Đại Phương Quảng Phật

Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một,

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 23

大方廣佛華嚴經

(十一)淨行品

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Địa điểm: Hương Cảng Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội

Khởi giảng từ ngày mồng Bảy tháng Mười Một năm 2005

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Minh Tiến

 

Tập 1507

 

          Chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, bài kệ thứ hai trong phần Xuất Gia Thọ Giới:

 

          (Kinh) Nhập tăng già-lam, đương nguyện chúng sanh, diễn thuyết chủng chủng, vô quai tránh pháp.

          ()僧伽藍。當願眾生。演說種種。無乖諍法。

          (Kinh: Vào tăng-già-lam, nguyện cho chúng sanh, diễn thuyết các thứ pháp chẳng tranh chấp).

 

          Chúng ta xem chú giải của Thanh Lương đại sư:

         

          (Sớ) Tăng-già-lam giả, thử vân Chúng Viên. Chúng hữu Lục Ḥa pháp, tắc Sự Lư nhất vị, cố vô tránh dă.

          ()僧伽藍者,此云眾園,眾有六和法,則事理一味,故無諍也。

          (Sớ: “Tăng già-lam”, cơi này dịch là Chúng Viên. Chúng có pháp Lục Ḥa, tức là Sự và Lư một vị. V́ thế, chẳng tranh căi).

 

          Đoạn khai thị này rất đơn giản, hết sức trọng yếu. Trước hết, chúng ta phải liễu giải chánh xác ư nghĩa của chữ Tăng Già. Chữ Tăng Già (Sam̐ghā) trong hiện thời, vốn là Tăng-già-lam, gọi tắt là Tăng Già, c̣n gọi là Tăng. Đại chúng b́nh phàm trong xă hội, hễ thấy chữ Tăng liền nghĩ là nói đến người xuất gia, nay đă trở thành thói quen. Cũng có thể nói như vậy, đấy là [thói quen] trong xă hội Trung Hoa. Trên thực tế, ư nghĩa trong tiếng Phạn không phải là chuyên nói về người xuất gia, mà là nói về đoàn thể. Chữ này nói về đoàn thể. Bất quá, đoàn thể ấy chẳng giống các đoàn thể thông thường cho lắm. V́ sao? Nhất định là mỗi thành viên đều phải tuân thủ Lục Ḥa Kính, đoàn thể ấy mới được gọi là Tăng đoàn.

          Do vậy, Tăng già-lam (Sam̐ghārāma) là nơi chốn cư trụ của Tăng đoàn. Lam (Ārāma) là nơi chốn. Nay chúng ta gọi [Tăng-già-lam]“đạo tràng”. Dịch theo ư nghĩa gốc, sẽ là Chúng Viên (眾園, khu vườn của đại chúng). Quư vị thấy chữ này chẳng phải là “tinh xá” (精舍), chẳng phải là tự, viện, am, đường, v́ sao? Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế giáo học, chẳng có bất cứ kiến trúc nào, toàn là ở dưới cội cây, bên cạnh chỗ có nước. Đức Phật ngồi xuống nơi ấy, tứ chúng đồng học vây quanh Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng ta nói “tịch địa nhi tọa” (trải chiếu trên đất để ngồi), c̣n trải cái chiếu, chứ thuở ấy chẳng có chiếu. Chư vị phải biết, đối với người xuất gia hiện thời, cái được người Hoa gọi là Cụ (Niṣadana, tấm ni-sư-đàn, tọa cụ), hiện thời dùng để làm ǵ? Dùng trong lúc lạy Phật, trải xuống dưới cái đệm để quỳ lên. Xưa kia, bất luận ngồi xuống chỗ nào, bèn lót [tọa cụ] xuống dưới. [Tọa cụ] là một tấm vải để lót xuống dưới, ḥng ngồi xuống đất nghe đức Phật thuyết pháp, cũng tức là nghe thầy dạy học. Bởi lẽ, Ngài chẳng có pḥng ốc, cũng chẳng có bàn ghế. Chữ Tăng Viên (僧園) đă miêu tả hoàn toàn trạng huống giáo học thuở ấy của đức Thế Tôn. Bắt đầu giáo học ở chỗ nào, chỗ ấy được gọi là Tăng-già-lam.

          Điều trọng yếu là chúng ta c̣n gọi Tăng-già-lam là “Tăng đoàn”, tức là “đoàn thể”. Đối với ư nghĩa của chữ Tăng, đối với ư nghĩa gốc, nếu nói theo kiểu hiện thời, sẽ là “đoàn thể”. Trong kinh, đức Phật đă dạy chúng ta, từ bốn người trở lên tụ tập cùng một chỗ, tuân thủ Lục Ḥa Kính, đoàn thể ấy là Tăng đoàn, chẳng phân biệt tại gia hay xuất gia! Tại gia, nếu nhà quư vị có bốn người, từ bốn người trở lên; hiện thời, cũng thường có thể thấy, hai vợ chồng, một con trai, một con gái, thành bốn người. Nếu bốn người tu Lục Ḥa Kính, gia đ́nh ấy là Tăng đoàn. Điều quan trọng nhất là pháp Lục Ḥa; bởi lẽ, “Chúng” có pháp Lục Ḥa. Trong pháp Lục Ḥa, có Lư và Sự. Điều thứ nhất là Lư, tức Kiến Ḥa Đồng Giải. Điều này là Lư. Tăng đoàn thời đức Thế Tôn tại thế, đức Phật yêu cầu đại chúng mỗi người đối với phân biệt, chấp trước của chính ḿnh, vọng tưởng chẳng cần bàn tới, đối với phân biệt và chấp trước thảy đều buông xuống, đối với người, đối với sự, đối với vật, đều chẳng có phân biệt, đều chẳng có chấp trước. Đấy chính là ḥa thuận.

          Nguyên nhân gây nên bất ḥa là ǵ? Ai nấy có ư kiến riêng, ai nấy có cách nghĩ và cách nh́n riêng, vậy là đôi bên bất đồng. Đấy là nhân tố căn bản gây nên bất ḥa. V́ sao bất ḥa? Ư kiến của tôi và quư vị khác nhau. Cách nh́n và cách nghĩ của tôi chẳng giống quư vị. Quư vị chẳng giống tôi, đôi bên chẳng nhường nhau. Ai cũng chẳng chịu khuất phục. V́ sao tôi phải nghe theo quư vị? V́ sao quư vị phải nghe theo tôi? Do vậy, phương pháp của đức Phật đúng là trí huệ bậc cao để xử trí vấn đề này: Chúng ta thảy đều buông xuống thành kiến, chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, đoàn thể ấy sẽ ḥa thuận. Người có thể buông xuống phân biệt, chấp trước, sẽ thật sự được chư Phật gia tŕ. Chư Phật chẳng có thời khắc nào không gia tŕ hết thảy chúng sanh! Vấn đề là quư vị có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, [do vậy] tạo thành sự kháng cự, chẳng thể tiếp nhận! Tuy Phật gia tŕ, chẳng thể gia tŕ được, [bởi lẽ], quư vị chẳng có cách nào tiếp nhận. Nếu buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chướng ngại ấy sẽ chẳng c̣n nữa!

          Sự gia tŕ của Phật là ǵ? Chính là trí huệ và đức tướng trong tự tánh [khởi tác dụng] như kinh Hoa Nghiêm đă dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai, chỉ v́ vọng tưởng và chấp trước nên chẳng thể chứng đắc”. Do quư vị có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quư vị mới biến thành chúng sanh khổ năo. Trong mắt Phật, quư vị vốn là Phật, hiện thời quư vị vẫn là Phật, hoàn toàn chẳng thay đổi. V́ thế, Phật tôn kính chúng sanh, nhưng chúng sanh chẳng tôn kính Phật. V́ sao Phật tôn kính chúng sanh? Đức Phật thấy rất rơ ràng, rất minh bạch chân tướng sự thật.

          Quư vị là một vị Phật, về căn bản, chẳng khác hết thảy chư Phật! Sai biệt ở chỗ nào? Nay quư vị vô cớ dấy lên vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chẳng thật. Trong Khởi Tín Luận, Mă Minh Bồ Tát đă nói rất hay: “Bổn Giác vốn có”, [nghĩa là] hiện thời quư vị có trí huệ và đức tướng (đức năng và tướng hảo) giống như hết thảy chư Phật Như Lai hay không? Có chứ! Quư vị chẳng mất đi nào, chỉ là do chính quư vị vô cớ dấy lên những phiền năo gây chướng ngại, khiến cho trí huệ, đức năng, và tướng hảo trong tự tánh của quư vị thảy đều bị biến chất, biến đổi, biến thành nông nỗi như trong hiện thời! V́ thế, đức Phật thấy chúng sanh đáng gọi “kẻ đáng thương xót”, thật sự đáng thương! Nếu quư vị chẳng có trí huệ và đức tướng của Như Lai, hiện thời quư vị trở thành t́nh trạng như thế này, đức Phật chẳng thể nói quư vị đáng thương. Nói quư vị đáng thương, lời đức Phật sẽ chẳng thích hợp, sẽ trở thành lời lẽ châm chọc! Do quư vị và Ngài hoàn toàn giống hệt như nhau, nay quư vị mê hoặc, điên đảo. V́ thế, cổ nhân có tỷ dụ, phàm phu giống như kẻ uống rượu say mèm. Quư vị vốn giống hệt người b́nh thường, nhưng sau khi say rượu, do say bét nhè, bèn nói năng quàng xiên, tất cả oai nghi đều mất sạch, có ư nghĩa như thế đó!

          V́ thế, đức Phật dạy mọi người hăy buông xuống. Buông xuống những ǵ? Buông xuống chấp trước; người Hoa nói là “buông xuống thành kiến”. Ai nấy đều buông xuống thành kiến, thế giới này sẽ thái b́nh, chẳng có tranh chấp, tự nhiên là cư xử ḥa thuận, đối đăi b́nh đẳng. Đấy là chân tướng sự thật. Dấy lên phân biệt, chấp trước, sẽ biến chân tướng thành vọng tướng, biến thành huyễn tướng, là giả tướng, chẳng phải là chân tướng. Chân và giả là một, không hai. Quư vị đă giác ngộ, giả là chân. Hễ mê, chân là giả. Chân và giả chẳng hai! V́ thế, cách dạy này của đức Phật cao minh tột bậc, khiến cho đại chúng chẳng c̣n bàn căi chi nữa. Chẳng có chút tâm riêng tư nào, mảy may thiên vị cũng chẳng có, quyết định là b́nh đẳng.

          Nhưng lời này nói dễ dàng, thực hiện chẳng dễ dàng, ai chịu buông xuống? Trong Tăng đoàn của đức Thế Tôn vào thuở ấy, quư vị muốn gia nhập Tăng đoàn của Ngài, nếu quư vị chẳng buông xuống, sẽ không thể gia nhập Tăng đoàn ấy! Nhất định là quư vị phải buông xuống. Chẳng hoàn toàn buông xuống, không sao cả! Trước hết, hăy buông xuống Ngă Chấp, buông xuống dần dần từng bước một. Buông xuống Thân Kiến, nay chúng ta gọi Biên Kiến là thiên kiến hoặc thành kiến, tức là trong năm thứ Kiến Hoặc, nay chúng ta gọi Kiến Thủ Kiến và Giới Thủ Kiến là thành kiến. Thành kiến có hai loại, một loại là thành kiến đối với nhân, loại kia là thành kiến đối với quả. Loại cuối cùng là tà kiến, tức là hết thảy các kiến giải bất chánh, trái nghịch chân tướng sự thật đều thuộc về tà kiến, chẳng phải là chánh tri chánh kiến. Trước hết, quư vị hăy buông thứ này xuống.

          Hễ buông xuống thứ ấy, trong Tiểu Thừa sẽ là Sơ Quả, mới tiến nhập Phật môn. Đức Phật thấy rất rơ ràng, quư vị thật sự muốn học, hay là giả vờ muốn học. Thật sự muốn học, thật sự mong buông xuống, Ngài sẽ dạy quư vị. Trong quá tŕnh dạy dỗ, học tập, gọi là Sơ Quả Hướng (初果向), [nghĩa là] quư vị chưa đạt tới Sơ Quả, nhưng quư vị đă tiến theo phương hướng của Sơ Quả. Sơ Quả giống như lớp Một; quư vị đang học lớp dự bị để có thể vào lớp Một. Trong Đại Thừa, [người như vậy] được gọi là Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín. Địa vị Sơ Tín và Tiểu Thừa Sơ Quả giống nhau, hễ chưa đạt tới Sơ Quả bèn chậm răi học, cũng là một phương hướng, một mục tiêu như vậy. Nhưng Đại Thừa thông minh hơn Tiểu Thừa, thật vậy đó! Người Tiểu Thừa chấp trước khá nặng; Đại Thừa ngộ tánh cao hơn, nghe xong, họ hiểu rơ, dần dần buông xuống, buông xuống từng bước một, chẳng phải là ngay lập tức buông xuống!

          Quư vị thấy kinh này đă dạy: Đă buông xuống Kiến Hoặc, chúng ta gọi [Kiến Hoặc] là thành kiến, buông xuống kiến giải, chẳng c̣n nữa, đă buông xuống rồi. Đấy là Sơ Quả, chính thức trở thành một thành viên trong Tăng đoàn. Sau đấy, mới lại buông xuống tư tưởng sai lầm. Kiến Hoặc là kiến giải sai lầm. Tư tưởng sai lầm là tham, sân, si, mạn, nghi, năm điều ấy! Năm điều ấy chính là sai lầm về tư tưởng. Người thế gian hoài nghi, há có hoài nghi nhiều ngần ấy ư? Căn bản là chẳng có! Lục Tổ nói “vốn chẳng có một vật”, quư vị nghi nỗi ǵ? Kinh Bát Nhă đă nói: “Hết thảy các pháp vô sở hữu, rốt ráo không, trọn chẳng thể được”, quư vị nghi ǵ? Thân, tâm, thế giới, “Tướng có, Tánh không, Sự có, Lư không”, quư vị c̣n nghi nỗi ǵ?

          Cái tâm nghi của bọn chúng sanh chúng ta chính là căn bản phiền năo; sau tham, sân, si, mạn là nghi. Các điều này (Tư Hoặc) có tất cả tám mươi mốt phẩm thuộc tam giới. Tam giới có chín địa, mỗi địa có chín phẩm. Do tam giới có chín địa, cho nên có tám mươi mốt phẩm (chín lần chín là tám mươi mốt, [thành ra] tám mươi mốt phẩm), chín địa mà! Quư vị buông xuống sáu phẩm đầu tiên, sẽ chứng Nhị Quả, tức là tham, sân, si, mạn, nghi nghiêm trọng chẳng có, nhẹ nhàng th́ c̣n có. Nặng nề th́ chẳng có, nhẹ nhàng th́ c̣n có. Đó là Nhị Quả, là lớp Hai. Khi đến lớp Ba, sẽ lại buông xuống một tí. Lớp Ba sẽ không sanh trong thế gian này; thánh nhân Tam Quả đến tu hành ở nơi đâu? Đến Tứ Thiền Thiên. Trong Tứ Thiền Thiên có Ngũ Bất Hoàn Thiên. Tứ Thiền Thiên có chín tầng, bốn tầng đầu là phàm phu thiên, năm tầng trên là thánh nhân. Thánh nhân Tam Quả tu hành trong ấy. Đến cuối cùng, thật sự đoạn sạch những tư tưởng sai lầm ấy (tức là tham, sân, si, mạn, nghi), Ngài hăy c̣n có tập khí. Tập khí chẳng sao hết! Chứng quả A La Hán, bèn vượt thoát lục đạo. Đă vượt thoát lục đạo, chúng ta biết ngoài lục đạo c̣n có bốn pháp giới, [tức là] Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Các Ngài đạt đến Thanh Văn bèn đến pháp giới ấy. Đoạn hết tập khí, tức là tập khí của Kiến Tư phiền năo, chẳng có tập khí về kiến giải và tư tưởng, bèn tiến cao hơn một tầng, tương ứng với Duyên Giác và Bồ Tát. Nếu chẳng phát Bồ Đề tâm, Ngài thuộc tầng cấp Duyên Giác. Nếu phát Bồ Đề tâm, sẽ là Bồ Tát, dần dần tiến cao hơn!

          Hiện thời, chúng ta có rất nhiều tập khí phiền năo, chính ḿnh phải cảnh giác, hy vọng mỗi năm một nhẹ hơn! Bảo quư vị đoạn, chẳng thể nào! Đă đoạn được, quư vị sẽ thành Phật, thành Bồ Tát, là Bồ Tát thật sự, chẳng phải là giả Bồ Tát! Giả Bồ Tát, hữu danh vô thực, sẽ mắc tội lỗi. V́ sao? Quư vị chẳng phải Bồ Tát, giả mạo Bồ Tát, quư vị nói xem, chính ḿnh có tội hay không? Trước kia, thầy chúng tôi dạy, chẳng phải là Bồ Tát mà xưng là Bồ Tát, [đó là] giả mạo, giả mạo làm Bồ Tát! Giống như người trong thế gian, chẳng phải là vương tử, giả mạo làm vương tử, tức là hoàng tử của hoàng đế xưa kia. Kẻ ấy chẳng phải là hoàng tử, giả mạo, chính là phạm pháp, danh và thực phải tương xứng. Nhưng người thế gian gọi [quư vị] Bồ Tát cũng có cái hay. Hay ở chỗ nào? Quư vị nghe một tiếng Bồ Tát, ta phải thật sự làm Bồ Tát, có thể khiến cho quư vị có tâm cảnh giác. Do quư vị thật sự muốn làm Bồ Tát, thường khiến cho người ta gọi quư vị, nhắc nhở quư vị, đến cuối cùng, bất tri bất giác quư vị thật sự trở thành Bồ Tát, như vậy th́ được! Bởi lẽ, Phật pháp thông t́nh đạt lư. Nhưng quư vị hoàn toàn chẳng muốn làm Bồ Tát, muốn có cái danh Bồ Tát, hoàn toàn chẳng phải là thật sự tu tập, chẳng thể đoạn phiền năo, cũng chẳng nghĩ ta phải đoạn phiền năo, cũng chẳng nghĩ ta phải sửa đổi tập khí xấu, những thói hư tật xấu”, như vậy th́ quư vị hoàn toàn giả mạo, sẽ tội lỗi. Danh và thực phải tương xứng, phải tương ứng.

          Quư vị thấy Ngẫu Ích đại sư sau khi đă thọ giới, v́ sao Ngài muốn thoái giới? Đấy chính là nêu gương cho người đời sau, quư vị chẳng làm được! Quư vị làm không được, vậy th́ quư vị xưng là tỳ-kheo chính là dối gạt người khác. Đó là ǵ? Chính là vọng ngữ, lừa người! V́ thế, sau khi đă thọ giới, Ngài thoái lui giới tỳ-kheo. Giới Sa Di Ngài có thể làm được, cho nên suốt đời lăo nhân gia xưng là Bồ Tát Giới Sa Di. Người thật sự phát Bồ Đề tâm, phát Bồ Đề tâm hành Bồ Tát đạo, người ấy là Bồ Tát, tại gia cũng là Bồ Tát. Do vậy, Tăng đoàn chẳng phân biệt tại gia hay xuất gia.  

          Tại gia cư sĩ kiến lập đạo tràng, giống như Ấn Quang đại sư lăo nhân gia đề xướng Niệm Phật Đường kiểu mẫu nhỏ, số người chẳng vượt quá hai mươi người, tốt lắm! Thanh tịnh lắm! Hai mươi người dễ dàng duy tŕ sinh hoạt. Hơn nữa, niệm Phật đến công phu nhất định, cái tâm sẽ định. Ví như nói Niệm Phật Đường của quư vị, chớ nên để số người thường xuyên biến động, chuyện này chẳng tốt! Rất khó thành tựu! Số người trong Niệm Phật Đường cố định. Quư vị thấy thuở đức Thế Tôn tại thế, học tṛ theo Ngài là một ngàn hai trăm năm mươi lăm vị, cố định! Viễn công đại sư (tổ Lư Sơn Huệ Viễn) vào thời Đông Tấn, khi kinh Vô Lượng Thọ đă được phiên dịch; thuở ấy, Quán Kinh và kinh Di Đà c̣n chưa được dịch ra, kinh Tịnh Tông được dịch sớm nhất là kinh Vô Lượng Thọ. Ngài xem kinh, hoan hỷ, y giáo tu hành. Tại Lư Sơn, Giang Tây, Tổ mời một trăm hai mươi ba người chí đồng đạo hợp, phát tâm ở tại đó, chiếu theo kinh Vô Lượng Thọ để tu hành, đọc tụng, giảng giải, nghiên cứu, niệm Phật. Một bộ kinh thôi! Đấy là thâm nhập một môn, huân tu lâu dài. Một trăm hai mươi ba người ai nấy đều văng sanh, thật là tuyệt diệu!

          Chí nguyện bất đồng, không thâu nạp! Quư vị đến chỗ chúng tôi thăm viếng, chúng tôi tiếp đăi quư vị. Quư vị muốn gia nhập đoàn thể này, [chúng tôi] chẳng tiếp nhận! Quư vị thấy thuở đó, ông Tạ Linh Vận là một văn học gia rất nổi tiếng trong lịch sử, muốn nhập hội. Viễn công đại sư cự tuyệt. Lư do cự tuyệt là ǵ? Ông Tạ là văn nhân, chẳng buông xuống tập khí văn nhân, thích làm thơ, chuộng soạn văn. Chẳng buông xuống tập khí ấy. Tập khí ǵ cũng đều phải buông xuống! Quư vị c̣n đèo theo các tập khí, sẽ ảnh hưởng đến sự tu hành của người khác, cũng có nghĩa là quư vị chẳng thể chuyên ṛng, sẽ tạp loạn. Cho nên, [Lư Sơn liên xă] chẳng cần ông Tạ. Đào Uyên Minh (Đào Tiềm) là một người rất đức hạnh, Viễn công rất hoan nghênh ông Đào tham gia, nhưng ông ta chẳng đến tham gia, chẳng tham dự. “Tiếp nạp” (接納, tiếp nhận, dung nạp) là có điều kiện, chẳng phải là bất cứ ai cũng đều có thể đến. V́ thế, đạo tràng chuyên tu là ai nấy đều có thành tựu.

          Trong quá khứ, chúng ta thấy một đạo tràng nhỏ nhất, [chính là đạo tràng của] Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát. Sau khi văng sanh thế giới Cực Lạc, Ngài tiết lộ tin tức. Trong thế giới Cực Lạc, danh hiệu của Ngài là như vậy. Trước khi văng sanh, đạo tràng của Ngài chỉ có mười hai người. Mười hai người cùng nhau tu hành, ai nấy đều thành tựu. Buông xuống muôn duyên, nhất tâm niệm Phật. Đấy là đạo tràng Lục Ḥa Kính thật sự. Trên thế giới có một đạo tràng như thế xuất hiện, [sẽ được] chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần ủng hộ, công đức chẳng thể nghĩ bàn! Chứ đi khắp nơi, cái tâm tán loạn, rất khó định được!

          Nếu chư vị học kinh giáo, học để trong tương lai hoằng pháp lợi sanh, hôm qua trong khi trả lời câu hỏi, tôi đă thưa cùng chư vị, chư vị hỏi khi nào tôi sẽ lập Phật học viện? Tôi đă lập Phật học viện rất nhiều năm, nhưng quư vị chẳng nh́n ra! Trong mấy chục năm qua, những kinh luận được giảng có đến mấy chục loại. Hiện thời c̣n lưu lại băng thâu âm, băng thâu h́nh, đĩa CD, những thứ ấy đều là tài liệu giảng dạy. Quư vị thật sự mong học, hăy chọn lựa một thứ mà chính ḿnh yêu thích để thâm nhập một môn, huân tu lâu dài, quư vị sẽ có thành tựu. Có thể thật sự thành tựu hay không? Đức hạnh hàng đầu! Nếu chẳng có cơ sở đức hạnh, sự thành tựu của quư vị chẳng chân thật. V́ sao? Trong tương lai, một mai khi tiếp xúc xă hội, do tập khí phiền năo ích kỷ, ham hố tiếng tăm, lợi dưỡng dấy lên hiện hành, những công đức đă tu học của quư vị đều bị phá hoại. Chớ nên không ngăn ngừa chuyện này, đức hạnh chiếm bậc nhất!

          Chuyện này hết sức khó khăn! Các vị xem Từ Bi Tam Muội Thủy Sám, [sẽ thấy] Ngộ Đạt quốc sư đă thị hiện cho chúng ta. Ngài mười đời tŕ giới tinh nghiêm (精嚴, chuyên ṛng, nghiêm ngặt), nghiêm tŕ giới luật suốt mười đời; chẳng phải là một đời, mà là mười đời. Công đức mười đời tu hành, đại phước báo hiện tiền, [trở thành] quốc sư, tức là thầy của hoàng thượng. [Làm thầy của hoàng đế], chẳng phải là do một đời, hai đời, mà là do mười đời tu thành. Làm quốc sư, nay chúng ta nói là “lănh tụ của giới Phật giáo”. Hoàng Thượng dâng biếu Sư một ṭa báu bằng trầm hương, chúng ta gọi là “thái sư ỷ” (太師椅, ghế thái sư). Chiếc ghế thái sư ấy chạm khắc bằng trầm hương, hết sức nổi tiếng, quư báu. Sau khi Sư tiếp nhận, ư niệm ngạo mạn hiện tiền, cảm thấy ǵ? Đây là ân ngộ (恩遇, sự đăi ngộ đầy ân t́nh) của hoàng đế đối với ta, tự ḿnh cảm thấy hết sức vẻ vang, hết sức vinh diệu. Kẻ xuất gia nào trong thiên hạ cũng đều chẳng bằng ta!

          Vừa sanh ư niệm ấy, thần hộ pháp bỏ đi. Thần hộ pháp hộ tŕ đạo đức của quư vị. Hiện thời, quư vị thiếu khuyết đạo đức, cớ sao quư vị dấy lên ư niệm ngạo mạn? Sau khi thần hộ pháp bỏ đi, oán thân trái chủ của Sư bèn t́m tới bên thân. Sư mọc một mụt ghẻ mặt người, bất cứ thầy thuốc nào cũng đều chẳng có cách nào trị liệu, gần như mất mạng. Rốt cuộc, do căn cơ sâu dầy, Phật, Bồ Tát chiếu cố Sư. V́ thế, tôn giả Ca Nặc Ca (vị này là A La Hán) giúp đỡ, cứu mạng Sư, điều giải với oán thân trái chủ của Sư. Oán thân trái chủ cũng đồng ư tiếp nhận. Tôn giả siêu độ kẻ đó, Sư khỏi bệnh. Quư vị bèn hiểu: Đạo đức chẳng thể thiếu khuyết mảy may! Hiện thời, chúng ta chẳng học những thứ ấy. Nếu quư vị học kinh giáo mà chẳng nắm vững kinh giáo, sẽ giống như xây nhà trên cát, chẳng có nền móng! Chư vị chớ nên không hiểu điều này!

          Có thể học kinh giáo, đồng thời vun quén căn cội. Vun quén căn cội ở chỗ nào? Như tôi thường nói với chư vị, hăy thực hiện Đệ Tử Quy, Thập Thiện Nghiệp Đạo, Sa Di Luật Nghi một trăm phần trăm. Lại c̣n phải thường đọc Liễu Phàm Tứ Huấn, An Sĩ Toàn Thư và Cảm Ứng Thiên Vựng Biên. Những thứ ấy đều do Ấn Quang đại sư dạy. Ba loại sách ấy chính là giáo dục nhân quả và đức hạnh đều cùng được bao gồm trong ấy. V́ thế, luân lư, đạo đức, nhân quả, [cộng thêm] kinh giáo chính là [giáo dục] tôn giáo. Học tập đồng thời bốn thứ giáo dục, phải vun quén vững vàng căn cội th́ mới có thể thành tựu trong một đời này. Bất luận là thuận cảnh hay nghịch cảnh, đều chẳng bị ảnh hưởng. Quư vị biết dụng tâm, sẽ là phẩm Tịnh Hạnh. Sau khi đă học phẩm Tịnh Hạnh, bất luận thuận cảnh hay nghịch cảnh, quư vị đều có thể chuyển đổi cảnh giới. Kinh Lăng Nghiêm đă nói rất hay: “Nếu có thể chuyển cảnh, ắt đồng Như Lai”. V́ thế, đây là quan niệm cơ bản, quan trọng hơn bất cứ điều ǵ khác! Sau đấy, quyết định tuân thủ giới luật tức là giữ quy củ.

          Điều thứ hai trong Lục Ḥa Kính là Giới Ḥa Đồng Tu. Đấy cũng là [nói theo] nghĩa rộng, chẳng phải là nghĩa hẹp. Đối với giới luật do đức Phật răn dạy, chúng ta phải tuân thủ. Thập Thiện phải tuân thủ, Ngũ Giới phải tuân thủ, Tam Quy phải tuân thủ. Nếu quư vị muốn làm Bồ Tát, phải tuân thủ Bồ Tát Giới. Bồ Tát Giới có hai loại: Một loại là Bồ Tát giới theo Anh Lạc Kinh, gồm sáu giới trọng và hai mươi tám giới khinh. Loại kia là Phạm Vơng Bồ Tát Giới, gồm mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh. Thông thường, các tại gia cư sĩ đều thọ Anh Lạc Giới, do các giới điều ít. Hàng xuất gia nhất định thọ Phạm Vơng Bồ Tát Giới. Quư vị phải thật sự làm; học điều nào, làm điều đó. Nghiêm túc, quyết định thật sự làm, danh xứng hợp thực.

          Đối với giới luật, khi tôi mới học, thầy dạy tôi coi trọng thực chất, đừng coi trọng h́nh thức. Chương Gia đại sư dạy tôi điều này! “Thực chất” là ǵ? Quư vị học, học rồi th́ phải làm được. Ví như Thập Thiện Nghiệp Đạo, đối với “không sát sanh” ta đă làm được điều này, tức là quư vị đạt được điều ấy, quư vị đă đắc giới. “Không trộm cắp”: Ta học điều này, ta làm được, quư vị cũng đạt được điều này, đắc giới! Nếu quư vị thọ theo h́nh thức, chẳng làm được. Đó là giả, chẳng thật! V́ thế, lăo nhân gia dạy tôi: “Phật pháp trọng thực chất, không coi trọng h́nh thức”, điều này hết sức hợp lư. V́ có rất nhiều người chẳng có duyên phận này, chẳng tiếp xúc những bậc xuất gia, chẳng có nơi để thọ giới, nhưng họ đều làm được, đức Phật thảy đều thừa nhận. Người thế gian chúng ta chẳng thừa nhận, Phật thừa nhận!

          Người thế gian thừa nhận điều ǵ? Quư vị thọ giới, có giới điệp, có chứng thư. Họ thừa nhận những thứ ấy; bản thân quư vị có làm được hay không, họ chẳng cần biết! Do đó, chư Phật, Bồ Tát, thiên, long, quỷ thần trọng thực chất, không coi trọng h́nh thức. Giới điệp, điệp quy y, các vị ấy đều chẳng màng tới những thứ đó, các vị ấy quan tâm quư vị có thật sự làm được hay không? Ta chẳng có điệp quy y, chẳng có giới điệp, nhưng ta thật sự đạt được “giác, chánh, tịnh”, thật sự là khởi tâm động niệm đều có thể hướng theo phương hướng và mục tiêu ấy để nỗ lực học tập. “Tịnh chứ chẳng nhiễm, chánh chứ không tà, giác chứ không mê”, quư vị đă làm được Tam Quy, chẳng cần dùng đến điệp quy y, đă thật sự quy y Tam Bảo. Ngũ Giới “không sát sanh, không trộm cắp, xuất gia không dâm dục, tại gia không tà dâm, không nói dối, không uống rượu”, quư vị làm được, Ngũ Giới đă toàn vẹn, Phật, Bồ Tát thừa nhận, long thiên thiện thần thừa nhận. Các Ngài tôn kính và ủng hộ quư vị. V́ thế, coi trọng thực chất, không coi trọng h́nh thức.

          Trừ điều này ra, đối với pháp luật của quốc gia, có phải tuân thủ hay không? Phải! [Những thứ ấy] đều thuộc về giới luật. Có phải tuân thủ những thứ luân lư đạo đức, phong tục, tập quán thông thường trong xă hội hay không? Phải! Chư vị phải biết, người khác không tuân thủ là chuyện của họ, ta phải tuân thủ. Phải coi trọng quan hệ Ngũ Luân. [Đó chính là] quan hệ giữa con người với nhau, bản thân ta nhất định phải làm được. Nguyên tắc yêu cầu, trong giáo học truyền thống của Trung Hoa, Nho gia nói “hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nhân ái, ḥa b́nh”. Khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, quyết định chẳng trái phạm những điều ấy, thảy đều thuộc loại giới luật. Giống như đạo tràng, tự, viện, am, đường đều có quy củ. Trong các tự, viện, am, đường, thông thường là có công ước thường trụ, mọi người họp lại, chế định những quy định, khuôn mẫu cho cuộc sống, quư vị ắt phải tuân thủ, chẳng thể vi phạm. V́ thế, Tăng đoàn Lục Ḥa Kính ấy có cần ai cai quản hay không? Chẳng cần! Ai nấy đều là người tốt, họ sẽ không vi phạm quy củ, sẽ chẳng phạm pháp. Đối với những chế định của đức Phật, họ sẽ chẳng trái phạm. Đối với những quy định của quốc gia và những tập tục thông thường trong xă hội, họ thảy đều chẳng trái phạm. Đây chính là sự tŕ giới trong điều thứ hai, tức Giới Ḥa Đồng Tu.

          Những điều kế đó biến thành sự tướng, hăy nên [thực hiện] trong cuộc sống hằng ngày. Thân Ḥa Đồng Trụ. Hai mươi người ấy, nay chúng ta chọn lựa giáo huấn của Ấn Quang đại sư. Đông người sẽ phức tạp; hễ phức tạp, cái tâm của quư vị bị loạn, tâm chẳng thanh tịnh. Ví như hai mươi người ấy, trong số đó có một, hai người văng sanh, hễ văng sanh th́ số người hạn định sẽ bị trống hai chỗ, lại có thể bổ sung hai người khác vào đó, vĩnh viễn duy tŕ [số người hạn định] là hai mươi người. Chỉ có thể ít, chẳng cần nhiều; đấy là đạo tràng thật sự đúng pháp.

          Đối với chuyện học Giáo, ngày hôm qua, tôi đă giới thiệu với mọi người: Chúng ta nương cậy A Di Đà Phật làm thầy, chúng ta học kinh Vô Lượng Thọ, học kinh A Di Đà, chuyên tu, suốt đời chẳng thay đổi. Hằng ngày, quư vị cùng mọi người giảng giải, hai mươi đồng học giảng hằng ngày. Giảng từng lần một, mỗi lần đều khác nhau. Càng giảng càng thú vị, càng giảng càng sâu, càng giảng càng rộng, nghĩa lư trong kinh điển sâu rộng vô tận! Như vậy th́ quư vị mới có thể thật sự sanh tâm hoan hỷ. Quư vị thấy kinh Vô Lượng Thọ, trong quá khứ, tôi đă giảng mười một lần, lần thứ mười một c̣n chưa giảng xong, tôi vẫn t́m thời gian để giảng tiếp. Kinh Hoa Nghiêm, chiếu theo cách giảng hiện thời, quá tốn thời gian. Giảng cặn kẽ th́ mọi người sẽ được lợi ích. V́ thế, tôi nói: Hội đầu bèn giảng cặn kẽ, hội thứ hai cũng giảng cặn kẽ. Hội thứ hai là Thập Tín, Thập Tín th́ phải giảng cặn kẽ. Từ hội thứ ba trở đi, chúng tôi chỉ giảng đại ư, sẽ chẳng giảng cặn kẽ. Tôi dự đoán làm theo kiểu ấy, chúng tôi có thể giảng viên măn kinh Hoa Nghiêm trong năm năm. Tôi cũng dự đoán c̣n phải mất ba bốn ngàn giờ nữa, gần như là năm năm, tối đa là bảy năm, sẽ không lâu hơn bảy năm, có thể giảng viên măn bộ kinh này. Tôi dự đoán là từ sáu ngàn giờ cho đến bảy ngàn giờ, điều này rất khó có! Nếu sau này, tôi hăy c̣n thọ mạng, tôi rất hy vọng sẽ giảng Tịnh Độ Ngũ Kinh một lần nữa. Nếu c̣n có thời gian, tôi sẽ giảng kinh Pháp Hoa một lần, giảng kinh Lăng Nghiêm một lần, như vậy là đủ lắm rồi! Tôi suốt đời làm chuyện này. Trừ chuyện này ra, chẳng có chuyện thứ hai!

          Nếu trong tương lai hữu duyên, tôi có thể trở lại Trung Hoa, đó gọi là “lá rụng về cội”. Tôi mong nhà nước cho tôi một đạo tràng nhỏ, hai mươi người. Đạo tràng nhỏ ấy chọn lựa quy củ của Viễn công đại sư, kết giới (結界), [tức là] hoạt động của chúng ta có phạm vi, chẳng rời khỏi giới tuyến. Huệ Viễn đại sư lấy Hổ Khê làm giới hạn. Khách đến viếng, tiễn khách không ra khỏi Hổ Khê. Nơi ấy có chiếc cầu nhỏ, đưa chân tới đó bèn dừng. Tổ tông lưu lại quy củ, nếu chúng ta có thể lư giải, phải bắt chước, phải thực hiện. Hai mươi người cộng tu như vậy, tốt lắm, vừa học Giáo, vừa niệm Phật. Cái tâm sẽ định. Sau khi cái tâm đă định, thân tâm khỏe mạnh, sẽ bớt ăn uống. Chư vị thường xuyên nghe kinh, phải nên thấu hiểu điều này: V́ sao có thể giảm ít? Vọng tưởng ít! Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước ít đi, quư vị sẽ tiêu hao [năng lượng] ít. Sau khi vọng tưởng giảm thiểu, mỗi ngày ăn một bữa là được rồi! Hai mươi người cùng nhau tu hành, thân tâm thanh tịnh. Năm thứ nhất, [mỗi ngày] ăn ba bữa. Năm thứ hai có thể không cần bữa tối. Năm thứ ba có thể không cần bữa sáng. Sau ba năm, chắc chắn là có thể ăn mỗi ngày một bữa giữa trưa. Bản thân tôi đă thực hiện nhiều năm, [hiểu] rất rơ, nhưng từ đầu đến cuối, chẳng có cơ hội. Nếu có cơ hội, chúng ta có một đạo tràng nhỏ như thế, kết giới an cư, chẳng có một ai không thành tựu!

          Thân Đồng Trụ, Khẩu Vô Tránh: Miệng niệm Phật, tụng kinh, làm sao c̣n có thể tranh luận cho được? Chắc chắn là chẳng có. Ư Ḥa Đồng Duyệt, pháp hỷ sung măn. Lợi Ḥa Đồng Quân: Lợi Ḥa Đồng Quân là cuộc sống vật chất b́nh đẳng, chẳng có người nào là ưu việt, ăn uống, sinh hoạt hoàn toàn b́nh đẳng. Phật, Tổ đă lập ra những quy củ ấy, chúng ta có thể y giáo phụng hành; đấy là Tăng đoàn “danh phù hợp thực. Hiện thời, tuy có tinh xá, hoặc là có tự, viện, am, đường, vẫn phải chiếu theo quy củ ấy để thực hiện.

          Chẳng có tranh chấp, sẽ chẳng có xung đột. Trên khắp thế giới trong hiện thời, có bao nhiêu người suy nghĩ làm như thế nào ḥng có thể hóa giải xung đột? Hễ xung đột bèn tranh luận! Chẳng tranh căi, quư vị nghĩ xem có c̣n xung đột, c̣n có đối lập, c̣n có mâu thuẫn hay không? Toàn bộ đều chẳng có! Đối đăi b́nh đẳng, cư xử ḥa thuận, mới có thể thực hiện một trăm phần trăm, thật sự thực hiện viên măn. Các đồng học hăy đặc biệt chú ư chỗ này, Tăng-già-lam là danh xưng của một đoàn thể Lục Ḥa Kính, chẳng phân biệt tại gia hay xuất gia, [đoàn thể] từ bốn người trở lên. Trước kia, sống trong lều tranh nhỏ, bốn, năm người trụ trong lều tranh nhỏ tu Lục Ḥa Kính, nó cũng là một đạo tràng danh phù hợp thực, là Tăng đoàn, nhất định được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần ủng hộ. Những ư nghĩa kế đó trong bài kệ này vẫn chưa được nói đến, nay đă hết thời gian rồi. Giờ sau, chúng tôi sẽ cùng chư vị học tập hai câu kế.

***

          Chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Chúng ta xem tiếp nguyện thứ hai trong phần Xuất Gia Thọ Giới:

 

          (Kinh) Nhập tăng-già-lam, đương nguyện chúng sanh, diễn thuyết chủng chủng, vô quai tránh pháp.

          ()入僧伽藍。當願眾生。演說種種。無乖諍法。

          (Kinh: Vào tăng-già-lam, nguyện cho chúng sanh, diễn thuyết các thứ pháp chẳng tranh chấp).

 

          Chư vị đă hiểu ư nghĩa của Tăng-già-lam; bởi lẽ, nó có phạm vi hết sức rộng răi. Chỉ cần là một đoàn thể từ bốn người trở lên tu Lục Ḥa Kính, sẽ đều được gọi là Tăng Đoàn. Trong Tam Quy Y, [có câu] “quy y Tăng, chúng trung tôn”. Khi truyền trao Tam Quy, chúng tôi đă giảng rất rơ ràng. Quy y Tăng chẳng phải là quy y một người xuất gia nào đó. Nếu nói là “quy y một người xuất gia nào đó”, như vậy là sai mất rồi, hoàn toàn sai lầm! [Quy y Tăng] là quy y Tăng đoàn, vị Tăng ấy đại diện cho Tăng đoàn. V́ sao Tăng đoàn là Chúng Trung Tôn? “Chúng” () là đoàn thể, tất cả hết thảy các đoàn thể. [Các đoàn thể] trong xă hội quá nhiều, gia đ́nh cũng được coi là một đoàn thể, là một đoàn thể nhỏ nhất, cơ bản nhất. Công ty, hăng xưởng, cửa hiệu cũng là đoàn thể. Trong hết thảy các đoàn thể, Tăng đoàn là [đoàn thể] đáng được mọi người tôn kính nhất [nên gọi là Chúng Trung Tôn]. “Tăng đoàn” không nhất định là người xuất gia, mà là ǵ? Đoàn thể tu Lục Ḥa Kính. Bất luận là tại gia hay xuất gia, cũng chẳng cần biết quư vị làm nghề ǵ, thậm chí tất cả các thành viên trong gia đ́nh quư vị đều tu Lục Ḥa Kính, vâng theo sự chỉ dạy của đức Phật, đều tu Lục Ḥa Kính, Tăng đoàn ấy đối đăi b́nh đẳng, cư xử ḥa thuận, quư vị nói xem, có đáng cho kẻ khác tôn kính hay chăng? Đạo lư là như thế đó!

          Nếu các thành viên trong đoàn thể của quư vị bất ḥa, ai sẽ tôn kính quư vị? Chẳng có ai tôn kính quư vị cả! Nói đi, nói lại, nói đến cuối cùng, vẫn là ḥa thuận! Hiện thời, Trung Hoa đề xướng xă hội hài ḥa; Lục Ḥa Kính chính là xă hội hài ḥa. Mỗi đoàn thể đều có thể tu Lục Ḥa Kính, đều có thể thực hiện hài ḥa, thế giới này chính là thế giới Cực Lạc, thế giới này chính là thế giới Hoa Tạng! Mỗi người xác thực là chân Bồ Tát, chẳng phải là giả Bồ Tát. Bồ Tát là người, chẳng phải là thần tiên, mà là bậc giác ngộ, là người tu Lục Ḥa Kính, là người đă buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Người như vậy được gọi là Bồ Tát. V́ thế, Bồ Tát chẳng phải là thần tiên.

          Xuất gia, đương nhiên là sẽ tiến nhập Tăng đoàn. Nhập Tăng đoàn, “nhập Tăng-già-lam” là gia nhập Tăng đoàn, nay chúng ta thường nói là “nhập tự miếu”. Nói thật ra, sẽ là “nhập tự viện”, chẳng thể nói là “tự miếu”. Miếu và tự khác nhau! Miếu: Chỗ thờ cúng quỷ thần th́ gọi là Miếu (). Tự () là nơi chốn để đệ tử Phật tu học, được gọi là Tăng-già-lam, là nơi chốn để tu học. V́ thế, nó hoàn toàn khác với Miếu. Hiện thời, Tự và Miếu bị nhập chung, khiến cho kẻ khác mê hoặc. [Danh xưng] Tự và Miếu được coi giống như nhau; đấy là sai lầm, đă hạ thấp sự giáo dục của đức Phật thành tôn giáo mê tín. Do vậy, chúng ta chớ nên không biết [điều này], người trong xă hội chẳng hiểu rơ ràng. Nếu các đồng học vẫn chẳng hiểu rơ, sai mất rồi! Chúng ta nhất định phải hiểu rơ ràng!

          Vào tự viện, nguyện này bèn sanh khởi, “đương nguyện chúng sanh, diễn thuyết chủng chủng, vô quai tránh pháp” (nguyện cho chúng sanh, diễn thuyết các pháp chẳng hề trái nghịch). Đối với hai câu cuối trong nguyện này, quư vị thấy Tăng-già-lam để làm ǵ? Trường học! Do vậy, sau khi tôi tiếp xúc Phật pháp, đă liễu giải Phật pháp là giáo dục, tức là nền giáo dục của đức Phật, là nền giáo dục của Thích Ca Mâu Ni Phật. Nho gia là nền giáo dục của Khổng Tử. Trong sự giáo dục của Thích Ca Mâu Ni Phật, suốt bốn mươi chín năm, Ngài hằng ngày giảng kinh, dạy học, chẳng dựng trường học; nhưng mỗi ngày lên lớp chính là lên lớp ở đâu? Lên lớp ở ngoài đồng. Sau này, chúng ta lập trường học; tự, viện, am, đường chính là trường học. Trong ấy, phải “diễn thuyết chủng chủng, vô quai tránh pháp”, tức là như chúng ta nói đến toàn thể Phật pháp trong hiện thời, hiện tại [Phật pháp] đă được biên tập thành một bộ Đại Tạng Kinh. Trong Đại Tạng Kinh, chẳng có bộ kinh nào dạy người ta tranh chấp, chẳng hề có! Thật sự là “vô quai tránh pháp” (pháp chẳng chống trái). “Quai” () là trái nghịch. Những điều đức Phật dạy tuyệt đối chẳng trái nghịch Tánh Đức. Các vị hăy ngẫm xem, đấy là nguyên tắc chỉ đạo cao nhất: “Chẳng trái nghịch Tánh Đức”.

          Tánh Đức được người Hoa nói là “nhân chi sơ, tánh bổn thiện” (con người thuở đầu tánh vốn lành). Bản tánh vốn lành, quyết định chẳng trái nghịch bản tánh vốn lành; đấy là “vô quai” (chẳng trái nghịch). Thực hiện trong thực tế, [sẽ là] đối với người, đối với sự, đối với vật, quyết định chẳng tranh giành. Quư vị nh́n vào sáu điều mục tu tập của Bồ Tát, [sẽ thấy điều đầu tiên là] bố thí, tức Xả, tranh giành ở chỗ nào? Tŕ giới, giữ quy củ, nhẫn nhục lại càng chẳng tranh! Do vậy, suốt một đời, trong hơn ba trăm hội, đức Thế Tôn đă dạy những ǵ? Chính là dạy pháp “vô quai tránh”, quyết định chẳng trái nghịch Tánh Đức, chẳng trái nghịch luân lư, chẳng trái nghịch đạo đức, chẳng trái nghịch nhân quả, chẳng tranh với người, chẳng tranh với đời, chẳng tranh với hết thảy vạn vật. Đấy là Phật pháp.

          Trong đạo tràng, trong Tăng đoàn, hằng ngày diễn thuyết, “diễn” () là ǵ? Thực hiện, biểu diễn. Lục Ḥa Kính ai nấy đều làm được, chẳng phải chỉ là như thế! Thập Thiện Nghiệp Đạo thảy đều làm được. Sa Di Luật Nghi, trong quá khứ, tỳ-kheo giới, Bồ Tát giới, chẳng có một điều nào họ không làm được. V́ thế, tôi mới nói: Các bậc thánh nhân đă làm được rồi mới nói. Thầy là người đă làm được; học tṛ là hiền nhân, sau khi nghe xong, ai nấy cũng đều làm được, thật sự học Phật. Ai nấy đều học rất giống đức Phật. Điều kế đó là “nghệ đại tiểu sư” (đến chỗ các vị thầy lớn nhỏ), “đại sư” là thầy, là Phật, “tiểu sư” là học tṛ của đức Phật gồm một ngàn hai trăm năm mươi lăm vị, là tiểu sư, các Ngài đều làm được. “Đại sư” là bậc đă làm rồi mới nói, “tiểu sư” là bậc sau khi đă học, bèn thật sự làm được!

          Chúng ta học phẩm Tịnh Hạnh, nếu gặp người hỏi, “rốt cuộc Phật giáo là nói về điều ǵ?” Dùng tám chữ này để giải đáp, sẽ hết sức hoàn thiện, Phật giáo là nói “diễn thuyết chủng chủng, vô quai tránh pháp”. Không chỉ là ngôn giáo, mà c̣n có thân giáo. “Diễn” () là biểu diễn, làm cho kẻ khác thấy, xác thực là đă nêu gương tốt cho hết thảy chúng sanh. Nói theo Phật pháp, sẽ là “nhân thiên sư phạm” (人天師範, bậc thầy gương mẫu của trời và người). Đức Phật là “nhân thiên sư phạm”, đệ tử đức Phật cũng là “nhân thiên sư phạm”. V́ thế, chúng ta đối với khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, phải suy nghĩ: Ư niệm, cách nói, và cách làm của ta có thể làm gương cho trời và người hay chăng? Ư niệm ấy chính là Giác. Cổ đức thường nói: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. Ư niệm vừa dấy lên, bèn suy nghĩ, có thể nêu gương tốt cho hết thảy chúng sanh hay không?

          Trong hết thảy chúng sanh, kể cả quỷ thần, kể cả chư thiên, ở chỗ không có ai, ở chỗ không trông thấy, vẫn có quỷ thần. Nho gia nói “thận độc” (慎獨, cẩn thận khi chỉ ở một ḿnh). Dẫu chẳng có ai thấy, quư vị vẫn rất cẩn thận, vẫn rất giữ quy củ, chẳng dám buông lung, chẳng dám tùy tiện. Không phải là chẳng có ai thấy, ta có thể tùy tiện đôi chút, lơi lỏng đôi chút, chẳng thể được! Người thời cổ tu hành cẩn thận như vậy. Quư vị thấy trong Đệ Tử Quy, cương mục quan trọng nhất chính là “nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín” (ở trong nhà bèn hiếu thảo, ra ngoài bèn đối xử ḥa thuận, nhường nhịn, cẩn thận, giữ chữ tín), quư vị thấy Cẩn được xếp sau Hiếu và Đễ, xếp vào địa vị thứ ba. Quư vị nói [Cẩn] có quan trọng hay không? Làm người, suốt đời phải cẩn thận. Cẩn thận là chú tâm, nghiêm túc, chẳng dám buông lung, chẳng dám tùy tiện, chẳng dám qua quít. Chẳng cần biết kẻ khác trông thấy hay không, dẫu không thấy, vẫn luôn chú tâm, cẩn thận, nghiêm túc tṛn trách nhiệm! Đức hạnh, học vấn, và đạo nghiệp đều do cơ sở này mà thành tựu.

          V́ thế, trong hiện thời, bất luận đạo tràng lớn hay nhỏ, bất luận số người nhiều hay ít, đạo tràng nhỏ nhất, đức Phật nói là từ bốn người trở lên. Chẳng có đến bốn người, ba người cũng là một Chúng. Người Hoa cứ ba người bèn kêu là Chúng. V́ thế, cách viết của chữ Chúng () chính là ba người (do ba chữ Nhân () ghép lại). Mỗi ngày cùng nhau sống, cùng nhau học tập, nghiên cứu, thảo luận, quyết định chẳng thể tránh khỏi! Giảng kinh, thuyết giáo, ba người có thể thay phiên nhau. Nếu ba người, một người là thầy, hai người kia là học tṛ. Thầy dạy mỗi ngày, tṛ phải giảng lại. Tṛ phải nêu ra báo cáo tâm đắc trong học tập, người bạn học kia nghe, thầy cũng nghe, sống cùng với nhau. Nói theo phía chính ḿnh, sẽ là như Luận Ngữ đă nói: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” (Học rồi thường xuyên tập luyện, cũng chẳng vui sao). Pháp hỷ sung măn! Đối với đại chúng cùng nhau học tập, sẽ là “hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ” (có bạn từ phương xa đến, cũng chẳng vui sao). Bất luận đạo tràng ấy sống ba người hay năm người, cho đến hai mươi người, đều là từ các nơi đến, chúng ta tụ hội cùng một chỗ, chí đồng đạo hợp, lẽ nào chẳng vui sướng?

          Trong đạo tràng này có “chức viên” (職員, những người có chức trách), có “nghĩa công” (義工, những người làm thiện nguyện, làm công quả), có đại chúng thông thường, tụ hội ở nơi đây, cùng học tập chung với nhau, cũng chẳng vui sướng ư? V́ sao lại xung đột? [Nguyên nhân là do] chẳng diễn nói các pháp không chống trái! Chuyện này giống như khi tôi xuất gia vào năm thứ hai hay năm thứ ba, tức là khi đă xuất gia được hai ba năm chi đó. Có một năm, vào dịp Tết Âm Lịch, tôi đến Cao Hùng tham học, trụ tại chùa Hưng Long ở Tả Doanh. Đấy là đạo tràng của tỳ-kheo ni, do pháp sư Thiên Ất trụ tŕ. Chúng tôi cũng coi như là sư huynh, sư đệ, ni sư tiếp đăi tôi. Tôi ở đó ba ngày, giảng cho họ ba hôm. Mỗi ngày giảng hai giờ, giảng cho họ ba ngày. Ni sư hỏi tôi một câu, bà nói ḿnh đối xử với người khác rất nồng hậu, chăm sóc rất chu đáo. Dường như bà ta có năm đạo tràng, cũng là Nam Bắc bôn ba! Năm đạo tràng cũng rất vất vả! Bà ta hỏi tôi: “V́ sao tôi đối xử với kẻ khác tốt đẹp như thế, mà chẳng giữ được họ? Người ta ở đó hai, ba tháng bèn muốn bỏ đi. V́ sao chẳng giữ được họ? V́ sao vào thời cổ, đại chúng trụ trong đạo tràng, sư phụ xua đuổi vẫn không đi?” [Bà ta] hỏi tôi đấy là do nguyên nhân nào? Khi ấy, tôi thưa với bà: “Người ta đến nơi này là muốn đến cầu đạo. Đạo tràng thời cổ thật sự có đạo, có học; do vậy, rất lôi cuốn kẻ khác. Nói theo kiểu hiện thời, thỏa măn nhu cầu học hỏi của họ, thỏa măn cuộc sống tinh thần của họ, lẽ nào họ có thể dễ dăi ĺa khỏi? Lăo ḥa thượng dùng đủ mọi thủ đoạn bức bách họ, họ vẫn chẳng rời ĺa!”

          Chúng ta đă đọc thấy điều này trong Thiền Lâm Bảo Huấn. Lăo ḥa thượng đối với người ấy mặt mũi chầm vầm, chẳng khách sáo tí nào, đuổi thẳng cánh, [người ấy kiên quyết] không đi! Chỉ là đi ra ngoài chùa, khi thầy lên lớp giảng kinh, người ấy ở ngoài cửa nghe, do chẳng thể bước vào giảng đường bèn ở ngoài cửa. Tan học, bèn trốn tránh. Lăo ḥa thượng biết người ấy thật sự dụng công, thật sự tu tập. Có một hôm, lăo ḥa thượng bắt gặp, đang lúc rửa chân, rửa chân vừa xong, tạt luôn chậu nước rửa chân lên thân người ấy. Người ấy vẫn chẳng tức giận, vẫn chẳng chịu bỏ đi. Vài hôm sau, lăo ḥa thượng truyền pháp, nhường lại địa vị, truyền pháp cho ai? T́m người ấy đến, truyền cho người ấy! Đại chúng mới vỡ lẽ: Lăo ḥa thượng hoàn toàn khảo thí người ấy, xem người ấy có phải thật sự là có đức hạnh, thật sự có thể nhẫn nhục, thật sự đạt đến “vô quai tránh” hay không? Người ấy là pháp khí, chẳng phải là kẻ b́nh phàm. Kẻ b́nh phàm mới nói mấy câu, [đă tự nhủ] “sớm chuồn mất mới là thượng sách! [Chuyện này] được chép trong Thiền Lâm Bảo Huấn. Nói cách khác, nếu thầy coi trọng quư vị, sẽ giữ bản mặt khó ưa đối với quư vị! V́ sao? Rèn luyện, thành tựu quư vị. Nếu chẳng mong thành tựu quư vị, thấy quư vị chẳng có thành tựu, cứ cùng tu với đại chúng là được rồi, lăo ḥa thượng sẽ đối xử với quư vị rất khách sáo!

          Thuở trước, chúng tôi cầu học với thầy Lư ở Đài Trung, thầy đối xử với đồng học giống như vậy. [Học tṛ nào] được thầy thật sự nh́n trúng, sẽ có đánh, có chửi, mặt mũi quạu quọ! Nếu thầy nhận thấy đứa học tṛ nào trong tương lai chẳng thể thành tựu, sẽ đối xử với nó rất khách sáo. Khi ấy, tôi mới học, tiếp xúc Phật pháp rất nông cạn, chẳng hiểu chuyện này! Thầy dạy tôi, giải thích: “Kẻ chịu tiếp nhận, có đánh, chửi cũng không đi, người ấy trong tương lai sẽ thành tựu, phải nên thành tựu người ấy! Kẻ nào mới nói mấy câu, mặt đă đỏ phừng phừng, chẳng thể tiếp nhận. Chớ nên nói nữa, hăy khách sáo. V́ sao? Chớ nên kết oán cừu với kẻ đó!” Tôi nghe xong, hoảng nhiên đại ngộ, mới hiểu rơ! Đối đăi mỗi người thật sự có chừng mực, có thể thành tựu th́ thành tựu người ấy. Đối với kẻ chẳng thể thành tựu, bèn khách sáo, quyết chớ nên kết oán cừu! Tụ lại vui vẻ th́ chia tay cũng vui vẻ, chớ nên làm mất ḷng người ta! Trong khóa học, thầy có thái độ đối với học sinh như vậy đều nhằm dạy bảo chúng ta!

          Chúng tôi rời khỏi thầy, dấn ḿnh vào xă hội, lại c̣n theo đuổi công việc giảng kinh, dạy học, lại chẳng có đạo tràng cố định, có tánh chất lưu động rất lớn, tiếp xúc rất nhiều người, đối với sự giáo dục ấy, rất có thọ dụng! Tôi giữ vững một nguyên tắc: Đối với bất cứ ai, cũng đều khách sáo, khiêm hư, nhẫn nại, nhường nhịn, quyết định chẳng kết oán với kẻ khác. Dẫu bị khuất nhục, nhất định phải biết nhẫn nại, phải hiểu nhân quả ba đời. Tôi đối xử tốt đẹp với họ, họ c̣n oan uổng tôi, vẫn muốn hủy báng tôi, thậm chí c̣n nghĩ ra những phương cách hăm hại tôi. Tôi biết đó là do trong đời quá khứ, nhất định là tôi xử tệ với người ấy. Đời này gặp gỡ, phải bị trả đũa! Phải nên tiếp nhận sự báo thù ấy, chớ nên oán hận, mà hăy giải quyết, kết thúc món nợ ấy! Đời sau gặp gỡ, sẽ là bạn tốt, chẳng có xích mích! Nếu chẳng chịu nổi ủy khuất, quư vị vẫn có tâm oán hận, c̣n có tâm báo thù, sẽ bị phiền phức to lớn. Đời sau ta sẽ báo thù kẻ đó, khi ta mạnh hơn kẻ đó, sẽ khinh dễ, lấn áp kẻ đó. Khi kẻ đó mạnh hơn ta, nhất định sẽ coi rẻ, lấn áp ta. Đời đời kiếp kiếp, oan oan tương báo, chẳng hết, chẳng xong! Hễ báo đền, tuyệt đối chẳng phải là vừa khít, mà nhất định sẽ lố hơn một tí. Mỗi đời một lố hơn, đến cuối cùng, sẽ hết sức thê thảm! Chớ nên không biết điều này!

          V́ thế, người thật sự hiểu lư, dẫu bị ủy khuất, dẫu bị tổn hại to tát cỡ nào, vẫn chẳng có tâm sân khuể. Trong kinh Phật, khi Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n làm Bồ Tát, trước khi Ngài thành Phật, đă tu Nhẫn Nhục Ba La Mật. Thuở ấy, Ngài có hiệu là Nhẫn Nhục tiên nhân. Đó là Bồ Tát, [có hiệu] là Nhẫn Nhục tiên nhân. Quư vị thấy Ngài gặp phải vua Ca Lợi, đúng là vô duyên vô cớ, vua Ca Lợi nổi giận giết Ngài. Lại c̣n chẳng cho Ngài chết tử tế, mà lăng tŕ xử tử, tức là dùng dao nhỏ xẻo thịt trên thân, xẻo từng miếng một, xẻo cho đến chết! Nhẫn Nhục tiên nhân đúng là bị oan uổng, bị tổn thương to lớn dường ấy, [nhưng Ngài] chẳng oán hận, chẳng báo thù, lại c̣n phát nguyện: “Trong tương lai, khi ta thành Phật, sẽ độ ngươi đầu tiên!” Ngài bị vua Ca Lợi cắt xẻo thân thể, do Nhẫn Nhục Ba La Mật viên măn, cho nên chẳng hận nhà vua, lại c̣n cảm kích, nói: “Chẳng phải là Nhẫn Nhục Ba La Mật của ta đă thật sự đạt đến rốt ráo ư? Nếu gặp phải hoàn cảnh ấy mà c̣n có một niệm oán hận, [tức là] Nhẫn Nhục Ba La Mật vẫn chưa đến nơi đến chốn, vẫn c̣n phải tu. Ngài coi vua Ca Lợi như một vị thầy đến khảo thí, đến khảo hạch Ngài, Ngài vượt được thử thách ấy, Lục Ba La Mật đều cùng viên măn một lượt!

          Nhẫn Nhục tiên nhân là tiền thân của Thích Ca Mâu Ni Phật. Hậu thân của vua Ca Lợi là tôn giả Kiều Trần Như. Bồ Tát nói được, làm được, Ngài thành Phật, người thứ nhất đắc độ chính là Kiều Trần Như. Ngài ở Lộc Dă Uyển v́ năm người ấy thuyết pháp. Tăng đoàn vừa mới thành lập, một người hướng dẫn năm người. Một thầy năm tṛ, v́ họ giảng kinh, thuyết pháp. Kiều Trần Như khai ngộ đầu tiên, chứng quả A La Hán. Đó là nêu gương cho cơi đời, làm khuôn mẫu cho chúng ta. Chúng ta học Phật, chẳng thể không học chỗ này! Hứng chịu tí tẹo ủy khuất, trong tâm khó chịu, đấy là phàm phu, chẳng có tí ti công phu nào! Công phu là dần dần nâng cao, đặc biệt rèn luyện trong hoàn cảnh nhân sự, rèn đến mức giống như Nhẫn Nhục tiên nhân: Xác thực là quư vị chẳng có tí tẹo lỗi lầm nào, người ta cứ từng đao xẻo thịt quư vị cho đến chết. Quư vị chẳng có tâm oán hận, chẳng có tâm báo thù, c̣n có thể cảm ơn. Vậy là quư vị thành Phật chẳng xa!

          Quư vị nghe điều này, chắc là cảm thấy thành Phật khó quá, rất chẳng dễ dàng! Đúng vậy, thoạt nh́n, phàm phu [sẽ cảm thấy] thật khó, chẳng dễ dàng, v́ nguyên nhân nào? Chấp trước kiên cố; chẳng thể buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước được. V́ sao Nhẫn Nhục tiên nhân có thể làm tự tại dường ấy? Vô ngă! Kinh Kim Cang nói “vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”. Cũng có nghĩa là quư vị tổn thương vị ấy, vị ấy đă buông xuống thân thể, thân thể này chẳng phải là ta! Thân thể giống như một bộ quần áo, quần áo hư hoại chẳng sao cả! Lại thay một bộ khác! Nếu quư vị muốn đoạt lấy thân thể này bèn cho quư vị, [giống như cởi bỏ quần áo cũ], lập tức thay đổi một bộ [mới]. Hễ thay đổi, nhất định là sẽ thù thắng hơn [thân thể] này. V́ sao? Công đức, trí huệ từng giai đoạn đều cao hơn. Do đó, càng thay đổi, càng tốt đẹp hơn. Bỏ thân La Hán, được thân Bồ Tát; bỏ thân Bồ Tát, được thân Phật. Càng thay đổi, càng thù thắng hơn!

          Bất luận là đạo tràng lớn hay nhỏ, số người nhiều hay ít, chẳng thể không giảng kinh, thuyết pháp. Giảng kinh, thuyết pháp là lên lớp. Tự, viện, am, đường là trường học. Lẽ đâu trường học chẳng dạy học? V́ thế, tôi nói với pháp sư Thiên Ất: “Năm đạo tràng của bà thiếu dạy học. Ở đây, quư vị chẳng giảng kinh, chẳng thuyết pháp, mà cũng chẳng nghiêm túc tu hành. Tu hành cho tới thời đại hiện tại, xét theo h́nh thức chỉ có hai loại: Một là Niệm Phật Đường, hai là Thiền Đường. Tuy ở đây quư vị có Thiền Đường, có cái tiếng, nhưng chẳng có ai tọa Thiền, cho nên bà chẳng giữ được người ta! Để thật sự giữ được người, phải lên lớp!” Ai sẽ lên lớp? Nhất định phải là do chính quư vị cầm đầu. Chính ḿnh tu dưỡng kinh giáo chẳng đủ, quư vị có thể mời thầy! Quư vị là hiệu trưởng, hiệu trưởng th́ không nhất định phải đích thân đứng lớp, mà mời mọc giáo viên. Đạo tràng này cần ǵ? Ta học pháp môn nào? Ta cần kinh luận nào? Mời người đến giảng, mời người đến dạy, người ta sẽ chẳng bỏ đi! Đạo lư ở ngay chỗ này!

          V́ lẽ này, cớ sao đạo tràng phải là chí đồng đạo hợp? Đức Phật mở ra tám vạn bốn ngàn pháp môn, căn tánh của mỗi người không giống nhau, chí thú không giống nhau, tŕnh độ không giống nhau. Do vậy, nhất định là phải khế cơ, đương nhiên là khế lư, tức là thích hợp với tŕnh độ và sự hứng thú, yêu thích của mấy người bọn ta; đấy là “chí đồng đạo hợp”. Sự h́nh thành của đoàn thể ấy chẳng đơn giản. Nói xa xôi, sẽ là do đă gieo nhân trong đời quá khứ. Nếu trong đời quá khứ chẳng có nhân, đời này dẫu gặp gỡ, cũng chẳng hợp nhau! Trong đời quá khứ đă gieo nhân, đời này do có duyên, mới có thể tụ hội cùng một chỗ, chung sức học tập, lấy đâu ra chuyện ngẫu nhiên? Nhưng duyên có dài lâu hay tạm bợ khác nhau! Có trường hợp duyên phận chỉ có vài ngày, đều là duyên phận. Giống như chúng ta

ra ngoài du hành, ở trong khách sạn. Nhân viên phục vụ trong khách sạn gặp chúng ta cũng rất hợp duyên, rất khách sáo. Chúng ta đón nhận sự tiếp đăi của họ. Ở hai ba hôm bèn ra đi, [tức là] trong đời quá khứ, cái duyên ấy là hai, ba ngày. Có đồng tham lăo hữu trụ một chỗ suốt ba năm, năm năm, tức là họ có duyên ba năm, năm năm. Trụ mười năm, hai mươi năm là do họ có duyên mười năm, hai mươi năm. Chẳng có duyên, sẽ không thể được! Nếu quư vị hiểu duyên phận thuộc về nhân quả, [sẽ biết] nhân quả thông khắp ba đời, quư vị sẽ chẳng chấp trước. Khi duyên tụ bèn hoan hỷ, khi duyên tán cũng chẳng khổ năo tí nào! V́ sao? Chuyện b́nh thường.          

          Nhưng đạo tràng, đặc biệt là đạo tràng trong hiện tại, đều chẳng phải là ở lại lâu dài, mà đều là ngắn ngủi, tạm bợ. Như chúng tôi giảng kinh Hoa Nghiêm chẳng giống cách giảng của tổ sư đại đức, nguyên nhân ở chỗ nào? Mỗi buổi giảng đều có đồng học mới đến nghe lần đầu. Mỗi ngày đều có [những người như vậy], thính chúng có tánh chất lưu động quá lớn. Từ các nơi đến, có rất nhiều người đến Hương Cảng để nghe kinh, nghe pháp, ở lại một tuần. Giấy thông hành Hương Cảng có kỳ hạn tối đa là hai tuần, họ phải rời khỏi. V́ thế, chúng tôi chẳng ngại lặp đi lặp lại, chẳng ngại nói cặn kẽ, hy vọng quư vị đến nghe một lần, sẽ được thọ dụng một lần, đến nghe vài ngày cũng liên tục được như vậy. Đấy là v́ nhu cầu của đại chúng trong hoàn cảnh hiện thực. Nếu chẳng giảng theo kiểu ấy, sẽ có lỗi đối với đại chúng. Họ từ những nơi rất xa trong ngoài nước đến đây tham học, nếu chúng ta chẳng nói lời thật với họ, không báo cáo những thứ thật sự để họ dùng làm tham khảo, lẽ nào quư vị chẳng có lỗi với người ta? Do vậy, cách giáo học hoàn toàn chẳng giống như cách dạy dành cho những học sinh cố định.

          Nếu chúng ta có một đạo tràng nhỏ, hai mươi người cùng nhau cộng tu, hy vọng suốt đời đều ở chung với nhau, giống như Đông Lâm Liên Xă tại Lư Sơn của Viễn Công thuở trước. Hễ gia nhập liên xă, trong tương lai, sẽ văng sanh tại đó, sẽ hoàn toàn khác hẳn! Nhất định là hằng ngày kinh luận sẽ [giúp cho chúng ta] nâng cao cảnh giới của chính ḿnh, hằng ngày giúp hóa giải phiền năo tập khí nơi bản thân. Nay chúng ta hiểu, thuở ấy Viễn Công bẩm thừa một bộ kinh Vô Lượng Thọ, đúng là “thâm nhập một môn, huân tu lâu dài”. V́ thế, người đông ngần ấy, ai nấy đều thành tựu! Chúng ta hiểu rơ về mặt lư luận, dẫu là xét theo cách chứng minh của khoa học, cũng có thể khẳng định sự thành tựu của họ!

          Rốt cuộc có thế giới Cực Lạc hay không? Tổ sư đă chứng minh tốt nhất cho chúng ta biết! Người văng sanh trong liên xă chẳng đồng thời, có người trước kẻ sau, như nhóm ông Lưu Di Dân văng sanh sớm. Lúc Viễn Công đại sư văng sanh, họ đều theo A Di Đà Phật cùng đến nghênh tiếp. Những người tới đón ấy c̣n nói giỡn với Viễn Công: “Viễn công! Thầy độ chúng con, chúng con đến trước, thầy đến sau”. Chuyện này được ghi chép. Trong một đời, Viễn công đă từng ba lượt thấy thế giới Cực Lạc. “Ba lượt” chính là ba lần trong khi Chỉ Tĩnh vào lúc niệm Phật, Ngài đă trông thấy ba lượt, chẳng hề kể với ai! Cuối cùng, khi văng sanh, đấy là lần thứ tư. Sau khi trông thấy lần thứ tư, Tổ mới bảo mọi người: “Thế giới Cực Lạc hiện tiền, đức Phật đến tiếp dẫn ta. Những người trong liên xă đă văng sanh trước ta, ta đều trông thấy, họ theo Phật cùng đến, nay ta phải đi rồi”. Lúc ấy, Tổ mới nói trong quá khứ đă từng ba lượt thấy cảnh giới ấy. Các đồng tu đang hiện diện bèn hỏi: “Thầy thấy t́nh h́nh trong thế giới Cực Lạc như thế nào?” Lăo nhân gia nói: “Hoàn toàn tương ứng với những ǵ kinh đă dạy, cảnh giới ấy là thật”. Nếu chẳng tương ứng với những điều kinh đă dạy, sẽ chẳng phải là thật! V́ thế, sự tu tŕ của Huệ Viễn đại sư và thành tựu của các vị trong liên xă chính là chứng minh có lợi nhất cho sự tu học Tịnh Tông. Đấy chính là Tác Chứng Chuyển trong “tam chuyển pháp luân”[1] như nhà Phật đă nói! Đă là như vậy mà chúng ta chẳng tin tưởng, sẽ chẳng có cách nào cả! Vẫn phải tiếp tục luân hồi, tùy thuộc khi nào tín tâm của quư vị có thể sanh khởi th́ [mới ḥng liễu thoát!].

          Trong thế giới hiện thời, tôi thường nhắc nhở và khuyến cáo đồng học, hăy so sánh từng mười năm một! Từ kinh nghiệm đích thân của chính ḿnh, tám mươi năm! Mười năm đầu là mười tuổi, mười năm thứ hai là hai mươi tuổi, [rồi lần lượt là] ba mươi tuổi, bốn mươi tuổi, cứ lấy mười năm làm một giai đoạn để so sánh, quư vị sẽ thấy rất rơ ràng. Thế giới mỗi năm loạn lạc tệ hại hơn! Tôi nói “năm” [ở đây] với ngụ ư mười năm. Mười năm thứ hai chẳng bằng mười năm thứ nhất. Mười năm thứ ba lại không bằng mười năm thứ hai. Phát triển theo kiểu đi xuống như thế, nhân loại có thể sống b́nh an hết thế kỷ hai mươi mốt hay không? Thế kỷ hai mươi mốt là đến khi nào? Cho đến năm 2100! Nếu quư vị hỏi tôi có ḷng tin [con người sẽ sống sót] hay không? Tôi xin thưa là tôi chẳng có tín tâm! Sợ là ngày tàn của thế giới như phương Tây đă nói sẽ thật sự xuất hiện.

          Tôi ở châu Âu, ở Mỹ, đối với chuyện này từ mấy năm trước, tôi đă bảo các bạn đồng học. “Tận thế” là do người phương Tây khởi xướng. Tôi bảo họ: Chẳng phải là địa cầu bị hủy diệt, cũng chẳng phải là chiến tranh nguyên tử. Cách nh́n của tôi là ǵ? Chính là do ḷng người trái nghịch, vứt bỏ luân lư, đạo đức, nhân quả, tôn giáo, càng ngày càng xa! Ba, bốn chục năm sau, trái nghịch một trăm tám mươi độ, xă hội sẽ đúng như nhiều người đă nói: “Sợ rằng loài người ngay cả súc sanh vẫn chẳng bằng”. Ai nấy ngập tràn oán hận, oán trời hờn người! Nghe mấy câu chẳng quen tai, liền động dao, động súng! Quư vị thấy trong xă hội hiện thời, con cái giết cha mẹ, cha mẹ giết con cái, anh em tàn sát lẫn nhau, trong trường th́ tṛ giết thầy, [những chuyện như vậy] đă chẳng c̣n là những tin tức nóng hổi nữa! Những trường hợp như vậy quá ưnhiều! Hiện thời, trong một tuần, có thể nghe thấy [những chuyện như thế] vài lượt. Tôi bảo họ, mười năm sau, mỗi tuần quư vị có thể nghe thấy mười mấy, hai mươi lần. Hai mươi năm sau, có thể là mỗi ngày sẽ nghe một, hai trăm lần, thế giới này sẽ trở thành thế giới như thế nào? Đó gọi là Tận Thế.

          Muốn cứu văn, ắt phải cậy vào tất cả hết thảy cư dân trên địa cầu giác ngộ. Giác ngộ bằng cách nào? Nhất định là phải khôi phục luân lư, đạo đức, nhân quả, tôn giáo. Có thể khôi phục bốn loại giáo dục ấy, sẽ có thể hóa giải tận thế, sẽ có thể tồn tại lâu hơn. Hiện thời, chúng ta phạm sai lầm là quá mức coi trọng khoa học, vật chất, hoàn toàn chẳng có cuộc sống tinh thần, con người và động vật chẳng khác ǵ nhau! Nhưng động vật ăn no, sẽ chẳng xen vào chuyện của người khác. Con người chẳng như vậy, dẫu chính ḿnh đă ăn no đẫy, vẫn muốn tổn hại kẻ khác! Kẻ ăn chẳng no càng chẳng cần phải nói nữa, c̣n làm sao được nữa!

          Vài ngày nữa, tôi sẽ sang Ấn Nê (Indonesia) để tham dự một hội nghị. Hội nghị ấy gồm có đại biểu từ các tôn giáo thuộc mười sáu quốc gia tại Á Châu, chủ đề thảo luận là ḥa b́nh, làm thế nào để giúp đỡ thế giới hóa giải xung đột, xúc tiến ḥa b́nh. Họ mời tôi, tôi tuổi tác cao ngần ấy, đấy là một chuyện lớn, tôi đến dự, sẽ nêu ra những ǵ chính ḿnh đă thấy, đă nghĩ để mọi người tham khảo. Từ nay về sau, tôi không muốn tham gia những loại hội nghị như vậy nữa! Năm nay, Trung Quốc c̣n muốn cử hành một luận đàn Phật giáo thế giới, nghe nói cũng mời mọc khá nhiều đại biểu các quốc gia trên thế giới tham dự. Tôi chánh thức nhận được thiếp mời; đây là lần đầu tiên nước nhà tổ chức, đưa tôn giáo hướng ra thế giới, tiếp cận đường lối của thế giới, đấy là một chuyện tốt đẹp. V́ thế, tôi nhận lời tham dự hội nghị lần này, hy vọng lần hội nghị này chính là lần cuối cùng tôi theo đuổi hoạt động quốc tế trong đời này!

          Từ nay về sau, nguyện vọng của tôi là có duyên phận, sẽ ở trong pḥng thâu h́nh tại Hương Cảng, thật thà giảng viên măn kinh Hoa Nghiêm. Muôn duyên khác đều buông xuống! Ở trong nước, thành lập những trung tâm văn hóa cũng thế, mà các trường học trong tương lai cũng thế, sẽ do những người trẻ tuổi làm. Tôi chỉ đề xướng một phen, chẳng quản những chuyện ấy! Tôi có thể dùng sức ảnh hưởng của chính ḿnh để giúp đỡ họ, hy vọng có thể thực hiện tốt đẹp những chuyện ấy, tạo lợi ích cho chuyện hóa giải xung đột, xúc tiến ḥa b́nh. Nhất định là phải nâng cao giáo dục luân lư, giáo dục đạo đức, giáo dục nhân quả, giáo dục tôn giáo, th́ mới có thể thật sự thực hiện! Nếu không, ḥa b́nh là hô khẩu hiệu, chắc chắn sẽ chẳng thể hóa giải xung đột! Chúng ta phải hiểu rơ những sự lư này! A! Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói tới chỗ này!

 

Tập 1508

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, xem bắt đầu từ bài kệ thứ ba trong phần Xuất Gia Thọ Giới.

 

          (Kinh) Nghệ đại tiểu sư, đương nguyện chúng sanh, xảo sự sư trưởng, tập hành thiện pháp.

          ()詣大小師。當願眾生。巧事師長。習行善法。

          (Kinh: Đến chỗ các vị thầy lớn, nhỏ, nguyện cho chúng sanh, khéo phụng sự sư trưởng, tu tập các thiện pháp).    

 

          Bài kệ này hết sức trọng yếu. Câu đầu tiên trong Tịnh Nghiệp Tam Phước dạy chúng ta “hiếu dưỡng phụ mẫu”, kế đó, câu thứ hai là “phụng sự sư trưởng”. Từ chỗ này, chư vị sẽ có thể thấy rất rơ ràng, Phật pháp chính là hiếu đạo, là sư đạo. Nhất định lấy hiếu đạo làm cơ sở, kiến lập sư đạo từ trên hiếu đạo. Nếu nói kẻ bất hiếu với cha mẹ mà có thể tôn kính thầy, trong ấy sẽ có vấn đề. V́ sao? Đối với người đáng nên thân thiết mà kẻ ấy lơ là, bất hiếu với cha mẹ mà có thể hiếu thuận với thầy, nhất định là có mưu đồ. V́ đấy là một hiện tượng khác thường! Ở nhà hiếu thảo với cha mẹ, ở trường phụng sự thầy; đấy là b́nh thường. Chúng ta phải hiểu đạo lư này! Hiếu đạo và sư đạo là căn bản. Không chỉ là cổ nhân hết sức coi trọng, người thật sự có học thức trong thế gian hiện thời cũng cảm thấy tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ thơ. Tôi đă nghe các học giả, chuyên gia đàm luận, [họ nói] đức hạnh và nhân cách của mỗi người được tạo lập trước khi tṛn năm tuổi. Ai kiến lập cho kẻ ấy? Mẹ kiến lập cho kẻ ấy. V́ thế, chức trách của người mẹ hết sức vĩ đại. Có người mẹ tốt lành th́ mới có con cái tốt lành!

          Trong những phần trước, chúng tôi đă nói nhiều lần: Phật, Bồ Tát là do dạy dỗ mà ra, bậc thánh hiền cũng là do dạy dỗ mà ra. Người Hoa khéo dạy học nhất, cũng rất giỏi dạy học, có kinh nghiệm dạy học hết sức phong phú. Vào thời đại thượng cổ, tổ tiên người Hoa đă hiểu đạo lư này! Lại c̣n nghiêm túc thực hiện. Đương nhiên là chẳng thể thực hiện phổ biến, chúng ta có thể lư giải chuyện này! Quốc gia này quá đông dân, lănh thổ cư trú cũng hết sức rộng lớn, vào thời cổ, giao thông chẳng thuận tiện. Do vậy, giáo học phổ cập rất khó! Nhưng ảnh hưởng của giáo dục rất lớn. Một thôn trang, một tiểu trấn (hương trấn) có thể có một hai nhà biết cách giáo dục, sẽ ảnh hưởng cả một vùng. Toàn thể vùng ấy đều sẽ bắt chước, sẽ đều học tập theo. Đấy là chuyện tốt đẹp. Từ các sách cổ, chúng ta thường thấy chuyện này. Cổ nhân thường nói: Trong một trăm người, có một vị thiện nhân, sức ảnh hưởng của vị thiện nhân ấy sẽ có thể cảm hóa chín mươi chín người kia. Mức độ cảm hóa khác nhau, v́ căn tánh của mỗi người khác nhau, nghiệp chướng tập khí khác nhau, lại c̣n do hoàn cảnh sống của mỗi người cũng có sai biệt. Những điều ấy đều ảnh hưởng đến nhân cách và đức hạnh của mỗi người.

          Giáo dục bắt đầu từ khi nào, chúng ta phải biết điều này! Đối với cổ nhân, người phụ trách công tác giáo dục là người vợ, tức bà chủ gia đ́nh. Chức trách của bà ta được đại chúng trong xă hội khẳng định, là hiền mẫu. Chức trách của bà ta là bồi dưỡng thế hệ kế tục. Đối với thế hệ kế tục, trong gia đ́nh của quư vị có nẩy sanh nhân tài hay không? Quốc gia và xă hội có xuất hiện nhân tài hay không? Sứ mạng ấy luôn do bà chủ gia đ́nh [đảm nhiệm]. Sự giáo dục của người phụ nữ trong gia đ́nh là do ai dạy cho bà ta? Do thế hệ trước dạy, đời đời truyền cho nhau. Bà ta thông hiểu, biết sứ mạng của chính ḿnh vĩ đại khôn sánh. V́ thế, bà nuôi dạy thế hệ kế tiếp hết sức cẩn thận. Trẻ thơ sanh ra ba bốn ngày đă có thể thấy, có thể nghe, tuy nó chẳng thể nói năng, nhưng nhất cử nhất động của người lớn nó thấy rơ ràng. Nói theo Phật pháp, sẽ là “đều in vào trong A Lại Da Thức”. V́ thế, kẻ làm cha mẹ, làm người lớn, ở trước mặt trẻ thơ, nói năng, cử chỉ, toàn là những điều chánh đáng, quyết định chẳng có những điều phản diện!

          Tiêu chuẩn là ǵ? Nay mọi người cùng nhau học tập Đệ Tử Quy, đấy là tiêu chuẩn. Đệ Tử Quy chẳng phải là sách giáo khoa để dạy trẻ nhỏ, chẳng phải vậy, mà là kẻ làm cha mẹ, làm người lớn sẽ giáo dục trẻ thơ bằng thân giáo, làm cho trẻ nhỏ trông thấy, cho trẻ thơ nh́n thấy. Nó nh́n suốt ba năm, đứa trẻ ba tuổi ấy hiểu chuyện. Nó biết hành vi nào là đúng, hành vi nào là sai lầm, nó hiểu biết, có năng lực phân biệt đúng, sai, thiện, ác, có năng lực ấy. Đó gọi là “gia giáo”, gia giáo là giáo dục căn cơ.     

          Đối với sự hưng khởi của nền giáo dục Trung Hoa, cũng chính là “khởi nguồn của sự giáo dục” như chúng ta nói trong hiện thời, v́ sao có sự giáo dục trong gia đ́nh? Đấy cũng là do quan niệm luân lư đă được tổ tiên lưu truyền, “phụ tử hữu thân” (父子有親, cha con có t́nh thân). Chuyện này chẳng phải do con người sáng chế, mà là tự nhiên, thiên nhiên. Quư vị thấy cha mẹ đối với con thơ thân ái dường ấy, hoàn toàn dốc trọn tấm ḷng chăm sóc trẻ thơ. Suốt ba năm, thời thời khắc khắc luôn bận tâm, chỉ sợ chăm sóc chẳng chu toàn! Kẻ làm con mà chẳng biết ân đức của cha mẹ, đến khi chính kẻ ấy dưỡng dục con cái, mới biết tấm ḷng yêu thương, nỗi nhọc nhằn của người làm cha mẹ. Giáo dục được hưng khởi từ chỗ này! Mục đích của giáo dục là hy vọng t́nh thân ái “phụ tử hữu thân” được ǵn giữ vĩnh viễn, suốt đời chẳng bị biến chất. Đấy là mục tiêu thứ nhất trong nền giáo dục của Trung Hoa từ xưa tới nay. “Cha từ, con hiếu”, suốt đời chẳng biến đổi!

          Mục tiêu thứ hai là phát huy rộng răi t́nh yêu thương ấy, tức là do t́nh thân ái giữa cha và con, kẻ ấy sẽ biết yêu thương anh em, yêu thương gia tộc, yêu thương làng xóm láng giềng, yêu xă hội, yêu quốc gia, yêu thương hết thảy chúng sanh, mở rộng! Chư vị phải hiểu: Nền giáo dục truyền thống năm ngàn năm của Trung Hoa nói theo kiểu hiện thời chính là giáo dục yêu thương, giáo dục thân ái”. V́ thế, tuy dân tộc này rất đông đúc, do được giáo dục từ nhỏ như vậy, đă dưỡng thành ḥa b́nh, lễ nghĩa, nhân nhượng, chẳng có cạnh tranh. Đấy cũng là chứng tỏ cho người hiện thời thấy, chẳng cạnh tranh cũng có thể sống rất tốt đẹp, đôi bên tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, hỗ trợ hợp tác, quư vị nói thế giới này, xă hội này tốt đẹp dường ấy. Hiện thời, Trung Hoa đề xướng “xă hội hài ḥa, thế giới hài ḥa”; nền giáo học truyền thống năm ngàn năm của Trung Hoa chính là để thực hiện chuyện này.

          Xă hội hài ḥa, thế giới hài ḥa được thực hiện bằng cách nào? Nhất định là phải dựa vào quan niệm giáo học th́ mới có thể thật sự thực hiện. Trong phần trước, chúng ta đă học “hiếu dưỡng phụ mẫu”; chỗ này dạy chúng ta khéo phụng sự sư trưởng. Câu đầu tiên là “nghệ đại tiểu sư”, “nghệ” () hàm nghĩa “thân cận”. Nói theo Phật môn, Phật là đại sư, “chúng sở tông cố” (眾所宗, do được mọi người tôn sùng). Đệ tử Phật có Bồ Tát, có A La Hán, [những vị ấy] được gọi là “tiểu sư”. Nếu nói theo hàng Bồ Tát, Bồ Tát là đại sư, A La Hán là tiểu sư. [Nếu nói theo các vị A La Hán], A La Hán là đại sư, ḥa thượng b́nh phàm gọi là tiểu sư. Chúng ta phải hiểu rơ ràng mối quan hệ trong cách xưng hô này. Phật, Bồ Tát, La Hán [gọi là đại sư]; nói chung chẳng có vấn đề, nhưng ḥa thượng [xưng là đại sư] th́ có vấn đề. V́ sao? Người hiện thời chẳng biết Ḥa Thượng là ǵ, cứ tưởng hễ xuất gia th́ người ấy sẽ làm Ḥa Thượng. Do đó, nẩy sanh hiểu lầm.

          Ḥa Thượng (Upādhyāya) là tiếng Phạn, phiên âm từ tiếng Ấn, có nghĩa là Thân Giáo Sư. Ngài Thanh Lương chú giải cũng hay lắm, chú giải khéo lắm.

 

          (Sớ) Thân sở giáo cố.

          ()親所教故。

          (Sớ: V́ được Ngài đích thân dạy dỗ).

 

          Chúng ta học Phật, tiếp nhận sự dạy dỗ của thầy. Nói theo phía chúng ta, vị thầy ấy được gọi là Ḥa Thượng, tức Thân Giáo Sư (親教師). Ngài chẳng trực tiếp dạy chúng ta, sẽ chẳng có cách xưng hô ấy, v́ chẳng có mối quan hệ ấy. Giống như hiện thời học hành trong nhà trường, ai dạy quư vị? Quư vị nhất định phải hiểu: Chẳng phải là giáo viên dạy quư vị, mà là hiệu trưởng dạy quư vị. V́ sao? Chương tŕnh học do hiệu trưởng ấn định, giáo viên do hiệu trưởng mời, mời vị ấy đến thay cho hiệu trưởng chấp hành nghĩa vụ giáo học. Hiệu trưởng quy hoạch toàn thể việc giáo học. V́ thế, đối với giáo dục, ông ta làm chủ tể, giữ vai tṛ chủ đạo, c̣n giáo viên là người chấp hành. Quư vị nhất định phải hiểu điều này.

          Quư vị học thành tựu trong nhà trường, phải cảm tạ hiệu trưởng; đương nhiên cũng chẳng thể quên mất vị thầy đă v́ chúng ta lên lớp. Vị thầy đứng lớp không gọi là Ḥa Thượng, mà gọi là A Xà Lê (阿闍梨, Ācārya). A Xà Lê cũng là tiếng Phạn, có nghĩa là Quỹ Phạm Sư (軌範師). Quư vị thấy Ḥa Thượng được gọi là Thân Giáo Sư. Quỹ Phạm Sư: Quỹ () là quỹ đạo (軌道, Orbit), Phạm là mô phạm (模範, khuôn mẫu). Đức hạnh và học vấn của vị thầy ấy có thể làm khuôn phép, làm gương mẫu cho chúng ta, chẳng gọi Ngài là Ḥa Thượng. V́ thế, một đạo tràng chỉ có một vị Ḥa Thượng. Nói thông thường, vị trụ tŕ đạo tràng được gọi là Ḥa Thượng, những vị khác đều gọi là Xà Lê. Theo thói quen trong hiện thời, những vị khác đều được gọi là pháp sư, đúng lắm! Gọi “pháp sư” là đúng! Trong một ngôi chùa, có rất nhiều pháp sư, nhưng Ḥa Thượng chỉ có một, chẳng phải ai nấy đều là Ḥa Thượng. Trong hiện tại, giống như trường đại học có vị giáo thọ (教授, giáo sư) chỉ đạo, vị giáo sư chỉ đạo th́ có thể gọi là Ḥa Thượng. Quá nửa những vị thầy chỉ đạo của các nghiên cứu sinh thuộc các lớp trong chương tŕnh Thạc Sĩ hoặc Tiến Sĩ đều có thể gọi là Ḥa Thượng.

          Từ ư nghĩa của cách xưng hô theo địa vị này, quư vị bèn hiểu Phật pháp là giáo dục, chẳng phải là tôn giáo. Trong tôn giáo, chẳng có kiểu xưng hô như Thân Giáo Sư, Quỹ Phạm Sư, chẳng có những cách xưng hô ấy. Quư vị thấy trong các tôn giáo b́nh phàm, sẽ gọi là Mục Sư (牧師)[2], hoặc Thần Phụ (神父, linh mục), chẳng gọi là Thân Giáo Sư, Quỹ Phạm Sư. Chẳng xưng hô kiểu ấy! Quan hệ của họ là tuân theo Thần (Chúa) hoặc Thượng Đế, có mối quan hệ ấy, trong Phật giáo chẳng có! Trong Phật giáo, chúng ta học Phật sẽ nẩy sanh quan hệ với Phật. Phật là ai vậy? Phật là đại sư, Thân Giáo Sư. Đại sư, hoặc gọi là Đại Đạo Sư, hoặc gọi là Đạo Sư (導師). Đạo Sư, Đại Sư, Đại Đạo Sư, đều là tôn xưng đức Phật, Bồ Tát chẳng dùng cách xưng hô này. Chúng ta tôn xưng Bồ Tát là Đại Sĩ, chữ Sĩ () trong Sĩ Nông Công Thương, như Quán Âm đại sĩ, Văn Thù đại sĩ. Bồ Tát c̣n gọi là Khai Sĩ (開士), chữ Khai trong khai ngộ, nhằm nêu rơ Ngài đă khai ngộ. Sĩ là người đọc sách, là người có đạo đức, có học vấn. Người có đạo đức, có học vấn, lại khai ngộ, cho nên gọi là Khai Sĩ.

          Từ những cách xưng hô này, quư vị liền liễu giải: Tự, viện, am, đường là nơi chốn để dạy học. Trong phần trước, có nói đến “Tăng-già-lam”, tiếng Phạn gọi là Tăng-già-lam, nay chúng ta gọi là Đạo Tràng, là cơ sở để dạy học. Quư vị thấy trong bài kệ “nhập tăng-già-lam” ấy, những câu kế tiếp là “diễn thuyết chủng chủng, vô quai tránh pháp” chính là giáo học. Đạo tràng nhà Phật là để dạy học. Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, Ngài lên lớp mỗi ngày. Giảng kinh, thuyết pháp chính là lên lớp. Hiện thời gọi là “lên lớp”, thuở ấy, gọi là “giảng kinh, thuyết pháp”. Chúng ta thân cận thầy là v́ muốn học tập thầy, muốn học làm người tốt, trong kinh Phật thường gọi [người tốt] là “thiện nhân”. Mở kinh điển ra, chư vị luôn có thể trông thấy [từ ngữ] “thiện nam tử, thiện nữ nhân”. Mục tiêu đầu tiên, mục tiêu gần nhất trong việc học Phật của chúng ta là mong làm một thiện nhân. Tiêu chuẩn của thiện nhân là Thập Thiện Nghiệp Đạo.

          Do vậy, học Phật th́ học khởi đầu từ chỗ nào? Chúng ta chọn Tịnh Nghiệp Tam Phước trong Quán Kinh làm nguyên tắc chỉ đạo tu học cao nhất, tuân theo ba điều dạy bảo ấy để nghiêm túc nỗ lực học tập. Điều thứ nhất gồm bốn câu: “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng”, chúng ta thực hiện hai câu này bằng Đệ Tử Quy. Thực hiện Đệ Tử Quy một trăm phần trăm, hai câu ấy sẽ được thực hiện. Hai câu kế tiếp là “từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện Nghiệp”, hai câu này thực hiện bằng kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo. Qua bốn câu kinh ấy, đức Phật đă chỉ ra hai bộ kinh điển, hai bộ kinh điển ấy đều là giới luật căn bản. Thật sự làm được, sẽ đạt được tiêu chuẩn “thiện nam tử, thiện nữ nhân”. Hai thứ ấy chẳng làm được, sẽ chẳng phải là “thiện nam tử, thiện nữ nhân” như kinh đă nói. Đấy chẳng phải là như kinh đă gọi; nói cách khác, kinh này chẳng dành cho quư vị học tập, [nguyên do là v́] quư vị chẳng đủ tŕnh độ! V́ thế, đối với hết thảy các kinh điển Đại Tiểu Thừa, quư vị đều phải đạt được tiêu chuẩn này trước hết th́ mới có thể nhập học.

          Không chỉ là Đại Thừa, Tiểu Thừa cũng nhập môn từ chỗ này. Có cơ sở như vậy, quư vị mới có thể thọ Tam Quy, Ngũ Giới. Tam Quy Ngũ Giới lấy “hiếu thân, tôn sư” (hiếu thảo với cha mẹ, tôn kính thầy) và Thập Thiện Nghiệp Đạo làm cơ sở. Chẳng có cơ sở ấy, sẽ chẳng thể thọ Tam Quy Ngũ Giới. V́ thế, trước khi thọ Tam Quy Ngũ Giới, phải học [những điều cơ sở này]. Hiện thời, chẳng chú trọng, người nào đến quy y cũng chẳng cần ắt phải trọn đủ những điều kiện ấy, cứ thọ quy y. Quy y kiểu ấy, Phật môn gọi là Danh Tự Quy Y, hữu danh vô thực! “Quy” () là trở về, “y” () là nương cậy, trong phần sau, chúng tôi sẽ nói đến. Tức là trong đoạn này, [quy y] sẽ thuộc về ba nguyện thứ chín, thứ mười, thứ mười một trong đoạn thứ hai, tức phần Xuất Gia Thọ Giới: Quy y Phật, quy y Pháp, quy Tăng. Quư vị mới hiểu quy y Phật, Phật là giác chứ không mê. Nói cách khác, từ mê hoặc mà quay lại, nương cậy Tự Tánh Giác; đấy là “quy y Phật”. Chúng ta thọ Tam Quy Y, có từ mê hoặc, điên đảo quay lại hay không? Chẳng quay về, [tức là] quư vị chẳng quy! Nếu quư vị chẳng nương tựa Tự Tánh Giác, quư vị chẳng y! Quy và Y đều chẳng có, chỉ là làm chuyện h́nh thức một phen! H́nh thức ấy đức Phật chẳng thừa nhận, thần hộ pháp cũng chẳng thừa nhận.

          Thật sự quy y, thật sự quy y Tam Bảo, trong giới kinh đă nói rất rơ ràng, sẽ có ba mươi sáu vị thần hộ giới che chở quư vị. Nghe nói chuyện tốt đẹp này, [có đến] ba mươi sáu vị thần hộ giới hộ tŕ ta, ta vội vă quy y. Nếu quư vị là [quy y] h́nh thức, chẳng phải là thực chất, chẳng có thần hộ pháp hộ tŕ quư vị đâu nhé! Quư vị phải có [Tam Quy Y] thật sự! Thật sự có thực chất, chẳng quy y theo h́nh thức, chẳng sao hết, người thế gian không thừa nhận quư vị, Phật thừa nhận quư vị, thần hộ pháp thừa nhận quư vị, long thiên thiện thần thừa nhận quư vị! Do vậy, quư vị biết điệp quy y không quan trọng, giới điệp cũng chẳng quan trọng. “Phật pháp trọng thực chất, chẳng trọng h́nh thức”, lúc chúng tôi mới học Phật, thầy đă dạy tôi điều này, Chương Gia đại sư dạy tôi. Ngài dạy tôi học Giới, chẳng dạy tôi thọ giới! Đối với Giới, quư vị học một điều, làm được một điều, tức là thật sự đạt được một điều, được gọi là “đắc giới”. Quư vị làm được hai điều, sẽ đạt được hai điều. Giới kinh nói cứ đắc một giới điều, sẽ có năm vị thần hộ giới bảo vệ quư vị; quư vị đắc hai giới điều, sẽ có mười vị thần hộ giới bảo vệ quư vị.

          Các đồng học tại gia thọ Ngũ Giới, Ngũ Giới đều đạt được. Đạt được ǵ vậy? Làm được; chẳng phải là làm được ngay một lúc. Suốt một đời, bất luận trong hoàn cảnh nào, cũng đều chẳng trái phạm, quư vị đă thật sự đạt được. Thật sự đạt được Ngũ Giới, sẽ có hai mươi lăm vị thần hộ giới ngày đêm gia hộ quư vị, chẳng ĺa khỏi quư vị. Nhưng quư vị phải thật sự làm, thật sự thực hiện được. Do vậy, đối với ư nghĩa của giới luật, quư vị phải thật sự hiểu, phải nghiêm túc học tập, chẳng phải là thọ theo h́nh thức, [thọ theo h́nh thức] sẽ chẳng có tác dụng! Nhưng thầy Lư vẫn cổ vũ, khích lệ chúng ta thọ giới, bất luận là tại gia hay xuất gia. Thầy Lư cổ vũ, khích lệ: Sau khi quư vị đă thọ Tam Quy, thầy cổ vũ, khích lệ quư vị thọ giới, nhưng trọn chẳng cưỡng ép. V́ sao cổ vũ, khích lệ quư vị? Thầy chẳng tùy tiện cổ vũ, khích lệ kẻ khác. Thầy xem xét người ấy là hạng người như thế nào, có những kẻ thầy về căn bản sẽ hoàn toàn chẳng cổ vũ, khích lệ. Thầy cổ vũ, khích lệ quư vị sau khi đă thọ giới, hăy khéo học giới. Đấy là đúng, tấm ḷng ấy rất từ bi, rất khó có. Sau khi đă thọ giới, hăy nghiêm túc học giới. Đặc biệt là đối với giới xuất gia, đă thọ mà chẳng học, đeo cái tiếng xuất gia, chẳng có thực chất, sai lầm mất rồi!

          Chúng tôi cũng thường xuyên nhắc đến, trong Phật giáo Trung Hoa, đă có điển h́nh, gương mẫu rất tốt đẹp: Ngẫu Ích đại sư. Sau khi Ngẫu Ích đại sư thọ tam đàn đại giới, Ngài biết chẳng làm được giới tỳ-kheo, chẳng thể mang danh xưng là tỳ-kheo. V́ thế, Ngài đối trước Phật, Bồ Tát thoái giới. Thoái giới rất dễ dàng, chỉ cần đối trước Phật, Bồ Tát, thưa với Phật, Bồ Tát: “Con chẳng thể tŕ giới này, con thoái giới, lui xuống”. Thọ giới, tam sư thất chứng rất phiền phức; thoái giới rất dễ dàng. V́ thế, Ngài thoái lui giới tỳ-kheo. Giới Sa Di Ngài có thể làm được; do vậy, lăo nhân gia suốt đời xưng là Sa Di, chẳng xưng là tỳ-kheo, tức Bồ Tát Giới Sa Di, nêu gương rất tốt cho người đời sau. Học tṛ của Ngài, thế tục gọi là “đồ đệ”, “đồ đệ” (徒弟) trong thời cổ là học sinh trong hiện thời. Hiện thời gọi là học sinh, tức là pháp sư Thành Thời. Ngẫu Ích Đại Sư Toàn Tập do pháp sư Thành Thời biên tập, khắc ván lưu thông. Thầy xưng là Sa Di, tṛ chẳng dám xưng là Sa Di, Ngài xưng là Xuất Gia Ưu-bà-tắc. Tôi hết sức tôn kính Ngài, Ngài đă nêu gương tốt nhất cho chúng ta. Chẳng làm được giới Sa Di, sẽ như thế nào? Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện Ngài làm được, danh và thực tương xứng. V́ thế, gọi là Xuất Gia Ưu-bà-tắc. Ưu-bà-tắc là cư sĩ tại gia, nhưng Ngài là người xuất gia, có thể nói là bậc cư sĩ xuất gia!

          Hiện thời, thân phận của chúng ta là tại gia, nếu thật sự nỗ lực đạt đến xuất gia cư sĩ là đă khá rồi! Đối với bậc cư sĩ xuất gia, nay chúng tôi nêu ra ba điều kiện: Đệ Tử Quy, Thập Thiện Nghiệp Đạo, Tam Quy Ngũ Giới thật sự có thể thực hiện, như vậy th́ quư vị là “thiện nam tử, thiện nữ nhân” danh phù hợp thực như kinh điển Đại Tiểu Thừa đă nói. Quư vị có thể đảm nhận [danh hiệu ấy] mà chẳng hổ thẹn. Mở kinh điển ra, kinh do đức Phật nói với chúng ta, chẳng phải là nói với ai khác, ta là hàng đương cơ, sẽ khác hẳn!

          Nay chúng ta thực hiện những điều này. Đối với “đại sư”, chúng ta tu Tịnh Độ, trong phần trước, tôi cũng đă giới thiệu cùng chư vị, đại sư là A Di Đà Phật. V́ sao chẳng phải là Thích Ca Mâu Ni Phật? Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta quy y A Di Đà Phật[3], chúng ta nghe lời, Thích Ca Mâu Ni Phật tuyệt đối chẳng trách móc. Ngài dạy chúng ta quy y A Di Đà Phật, chúng ta bèn quy y A Di Đà Phật, nhất định là Ngài sẽ hết sức hoan hỷ. Nếu chúng ta không chịu quy y A Di Đà Phật, chúng ta thích quy y Thích Ca Mâu Ni Phật, nhất định là Thích Ca Mâu Ni Phật sẽ bảo: “Đứa học tṛ này chẳng vâng lời”. Quư vị hăy ngẫm xem có đúng hay không? Chẳng vâng lời! Dạy quư vị quy y A Di Đà Phật là do ư nghĩa nào? Dạy quư vị thành Phật ngay trong một đời! Nếu quư vị chẳng quy y A Di Đà Phật, chẳng thể thành tựu ngay trong một đời này, phải tiến dần dần. Chứng A La Hán, chư vị phải hiểu: Sau khi đă chứng đắc Sơ Quả, phải qua lại cơi trời và nhân gian bảy lần rồi mới chứng quả A La Hán. Thọ mạng trong nhân gian không dài, thọ mạng trên cơi trời chẳng ngắn. Bảy lần qua lại, quư vị phải biết là bao nhiêu năm! Nhưng nếu quư vị quy y A Di Đà Phật, thành tựu trong một đời, thành tựu quá thù thắng. Thích Ca Mâu Ni Phật từ bi, Ngài chẳng có tri kiến môn hộ, giới thiệu, đề cao A Di Đà Phật với học tṛ của chính ḿnh. Kẻ nào tiếp nhận, kẻ ấy sẽ thành tựu trong một đời, thù thắng khôn sánh!

          Do vậy, trong hiện thời, đại sư của chúng ta là A Di Đà Phật, là kinh Vô Lượng Thọ. Chúng ta nương theo kinh Vô Lượng Thọ, nương theo kinh A Di Đà để tu hành. Đấy chính là “thân cận đại sư”. Kinh điển niệm một lượt chính là thân cận đại sư, nghe giáo huấn của đại sư, cung kính, đọc, tụng, thọ, tŕ, tiếp nhận giáo huấn của đức Phật [một lượt]. Sau khi tiếp nhận, nhất định sẽ y giáo phụng hành. “Tiểu sư” là vị thầy nay ta đang thân cận. Thầy Lư giới thiệu Ấn Quang đại sư cho tôi, Ấn Quang đại sư ở nơi đâu? Ngài lưu lại Văn Sao, ta mỗi ngày đọc và học Văn Sao, [đấy chính là] “thân cận tiểu sư”. Đại sư và tiểu sư đều chẳng ở trước mặt ta, nhưng đại sư lẫn tiểu sư chưa hề rời khỏi ta, chẳng phải là ở ngay nơi đây, mà cũng chẳng ĺa khỏi. Nếu quư vị học như vậy, chắc chắn sẽ thành tựu ngay trong một đời này!

          Quy y và thọ giới theo h́nh thức, tôi không phản đối, đáng nên tiếp nhận Tam Quy, tiếp nhận Ngũ Giới. V́ sao? Sau khi đă tiếp nhận, quư vị hăy nghiêm túc phụng hành; đấy chính là làm cho đại chúng trong xă hội thấy được bộ mặt thật của Phật giáo. Quư vị đang hoằng pháp lợi sanh, tạo một h́nh tượng tốt đẹp cho Phật giáo, công đức ấy chẳng thể nghĩ bàn! Nếu chúng ta thọ Tam Quy, thọ Ngũ Giới, mà làm không được, chúng ta đă phá hoại h́nh tượng. Đại chúng trong xă hội nh́n vào người đó, sẽ thấy h́nh tượng của người học Phật [tồi tệ như thế đó]. Do vậy, họ sẽ chẳng chửi quư vị, mà chửi toàn thể Phật giáo! Tội nghiệp ấy rất nặng! Ai đă khiến cho kẻ ấy tạo tội nghiệp? Do bản thân chúng ta chẳng làm tốt, khiến cho họ gây tạo tội nghiệp. Họ bị đọa lạc, chúng ta sẽ bị liên lụy! V́ ta làm không được, họ mới hủy báng, mới lăng nhục Tam Bảo, ta biến thành kẻ đầu sỏ gây tội, chẳng trốn thoát trách nhiệm được, [sẽ phải hứng chịu] khổ báo trong tam đồ! Nhất định phải hiểu điều này! Nhưng trước khi thọ Tam Quy Ngũ Giới, tốt nhất là học Đệ Tử Quy trước đă. Có cơ sở ấy, quư vị sẽ có thể thọ tŕ Tam Quy, Ngũ Giới, sẽ chẳng khó! Quư vị có thể làm được Thập Thiện Nghiệp Đạo; đă hiểu rơ, thông hiểu, quư vị sẽ nghiêm túc nỗ lực thực hiện. Đấy là đặt vững căn cơ cho Phật pháp. Chẳng có căn cơ ấy, niệm Phật vẫn chẳng thể văng sanh! Chư vị nhất định phải biết điều này.

          Chúng ta c̣n biết có những người về căn bản là chẳng quy y Tam Bảo. Tôi nhớ trước kia đă có nhắc đến vài lần. Thuở trước, tôi ở Mỹ, tại Hoa Thịnh Đốn có một vị là Châu tiên sinh, tên là Châu Quảng Đại, mở tiệm bánh ḿ tại đó. Suốt đời ông ta chẳng tin tưởng tôn giáo, nhưng là người tốt, chẳng có tín ngưỡng tôn giáo! Khi lâm chung, ông ta bị bệnh ung thư, bác sĩ đă ngừng trị liệu. Người trong nhà đúng là “gặp chuyện mới ôm chân Phật”, t́m đến đạo tràng Phật giáo, xem có cách nào cứu được hay không? Ở Hoa Thịnh Đốn, chúng tôi có một Tịnh Tông Học Hội ở đó. Khi ấy, chẳng gọi là Tịnh Tông Học Hội, mà gọi là Hội Phật Giáo Hoa Thịnh Đốn, tôi c̣n mang danh là hội trưởng nơi đó. Các đồng tu kể với tôi, họ (người nhà của ông Châu) t́m đến đó.

          Các đồng tu rất phát tâm, đến thăm ông ta, thấy ông ta xác thực là không xong rồi! Những vị đồng tu ấy cũng rất khó có, cũng thường nghe kinh, hiểu biết một ít đạo lư, bèn khuyên ông ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ: “Thế gian này quá khổ, chẳng đáng để lưu luyến!” Châu tiên sinh là người có thiện căn, nghe xong, cảm thấy rất hữu lư, liền bảo vợ con: “Các ngươi thảy đều niệm Phật giúp đỡ ta văng sanh. Đừng mong ta lành bệnh, mà hăy giúp ta văng sanh”. Cả nhà và một số đồng học thuộc hội Phật giáo giúp ông ta trợ niệm. Trợ niệm ba ngày, ông ra đi. Khi đi, thụy tướng hết sức tốt lành, các đồng học bên kia gọi điện thoại kể với tôi. Đó là ǵ? Ngay cả nghi thức Tam Quy cũng đều chẳng có, ông ta thật sự văng sanh. Chẳng có h́nh thức, ông ta có thực chất, thật sự quay đầu, thật sự nương cậy A Di Đà Phật! A Di Đà Phật là Tự Tánh Phật. Câu Phật hiệu là Tự Tánh Pháp. Nhiều bạn bè như vậy trợ niệm cho ông ta; đấy là thanh tịnh Tăng, Tam Bảo trọn đủ. Ông ta nương cậy vào đó, ba ngày ba đêm niệm Phật không gián đoạn, văng sanh!

          Có rất nhiều người hỏi: “V́ sao ông ta có thể văng sanh? Ông ta có thể văng sanh là do thiện căn từ các đời trước. Khẳng định là người này đă nhiều đời nhiều kiếp tu Tịnh Độ, nhưng lâm chung luôn bị chướng ngại, chẳng thể văng sanh! Đời này, trong khi lâm chung, gặp pháp môn Tịnh Tông. Nghe xong bèn tin tưởng, tiếp nhận, chẳng phải là do thiện căn sâu dầy trong đời quá khứ, sẽ chẳng làm được! V́ thế, chúng tôi giải thích với các đồng học: Đó là do thiện căn trong nhiều đời nhiều kiếp hiện hành khởi tác dụng lúc lâm chung. Đó chính là nguyện thứ mười tám trong bốn mươi tám nguyện của kinh Vô Lượng Thọ, khi lâm chung, một niệm hay mười niệm đều có thể văng sanh. Do vậy, những điều kinh dạy chẳng giả!

          Cơ duyên như vậy rất khó có, v́ sao? Ông ta ắt phải trọn đủ ba điều kiện:

          1) Điều kiện thứ nhất, khi lâm chung đầu óc sáng suốt. Điều kiện này hết sức khó được! Nếu đầu óc chẳng tỉnh táo, quư vị nói với kẻ ấy, kẻ ấy chẳng hiểu, chẳng có một tí biện pháp nào cả! Đầu óc rất tỉnh táo! Phàm là người lâm chung đầu óc sáng suốt, dẫu chẳng học Phật, người ấy sẽ chẳng đọa trong ác đạo. Chư vị nghĩ xem, có kẻ nào đầu óc sáng suốt mà đi đầu thai trong súc sanh, ngạ quỷ? Chẳng thể nào! V́ thế, hễ lâm chung mà mê hoặc, sẽ phiền phức! Do mê hoặc, điên đảo, mới vào trong ác đạo! Người đầu óc tỉnh táo, sẽ không [đi vào đó]! Chúng ta học Phật, hằng ngày dụng công, hằng ngày tu phước để làm ǵ? Chính là v́ cầu khi lâm chung, tâm không điên đảo, sáng suốt, tỉnh táo, đương nhiên là quư vị có thể niệm Phật! Như vậy th́ lẽ đâu chẳng văng sanh? Do đó, quư vị hăy ngẫm xem, ai có thể nắm chắc khi lâm chung đầu óc sáng suốt? Rất ư là khó, phải biết điều này. Có phước báo, chẳng cần hưởng trong hiện tại, hăy hưởng khi lâm chung. Lâm chung đầu óc sáng suốt, đó là đại phước báo, [tự ḿnh] quyết định đời sau của quư vị, quan trọng hơn bất cứ điều nào khác.

          2) Điều kiện thứ hai, gặp thiện hữu chân chánh khuyên quư vị niệm Phật văng sanh; [đấy là] điều kiện thứ hai! Khi lâm chung, có một người như thế đến khuyên quư vị niệm Phật văng sanh. Chuyện này cũng chẳng dễ dàng, gặp gỡ vừa khéo!

          3) Điều kiện thứ ba, quư vị nghe xong, lập tức tiếp nhận, chẳng nghi hoặc mảy may.

          Quư vị nghĩ xem, ba điều kiện ấy khó khăn lắm! Ông Châu Quảng Đại đă trọn đủ ba điều kiện ấy!

          Từ Văng Sanh Truyện, chúng ta thấy trong thời cổ, vào đời Đường, Trương Thiện Ḥa giết trâu. Khi lâm chung, những kẻ đầu trâu đến đ̣i mạng, ông ta kêu gào cứu mạng. Vừa gào “cứu mạng”, khéo sao có một vị xuất gia đi qua cửa, bước vào gặp ông ta, [hỏi han] chuyện ǵ thế? [Ông ta thưa], “rất nhiều gă đầu trâu đ̣i mạng con!” Vị xuất gia ấy thắp một nắm hương đưa cho ông ta, [dạy] “hăy ngay lập tức niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tịnh Độ”. Ông ta niệm mấy chục câu A Di Đà Phật, nói: “Kẻ đầu trâu chẳng c̣n nữa, A Di Đà Phật đến rồi!” Ông ta văng sanh. Trường hợp này chính là ba điều kiện trên đây đều trọn đủ. V́ thế, chẳng thể cầu may! Nếu chúng ta cầu may, mong mỏi làm chuyện xấu nhiều hơn vẫn chẳng sao, khi lâm chung vẫn c̣n kịp! Chỉ sợ lúc lâm chung, mê hoặc, điên đảo, hiện tại nói là “chứng lăng trí tuổi già” (Alzheimer’s). Tuổi già bèn mê hoặc, điên đảo [mà mong] lâm chung niệm Phật văng sanh, chẳng thể trông cậy được đâu nhé! V́ thế, [tích lũy] phước, đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, hy vọng khi lâm chung, tâm chẳng điên đảo, chánh niệm hiện tiền th́ mới có thể văng sanh. A! Nay đă hết thời gian rồi. Chúng ta nghỉ ngơi mấy phút!

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Chúng ta xem tiếp hai câu sau trong bài kệ thứ ba.

 

          (Kinh) Xảo sự sư trưởng, tập hành thiện pháp.

          ()巧事師長。習行善法。

          (Kinh: Khéo phụng sự sư trưởng, tu tập thiện pháp).

 

          Hai câu này đă được biểu hiện viên măn trong đoạn cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm, tức phần năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài trong phẩm Nhập Pháp Giới. Hết sức khó có, Thiện Tài là một người học tập Đại Thừa, thầy dạy vỡ ḷng của Ngài là Văn Thù Bồ Tát. Dưới ṭa của Văn Thù Bồ Tát, Ngài đắc Căn Bản Trí, đă trọn đủ điều kiện tham học. Chẳng đắc Căn Bản Trí, sẽ chẳng có tư cách tham học. [Thiện Tài đă] đắc Căn Bản Trí, Văn Thù Bồ Tát bảo Ngài đi tham học, đồng thời khai thị cho Ngài. Những lời khai thị tuy rất nhiều, cương lănh là tám chữ này, đặc biệt dạy Thiện Tài phải biết “xảo sự sư trưởng” (khéo phụng sự sư trưởng). “Xảo sự” (巧事) là ǵ? Tôn sư trọng đạo! Chỉ thấy ưu điểm, chẳng thấy khuyết điểm của thầy; đó gọi là “xảo sự”.

          Chư vị phải biết: Khá nhiều kẻ cầu học cầu đạo trong thế gian, gặp thiện tri thức thật sự, do không biết “xảo sự”, cuối cùng đều thất bại. V́ sao thất bại? Không chịu học theo thầy! V́ thế, thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, đă biểu diễn chuyện này hết sức cặn kẽ, Ngài làm cho chúng ta thấy! Quư vị thấy có kẻ nào hủy báng Ngài hay không? Có chứ! Bên ngoài hủy báng không tính, bên ngoài là lục sư ngoại đạo, có ganh tỵ, chướng ngại, hủy báng Thích Ca Mâu Ni Phật, quá nhiều! Những kẻ ấy vẫn không kể tới, người ngoài mà! Bên trong th́ Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) là anh em họ của Thích Ca Mâu Ni Phật, là người một nhà, lại xuất gia theo Thích Ca Mâu Ni Phật học pháp. Quư vị thấy đó, vừa là thân thích, vừa là đệ tử, có thể nào chẳng tin tưởng [những lời lẽ của] kẻ hủy báng ấy? Quư vị thấy chuyện này nghiêm trọng lắm! Bởi lẽ, chắc chắn là có nhiều người mong học theo Thích Ca Mâu Ni Phật, do nghe lời lẽ của Đề Bà Đạt Đa, đều ngă ḷng! Đấy là ǵ? Thiện căn, phước đức, nhân duyên quá mỏng; chẳng phải là không có. Nếu không có, họ sẽ chẳng thể dấy lên ư niệm ấy. Hễ có ư niệm ấy, tức là có thiện căn, phước đức, nhân duyên; nhưng do nghe người ta thêu dệt, ly gián, tín tâm bị chôn vùi, chẳng c̣n học tập nữa. Đấy chính là do thiện căn, nhân duyên chẳng đủ sâu dầy! Quư vị thấy kinh Di Đà dạy: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể do ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cơi ấy). Cùng một đạo lư như nhau, chẳng thể do chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà ḥng thân cận thiện tri thức được!

          Thuở đức Phật tại thế đă có lắm kẻ hủy báng ngần ấy; bên trong hủy báng, bên ngoài hủy báng. Trong là do Đề Bà Đạt Đa cầm đầu, lục quần tỳ-kheo[4] chẳng nghe lời đức Phật giáo huấn, vi phạm giới luật. Nói cách khác, họ cũng làm rất nhiều chuyện xấu. Đức Phật thật sự là trí huệ và đạo đức quá cao, quá lớn! Do vậy, những người sáng suốt trong xă hội vẫn theo đức Phật học tập, vẫn tôn đức Phật làm thầy. Trong những kẻ tại gia và xuất gia ấy, hàng tại gia có quốc vương, đại thần, hàng tại gia c̣n có trưởng giả, cư sĩ, rất khó có; đấy là làm cho chúng ta thấy. V́ sao đức Phật phải làm như vậy? Chuyện như vậy về sau ngày càng nhiều, triều đại nào, nơi chốn nào mà có một vị thiện tri thức không bị kẻ khác hủy báng?

          Khi tôi mới học Phật, thân cận Chương Gia đại sư, rất nhiều kẻ nói thẳng vào mặt tôi: “Cớ sao ngươi lại học theo ổng? Ổng là ḥa thượng chánh trị mà”[5]. Người trong giới Phật giáo hủy báng, người ngoài giới Phật giáo cũng hủy báng. Chúng tôi vừa mới tiếp xúc Phật pháp, nghe thấy khá nhiều lời phê b́nh chẳng tốt đẹp, chúng tôi c̣n có thể thân cận hay chăng? Nhưng thuở ấy trong tâm tôi hiểu rất rơ, tôi thân cận vị lăo nhân ấy. Vị lăo nhân ấy lớn hơn tôi ba mươi chín tuổi. Khi tôi thân cận Ngài, Ngài đă sáu mươi lăm tuổi, tôi hai mươi sáu tuổi. Vị lăo nhân ấy từ bi, hiền lành, từ tốn, oai nghi, tôi vừa thấy, chẳng thể nào không [kính ngưỡng, khâm phục] năm vóc sát đất! Những kẻ hủy báng Ngài, ai có thể sánh bằng Ngài? Đương nhiên là tôi chẳng tiện biện bác, tuổi trẻ, vừa mới học Phật mà! Mặc kệ quư vị ở trước mặt tôi nói Ngài không ra ǵ, mỗi tuần, tôi vẫn đến nghe Ngài giáo huấn, chẳng chịu ĺa bỏ. Đối với bạn bè rất thân thiết, tôi mới nói với họ: “Những kẻ hủy báng đều chẳng thân cận đại sư. Chúng tôi thường thân cận, [mới có thể] liễu giải những kẻ bên ngoài đang bịa chuyện, đặt điều!”.

          Sau này, đọc Hoa Nghiêm mới thấy, nguyên lai đức Phật đă sớm biết chuyện này. Thời Mạt Pháp sẽ có những chuyện như vậy nẩy sanh, Xảo là xảo ở chỗ này! Văn Thù Bồ Tát dạy Thiện Tài đồng tử đối với thiện tri thức phải cung kính. Đúng là “một phần thành kính, được một phần lợi ích; mười phần thành kính, được mười phần lợi ích”. Thiện tri thức phạm lầm lỗi, quyết định chẳng ghim trong ḷng. Lầm lỗi ấy chưa chắc đă là thật, v́ sao? Vị ấy tiếp xúc rất nhiều người, giáo hóa chúng sanh có đủ mọi phương tiện, chẳng phải là một phương pháp. Từ năm mươi ba lần tham học, chúng ta đă thấy: Khi đáng chửi th́ phải chửi, khi đáng đánh th́ phải đánh. Có phải là tính t́nh thầy nóng nảy hay chăng? Chẳng phải vậy, hoàn toàn là một bầu từ bi, chỉ là dùng những kỹ xảo khác nhau! Người nào đáng nên dùng phương pháp nào để trị bệnh [bèn vận dụng phương pháp ấy], thiện xảo phương tiện mà! Vận dụng trí huệ chân chánh vào cuộc sống chính là phương tiện thiện xảo, sống động, chẳng chết cứng. Quư vị chớ nên không hiểu đạo lư này!

          Tôi thân cận tiên sinh Phương Đông Mỹ, đây là một vị thiện tri thức tại gia. Tuy cụ học Phật, chẳng có h́nh thức học Phật. Cụ cũng chưa hề quy y, mà cũng chưa từng thọ giới, hằng ngày xem kinh Phật! Trong nhà trường, khi giảng dạy, cụ đă hoàn toàn trích dẫn Phật pháp. Đến những năm về già, rơ ràng là trong nhà trường cụ đă mở những lớp dạy về Phật pháp, mở các lớp Đại Thừa Phật Học, Phật Học thời Ngụy - Tấn, Phật Học thời Tùy - Đường, cụ dùng những chủ đề ấy để giảng dạy. Sau này, rời trường đại học Đài Loan, nghỉ hưu, đại học Phụ Nhân mời cụ, đại học Phụ Nhân là đại học tư, họ mời cụ dạy Triết Học Kinh Hoa Nghiêm cho chương tŕnh tiến sĩ, chân thiện tri thức đấy nhé! Có kẻ hủy báng cụ, những ai vậy? Đồng hương từ quê nhà Đồng Thành, thật sự toàn là những người cùng quê với chúng tôi. Quê tôi ở Lư Giang, là huyện lân cận với Đồng Thành, khoảng cách rất gần. Nói theo hiện thời, chỉ vào khoảng ba mươi cây số. V́ thế, rất gần! Người cùng quê hủy báng cụ, nói cụ sai trái này nọ. Tôi nghe xong, chẳng bị ảnh hưởng. V́ sao? Chúng ta ắt cần phải hiểu, trong kinh Bát Đại Nhân Giác, đức Phật đă dạy chúng ta: “Bất niệm cựu ác, bất tắng ác nhân” (Chẳng nghĩ đến điều ác cũ, chẳng ghét kẻ ác). Quư vị nói cụ xấu xa như thế nào đó, đấy là chuyện quá khứ, ở quê nhà cụ. “Sĩ biệt tam nhật, quát mục tương khán” (Cách biệt kẻ sĩ ba ngày, dụi mắt mà nh́n). Nay tôi thân cận cụ, những hành trạng ác hèn như quư vị đă nói, tôi chẳng thấy tí ti nào! Huống chi, cụ đă ĺa xa quê hương lâu ngần ấy, dạy học bên ngoại quốc. Nếu quư vị nghe những lời ấy bị ảnh hưởng, đánh rất nhiều dấu hỏi đối với thầy, sự học tập của chúng ta sẽ bị chiết giảm to lớn. Dẫu quư vị vẫn theo học với thầy, cái tâm cung kính đă bị suy thoái, quư vị sẽ chẳng đạt được điều ǵ!

          Pháp thế gian và Phật pháp có cùng một đạo lư. Quư vị thật sự học được bao nhiêu thứ từ chỗ thầy, chẳng phải là do thời gian quư vị thân cận thầy dài hay ngắn, chẳng phải do điều này, [mà là do] quư vị đối với thầy tâm cung kính được mấy phần! Mười phần cung kính, quư vị sẽ được mười phần, tám phần cung kính, quư vị sẽ được tám phần, năm phần cung kính, quư vị sẽ được năm phần, hai phần cung kính, quư vị sẽ được hai phần. Trong Văn Sao, Ấn Quang đại sư đă nói lời này rất nhiều! Chẳng sai tí nào! Cũng may là tôi chẳng bị dao dộng, suốt đời luôn cung kính thầy. Trước mỗi buổi giảng kinh, tôi nhất định lạy thầy trước. Không chỉ là lạy thầy, tôi c̣n lạy hộ pháp: “Ḥa-nam thầy, Hộ Pháp Bồ Tát”. Trước khi tôi giảng kinh sẽ lạy, sau khi giảng xong lại lạy. Niệm niệm chẳng quên ân đức thầy và ân đức của hộ pháp.

          Tôi ở Đài Trung, thân cận thầy Lư mười năm. Người chửi thầy Lư rất nhiều, hủy báng, bịa chuyện, sanh sự, luôn mong sao tôi rời bỏ thầy, chẳng học theo thầy nữa! Chúng tôi không làm. Một vị thầy giỏi như vậy, rất nhiệt tâm dạy quư vị, có thể gặp, chẳng thể cầu, quư vị đến chỗ nào để t́m? Đă gặp, quyết định chẳng bỏ lỡ, chúng ta mới có thể đạt thành tựu. Trong mấy năm qua, đúng là trong ngoài nước hủy báng bản hội tập của Hạ Liên Cư, tức bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ. Trên tạp chí, trên nhật báo, gọi thẳng tên tôi ra chửi bới. Tôi nói rơ với các đồng học: “Bản hội tập vốn do thầy truyền cho tôi. Nếu tôi bỏ đi, chọn bản của người khác, chứng tỏ tôi chẳng tin tưởng thầy. Kẻ khác sẽ lại gán tội danh cho tôi, pháp sư Tịnh Không phản thầy nghịch đạo. Đâm ra là có đủ cả mọi thứ tiếng xấu!” V́ thế, tôi có thái độ hết sức kiên định. Tôi nói với mọi người: “Người trên khắp thế giới đều phản đối, đều không tin tưởng, tôi chẳng phản đối, vẫn y giáo phụng hành. V́ sao? Thầy dạy tôi, chẳng dạy quư vị,dạy tôi”. Tôi có tín tâm kiên định, quyết chẳng dao động, mà cũng chẳng phản bác. Chửi chán chê, họ sẽ hết chửi. V́ thế, hiện thời chẳng có chuyện chi nữa!

          Đối với những chuyện này, trong cách nh́n của tôi, những người ấy đều là người tốt, đều rất khó có, họ đă thay tôi tiêu trừ nghiệp chướng. Họ đến khảo hạch tôi, xem tôi có định lực hay không? Coi tôi có phải là “xảo sự sư trưởng, tập hành thiện pháp” (khéo phụng sự sư trưởng, tu tập thiện pháp) hay không? Thành tựu từ chỗ này. Đối với thầy, đối với đồng học, đối với hết thảy đại chúng, trong một đời này, tôi chẳng có một ác niệm đối với kẻ khác, cũng chẳng dùng lời ác hủy báng người ta. Ḷng tôi rất yên, hết sức b́nh an! Suốt đời chẳng có tâm hại người, chỉ tận tâm tận lực giúp đỡ kẻ khác. Có lúc thấy người khác khó khăn, nhưng sức không đủ, sức trí huệ chẳng đủ, cổ nhân nói là: “Tâm có thừa, mà sức chẳng đủ”. Chưa hề nghĩ v́ chính ḿnh!

          Cho tới hiện thời, người khác đều có đại đạo tràng, tôi ngay cả một căn nhà để ở cũng chẳng có. Tôi có thể kiến tạo một đạo tràng, nhưng tôi cảm thấy không cần thiết! Vẫn là chẳng có ǵ sẽ tốt hơn, tâm địa thanh tịnh, chẳng bị vướng mắc, chẳng ưu lự, ngoài cái thân ra, chẳng có vật ǵ cả! Nhưng sống trong cơi đời này, bất luận cuộc sống vật chất hay cuộc sống tinh thần, đều chẳng khuyết thiếu. Điều này đúng là rất khó có! Nói theo kẻ b́nh phàm trong thế gian, đời này, tôi hết sức may mắn, thứ ǵ cũng đều chẳng có, nhưng chẳng thiếu thốn thứ ǵ! Nhà cửa để ở cũng được lắm. Chẳng có nhà cửa, nhưng vẫn có nhà để ở. Chẳng có xe, nhưng đến bất cứ nơi đâu đều có xe đưa đón. Tuy chẳng có tiền, ăn, mặc, ở, đi lại đều chẳng thiếu thốn, rất khó có! Những điều này do Tam Bảo gia tŕ, do thầy dạy bảo, làm sao có thể quên ơn thầy cho được? Chẳng thể quên ơn hộ pháp.

          Dẫu cho những vị hộ pháp sau khi hộ tŕ một giai đoạn, tâm biến đổi, chẳng hộ tŕ quư vị nữa, lại c̣n hủy báng, chúng ta hiểu v́ sao họ thay ḷng đổi dạ? Nghe lời kẻ khác, kẻ khác đặt điều đồn đại, chính họ chẳng điều tra cặn kẽ, tin ngay. V́ thế, nẩy sanh những hiện tượng ấy. Tôi vẫn tôn kính họ, vẫn mỗi ngày niệm Phật, tụng kinh hồi hướng, chúc phước cho họ sống lâu tăng thọ, phước huệ tăng trưởng. Đấy là điều chúng ta phải nên làm. Nếu họ biết, sẽ hồi tâm chuyển ư: “Pháp sư Tịnh Không chẳng phải là người xấu”. Chẳng có ngày nào không hồi hướng cho họ. Hành vi của họ chúng ta đều lư giải, đặc biệt là trong thời đại này, tôi cảm thấy hành vi như vậy là lẽ đương nhiên. Hiện thời có ai tán thán người khác? Ai có thể nói lời tốt đẹp về người khác? Toàn là hủy báng, ganh tỵ, toàn là chướng ngại. Do vậy, chúng ta hiểu rơ ràng, thấy như vậy vẫn điềm nhiên, chẳng trách móc!

          Trong số đó, cũng có kẻ rất thông minh. Người thông minh tuy nhất thời nghe xong, cảm thấy khó chịu, họ sẽ điều tra. Điều tra đến cuối cùng, [phát hiện] kẻ ấy nói lời giả dối, xác thực là vu cáo, là hủy báng, thế là thái độ của người đối với ta cũng chuyển thành tốt đẹp; đó là chuyện tốt! Trải qua điều tra, họ khẳng định ta là thật, chẳng giả, họ chẳng xử sự theo cảm t́nh. Bất luận tại gia hay xuất gia, học Nho hay học Phật, bị chướng ngại, hủy báng khắp nơi, khắp chốn, chắc chắn sẽ chẳng thể tránh được. Phải ghi nhớ: “Nhân phi thánh hiền, thục năng vô quá” (Người ta chẳng phải là thánh hiền, ai có thể không phạm lầm lỗi). Câu nói này có thể áp dụng vào chính ḿnh. V́ thế, nghe người khác hủy báng, phê b́nh, chớ nên trách móc người khác, hăy quay lại nghiêm túc phản tỉnh: Ta có [lỗi lầm ấy] hay không? Hễ có bèn sửa. Hễ không, càng thêm gắng sức [giữ ḿnh tốt đẹp]. Đối với những kẻ hủy báng, đơm đặt, sanh sự, hăy sanh tâm cảm ơn. V́ sao? Họ nhắc nhở ta, những ǵ họ nói nếu là thật, ta thật sự phạm lỗi lầm ấy, hăy ngay lập tức sửa chữa. Nếu họ không nhắc nhở ta, ta sẽ không biết. Nếu phản tỉnh, mà thấy [chính ḿnh] chẳng có [những điều sai trái ấy], hăy gắng sức, quyết định chớ nên phạm những lầm lỗi ấy. V́ thế, toàn là chuyện tốt, chẳng phải là chuyện xấu. Khi tôi rời khỏi Đài Loan, đă viết sáu câu: “Vĩnh viễn sống trong thế giới cảm ơn”. Ĺa khỏi Tân Gia Ba, tôi viết một cặp câu đối, [hàm ư] bất luận trong thuận cảnh hay nghịch cảnh, đều phải ǵn giữ cái tâm thanh tịnh, chẳng bị nhiễm ô, quư vị mới có thể phước huệ song tu, cảnh giới mới không ngừng tăng cao, sẽ chẳng bị chúng ảnh hưởng. V́ thế, đỉều này rất quan trọng!

          “Tập hành thiện pháp” càng quan trọng hơn nữa! Những ǵ thầy đă dạy, quư vị đă hiểu, thật sự đă hiểu. Sau khi đă hiểu, quư vị phải thực hiện, phải làm được, phải tin tưởng giáo huấn trong kinh điển, từng câu, từng chữ đều là chân thật. Sau khi đă khế nhập, quư vị mới hiểu trí huệ của Phật, hạnh của Bồ Tát, [đáng cho] kẻ khác kính phục năm vóc sát đất! Nói theo cách hiện thời, “Phật, Bồ Tát hoàn toàn hy sinh, dâng hiến”. Đó là người thế gian chúng ta nói, chứ bản thân Phật, Bồ Tát chưa hề khởi tâm động niệm, chưa từng có phân biệt, chấp trước, đáng nên dùng thân ǵ để đắc độ, bèn hiện thân ấy. Kinh Lăng Nghiêm đă dạy: “Tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng” (Thuận theo cái tâm của chúng sanh, ứng với khả năng lănh hội của họ), chẳng lưu lại dấu vết. Người thế gian chấp tướng, nói các Ngài thật vĩ đại, hy sinh, dâng hiến! Các Ngài cũng chẳng có ư niệm vĩ đại, mà cũng chẳng có ư niệm hy sinh, dâng hiến. Những điều các Ngài đă làm, đă thực hiện hoàn toàn tương ứng với Tánh Đức, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn! Từ bộ kinh này, chúng ta thấu hiểu. “Tập” () là luyện tập, không ngừng học tập. “Hành” () là thực hiện bằng hành vi. Trong hành vi, có tư tưởng; tư tưởng và ư niệm là hành vi nơi ư nghiệp. Ngôn ngữ là hành vi nơi khẩu nghiệp. Động tác là hành vi nơi thân nghiệp. Quư vị phải vận dụng những ǵ đă học vào hành vi, đấy mới thật sự là “thiện pháp”. Nếu chẳng thực hiện qua hành vi, chẳng thể coi là thiện pháp! Kinh là thiện, ngôn ngữ là thiện, [thế mà] tâm hạnh của quư vị bất thiện. Do vậy, phải hiểu điều này.

          Then chốt trong sự tu học, then chốt của sự thành bại chính là thầy. Ngoài thầy ra là đồng học, phải có tín tâm đối với đồng học giống hệt như thầy. Thấy đồng học phạm lỗi lầm, [nếu xét thấy] có thể khuyên răn, hăy khuyên lơn. Thầy có lỗi lầm, đúng là “mạc trắc cao thâm” (cao sâu chẳng thể lường), chẳng biết thầy có dụng ư ǵ. Có khi thầy nói cho quư vị biết, có khi chẳng nói, phải hiểu điều này! Nói chung, hết thảy các sự thị hiện đều bao hàm nghĩa thú giáo huấn rất sâu trong ấy, tùy thuộc mỗi người lănh hội. Lại xem bài kệ tiếp theo là bài thứ tư.

 

          (Kinh) Cầu thỉnh xuất gia, đương nguyện chúng sanh, đắc bất thoái pháp, tâm vô chướng ngại.

          ()請出家。當願眾生。得不退法。心無障礙。

          (Kinh: Cầu thỉnh xuất gia, nguyện cho chúng sanh, đắc pháp bất thoái, tâm chẳng có chướng ngại).

 

          “Cầu thỉnh xuất gia” chẳng phải là chuyện dễ dàng. Trong ấy, phải hội đủ ba thứ duyên, nhân duyên tụ hội. Duyên không đủ, quư vị sẽ chẳng thể thành tựu. V́ thế, có rất nhiều người t́m tôi, muốn theo tôi xuất gia, nhưng duyên chẳng đủ!

          1) Điều thứ nhất là quư vị phải có duyên với pháp sư, đấy là điều thứ nhất. Có nghĩa là quư vị đối với vị pháp sư ấy phải nhận thức, khẳng định, pháp sư đối với quư vị cũng nhận thức, cũng khẳng định. Đó là duyên đầu tiên.

          2) Duyên thứ hai, quư vị phải quen thuộc với đại chúng trong đạo tràng ấy. Đại chúng sống trong đạo tràng ấy khẳng định quư vị, bằng ḷng tiếp nhận, bằng ḷng dung nạp quư vị. Quư vị đối với đại chúng của đạo tràng ấy hoan hỷ, bằng ḷng cùng với mọi người cùng học, cùng tu. Nếu thầy đáp ứng [cho phép] quư vị xuất gia, những người ở dưới chẳng thể tiếp nhận quư vị, dẫu được thế độ (剃度, xuống tóc), quư vị chẳng dễ sống [trong đạo tràng ấy]! Do vậy, thật sự mong xuất gia tại một đạo tràng, tối thiểu là phải phục vụ tại đạo tràng đó ba năm. Hiện thời nói là “làm công quả”. Mọi người đều có thể cư xử rất tốt đẹp, ai nấy đều rất tôn kính quư vị, thật sự là một người tốt. V́ sao? Quư vị có thể thực hiện Đệ Tử Quy, thực hiện Thập Thiện Nghiệp. Kẻ tại gia nếu đă thọ Tam Quy Ngũ Giới, thảy đều có thể làm được.

          3) Điều kiện thứ ba là có duyên với đạo tràng.

          Trọn đủ ba điều kiện ấy, sẽ có thể thỉnh cầu xuất gia. Nêu ra nguyện vọng xin xuất gia, sẽ thuận buồm xuôi gió.

          Nếu ba điều kiện chẳng trọn đủ, quư vị thật sự mong xuất gia, hăy khéo vun bồi! Đối với thầy, đạo tràng, và đồng tham đạo hữu, hăy chọn lựa một khoảng thời gian, có thể thân cận mấy vị pháp sư nhiều hơn, thân cận mấy đạo tràng, quan sát trong ấy, pháp sư nào, đạo tràng nào tương ứng với nguyện vọng của ta. Như vậy th́ mới trở thành chí đồng đạo hợp được. Tại Trung Hoa, vào thời cổ, đạo phong của mỗi tự, viện, am, đường đều chẳng hoàn toàn giống nhau. Tuy là cùng một tông, [vẫn là] đại đồng tiểu dị! Tông phái khác nhau, sai biệt càng to hơn nữa! Do vậy, nhất định phải thân cận, tiếp xúc cho nhiều, liễu giải nhiều hơn!

          Xuất gia để làm ǵ? Xuất gia nhằm hoằng pháp lợi sanh, nối tiếp huệ mạng của đức Phật, v́ điều này, chẳng v́ điều nào khác! Chính là v́ thật sự mong giúp cho chánh pháp tồn tại lâu dài [trong thế gian]. Nếu quư vị có thể có chí nguyện ấy, phát tâm như vậy, chư Phật hộ niệm, long, thiên, thiện thần ủng hộ, xuất gia là chánh xác. Nếu chẳng phải là hoằng nguyện như vậy, tại gia học Phật có thành tựu giống hệt. Xuất gia quyết định là phải gánh vác gia nghiệp của Như Lai. Gia nghiệp của Như Lai chẳng có chi khác, chỉ là hoằng pháp lợi sanh. Do vậy, quư vị phải nghĩ thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, suốt bốn mươi chín năm đều ǵn giữ “giữa trưa ăn một bữa, đêm nghỉ dưới cội cây”. Chẳng có nhà, hằng ngày dạy học, chẳng có ngày nào buông lỏng, lười nhác, bốn mươi chín năm đều như một ngày. Ba mươi tuổi thị hiện thành đạo liền bắt đầu giáo học, bảy mươi chín tuổi viên tịch, suốt bốn mươi chín năm! Đấy là gia nghiệp của Như Lai.

          Hiện thời, mức độ thấp nhất của chúng ta là phải kiến lập chánh pháp, đúng lư, đúng pháp. Lư và pháp đều ở trong kinh điển; hăy nương theo giáo huấn trong kinh điển, đúng lư và đúng pháp tu học. Đó là đúng. Đấy là sự chỉ đạo của bậc đại sư. Đối với tiểu sư, quư vị thấy thầy dạy tôi học theo Ấn Quang đại sư. Chúng ta phải tôn trọng sự chỉ dạy của Ấn Quang đại sư. Lăo nhân gia nói khẳng định, trong thời đại này, chẳng cần lập đạo tràng to, hăy lập đạo tràng nhỏ. Số lượng đồng tu cùng nhau tu tập chớ nên quá hai mươi người, có lư! Ít người, sẽ ít thị phi. Cổ nhân thường nói: “Tri sự đa thời, phiền năo đa; thức nhân đa xứ, thị phi đa” (Biết nhiều chuyện, nhiều điều phiền năo; biết nhiều người, lắm nỗi thị phi). Nhiều người th́ sẽ có nhiều thị phi. Hai mươi người là vừa khéo, cùng nhau học tập, cùng nhau nghiên cứu, cùng nhau niệm Phật. Đạo tràng như vậy chẳng ra khỏi cửa mà hoằng dương khắp thiên hạ. V́ sao? Đạo phong và học phong của quư vị, người ta nghe được, không ai chẳng hâm mộ, chẳng có ai không tán thán.

          Ít người, tiền chi dùng ít, chẳng cần phải bận ḷng v́ cuộc sống của thường trụ. Nhất định phải nghiêm túc. Ngày hôm qua, tôi đă nói cùng mọi người, nghiêm túc tu học, tâm của quư vị định. Tâm định đến một mức độ nhất định, quư vị sẽ ít tiêu hao năng lượng hơn. Năng lượng tiêu hao ít, quư vị sẽ giảm bớt ăn uống. Do vậy, hai mươi người thật sự cùng nhau tu hành, mọi người kết giới, chẳng rời khỏi đạo tràng, tâm hoàn toàn định, phỏng theo đạo tràng thuở trước của Viễn công đại sư. Chúng thường trụ là một trăm hai mươi ba người, ai nấy đều thành tựu. Lấy Hổ Khê làm giới hạn, hoạt động của họ chẳng ra ngoài giới tuyến Hổ Khê. Suốt đời là một đạo tràng, một bộ kinh, nương cậy một vị thầy là Huệ Viễn đại sư. Một vị thầy, một bộ kinh, một pháp môn, ai nấy đều thành tựu. Tịnh Độ Tông Sơ Tổ! Ngài đă nêu gương tốt đẹp dường ấy, chúng ta phải nên học theo. Một trăm hai mươi ba người, lỗi lạc thay! Phải là bậc đại trí huệ, đại phước báo th́ mới có thể thống lư đại chúng. Tổ Ấn Quang thấy rất rơ ràng, những vị xuất gia trong số chúng sanh thời Mạt Pháp, quư vị có thể cai quản hai mươi người là đă rất lỗi lạc! Chẳng cần kiến lập một đạo tràng to dường ấy, rất có lư! Tôi suốt đời hâm mộ.

          Tôi chẳng có đạo tràng; trong tương lai, có đạo tràng, tôi nhất định tuân thủ lời tổ Ấn Quang đă dạy. Đồng tham đạo hữu không hơn hai mươi người, sẽ thật sự thành tựu. Nhiều người khó lắm, khó quản trị, chẳng dễ ǵ quản trị được! [Đối với] tiêu chuẩn để chọn lựa hai mươi người ấy, quư vị thấy trong kinh doanh hiện thời, tiêu chuẩn để chọn lựa nhân viên đều là Đệ Tử Quy. Nếu chẳng từng học tập Đệ Tử Quy, họ sẽ chẳng mướn. Đặt ra tiêu chuẩn đầu tiên để trúng tuyển là Đệ Tử Quy. Chúng ta muốn thành lập một đạo tràng nhỏ, bất luận đồng học tại gia hay xuất gia, nhất định cũng dùng tiêu chuẩn này. Thậm chí có thể dùng điều thứ nhất trong Tịnh Nghiệp Tam Phước, tức là Đệ Tử Quy và kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo. Kẻ chẳng thể thực hiện hai thứ ấy, sẽ không thể tiếp nhận. Có thể thực hiện hai thứ ấy, thật sự là “chí đồng đạo hợp”. Một bộ kinh Vô Lượng Thọ, chuyên tu Tịnh Độ, chuyên niệm Di Đà, chẳng có ai không thành tựu, chẳng có ai không văng sanh. Tổ Ấn Quang đă vạch ra cho chúng ta con đường này. Đặc biệt là trong hoàn cảnh xă hội hiện thời, hoàn cảnh xă hội là đại hoàn cảnh, là toàn thể thế giới.

          Trong nhiều năm trong quá khứ, chỉ có Âu Châu là tôi chưa đến, những chỗ khác tôi đều đi qua. Năm trước, tôi viếng thăm Âu Châu, toàn thể thế giới đều đến đó. Họ bài xích tôn giáo, bề ngoài rất khách sáo, trong thực tế, họ thầm nghĩ quư vị đều là phường mê tín. Tại Liên Hiệp Quốc, Phật giáo cũng có đại biểu tham dự. Tổng bộ của tổ chức Giáo Dục Văn Hóa Khoa Học (UNESCO) của Liên Hiệp Quốc đặt tại Ba Lê. Đại biểu của Phật giáo là một vị pháp sư người xứ Tư Lư Lan Kha (Sri Lanka). Ngày đầu tiên, vị pháp sư ấy đến gặp tôi, mặc quần áo thông dụng của người tại gia. Tôi trông thấy, cảm thấy rất lạ. Ông ta bảo ḿnh là người xuất gia, đầu cạo trọc, đi giày da, mặc y phục phương Tây. Ông ta mới bảo tôi, v́ ông ta làm việc cho UNESCO, mặc y phục xuất gia bất tiện, quư vị mới vỡ lẽ. Tôi đến tham dự một yến tiệc của đảng Cộng Ḥa tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, cũng rất đông người. Có một người đến trước mặt tôi chắp tay hành lễ, mặc quần áo phương Tây lịch lăm, đầu cạo láng o, c̣n tôi vẫn mặc y phục xuất gia. Ông ta cho biết ḿnh là người xuất gia, sư phụ là người Nhật Bản, xuất gia cũng đă lâu, hôm nay đến tham dự bữa tiệc ấy. Tôi hỏi: “Cớ sao thầy mặc loại quần áo này?” Ông ta đáp: “[Y phục xuất gia] chẳng thuận tiện”! Tôi liền hiểu rơ.

          Bởi lẽ, ở bên đó, có rất nhiều [trường hợp giống như vậy]. Các đồng tu cho biết: “Thưa pháp sư! Đại khái là trong những hoàn cảnh [tiệc tùng] giống như vậy, chúng con chỉ thấy có hai người không thay đổi y phục”. Tôi hỏi: “Hai người nào vậy?” [Họ đáp]: “Một là Đạt Lại (Dalai Lama), vị kia chính là thầy. Các vị trong bất cứ trường hợp nào cũng đều chẳng thay đổi y phục”. Điều này cho thấy, trong sự cảm nhận của người đời, tôn giáo chẳng kiến lập một lập trường thật sự, mọi người đều có cái nh́n hoài nghi đối với quư vị! Do nguyên nhân nào? Chẳng tŕ giới. Cổ đại đức thường nói: “Chẳng có giới luật; bất luận tại gia hay xuất gia nếu chẳng tŕ giới, sẽ chẳng có Phật! Chẳng có lễ, không nói đến lễ, chẳng tuân thủ lễ, sẽ chẳng có Nho”.

          Chúng ta thấy người học Phật trong xă hội hiện thời, người học Phật thật sự chẳng ít, người học Nho cũng chẳng ít, [thế nhưng] người học Nho chẳng tuân thủ lễ, người học Phật chẳng tŕ giới, làm sao người khác coi trọng quư vị cho được? Đối với những chuyện này, chúng ta phải phản tỉnh thật sâu, chẳng thể trách móc ai khác! Hăy trách chính ḿnh chẳng làm tốt! Tôi không nói: “Chẳng làm đủ!” V́ sao? Căn bản là đâu có làm! Do vậy, hiện thời phải nâng cao [cách nh́n của xă hội đối với] các tín đồ tôn giáo. Bất luận là tôn giáo nào, [để] nâng cao thân phận, địa vị, nâng cao cách nh́n của người b́nh phàm đối với các tín đồ tôn giáo, nhất định là quư vị phải tŕ giới, giữ quy củ, phô ra một h́nh tượng tốt đẹp cho người khác [trông thấy], người ta sẽ tự nhiên tôn kính. Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, v́ sao Ngài được nhiều người tôn kính ngần ấy? Các vị tổ sư đại đức xưa kia giáo hóa chúng sanh, đối với đại chúng trong xă hội, trên là từ đế vương, đại thần, dưới cho đến kẻ bán rong, gă chạy việc vặt, đều tôn kính người xuất gia ngần ấy là do đạo lư nào? Tŕ giới, có h́nh tượng tốt đẹp! Hễ nói ra, đều thật sự làm được.

          Nay ngẫm lại, đối với Phật pháp cơ bản, tức là đối với Thập Thiện Nghiệp, hăy thường xuyên phản tỉnh, phải tự hỏi chính ḿnh có làm được hay không? “Không sát sanh” có làm được hay không? Chẳng giết người, nhưng có giết súc sanh hay không? Có ư niệm tổn thương người khác hay không? Tuy chẳng có hành vi, nhưng đôi khi vẫn có ư niệm tàn nhẫn. Ư niệm là ư nghiệp, tâm của quư vị không thanh tịnh, quư vị c̣n có ư niệm giết chóc. V́ thế, quư vị có ư niệm gây tổn thương, tàn hại người khác, chẳng đoạn sát tâm! Quư vị có ư niệm chiếm tiện nghi của kẻ khác, tức là chẳng đoạn cái tâm trộm cắp! Nay không chỉ là nói “chẳng đoạn ư nghiệp”, mà thân và khẩu cũng chẳng đoạn! Hàng xuất gia và tín đồ tôn giáo như vậy, làm sao có thể khiến cho đại chúng trong xă hội tôn trọng, kính ngưỡng? Khó lắm! Nói khó nghe là “chúng ta đang hành tŕ chuyện phá hoại h́nh tượng của Phật giáo”. Nói thông tục một tí, sẽ là kẻ đă vứt bỏ Thích Ca Mâu Ni Phật! Học tṛ của Thích Ca Mâu Ni Phật trong xă hội đă hành xử theo kiểu ấy. Sự hành tŕ của chúng ta khiến cho người khác tạo khẩu nghiệp. Những nghiệp do kẻ khác đă tạo đều do chúng ta gây nên, ta dẫn phát họ tạo nghiệp. Quả báo của chúng ta chẳng ở trong tam đồ, chẳng ở trong địa ngục, th́ sẽ là ở đâu đây? Nhất định phải biết điều này!

          V́ thế, trước hết là phải học. Học cho đến khi thật sự có tâm đắc, rồi mới xuất gia. Sau khi xuất gia, sẽ vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, thật sự biểu hiện h́nh tượng tốt đẹp của Phật pháp trong xă hội. “Vị nhân diễn thuyết” (V́ người khác diển nói): “Diễn” () là biểu diễn. Ta thật sự làm được, làm cho mọi người thấy. “Thuyết” () là giải thích, v́ người khác diễn nói. Quư vị thấy kinh Kim Cang đă nói rất nhiều, “thọ tŕ đọc tụng, v́ người khác diễn thuyết”. Đệ tử xuất gia của đức Phật làm ǵ? Chính là suốt đời thực hiện câu này! Thọ, tŕ, đọc, tụng, v́ người khác diễn thuyết! “Diễn” là biểu diễn, nêu ra h́nh dáng cho mọi người thấy. “Thuyết” là giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, hằng ngày v́ người khác diễn thuyết. Diễn thuyết chính là giáo học. Diễn là thân giáo, Thuyết là ngôn giáo, người xuất gia làm chuyện này! Không giảng kinh, không thuyết pháp th́ ở trong tự viện làm hộ pháp. Hộ pháp là biểu diễn, họ diễn tại đó, nêu gương tốt nhất cho mọi người thấy, [họ sẽ cảm nhận] đấy là sự tu tŕ trong Phật môn, tâm cung kính, tâm bắt chước làm theo sẽ tự nhiên sanh khởi. Đấy mới thật sự là đệ tử của Phật môn, chánh pháp tồn tại trong cơi đời. À! Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói tới chỗ này!

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một,

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 23 hết

 

 

 



[1] Theo kinh Chuyển Pháp Luân, mỗi giáo pháp của đức Phật được dạy theo ba tầng: Thị Chuyển (nêu bày cho thấy), Giáo Chuyển (giảng giải phương pháp, đạo lư, lư luận, đường hướng, thứ tự tu tŕ) và Tác Chứng Chuyển (đích thân nêu gương để làm chứng).

[2] Mục () có nghĩa là chăn dắt gia súc, như trẻ chăn trâu thường được gọi là Mục Đồng (牧童). Do trong giáo thuyết của Thiên Chúa giáo, tín đồ giống như những con chiên (lamb, cừu non) của Chúa, giáo sĩ là người chăn dắt bầy chiên của Chúa, nên gọi là Mục Sư, hoặc gọi nôm na là “người chủ chiên”. Chữ Mục trong Linh Mục cũng có cùng ư nghĩa. Linh Mục () có thể hiểu nôm na là người chăn dắt linh hồn của tín đồ. Tuy vậy, người Hoa thường gọi Linh Mục là Thần Phụ (神父), tức là cách dịch bóng bẩy chữ Pater trong tiếng La Tinh. Đôi khi họ c̣n dùng chữ Tế Tư (祭司, ta thường đọc thành “thầy tư tế”), hoặc Tế Sư (祭師), hay Tư Đạc (司鐸).

[3] Chúng tôi xin mạn phép nói thêm chỗ này: Quy y A Di Đà Phật ở đây là quay về nương tựa A Di Đà Phật, chấp nhận hành tŕ pháp môn Tịnh Độ để tấn tu. Chúng tôi đă thấy có những vị đồng tu nghe ḥa thượng nói như vậy, đă chấp chặt văn tự, diễn tả sai lạc ư nghĩa này, bảo quy y Tam Bảo là phải quy y A Di Đà Phật, không quy y Thích Ca Mâu Ni Phật, buộc các đệ tử đă quy y từ trước phải quy y lại với A Di Đà Phật, gây nên những xáo động không cần thiết. Bản thân ḥa thượng đă nói rất rơ, rất minh bạch trong khi giảng về Tam Quy Y, quy y Phật là quy y Tự Tánh Giác, không phải là quy y một vị Phật cụ thể nào. Đó cũng là lư do Lục Tổ Huệ Năng dạy “quy y giác, quy y chánh, quy y tịnh”. Khi ḥa thượng nói “chúng ta không chịu quy y A Di Đà Phật, chúng ta thích quy y Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài có ư nói người ấy thích tu những pháp môn thông thường khác, cậy vào tự lực, chẳng tin vào tha lực, tức là tấn tu từng bậc, lần lượt chứng Sơ Quả, Nhị Quả v.v… chứ không hề có ư nói phải quy y Tam Bảo lại, cũng như chỉ trích những vị truyền thọ Tam Quy hiện thời là sai, phải quy y với A Di Đà Phật, không được quy y Thích Ca Mâu Ni Phật. Nếu hiểu như vậy, đă hoàn toàn trái nghịch tông chỉ “tôn sư trọng đạo” mất rồi. Họ lại c̣n hiểu quy y Phật là quy y một vị Phật ở bên ngoài, chẳng phải là quy y Tự Tánh Giác, chẳng phải là quy y tự tánh Di Đà, [hay nói cách khác], chẳng phải là quy y Pháp Thân của mười phương ba đời hết thảy chư Phật!

[4] Lục Quần tỳ-kheo là nhóm sáu tỳ-kheo kết bè lũ với nhau, thường làm những chuyện phá oai nghi nhằm tạo cơ hội cho đức Phật chế định giới luật. Các kinh luận chép tên họ của những người này hơi khác nhau (có lẽ do phiên âm hoặc dịch nghĩa nên thành sai khác). Theo Tỳ Nại Da Luật quyển mười một, tên của những người ấy là Xiển Đà (Nanda), Ô Ba Nan Đà (Upananda), A Thuyết Ca (Asvaka), Bổ Nại Bà Tố Ca (Punavarsu), Xiển Đà (Chanda) và Ưu Đà Di (Udayin).

[5] Chương Gia đại sư (tên thật là Lobsang Pelden Tenpe Dronme, thường được người Hoa phiên âm là La Tang Ban Điện Đan Tất Dung Mai) là quốc sư của nhà Thanh, được nhà Thanh phong làm thủ lănh của toàn thể Phật giáo đồ Mông Cổ và Măn Châu, với tước hiệu Quán Đảnh Phổ Thiện Quảng Từ Chương Gia Hô Đồ Khắc Đồ. Khi Dân Quốc thành lập, tổng thống Từ Thế Xương tặng thêm phong hiệu Chiêu Nhân Xiển Hóa. Năm 1930, Sư được cử làm ủy viên của Mông Tạng Ủy Viên Hội trong chánh quyền Quốc Dân Đảng, rồi được cử làm ủy viên giám sát trung ương của Quốc Dân Đảng. Năm 1947, Sư làm đại biểu của Quốc Dân Đại Hội (Quốc Hội) khóa thứ nhất. Năm 1949, Sư được cử làm Tổng Thống Phủ Tư Chánh (tức là cố vấn thứ nhất của Tổng Thống). Sư c̣n kiêm nhiệm làm Lư Sự Trưởng (chủ tịch điều hành) Phật giáo Đài Loan cho đến khi mất vào năm 1957.