Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một,

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 33

大方廣佛華嚴經

(十一)淨行品

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Địa điểm: Hương Cảng Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội

Khởi giảng từ ngày mồng Bảy tháng Mười Một năm 2005

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Minh Tiến

Tập 1527

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, đoạn lớn thứ sáu trong phần kệ tụng, xem từ bài kệ thứ mười:

 

          (Kinh) Kiến lộ đa trần, đương nguyện chúng sanh, viễn ly trần bộn, hoạch thanh tịnh pháp.

          ()路多塵。當願眾生。遠離塵坌。獲清淨法。

          (Kinh: Thấy đường nhiều bụi, nguyện cho chúng sanh, măi ĺa bụi nhuốm, đắc pháp thanh tịnh).

 

          Trên đường, rất nhiều bụi đất, chúng ta nói là “tro bụi rất nhiều”, đặc biệt là chỗ xe, ngựa qua lại. Giao thông hiện thời quá nửa là đường trải nhựa, hoặc đúc bằng xi-măng, hiện tượng bụi bặm cũng rất ít. T́nh h́nh như được nói trong kinh, [chính là t́nh h́nh thường thấy] trong thời Kháng Chiến khi [Trung Hoa] đánh nhau với người Nhật Bản. Lứa tuổi tôi vào thuở ấy c̣n là học tṛ, đại khái là lúc mười mấy tuổi. Khi Kháng Chiến khởi đầu, tôi mười một tuổi. [Kháng Chiến kéo dài] tám năm. Trong tám năm ấy, quả thật chúng tôi đă đi qua rất nhiều con đường, đi lánh nạn qua rất nhiều nẻo đường. Đặc biệt là xa lộ trong thời Kháng Chiến, xa lộ thuở ấy c̣n là đường rải cát và đá, xe hơi chạy qua, phía sau bụi bặm bốc lên rất cao. Dẫu ngồi xe công cộng, hễ đi xa, từ thành thị này sang thành thị khác, sau khi xuống xe, bụi bặm đầy mặt, đầy thân, nhất định phải rửa mặt, rửa tay, rửa chân kỹ lưỡng, lại c̣n phải giặt áo. Đường sá hiện thời đă hoàn toàn thay đổi, chẳng có t́nh h́nh ấy!

          Đức Thế Tôn dạy chúng ta, ở trên đường, trông thấy t́nh huống đường sá ấy, hăy dẫn phát đại nguyện. Ở Hương Cảng hiện thời, rất khó trông thấy t́nh huống đường sá như thế. Bất quá, giống như khí trời hôm nay, không khí bị ô nhiễm hết sức nghiêm trọng, Hương Cảng và Cửu Long đối diện nhau mà không thấy! Nay chúng ta thấy nhiều bụi bặm trong không trung! Phàm là đi đường, trên đường và không trung giống nhau, nhưng trước kia, dường như hiện tượng [bụi bặm] trên không trung giống như thế này rất ít. Ba mươi năm trước, tôi cũng chẳng thấy có hiện tượng như vậy. Do vậy có thể biết, những năm gần đây, không khí bị ô nhiễm hết sức nghiêm trọng. Nguyện được dẫn phát chắc chắn là giống nhau, “đương nguyện chúng sanh, viễn ly trần bộn” (nguyện cho chúng sanh, xa ĺa bụi nhuốm). Nay không khí cũng bị ô nhiễm, chúng ta đổi hai chữ ấy (“trần bộn”) thành “ô nhiễm”: “Viễn ly ô nhiễm, hoạch thanh tịnh pháp” (xa ĺa ô nhiễm, được pháp thanh tịnh).

          Khá nhiều đồng học đều biết, hiện thời, ô nhiễm nghiêm trọng đă uy hiếp sự sinh tồn của người và vật trên địa cầu. Ô nhiễm đến mức độ [trầm trọng] như vậy! Ô nhiễm nghiêm trọng nhất là khí quyển và biển cả. Nếu là người có đôi chút kiến thức khoa học sẽ biết, chứ kẻ b́nh phàm vẫn chưa thể cảm nhận; nhưng rất nhiều người đă từng nghe nói đến cái gọi là “cân bằng sanh thái trên địa cầu”. Phàm là những động vật sanh trưởng trên địa cầu cũng thế, thực vật cũng thế, khoáng vật cũng thế, bất cứ loại sinh vật nào cũng đều có tác dụng giúp cho sự cân bằng sanh thái trên địa cầu. Thiếu một thứ, sẽ dính dáng những thứ khác, chúng ta gọi là “nẩy sanh tác dụng phụ”. Nói thật ra, toàn thể địa cầu giống như thân người chúng ta. Quư vị nh́n vào thân thể con người, hăy chú tâm quan sát, bên ngoài có ngũ quan, có tứ chi, có thân thể, bên trong có ngũ tạng, lục phủ, có hệ thống thần kinh. Thiếu một thứ, thân thể sẽ không khỏe mạnh. Chẳng phải là thiếu một thứ cũng chẳng có quan hệ to tát ǵ đâu nhé! Nó liên quan đến các khí quan khác, ảnh hưởng những kinh mạch khác. Yêu thương, bảo vệ thân thể của chính ḿnh, phải nên giống như cổ nhân đă nói, “phải trân quư lông tóc của chính ḿnh”. V́ sao? Chỉ cần chúng tồn tại, mọc trên thân thể, sẽ chẳng đánh mất sự cân bằng sanh thái trên thân thể. Chúng ta dễ dàng thông hiểu điều này, nhưng đă sơ sót đối với địa cầu. Toàn thể địa cầu chẳng khác thân thể của mỗi người. Tiểu vũ trụ và đại vũ trụ hoàn toàn giống nhau.

          Trước kia, dân số ít, chẳng đông đúc như hiện thời, khoa học kỹ thuật chưa phát minh, hoàn cảnh sống bị ô nhiễm rất ít. Chúng ta rất hiếm khi nghe nhắc tới danh từ “ô nhiễm”. Từ đầu thế kỷ này cho tới hiện thời, đặc biệt là trong nửa thế kỷ gần đây, khoa học kỹ thuật tiến bộ quá nhanh chóng, đột nhiên tăng lên mạnh mẽ, khác lạ từng tháng, từng ngày! Thoạt nh́n dường như là tiến bộ, khoa học kỹ thuật tiến bộ, nhưng ḷng người, luân lư, đạo đức bị thoái chuyển trên một mức độ to lớn. Có thể nói là hiện thời đă thoái chuyển đến tận đáy hang, đem lại nguy cơ nghiêm trọng cho sanh thái của địa cầu! Hiện thời, mọi người biết trên địa cầu này c̣n sót lại hai mảnh tịnh thổ, một là Nữu Tây Lan (New Zealand), hai là Úc. Chỉ có ở nơi đó, quư vị có thể thấy trời xanh, mây trắng, có thể thấy nước biếc, non xanh. Ở bên đó, chắc chắn chẳng thấy t́nh trạng không khí ô nhiễm như tại Hương Cảng trong hiện thời. Ngoài hai chỗ ấy ra, những đại đô thị khác trong các quốc gia trên thế giới gần như [đều ô nhiễm] chẳng khác biệt cho mấy!

          Tôi đă ở Lạc Sam Cơ (Los Angeles) một khoảng thời gian, không trung của Lạc Sam Cơ không khác Hương Cảng cho mấy, bất quá trạng huống giống như hôm nay th́ chẳng thường thấy! Chẳng thấy trời xanh, mây trắng; buổi tối chẳng thấy tinh tú sáng ngời. Gần như là các đại đô thị trên cả thế giới đều có vấn đề. V́ thế, chánh phủ của mỗi quốc gia trên thế giới đều cực lực khuyên nhủ dân chúng phải biết bảo vệ môi trường, bảo vệ hoàn cảnh. Ba năm trước, chẳng nghe nhắc tới danh từ “bảo vệ môi trường”! Đấy là đă ư thức phẩm chất của hoàn cảnh sống đang bị ô nhiễm quá nghiêm trọng. Nếu chẳng thể cải thiện, chuyện cải thiện xác thực là đ̣i hỏi toàn thể cư dân đều có ư thức này, cùng nhau hợp tác th́ mới có thể hoàn thành được, nhưng gần như là đại chúng trong xă hội hiện thời, ai nấy đều nghĩ tới lợi ích của bản thân, chẳng nghĩ đến lợi ích của mọi người. Chỉ cần thuận tiện cho chính ḿnh, chẳng nghĩ tới sự an toàn của xă hội. Công việc bảo vệ môi trường có thể thực hiện tốt đẹp được sao?

          Đối với sự ô nhiễm, quan trọng nhất là ô nhiễm tinh thần, ô nhiễm tâm lư. Ô nhiễm nơi cảnh giới bên ngoài xác thực là một loại hiện tượng phản xạ sự ô nhiễm nơi thân tâm, đạo lư này rất sâu. Trong Phật pháp thường nói: “Y báo chuyển theo chánh báo”. Hoàn cảnh bên ngoài là y báo, c̣n chánh báo chính là cái tâm của chúng ta, nay nói là “tinh thần, tâm lư”. Tâm vốn thanh tịnh, trong Phật pháp thường nói ngũ dục, lục trần là ô nhiễm. Ngũ dục là nói đến tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê. Quư vị mơ tưởng những thứ ấy, cái tâm đă bị ô nhiễm. Lục trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Lục căn tiếp xúc lục trần, sẽ dấy lên thất t́nh, ngũ dục, dấy lên tham, sân, si, mạn. Chư vị hăy ngẫm xem, hiện thời chúng ta có phải là như vậy hay không? Đấy là ô nhiễm, ô nhiễm nghiêm trọng! Phật, Bồ Tát chẳng giống chúng ta, chẳng giống như thế nào? Quư vị xem một trăm bốn mươi mốt bài kệ này, [sẽ thấy] khác hẳn! Thấy sắc, nghe tiếng, niệm nào cũng trở về tự tánh. Hai câu cuối trong mỗi bài kệ quyết định là tương ứng với tự tánh. Câu đầu tiên là tiếp xúc giữa căn và trần, câu thứ hai bèn chuyển, v́ chẳng có ư niệm ích kỷ, chuyển thành ǵ vậy? Chuyển đến hết thảy chúng sanh trong trọn khắp pháp giới hư không giới. Ta phải v́ hết thảy các chúng sanh tu pháp thanh tịnh, ta phải v́ hết thảy các chúng sanh vĩnh viễn trừ khử ác kiến. Đấy là tương ứng với tự tánh.

          Trong hiện tại, từ đầu thế kỷ này tới nay, tức thế kỷ hai mươi, những t́nh trạng bất hảo trên địa cầu đă phát sanh rất rơ rệt: Ngu si, tham lam, chẳng biết yêu thương chính ḿnh, tổn người, lợi ḿnh, [những điều ấy] cảm vời thiên tai, nhân họa! Những tai ương phát sanh trong thế kỷ này chưa hề có trong lịch sử quá khứ, quư vị suy nghĩ sẽ thấy xác thực là hết sức đáng sợ! Con người vứt bỏ đạo đức, vứt bỏ luân lư. Khoa học tiến bộ làm Tăng Thượng Duyên cho sự tham lam. Những kẻ mông muội theo đuổi sự hưởng thụ vật chất, đánh mất ư nghĩa và sự tôn nghiêm của nhân sinh, giá trị nhân sinh bị quên sạch sành sanh! Thời cổ, tư tưởng, hành vi, và cách sống của con người đều không ǵ chẳng tùy thuận thiên nhiên, có ḷng kính sợ tự nhiên. Quư vị thấy xưa kia hiến tế núi sông, hiến tế tổ tiên, hiến tế quỷ thần, quư vị bèn hiểu rơ! Trong gia đ́nh th́ có thần giữ cửa, có Táo Quân. Gia đ́nh không lớn, thần th́ nhiều. Đó là ǵ? Cái tâm kính sợ tự nhiên. Tôn trọng tự nhiên, đó là sự tôn nghiêm của thiên nhiên, mọi người hiểu điều này. V́ thế, đối với khởi tâm động niệm, cổ nhân thường nói: “Cử đầu tam xích hữu thần minh” (Ngẩng đầu, trên cao ba thước bèn có thần minh). Hiện thời, khoa học tiến bộ, [con người] bèn nghĩ chẳng có chuyện ấy. Ai nấy tin tưởng khoa học, chẳng c̣n tin vào truyền thống, chẳng c̣n tin tưởng tôn giáo nữa. Nếu con người chẳng tin vào truyền thống, chẳng tin tôn giáo, chẳng tin nhân quả, ngày tàn của thế giới sẽ chẳng xa!

          Ngày tàn của thế giới là ǵ? Toàn thể nhân loại trên quả địa cầu sẽ biến mất, chẳng c̣n nữa! Các khoa học gia đă có chứng cứ về trường hợp này. Trong quá khứ, trên địa cầu có khá đông sinh vật, chẳng biết là do nguyên nhân ǵ mà đều bị tuyệt diệt! Như chúng ta thường nghe nói tới khủng long đại tượng cổ đại (mammoth)[1], chúng là cổ sinh vật, sau một thời gian [tồn tại], thảy đều bị tuyệt diệt. Các khoa học gia nặng ḷng ưu tư, sợ nhân loại trên địa cầu cũng sẽ bị tuyệt diệt toàn bộ giống như những sanh vật ấy. Nhân tố gây ra tuyệt diệt có rất nhiều thứ, các nhà khoa học đă liệt kê từng điều, cảnh cáo chúng ta. Khoa học gia có thể phát hiện nguồn cội bệnh tật, nhưng không biết trị liệu như thế nào! Do vậy, có những vị học giả, chuyên gia bảo mọi người, cách trị liệu nói chung chẳng thể tách rời tôn giáo! Tôn giáo thật sự hữu hiệu ư? Hễ quư vị tin tưởng th́ sẽ hữu hiệu; chẳng tin th́ sẽ vô hiệu. Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng mà!

          V́ sao nói hễ tin th́ sẽ sanh ra hiệu lực? Mỗi tôn giáo đều nói tới nhân quả. Thiện có thiện báo, ác có ác báo, nhân quả báo ứng vĩnh viễn tuần hoàn. Tôn giáo đều khuyên con người làm lành. Mỗi tôn giáo đều có giới điều, giới điều đều là chí thiện. Dạy quư vị chớ nên sát sanh, chớ nên trộm cắp, chớ nên tà dâm, chớ nên nói dối, gần như trong tất cả các tôn giáo đều có những giới điều ấy! Nếu quư vị tin tưởng, y giáo phụng hành, hễ quay đầu, sẽ tương ứng với Tánh Đức. Nếu quư vị chẳng tin tưởng, bỏ đó không màng tới, vẫn tùy thuận tập khí phiền năo của chính ḿnh y như cũ, vấn đề sẽ nghiêm trọng. Tạo tác vô lượng vô biên tội nghiệp, tưởng là tổn người sẽ lợi ḿnh. Thật ra, trong các buổi giảng, chúng tôi đă nói rất nhiều lượt: “Tổn người chắc chắn sẽ bất lợi cho chính ḿnh!” Như thế nào mới là có lợi cho chính ḿnh? Lợi người mới thật sự là lợi ḿnh! Há có kẻ nào tổn hại người khác mà đạt được lợi ích ư? Chẳng có lẽ ấy!

          Phật pháp giảng giải giới luật rất tỉ mỉ. Giết người có thể lợi ḿnh hay không? Kẻ ấy gây trở ngại cho ta, hoặc là chướng ngại ta có được của cải, hoặc chướng ngại ta thăng quan, chướng ngại quyền thế của ta, tốt nhất là giết phăng hắn đi, diệt trừ hắn, cứ ngỡ là chướng ngại của ta sẽ mất đi. Há có chuyện đơn giản như vậy ư? Lớn th́ sẽ là các quốc gia xung đột lợi ích, phát sanh chiến tranh. Chiến tranh có thể giải quyết vấn đề hay không? Trong lịch sử, đă có quá nhiều chiến tranh. Chẳng có lần nào chiến tranh giải quyết vấn đề! Bề ngoài dường như là tạm thời giải quyết vấn đề, nhưng để lại khá nhiều hậu di chứng, vĩnh viễn chẳng thể giải quyết được. Hậu di chứng là ǵ? Oan oan tương báo, chẳng hết, chẳng xong! Nếu quư vị biết chân tướng sự thật này, có nên làm chuyện ấy hay chăng?

          Lợi ích thật sự là ǵ? Tổn ḿnh lợi người! Đấy mới là lợi ích chân thật. Nếu quư vị chẳng tin tưởng, hăy xem những vị sáng lập của mỗi tôn giáo đều là những người thông minh nhất, đều là người có trí huệ cao độ. Những ǵ do họ biểu hiện, thể hiện sự hy sinh dâng hiến đối với xă hội, đối với đại chúng. Họ đạt được những lợi ích ǵ? Bọn phàm phu chúng ta chẳng thấy, nhưng họ bảo cho quư vị biết, quư vị có thể tin tưởng hay chăng? Họ đạt được lợi ích là sanh lên thiên đường. Phật, Bồ Tát bảo chúng ta: Lợi ích của các Ngài là sanh về thế giới Hoa Tạng, sanh về thế giới Cực Lạc. Thời gian trong nhân gian rất ngắn, mấy chục năm ngắn ngủi hy sinh dâng hiến, đến cơi trời hưởng phước trong một thời gian khá dài! Quư vị có thể tin tưởng hay không? Nếu quư vị chẳng bằng ḷng buông bỏ phước báo nhỏ nhoi trước mắt, chẳng muốn buông bỏ, cứ liều mạng tranh đoạt, đời sau sẽ đi về đâu? Ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. Quư vị hăy thấy rơ ràng, thấy minh bạch chuyện này, tổn người có phải là lợi ḿnh hay không? Chẳng lợi ḿnh! Huống hồ chuyện tổn hại người khác là chuyện thiếu đạo đức, người thế gian nói là “tội nghiệt” (罪孽)! Có thể làm hay không? Đối với quả báo, nhà Phật nói có hoa báo và quả báo. Hoa báo (花報) là báo ứng hiện tiền ngay trong đời này, quả báo là [báo ứng trong] đời sau. Hoa báo là ǵ? Giảm phước, tổn thọ. Kẻ b́nh phàm cũng rất khó hiểu chuyện này, người hiện thời cũng chẳng dễ dàng tiếp nhận. Nguyên nhân là do họ tiếp nhận sự giáo dục của thánh hiền quá ít, thậm chí về căn bản là chưa hề tiếp xúc. Tiếp nhận giáo dục nhân quả cũng quá ít!

          Không như xưa kia! Người thuộc về sáu mươi năm trước, Trung Hoa nói là “một giáp[2], vẫn thường đọc cổ thư. Quư vị đến tiệm sách mà xem, đến tiệm sách c̣n thấy rất nhiều sách cổ thuộc loại khâu gáy bằng chỉ. Hơn nữa, từ trường ở tiệm sách tốt nhất. Thuở trẻ, tôi thích la cà nơi tiệm sách, thích vào thư viện, từ trường tốt đẹp. Quư vị đến nơi ấy, tâm rất an định, cảm giác nơi ấy xác thực có khí phận của sách vở. Người Hoa nói là khí phận (氣氛), người ngoại quốc nói là từ trường (磁場), do có nhiều sách của cổ thánh tiên hiền! Hiện thời th́ không được rồi, nay tôi cũng chẳng đến tiệm sách, mà cũng chẳng đến thư viện; thỉnh thoảng có đến thăm thư viện trong trường học, vẫn c̣n hơi tốt đẹp đôi chút, nhưng thua kém xưa kia, tiệm sách càng tệ hơn nữa! Từ trường ở các tiệm sách hiện thời hết sức bất hảo, do nguyên nhân ǵ? Trong các sách được lưu trữ, sách thánh hiền ít ỏi. Chẳng thể nói là không có, nhưng rất ít thứ cổ điển. Những thứ hiện đại đại khái phải chiếm tới bảy tám mươi phần trăm! Những tác phẩm hiện đại từ đâu mà có? Chư vị hăy ngẫm xem, có phải là từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước hay không? Những tác phẩm ấy dạy người ta điều ǵ? Xác thực là tăng trưởng ḷng tham lam của mỗi người. Trong tác phẩm có quá nhiều bạo lực, t́nh dục, giết, trộm, dâm, dối, hoàn toàn theo đường hướng trái ngược một trăm tám mươi độ với luân lư, đạo đức. Những thứ của cổ nhân, dẫu là tác phẩm văn nghệ, đều có thể tuân thủ giáo huấn của Phu Tử, “tư vô tà” (思無邪, không nghĩ tà vạy). Hiện thời, chỉ sợ quư vị chẳng nghĩ bậy, chỉ sợ quư vị không xấu xa! Đấy chính là “kiến lộ đa trần” (thấy đường nhiều bụi) trong bài kệ này, “trần” () là ô nhiễm.

          Giáo dục xưa kia đúng là đạo tràng thanh tịnh. Nho có đạo của Nho, Đạo gia có đạo của Đạo gia, Phật có đạo của Phật, đều là thanh tịnh. Trường học hiện thời cũng là ṿ nhuộm, những kẻ trẻ tuổi hoàn toàn bị nhuộm bẩn. Quư vị nói có đáng sợ lắm hay không? V́ thế, có khá nhiều học giả, chuyên gia đàm luận về trạng huống xă hội trước mắt, cảm thấy trong thế kỷ hai mươi mốt, tức là cho đến năm 2100, nhân loại trên địa cầu có thể sống tới cuối thế kỷ này hay không, có nghĩa là trong ṿng một trăm năm, nhân loại có thể bị biến mất khỏi thế giới này! Chuyện này đáng sợ quá! Họ nói có lư hay không? Quư vị hăy quan sát cẩn thận, [sẽ thấy] có lư lắm! Quyết chẳng phải là ăn ốc nói ṃ, đă có những chỉ dấu ngay trong hiện tiền! Người tâm địa thanh tịnh, người có tâm địa thiện lương đă thấy rơ ràng, rành rẽ. Làm như thế nào đây? Nhà Phật thường nói: “Phật độ kẻ hữu duyên”, kẻ hữu duyên là ai? Ở đây, chúng tôi cũng thường nói, kẻ có thể tin, có thể hiểu, có thể hành, đấy là người hữu duyên! Quư vị có thể tin tưởng, có thể lư giải, đối với giáo huấn của thánh hiền, có thể y giáo phụng hành, quư vị sẽ “viễn ly trần bộn” (xa ĺa bụi nhuốm). Chỉ cần quư vị xa ĺa hết thảy ô nhiễm, sẽ có thể đạt được pháp thanh tịnh.

          Tâm tịnh, ắt quốc độ tịnh, “quốc độ” chính là hoàn cảnh sống của chúng ta. Tâm ta thanh tịnh, hoàn cảnh ta đang cư trụ thanh tịnh hay không? Thanh tịnh! Quư vị nói [chuyện này], chẳng có ai tin tưởng! [Họ sẽ bắt bẻ]: “Tâm quư vị thanh tịnh, tôi chẳng thanh tịnh, hai người chúng ta đồng thời đứng ở chỗ này, hoàn cảnh giống hệt như nhau. Quư vị nói hoàn cảnh của quư vị thanh tịnh, hoàn cảnh của tôi chẳng thanh tịnh, làm sao tôi có thể tin tưởng cho được?” Từ thí nghiệm với nước của ông Giang Bổn Thắng, đă cho thấy [điều vừa nói trên đây] là thật, chẳng giả! Hoàn cảnh giống y hệt, nhưng ư niệm của hai người chúng ta khác nhau, hành vi khác nhau, phản ứng [của nước] sẽ chẳng giống nhau. Thí nghiệm ấy nói thật ra rất dễ dàng, chẳng khó khăn tí nào! Tôi đến thăm pḥng thí nghiệm của ông Giang, nói thật ra, pḥng thí nghiệm của ông ta là một cái tủ lạnh to, tủ lạnh cỡ thật to, người ta có thể ngồi trong ấy. Kính hiển vi cũng chẳng phải là loại có độ phóng đại lớn, chỉ phóng to hai trăm năm mươi lần. Nói thật ra kính hiển vi để làm thí nghiệm của học sinh Trung Học, hoàn toàn chẳng phải là rất cao cấp. Tôi thấy những thiết bị ấy liền hiểu rơ, chúng ta có thể tự ḿnh làm thí nghiệm. Dưới năm độ âm, nước bắt đầu đóng băng, quư vị lấy ra xem hoa tuyết dưới kính hiển vi, sẽ thấy được h́nh dạng kết tinh. Thiện niệm, tâm thanh tịnh, h́nh dạng kết tinh hết sức đẹp đẽ. Ác niệm, tâm chẳng thanh tịnh, cùng một chén nước, hai người chúng ta thí nghiệm sẽ [có kết quả] khác nhau. Người tâm thanh tịnh thí nghiệm sẽ thấy hoa tuyết rất đẹp; kẻ tâm chẳng thanh tịnh, h́nh tướng của hoa tuyết sẽ rất khó coi, rất rơ ràng!

          Quư vị lại thấy, cho tới hiện thời, không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng, mỗi người hít thở, thân thể sẽ cảm nhận khác nhau. Đúng là “tâm tịnh, quốc độ tịnh”. Nó chẳng gây nhiều tổn hại cho thân thể! Tâm địa chẳng thanh tịnh, bên ngoài cũng chẳng thanh tịnh, trong và ngoài đều không thanh tịnh, vậy th́ quư vị hấp thu như vậy sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với thân thể. Sau mấy ngày, chắc chắn là bị hen suyễn, bị cảm mạo, có cảm giác chẳng thoải mái cho lắm, có liên quan đến sự ô nhiễm của không khí. Có mang khẩu trang cũng không xong, quan trọng nhất là tu cái tâm thanh tịnh.

          Chúng tôi thường nói, người ở trong thế gian này chẳng thể không tiếp nhận giáo dục. Giáo dục chẳng giới hạn trong nhà trường. Cổ nhân đă nói rất hay: “Sống đến già, học đến già, vẫn học chẳng xong!” Giáo dục là suốt đời, suốt kiếp. Hằng ngày phải đọc sách thánh hiền. Cổ nhân bảo: “Tam nhật bất độc thánh hiền thư, diện mục khả tắng” (Ba ngày chẳng đọc sách thánh hiền, mặt mũi đáng ghét). Người hiện thời há cần đến ba ngày? Một ngày chẳng đọc sách thánh hiền, thân tâm họ đă bị bên ngoài nhuốm bẩn. Chẳng ra khỏi cửa cũng bị nhuốm bẩn! V́ sao không ra khỏi cửa mà vẫn bị nhuốm bẩn? TV nhuốm bẩn quư vị, nhật báo, tạp chí nhuốm bẩn quư vị, đấy là điều khẳng định! V́ thế, bản thân chúng ta phải biết bảo vệ chính ḿnh, xa ĺa bụi bậm dính nhuốm! Không xem báo chí, không nghe radio, không xem TV, mà cũng chẳng xem tạp chí. V́ sao? Những thứ ấy chẳng có ích ǵ cho thân tâm, toàn là ô nhiễm, toàn là trần uế. Quư vị tiếp xúc những thứ ấy, tâm quư vị làm sao có thể thanh tịnh cho được? Ngay cả Đệ Tử Quy cũng bảo: Sách nào vô ích, chẳng lợi ích ǵ cho chính ḿnh, chớ nên xem! V́ sao? Nếu quư vị xem xong, thân tâm sẽ bị ô nhiễm, đánh mất cái tâm thanh tịnh. Những ǵ có lợi ích? Sách thánh hiền có lợi ích rất nhiều! Ta xem suốt cả đời này c̣n chẳng xong, há có thời gian để xem những thứ vớ vẩn rối loạn nháo nhào ư?

          Cổ đại đức thường bảo: “Thế gian hảo ngữ Phật thuyết tận”, [nghĩa là] những lời tốt đẹp nhất, tốt lành nhất của thế gian, đức Phật đă nói hết cả rồi! Đại Tạng Kinh của Phật giáo phân lượng chẳng ít! Nếu quư vị thích xem những kinh sách ấy, xem cả đời chẳng xong. V́ sao không xem thứ ấy? Những thứ tốt đẹp của chư tử bách gia rất nhiều, v́ sao chẳng đọc? [Các tác phẩm] tôn giáo ngoại quốc, văn học cổ điển cũng khá lắm, quư vị xem cả đời này chẳng hết. Do vậy, c̣n có thời gian nào để đọc nhật báo, tạp chí, xem TV, nghe radio ư? Phải biết những thứ ấy gây tổn hại nghiêm trọng cho chính ḿnh. Nay chúng ta đă hiểu rơ, nhất định phải bảo ban các thanh thiếu niên về lẽ lợi hại, được mất, phân tích cặn kẽ cùng họ, ngơ hầu họ biết bảo vệ chính ḿnh, xa ĺa hết thảy những thứ ô nhiễm ấy, bảo vệ thân tâm của chính ḿnh thanh tịnh. Lợi ích gần là khỏe mạnh, “thiểu bệnh, thiểu năo”, tức là ít phiền năo, ít bệnh tật. Lợi ích to hơn nữa đặt vững cơ sở luân lư đạo đức thánh hiền cho chính ḿnh.

          Mục tiêu chánh xác trong đời người là phải nâng cao cảnh giới của chính ḿnh, mong cầu liễu giải chân tướng của nhân sinh và vũ trụ. Nói đến chân tướng của nhân sinh và vũ trụ, khoa học lẫn triết học đều nghiên cứu những thứ này. Có thể dùng khoa học, triết học làm cơ sở; sau đấy, quư vị nh́n lại tôn giáo, nh́n vào Phật pháp, sẽ thấy [Phật pháp] giảng sâu hơn, rộng hơn, thấu triệt hơn khoa học. Những vấn đề mà khoa học và triết học hiện thời chẳng thể giải quyết, hễ gặp Phật pháp, sẽ chẳng có ǵ không thể giải quyết. V́ sao chẳng đọc [kinh sách của Phật pháp]? V́ sao không học? Đương nhiên là trong ấy cũng có nhân tố khách quan, tức là những kinh điển ấy không chỉ là nghĩa lư sâu xa, ngay cả văn tự cũng có độ sâu nhất định. Văn chương Văn Ngôn, [ngay cả] loại Văn Ngôn đơn giản nhất, người hiện thời đọc sẽ rất tốn công. V́ thế, sự tu dưỡng Quốc Văn so với thuở trước đúng là đọa lạc ngàn trượng! Những sinh viên tốt nghiệp từ các học viện văn học hiện thời, chắc chắn chẳng sánh bằng học tṛ Tiểu Học thời đầu Dân Quốc. Thật đấy! Đấy cũng là một loại chướng ngại cho chúng ta trong việc đọc kinh điển của cổ thánh tiên hiền. Chướng ngại ấy có thể đột phá, chính ḿnh phải có cái tâm thường hằng, phải có nghị lực đột phá chướng ngại ấy, tiếp nhận giáo huấn của cổ thánh tiên hiền, mới thật sự có thể giúp cho cái tâm thanh tịnh của chính ḿnh hiện tiền. Nay đă hết thời gian rồi, chúng ta nghỉ ngơi mấy phút.

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem tiếp bài kệ thứ mười:

 

          (Kinh) Kiến lộ vô trần, đương nguyện chúng sanh, thường hành đại bi, kỳ tâm nhuận trạch.

          ()路無塵。當願眾生。常行大悲。其心潤澤。

          (Kinh: Thấy đường không bụi, nguyện cho chúng sanh, thường hành đại bi, tâm địa nhuần thấm).

 

          Đường rất sạch, chẳng có bụi đất; từ cảnh giới ấy, Bồ Tát dẫn phát hoằng nguyện: Nguyện cho hết thảy chúng sanh trọn khắp pháp giới hư không giới “thường hành đại bi”. Đấy là Tịnh Độ của Phật, Bồ Tát, chứ trong cảnh giới của phàm phu sẽ chẳng nhiều! Nhưng đối với Tịnh Độ của Phật, Bồ Tát, xác thực là hết thảy lục đạo chúng sanh trong khắp pháp giới hư không giới đều ở trong sát độ (cơi nước) của chư Phật. Hoàn cảnh cư trụ trong hiện thời của chúng ta là lục đạo trong thế giới Sa Bà của Thích Ca Mâu Ni Phật. Đối với các sát độ của mười phương chư Phật, từ phẩm Hoa Tạng Thế Giới trong phần trước, chúng ta đă đọc thấy, rất nhiều cơi có trạng huống giống như thế giới Sa Bà, có rất nhiều [thế giới như vậy] trong pháp giới hư không giới. Nhưng Tịnh Độ của chư Phật, Bồ Tát, tức là cơi Thật Báo Trang Nghiêm chẳng có lục đạo mười pháp giới cũng chẳng ít. Chúng ta thấy Thích Ca Mâu Ni Phật đă giới thiệu cũng chẳng ít, những cơi ấy thật sự là cơi thanh tịnh. Do nguyên nhân nào mà có hiện tượng này? Chúng ta chớ nên không hiểu đạo lư này! Luận theo sự thật, cơi nước chẳng có tịnh hay uế! Phải biết điều này! Cực Lạc là Tịnh Độ, Sa Bà là uế độ, chính là nói phương tiện, chẳng phải là nói chân thật. Đấy là nói thuận theo tri kiến của phàm phu! Nếu xét theo sự cảm nhận của Phật, Bồ Tát, tịnh và uế chẳng hai! Chúng được gọi là Pháp Tánh Độ, lấy đâu ra tịnh hay uế? Trong tâm quư vị chẳng có tịnh hay uế, thế giới bên ngoài sẽ chẳng có tịnh hay uế. Tâm quư vị tịnh bèn hiện Tịnh Độ, tâm quư vị uế bèn hiện uế độ.

          Chúng ta vẫn dùng thí nghiệm với nước để tỷ dụ. Chẳng có bất cứ ư niệm đối với nước, nước chẳng có tốt hay xấu. Hễ có ư niệm, đối với nước bằng thiện niệm, nó sẽ thiện. Đối với nó bằng ác niệm, nó sẽ hiện tướng ác. Thật sự là đối với giáo pháp Đại Thừa, chúng ta đă hiểu rơ: Không chỉ là hết thảy vật chất có thể hiện tướng, mà thấy, nghe, hay, biết, sắc, thanh, hương, vị đều vốn sẵn có trong tự tánh. Trong giáo pháp Đại Thừa, đức Phật đă dạy rất nhiều, tự tánh vốn trọn đủ, vạn pháp b́nh đẳng. Đấy là Tánh Đức, tự tánh vốn sẵn đầy đủ. Tất cả hết thảy vạn pháp đều do tự tánh biến; hiện thời, khoa học cũng dần dần hiểu được điều này. Vật chất chẳng phải là thật, vật chất là một loại hiện tượng tích tụ năng lượng. Nếu gặp lúc năng lượng ấy tan ra, hiện tượng vật chất sẽ chẳng c̣n nữa. Chẳng c̣n nữa th́ hiện tượng tan rời này được khoa học gọi là Trường. Do vậy, Trường và vật chất là một, chẳng hai. Một đằng là tụ, một đằng là tán. Nay chúng ta gọi Trường là “không gian”. Nếu nhằm lúc nó hội đủ nhân duyên, khi có những điều kiện ấy, nó lại có thể biến thành vật chất. Do vậy, vật chất được nói là “vô trung sanh hữu” (từ trong Không mà sanh ra Có), đă có lại trở về không, tụ tán vô thường.

          Nhưng vật chất dẫu nhỏ đến đâu đi nữa, chúng ta nói là trạng thái vật chất cơ bản, trong khoa học hiện thời vẫn chưa thể nói xác định, [nhưng Phật pháp đă khẳng định], chúng thảy đều trọn đủ Tánh Đức thấy, nghe, hay, biết, sắc, thanh, hương, vị. Đấy là bất sanh, bất diệt; vật chất dẫu nhỏ đến mấy đi nữa cũng đều có trọn đủ [những Tánh Đức ấy]. Do vậy, chẳng có bất cứ ngoại cảnh nào quấy nhiễu, chính là như Lục Tổ đă nói, “vốn chẳng có một vật”. Thiện niệm đối với nó, nó sẽ hiện thiện. Có ác niệm đối với nó, nó sẽ hiện ra ác. Bản thân nó là chẳng thiện, chẳng ác. Cái gọi là thế giới Cực Lạc, cái gọi là thế giới Hoa Tạng, cái gọi là Nhất Chân pháp giới của chư Phật, chẳng có ǵ sai khác, chính là hết thảy các ư niệm thiện hay ác thảy đều chẳng có. Cổ nhân nói là “phản phác quy chân” (反璞歸真, trở về cái chất phác, quay về cái chân thật), đó là Nhất Chân. Hễ có thiện, có ác, sẽ chẳng phải là Nhất Chân.

          [Nói đến] “có thiện”, so sánh với lục đạo th́ tứ thánh pháp giới là thiện, lục đạo bất thiện. Lại so sánh trong lục đạo, ba thiện đạo là thiện, ba ác đạo là bất thiện. So sánh trong bất cứ đường nào, vẫn có thiện và ác. Trong địa ngục đạo, chịu khổ ít là thiện, chịu khổ nhiều là bất thiện; trong loài người, người phú quư là thiện, người bần cùng là bất thiện. Do vậy, thiện và ác là tương đối, tương đối th́ mới hiển hiện, nhưng trong bản tánh chẳng có tương đối. Khởi tâm động niệm, vẫn chưa có đối lập, đấy là căn bản vô minh. Hễ cái tâm phân biệt dấy lên, sẽ có đối lập, sẽ có tương đối. Có phân biệt, có chấp trước, sẽ là đối lập nghiêm trọng. Do có chấp trước, nên mới có lục đạo. Do có phân biệt, nên mới có mười pháp giới, mới có tứ thánh pháp giới. Phân biệt lẫn chấp trước thảy đều chẳng có, sẽ chính là Nhất Chân pháp giới. Giáo pháp Đại Thừa đă giảng những điều này rất hay, rất cặn kẽ!

          Do vậy, chúng ta thấy một hoàn cảnh thanh tịnh, hăy ngay lập tức quay lại nghĩ đến thân tâm thanh tịnh. Cảnh giới ấy tốt đẹp, tốt đẹp th́ sao? Sợ quư vị sẽ lưu luyến cảnh giới ấy, thân an, tâm an. Quư vị thấy Phật là như thế, mà truyền thống giáo học của Trung Hoa cũng là như thế. Thiên Khúc Lễ trong sách Lễ Kư có câu: “An an nhi năng thiên” (an trụ trong chỗ an ổn, mà vẫn có thể tiếp nhận sự biến đổi), hoàn toàn tương ứng với hai câu này. Tâm của quư vị an, thân của quư vị an, quư vị sẽ sống hết sức thoải mái, tự tại; nhưng chúng sanh gặp khổ nạn, quư vị có phải giúp đỡ họ hay chăng? Nếu quư vị giúp họ, ắt phải bỏ hoàn cảnh sống an định như vậy, phải ḥa quang đồng trần với các chúng sanh khổ nạn, cùng họ chịu khổ, chịu nạn, ḥng giúp đỡ họ, dạy bảo họ. Mọi người đều quay đầu, thế giới chúng ta đang sống trong hiện tiền cũng có thể biến thành thế giới Cực Lạc. Dẫu chẳng đạt được thế giới Cực Lạc, nhưng đạt tới thiên đường như các tôn giáo phương Tây đă nói sẽ chẳng phải là chuyện khó! Chỉ cần cư dân trên địa cầu hồi tâm hướng thiện, ai nấy đều có thể tuân thủ khuôn phép ngũ luân, bát đức, thế giới này sẽ là thiên đường. Thật vậy, chẳng giả! Hoa Tạng, Cực Lạc và [thế giới này của] chúng ta là một, không hai; thiên đường và địa ngục c̣n là ngoại lệ ư? Ḷng người chẳng lành, địa cầu biến thành địa ngục. Nếu ḷng người thảy đều sửa lỗi, hướng thiện, địa cầu sẽ biến thành thiên đường. Hoàn cảnh chuyển theo ḷng người! Kinh Lăng Nghiêm đă nói rất hay: “Nếu có thể chuyển vật, ắt giống như Như Lai”. Do vậy, cảnh chuyển theo tâm, chẳng phải là tâm chuyển theo cảnh. Tâm mà chuyển theo cảnh, quư vị hoàn toàn mê hoặc, bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh bên ngoài.

          Nhưng hiện thời kẻ hoàn toàn mê hoặc quá ưnhiều, thời gian mê hoặc cũng rất dài, muốn giúp họ quay đầu, há dễ dàng ư? Chuyện này khó khăn, chẳng dễ dàng, nhưng vẫn phải làm, chẳng thể kêu khó rồi không làm. [Nếu viện cớ] chẳng dễ dàng, để rồi buông bỏ, vậy là quư vị chẳng có ḷng đại bi! Đại từ đại bi chẳng có bất cứ điều kiện nào, quư vị liễu giải chân tướng sự thật. Chân tướng ấy là ǵ? Trọn khắp pháp giới hư không giới và chính ḿnh là một. Lời này chẳng dễ hiểu, chúng tôi nói cách khác, trọn khắp pháp giới hư không giới là một sanh mạng cộng đồng thể. Mọi người chấp nhận điều này khá dễ dàng. Từ chỗ này, quư vị có thể dần dần khế nhập. Đạt đến cảnh giới cao nhất, quyết định là một Thể. Trong giáo pháp Đại Thừa thường nói một Thể ấy chính “mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân”, c̣n thân thiết hơn một sanh mạng cộng đồng thể, một Pháp Thân đấy nhé! Nếu quư vị thừa nhận, khẳng định, “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi” sẽ tự nhiên xuất sanh, chẳng cần ai khuyên bảo! Cũng có nghĩa là chuyện này là chuyện phải nên làm!

          Khó làm mà có thể làm, khó hóa độ mà có thể hóa độ, chỉ cần chính ḿnh dùng cái tâm chân thành để thực hiện. Chính ḿnh có tín tâm, sẽ nhất định có thể cảm hóa, sẽ thật sự cảm hóa được. Nếu quư vị thực hiện mà trong tâm đánh dấu hỏi, “có thể cảm hóa được hay không?”, thường có ư niệm ấy, sẽ phiền toái rất lớn, đúng là khó thể cảm hóa. V́ sao? Trong tâm quư vị có nghi hoặc, sức mạnh cảm hóa sẽ bị chiết khấu rất lớn. Trong tâm chẳng có nghi hoặc, trong tâm hết sức kiên định, sẽ rất dễ dàng. Do vậy, quư vị phải luôn nắm vững một nguyên lư về tín tâm, chính là “hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”. Thời cổ, v́ sao vua Thuấn có thể cảm hóa cả nhà? V́ sao Ngài có thể cảm hóa láng giềng, cḥm xóm? Chẳng có ǵ khác, tín tâm! Mảy may nghi hoặc đều chẳng có. Do vậy, hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian được kiến lập từ chỗ nào? Kiến lập từ tín tâm, [v́ thế], Hoa Nghiêm và Đại Luận (Đại Trí Độ Luận) mới nói: “Tín vi đạo nguyên, công đức mẫu” (Tín là nguồn đạo, mẹ công đức),“đạo” () là đạo trong thế gian và xuất thế gian, “nguyên” () là khởi nguồn, cội nguồn, là mẹ của hết thảy các công đức. “Mẫu” () là tỷ dụ, mẹ có thể sanh, có thể dưỡng. Tín tâm có thể sanh, có thể dưỡng, có thể thành tựu hết thảy các pháp. Thiện pháp được thành tựu bởi nó, ác pháp cũng do nó thành tựu. Chúng ta phải hiểu rơ, chớ nên không biết!

          Do vậy, dẫu hoàn cảnh sống của chính ḿnh thoải mái cách mấy đi nữa, nhưng v́ chúng sanh, cũng phải buông bỏ. Gia Cát Lượng tiếp nhận giáo dục truyền thống, ông ta là tín đồ của Nho gia và Đạo gia. Hoàn cảnh sống tại Long Trung[3] rất tự tại. Thiên hạ động loạn, Lưu Bị đến mời ông ta, thường nói là “tam cố mao lư” (三顧茅廬, ba lượt đến lều tranh), ông ta có thể chẳng đi hay sao? Bỏ cuộc sống thoải mái của chính ḿnh, v́ chúng sanh khổ nạn mà bươn chải nhọc nhằn. Đấy là tâm đại bi. “Kỳ tâm nhuận trạch”: “Nhuận trạch” () là đối với dân đen đông đảo, đối với hết thảy chúng sanh khổ nạn, bèn niệm niệm chẳng quên, nói theo Phật pháp sẽ là “niệm niệm gia tŕ”. Dùng phương pháp ǵ? Giáo dục! Trong giáo dục, quan trọng nhất là thân giáo. Có thể nói giáo dục hiện thời đă thất bại, ngay từ ba mươi năm trước, tiến sĩ Thang Ân Tỷ (Arnold Toynbee) của Anh đă nói điều ấy từ ba mươi năm trước! Hiện thời, chánh phủ đánh mất ḷng tin của nhân dân, cha mẹ đánh mất ḷng tin của con cái, nhân dân chẳng tin tưởng chánh phủ, con cái chẳng tin tưởng cha mẹ, do nguyên nhân ǵ? Cảm nhận những lời họ đă nói chẳng tương ứng với những ǵ họ đă làm. V́ thế, mất đi sự tín nhiệm, quyền uy cũng mất theo! Do vậy, chánh phủ chẳng thể cai quản nhân dân tốt đẹp, cha mẹ chẳng thể dạy dỗ con cái nên thân. Đạo lư ở chỗ này. Vấn đề này thuộc về vấn đề giáo dục.

          Hiện thời, những kẻ b́nh phàm chẳng hiểu rơ ư nghĩa được bao hàm trong hai chữ giáo dục cho mấy! Giáo là ǵ? Dục là ǵ? Giáo dục là ǵ? Người thực hiện công tác giáo dục có thể giải đáp rơ ràng ba câu hỏi ấy chẳng nhiều! Lẽ nào họ giáo dục chẳng bị thất bại? Nói thật ra, chỉ cần làm người th́ phải nên hiểu rành rẽ, rơ ràng hai chữ ấy. V́ sao? Dạy chính ḿnh! Sau khi quư vị đă dạy chính ḿnh nên thân th́ quư vị mới có thể dạy người khác. Cổ thánh tiên hiền tạo chữ, Giáo () có nghĩa là “trên làm, dưới bắt chước theo”. Quư vị nh́n từ ư nghĩa, Giáo là dùng phương pháp ǵ? Thân giáo. Ngạn ngữ có câu: “Thượng lương bất chánh, hạ lương oai” (kèo trên chẳng ngay, kèo dưới lệch). “Thượng lương” là nói tới thế hệ trước, “hạ lương” là thế hệ tiếp theo. Thế hệ kế tục học theo thế hệ trước. Thế hệ trước bất chánh, thế hệ kế tiếp sẽ học theo càng tồi tệ hơn. Thế hệ trước chánh đáng, thế hệ sau cũng học theo lẽ chánh đáng. Đạo lư ở chỗ này.

          Xưa kia, bất luận người nào, chẳng cần biết quư vị có biết chữ hay không, sanh trưởng tại thành thị, hay sanh trưởng tại nông thôn, ai nấy đều biết đạo lư cơ bản ấy. V́ thế, nhất cử nhất động của người lớn đều đoan chánh, [do vậy] trẻ thơ đă học kỹ càng từ tấm bé. Tại những vùng nông thôn, dân gian học từ chỗ nào? Hoàn toàn học từ thân giáo. Những người lănh đạo tại địa phương như huyện thị trưởng, những người có học ở chỗ nào sẽ là thầy ở nơi ấy. Ở phương Nam Trung Hoa, tôi lúc nhỏ, khi mười mấy tuổi ở Phước Kiến, giữa mỗi căn nhà ở Phước Kiến đều thờ bài vị tổ tiên, chính giữa đề năm chữ “thiên địa quân thân sư”, bài vị [tổ tiên] đặt ở dưới đó, tức “thiên địa quân thân sư chi thần vị”. Quư vị thấy câu “quân thân sư” (vua, cha mẹ, thầy) là ǵ? Câu này nói về người lănh đạo. Chức trách của người lănh đạo là “quân, thân, sư”, ông ta là huyện trưởng ở nơi đây, tức là “quân”. Ông ta phải chăm lo cuộc sống của dân chúng, thường gọi là “quan phụ mẫu”, phải coi toàn thể nhân dân trong huyện như cha mẹ, anh em, con cái của chính ḿnh. Ông ta phải nuôi nấng, phải giúp cho họ sống được. Đó là Thân. Quư vị c̣n phải dạy dỗ họ, dạy như thế nào? Quư vị giữ ḿnh đoan chánh, là khuôn mẫu cho nhân dân cả huyện, là tấm gương tốt nhất cho mọi người, dân chúng học theo quư vị. Quư vị chánh đáng, ai nấy sẽ đều chánh đáng. Nếu quư vị là tà, ai nấy đều tà, trọng yếu lắm!

          Trước kia, đế vương tuyển chọn các cán bộ, họ cũng rất cao minh; có hai nguyên tắc để tuyển chọn hạng người nào ḥng bồi dưỡng thành những cán bộ của nước nhà trong tương lai. Chọn lựa trong dân gian, tiêu chuẩn là hiếu liêm. Đứa trẻ nào biết hiếu thuận với cha mẹ, liêm khiết, chẳng tham tài. Đấy là điều kiện cơ bản. Kẻ nào rất coi trọng đạo nghĩa, coi tiền tài rất đạm bạc, sẽ tuyển chọn những kẻ ấy. Ai thay hoàng đế tuyển chọn? Quan viên địa phương có sứ mạng ấy. Trước kia, điều này được gọi là “tấn hiền thọ thượng thưởng”, nghĩa là quư vị thay nước nhà chọn lựa nhân tài, sẽ được quốc gia ban thưởng cao nhất. V́ thế, các quan viên hễ rảnh rang bèn cải trang đi thăm ḍ. Họ đổi sang trang phục b́nh phàm để ra ngoài sẽ chẳng có ai nhận ra, thường đi xem xét, thăm ḍ trong khu vực quản hạt của chính ḿnh: Chỗ này có đứa trẻ hiếu thuận với cha mẹ, nói đến những chuyện cũ của nó, hễ là liêm khiết, vị quan bèn ghi nhớ trong tâm. Sau một khoảng thời gian, lại đến xem nó có phải thật sự là hiếu và liêm hay không. Hễ là thật, sẽ chọn lựa nó để nước nhà bồi dưỡng. Do vậy, trường học thuở ấy đều do quốc gia tạo lập. Kẻ có thể tận hiếu, sẽ có thể tận trung với quốc gia, liêm khiết th́ sẽ chẳng tham ô. Những người lănh đạo thuộc các tầng lớp chánh phủ trong ngoài nước xưa nay, hễ có thể làm được hai chữ ấy, xă hội sẽ an định, thiên hạ thái b́nh, nhân dân an lạc. Nếu các quan viên bất hiếu với cha mẹ của họ, chắc chắn sẽ không có ḷng trung đối với nước nhà. Chẳng liêm khiết, chắc chắn sẽ tham ô. Như vậy th́ chắc chắn sẽ khiến cho dân oán, tức là khiến cho dân chúng oán hận! Xă hội sẽ động loạn, sẽ chẳng ổn định. Do vậy, hết thảy đều phải cậy vào giáo dục!

          Hiện thời, tuy là đời đại loạn, nếu thật sự tiến hành từ giáo dục, vẫn c̣n cứu được. V́ có thể sử dụng các phương thức khoa học kỹ thuật cao, nay ta nói là “dạy học từ xa”. Quốc gia to lớn dường ấy, nhân tài nhiều ngần ấy, chọn ra mấy chục vị thầy tốt đẹp sẽ chẳng phải là chuyện khó khăn. Sau khi đă tuyển ra, quốc gia hăy khéo tiếp đăi những vị thầy ấy để họ thành lập một đoàn thể nhỏ, hằng ngày dạy học trong pḥng thâu h́nh. Sau khi thâu h́nh, sẽ phát sóng mỗi ngày, khiến cho mọi người trên cả nước và trên toàn thể thế giới có thể tiếp sóng, đều có thể tiếp nhận giáo huấn về luân lư đạo đức, thánh hiền. Có thể làm theo cách như vậy, chúng tôi tin là xă hội này từ nửa năm cho đến một năm sẽ an định, ḷng người sẽ khác hẳn! Đấy chính là quư vị phải biết vận dụng khoa học kỹ thuật cao cấp trong hiện đại, vận dụng nó để dạy bảo nhân dân cả nước, dạy dỗ nhân dân trên toàn thế giới, công cụ tốt đẹp như thế cớ sao chẳng dùng? V́ sao để cho công cụ ấy hằng ngày dạy kẻ khác về bạo lực, t́nh dục, giết, trộm, dâm, dối? Dạy hư mọi người, xă hội này làm sao có thể an định cho được? Lẽ nào nhân dân chẳng đáng thương? Quư vị dạy như thế nào?

          Tôn giáo sa sút, khá nhiều tín đồ tôn giáo kiền thành hết sức cảm thán đối với tôn giáo mà chính ḿnh đang tín ngưỡng! Tín đồ tôn giáo chẳng thể thực hiện những giáo huấn trong kinh điển, chẳng thể tuân thủ giới điều của tôn giáo. Do vậy, khiến cho đại chúng trong xă hội thấy các nhân sĩ tôn giáo lời nói và việc làm chẳng phù hợp; v́ thế, bèn xa lánh, tạo thành sự khinh rẻ của đại chúng trong xă hội đối với tôn giáo. Chuyện này chắc chắn là chẳng thể trách móc đại chúng trong xă hội, hăy trách bản thân chúng ta chẳng làm tốt. Chúng ta có lỗi với Phật, Bồ Tát, có lỗi với tổ sư đại đức, có lỗi với cha mẹ, có lỗi với sư trưởng, có lỗi với hết thảy chúng sanh. Thật vậy, chẳng giả! Đă biết, đă hiểu rơ, phải nên sám hối, nghiêm túc học tập. Học Phật th́ phải giống như Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật là tấm gương tốt nhất cho chúng ta. Học Bồ Tát th́ phải giống như Bồ Tát. Phật, Bồ Tát tuyệt đối chẳng phải là A Tu La, tuyệt đối chẳng phải là La-sát. Nay chúng ta học Phật, xử sự, đăi người tiếp vật vẫn bằng bản mặt khó đăm đăm, lại c̣n nổi giận, đấy là ǵ? Chính là A Tu La, là La-sát, Phật ở chỗ nào? Có khi nào Quán Thế Âm Bồ Tát nổi đóa? Có khi nào Thích Ca Mâu Ni Phật đập bàn? Chẳng có chuyện ấy! Chư Phật, Bồ Tát khiêm hư cung kính đối với hết thảy chúng sanh.

          Quư vị thấy người ta khởi tâm động niệm, dẫn phát các nguyện toàn là Tánh Đức. Nay chúng ta từ sáng đến tối, khởi tâm động niệm đều là ích kỷ, thị phi, nhân ngă, tham, sân, si, mạn. Niệm nào cũng chỉ mong lợi lạc cho chính ḿnh, chẳng biết lợi ích chúng sanh, chỉ biết thuận tiện cho chính ḿnh, chẳng biết tạo thuận tiện cho kẻ khác. Phật pháp gọi cái tâm thái ấy là tâm luân hồi. Tâm luân hồi tạo tác hết thảy Phật pháp th́ cũng là nghiệp luân hồi, v́ sao? Tâm bất thiện, hành vi thảy đều là bất thiện, động cơ (motivation) sai lầm! Động cơ bất thiện, tuyệt đối là chẳng có chuyện nào là thiện thành tựu! Động cơ phải thuần chánh. Muốn đạt đến động cơ thuần chánh, điều kiện đầu tiên là trước hết phải đạt đến vô ngă; chứ động cơ hữu ngă sẽ rất khó thuần chánh!

          Do vậy, trong kinh Kim Cang, đức Phật đă dạy: “Nếu Bồ Tát có ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, sẽ chẳng phải là Bồ Tát”. Một trăm bốn mươi mốt nguyện trong kinh Hoa Nghiêm là Bồ Tát hạnh. Vậy th́ quư vị bèn hiểu, những vị [Bồ Tát] này không chỉ là đă phá tứ tướng, mà tứ kiến cũng chẳng có! Tứ kiến là như trong nửa sau của bộ kinh Kim Cang đă nói: “Ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến”. Kiến () là ư niệm. Không chỉ là chẳng có tướng, mà ư niệm cũng chẳng có. Do vậy, khởi tâm động niệm đều trọn khắp pháp giới hư không giới, tuyệt đối chẳng có ư niệm v́ chính ḿnh, v́ đoàn thể nhỏ của chúng ta. Chẳng có! Tuyệt đối chẳng có ư niệm ấy. V́ khu vực này của ta, v́ quốc gia của ta, v́ thế giới này, tâm lượng vẫn là quá nhỏ! Tâm lượng của Bồ Tát là trọn khắp pháp giới hư không giới, đấy là như mọi người thường niệm “tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”. Tâm lượng của những vị trong kinh Hoa Nghiêm là tâm bao thái hư, lượng châu sa giới. Tâm lượng của chúng ta quá nhỏ, chớ nên không biết. Sau khi đă biết, chớ nên không phát tâm.

          Đă đạt đến “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”, đấy là một mục tiêu quan trọng trong sự tu hành của chúng ta, đặc biệt là đối với các đồng học tu Tịnh Độ. Tựa đề kinh Vô Lượng Thọ là Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh, đoạn trước nói về quả báo, đoạn sau nói về tu nhân. Do đâu mà có Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm? Từ thanh tịnh, b́nh đẳng, giác mà ra. Chúng ta dùng phương pháp ǵ để tu? Dùng ngay một câu Phật hiệu. Câu Phật hiệu được gọi là “diệu âm” (妙音, âm thanh mầu nhiệm), câu Phật hiệu chính là danh xưng của Tánh Đức. Nam-mô có nghĩa là Quy Y, Cung Kính, Quy Mạng. A Di Đà Phật là Vô Lượng Giác, Vô Lượng Thanh Tịnh, Vô Lượng B́nh Đẳng. Câu danh hiệu này bao gồm viên măn Tu Đức!

          Cái Thể của danh hiệu là Tánh Đức, chấp tŕ danh hiệu là Tu Đức. Tánh và Tu chẳng hai! Quư vị hiểu ư nghĩa này, niệm câu Phật hiệu sẽ khác hẳn. Đó gọi là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Quư vị chẳng hiểu ư nghĩa của danh hiệu, hằng ngày niệm mà chẳng tương ứng. Chẳng tương ứng th́ như cổ nhân đă nói: “Miệng niệm Di Đà, tâm tán loạn”. Trong tâm vẫn là tạp niệm, vọng niệm tơi bời. V́ thế, “miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, gào toác cổ họng cũng uổng công”. Tuy là hằng ngày niệm Phật, chẳng thành tựu công đức! Muốn thành tựu công đức giống như Bồ Tát, trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, hết thảy cảnh duyên, tự nhiên niệm nào cũng tương ứng với Tánh Đức; vậy th́ quư vị ắt cần phải có tiêu chuẩn của kinh Kim Cang. Buông xuống tứ tướng, tứ kiến cũng buông xuống, hạnh nguyện Phổ Hiền sẽ chẳng khó tu! Chẳng buông xuống tứ tướng và tứ kiến, sẽ chẳng làm được điều này, mà nguyện nào trong một trăm bốn mươi nguyện cũng đều chẳng làm được!

          Nay chúng ta đang học tập vấn đề này, hy vọng chúng ta có thể làm được. Trước hết, hăy thực hiện từ Đệ Tử Quy, Đệ Tử Quy là thiện pháp trong loài người. Trước hết, phải làm một thiện nhân, làm một người tốt, sau đấy, quư vị mới có thể học Phật, mới có thể thành Bồ Tát, thành Phật. Chẳng có tư cách của một người tốt, làm sao có thể làm Phật, làm Bồ Tát cho được? Đạo lư ở chỗ này. Do vậy, nhất định là trước hết phải học Đệ Tử Quy, một trăm mười ba chuyện trong Đệ Tử Quy c̣n ít hơn [những nguyện] ở đây, ở đây là một trăm bốn mươi mốt nguyện. Đệ Tử Quy chỉ có một trăm mười ba chuyện, thảy đều làm được. Chỉ cần quư vị làm được, dẫu không học Phật, đời này quư vị chắc chắn sẽ chẳng đọa ác đạo! V́ sao? Duyên của ba ác đạo đă bị đoạn mất, dẫu trong đời quá khứ đă tạo cái nhân của ba ác đạo, nhưng do nhân chẳng có duyên, nó chẳng thể dấy lên hiện hành.

          Đă có cơ sở này, chúng ta mong học Phật, vậy là quư vị có tư cách học Phật. Cơ sở để học Phật là ǵ? Thập Thiện Nghiệp Đạo. Điều đầu tiên trong Tịnh Nghiệp Tam Phước dạy: “Từ tâm chẳng giết, tu thập thiện nghiệp”. Từ chỗ này, quư vị mới có thể vào được cửa. Phải thực hiện Thập Thiện. Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo phải thuộc, phải hiểu rơ, phải làm được, như vậy là quư vị có điều kiện để học Phật. Quư vị có điều kiện ấy th́ mới có thể tiến nhập Phật môn, tiếp nhận Tam Quy, Ngũ Giới. Quư vị thật sự đắc Tam Quy, thật sự đắc Ngũ Giới, là đệ tử thật sự của đức Phật. Trong giới kinh đă dạy rất hay, quư vị thật sự đạt được Tam Quy, ba mươi sáu vị thần hộ pháp sẽ gia hộ quư vị. Thật sự đắc Ngũ Giới, mỗi giới điều có năm vị thần hộ giới, [thọ trọn năm giới] sẽ có hai mươi lăm vị thần hộ giới, ba mươi sáu vị thần hộ pháp ngày đêm bảo vệ quư vị. Quư vị đến chỗ nào, yêu ma quỷ quái chẳng thể hại quư vị, chẳng dám đến gần quư vị.

          Chúng ta cũng thường nghe có chuyện [ma quỷ] dựa vào thân. Linh quỷ dựa thân, dựa vào thân kẻ xuất gia, chúng ta hiểu rơ: Nếu người xuất gia có Tam Quy, Ngũ Giới, quỷ thần có thể dựa thân hay chăng? Chẳng thể! Những vị thần hộ pháp, thần hộ giới làm sao có thể để cho linh quỷ dựa thân người ấy được? Há có lẽ ấy! Linh quỷ có thể dựa thân th́ nói cách khác, quư vị chẳng có thần hộ pháp, mà cũng chẳng có thần hộ giới. Quư vị thọ Tam Quy Ngũ Giới là hữu danh vô thực! Người thọ Tam Quy, khởi tâm động niệm tương ứng với giác, chánh, tịnh, tức là “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác” như tựa đề kinh Vô Lượng Thọ đă nói. Khởi tâm động niệm chẳng trái nghịch “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”, đạt được Tam Quy. Phật là giác, Pháp là chánh, Tăng là tịnh, giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ chẳng nhiễm, quư vị thật sự đạt được. Do vậy có ba mươi sáu vị thần hộ pháp. Đối với Ngũ Giới, quư vị có thể đắc một điều giới, sẽ có năm vị thần hộ giới, hai điều giới th́ sẽ có mười vị thần hộ giới. Ngũ Giới thảy đều trọn đủ, quư vị sẽ có hai mươi lăm vị thần hộ giới, linh quỷ nào dám dựa thân?

          Có các đồng học hiểu đạo lư này, cũng bị quỷ dựa thân, nhưng không dám nói. V́ sao? Lúng túng! Người khác vừa nghe nói quỷ dựa vào thân ta, chứng tỏ ta chẳng có thần hộ pháp, mà cũng chẳng có thần hộ giới. Do đó, quỷ thần có thể t́m được quư vị. Người ấy có cái tâm cảnh giác, được lắm, vậy th́ như thế nào? Nhất định là nghiêm túc học, nhất định phải học từ Đệ Tử Quy, từ kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo. Chẳng có cơ sở này sẽ rất khó! Do vậy, trong những năm qua, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh, nguyên nhân là ở chỗ này. Lui lại để thực hiện cơ sở tốt đẹp, mới là thật sự tiến bộ. Từ nay về sau, tiến bộ rất nhanh. Đó gọi là “lùi bước vốn là tiến về trước”. Cơ sở của quư vị chẳng tốt, chẳng có cơ sở, cứ hùng hục tiến về trước thế nào đi nữa, đến cuối cùng đều thất bại, chớ nên không biết Lư Sự này. Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng tới đây!

 

Tập 1528

         

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, đoạn lớn thứ sáu trong phần kệ tụng, xem từ bài kệ thứ mười hai.

 

          (Kinh) Nhược kiến hiểm đạo, đương nguyện chúng sanh, trụ chánh pháp giới, ly chư tội nạn.

          ()若見險道。當願眾生。住正法界。離諸罪難。

          (Kinh: Nếu thấy đường hiểm, nguyện cho chúng sanh, trụ chánh pháp giới, ĺa các tội nạn).

 

          Bài kệ này ư nói, trong các con đường, xác thực là có “hiểm đạo”, chúng ta nói là trên đường có nguy hiểm. Ở đây, cổ đức bảo chúng ta, nói thông thường th́ có hai loại, trong phần chú giải, Thanh Lương đă nói:

 

          (Sớ) Hiểm đạo hữu nhị, nhất đa tặc quỷ độc thú.

          ()險道有二,一多賊鬼毒獸

          (Sớ: Hiểm đạo có hai loại, một là có nhiều giặc, quỷ, thú độc).

 

          Đấy là một loại. Loại thứ hai là…

 

          (Sớ) Hiệp kính trở tuyệt.

          ()狹徑阻絕。

          (Sớ: Đường hẹp, trắc trở, đoạn tuyệt).

 

          Đấy là ở trên đường có thổ phỉ, có cường đạo, hoặc là có rắn độc, có mănh thú. “Tặc” () là đạo tặc, hoặc trên đường có những loài được gọi là quỷ quái. Hiện thời, trên đường sá vẫn có những chuyện giống như vậy, bất quá ít hơn xưa kia. Hơn nữa, hiện thời, chúng ta ngồi xe an toàn hơn xưa kia quá nhiều. Cơ bản là khi gặp rắn độc, mănh thú trên đường, đi xe th́ có thể ngăn ngừa được. Nếu gặp phải giặc cướp th́ vẫn rất phiền phức, chúng ta thường nói là t́nh huống trị an, tức là t́nh trạng trị an trong xă hội.

          Chuyện quỷ mị là thật sự có. Tôi nghĩ trong các đồng học chúng ta có lẽ là cũng có rất nhiều người cũng đă gặp. Đặc biệt là đường núi, đường nhỏ, đường quanh co khúc khuỷu, thường xảy ra tai nạn xe cộ. Hễ có tai nạn xe cộ, nhất định là có người tử vong. Chúng ta thường nói là kẻ bị chết v́ tai nạn xe cộ t́m người thế thân. Thật ra, dẫu ở ngoại quốc cũng chẳng thể tránh khỏi chuyện này. Người Hoa đă biết. Thuở trước, tôi ở Đài Loan, tại Đài Loan thường là chỗ nẩy sanh tai nạn xe cộ, thường lập một tấm bia, có cái bằng đá, mà cũng có cái bằng gỗ, viết danh hiệu của Phật, Bồ Tát, “nam-mô A Di Đà Phật”, “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát”, “nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát”, quư vị thường trông thấy, thấy chỗ lập bài vị bèn biết nơi ấy thường xảy ra tai nạn xe cộ.

          C̣n có những người tài xế nói với chúng tôi, đấy là lời nói chân thật, chẳng phải là đặt chuyện. Những người tài xế ấy rất thân thuộc đối với chúng tôi. Đặc biệt là vào buổi tối, buổi tối chạy xe trên con đường ấy, thường thấy giữa đường có người ngoắc tay. Thấy có người ngoắc, xe phải tránh họ. V́ đường rất hẹp, phía dưới là hố thẳm rất sâu, rất dễ xảy ra chuyện. Tài xế có kinh nghiệm, biết đấy chẳng phải là người, trực tiếp chạy xuyên qua thân họ, chẳng sao cả! Kẻ chẳng có kinh nghiệm, sẽ tránh họ. Hễ tránh họ, xe sẽ rơi xuống khe núi. Do vậy, đấy chẳng phải là người, mà là quỷ t́m kẻ thế thân! Những tài xế có kinh nghiệm bảo tôi, thật vậy, chẳng giả, họ chính mắt trông thấy. Hơn nữa, những người “đồng xa” (cùng ngồi trên xe) đều cùng trông thấy, chẳng phải chỉ có một ḿnh tài xế trông thấy. Rất nhiều năm trước kia ở Đài Loan, tôi đă từng gặp những chuyện ấy. Đó là “hiểm đạo”. Đối với hiểm đạo, phải đặc biệt cẩn thận, v́ trước kia đi đường chẳng phải là ngồi xe. Hiện thời, đúng là xe có tác dụng bảo vệ; trước kia, tối đa là quư vị ngồi kiệu, cưỡi ngựa, đi bộ, cho nên những con đường nguy hiểm khá nhiều!

          Một loại khác là “hiệp kính” (狹徑, đường hẹp), “kính” () là con đường rất hẹp. Khe núi, hai bên là núi lớn. Núi ấy hết sức chênh vênh, do vậy, h́nh thành sơn cốc, bên trong đúng là đường ruột dê nhỏ bé, rất khó đi. Có lúc đường bị sụt lở, con đường ấy bị đứt đoạn. Có thể đứt đoạn mấy mét, có thể đứt đoạn mấy chục mét, rất khó đi, có thể gặp phải trạng huống này. Thường là người thích đi đây đó sẽ gặp phải, nhất là [những chỗ] núi non nổi tiếng, sông lớn. Tuy hiện thời đường sá mở mang tiến bộ hơn trước rất nhiều, thậm chí rất nhiều nơi có xe cáp treo, tại Trung Hoa gọi [đường cáp treo] là “sách đạo” (索道), xác thực là an toàn khá nhiều; nhưng thật sự muốn du ngoạn ngắm cảnh th́ vẫn phải đi bộ. Bởi lẽ, ngoạn cảnh danh thắng mà ngồi trên xe sẽ không thấy ǵ, tốc độ quá nhanh! Khi thật sự du ngoạn, du sơn ngoạn thủy, nhất định phải đi bộ. Đi bộ sẽ gặp phải những t́nh trạng giống như trong kinh đă nói, nói chung phải chú tâm cẩn thận.

          Năm trước, tôi có dịp cùng mấy vị đạo hữu đến chơi Hoàng Sơn. Cái phông nền hiện thời [trong pḥng thâu h́nh này] chính là Hoàng Sơn, dường như bức ảnh này là do tôi chụp. Nhưng chúng tôi ngồi xe đến chân núi, sau đấy, đi xe cáp, ngồi xe cáp lên đỉnh núi, tiết kiệm rất nhiều thời gian. Thời gian chúng tôi du ngoạn rất ngắn, ở trên núi dùng cơm trưa, buổi chiều trở về. Do vậy, thật sự muốn đến ngoạn cảnh nơi ấy, tối thiểu là phải mất hai tuần, ở trên núi hai tuần. Mỗi ngày tản bộ, quư vị mới có thể thấy cảnh sắc trong núi biến đổi. Chúng tôi rất mong đến ngoạn cảnh, nhưng chẳng có thời gian dài như thế, xác thực là đáng để ngắm. Hoàng Sơn là một quả núi danh tiếng tại Trung Hoa, rất đáng đến xem, phong cảnh bốn mùa khác nhau. Dưới chân núi là Hoàn Nam Huy Thương Cố Cư (vùng cư trụ cũ của các thương nhân Huy Châu[4] ở phía Nam đất Hoàn), c̣n giữ được nền văn hóa xứ Huy của Hoàn Nam, cũng rất đáng để xem. Điều hết sức đáng tiếc là những thôn văn hóa, những thôn trang cổ lỗ chẳng được tu bổ đă lâu, chúng tôi trông thấy rất khó chịu. Nghe nói có mấy chục cựu thôn trang đă hơn ba trăm năm như thế, c̣n giữ được mười mấy thôn trang, tôi chỉ đến xem hai thôn.

          Những điều được nói trong kinh nhằm biểu thị pháp. Hai thứ hiểm đạo được nói theo sự biểu thị pháp, loại thứ nhất là:

 

          (Sớ) Sơ, hoặc nghiệp tội khổ, phàm phu chi hiểm đạo dă.

          ()初惑業罪苦,凡夫之險道也。

          (Sớ: Thứ nhất là hoặc nghiệp, tội khổ, đấy là đường hiểm của phàm phu).

 

          Loại thứ hai sau đó là “hiệp kính trở tuyệt” (đường hẹp, trắc trở, đoạn tuyệt), biểu thị:

 

          (Sớ) Tự điều trệ tịch, Nhị Thừa chi hiểm đạo dă, giai vi nạn xứ.

          ()自調滯寂,二乘之險道也,皆為難處

          (Sớ: Trầm trệ, ngưng lặng nơi sự tự điều phục chính là đường hiểm của Nhị Thừa, đều là chỗ tai nạn).

         

          Trước hết, chúng ta nói đến hiểm đạo của phàm phu. Loại thứ nhất là “hoặc nghiệp tội khổ”. Hoặc () là mê hoặc, do mê hoặc mà tạo nghiệp, “tội khổ” là thọ báo, là chịu báo. “Tội khổ” là nói ǵ vậy? Luân hồi trong lục đạo, đặc biệt là nói tới ba ác đạo. Đại Thừa Phật pháp thường nói, đặc biệt là trong xă hội hiện tiền, có thể nói mỗi bước đều là bẫy rập, mỗi bước đều là hố lửa. Trong có phiền năo, tức là các phiền năo tham, sân, si, mạn, ngoài có tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần dụ dỗ, mê hoặc, bị tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần dụ dỗ, mê hoặc. Từ vô thỉ kiếp đến nay, đă tích tập phiền năo rất nặng nề, chẳng biết những sự dụ dỗ mê hoặc đă tăng nhiều hơn trước bao nhiêu lần! Chắc chắn không chỉ là gấp mười lần hoặc trăm lần đâu nhé!

          Đối với các đồng học tại Hương Cảng, lần đầu tiên tôi đến Hương Cảng giảng kinh là năm 1977, ba mươi năm trước. Ba mươi năm trước, sự dụ dỗ, mê hoặc trong xă hội Hương Cảng chính là sự dụ hoặc thông thường trong các đại đô thị thuở ấy; sức dụ dỗ mê hoặc hết sức to lớn, mạnh mẽ. Hiện thời là Hương Cảng ba mươi năm sau, quư vị ngẫm xem, [sức mạnh ấy] đă tăng trưởng hơn trước bao nhiêu lần? Có thể tu hành trong hoàn cảnh này hay chăng? Vào thời chiến tranh giải phóng[5], lăo ḥa thượng Hư Vân đă từng đến Hương Cảng, các đồng tu Hương Cảng rất khó có, đă lập cho Ngài một đạo tràng nhỏ (tinh xá), tôi có đến thăm, hoàn cảnh rất u tĩnh. Các đồng tu Hương Cảng thuở ấy hy vọng ḥa thượng Hư Vân sẽ ở Hương Cảng lâu dài để hoằng pháp. Lăo ḥa thượng nh́n hoàn cảnh Hương Cảng, bảo mọi người: “Chỗ này chẳng thể tu hành! Tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần dụ dỗ, mê hoặc nghiêm trọng, có người tu hành nào ở nơi đây mà có thể chẳng động tâm?” Do vậy, đến cuối cùng, Ngài ở một tháng rồi vẫn quay về Trung Hoa [Lục Địa]. Có lư, chẳng phải là vô lư!

          Tu hành ở nơi đây mà có thể chẳng bị ô nhiễm, thưa cùng chư vị, đó là công phu chân thật, thật sự buông xuống, thật sự giác ngộ, đă hiểu rơ. Công phu chẳng đến nơi đến chốn, ở trong hoàn cảnh này, quư vị cũng rất khó thành tựu. Nói theo phía người tu hành c̣n là phàm phu, chẳng có thành tựu, hoàn cảnh này là hiểm đạo. Không chống nổi sự dụ dỗ, mê hoặc, quư vị bị mê hoặc. Hễ mê hoặc, nhất định sẽ dấy lên tham, sân, si. “Hoặc” là si, quyết định sẽ dấy động tham, sân, nghi, mạn. Nói cách khác, trong hoàn cảnh này, hằng ngày quư vị sanh phiền năo, chẳng phải là sanh trí huệ, mỗi ngày một đi xuống, chẳng phải là tăng tấn cao hơn, quư vị bị đọa lạc. V́ thế, đạo tràng của các vị cổ đại đức thường được dựng trong chốn núi rừng!          

          Chẳng phải là Hương Cảng không có đạo tràng, có chứ! Đại Dự Sơn có đến mấy đạo tràng. Trước kia, chưa mở xa lộ, phải đi bộ vào đó. Con đường ấy rất dài, cũng là đường nhỏ. V́ sao? Chẳng để cho quư vị quá thuận tiện! Hiện thời, Đại Dự Sơn đă mở xa lộ. Ba mươi năm trước, khi tôi đến đó, có thể lái xe, nhưng đường rất hẹp, thật sự là hiểm đạo. Người lái xe rất giỏi ở Hương Cảng đến Đại Dự Sơn chẳng dám lái xe. Đường quá hẹp, quá hiểm, núi rất cao, đường sá ngoằn ngoèo, rất khó đi. Những tài xế rất kinh nghiệm ở trên núi, thường lái trên những con đường này, đă quen thuộc, lái xe rất cẩn thận.

          Năm 1977, pháp sư Thánh Nhất mời tôi đến thăm chùa Bảo Lâm của Ngài. Chúng tôi ngồi xe đến chùa Bảo Liên. Từ chùa Bảo Liên đến chùa Bảo Lâm, xe không chạy được. Đường nhỏ, [thuộc loại] đường hẹp ruột dê, phải đi bộ mất nửa tiếng, xe chẳng chạy được, như vậy đó! Khi ấy, tôi rất bội phục pháp sư Thánh Nhất, Ngài chẳng sửa đường. Du khách thông thường nghe nói phải đi bộ nửa tiếng đồng hồ sẽ chẳng muốn đến. Du khách ít đến, quư vị mới có thể đạt được thanh tịnh. V́ thế, thuở ấy ở nơi đó tham Thiền, chùa có Thiền Đường, c̣n có hơn bốn mươi người hằng ngày tọa hương trong Thiền Đường, khó có một đạo tràng tốt đẹp dường ấy. Chúng tôi trông thấy hết sức hoan hỷ!

          Đạo tràng trước kia đều được tạo dựng trong chốn núi thẳm. Thường là từ con đường dưới chân núi lên đến chùa phải đi mất ba ngày. Trên đường, có những lều tranh nhỏ để quư vị nghỉ ngơi, giống như từng trạm một. V́ thế, người xuất gia xa ĺa, không chỉ là đô thị, mà ngay cả thôn trang cũng xa ĺa, nhà Phật gọi [những chốn tu hành ấy] là A Lan Nhă. A Lan Nhă (Araṇya) là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Tịch Tĩnh Xứ. Nơi ấy thanh tĩnh (清靜, thanh tịnh, vắng lặng), tiêu chuẩn là chẳng nghe tiếng trâu kêu. Tiếng trâu kêu ở nông thôn rất lớn, ở nơi này chẳng nghe thấy. Nói cách khác, cách xa nông thôn tối thiểu là ba dặm trở lên, chẳng nghe thấy tiếng trâu kêu. Đấy là v́ lẽ nào? Nói theo cách hiện thời, sẽ là “hoàn bảo” (環保), tức là bảo vệ hoàn cảnh, bảo vệ cái tâm thanh tịnh của người tu đạo, bảo vệ người tu đạo chẳng ô nhiễm. Những người tu đạo là phàm phu. Nay chúng ta thấy những đạo tràng thời cổ, hiện thời đều xây dựng xa lộ, xe có thể lái đến tận cửa chùa, lái đến trước chánh điện, rất thuận tiện. Du khách liên miên chẳng ngớt. V́ thế, hiện thời đều biến thành ǵ? Là chỗ du lịch ngắm cảnh nổi tiếng, chư vị phải nhớ nhé: Chẳng phải là đạo tràng thanh tịnh để tu hành. Đạo tràng cả trăm, cả ngàn năm, ai mà chẳng mong đến thăm? Đấy là cổ tích của văn hóa Trung Hoa, đặc biệt là những khách du lịch từ nước ngoài đều mong viếng thăm. Chẳng thể phê phán nặng nề chuyện này được!

          Tôi nhớ lần đầu tiên trở về Trung Hoa, dường như là vào năm một ngàn chín trăm tám mươi mấy, ở Bắc Kinh, có đến thăm cụ Triệu Phác Sơ. Chúng tôi là đồng hương, cho nên hết sức thân thiết. Lần đầu tiên gặp mặt, chúng tôi tṛ chuyện hết bốn tiếng đồng hồ. Cụ mời tôi dùng cơm. Khi ấy, tôi bèn thưa với lăo nhân gia: Những đạo tràng ấy thôi th́ hăy mở rộng cho du lịch ngắm cảnh. Trong du lịch, phải chú trọng cơ hội giáo dục. Nhân viên tiếp đăi sẽ giới thiệu Phật pháp với khách viếng thăm, hướng dẫn viên du lịch cũng phải được tập trung huấn luyện, giảng giải cho họ những điều thường thức về Phật pháp để họ cũng có thể giới thiệu [Phật pháp với du khách]. Người thật sự tu hành, do hiện thời phương tiện giao thông thuận tiện, chẳng như xưa kia, hăy chọn nơi khác để dựng đạo tràng tu hành. Đạo tràng tu hành trong hiện thời không cần xây dựng pḥng ốc theo kiểu cung điện. Chẳng cần thiết! Đấy là kiến trúc thời cổ. Đạo tràng hiện thời phải nên xây dựng như thế nào? Xây dựng theo h́nh thức các trường học trong hiện thời! Khi đó, tôi ở Mỹ, các viện đại học tại Mỹ đă ban cho tôi một sự khải thị rất lớn. Mười tông phái Phật giáo chỉ cần lập mười đạo tràng là đủ rồi, thành lập mười viện đại học như vậy. Đạo tràng chia thành hai bộ môn, một là Giải Môn, hai là Hạnh Môn. Giải Môn th́ gọi là Học Viện. Thiền Tông th́ là Thiền Học Viện. Hạnh môn th́ có thể dùng danh xưng Học Hội, Thiền Học Hội. Tịnh Độ Tông chúng ta sẽ là Tịnh Tông Học Hội, trong ấy là đạo tràng tu hành. Tịnh Tông Học Viện là đạo tràng giáo học của Tịnh Độ Tông. Mười tông phái, mỗi tông phái đều chia thành hai bộ môn như vậy, hai môn Giải và Hạnh. Như Hoa Nghiêm, [sẽ là] Hoa Nghiêm Học Hội, chúng ta thấy Học Hội bèn biết đấy là đạo tràng tu hành. Hoa Nghiêm Học Viện là đạo tràng giáo học. [Tông Thiên Thai th́ là] Thiên Thai Học Viện và Thiên Thai Học Hội. Cụ Triệu Phác Sơ nghe nói như vậy, hết sức hoan hỷ, cụ bảo: “Chủ ư ấy khá lắm! Nếu thật sự làm như vậy, chúng ta sẽ khiến cho Phật giáo hưng vượng”.

          Tất cả những đạo tràng từ mấy trăm năm trở lên thảy đều mở cửa cho du lịch, ngắm cảnh. Nhất định phải xây dựng đạo tràng mới, cái mới th́ hoàn toàn theo h́nh thức trường học, [bao gồm] hai môn Giải và Hạnh. Tứ chúng tại gia và xuất gia đều có thể thu lưu. Chọn lựa một chỗ tốt đẹp, dần dần h́nh thành một thành phố văn hóa mới. Từ văn hóa thôn trở thành văn hóa trấn, đến cuối cùng, nhất định h́nh thành giống như một thành phố đại học. Tôi tŕnh bày cách nghĩ ấy với cụ, cụ rất hoan hỷ. Hết sức đáng tiếc, cụ Triệu tuổi đă quá cao, thật sự là tâm có thừa, nhưng sức chẳng đủ! Chúng tôi vẫn hy vọng trong tương lai sẽ đi theo đường lối này. Nhất là xă hội hiện thời cởi mở, cả thế giới trở thành một địa cầu thôn, sự giao tiếp giữa con người rất mật thiết. Nếu muốn thật sự hóa giải xung đột, xúc tiến an định, ḥa b́nh, sự giao du giữa con người với nhau chính là một mắt xích quan trọng nhất. Con người giao du, qua lại với nhau. Giống như trong tôn giáo, Phật giáo Trung Hoa có mười đại đạo tràng, quan sát, học tập văn hóa Phật giáo, có chỗ để cho người ta đến xem, có những thứ cho người ta học tập. Đó là đúng!

          Trước mắt, chúng ta đang ở trong hoàn cảnh đúng là hiểm đạo. “Hiểm đạo” có nghĩa là đạo tràng chẳng dạy chúng ta giảm thiểu tham, sân, si, tăng trưởng Giới, Định, Huệ. Chư vị đồng học, quư vị thấy ở chỗ nào có một đạo tràng như vậy? Nó thật sự giúp quư vị dứt diệt tham, sân, si, tăng trưởng Giới, Định, Huệ. Đấy là đạo tràng thật sự, đúng là hữu tu, hữu học, chúng ta chớ nên không biết. Đối với đạo tràng Hạnh Môn, trong đạo tràng c̣n có một chuyện mà chúng ta chớ nên không biết: Nhất định là “thâm nhập một môn, huân tu lâu dài” th́ mới có thể thành công. Trụ trong đạo tràng, tâm là định. Cái tâm nhấp nhổm, hời hợt th́ Phật, Bồ Tát đều chẳng giúp đỡ được. Tâm nhất định phải định, phải thanh tịnh. Cổ nhân nói: “Thân an tắc đạo long” (Thân yên ổn, đạo sẽ hưng thịnh), hoàn cảnh cư trụ phải an tĩnh, dẫu sơ sài, quê kệch, chẳng sao cả, [chỉ cần] chỉnh tề, sạch sẽ, nhà tranh cũng rất tốt. Thật sự dựng một túp lều nhỏ đă là rất tốt, ngăn nắp, sạch sẽ, thuận tiện thanh tu!

          Nghiên cứu giáo, đương nhiên là có một loại trường học với quy mô lớn th́ tốt lắm, nhưng tại Trung Hoa chẳng có. Năm trước, tôi sang thăm Ai Cập, có đến thăm một đại học Hồi giáo. Đại học ấy đă có hơn một ngàn năm lịch sử, rất có địa vị và danh tiếng trên thế giới, tôi thấy vậy rất cảm động. Phật giáo chẳng có một đại học Phật giáo, chẳng có một Phật học viện nào đă có hơn một ngàn năm lịch sử, chẳng có! Đấy là một chuyện rất đáng tiếc. Trước kia, giáo học và tu hành trong Phật giáo đều ở trong chùa chiền. Nói thật ra, chùa chiền là trường học. Vị ḥa thượng Thủ Tọa phụ trách giáo học. Giảng kinh, thuyết pháp, bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp là chuyện của Ngài. Các vị đường chủ của các đường suất lănh đại chúng tu hành, Thiền Đường, Niệm Phật Đường cũng rất có quy mô, nhưng so với học hiệu của người ta, học hiệu xác thực là một chế độ tốt đẹp. Ưu điểm của người khác vẫn rất nhiều, những chỗ đáng cho chúng ta học tập chẳng ít!

          Trong hoàn cảnh hiện tiền, chúng ta phải biết làm như thế nào để có thể tránh khỏi tai nạn trong hiểm đạo? Vậy th́ quư vị nhất định phải biết khắc chế chính ḿnh. Trong các buổi giảng, chúng tôi thường nói: Đối với ư niệm ích kỷ, tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn, hăy thời thời khắc khắc kiểm điểm, phản tỉnh, phải buông chúng xuống! Trong cuộc sống hằng ngày, niệm niệm chẳng trái nghịch giáo huấn của đức Phật, mà hạnh nào cũng chẳng ĺa khỏi những quy củ do cổ thánh tiên hiền lưu lại. Chúng ta học từ chỗ nào? Phải học từ Đệ Tử Quy. Quư vị có thể làm được một trăm mười ba chuyện trong Đệ Tử Quy, quư vị sẽ có công cụ để pḥng thân trong hiểm đạo. Sau đấy, lại tiến thêm bước nữa là thực hiện Thập Thiện Nghiệp Đạo. Đạo tặc, quỷ mị, độc xà, mănh thú trên con đường ấy đều chẳng dám xâm phạm quư vị, quư vị sẽ có thể “lư hiểm như di” (履險如夷,đi trong đường hiểm mà thong dong), an toàn vượt qua hiểm đạo. Quư vị chẳng có hai bản lănh pḥng thân ấy, rất có thể là hễ tiến vào, sẽ chẳng thoát ra được, sẽ bị hại. Tiến vào mà chẳng thoát ra được, quư vị sẽ bị đọa trong tam đồ. Ai chịu nghiêm túc học tập Đệ Tử Quy, nghiêm túc học tập Thập Thiện Nghiệp? Có chứ! Ai vậy? Người thiện căn sâu dầy, người có thiện căn, có phước đức, chúng ta thường nói là “người có phước, có huệ”. Có huệ là có thiện căn, có phước đức th́ người ấy chịu tu, chịu sốt sắng tu tập. Nói cách khác, chẳng thể nghiêm túc học tập, chẳng thể thực hiện, nguyên nhân là ǵ? Thiện căn phước đức quá mỏng, cũng có thể nói là chẳng chống nổi sự dụ dỗ, mê hoặc bên ngoài, thiện căn phước đức mỏng tanh!

          V́ thế, trong kinh Tiểu Thừa, đức Thế Tôn đă dạy chúng ta: Để học đạo th́ phải có điều kiện đầu tiên là cầu minh sư truyền giới. Đấy là điều kiện thứ nhất. “Minh” chẳng phải là tiếng tăm to lớn, mà là minh trong quang minh, minh sư! Vị thầy ấy hữu tu, hữu chứng, quư vị theo vị ấy sẽ chẳng bị sai lầm. Tuy nói như thế, chỉ sợ rằng trong hiện thời, rất khó t́m được một vị thầy hữu tu hữu chứng. Trong quá khứ, thầy Lư đă dạy chúng tôi, t́m không thấy th́ bất đắc dĩ, t́m một vị kém hơn. Phải t́m một vị nào? Một vị thầy có hạnh, có giải, hạnh giải tương ứng! Tuy thầy chẳng chứng, nhưng thầy thật sự chịu tu, hiếu học, thông hiểu, lại c̣n nghiêm túc hành tŕ. Trong hiện thời, cũng rất khó kiếm được một vị thầy như vậy. Có chứ! Chẳng phải là không có, đương nhiên là chẳng nhiều lắm. Nếu thật sự t́m chẳng thấy, thầy Lư bảo chúng tôi, hăy c̣n có cách, t́m cổ nhân! V́ thế, lăo nhân gia thường khuyên tôi lấy Ấn Quang đại sư làm thầy, học tập theo lăo nhân gia. Ấn Quang đại sư chẳng c̣n [tại thế], Văn Sao hăy c̣n, cương lănh chỉ đạo của đại sư hăy c̣n. Hăy nắm lấy cương lănh, học tập từ Văn Sao. Thật sự [hành tŕ như vậy], sẽ là học tṛ tốt nhất của Ấn Quang đại sư, há có lẽ nào chẳng thành tựu? Quư vị có mong bái Ngài làm thầy hay không? Có mong học tập Ngài hay không?

          Tổng cương lănh để tự hành, hóa độ người khác trong cả một đời lăo nhân gia là bốn câu: “Đôn luân tận phận, nhàn tà tồn thành, tín nguyện tŕ danh, cầu sanh Tịnh Độ” (Giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, ngăn chặn tà vạy, giữ ǵn ḷng thành, tín nguyện tŕ danh, cầu sanh Tịnh Độ), đúng là rất giống với sự hành tŕ của Đại Thế Chí Bồ Tát. V́ thế, có người nói Ngài là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai, tôi tin tưởng [chuyện này]. Quư vị thấy tấm ḷng của lăo nhân gia, nh́n vào hạnh nguyện cả đời của lăo nhân gia, hết sức gần với Đại Thế Chí Bồ Tát, chúng ta phải hiểu điều này. Thực hiện “giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận” th́ phải làm như thế nào? Thưa cùng chư vị, chính là Đệ Tử Quy. “Giảm thiểu tà vạy, giữ ǵn ḷng thành” chính là Thập Thiện Nghiệp Đạo. Quư vị có cơ sở này, sau đấy, tín nguyện tŕ danh; đấy là ba tư lương của Tịnh Tông, tức Tín, Nguyện, Hạnh, cầu sanh Tịnh Độ, chẳng có một ai không văng sanh. Do vậy, các đồng tu niệm Phật phải hiểu, nếu chẳng có hai câu trước, quư vị chỉ có “tín nguyện tŕ danh, niệm Phật cầu sanh” trong phần sau, sẽ chẳng đáng trông cậy, không nhất định là sẽ có thể văng sanh. Hai câu trước là cơ sở; từ cơ sở ấy, quư vị phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ th́ mới có thể thành tựu. Giáo dục cơ sở quan trọng hơn bất cứ điều ǵ khác! Hy vọng các đồng học trong một đời này thật sự mong thành tựu, quyết định chớ nên sơ sót sự giáo dục cơ sở do thánh nhân đă trao cho chúng ta. Đấy là nói về phàm phu.

          Phàm phu mong thành tựu chẳng phải là không thể thành tựu. Đấy là như Thiện Đạo đại sư đă nói rất hay, có thể thành tựu hay không, thành tựu cao hay thấp, “nói chung là do gặp duyên khác nhau”. Nếu có một đạo tràng tốt đẹp, quyết định chớ nên khinh thường, bỏ qua. Hễ bỏ qua, quư vị sẽ đến đâu để học? Thế nào là đạo tràng đúng pháp? “Thâm nhập một môn, huân tu lâu dài”; đấy là đúng pháp. Thuở tôi c̣n trẻ mới học Phật lúc hai mươi mấy tuổi, sau khi vừa được tiếp xúc Phật pháp, thân cận thầy Lư, ở dưới ṭa thầy Lư mười năm. Tôi nhận biết thầy Lư lúc ba mươi mốt tuổi. Đấy là một đạo tràng đúng pháp. Về Giáo, tuy thầy Lư giảng rất nhiều kinh luận, nhưng bộ kinh luận nào cũng đều kết quy Tịnh Độ, rất khó có! Đến cuối cùng đều kết quy Tịnh Độ, khiến cho quư vị biết một phương hướng, một mục tiêu.

          Tôi đă kể với các đồng học: Khá nhiều pháp sư, đại đức, cư sĩ, hễ đến Đài Trung, nhất định sẽ đến thăm Đài Trung Liên Xă và Từ Quang Đồ Thư Quán, thầy nhất định tiếp đăi họ. Tôi thấy thầy chuẩn bị lễ vật, chuẩn bị mời họ dùng cơm, cơm chay cũng do thầy đích thân nấu, nhưng chưa bao giờ thỉnh họ khai thị, chẳng mời người ta giảng kinh. Tôi mới đến, thấy t́nh h́nh ấy vài lượt, trong tâm rất hoang mang, sao chẳng để cho chúng tôi nghe những vị đại đức ấy [giảng giải]? Về sau, thầy nh́n ra ư niệm, thấy được tâm tư của chúng tôi, bèn đặc biệt dạy chúng tôi. Thầy nói chẳng phải là không thỉnh, cùng là người niệm Phật, nhưng mỗi cá nhân có tư tưởng và quan niệm khác nhau. Mời họ đến giảng, nếu họ nói pháp môn của họ hay, pháp môn này của chúng ta chẳng bằng họ. Nếu là niệm Phật, phương pháp của họ hay, phương pháp của chúng ta không bằng họ. Nhiều đồng tu chúng ta đă theo thầy mười mấy năm, sau khi nghe lời ấy, trong tâm dao động, quư vị nói xem phải làm như thế nào? Phải tốn bao nhiêu thời gian, bao nhiêu tinh lực th́ mới có thể khôi phục nguyên trạng cho mọi người? Khi ấy, tôi mới hiểu rơ, nghĩ cổ nhân đă nói, “ninh động thiên giang thủy, bất động đạo nhân tâm” (thà động nước ngàn sông, chẳng động tâm người tu hành). Tôi hiểu đạo lư này!        

          Thật sự là bậc hành gia, bậc nội hành chẳng nhiều lắm. Bậc nội hành th́ quư vị nhất định phải thỉnh vị ấy. V́ sao? Chắc chắn sẽ có lợi cho đạo tràng của chúng ta. Bậc nội hành sẽ nói ǵ? Chắc chắn là vị ấy không nói về [pháp tu, cách hành tŕ của] chính ḿnh. Vị ấy hễ nói với chúng ta, nhất định sẽ tán thán đạo tràng, tán thán pháp môn, tán thán thầy, tán thán đồng học, khiến cho đồng học có tín tâm đối với đạo tràng, có tín tâm đối với pháp môn này, có tín tâm đối với thầy. Đó là đúng. Đấy là bậc nội hành. Vị ấy đến chỗ này giúp quư vị hoằng pháp lợi sanh, khiến cho tín tâm của tín đồ và học tṛ của quư vị được kiên cố. Đấy là bậc nội hành. Bậc nội hành thật sự chẳng nhiều! Kẻ ngoại hành (kẻ thực hành, hiểu biết lơ mơ bề ngoài) sẽ luôn tán thán pháp môn của chính ḿnh. Hoặc là tuy chẳng hủy báng, nói chung, sẽ luôn đề cao pháp môn của chính ḿnh là tốt đẹp, [cho rằng] những pháp môn khác đều chẳng sánh bằng, đều kém cỏi hơn, khiến cho mọi người nghe xong, trong tâm dấy lên ngờ vực, như vậy sai mất rồi! Nếu thầy Lư không giảng những đạo lư đó rơ ràng ngần ấy, chúng tôi chẳng biết, chẳng nghĩ đến. [Nếu không hiểu, sẽ cứ nghĩ] “nghe nhiều, chẳng tốt hơn ư?” Mới hiểu là thật sự có khuyết điểm. Có người nghe xong, đúng là ư niệm bị xoay chuyển, đi vào ngơ rẽ, đi vào ngơ quanh quẹo, đúng là hiểm đạo. À! Đă hết thời gian rồi, chúng ta nghỉ ngơi mấy phút!

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Chúng ta đọc trước bài kệ này một lượt.

 

          (Kinh) Nhược kiến hiểm đạo, đương nguyện chúng sanh, trụ chánh pháp giới, ly chư tội nạn.

          ()若見險道。當願眾生。住正法界。離諸罪難。

          (Kinh: Nếu thấy đường hiểm, nguyện cho chúng sanh, trụ chánh pháp giới, ĺa các tội nạn).

 

          Trong phần trước, chúng tôi đă nói đến hiểm đạo của phàm phu. Nói thật ra, hiểm đạo quá nhiều, chớ nên không biết tránh né, ắt cần phải hiểu rơ. Cổ nhân thường nói: “[Mười chuyện trên cơi đời th́ thường là] hết tám chín chuyện chẳng như ư”. Trong một đời này, bất luận tại gia hay xuất gia, bất luận theo đuổi nghề nghiệp nào, nếu suốt đời b́nh ổn, thuận buồm xuôi gió, đó là phước báo to cỡ nào? Mấy ai có thể đạt được? Từ xưa tới nay, người có phước báo như vậy quá ít. Chẳng phải là không có, mà là quá hiếm có! Vậy th́ quư vị sẽ hỏi: “Cớ sao có cát, hung, họa, phước?” Trong kinh luận, đức Phật đă dạy rất rơ ràng, “nhân quả ba đời”. Đúng như câu nói: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị” (Muốn biết cái nhân trong đời trước, những ǵ hứng chịu trong đời này chính là nó. Muốn biết cái quả trong đời vị lai, những ǵ đă làm trong đời này chính là nó). Lời này đă nói rất rơ ràng, rất minh bạch. Những ǵ ta đă tạo trong đời quá khứ là nghiệp nhân của đời này. Ta tạo tác điều thiện, đời này sẽ có nhiều thuận cảnh, nghịch cảnh ít đi. Nếu trong đời quá khứ tạo nhiều ác nghiệp, đời này nhất định là ta làm bất cứ chuyện ǵ, sẽ có nhiều chướng ngại, khó khăn, thuận cảnh ít ỏi. Tự làm, tự chịu, chẳng thể oán trời hờn người. Hễ oán trời, hờn người, quư vị đă sai mất rồi, chớ nên không biết điều này! Phải nghĩ đến đời sau. Nếu ta nghĩ đến đời sau, mong có quả báo thù thắng, có thể tốt đẹp hơn đời này, vậy th́ quư vị phải biết: Nhất định phải tạo thiện nhân. Do thiện nhân mới cảm thiện quả, ác nhân nhất định sẽ cảm ác đạo. Trong đời này, có thể biết đoạn ác, tu thiện, quả báo trong đời sau nhất định thù thắng.

          Trong đời này, gặp kẻ oan uổng, hủy báng, hăm hại ta, phải biết thảy đều là do có cái nhân từ đời trước, biết đấy là nhân quả báo ứng, cái tâm của chúng ta sẽ b́nh lặng. Đă hứng chịu những nỗi khinh nhục, thậm chí hăm hại, tâm vẫn tĩnh lặng, chẳng oán trời, chẳng hờn người. “Chẳng hờn người” là không trách móc kẻ khác, mà là tự trách chính ḿnh trong quá khứ chẳng tu tốt đẹp, lẽ đâu có thể trách móc kẻ khác? Trong đời này, hăy tuân giữ giáo huấn của đức Phật, “bất niệm cựu ác, bất tắng ác nhân” (chẳng nghĩ điều ác cũ, chẳng ghét kẻ ác). Trong quá khứ, kẻ đó đối xử với ta chẳng tốt ra sao, đều chớ nên ghim trong ḷng. Kẻ ấy làm bao nhiêu chuyện xấu, cũng chớ nên sân hận hắn, cũng chớ nên kể tội hắn, mà cũng chẳng cần chỉ trích hắn. Thấy hắn có thiện sự bèn tán thán. Ai nấy đều có lương tâm, [do nhận thấy] làm một chút chuyện tốt, người ta sẽ tán thán, làm bao nhiêu chuyện xấu, người ta có thể bao dung chẳng nhắc tới, cái tâm hổ thẹn [của kẻ ấy] sẽ sanh khởi. Đấy là phương pháp tốt nhất để giúp cho kẻ ấy quay đầu, giúp kẻ ấy sửa lỗi đổi mới. Kẻ ấy có lầm lỗi, quư vị hằng ngày chửi bới, hằng ngày chỉ trích, trong tâm kẻ ấy chẳng phục, chẳng thể tiếp nhận. Nếu kẻ ấy có tâm lư phản kháng, sẽ làm chuyện tệ hại hơn, quư vị thu được hiệu quả trái ngược, [lại c̣n] kết oán với người khác, sai mất rồi! “Oan gia hăy nên cởi gỡ, đừng trói buộc”. Kẻ ấy thắt buộc với ta, muốn thắt hai sợi dây lại, đối phương phải hợp tác. Đối phương chẳng hợp tác, quư vị thắt gút kiểu nào cũng đều chẳng thắt được! Phải hiểu đạo lư này! Người ta muốn kết oán với ta, ta không kết oán với họ, sẽ chẳng kết được, chắc chắn là chẳng kết được! Do vậy, phải học tâm b́nh khí ḥa, phải hiểu rơ lư, phải biết chân tướng của vũ trụ và nhân sinh. Đấy là chỗ then chốt cơ sở nhất. Sau khi đă thật sự hiểu rơ, quư vị sẽ tâm khai ư giải.

          Do vậy, quan trọng nhất vẫn là phải đọc sách. Đọc sách của cổ thánh tiên hiền, đọc kinh Phật, quư vị thảy đều có thể hiểu rơ ràng, hiểu minh bạch những đạo lư này. Sau đấy, trong một đời này, biết rành mạch phương hướng và mục tiêu, nhất định có thể làm được, giống như đi đường, ta nhất định đạt tới chỗ đích đến. Chỗ chúng ta nhắm đến chính là thế giới Cực Lạc. Mọi người đều mong về thế giới Cực Lạc, quư vị có đi lạc đường hay không? Rất khó nói! Con đường của quư vị có thật sự thông sang thế giới Cực Lạc hay không? Đấy là đại học vấn, chẳng phải là chuyện đơn giản! Trong phần trước đă nói, nếu chúng ta theo Ấn Quang đại sư, chắc chắn sẽ chẳng sai, đi theo Liên Tŕ đại sư, đi theo Ngẫu Ích đại sư, chắc chắn sẽ đạt tới chỗ nhắm đến.

          “Đôn luân tận phận” (Giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận) trọng yếu lắm! V́ thế, Đệ Tử Quy và Thập Thiện Nghiệp Đạo là hai câu trước, tức “đôn luân tận phận, nhàn tà tồn thành”, câu sau là kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, câu trước là Đệ Tử Quy. Sau đấy mới trọn đủ “tín nguyện tŕ danh”, chân tín, nguyện thiết, tŕ danh niệm Phật. “Chân” () là ǵ? “Thiết” () là ǵ? Chẳng hoài nghi, không xen tạp, chẳng gián đoạn, đấy là tướng trạng của chân tín, thiết nguyện. Niệm nào trong tâm cũng đều có thế giới Cực Lạc, có A Di Đà Phật, lẽ đâu người ấy chẳng văng sanh? Dẫu ở trong hiểm đạo, chính ḿnh có năng lực tự bảo vệ chính ḿnh. Thập Thiện Nghiệp Đạo và Đệ Tử Quy là hai thứ bảo vệ, bên ngoài lại cảm Phật, Bồ Tát hộ niệm, long thiên, thiện thần giúp đỡ, sẽ b́nh an vượt qua hiểm đạo. Quyết định phải hiểu đạo lư này!

          Trong Tăng Thượng Duyên, quư vị phải nhận biết đạo tràng. Đạo tràng này thật sự đúng pháp, như lư, như pháp, chúng ta thâm nhập một môn, huân tu lâu dài. Do vậy, quư vị sẽ thành tựu trong một đạo tràng ngay trong một đời. Nếu quư vị thường đi tới các đạo tràng khắp nơi, sẽ khó khăn. V́ sao? Tâm loạn! Mỗi đạo tràng có đạo phong và học phong khác nhau, quư vị chỉ có thể chọn lựa một nơi tương ứng với chính ḿnh, có nguyện vọng giống như nguyện vọng của chính ḿnh. Đă chọn lựa một nơi, sẽ không thay đổi. Chọn lựa một vị thầy, chọn lựa một pháp môn, chọn lựa một đạo tràng, suốt đời chẳng thay đổi, chẳng có ai không thành công! Ắt cần phải biết: “Pháp môn b́nh đẳng, chẳng có cao thấp”. V́ sao đức Phật mở ra nhiều pháp môn ngần ấy? Nhằm thích ứng căn tánh bất đồng, đạo lư ở chỗ này! Căn tánh của chúng sanh khác nhau, hễ thích hợp căn tánh của họ, sẽ tu tập dễ dàng. Đấy là điều then chốt bậc nhất để chúng ta thành hay bại.

          Thuở ấy, khi tôi mới học Phật, thầy tôi đă buốt ḷng rát miệng ra rả giáo huấn: “Học Giáo quyết định chẳng thể học nhiều [thứ cùng một lúc], hễ nhiều sẽ như thế nào? Tham nhiều, nhai không nát! Vẫn là một môn”. Thầy c̣n bảo chúng tôi: “Một kinh thông, hết thảy các kinh đều thông, chỉ sợ các vị chẳng thông một kinh nào!” Thầy thường nhắc đi nhắc lại những lời ấy, khiến cho chúng tôi ghi khắc ấn tượng sâu đậm. Do vậy, phải nghiêm túc học một bộ kinh, học tập trong một thời gian dài. Tôi giảng kinh Lăng Nghiêm, trước sau đă giảng bảy lần. Giảng kinh Vô Lượng Thọ, giảng mười một lần. Giảng kinh Di Đà cũng giảng rất nhiều lần, nhất định phải hiểu “thâm nhập một môn”.

          Tuy là thâm nhập một môn, hiện thời, tôi cũng nghe nói có đồng học rất phát tâm, giảng kinh Vô Lượng Thọ mấy chục lần, giảng hơn một trăm lần. Khi đó, sợ nhất là đi vào đường tà. “Tà” là như thế nào? Thâm nhập một môn, sẽ giảng khá lắm, tất nhiên là có kẻ tán thán, có người cúng dường. Hễ được tán thán, cúng dường, tâm tham dấy lên, Hoặc nghiệp dấy lên, quư vị sẽ mê hoặc, vậy là hỏng rồi! Do vậy, bất cứ điều ǵ vốn thuộc về chánh đạo, hễ dấy động ư niệm danh lợi, dấy động ư niệm si mê, sẽ lập tức đọa lạc, vậy là quá đáng tiếc! V́ thế, thâm nhập một môn là một chuyện; sau khi đă thâm nhập, nếu quư vị chẳng biết “thấy thấu suốt, buông xuống”, dẫu thâm nhập cũng là hiểm đạo, dẫn dắt quư vị tiến vào hiểm đạo, khiến cho quư vị sanh khởi tham danh, tham lợi, tham cầu cúng dường, hỏng mất rồi! Kết quả là ǵ? Coi Phật pháp như chuyện kinh doanh buôn bán, cổ nhân nói là “bán chác Như Lai”. Quư vị coi chuyện giảng kinh, thuyết pháp như một loại hàng hóa, coi tín đồ như khách hàng. Giảng kinh mà tham cầu cúng dường, phiền phức mất rồi!

          Chư vị phải biết Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh suốt một đời, giảng suốt bốn mươi chín năm, chẳng lấy từ người khác một tí cúng dường nào! Đức Phật mong mỏi mọi người cúng dường Ngài như thế nào? Dùng pháp để cúng dường. Pháp cúng dường là ǵ? Y giáo phụng hành. Kinh thường nói “thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác diễn thuyết”. Đấy là thật sự cúng dường Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài hoan hỷ. Đối với giáo huấn của đức Phật, quư vị thật sự tiếp nhận. Quư vị tin tưởng, tiếp nhận, [tức là] “tín thọ”, “phụng hành” là làm theo. Đức Phật dạy ta, ta thảy đều làm được; v́ hết thảy đại chúng th́ “diễn” () là biểu diễn, làm cho mọi người thấy. Đấy chẳng là giả. “Thuyết” () là ta nói cho mọi người nghe, trước hết phải làm, sau đấy mới nói. Tín thọ phụng hành, v́ người khác diễn thuyết chính là thật sự cúng dường.

          Trong Phật môn, nếu thật sự hiểu giáo huấn của đức Thế Tôn, như lư, như pháp, hiểm đạo nào đi nữa đối với với quư vị đều chẳng khởi tác dụng. Tâm quư vị vĩnh viễn là thanh tịnh, b́nh đẳng, giác, chẳng ô nhiễm, vĩnh viễn là khiêm hư, nhún nhường, cung kính. Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta, câu đầu tiên là “lễ kính chư Phật, xưng tán Như Lai, quảng tu cúng dường”. Người xuất gia dùng ǵ để cúng dường? Chính là câu nói này của đức Phật, “tín thọ, phụng hành, v́ người khác diễn thuyết”. Đấy là sự cúng dường của người xuất gia, của đệ tử Phật đối với hết thảy đại chúng, cúng dường hết thảy chư Phật, Bồ Tát, chẳng do tài vật, vậy th́ quư vị sẽ tránh khỏi hiểm đạo. Từ chỗ này, quư vị phải chú tâm lănh hội, quan sát. Trong hiện thời, thế gian này có rất nhiều hiểm đạo.

          Có những nơi chốn, quư vị chẳng thể không nhận cúng dường. Tín đồ đến “gieo phước điền”. Tấm y này có người nói là “phước điền y”, trên thực tế, đă nói rất minh bạch với quư vị. Chúng sanh mong tu phước, chẳng biết tu phước bằng cách nào, họ đưa tiền đến nơi đây, chúng ta phải thay họ tu phước. Đấy là đúng. Chúng ta lấy món tiền ấy để hưởng thụ, sai mất rồi! V́ thế, quyết định chẳng dùng món tiền cúng dường ấy để cải thiện cuộc sống hiện thời của chính ḿnh. [Dùng tiền do đàn na tín thí cúng dường] để cải thiện cái gọi là “phẩm chất cuộc sống”, th́ sai mất rồi! Thánh nhân thế gian đều có thể cam ḷng sống cuộc đời thanh bần, v́ sao người học Phật chúng ta vẫn cứ tham cầu hưởng thụ cuộc sống vật chất? Quư vị có ư niệm ấy, cho thấy quư vị tham luyến lục đạo luân hồi. Hễ có ư niệm ấy, sẽ không thoát ra được, Phật sẽ chẳng đến tiếp dẫn. V́ sao? Ư niệm của quư vị bất thiện, c̣n có tham, sân, si, mạn.

          Tâm của mọi người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đều thanh tịnh, tâm quư vị chẳng thanh tịnh, quư vị sẽ nhiễu loạn đại chúng, làm sao quư vị có thể văng sanh cho được? Làm sao đức Phật có thể tiếp dẫn quư vị được? Khi nào sẽ đến tiếp dẫn quư vị? [Khi nào quư vị] tâm thanh tịnh, thật sự buông xuống ngũ dục lục trần, Phật sẽ tự nhiên đến. Xét theo điều ǵ? Thấy quư vị vẫn là khá lắm, chẳng khác biệt người trong thế giới Cực Lạc cho mấy, đương nhiên là hoan nghênh quư vị đến thế giới Cực Lạc! Quư vị c̣n có thất t́nh, ngũ dục, vậy là không được. Thế giới Cực Lạc quyết định chẳng để cho quư vị nhiễu loạn. Nh́n không vừa mắt sẽ chửi người, sẽ nổi nóng, làm sao A Di Đà Phật dám tiếp dẫn quư vị? Phải thường suy nghĩ đạo lư này, phải nghĩ thông suốt!

          Kinh đă nói rất rơ ràng về thế giới Cực Lạc, “chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ” (các vị thượng thiện nhân nhóm họp cùng một chỗ), ta có phải là thượng thiện hay chăng? Nếu ta là thượng thiện, ta có nguyện vọng cầu sanh Tịnh Độ, dẫu chẳng niệm Phật, A Di Đà Phật cũng đón ta đi, đầy đủ điều kiện đấy mà! Quư vị chí đồng đạo hợp với đại chúng trong thế giới Cực Lạc. Nếu chúng ta c̣n ích kỷ, c̣n có tham, sân, si, mạn, sẽ chẳng ăn khớp với mọi người ở trong thế giới Cực Lạc, làm sao Phật có thể đến tiếp dẫn quư vị cho được? Thượng thiện phải học tập trong cuộc sống hằng ngày, quyết định bỏ tham, sân, si, mạn, thật sự tu hành trong xử sự, đăi người, tiếp vật trong cuộc sống hằng ngày. Tu ǵ vậy? Niệm Phật cũng giống như thế, niệm ǵ? Niệm “phiền năo khinh, trí huệ trưởng”. Niệm một câu “A Di Đà Phật” để trừ hết phiền năo. Trong thuận cảnh có ư niệm tham ái, [hăy] “nam-mô A Di Đà Phật”, niệm cho tan ư niệm tham ái ấy! Trong nghịch cảnh, cái tâm sân khuể sanh khởi, hăy niệm một câu “nam-mô A Di Đà Phật” cho tan cái tâm sân khuể. Đó gọi là “biết niệm”. Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến đều bị trừ sạch bằng niệm Phật, quư vị chính là thượng thiện nhân. Trong thuận cảnh, chẳng có tham ái. Trong nghịch cảnh, chẳng có sân khuể; niệm nào cũng đều là giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không nhiễm, tương ứng với “giác, chánh, tịnh” của kinh Vô Lượng Thọ! Đấy là đại đạo của A Di Đà Phật, là đại đạo để văng sanh Tịnh Độ, là đại đạo để thành Phật viên măn ngay trong một đời, chớ nên không biết. Do vậy, đối với hết thảy các hiểm đạo, chính ḿnh phải nhận biết. Phàm những ǵ chướng ngại chúng ta tu học, đều là hiểm đạo, [những ǵ] dụ dỗ chúng ta ĺa khỏi “đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành, lăo thật niệm Phật” (giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, giảm thiểu tà vạy, giữ ḷng chân thành, thật thà niệm Phật) sẽ đều là hiểm đạo. Phải có năng lực phân biệt rơ ràng, quyết định chẳng đọa trong hiểm đạo.

          Nói tới Nhị Thừa, chúng ta chẳng phải là Thanh Văn, Duyên Giác, nhưng có tập khí của Nhị Thừa. Những tập khí ấy do đâu mà có? Khẳng định là trong quá khứ đă từng học Tiểu Thừa, cho nên quư vị có tập khí Tiểu Thừa. Tập khí Tiểu Thừa là ǵ? Bảo thủ, là chính ḿnh chỉ quan tâm đến chính ḿnh, chẳng mong giúp đỡ kẻ khác, chính ḿnh rơi vào sự thanh tịnh. “Trệ” () [trong câu “tự điều trệ tịch” của phần chú giải] là ngưng trệ, [“tự điều trệ tịch” là] ưa thích thanh tịnh, [cứ nghĩ] chúng sanh có khổ nạn là do chính họ tạo nghiệp, đáng nên hứng chịu quả báo, chẳng liên can ǵ đến ta! Đấy là hạng Tiểu Thừa, được gọi là “độc thiện kỳ thân” (chỉ biết tốt lành cho riêng ḿnh), chẳng có bi nguyện tạo lợi lạc cho khắp thiên hạ. Có thể văng sanh hay không? Chẳng thể! V́ sao chẳng thể? Chẳng tương ứng với nguyện của A Di Đà Phật. Nguyện của A Di Đà Phật là phổ độ chúng sanh. Nếu quư vị nói sau khi ta văng sanh, ta sẽ quay lại phổ độ chúng sanh. Được! Như vậy th́ có thể. Ta cảm thấy hiện thời năng lực vẫn chẳng đủ, hăy toàn tâm toàn lực tu Tây Phương Tịnh Độ.

          Nói tới chỗ này, cũng có một trạng huống hiện thực, trong xă hội hiện thời cũng thấy. Đấy cũng chính là một câu hỏi do mấy vị pháp sư nêu ra vào thuở trước. Họ đọc Văng Sanh Truyện, đọc Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (đấy cũng là Văng Sanh Truyện), nói với tôi: “Thưa pháp sư! Cớ sao những người tu Tịnh Độ văng sanh, dường như là niệm Phật khoảng ba năm, năm năm đều ra đi? Đại đa số là như vậy”. Họ hỏi: “Có phải là do thọ mạng của họ c̣n ba năm, hay năm năm sẽ chết?” Hỏi tôi một vấn đề như thế đó! Khi ấy, tôi trả lời họ: - Nếu nói mỗi người niệm Phật, ba năm là đă hết thọ mạng, chẳng có khả năng cho lắm. V́ sao họ niệm ba năm bèn văng sanh? Tôi nghĩ công phu của họ đă đến nơi đến chốn, thường nói là “công phu thành phiến”. Thượng phẩm công phu thành phiến có thể tự tại văng sanh, tuy c̣n có thọ mạng, chẳng cần, đến thế giới Cực Lạc sớm hơn một tí, có được hay không? Được chứ!

          Một thí dụ rơ rệt nhất trong Văng Sanh Truyện là pháp sư Oánh Kha, người đời Tống, Sư sám hối văng sanh. V́ đây là một vị xuất gia, truyện kư ghi chép rất rơ ràng: Sư chẳng giữ Thanh Quy, thường xuyên phá giới, làm sao có thể văng sanh cho được? Sư thật sự tin tưởng nhân quả báo ứng, chính Sư suy ngẫm hạnh nghiệp của chính ḿnh, đă tạo các tội nghiệp ấy, ắt đọa địa ngục. Nghĩ tới địa ngục, Sư hoảng sợ. V́ thế, cầu các đồng tham đạo hữu, hỏi họ có phương pháp nào cứu vớt tôi hay không? Các đồng học cho Sư một quyển Văng Sanh Truyện, [chép các tấm gương] niệm Phật văng sanh. Sư xem xong, hết sức cảm động; do vậy, đóng chặt cửa liêu pḥng, chẳng ăn, chẳng uống, chẳng ngủ, niệm một câu Phật hiệu đến cùng. Quư vị phải hiểu đấy chính là “không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn” như kinh đă nói. Niệm suốt ba ngày ba đêm, niệm A Di Đà Phật hiện đến. Cảm ứng đấy! Chúng sanh có cảm, Phật, Bồ Tát sẽ có ứng!

          A Di Đà Phật bảo Sư: “Tuổi thọ của ông hăy c̣n mười năm. Thọ mạng của ông hăy c̣n mười năm. Ông hăy khéo tu, đến khi ông hết tuổi thọ, ta sẽ đến tiếp dẫn ông”. Có cảm ứng tốt đẹp như vậy. Oánh Kha nghe xong, bèn thưa với A Di Đà Phật: “Căn tánh của con kém hèn rất nặng. Con không chống nổi sự quyến rũ, mê hoặc bên ngoài. Hễ bên ngoài dụ dỗ, mê hoặc, con sẽ tạo tội nghiệp, sẽ lại phá giới. Trong mười năm ấy, chẳng biết con lại tạo bao nhiêu tội nghiệp?’ Sư nói: “Mười năm [tuổi thọ] con chẳng cần, nay con đi theo Phật”. Nghe xong, A Di Đà Phật cũng gật đầu: “Được! Vậy th́ ba ngày sau ta đến tiếp đón ông”. Sư hết sức cao hứng, hoan hỷ, mở cửa pḥng, bảo đại chúng: “Ba ngày sau tôi sẽ văng sanh”. Trong chùa miếu, chẳng có một ai tin Sư. Phá giới, phạm quy, chẳng phải là một người xuất gia tốt đẹp, cớ sao đóng chặt cửa pḥng niệm Phật ba ngày, bèn nói ba ngày nữa sẽ văng sanh? Giọng điệu chẳng giống như lừa người, dường như là thật! Mọi người đều chờ xem, cũng may là ba ngày chẳng xa, xem thử sau ba ngày, ngươi có văng sanh hay chăng? Đến ngày thứ ba, Sư yêu cầu đại chúng niệm Phật tiễn Sư, đại chúng cũng rất hoan hỷ, quả nhiên thật sự ra đi. Sư niệm chừng một khắc, bảo mọi người: “A Di Đà Phật đến tiếp dẫn tôi, tôi đi đây”. Thật sự văng sanh, chẳng ngă bệnh.

          Khá nhiều người thấy câu chuyện này, đều muốn học theo Sư. Được lắm, quư vị ắt phải buông xuống vạn duyên, thật sự niệm A Di Đà Phật hiện đến, quư vị theo Ngài văng sanh là đúng. Quư vị thấy chính ḿnh có thể niệm A Di Đà Phật hiện đến hay không? Thưa cùng A Di Đà Phật, “dẫu con c̣n thọ mạng, con cũng chẳng cần, nay con đi theo Ngài”, vậy là được! Nếu ba ngày ba đêm hoặc là bảy ngày bảy đêm, A Di Đà Phật vẫn chẳng đến, vậy th́ quư vị hăy khéo tự suy ngẫm, nhất định là quư vị chẳng đúng lư, chẳng đúng pháp. Quư vị phải hiểu, pháp sư Oánh Kha thuở ấy thật sự sám hối, dũng mănh sửa lỗi đổi mới. V́ sao Sư chẳng cần mười năm thọ mạng? Chính Sư đă nói rất rơ ràng, căn tánh hèn kém quá mức, chính ḿnh chẳng có công phu, chẳng chống nổi sự dụ dỗ, mê hoặc, sẽ lại phá giới, sẽ lại vi phạm quy củ! A Di Đà Phật thật sự có thể thông cảm cho Sư chuyện này, Sư có tấm ḷng như thế, Phật dẫn Sư đi. Điều kiện của mỗi người khác nhau, thiện căn, phước đức, nhân duyên trong đời quá khứ khác nhau, chẳng phải là ta có thể học theo trạng huống của kẻ khác được, há đơn giản như thế ư? Từ đời Tống đến hiện thời cũng đă gần một ngàn năm, trong một ngàn năm ấy, đương nhiên chẳng phải là không có, khẳng định là có [những trường hợp thành tựu ngoạn mục như pháp sư Oánh Kha], nhưng là thiểu số, chẳng phải là đa số.

          Do vậy, nói thông thường, người văng sanh th́ một là b́nh thường tu hành như pháp, như lư, tích lũy công đức, lâm chung văng sanh, hai là kẻ b́nh thường chẳng hiểu Phật pháp, hữu ư hay vô ư tạo tác rất nhiều tội nghiệp, khi lâm chung, thật sự sám hối, thật sự sửa lỗi đổi mới, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Đă có một tấm gương, vua A Xà Thế niệm Phật văng sanh chính là một thí dụ tốt, một tấm gương tốt. Nói theo h́nh thức, có hai loại như thế, nhưng bất luận là loại nào, khẳng định đều là có liên quan mật thiết với thiện căn và phước đức trong đời trước. Há có chuyện đơn giản bèn sanh khởi tín tâm đối với pháp môn này ư? Đừng nói là nh́n thấy người khác [thành tựu], ta cũng làm ra vẻ giống như vậy là được. Vờ vĩnh làm ra vẻ, chẳng thể thành tựu đâu nhé! Những người ấy trong đời quá khứ chắc chắn là đă đời đời kiếp kiếp tu pháp môn Tịnh Tông, khi lâm chung, do bị một niệm sai lầm chướng ngại, chẳng văng sanh được, nhưng sẽ thành tựu trong một đời này. Chúng ta [chỉ] thấy sự thành tựu của họ, chẳng thấy trong đời quá khứ, họ đă gieo thiện căn, phước đức, nhân duyên. Chúng ta chớ nên không biết điều này!

          Sự sám hối của họ là hễ đoạn, bèn thật sự là một đao cắt đứt phăng, thật sự đoạn phiền năo, tập khí, ác nghiệp, cho nên thật sự văng sanh. Nay chúng ta học theo kiểu của họ, có thể ngay lập tức đoạn hết phiền năo trong nội tâm hay chăng? Điểm then chốt ở ngay chỗ này! Tham, sân, si, mạn, nghi, tôi thường nói là “ích kỷ, tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn”, có thật sự bỏ hết ngay lập tức hay không? Thật sự có thể thảy đều buông xuống, vị đường chủ Niệm Phật Đường thường nói “thân, tâm, thế giới”, “thân” là thân thể, “tâm” là ư niệm, thân tâm thế giới, “thế giới” là hoàn cảnh bên ngoài, “hết thảy đều buông xuống”. Quư vị có một chuyện chẳng thể buông xuống, vậy là không được rồi, sẽ bị chướng ngại. Thảy đều buông xuống, triệt để buông xuống, cầu sanh Tịnh Độ sẽ hữu hiệu. Nhưng quư vị vẫn phải phát tâm Đại Thừa, chứ cái tâm Nhị Thừa sẽ chẳng thể văng sanh. Tâm Nhị Thừa là tự lợi, tâm Đại Thừa lợi tha. Ta cầu sanh Tịnh Độ chẳng phải v́ chính ḿnh, cầu sanh Tịnh Độ nhằm phổ độ chúng sanh.

          Hiện thời, trong thế gian này, điều thứ nhất là ta chẳng có năng lực, điều thứ hai là ta chẳng có duyên phận, [vậy th́] có thể đến thế giới Cực Lạc trước. Nếu trong thế gian này, chúng sanh hữu duyên với quư vị, quư vị c̣n có năng lực, thông đạt Tịnh Tông, trong hiện thời quư vị phải nên tự hành, hóa tha, phải “tín, thọ, phụng hành, v́ người khác diễn thuyếtcác giáo huấn của đức Thế Tôn, làm cho mọi người thấy. Tốt lắm! Chuyện này hoàn toàn tương ứng với A Di Đà Phật, quyết định được văng sanh. [Tuy thân xác] ở trong Sa Bà mà [thật ra đă ở] trong Cực Lạc, thiền sư Trung Phong đă nói về điều này rất hay: “Phương này chính là Tịnh Độ, Tịnh Độ chính là phương này”, “tâm này chính là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm này”. Thân, tâm, cảnh giới hoàn toàn dung hợp với A Di Đà Phật, há có lẽ nào chẳng văng sanh? Chúng ta phải thực hiện Di Đà hoằng nguyện cho mọi người thấy, đó là đúng.

          Quư vị c̣n có cái duyên này, c̣n có năng lực này, quư vị chẳng làm, mong cầu văng sanh trước, đó là có hiềm nghi, chúng ta thường nói là “trốn tránh trách nhiệm”. Phàm là tâm lư trốn tránh, quư vị nghĩ xem Tây Phương Cực Lạc thế giới có dung nạp quư vị hay không? Phải hiểu rơ ràng! Có thể dung nạp kẻ trốn tránh hiện thực hay chăng? Kẻ ấy có thể thực hiện cái nguyện đă phát hay không? Do vậy, thế giới Cực Lạc cần ai? Dũng mănh gánh vác trách nhiệm, dũng mănh thực hiện, quư vị mới có thể rộng độ chúng sanh, phổ độ chúng sanh. A Di Đà Phật chẳng phải là một kẻ trốn tránh trách nhiệm; v́ thế, tâm thái ấy, hành vi ấy sẽ chẳng tương ứng! Quư vị học theo Oánh Kha chẳng xong, học vua A Xà Thế cũng chẳng học được! Quy củ, thật thà, vẫn là từ Đệ Tử Quy, Thập Thiện Nghiệp Đạo, tuân thủ giáo huấn của Ấn Quang đại sư, “đôn luân tận phận, nhàn tà tồn thành” (giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, giảm thiểu tà vạy, giữ ḷng chân thành) và giáo huấn từ Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương, “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm liên tục”. Đấy là đúng!

          Do tâm thái của hàng Nhị Thừa, họ chẳng thể văng sanh. Kinh luận của Phật và chú sớ của tổ sư đă nói minh bạch: Tâm nguyện của hàng Nhị Thừa trái nghịch A Di Đà Phật. Trái nghịch A Di Đà Phật tức là trái nghịch tâm nguyện của tất cả đại chúng trong thế giới Cực Lạc, làm sao có thể văng sanh cho được? Tây Phương Tịnh Độ là Đại Thừa, chẳng phải là Tiểu Thừa. Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác chẳng phải là Tiểu Thừa! Do vậy, [kẻ nào có] tâm thái Tiểu Thừa sẽ chẳng thể văng sanh, vậy th́ phải như thế nào? Hồi Tiểu hướng Đại. Thật sự tu hành, niệm nào cũng đều là đă giống như thấy thế giới này rất lạnh nhạt, được lắm, hễ quay đầu sẽ là Bồ Đề tâm, v́ sao? Ta sống trong thế gian này chẳng v́ chính ḿnh, mà v́ hết thảy các chúng sanh khổ nạn, hoàn toàn tương ứng với bổn nguyện của A Di Đà Phật. Chúng ta phải khéo nêu gương tốt cho mọi người thấy, cho người niệm Phật thấy, ḥng tăng trưởng tín tâm của họ, giúp họ tiến cao hơn. Kẻ chẳng niệm Phật trông thấy, sẽ gieo thiện căn, họ trông thấy thụy tướng ấy bèn sanh khởi ḷng hâm mộ, đó gọi là “hễ lọt qua mắt, hễ thoảng qua tai, vĩnh viễn là chủng tử của đạo”. Chúng ta nêu gương làm một người niệm Phật thật sự tốt đẹp, hằng ngày làm cho người khác nh́n vào!

          Kinh Vô Lượng Thọ phải đọc thuộc. Phải thực hiện giáo huấn trong kinh Vô Lượng Thọ, đầu tiên là phải thực hiện Thập Thiện Nghiệp. Quư vị thấy phần đầu kinh Vô Lượng Thọ đă dạy: “Thiện hộ khẩu nghiệp, bất cơ tha quá; thiện hộ thân nghiệp, bất thất luật nghi; thiện hộ ư nghiệp, thanh tịnh vô nhiễm” (Khéo ǵn giữ khẩu nghiệp, chẳng chê trách lỗi của kẻ khác. Khéo thiện hộ thân nghiệp, chẳng đánh mất luật nghi. Khéo giữ ǵn ư nghiệp, thanh tịnh vô nhiễm), tu từ Thập Thiện Đạo. Chúng ta có thể đều làm được; đấy là biểu diễn, biểu diễn cho đại chúng thấy. Không chỉ là chẳng sát sanh, phàm là ư niệm tổn hại chúng sanh cũng chớ nên có! Hễ có ư niệm tổn thương chúng sanh, đấy là sát tâm, quư vị chẳng hành sát nghiệp, nhưng chẳng đoạn ư niệm giết chóc. Tuy quư vị chẳng trộm cắp, nhưng c̣n có ư niệm chiếm tiện nghi của kẻ khác; ư niệm chiếm tiện nghi là cái tâm trộm cắp, chẳng đoạn cái tâm trộm cắp!

          Chúng ta đều phải rất chân thật làm được, chính ḿnh làm được, chắc chắn sẽ ảnh hưởng người chung quanh. Chúng ta ở trong đạo tràng này th́ phải yêu thương, bảo vệ đạo tràng này. Nếu chẳng làm được Thập Thiện Nghiệp, không chỉ là chẳng yêu thương, bảo vệ đạo tràng, mà đâm ra lại là phá hoại đạo tràng. Người ta trông thấy, [sẽ nghĩ] đạo tràng này chẳng thật, họ là người tu hành ở chỗ nào? Người tu hành theo kiểu ǵ vậy? Do đó, một kẻ chẳng đúng pháp, khiến cho kẻ khác tạo tội nghiệp, khiến cho kẻ khác hủy báng Tam Bảo. Kẻ ấy hủy báng Tam Bảo là do quư vị xui khiến, quư vị có phải nhận lănh trách nhiệm nhân quả hay không? Chắc chắn là phải. Do vậy, chính ḿnh ở trong đạo tràng, thậm chí ở bất cứ chỗ nào, chớ nên không cẩn thận, chớ nên khiến cho kẻ khác v́ ta mà hủy báng Tam Bảo. Ta làm chẳng đúng pháp, sẽ hại họ đọa địa ngục. Họ đọa địa ngục, ta cũng chẳng được lợi, ta cũng chạy chẳng thoát, ta làm Tăng Thượng Duyên cho họ mà! Những điều này đều là hiểm đạo trong sự tu hành của phàm phu, chớ nên không biết. Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói tới đây!

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một,

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 33 hết

 



[1] Đây là một loại voi cổ đại, ta thường gọi là voi ma mút (phiên âm theo tiếng Pháp Mammouth). Loài voi này tồn tại trên địa cầu khoảng 4,8 triệu năm trước. Đặc điểm là lông rất dài (xấp xỉ 50cm), rậm, ngà dài và cong, răng voi ma mút rất dài, quặp vào trong, chân sau ngắn, vai nhô cao. Mỗi con voi thuộc loại này cao từ 3 đến 3,3m, có thể nặng đến tám tấn. Cũng như voi hiện thời, voi ma mút ăn cỏ, lá cây, các bụi cây nhỏ. Cho đến hiện thời vẫn chưa đạt được một cách giải thích nhất quán tại sao chúng bị diệt chủng. Đa phần cho là v́ nhiệt độ nóng lên, khiến băng tan, lục địa ch́m xuống khiến cho voi thiếu thức ăn. Một số nhà khoa học c̣n cho là voi ma mút bị tuyệt chủng do người cổ đại (thuộc giống Homo erectus) săn bắt quá mức.

[2] Gọi là “một giáp tư” (đôi khi c̣n gọi là Lục Thập Hoa Giáp) v́ theo cách tính lịch thuở trước, tên gọi của mỗi năm gồm một chữ trong mười thiên can (giáp, ất, bính, đinh…) và một chữ trong mười hai địa chi ghép lại (tư, sửu, dần, mẹo…), chẳng hạn năm 2017 là năm Đinh Dậu. Do bội số chung nhỏ nhất của 10 và 12 là 60, cho nên phải hết sáu mươi năm mới trở lại chữ đầu tiên là Giáp Tư.

[3] Long Trung là một trấn nhỏ thuộc thành phố Tương Dương, tỉnh Hồ Nam hiện thời. Thông thường, người ta tin là Gia Cát Lượng cày ruộng, ẩn cư tại Long Trung suốt mười năm. Nhưng cũng có thuyết bảo: Thật ra, Gia Cát Lượng ẩn cư tại Ngọa Long Cương thuộc thành phố Nam Dương tỉnh Hà Nam. Từ xưa, tại Ngọa Long Cương đă có miếu thờ Gia Cát Lượng, gọi là Vũ Hầu Từ, hằng năm đều tế lễ. Phong tục này đătừ đời Tấn.

[4] Huy Thương (徽商) là cách gọi tắt của Huy Châu Thương Nhân (khách buôn bán xứ Huy Châu), bao gồm các thương nhân từ sáu huyện Hấp, Hưu Ninh, Vụ Nguyên, Kỳ Môn, Y, Tích Khê của phủ Huy Châu (c̣n gọi là quận Tân An) thuộc miền Nam tỉnh An Huy. Do vùng này là núi non, đất đai cằn cỗi, không thể sống bằng nông nghiệp, dân cư phải buôn bán khắp nơi để kiếm sống. Vùng thương mại này rất hưng thịnh từ đời Tống cho đến đầu đời Thanh. Hưng thịnh nhất là vào thời Minh v́ họ tập trung vào việc buôn muối. Hoàn là tên gọi tắt của tỉnh An Huy. Do Huy Châu ở phía Nam tỉnh An Huy, nên gọi là Hoàn Nam (皖南).

[5] Chiến tranh giải phóng chính là cuộc nội chiến giữa hai phe cộng sản và quốc gia tại Trung Hoa kéo dài từ năm 1945 đến năm 1950. Danh xưng này do Trung Cộng đặt ra. Thoạt đầu, phe Cộng Sản liên kết với phe Quốc Dân Đảng trong cuộc chiến chống Nhật (thường gọi là thời kỳ Kháng Chiến). Sau Thế Chiến thứ hai, sau khi Nhật thua trận, quân Cộng Sản với sự trợ giúp của Liên Sô, cũng như tận dụng những yếu kém do sự tham nhũng và quan liêu trầm trọng trong guồng máy Quốc Dân Đảng, Mao Trạch Đông đă đánh bại Tưởng Giới Thạch, chiếm lănh toàn bộ Trung Hoa Đại Lục. Tưởng Giới Thạch phải chạy ra Đài Loan. Đây là cuộc chiến đẫm máu nhất, các sử gia không chấp nhận con số thống kê của Trung Cộng v́ thường là phóng đại, bóp méo sự thật. Căn cứ trên sử liệu Đài Loan, tổng số thương vong của quân Quốc Dân Đảng lên tới 171 vạn người, không kể mấy chục vạn lính bị bắt làm tù binh; trong khi đó theo phía Trung Cộng, quân Cộng Sản chỉ thương vong 26 vạn người, không ai bị bắt làm tù binh!