Đại Phương Quảng Phật

Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một,

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 22

大方廣佛華嚴經

(十一)淨行品

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Địa điểm: Hương Cảng Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội

Khởi giảng từ ngày mồng Bảy tháng Mười Một năm 2005

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Minh Tiến

Tập 1505

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mọi người hăy ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, bài kệ thứ bảy[1] trong phần mười một bài kệ nói chung của hàng tại gia. Hôm qua, chúng tôi đă bỏ sót, hôm nay chúng tôi [giảng] bổ sung bài kệ ấy.

 

          (Kinh) Trước anh lạc thời, đương nguyện chúng sanh, xả chư ngụy sức, đáo chân thật xứ.

          ()瓔珞時。當願眾生。捨諸偽飾。到真實處。

          (Kinh: Khi đeo anh lạc, nguyện cho chúng sanh, bỏ trang sức giả, đến chỗ chân thật).

 

          Trong chú giải, Thanh Lương đại sư đă chú thích.

 

          (Sớ) Tại cảnh viết anh, tại thân viết lạc, lạc dĩ tŕ y, anh dĩ hệ quan.

          ()在頸曰瓔,在身曰珞,珞以持衣,瓔以繫冠。

          (Sớ: Nơi cổ gọi là Anh, nơi thân gọi là Lạc. Lạc để buộc áo, Anh để buộc mũ).

         

          Đấy là giới thiệu về Anh Lạc thời cổ. Chúng ta đọc xong, bèn hiểu Anh () là dây buộc mũ. Thời cổ, hễ đội mũ th́ hai bên có dây để buộc, [sợi dây] đó gọi là Anh. Lạc () là thứ để đeo trên thân. Ví như người xuất gia chúng ta đeo chuỗi tràng hạt, coi như là Lạc. Cái ṿng móc áo ca-sa cũng coi như là Lạc. Thời cổ, nam nữ đều đeo Anh Lạc; hiện thời, đàn ông đội mũ không nhiều lắm. Dẫu đội mũ, cũng không có dây buộc. Trừ phi vào lúc tiết Đông rất lạnh, ở phương Bắc dường như c̣n có, những nơi khác thường là rất hiếm thấy. Nói chung, những thứ ấy đều là vật trang sức, là vật trang sức để đeo trên thân thể.

          Đức Phật dạy chúng ta: Trông thấy những vật trang sức ấy, hoặc khi chính chúng ta đeo những vật trang sức ấy, phải biết phát nguyện, “đương nguyện chúng sanh, xả chư ngụy sức” (nguyện cho chúng sanh, bỏ các thứ trang sức hư ngụy). Những thứ trang sức ấy đều chẳng thật. Không chỉ là trang sức chẳng thật, trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường dạy chúng ta: Ngay cả thân thể này cũng chẳng thật. Không chỉ là thân thể chẳng thật, mà vạn sự vạn vật trên thế giới này cũng chẳng thật, phải biết điều này! Trên thân có đồ trang sức, trong các kiến trúc có những vật trang sức. Hiện thời, vào dịp lễ tết, tết Âm Lịch sắp đến, chúng ta thấy khá nhiều nơi có rất nhiều vật trang trí vào dịp Tết. Phàm là trông thấy những thứ ấy, phải dấy lên nguyện này, “đương nguyện chúng sanh, xả chư ngụy sức, đáo chân thật xứ” (nguyện cho chúng sanh, bỏ các thứ trang sức hư giả, đạt đến chỗ chân thật).

          Cảnh giới trong câu thứ hai có phạm vi rộng lớn vô lượng. “Chúng sanh” không chỉ là nói về chúng ta trong hiện tiền, cũng không chỉ là nói về chúng ta trên quả địa cầu này, hoặc trong thế giới Sa Bà này, mà là như đă nói trong các phẩm Hoa Tạng Thế Giới và Thế Giới Thành Tựu trong phần đầu kinh Hoa Nghiêm: Tất cả hết thảy chúng sanh trong vô lượng vô biên vô tận vô số các cơi Phật khắp pháp giới hư không giới. Tâm lượng ấy to cỡ nào! Đấy là tâm lượng của Tỳ Lô Giá Na Phật. Tỳ Lô Giá Na Phật (Vairocana) đại biểu cho mỗi chúng sanh, Tỳ Lô Giá Na Phật là ai? Là Pháp Thân của chính hết thảy chúng sanh, Lô Xá Na Phật (Locanā) là Báo Thân của chính ḿnh. Khắp pháp giới hư không giới là một Thể. Chúng ta nói là “một sanh mạng cộng đồng thể” hăy c̣n xa lắm! Nếu nói chân thật, [sẽ là] một Thể. Toàn thể vũ trụ là một Thể, tâm lượng của quư vị mới có thể mở rộng.

          “Xả chư ngụy sức” (Bỏ các thứ trang sức hư ngụy): Câu này có ư nghĩa quá sâu, quá rộng, trong ấy bao hàm ư nghĩa sâu xa (nghĩa thú rất sâu), nhằm dạy chúng ta, chúng ta cũng nguyện cho tất cả hết thảy chúng sanh, giống như lăo cư sĩ Hạ Liên Cư đă nói: “Phải thật sự làm, chớ nên làm giả!” Hiện thời, đồ trang sức giả rất nhiều, người ta thường thích đồ giả. Khi tôi ở Mỹ, có một đồng tu chuyên làm những món châu báu giả bán khắp thế giới. Quả thật, chúng được làm hết sức đẹp đẽ. Nếu chẳng phải là người thông thạo, sẽ chẳng có cách nào phân biệt những món đồ do người ấy [chế tạo] là những món châu báu giả. Người ngoại quốc thích những món giá rẻ. Vào thuở ấy, châu báu thật sự phải là mấy vạn hoặc mấy chục vạn Mỹ kim. Những món châu báu giả của ông ta chỉ cần năm đồng, đại khái là đắt nhất cũng không hơn mười đồng! Nói chung là từ mười đồng trở xuống. V́ thế, người ta thích mua. Đeo lên nh́n cũng rất đẹp; có mất đi cũng chẳng đau ḷng, thật sự làm rất khéo. Công xưởng ấy có quy mô rất lớn; tôi đến tham quan, đúng là lóng lánh chói mắt!

          Tôi xem xong, được mở mang rất nhiều. Trong kinh điển, đức Phật đă dạy, sự khải phát lớn nhất là trong kinh chúng ta thường đọc thấy là tỷ dụ của cổ nhân: “Dĩ kim tác khí, khí khí giai kim” (Dùng vàng làm đồ vật, món nào cũng đều là vàng). Tỷ dụ này đă coi vạn sự vạn vật trong toàn thể vũ trụ giống như các món vật dụng khác nhau, lóng lánh chói mắt. Thể là Pháp Tánh; sánh ví vàng như Pháp Tánh. Kinh Hoa Nghiêm đă nói hết thảy vạn vật trong khắp pháp giới hư không giới, “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Cái có thể hiện (năng hiện) là tâm tánh, sánh ví tâm tánh như vàng, ví vạn vật như các món đồ. V́ thế, nh́n ngắm mọi vật ở nơi đó (công xưởng ấy), đối với tỷ dụ ấy, có ấn tượng hết sức sâu đậm. Cũng khéo sao, ở đây, chúng ta đọc đến bài kệ này, [nhận biết] chúng ta phải bỏ hư ngụy. Thứ ǵ cũng đều là hư ngụy! Kinh Kim Cang nói rất hay: “Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”, chẳng có ǵ là chân thật. Tôi đă tổng kết kinh Đại Bát Nhă bằng bốn câu, [tổng kết] sáu trăm quyển Đại Bát Nhă như sau: “Hết thảy các pháp vô sở hữu, rốt ráo không, trọn chẳng thể được”. Nếu quư vị thật sự hiểu rơ, thật sự hiểu rành rẽ, quư vị có muốn buông xuống hay không? Buông xuống ǵ vậy? Buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quư vị sẽ là Pháp Thân Bồ Tát. Phàm phu và Bồ Tát sai biệt ở ngay chỗ này.

          Nhưng hết thảy chúng sanh từ vô thỉ kiếp tới nay, dễ phạm nhất là sát giới. Dễ phạm tội giết chóc nhất! Nhất là đối với những thứ côn trùng bay, ḅ, động đậy như muỗi, ruồi, kiến, hễ trông thấy bèn muốn giết. Cố ư hay vô t́nh giết chúng, ăn thịt chúng sanh, ngỡ đó là chuyện nên làm, chẳng biết đấy là sai lầm! V́ thế, dễ phạm nhất là Sát. Khó đoạn nhất là dâm! Đối với dâm, dẫu quư vị đă đoạn dâm nơi thân, có thể là khởi tâm động niệm hăy c̣n có ư niệm [dâm]. Đoạn ư niệm th́ mới có thể liễu sanh tử, thoát tam giới; chẳng đoạn ư niệm sẽ không được! Chư vị hăy ngẫm xem, khó khăn ngần ấy! V́ sao khó khăn ngần ấy? Quư vị chấp trước cái thân là chính ḿnh, chấp trước vạn sự vạn vật là thật sự có. Điều ấy gọi là Ngă Chấp và Pháp Chấp, hai thứ t́nh chấp, chẳng biết chúng thật sự là hư vọng. Biết là hư vọng, quư vị sẽ có thể bỏ. Biết chúng là hư vọng, gọi là “thấy thấu suốt”. Có thể bỏ là “buông xuống”. Thấy thấu suốt giúp quư vị buông xuống, buông xuống giúp quư vị thấy thấu suốt sâu hơn một tầng. Thấy thấu suốt và buông xuống giúp nhau thành tựu kể từ Sơ Phát Tâm măi cho đến địa vị Như Lai.

          Quư vị nói Bồ Tát dùng công phu ǵ để chứng đắc Phật quả viên măn rốt ráo? Chính là thấy thấu suốt và buông xuống. Nếu dùng danh từ Phật giáo [để diễn tả], sẽ là Chỉ Quán. Quán () là thấy thấu suốt, Chỉ () là buông xuống; đấy là danh từ trong Phật học. Nhưng nói Chỉ Quán th́ chẳng dễ hiểu cho lắm! Thay đổi danh từ thành “thấy thấu suốt, buông xuống”, mọi người sẽ dễ hiểu. Giống như đức Thế Tôn [đă làm như vậy] trong kinh Hoa Nghiêm. Từ kinh luận Đại Tiểu Thừa, quư vị thấy Ngài nói “Kiến Tư phiền năo, Trần Sa phiền năo, Vô Minh phiền năo”, đối với kẻ mới học [những thuật ngữ ấy] rất khó hiểu! Danh từ [được sử dụng] trong kinh Hoa Nghiêm là “vọng tưởng, phân biệt, chấp trước”. Chúng ta nghe những danh từ ấy [sẽ cảm thấy] dường như chẳng khó hiểu. Vọng tưởng là Vô Minh phiền năo, phân biệt là Trần Sa phiền năo, chấp trước là Kiến Tư phiền năo. Ư nghĩa hoàn toàn giống hệt như nhau, [chỉ là] thay đổi danh từ! Những điều này đều thuộc về phương tiện giáo học, là phương tiện để độ chúng sanh trong Phật pháp.

          Từ những chỗ này, chúng ta phải thấu hiểu: Đức Phật chẳng có pháp nhất định để có thể nói, Ngài ứng cơ thuyết pháp. Do ứng cơ (應機, thuận theo căn cơ của từng đối tượng được hóa độ), chẳng có h́nh tướng nhất định, đáng nên dùng thân ǵ để đắc độ bèn hiện thân ấy. Thuyết pháp, chẳng có pháp nhất định để có thể nói, nhưng Ngài có một nguyên tắc: “Giúp quư vị khai ngộ, giúp quư vị quay đầu”. Quư vị từ mê hoặc, điên đảo quay lại, chẳng thể làm giả, phải thật sự làm! “Thật” là ǵ? Tương ứng với Tánh Đức là thật, trái nghịch Tánh Đức th́ là giả. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng đại sư của Tông Môn đă nói rất hay, nếu (bất luận là tại gia hay xuất gia học Phật) chẳng thể y giáo phụng hành, đó gọi là “nói được, chẳng làm được”, có nghĩa là “miệng lành, tâm chẳng lành”. Nói khá lắm, nhưng chẳng có cái tâm ấy! Đó là hư ngụy; giống như đeo anh lạc khắp người, chưa chắc đă thật sự phú quư! Chúng ta phải hiểu rơ ràng ư nghĩa của tỷ dụ này. Thật sự làm, nhất định là y giáo phụng hành. Nếu “miệng đúng, tâm sai”, vậy là chúng ta lạy Phật, tụng kinh, niệm Phật hằng ngày đều vô dụng! Cổ nhân bảo chuyện này là “hăm phá hầu lung diệc uổng nhiên” (hét toạc cuống họng vẫn uổng công), chẳng tương ứng!

          Thật sự làm từ nơi đâu? Chúng ta học Tịnh Độ, phải ghi nhớ Thích Ca Mâu Ni Phật khi nhập diệt đă dạy: Khi đức Phật tại thế, đức Phật là thầy. Đức Phật khuất bóng, dựa vào ǵ? Đức Phật dạy chúng ta “lấy Giới làm thầy”, bất luận Tông Môn hay Giáo Hạ, Hiển Giáo hay Mật Giáo, Đại Thừa hay Tiểu Thừa, thảy đều phải tuân thủ điều này. Do vậy, quư vị chẳng thể nào không tŕ giới! Phật pháp là ǵ? Giới, Định, Huệ là Phật pháp, “giác, chánh, tịnh” là Phật pháp. Trong tựa đề kinh Vô Lượng Thọ, “giác, chánh, tịnh” được nói thành “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”. Thanh tịnh là Giới, b́nh đẳng là Định, giác là Huệ. Tam Học và Tam Bảo vốn là một Thể. “Nhân Giới đắc Định, nhân Định khai Huệ”, đấy là con đường ắt phải trải qua để từ phàm phu tu thành Phật đạo của hết thảy chư Phật trong quá khứ, hiện tại, tương lai, là con đường để thành Phật. Nếu chúng ta ĺa khỏi con đường này, nói là sẽ t́m được một con đường khác để có thể thành Phật, vậy th́ quư vị cứ t́m đi! Mười phương chư Phật đều noi theo con đường này, lẽ nào quư vị có thể không coi trọng giới luật cho được? Cổ đức dạy rất hay: “Chẳng có Giới, sẽ chẳng có Phật. Phật ấy là giả, là đồ trang sức rởm, chẳng thật!” “Nếu chẳng có lễ, sẽ chẳng có Nho!” Trong sự hành tŕ của Nho gia, lễ nghĩa có công hiệu giống như giới luật trong nhà Phật.

          Nay chúng ta hăy quan sát, phản tỉnh: Người học Phật chẳng ít! Tại Trung Hoa lẫn ngoại quốc đều không ít, người thành tựu không nhiều lắm, do nguyên nhân ǵ vậy? Kẻ tại gia học Phật chẳng làm được Thập Thiện, chẳng làm được Tam Quy, Ngũ Giới. Kẻ xuất gia học Phật th́ Sa Di Luật Nghi chẳng làm được. Đấy chẳng phải là “đồ trang sức rởm” ư? Chẳng phải là đồ giả ư? V́ sao chẳng làm được? Rất mong làm, v́ sao chẳng làm được? Phải biết điều này. Nói theo phương diện giáo học, chúng ta đă sơ sót cơ sở, chẳng học tập theo thứ tự, đă sơ sót sự giáo dục cơ sở. Kinh Phật Tạng nói rất hay: “Chẳng trước là học Tiểu Thừa, sau học Đại Thừa, chẳng phải là đệ tử Phật”. Đức Phật dạy chúng ta tu học Phật pháp phải làm theo thứ tự. Tiểu Thừa là Tiểu Học trong Phật giáo, Đại Thừa là Đại Học của Phật giáo. Trong Đại Học cũng có thứ tự. Nhà Phật nói “tam thừa”, tức là Tiểu Thừa, Trung Thừa, và Đại Thừa. Thanh Văn là Tiểu Thừa, Duyên Giác là Trung Thừa, Bồ Tát là Đại Thừa, làm theo từng bước, tiến cao hơn từng bước một. Đức Phật dạy chúng ta điều ấy, [hăy tuân theo] thứ tự.

          Phật giáo truyền đến Trung Hoa, phương pháp tu học này cũng được truyền sang. Vào thời đại Nam Bắc Triều và Tùy - Đường, phong khí dịch kinh đạt tới tột đỉnh trong lịch sử. Kinh luận Tiểu Thừa được phiên dịch khá đầy đủ; từ Đại Tạng Kinh chúng ta có thể thấy điều này. Đồng thời, vào thuở ấy, cũng thành lập hai tông phái [Tiểu Thừa], tức Thành Thật Tông và Câu Xá Tông. Thật sự là “trước học Tiểu Thừa, sau học Đại Thừa”, nhập môn từ chỗ này. Trung Hoa có mười tông phái, Đại Thừa có tám tông, nhưng từ giữa đời Đường trở đi, người học Phật tại Trung Hoa chẳng học Tiểu Thừa, hai tông phái ấy (Thành Thật Tông và Câu Xá Tông) cũng chẳng c̣n nữa. Hai tông phái đến đời Tống hoàn toàn biến mất, tại Trung Hoa chỉ c̣n tám tông phái, tức là tám tông phái Đại Thừa. V́ sao? V́ sao chẳng tuân thủ lời đức Phật dạy? Chẳng phải là không tuân thủ! Các vị tổ sư đại đức đă hiểu rất rơ ràng: Khổng, Mạnh, Lăo, Trang của Trung Hoa, tức là sự tu học Nho gia và Đạo gia đă đủ sức để có thể thay thế Tiểu Thừa. V́ thế, từ Khổng, Mạnh, Lăo Trang tiến nhập Phật môn c̣n thuận tiện hơn học Tiểu Thừa. Trung Hoa đă có cơ sở tốt đẹp ngần ấy. Do đó, trong hơn một ngàn năm qua, trải qua các đời, bất luận xuất gia hay tại gia, người thành tựu đều chẳng ít! Có thể nói là thành tựu vượt trỗi Ấn Độ.

          Nhưng hiện thời nẩy sanh vấn đề, Trung Hoa đă trải qua một trăm năm động loạn. Sau khi nhà Măn Thanh vong quốc, xă hội chưa hề có ngày nào an định. Nhà Măn Thanh mất, quân phiệt cát cứ[2]; kế đó là chiến tranh giữa Trung Hoa và Nhật Bản, khiến cho trật tự trong toàn thể xă hội rối loạn, chúng ta sơ sót cách giáo học truyền thống, măi cho đến hiện tại, vẫn chẳng thể khôi phục. V́ thế, kẻ trẻ tuổi trong hiện thời chẳng biết Nho, người học Phật chẳng biết Tiểu Thừa, cho nên mới tạo thành [t́nh trạng] người tại gia lẫn kẻ xuất gia học Phật đều chẳng đạt được thành tựu. Giống như thầy thuốc chữa bệnh, nay chúng ta biết gốc bệnh ở đâu; do vậy, trong những năm qua, chúng tôi dốc toàn lực đề xướng Đệ Tử Quy, đề xướng Thập Thiện Nghiệp Đạo, đề xướng Sa Di Luật Nghi. Những thứ ấy là cột trụ, là khóa tŕnh bắt buộc ắt phải tu tập. Ngoài ra, c̣n chọn lựa những tác phẩm do Ấn Quang đại sư lăo nhân gia đề xướng như Liễu Phàm Tứ Huấn, Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn của Đạo gia, Vạn Thiện Tiên Tư, Dục Hải Hồi Cuồng, bỏ các thứ trang sức hư ngụy. Đấy là giáo dục nhân quả.

          Hiện thời, nếu chúng ta ĺa khỏi giáo dục luân lư, giáo dục đạo đức, giáo dục nhân quả, chắc chắn là quư vị chẳng đạt được lợi ích nơi Phật pháp. Có cơ sở như vậy, quư vị học Đại Thừa, bất luận là tông phái nào, tôi tin là quư vị đều có thể đạt thành tựu. Nếu chẳng có cơ sở ấy, cơ sở ấy chẳng phải là quư vị đă từng học, từng đọc, nhớ rất làu làu, kiểu đó vô dụng, [để hữu dụng th́] quư vị phải làm được! Biến lư luận trong sách vở thành tư tưởng của chính ḿnh, biến giáo huấn trong sách vở thành hành vi sinh hoạt của chúng ta. Như vậy th́ mới có tác dụng, quư vị mới có thể siêu phàm nhập thánh. Đấy là “đáo chân thật xứ” (đạt đến chỗ chân thật), phải thật sự làm! Chúng ta niệm Phật văng sanh cũng phải kiến lập trên cơ sở này. Quư vị mới nắm chắc văng sanh, mới thật sự ra đi.

          Quư vị lại chú tâm quan sát người niệm Phật văng sanh, thật sự văng sanh. Quư vị quan sát họ khi c̣n sống; [sẽ thấy] những người ấy chẳng phải là một thiện nam tử, thiện nữ nhân thật sự ư? Cũng có nghĩa là những người ấy chẳng trái nghịch luân lư, đạo đức, nhân quả, và giáo huấn của thánh hiền, thật sự làm theo. [Thật sự làm theo] hoặc nhiều hay ít, mỗi người mỗi khác. [Làm theo] nhiều hay ít, sẽ ảnh hưởng đến phẩm vị văng sanh trong tương lai của người ấy. Người ấy làm nhiều, phẩm vị sẽ cao. Người ấy làm ít, phẩm vị sẽ thấp hơn một chút. Nếu hoàn toàn chẳng làm, rất khó văng sanh! Nhưng có kẻ hoàn toàn chẳng làm theo, mà cũng có trường hợp văng sanh Tịnh Độ. Đó là ǵ? Suốt đời tạo tội nghiệp, giống như ông Trương Thiện Ḥa đời Đường, làm đồ tể giết trâu, khi lâm chung, thấy rất nhiều kẻ đầu trâu đến đ̣i mạng. Khi đó, ông ta kinh hoàng, sợ hăi, bèn cầu cứu, đáng sợ thay! Khá nhiều kẻ đầu trâu đến đ̣i mạng. Ông ta khi lâm chung đầu óc sáng suốt, chẳng hồ đồ, thấy cảnh giới ấy bèn lớn tiếng kêu cứu. Duyên khéo phù hợp, có một vị xuất gia đi ngang cửa, nghe tiếng ông ta gọi, bước vào, hỏi han chuyện ǵ? “Rất nhiều kẻ đầu trâu đ̣i mạng tôi”. Vị xuất gia thắp một nắm hương, bảo ông ta cầm lấy, ngay lập tức niệm A Di Đà Phật cầu sanh về thế giới Cực Lạc.

          Ông ta suốt đời chẳng học Phật, được vị xuất gia ấy giảng giải, ngay lúc đó, ông ta nghe xong, tin tưởng, chẳng hoài nghi, ngay lập tức cầm hương niệm “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật”. Niệm mấy tiếng, bảo mọi người: “Những kẻ đầu trâu chẳng c̣n nữa! A Di Đà Phật đến tiếp dẫn tôi”. Ông ta văng sanh. Đấy là nguyện thứ mười tám trong bốn mươi tám nguyện, “khi lâm chung, một niệm hay mười niệm đều có thể văng sanh”. Đó chính là sám hối văng sanh. Suốt đời tạo tác ác nghiệp vẫn được, nhưng ở trong ấy có ư nghĩa rất sâu, quư vị ắt phải hiểu, chớ nên cầu may!

          [Quư vị cứ nghĩ] “Trương Thiện Ḥa lâm chung vẫn có thể văng sanh, nay ta làm chuyện xấu nhiều hơn một tí cũng chẳng sao! Lâm chung niệm Phật vẫn có thể [văng sanh] mà!” Chẳng sai! Trương Thiện Ḥa lâm chung đầu óc sáng suốt, quư vị có dám chắc lâm chung đầu óc rất tỉnh táo hay không? Nếu hồ đồ th́ thôi rồi! Quư vị đă bị nghiệp lực lôi đi mất rồi! V́ thế, đối với chuyện này, chẳng thể cầu may được! Trương Thiện Ḥa có duyên tốt đẹp, nhân cũng tốt! Trong đời quá khứ, nhất định đời đời kiếp kiếp đều là người niệm Phật. Nếu không, lâm chung bảo ông ta niệm Phật, lẽ nào ông ta chẳng hoài nghi? Làm sao có thể tiếp nhận, thật sự làm theo được? Chẳng đơn giản, chẳng phải là chuyện ngẫu nhiên! Trong đời quá khứ đă gieo cái nhân, khi lâm chung mới gặp duyên. Nhân duyên quả báo chẳng sai sót mảy may, phải biết điều này! Nay chúng ta gặp gỡ duyên này, phải trân quư, phải nắm chặt, chắc chắn là chẳng thể buông lỏng, quyết định chớ nên cầu may. “May mắn” chính là đồ trang sức hư ngụy, nhất định phải nghiêm túc hành tŕ, coi chuyện này là đại sự trọng yếu nhất phải thực hiện trong một đời này.

          Trên thế gian này, thứ ǵ cũng là giả. Quư vị thấy con người mất đi, đem theo được ǵ? Đức Phật dạy chẳng sai tí nào! “Muôn thứ không mang được, chỉ có nghiệp theo thân”. Người b́nh phàm trong thế gian suốt đời tạo thiện nghiệp, ác nghiệp. Suốt đời làm việc thiện, đời sau hưởng phước báo trong cơi nhân thiên, lâm chung có thụy tướng tốt lành, rất cát tường, chẳng đọa trong ba ác đạo. Suốt đời tạo tác bất thiện, khi lâm chung, dáng vẻ chẳng dễ coi. Sẽ đến nơi đâu? Đi vào tam đồ! Kẻ vào trong tam đồ đông lắm, [người sanh trong] đường nhân thiên rất ít, chẳng nhiều, chớ nên không biết. Do vậy, cổ đại đức bảo chúng ta, dẫu ở một ḿnh, chẳng thể không thận trọng. Chỉ niệm suông đằng miệng, chẳng thể được! “Miệng có, tâm không”! Bề ngoài làm ra rất dễ coi, bên trong chẳng ĺa khỏi ích kỷ, chẳng buông xuống tiếng tăm, lợi dưỡng, vẫn c̣n tham cầu hưởng thụ ngũ dục, lục trần y hệt như cũ! Đó là giả trất, chẳng thật! Dùng sự hư ngụy, giả thiện, hiện thời gọi là “chân thiện, chân tu giả mạo” để gạt người th́ được, quư vị có thể dối gạt Phật ư? Quư vị có thể lừa dối chính ḿnh ư? Chúng ta phải nghiêm túc phản tỉnh, kiểm điểm chuyện này!

          Thấy người khác chẳng phải là chân tu, chẳng cần phải phê b́nh. Nếu quư vị phê b́nh, giáo huấn người ấy, sẽ làm mất ḷng người ta, kết thành oán cừu với người ấy, vậy là sai mất rồi! Thấy kẻ khác không tốt, hăy quay lại hồi quang phản chiếu, [tự xét] ta có [phạm những lỗi ấy] hay không? Đấy là người thật sự tu hành! Cảnh giới bên ngoài là một tấm gương. Kẻ b́nh phàm, tức là phàm nhân, phàm phu trong thế gian, chỉ thấy lỗi của kẻ khác, chẳng thấy lỗi của chính ḿnh. Thấy lỗi của chính ḿnh quá ư là khó! Trong Phật môn, thường nghe nói “khai ngộ”, khai ngộ là ǵ vậy? Thấy lỗi của chính ḿnh là khai ngộ. Ngộ rồi sẽ bắt đầu tu, có thể sửa đổi những lỗi lầm của chính ḿnh; đó gọi là “tu hành”. Nếu ta một ngày chẳng thấy lỗi của chính ḿnh, sẽ là một ngày chẳng biết sửa đổi cho tốt đẹp hơn! Thấy lỗi của chính ḿnh thật khó!

          Do vậy, đức Phật dạy các đệ tử, bất luận tại gia hay xuất gia, v́ sao bảo quư vị đọc tụng kinh luận hằng ngày? Kinh luận là một tấm gương. Quư vị đọc xong, sẽ tùy văn nhập quán. Đức Phật dạy ta không sát sanh, hôm nay ta có làm được điều ấy hay không? Đức Phật dạy ta không trộm cắp, có làm được điều này hay không? Chuyện đức Phật dạy Bồ Tát không sát sanh bao hàm vô lượng vô biên ư nghĩa sâu rộng! Chúng ta đối với một người, đối với một tiểu động vật, hễ có ư niệm bất thiện, đều gọi là sát sanh. V́ sao? Có ư niệm sát sanh, tuy chẳng làm, hăy c̣n có ư niệm ấy. Ta chán ghét hắn, ta không ưa hắn, [những ư niệm ấy] đều thuộc về sát tâm! “Trộm cắp” là ǵ? Ta chẳng tính ăn trộm kẻ khác, nhưng ta có ư niệm chiếm tiện nghi của người ta. Ư niệm ấy chính là cái tâm trộm cắp. Tuy nay quư vị chẳng có hành vi trộm cắp, nhưng quư vị chẳng đoạn cái tâm trộm cắp, rất vi tế!

          Mười điều trong Thập Thiện Nghiệp Đạo bao gồm khái quát hết thảy các thiện pháp thế gian và xuất thế gian. Tương phản [của Thập Thiện] là Thập Ác như giết, trộm, dâm, dối v.v… cũng bao gồm khái quát vô lượng vô biên ác nghiệp của hết thảy chúng sanh! Phật, Bồ Tát tu Thập Thiện. Quư vị thấy kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo đă nói hay quá: “Thanh Văn Bồ Đề, Duyên Giác Bồ Đề” thuộc về Tiểu Thừa, “cho đến Vô Thượng Bồ Đề”, đấy là Đại Thừa. Đức Phật c̣n nói thêm, c̣n bao gồm pháp nhân thiên, [nghĩa là] quư vị làm cách nào [để đời sau được sanh] làm thân người! Quư vị sanh thiên như thế nào? Thảy đều dùng Thập Thiện Nghiệp làm cơ sở. Ngài đă sánh ví rất hay! Thập Thiện Nghiệp giống như đại địa, có thứ nào có thể rời khỏi đại địa mà sanh tồn hay chăng? Tiểu Thừa giống như cây nhỏ, Đại Thừa giống như cây to, đều phải nương cậy đại địa. Chẳng có đại địa, quư vị sẽ chẳng thể sanh tồn! Tỷ dụ hay quá. Quư vị mới hiểu tầm trọng yếu [của Thập Thiện Nghiệp]. Ĺa khỏi Thập Thiện, quư vị sẽ tu Thập Ác. Nghiệp nhân của Thập Ác là tam đồ, tức ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, quư vị chớ nên không biết! Nguyện này nhắc nhở chúng ta: Hễ thấy các món trang sức, biết chúng đều là giả, đều chẳng thật. Trong mắt người tu hành, biết “phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, đồ trang sức hư ngụy! Chúng tôi nói bài kệ này tới đây. Chúng ta lại xem bài kế tiếp. Bài thứ tám hôm qua đă nói rồi, bỏ sót bài kệ [thứ bảy] này. Chúng ta xem bài thứ chín.

 

          (Kinh) Nhược hữu sở thí, đương nguyện chúng sanh, nhất thiết năng xả, tâm vô ái trước.

          ()有所施。當願眾生。一切能捨。心無愛著。

          (Kinh: Nếu có bố thí, nguyện cho chúng sanh, bỏ được hết thảy, tâm chẳng yêu chấp).

 

          Quư vị thấy người tu xả thí, nay chúng ta nói là “làm chuyện tốt”. Thí xả vào thời cổ, ở đây là nói về cổ Ấn Độ, người Ấn Độ đều biết, đó là tập tục của họ. Đối với người tu hành, không chỉ là Phật môn, đa số những người tu hành trong các tôn giáo khác đều khất thực, đều là “ăn một bữa giữa trưa”. Do vậy, ăn một bữa giữa trưa chẳng chỉ giới hạn trong Phật môn, mà rất nhiều tôn giáo đều là như vậy. Dân chúng b́nh phàm đều rất cung kính những vị tu hành ấy, đều biết bố thí. Thí ǵ vậy? Thí một chút thức ăn, thực phẩm, đấy là chuyện thông thường nhất. Lại c̣n thí cũng chẳng nhiều! Do vậy, người tu hành đi khất thực, một bát cơm phải xin từ vài nhà. Quư vị biết là [thí chủ] bố thí chẳng nhiều cho lắm!

          Trong nhà người ta, xét ra cơm ăn ngày hôm nay c̣n có thể dư ra, sẽ bố thí cho quư vị. Tùy thuộc số lượng dư ra, có dư nhiều, sẽ cho quư vị nhiều hơn. Số lượng ít th́ cho quư vị ít hơn. Quư vị chẳng đủ, lại sang xin nhà người khác ở cách vách. Do đức Phật quy định khất thực [tối đa] là bảy nhà, [nếu] cả bảy nhà đều chẳng xin được, bèn ôm bát rỗng quay về. Làm như thế nào? Đại chúng có người xin được nhiều, sẽ chia sớt cho quư vị. Do vậy, khất thực chẳng phải là xin xong là chính ḿnh có thể ăn, chẳng phải vậy! Nếu làm vậy sẽ khó coi, oai nghi sẽ chẳng đẹp cho lắm! Sau khi xin xong, quay về tinh xá, trở về đạo tràng, những thứ xin được thảy đều cùng tập hợp một chỗ, gom hết lại để phân chia lần nữa, dựa theo sức ăn của mỗi cá nhân nhiều hay ít để chia ra. Nếu c̣n dư, sẽ thí cho chúng sanh, cho những loài chim, thú. Đấy là quy củ trong Phật môn. Người khác trông thấy sẽ tôn kính, [đoàn thể tăng sĩ ấy] có trật tự, có lễ tiết, chẳng rối loạn tí nào, có quy củ. [Đối với đoàn thể ấy], đại chúng mới có thể sanh khởi cái tâm cung kính.

          Đối với người tu hành, tín chúng thực hiện Tài Bố Thí (bố thí các vật phẩm), c̣n người tu hành đối với họ (tín chúng) là Pháp Bố Thí. Nhất định là nếu họ (tín chúng) có câu hỏi ǵ, hễ nêu ra, sẽ giải đáp cho họ. Đấy là Pháp Bố Thí. Chẳng có câu hỏi, sẽ chú nguyện cho họ, chúc phước cho họ, cũng là v́ họ thuyết pháp. Nói năng chẳng nhiều, thời gian không dài, mấy câu khuyến khích, khích lệ họ, dặn ḍ họ. V́ thế, thí chủ tài thí, pháp sư [đáp tạ bằng] pháp thí. Chẳng thể ăn không! [Phải thuyết pháp hoặc chú nguyện để đáp tạ], đó là Pháp Cúng Dường. Thí chủ tài cúng dường cho quư vị, quư vị đối với họ bèn hành Pháp Cúng Dường. Đấy là nêu ra một thí dụ.

          Bất luận là người khác bố thí cho chính ḿnh, hoặc thấy người khác đang thí xả, người khác đang phụng hiến, chúng ta thấy, nghe, tiếp xúc, đều phải nên phát nguyện, “nguyện cho chúng sanh, có thể xả hết thảy”. Chẳng có ǵ không thể buông xuống, “tâm vô ái trước” (tâm chẳng yêu mến, chấp trước). Thanh Lương đại sư đă chú giải rất đơn giản.

 

          (Sớ) Nhất thiết tất xả, diệc xả tâm dă.

          ()一切悉捨,亦捨心也。

          (Sớ: Hết thảy đều xả, mà cũng xả cái tâm).

 

          Xả tâm ǵ vậy? Xả vọng tâm, quư vị chẳng có cách nào xả chân tâm! Xả trừ vọng tâm, chân tâm hiển lộ. Vọng tâm là ǵ? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Chỉ cần buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chân tâm sẽ hiện tiền. Ngay cả cái tâm cũng phải xả, huống hồ vật ở ngoài tâm, có thứ ǵ chẳng thể xả ư? Chúng ta hăy ngẫm xem, người học Phật tại gia hay xuất gia, v́ sao học vất vả ngần ấy? Học khó khăn dường ấy? Chính là do chẳng liễu giải chân tướng sự thật, [cho nên] hết thảy đều không buông xuống được! Hễ không buông xuống được, quư vị sẽ có Khổ Thọ.

          “Tâm vô ái trước”: “Ái” () là tham ái, là ngu si, là vọng tưởng. “Trước” () là chấp trước, tức Ngă Chấp và Pháp Chấp. Kinh Hoa Nghiêm nói “phân biệt, chấp trước”. “Trước” là chấp trước, Ái là vọng tưởng; đấy chính là tham, sân, si. “Tâm vô ái trước” tức là trong tâm chẳng có tham, sân, si. Xả trừ tham, sân, si là đúng. Đối với hết thảy các pháp, đều hiểu rơ ràng, minh bạch; đấy là Huệ. Đối với thuận cảnh chẳng tham luyến, đối với nghịch cảnh chẳng sân khuể, quư vị thật sự buông xuống. Cảnh duyên có trở ngại sự hay không? Chẳng trở ngại sự. Kinh Hoa Nghiêm nói “Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”. Cái thật sự gây ra chướng ngại chính là ǵ? Tham, sân, si, mạn là chướng ngại, chướng ngại nghiêm trọng. Chỉ cần có những thứ ấy, toàn thể hoàn cảnh và hết thảy các pháp đều bị vặn vẹo, biến Nhất Chân pháp giới thành mười pháp giới, biến Pháp Thân thanh tịnh thành thân trong mười pháp giới lục đạo. Tuy là biến, [chỉ là] tướng biến, tánh chẳng thay đổi! Đạo lư này rất ư là sâu! Nay thời gian đă hết rồi, chúng tôi nói tới chỗ này.

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Bài kệ thứ chín nói về bố thí, “nhất thiết năng xả” (hết thảy đều có thể bỏ). Lời giáo huấn này của đức Phật dành cho chúng sanh có ư nghĩa rất sâu trong ấy. Mê chứ không giác, đặc biệt là chúng sanh trong lục đạo, có kẻ nào chẳng mong tiền tài, chẳng cầu thông minh, trí huệ, chẳng cầu khỏe mạnh, sống lâu? Đức Phật chẳng cấm mọi người chớ nên mong cầu. Đức Phật chẳng hề ngăn cấm, mà ngược lại c̣n dạy mọi người đạo lư và phương pháp để cầu. Đức Phật chỉ là dạy [những điều ấy], thật sự là v́ [khiến cho hành nhân] thật sự phát tâm tu hành, giác ngộ. Mục đích của Ngài [là giúp cho chúng sanh] chẳng c̣n luân hồi trong lục đạo nữa. Muốn vượt thoát luân hồi, vượt thoát mười pháp giới, phải xả những thứ ấy.

          Đối với chuyện phú quư, cùng quẫn, hanh thông, cát, hung, họa, phước trong suốt một đời của lục đạo phàm phu, không ai là chẳng đă định sẵn, thường nói là “định số”. Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: “Nhất sanh giai thị mạng, bán điểm bất do nhân” (Suốt đời đều do mạng, chẳng nửa điểm do người). Người thời cổ hiểu nhân quả, tin tưởng vận mạng. Do vậy, dẫu gặp cảnh nghèo túng, gặp cảnh khổ nạn, họ cũng chẳng oán trời, chẳng hờn người. V́ sao? Trong mạng phải nên xảy đến [những chuyện như vậy], làm sao quư vị có thể trốn khỏi? Đó gọi là “sanh tử hữu mạng, phú quư do thiên” (sống chết có mạng, phú quư do trời), chính ḿnh chẳng thể làm chủ được! Niềm tin và tư tưởng ấy được gọi là Túc Mạng Luận (宿命論). Đức Phật có nói đến Túc Mạng hay không? Nói chớ! Đức Phật cũng nói. V́ sao? Đấy là một hiện tượng tự nhiên, xác thực là tồn tại trong vũ trụ, nhưng Phật pháp c̣n có một chiêu quư vị ắt phải thấu hiểu: Túc Mạng là định số, ngoài định số c̣n biến số. Chư vị đọc Liễu Phàm Tứ Huấn sẽ biết, Khổng tiên sinh đoán mạng cho ông Liễu Phàm, [những ǵ ông Khổng đă tiên đoán chính là] định số. Quư vị thấy ông ta đă đoán [vận hạn] lưu niên[3] cho Viên Liễu Phàm; nói ông Viên là người đọc sách, làm quan, suốt đời phải nên theo đuổi nghề nghiệp nào, cũng là do trong mạng đă định sẵn. Quư vị làm sai nghề, sẽ càng vất vả!

          Định số do đâu mà có? Do ai định? Do những nghiệp mà chính ḿnh đă tạo tác trong đời quá khứ cảm vời quả báo trong đời này, do chính ḿnh định, chẳng phải do ai khác định đoạt cho quư vị! Người khác định cho quư vị, nếu bảo là do Thượng Đế định, hay do Phật, Bồ Tát định, vậy th́ v́ sao Phật, Bồ Tát cho kẻ này phú quư, cho người kia nghèo hèn? Như vậy là rất thiếu công bằng! Dựa vào đâu? V́ thế, phải là do nghiệp lực của chính ḿnh chiêu cảm, chẳng phải do người khác định cho chúng ta. Phật môn có một câu ngạn ngữ rất hay: “Dục tri tiền thế nhân”, [nghĩa là] nếu chúng ta muốn nghĩ xem trong đời quá khứ đă tạo cái nhân ǵ, “kim sanh thọ giả thị”, những ǵ quư vị đă hứng chịu trong một đời này, khổ, lạc, ưu, hỷ, phú quư, bần tiện, cát, hung, họa, phước, đều do nghiệp đă tạo trong kiếp trước quyết định. “Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị”: Nếu quư vị muốn nghĩ xem đời sau có quả báo như thế nào, vậy th́ trong đời này, quư vị khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, chính là tạo cái nhân trong đời này, cảm vời quả báo trong tương lai. Đấy là chân lư, là chân tướng sự thật trong lục đạo.

          Định số có thể sửa, chẳng phải là không thể sửa. V́ sao? Trong định số có cộng, trừ, nhân, chia, chớ nên không hiểu đạo lư này! Nếu quư vị làm lành, do tâm thiện và hạnh thiện, sẽ được cộng thêm; trong định số của quư vị được cộng thêm. Nếu quư vị tạo ác, sẽ bị trừ bớt, sẽ bị giảm thiểu. Hằng ngày đều có cộng, trừ, nhân, chia. Đại thiện bèn nhân lên, đại ác bị chia ra. Tiểu thiện liền cộng vào, tiểu ác bèn trừ đi. Hằng ngày đều có cộng, trừ, nhân, chia! Nhưng đối với kẻ b́nh phàm, mức độ “cộng, trừ, nhân, chia” chẳng lớn. V́ thế, xem bói vẫn c̣n khá chuẩn xác. Chẳng thể chuẩn xác một trăm phần trăm, nhưng có mức chuẩn xác khá cao. Đạo lư ở chỗ này! Nếu quư vị hiểu đạo lư này, sẽ chuyên làm việc thiện, chẳng c̣n tạo ác nữa. Do vậy, sẽ từ cộng biến thành nhân. Nếu quư vị chẳng hiểu đạo lư này, chẳng tin nhân quả, chẳng tin báo ứng, không điều ác nào chẳng làm, sẽ là từ trừ biến thành chia, sự tổn thất ấy quá lớn!

          Chư vị đọc Tứ Huấn của tiên sinh Liễu Phàm, đọc Du Tịnh Ư Công Ngộ Táo Thần Kư (bài kư về chuyện ông Du Tịnh Ư gặp ông Táo), quư vị sẽ hiểu rơ: Vận mạng do chính ḿnh kiến lập, chính ḿnh có thể biến đổi, chính ḿnh có thể sáng tạo. Chỉ cần quư vị hiểu đạo lư này, hiểu phương pháp này, y giáo phụng hành, trong một đời này, vận mạng của quư vị từ nay trở đi đều thay đổi! Cổ nhân đă có rất nhiều trường hợp như vậy, người hiện thời cũng không phải là ngoại lệ. Chỉ cần hiểu được đạo lư và phương pháp này, chẳng có ai không thể thay đổi [vận mạng]. Trong những bạn bè tôi quen biết, c̣n có mấy người cuộc sống rất vất vả, thậm chí toan tự sát, gặp tôi, tôi đưa Liễu Phàm Tứ Huấn cho họ xem. Tôi nói: “Bạn thấy đó, tôi nương theo phương pháp này, tôi sửa được! Bạn cũng có thể sửa đổi, thảy đều có hiệu quả, lại c̣n có hiệu quả hết sức thù thắng!”

          Thí tài được của cải. Trong mạng chẳng giàu có cho lắm, hăy bố thí. Khi bố thí, chẳng cầu mong ǵ, tốt lắm! Nếu chẳng cầu ǵ, lợi tức sẽ rất sâu dầy. Nếu có mong cầu, tuy có lợi tức, rất mỏng, chẳng nhiều cho mấy! Cũng có nghĩa là: Trong mạng quư vị đă có, dẫu vứt đi, cũng chẳng vứt được. Trong mạng chẳng có, dẫu cầu, cũng chẳng cầu được! Nhưng chẳng trụ tướng (chấp vào tướng) để bố thí, bố thí vô điều kiện, quả báo của sự thí xả ấy sẽ chẳng thể nghĩ bàn. Cầu thông minh, trí huệ, hăy tu Pháp Bố Thí. Pháp Bố Thí có phạm vi rất rộng, phải hiểu điều này! Ta hiểu, người khác chẳng hiểu, nhưng họ chịu học, ta bằng ḷng dạy họ. Đấy là Pháp Bố Thí. Dạy họ may quần áo là Pháp Bố Thí. Quư vị dạy họ nấu nướng cũng là Pháp Bố Thí, nhiệt tâm dạy bảo họ. Đương nhiên thù thắng nhất là Phật pháp. Đối với Phật pháp, quư vị biết một câu, sẽ nói với họ một câu. Quư vị biết hai câu, sẽ nói với họ hai câu, đều là Pháp Bố Thí. Thật sự chẳng biết nói, gặp họ bèn khuyên họ niệm một câu A Di Đà Phật, họ niệm theo quư vị. Đấy cũng là Pháp Bố Thí. Chẳng thể xem văn tự, chẳng biết chữ, hiện thời đĩa CD giảng kinh, dạy học rất nhiều, quư vị tặng cho họ, bảo họ tự nghe, đều là Pháp Bố Thí. Đạo tràng giảng kinh, quư vị báo cho họ biết tin tức ấy, khuyên họ đến nghe. Phương pháp để thực hiện Pháp Bố Thí quá nhiều! Sách Phật, thiện thư khuyên làm lành, hăy tặng cho nhiều! Toàn bộ đều là Pháp Bố Thí. Do Pháp Bố Thí, sẽ được thông minh, trí huệ. Quư vị chướng ngại Pháp Bố Thí, quả báo sẽ là ngu si. Chướng ngại kẻ khác đến nghe kinh, chướng ngại người khác học Phật, quả báo là ngu si. Chướng ngại kẻ khác làm lành, sai mất rồi!

          Trong Vô Úy Bố Thí, tốt nhất là quư vị biết chẳng kết oán cừu với chúng sanh nữa! Thực hiện từ chỗ nào? Hăy từ chẳng ăn thịt chúng sanh, thực hiện từ chỗ này. Chẳng kết oán cừu với chúng sanh, quả báo sẽ là khỏe mạnh, sống lâu. Người trong thế gian hiện thời có một quan niệm sai lầm, cứ nghĩ “chỉ có ăn thịt th́ mới có chất bổ, đồ chay chẳng có chất dinh dưỡng”. Sai mất rồi! Sai lầm đặc biệt to tát! Quư vị thấy người xuất gia trong Phật môn ăn chay, rất nhiều vị tại gia cư sĩ ăn chay, thân thể họ rất khỏe mạnh. Tôi ăn chay đă năm mươi lăm năm, mọi người đều thấy chuyện này. Tôi ăn rất đơn giản, tất cả hết thảy đồ bổ ǵ đi nữa, tôi nhất loạt chẳng dùng. Tôi cũng ăn rất ít, thân thể rất khỏe! Toàn thân chẳng có bệnh tật ǵ! Vào tháng Mười Một năm ngoái, tôi ở Bắc Kinh ngă bệnh vài ngày. Cuối cùng, thầy lang họ Lưu chẩn mạch, bảo tôi: “Nguyên nhân khiến thầy bị bệnh là do ruột và dạ dày có virus”. Sau khi tôi uống thuốc Bắc bốn ngày, thầy lang nói virus hoàn toàn chẳng c̣n nữa, thân thể rất tốt. Thầy lang bảo tôi có thể ăn uống b́nh thường. V́ trong lúc bị bệnh chỉ có thể ăn cháo, ăn dưa muối, một giọt dầu cũng chẳng thể ăn; nay ăn uống b́nh thường như cũ. V́ thế, ăn chay chẳng kết oán cừu cùng chúng sanh. Đấy là Vô Úy Bố Thí.

          Quyết định chớ nên có tâm sát hại chúng sanh. Không chỉ là [chớ nên] giết, mà cái tâm tổn hại chúng sanh cũng chớ nên có. Tâm niệm đă chẳng có, đương nhiên là quư vị sẽ chẳng có hành vi. Tôi thường nói: Mùa Hè muỗi đốt chúng ta, quư vị phải biết v́ sao nó tới đốt ta? Vẫn chẳng phải là v́ đói, muốn kiếm chút ǵ để ăn ư? Ăn no, nó sẽ không có chuyện ǵ nữa! Nếu chúng ta hoan hỷ bố thí, cúng dường nó một bữa ăn, cho nó ăn no, nó sẽ đi. Nếu chẳng muốn bố thí cho nó, đuổi nó đi là được rồi. Đập nó một phát chết tươi, sai lầm! Đấy là sát sanh, quư vị đă kết oán cừu với nó. Những tiểu động vật thường thấy trong nhà như gián, kiến, thảy đều có sanh mạng, đều phải yêu thương. Chúng quá nhiều, nhiễu loạn chúng ta, có thể thương lượng với chúng, xin chúng chớ nên quấy nhiễu. Chúng nó rất nghe lời, có thể tṛ chuyện, chẳng phải là không thể tṛ chuyện! Những trường hợp như vậy trong nhiều năm qua chúng tôi đă làm rất nhiều. Rất nhiều vị tại gia cư sĩ đều học biết [phương pháp], có thể trao đổi cùng những tiểu động vật ấy: Chúng ta đôi bên sống với nhau cùng một chỗ, an ổn vô sự, chẳng nhiễu loạn lẫn nhau. Chúng nó muốn t́m thứ ǵ ăn, ta để ở ngoài cửa để cúng dường chúng nó. Đối với những động vật như gián, chuột, ta để những thức ăn c̣n dư ở bên ngoài, để ở chỗ cố định, chúng nó sẽ tới đó ăn, sẽ không ḅ lung tung khắp nơi. V́ thế, phải hiểu đạo lư, phải biết phương pháp, tâm nhất định phải là tâm yêu thương, che chở hết thảy chúng sanh, quyết định chớ nên tổn hại!

          Thí tài, thí pháp, thí vô úy, quả báo là như vậy đó, quư vị mới có thể đạt được của cải, được thông minh, trí huệ, được khỏe mạnh, sống lâu. Đức Phật dạy bọn chúng sanh trong lục đạo, câu nào cũng đều là chân thật. Nếu quư vị muốn xuất ly lục đạo luân hồi, có phải làm những chuyện ấy hay không? Phải làm! Phải làm, nhưng đừng cầu quả báo. Ta thí tài, không cầu tài. Thí pháp cũng chẳng cầu thông minh, trí huệ. Thí vô úy, ta cũng không cầu khỏe mạnh, sống lâu. Ta chỉ cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, há có chuyện chẳng làm được ư? Có thể xả hết thảy, xả sạch sành sanh, người ấy sẽ thành Phật.

          Xả, chư vị phải ghi nhớ, chẳng phải là xả nơi Sự. Hết thảy sự tướng, vạn vật đều là giả, chẳng thật! Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng. Hư vọng th́ phải xả, phải biết điều này, nhưng quan trọng nhất chính là xả sự yêu mến và chấp trước trong tâm! Phải bỏ sạch thứ này! Đối với điều ǵ thuận theo ư ḿnh, chẳng có tâm tham. Bỏ sạch tham ái, chẳng có tham ái. Điều ǵ chẳng thuận theo ư ḿnh, đừng sân khuể, khiến cho tâm quư vị khôi phục “giác, chánh, tịnh”. “Giác, chánh, tịnh” là chân tâm của chính ḿnh, là Phật Tánh. Quư vị có thể bỏ sạch tham, sân, si, mạn, thị phi, nhân ngă, tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, chúc mừng quư vị! Quư vị cách Phật chẳng xa. Nếu quư vị mong liễu sanh tử, thoát tam giới, chứng quả vị Phật, Bồ Tát, chẳng khó! V́ sao những kẻ b́nh phàm học Phật khó khăn ngần ấy? [Nguyên nhân là do] người ấy (người học Phật) chẳng chịu xả, không buông xuống được! Đối với những thứ ấy, người ấy hết sức chấp trước, sai mất rồi! Tích lũy công đức, đoạn ác tu thiện; nói thật ra, trong Phật môn, có thể tu, công đức thù thắng khôn sánh!

          Tu trong Phật môn như thế nào? Trong Phật môn, nhất định phải tu Lục Ḥa Kính. Lục Ḥa Kính là có thể xả, hết thảy đều có thể xả. Quư vị thấy điều thứ nhất là Kiến Ḥa Đồng Giải. Chúng ta đối xử với kẻ khác, bản thân chúng ta có ư kiến, có thành kiến, phải bỏ chúng đi, thuận theo người khác. Chúng ta chẳng có ư kiến, chẳng có thành kiến, hăy bỏ! Nếu không bỏ, mỗi người có một cách nh́n riêng, ai nấy có cách nghĩ riêng, sẽ đấu tranh, chẳng nhường nhịn lẫn nhau, sự ḥa thuận sẽ bị phá hoại, sẽ bất ḥa. V́ thế, từ kinh điển, chúng tôi đọc thấy Kiến Ḥa Đồng Giải trong Phật pháp, đúng là bội phục từ trong nội tâm. Đức Phật chẳng nói tri kiến của quư vị đều là sai lầm, [tri kiến của] ta là chánh xác, các vị nhất định phải theo tôi! Đức Phật chẳng nói kiểu đó, đức Phật nói như thế nào? Mọi người hăy bỏ sạch những thành kiến đi, [tri kiến] sẽ giống hệt như nhau! Quư vị nói xem, nói kiểu đó mọi người có phục hay không? Chẳng bàn căi chi nữa! Tâm thanh tịnh! Trong cái tâm thanh tịnh, chẳng có một tạp niệm; đấy mới thật sự là Kiến Ḥa Đồng Giải.

          Tâm không thanh tịnh, chỉ có cách dùng giới luật. Mọi người cùng ở chung một chỗ, ấn định một công ước, ấn định một chương tŕnh, cùng nhau tuân thủ. Đấy là lâm thời, tạm thời. Khi thật sự đạt đến ḥa kính, tức là tâm thanh tịnh hiện tiền, tâm b́nh đẳng hiện tiền, Lục Tổ Đàn Kinh đă nói rất hay: “Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai” (Vốn chẳng có một vật, chỗ nào vướng bụi trần). Đó là nói đến minh tâm kiến tánh. Tâm xác thực đạt đến thanh tịnh, tịch diệt; do vậy, “Phật Phật đạo đồng”, mới thật sự là đạt đến Kiến Ḥa Đồng Giải. Quyết định chớ nên xung đột với đại chúng, chớ nên có ư kiến về người khác. Trong một đạo tràng, hăy nghe theo ai? Đạo tràng có Trụ Tŕ, hăy nghe theo vị ấy. Ư kiến bất đồng cũng phải buông xuống, vẫn nghe theo vị ấy, chớ nên thuận theo ta. Hễ “ta có ư kiến, ngươi có ư kiến”, quốc gia sẽ loạn tùng phèo! V́ thế, trong một tự viện, am, đường nghe theo vị Trụ Tŕ, một trường học nghe theo hiệu trưởng, một công ty, hăng, tiệm nghe theo chủ nhân, một gia đ́nh nghe theo gia trưởng, một quốc gia nghe theo người đứng đầu đất nước; đấy là chánh xác. Nhất định phải hiểu đạo lư này!

          Điều thứ hai là Giới Ḥa Đồng Tu, quư vị phải tŕ giới. Tŕ giới th́ phải xả! Ví như Ngũ Giới, [điều đầu tiên là] “không sát sanh”, chúng ta phải bỏ sạch ư niệm và hành vi sát sanh. Đối với [giới điều] “không trộm cắp”, chúng ta phải bỏ sạch hành vi và ư niệm trộm cắp. Chớ nên như thế nữa, thảy đều phải bỏ sạch! Sau đấy mới có thể “thân đồng trụ, khẩu vô tránh, ư đồng duyệt, lợi đồng quân” (thân cùng ở, miệng chẳng tranh căi, cùng vui vẻ chia sẻ ư kiến, lợi lộc cùng chia đều). Thứ ǵ cũng đều bỏ sự ham muốn của chính ḿnh, bỏ tập khí của chính ḿnh, có thể cư xử ḥa thuận cùng đại chúng. Nếu chính ḿnh cứ nhất định khăng khăng phải như thế này, như thế nọ, quư vị sẽ chẳng thể thuận thảo với đại chúng được. Nhất định phải hiểu đạo lư này!

          Kinh văn chỉ có bốn câu, gồm mười sáu chữ, bao hàm ư nghĩa sâu rộng vô tận. Triển khai ra, muôn sự muôn pháp thảy đều ở trong mười sáu chữ ấy. Đấy là như kinh Hoa Nghiêm thường nói: “Một chính là hết thảy, hết thảy chính là một”. Một bài kệ là hết thảy các kinh, hết thảy các kinh là một bài kệ, viên dung lẫn nhau vô ngại. Chúng ta lại xem bài kệ thứ mười:

 

          (Kinh) Chúng hội tụ tập, đương nguyện chúng sanh, xả chúng tụ pháp, thành Nhất Thiết Trí.

          ()會聚集。當願眾生。捨眾聚法。成一切智。

          (Kinh: Chúng hội tụ tập, nguyện cho chúng sanh, bỏ các tụ pháp, thành Nhất Thiết Trí).

 

          Ư nghĩa của bài kệ này khá khó hiểu. Thanh Lương đại sư chú giải cũng rất đơn giản:

 

          (Sớ) Liễu tụ vô tánh, thành Phật trí dă.

          ()了聚無性,成佛智也。

          (Sớ: Hiểu rơ Tụ chẳng có tánh, đó là cái trí để thành Phật vậy).

 

          Câu này bao hàm ư nghĩa rất sâu. “Tụ” () là tụ hội. Trên cơi trời, hay trong nhân gian, cho đến ngạ quỷ, súc sanh, có ai chẳng thích tụ hội? Luận Ngữ c̣n nói: “Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ” (Có bạn từ phương xa đến, cũng chẳng vui sao). Do vậy, đây là điều thường t́nh của con người. Nhất là vào dịp Tết, người nhà, quyến thuộc đoàn tụ, bạn bè thân thiết đoàn tụ. Trong xă hội hiện thời, mối quan hệ giữa con người với nhau rất chặt chẽ. Đồng nghiệp tụ hội, bạn học tụ hội, những người cùng nghề tụ hội, rất nhiều! Đối với những sự tụ hội ấy, nếu nói thật ra, quư vị phải liễu giải chân tướng sự thật của nó. Chân tướng là tụ tán. Quư vị thấy duyên tụ, hôm nay lần tụ hội này rất đông người. Mấy giờ sau, duyên tán, chẳng c̣n nữa. Quư vị có thể thấy “duyên tụ th́ có, duyên tán th́ không”. Có và Không là một, chẳng hai. Do vậy, nó chẳng có thể tánh. “Tánh” [được nói trong bài kệ này] là “thể tánh”, có nghĩa là nó (sự tụ hội ấy) chẳng chân thật. Từ chỗ này, có thể dễ thấy nhất. Nếu quư vị lại có thể liên tưởng tất cả hết thảy các pháp, [hăy suy nghĩ] hết thảy các pháp được h́nh thành như thế nào? Duyên tụ bèn hiện tướng, tướng bèn sanh khởi. Duyên tán, tướng liền diệt. Hết thảy các pháp sanh, diệt, tụ, tán vô thường, [điều này chính là] sự khải phát rất lớn đối với chính ḿnh, [giúp cho chính ḿnh] liễu giải chân tướng sự thật của toàn thể vũ trụ.

          Không chỉ mười pháp giới là như thế, Nhất Chân pháp giới cũng chẳng phải là ngoại lệ. V́ thế, gọi là “thành Phật trí dă” (chính là cái trí để thành Phật). Đức Phật hiểu điều này quá rơ ràng, quá minh bạch. Do vậy, trong hết thảy các sự tụ hội, không chỉ là người, sự, vật thảy đều có, mà núi, sông, đại địa cũng là “duyên tụ, duyên tán”, mới thật sự thấu hiểu hết thảy các pháp “vô sở hữu, rốt ráo không, trọn chẳng thể được”. Trong hoàn cảnh nhân sự bèn bao hàm vật, [tức là] bao hàm vạn vật, xác thực là vạn vật; động vật, thực vật, và khoáng vật đều được bao hàm. Núi có sơn thần, cây có thụ thần. Đệ tử Phật phải biết tùy duyên thí giáo, phải giúp đỡ họ, giúp họ giác ngộ, giúp họ hiểu lư, sự tụ hội ấy sẽ chẳng luống uổng! Chúng ta tham gia tụ hội để góp phần náo nhiệt, vậy là chẳng có ư nghĩa chi hết! [Sự tụ hội ấy] chẳng cần thiết!

          Đệ tử Phật tham gia tụ hội, nhất định phải giới thiệu giáo huấn của đức Phật với mọi người, thật sự giúp đỡ đại chúng phá mê, khai ngộ, ĺa khổ, được vui; sự tụ hội ấy sẽ có ư nghĩa, có giá trị. Tuy chính ḿnh làm những chuyện ấy, phải hiểu ư nghĩa trong hai câu kệ này: “Chẳng chấp tướng, làm mà không làm, không làm mà làm”. Giúp đỡ hết thảy chúng sanh, tam luân thể không, chính ḿnh quyết định chẳng cảm thấy “ta hôm nay làm chuyện tốt, đă dạy rất nhiều người ngần ấy”. [Nếu nghĩ như vậy], quư vị đă chấp tướng. Chẳng nghĩ chính ḿnh đă làm, vong ngă! Hễ đạt được “vong ngă, vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”, đúng rồi! Đó là đă thành Phật trí, đấy mới là thật sự tương ứng với vô tánh, chẳng có mảy may phân biệt, chấp trước nào! “Làm mà không làm, không làm mà làm”, đạo lư này quá sâu.

          Nếu quư vị c̣n có phân biệt, chấp trước, hăy ngẫm xem, tâm quư vị chẳng thanh tịnh. Tâm có ô nhiễm, thân sẽ không thanh tịnh, hoàn cảnh sẽ không thanh tịnh, là do đạo lư này. Trong các buổi giảng, chúng tôi đă nói đạo lư này rất nhiều. Hễ nhắc tới, chư vị đều có thể lư giải cuộc sống ấy chẳng dễ sống! V́ thế, buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, buông xuống ích kỷ, buông xuống hết thảy tạo tác. [Hăy chú ư, tuy nói là “buông xuống”], hết thảy tạo tác vẫn làm y như cũ, vẫn làm, chẳng phải là không làm! “Buông xuống” [hết thảy các tạo tác] là ǵ? Trong tâm ta c̣n nghĩ “ta phải làm điều này, điều nọ”, phải buông xuống ư niệm ấy, chớ nên có! [Hễ c̣n có ư niệm] “ta đă làm chi đó”, “ta c̣n muốn làm chuyện ǵ đó”, sẽ chẳng thể được! Chớ nên có ư niệm ấy, đó là vọng tưởng. Chư vị nghĩ đến chỗ này, sẽ thấy ư nghĩa sâu xa.

          Tụ hội là duyên. Sự tụ hội ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, chẳng phải là nghĩa hẹp! Tụ hội với người khác là duyên, tụ hội với sự việc cũng là duyên, tụ hội với vạn vật trong trời đất vẫn là duyên, do nhân duyên mà tụ hội. Tăng tấn chính ḿnh như thế nào? Giúp đỡ chúng sanh như thế nào? “Chúng sanh” cũng được hiểu theo nghĩa rộng. Đấy gọi là Phật pháp. “Thành Nhất Thiết Trí”: Trong Phật pháp thường nói ba loại trí. Nhất Thiết Trí có thể bao hàm viên măn ba loại trí huệ. Chúng ta thấy câu này, chẳng thể nói Ngài (Văn Thù Bồ Tát) chỉ nói đến Nhất Thiết Trí, chẳng nói tới Đạo Chủng Trí, mà cũng chẳng nói Nhất Thiết Chủng Trí. Nói một trí đă bao gồm hết thảy [các loại trí] trong ấy, trí huệ chân thật mà!

          1) Nhất Thiết Trí là biết Không, muôn pháp đều là Không, trọn chẳng thể được. Trí huệ ấy được gọi là Nhất Thiết Trí.

          2) Đạo Chủng Trí là biết hết thảy vạn sự vạn vật, tức là biết các hiện tướng (現相, các tướng được biến hiện), do đạo lư nào mà sanh ra những hiện tướng ấy? [Đó là] Đạo! “Chủng” () là các thứ, là nhiều. Hết thảy vạn sự vạn vật do đạo lư nào mà có những thứ ấy, do đâu mà có chúng? Diễn biến như thế nào? Kết quả trong tương lai là ǵ? Quư vị đều thông đạt những điều ấy th́ gọi là Đạo Chủng Trí.

          3) Loại thứ ba là Nhất Thiết Chủng Trí. Nhất Thiết là trí thể, Đạo Chủng là trí tướng. Hiện tướng và lư thể là một, không hai; đấy gọi là Nhất Thiết Chủng Trí. Hợp hai trí lại. Nguyên lai, sâm la vạn tượng “Tướng có, Tánh không, Sự có, Lư không”, quư vị c̣n có thể khởi tâm động niệm ư? Quư vị c̣n có thể phân biệt, chấp trước ư? Đương nhiên là sẽ buông xuống; đấy chính là cảnh giới của Như Lai và Pháp Thân Bồ Tát, là trí huệ của Phật, Bồ Tát. Nếu chúng ta sống trong cảnh giới ấy, sẽ rất vui sướng, thật sự vui sướng. Sự vui sướng ấy chẳng phải là lạc như trong khổ lạc của thế gian. Chẳng phải vậy! Chẳng có cách nào h́nh dung, chẳng có cách nào tưởng tượng! V́ thế, kinh Phật thường nói là “chẳng thể nghĩ bàn”. Cảnh giới ấy chúng ta chẳng thể tưởng được, mà cũng chẳng có cách nào diễn tả được. Chỉ khi nào quư vị khế nhập cảnh giới th́ mới hiểu được! V́ thế, thường nói ví von là “như nhân ẩm thủy, lănh noăn tự tri” (như người uống nước, nóng lạnh tự biết). Giống như quư vị uống một chén nước, nước nóng hay lạnh, chỉ có nếm thử, bản thân quư vị sẽ biết, chẳng có cách nào diễn tả được! Có nói ra, cũng là mơ hồ. Tôi nói lạnh, lạnh đến mức độ nào, không biết! Tôi nói nóng, nóng tới cỡ nào, cũng chẳng biết. Lại xem bài kệ cuối cùng:

 

          (Kinh) Nhược tại ách nạn, đương nguyện chúng sanh, tùy ư tự tại, sở hành vô ngại.

          ()在厄難。當願眾生。隨意自在。所行無礙。

          (Kinh: Nếu gặp ách nạn, nguyện cho chúng sanh, tùy ư tự tại, việc làm vô ngại).

 

          Tại gia, nói thật ra, xuất gia cũng chẳng ra ngoài lệ ấy, chẳng thể tránh khỏi tai nạn! Tai nạn là do những nghiệp bất thiện đă tạo tác trong đời đời kiếp kiếp từ vô thỉ kiếp tới nay cảm vời, phải biết điều này! Biết chuyện này, vậy th́ trong đời này, hăy cẩn thận, chú ư, đừng tạo ác nghiệp. Trong quá khứ, khi chúng tôi mới học Phật, thầy thường ra rả căn dặn, chớ nên kết oán cừu với chúng sanh! Thầy trích dẫn khá nhiều câu chuyện lịch sử để bảo ban: Do vô t́nh hay cố ư làm mất ḷng kẻ khác, trong tương lai họ sẽ đều phục hận! Cố ư làm mất ḷng kẻ khác, trong tương lai, họ sẽ báo thù trực diện. Do vô t́nh làm mất ḷng người khác, trong tương lai người ta cũng sẽ vô t́nh gây tổn hại cho quư vị. Nhân quả báo ứng đúng là chẳng sai suyển mảy may!

          Ngôn ngữ và thái độ rất quan trọng. Đây là một môn đại học vấn! Khổng Tử giáo học, môn thứ nhất là đức hạnh, môn thứ hai là ngôn ngữ, xếp chuyện “làm người như thế nào” vào hàng đầu! Giáo dục là nhằm dạy những ǵ? Chính là dạy quư vị biết làm người, dạy quư vị làm một người tốt, dạy quư vị làm một người có đức hạnh. Sau đấy mới dạy quư vị làm việc (biện sự, 辦事). Nay chúng ta gọi “biện sự” là chức nghiệp hoặc nghề nghiệp. Các ngành nghề, học thuật, chức nghiệp đều xếp vào sau [đức hạnh], Nho gia gọi [những thứ nghề nghiệp] bằng từ ngữ “chánh sự” (政事). Đức hạnh, ngôn ngữ, chánh sự, cuối cùng là văn học. Chánh sự, nói theo ngôn từ hiện thời, chính là trong một đời này, quư vị học được một loại kỹ thuật hoặc năng lực chi đó để làm bản lănh kiếm sống trong đời này. Cổ nhân rất coi trọng kiểu giáo dục này. Trong xă hội, quư vị làm một người hữu dụng, bản thân quư vị có năng lực kiếm sống độc lập. Thời cổ, phân chia thành các loại sĩ, nông, công, thương; hiện thời, phân loại càng nhiều, càng phức tạp hơn, giống như trong đại học mở ra khá nhiều khoa hệ (academic department). Quư vị học môn nào, trong tương lai theo đuổi nghề nghiệp nào, điều ấy thuộc loại Chánh Sự.

          Căn bản là đức hạnh và ngôn ngữ, cuối cùng mới là văn học. Quư vị có đức hạnh, có học vấn, có năng lực, đối với cuộc sống tinh thần và vật chất trong thế gian này, quư vị đều chẳng phải lo nghĩ; sau đấy mới nâng cao phẩm chất cuộc sống của chính ḿnh, giống như cái hiện thời gọi là “văn nghệ” (文藝, văn học nghệ thuật) được xếp vào cuối cùng. Nếu cuộc sống vật chất của quư vị gặp khó khăn, c̣n nói tới văn nghệ chi nữa? Làm sao nói tới chuyện hưởng thụ về mặt tinh thần cho được? Do vậy, tuy Phu Tử nói đơn giản là bốn khoa, nói thật ra, bốn khoa ấy chính là tổng cương lănh của tất cả học thuật trong xă hội hiện đại. Nhưng hiện thời học thuật nẩy sanh vấn đề, những vấn đề ấy do đâu mà xuất hiện? Do chẳng có đức hạnh và ngôn ngữ đứng trước! Do chẳng có những thứ ấy, nên đă tạo thành sự động loạn trong xă hội. Toàn thể xă hội bất an, quư vị phải biết nguyên nhân là ở chỗ nào!

          Nếu nay chúng ta muốn khôi phục trật tự b́nh thường, ngoài việc khéo học giáo dục luân lư đạo đức ra, chẳng có cách nào khác! Học từ chỗ nào? Hăy bắt đầu học từ Đệ Tử Quy. Trong Đệ Tử Quy có đức hạnh, lại c̣n có ngôn ngữ. Đấy là tối thiểu, mức độ thấp nhất, tầng cấp thấp nhất. Chẳng vun quén căn cội vững vàng ở chỗ này, mai sau, tai nạn càng nhiều hơn! Tai nạn do đâu mà có? Chính là do trong cuộc sống thường ngày, quư vị đă hữu ư hay vô t́nh kết oán cừu với người khác. Nếu nghiêm trọng, quả báo sẽ ở ngay trong đời này. Khi quư vị đă lớn tuổi, sẽ thấy quả báo hiện tiền. Đối với quư vị, kẻ trẻ tuổi chẳng có ḷng cung kính, chẳng tôn trọng, khinh dễ quư vị. Quư vị bị khổ nạn, chẳng có ai giúp đỡ quư vị. Trong đời này, khi tuổi tác đă lớn đôi chút, quư vị sẽ cảm nhận được. Cổ nhân nói hay lắm: “Ái nhân giả, nhân hằng ái chi, kính nhân giả, nhân hằng kính chi” (Yêu thương người, người sẽ luôn yêu mến. Kính người, người sẽ luôn kính trọng ta). Ta chẳng yêu thương người khác, ai sẽ yêu thương quư vị? Chẳng kính trọng người khác, người ta sẽ kính trọng quư vị ư? Chẳng có lẽ này!

          V́ thế, đối với người, đối với sự, đối với vật, hăy giữ ḷng yêu kính. Điều quan trọng nhất là khiêm hư, đối xử ḥa thuận, vẻ mặt ḥa hoăn, tươi vui. Oan gia hăy nên cởi gỡ, chớ nên thắt buộc. Phải biết là đời đời kiếp kiếp trong quá khứ, có lúc gặp gỡ thiện duyên, học được rất nhiều thứ, ít tạo ra rất nhiều nghiệp. Đương nhiên là cũng có rất nhiều đời nhiều kiếp chẳng có duyên phận ấy, bèn tùy thuận tập khí phiền năo của chính ḿnh gây tạo khá nhiều nghiệp chướng. Trong đời này, dẫu chúng ta làm việc thiện, thuần tịnh, thuần thiện, vẫn gặp khá nhiều chướng ngại. Những chướng ngại ấy do đâu mà có? Nói theo phía chính ḿnh, [đó là do] nghiệp chướng hiện tiền. Nói theo phương diện xă hội, [sẽ là] chúng sanh chẳng có phước. Nếu chúng sanh có phước, quư vị sẽ làm những việc tốt lợi ích chúng sanh. Dẫu chính ḿnh có nghiệp chướng, nghiệp chướng ấy cũng sẽ tạm thời chẳng hiện tiền. V́ sao? Quư vị thay chúng sanh làm chuyện tốt, oán thân trái chủ tạm thời chẳng t́m đến quư vị. Tạm thời không t́m đến, chứ hoàn toàn chẳng tiêu trừ. Ngày nào quư vị chẳng làm chuyện tốt, họ sẽ đến t́m quư vị.

          Cổ nhân giáo huấn người khác, mối cừu hận sâu nhất là “sát phụ chi cừu bất cộng đới thiên” (mối thù giết cha chẳng đội trời chung), kẻ làm con chẳng thể không báo nỗi oán cừu ấy! Nhưng công việc của cừu nhân hiện thời là làm việc thay cho đại chúng trong xă hội. Ví như người ấy làm quan, làm một huyện thị trưởng, hiện thời kẻ ấy làm khá lắm, v́ muôn dân trong huyện thị ấy phục vụ, quư vị sẽ chẳng thể báo cừu, một vị quan tốt mà! Nhân dân đều hưởng phước từ người ấy. Quư vị giết kẻ ấy, tức là người trong cả huyện ấy sẽ không có phước. V́ thế, lúc này chẳng thể báo. Đợi cho đến khi nào? Đợi cho đến khi kẻ đó cáo lăo hoàn hương mới báo thù. Chỉ cần v́ nhân dân, v́ xă hội, v́ đại chúng toàn tâm toàn lực làm chuyện tốt, oán thân trái chủ trọn chẳng dám đụng tới. Người học Phật hiểu đạo lư này, sẽ đem công đức của những việc này hằng ngày hồi hướng cho oán thân trái chủ, hy vọng trong tương lai, khi ta từ chức chẳng làm nữa, họ sẽ chẳng báo thù. Hóa giải oán kết ấy, dùng tâm chân thành hồi hướng, dùng tâm chân thành chia sẻ công đức này cho họ. Người học Phật hiểu điều này, kẻ chẳng học Phật chẳng hiểu, quan hệ cũng rất lớn. Cừu hận thường là nhiều đời nhiều kiếp chẳng thể hóa giải, oan oan tương báo, càng báo càng phiền phức, càng báo càng nghiêm trọng. V́ thế, nhất định là phải hiểu cách hóa giải, dùng ân huệ đối xử với họ, chớ nên khiến cho họ oán hận. Có oán hận, đôi bên đều cùng đau khổ. Không chỉ là một đời này, mà là đời đời kiếp kiếp đau khổ, đáng thương quá! Đúng là đáng thương, kinh Phật thường cảm thán hạng người này là “kẻ đáng thương xót!” Lời này là thật, chẳng giả. Nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng tới chỗ này.

 

Tập 1506

 

          Chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, bài kệ cuối cùng trong phần nói chung về hàng tại gia là bài kệ thứ mười một:

 

          (Kinh) Nhược tại ách nạn, đương nguyện chúng sanh, tùy ư tự tại, sở hành vô ngại.

          ()若在厄難。當願眾生。隨意自在。所行無礙。

          (Kinh: Nếu gặp ách nạn, nguyện cho chúng sanh, tùy ư tự tại, việc làm vô ngại).

 

          Tại gia hay xuất gia, bất luận nam, nữ, già, trẻ, cũng chẳng luận phú quư hay nghèo hèn, trong suốt một đời người, nói chung, đều chẳng tránh khỏi bệnh tật, tai nạn. “Ách nạn” (厄難) cũng bao gồm cả bệnh tật. Nói thật ra, người đời chẳng biết nghiệp nhân. Do vậy, khi gặp tai nạn, không ít kẻ oán trời hờn người: “V́ sao trời cao khiến cho tôi khổ sở dường này? Bị tai nạn nhiều ngần này?” Chẳng biết những ách nạn ấy đều có tiền nhân (前因, cái nhân từ trước)! Những chuyện gặp gỡ của tất cả hết thảy chúng sanh trong một đời, tuyệt đối chẳng thể có một chuyện nào, dẫu là chuyện nhỏ nhặt đến mấy đi nữa, mà chẳng có cái nhân từ trước, tuyệt đối chẳng có [chuyện nào không có cái nhân trước đó]. Ngạn ngữ Trung Hoa thường nói: “Nhất ẩm, nhấc trác, mạc phi tiền định” (Một hớp uống, một miếng ăn, không ǵ chẳng định sẵn). Chuyện dẫu nhỏ nhặt đến mấy vẫn là tiền định. Đạo Hồi dạy mọi người tin vào tiền định: Allāh dựa theo tiền định để sáng tạo vạn vật”, bao gồm cả con người, nhân loại cũng được gộp trong ấy. V́ sao Thượng Đế tạo ra người này được hưởng phước? Tạo ra người kia khiến cho họ chịu tội? Chẳng phải là Allāh không công bằng, chẳng phải là Allāh cố ư làm như thế, thảy đều là dựa theo tiền định. Phật pháp nói càng rơ ràng hơn. Ba nhà Nho, Thích, Đạo tại Trung Hoa đều nói rất minh bạch: “Tạo thiện nhân nhất định được thiện quả, tạo ác nghiệp quyết định có ác báo”. Giáo dục nhân quả hết sức trọng yếu. Nhưng trong xă hội hiện tiền, v́ khoa học kỹ thuật phát triển, tạo thành sức tấn công rất lớn đối với luân lư, đạo đức, nhân quả, tôn giáo. Sức mạnh ấy đă khiến cho nền văn hóa truyền thống bị phá hoại nghiêm trọng.

          Người hiện thời chẳng biết luân lư đạo đức là ǵ. Khoa học đem lại cho con người cuộc sống ham muốn hưởng thụ vật chất, sống cuồng hoan, phóng túng, xem nhẹ ḷng yêu thương hoàn cảnh tự nhiên. Con người hiện thời dựa vào khoa học để chinh phục tự nhiên. Nói thật ra, “chinh phục tự nhiên” chính là phá hoại hoàn cảnh sinh thái tự nhiên, có thể là [triệt hạ] toàn thể rừng rậm. Chúng tôi đến Trường Giang, năm 2000 chúng tôi đến chơi Trường Giang, [trông thấy] toàn bộ rừng rậm nguyên thủy hai bên bờ Trường Giang đều bị chặt trụi. Hiện thời, dùng máy móc [để tiêu diệt rừng rậm] quá dễ dàng! Con người muốn chinh phục nó, muốn lợi dụng cuộc đất ấy, nào có biết đă tạo thành ǵ? Tạo thành ngập lụt, lụt lội, chẳng thể ǵn giữ đất, đá. Đấy là sự phản kháng của thiên nhiên đối với nhân loại. Thiên tai, nhân họa, thủy tai, hạn hán, băo tố, động đất, nguyên nhân đều là do con người gây ra.

          Quư vị thấy thời cổ có cần sử dụng khoa học kỹ thuật hay không? Cần chứ! Từ mấy ngàn năm trước đă bắt đầu dùng, nhưng con người [thuở ấy] có luân lư, đạo đức, nhân quả, tôn giáo ràng buộc. Khoa học kỹ thuật chỉ cần áp dụng vào cuộc sống thường ngày vừa đúng mức bèn thôi, chẳng phá hoại hoàn cảnh sinh thái. Mọi người đối xử với nhau bằng lễ nghĩa; đối với thiên nhiên, tức là đối với động vật, thực vật, và thiên nhiên đều có tâm kính sợ. Trong Phật pháp, từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy có thần cây, thần núi, thần sông, thần biển, hà bá. Đấy là ǵ? Đấy là kính sợ thiên nhiên, chúng ta tôn trọng họ, chẳng dám dễ ngươi phá hoại!

          Người hiện thời chẳng tin tưởng, cho đó là giả. Người học Phật chúng ta hiểu rơ ràng! Tại Đồ Văn Ba (Toowoomba) ở Úc, chúng tôi c̣n gặp chuyện này. Chúng tôi mua một căn nhà cạnh Học Viện. Căn nhà ấy đă quá lâu đời, chúng tôi đập bỏ để xây một căn mới. Trong lúc công tŕnh đang thi công, nơi cổng có mấy cái cây cần phải chặt đi th́ xe chở vật liệu mới có thể vào được. Chúng tôi vâng theo quy củ trong Phật môn, đúng như giới luật đă dạy: Ba ngày trước đó đă tụng kinh, niệm chú, cúng tế thần cây, xin ông ta chuyển nhà. Đức Phật dạy chúng tôi làm, chúng tôi liền làm theo. Ba hôm sau, chúng tôi đến chặt cây ấy. Trong học viện, có một đồng học mấy hôm sau nằm mộng, mộng thấy thần cây nói với người ấy: “Sau này quư vị chặt cây, tối thiểu là báo cho tôi biết trước bảy ngày”. [Chỉ báo trước] ba ngày, họ chuyển nhà quá vội vàng, hy vọng là bảy ngày. Vị đồng học đó kể cảnh mộng ấy với tôi, tôi nói: “Thật đấy! Người Úc làm ǵ cũng đều rất chậm, cứ tà tà. Đại khái là thần cây ở Úc cũng giống như người Úc, động tác cũng hết sức thong thả, cần phải bảy ngày [để dọn nhà], [phải báo] trước bảy ngày”. V́ thế, tôi bảo mọi người: “Sau này quư vị muốn chặt cây, [phải nhớ] cây cao bằng thân người sẽ có thần cây [ngự trên đó]”.

          Cũng có lẽ [quư vị] sẽ hỏi: “Rất nhiều người chặt cây, v́ sao thần cây chẳng t́m họ?” Đúng vậy! Đối với kẻ ấy, thần cây chẳng làm thế nào được, có t́m kẻ ấy cũng vô dụng. T́m chúng ta sẽ hữu dụng, chúng ta tin tưởng, tôn trọng, kính yêu họ. V́ thế, họ vui ḷng giao tiếp với chúng ta. Chúng ta phải hiểu: Thần cây thường theo sát bên cạnh những kẻ ấy. Ngày nào đó, kẻ ấy vận suy, thần cây liền báo thù kẻ ấy. V́ thế, thiên, địa, quỷ thần, thiên thần, tất cả hết thảy thực vật và khoáng vật trên mặt đất đều có thần. Quư vị tin tưởng, họ sẽ t́m quư vị. Quư vị chẳng tin, họ sẽ báo thù quư vị!

          Ở Bắc Kinh, chúng tôi có một đạo hữu, đồng tham đạo hữu, cô ta cũng được quỷ thần báo mộng vào buổi tối. Những quỷ thần ấy giống như trẻ nhỏ, là trẻ nít, phát ra tiếng trẻ nít cầu cứu. Họ nói: “Chúng tôi sắp chết khô”. Nói khá nhiều lần, “tôi là thần cây cỏ trong nhà bà, tôi là thảo mộc trong nhà bà. Đă rất lâu không được tưới nước, chúng tôi sắp chết khô nên đến cầu cứu”. Sáng sớm ngày hôm sau, cô ta đích thân ra sân xem. Đúng là như thế! Sân có rất nhiều hoa, cha cô mỗi ngày tưới hoa, không tưới cỏ. Cỏ mọc trên mặt đất ông cụ không tưới, những cây nhỏ mọc bên cạnh cũng không được tưới. Cô ta thấy t́nh h́nh như vậy, vội vă tưới nước. Cha cô bảo: “Không cần! Tưới hoa thôi! Cỏ cây cứ mặc kệ chúng!” “Chúng đến báo cho con biết!” Quư vị có thể giúp đỡ chúng nó, chúng nó sẽ đến cầu xin quư vị, giống như con người vậy! Quư vị thấy người nào mà khi quư vị có tai nạn sẽ nghĩ t́m tới người đó! Kẻ nào chẳng quan tâm đến quư vị, ắt quư vị chẳng t́m đến kẻ đó. Con người có cùng một cái tâm này, tâm có cùng một lư này. Động vật, thực vật, quỷ thần, cũng đều chẳng ra ngoài lệ ấy! Đấy chẳng phải là nói “hễ tin th́ có, chẳng tin th́ không”. Chẳng phải vậy! Họ luôn có, tin hay không tin, họ đều có. Đó là chân tướng sự thật. Hễ tin th́ sẽ như thế nào? Tin th́ họ sẽ qua lại cùng quư vị. Không tin, họ chẳng qua lại với quư vị. Do vậy, “có hay không” là “có qua lại hay không”! Quư vị tin tưởng, tôn trọng họ, họ sẽ qua lại, sẽ đến t́m quư vị. Quư vị chẳng tin, chẳng tôn trọng họ, họ chẳng qua lại với quư vị, v́ qua lại với quư vị chẳng có tác dụng ǵ! Đạo lư là ở chỗ này!

          V́ sao người học Phật, người thiện tâm, nói theo Phật pháp là “người thiện căn sâu dầy” thường có những chuyện này, quư vị thường có thể gặp gỡ? Quư vị phải hiểu rơ đạo lư này, có thể tiếp nhận, có thể tin tưởng, có thể giảng cho họ nghe. Đấy là sự thật, chẳng phải là mê tín. Quư vị hoàn toàn chẳng liễu giải chân tướng sự thật này mà tin tưởng th́ là mê tín, nhưng chẳng tin th́ cũng là mê tín. [Nguyên nhân là v́] chưa hiểu rơ ràng. Phải hiểu rơ ràng, phải hiểu minh bạch. Đọc sách thánh hiền th́ ít nhiều cũng liễu giải đôi chút. Nếu thật sự tu hành, tâm địa thanh tịnh, người ấy sẽ nhận biết chuyện này, càng thâm nhập hơn!

          V́ lẽ ấy, trong hoàn cảnh hiện thời, nếu quư vị lắng ḷng quan sát kỹ, [sẽ thấy] đối với những tai họa trong thiên nhiên, cũng có thể nói [nguyên nhân là do] quư vị xung đột với người khác, quư vị xung đột với hoàn cảnh thiên nhiên, quư vị xung đột với quỷ thần. Quỷ thần rất đông, trong không trung có, trong hư không có [quỷ thần]. Xung đột với họ như thế nào? Quư vị thấy hằng ngày trên không trung có bao nhiêu máy bay phản lực? Những chất khí thải được phun ra đều có chất độc, không khí bị ô nhiễm. Ô nhiễm nghiêm trọng, trong tương lai, chắc chắn sự sanh tồn của con người trên địa cầu sẽ gặp phải sự trả thù [của thiên nhiên]. Các nhà khoa học cũng cảnh cáo: Hiện thời, khí quyển bị ô nhiễm, những thứ vật chất có chất độc đang trôi bồng bềnh trong khí quyển. Nếu có một ngày nào đó, trọng lượng của những chất trôi nổi ấy vượt quá điểm băo ḥa, chúng nó sẽ rơi xuống. Hễ rơi xuống đất, một cơi đại địa đều tử vong. Đừng nói là động vật chẳng thể sống sót, cỏ cây cũng chẳng thể sống sót. Có người nói đó chính là ngày tàn của thế giới.

          Có rất nhiều cách nói về tận thế, ở đây là một cách, tức là khí quyển bị ô nhiễm, hết sức đáng sợ! Khoa học kỹ thuật hiện thời cũng chẳng có cách nào cứu vớt! Trừ phi toàn thể nhân loại giác ngộ, chẳng c̣n phá hoại hoàn cảnh tự nhiên, tuân thủ quy tắc luân lư, đạo đức, đoạn ác, tu thiện, thế giới này mới được cứu! Vấn đề trong hiện thời là toàn thể thế giới, toàn thể nhân loại chối bỏ luân lư, đạo đức, tin tưởng khoa học. Chẳng phải là khoa học không tốt, nhưng khoa học chẳng phải là vạn năng. Khoa học có thể giúp đỡ con người trong những phương tiện cục bộ, nhưng nó có tác dụng phụ. Nếu chẳng biết ngăn ngừa những tác dụng phụ ấy, khoa học có thể hủy diệt nhân loại. Tôi tin tưởng là hiện thời mọi người đều biết như vậy. Nay chúng ta mắt thấy, tai nghe, được tiếp xúc, đều có cảm xúc ô nhiễm nghiêm trọng! Hiện thời, kẻ b́nh phàm cũng ư thức sự vật bị ô nhiễm nghiêm trọng, nước bị ô nhiễm dường ấy! Chúng ta chú trọng [bảo vệ] những ao nước, sông ng̣i trong vùng phụ cận, có thể giải quyết vấn đề hay không? Chẳng thể giải quyết! V́ sao? Biển cả bị ô nhiễm, khí quyển bị ô nhiễm, toàn thể nhân loại đều chẳng cứu được. Đấy là tai nạn chưa hề có tiền lệ trong lịch sử.

          Nhưng các nhà khoa học cho biết: Trên địa cầu đă có chuyện tuần hoàn giống như vậy. Trong quá khứ đă xảy ra vài lần. Tôi đă từng xem một báo cáo nói là hơn một vạn năm trước, trên địa cầu đă xuất hiện một nền văn minh khoa học kỹ thuật cao, tức Á Đặc Lan Đề Tư (Atlantis). Do v́ nhân dân theo đuổi hưởng thụ vật chất, không ǵ chẳng làm, hoàn toàn mất sạch luân lư, đạo đức, tạo thành sự biến hóa trên lớp vỏ của toàn bộ địa cầu, đại lục bị ch́m xuống đáy biển. Nơi ấy nay chính là Đại Tây Dương. V́ sao gọi là Đại Tây Dương ̣̣̣(Atlantic Ocean)? Thuở ấy, quốc gia có nền khoa học kỹ thuật phát triển nhất được gọi là Đại Tây Quốc (Atlantis). Do toàn thể lớp vỏ trái đất nẩy sanh biến hóa, lục địa ch́m xuống, đất đai mới nổi lên, tức là địa đồ như trong hiện thời. Chúng tôi ở Mỹ, tức là mười mấy năm trước khi ở Mỹ, đă thấy một tấm bản đồ. Bản đồ ấy nói rơ, từ năm 2000 cho đến năm 2100, toàn thể thế giới sẽ nẩy sanh biến hóa, cũng gần giống như Á Đặc Lan Đề Tư thuở ấy, khá nhiều lục địa bị ch́m xuống biển, trong biển cũng có không ít lục địa nổi lên. Khí hậu nẩy sanh biến hóa rất lớn, nhiệt đới biến thành hàn đới, hàn đới biến thành nhiệt đới, trục tâm của địa cầu thay đổi. Do sự biến hóa ấy, chúng ta biết là những sinh vật trên địa cầu chẳng thể sống sót. Do nhiệt đới đột nhiên biến thành hàn đới, [các sinh vật thuộc nhiệt đới] chẳng thể thích ứng; hàn đới biến thành nhiệt đới, cũng chẳng thể thích ứng[4]. Đại ách nạn, là ách nạn chưa từng có, chẳng phải là tiểu tai nạn, làm như thế nào đây?

          Do vậy, trong hiện thời, tôi thường nói với những đồng học khá thân cận: Chúng ta phải tận toàn tâm toàn lực, phải nghiêm túc tu tŕ, tŕ giới niệm Phật, hồi hướng công đức ấy cho hết thảy chúng sanh trong pháp giới. Đừng nghĩ sức của chúng ta quá yếu mỏng, [cứ hồi hướng], sẽ dấy lên tác dụng. Thứ nhất là đối với chính ḿnh, chính ḿnh phải có cái tâm cảnh giác cao độ. Tai nạn xảy đến, chớ hoảng sợ, chớ kinh hăi. Liễu giải rơ ràng đấy là do cộng nghiệp của chúng sanh trên địa cầu cảm vời, chúng ta có nơi tốt lành để đến, đến thế giới Cực Lạc, đến các cơi Phật. Những kẻ theo tôn giáo không tin những điều này, họ có thể lên cơi trời. Chẳng đoạn dục! Dục Giới có sáu tầng trời, hoàn cảnh sống trong [các tầng trời] Tứ Vương, Đao Lợi, Dạ Ma, Đâu Suất đều tốt hơn địa cầu quá nhiều, quư vị có thể sanh vào thiên đạo. Đấy gọi là “tùy ư tự tại, sở hành vô ngại”. Nếu quư vị chẳng có sự nhận biết này, chẳng chuẩn bị cho chuyện này, mai sau, sẽ bị phiền toái. Tai nạn hiện tiền, trở tay không kịp, tâm ư hoảng loạn, nhất định sẽ đọa vào tam đồ, sai mất rồi! [Ách nạn được nói] trong bài kệ này bao gồm những bệnh tật nho nhỏ, những trở ngại nho nhỏ của cá nhân cho đến [những tai nạn ảnh hưởng tới] toàn thể nhân loại, tức là “ngày tận thế” như các tôn giáo ngoại quốc thường nói. Chúng ta chớ nên không biết.

          “Đương nguyện chúng sanh” ở chỗ này, tối thiểu là câu “đương nguyện chúng sanh” của chúng ta phải khái quát toàn thể nhân loại, tức là toàn thể nhân loại trên địa cầu, c̣n phải bao gồm tất cả các sinh vật trên địa cầu, tất cả chúng sanh sống trên quả địa cầu này. Đọc kinh Hoa Nghiêm, chúng ta chớ nên có nghi vấn. Trong những phần trước, chúng ta đă đọc thấy quá nhiều. Trong bộ kinh này, đức Phật đă nói hơn ba mươi loại chúng sanh, chúng ta hăy nên tin tưởng lời Phật. Chỗ thù thắng nhất trong cảnh giới do đức Phật đă nói chính là đức Phật trọn chẳng dạy chúng ta chỉ tin Ngài là đúng, chẳng phải vậy! Chỉ tin Ngài, sẽ biến thành tôn giáo, sẽ biến thành mê tín! Đức Phật chẳng như vậy. Đức Phật dạy chúng ta hăy chứng minh lời Ngài dạy là sự thật. Giáo huấn kiểu này cao minh tột cùng. V́ thế, Phật pháp nói “tín, giải, hành, chứng”. Cuối cùng nhất định là quư vị phải tự ḿnh chứng minh, quư vị mới thật sự được thọ dụng. Nếu bản thân quư vị chẳng thể đích thân chứng, chỉ dừng lại ở chỗ tin tưởng lời Phật dạy, quư vị chẳng khai ngộ, chẳng thể chứng quả. Chỉ có thể coi quư vị vẫn là một Phật tử kiền thành, nhưng quư vị cũng đạt được lợi ích. V́ sao? Quư vị có thể y giáo phụng hành, khẳng định là quư vị sẽ đoạn ác, tu thiện, sẽ tích lũy công đức. Lợi ích chính là quư vị chẳng đọa tam đồ, chẳng bị đọa trong ác đạo, đời sau c̣n có thể hưởng phước báo nhân thiên. Thế giới này hủy diệt th́ sao? Thế giới hủy diệt, trong thế giới khác có nhân đạo, quư vị sẽ di dân đến thế giới khác, đời sau không nhất định ở trong thế giới này.

          Trên quả địa cầu này, nếu như có phước, ḷng người hướng thiện, hết thảy sẽ đều có chuyển biến tốt đẹp, quư vị có phước báo, sẽ sanh vào chỗ này. Trên quả địa cầu này không thích hợp, hoàn cảnh chẳng thích hợp cho quư vị cư trụ, tức là chẳng có phước, do phước báo của quư vị vượt trỗi hoàn cảnh, quư vị sẽ chẳng thọ sanh ở nơi đây. Đức Phật nói: Thế giới vô lượng vô biên, những tinh cầu có người cư trụ chẳng biết là bao nhiêu! Quư vị tùy ư tự tại văng sanh, sở hành vô ngại. Nhưng đối với thế giới Sa Bà, Sa Bà là một đại thế giới, tức là tam thiên đại thiên thế giới. [Trong một tam thiên đại thiên thế giới], những tinh cầu có người sống cũng hết sức nhiều. Hoàn cảnh trong thế giới này không tốt, đă bị con người phá hư, quư vị sẽ đến chỗ có hoàn cảnh tốt đẹp.

          Nói thật ra, đến thọ sanh trong một đường nào của lục đạo, cũng chẳng phải là do quỷ thần ấn định, chẳng phải vậy. Do điều ǵ quyết định? Do nghiệp lực quyết định, quư vị sẽ sanh về một nơi nào đó, nhất định là tương ứng với nghiệp lực của quư vị. Tâm của quư vị thiện, sẽ chẳng đến chỗ những kẻ ác tụ hội, sẽ chẳng thể đến đoàn thể ấy, v́ sao? Quư vị chẳng thích họ, họ cũng không ưa quư vị. Quư vị đến chỗ nào, chỗ ấy nhất định là tương ứng. Quư vị rất thích đoàn thể ấy, đoàn thể ấy thấy quư vị cũng có thể tiếp nhận, rất ưa chuộng, vậy là sẽ đến đó. Xả thân, thọ thân trong lục đạo là chuyện như vậy đó! Chẳng phải là do Thượng Đế làm chủ tể, chẳng phải là do Diêm Vương làm chủ tể, chẳng phải là do thần tiên làm chủ tể, mà cũng chẳng phải là do Phật, Bồ Tát làm chủ tể. V́ thế, Phật pháp nói hay quá: “Nghiệp lực lôi dắt”. Cái nghiệp dẫn đến thọ sanh trong đường nào được gọi là “dẫn nghiệp” (引業), hướng dẫn quư vị thọ sanh. Những chuyện này và sự thật chân tướng này được Phật pháp giảng thấu triệt nhất, giảng viên măn nhất, mới thật sự có thể giúp cho quư vị giải quyết vấn đề, thật sự giúp quư vị giác ngộ, giúp quư vị ĺa khổ, được vui.

          Huống hồ Phật pháp lại hoàn toàn chẳng giới hạn trong giai đoạn này, hy vọng quư vị lấy điều này làm cơ sở để không ngừng tiến cao hơn. Tiến lên tới Chánh Giác, quư vị sẽ hoàn toàn hiểu rơ, sẽ chứng đắc. Đối với trạng huống của lục đạo mười pháp giới như đức Phật đă dạy, quư vị đích thân chứng, thông đạt, hiểu rơ “tánh, tướng, sự, lư, nhân, quả” trong ấy. Chứng đắc chẳng rốt ráo th́ là Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả trong Tiểu Thừa. Nếu tính cả Tứ Hướng, sẽ là bảy tầng cấp, [tầng cấp] thứ tám là A La Hán, hoàn toàn chứng đắc viên măn. Sự chứng đắc ấy chính là liễu giải mười pháp giới. Ngoài mười pháp giới, các Ngài sẽ không biết. Những vị ấy hoàn toàn hiểu rơ [những chuyện] thuộc trong mười pháp giới. Trong Đại Thừa, cảnh giới giống như vậy chính là Bồ Tát thuộc địa vị Thất Tín trong Hoa Nghiêm. Bồ Tát thuộc địa vị Thất Tín hiểu rơ ràng, hiểu minh bạch tam giới lục đạo và mười pháp giới. Tầng cấp đoạn chứng của Ngài và A La Hán bằng nhau, nhưng trí huệ [của Thất Tín Bồ Tát] cao hơn A La Hán quá nhiều. Đức hạnh cũng cao hơn quá nhiều, A La Hán chẳng thể sánh bằng! Ắt cần phải phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân; khi ấy, quư vị sẽ có thể thông đạt trọn khắp pháp giới hư không giới.

          V́ thế, đức Phật dạy quư vị tin, đă tin rồi phải liễu giải. Quư vị chẳng lư giải, niềm tin ấy chẳng thể coi là chân tín được. Sau khi đă liễu giải, vẫn chưa được, c̣n phải thực hiện được. [Thực hiện] trong cuộc sống hằng ngày, rèn luyện trong xử sự, đăi người tiếp vật, trải qua sự việc để rèn luyện cái tâm. Quư vị thấy những ǵ quư vị tin và hiểu trong sự thật có phải là đúng như vậy hay không, hăy chứng minh nó. Tín, giải, hành, chứng mà! Phật làm ǵ có mê tín? Chuyện ǵ cũng đều phải do quư vị đích thân chứng đắc; đấy là chỗ thù thắng khôn sánh trong sự giáo dục của đức Phật. Những điều đức Phật đă nói là do Ngài đích thân chứng đắc. Những ǵ quư vị đă học, nhất định là sẽ có thể chứng đắc! Chứng và liễu giải trạng huống của toàn thể vũ trụ, vạn sự vạn vật trong vũ trụ. Tánh là lư thể, vạn sự vạn vật do đâu mà có? Căn nguyên chung là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Đến tầng cấp nào th́ mới có thể chứng đắc hai câu ấy? Phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, sẽ chứng đắc. Vừa mới tiếp xúc, vừa mới thấy, đích thân chứng, sẽ hiểu rơ ràng hay không rơ ràng? Chẳng rơ ràng! Mơ hồ, vẫn chưa rơ ràng cho lắm! V́ sao? Tập khí phiền năo vô thỉ vô minh quá nặng. V́ thế, quư vị thấy chân tướng của toàn thể vũ trụ dường như có, dường như không, mơ hồ, nhưng khẳng định là đă có tín tâm đối với giáo huấn của đức Phật, chẳng chống trái, giống như kinh Kim Cang đă nói, cũng tức là tín tâm đă kiên định, quyết định chẳng bị dao động. V́ sao? Quư vị đă mơ hồ thấy cảnh tượng ấy, nhất định sẽ y giáo tu hành. Ở trong cảnh giới ấy, năng lực gần như khôi phục. Năng lực ấy chính là năng lực của lục căn, tức Thiên Nhăn, Thiên Nhĩ, Tha Tâm, Túc Mạng, Thần Túc, Lậu Tận, quư vị khôi phục toàn bộ. Lậu Tận là chẳng có phiền năo, hoàn toàn đoạn chấp trước. Tập khí chấp trước cũng chẳng có. Hoàn toàn đoạn phân biệt, tập khí phân biệt cũng chẳng có. Đoạn vô minh, tập khí vô minh chẳng đoạn, ở trong cảnh giới như thế đó. V́ thế, vị ấy đúng là tùy ư tự tại.

          Tùy ư tự tại nghĩa là như thế nào? Từ vô lượng kiếp xa xưa đến nay, đă từng qua lại, từng có quan hệ với tất cả hết thảy lục đạo chúng sanh trong khắp pháp giới hư không giới. Mối quan hệ ấy bất luận là thiện hay ác, nói chung là có quan hệ. Có quan hệ, tức là chúng sanh có duyên đắc độ, người ấy có duyên với ta. Duyên bất luận là thiện duyên hay ác duyên, người ấy và ta có duyên. Người ấy có cảm, ta sẽ có ứng. V́ thế, Bồ Tát, tức là bậc Pháp Thân Bồ Tát, phá một phẩm vô minh th́ là Pháp Thân Bồ Tát, phần chứng Như Lai, hễ mười phương chúng sanh có cảm, quư vị sẽ tự nhiên có ứng. “Đáng nên dùng thân ǵ để độ, bèn hiện thân ấy”. Khi ấy, thần thông rộng lớn, khắp pháp giới có cảm, khắp pháp giới đồng thời có ứng. Điều này chẳng thể nghĩ bàn, tự tại vô ngại. Nếu chỗ này có cảm, quư vị bèn ứng, chỗ kia lại có cảm, quư vị chẳng có cách nào ứng; vậy là quư vị chẳng tự tại, có chướng ngại!

          Do vậy, phải hiểu: Đừng nói là A La Hán, A Na Hàm tức Tam Quả trong Tiểu Thừa đă có Thần Túc Thông. Thần Túc Thông là có năng lực biến hóa. Từ trong Đại Tạng Kinh, chúng ta xem những câu chuyện trong Cao Tăng Truyện, Thần Tăng Truyện, những câu chuyện ấy đều là thật, chẳng giả. Có một vị pháp sư đến từ Ấn Độ, hoằng pháp ở Trung Hoa. Khi tuổi đă cao, lăo nhân gia muốn trở về. Tín đồ rất đông, mọi người đều hy vọng mở tiệc tiễn hành pháp sư, mời pháp sư dùng cơm để cúng dường. Rất nhiều người mời cùng một ngày, pháp sư thảy đều đáp ứng. Đương nhiên là hễ mời th́ ước hẹn từ vài bữa trước, [sẽ đăi đằng] vào hôm trước ngày Ngài khởi hành. Đại khái là pháp sư đều chấp thuận. Đến lúc đó, theo kinh điển ghi chép, năm trăm nhà Ngài đều đến ứng cúng toàn bộ. Đương nhiên là phàm phu không biết, đều rất hoan hỷ: “Hôm nay pháp sư đến nhà ta, ta hết sức hoan hỷ, Ngài rất coi trọng ta”. Ngày hôm sau tiễn đưa, tiễn đến trường đ́nh mười dặm[5], ai nấy đều rất hoan hỷ, [khoe khoang] “ngày hôm qua pháp sư ở nhà của tôi. Tôi cúng dường, Ngài đến ứng cúng”. Kẻ khác nói: “Chẳng đúng! Tại nhà của tôi chớ!” Kẻ khác lại nói: “Ở nhà của tôi chớ!” Nói qua nói lại, mới biết vị pháp sư ấy có thuật phân thân. Cùng một lúc, Sư có thể đến ứng cúng tại năm trăm nhà, quư vị nói đấy có phải là “tùy ư tự tại, sở hành vô ngại” hay không? Đấy là tiểu thần thông, chẳng phải là [thần thông] của A La Hán hoặc thánh nhân Tam Quả.

          Trước kia, tôi học Giáo với thầy Lư ở Đài Trung. Thầy Lư bảo tôi: “Người Hoa có phước báo. Từ xưa tới nay, triều đại nào cũng đều có rất nhiều vị cao tăng đại đức toàn là bậc chứng quả thừa nguyện tái lai”. Những vị theo đuổi việc dịch kinh điển, thầy Lư bảo tôi, đều là từ Tam Quả trở lên, tức là như tôi vừa mới nói, từ A Na Hàm trở lên. V́ thế, dịch kinh điển chẳng phạm sai lầm, dịch hay như thế. Những vị ấy cũng hiểu rất rơ ràng, rất rành rẽ: Trong tương lai, kinh điển tiếng Phạn sẽ biến mất. Lưu truyền về sau, lưu truyền tới đời Mạt Pháp có thể là kinh điển bằng tiếng Hán. V́ thế, kinh điển được phiên dịch hay khéo, chẳng sai lệch tí nào! Văn tự c̣n bóng bẩy, đẹp đẽ hơn Phạn văn. Những vị ấy biết quá khứ, biết vị lai. Pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật là chín ngàn năm, có lẽ nào các vị ấy không biết? Đương nhiên là biết rơ ràng. Chúng ta đọc những sách ấy, những sách ấy tuyệt đối chẳng giả, có tên họ, có địa chỉ, hạnh nghiệp cả đời được chép trong Cao Tăng Truyện. Trong Cao Tăng Truyện, trong mỗi đời gần như có đến mấy trăm vị có thần thông!

          Đấy là ghi chép vào thời cổ, có kẻ lại hoài nghi: “Cổ nhân nói th́ chưa chắc đă đáng tin! Người hiện thời có [thần thông đạo hạnh như vậy] hay không?” Tôi biết có một vị như thế trong hiện thời. Thời đầu Dân Quốc, trong thời Kháng Chiến, vị ấy c̣n tại thế. Có lẽ cũng có những vị đồng tu biết Ngài, Kim Sơn Hoạt Phật, tức là pháp sư Diệu Thiện chùa Kim Sơn tại Trấn Giang, tỉnh Giang Tô. Vị Diệu Thiện này chẳng phải là sư Diệu Thiện ở Phổ Đà Sơn. Ngài Diệu Thiện của Phổ Đà Sơn thuộc thế hệ sau; vị này có trước, tên hiệu giống nhau! Chúng ta biết Ngài là do pháp sư Lạc Quan và pháp sư Chử Vân giới thiệu. Pháp sư Chử Vân đi thăm hỏi khắp nơi, hỏi han những sự tích truyền kỳ về pháp sư Diệu Thiện, viết ra bộ Kim Sơn Hoạt Phật. Nhưng pháp sư Lạc Quan đă từng ở chung một chỗ với Ngài, có hai lần, lần lâu nhất gần như là bốn tháng. Đương nhiên là [những chuyện do pháp sư Lạc Quan kể lại] chẳng giả tí nào! Có rất nhiều điều thần dị khiến cho kẻ khác chẳng thể lường được!

          Dựa theo h́nh dung của Ngài, pháp sư Diệu Thiện thuộc loại nhân vật có đôi chút giống như Tế Công Hoạt Phật được nói trong lịch sử. Quư vị thấy Ngài suốt ngày từ sáng đến tối lôi thôi, nhếch nhác, chẳng câu nệ h́nh tích, dở điên, dở khùng, nhưng Ngài có rất nhiều chỗ khiến cho kẻ b́nh phàm chẳng có cách nào lư giải được! Ngài cũng chẳng ở trong chùa miếu, sống trong nhà cư sĩ. Hàng cư sĩ đều rất thích Ngài, nhân duyên rất tốt. Trong chùa miếu có chuyện ǵ, Ngài mới quay về giúp đỡ. Quư vị thấy Ngài điên điên, khùng khùng, một năm suốt bốn mùa mặc một bộ quần áo, khoác một cái áo dài, cũng chưa hề giặt, suốt đời chưa hề giặt giũ! Bộ quần áo ấy một năm suốt bốn mùa luôn khoác trên thân. Cổ áo đóng hờm rất dầy, bẩn thỉu, nhưng quư vị ngửi thấy thơm tho, lại c̣n có thể trị bệnh! Người nào mắc bệnh lạ, đến ngửi cái áo ấy một lượt, bệnh đă khỏi hẳn! Ngài chữa bệnh cho kẻ khác cũng thế, chà đất trên thân ṿ thành một viên cho người ta uống. Thật sự khỏi bệnh! Gần như chẳng khác truyện Tế Công cho mấy! Cúng dường Ngài, người ta cúng dường tiền, Ngài nuốt luôn. Quư vị nói xem, tiền bẩn lắm, bao nhiêu người sờ vào, mọi người đều biết tiền rất mất vệ sinh, Ngài ăn tuốt. Đi đường, trông thấy đồng nát, sắt vụn vứt trên mặt đất, Ngài nhặt lấy ăn luôn, coi như chẳng có chi cả!

          Có một lần, có tín đồ cúng dường, rất nhiều tín đồ rất hoan hỷ, bưng một chén cơm đến cúng dường lăo ḥa thượng. Lăo ḥa thượng rất hoan hỷ, ăn ngay. Người khác lại dâng một chén, Ngài ăn hết. Kết quả tính ra là hai mươi mấy chén, Ngài ăn toàn bộ. Ngày hôm ấy, pháp sư Lạc Quan có mặt. Pháp sư Lạc Quan bèn hỏi Ngài: “Chẳng phải là thầy đă ăn quá nhiều ư? Làm sao thầy có thể chịu được?” Pháp sư Diệu Thiện đáp: “Không Hữu bất nhị”, Ngài nói một câu như vậy. Vài ngày không ăn cũng chẳng sao! Hễ ăn, bèn nuốt mấy chục chén cũng chẳng sao! Khác người mà! Người khác trong tâm nghĩ chuyện ǵ, Ngài đều biết. Trong tâm quư vị dấy vọng tưởng, Ngài đều biết. Đấy là chuyện vào thời đầu Dân Quốc. Lạc Quan và Chử Vân đều là bạn tốt của tôi, tôi tin họ chẳng thể bịa chuyện lừa gạt chúng ta! Sách Hoạt Phật Truyền Kỳ Lục rất phổ biến tại Đài Loan. Hiện thời, hai vị pháp sư viết sách đă chẳng c̣n, đó là [chuyện thần dị của bậc cao tăng] thời cận đại. Cận đại c̣n có th́ chúng ta có thể suy ra: Những điều được ghi chép trong Cao Tăng Truyện và Thần Tăng Truyện quyết định đáng tin, chúng ta chẳng có lư do ǵ để hoài nghi!

          Phật pháp dạy chúng ta “thân chứng” (親證, đích thân chứng nghiệm); trong khi giảng kinh, chúng tôi thường nói [để thân chứng], quư vị chỉ cần buông xuống chấp trước. V́ sao? Lục Thông là bản năng (本能, năng lực sẵn có) của quư vị! Kinh nói rất hay: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai. Chỉ v́ vọng tưởng, chấp trước mà chẳng thể chứng đắc”. V́ thế, chỉ cần quư vị buông chấp trước xuống, năng lực của quư vị sẽ khôi phục một phần. Quư vị là A La Hán, quư vị có thể đạt được Chánh Giác, Túc Mạng Thông của quư vị có thể biết năm trăm đời quá khứ và năm trăm đời vị lai. V́ thế, đức Phật dạy chúng ta “thân chứng”. Chứng bằng cách nào? Buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, sẽ thành Phật. Chẳng buông xuống vọng tưởng, chẳng buông xuống phân biệt; trước hết, hăy buông xuống chấp trước. Có thể buông xuống chấp trước tám phần, chín phần, sẽ đắc quả Tam Quả A Na Hàm, quư vị sẽ có năng lực phân thân. Nay chúng ta chẳng có cách nào phân thân, [nếu] đạt đến tŕnh độ này, quư vị sẽ có thể phân thân. Nếu nói về Thiên Nhăn và Thiên Nhĩ th́ Sơ Quả đă có. Hàng Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín trong kinh Hoa Nghiêm có hai thứ thần thông là Thiên Nhăn Thông và Thiên Nhĩ Thông, hai thứ này dễ đạt nhất. Do vậy, đức Phật dạy chúng ta cầu chứng. Đạt tới tầng cấp này, năng lực của quư vị sẽ khôi phục. Đấy là năng lực sẵn có, chẳng có ǵ lạ lùng. Nay ta gọi [những năng lực ấy] là “công năng đặc dị”. V́ sao quư vị không làm? Nay thời gian đă hết rồi, chúng tôi nói tới chỗ này!

**

          Chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Chúng ta xem đoạn thứ hai, [lời Sớ chú giải]:

 

          (Sớ) Xuất gia thọ giới thời, hữu thập ngũ nguyện.

          ()出家受戒時,有十五願。

          (Sớ: Khi xuất gia thọ giới, có mười lăm nguyện).

         

          Phẩm Tịnh Hạnh chủ yếu vẫn là nói với người xuất gia. V́ thế, đối với người xuất gia, [kinh] nói khá nhiều, đối với hàng tại gia Bồ Tát chỉ nói mười một điều, tức là mười một nguyện. Trong cuộc sống hằng ngày, đối với những đại nguyện của người xuất gia, hàng tại gia cũng đều có thể học tập. Chúng ta xem bài kệ thứ nhất:

         

          (Kinh) Xả cư gia thời, đương nguyện chúng sanh, xuất gia vô ngại, tâm đắc giải thoát.

          ()捨居家時。當願眾生。出家無礙。心得解脫。

          (Kinh: Khi ĺa bỏ nhà, nguyện cho chúng sanh, xuất gia vô ngại, tâm được giải thoát).

 

          “Xả cư gia” cũng chẳng phải là một chuyện dễ dàng! V́ sao sẽ có chướng ngại? Xác thực là chướng ngại rất nhiều. Thứ nhất là nếu quư vị có cha mẹ, cha mẹ không đồng ư, quư vị sẽ chẳng thể xuất gia. Nếu quư vị có vợ con, vợ con không đồng ư, cũng chẳng thể xuất gia. Đây là nêu ra hai thí dụ; do vậy, chướng duyên xuất gia rất nhiều. Làm sao quư vị có thể khiến cho mọi người đều hoan hỷ, tán thành? Đương nhiên là quư vị tu học tại gia rất khá, người nhà quư vị đều hiểu rơ: Sau khi [quư vị] xuất gia, đối với người nhà, cũng như đối với tổ tông, đều có đại lợi ích. Trong gia đ́nh có một người tu hành chứng quả, ngạn ngữ nói là “nhất tử thành Phật, cửu tổ thăng thiên” (một đứa con thành Phật, tổ tiên chín đời đều sanh lên trời). “Thành Phật” là thành Phật kiểu nào? Thưa cùng chư vị, chỉ cần chứng đắc quả Tu Đà Hoàn của Tiểu Thừa, hoặc Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín trong Đại Thừa, một nhà quư vị người sống lẫn người đă khuất đều tăng phước. “Người đă khuất” là tổ tiên trong quá khứ, “người sống” là quyến thuộc người nhà trong hiện tại, đều được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần che chở. Điều này là khẳng định. Nếu quư vị xuất gia mà chẳng thật sự tu hành, những chuyện tốt đẹp ấy đều chẳng có, cũng có thể là người nhà quyến thuộc của quư vị bị phiền phức lây! Hai cực đoan ấy, một thiện, một ác, chớ nên không hiểu!

          V́ thế, trước hết là phải hiểu rơ vấn đề xuất gia! V́ sao quư vị xuất gia? Phát cái tâm ǵ? Nếu nói, ta cảm thấy xuất gia rất tốt, bèn mong xuất gia. Chẳng thể được! Xuất gia sẽ có sự nghiệp xuất gia, sự nghiệp ấy là ǵ? Khi Huyền Trang đại sư xuất gia, thuở ấy, trải qua khảo thí, vị quan trắc nghiệm khảo hạch Ngài đă hỏi Sư: “Ngươi xuất gia có chí nguyện và hy vọng là ǵ?” Sư nói tám chữ: “Viễn thiệu Như Lai, cận quang đại pháp” (Xa là nối tiếp Như Lai, gần là rạng rỡ đại pháp). Viên quan khảo thí lập tức chấm đậu, lư do này chánh xác! “Thiệu” () là nối tiếp. Nói theo phương diện xa xôi, ta mong kế thừa sự nghiệp của Thích Ca Mâu Ni Phật. Sự nghiệp của đức Phật là ǵ? Hoằng pháp, lợi sanh. Nói theo hiện tiền, ta phải hoằng dương Phật giáo rạng ngời; đấy chính là “cận quang đại pháp”. Kế thừa di giáo của Thích Ca Mâu Ni Phật, hoằng dương Phật pháp rạng ngời trong thời đại này. Nếu quư vị có tâm nguyện như vậy, đương nhiên là chẳng có vấn đề ǵ. Đấy là ǵ? Thật sự phát tâm làm Phật, biến Tứ Hoằng Thệ Nguyện của đức Phật thành nguyện vọng của chính ḿnh. Thứ nhất là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, thứ hai là “phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Xuất gia phải trọn đủ đại tâm đại nguyện.

          Quư vị làm từ chỗ nào? Hăy bắt đầu thực hiện từ đoạn phiền năo. Đoạn phiền năo như thế nào? Tŕ giới. Quư vị không tŕ giới, làm sao có thể đoạn phiền năo cho được? Chúng ta phải thông đạt, hiểu rơ chuyện này. Do vậy, thật sự mong xuất gia, trước hết là phải học tập, trước hết là phải làm như thế nào? Tại gia học Phật. Tại gia học Phật làm được Ngũ Giới, Thập Thiện, quư vị sẽ thật sự là “thiện nam tử, thiện nữ nhân” danh phù hợp thực! Quư vị phát tâm xuất gia có đại hoằng nguyện như vậy, sẽ có thể làm được. Do vậy, trước hết là điều thứ nhất trong Tịnh Nghiệp Tam Phước, tại gia học Phật: “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện Nghiệp”. Giữ được “chẳng sát sanh”, từ trong nội tâm, tôn trọng sanh mạng, yêu mến, bảo vệ, quư vị mới có thể thực hiện điều thứ nhất. Quả thật, Phật giáo Trung Hoa đă làm được viên măn. “Ăn chay”, chẳng c̣n kết oán cừu với chúng sanh, quư vị mới đạt được tư cách xuất gia!

          Điều thứ hai là “không trộm cắp”. Tôi thường nói là “quyết định chẳng có ư niệm chiếm tiện nghi của kẻ khác, chớ nên lợi dụng kẻ khác, chớ nên lợi dụng tiện nghi từ xă hội, lợi dụng tiện nghi của quốc gia càng chẳng thể!” Lợi dụng tiện nghi của quốc gia là ǵ? Ví như hiện thời [quốc gia] thâu thuế, [kẻ đóng thuế] luôn hy vọng có thể nộp thuế ít hơn! Kiếm được nhiều tiền hơn, đóng thuế ít hơn; cái tâm ấy là tâm trộm cắp! Trong Anh Lạc Giới Kinh, đức Phật đă dạy: “Bất lậu quốc thuế, bất phạm quốc chế” (Không trốn thuế của quốc gia, chẳng trái phạm luật lệ quốc gia). “Quốc chế” (國制) là pháp luật của quốc gia. Quyết định chẳng trái phạm pháp luật của quốc gia, quyết định chẳng trốn thuế. Đối với người, đối với vật, chỉ hoan hỷ thí xả, quyết định chẳng có hành vi và ư niệm xâm phạm tài vật của kẻ khác. Tại gia học Phật làm được, sẽ là căn bản để xuất gia.

          Đă phát tâm xuất gia, xuất gia không chỉ là chẳng tà dâm, [mà c̣n là] đoạn sạch dâm dục. Trong kinh Phật và cổ đại đức thường nói, từ vô lượng kiếp đến nay, hết thảy chúng sanh đă tạo tác các ác nghiệp, kết thành oán hận đối với hết thảy chúng sanh, nặng nề nhất là hai chuyện. Thứ nhất là giết. Giết dễ phạm nhất! Đối với chuyện ẩm thực, ăn thịt là dễ phạm nhất. Những tiểu động vật, như muỗi, kiến, gián, ruồi, hễ trông thấy bèn muốn giết nó, hữu ư hay vô t́nh [mà sát hại] đều là sanh mạng, đều là nghiệp đă tạo bởi cái tâm sát. Khó đoạn nhất là dâm dục, đức Phật đă dạy rất rơ ràng: Dâm dục là căn bản gây luân hồi sanh tử trong lục đạo. Nhà Phật thường nói: “Ái chẳng nặng, chẳng sanh Sa Bà”. Luân hồi trong lục đạo của thế giới Sa Bà th́ nhân tố đầu tiên là ǵ? Ái dục! Ái dục là nhân tố thứ nhất của lục đạo luân hồi. Do vậy, xă hội hiện thời chẳng cần luân lư, đạo đức, không tin nhân quả, phóng túc dục vọng, cuồng hoan, đó là chuyện ǵ vậy? Năm cái rễ của địa ngục! Năm cái rễ chính là ngũ dục, tức tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê. Đấy là năm cái rễ của địa ngục. Quư vị thấy năm điều tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê đều đầy đủ, hễ có một điều trong năm điều, nó sẽ kéo quư vị vào địa ngục. Hiện thời, năm sợi dây thừng ấy thảy đều lôi kéo quư vị, quư vị chạy đằng nào? Nhất định phải cảnh giác cao độ chuyện này!

          Quư vị có tin “lục đạo luân hồi” hay không? “Tôi không tin!” [cứ nghĩ] “tôi không tin sẽ chẳng có!” Được rồi! Đối với Phật cũng không tin tưởng. Không tin vẫn có! Bất luận quư vị có tin những điều ấy hay không, chúng là sự thật! Chúng tôi quen một người bạn. Người bạn ấy quen biết tôi cũng đă mấy năm, hoàn cảnh sống cũng rất khá. Những đĩa CD giảng kinh của tôi, người ấy cũng nghe đôi chút, nhưng không quy y. Năm ngoái, chúng tôi ở Bắc Kinh c̣n gặp mặt vài lần. Sau khi tôi rời khỏi Bắc Kinh, đại khái là chưa được mười hôm, bạn bè ở Bắc Kinh gọi điện thoại báo cho tôi biết ông ta đă qua đời. Chúng tôi nghe tin cũng rất áy náy! Sau đấy, chưa đầy một tháng, tại Thẩm Quyến, có một vị đạo trưởng cũng có thông linh, chúng ta thường nói là “công năng đặc dị”. [Vị đạo trưởng ấy] có đôi chút công năng đặc dị như vậy đó. Ông ta (người bạn đă khuất) đến chỗ vị đạo trưởng, thỉnh đạo trưởng báo tin cho tôi để nhận sai: “Quen tôi đă nhiều năm như thế, chẳng học Phật đàng hoàng”! Ông ta nói thuở ấy nửa tin nửa ngờ; nay biết là thật sự, hối hận chẳng kịp! V́ qua đời c̣n chưa đến bốn mươi chín ngày, chúng ta thường thấy là thuộc giai đoạn Trung Ấm, tập khí c̣n rất nặng. Ông ta chẳng có tiền dùng, muốn chúng tôi đốt cho một ít tiền giấy. Lúc sống, thích hút thuốc bằng tẩu, vẫn mong chúng tôi đốt cho ông ta một ít sợi thuốc! Sau khi vị đạo trưởng ấy báo tin, chúng tôi tin đấy là sự thật, nói rất giống. V́ thế, chúng tôi cũng đốt tiền giấy và đốt sợi thuốc cho ông ta. Tôi c̣n lập cho ông ta một bài vị ở đây: “Ông đă hối hận, nay đă biết, hăy khéo nghe kinh, cùng niệm Phật với chúng tôi trong Niệm Phật Đường, cầu sanh Tịnh Độ”. Chuyện này chẳng giả, trong Học Hội có rất nhiều vị đồng tu đều biết.

          Do vậy, xuất gia th́ phải đoạn tập khí phiền năo. Thân nghiệp giết, trộm, dâm phải đoạn, chớ nên tạo [th́ mới] trọn đủ điều kiện xuất gia. Đối với khẩu nghiệp, chẳng vọng ngữ. Nói cách khác, dẫu hữu ư hay vô t́nh, đều chớ nên gạt người! “Không lưỡng thiệt”: Lưỡng thiệt (兩舌) là thêu dệt thị phi. Bất luận là trước mặt hay sau lưng, đừng nên nói lỗi lầm của kẻ khác. Lục Tổ đại sư thường dạy chúng ta: “Nếu ai thật tu đạo, chẳng thấy lỗi thế gian”. Chính Ngài nói với người khác, Ngài nói: “Ta chỉ thấy lỗi của chính ḿnh, chẳng thấy lỗi của người khác”. Giáo huấn này hết sức trọng yếu. “Không ỷ ngữ”: Ỷ ngữ (綺語) là hoa ngôn xảo ngữ, đều nhằm lừa gạt chúng sanh. Ăn nói rất êm tai, chẳng phải là sự thật. “Không ác khẩu”: Ác khẩu (惡口) là ăn nói rất thô lỗ, khiến cho kẻ khác nghe xong rất khó chịu. Đấy là ác khẩu; đó là ǵ? Khẩu nghiệp dễ phạm nhất, là giới trọng yếu trong Thập Thiện. Thập Thiện là điều kiện phải trọn đủ trước khi thọ Tam Quy. Chẳng có điều kiện này, sẽ chẳng thể thọ Tam Quy. Đó gọi là “khẩu tứ”, tức là bốn thứ lầm lỗi [nơi khẩu nghiệp]. Ư là khởi tâm động niệm, không tham, không sân, không si. Đấy là Thập Thiện Nghiệp. Đối với hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian chẳng tham luyến. Đối với chuyện chẳng vừa ư, bất luận là người, sự, hay vật, chẳng sân khuể. Hiểu rành mạch, hiểu rơ ràng lư sự, chẳng c̣n mê hoặc. Đó gọi là “không si”. Trọn đủ điều kiện như vậy th́ mới có thể tiếp nhận Tam Quy Ngũ Giới.

          Hiện thời, chúng ta truyền trao Tam Quy Ngũ Giới, có yêu cầu như vậy hay không? Chẳng có! V́ thế, trong hiện thời, sau khi thọ Tam Quy Ngũ Giới, hăy khuyên họ học, phải nghiêm túc học. Học một điều, quư vị sẽ đạt được một điều. Trước kia, Chương Gia đại sư đă dạy tôi chuyện này. Ngài nói: “Thọ giới chẳng thật, tŕ giới là thật. Có thể thọ giới”. Khi thọ giới, đừng nghĩ chính ḿnh đă đắc giới; đó là sai lầm! Sau khi đă thọ giới, hăy khéo học giới. Học một điều, sẽ đạt được một điều. Học hai điều, sẽ đạt được hai điều. Ví như Ngũ Giới, quư vị có thể làm được một, hai điều, [sẽ là] Thiểu Phần Ưu Bà Tắc. Có thể làm được ba, bốn điều, th́ là Đa Phần Ưu Bà Tắc. Nếu cả năm điều đều làm được, Thập Thiện Ngũ Giới thảy đều làm được, sẽ là Cụ Túc Ưu Bà Tắc. Đấy đều là những thuật ngữ trong Phật học, cho phép quư vị thọ một điều. Thập Thiện là Phật pháp, là cơ sở và căn bản để học Phật. Nếu chẳng có mười điều ấy, sẽ là giả, chẳng thật, vậy th́ quư vị học Phật sẽ là như thầy Lư thường nói: “Quư vị làm chuyện thuộc về Phật học, chẳng phải là học Phật”. Học Phật th́ phải thật sự mong làm Phật, thật sự mong làm học tṛ của Phật, ta học tập theo thầy, bắt đầu từ chỗ này.

          Chúng ta quan sát cẩn thận xă hội hiện thời, [sẽ thấy] hàng tại gia học Phật chẳng làm được Thập Thiện. Thập Thiện chẳng làm được, vậy th́ Tam Quy Ngũ Giới chẳng cần phải nói nữa! Tam Quy Ngũ Giới được kiến lập trên cơ sở Thập Thiện. Xuất gia học Phật, hạn độ thấp nhất là Sa Di Luật Nghi. Sa Di Luật Nghi chẳng làm được, chẳng phải là người xuất gia. Sau đấy, quư vị nh́n lại những chướng ngại như kinh đă dạy, quư vị mới hiểu chẳng làm được những điều ấy (Thập Thiện, Sa Di Luật Nghi) th́ sẽ bị chướng ngại! Trong hàng tục gia, quư vị chẳng đoạn trừ những tập khí phiền năo ấy. Đó là những điều kiện ắt phải trọn đủ nếu muốn xuất gia. Hiện thời, v́ sao những năm qua chúng tôi đề xướng Đệ Tử Quy? V́ cơ sở của Thập Thiện Nghiệp Đạo là Đệ Tử Quy. V́ sao quư vị chẳng làm được Thập Thiện? Do chẳng học tập Đệ Tử Quy! V́ vậy, phải thực hiện từ căn bản của căn bản là Đệ Tử Quy.

          Chẳng phải là bảo quư vị niệm Đệ Tử Quy mỗi ngày, chẳng phải là bảo quư vị học giảng. Dẫu niệm thuộc làu đến mấy đi nữa, dù giảng hay đến mấy đi nữa, quư vị chẳng làm được, đều vô dụng! Quư vị phải làm sao để biến nó thành cuộc sống hằng ngày, biến thành tư tưởng hành vi của chính quư vị, quư vị sẽ có căn cội. Có căn cội ấy, [tức là] có căn cội Đệ Tử Quy, Thập Thiện Nghiệp Đạo sẽ không khó, rất dễ thực hiện. Từ đây mới hiểu hiện thời chúng ta chẳng làm được, là do chẳng được tiếp nhận giáo dục cơ sở. Giáo dục Nho gia chính là nền giáo dục truyền thống năm ngàn năm của Trung Hoa, là cơ sở của cơ sở, là căn bản của căn bản, quư vị nói xem nó quan trọng cỡ nào! Ngàn muôn phần chớ nên sơ sót! Thuở trẻ chúng ta đă sơ sót, hiện thời gần như đều thuộc lứa tuổi trung niên trở lên, ba mươi, bốn mươi vẫn phải học bổ sung. Chẳng vun quén căn cội ở chỗ này, sẽ chẳng thể thành tựu, mà niệm Phật văng sanh cũng chẳng nắm chắc!

          Niệm Phật thật sự có thể văng sanh, xác thực là do thiện căn sâu dầy trong đời quá khứ. Đời này tuy có tập khí, khi lâm chung, sức mạnh của một niệm Phật hiệu có thể khống chế tập khí phiền năo th́ có thể văng sanh. Chẳng thể khống chế được, sẽ không thể văng sanh. V́ thế, một niệm lâm chung hết sức trọng yếu. Do đó, nói: Công đức trợ niệm chẳng thể nghĩ bàn! Trợ niệm là khi lâm chung, giúp đỡ nhắc nhở người ấy, có thể văng sanh hay không là do một niệm cuối cùng của chính ḿnh. Một niệm cuối cùng khi tắt hơi là “A Di Đà Phật”, khẳng định sẽ văng sanh. Trong bốn mươi tám nguyện, trong nguyện thứ mười tám đă có nói [khi lâm chung, mười niệm hay một niệm đều có thể văng sanh], điều quan trọng nhất là một niệm ấy (một niệm trong khi lâm chung), then chốt là ở chỗ này. Niệm Phật lúc b́nh thường giống như luyện binh, một niệm lâm chung là đánh giặc. Một niệm cuối cùng hết sức chuẩn xác, chúng ta chớ nên không biết điều này! B́nh thường chúng ta niệm Phật thành thói quen, chính ḿnh chớ nên không đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, tu phước báo. Phước báo chẳng cần hưởng trong hiện tại, sẽ hưởng khi nào? Khi lâm chung sẽ hưởng phước, hưởng ǵ? Khi lâm chung, sáng suốt, tỉnh táo, chẳng điên đảo mà cũng chẳng lầm loạn chút nào. Một câu Phật hiệu đi theo Phật; đấy là phước báo thù thắng khôn sánh. Đời này quư vị đi làm Phật!

          V́ thế, chẳng cần hưởng phước báo trong hiện tiền! Học Phật phải buông xuống. Có hai điểm chớ nên không biết, chớ nên không làm. Đó là ǵ? Khi đức Thế Tôn nhập diệt, đă dạy người đời sau: Thứ nhất là tŕ giới, thứ hai là chịu khổ. Khi lăo nhân gia sắp ra đi, các đệ tử hướng về Ngài thỉnh giáo: “Lăo nhân gia tại thế, chúng con nương vào Ngài làm thầy. Ngài là thầy của chúng con. Sau khi Ngài diệt độ, chúng con nương cậy ai để làm thầy?” Đức Phật liền dạy hai câu: “Lấy giới làm thầy, lấy khổ làm thầy”. Do vậy, nếu quư vị muốn thành tựu, nhất là xuất gia, ắt quư vị phải chuẩn bị tâm lư. Điều thứ nhất là phải tŕ giới, điều thứ hai là phải chịu khổ. Nếu quư vị chẳng giữ giới, lại chẳng chịu khổ, tại gia học Phật sẽ tốt hơn, [vẫn đạt] thành tựu giống y hệt, cần ǵ phải xuất gia?

          Thân phận của hàng xuất gia là bậc thầy khuôn mẫu cho trời người. Không chỉ là thầy của hết thảy mọi người trong nhân gian (thầy là bậc nêu gương mẫu), tư tưởng, lời nói và hành vi của quư vị đáng cho người khác học tập theo. Quư vị đại diện Thích Ca Mâu Ni Phật, tiếp nối huệ mạng của Phật, đó là “viễn thiệu Như Lai”. Hăy ngẫm xem chính ḿnh có thể làm được hay không? Thật sự có thể làm được, tốt lắm, rất khó có! Không chỉ là Thích Ca Mâu Ni Phật hoan hỷ, mà hết thảy chư Phật đều hoan hỷ, long thiên thiện thần có vị nào chẳng che chở quư vị. Nhưng làm chẳng được, Phật sẽ chẳng hộ niệm quư vị, thiện thần cũng không thể phù hộ quư vị, sẽ có những quỷ thần hoặc yêu ma quỷ quái t́m đến, giúp quư vị làm ác, tiếp dẫn quư vị vào ba ác đạo. [Hễ lọt vào] ba ác đạo, quá nửa sẽ là địa ngục đạo! Những ác quỷ tà thần ấy hộ tŕ quư vị, khiến cho quư vị tạo nghiệp, cuối cùng là đưa quư vị vào địa ngục A Tỳ. Tôi tin tưởng những ác quỷ tà thần ấy đều là oan nghiệt do chính ḿnh đă kết thành trong đời quá khứ, toàn là oan gia trái chủ. Đấy chính là quư vị tuy xuất gia, lại bị chướng ngại, chẳng có cách nào học tập tốt đẹp, chẳng có cách nào đoạn ác tu thiện, đâm ra xa ĺa thiện pháp, không điều ác nào chẳng làm, sẽ bị phiền phức to lớn.

          Cổ đức thường nói, Xuất có bốn loại, Gia cũng có bốn loại, đều phải hiểu rơ ràng! Sau khi quư vị đă hiểu minh bạch, nếu ta không thể nêu gương tốt cho đại chúng trong xă hội, hăy học Phật tại gia! Tại gia xuất gia (thân tại gia mà tâm hạnh giống hệt như người xuất gia) sẽ là tốt đẹp. Cư sĩ Duy Ma đă nêu gương cao đẹp cho chúng ta, tại gia xuất gia đấy! Gia có bốn loại:

          1) Thứ nhất là Điền Trạch Gia. Người hiện thời, thông thường hễ nói đến “nhà”, [có nghĩa là] quư vị có tài sản, có đất đai, có nhà cửa, có sự nghiệp, có vợ con. Đấy là Gia, tức thế tục gia! Người b́nh phàm hễ nói “xuất gia”, tức là ĺa nhà kiểu này. Loại Gia này hoàn toàn không quan trọng.

          2) Trọng yếu hơn, đức Phật nói đến Phiền Năo Gia. Chúng tôi vừa mới nhắc tới Thập Thiện, Thập Thiện tương phản với Thập Ác. Thập Ác là Gia. Quư vị đoạn sạch Thập Ác, từ nay về sau, khởi tâm động niệm, lời nói và việc làm đều tương ứng với Thập Thiện, tức là quư vị đă vượt thoát Thập Ác gia, đă thoát ra. Điều này tốt đẹp lắm, xuất Phiền Năo Gia!

          3) Loại thứ ba là Tam Giới Gia. Tam Giới Gia là lục đạo luân hồi. Tam giới là nói tới Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới; đó là nói tới lục đạo. Tam giới là lục đạo, lục đạo là tam giới. Vượt thoát lục đạo luân hồi, lục đạo luân hồi là Gia. Từ đời đời kiếp kiếp trong vô lượng kiếp đến nay, chẳng có cách nào vượt thoát! Nếu quư vị phát đại tâm như vậy, mong thoát khỏi tam giới lục đạo gia, phải hiểu tam giới lục đạo được h́nh thành như thế nào? Nay chúng ta tu pháp môn Tịnh Độ, hy vọng có thể thật sự thoát ly lục đạo, văng sanh Tịnh Độ ngay trong một đời này. Hăy ghi nhớ hai câu nói của cổ nhân: “Ái chẳng nặng, chẳng sanh Sa Bà; niệm chẳng nhất, chẳng sanh Tịnh Độ”. Quư vị phải bỏ sạch ái dục, nhất tâm niệm Phật. Niệm không chuyên nhất, chẳng thể sanh Tịnh Độ. Đấy là xuất Tam Giới Gia.

          4) Sau đấy, c̣n có một nhà rất khó xuất, tức là Vô Minh Gia. Thoát khỏi Vô Minh Gia, quư vị sẽ thoát khỏi mười pháp giới. Quư vị thấy: Đoạn một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, sẽ thoát khỏi mười pháp giới. V́ thế, Vô Minh Gia là mười pháp giới, c̣n to hơn lục đạo. Vượt thoát lục đạo, thường nói là [thuộc trong] tứ thánh pháp giới, tức Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, [và Phật]. Quư vị thuộc vào địa vị này, chẳng thoát khỏi mười pháp giới. V́ thế, Gia cuối cùng khá to lớn, tức là mười pháp giới, phải phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, thoát ly mười pháp giới, sanh vào Nhất Chân pháp giới. Sanh vào Hoa Tạng, sanh vào Cực Lạc, đều là thoát khỏi mười pháp giới.

          Quư vị thấy Gia có bốn loại ấy, quư vị có hiểu rơ là xuất cái gia nào hay không? Quan trọng nhất chính là ba loại sau, trọng yếu lắm! Điền Trạch Gia trong phần trước không quan trọng!

          Xuất cũng có bốn loại:

          1) Thứ nhất là “thân xuất, tâm không xuất”. Thân xuất, quư vị thật sự ĺa khỏi gia đ́nh, quư vị rời ĺa cha mẹ, vợ con, đến ở trong chùa miếu, hiện tướng xuất gia. Nhưng trong tâm, niệm niệm là ngũ dục, lục trần, tiếng tăm, lợi dưỡng chẳng buông xuống, vẫn muốn làm những thứ ấy. Vậy th́ tâm quư vị chẳng xuất! Thân xuất, tâm chẳng xuất, chướng ngại của quư vị sẽ to lớn. Không chỉ là chẳng giải thoát, quư vị tạo tội nghiệp cũng nặng nề! Cổ đại đức bảo chuyện này là “khẩu tụng, bất năng hành” (miệng tụng, chẳng thể hành). Niệm kinh, niệm Phật, niệm được, chẳng làm được! Bề ngoài ra vẻ là một bậc thiện nhân, chẳng phải là thật sự thiện. Nói khó nghe hơn một chút, sẽ là “lừa ḿnh, dối người”. Có thể gạt người, chẳng thể lừa gạt Phật, Bồ Tát, chẳng gạt nổi quỷ thần, có nghĩ đến hay chăng? Thân xuất, tâm chẳng xuất, nếu quư vị thật sự liễu giải, hiểu rơ ràng, hiểu minh bạch, sẽ chẳng dám xuất gia! Ai bằng ḷng tạo tội nghiệp nặng nề dường ấy?

          2) Loại thứ hai là “tâm xuất, thân không xuất”, như cư sĩ Duy Ma. Những vị đại đức tại gia học Phật, tuy là tại gia, họ chẳng có mảy may lưu luyến đối với “gia” (gia đ́nh, gia sản và gia nghiệp), tâm hạnh chẳng khác Phật, Bồ Tát. Tại gia cư sĩ tu hành ở nhà, bất luận tu pháp môn nào, học Giáo, học Thiền, học Mật, niệm Phật, thảy đều có thành tựu. Có phải là hàng tại gia thành tựu thua kém người xuất gia đôi chút hay không? Chẳng có, b́nh đẳng! Từ kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta thấy, vừa mở đầu bèn liệt kê các vị thượng thủ. “Thượng thủ” biểu thị pháp, bậc thượng thủ trong hàng tại gia cư sĩ, “Hiền Hộ đẳng thập lục Chánh Sĩ” (mười sáu vị chánh sĩ như Hiền Hộ v.v…) toàn là Đẳng Giác Bồ Tát. Địa vị do các Ngài chứng đắc b́nh đẳng với các vị Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí. Trong hàng thượng thủ, nghiễm nhiên là nhiều tới mười sáu vị. Điều này bao hàm ư nghĩa rất sâu: Người tại gia có thể thành Phật, có thể thành Bồ Tát; bởi lẽ, tâm họ thật sự xuất, tuy thân chẳng xuất. Đấy là loại thứ hai.

          3) Loại thứ ba là “thân và tâm đều xuất”. Thân lẫn tâm đều xuất sẽ thật sự giống như Thích Ca Mâu Ni Phật đă thị hiện, lịch đại tổ sư đại đức đă thị hiện. Thân và tâm đều xuất, tức là thân xuất gia, tâm cũng xuất gia. Xác thực là như Huyền Trang đại sư đă nói: “Viễn thiệu Như Lai, cận quang đại pháp” (Xa là kế tục Như Lai, gần là làm cho đại pháp rạng ngời), dùng thân phận của bậc xuất gia để nối tiếp huệ mạng của Phật, hoằng pháp lợi sanh.

          4) Loại thứ tư là “thân lẫn tâm đều chẳng xuất”. Nói tới hạng người nào vậy? Chẳng phải là nói tới những kẻ b́nh phàm ở ngoài [đạo Phật], chẳng phải vậy, [mà là nói về] hàng tại gia cư sĩ. Tại gia học Phật hữu danh vô thực, thân chẳng xuất gia, trong tâm suốt ngày từ sáng đến tối vẫn là thế tục, chẳng có đạo tâm. Đấy là thân và tâm đều chẳng xuất, là kẻ tại gia học Phật chẳng có thành tựu, [nguyên nhân là do] thân và tâm đều chẳng xuất đó mà!

          Xuất có bốn loại, Gia có bốn loại. Quư vị xuất gia thuộc loại nào? Phải hiểu rơ ràng. Đối với chướng ngại, quư vị chẳng cần phải hỏi ai khác. Trong tâm của chính ḿnh hiểu rất rành rẽ! V́ thế, xuất gia th́ quan trọng nhất là chí hướng!    Hiện thời, trong hoàn cảnh này, dẫu đă phát tâm, phát tâm xuất gia thuần chánh, đến nơi đâu để học pháp? Nơi nào có đạo tràng chân chánh? Đạo tràng này là thật hay giả? V́ sao? Trong xă hội hiện tại, ngụy thiện chẳng ít, giả thiện, chẳng thật! Bề ngoài thấy rất tốt đẹp, trên thực tế, chẳng phải là như vậy. Trong quá khứ, tôi có một người bạn xuất gia ở Lạc Sam Cơ (Los Angeles), là pháp sư, nhỏ hơn tôi vài tuổi. Ở Lạc Sam Cơ, ông ta gặp một vị Nhân Ba Thiết (Rinpoche) người Tây Tạng, hết sức tôn kính, theo học Phật với vị ấy. Khi Nhân Ba Thiết quay về Tây Tạng, ông ta đi theo, đại khái là đi chừng hơn ba tháng. Trở về Mỹ, bảo tôi [gă đó là] giả! Tôi nói: “Giả như thế nào?” Ông ta đáp: “Thằng đó chẳng phải là Nhân Ba Thiết! Nó là người Tây Tạng ở Ni Bạc Nhĩ (Nepal). V́ nghe nói bên ngoài cúng dường người xuất gia rất nhiều, nó giả mạo làm Nhân Ba Thiết đến Mỹ. Sau khi thu được một món cúng dường lớn, nó bèn quay về, mới biết nó chẳng phải là [Nhân Ba Thiết]. Thằng đó là một tại gia cư sĩ, thông hiểu Phật pháp, các nghi thức cũng biết rất nhiều, nên giả mạo Nhân Ba Thiết đến Mỹ. Hễ đến Mỹ, đều có thể kiếm được một vài món cúng dường, quay về, có thể sống thoải mái mấy năm”. Trong xă hội hiện tại, không chuyện lạ lùng nào chẳng có! Trong Phật môn đă có, mà các tôn giáo khác cũng chẳng phải là ngoại lệ, cũng có [những chuyện ấy]. Điều này nói lên điều ǵ? Tu đạo khó khăn, quư vị đến đâu để t́m được một vị thiện tri thức thật sự, t́m một đạo tràng tốt đẹp? Chẳng dễ dàng!

          Cũng chính v́ mối quan hệ này, cho nên thầy chúng tôi, những vị ấy là thiện tri thức thật sự, cũng biết hoàn cảnh trong hiện tiền. Thầy của tôi, một là Chương Gia đại sư, hai là lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam, hai vị ấy có hoàn cảnh đặc thù, chúng tôi không có cách nào theo họ suốt cả đời. Hơn nữa, Chương Gia đại sư dạy tôi ba năm, Ngài ra đi. Tôi theo Ngài lúc hai mươi sáu tuổi, khi ấy, lăo nhân gia đă sáu mươi lăm tuổi. Ngài mất lúc sáu mươi tám tuổi, tôi theo thầy ba năm. Thầy Lư có hoàn cảnh đặc thù, tôi cũng chẳng thể thân cận thầy lâu dài. V́ thế, thầy Lư dạy tôi học theo Mạnh Tử, học theo Ngẫu Ích đại sư. Điều này có ư nghĩa ǵ? Mạnh Tử và Ngẫu Ích đại sư đều là “tư thục đệ tử” của cổ nhân, tức là người đời nay thờ cổ nhân làm thầy. Mạnh Tử thờ Khổng phu tử làm thầy. Khổng Tử đă qua đời, chẳng c̣n tại thế, [Mạnh Tử] đọc sách Khổng Tử, học theo Khổng Tử. Chỗ nào không hiểu bèn thỉnh giáo học tṛ Khổng Tử, thật sự học giống như Khổng Tử. Quư vị thấy tại Trung Hoa, phu tử được gọi là Chí Thánh, c̣n Mạnh Tử là Á Thánh. Đạo của phu tử đă được truyền cho Mạnh Tử, chẳng phải là truyền cho người khác. Mạnh Tử thật sự hoàn toàn đạt được, lưu lại gương tốt cho người đời sau. Ngẫu Ích đại sư là người sống vào cuối đời Minh, Ngài nương cậy Liên Tŕ đại sư làm thầy. Liên Tŕ đại sư đă văng sanh, trước tác của Liên Tŕ đại sư vẫn c̣n. Ngài nương theo trước tác của Liên Tŕ đại sư để học tập, học hết sức giống. Liên Tŕ đại sư là tổ sư đời thứ tám của Tịnh Độ Tông, Ngẫu Ích là tổ sư đời thứ chín, nương theo cổ nhân!

          Thầy giới thiệu một vị cổ nhân cho tôi là Ấn Quang đại sư. Ấn Quang đại sư đă khuất, Văn Sao của Ấn Quang đại sư vẫn c̣n, trước tác của Ngài c̣n tồn tại. Hiện thời, Ấn Quang Đại Sư Toàn Tập đă ấn hành. Hằng ngày đều đọc, hằng ngày nghe, lư giải và thực hành giáo huấn của Ngài, sẽ là đệ tử của Ấn Quang đại sư. Cách này hay lắm. Trong bất cứ hoàn cảnh gian nan, khốn khổ, chướng ngại nào, quư vị đều có thể thân cận thiện tri thức, sẽ đều có thể thành tựu. Nhất là bộ Văn Sao của Ấn Quang đại sư phân lượng không nhiều lắm, nhưng quan trọng nhất. Thuở ấy, tôi học tập c̣n chưa có Toàn Tập, chỉ có hai bộ là Ấn Quang Đại Sư Văn Sao Chánh Biên và Tục Biên, hai bộ sách để tu hành. Như thế th́ quư vị mới thật sự “xuất gia vô ngại, tâm đắc giải thoát”. Tôi nói bốn câu truyền pháp chân ngôn của Ấn Quang đại sư là “đôn luân tận phận, nhàn tà tồn thành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ” (giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, giảm bớt tà vạy, giữ ḷng thành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ), mười sáu chữ, lăo nhân gia đă suốt đời thật sự truyền dạy. A! Hôm nay thời gian đă hết rồi, chúng tôi nói tới đây.

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một,

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 22 hết

 



[1] Đây chính là bài kệ thứ bảy, v́ bài kệ “thượng thăng lâu các, đương nguyện chúng sanh, thăng chánh pháp lâu, triệt kiến nhất thiết” là bài kệ thứ tám, ở sau bài kệ này (tức bài “trước anh lạc thời”). Ngày hôm trước, khi giảng, ḥa thượng đă vô ư bỏ sót, cho nên hôm nay phải giảng lại.

[2] Quân phiệt cát cứ (軍閥割據) là một giai đoạn rối ren trong lịch sử Trung Hoa kéo dài từ năm 1916 đến năm 1928 khi chính quyền Quốc Dân Đảng suy yếu, quyền lực chính trị bị những tay thủ lănh quân sự địa phương thao túng, lănh thổ Trung Hoa bị chia năm xẻ bảy. Chủ yếu là các thế lực quân phiệt tại Tứ Xuyên, Sơn Tây, Thanh Hải, Ninh Hạ, Quảng Đông, Quảng Tây, Cam Túc, Vân Nam và Tân Cương. Giai đoạn này bắt đầu sau khi Viên Thế Khải chết, chính quyền trung ương quá suy yếu. Các thủ lănh quân sự do sẵn có quân đội trong tay đă đánh lẫn nhau. Trước đó, theo quy chế nhà Thanh, quân đội được chia thành Bát Kỳ, và mỗi địa phương đều có những nghĩa quân tại và dân quân cai quản bởi các tướng lạnh do triều đ́nh bổ nhiệm, hoặc địa phương cử lên. Trong số đó, cánh quân mạnh nhất là quân Bắc Dương của Viên Thế Khải. Khi cách mạng Tân Hợi (1911) nổ ra, do không đủ sức mạnh, Tôn Dật Tiên phải thỏa thuận với Viên Thế Khải để cùng lật đổ nhà Thanh; đổi lại, Quốc Dân Đảng phải chấp nhận để Viên Thế Khải trở thành Tổng Thống. Sau khi Viên Thế Khải chết, do các thuộc hạ chống đối lẫn nhau, quân đội Bắc Dương nứt thành ba khối chính: Quân phiệt An Huy của Đoàn Kỳ Thụy, quân phiệt Trực Lệ của Phùng Quốc Chương, và bè phái Phụng Hệ của Trương Tác Lâm. Noi gương đó, các quân phiệt địa phương đua nhau nổi lên như Đường Kế Nghiêu, Tưởng Giới Thạch, Hồ Hán Dân, Uông Tinh Vệ, Ngô Bội Phu, Tôn Truyền Phương, ngay cả nhóm Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cũng là những loại quân phiệt (điều khác biệt là Mao và Chu đề xướng chủ nghĩa Cộng Sản). Tuy trên danh nghĩa Quân Phiệt đă bị trấn áp năm 1928, nạn quân phiệt cát cứ kéo dài dai dẳng cho đến khi phe Mao Trạch Đông toàn thắng, đuổi Tưởng Giới Thạch tháo chạy khỏi Hoa Lục.

[3] Trong bói toán, “lưu niên” (流年) là dự đoán vận hạn của một người trong mỗi năm.

[4] Lục địa Atlantis chỉ là truyền thuyết, không có bằng chứng nào chứng thực sự tồn tại của lục địa này, ngoại trừ những truyền thuyết từ thời cổ Hy Lạp do Plato đề xướng, cũng như những thuyết của phong trào New Age hiện thời. Chuyện tấm bản đồ cho thấy những lục địa bị ch́m xuống biển cũng thường là do những kẻ mạo danh khoa học bịa ra, nhất là trong phong trào Nhân Điện tại Hoa Kỳ. Khi đọc những phần này, xin các liên hữu đừng chấp vào danh tướng rồi dấy lên nghi báng. Điều quan trọng mà ḥa thượng muốn chia sẻ ở đây là “cảnh tùy tâm chuyển”, do con người ác nghiệp quá nặng, dẫn khởi hoàn cảnh sống bị xấu đi. Để đối phó với tai nạn, họa hại, kinh sợ, lo lắng suông vô ích, hăy nghiêm túc tu tŕ, chuẩn bị tâm thái không lưu luyến để khi xảy ra tai nạn, ta sẽ văng sanh Cực Lạc không bị trở ngại!

[5] Theo quy chế từ đời Tần- Hán, cứ mười dặm đường bèn lập một cái đ́nh, gọi là “trường đ́nh”. Cứ năm dặm lập một cái đ́nh th́ gọi là “đoản đ́nh”. Thoạt đầu, đ́nh là chỗ dùng để tạm nghỉ cho cho những phu trạm chuyên lo chuyển vận công văn hỏa tốc (thường gọi là dịch trạm), cũng như là chỗ để họ đổi ngựa, ăn uống. Về sau, nơi ấy trở thành chỗ để chia tay nhau khi đưa tiễn. Dần dần, “thập lư chi đ́nh” hay “thập lư trường đ́nh” chỉ c̣n là từ ngữ phiếm chỉ chỗ chia tay sau khi đă tiễn chân một quăng đường.