Đại Phương Quảng Phật

Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một,

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 28

大方廣佛華嚴經

(十一)淨行品

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Địa điểm: Hương Cảng Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội

Khởi giảng từ ngày mồng Bảy tháng Mười Một năm 2005

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Minh Tiến

Tập 1517

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, đoạn thứ ba, xem từ bài kệ tụng cuối cùng. Đoạn thứ ba là Tựu Tọa Thiền Quán (就坐禪觀). Bài kệ cuối cùng là…

 

          (Kinh) Xả già phu tọa, đương nguyện chúng sanh, quán chư hành pháp, tất quy tán diệt.

          ()跏趺坐。當願眾生。觀諸行法。悉歸散滅。

          (Kinh: Thôi ngồi xếp bằng, nguyện cho chúng sanh, quán các hành pháp, đều là tan diệt).

 

          Trong bảy bài kệ tụng này, chúng ta thấy bốn bài kệ đầu nói về phương tiện tu hành, đều thuộc về giới luật. Hai bài thứ năm và thứ sáu là chánh tu, bài thứ năm nói về Hạnh Môn, tức Thiền Định; bài thứ sáu nói về Giải Môn, là trí huệ. Từ chỗ này, chư vị có thể thấu hiểu: Bảy bài tụng này đă nêu ra toàn bộ sự tu học trong Phật pháp, tức là Tam Học Giới Định Huệ. Phương tiện là Giới, “tu hành ư Định” (tu hành Định) là Thiền Định, “nhược tu ư Quán” (nếu tu Quán) là trí huệ, Tam Học Giới Định Huệ! Đấy là tổng nguyên tắc, tổng cương lănh. Không chỉ Thích Ca Mâu Ni Phật là như thế, mà quá khứ, vị lai hết thảy chư Phật tu hành, chứng quả, giáo hóa chúng sanh, đều chẳng ĺa khỏi nguyên tắc này!

          Nếu quư vị hỏi v́ sao ư? Phật pháp bảo đấy là Tánh Đức, “pháp nhĩ như thị”, “pháp nhĩ” (法爾) là tự nhiên như vậy, nó là như vậy đó, vốn là như thế đó! Chẳng có bất cứ lư do nào để có thể nói được. Nếu quư vị suy nghĩ [kiếm] một lư do cho nó, sẽ rơi vào vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Chỉ cần rơi vào vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chân tướng sẽ ẩn lấp. Nói cách khác, quư vị chẳng thấy chân tướng sự thật. Điều này cũng có chỉ rơ “v́ sao Thích Ca Mâu Ni Phật phải xuất hiện trên thế gian?” Có lư do hay không? Thưa cùng chư vị, chẳng có lư do! Pháp Tánh vốn là như vậy! Đấy mới là nói viên măn, nói rốt ráo. Nếu quư vị nêu lư do, đưa ra lư do, sẽ có nhiều lư do lắm, đâm ra sẽ khiến cho vấn đề phức tạp. Vốn hết sức đơn giản, v́ sao lại khiến cho nó phức tạp dường ấy? Kẻ thông minh quá nhiều, mỗi người đều muốn nghĩ ra một phương thức để giải thích!

          Hôm nay, học đến bài kệ cuối cùng này, nếu chúng ta có thể thật sự thấu hiểu, sẽ hoảng nhiên đại ngộ! “Xả tọa” chính là buổi học đă xong, duỗi chân ra, rời khỏi giảng đường, [v́] buổi học đă kết thúc. “Đương nguyện chúng sanh, quán chư hành pháp, tất quy tán diệt” (Nguyện cho chúng sanh, quán các hành pháp, đều trở về chỗ tan diệt). Đấy chẳng phải là như kinh Bát Nhă đă nói ư? “Hết thảy các pháp vô sở hữu, rốt ráo không, chẳng thể được”. Do vậy, quư vị suy tưởng như thế nào, nghiên cứu như thế nào, cũng đều là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chẳng phải là sự thật! Kinh Kim Cang đă nói rất hay: “Phàm những ǵ có h́nh tướng, đều là hư vọng”. Triệt để buông xuống, Tam Học Giới Định Huệ trọn đủ viên măn. Nếu quư vị hỏi v́ sao ư? Tam Học Giới Định Huệ vốn sẵn có trong tự tánh, chỉ cần buông xuống muôn duyên, Tánh Đức tự nhiên hiện tiền. Do vậy, chẳng cần tu Tánh Đức, chư vị nhất định phải hiểu điều này! Đức Phật dạy chúng ta tu, đấy là chuyện bất đắc dĩ, [bởi lẽ] chúng ta chẳng kiến tánh. Chẳng kiến tánh, quư vị phải nên tu thiện, đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, hy vọng cuộc sống trong lục đạo sẽ tốt đẹp hơn đôi chút. Chuyện là như thế đó!

          Giới Định Huệ đă thành tựu, nhất là Huệ, đă đạt tới một mức độ nhất định, sẽ minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Khi ấy, trí huệ Bát Nhă, vạn đức vạn năng, vô tận tướng hảo vốn sẵn có trong Tánh Đức thảy đều hiện tiền. Từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy đức Thế Tôn đă giảng rơ về y báo và chánh báo trang nghiêm trong thế giới Hoa Tạng. Trong kinh Văng Sanh, kinh Văng Sanh tức là kinh luận của Tịnh Độ Tông, gồm năm kinh một luận, quư vị thấy đă miêu tả y báo và chánh báo trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đó là tự tánh vốn tự nhiên hiển hiện viên măn như thế đó, chẳng do con người tạo tác. Hễ khởi tâm động niệm th́ sai mất rồi! Do khởi tâm động niệm, Tánh Đức bị vặn vẹo, nẩy sanh biến hóa. Tánh Đức thuần tịnh thuần thiện, chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước!

          Các thí nghiệm của những khoa học gia, như tiến sĩ Giang Bổn Thắng của Nhật Bản [chẳng hạn], có rốt ráo hay không? Chẳng rốt ráo! V́ sao chẳng rốt ráo? Những thí nghiệm của họ chẳng vượt thoát mười pháp giới. Trong Nhất Chân pháp giới, hiện tướng (現相, các tướng được biến hiện) thù thắng khôn sánh, họ (các nhà khoa học) vĩnh viễn chẳng thấy. V́ sao chẳng thấy? Những người làm thí nghiệm đều có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Đối với Pháp Tánh và Pháp Tướng, quư vị chẳng thấy Pháp Tánh, những ǵ quư vị trông thấy chính là Pháp Tướng. Thể của Pháp Tướng là Pháp Tánh. Quư vị thấy: Do một ư niệm thiện của chúng ta, kết tinh của nước hết sức tốt đẹp, dễ nh́n. Do ư niệm ác, nó hiện tướng cũng rất xấu xí. Nó thuận theo vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của quư vị mà biến; đấy là “duy thức sở biến”. Trong khi chúng ta chẳng có [ư niệm] thiện hay ác, nó sẽ hiện tướng ǵ? Dường như là nó cũng hiện tướng, nhưng chẳng có ǵ là đặc biệt tốt hay đặc biệt xấu. Đấy là cảnh giới ǵ vậy? Vô minh! Không thoát khỏi mười pháp giới, sẽ chẳng phải là trí huệ chân thật! Trí huệ chân thật ĺa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Chẳng ĺa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, trong Pháp Tướng chẳng hiện ra cảnh giới [chân thật] ấy! Nếu người thí nghiệm thật sự có thể ĺa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, phá một phẩm vô minh, thấy một phần Pháp Thân, sẽ có thể thấy h́nh tướng của thế giới Cực Lạc, thế giới Hoa Tạng ở ngay trong một giọt nước ấy! Chư vị đồng tu hăy nghĩ xem, có phải là đạo lư như vậy hay chăng? Đó gọi là Thật Tướng của các pháp, là chân tướng sự thật. Biết chân tướng sự thật, quư vị sẽ chẳng khởi tâm động niệm. Phân biệt, chấp trước càng chẳng cần phải nói nữa. Khởi tâm động niệm đă chẳng có, lấy đâu ra phân biệt, chấp trước? Đấy là cảnh giới Hoa Nghiêm. Vận dụng vào mười pháp giới có chướng ngại hay không? Chẳng có chướng ngại! Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại.

          Chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát và chúng ta ở cùng một chỗ, chúng ta ba người cũng thế, mà bốn người cũng thế, mỗi người một cảnh giới! Quư vị nói xem, có hai người nào mà cảnh giới giống nhau hay không? Chẳng có! Chắc chắn là t́m không ra! Đến khi nào cảnh giới của hai người sẽ giống nhau? Khi đă đạt đến “dĩ Định phục tâm, cứu cánh vô dư” (dùng Định chế ngự cái tâm, rốt ráo chẳng thừa sót), chỉ có nơi quả địa rốt ráo [cảnh giới mới] là giống nhau. Đẳng Giác Bồ Tát th́ khá gần giống, nhưng vẫn là bất đồng, v́ sao? Chẳng phá một phẩm vô minh cuối cùng. Phẩm vô minh ấy chính là tập khí vô thỉ vô minh. Trong phần trước, tôi đă nói rất nhiều, chẳng đoạn tập khí! Lục đạo phàm phu chẳng có cách nào lư giải cảnh giới ấy; v́ thế, đức Phật bảo là “chẳng thể nghĩ bàn”. Đức Phật nói câu này rất từ bi, quư vị có mong biết cảnh giới của Phật hay không? Nếu quư vị muốn biết cảnh giới của Phật, đức Phật dạy quư vị làm như thế nào th́ mới có thể thấy? Quư vị đừng dùng tư tưởng, đừng dùng ngôn ngữ, quư vị sẽ biết. Hễ quư vị c̣n dùng tư tưởng, c̣n dùng ngôn ngữ, sẽ chẳng làm được, chắc chắn là quư vị chẳng đạt được! Đức Phật nói câu này minh bạch, nhưng người nghe th́ sao? Người nghe hiểu lầm ư nghĩa: “Chẳng thể nghĩ bàn là không có cách nào suy nghĩ, chẳng có cách nào nói được”. Chúng ta hiểu lầm ư nghĩa theo kiểu đó, hiểu trật ư nghĩa mất rồi! Đức Phật bảo “như thật”, chính là [nói đến] Thật Tướng của các pháp. Làm sao mới thấy được? “Chẳng thể nghĩ” là chẳng thể khởi tâm động niệm; “chẳng thể bàn” là chớ nên phân biệt, chấp trước, chân tướng đă sáng tỏ! Nguyên lai là ở chỗ này. Đó gọi “điều ǵ cũng là đạo, đâu đâu cũng hiểu thấu nguồn cội”. Tùy tiện lấy một pháp, không pháp nào chẳng phải là chân tướng!

          Đấy là nói về “quán chư hành pháp”, “hành pháp” là mười pháp giới. “Tất giai tán diệt” (thảy đều tan diệt), đó là cảnh giới ǵ? Lại quay về Nhất Chân pháp giới. Nếu quư vị đối với hết thảy các hành pháp trong mười pháp giới mà có phân biệt, có chấp trước, chẳng chịu buông xuống, y báo và chánh báo trang nghiêm của mười pháp giới sẽ chẳng tan, chẳng diệt! Tuy chẳng tan diệt, sẽ là như thế nào? Vô thường! Quư vị thấy hữu t́nh chúng sanh, nay chúng ta nói là động vật có sanh, lăo, bệnh, tử; vô t́nh chúng sanh, nay nói là thực vật và khoáng vật, thực vật có sanh, trụ, dị, diệt, khoáng vật có thành, trụ, hoại, không. Đó là ǵ? Chính là vô thường. Trong ấy có ư nghĩa rất sâu, phải chú tâm lănh hội. Lănh hội một phần, sẽ có một phần thọ dụng, thọ dụng chân thật. Lănh hội hai phần, sẽ được hai phần thọ dụng. Sự thọ dụng ấy là thật, chẳng giả!

          Trong Phật pháp nói là “pháp hỷ sung măn”, Khổng phu tử nói “học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? (học rồi thường xuyên tu tập, cũng chẳng vui sao?) Xưa kia, người đọc sách tại Trung Hoa thường nói “Khổng Nhan chi lạc”, [nghĩa là] trong cuộc sống, Khổng Tử và Nhan Hồi có niềm vui sướng, mọi người rất tán thán, rất hâm mộ. Thế nhưng quư vị chẳng phải là Nhan Hồi, chẳng phải là Khổng Tử, sẽ chẳng thể thấu hiểu cảnh giới ấy! Học theo Nhan Hồi, học theo Khổng Tử, tại Trung Hoa, vào thời cổ, Mạnh Tử học giống nhất. V́ thế, Nho gia cũng dùng câu “Khổng Mạnh chi đạo” để thay thế cho câu ấy (câu “Khổng Nhan chi lạc”), có nghĩa là Mạnh Tử đă nhập cảnh giới của Khổng, Nhan. Trong Phật môn, có những vị tổ sư đại đức đă thật sự đạt được Giới Định Huệ, cũng có thể đạt tới [cảnh giới] “phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân”, Thiền Tông nói là “minh tâm kiến tánh”, Giáo Hạ nói là “đại khai viên giải”, Tịnh Độ nói là “Lư nhất tâm bất loạn”. Tuy danh từ khác nhau, nhưng cảnh giới như nhau, đều là ĺa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vọng tưởng là khởi tâm động niệm; lục căn đối trước cảnh giới sáu trần chẳng khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, không chấp trước. Thật sự nhập cảnh giới này, họ đạt được niềm vui của chư Phật Như Lai. Niềm vui ấy vượt xa niềm vui của Khổng Tử và Nhan Hồi quá nhiều!

          Chúng ta có thể nói “Khổng Nhan chi lạc” là thiên đạo, [là niềm vui của] thánh nhân thế gian. Niềm vui của chư Phật Như Lai đă đạt tới rốt ráo. Nếu quư vị hỏi v́ sao chúng tôi nói khẳng định như vậy ư? Chẳng có ǵ khác! Quư vị suy tưởng từ lư luận, [sẽ thấy] tất nhiên là như thế. Đoạn sạch tập khí vô thỉ vô minh, triệt để hiểu rơ chân tướng của nhân sinh và vạn vật trong vũ trụ, chúng sanh có cảm, sẽ tự nhiên có ứng. Giống như một chén nước, tôi dấy lên một ư niệm, người khác dấy lên một ư niệm, một chén nước đặt ở đây, nước phản ứng đối với [ư niệm của] tôi và phản ứng đối với [ư niệm của] quư vị, phản ứng đối với [ư niệm của] người khác sẽ chẳng giống nhau! Cùng một nơi chốn, cùng một thời gian, do tâm ba người cảm khác nhau, cảnh giới phản ứng của nước sẽ chẳng giống nhau. Đấy là chuyện như thế nào?

          Tôi kể thêm một chuyện cho quư vị nghe nhé! Dường như là vào năm 1982, lăo pháp sư Thánh Nhất[1] khi đó c̣n trẻ. Sư đại khái mới ngoài bốn mươi. Chuyện xảy ra từ hơn ba mươi năm trước. Sư kể với tôi, khi đó, Trung Quốc c̣n chưa hoàn toàn mở cửa, Sư và mấy vị đồng tham đạo hữu đến Triều Âm Động ở Phổ Đà sơn để bái yết Quán Âm Bồ Tát. Nghe nói sự cảm ứng ở chỗ ấy rất rơ rệt, tới đó lễ bái, có thể thấy Quán Âm Bồ Tát hiện thân. Ba vị xuất gia, c̣n có một quan chức địa phương ở nơi đó đi theo họ, lạy ở cửa động nửa tiếng. Quán Âm Bồ Tát xuất hiện, ba người đều rất hoan hỷ, cùng thời gian, cùng địa điểm. Sau khi đă lạy nửa giờ, viên chức ấy thúc giục họ: “Thời gian quá lâu rồi, hăy nên rời đi!” Sau khi rời đi, họ hỏi nhau: “Thầy thấy Quán Âm Bồ Tát có h́nh dạng như thế nào?” Pháp sư Thánh Nhất thấy Quán Âm Bồ Tát đội măo Tỳ Lô, thân kim sắc. Măo Tỳ Lô là cái măo giống như măo Địa Tạng Bồ Tát đội, kim sắc. Một vị pháp sư khác thấy Ngài là Bạch Y Quán Âm, tức là giống như tượng tạc hoặc tượng vẽ Bạch Y Quán Âm mà chúng ta thường thấy. Mọi người rất quen thuộc h́nh tượng này. C̣n có một vị pháp sư nữa thấy Ngài có h́nh tướng tỳ-kheo, là người xuất gia, có h́nh tướng tỳ-kheo xuất gia!

          Ba người cùng lúc, cùng một chỗ, đều trông thấy [Bồ Tát], nhưng [h́nh tướng] chẳng giống nhau! Do nguyên nhân nào? Đều là “có cảm bèn có ứng”, chúng sanh có cảm, Bồ Tát có ứng. Tâm thái cảm của quư vị khác nhau, sẽ ứng hiện tướng khác nhau! Trạng huống hoàn toàn giống như kết tinh trong thí nghiệm với nước như tôi đă nói! Cùng thời, cùng chỗ, một vạn người khởi tâm động niệm đối với chén nước, sẽ có một vạn thứ kết tinh khác nhau, quyết chẳng thể có hai kết tinh giống nhau! Tiến sĩ Giang Bổn Thắng kể với tôi điều này. Ông ta làm thí nghiệm mười năm, thí nghiệm mấy chục vạn lần, ông ta bảo “chưa từng phát hiện hai kết tinh hoàn toàn giống nhau”. Cùng một người, nhưng thời gian khác nhau, kết tinh cũng chẳng giống nhau. V́ sao? Cùng một người, nhưng ư niệm do khởi tâm động niệm khác nhau! Dẫu là thiện niệm, mức độ thiện khác nhau. V́ thế, đối với những kết tinh đẹp đẽ, quư vị quan sát cặn kẽ, [sẽ thấy là] đại đồng tiểu dị, không hoàn toàn giống nhau! Đấy là vọng tâm trong mỗi niệm khác nhau, [có thể là] tương tự, chứ không giống hệt như nhau. Đến khi nào th́ mới giống nhau? Như Lai quả địa, đoạn sạch tập khí vô thỉ vô minh, khi ấy, sẽ giống nhau, sự hiển hiện (v́ thế gọi là Nhất Chân) chẳng có biến hóa! Bất luận vào lúc nào, bất luận ở chỗ nào, đều thấy hoàn toàn như nhau, nên gọi là Nhất Chân.

          Đấy là trạng huống đại khái trong Nhất Chân pháp giới và mười pháp giới, tôi cũng tận hết năng lực của chính ḿnh để diễn tả nó. Do vậy, chúng ta có thể biết, từ xưa đến nay, có bao nhiêu người đă lạy Quán Âm Bồ Tát ở cửa động Triều Âm? Quá ư là nhiều. Những tướng do Quán Âm Bồ Tát thị hiện tuyệt đối sẽ chẳng thể là hai người thấy giống nhau được! Cùng là một người, như pháp sư Thánh Nhất [chẳng hạn], một ngày sau hoặc hai ngày sau, lại đến động Triều Âm lạy nửa tiếng, sẽ thấy Quán Thế Âm Bồ Tát hiện tướng giống như vậy hay chăng? Khác nhau! Nơi chốn như nhau, nhưng thời gian khác nhau! Cho thấy điều ǵ? Cho thấy mười pháp giới (mười pháp giới đều gọi là “thế pháp”) vô thường. Nếu quư vị hỏi v́ sao vô thường ư? Ư niệm của quư vị vô thường! Ư niệm vi tế, bọn phàm phu chúng ta chẳng cảm nhận được, dẫu là ư niệm của chính ḿnh! [Phàm phu] chẳng cảm nhận được ư niệm của chính ḿnh, làm sao quư vị có thể cảm nhận ư niệm của người khác cho được? Niệm trước, niệm sau, mỗi niệm chẳng tương đồng, mỗi niệm khác nhau. Bất luận là thiện niệm hay ác niệm đều khác nhau, vô kư (chẳng thiện, chẳng ác) cũng chẳng giống nhau!

          Nếu quư vị hiểu rơ chân tướng sự thật này, mới biết trong đời người, cái đáng quư nhất, thù thắng nhất, quan trọng nhất chính là ǵ? Là cầu Định Huệ! Đấy là tự tánh, Nho gia gọi là “bổn thiện”, c̣n trong Thiền Tông th́ gọi là “phụ mẫu vị sanh tiền bổn lai diện mục” (diện mạo vốn sẵn có trước khi được cha mẹ sanh ra). Quư vị có thể t́m được cái này, sẽ chẳng sống uổng phí đời này. Đời đời kiếp kiếp đều mê mất chính ḿnh, nay t́m lại được chính ḿnh, [mới biết] chúng sanh và chư Phật Như Lai chẳng khác nhau, là một, không hai, nhập pháp môn Bất Nhị. Ta và chư Phật chẳng hai, ta và chúng sanh chẳng hai, ta và vũ trụ chẳng hai, nhập pháp môn Bất Nhị! Đấy gọi là minh tâm kiến tánh, là thế giới Hoa Tạng, hay thế giới Cực Lạc.

          Do vậy, bài kệ cuối cùng này [nói về chuyện] đă rời khỏi chỗ ngồi. Bài kệ này mang ư nghĩa triệt để buông xuống. Thân, tâm, thế giới trọn chẳng thể được, [nếu] quư vị chẳng buông xuống được, sai mất rồi! “Buông xuống” chẳng phải là “không cần”. Trong các buổi giảng, chúng tôi thường nói về buông xuống: Đối với hết thảy người, hết thảy sự, hết thảy vật, hăy buông xuống chấp trước, đừng chấp trước. Hăy buông xuống phân biệt. Hăy buông xuống khởi tâm động niệm. Trong kinh, đức Phật đă nói hết sức rơ rệt: Buông xuống chấp trước, quư vị là A La Hán, chẳng có lục đạo. Tuy người ấy c̣n ở trong lục đạo, nhưng chẳng có khổ, lạc, ưu, hỷ, xả của lục đạo, chẳng có tiếng tăm, lợi dưỡng, cát, hung, họa, phước, tham, sân, si, mạn, đă buông xuống! Lục đạo là ǵ? Nguyên lai, lục đạo là Thanh Văn pháp giới! Quư vị thấy cảnh giới chuyển theo tâm, chuyển theo ư niệm. Quư vị trụ trong Thanh Văn pháp giới, ở cùng một chỗ với đại chúng, họ trụ trong nhân pháp giới, c̣n quư vị trụ trong Thanh Văn pháp giới. Thanh Văn pháp giới và nhân pháp giới chẳng hai. Nếu quư vị tiến thêm bước nữa, phân biệt cũng buông xuống, sẽ trụ trong Bồ Tát pháp giới. Bồ Tát pháp giới và nhân đạo pháp giới cũng chẳng hai. Thiên Thai đại sư nói “bách giới thiên như” là do đạo lư này!

          Nếu ngay cả khởi tâm động niệm quư vị cũng đoạn trừ, quư vị sẽ trụ trong Nhất Chân pháp giới, trụ trong thế giới Hoa Tạng. Người niệm Phật trụ trong thế giới Cực Lạc. Hoa Tạng, Cực Lạc và thế giới này của chúng ta chẳng hai! Chẳng hai mà hai, hai mà chẳng hai. V́ sao có hai? Dụng tâm khác nhau. Trong phẩm kinh này, vừa mở đầu, Văn Thù Bồ Tát đă dạy chúng ta: “Thiện dụng kỳ tâm, tắc hoạch nhất thiết thắng diệu công đức” (Khéo dùng cái tâm, sẽ đạt được hết thảy công đức thù thắng, nhiệm mầu). Trong bảy bài kệ tụng này, sáu bài trước nói về Thắng, bài kệ cuối cùng nói về Diệu. Diệu () là không chấp tướng, Diệu là buông xuống. Chẳng phải là buông xuống nơi Sự! Về Sự th́ chẳng sai khác với chúng sanh, c̣n làm càng viên măn, càng kiệt xuất, càng thù thắng hơn chúng sanh, nhưng chẳng chấp tướng. Chúng sanh dẫu làm thù thắng đến mấy đi nữa, chẳng diệu. V́ sao? Chấp tướng! Đối với “ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng” như kinh Kim Cang đă nói, họ chẳng xả trừ, chẳng biết những thứ ấy là hư vọng.

          Tư tưởng của Lăo Tử trong Đạo gia hết sức gần với Phật. Vừa mở đầu [bộ Đạo Đức Kinh], Lăo Tử đă bảo: “Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh”, nêu bày ư nghĩa này. [Hai câu ấy có nghĩa là] đạo mà có thể tư duy, có thể tưởng tượng, có thể bàn luận, sẽ chẳng phải là đạo! Đạo là ǵ? Đạo là tự tánh, đạo là tâm thanh tịnh, trong chân tâm vốn chẳng có một vật! Vốn chẳng có khởi tâm, chẳng có động niệm, làm sao quư vị có thể suy tưởng nó cho được? Hễ suy tưởng, sẽ rớt vào phân biệt. Hễ quư vị nói, sẽ rớt vào chấp trước. V́ thế, đó chẳng phải là thường đạo. “Thường” () là vĩnh hằng bất biến, đấy là Thường. Mỗi cá nhân có cách nh́n khác nhau, mỗi cá nhân có cách nói khác nhau. V́ thế, trong thế gian này, có khá nhiều học giả, chuyên gia phát biểu khá nhiều ngôn luận, ai nấy có cách nh́n riêng, ai nấy có cách nghĩ riêng, đều có cả một đống đạo lư [để biện hộ cho quan điểm của riêng ḿnh]. Lăo Tử đă phê b́nh, thẩm định là “phi thường đạo” (chẳng phải là cái đạo vĩnh hằng bất biến), lời phê b́nh, nhận định chung của Ngài là “chẳng phải là đạo thường hằng”. Mọi người đều có thể chẳng khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, không chấp trước, “thường đạo” sẽ hiện tiền.

          Chuyện này khó khăn, khó ở chỗ nào? Quư vị có muốn tưởng cũng chẳng thể tưởng nổi! Tưởng chính là Tư (), bất khả tư nghị! Chẳng thể tưởng, chẳng thể nói. Diệu: Đúng là diệu ở chỗ này! Chẳng thể nghĩ ngợi, chẳng thể nói! Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta thuyết pháp bốn mươi chín năm, điều này cũng là diệu. V́ sao diệu? Nói bốn mươi chín năm, Ngài thật sự chẳng khởi tâm động niệm, diệu ở chỗ này! Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng khởi tâm động niệm, c̣n phân biệt, chấp trước th́ sao? Thuận theo sự phân biệt của chúng sanh mà phân biệt, thuận theo sự chấp trước của chúng sanh mà chấp trước. Đấy chính là “Lư và Sự chẳng hai, Tự và Tha chẳng hai”. Nh́n từ Tướng th́ là hai, nh́n từ Tánh th́ chẳng hai. Nh́n từ Sự th́ là hai, nh́n từ Lư th́ chẳng hai. Quán Huệ mới có thể giải quyết những vấn đề phức tạp chẳng có cùng tận trong xă hội hiện thời!

          Xă hội này nơi nơi chốn chốn đầy ắp đối lập, nghi ngờ, lo âu, mâu thuẫn, xung đột, đă đạt tới mức độ nghiêm trọng đáng sợ, chẳng ai không bận tâm! Thậm chí c̣n có những chuyên gia, học giả nêu nghi vấn: “Nhân loại trên địa cầu có thể sống b́nh an đến hết thế kỷ này, tức thế kỷ hai mươi mốt hay không?” Cũng có nghĩa là [cho đến] năm 2100, có thể vượt qua một trăm năm ấy hay không? Sợ là bị hủy diệt! Lời lẽ này chẳng phải do những kẻ b́nh phàm nói ra. Chúng tôi nghe xong, có rất nhiều cảm xúc. Có thể cứu văn thế giới này hay chăng? Nếu chư vị khế nhập Đại Thừa, thâm nhập Hoa Nghiêm, tôi tin là quư vị sẽ hết sức lạc quan! Có cứu được hay chăng? Được chứ! Lư luận và phương pháp trong giáo pháp Đại Thừa viên măn khôn sánh, có năng lực ứng biến, có năng lực giúp đỡ các chúng sanh khổ nạn quay đầu là bờ. Nhưng một thứ tốt đẹp dường ấy thế mà chẳng có ai nhận biết, xác thực là hữu hiệu mà chẳng có ai dùng đến, chẳng có ai muốn dùng nó, vậy là chẳng có cách nào cả! Nhưng kẻ nào giác ngộ, hiểu rơ, kẻ ấy sẽ được cứu, nói theo tôn giáo, sẽ là “được cứu vớt”, c̣n nhà Phật nói là “đắc độ”.

          Thế giới này thành, trụ, hoại, không, người đắc độ có thể di dân sang một thế giới khác. Thế giới vô lượng vô biên, quư vị đến thế giới nào? Nhà Phật thường nói đến “duyên phận”. Duyên phận giống nhau, sẽ cảm ứng đạo giao. Người có ḷng yêu thương, có ḷng từ bi, sẽ luôn tụ hội cùng những người có ḷng yêu thương, có tâm từ bi, họ sẽ tụ hội với nhau. Đó gọi là “vật dĩ loại tụ, nhân dĩ quần phân” (vật tụ tập theo từng loài, con người chia thành từng nhóm). Những kẻ chí đồng đạo hợp tự nhiên sẽ tụ tập với nhau, cảm ứng mà! Nay chúng ta đă hiểu, những ǵ Thích Ca Mâu Ni Phật đă giới thiệu cho chúng ta quyết định là thiện. Phật, Bồ Tát, nói theo cách hiện thời, là những bậc đă trở về tự tánh. Tự tánh là thuần tịnh, thuần thiện, những đường lối và phương hướng do các Ngài giới thiệu cho chúng ta chắc chắn là chánh xác. Chúng ta phải có tín tâm, nghiêm túc nỗ lực tu học theo giáo huấn của các Ngài, nhất định sẽ có thể đạt tới mục tiêu. Quư vị mong làm Phật, sẽ nhập cảnh giới của Phật, ở cùng một chỗ với chư Phật. Quư vị mong làm Bồ Tát, sẽ nhập cảnh giới của Bồ Tát, ở chung với các vị Bồ Tát. Xác thực là như Phật pháp đă nói, “tâm tưởng sự thành”.

          Đối với vũ trụ và nhân sinh, chúng ta có cách nh́n, cách nghĩ khác nhau, thưa cùng chư vị, trong tương lai có thể ở chung với nhau hay chăng? Chẳng thể nào! Vợ chồng dẫu đằm thắm đến mấy, trong đời quá khứ có duyên phận, duyên phận có thời tiết, nhân duyên. Các vị ở chung với nhau, hoặc là mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm, chung quy phải chia tay. Sau khi chia tay, đời sau có thể tụ hội với nhau lần nữa hay chăng? Chưa chắc! V́ sao? Hai người có cách nghĩ, cách nh́n chẳng hoàn toàn tương đồng, làm sao có thể sanh vào cùng một pháp giới cho được? Nhất là trong xă hội hiện đại, sẽ càng khó hơn; xă hội xưa kia c̣n dễ hơn đôi chút, chúng ta c̣n có thể tin tưởng. V́ sao? Từ bé đều đă được tiếp nhận giáo dục luân lư, đạo đức. Chồng biết suốt đời chung thủy với vợ, vợ biết suốt đời chung thủy với chồng. [Như vậy th́] đời sau c̣n có thể có duyên phận, chúng ta tin tưởng điều này! Nay th́ chẳng có! Thời cổ, sự kiện ly hôn quá ít, rất hiếm nghe nói, được [sách vở] ghi lại rất ít. Nay th́ ly hôn là chuyện như cơm bữa, quá đỗi b́nh thường!

          Đấy là kết cấu gia đ́nh có vấn đề. Gia đ́nh là tổ chức cơ sở của xă hội, giống như tế bào trong thân thể con người, nó là tổ chức cơ bản. Tổ chức cơ bản bị phá hoại, nếu tế bào trên thân thể một người hư hoại quá nhiều, lẽ nào người ấy chẳng sanh bệnh? Do vậy có thể biết, muốn thật sự nói đến chuyện xă hội hài ḥa, thế giới hài ḥa, ngoại trừ dùng Nho và Phật (tức là nền giáo dục truyền thống về luân lư đạo đức, c̣n phải kể thêm giáo dục nhân quả), sẽ rất khó thực hiện! Ai nấy đều hiểu Đại Thừa, biết “vạn pháp đều là Không, vô sở hữu, chẳng thể được”, người sống trên cơi đời hăy nên làm chuyện “bỏ ḿnh v́ người”, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác chẳng trái nghịch Tánh Đức. Đấy là chánh xác, đấy mới là thật sự có ư nghĩa, có giá trị, không ngừng nâng cao linh tánh của chính ḿnh. Quyết định chẳng thể làm chuyện tổn người lợi ḿnh. Ư niệm tổn người lợi ḿnh sẽ khiến cho chính ḿnh bị đọa lạc. Kết quả của đọa lạc là ở trong ba ác đạo. Đây là sự thật! Nếu quư vị thừa nhận như thế, nếu quư vị đă chứng biết như thế, tín tâm của quư vị sẽ kiên định. Nay đă hết thời gian rồi. Chúng tôi giảng đoạn này tới đây!

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Chúng ta xem tiếp đoạn thứ tư.

 

          (Sớ) Tương hành phi quải thời lục nguyện.

          ()將行披挂時六願。

          (Sớ: Sáu nguyện trong lúc chỉnh đốn y phục khi sắp đi ra ngoài).

 

          Chúng ta nh́n vào tiêu đề này, cũng cảm thấy chẳng quen thuộc cho lắm. Nếu thay đổi cách nói, mọi người sẽ hiểu rất rơ ràng, người Hoa nói là “xuyên trước y thường” (穿著衣裳, mặc áo xống) [“phi quải thời”] là lúc mặc quần áo. V́ sao ở đây nói là “phi quải” (披挂, choàng, quấn)? Chư vị phải biết: Kinh điển từ tiếng Phạn của Ấn Độ dịch ra. Cho đến hiện thời, quư vị sang Ấn Độ, sẽ có thể thấy quần áo của người Ấn chẳng giống như chúng ta. Họ quấn một tấm vải trên thân [làm áo]. Phía dưới gọi là Thường (), tức “y thường” (衣裳, xiêm y, váy xống). Nay chúng ta gọi Thường là cái váy, tức là loại váy quấn quanh (xà-rông). Xà-rông th́ phải dùng đai lưng buộc vào thân, nên gọi là Quải (). Y th́ khoác trên thân; v́ thế gọi là “phi quải” (披挂, choàng, quấn). Hoàn toàn chẳng giống Trung Hoa. Y phục của Trung Hoa phức tạp hơn họ. [Áo] phải may cắt sao cho có cổ áo, vạt áo, tay áo. V́ thế, phải “xuyên trước” (穿著, mặc), c̣n họ (người Ấn Độ) gọi là “phi quải”.

          Tấm áo ca-sa của người xuất gia trong hiện thời, tấm áo này được gọi là Ca-sa (Kāṣāya). Quư vị thấy tấm y này là một miếng vải, nhưng thu nhỏ lại, đại khái chỉ to bằng một phần ba tấm y của Ấn Độ. Y của Ấn Độ rất lớn bao bọc toàn thân, quấn quanh khắp thân. Khi làm việc, họ để lộ tay phải ra, “thiên đản hữu kiên” (偏袒右肩, để hở vai phải) ḥng làm lụng cho tiện. Nay chúng ta cũng [đắp y] để lộ vai phải. V́ thế, vai bên này th́ vắt [hai mép y] chồng lên, để lộ tay phải ra; nhưng trong hiện thời, [để giữ cho hai mép tấm y chẳng tuột khỏi vai], chúng ta dùng cái ṿng móc. Cái ṿng móc rất lâu về sau mới có. Tại Trung Hoa, vào thời Đường, vẫn chưa dùng ṿng móc [để mặc y]; khi đó, chỉ dùng dây buộc. Dùng dây để buộc [hai mép y] cho khỏi tuột. Hiện thời, ở Nhật Bản có thể thấy, ở Đại Hàn cũng có thể thấy [cách đắp y bằng cách buộc dây]. Chỉ có Trung Hoa dùng ṿng móc[2], đương nhiên là đỡ mất công hơn dùng dây buộc. Thế nhưng, hiện thời y ca-sa của Nhật Bản càng ngày càng đơn giản hơn. Y ca-sa hiện thời là một bức vải rất bé, rất ư là bé, vẫn có h́nh dáng giống như vậy, nhưng rút nhỏ[3]. Thông thường, họ mặc đồ Tây, bỏ trong túi áo của Âu phục. Nếu có pháp hội, bèn lấy ra (giống như xâu chuỗi của chúng ta vậy) đeo lên cổ. Đó là một thứ mang tính chất tượng trưng, càng ngày càng đơn giản. Những sự biến hóa này, chúng ta đều phải biết. Đoạn này có tất cả sáu bài kệ nói về chuyện mặc áo. Xin xem bài thứ nhất.

 

          (Kinh) Hạ túc trụ thời, đương nguyện chúng sanh, tâm đắc giải thoát, an trụ bất động.

          ()足住時。當願眾生。心得解脫。安住不動。

          (Kinh: Lúc đặt chân đứng, nguyện cho chúng sanh, tâm được giải thoát, an trụ bất động).

 

          Phải xem [bài kệ này] tiếp nối ư nghĩa của kinh văn trong đoạn trước. Quư vị thấy phần trước là “xả già phu tọa” (thôi ngồi xếp bằng). “Già phu” (跏趺) là ngồi xếp bằng, “xả già phu tọa” là duỗi chân ra. Duỗi chân ra, bàn chân c̣n chưa chấm đất, c̣n chưa đứng lên, vẫn ngồi tại đó, chỉ duỗi chân ra. Bài kệ này tương ứng với khi đă đứng lên, “hạ túc trụ thời” (khi đặt chân xuống, đứng lên). “Trụ” () là đứng, [“hạ túc trụ thời” là] khi đă đứng lên. Khi làm xong một buổi công khóa, trong phần trước, tôi đă thưa cùng chư vị, trong công khóa có Giải Môn và Hạnh Môn. Xếp Hạnh Môn ra trước v́ coi trọng Hạnh Môn.

          Đạo tràng thờ phụng h́nh tượng Phật, Bồ Tát, phải hiểu ư nghĩa này. V́ sao nhất định phải thờ một vị Phật, hai vị Bồ Tát? Thông thường đều thờ phụng theo cách ấy, có ư nghĩa ǵ vậy? Biểu thị pháp. Phật biểu thị Lư, hoặc Tánh, Bồ Tát biểu thị Sự hay Hạnh. Lư là chẳng khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, không chấp trước; do vậy, Phật chẳng thuyết pháp. Bồ Tát biểu thị từ Thể khởi Dụng. Dụng có sự biểu thị, có thuyết pháp, đấy là Dụng! Phật ứng hóa trong mười pháp giới, tức là [thị hiện] thân Bồ Tát; đấy là “có thuyết”. Trong Dụng, lại chia thành hai môn, một là Hạnh Môn, hai là Giải Hạnh; v́ thế, dùng hai vị Bồ Tát để đại diện. Trong Tịnh Độ Tông, Quán Âm Bồ Tát biểu thị Hạnh Môn, ở đây nói là Thiền Định, tức Hạnh Môn. Đại Thế Chí Bồ Tát biểu thị Giải Môn, giải hạnh tương ứng. Quư vị thấy Quán Âm Bồ Tát, nh́n từ phía chúng ta, đối diện với chúng ta, Ngài ở bên tay phải chúng ta, Đại Thế Chí Bồ Tát ở bên tay trái. Trung Hoa coi bên phải quan trọng hơn. Quư vị thấy viết câu đối, phía bên này là vế trên, phía bên kia là vế dưới. Nếu nói theo phương vị của A Di Đà Phật, bên tay trái của A Di Đà Phật là thượng, bên tay phải là hạ. Quán Âm Bồ Tát ở phía tay phải [của chúng ta, nghĩa là ở bên trái của A Di Đà Phật], tức là Hạnh Môn được xếp hàng đầu, Giải Môn được xếp vào thứ hai, chớ nên lầm lộn. Nếu vị trí của Quán Âm và Thế Chí đảo lộn, ư nghĩa biểu thị pháp đă bị điên đảo, ư nghĩa biểu thị pháp bị sai lầm. Điều này chỉ rơ Tịnh Tông trọng Hạnh, quyết định là Giải Hạnh tương ứng.      Hoa Nghiêm Tam Thánh biểu thị pháp khác hẳn. Chính giữa là Tỳ Lô Giá Na Như Lai, thượng thủ là Văn Thù Bồ Tát, hạ thủ là Phổ Hiền Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát là xét theo [địa vị của chúng ta], giống như cách xếp đặt trong Tịnh Độ Tông, Ngài có cùng vị trí với Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát có cùng vị trí với Quán Thế Âm Bồ Tát. Tay trái của Tỳ Lô Giá Na Phật là Văn Thù, bên tay phải là Phổ Hiền; đấy là Giáo Hạ. Giáo Hạ xếp Giải Môn làm thượng thủ, Hạnh Môn đặt ở hạ thủ. Quư vị thấy kinh này vừa khởi đầu đă nói về Giải. Quư vị thấy đối với Thập Tín Bồ Tát, cho đến phẩm này mới nói đến Hạnh Môn. Phẩm Quang Minh Giác trong phần trước nói về Giải. Nh́n từ sự biểu thị pháp, quư vị sẽ hiểu: Đặt điều ǵ làm bậc nhất. Giáo Hạ xếp Giải làm bậc nhất, v́ đă giải rồi mới bắt đầu tu. Tông Môn là đặt Hạnh vào bậc nhất, sau khi đă ngộ, sẽ dấy lên giải. Đấy là do chúng sanh căn tánh khác nhau, phương pháp giáo học sẽ chẳng nhất trí. Tịnh Độ Tông cũng xếp Hạnh hàng đầu, Hạnh Giải tương ứng.

          Trong Niệm Phật Đường vốn chẳng giảng kinh, thật sự là một câu Phật hiệu, thâm nhập một môn, huân tu lâu dài, sẽ quyết định văng sanh. V́ sao nay trong Niệm Phật Đường chúng tôi phải đề xướng nghe kinh? Đạo lư ở chỗ nào? Căn tánh của người hiện thời chẳng bằng cổ nhân! Cổ nhân trung hậu, thật thà, khăng khăng một câu Phật hiệu, chẳng có vọng niệm, chẳng suy nghĩ tà vạy, thành tựu dễ dàng! Người hiện thời không được, căn tánh chẳng bằng cổ nhân, vọng tưởng nhiều, tạp niệm nhiều, tà tri tà kiến nhiều, huống hồ c̣n có những dụ dỗ, mê hoặc trong xă hội. Tâm họ tán loạn; do vậy, phải đề xướng kinh giáo. Kinh giáo giúp quư vị hiểu rơ Lư. Đặc biệt là Hoa Nghiêm, Hoa Nghiêm giảng cặn kẽ. Quư vị thật sự hiểu rơ ràng, thật sự thông hiểu th́ mới có thể buông xuống, mới chẳng bị xă hội dụ dỗ, mê hoặc. Quư vị liễu giải càng sâu đậm th́ mới có năng lực phân biệt chân, vọng, tà, chánh, thiện, ác, đúng, sai. Quư vị mới có thể phân biệt! Nếu không, nghe kẻ khác nói, [sẽ nghĩ] “có lư lắm!”, chạy theo tri kiến của kẻ khác, điều này đáng sợ quá! [Nghe kẻ khác nói, cảm thấy] có lư lắm, nhưng có thấu triệt hay không? Có viên dung hay không? Điều này rất quan trọng! Chẳng thấu triệt, chẳng viên dung, nếu làm theo th́ thoạt đầu dường như hữu hiệu, sau một khoảng thời gian, sẽ bị biến chất, chẳng có cách nào duy tŕ ổn định trong một thời gian dài. Chuyện này trọng yếu lắm!

          Từ xưa tới nay, có khá nhiều học giả, chuyên gia ngoại quốc rất bội phục xă hội Trung Hoa. Họ nói Trung Hoa trong quá khứ đă thực hiện đế chế rất thành công. Từ năm hai trăm lẻ mấy Công Nguyên, Hán Cao Tổ[4] thống nhất Trung Hoa măi cho đến hiện thời, hơn hai ngàn năm. Chế độ của quốc gia bị biến đổi chưa đầy một trăm năm; trong quá khứ, toàn là đế chế. Có thể duy tŕ lâu dài ngần ấy, người ngoại quốc cũng thấy rất rơ ràng: Nói chung, xă hội Trung Hoa là một xă hội ḥa b́nh, an định. Hai ngàn năm qua đă dựa vào ǵ vậy? Người ngoại quốc chẳng hiểu, tưởng là nhờ vào phương cách và sách lược cai trị của đế vương. Cách nh́n ấy lệch lạc, liễu giải Trung Hoa phiến diện, chẳng đủ thấu triệt! Cũng khó trách được! V́ sao? Nói theo cách phổ biến hiện thời, “trong năo của họ chẳng có tế bào này”, làm sao họ có thể nghĩ ra được!

          Trung Hoa ổn định, củng cố dài lâu, an định, ḥa b́nh, dựa vào đâu? Dựa vào giáo dục luân lư đạo đức. Luân lư đạo đức rất gần gũi, tương ứng với tự tánh. Hễ trái nghịch tự tánh, chắc chắn sẽ sanh ra rối loạn, có phiền phức. Tương ứng với tự tánh, sẽ chẳng có [những chuyện ấy]. Người ngoại quốc cũng hiểu cốt lơi trong giáo huấn của cổ thánh tiên hiền và các tôn giáo là yêu thương. Họ cũng phát hiện, thấu hiểu điều này! Vun bồi cái tâm yêu thương như thế nào? Họ chẳng biết, chẳng nói tâm yêu thương là thiên tánh, tâm yêu thương là bản tánh, chẳng phải là tập tánh. Người ngoại quốc rất ít nói tới điều này, [tức là nói tới] bản tánh. Mă Minh Bồ Tát bảo “Bổn Giác vốn có”, tâm yêu thương chính là “Bổn Giác vốn có”. Nói “tánh loài người bất thiện”, cái bất thiện chính là tập tánh, chẳng phải là bản tánh. Tôi cảm thấy cổ đại đế vương thống trị Trung Hoa chẳng phải bằng quyền thuật (權術, thuật cai trị, thuật cầm quyền), mà bằng tâm yêu thương, bằng đạo đức, bằng luân lư. Những thứ ấy đều là Tánh Đức, tương ứng với Tánh Đức th́ mới có thể b́nh trị lâu dài. Trái nghịch Tánh Đức, dẫu có thể thu được hiệu quả nhất thời, lâu sau sẽ nẩy sanh vấn đề!

          Đây là khi buông chân xuống để đứng lên, “hạ túc trụ thời”, “trụ” là đứng lên. “Đương nguyện chúng sanh, tâm đắc giải thoát, an trụ bất động” (Nguyện cho chúng sanh, tâm được giải thoát, an trụ bất động). Phát nguyện như vậy. Từ nguyện này, có thể thấu hiểu, khởi tâm động niệm bèn [nghĩ đến] hết thảy chúng sanh trong khắp pháp giới, hư không giới. Tâm lượng ấy to cỡ nào! V́ thế, cổ nhân nói, không chỉ nóichẳng đọc Hoa Nghiêm, sẽ chẳng biết sự phú quư trong nhà Phật, mà c̣n bảo chẳng đọc Hoa Nghiêm, sẽ không biết tâm lượng to lớn của Phật, Bồ Tát”. Dùng phương pháp ǵ để mở rộng tâm lượng của chúng ta? Bộ sách giáo khoa này đúng là sách giáo khoa tốt nhất từ khi có lịch sử đến nay. Thầy tôi nói, kinh Hoa Nghiêm là khái luận triết học của kinh Phật, là sách giáo khoa hay nhất trên thế giới, các thứ học thuật của phương Đông lẫn phương Tây đều chẳng thể sánh bằng! Kinh có lư luận viên măn, có phương pháp chặt chẽ, c̣n kèm thêm biểu diễn, t́m đâu ra loại sách giáo khoa [giống như vậy]? Tôi theo lăo nhân gia học Triết Học, Ngài giới thiệu kinh Hoa Nghiêm. Khi ấy, tôi c̣n chưa đọc sách này; từ lời giáo huấn của thầy, mới biết có một bộ sách tốt đẹp dường ấy! Khởi tâm động niệm chẳng phải là nói đến chính ḿnh, chẳng phải là nói đến một đoàn thể. Một gia đ́nh, một đoàn thể, một xă hội, một quốc gia, thậm chí nay chúng ta nói là toàn thể thế giới. Đó là “thế giới quan”. Kinh này nói theo “vũ trụ quan”, niệm nào cũng “đương nguyện chúng sanh” (nguyện cho chúng sanh), “chúng sanh” ở đây chính là chúng sanh trong hết thảy các cơi nước khắp pháp giới, hư không giới, chẳng sót một ai!

          “Tâm đắc giải thoát, an trụ bất động” (Tâm được giải thoát, an trụ bất động), hai câu này xuất phát từ chỗ nào? Liên quan tới buổi học trước! “Tâm đắc giải thoát” là Giải Môn, “an trụ bất động” là Hạnh Môn. Đối với hai bài kệ thứ năm và thứ sáu trong phần trước, “nhược tu ư Quán” (nếu như tu Quán), quư vị thấy “đương nguyện chúng sanh, kiến như thật lư, vĩnh vô quai tránh” (nguyện cho chúng sanh, thấy lư như thật, vĩnh viễn chẳng chống trái, tranh căi), đấy chính là “tâm đắc giải thoát”. “Tu hành ư Định, đương nguyện chúng sanh, dĩ Định phục tâm, cứu cánh vô dư” (Tu hành nơi Định, nguyện cho chúng sanh, dùng Định chế ngự cái tâm, rốt ráo chẳng sót). Đấy là “an trụ bất động”. Phải áp dụng những ǵ đă học được trong các buổi học vào cuộc sống thực tế. Ở đây, chúng ta ắt phải ghi nhớ, Bồ Tát chính ḿnh làm được, mới “nguyện cho chúng sanh”. Nếu chính ḿnh chẳng làm được, nay chúng ta nói, lấy ǵ để giúp đỡ chúng sanh? Nói theo Phật pháp, chính ḿnh chẳng làm được, lấy đâu ra công đức để hồi hướng cho người khác? Nay ta nói “hồi hướng”“chia sẻ với mọi người”, đấy là công đức. Nhắc nhở đại chúng: “Tôi đă khế nhập, chân thật, chẳng hư dối. Nếu quư vị có thể làm như vậy, quư vị cũng có thể khế nhập”. Chính ḿnh nêu gương tốt cho người khác thấy. Chư Phật, Bồ Tát hiện thân thuyết pháp trong mười pháp giới, biểu diễn cho chúng ta: “Trong vũ trụ, chỉ có chuyện này là thật, những thứ khác đều chẳng thật!” Quư vị thấy ư nghĩa này hay lắm, viên măn lắm! Sau khi đứng lên, đương nhiên sẽ rời khỏi giảng đường, tức là rời khỏi đạo tràng. Rời khỏi đạo tràng th́ phải cất bước.

 

          (Kinh) Nhược cử ư túc.

          ()舉於足。

          (Kinh: Nếu như cất bước).

 

          Đấy là bắt đầu bước đi.

 

          (Kinh) Đương nguyện chúng sanh, xuất sanh tử hải, cụ chúng thiện pháp.

          ()願眾生。出生死海。具眾善法。

          (Kinh: Nguyện cho chúng sanh, thoát biển sanh tử, đủ các pháp lành).

 

          Đây là trong cuộc sống hằng ngày, tức là ngay trong hiện tiền. Nay chúng ta cùng nhau học tập phẩm Tịnh Hạnh, chúng ta có muốn áp dụng một trăm bốn mươi mốt nguyện này vào hiện tiền hay không? Nay chúng ta chẳng cần phải trải ṭa để ngồi, hiện thời đă có ghế dựa. Trước khi chúng ta ngồi xuống, nhất định sẽ coi trước ghế có sạch hay không? Nếu không sạch, sẽ lau chùi nó để chính ḿnh ngồi lên đó. Coi thử ghế có sạch hay không cũng giống như “trải ṭa để ngồi”. Nhưng hiện thời, khi ngồi, chúng ta chẳng xếp bằng, phải hiểu ư nghĩa này! Khi chúng ta đứng lên, đă đứng lên th́ chính là “hạ túc trụ thời” (khi buông chân xuống, đứng dậy). “Trụ” () là đứng lên. Buổi học đă xong, chúng ta ra khỏi giảng đường, “nhược cử túc thời, đương nguyện chúng sanh, xuất sanh tử hải” (nếu khi giở chân, nguyện cho chúng sanh, thoát biển sanh tử). “Xuất sanh tử hải” là thoát khỏi lục đạo luân hồi, thoát khỏi mười pháp giới.

          Trong lục đạo luân hồi, hai loại sanh tử đều có, [tức là] hai thứ sanh tử Biến Dịch Sanh Tử và Phần Đoạn Sanh Tử đều có. Tứ thánh pháp giới, tức Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật (Phật ở đây là Phật trong mười pháp giới), chẳng có Phần Đoạn Sanh Tử, nhưng có Biến Dịch Sanh Tử. Phần Đoạn Sanh Tử là nói về lục đạo. Nói tổng quát, ví như người đến đầu thai trong thế gian, sanh ra, đầu thai, từ lúc sanh ra măi cho đến khi thọ mạng trong đời này đă hết, chết đi, đó là một giai đoạn. Một đời ấy được gọi là một giai đoạn. Sau khi đă chết, kẻ ấy lại đầu thai, thuận theo nghiệp lực dẫn dắt mà sẽ đến đầu thai trong đường nào đó. Trong kinh, đức Phật đă nói rơ chuyện này: “Cường giả tiên khiên” [nghĩa là] nghiệp lực nào mạnh mẽ, sẽ dẫn [thần thức của người ấy] đi đầu thai trước. Nếu đời này thiện niệm của quư vị rất mạnh, thiện niệm vượt trỗi ác niệm, nhất định là quư vị sẽ đầu thai vào ba thiện đạo trước. Nhất định là như vậy. Nếu đời này làm người, ác niệm nhiều, thiện niệm ít, do ác niệm quá mạnh, đời sau quư vị sẽ đến đầu thai trong ba ác đạo. Cái nào mạnh sẽ lôi đi trước, dắt quư vị đi đầu thai. Từng giai đoạn như vậy được gọi là Phần Đoạn Sanh Tử (分段生死). Đấy là nói theo nghĩa rộng.

          Nếu nói theo nghĩa chân thật của đức Phật, thân thể này của chúng ta xác thực là Phần Đoạn Sanh Tử. Bản thân chúng ta có thể nhận biết hay không? Chẳng thể cảm nhận! Mỗi niệm đều là một đoạn, niệm niệm quá vi tế, chúng ta chẳng dễ hiểu! Chúng tôi nêu một thí dụ. Mỗi ngày coi như một giai đoạn. Ngày hôm qua là một ngày đă qua đi, có phải là đă chết mất rồi hay sao? C̣n có thể quay lại hay không? Chẳng thể quay lại; đó là nói theo từng ngày một. Lại nói cặn kẽ hơn một tí, mỗi ngày có hai mươi bốn giờ, một giờ đă trôi qua, giờ ấy có thể quay lại hay chăng? Mỗi giờ có sáu mươi phút, một phút đă qua, tức là “đă chết”, chẳng thể quay lại được, từng đoạn một. Chia tới chỗ cực hạn, sẽ là sanh diệt trong từng sát-na. Liễu giải chân tướng sự thật này, v́ thế, nói “niệm niệm chẳng trụ”. Đó là chân tướng, là Thật Tướng của các pháp. Không chỉ là loài người, mà tất cả hết thảy các pháp đều chẳng thường trụ, đều sanh diệt trong từng sát-na. Chúng ta thấy dường như con người có thể sống vài chục năm, trong thế gian có rất nhiều thứ có thể tồn tại mấy trăm năm, mấy ngàn năm, [nhưng thật ra], thảy đều là sanh diệt trong từng sát-na. Duyên thù thắng hơn một tí, sẽ là tướng tương tục (tướng tiếp nối), tuyệt đối chẳng phải là một tướng, mà là tướng liên tục. Ta ngày hôm qua chẳng phải là ta ngày hôm nay, ta ngày hôm nay chẳng phải là ta trong ngày mai. Nhưng người quán chiếu tinh vi, kín nhiệm như thế, nói thật ra, chẳng nhiều! Phải là người rất cẩn thận th́ mới được, kẻ ơ hờ qua loa sẽ chẳng thể cảm nhận được!

          Đức Phật dạy chúng ta những phương pháp hết sức đáng quư, khiến cho chúng ta quan sát cẩn thận, tuy chẳng thể triệt để liễu giải chân tướng của vũ trụ, nhưng có thể dần dần tiếp cận. Khởi đầu, tuy có thể hiểu một, hai phần; một, hai phần ấy đă khởi tác dụng rất lớn, có thể uốn nắn khá nhiều sai lầm cho chúng ta. Niệm nào cũng đều thoát khỏi biển sanh tử, đấy là Chánh Giác tuyệt diệu. Sanh tử luân hồi trong lục đạo th́ hết thảy đều vô thường, có c̣n mong sanh tử nữa hay chăng? Từ vô lượng kiếp đến nay, trong kinh, đức Phật đă nói quá nhiều lần: “Sanh tử b́ lao” (生死疲勞, sanh tử mệt mỏi, nhọc nhằn), quá nhiều lần! Người giác ngộ hy vọng đời này sẽ là lần cuối cùng, đời sau chẳng c̣n luân hồi nữa! Bậc thật sự cao minh, thật sự giác ngộ, [sẽ cảm nhận]: “Ngày hôm nay đă qua, hăy nên đoạn sạch chuyện luân hồi trong lục đạo. Từ nay trở đi, ta sẽ không làm nữa, [tức là] chẳng làm những chuyện thuộc về luân hồi, chẳng tạo nghiệp luân hồi. Như thế nào th́ mới có thể chẳng tạo nghiệp luân hồi? Nếu xả trừ cái tâm luân hồi, sẽ không tạo nghiệp luân hồi! Tâm luân hồi là tâm ǵ vậy? Cái tâm chấp trước. Chấp trước kiên cố hết thảy vạn sự, vạn vật trong thế gian và xuất thế gian, đấy là tâm luân hồi. Trừ bỏ cái tâm luân hồi, sẽ chẳng tạo nghiệp luân hồi. Quư vị chẳng tạo nghiệp luân hồi, đời sau chắc chắn chẳng bị luân hồi!

          Nếu chúng ta hỏi, nay chúng ta phải như thế nào th́ mới chẳng tạo nghiệp luân hồi? Phật, Tổ đều dạy chúng ta: “Nhất tâm chuyên niệm A Di Đà Phật”. Quư vị thấy A Di Đà Phật có tương ứng với lục đạo hay không? Trong ba thiện đạo chẳng có A Di Đà Phật; trong ba ác đạo cũng chẳng có A Di Đà Phật. Lại thưa cùng chư vị, trong tứ thánh pháp giới cũng chẳng có A Di Đà Phật, A Di Đà Phật ở nơi đâu? Trong Nhất Chân pháp giới, Cực Lạc là Nhất Chân pháp giới. Chẳng phải là đă rơ rành rành rồi hay sao? Nhất tâm chuyên niệm A Di Đà Phật, buông xuống hết thảy phân biệt, vọng tưởng, chấp trước. Vị đường chủ trong Niệm Phật Đường thường nói: “Buông xuống thân, tâm, thế giới, một bề chuyên niệm”. Đấy là “xuất sanh tử hải” (thoát khỏi biển sanh tử), đấy là “cụ chúng thiện pháp” (trọn đủ các thứ thiện pháp). Do vậy, một câu Phật hiệu được gọi là “vạn đức hồng danh” v́ nó trọn đủ hết thảy thiện pháp.

          Trong các buổi giảng, chúng tôi cũng nhắc đến đạo lư này vài lượt. Vào thời đại Tùy - Đường, những vị cao tăng đại đức, kể cả những vị từ Nhật Bản, Đại Hàn đến tham học tại Trung Hoa. Các Ngài cũng từng dấy vọng tưởng, suy nghĩ điều ǵ? Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng nhiều ngần ấy, bộ kinh nào có thể đại biểu cho hết thảy các pháp, đại biểu cho hết thảy các kinh do đức Phật đă nói trong bốn mươi chín năm, dùng bộ kinh ấy làm đại biểu. Kết quả là các vị tổ sư đại đức ấy gần như đều cùng thừa nhận, Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Do vậy, mọi người gọi kinh Hoa Nghiêm là “kinh trung chi vương” (vua trong các kinh), là “căn bản pháp luân”. Nói theo kiểu hiện thời, “pháp luân” là sách giáo khoa, [“căn bản pháp luân” có thể hiểu] là sách giáo khoa cơ bản. Mở kinh Hoa Nghiêm ra, vô lượng pháp môn. Tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn, pháp môn nhiều ngần ấy đều được cô đọng thành một bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Gần như mọi người đều khẳng định điều này!

          Đấy là từ trong hết thảy các pháp môn, đă t́m được một đại biểu, c̣n có kinh điển nào đơn giản hơn nữa để có thể làm đại biểu cho kinh Hoa Nghiêm, [nội dung lại] bao gồm kinh Hoa Nghiêm hay không? Cứ truy tầm từng bộ một. Truy cứu kiểu đó, do phần cuối của kinh Hoa Nghiêm là năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài, mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc. Thế giới Cực Lạc được dạy trong kinh Vô Lượng Thọ. V́ thế, kinh Vô Lượng Thọ là Trung Bổn Hoa Nghiêm, Hoa Nghiêm là Đại Bổn của kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Vô Lượng Thọ là Trung Bổn của kinh Hoa Nghiêm. Kinh A Di Đà là Tiểu Bổn, kinh A Di Đà là Tiểu Bổn của kinh Hoa Nghiêm và là Tiểu Bổn của kinh Vô Lượng Thọ, càng đơn giản hơn. Phần quan trọng nhất trong kinh Vô Lượng Thọ là đoạn kinh văn nào? Các vị tổ sư đại đức đă quy nạp, thay cho chúng ta t́m ra bốn mươi tám nguyện. Phần quan trọng nhất trong kinh Vô Lượng Thọ là bốn mươi tám nguyện. Trong bốn mươi tám nguyện, quan trọng nhất là nguyện nào? Tổ sư đại đức đă đề ra nguyện thứ mười tám. Nguyện thứ mười tám nói ǵ vậy? “Lâm mạng chung thời, thập niệm tất sanh” (Khi lâm chung, do mười niệm ắt được văng sanh).

          Sau đấy, quư vị mới hiểu, một câu “Nam-mô A Di Đà Phật” triển khai ra sẽ là bốn mươi tám nguyện, bốn mươi tám nguyện triển khai thành kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Vô Lượng Thọ triển khai thành kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm lại triển khai thành hết thảy các kinh giáo do Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói trong bốn mươi chín năm. T́m đến cuối cùng, A Di Đà Phật vốn là cốt lơi của toàn thể Phật pháp. Như vậy th́ quư vị niệm một câu A Di Đà Phật chẳng phải là đă trọn đủ các thiện pháp ư? Chẳng sai tí nào! Nhưng nay chúng ta niệm Phật, chẳng biết niệm! Cớ sao chẳng biết niệm? Niệm một câu A Di Đà Phật mà vẫn xen tạp vọng tưởng, [tức là] chẳng biết niệm! Cổ đại đức dạy chẳng sai, nhất tâm xưng niệm. Kinh Vô Lượng Thọ nói là “nhất hướng chuyên niệm” (một bề chuyên niệm). “Hướng” () là phương hướng, chớ nên xen tạp! Cổ đại đức dạy chúng ta, bí quyết của pháp môn Niệm Phật gồm có ba điều: Điều thứ nhất là chẳng hoài nghi, điều thứ hai là chẳng xen tạp, điều thứ ba là chẳng gián đoạn. Quư vị có thể làm được ba câu ấy, xác thực là đă đầy đủ vô lượng vô biên thiện pháp!

          Ba câu ấy đều chẳng dễ dàng! Quư vị có nghi hoặc đối với pháp môn Niệm Phật hay không? Hễ có nghi, tín tâm chẳng thật! Làm sao biết quư vị có nghi? Quư vị chẳng buông xuống duyên thế gian, đó là nghi hoặc. Nếu thật sự tin tưởng, chẳng hoài nghi, bảo quư vị buông xuống thân, tâm, thế giới, [quư vị] sẽ thật sự buông xuống. Đấy là chẳng có nghi hoặc, nhất tâm chuyên niệm. Trong thời cận đại, cách thời hiện đại chẳng xa, chưa đến nửa thế kỷ, lăo pháp sư Đàm Hư có kể [một trường hợp]. Thầy của Ngài là lăo ḥa thượng Đế Nhàn. Lăo ḥa thượng Đế Nhàn có một đồ đệ làm “oa lậu tượng”, hễ nhắc đến [lăo pháp sư Đàm Hư] th́ Hương Cảng rất thân thuộc. Tôi nghe câu chuyện này từ băng thâu âm, ở Hương Cảng có đồng học (khi đó tôi ở Mỹ), họ gởi hai băng thâu âm cho tôi, [thâu lời] khai thị của pháp sư Đàm Hư trong Phật Thất ở Hương Cảng. Lời khai thị gồm hai cuộn băng, một cuộn trong ấy có câu chuyện này!

          “Oa lậu tượng” (鍋漏匠): Oa lậu tượng là ǵ? Hiện thời chẳng ai hiểu, tức là thợ vá nồi, vá bát. Những thứ giống như đồ sứ bị vỡ, c̣n có thể chắp vá lại để dùng, tái sử dụng! Hiện thời chẳng có chuyện này! Hiện thời, khoa học kỹ thuật phát triển, không chỉ là sản phẩm nhiều hơn trước, mà c̣n tiến bộ hơn trước rất nhiều. Số lượng cũng được gia tăng rất lớn, hễ bị hỏng đều vứt đi, chẳng cần nữa. Xưa kia chẳng phải vậy, vật tư hết sức thiếu thốn, nồi hoặc bát bị vỡ bèn chắp vá lại. Thuở bé, tôi đă thấy nghề này, công việc rất nhọc nhằn. Ông ta làm nghề ấy quá vất vả. Do vậy, sau đó, t́m đến pháp sư Đế Nhàn. Ông ta và pháp sư Đế Nhàn trưởng thành từ bé trong cùng một thôn làng, đáng gọi là “bạn chơi với nhau thuở bé”. Cuộc sống quá vất vả, thấy Sư xuất gia được lắm, chẳng phải lo ăn, chẳng lo mặc; v́ vậy, tính theo Sư xuất gia.

          Pháp sư Đế Nhàn nói: “Không được! Ông xuất gia th́ tuổi đă cao quá rồi, đă ngoài bốn mươi tuổi, chẳng biết chữ”. Sư bảo: “Nay ông học kinh giáo, do không biết chữ, ở trong chùa chiền học năm đường công khóa[5], cũng chẳng biết xướng niệm, quá ngốc nghếch, làm sao ông có thể xuất gia cho được?” Kết quả là tâm người ấy rất kiên định, cứ lằng nhằng không đi, Sư chẳng thể nào không đáp ứng. Cuối cùng, pháp sư Đế Nhàn bị ông ta ép không làm sao được, đành phải bàn điều kiện với ông ta. Sư bảo: “Thôi được rồi! Ông muốn xuất gia th́ hết thảy đều phải nghe theo tôi”. Ông ta đáp: “Không thành vấn đề! Chuyện ǵ tôi cũng đều nghe theo thầy”. Sư mới cho ông ta xuống tóc. Sau khi xuống tóc, chẳng thể sống trong chùa miếu, v́ đại chúng trong chùa miếu sẽ khinh dễ ông ta. Nếu năm đường công khóa chẳng biết làm, làm sao có thể ở trong chùa miếu cho được?

          V́ thế, [Sư đưa ông ta] đến vùng quê ở Ôn Châu. Khi đó, có rất nhiều ngôi chùa nhỏ chẳng có ai ở. Sư t́m một ngôi chùa nhỏ cho ông ta ở. T́m quanh đó mấy vị hộ pháp, chăm lo cuộc sống cho ông ta. Ông ta sống rất đơn giản. Rất khó có, c̣n có một bà lăo phát tâm nấu cơm cho ông ta. Pháp sư Đế Nhàn dạy ông ta một câu “nam-mô A Di Đà Phật”, bảo: “Ông niệm câu này, hễ niệm mệt bèn nghỉ ngơi. Nghỉ khỏe rồi lại niệm tiếp. Chuyện ǵ cũng đều chẳng nghĩ tới, chuyên niệm một câu này”. Ông ta thật sự nghe lời, ở trong ngôi chùa nhỏ ấy, suốt ba năm không ra khỏi cửa, niệm một câu A Di Đà Phật, niệm hơn ba năm, thật sự thành tựu. Ngày hôm ấy, bảo bà lăo nấu cơm: “Ngày mai tôi phải vào thành, ngày mai bà không cần nấu cơm cho tôi”. Ông ta vào thành thăm bạn bè, c̣n có các thân thích bằng hữu, đi thăm họ, trên thực tế là giă biệt, ông ta cũng chẳng nói, đi thăm bạn bè thôi! Sau khi quay về, bảo bà lăo: “Ngày mai bà chẳng cần nấu cơm cho tôi”. Bà lăo nghĩ: “Hôm qua ông ta ra ngoài thăm bạn bè, chắc là ngày mai có bạn bè mời ông ta dùng cơm!”

          V́ thế, cho đến giữa trưa hôm sau, bà vẫn đến chùa coi thử pháp sư có cơm ăn hay không? Kết quả là đến chùa t́m, gọi ông ta chẳng thấy ai trả lời, cuối cùng thấy ông ta đứng trong pḥng, đứng sững tại đó, gọi th́ không trả lời. Đến trước mặt coi kỹ, thấy đă chết, bà ta sợ ngây người, chưa từng thấy có người đứng chết. Ông ta đứng mất! Lúc ấy mới vội vă báo cho mấy vị hộ pháp biết. Những người hộ pháp đến xem, cũng [cảm thấy] rất hiếm có, rất kinh ngạc, vội vàng sai người sang chùa Quán Tông báo tin cho lăo pháp sư Đế Nhàn. Khi đó, cụ Đế Nhàn c̣n là Tri Khách Sư của chùa Quán Tông, vẫn chưa phải là Trụ Tŕ, chỉ là Tri Khách Sư tại chùa Quán Tông. Nghe tin ấy, Sư vội vă về quê. Đi về mất ba ngày, quư vị thấy người đồ đệ ấy sau khi đă chết, đứng suốt ba ngày. Sau khi trông thấy, pháp sư Đế Nhàn rất hoan hỷ: “Ông chẳng phí công xuất gia! Thành tựu của ông, các vị phương trượng trụ tŕ tùng lâm khắp Trung Hoa chẳng ai có thể sánh bằng!” Thật vậy, chẳng giả tí nào! Quư vị thấy niệm một câu Phật hiệu suốt ba năm, biết trước lúc mất, đứng sững văng sanh, chẳng ngă bệnh. Ra đi tự tại dường ấy, tiêu sái dường ấy. Pháp sư Đế Nhàn lo liệu hậu sự cho ông ta.

          Một câu A Di Đà Phật, “cụ chúng thiện pháp” (đủ các pháp lành), giống như ông ta th́ mới được. Ông ta thật sự làm được, chẳng hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn. Do vậy, phương thức ấy của cụ Đế Nhàn hay quá! Quư vị niệm mệt liền nghỉ, nghỉ đă khỏe lại tiếp tục niệm, chẳng phân chia ngày đêm. Bất cứ khi nào mệt bèn nghỉ ngơi khi ấy. Đă nghỉ ngơi xong lại tiếp tục niệm. Thời gian ba năm! Về sau, tôi đọc Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Văng Sanh Truyện, thấy trong ấy rất nhiều trường hợp [niệm Phật] từ ba năm đến năm năm bèn thành tựu. Đă từng có đồng tu hỏi tôi, có phải là thọ mạng của họ đă tới? Tôi nghĩ chẳng phải, há có chuyện phù hợp vừa khéo như thế? [Nếu bảo là do] thọ mạng đă tới, mấy người th́ được, chẳng thể có nhiều người ngần ấy! Chẳng phải là thọ mạng đă đến, mà là do công phu của họ thành tựu. Công phu đă thành tựu, chẳng cần thân thể này nữa, có thể ra đi trước thời hạn. Sanh tử tự tại mà! Họ chẳng lưu luyến thế gian này, hy vọng sớm có ngày văng sanh. Thật đấy! Chẳng giả tí nào! Do vậy, “xuất sanh tử hải, cụ chúng thiện pháp” (thoát biển sanh tử, đủ các pháp lành) chính là một câu hồng danh sáu chữ. Nay đă hết thời gian rồi!

 

Tập 1518

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, phần kệ tụng thuộc đoạn lớn thứ tư, Tương Hành Phi Quải (將行披挂, chỉnh đốn y phục lúc sắp ra đi), xem từ nguyện thứ ba.

 

          (Kinh) Trước hạ quần thời, đương nguyện chúng sanh, phục chư thiện căn, cụ túc tàm quư.

          ()著下裙時。當願眾生。服諸善根。具足慚愧。

          (Kinh: Khi vấn cái xiêm, nguyện cho chúng sanh, mặc các thiện căn, trọn đủ hổ thẹn).

 

          Đoạn này có tất cả sáu nguyện. Nói chung, sáu nguyện ấy là khi đă “hạ ṭa” (下座, rời chỗ ngồi) bèn “chỉnh y” (整衣), tức là sửa sang y phục cho ngay ngắn. Ắt cần phải biết điều này, đấy là tập tục thời cổ Ấn Độ, mà cũng là lễ phép, coi như là “oai nghi” như người Trung Hoa đă nói. “Hạ ṭa” là nói theo Trung Hoa, v́ Thiền Đường và Niệm Phật Đường tại Trung Hoa đều có chỗ ngồi. Trong giảng đường, đương nhiên cũng có bàn học, có ghế ngồi. Hơn nữa, trang phục của Trung Hoa chẳng giống Ấn Độ, dễ dàng hơn. Y phục của Ấn Độ, khi ngồi xuống và đứng lên, đều phải chỉnh trang y phục, v́ họ quấn trên thân. “Hạ quần” (下裙) là bức vải quấn ở phía dưới. Chúng ta biết thời cổ gọi nó là “y thường” (衣裳,xiêm y, váy xống). “Thường” () là cái váy. “Khố” (, quần dài): Người Hoa bắt đầu chế ra “khố tử” (quần dài)[6] khá muộn. Theo lịch sử Trung Hoa ghi chép, thời đại Xuân Thu vẫn toàn là vận “y thường”.

          “Trước hạ quần thời”: Cái váy quấn ở dưới do phải buộc đai, nên gọi là Quải. “Phi quải” (披挂, khoác, quấn), “quải” là cái váy ở dưới. Trong Sớ Sao, Thanh Lương đại sư không chú giải nhiều, nhưng đă nêu rộng ư nghĩa.

 

          (Sớ) Hạ y cái xú, cố nguyện đắc tàm quư.

          ()下衣蓋醜,故願得慚愧。

          (Sớ: Hạ y che thứ xấu xa, nên nguyện “đạt được hổ thẹn”).

 

          Quư vị thấy Ngài đă mở rộng ư nghĩa từ chỗ này! Người và động vật khác nhau. Con người luôn có tâm xấu hổ, thẹn thùng. Từ xấu hổ, tự nhiên sẽ có cái tâm “tàm quư”. Tàm () là tự phản tỉnh. Nói thông thường, lương tâm cảm thấy có lỗi th́ là Tàm. Quư () là dư luận bên ngoài, cũng là như nay chúng ta nóiđại chúng b́nh phàm phê b́nh quư vị. Quư vị làm việc thiện, đại chúng tán thán, tán dương quư vị. Đấy là chuyện tốt. Quư vị làm chuyện sai quấy, tạo tội nghiệp, đại chúng trong xă hội chỉ trích, phê b́nh quư vị. Đó là Quư (thẹn). Đấy gọi là thẹn với xă hội, thẹn với tổ tiên, thẹn với những người cùng hàng, bao gồm những ư nghĩa này. Nếu con người chẳng biết thẹn, sẽ c̣n xấu hơn súc sanh!

          Hiện thời, xác thực là luân lư đạo đức trong toàn thể xă hội đă gần như tiêu mất! Có mấy ai trong hiện thời biết hổ thẹn? Trong Đại Thừa Phật pháp, Tàm Quư thuộc loại Thiện Tâm Sở theo cách phân loại trong Bách Pháp Minh Môn Luận. Vô Tàm, Vô Quư thuộc về ba loại phiền năo lớn. Ngoài căn bản phiền năo, có Tùy Phiền Năo. Tùy phiền năo[7] gồm Đại Tùy, Trung Tùy, và Tiểu Tùy, hai món ấy thuộc loại Trung Tùy, tức là Vô Tàm, Vô Quư. Vô Tàm th́ làm bất cứ chuyện xấu nào, chẳng có lương tâm. Kẻ ấy chẳng biết lương tâm là ǵ, mà cũng chẳng sợ kẻ khác phê b́nh. Có nghĩa là kẻ ấy chẳng cần biết đến dư luận, “các ngươi nói ǵ đi nữa, ta cứ làm chuyện của ta!” Người mà đă đến mức ấy, chư Phật, Bồ Tát, thánh hiền đều chẳng có cách nào cứu quư vị! Ai có thể cứu? Ai có thể quay đầu? Kẻ c̣n có tâm hổ thẹn. Dẫu làm chuyện xấu, có khi nghĩ lại, vẫn bị lương tâm cắn rứt. Đấy là tâm sở Tàm. Vẫn sợ dư luận bên ngoài phê b́nh, đó là tâm sở Quư. Do vậy khi mặc hạ y, váy hay quần đều thuộc loại hạ y, sẽ liên tưởng đến chuyện “che chắn xấu xa”, tức là đă biết thẹn!

          Cổ nhân thường nói: “Tri sỉ cận hồ dũng” (Kẻ biết thẹn gần như là kẻ dũng mănh). Người biết thẹn mới có thể mạnh mẽ dấy lên ư chí, mới có thể đội trời đạp đất. Chúng ta suy ngẫm đôi chút, nỗi sỉ nhục lớn nhất trong đời người là ǵ? Chính là không hiểu rơ chân tướng Sự Lư, làm càn, làm quấy, tạo tác tội nghiệp, chiêu cảm khổ báo trong tam đồ. Đấy là nỗi sỉ nhục cực đại! Có lỗi với cha mẹ, có lỗi với tổ tiên, cô phụ cái thân người trong đời này! Trong giáo pháp Đại Thừa, đức Phật thường nói “thân người khó được”. Nếu đă nghe Phật pháp, vậy là có lỗi với Phật, Bồ Tát, có lỗi với kinh giáo, tuy đă nghe mà chẳng nghiêm túc hành! Nay chúng ta hăy ngẫm xem, hăy suy ngẫm chính ḿnh, lại nh́n vào hoàn cảnh chung quanh, có thể nói là “toàn thể đều bị mê mất phương hướng”. Nếu chúng ta chẳng huân tu kinh giáo một thời gian dài, đă sớm mê mất, chắc chắn sẽ chẳng khác người đời! Tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần bày ra trước mắt, lẽ đâu chẳng động tâm cho được? Làm sao có thể chẳng tham cầu? Sau khi cái tâm keo kiệt, tham lam đă dấy lên, chắc chắn sẽ làm chuyện tổn người, lợi ḿnh. Câu thành ngữ “tổn người, lợi ḿnh”, nói thật ra, đă sai mất rồi, sai ở chỗ nào? Tổn người, chắc chắn sẽ bất lợi cho chính ḿnh! Phải nói rơ ràng, nói minh bạch chân tướng sự thật khiến cho người ta giác ngộ.

          Trong giáo huấn nhân quả thường nói, ngay cả ông Khải Tây (Edgar Cayce) của Mỹ cũng nói khẳng định: “Những thứ phải cảm nhận trong một đời của bất cứ ai trên thế giới, chẳng có chuyện nào không liên quan đến hạnh nghiệp trong đời trước”. Đấy là nói đến nhân quả. Đă liên quan đến hạnh nghiệp trong đời trước, hết thảy những tạo tác trong kiếp này của chúng ta đương nhiên cũng liên quan đến đời sau. Phật pháp nói rất hay: “Dục tri tiền thế nhân”, [nghĩa là] nếu chúng ta muốn biết trong đời quá khứ đă tạo cái nhân ǵ, “kim sanh thọ giả thị”, [nghĩa là] những ǵ quư vị đă hứng chịu trong đời này, bất luận là hoàn cảnh nhân sự hay hoàn cảnh vật chất, những ǵ quư vị phải hứng chịu [trong đời này] là do đời trước quư vị đă gây tạo. “Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị”, [nghĩa là] nếu quư vị muốn biết quả báo trong đời sau của ḿnh sẽ như thế nào ư? Những ǵ quư vị đă nghĩ, đă làm trong đời này chính là cái nhân cho đời sau, quư vị sẽ hiểu ngay! Do vậy, tổn người làm sao [có thể] lợi ḿnh cho được? Há có lẽ ấy! Thưa thật cùng quư vị, tổn người chắc chắn sẽ hại ḿnh, chẳng đạt được mảy may lợi ích nào!

          Như trong xă hội hiện thời, những chuyện gạt gẫm kẻ khác xuất hiện không cùng tận! Thứ ǵ cũng đều có đồ giả! Tôi nghe đồng học kể, trứng gà cũng có trứng giả, chẳng phải là chuyện đùa đâu nhé! Thức ăn hiện thời đúng là chẳng đáng tin, sử dụng những chất hóa học, ăn vào sẽ khiến cho người ta bị bệnh, quư vị đă hại người rồi! Những thứ do quư vị bán ra, quư vị lấy tiền của người ta, mà đồ của quư vị giả trất, lừa gạt kẻ khác, khiến cho họ ngă bệnh, thậm chí mất mạng! Hạng người như vậy, đối với chuyện như vậy mà có thể nhẫn tâm làm ư? Nói thật ra, người hiện thời chỉ mong kiếm lời, chẳng suy xét hậu quả, chẳng tin nhân quả báo ứng, chẳng tin con người có đời sau! Đấy là do điều ǵ tạo thành? Do thành tựu khoa học tạo thành. Con người tin tưởng khoa học, tin vào đời hiện tại, chẳng tin có đời sau. V́ thế, họ dám làm [những chuyện thương thiên bại lư, tàn nhẫn], nói thật ra là do không biết chân tướng của nhân sinh và vũ trụ!

          Trong quá khứ, người Hoa tin vào giáo huấn của thánh hiền, tin tưởng luân lư đạo đức, tin tưởng “thiện nhân thiện quả, ác nhân ác báo”, lịch sử hơn hai ngàn năm đă ghi chép. Lắng ḷng quan sát, tư duy thời đại hiện tại, quư vị sẽ thấy rất nhiều chuyện nhân quả báo ứng từ các tin tức, nhưng mọi người thấy xong bèn như thế nào? Chẳng hề động ḷng! “Chuyện ấy rất kỳ lạ, chẳng thể nghĩ bàn”, thế là xong! Trọn chẳng suy nghĩ, xem xét đôi chút: “Nếu chúng ta gặp phải chuyện ấy, có nên làm hay chăng?” Chẳng có ai suy nghĩ vấn đề ấy, chỉ nghĩ: “Khoa học chẳng có cách nào giải thích chuyện lạ lùng ấy!” Chúng tôi mong mỏi những chuyện ấy được đăng tải nhiều hơn, nhưng các phương tiện thông tin cũng có rất nhiều hạn chế, chẳng muốn đăng tải. V́ sao? [Sợ bị chụp mũ] là tuyên truyền mê tín. Trên thực tế, chính họ mới là mê tín! Quư vị thấy những người làm việc thiện, thiện tâm làm việc thiện, quư vị quan sát cặn kẽ, [sẽ thấy] họ vẫn thật sự có quả báo tốt lành. Kẻ không điều ác nào chẳng làm, quư vị hăy quan sát, dẫu hắn vẫn có thể hưởng thụ một chút phước báo trong đời này, hăy quan sát con cháu của hắn. Hăy chú tâm quan sát sẽ thấy những chuyện ở ngay trước mắt; hăy đừng làm chuyện xấu!

          Đối với chuyện phải coi trọng giáo dục nhân quả, Ấn Quang đại sư đă suốt đời cực lực tuyên dương, c̣n [coi là chuyện] quan trọng hơn tuyên dương Phật pháp. Ngài đặt chuyện tuyên dương nhân quả lên hàng đầu, coi chuyện tuyên dương Tịnh Độ là thứ nh́. Thuở trước, tức ba mươi năm trước, thấy lăo pháp sư làm kiểu ấy, tôi cảm thấy lạ lùng. Một vị tổ sư của Tịnh Độ Tông v́ sao lại làm kiểu ấy? Suy nghĩ rất lâu mới thông suốt, mới hiểu dụng tâm của Ngài. Đó là bi tâm, rất tuyệt diệu! Để cứu văn thế giới trong hiện thời, dùng bất cứ học thuật nào, dùng Nho hay dùng Phật đều chẳng kịp! Sự giáo dục ấy chính là “thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân” (mười năm trồng cây, trăm năm trồng người)[8], làm chẳng kịp! Chỉ riêng nhân quả, quư vị thật sự hiểu rơ nhân quả, mới biết nhân quả đúng là đáng sợ. Thiện ác báo ứng như bóng theo h́nh!

          Bản thân chúng ta mạng chẳng tốt, chẳng sao cả! Có thể sửa! “Trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng”. Quư vị mong của cải, có thể đạt được. Mong công danh có thể đạt được. Liễu Phàm Tứ Huấn và Du Tịnh Ư Ngộ Táo Thần Kư là những tấm gương tốt đẹp. Trong mạng của tiên sinh Liễu Phàm chẳng có của cải ǵ, mà cũng chẳng có công danh. Nay chúng ta gọi công danh là học vị (degree). Học vị của ông ta chỉ đạt tới Tú Tài, trong mạng chẳng có Cử Nhân, Tiến Sĩ lại càng chẳng cần phải nói đến. Tiến Sĩ thời cổ giống như học vị tiến sĩ (PhD) trong hiện thời. Cử Nhân giống như thạc sĩ (master), Tú Tài tương đương với học sĩ (bachelor). Trong ba học vị ấy, ông ta chỉ có học vị thứ nhất, chẳng coi là công danh được. Cử Nhân mới tính là có công danh, ông ta chẳng có học vị cao! Kết quả, ông ta thi Cử Nhân bèn đỗ, thi Tiến Sĩ cũng đậu, trong mạng chẳng có [thế mà vẫn đậu]! Thọ mạng chỉ có năm mươi ba tuổi, ông ta sống đến bảy mươi bốn tuổi, sống lâu hơn hai mươi năm. Đấy là ǵ? Cải tạo vận mạng!

          Dùng phương pháp ǵ? Quư vị thấy thiền sư Vân Cốc dạy ông ta, cũng như thiền sư Trung Phong dạy đại chúng, trong Liễu Phàm Tứ Huấn đều có ghi chép. Trước khi học Phật, tôi đọc quyển sách ấy, đại khái là trong ṿng hai tháng, tôi đọc sách ấy ba mươi lần, hết sức cảm động. Ngẫm lại, những tật xấu của chính ḿnh chẳng khác tiên sinh Liễu Phàm cho mấy, phước báo c̣n chẳng bằng ông ta. Mạng ông ta c̣n có Tú Tài, mạng tôi ngay cả Tú Tài cũng chẳng có. Ông ta tuy nghèo hèn, cuộc sống vẫn c̣n có thể duy tŕ được. Chuyện này tôi cũng chẳng bằng ông ta. Thọ mạng của ông ta c̣n được năm mươi ba tuổi, tôi chỉ có bốn mươi lăm tuổi, thua kém rất xa. V́ thế, tôi đọc xong, nghiêm túc phản tỉnh, sửa lỗi đổi mới. Sau khi được nghe Phật pháp, tôi cũng chẳng mong cầu chi hết!

          “Trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng” là do Chương Gia đại sư dạy tôi. Ngài dạy tôi để cầu th́ có đạo lư để cầu, có phương pháp để cầu. Đúng lư, đúng pháp, chẳng có ǵ không cầu được! Quư vị thấy người ta cầu làm Phật mà c̣n có thể cầu được. Đó là chuyện khó khăn nhất, làm Phật mà c̣n có thể cầu được mà! Công danh, phú quư trong thế gian này, nói theo Phật pháp, thầy Lư thường nói, đó là chuyện “lông gà, vỏ tỏi”, quá đơn giản! Chẳng có một ai không cầu được! Chúng tôi nói là “cải tạo vận mạng”. Đấy là những lợi ích rất nhỏ nhặt. Được của cải, được thông minh, trí huệ, được khỏe mạnh, sống lâu; đó là những lợi ích rất vặt vănh! Làm thánh, làm hiền, làm Phật, làm Bồ Tát, đó là đại lợi ích; đáng tiếc là người thế gian chẳng có tầm nh́n ấy, chẳng có loại viễn kiến (tầm nh́n xa) ấy, chỉ thấy trước mắt!

          Cầu những điều lợi nhỏ nhặt trước mắt như thế nào? Đức Phật dạy, chúng ta đă gieo cái nhân trong đời quá khứ, chính là cơ sở để cầu, bố thí! Do Tài Bố Thí được của cải. Do Pháp Bố Thí, được thông minh, trí huệ. Do Vô Úy Bố Thí được khỏe mạnh, sống lâu. Nếu quư vị mong đạt được, trước hết phải thí. Quư vị thấy một thuật ngữ thông thường của Trung Hoa là “xả, đắc”. Nói thật ra, đây là một thuật ngữ trong Phật môn, hiện thời lưu thông phổ biến khắp xă hội. Hễ quư vị có thể xả, sẽ đạt được. Quư vị chẳng thể xả, sẽ chẳng thể đạt được. Quư vị hoan hỷ xả, sẽ đạt được cũng rất dễ dàng. Khi quư vị xả mà [cảm thấy] rất khó chịu, đă xả rồi lại hối tiếc, có thể đạt được hay không? Có thể đạt được! Nhưng để đạt được, rất tốn công sức, chẳng đạt được lẹ làng như vậy! V́ thế, quư vị dùng cái tâm như thế nào, dùng phương thức như thế nào để xả, trong tương lai, khi quư vị đạt được, cũng sẽ giống như vậy. Có kẻ kiếm tiền rất vất vả, đó là trước kia, khi thí xả đă rất khó chịu, xả rồi lại hối tiếc! Thấy người khác xả, chính ḿnh sợ mất thể diện cho nên không thể chẳng xả, do tâm t́nh ấy, trong tương lai, chính ḿnh sẽ kiếm tiền rất vất vả. Nếu xả rất nhanh chóng, xả rất hoan hỷ; về sau, kiếm tiền sẽ rất dễ dàng. Chuyện là như vậy đó, nghiệp nhân quả báo chẳng sai sót mảy may!

          Thầy dạy cho tôi đạo lư và phương pháp này, tôi bèn nghiêm túc học tập. Nhưng khi học tập, tôi chẳng cầu quả báo, của cải, thông minh, trí huệ, khỏe mạnh, sống lâu, tôi đều chẳng cầu. Chúng tôi chỉ có một ư niệm, đấy là chuyện phải nên làm. Chuyện tốt th́ phải nên làm, phải nên giúp đỡ kẻ khác, phải nên giúp đỡ xă hội, tận tâm tận lực. Đời sau, chúng ta biết có Tịnh Độ, quyết định cầu sanh Tịnh Độ, chẳng có mảy may lưu luyến duyên trong cơi đời. Chúng ta đă hiểu, trong tương lai, khi văng sanh sẽ tự tại. Nếu c̣n lưu luyến duyên trong cơi đời, ra đi sẽ rất vất vả! Ra đi rất vất vả, chuyện văng sanh sẽ chẳng đáng trông cậy! Nói cách khác, quư vị chẳng nắm chắc văng sanh!

          Do vậy, phàm là khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, đúng là trước hết phải tự vấn lương tâm, có nên làm hay không. Những điều chẳng nên làm, quyết định chớ nên làm. Gây tổn thương, bất lợi cho người khác, quyết định chớ nên làm. Không chỉ là đối với người, mà đối với tiểu động vật cũng chẳng nên! Muỗi đốt quư vị một phát, không ǵ chẳng phải là v́ nó đói, muốn kiếm chút ǵ để ăn. Nó có phạm tội đáng chết hay không? Chẳng đáng tội chết! Chớ nên đập một phát cho nó chết tươi, chớ nên! Chớ nên dùng thuốc sát trùng để giết chúng, nó cũng là một mạng, nhất định phải tôn trọng sanh mạng của nó, yêu tiếc sanh mạng! Nay chúng ta chẳng mong kẻ khác tổn thương ta, ta cũng chẳng có quyền lợi tổn hại hết thảy chúng sanh. Nếu quư vị hành Bồ Tát đạo, hăy hoan hỷ, muỗi đến đốt quư vị, “ta cúng dường ngươi”. Đấy là tu bố thí. Trong hạnh nguyện Phổ Hiền có “quảng tu cúng dường”, v́ sao quư vị chẳng bố thí cho nó? Chẳng bằng ḷng bố thí, đuổi đi là được rồi. Chớ nên giết nó!

          Quư vị phải có ḷng cảnh giác như thế đó, ngay cả những loài tiểu động vật, dường như chúng đến gây tổn hại cho quư vị, đều dùng tâm từ bi đối xử với chúng, lẽ nào quư vị có thể hại người? Làm sao quư vị có thể ư niệm và hành vi bất lợi đối với người khác? Chẳng thể nào! Chúng ta học những điều này, thảy đều thi hành trong cuộc sống, thảy đều thay đổi quan niệm và hành vi sống. Trong cuộc sống hằng ngày, những điều giống như sáu nguyện này đều thuộc về [những nguyện đă phát] khi mặc y phục. Mặc y phục cũng là biểu thị pháp. Từ sự biểu thị pháp, bèn phát ra đại nguyện tương ứng, nguyện cho hết thảy chúng sanh trong khắp pháp giới, hư không giới “phục chư thiện căn” (mặc các căn lành). Dùng “thiện căn” làm y phục của chúng ta, dùng như lễ phục. Đấy là Phật pháp thánh giáo trọng thực chất, chẳng coi trọng h́nh thức. Dưới đây là nguyện thứ tư.

 

          (Kinh) Chỉnh y thúc đới, đương nguyện chúng sanh, kiểm thúc thiện căn, bất linh tán thất.

          ()整衣束帶。當願眾生。檢束善根。不令散失。

          (Kinh: Chỉnh áo, buộc đai, nguyện cho chúng sanh, kềm giữ thiện căn, chẳng để thất lạc).

 

          Quần áo hiện thời đă tiến bộ, chẳng cần dây buộc. Dùng ǵ? Khuy nút! Y phục thời cổ có dây buộc. Giống như y phục hiện thời của chúng ta, dùng các loại khóa móc. Trước kia, dùng dây buộc, xác thực là “chỉnh y thúc đới” (chỉnh y, buộc đai), phải thắt đai cho chặt. Hiện thời, dùng khóa móc thuận tiện hơn dây buộc. Trước kia áo hải thanh (đại bào) chẳng có khuy nút, đều là buộc dây, bên trong là dây buộc, bên ngoài cũng là dây buộc. Hải thanh là lễ phục đời Hán, là áo dài rộng, tay áo to, dùng vào đời Hán, người xuất gia hiện thời vẫn mặc loại y phục này. Trường quải (áo dài), tiểu quải[9] là y phục đời Minh, nhưng đều có cải tiến. Quần áo đời Minh cũng có dây buộc, nhưng hiện thời đều dùng nút áo thay thế, nhất định phải cài nút cho kỹ. Ở lưng th́ có đai lưng, quần th́ không chỉ lưng quần có dây rút, mà cửa quần cũng có dây thắt. Vớ cũng có dây buộc, giày cũng có dây buộc. “Chỉnh y thúc đới” là nếu quư vị ăn vận chỉnh tề, buộc dây cẩn thận, người sẽ cảm thấy đặc biệt có tinh thần. Khi ấy, quư vị thấy, đó là Bồ Tát, tự nhiên sanh khởi hoằng nguyện tương ứng với Ngài.

          “Đương nguyện chúng sanh, kiểm thúc thiện căn” (Nguyện cho chúng sanh, kềm giữ thiện căn). Thiện căn là ǵ? Phải biết điều này! Trong kinh luận, đức Phật đă dạy, thiện căn của thế gian có ba, tức là tam thiện căn. Tất cả hết thảy các thiện pháp trong thế gian đều sanh từ ba thiện căn. Ba thiện căn ấy chính là vô tham, vô sân, vô si. Tất cả hết thảy các thiện căn theo pháp thế gian, thông thấu lục đạo, do ba thiện căn [sanh khởi]. Quư vị phải kiểm tra xem [chính ḿnh] có [những thiện căn ấy] hay không? Phải buộc giữ những thiện căn ấy cẩn thận, chớ để chúng “tán thất” (thất lạc). Nay chúng ta hăy ngẫm xem, [chính ḿnh] có ba thiện căn ấy hay không? Chẳng có! Cái thay thế cho chúng là Tam Độc. Đối lập với ba thiện căn là Tam Độc, tức tham, sân, si. Tham, sân, si sanh ra tất cả hết thảy những thứ bất thiện trong thế gian. Chúng ta nói “bất thiện” là nói theo kiểu văn vẻ, chứ nếu nói khó nghe hơn một tí, sẽ là ác độc! Tất cả hết thảy những thứ ác độc trong thế gian đều sanh từ tham, sân, si. Quư vị nói xem, chúng có đáng sợ lắm không?

          Đức Phật nói nghiệp nhân quả báo của mười pháp giới, nói theo nghiệp nhân, bất luận trong đường nào cũng đều là vô lượng nhân duyên, rất phức tạp. Tuy rất phức tạp, có điều nào quan trọng nhất hay không? Trong khá nhiều nhân duyên phức tạp ấy, cái nhân nào là nhân quan trọng nhất? Đức Phật bảo, tham là cái nhân của ngạ quỷ đạo, tham tâm đọa ngạ quỷ, tâm sân khuể đọa địa ngục, ngu si đọa súc sanh. Quả báo ba ác đạo do đâu mà ra? Do Tam Độc phiền năo cảm ứng.

          Người ta chẳng tin những thứ ấy, phải đợi khoa học chứng minh, hy vọng các khoa học gia nỗ lực. Nếu có thể phát triển tiến bộ, đột phá các chiều không gian, quư vị mới có thể thấy. Mười pháp giới, nói theo thuật ngữ của các nhà khoa học, sẽ là “các chiều không gian khác nhau”, giống như chúng ta xem TV, các băng tần khác nhau. Nay chúng ta chẳng có năng lực từ trong một màn h́nh mà xem tất cả các băng tần, chẳng có năng lực ấy! Người đă đột phá các chiều không gian, xác thực là không chỉ thấy tất cả các chiều không gian khác nhau, mà c̣n như thế nào? Chúng chẳng hỗn loạn, mỗi pháp giới đều thấy rất rơ ràng, rất minh bạch! Trong Phật pháp nói là “pháp giới”, các nhà khoa học gọi là “những chiều không gian khác nhau”. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, ai có thể thấy được? Từ A La Hán trở lên đều có thể thấy. Chư thiên có thần thông, chúng ta theo thói quen thường nói là “thần thông”, họ có thể thấy từ Dục Giới trở xuống, phía trên Dục Giới họ chẳng trông thấy. Từ Dục Giới trở xuống là nhân đạo, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, họ đều có thể trông thấy. Sau khi đă thấy, mới hiểu rơ là thật, chẳng giả. Hiện thời, không ít các thành phần trí thức bậc cao ở phương Tây cũng hiểu rơ chuyện lục đạo luân hồi. Những bài văn hoặc sách vở thảo luận về vấn đề này cũng khá nhiều! Gộp chung với sách vở phương Đông để xem, quư vị sẽ biết chuyện này chẳng phải là giả!

          Nghiệp nhân của loài người là Ngũ Giới, Ngũ Thường, Nho gia bảo là “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Suốt đời khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, chẳng ĺa tiêu chuẩn này, quư vị mới có thể được làm thân người. Từ chỗ này, chúng ta cũng có thể thấu hiểu [v́ sao] cổ nhân nói “nhân chi sơ, tánh bổn thiện” (thoạt đầu, tánh của con người vốn lành). Nếu họ bất thiện, sẽ chẳng được làm thân người. Quư vị đă sanh vào nhân gian, được làm thân người, đời trước quư vị đă đều tu Ngũ Giới, đều biết “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” th́ quư vị mới có thể có thân người. Phật pháp gọi điều này là “dẫn nghiệp” (引業), [tức là cái nghiệp] dẫn dắt quư vị đầu thai vào loài người, được làm thân người. C̣n như sau khi đă làm người, mỗi cá nhân phú quư, nghèo hèn khác nhau, có kẻ giàu có, có kẻ nghèo túng. Đấy là do nguyên nhân nào? Măn nghiệp (滿業) khác nhau. Măn nghiệp là ǵ? Trong đời quá khứ, nói theo Phật pháp là “bố thí”, ba loại bố thí, tức Tài Bố Thí, Pháp Bố Thí, Vô Úy Bố Thí khác nhau, mỗi người khác nhau!

          Nếu đối với ba loại ấy, quư vị đều rất hoan hỷ bố thí, trong đời này, vận mạng của quư vị thật tốt! Giàu to, lại có thông minh, trí huệ, lại được khỏe mạnh, sống lâu, do quư vị đă tu trong đời quá khứ. C̣n như làm quan to, làm quốc vương, nay nói là người lănh đạo quốc gia, cho đến người lănh đạo quốc tế, là người lănh đạo các tỉnh, huyện, thành phố, họ đă tu ǵ vậy? Nói theo giáo pháp Đại Thừa, quá nửa là họ đă tu tŕ trong tôn giáo, hành những điều lành như tôn giáo đă nói, có lư lắm! Đời trước đă tu trong Phật môn, đời này làm quan to, quên bẵng chuyện trong đời trước. Trong lịch sử Trung Hoa đă ghi chép rất nhiều [chuyện như vậy]. Những vị quư nhân quan to hiển đạt ấy đời trước đều là người xuất gia, rất đáng tiếc, họ chẳng cầu văng sanh thế giới Cực Lạc, hễ chuyển thế, đời sau biến thành quư nhân. Người xuất gia hành Pháp Bố Thí khá nhiều; v́ thế, làm quư nhân, quá nửa rất có tài năng, có học vấn. Cuộc sống vật chất tạm ổn, hoàn toàn chẳng phải là hết sức dư dật. Tại gia cư sĩ tu hành trong Phật môn cũng giống như vậy! Người thuở trước tin tưởng những lời này; hiện thời, nếu quư vị nói cho kẻ b́nh phàm nghe, nhất định là họ sẽ lắc đầu: “Ngươi mê tín quá đi”! Họ chẳng tin! Nếu quư vị lắng ḷng chú tâm quan sát, tư duy, sẽ thấy đúng là có lư! V́ thế, chúng ta ǵn giữ ba thiện căn quan trọng hơn bất cứ điều nào khác! Nguyện này dạy chúng ta “kiểm thúc”, nguyện trước dạy chúng ta “phục chư thiện căn” (mặc các căn lành), đều chẳng ĺa khỏi ba thiện căn!

          Trong pháp xuất thế, thiện căn của Bồ Tát chỉ có một điều: Tinh Tấn. Dũng mănh tinh tấn. “Tinh” () là không xen tạp, “Tấn” () là chẳng thoái chuyển, chúng ta đều phải hiểu. Kinh này là pháp Bồ Tát, chẳng phải là pháp của bọn phàm phu chúng ta. V́ thế, thiện căn được nói ở đây đương nhiên là Tinh Tấn. Một trăm bốn mươi mốt nguyện này là pháp tu của Pháp Thân Bồ Tát. Pháp Thân Bồ Tát khởi tâm động niệm chẳng ĺa một trăm bốn mươi mốt nguyện này. Chúng ta hạ thấp chuẩn mực, hạ thấp [cho phù hợp] với giai đoạn hiện thời của chúng ta, [cho nên] nói là ba thiện căn: Đối với hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian đều chẳng tham, chẳng sân, chẳng si; đó gọi là “thật sự tu hành”. Đối với tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, những ǵ chẳng nên có th́ không cầu, không giữ lấy. Những ǵ đáng nên có th́ được, như là những thứ do công việc mang lại, sẽ là những thứ đáng đạt được. C̣n những thứ tiền tài bất chánh chính là những thứ chớ nên có. Nhưng quư vị phải hiểu, thứ chẳng nên có mà quư vị đạt được, vẫn là do trong mạng quư vị có. Nếu trong mạng quư vị không có, tiền tài bất nghĩa quư vị cũng chẳng thể có được. Nhưng nếu quư vị giành được tiền tài bất nghĩa, sự giàu sang trong mạng quư vị sẽ bị suy giảm, hao tổn, bị chiết khấu!

          Ví như trong đời này, tài sản trong mạng quư vị nhiều đến một ức, nói nhiều một chút; nhưng tâm hạnh của quư vị bất thiện, chỗ nào cũng mong chiếm tiện nghi của kẻ khác, tổn hại kẻ khác để chính ḿnh đạt được lợi ích, của cải! Trong mạng quư vị [vốn có] một ức, kết quả là của cải do quư vị đạt được trong một đời tính ra đại khái chẳng được nhiều như vậy, đă bị chiết khấu. Thậm chí chiết khấu khá nhiều, biến thành [chỉ c̣n] hai, ba phần. Một ức trở thành hai ngàn vạn, ba ngàn vạn. V́ sao? Bị chiết giảm do dụng tâm bất thiện, nhất là tổn hại kẻ khác. Cộng, trừ, nhân, chia, trong đó, bị chia ra, chẳng phải là trừ bớt! Điều bất thiện nhỏ th́ trừ đi, điều đại bất thiện th́ chia ra. Ngược lại, do tiểu thiện được cộng thêm. Do đại thiện bèn nhân lên. Nếu quư vị hành đại thiện, có thể bỏ ḿnh v́ người, một ức trong mạng của quư vị có thể biến thành hai ức, có thể biến thành ba ức, nhân lên đó mà! Do quư vị đă dấy khởi điều đại thiện.

          V́ vậy, trong thuận cảnh chẳng có tâm tham, đối với tài vật chẳng động tâm. C̣n như làm chuyện tốt th́ tùy duyên, tùy phận. Có duyên th́ làm nhiều, chẳng có duyên bèn làm ít. Nếu gặp lúc chẳng có, bèn không làm, công đức của quư vị đều viên măn. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đă nói rất hay: “Phát ư viên thành, viên măn công đức”, tức là phát tâm, quư vị có ư niệm ấy. Tuy có ư niệm ấy, nhưng chẳng có sức, công đức của quư vị đă là viên măn do quư vị có tâm. Đấy là trong giáo pháp Đại Thừa. Đối với Đại Thừa, quư vị thấy trong giới kinh kết tội, “luận tâm, chẳng luận sự”. Quư vị có cái tâm ấy hay không? Sự là duyên phận. Duyên phận th́ một là duyên phận của chính ḿnh, hai là duyên phận của chúng sanh. Chúng sanh chẳng có phước báo, phước báo của quư vị bèn tặng cho họ, họ chẳng thể hưởng thụ. Ắt cần phải là ta cũng có năng lực, mà chúng sanh cũng có phước. Đấy là lư do v́ sao Phật, Bồ Tát làm hết thảy công đức mà chẳng kể công? Quư vị phải hiểu đạo lư là ở chỗ này! Tuy ta tu được phần phước báo này, họ cũng có phước. Chứ nếu họ chẳng có phước, ta có phước th́ chưa được. Họ chẳng thể nhận được! Đă là cả hai bên, c̣n có ǵ để kể công nữa?

          V́ thế, nói chung là phải hiểu rành rẽ, hiểu minh bạch đạo lư này, niệm niệm chẳng quên vô tham, vô sân, vô si. Trở ngược lại, Tam Độc tham, sân, si đều chẳng thể được; trong cuộc sống, rất dễ dấy lên ư niệm ấy. Ư niệm dấy lên liền biết: Tham tâm là quỷ đạo. Hễ có một niệm sân khuể, sẽ biết là địa ngục đạo. Vậy th́ cớ ǵ phải nổi nóng? Cần ǵ phải dấy tâm sân khuể? Chẳng phải là kẻ khác đọa địa ngục, mà là chính ḿnh đọa địa ngục. Ngu si là chẳng hiểu chuyện, [sẽ đọa trong] súc sanh đạo, chớ nên làm! Chỉnh đốn, buộc chặt xiêm y, quư vị thấy [Bồ Tát] bèn phát nguyện tương ứng, chúng ta phải nên học tập. Nay đă hết thời gian rồi, chúng ta nghỉ ngơi mấy phút.

**

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem tiếp bài kệ thứ năm kế đó.

 

          (Kinh) Nhược trước thượng y, đương nguyện chúng sanh, hoạch thắng thiện căn, chí pháp bỉ ngạn.

          ()若著上衣。當願眾生。獲勝善根。至法彼岸。

          (Kinh: Nếu mặc y trên, nguyện cho chúng sanh, đạt thắng thiện căn, đến bờ pháp kia).

 

          Đối với “thượng y”, Thanh Lương đại sư hoàn toàn dùng ư nghĩa trong ngôn ngữ của chúng ta để giải thích.

 

          (Sớ) Tức sam áo chi bối.

          ()即衫襖之輩。

          (Sớ: Tức là những thứ như áo dài, áo khoác).

 

          Những thứ này đều là phục trang Trung Hoa, là thượng y. Nguyện tương ứng với điều này là “đương nguyện chúng sanh, hoạch thắng thiện căn” (nguyện cho chúng sanh, đạt được thiện căn thù thắng). Hăy chú trọng chữ Thắng (). “Thắng thiện căn” đương nhiên chẳng phải là thiện căn thế gian, xác thực là Tinh Tấn. Hai chữ Tinh Tấn cũng chính là như trong quá khứ tổ sư đại đức đă thường dạy chúng ta: “Thâm nhập một môn là Tinh, huân tu lâu dài là Tấn”. Dùng tám chữ ấy để giải thích Tinh Tấn, không ǵ thích đáng hơn!

          “Chí pháp bỉ ngạn”: “Bỉ ngạn” (Bờ kia) là Nhất Chân pháp giới, bờ này là mười pháp giới. Đây là bờ kia thật sự. “Tương tự” th́ chẳng phải là thật, là gần giống. [Nếu nói theo khía cạnh “tương tự], bờ này là luân hồi lục đạo, bờ kia là tứ thánh pháp giới; tức Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, [Phật]. Đó chẳng phải là rốt ráo, nhất định phải vượt thoát mười pháp giới th́ mới là rốt ráo. Vượt thoát mười pháp giới, theo giáo pháp Đại Thừa, nhất định phải đoạn Kiến Tư, Trần Sa, Vô Minh, phải đoạn sạch ba loại phiền năo ấy, quư vị mới có thể “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”. Đó là nói theo Thiền Tông, Giáo Hạ nói là “đại khai viên giải”. Đại khai viên giải trong Giáo Hạ và minh tâm kiến tánh trong Tông Môn có cảnh giới giống như nhau, thuật ngữ khác nhau, đấy mới thật sự là “chí pháp bỉ ngạn” (đến bờ pháp kia).

          “Pháp”, chúng ta có thể gọi nó là Pháp Vương. Thích Ca Mâu Ni là Phật, là Bồ Tát, là đạt đến bờ kia của Phật, kiến tánh thành Phật. Trong thời kỳ Mạt Pháp, thật sự là không ai có thể làm được. Trong thời kỳ Mạt Pháp, đừng nói là minh tâm kiến tánh, dẫu là chứng Sơ Quả hay Nhị Quả đều chẳng có! Nay chúng ta nh́n vào xă hội hiện tiền, quư vị sẽ biết v́ sao chẳng có! Chẳng cần nói ra câu trả lời, hiện tượng trong toàn thể xă hội chính là câu trả lời rơ ràng, xác đáng. Quư vị có thể ở trong cảnh giới ấy mà không bị ô nhiễm, không bị quấy nhiễu, không bị ảnh hưởng hay chăng? Quư vị sẽ bị hoàn cảnh ảnh hưởng, sẽ bị hoàn cảnh quấy nhiễu, sẽ bị hoàn cảnh ô nhiễm, làm sao quư vị có thể chứng quả cho được? Sơ Quả phải đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới. Ở trong hoàn cảnh ấy, quư vị chẳng có cách nào, chẳng làm được. V́ thế, hiện thời dẫu tu hành tốt đẹp cách mấy, sẽ đi về đâu? Đời sau thuộc trong hai đường trời người, HPhẩm là được làm thân người, Thượng Phẩm sanh vào Dục Giới Thiên. Có thể sanh lên Sắc Giới Thiên hết sức hiếm có. Đấy là trạng huống hiện thực, chúng ta chớ nên không hiểu rơ!

          Sau khi đă hiểu rơ, sau đấy mới biết c̣n có phương pháp có thể “chí pháp bỉ ngạn” (đến bờ pháp kia). Phương pháp ấy chính là đới nghiệp văng sanh trong Tịnh Độ Tông. Trừ pháp môn ấy ra, sẽ chẳng có pháp môn thứ hai nào nữa! Hoa Nghiêm đến cuối cùng, chư vị đều biết, mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc. Đấy là “hoạch thắng thiện căn, chí pháp bỉ ngạn” (đạt được thiện căn thù thắng, đến bờ pháp kia). Có phải là “thắng thiện căn” hay không? Là thắng thiện căn, kinh Vô Lượng Thọ dạy chúng ta: “Phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”. Đó là đúng. Quư vị thấy “nhất hướng chuyên niệm”, “nhất hướng” là nhất tâm. “Nhất hướng” là một môn, thâm nhập một môn. “Chuyên niệm” là chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn. Quư vị nói có phải là “thắng thiện căn” hay không? Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là “chí pháp bỉ ngạn”. Pháp vương ở bờ bên kia là A Di Đà Phật. Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn đă tán thán Phật Di Đà, ca ngợi Ngài là “Phật trung chi vương, quang trung cực tôn” (vua trong các vị Phật, là quang minh tôn quư nhất). Đấy là tán thán đến tột cùng. Đức Thế Tôn tán thán chính là thay mặt mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai tán thán, chúng ta phải biết [điều này], chớ nên sơ sót!

          Thời kỳ Mạt Pháp, nếu muốn thật sự đạt đến tám chữ ấy, tức là “hoạch thắng thiện căn, chí pháp bỉ ngạn”, [chỉ có] pháp môn này, “phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”. Tiếp theo tám chữ ấy, bốn câu gồm mười sáu chữ ấy đă độ trọn hết. Thời Mạt Pháp hăy c̣n chín ngàn năm nữa, [pháp môn Tịnh Độ] độ trọn hết chúng sanh trong chín ngàn năm thời Mạt Pháp. Pháp môn này thích hợp khắp ba căn, gồm thâu trọn vẹn lợi căn và độn căn. Phải nói rơ ràng, nói minh bạch. Không chỉ là nói rơ ràng, nói minh bạch, lại c̣n phải nêu gương tốt cho mọi người thấy. Đấy là thật, chẳng giả! Đặc biệt là trong thời đại này, người văng sanh phải thật sự dụng công, tấm gương tốt nhất là biết trước lúc mất, chẳng bị bệnh khổ! Giống như người đồ đệ làm thợ vá nồi của pháp sư Đế Nhàn, cảm động kẻ khác như thế đó. Trong nửa thế kỷ này, trong ṿng năm mươi năm, tôi đă thấy, nghe những người biết trước lúc mất, đứng văng sanh, ngồi văng sanh, chính tôi biết mười mấy người. Đấy là họ đă làm chứng cho chúng ta.

          Tôi nhớ dường như phải là khi tôi mới xuất gia, đại khái là vào năm xuất gia thứ ba, tôi đến Phật Quang Sơn. Phật Quang Sơn lúc khai sơn chỉ có một Phật Học Viện. Trên núi toàn là cây cối, núi hoang mà! Họ lập Đông Phương Phật Giáo Học Viện, có hơn một trăm học sinh. Thời gian tôi ở trên núi không lâu, chỉ có mười tháng, tôi liền rời đi. Tôi có ấn tượng hết sức sâu đậm, có một buổi tối, trăng hết sức sáng, phía trước nơi ấy có một cái ao nhỏ. Về sau dùng làm ao phóng sanh, khi tôi ở đó th́ c̣n chưa có [ao phóng sanh]. Chúng tôi ngồi bên bờ ao, buổi tối ăn cơm xong, có mấy vị đồng học ngồi đó thảo luận các vấn đề. Có một công nhân tiến đến, người công nhân ấy làm thuê dài hạn tại Phật Quang Sơn, họ có rất nhiều công tŕnh. Người công nhân ấy ở trên núi suốt năm. Thấy những vị xuất gia chúng tôi [ngồi đó], ông ta đi đến, kể chuyện cho chúng tôi nghe, những chuyện ở quê nhà. Quê ông có một bà cụ, niệm Phật ba năm, đứng văng sanh, khiến cho mọi người rất cảm động. Chuyện xảy ra rất gần thời điểm đó, mới hai năm trước, tại làng Tướng Quân ở Đài Nam. Về sau, tôi đến Cao Hùng giảng kinh, nói tới chuyện này, có người bảo tôi họ cũng biết, biết chuyện ấy là thật, chẳng giả. Người công nhân ấy là người làng Tướng Quân, chuyện ấy xảy ra trong thôn của họ.

          Bà cụ là người hết sức thiện lương, hết sức trung hậu. Ông ta kể, ba năm trước, cụ cưới dâu. Con dâu học Phật, bà cụ thờ thần, đâm ra thần, Phật ǵ cũng đều lạy tuốt. Con dâu bèn khuyên cụ chuyên niệm A Di Đà Phật, đừng đi lễ bái khắp nơi. Quan hệ mẹ chồng con dâu vẫn khá lắm, bà cụ nghe lời con dâu, lập Phật đường trong nhà, hằng ngày niệm A Di Đà Phật. Ba năm sau, có một hôm (con trai và con dâu cụ đều rất hiếu thuận), cụ bảo con trai và con dâu hăy ăn cơm trước, khi đó là buổi tối: “Các con cứ ăn cơm trước, mẹ đi tắm, chẳng cần đợi mẹ!” Cụ đi tắm. Con trai và con dâu vẫn chờ cụ, rốt cuộc chờ rất lâu mà sao cụ vẫn không ra! Đến xem, pḥng tắm không có ai, cụ thật sự tắm rửa xong, đă thay quần áo rồi. Kết quả là t́m thấy bà cụ đứng trước bàn thờ Phật, mặc áo hải thanh, trên tay cầm tràng hạt. Gọi th́ cụ chẳng ừ hử chi hết, nh́n kỹ, cụ đă mất rồi, đứng mất! Người công nhân ấy bảo chúng tôi: “Niệm Phật văng sanh là thật, chẳng giả tí nào!” Bọn họ là hàng xóm láng giềng, đích thân đến xem. [Niệm Phật] ba năm, biết trước lúc mất! Cụ không nói với người nhà, sợ họ nhiễu loạn, “các con cứ ăn cơm, không cần lo cho ta”. Sau khi tắm gội, thật sự ra đi, chẳng giả tí nào! Đấy là cụ niệm Phật trong ṿng ba năm, cụ thật sự nghe lời nàng dâu khuyên. “Hoạch thắng thiện căn, chí pháp bỉ ngạn” (đạt thiện căn thù thắng, đến bờ pháp kia). C̣n như những người ngồi mất, biết trước lúc mất, đều rất nhiều!

          Thầy Lư văng sanh, tuy chẳng bảo mọi người rơ ràng ngày nào, chẳng nghe nói, nhưng từ hai năm trước, cụ đă hé lộ tin tức cho mọi người. Khi đó, tôi giảng kinh ở Đài Bắc, trong khi giảng kinh [tại Đài Trung], lăo nhân gia đă tuyên bố, khuyên mọi người hăy khéo dụng công, nghiêm túc học tập. Cụ bảo: “Ta chỉ giảng kinh hai năm nữa, cụ nói như thế. Vài hôm sau, có mấy đồng học từ Đài Trung lên Đài Bắc t́m tôi, kể lại lời thầy, hỏi tôi: “Thầy nói vậy nghĩa là sao?” Tôi nghe xong, bảo họ: “Hai năm sau thầy sẽ ra đi, Ngài đă tuyên bố cho mọi người biết”. Quả nhiên, hai năm sau, cụ văng sanh. Chẳng thể nói cụ không biết, cụ biết rơ, xác thực là cụ đă buông xuống muôn duyên!

          Đài Trung tuy có nhiều sự nghiệp như vậy, cụ đă nói với tôi vài lần. Cụ bảo: “Anh ở Đài Trung đă nhiều năm như thế, kẻ khác không biết, chứ anh hiểu rất rơ ràng!” Cụ nói: “Sau khi tôi đi rồi, sẽ chia năm xẻ bảy!” Tôi nghe xong, gật đầu, cũng chẳng nói ǵ, tôi hiểu rất rơ. Thầy c̣n đó, họ duy tŕ một h́nh tượng đoàn kết, nhưng ai nấy đều có thành kiến, mà cũng chẳng ai phục ai! Đương nhiên là các sự nghiệp mỗi thứ đều độc lập, chẳng thể liên kết thành một thể, giống như cha đă khuất, con cái liền ra riêng. Chẳng phải là cùng một nhà, ở riêng, cũng là một hiện tượng b́nh thường!

          Chúng tôi là người ngoài, tuy ở Đài Trung theo thầy tu học, ở Đài Trung chúng tôi chẳng có căn cội! Nói cách khác, chuyện ǵ cũng chẳng đến phần chúng tôi! Cũng may thầy cho tôi một bộ kinh Vô Lượng Thọ, tôi được một phần di sản như vậy, tức là Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh. Quyển này chính là bộ kinh do lăo nhân gia giảng vào thuở trước tại Đài Trung. Cụ đích thân chú giải, chú giải rất đơn giản, mi chú[10] viết bằng bút lông, chia rơ từng đoạn. Tôi đọc xong, hết sức hoan hỷ. Sau khi được cụ cho chẳng bao lâu, tôi cũng rất mong giảng bộ kinh ấy, v́ tôi đọc hiểu lời chú giải của cụ, tôi có thể lănh hội. Tôi liền thưa với lăo nhân gia: “Con giảng kinh này ở Đài Bắc có được hay không?” Cụ bảo chẳng được! Tôi hỏi: “V́ sao ạ?” Cụ dạy: “Anh quá trẻ! Vừa mới ra ràng. Kinh này bị tranh căi rất nhiều. Chỉ sợ nếu kẻ khác bắt bẻ, anh sẽ chống đỡ không nổi!” V́ thế, bất đắc dĩ, tôi sửa thành giảng kinh Lăng Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm chẳng có tranh căi. Tôi học kinh ấy ở Đài Trung ba năm, từng phức giảng một lần, thầy đồng ư.

          V́ thế, bản hội tập kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ của cư sĩ Hạ Liên Cư, sau khi thầy Lư đă văng sanh, tôi mới nghĩ: Chưa ai từng thấy bản này của lăo nhân gia, người biết đến chẳng nhiều!” Tôi cho in lại, in một vạn bản theo lối sao chụp, hồi hướng công đức ấy lên thầy. Sau khi bản này được lưu thông, khi ấy, tôi ở Mỹ, các đồng tu bên ấy trông thấy đều hết sức hoan hỷ, thỉnh tôi giảng. V́ thế, tôi giảng kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ lần thứ nhất là ở Mỹ và giảng tại Ôn Ca Hoa (Vancouver) của Gia Nă Đại. Khi ấy, có giữ lại băng thâu âm, vẫn chưa có băng thâu h́nh, chỉ có băng thâu âm. Sau khi băng thâu âm được truyền về Đài Loan, đồng tu ở Đài Loan nghe xong cũng rất hoan hỷ, hy vọng tôi giảng nhiều hơn. V́ thế, trong những năm qua, kinh Vô Lượng Thọ đă được giảng tất cả mười lần. Lần này ở Tân Gia Ba là lần thứ mười một, chưa giảng xong, đại khái mới giảng gần được một nửa!

          Nhắc tới chỗ này, hôm nay chúng tôi nói đến hai câu kinh văn này, mới nghĩ trong thời kỳ Mạt Pháp, nương theo pháp môn này mới là thiện căn thật sự thù thắng. Đối với kinh này, đối với bản hội tập, chúng tôi chẳng hoài nghi. Khi học, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, y giáo phụng hành, cầu nguyện văng sanh, ắt là có thể như nguyện. Đấy là “chí pháp bỉ ngạn”. Huống hồ kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng, tôi đối với pháp môn Tịnh Độ, hoàn toàn tiếp nhận chẳng hoài nghi, vẫn chẳng phải là ở trong hội của thầy Lư. Thầy Lư đă nhiều lần khuyên tôi, tôi chỉ có thể nói là “chẳng phản đối Tịnh Tông”, nhưng chẳng có ư nghĩ tu tập pháp môn này! Tôi thích kinh giáo. Do vậy, thầy Lư dạy tôi học giảng kinh, đó là điều tôi suốt đời cảm tạ thầy. Tôi tuân thủ giáo huấn của thầy, đi theo con đường này, suốt đời chẳng thay đổi phương hướng, suốt đời tuân theo quy củ của thầy, tức là đối với những quy củ trong việc giảng kinh, thu được quá nhiều lợi ích! Khi nào tôi thật sự quy y Tịnh Độ? Chính là trong khi giảng kinh Hoa Nghiêm.

          Thuở trước, tôi giảng Hoa Nghiêm ở Đài Bắc. Khi đó, chẳng có thâu h́nh, chẳng có những thiết bị ấy, c̣n quá sớm, c̣n chưa phải là Hoa Tạng Đồ Thư Quán, mà là Chí Liên tinh xá. Tôi nhớ dường như là vào năm Dân Quốc 60 (1971), tôi bắt đầu giảng Hoa Nghiêm, mỗi tuần giảng ba lần. Tốc độ tiến triển cũng rất nhanh, nhanh hơn hiện thời khá nhiều! Tôi nhớ giảng cũng khá lâu, v́ có lúc ra ngoại quốc, kinh phải ngưng lại, trở về lại tiếp tục giảng. Trước sau, giảng tất cả mười bảy năm, giảng được một nửa, Bát Thập Hoa Nghiêm giảng một nửa, Tứ Thập Hoa Nghiêm cũng giảng một nửa. V́ chúng tôi mỗi tuần giảng ba lượt, hai buổi giảng Bát Thập Hoa Nghiêm, một buổi giảng Tứ Thập Hoa Nghiêm, giảng theo kiểu ấy!

          Có một hôm, tôi bỗng dưng có nghi vấn: “Bậc thượng thủ Bồ Tát của đức Tỳ Lô Giá Na Phật trong hội Hoa Nghiêm là Văn Thù và Phổ Hiền, hai vị ấy học pháp môn ǵ?” Phần sau kinh Hoa Nghiêm c̣n chưa giảng đến, tôi liền đọc. Đọc đến phần sau, quả nhiên thấy Văn Thù và Phổ Hiền đều phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Điều này khiến tôi rất kinh ngạc. Không chỉ là hai vị ấy cầu sanh Tịnh Độ, c̣n hướng dẫn bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ trong hội Hoa Tạng đều cầu sanh Tịnh Độ, chuyện này quá thù thắng! Sau đấy, xem lại phần năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử, Thiện Tài tu pháp môn ǵ? Đương nhiên, Thiện Tài là đệ tử nhập thất, là truyền nhân của Văn Thù Bồ Tát. Thầy cầu sanh Tịnh Độ, Ngài là học tṛ hàng đầu, nói chung, sẽ không hành theo pháp môn thứ hai!

          Tuy đă giảng Tứ Thập Hoa Nghiêm được một nửa, nhưng sơ ư, ơ hờ, chẳng chú tâm quan sát! Xem lại cẩn thận, Thiện Tài đồng tử gặp vị thiện tri thức thứ nhất do Văn Thù Bồ Tát giới thiệu, tức là tỳ-kheo Đức Vân. [Thiện Tài] đến tham phỏng vị đầu tiên do Văn Thù Bồ Tát giới thiệu. Tỳ-kheo Đức Vân tu pháp môn ǵ? Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Ngài tu pháp môn, người hiện thời chẳng dễ ǵ tu tập được. Đó là Ban Châu tam-muội, c̣n gọi là Phật Lập tam-muội. Nói Phật Lập dễ hiểu hơn! Kỳ hạn tu hành là lấy chín mươi ngày làm một kỳ. Trong chín mươi ngày, người tu hành, tức người niệm Phật, chẳng thể ngồi xuống, chẳng thể nằm, có thể đứng, có thể đi. Đấy là Ban Châu tam-muội. Điều này rất khó, trong chín mươi ngày không ngủ nghỉ, không ngủ, không nghỉ, dũng mănh tinh tấn, thật sự là “hoạch thắng thiện căn” (đạt được thiện căn thù thắng). Từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy tỳ-kheo Đức Vân tu pháp môn này, chuyên niệm Di Đà, cầu sanh Tịnh Độ. Đấy là vị thầy thứ nhất mà Thiện Tài gặp gỡ. Ấn Độ và Trung Hoa đều có lối nói này: “Tiên nhập vi chủ” (Điều ǵ được tiếp xúc đầu tiên sẽ đóng vai tṛ chủ yếu). Vị thầy đầu tiên dạy quư vị, [những giáo huấn của vị ấy] sẽ là “tiên nhập vi chủ”.

          Lại xem vị cuối cùng, tức là vị thứ năm mươi ba, Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại nguyện vương hướng dẫn về Cực Lạc, tôi mới hoảng nhiên đại ngộ. Thiện Tài tu ǵ? Niệm A Di Đà Phật. Trong khi tham phỏng, phải là quảng học đa văn (học rộng nghe nhiều). Bất cứ tông phái nào, bất cứ pháp môn nào, chẳng có ǵ Ngài không biết. Tuy thảy đều xem xét, học hỏi, Ngài có tu hay không? Chẳng có! Cớ sao biết là chẳng tu? Cuối cùng là “luyến đức lễ từ”, tức là cảm tạ, lễ bái, từ tạ ra đi. “Từ” () có nghĩa là chẳng tu pháp môn ấy. Ngài biết, hiểu rơ pháp môn ấy. Quư vị muốn tu, Ngài có thể dạy quư vị, nhưng bản thân Ngài chẳng tu! Cứ niệm một câu Phật hiệu đến cùng. Tôi mới hiểu ra. Đă hiểu rơ chuyện này, mới khăng khăng một mực nơi pháp môn Tịnh Độ, chẳng bàn căi chi nữa, mới biết pháp môn này thù thắng khôn sánh. Lại suy tưởng căn tánh của chính ḿnh, muốn tu những pháp khác đúng là khó khăn! Giáo Hạ th́ phải đại khai viên giải, Tông Môn là minh tâm kiến tánh, quá khó! Trong quá khứ, thầy đă giảng giải, nhắc nhở tôi, thuở ấy, vẫn chưa thể hoàn toàn tiếp nhận, nay do suy nghĩ, đă hoàn toàn hiểu rơ, khăng khăng một mực quay lại niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.

          V́ thế, tôi mới thấu hiểu pháp này được gọi là pháp khó tin, thật sự khó tin! Nếu tôi không có các kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm làm cơ sở, rất khó tiếp nhận pháp môn này. Có thể nói là khi tôi c̣n trẻ, nếu tôi chẳng hiểu rơ, chẳng hiểu minh bạch đạo lư này, mà khiến cho tôi dấy lên tín tâm đối với pháp này, sẽ chẳng thể được! Tôi bằng ḷng nhận biết, liễu giải, nhưng tín tâm chẳng dễ ǵ sanh khởi! Lúc đi học, tôi học Cơ Đốc giáo hai năm, chẳng hề rửa tội. Tôi đến giáo đường đạo Hồi gần một năm hơn, rất tôn kính đạo ấy. Do chưa được tiếp xúc Phật môn; v́ thế, tiếp xúc một thời gian rất dài, chính ḿnh giảng kinh Hoa Nghiêm đến một nửa mới hoảng nhiên đại ngộ, chẳng dễ dàng! Lại xem bài kệ cuối cùng:

 

          (Kinh) Trước tăng-già-lê, đương nguyện chúng sanh, nhập đệ nhất vị, đắc bất động pháp.

          ()著僧伽黎。當願眾生。入第一位。得不動法。

          (Kinh: Đắp tăng-già-lê, nguyện cho chúng sanh, nhập địa vị thứ nhất, đắc pháp bất động).

 

          Chúng ta xem lời chú giải của Thanh Lương đại sư.

 

          (Sớ) Tiền dĩ biện ca-sa.

          ()前已辨袈裟。

          (Sớ: Trong phần trước đă biện định về y ca-sa).

 

          “Tăng-già-lê” (Saṃghāti) là một loại y ca-sa, trong phần trước, đă có giới thiệu.

 

          (Sớ) Cố thử trực vân Tăng-già-lê. Tăng-già-lê giả, nghĩa vân ḥa hợp, tân giả nhị trùng, cố giả tứ trùng, yếu dĩ trùng thành, cố vân ḥa hợp, tức thị tam y trung đệ nhất y cố.

          ()故此直云僧伽黎,僧伽黎者,義云和合,新者二重,故者四重,要以重成,故云和合,即是三衣中第一衣故。

          (Sớ: V́ vậy, ở đây nói thẳng về y Tăng-già-lê. Tăng-già-lê có nghĩa là ḥa hợp. Cái mới th́ may hai lớp, cái cũ th́ may bốn lớp. Do phải may nhiều lớp nên nói là Ḥa Hợp. Tức là loại y bậc nhất trong ba y vậy).

 

           Ba y[11] của người xuất gia, y thứ nhất là Tăng-già-lê. Chúng ta thường gọi Tăng-già-lê là đại y, tức y hai mươi lăm điều. Hiện thời, người Hoa thường có thói quen gọi là “nhị thập ngũ điều y”. Hiện thời, chúng ta dùng loại y này, chính là y hai mươi lăm điều, gọi là Tăng-già-lê. Quư vị thấy theo chiều dọc, tấm y gồm hai mươi lăm điều, theo chiều ngang th́ bốn mảnh dài, một mảnh ngắn. Quư vị thấy nó có h́nh thức ấy, nên thường gọi thông tục là Phước Điền Y, dùng các loại vải vụn may thành.

          Chư vị phải hiểu, thời cổ xin một bát cơm dễ dàng, làm một chiếc y hết sức khó khăn. Y của người xuất gia do đâu mà có? Từ những thứ quần áo do người ta vứt đi, chẳng thể mặc nữa bèn vứt bỏ. Người xuất gia nhặt lấy những thứ “rác rưởi” ấy, thâu nhặt lại. Sau khi nhặt về, giặt sạch sẽ, những chỗ nào c̣n có thể dùng được, sẽ cắt thành từng miếng nhỏ, khâu chằm lại, làm thành y. Người ta chẳng thể bố thí cho quư vị một tấm vải toàn vẹn to như vậy! Do quư vị lượm lặt, nhất định là chất liệu không giống nhau, màu sắc cũng khác nhau. Sau khi khâu chằm xong, bèn đem nhuộm. Nhuộm thành màu cà-phê như vậy. Đấy chẳng phải là chánh sắc. Trong phần trước, đă có nói, ca-sa là nhiễm sắc, chẳng phải là chánh sắc. V́ lẽ này, bát cơm xin được cũng gọi là ca-sa. Y ca-sa do rất nhiều thứ lẫn lộn hợp lại. Y phục gồm năm thứ màu đỏ, vàng, xanh, trắng, đen ḥa lẫn một chỗ; v́ thế nó có ư nghĩa Ḥa Hợp. Một bát cơm chẳng phải là do một nhà cho, xin từ vài nhà, người này cho một chút, người kia cho một tí, mùi vị ǵ cũng đều có, chua, ngọt, đắng, cay, mặn đều có. V́ thế gọi là “ca-sa vị”. Ca-sa có nghĩa là Tạp Nhiễm.

          Trong ba y, đại y là lễ phục, y hai mươi lăm điều là lễ phục. Thông thường, đắp y bảy điều, gọi là “thất y”, áo quần mặc để làm việc có năm điều, gọi là “ngũ y”. Ngũ y mặc khi làm việc, thất y là y phục thông dụng, hai mươi lăm điều là đại lễ phục. Trong các loại hoạt động khánh điển trọng đại mới dùng loại này, tức là dùng y hai mươi lăm điều. Những Phật sự trong giảng đường sẽ là long trọng nhất; công việc cả đời của đức Thế Tôn là giảng kinh, thuyết pháp. Do vậy, trong trường hợp này, nhất định là chúng ta phải dùng đại y, tức y hai mươi lăm điều. Khi mới học Phật, đối với từng miếng chằm trong loại y phục này, tôi không hiểu, thỉnh giáo lăo ḥa thượng. Lăo ḥa thượng bảo từng miếng chằm giống như các thửa ruộng để gieo trồng, nên gọi là Phước Điền Y. Nếu chúng sanh muốn gieo phước, hăy đến tu cúng dường trong Phật môn để gieo phước. [V́ thế gọi là] Phước Điền Y. Theo tập tục đều gọi như thế, cũng chẳng có ai có thể hiểu rơ!

          Năm 1999, Trung Quốc kỷ niệm năm mươi năm lập quốc. Cuộc lễ ấy có quy mô rất lớn, cục tôn giáo mời tôi về nước dự lễ. Do vậy, lần ấy tôi sang Bắc Kinh, cục tôn giáo quốc gia tiếp đăi. Nhằm đúng lúc viện Bảo Tàng Lịch Sử triển lăm những thứ văn vật được khai quật từ Thanh Châu ở Sơn Đông, [những món văn vật ấy] thuộc về thời đại Nam Bắc Triều, đại khái là cách hiện thời một ngàn bảy trăm năm. Những món văn vật thuộc thời kỳ đầu của Phật giáo [Trung Hoa] được triển lăm tại đó. Diệp cục trưởng mời tôi, đồng thời mời Trương cục trưởng của cục Văn Vật, hai cục trưởng cùng đi xem với tôi. Tôi thấy trong ấy có ba bức tượng Tỳ Lô Giá Na Phật. Chúng tôi giảng kinh Hoa Nghiêm, [vị chủ giảng trong] Hoa Nghiêm là Tỳ Lô Giá Na Phật. Những tượng ấy khắc tạc hết sức trang nghiêm. Tôi nh́n kỹ, thấy trong chiếc y hai mươi lăm điều của các Ngài, mỗi miếng chằm đều có đồ họa. Xem kỹ, tầng trên là Phật pháp giới, Bồ Tát pháp giới, đến chỗ dưới cùng là địa ngục pháp giới, tôi mới hoảng nhiên đại ngộ! Từng miếng chằm biểu thị điều ǵ? Vô lượng pháp giới, vô lượng pháp giới ở trên cùng một cái y, là một Thể. Tôi ngộ ra đạo lư như thế đó, khắp pháp giới, hư không giới là một Pháp Thân.

          Trong giáo pháp Đại Thừa thường nói: “Mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân”, đến lúc này tôi mới hiểu rơ! Do vậy, mỗi miếng chằm rộng như nhau, biểu thị sự b́nh đẳng. Nói theo mười pháp giới, một pháp giới hiển, chín pháp giới kia ẩn. Chỉ có ẩn hay hiển bất đồng, chẳng có sanh diệt; pháp giới xác thực là bất sanh, bất diệt. Đại y biểu thị pháp! Tăng-già-lê như thế, chúng ta bèn hiểu y bảy điều và y năm điều, không ǵ chẳng phải là như thế. Trong cái y hai mươi lăm điều, quư vị thấy rất rơ, ư nghĩa biểu thị pháp trong ấy hết sức rơ rệt. Y năm điều là cứ [mỗi điều gồm] một miếng dài [nối với] một miếng ngắn, [do vậy], số lượng các miếng chằm ít, ư nghĩa biểu thị pháp chẳng rơ rệt như y hai mươi lăm điều. Tôi hiểu đạo lư này! Tôi nói lần ấy sang Bắc Kinh chẳng uổng công. Nếu chẳng đến thăm viện Bảo Tàng Lịch Sử lần đó, vẫn một mực chẳng hiểu tấm y này có ư nghĩa ǵ! Có thể thấy là Phật môn ngay cả đối với chuyện ăn mặc, thảy đều là giáo học, khiến cho quư vị thấy, nghe, tiếp xúc, không ǵ chẳng phải là Phật pháp, chẳng có pháp nào không phải là Phật pháp. V́ thế, người khai ngộ nói: “Sau khi đă ngộ, pháp nào cũng vốn là đạo, chuyện ǵ cũng xứng tâm vừa ư. Những ǵ quư vị đă thấy, nghe, tiếp xúc, không ǵ chẳng phải là đạo. Chúng tôi trông thấy h́nh ảnh ấy mới hiểu rơ!

          Do vậy, phát nguyện tương ứng với điều ấy, “đương nguyện chúng sanh, nhập đệ nhất vị, đắc bất động pháp” (nguyện cho chúng sanh, nhập địa vị bậc nhất, đắc pháp bất động). “Đệ nhất vị” chính là quả địa Như Lai rốt ráo. Đấy là đệ nhất vị, Đẳng Giác Bồ Tát là địa vị thứ hai, Pháp Vân Địa Bồ Tát (Thập Địa Bồ Tát) là địa vị thứ ba. Đệ nhất vị là quả địa rốt ráo! “Đắc bất động pháp”: Bất động pháp mới là pháp viên măn rốt ráo. Chúng ta đọc đến phần sáu phương Phật trong kinh Di Đà, tức là bản dịch của Cưu Ma La Thập đại sư, lăo nhân gia dịch ư. Bản kinh Di Đà của Huyền Trang đại sư là trực dịch, trong ấy là mười phương. La Thập đại sư tỉnh lược, chỉ nói sáu phương. Vị Phật đầu tiên ở phương Đông là A Súc Bệ Phật, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Bất Động, bất động là căn bản. Bất động là ǵ? Pháp Tánh. Pháp Tánh c̣n gọi là Chân Như, cũng gọi là bản tánh, hoặc gọi là tự tánh. Đức Phật nói rất nhiều danh tướng. V́ sao nói nhiều như vậy? Khiến cho quư vị chẳng chấp trước, “danh khả danh, phi thường danh” (cái danh có thể gọi tên th́ chẳng phải là cái danh thường hằng). Chớ nên chấp trước danh tự tướng, biết nó biểu thị điều ǵ là được rồi! Đấy là phương tiện thuyết pháp và giáo học của đức Phật, chúng ta phải hiểu!

          Chỉ có tự tánh là bất động. Ngoài tự tánh ra, thưa cùng chư vị, chẳng có một pháp nào là bất động. Ngay cả hư không cũng có sanh diệt, chẳng có pháp nào là bất động. Các nhà khoa học hiện thời nói, hiện tượng vật chất do đâu mà có? Từ trong Vô sanh ra Hữu! Vô là pháp bất động, nó có thể hiện tướng. V́ thế, kinh Hoa Nghiêm nói vạn hữu trong vũ trụ là chuyện như thế nào? “Duy tâm sở hiện”, cái tâm ấy là chân tâm, chẳng phải là vọng tâm, nó là Pháp Tánh. Pháp Tánh biến hiện, nó có thể hiện. Hiện những thứ ấy, chúng có thể nẩy sanh biến hóa. Biến hóa là tác dụng của thức, là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Thuận theo vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của hết thảy chúng sanh mà sanh ra biến hóa. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, “duy thức sở biến”. Đấy là sự giải thích của giáo pháp Đại Thừa đối với khởi nguyên của vũ trụ, khởi nguyên của vạn vật, khởi nguyên của sanh mạng. Căn cội của sanh mạng, căn cội sanh mạng của vạn vật trong vũ trụ chính là Pháp Tánh. Pháp Tánh chẳng phải là pháp duyên khởi. Pháp Tánh chẳng có sanh diệt, chẳng có khởi đầu và kết thúc, chẳng có sự bắt đầu.

          V́ thế, trong kinh, đức Phật đă nói Pháp Tánh là chuyện như thế nào? Pháp nhĩ như thị (法爾如是, pháp vốn là như thế). Nói theo kiểu hiện thời, sẽ tự nhiên là như vậy. Thật ra, “tự nhiên là như vậy th́ vẫn chẳng hay khéo bằng câu “pháp nhĩ như thị”, [nghĩa là] vốn sẵn là như vậy. Nếu đối với điều này, quư vị thấy đáng nghi, dấy lên nghi vấn, đó gọi là vô minh. Hết thảy chúng sanh mê mất tự tánh, mê như thế nào? Dấy lên một niệm nghi t́nh trong ấy. Hễ có một niệm nghi bèn mê hoặc. Một niệm giác, chúng sanh bèn thành Phật. Mê chẳng phải là thật, vọng tâm đấy! Có thể phá mê hay không? Chẳng thể! Nếu quư vị phá mê, sẽ càng thêm mê hoặc. Đạt đến cảnh giới ấy, người tu hành thường nói: “Thử xứ dụng bất đắc lực” (Chỗ này chẳng thể dùng sức được). Hoàn toàn phải quy về tự nhiên, quư vị mới đại triệt đại ngộ. Muốn dùng một chút tâm, dấy lên một niệm, sai mất rồi, vĩnh viễn chẳng thấy!

          V́ thế, quư vị chỉ cần buông xuống khởi tâm động niệm, sẽ vốn là [chân tâm]. Chẳng có pháp nào không phải! Người nào có thể buông xuống khởi tâm động niệm? Trước hết là có khởi tâm động niệm, sau đấy mới có phân biệt, mới có chấp trước. Đấy là nói theo quá tŕnh phát triển của mê. Nay chúng ta muốn quay đầu; hễ quay đầu, nhất định là trước hết đoạn chấp trước, sau đấy đoạn phân biệt, cuối cùng là đoạn khởi tâm động niệm. Quay đầu lại th́ mới có thể trở về nguồn. Nay chúng ta c̣n có chấp trước nghiêm trọng đối với hết thảy các pháp, hỏng bét! Phật pháp nói là “ngộ môn đổ tắc” (悟門堵塞, đóng lấp cửa ngộ), chẳng t́m thấy bờ mé đâu cả! Nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói tới đây.

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một,

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 28 hết

 

 



[1] Pháp sư Thánh Nhất (1922-2010), tự là Huyền Cơ, họ ngoài đời là Trần, người xứ Ḥa Lư, Tân Hội (tỉnh Quảng Đông). Năm mười sáu tuổi, do thấy Sư thông duệ, phước tướng trang nghiêm, một người chưởng quỹ trong tiệm bán gạo của thân phụ Sư đă tặng Sư bộ Phật Giáo Tùng Thư do cư sĩ Vương Nhất Đ́nh biên soạn. Đọc xong, Sư sáng tối niệm Phật, chỉ ăn rau bên cạnh thịt. Hễ trông thấy kẻ ăn mày đến tiệm xin, Sư đều dạy họ niệm A Di Đà Phật, c̣n xúc gạo cho họ. Về sau, bị cha quở trách, Sư liền hốt gạo rơi văi dưới đất, rửa sạch, phơi khô để thí cho người đến xin. Ngay cả khi phải gảy bàn tính để tính toán sổ sách, Sư cũng niệm Phật không ngớt. Khi Sư tṛn mười chín tuổi, gặp cảnh tao loạn thời Trung Nhật Chiến Tranh, tiệm gạo phải đóng cửa, được phụ mẫu cho phép, Sư bèn xuất gia. Nhưng khi ấy đang thời loạn, không đạo tràng thâu nạp, phải t́m kiếm khắp nơi. Cuối cùng đành phải nương náu một đạo sĩ. Đạo sĩ chỉ chấp thuận cho niệm chú Đại Bi để kiếm tiền độ nhật. Có lần, đạo sĩ sai đi cắt cỏ, Sư chú tâm niệm chú, chợt nghe trong đồng cỏ tiếng niệm chú vang vang. T́m khắp nơi không thấy ai, chợt ngộ âm thanh niệm chú do chính tâm ḿnh hiển hiện. Vừa ngộ, âm thanh ấy bỗng dứt bặt. Về sau, Sư được một vị ni giới thiệu đến y chỉ Chí Liên Tịnh Uyển nghe giảng kinh. Về sau, do nghe ngài Hư Vân truyền giới tại chùa Nam Hoa ở Thiều Quan. T́m đến nơi, ngài Hư Vân đă sang Trùng Khánh. Sư bèn xin nhập chúng giă gạo và lo trai soạn, đến năm sau mới được thọ Cụ Túc Giới. Khi ấy, Sư đă hai mươi hai tuổi. Sư y chỉ ḥa thượng Phục Nhân, măi cho đến khi ba mươi sáu tuổi, gặp ngài Hư Vân ở núi Vân Cư, được phó pháp, trở thành pháp tự đời thứ chín của tông Quy Ngưỡng.

[2] Thật ra, tùy theo tông phái mà y ca-sa sử dụng ṿng móc hay không. Tông Chogye (Tào Khê) ở Đại Hàn đắp y cũng dùng ṿng móc. Ca-sa của Việt Nam phần lớn sử dụng ṿng móc. Ngay tại Nhật, tông Tào Động (Soto) thường dùng y không có móc, dây buộc rất phức tạp, khi mặc đ̣i hỏi phải xếp y khéo léo, nhưng tông Lâm Tế (Rinzai) đắp y gần giống như Trung Hoa, có ṿng móc. Có những chi phái tuy vẫn có ṿng, nhưng không dùng móc, dùng cách buộc dây rất phức tạp. Có những tông phái như Tịnh Độ Chân Tông hoặc Chân Ngôn Tông, y thường may bằng vải gấm hay lụa rực rỡ, nhưng kích thước chỉ nhỏ bằng một phần ba y của Trung Hoa, chỉ có dây đeo chéo lên vai, tấm y che một phần lưng và bụng, hoàn toàn không che vai. Họ mặc hậu (áo hải thanh) cũng có màu sắc rực rỡ, không tiệp màu với tấm y.

[3] Đúng ra, chỉ có Thiền Tông Nhật Bản dùng loại y này. Họ gọi nó là Rakusu (絡子, lạc tử). Rakusu có h́nh dáng một tấm ca-sa thu nhỏ, may giống như một cái túi, có quai để đeo quanh cổ. Một bức Rakusu thường có mười sáu miếng vải khâu lại thành một tấm, có viền mép. Mặt sau để trơn, thường ghi pháp danh của người thọ giới và tông phái, đôi khi thêu những biểu tượng của tông phái. Thông thường, Rakusu có màu đen dành cho tăng sĩ, và màu nâu dành cho những vị giảng sư (có thể không phải là người xuất gia). Tuy vậy, nhiều khi Rakusu thường làm bằng vải lụa hay gấm rực rỡ, thêu thùa rất phức tạp. Quai đeo bên phải của Rakusu có ṿng móc. Theo truyền thuyết, Rakusu được truyền sang từ Trung Hoa khi Phật giáo bị vua Trung Hoa bức hại, tăng sĩ phải chế ra loại y như vậy để đeo giấu vào bên trong áo. Các tăng sĩ Nhật Bản đă đem loại này về Nhật Bản. Rakusu chủ yếu dùng khi tăng sĩ đi hóa duyên, hoặc giảng kinh. Họ vẫn mặc áo tràng, đeo Rakusu ra ngoài, nhưng khi cử hành những điển lễ quan trọng, hoặc tại tự viện, thường là đắp ca-sa thật sự. Ḥa thượng nói đến những vị mặc Âu phục chỉ đeo Rakusu khi làm lễ chính là những người đă thọ giới tỳ-kheo, nhưng vẫn sống đời tại gia, nhất là những vị thuộc các tông Nhật Liên, Chân Ngôn Tông, Tịnh Độ Chân Tông… Trong truyền thống Nhật Bản, dường như ranh giới giữa tăng sĩ và người tại gia bị xóa nḥa. Đa số tăng sĩ có vợ, con, có tài sản riêng, tuy vẫn mặc y phục tu hành, cạo đầu. Riêng Tịnh Độ Chân Tông c̣n có loại Rakusu không có ṿng móc, gọi là Tế Oai Nghi (Igiboso). Có những tông phái như Nhật Liên Tông chẳng hạn, tăng sĩ không cạo đầu, ăn mặc chải chuốt như người tại gia, chỉ khi làm lễ mới đắp y. C̣n khi thuyết pháp họ chỉ đeo Rakusu. Trong rất nhiều tự viện Chân Ngôn Tông và Nhật Liên Tông, nhiều khi các vị trưởng lăo lại có h́nh thức tại gia, mặc âu phục, khoác y hậu ra ngoài, ngồi trên pháp ṭa chủ pháp, trong khi những vị có h́nh tướng xuất gia lại ngồi thấp hơn, hoặc làm thị giả cho những vị “trưởng lăo tại gia”. Ngoài ra, c̣n có một loại gọi “ca-sa” nữa dưới h́nh thức một dải vải dẹp mảnh, hai đầu có kết tua để cột lại, đeo lên cổ, thả trước ngực, dành cho những người thọ Tam Quy, Ngũ Giới, chia thành:

1. Chiết Ngũ Điều (Origojyo) dài đến gần thắt lưng. Chiết Ngũ Điều để trơn hoặc thêu danh hiệu một vị Phật hoặc đề mục kinh Pháp Hoa như trong tông Thiên Thai. Đạo tràng Pháp Hoa và một số đạo tràng Tịnh Độ tại Việt Nam dùng loại này. Tại Nhật Bản, tăng sĩ thường đeo Chiết Ngũ Điều khi không đắp y.

2. Luân ca-sa (Wagesa) may thành một dải tṛn.

3. Bán ca-sa (Hangesa) giống như chiết ngũ điều, nhưng chỉ có chiều dài bằng một nửa.

[4] Hán Cao Tổ tên thật là Lưu Bang (256 trước Công Nguyên -195 trước Công Nguyên), xuất thân là một nông dân, quê ở huyện Phong, tỉnh Giang Tô. Cổ sử Trung Hoa tô vẽ ông là người mũi cao, râu rồng, diện mạo khôi ngô, trên đùi có 72 nốt ruồi. Tính t́nh Lưu Bang phóng khoáng, thích rượu và gái, nhưng biết nhẫn nhục và khoan dung khi cần thiết. Ông từng phải đi phu xây dựng cung điện ở Hàm Dương, và khi trông thấy xa giá, nghi trượng của Tần Thủy Hoàng, đă cảm khái: “Đại trượng phu phải sống như thế”. Sau đó, ông được cử làm đ́nh trưởng ở Tứ Thượng, kết thân với những người như Hạ Hầu Anh, Tiêu Hà, Tào Tham. Về sau, ông được cất nhắc làm huyện lệnh đất Bái, nên thường được gọi là Bái Công. Truyền thuyết nói trong chuyến suất lănh dân phu đi xây dựng lăng mộ cho Tần Thủy Hoàng ở Ly Sơn, ông đă chém chết một con măng xà. Sau đó, có một bà già khóc lóc bên vệ đường. Có người hỏi, bà lăo đáp: “Con trai tôi là con của Bạch Đế, đă bị con của Xích Đế chém chết” rồi biến mất. Do truyền thuyết này (có thể là do các mưu sĩ của Lưu Bang loan tin đồn), nhiều người tin Lưu Bang có chân mạng đế vương. Ông khởi nghĩa, tham dự quân khởi nghĩa chống Tần của Hạng Lương (ḍng dơi danh tướng Hạng Yên của nước Sở), lập nhiều chiến công. Sở Hoài Vương đă ước hẹn, ai vào Quan Trung trước sẽ được phong vương. Lưu Bang vào Hàm Dương trước, nhưng Hạng Vũ (cháu Hạng Lương) sau khi diệt nhà Tần đă nuốt lời giao ước, sát hại Sở Hoài Vương, chia Quan Trung làm bốn phần, phong cho Lưu Bang làm Hán Vương cai trị vùng Hán Trung (bao gồm Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Thiểm Tây hiện thời) với mục đích giam lỏng tại đó. Hạng Vũ lại phong Chương Hàng, Đổng Ế, và Tư Mă Hân làm Tam Tần Vương để ngăn chặn Lưu Bang tiến về Đông. Nhờ Trương Lương t́m được đường khác, Lưu Bang đă dẫn quân đánh về phía Đông, tấn công quân Sở. Sau một thời gian dài đánh nhau dằng dai với quân Sở, cuối cùng, Lưu Bang chiến thắng, lên ngôi Hoàng Đế vào năm 202 trước Công Nguyên và lập ra nhà Hán (Sử thường gọi là Tiền Hán hoặc Tây Hán). Ở đây, Ḥa Thượng đă nhớ nhầm là năm 200 Tây Lịch. Từ khi nhà Hán thành lập vào năm 200 trước Công Nguyên cho đến khi nhà Thanh bị lật đổ bởi cách mạng Tân Hợi (năm 1911), vương triều Trung Hoa kéo dài gần 2.100 năm.

[5] Ngũ đường công khóa có nhiều cách hiểu. Theo cách hiểu phổ biến nhất, ngũ đường công khóa là năm khóa tụng niệm chính trong tùng lâm bao gồm công phu sáng, công phu tối, sám hối, cùng với các bài tụng khi thọ trai hai thời. Có thuyết th́ cho rằng ngũ đường công khóa là khóa sáng, khóa tối, khóa tụng niệm hai thời thọ trai và cúng ngọ. Có thuyết giải thích khác như sau: Buổi sáng gồm hai đường (chú Lăng Nghiêm là một đường, đường kia là Đại Bi và Thập Chú), buổi tối ba đường (kinh Di Đà là một đường, Đại Sám Hối Văn là một đường nữa, và Mông Sơn Thí Thực là đường thứ ba).

[6] Trong tiếng Hán, Khố () là cái quần hai ống, thường hiểu là quần dài (trouser), trong khi Quần () lại là cái váy, bao gồm tất cả các loại skirt, jupe như trong hiện thời, kể cả các loại sarong. Thuở trước, phụ nữ không mặc quần dài. Hồng Quần chính là loại váy của phụ nữ có nhiều nếp xếp. Khố là danh từ chung chỉ loại quần có hai ống. Do đó, khi nói rơ quần dài (bất luận bằng chất liệu ǵ) sẽ gọi là Trường Khố, quần đùi, quần short là Đoản Khố, quần jean là Ngưu Tử Khố, quần short may ống phùng dành cho các nữ sinh mặc khi tập thể dục gọi là Đăng Lung Khố (quần đèn lồng), loại quần bó (leggings) sẽ gọi là Khẩn Thân Khố, hoặc Nội Tháp Khố, quần lót gọi là Tiết Khố hoặc Nội Khố v.v… C̣n cái khố như người Thượng mặc sẽ gọi Triền Yêu Đới (纏腰帶). Chữ này đôi khi cũng dùng để chỉ các loại đai nhằm bảo vệ lưng. Riêng loại khố như các vơ sĩ sumo của Nhật mặc th́ gọi là Quân (, fundoshi).

[7] Tùy phiền năo (Upakleśa) có nghĩa là các món phiền năo phụ thuộc, ở ngoài căn bản phiền năo. Chúng gồm có hai mươi món, chia thành ba loại:

1. Tiểu Tùy: Phẫn (giận dữ), Hận (căm hờn), Năo (sầu khổ, bực bội), Phú (che giấu), Cuống (dối trá), Siểm (nịnh bợ), Kiêu (kiêu căng), Hại (mang ư tưởng làm hại người khác), Tật (ghen ghét), Xan (keo kiệt).

2. Trung Tùy: Vô Tàm, Vô Quư.

3. Đại Tùy: Bất Tín, Giải Đăi, Hôn Trầm, Trạo Cử, Phóng Dật, Thất Niệm, Tán Loạn, Oai Tri (hiểu biết lệch lạc).

[8] Đây là một thành ngữ phổ biến tại Trung Hoa, phát xuất từ chương Quyền Tu của sách Quản Tử. Nguyên văn: “Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc. Thập niên chi kế, mạc như thụ mộc. Chung thân chi kế, mạc như thụ nhân. Nhất thụ nhất hoạch giả, cốc dă. Nhất thụ thập hoạch giả, mộc dă. Nhất thụ, bách hoạch giả, nhân dă” (Kế một năm, không ǵ bằng trồng ngũ cốc. Kế mười năm, không ǵ bằng trồng người. Kế suốt đời, không ǵ bằng trồng người. Trồng một, thu hoạch một là ngũ cốc. Trồng một thu mười là trồng cây. Trồng một thu trăm là trồng người). Quản Tử là tác phẩm ghi lại những nhận định của Quản Trọng (tên tự là Di Ngô), thừa tướng của Tề Hoàn Công.

[9] Trường quải (長褂, c̣n gọi là “trường sam”, ) thường là loại áo dài có cổ cao như áo dài của Việt Nam. Cổ áo thường được viền bằng vải khác màu quanh cổ, xẻ vạt, không chít eo, tay áo hẹp. Đó là y phục của người thế tục. Trường quải của người xuất gia th́ áo cài chéo như kiểu áo hải thanh, có vạt con để che hai bên eo, tay hẹp. Đầu thời Dân Quốc, người ta đă biến chế áo Kỳ Bào của nữ giới (y phục của người Măn Châu) thành loại áo chít eo, tay ngắn hoặc sát nách, bó sát bên hông và đùi, xẻ vạt lên nửa đùi, cũng gọi là “trường sam”, thường được biết với tên gọi “xường sám” (theo cách phát âm chữ “trường sám” trong tiếng Quảng Đông, đôi khi c̣n gọi là “áo dài Thượng Hải”). Tiểu quải (小褂) là loại áo ngắn, có cổ cao, cài một bên, tay hẹp, ta thường gọi là áo xẩm. Nam giới th́ cài chính giữa, cũng có cổ cao, hai hàng khuy. Tiểu quải của người xuất gia th́ cổ áo may dằn nhiều lớp, xẻ ở giữa, ta thường gọi là áo La Hán. Có lẽ áo vạt ḥ, áo vạt khách là một sáng chế riêng của người Việt dành cho người xuất gia. Thời Măn Thanh, họ chế ra một loại áo có cổ cao, nhưng sát nách, không tay, thường viền bằng vải lụa hay gấm, hoa văn rực rỡ, gọi là “mă quải”. Mă quải thường mặc ra ngoài trường quải. Trường quải thời Thanh thường bằng vải trơn hay các thứ vải quư có màu sáng, hoa văn ch́m, không rực rỡ như mă quải.

 

[10] Mi chú (眉註): Chú thích ngắn gọn ngay trên đầu một đoạn văn.

[11] Theo chế định của Phật giáo nguyên thủy, người xuất gia có ba y (Ticīvara):

1. An Đà Hội (Antarvāsa): Tức là tấm y che phần dưới thân thể.

2. Uất Đa La Tăng (Uttarāsaṅga): Thượng y, để che thân. Là thứ ư để mặc thường ngày.

3. Tăng Già Lê (Saṃghāti): Tăng già lê là đại y, mặc khi đi khất thực, tụng kinh, giảng kinh, thuyết pháp.

Theo truyền thống Trung Hoa, ba y được hiểu hơi khác. An Đà Hội tức là Tác Vụ Y là loại y mặc khi làm lụng, thường hiểu là y năm điều. Uất Đa La Tăng là nhập chúng y, tức là loại y tối thiểu có bảy điều, mặc trong khi tham gia các sinh hoạt của đại chúng. Mỗi điều gồm hai miếng dài, một miếng ngắn, may ghép thành một điều. Như vậy là tấm y này có tất cả hai mươi mốt miếng chằm. Khi nói năm điều, bảy điều, hoặc hai mươi lăm điều, tức là nói theo chiều dọc của tấm y. Chẳng hạn y năm điều th́ mỗi điều là một miếng dài, một miếng ngắn ghép thành một điều, nên tấm y có tất cả mười miếng chằm. Y tăng-già lê thật ra có nhiều loại:

1. Hạ phẩm gồm các loại y chín điều, mười một điều, mười ba điều. Mỗi điều gồm một miếng ngắn, hai miếng dài.

2. Trung phẩm gồm các loại mười lăm điều, mười bảy điều, mười chín điều. Mỗi điều gồm ba miếng dài, một miếng ngắn.

3. Thượng phẩm gồm hai mươi mốt điều, hai mươi ba điều và hai mươi lăm điều. Mỗi điều gồm bốn miếng dài, một miếng ngắn.

Hiện thời, hễ nói đến tăng-già-lê th́ hầu như chỉ sử dụng loại hai mươi lăm điều.