho quư vị cảnh giới cao nhất của Như Lai ư? Ở đây nói là “vi đệ nhất, vi đại, vi thắng, vi tối thắng, vi diệu, vi cực diệu”. Quư vị thấy: Ngày đầu tiên đă dạy quư vị, dạy quư vị phương pháp này, chẳng giấu giếm mảy may, chẳng phải là làm từng bước, ngay trong ngày đầu tiên đă giăi bày toàn bộ!

          Ngày đầu tiên tôi gặp Chương Gia đại sư, tôi thỉnh giáo lăo nhân gia, Ngài dạy tôi sáu chữ. Sáu chữ đă giăi bày trọn vẹn: “Khán đắc phá, phóng đắc hạ” (Thấy thấu suốt, buông xuống hết). Kế đó, tôi xin Ngài dạy cách thực hiện từ chỗ nào, [Ngài đáp]: “Bố thí”. Khi tôi cáo từ, lăo nhân gia đưa đến tận cửa, nắm bả vai của tôi bảo: “Hôm nay, ta dạy con sáu chữ, con hăy thực hiện chu đáo trong sáu năm”. Ngày đầu tiên gặp mặt, lăo nhân gia ngôn từ rất đơn giản, nói rất ít, chẳng nói những điều thừa thăi, vớ vẩn, khiến cho người khác được khắc họa ấn tượng hết sức sâu đậm! Đấy là “công đức hải măn” (biển công đức viên măn), “hải” là tỷ dụ sâu rộng vô tận. Vô lượng kiếp tích lũy công đức, sâu rộng không ngằn mé đạt đến viên măn. Hoa Nghiêm là cảnh giới viên măn; chẳng viên măn sẽ không thể khế nhập cảnh giới Hoa Nghiêm. “Cánh vô sở thiểu” là chẳng có mảy may lầm lỗi nào. Câu này (“vi đệ nhất”) là tổng thuyết (nói chung, nói tổng quát).

          Tiếp đó là biệt thuyết, “vi đại, vi thắng, vi tối thắng” (là lớn, là thù thắng, là tối thắng); ở chỗ này, Thanh Lương đại sư nói:

 

          (Sớ) Đại giả, Thể bao pháp giới cố.

          ()大者,體包法界故

          (Sớ: “Lớn” là v́ thể của nó bao trùm pháp giới).

 

          Thể là ǵ? Thể là tâm tánh. Đối với tâm tánh, tôi nghĩ các đồng học học Phật đều có thể lănh hội đôi chút. Phật pháp thường nói: “Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”. Đấy là Thể đại. Nhưng ở đây là nói tới bản thể, bản thể là như vậy đó. Tất cả chúng sanh trong mười pháp giới, nói đến thể tánh th́ đều hoàn toàn giống nhau. Chư Phật Như Lai là như thế, Bồ Tát cũng như thế, bọn phàm phu chúng ta vẫn là như thế. Cho đến muỗi ṃng, kiến, ngạ quỷ, địa ngục cũng giống như thế, chẳng hai, chẳng khác! V́ thế, chúng tôi thường nói: “Hết thảy chúng sanh trong vũ trụ là một sanh mạng cộng đồng thể”, thật đấy, chẳng giả!

          V́ sao đức Phật đại từ đại bi? Một sanh mạng cộng đồng thể! Do đó, từ bi là chẳng có bất cứ điều kiện ǵ, vô duyên đại từ, đồng thể đại bi. Nay chúng ta đang mê, mê là chẳng chịu thừa nhận chúng ta có cùng một Thể: “Tôi chẳng phải là quư vị, quư vị chẳng phải là tôi, giữa chúng ta có giới hạn!” Chẳng hiểu đạo lư này. Hễ nẩy sanh giới hạn ấy, thế là có hoài nghi, có mâu thuẫn, có hiểu lầm, có đối lập. Từ đấy, vô lượng vô biên lầm lỗi nẩy sanh, do chẳng biết là một Thể đó mà! Biết là một Thể, vấn đề ǵ cũng đều giải quyết. Ai biết một Thể? A La Hán biết, Bồ Tát biết, Phật biết. Tứ thánh pháp giới biết là một Thể, nhưng chẳng đoạn hết tập khí phiền năo. [Tu tập trong] tứ thánh pháp giới là đoạn những tập khí phiền năo ấy. Đoạn hết tập khí phiền năo, đấy mới là thoát khỏi mười pháp giới, khế nhập Hoa Tạng.

 

          (Sớ) Thắng giả, tự lợi viên măn.

          ()勝者,自利圓滿。

          (Sớ: “Thắng” là lợi ích chính ḿnh viên măn).

 

          Điều thù thắng là tự lợi viên măn, tức là đă đoạn hết nghiệp và tập khí phiền năo của chính ḿnh từ vô thỉ kiếp tới nay. Phật môn thường nói “đoạn hết”, trên thực tế, có đoạn hay không? Chẳng có, há có thể đoạn hết? V́ sao nói là “đoạn hết”? “Đoạn hết” là nói tỷ dụ, chuyển phiền năo thành Bồ Đề, hoàn toàn chuyển biến phiền năo tập khí từ vô thỉ kiếp tới nay thành phương tiện trí huệ lợi ích hết thảy chúng sanh. Khi mê th́ hết thảy v́ chính ḿnh, v́ tự lợi; khi giác ngộ th́ hết thảy v́ chúng sanh, tuyệt đối chẳng có một ư niệm v́ chính ḿnh. V́ sao? Tự và Tha là một, không hai. Lợi tha mới là thật sự tự lợi. Tự lợi xác thực là hại chính ḿnh, tự lợi quyết định chẳng phải là lợi ích chính ḿnh. V́ sao? Kẻ ích kỷ phải đọa vào tam đồ địa ngục. Ích kỷ là tham, sân, si, mạn nặng nề; chúng ta biết tham, sân, si là nghiệp nhân của tam đồ. Tâm tham là nghiệp nhân của ngạ quỷ. Tham tài, tham danh, tham lợi, thứ ǵ cũng đều muốn; trên thực tế, khi sắp chết, thứ ǵ cũng chẳng mang theo được, kết quả là cái tâm tham khiến cho quư vị đọa địa ngục, biến thành ngạ quỷ. V́ thế, sau khi quư vị thật sự liễu giải rơ ràng thế gian này, lợi tha mới là tự lợi, tự lợi thuần là tự hại! Không ai hiểu [ư chỉ ấy], trong kinh điển, Phật, Bồ Tát đă nói rất rơ ràng, [do v́] chẳng đọc, chẳng nghe, vĩnh viễn mờ mịt như đang nằm trong cái trống. Khởi tâm động niệm không ǵ chẳng phải là tội, ngôn ngữ và tạo tác không ǵ chẳng phải là lầm lỗi. A! Bây giờ thời gian đă hết rồi. Chúng ta nghỉ ngơi mấy phút.

**

          Chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Chúng ta lại xem tiếp đoạn cuối cùng của phần trường hàng [trong chánh kinh].

 

          (Kinh) Vi đại, vi thắng, vi tối thắng.

          ()為大。為勝。為最勝。

          (Kinh: Là lớn, là thù thắng, là tối thắng).

 

          Trong phần trước, đă giới thiệu cùng chư vị, Bồ Tát tự lợi viên măn, đấy là Thắng. Kế đó…

 

          (Sớ) Tối thắng, lợi tha cứu cánh cố.

          ()最勝,利他究竟故。

          (Sớ: Tối thắng là v́ lợi tha rốt ráo).

 

          Đấy là giúp đỡ người khác. Nhất định phải hiểu “lợi tha rốt ráo”. Tâm Phật, Bồ Tát là viên măn, quyết định chẳng có tốt, xấu sai khác, quyết định là viên măn. Nói theo phía chúng sanh, do căn tánh không giống nhau, cổ nhân Trung Hoa thường nói “tâm thái tiếp nhận sự giáo hóa sai khác”. Trong Văn Sao, Ấn Quang đại sư cũng thường nói đến điều này: “Một phần thành kính được một phần lợi ích, hai phần thành kính được hai phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Các học tṛ tiếp nhận sự giáo dục, mỗi người có cái tâm thành kính khác nhau, thầy dạy tṛ đều b́nh đẳng như nhau, đúng là “Phật dĩ nhất âm nhi thuyết pháp, chúng sanh tùy loại các đắc giải” (đức Phật dùng một âm thanh để thuyết pháp, chúng sanh tùy theo mỗi loài đều hiểu). Đấy là “lợi tha rốt ráo”.

          Người thượng thượng căn mười phần thành kính, họ nghe pháp có thể khai ngộ, có thể chứng quả. Dẫu thầy là phàm phu, học tṛ [do cái tâm thành kính nghe dạy vẫn] chứng quả. Trong kinh, đức Phật đă kể một câu chuyện như thế này: Có một người tu hành mà chính ông ta chẳng thành tựu, hướng dẫn mấy học tṛ. Có một hôm, thầy gọi một đứa học tṛ, cầm một trái banh, nói đùa trêu chọc học tṛ: “Ở trong pḥng, ngươi hăy ngồi vào góc đó”. Dùng banh ném vào kẻ đó, bảo: “Ngươi đă chứng quả Tu Đà Hoàn”. Người học tṛ ấy thật sự chứng quả Tu Đà Hoàn. Lại đổi sang góc khác, Nhị Quả Tư Đà Hàm; lại đổi sang góc khác, Tam Quả A Na Hàm; đổi tới góc thứ tư, Tứ Quả A La Hán. Học tṛ đảnh lễ thầy ba lạy, nhiễu theo chiều phải ba ṿng, cảm tạ thầy. Thầy nói: “Ta nói giỡn với ngươi mà!” Học tṛ thưa: “Con thật sự chứng Tứ Quả”. Đấy là ǵ? Mười phần thành kính được mười phần công đức! Đấy cũng là như trong giáo học Trung Hoa đă nói từ xưa: “Thanh xuất ư lam, nhi thắng ư lam” (Màu xanh xuất phát từ màu chàm, mà đẹp đẽ hơn màu chàm). Câu này hiểu như thế nào? Thầy là Tú Tài, học tṛ nghiễm nhiên đậu Trạng Nguyên, thầy vẫn là Tú Tài. Pháp thế gian và xuất thế gian chẳng có ngoại lệ, chúng ta tiếp nhận giáo huấn của thánh hiền, Phật, Bồ Tát, quư vị chẳng thể trách Phật, Bồ Tát: “Các Ngài dạy kẻ khác nhiều, dạy con ít”. Chẳng nói như vậy được! Quư vị đă trách lầm người khác rồi! Thầy, Phật, Bồ Tát quyết định là công bằng, nhưng tâm thái tiếp nhận giáo huấn và ḷng thành kính của chính quư vị khác nhau.

          Thuở ấy, chúng tôi tuổi c̣n trẻ, được thân cận thầy Lư. H́nh như lúc đó, khi tôi được quen biết thầy, tôi ba mươi mốt tuổi. Khéo sao, trong năm ấy, thầy mở lớp học kinh. Đài Trung Liên Xă mở một lớp như thế, dạy giảng kinh, dạy giảng diễn, phải lên bục giảng, có hai mươi mấy vị đồng học, tôi là người cuối cùng tham gia. Tôi vốn chẳng có ư nghĩ ấy, v́ giảng kinh là chuyện khó khăn. Tôi đến Đài Trung là để nghe kinh, theo thầy học tập, chẳng dám lên đài giảng kinh, nghĩ chuyện ấy quá khó! Thầy khuyên tôi vài lần, tôi luôn rất sợ hăi. Cuối cùng, thầy bảo: “Hôm nay chúng tôi có tiết học, anh hăy đến xem”. Tôi thưa vâng. Đến xem, tôi ngồi ở hàng cuối cùng. Các đồng học lên bục giảng, sau khi nghe xong, tan học, [tôi thưa với thầy]: “Thưa thầy! Con cũng có thể, cũng có thể học tập!” Thầy cũng rất hoan hỷ. Xem họ giảng, tôi cảm thấy đấy chẳng phải là chuyện khó khăn. Giảng như cách của họ th́ tôi cũng làm được, sẽ chẳng thua kém họ!

          V́ thế, tôi đi theo con đường giảng kinh là như thế đó. Con đường ấy khiến cho tôi đi theo, dùi mài chẳng bỏ suốt cả một đời. Các đồng học của chúng tôi giảng mấy năm rồi không giảng nữa, gián đoạn. Lại c̣n là giảng kinh lúc có, lúc không, chẳng có cái duyên như tôi. Duyên của tôi là giảng mỗi ngày, tuyệt đối chẳng gián đoạn! Sau này đắc lực là do Hàn quán trưởng hộ tŕ, tôi có một yêu cầu đối với bà ta: Giúp cho tôi có cơ hội lên bục giảng hằng ngày, mỗi ngày có mấy người nghe. Tôi nói: “Người nghe không nhiều lắm. Mười mấy, hai mươi người là được rồi. Bà hăy thay tôi t́m thính chúng, khiến cho tôi mỗi ngày đều có cơ hội luyện tập giảng”. Bà ta thay tôi làm được. Ba mươi năm như một ngày, trăm ngàn rèn luyện. Chuyện này đ̣i hỏi phải có hằng tâm, có cái tâm dài lâu. Những đồng học khác chẳng có duyên phận ấy, mà cũng chẳng có ư niệm ấy. Chẳng có ư niệm giảng hằng ngày! Thành tựu của chúng tôi ngày càng khác biệt to lớn.

          Tại Trung Hoa, thường nói là “hiếu học”. Hiếu học th́ mới có thể thành tựu. Chẳng hiếu học, làm sao có thể thành tựu cho được? Chuyện này thầy chẳng có cách nào ép quư vị được, chính quư vị phải chịu làm! Chính ḿnh chịu làm, đương nhiên là bản thân quư vị có hứng thú đối với chuyện ấy, cảm thấy chuyện ấy rất vui sướng th́ quư vị mới có thể chịu làm. Nếu làm mà cảm thấy rất nhọc nhằn, sẽ chẳng lâu dài! Như thế nào th́ quư vị mới có thể đạt được vui sướng? Sau khi quư vị đă học, nhất định là thực hiện nó, quư vị sẽ có sự vui sướng. V́ thế, Khổng phu tử đă nói một câu hết sức có đạo lư, “học nhi thời tập chi” (học rồi thường xuyên tập luyện), “tập” là ǵ? “Tập” () là quư vị nhất định vận dụng những điều đă học vào cuộc sống, áp dụng vào công việc, dùng trong xử sự, đăi người tiếp vật, như vậy th́ sẽ vui sướng. Nó là trí huệ, cuộc sống của quư vị sẽ rất hạnh phúc, rất mỹ măn. Nghèo chẳng sợ, giống như Nhan Hồi, ăn cơm trong giỏ, uống nước trong bầu, vui sướng khôn sánh. Tăng đoàn của Thích Ca Mâu Ni Phật hằng ngày khất thực bên ngoài, giữa trưa ăn một bữa, qua đêm dưới gốc cây, pháp hỷ sung măn. Đó gọi là “học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” (học rồi luôn tập luyện, cũng chẳng vui sao). Quư vị không học, [hoặc là] sau khi đă học, chẳng thể ứng dụng vào cuộc sống, sẽ vĩnh viễn chẳng đạt được niềm vui sướng ấy. Có pháp hỷ, có vui sướng, quư vị sẽ vĩnh viễn theo đuổi không ngừng, càng theo đuổi, càng vui sướng! “Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ” (Có bạn bè từ nơi xa đến, cũng chẳng vui sao). Đó là người chí đồng đạo hợp, họ đến học với quư vị, thỉnh giáo quư vị. Dẫu chẳng có những người như vậy, “nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ” (người ta không biết đến mà chẳng giận, cũng chẳng phải là bậc quân tử ư). Ba câu ấy nói hết sức tuyệt, đơn giản như thế mà đạo lư và cảnh giới trong ấy sâu rộng vô tận!

          Do vậy, phải hiểu lợi tha, hiếu học, khế nhập cảnh giới, người ấy có ḷng thành kính rất cao! Thấp hơn là tâm thành kính và hiếu học chỉ có sáu phần, bảy phần, người ấy sẽ đạt được sáu, bảy phần. Có một, hai phần, người ấy chỉ đạt được một, hai phần. Dù là thầy, hay Phật, Bồ Tát, cũng chẳng có cách nào giúp đỡ người ấy tăng cao hơn. Đương nhiên thầy là một mấu chốt rất quan trọng, trong Phật pháp hết sức coi trọng chuyện thân cận thiện tri thức. Quư vị xem kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung, đấy là kinh Tiểu Thừa; trong đoạn thứ nhất của kinh ấy, đức Phật đă dạy mọi người hăy thân cận minh sư, “minh” chẳng phải là tên tuổi lừng lẫy, mà “minh” trong “quang minh”, tức là vị thầy ấy là bậc hữu tu hữu chứng. Hiện thời, chẳng t́m thấy bậc thầy hữu chứng; v́ thế, thầy Lư bảo tôi: “Nay chúng ta bất đắc dĩ, chúng ta t́m vị thầy nào? Hữu tu hữu học”. Thật sự hữu tu, hữu học cũng là khá quá rồi! [T́m một vị thầy đă] chứng quả quá khó, chẳng t́m được, hăy t́m bậc hữu tu hữu học, giải hạnh tương ứng! Nếu là một vị thầy có tu nhưng chẳng học, hoặc là có học mà chẳng tu, sẽ đều hướng dẫn học tṛ sai lầm. Trong bản chú giải Tứ Thập Hoa Nghiêm, Thanh Lương đại sư đă nói rất minh bạch. Lăo nhân gia bảo: “Có giải, chẳng có hạnh, tăng trưởng tà kiến; có hạnh (hạnh là tu hành) mà không có giải, tăng trưởng vô minh”. V́ thế, hai hạng người ấy đều chẳng đáng tin cậy cho lắm! Nhất định là phải hạnh giải tương ứng th́ mới có thể khế nhập cảnh giới. Khế nhập là chứng quả; đấy là thiện tri thức chân chánh.

          Văn Thù Bồ Tát trong phẩm cuối cùng [của kinh Hoa Nghiêm], phẩm này rất dài, tức là Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện Phẩm, đă dạy Thiện Tài đi tham học. Ắt cần phải hiểu nguyên tắc này, phải nhận biết thiện tri thức. Đương nhiên chúng ta nói là ngài Thiện Tài may mắn, Ngài được thầy giới thiệu tri thức. [Thiện tri thức] do thầy đề cử, đương nhiên là chẳng có vấn đề. Nếu chẳng có một vị thầy tốt chỉ điểm, đề nghị, chính quư vị phải biện định, phải t́m một vị hữu tu hữu học, có thể t́m được một vị chứng quả sẽ là tốt nhất. Bất quá thời đại này đă chẳng có [một vị chứng quả], đó là v́ chúng sanh chẳng có phước báo. Chúng sanh thiện tâm, làm thiện sự, do phước báo hiện tiền, cảm chư Phật, Bồ Tát, thánh hiền đến thế gian này. Chúng sanh chẳng có phước báo, không chịu tiếp nhận thiện pháp, hoài nghi thiện pháp, bài xích thiện pháp, hủy báng thiện pháp, tạo tác vô lượng vô biên tội nghiệp, do ác nghiệp sẽ chiêu cảm hạng người nào t́m đến? Yêu ma quỷ quái, họ đến gây loạn, khiến cho quư vị chịu khổ, chịu tội! Phải hiểu điều này, phải biết trong thời đại hiện tiền này, chúng ta thân cận thiện tri thức như thế nào, phải có huệ nhăn!

          Sự giáo hóa của thiện tri thức xác thực là b́nh đẳng, trong kinh, đức Phật đă nói chuyện này rất rơ ràng. Người thượng thượng căn, nhà Phật thường nói “Phật chẳng độ kẻ vô duyên”, người thượng thượng căn là duyên thành thục, bèn giúp họ chứng quả. Người thượng căn chẳng chứng quả, bèn giúp cho họ khai ngộ. Đối với kẻ căn tánh trung hạ, bèn giúp đỡ người ấy tu hành. Đối với kẻ chẳng có thiện căn, giúp họ gieo thiện căn. Đấy là phổ độ chúng sanh! Đấy gọi là “lợi tha rốt ráo”! V́ thế, quư vị đừng xem nhẹ người xuất gia, thậm chí đối với kẻ xuất gia phá giới, quư vị đều phải tôn trọng họ. Trong tương lai, do họ phá giới, tạo ác, sẽ đọa tam đồ; đó là chuyện của họ, nhưng họ có một công đức mà kẻ b́nh phàm như chúng ta không làm được. Công đức ǵ vậy? Họ mặc y phục xuất gia, đi ra ngoài một ṿng như thế, bao nhiêu người trông thấy: “Đấy là Phật giáo, đấy là ḥa thượng”. Ư niệm ấy được gieo vào A Lại Da Thức của họ, là chủng tử khiến cho họ tu hành học Phật, làm Phật, làm Bồ Tát trong tương lai. Người ấy đă gieo chủng tử cho hết thảy chúng sanh, đă gieo hạt! Người khác chẳng làm điều này được!

          Khi xưa, tôi ở Đài Loan, dạy sinh viên thuộc các trường chuyên nghiệp và đại học. Khi đó, thầy Lư mở một khóa đại chuyên giảng ṭa (khóa giảng dành cho sinh viên các trường đại học và chuyên nghiệp), tức là Từ Quang giảng ṭa. Về sau, tôi ở Đài Bắc, pháp sư Đạo An mở một khóa giảng về Phật học dành cho sinh viên các trường đại học và chuyên nghiệp, mời tôi làm chủ giảng. Những sinh viên ấy mới học Phật, các đồng học trong nhà trường đều cảm thấy Phật giáo là mê tín. Tôi liền khuyên họ, tôi nói: “Chớ sợ! Người ta nói ǵ th́ cứ mặc kệ cho họ nói. Chúng ta đối đăi khách sáo với họ, như vậy là được rồi, gieo thiện căn cho họ”. Tôi nói: “Các bạn chẳng ngại đeo trên tay một chuỗi tràng hạt, khiến cho các bạn học và giáo viên trong trường thấy chuỗi hạt trên tay quư vị, bèn nói: ‘Ngươi là Phật giáo’. Chữ Phật ấy bèn in vào trong A Lại Da Thức của họ”. Tôi nói: “Các bạn đối với sách giáo khoa, thường đều là đề tên ḿnh. Các bạn hăy viết A Di Đà Phật. Các bạn học trông thấy A Di Đà Phật bèn niệm một tiếng Phật hiệu. Chủng tử Phật đă được gieo!” Những vị bạn học ấy đều hiểu.

          Gieo chủng tử Phật cho mọi người, trong quá khứ họ chẳng có thiện căn. Nay chúng ta gieo chủng tử xuống, đời sau và đời sau nữa, họ sẽ có thiện căn, sẽ có căn cội. Tôi giảng kinh, trong các đồng học có rất nhiều người kinh doanh. Các vị chủ nhân kinh doanh thường phải đăng quảng cáo, đăng quảng cáo trên báo chí. Tôi nói với họ: “Quư vị đăng quảng cáo trên báo chí, trong cột quảng cáo ấy, quư vị in một ḍng “siêng niệm nam-mô A Di Đà Phật, siêng niệm nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát”. Thêm vào mấy chữ như vậy, quảng cáo sẽ sanh ra hiệu quả giống hệt như vậy: Người ta trông thấy, bèn niệm một câu Phật hiệu, niệm một câu thánh hiệu Bồ Tát, công đức ấy rất lớn! Quư vị chẳng tốn nhiều tiền, vẫn là trang báo to ngần ấy, lại thêm vào mấy chữ, cũng có người làm theo, đó là chuyện tốt! Đấy là quư vị phải có tâm giúp đỡ người khác gieo thiện căn, giúp đỡ người khác gieo chủng tử Phật trong A Lại Da. Quư vị thường có cái tâm ấy, hễ có cơ hội bèn làm. Đấy là thiện căn.

          Khi xưa, tôi cũng thường đến Hương Cảng giảng kinh, thấy trên đường phố Hương Cảng vào mùa Hè, thanh niên mặc T-shirt, h́nh vẽ trước sau toàn là yêu ma quỷ quái. Sau khi thấy vậy, tôi liền nẩy sanh ư niệm. Chúng tôi cũng làm mấy cái áo T-shirt, trước sau đều in chữ “nam-mô A Di Đà Phật”, mặc trên người đi một ṿng ngoài đường, quư vị thấy đă độ bao nhiêu người! Mỗi cá nhân trông thấy đều niệm một tiếng Phật hiệu. Tuy họ không niệm, nhưng mắt họ trông thấy. Một phen lướt qua mắt, vĩnh viễn là hạt giống đạo! Sau khi đă làm xong, loại áo ấy cũng được lưu hành. Hiện thời, Tịnh Tông Học Hội ở các nơi trên cả thế giới đều làm, đều là in những câu trong kinh Phật hoặc danh hiệu Phật. Có người nói: “In danh hiệu A Di Đà Phật trên quần áo rất thiếu cung kính, giặt quần áo sẽ chẳng cung kính”. Chẳng sao cả! A Di Đà Phật chẳng quở trách quư vị. Quư vị có thể khiến cho nhiều người ngần ấy được gieo chủng tử A Di Đà Phật trong A Lại Da Thức. Công đức ấy to lớn, phải hiểu đạo lư này. Hễ lướt qua mắt, hễ thoảng qua tai, sẽ vĩnh viễn là hạt giống đạo. Niệm nào cũng đều nghĩ dùng phương pháp nào để khuyên người khác niệm Phật. Đấy là lúc ban đầu khiến cho họ có ấn tượng, tức là có ấn tượng về Phật giáo. Đấy là chủng tử bậc nhất. Đối với kẻ chẳng có thiện căn th́ gieo thiện căn cho họ. Đă có thiện căn, bèn giúp cho họ tăng trưởng. Thiện căn đă chín muồi, bèn giúp họ thành tựu. Niệm Phật văng sanh Tịnh Độ là thành tựu. Suốt một đời này, tận tâm tận lực giúp đỡ chúng sanh hữu duyên. Phàm là những người mà ta được tiếp xúc đều là hữu duyên. Chúng ta đi trên đường phố một ṿng, những người trên đường khi ấy thảy đều là hữu duyên.

          Do vậy, các đồng tu tại gia có thể đeo một chuỗi tràng hạt hay không? Có người nói “kẻ tại gia chẳng thể đeo”, tôi nói: Chúng ta là người học Phật, trong Tứ Y Pháp của Phật, y pháp, bất y nhân. “Tại gia chẳng thể đeo tràng hạt” được nói trong bộ kinh nào? Chẳng có! Đức Phật đă chẳng nói [như vậy], v́ sao chẳng thể đeo? Quư vị đeo tràng hạt sẽ rất rơ rệt, quư vị đi đến đâu, bao nhiêu người trông thấy: “Đấy là Phật giáo, đấy là A Di Đà Phật”. Quư vị đă tiếp dẫn bao nhiêu người! Bất quá đối với tại gia đồng tu, tôi dạy mọi người cách đeo tràng hạt. Người xuất gia đeo sao cho tua tràng hạt ở đằng sau, đồng tu tại gia khi đeo tràng hạt, nên để tua tràng hạt đằng trước. Cách đeo như vậy, tua tràng hạt ở đằng trước, đấy là chỗ khác biệt so với người xuất gia. Làm như vậy cũng có thể khiến cho khá nhiều chúng sanh khi trông thấy, ấn tượng về Phật sẽ gieo vào tâm họ. Đấy là “tự độ, độ tha” mà chúng ta đang nói trong hôm nay, phải hiểu điều này. Nếu có người đến hỏi, chúng ta nhất định giới thiệu Phật pháp rành mạch, rơ ràng với họ.

          Học Phật th́ trước hết là phải tu chính ḿnh; v́ thế, nói là “vi thắng”, tức là tự hành tự lợi viên măn. “Vi thắng” là tướng mạo phải tốt đẹp, thân thể phải tốt đẹp, khiến cho người khác trông thấy sanh tâm hoan hỷ. Chớ nên khiến cho người ta trông thấy: Đó là kẻ ăn chay, mặt mũi vàng vọt, gầy quắt queo, dáng vẻ phờ phạc, ai dám học Phật? Học Phật mà [trở thành] dáng vẻ như vậy, chẳng có ai dám học Phật! V́ thế, quần áo chẳng cần quá lộng lẫy, nhưng cũng chớ nên quá lỗi thời, mặc đúng theo kiểu phổ biến, khiến cho người ta nghĩ “học Phật cũng có thể chưng diện”. Quư vị thấy Quán Thế Âm Bồ Tát ăn mặc rất đẹp đẽ, v́ sao các vị chẳng học theo Ngài? Trong Phật pháp, quư vị thấy đức Phật dạy chúng ta: “Bồ Tát sở tại chi xứ, linh nhất thiết chúng sanh sanh hoan hỷ tâm” (Bồ Tát ở chỗ nào đều khiến cho hết thảy chúng sanh sanh tâm hoan hỷ), quư vị đă quên bẵng câu này rồi sao? Luôn luôn khiến cho hết thảy chúng sanh sanh ḷng hoan hỷ. Diện mạo biểu hiện sự thành tựu trong sự học Phật của quư vị. Quư vị tâm địa từ bi, tướng mạo sẽ là tướng từ bi. Tâm quư vị thanh tịnh, tướng mạo của quư vị là thanh tịnh. Người khác trông thấy tướng mạo ấy sẽ khiến cho ḷng người ta bị nhiếp phục, sanh ḷng hoan hỷ, mong thân cận quư vị. Như vậy th́ quư vị sẽ dễ dạy họ.

          Từ tuổi trung niên trở lên, chẳng có ai không coi trọng thân thể khỏe mạnh. Khỏe mạnh, sống lâu rất được coi trọng. Họ thấy dáng vẻ quư vị như vậy, nhất định sẽ hướng về quư vị thỉnh giáo. Vậy là quư vị có thể nói với họ. Khi tôi đến khắp nơi trên thế giới, h́nh tượng này đă độ rất nhiều người. Mọi người đều đến hỏi: “Thưa pháp sư! Thầy bảo dưỡng thân thể như thế nào?” Tôi bảo họ: “Ăn chay, tâm thanh tịnh”. Tâm thanh tịnh chẳng dễ dàng, như thế nào th́ mới đạt được cái tâm thanh tịnh? Niệm A Di Đà Phật. Dùng một câu Phật hiệu này để thay thế tất cả các tạp niệm của quư vị. Quư vị thấy họ đến thỉnh giáo, ngay lập tức bèn truyền dạy cho họ. Họ có nhu cầu bức thiết; đấy là cơ hội giáo dục.

          Gia đ́nh sẽ là một gia đ́nh Phật giáo, làm gương cho hết thảy các gia đ́nh, là gia đ́nh khuôn mẫu. Đạo tràng nhất định là gương mẫu cho hết thảy các đạo tràng, là đạo tràng điển h́nh. V́ thế, ở đây, trước hết, điều quan trọng nhất là phải học Giáo, phải niệm Phật! Tất cả những người làm công quả trong đạo tràng, chúng ta làm công quả, đều phải nghe kinh. Quư vị không nghe kinh, ở trong đạo tràng này, quư vị không chỉ là chẳng thể làm việc lành, tích đức, mà thường là c̣n phá hoại đạo tràng. Phá hoại đạo tràng, quư vị sẽ mắc tội, sẽ có tội lỗi! Gia đ́nh cũng giống như thế. Nếu gia đ́nh muốn ḥa thuận, quư vị không dạy th́ có được hay không? Ai dạy? Ta đă hiểu th́ phải dạy, ta sẽ ảnh hưởng gia đ́nh của chính ḿnh, khiến cho cả nhà đều có thể hiểu lư, đều có thể ḥa thuận. Gia ḥa, vạn sự hưng, chuyện này quan trọng hơn bất cứ điều ǵ khác!

          Người Hoa hiểu giáo dục, giáo dục là hai chữ, một là Ái, hai là Ḥa. Giáo dục luân lư của Trung Hoa tối thiểu là năm ngàn năm, đă có kinh nghiệm năm ngàn năm, trí huệ năm ngàn năm, phương pháp năm ngàn năm, nội hàm giáo học trong năm ngàn năm, hiệu quả năm ngàn năm. Cho tới hiện thời vẫn hữu dụng. Nếu muốn cho thế giới khôi phục an định, ḥa b́nh, hóa giải xung đột và mâu thuẫn, phương cách này vẫn hữu hiệu! Quư vị rời bỏ thứ này, đi t́m một phương cách khác, chẳng t́m thấy! Tôi tuổi đă cao như vậy, [thế mà] khá nhiều hội nghị quốc tế mời tôi, tôi vẫn đến tham gia, v́ sao? Mong giới thiệu đường lối này với mọi người, nó thật sự có thể giải quyết vấn đề. Họ rất mong giải quyết vấn đề, nhưng chẳng t́m thấy phương pháp. Liên Hiệp Quốc mong thực hiện thế giới ḥa b́nh đă ba mươi lăm năm, chẳng t́m thấy phương pháp. Tần số động loạn trên thế giới mỗi năm một tăng, thiên tai nhân họa mỗi lần một nghiêm trọng hơn, mọi người đều thấy điều ấy, đều là sự thật. Những vấn đề này bày ra ngay trước mặt, bức thiết cần giải quyết. Chúng ta hiểu rơ những đạo lư nhân quả đạo lư, biết những chân tướng sự thật, cho nên hễ có cơ duyên, chẳng thể không giới thiệu rộng răi. Chúng tôi tuổi đă cao, không thể nào ra sức hành động được, chỉ có nói cho mọi người biết những ǵ đă thấy. Vấn đề là phải biết thật sự quan tâm!

          Mỗi tháng, vào ngày thứ Tư đầu tiên, chúng tôi đặc biệt tṛ chuyện với các đồng tu trong đạo tràng. Năm nay chúng tôi đă làm vài lần. Thứ Tư đầu tiên trong tháng Giêng năm 2006 h́nh như là ngày mồng Bốn, lần này tôi sẽ nói với mọi người về bốn thứ giáo dục, giáo dục luân lư, giáo dục đạo đức, giáo dục nhân quả, giáo dục tôn giáo. Hiện thời, khá nhiều người nẩy sanh hiểu lầm đối với bốn loại giáo dục này. Quư vị nói đến luân lư, đạo đức, họ nói “đấy là thời cổ, lỗi thời rồi, chẳng thích hợp với hiện đại”, họ bài xích, cự tuyệt. Nói đến nhân quả, nói đến tôn giáo, họ nói những thứ đó là mê tín, chẳng biết bốn loại giáo dục ấy có thể giúp đỡ xă hội hiện tiền hóa giải xung đột, khôi phục an định, ḥa b́nh. V́ vậy, giới thiệu phải có phương tiện, như Phật pháp đă nói là “phương tiện thiện xảo”, phải dùng lời lẽ rất đơn giản để nói rơ những loại giáo dục ấy!

          Giáo dục luân lư là ǵ? Giáo dục luân lư là giáo dục về mối quan hệ giữa con người với nhau. Như vậy th́ mọi người đều nghe hiểu. Nay chúng ta chẳng có quan hệ cư xử tốt đẹp giữa con người với nhau. Trong gia đ́nh, cha con bất ḥa, vợ chồng bất ḥa, anh em bất ḥa, do nguyên nhân ǵ? Quư vị chẳng hiểu mối quan hệ này, chưa hề tiếp nhận sự giáo dục này. Đă tiếp nhận sự giáo dục này, gia đ́nh sẽ ḥa thuận, quư vị nói xem: Có muốn điều này hay không? Giáo dục đạo đức là giáo dục nhằm dạy quư vị làm một người tốt. Quư vị có muốn làm người tốt hay không? Quư vị có hiểu người tốt là ǵ hay không? Làm người tốt bằng cách nào? Nói theo lư luận, con người tánh vốn lành. Nay chúng ta mê mất tự tánh, tiêm nhiễm khá nhiều tập tánh bất thiện. Giáo dục đạo đức là nền giáo dục nhằm dạy quư vị làm thế nào để từ tập tánh trở về bản tánh vốn lành. Quư vị sẽ biết những ǵ chúng ta đáng nên học và chẳng nên học!

          Đối với giáo dục nhân quả, trong xă hội hiện thời, thường nói: “Ĺa nghèo, đạt đến giàu có”. Chúng ta muốn ĺa khỏi nghèo khổ, mong phát tài, mong giàu có, giáo dục nhân quả nhằm dạy quư vị “ĺa nghèo, làm giàu” như thế nào? Ĺa khổ được vui như thế nào? Nói điều này, tôi tin tưởng rất nhiều người đều ưa thích. Quư vị nói nó là mê tín, được thôi! Quư vị sẽ khổ cả đời, khổ sở suốt một đời này, đời sau càng khổ hơn. Nghèo có cái nguyên nhân của nghèo, giàu có cái nhân của giàu. Làm thế nào để trừ nghèo khó? Quư vị bỏ cái nhân, quả sẽ chẳng có. Làm giàu như thế nào? Chúng ta dốc hết sức thực hiện cái nhân làm giàu, quả báo giàu có sẽ hiện tiền. Chẳng ĺa khỏi nhân quả! Tiên sinh Phương Đông Mỹ khi giới thiệu giáo dục tôn giáo, [đă bảo]: “Đó là sự hưởng thụ cao nhất trong đời người!” Ba loại giáo dục trước đó (luân lư, đạo đức, nhân quả) thăng hoa, khiến cho chúng ta đạt được sự hưởng thụ cao nhất trong cuộc đời. V́ vậy, chúng tôi phải bàn đến bốn thứ giáo dục này, khiến cho mọi người nhận thức bốn loại giáo dục ấy. Biết tầm quan trọng của chúng, quư vị mới có hứng thú, có ư nguyện học tập. Thật sự có thể hóa giải vấn đề, bất luận là vấn đề cá nhân, vấn đề gia đ́nh, vấn đề sự nghiệp, cho đến các vấn đề xă hội, sẽ đều có thể giải quyết.

          Đấy là “vi thắng, vi tối thắng”, lợi tha rốt ráo. Chúng ta sau khi đă hiểu, quư vị phải nắm lấy cơ hội để thực hiện, lợi ích xă hội, lợi ích đại chúng. Hiện thời, v́ khoa học kỹ thuật phát triển, thông tin phát triển, giao thông nhanh chóng, thuận tiện, địa cầu đă biến thành một thôn, rất nhiều người nói “địa cầu thôn”, đúng là như vậy. Quư vị nói đến Trịnh Ḥa đi thám hiểm Tây Dương, ngày mai đă là năm mới rồi, bước sang năm 2006, đúng dịp kỷ niệm sáu trăm năm Trịnh Ḥa xuống vùng Tây Dương[8]. Thuở ấy, lái thuyền buồm, từ Trung Hoa đến Nam Dương (Indonesia) phải mất mấy tháng. Hiện thời, từ Trung Hoa sang Nam Dương, từ Bắc Kinh bay đến Nhă Gia Đạt (Jakarta) là sáu, bảy tiếng đồng hồ. Quư vị nói xem, có phải là đă biến thành “địa cầu thôn” hay không? Do vậy, hiện thời, chúng ta suy tư, khởi tâm động niệm chẳng phải v́ một khu vực, v́ một thành thị, v́ một quốc gia, mà khởi tâm động niệm đều phải suy nghĩ v́ phước lợi của toàn thể thế giới và toàn thể nhân loại. Chẳng phân biệt quốc gia, chẳng phân biệt chủng tộc, chẳng phân biệt tôn giáo, tâm yêu thương chân thành. Đấy chính là cốt lơi của nền giáo dục Trung Hoa, cha con có t́nh thân, tức thân ái. Thân ái là thiên tánh, là Tánh Đức, chẳng phải là do học được!

          Công năng thứ nhất của giáo dục phải cầu sự thân ái ấy. Cha con có t́nh thân ái như thế, làm thế nào để ǵn giữ suốt đời chẳng bị biến chất? Đấy là công năng của giáo dục. Quư vị thấy trẻ nít, lại c̣n là khi đứa trẻ mới một hai tuổi, cha mẹ yêu thương nó, nó yêu thương cha mẹ, chân thành, là thiên tánh. Quư vị hăy xem! Tới khi đứa nhỏ mười mấy tuổi, sẽ không yêu thương cha mẹ nữa, mà ghét bỏ cha nẹ, đó là ǵ? Bị bên ngoài nhiễm ô, mê mất tự tánh. V́ thế, công năng của giáo dục là làm thế nào để khiến cho trẻ nhỏ chẳng bị hoàn cảnh bên ngoài nhiễm ô, vĩnh viễn ǵn giữ ḷng thân ái. Đấy là mục tiêu thứ nhất. Phải phát huy rạng rỡ ḷng thân ái nơi “phụ tử hữu thân” (cha con có t́nh thân ái). Quư vị có biết yêu thương cha mẹ, yêu thương anh em, yêu thương gia tộc, lại mở rộng ra, [sẽ là] yêu thương thân thích, bằng hữu, láng giềng, làng xóm, yêu thương xă hội, yêu thương quốc gia, yêu thương nhân loại, yêu thương hết thảy chúng sanh, giáo dục luân lư đấy! Những thứ ấy có phải là quá cổ lỗ hay không? Chẳng thích hợp để sử dụng ư? [Do quan niệm những điều ấy là] không thích hợp, kết quả là thiên hạ đại loạn, chẳng thể không biết [điều này]! Đấy là “vi tối thắng”. Hai câu tiếp theo là:

 

          (Kinh) Vi diệu, vi cực diệu.

          ()為妙。為極妙。

          (Kinh: Là diệu, là cực diệu).

 

          “Diệu” ở chỗ nào? Trong phần chú giải, Thanh Lương đại sư đă nói:

 

          (Sớ) Diệu giả, Phiền Năo Chướng tận cố. Cực diệu giả, Sở Tri Chướng tận cố.

          ()妙者,煩惱障盡故。極妙者,所知障盡故。

          (Sớ: “Diệu” là đă hết Phiền Năo Chướng. “Cực diệu” là đă hết Sở Tri Chướng).

 

          Do lời giải thích này, chúng ta bèn hiểu rơ, đấy là Chân Diệu! Sở dĩ chúng sanh chẳng thể trở về bản tánh, Nho gia nói là “chúng sanh chẳng trở về bổn thiện”. Tam Tự Kinh có câu: “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện” (Con người thoạt đầu tánh vốn lành), câu kế tiếp là “tánh tương cận, tập tương viễn” (bản tánh giống như nhau, do bị huân tập mà trở thành khác nhau). Nếu xét theo bản tánh vốn lành, mọi người đều như nhau, cho nên là “tương cận”. Nếu xét theo thói quen, do bị thói quen ô nhiễm, [tính t́nh của] mọi người sẽ ngày càng cách xa. Thói quen quá trọng yếu! Trong thói quen có thiện và bất thiện. V́ thế, thánh nhân bèn bắt đầu từ chỗ này, từ nhân tố này mà kiến lập giáo học, chẳng dạy sẽ không được! V́ thế, giáo dục hưng khởi từ chỗ nào? Hưng khởi từ chỗ này, làm thế nào để giữ vững mối thân t́nh giữa cha và con? Làm thế nào để phát huy rạng rỡ t́nh thân giữa cha và con? Kinh nghiệm giáo dục năm ngàn năm của Trung Hoa rất đáng quư! Đi khắp toàn thế giới, bất luận ở chỗ nào, tôi giảng diễn, giới thiệu [nền giáo dục ấy] đều được hoan nghênh, chẳng bị phản đối. Bất quá ở Trung Hoa, tôi không nói, chứ bên ngoại quốc, tôi nói rất ư là nhiều! Mọi người đều hoan nghênh.

          Chướng ngại trong tập tánh trùng trùng, vô lượng, vô tận! Đức Phật quy nạp chúng thành hai loại lớn, một loại lớn là Phiền Năo, loại kia là Sở Tri. Hai loại này đều chướng ngại bản tánh, chướng ngại bổn thiện. Nhà Phật nói là “bản tánh”. Trong bản tánh có sẵn ba thứ, đấy là những thứ sẵn có trong bản tánh, thứ nhất là trí huệ, thứ hai là đức năng, hiện thời gọi công dụng thứ ba là phước báo. Quư vị nói xem: Có muốn những thứ ấy hay không? Vô lượng trí huệ, vô lượng đức năng, vô lượng phước báo chẳng phải đến từ bên ngoài, mà là trong tự tánh vốn trọn đủ. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă nói rất hay: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai”, tức là giống như chư Phật Như Lai. Trí huệ giống nhau, đức năng giống nhau, tướng hảo như nhau (nay chúng ta gọi “tướng hảo” là phước báo), chẳng khiếm khuyết mảy may, chẳng có mảy may tỳ vết nào! V́ sao nay lại biến thành nông nỗi này! Do hai loại đại chướng ngại gây chướng ngại tự tánh, khiến cho tâm tánh chẳng thể hiện tiền.

          Người tu hành, nói thật ra, bất luận tu theo tông nào, bất luận tu theo phái nào, thảy đều là tu minh tâm kiến tánh. Minh tâm kiến tánh là tổng mục tiêu tu hành của Phật pháp, chớ nên không biết điều này. Tôi theo thầy Lư học pháp môn Niệm Phật, tôi có báo cáo tâm đắc. Báo cáo của tôi chẳng phải là văn tự, mà là biểu đồ. Tôi vẽ biểu đồ tŕnh cho thầy xem. Xem xong, thầy gật đầu, bảo c̣n thiếu một thứ. Thầy thêm vào một mũi tên [đằng trước từ ngữ] “minh tâm kiến tánh". [Trong h́nh vẽ của tôi], tôi chỉ [ghi] là “niệm Phật văng sanh”, nhưng cũng viết là “minh tâm kiến tánh”, tức là hai chuyện. Thầy vẽ mũi tên, ư nói: Niệm Phật văng sanh dẫn đến minh tâm kiến tánh, đấy là viên măn. Đó là bức vẽ do tôi họa vào lúc c̣n trẻ, vào lúc ba mươi mốt, ba mươi hai tuổi. Do vậy, minh tâm kiến tánh th́ hai thứ chướng ngại ấy chẳng có. Đấy mới gọi là thành Phật viên măn.

          Kinh Hoa Nghiêm gọi Phiền Năo và Sở Tri là ǵ? Kinh Hoa Nghiêm chẳng nói Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng. Trong phẩm Xuất Hiện, đức Phật đă nói: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai, chỉ v́ vọng tưởng, chấp trước mà chẳng thể chứng đắc”. Chấp trước là Phiền Năo Chướng, vọng tưởng là Sở Tri Chướng. Kinh Hoa Nghiêm thay đổi cách nói. Đấy chính là “Phật vô hữu định pháp khả thuyết” (Phật chẳng có pháp nhất định để có thể nói). Đức Phật dạy chúng ta Tứ Y Pháp, phải hiểu, phải có trí huệ để vận dụng linh hoạt. “Y pháp, bất y nhân”, quyết định căn cứ theo giáo huấn trong kinh điển Phật giáo. “Y nghĩa, bất y ngữ”, quư vị phải hiểu ư Phật, chớ nên chấp trước ngôn ngữ, chớ nên chấp trước danh tướng của Phật. Quư vị thấy trong kinh, đức Phật đă sử dụng linh hoạt ngần ấy, nhằm dạy chúng ta “y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa”. Chuyện này rất trọng yếu! “Liễu nghĩa” (了義) là ǵ? Hiện tiền có thể đạt được lợi ích. Đấy là liễu nghĩa. Hiện tiền chẳng đạt được lợi ích, tức là “bất liễu nghĩa”, cũng là như chúng ta thường nói là “sở học chẳng dùng được”, đấy là vô dụng! Học rồi nhất định có chỗ hữu dụng, học đến mức có thể dùng được, đấy là liễu nghĩa. Sở học chẳng dùng được chính là bất liễu nghĩa. Câu cuối cùng là “y trí, bất y thức”. Nay chúng ta gọi Trí là Lư Trí. Quư vị phải dựa vào lư trí; Thức là ǵ? Cảm t́nh. Quư vị phải dựa theo lư trí, chẳng thể xử sự theo cảm t́nh. Đấy là Tứ Y Pháp do đức Phật đă dạy, chúng ta phải hiểu.

          “Phiền Năo Chướng tận” chính là trước hết đoạn phiền năo, sau đó phá Sở Tri. Kinh Đại Thừa đă giảng về phiền năo rất cặn kẽ, giảng rất nhiều. Trong bộ kinh Hoa Nghiêm này, phần trước và phần sau đều nói đến. Nhất là đối với đoạn kinh văn ấy, trong Thập Địa Luận Thích đă giải thích rất cặn kẽ. Thông thường, chúng ta hạ thủ công phu bằng cách tận lực đoạn trừ chấp trước, chấp trước đối với hết thảy người, sự, vật phải nhạt bớt. Đấy là đoạn Phiền Năo Chướng! Sở Tri chẳng phải là chướng ngại. Loại chướng ngại gây nên chướng ngại cho Sở Tri của quư vị th́ gọi là Sở Tri Chướng. Chướng ngại là ǵ? Tri kiến sai lầm. Phá tri kiến sai lầm như thế nào? Ắt phải tu học giáo huấn của bậc thánh hiền. Bậc thánh hiền, bậc tái lai chánh tri chánh kiến. Học tập từ chỗ này, sẽ dần dần khế nhập cảnh giới, chính ḿnh đại triệt đại ngộ. Chướng ngại đoạn hết, bèn đại triệt đại ngộ, sẽ minh tâm kiến tánh. Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói tới chỗ này.

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một, Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 14 hết

 

 

         

 

 

 



[1] Trong năm 2006, đă có những trận ôn dịch như sau: Dịch cúm gà (H5N1) ở vùng Maharastra của Ấn Độ vào tháng Hai, dịch sốt xuất huyết tại Pakistan và Ấn Độ (có đến 4.800 người mắc bệnh, tử vong năm mươi người). Riêng tại Ấn Độ, trận dịch này lan ra khắp nơi kể từ New Delhi cho đến những vùng xa xôi hơn như Uttar Pradesh, Andhra Pradesh… Nặng nhất là toàn cầu báo động về dịch cúm gà tại nhiều quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Hoa, Nam Dương, Nigeria, Mă Lai, Croatia, rau spinach bị nhiễm vi khuẩn E. Coli tại Hoa Kỳ…

[2] Những điều này do những người đưa tin phóng đại. Nên nhớ là ḥa thượng không xem tin tức, Ngài chỉ nghe các đồng tu hoặc đạo hữu kể lại. Trận dịch tuy lớn, nhưng số người tử vong không đến một ức người như họ nói, và cũng không đến nỗi người bị bệnh dịch chết hết một nửa!

[3] “Thông linh” (通靈) ở đây là những người có khả năng giao tiếp với linh giới, tức là có thể tṛ chuyện, giao tiếp với cơi âm.

[4] Linh môi (靈媒) là cách người Hoa gọi những thanh đồng (mediums) có khả năng giao tiếp thật sự với cơi âm, không phải là bọn đồng cốt quàng xiên bịp bợm, gian trá!

[5] Thập Địa Luận là một bộ luận chú giải kinh Thập Địa (tức là một bản dịch khác của phẩm Thập Địa trong kinh Hoa Nghiêm) được trước tác bởi Thế Thân Bồ Tát. Bộ luận này được dịch sang chữ Hán bởi các vị Bồ Đề Lưu Chi và Lặc Na Ma Đề, gồm mười hai quyển. Vào thời Ngụy -Tấn, các vị tăng sĩ Trung Hoa hết sức yêu thích bộ luận này, nên đă có những vị được gọi là Địa Luận Sư chuyên nghiên cứu bộ luận này, thậm chí lập thành một tông phái riêng biệt gọi là Địa Luận Tông. Ngoài Lục Thập Hoa Nghiêm và Bát Thập Hoa Nghiêm đều có phẩm Thập Địa ra, trong Hán Tạng c̣n có bản dịch riêng của phẩm này như sau:

1. Tiệm Bị Nhất Thiết Trí Đức Kinh, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn (khoảng năm 297 Công nguyên).

2. Thập Trụ Kinh do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu Tần.

3. Phật Thuyết Thập Địa Kinh do ngài Thi La Đạt Ma dịch vào đời Đường trong niên hiệu Thiên Bảo (niên hiệu của Đường Huyền Tông).

Ngài Long Thọ cũng viết chú giải cho phẩm này, và đă được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Hán với tựa đề Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận. Địa Luận Tông coi hai vị Bồ Đề Lưu Chi và Lặc Na Ma Đề là thỉ tổ. Do kiến giải của hai vị có chỗ bất đồng, tông này tách ra thành chi phái: Chi phái của ngài Đạo Sủng (thường gọi là Tương Châu Bắc Phái, kế thừa tư tưởng của ngài Bồ Đề Lưu Chi). Phái kia là phái Huệ Quang (Tương Châu Nam Phái). Tương Châu Bắc Phái về sau sáp nhập vào Nhiếp Luận Tông. Sau cùng, cả hai phái đều nhập vào tông Hoa Nghiêm.

[6] Malacca ở đây chính là thành phố Malacca, thủ phủ của tiểu bang Malacca (tiếng Mă Lai là Melaka) của Mă Lai (Mă Lai có mười ba tiểu bang và ba khu vực tự trị trực thuộc liên bang). Thành phố Malacca nằm ở phía Nam bán đảo Mă Lai, giáp ranh với hai tiểu bang Negeri Sembilan và Johor, kề sát eo biển Malacca (eo biển giữa bán đảo Mă Lai và đảo Sumatra của Indonesia). Thành phố này khá cổ kính, được sáng lập bởi hoàng tử Parameswara khi ông trốn thoát khỏi Palembang thuộc đảo Sumatra khi vương quốc Srivijaya bị tiêu diệt bởi vua Majapahit của Nam Dương. Tương truyền, khi đến nơi này, hoàng tử Parameswara đă quá mệt mỏi, phải nghỉ một lát dưới gốc cây Melaka. Do vậy, đă đặt tên thành phố này như vậy. Do vị trí thuận lợi trong hàng hải, rất đông thương gia Ả Rập, Ba Tư, Ấn Độ và Trung Hoa lần lượt kéo đến buôn bán, khiến cho Malacca trở thành một thương cảng sầm uất nhất trong vùng. Nhà Minh đă nhanh chóng đánh hơi cơ hội này, sai Tam Bảo Thái Giám Trịnh Ḥa dẫn một đoàn chiến thuyền tuần hành thị uy vùng biển Nam Dương (Sử Trung Hoa thường gọi hành động này “Trịnh Ḥa hạ Tây Dương”) khiến cho vương triều Xiêm và Majahapit không dám xâm chiếm Malacca. Về sau, Parameswara cải đạo sang Hồi giáo và tự xưng là Sultan Iskandar Shah. Vương quốc Hồi giáo này tồn tại măi cho đến khi bị Bồ Đào Nha chiếm làm thuộc địa vào năm 1511.

[7] Na Già có nghĩa đen là “long tượng”, một danh hiệu để gọi đức Phật. Có hai cách giải thích chữ long tượng. Cách giải thích thứ nhất, long tượng là một loài voi quư, mạnh mẽ nhất. Trong cách hiểu thứ hai, long tượng là rồng và voi.

[8] Chữ Tây Dương được dùng vào thời đó không có nghĩa là Âu Tây như về sau, mà chỉ dùng để nói chung các nước thuộc vùng biển ở phía Nam Trung Hoa, bao gồm Đông Nam Á, Sumatra, Java, Tích Lan, Ấn Độ, Ba Tư v.v…