Đại Phương Quảng Phật

Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 37

大方廣佛華嚴經

(十一)淨行品

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Địa điểm: Hương Cảng Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội

Khởi giảng từ ngày mồng Bảy tháng Mười Một năm 2005

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Minh Tiến

 

Tập 1535

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, xem từ bài kệ thứ mười trong tiểu đoạn thứ hai của đoạn lớn thứ sáu phần kệ tụng:

 

          (Kinh) Nhược kiến đại hà, đương nguyện chúng sanh, đắc dự pháp lưu, nhập Phật trí hải.

          ()見大河。當願眾生。得預法流。入佛智海。

          (Kinh: Nếu thấy sông to, nguyện cho chúng sanh, được dự ḍng pháp, nhập biển Phật trí).

 

          Đây cũng là chuyện có thể gặp gỡ khi đi đường, sông to, suối nhỏ, chỗ nào cũng đều có thể trông thấy. Nước suối đổ vào sông ng̣i, sông ng̣i chảy vào biển cả. Do vị trí địa lư của Trung Hoa, phía Tây Bắc đều là núi cao, Đông Nam là ven biển; v́ thế, nước đều chảy theo hướng Đông, đều đổ vào biển cả. Chúng ta trông thấy sông ng̣i cũng dẫn phát hoằng nguyện của Bồ Tát. Chúng ta nói “dẫn phát” (引發), nói thật ra, từ ngữ này cũng chẳng thỏa đáng cho lắm, nhưng chẳng t́m thấy từ vựng thỏa đáng hơn để nói. V́ thế, chúng ta phải hiểu ư nghĩa: Bồ Tát là tự nhiên, Ngài chẳng có phân biệt, chấp trước, mà cũng chẳng có khởi tâm động niệm.

          Do vậy có thể biết, hoằng nguyện của Bồ Tát là tự phát. Chỉ cần vừa tiếp xúc đôi chút là đă có thể phát khởi [hoằng nguyện]. Nếu quư vị hỏi cái nhân, Ngài chỉ có thể nói cái nhân là giống như chúng ta trong thời đại hiện tại, trong giai đoạn này, vừa mới học Phật phát tâm, phát nguyện. Hiện thời, đối với chúng ta, Tứ Hoằng Thệ Nguyện rất xa lạ, [chúng ta] cũng biết niệm, niệm hằng ngày, v́ sao nói là “xa lạ”? Thường xuyên quên khuấy; do vậy, rất xa lạ! Chẳng như tham, sân, si, mạn; quư vị chẳng nghĩ tới tham, sân, si, mạn, chúng nó vẫn có thể sanh khởi. Thật đấy! Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần bèn dấy lên tham, sân, si, mạn. Do vậy, tham, sân, si, mạn rất quen thuộc; Phật pháp rất xa lạ, trong hết thảy các cảnh giới, [Phật pháp] chẳng thể dấy khởi được. Đó là thứ xa lạ! Công phu ấy, cổ đại đức thường dạy chúng ta: “Chỗ chín chuyển thành chỗ sống, chỗ sống chuyển thành chỗ chín”. Cũng có nghĩa là giống như chúng ta niệm Phật, chuyển biến tham, sân, si thành A Di Đà Phật, phải thân thuộc A Di Đà Phật như chúng ta quen thuộc với tham, sân, si trong hiện tại. Hễ thân thuộc, sẽ khởi tác dụng.

          Thân thuộc tham, sân, si th́ sẽ là tam đồ, quả báo là ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh. Nếu thân thuộc A Di Đà Phật, quả báo sẽ là thế giới Cực Lạc, phải biết điều này! V́ thế, phải có thể chuyển biến. Chuyển th́ cũng chẳng phải là nói tùy tiện th́ sẽ có thể chuyển được đâu nhé! Chuyện này cần phải có công phu. V́ sao phải có công phu? Tập khí! Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng ta lưu chuyển sanh tử trong lục đạo; v́ thế, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đă [trở thành] thân thuộc. Ba thứ ấy toàn là chướng đạo. Không chỉ là chướng đạo, [mà c̣n] chướng ngại ngộ môn của chúng ta. V́ sao học Phật đă nhiều năm ngần ấy mà chẳng khai ngộ? Chẳng chuyển được! Đúng như tổ sư đại đức giáo huấn: “Thâm nhập một môn, huân tu lâu dài”. Tám chữ ấy trọng yếu lắm!

          Năm xưa, tôi dạy học tṛ tại Tân Gia Ba, thường nhắc tới tám chữ ấy. Có một lần, lăo ḥa thượng Mính Sơn qua thăm Tân Gia Ba, chúng tôi gặp gỡ, Ngài thấy tám chữ ấy, gật đầu nhiều lượt, một mực tán thán: “Đấy mới là chánh xác”. Thật sự có thành tựu, thành tựu rất nhanh chóng trong một đời này, nắm chắc thành tựu, chính là một môn, một bộ kinh, một pháp môn, chẳng thể học hai bộ kinh! Trước kia, thầy của chúng tôi là lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam đă dạy bảo chúng tôi: “Học kinh giáo chỉ được phép học một môn”. Hai môn Ngài sẽ chẳng dạy! Lúc mới học, chẳng hiểu, cứ nghĩ là v́ tŕnh độ của chúng tôi quá nông cạn, phải học dần dần từng bộ một. Về sau, khi đă khế nhập, mới biết chỗ áo diệu trong ấy, mới thật sự hiểu rơ v́ sao đức Phật mở ra pháp môn nhiều ngần ấy! Chính là để tiếp dẫn các chúng sanh căn tánh bất đồng; đó gọi là “tựu lộ hoàn gia” (theo đường về nhà), chẳng chuốc lấy phiền phức. V́ thế, có tám vạn bốn ngàn pháp môn, nói theo lư luận, sẽ là vô lượng pháp môn.

          Nếu quư vị làm một vị đạo sư, “đại đạo sư” là Như Lai, là Phật; đại khái, đạo sư cũng là Bồ Tát, tổ sư đại đức, quư vị cũng phải phổ độ chúng sanh giống như Phật. Để phổ độ chúng sanh th́ môn nào cũng đều thông mới được! Quư vị tiếp xúc chúng sanh có căn tánh khác nhau, nhưng quư vị chỉ thông một môn, sẽ chỉ có thể tiếp dẫn một loại chúng sanh, [như thế] th́ cũng khá lắm, cũng là hết sức khó có! Từ xưa tới nay, xác thực là tổ sư đại đức đă v́ chúng ta biểu diễn rất nhiều: Suốt đời là một bộ kinh, một pháp môn, trọn chẳng biến đổi. Các Ngài đại triệt đại ngộ, thường nói là “một kinh thông, hết thảy các kinh đều thông”, các Ngài vẫn hoằng dương một bộ kinh! V́ sao? Nêu khuôn phép, nêu gương tốt cho kẻ đời sau, chẳng phải là để cho kẻ khác nh́n vào, [sẽ nghĩ] quư vị thấy đó, chẳng phải là Ngài có thể giảng rất nhiều kinh, chẳng phải là Ngài học rất nhiều kinh ư? Chúng ta cũng nên học theo Ngài. Sai mất rồi! Ngài giảng rất nhiều kinh, chẳng sai! Nhưng chẳng phải là Ngài học rất nhiều kinh, Ngài chỉ học một bộ kinh. Một bộ kinh đă thông, hết thảy các kinh đều thông! Nếu trong một đời, quư vị mong học mấy chục bộ kinh, đến cuối cùng, sẽ là thứ ǵ cũng đều chẳng thông!

          Nay chúng ta xem bài kệ này, “nhược kiến đại hà” (nếu thấy sông lớn). “Đại hà” là như Trường Giang, Hoàng Hà của Trung Hoa, đó là “đại hà”. Chư vị ngẫm xem, Hoàng Hà, Trường Giang có bao nhiêu chi lưu? Mỗi chi lưu lại c̣n có bao nhiêu nhánh sông? Cho đến những khe suối nhỏ trên núi, quư vị thấy nước từ khe suối nhỏ chảy đến chỗ nào? Chảy tới nơi đâu? Chảy vào sông nhỏ, sông nhỏ đổ vào sông lớn, sông lớn đổ vào sông cái, ng cái tuôn ra biển cả. Nó chảy theo một lối. Nếu nó không chảy theo lối ấy, nước từ khe suối nhỏ vừa muốn chảy về Đông, vừa muốn chảy về Tây, lại toan chảy xuống Nam, nó có thể chảy ra biển được chăng? Chẳng thể được! Luôn chảy theo một phương hướng, luôn chảy theo một lối, chắc chắn nó sẽ trở về biển cả. Chúng ta phải hiểu rơ ràng, hiểu minh bạch đạo lư này!

          Người khác học pháp môn khác, chúng ta tán thán, lễ kính, giống như cuối kinh Hoa Nghiêm, năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử đă làm mẫu cho chúng ta. Năm mươi ba vị thiện tri thức đại diện cho vô lượng vô biên pháp môn, mỗi vị tu học một pháp môn khác nhau. Thiện Tài đồng tử đến tham phỏng, quư vị thấy Ngài lễ kính, tán thán. “Tham phỏng” (參訪) là pháp môn ǵ cũng đều hiểu, bản thân Ngài tu pháp môn nào? Từ năm mươi ba lần tham học, có nh́n ra hay không? Năm xưa, khi tôi giảng Hoa Nghiêm lần đầu, bỗng nhiên nghĩ đến vấn đề này: “Thiện Tài học pháp môn ǵ?” Đọc tụng cẩn thận kinh Hoa Nghiêm, bèn hiểu Ngài tu pháp môn Tịnh Độ. V́ sao biết Ngài tu pháp môn Tịnh Độ? Thầy của Thiện Tài là Văn Thù Bồ Tát. Cuối phẩm Nhập Pháp Giới, Văn Thù và Phổ Hiền đều phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Bồ Tát dẫn đầu, Thiện Tài là môn sinh đắc ư, là đệ tử nhập thất của ngài Văn Thù, quư vị nghĩ xem, Văn Thù Bồ Tát truyền dạy [Thiện Tài] pháp môn ǵ? Đương nhiên là pháp môn Tịnh Độ!

          Lại xem cặn kẽ cuộc tham phỏng của Ngài. Vị được tham phỏng đầu tiên là tỳ-kheo Đức Vân. Tứ Thập Hoa Nghiêm gọi vị này là tỳ-kheo Cát Tường Vân. Nguyên văn [của danh hiệu vị này] trong Phạn bổn giống nhau, đây là do các pháp sư phiên dịch khác nhau. Đức Vân và Cát Tường Vân có ư nghĩa như nhau. Tỳ-kheo Đức Vân dạy Thiện Tài pháp ǵ? Pháp môn Niệm Phật, phải hiểu ư nghĩa này! Vị thầy thứ nhất biểu thị điều ǵ? “Tiên nhập vi chủ” (Điều ǵ được tiếp xúc đầu tiên sẽ trở thành chủ yếu), biểu thị điều này. Nh́n từ chỗ này, chúng ta hoàn toàn hiểu rơ: Thiện Tài đồng tử tu Tịnh Độ. Sau đấy, quư vị lại xem lần tham học cuối cùng trong năm mươi ba lần tham học, tức lần thứ năm mươi ba. Mở đầu, tỳ-kheo Đức Vân truyền trao pháp môn Niệm Phật; đến cuối cùng, mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc. Quư vị thấy từ đầu tới cuối, sự tu học của chính Ngài (Thiện Tài) có thay đổi hay không? Chẳng có! Thật sự là “thâm nhập một môn, huân tu lâu dài”! Năm mươi mốt lần tham phỏng [ngoại trừ lần đầu và lần cuối cùng], chính là xử sự, đăi người, tiếp vật trong cuộc sống hằng ngày, mặt nào cũng đều tiếp xúc, pháp môn ǵ cũng đều tiếp xúc, pháp môn ǵ Ngài cũng đều thông đạt, đều hiểu rơ. Ngài có tu hay chăng? Chẳng tu. V́ sao biết là chẳng tu? “Luyến đức lễ từ”, ư nghĩa này rất sâu! “Luyến đức” (戀德) là cảm ơn, cảm ơn ǵ vậy? Ngài đă thông đạt pháp môn này, đă hiểu rơ, chẳng mê hoặc mảy may! “Lễ từ”: “Lễ” () là lễ bái, “từ” () là không tu pháp môn này, vẫn tu pháp môn Niệm Phật, biểu thị ư nghĩa này. Tôi do nh́n ra đường lối từ chỗ này, mới khăng khăng một mực quy y Tịnh Độ.

          V́ thế, đối với tôi, ai đă dẫn tôi về pháp môn Tịnh Độ? Chẳng phải là thầy tôi. Thầy rát miệng buốt ḷng khuyên dạy tôi, giới thiệu pháp môn này cho tôi. Tôi chẳng phản đối pháp môn này, nhưng chẳng có hứng thú tu pháp môn này! Tôi đặt hứng thú nơi Giáo, lại c̣n học rộng nghe nhiều, con đường ấy sai mất rồi! Nhưng thầy đă uốn nắn tôi, kể ra tôi vẫn coi như là một đứa học tṛ biết nghe lời, chẳng chống trái lời thầy chỉ dạy, thâm nhập một môn. Từ Lăng Nghiêm, từ Hoa Nghiêm, tôi thấy được sự thù thắng của Tịnh Độ. Từ kinh Lăng Nghiêm, tôi xem phần Nhị Thập Ngũ Viên Thông Chương, phát hiện Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông Chương là pháp môn chẳng thể nghĩ bàn! Điều này chẳng dễ dàng cho lắm, v́ rất nhiều vị giảng kinh Lăng Nghiêm chẳng giảng minh bạch, chẳng nói rơ ràng ư nghĩa này!

          Mọi người đều biết đối với Nhị Thập Ngũ Viên Thông Chương, Văn Thù Bồ Tát chọn lựa phép Nhĩ Căn Viên Thông của Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn: “Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn” (Chân giáo thể phương này, thanh tịnh nơi nghe tiếng). Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông Chương có được [Văn Thù Bồ Tát] chọn lựa hay không? Có chứ! Chọn lựa hiển nhiên là chọn [phép Viên Thông của] Quán Thế Âm Bồ Tát, được âm thầm chọn lựa [là pháp Viên Thông của] Đại Thế Chí Bồ Tát. V́ sao biết? Thứ tự xếp đặt khác nhau! Nếu xếp thứ tự theo lối thông thường, đối với hai mươi lăm vị ấy, Quán Thế Âm Bồ Tát phải xếp vào vị trí thứ hai. Đấy là thứ tự thông thường. Tức là sáu căn, sáu trần, sáu thức, bảy đại; hai mươi lăm [món Viên Thông] được sắp xếp như thế đó. Quán Thế Âm Bồ Tát là Nhĩ Căn, trong sáu căn, Nhăn Căn [rồi đến] Nhĩ Căn, chẳng phải là xếp thứ hai ư? Ngài chẳng được xếp thứ hai mà được xếp vào cuối cùng, tức là pháp môn đặc biệt!

          Đại Thế Chí Bồ Tát thuộc vào bảy đại. Thứ tự của bảy đại là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức. Đại Thế Chí Bồ Tát là Kiến Đại, đáng lẽ phải xếp trước Thức, Thức Đại do Di Lặc Bồ Tát làm đại biểu. Di Lặc Bồ Tát nghiên cứu Duy Thức, nhưng vị trí xếp hạng của hai Ngài bị thay đổi. Đại Thế Chí Bồ Tát xếp vào vị trí hai mươi bốn, Quán Thế Âm Bồ Tát xếp vào vị trí hai mươi lăm. Hai pháp môn đặc biệt, chẳng phải là một! Nhưng Quán Thế Âm Bồ Tát từ thứ hai đưa sang vị trí cuối cùng quá rơ rệt, c̣n Đại Thế Chí Bồ Tát là vị trí hai mươi ba và hai mươi bốn đổi chỗ cho nhau, không rơ rệt cho lắm, chẳng dễ nh́n ra! Nếu quư vị chẳng chú tâm, sẽ không có cách nào phát hiện điều bí mật ở trong ấy! Dường như là tôi giảng Lăng Nghiêm bảy lần, đến lần cuối cùng mới phát hiện. Những lần giảng trước đó cũng là hàm hồ, mông lung, chẳng chú ư chuyện này. Về sau mới chú ư: Hai pháp môn đặc biệt! Giải thích hai pháp môn đặc biệt như thế nào? Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương có đối tượng hóa độ là khắp pháp giới hư không giới, chẳng sót một ai! Đối tượng của Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương chỉ giới hạn trong thế giới Sa Bà, chẳng phải là khắp pháp giới hư không giới, chỉ là [nhằm thích ứng] căn tánh của chúng sanh trong thế giới Sa Bà, Nhĩ Căn nhạy bén nhất. Quán Thế Âm và Đại Thế Chí là hai vị trợ thủ đắc lực của Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, các Ngài dẫn quư vị đến đâu? Đương nhiên là dẫn quư vị đến thế giới Cực Lạc.

          Từ những chỗ này, tôi thấy rơ ràng, nh́n ra manh mối, mới khăng khăng một mực quy y Tịnh Độ, chẳng có mảy may hoài nghi nào! Được đại kinh tiếp dẫn đấy! Năm xưa, thầy giới thiệu pháp môn này với tôi, khuyên bảo tôi, tôi cũng rất hoan hỷ, nhưng chẳng hoàn toàn tiếp nhận! Thầy nh́n ra, biết rơ, tôi cũng rất cảm tạ thầy. Đến cuối cùng, rốt cuộc là Hoa Nghiêm và Lăng Nghiêm dẫn tôi về Tịnh Tông. Đây cũng là căn tánh của mỗi người khác biệt, duyên phận khác nhau, nhưng tôi c̣n có duyên phận, có thể tiếp xúc hai bộ đại kinh ấy. Lăng Nghiêm là bộ kinh tôi học tập chủ yếu trong hội của thầy Lư. V́ thế, một kinh đă thông, hết thảy các kinh đều thông đạt. Không chỉ là thông đạt hết thảy các kinh trong Phật môn, mà đối với kinh điển của tất cả các tôn giáo trong thế gian này, quư vị cũng có thể thông đạt. V́ sao? Căn bản là một.

          Căn bản là ǵ? Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, sâm la vạn tượng khắp pháp giới hư không giới có cùng một nguồn cội. V́ thế, quư vị chỉ cần thâm nhập một môn, phải nhập đến mức độ nào? Phải nhập đến mức minh tâm kiến tánh, sẽ thông suốt toàn bộ. Giống như khe suối nhỏ trên núi, chỉ cần chảy thuận theo, chớ nên có ư nghĩ của riêng ḿnh, cứ thuận ḍng chảy ra sông, chảy ra sông nhỏ, sông nhỏ sẽ đổ vào sông lớn, sông lớn sẽ đổ vào sông cái, sẽ chảy vào biển cả. Đấy mới là “đắc dự pháp lưu, nhập Phật trí hải” (được dự vào ḍng pháp, nhập biển Phật trí). Chỉ cần quư vị kiến tánh, quư vị sẽ giống như chư Phật Như Lai. Chư Phật Như Lai là nước biển. Chẳng kiến tánh, chẳng chảy vào biển cả, quư vị là nước sông cái, nước sông to, nước suối. Chỉ cần là nước, đều là có Phật Tánh, v́ sao? Đều có cơ hội chảy vào biển cả. V́ thế, mang ư nghĩa này: Hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh. Chỉ cần thuận theo Phật Tánh, chớ nên trái nghịch Phật Tánh, thành Phật sẽ chẳng khó!

          Đă có người từng hỏi tôi: “Thưa pháp sư! Có người nói Bồ Tát tu hành thành Phật, phải trải qua ba đại A-tăng-kỳ kiếp, thời gian ấy quá dài, chúng ta có làm được không?” Hỏi vấn đề này hay lắm! Nói thật ra, rất nhiều người thắc mắc chuyện này! Nếu quư vị đọc kinh Hoa Nghiêm, sẽ hiểu rơ hơn “ba đại A-tăng-kỳ kiếp”. Ba đại A-tăng-kỳ kiếp là nói với ai? Nói với hàng Pháp Thân Bồ Tát. Bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo muốn chứng đắc quả vị rốt ráo, phải trải qua bốn mươi hai tầng cấp, [tức là] Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, và Diệu Giác. Đức Phật dạy, [để tu tập viên măn] bốn mươi hai tầng cấp ấy, cần phải mất thời gian bao lâu? Ba đại A-tăng-kỳ kiếp. Trước đó, nói cách khác, thời gian quư vị tu hành trong mười pháp giới đều chẳng tính gộp vào đó! Nếu tính gộp vào, đúng là vô lượng A-tăng-kỳ kiếp.

          Quư vị nghe như vậy liền hoảng hồn, vô lượng A-tăng-kỳ kiếp! Làm sao chúng ta có thể thành tựu cho nổi? Nếu quư vị có thể thâm nhập kinh tạng, [sẽ biết] lời Phật dạy chẳng phải là lời giả, nhưng lời Phật đôi khi là nói phương tiện, có lúc nói lời chân thật. Nói phương tiện là thuận theo kiến thức thông thường của chúng sanh, kể cả theo khoa học hiện đại, chúng sanh sẽ tin tưởng. Phật pháp siêu việt khoa học, kinh Hoa Nghiêm nói “niệm kiếp viên dung”, hiểu câu này như thế nào? Vô lượng kiếp có thể rút gọn thành một niệm, một niệm triển khai thành vô lượng kiếp. Vô lượng kiếp và một niệm chẳng hai, hoàn toàn giống như tỷ dụ “hạt cải dung nạp núi Tu Di, núi Tu Di dung nạp hạt cải”, chuyện này là sự thật.

          Khoa học cận đại, mấy năm gần đây nhất, có lẽ là năm, sáu năm trước, rất gần. Tổng cục Không Gian Hoa Kỳ đă đưa ra một báo cáo, [cho biết] phát hiện mới nhất là thời gian và không gian chẳng thật. Dưới một điều kiện nào đó, chúng sẽ bằng zero. Thời gian bằng zero, sẽ chẳng c̣n thời gian nữa. Không gian bằng zero, chẳng có không gian! Chẳng có không gian th́ thưa cùng chư vị, chẳng có khoảng cách, chẳng có xa hay gần. Thời gian bằng zero, sẽ chẳng có trước hay sau. Các khoa học gia gần đây mới phát hiện, nhưng họ chẳng biết điều kiện là ǵ, [thế mà] từ ba ngàn năm trước, trong Phật pháp, đức Phật đă nói: “Niệm kiếp viên dung”.

          Phàm phu thành Phật trong một niệm, một niệm ấy chính là chuyển mê thành ngộ. V́ thế, hễ khai ngộ, phàm phu sẽ thành Phật. Hễ mê hoặc, quư vị sẽ biến thành phàm phu. Đức Phật nói lời này là h́nh dung, ư nghĩa thật sự nhằm h́nh dung giác ngộ khó lắm! Khó ở chỗ nào? Khó ở chỗ bản thân quư vị tập khí quá nặng, [tức là] tập khí nghiệp chướng quá nặng. Giống như chúng ta nghe kinh hoặc niệm Phật ở nơi đây, khi công phu đắc lực, sẽ giống như tự ḿnh đă giác ngộ, nhưng mấy phút sau lại mê hoặc! Tôi tin là cảnh giới này khá nhiều đồng học đều đích thân có kinh nghiệm. Thời gian giác ngộ rất ngắn, thời gian mê hoặc rất dài! Nói về phía người tu hành, hiện tượng ấy là chuyện tốt! Quư vị thấy quư vị chẳng tiếp xúc Phật pháp, giống như chúng tôi trong một đời này, trước khi học Phật, mười mấy năm, hai mươi mấy năm, ba mươi mấy năm, chưa từng có một niệm giác ngộ, chẳng hề có. Sau khi đă học Phật, đọc kinh, niệm Phật, hoặc là tĩnh tọa, hoặc là nghe kinh, dường như giác ngộ trong một sát-na. Sự giác ngộ ấy giống như tia chớp, một luồng chớp sáng lóe qua, là chuyện tốt! V́ sao? Quư vị bắt đầu có hiện tượng này, hy vọng về sau, số lần có hiện tượng này sẽ càng ngày càng nhiều!

          Nếu giữ được sự giác ngộ ấy chẳng để mất đi, quư vị sẽ chứng quả. V́ thế, nay chúng ta nói đến công phu, ngộ kiểu ấy càng nhiều lượt càng hay, thời gian càng dài càng tốt. Thông thường, khi chúng ta mới học, một niệm giác, thời gian là một sát-na, hết sức ngắn ngủi. Từ một sát-na ấy, dần dần đến một phút, hai phút. Một hai phút cũng là khá lắm, dần dần nhiều lần hơn, thời gian dần dần dài hơn. Đấy là quá tŕnh trải nghiệm mà mỗi học nhân ắt cần phải trải qua; v́ thế, đây là chuyện tốt. V́ sao có người giác ngộ mau chóng, có kẻ giác ngộ rất chậm? Trong ấy, có hai nhân tố:

          1) Nhân tố thứ nhất là thiện căn trong đời trước. Người này trong đời quá khứ đă tu tập một thời gian lâu dài, đời đời kiếp kiếp đều tu. Kẻ kia trong đời quá khứ tu ít ỏi. Đây là nói thiện căn trong đời trước khác nhau.

          2) Một nguyên nhân khác là trong đời này, công phu buông xuống của chúng ta khác nhau. Thứ ǵ cũng đều có thể buông xuống, sẽ dễ dàng, ít chướng ngại. [Kẻ khác] thứ ǵ cũng đều chấp trước, thứ ǵ cũng đều phân biệt, thứ ǵ cũng đều riết róng, so đo, người ấy muốn giác ngộ sẽ khó khăn. V́ sao? Chướng ngại ngộ môn!

          Do vậy, chúng ta thật sự mong cầu giác ngộ, chẳng thể không buông xuống. Chương Gia đại sư dạy tôi “buông xuống, thấy thấu suốt”. Thấy thấu suốt là trí huệ, thực hiện từ chỗ nào? Thực hiện từ buông xuống. Quư vị chẳng buông xuống, trí huệ sẽ chẳng hiện tiền. Phải buông xuống, ngay trong cuộc sống hằng ngày. Cuộc sống trước kia thứ ǵ cũng đều so đo, luôn quan trọng hóa. Trong quá khứ, tánh cách của tôi cũng là như vậy. Đại khái là sau khi đă học Phật năm, sáu năm, mới đối với cuộc sống không c̣n quá quan trọng hóa, thứ ǵ cũng đều được. Bất luận là chính ḿnh đích thân nấu nướng, chẳng c̣n bắt buộc phải có những thứ này nọ, hết thảy đều là tùy tiện sử dụng. Đến tuổi già, tôi chẳng c̣n tự ḿnh dùng đến nhà bếp nữa! Bất luận là ai nấu, bất luận là nấu món ăn ǵ, tôi đều có thể tiếp nhận, chắc chắn chẳng có mảy may kén cá chọn canh nào! Cái tâm dần dần b́nh lặng, chướng ngại chẳng c̣n. V́ thế, đối với cơm, áo, ăn, ở, nếu quư vị chẳng buông xuống, sẽ chướng ngại ngộ môn, mà cũng chướng ngại quư vị văng sanh. Ngay cả giảng kinh, thuyết pháp, hoằng pháp lợi sanh, cũng đều phải buông xuống, chúng cũng là chướng ngại!

          V́ sao hiện thời vẫn giảng ở nơi đây? Duyên! Tùy duyên! Có duyên bèn đến. Chẳng có duyên, trọn chẳng phan duyên. Quyết định chẳng phải là tôi muốn tới chỗ quư vị, chẳng có ư nghĩ ấy! Chúng tôi đến đây là năm Hương Cảng được trao trả [cho Trung Quốc], tôi đến thăm chỗ ày. Do trong quá khứ thường đến Hương Cảng, bằng hữu bên này rất đông. Khi Hương Cảng được trao trả, [chúng tôi] đến xem náo nhiệt, ở đây, chúng tôi có mấy vị đồng tu, mấy vị đồng tu đă lâu. Sau khi gặp gỡ, họ hy vọng tôi sẽ quay lại giảng kinh. Họ rất thành khẩn, tôi nhận lời, tùy duyên! Ba vị lăo đồng tu ấy đều ở trong đạo tràng của chúng ta, quư vị thường thấy họ, tức là Hà Thái Quyên, Hà Lệ Tương, và Trương Mỹ Phụng, ba bà ấy. Không ai đến t́m tôi, tôi sẽ chẳng chủ động đi t́m người ta.

          Kể ra, tôi có duyên phận với vùng đất này. Xác thực là đến Hương Cảng, pháp duyên rất thù thắng. Tôi đến lần đầu vào năm 1977, thuở ấy, pháp sư Thánh Hoài quen biết tôi khi Sư c̣n ở Đài Loan, mời tôi sang đây. C̣n có một vị là cư sĩ Tạ Đạo Liên, hai người [mời tôi]. Buổi tối đầu tiên tôi đến Hương Cảng, pháp sư Sướng Hoài[1] tiếp đăi, kể cho tôi biết những trạng huống trong Phật giáo ở nơi đây. Sư bảo tôi, phong khí nghe kinh của người Hương Cảng chẳng hào hứng cho lắm. Sư bảo có rất nhiều bậc cao tăng đại đức nổi danh đến Hương Cảng giảng kinh, hoằng pháp, thính chúng cũng chẳng đông. Ngày đầu tiên, người rất đông, ngày viên măn cuối cùng cũng rất đông, tức là hai ngày ấy mọi người đều đến ủng hộ. Những ngày giữa đó sẽ thưa thớt, lèo tèo. Do vậy, Sư bảo tôi: “Pháp sư Tịnh Không à! Thầy không nổi tiếng, chẳng ai biết đến thầy, trong tâm thầy phải xác định: Có thể là khi giảng kinh, v́ chúng ta ước định thời hạn là bốn tháng, lâu ngần ấy, có thể sẽ có vài hôm chẳng có người nào đến cả!” Tôi thưa với Sư: “Không sao hết! Chẳng sao cả! Chúng ta có bàn ghế, không có ai nghe, tôi giảng cho bàn ghế vậy!” Sư đáp: “Vậy là được rồi, thầy có tâm thái ấy, sẽ chẳng có vấn đề ǵ!”

          Do vậy, tôi nói: Tôi không cần thính chúng bao nhiêu, một hai người [đến nghe], tôi cũng rất hăng hái. Chẳng có ai, tôi đối trước bàn ghế cũng giảng rất hăng hái. Nào ngờ đến ngày khai giảng, xác thực là người nghe ngồi kín chỗ. Đạo tràng của Sư rất nhỏ, chẳng to như nơi này. Đại khái là một trăm năm mươi người bèn chật cứng. Suốt bốn tháng, hằng ngày đều là như vậy. Pháp sư Sướng Hoài nói: “Chẳng ngờ pháp duyên của thầy thù thắng dường ấy”. Vẫn là hữu duyên với nơi đây!

          V́ thế, Phật pháp nói hết thảy là nhân duyên sanh. Chúng ta phải kết thiện duyên với chúng sanh, quyết định chớ nên kết ác duyên. Phật, Bồ Tát, cổ thánh tiên hiền thường dạy chúng ta: “Oan gia nghi giải, bất nghi kết” (Oan gia nên cởi gỡ, đừng nên trói buộc). Đời đời kiếp kiếp trong quá khứ, cơ hội gặp gỡ Phật pháp ít ỏi, cơ hội chẳng gặp Phật pháp nhiều lắm, trạng huống của chúng sanh trong lục đạo đại khái đều chẳng sai khác cho mấy. Chẳng gặp gỡ Phật pháp, hoàn toàn tùy thuận tập khí phiền năo của chính ḿnh; do vậy, tập khí phiền năo mới nặng nề ngần ấy. Hiện tại chính ḿnh đă biết, khi chẳng học Phật, chẳng có công phu giác chiếu; nay đă có một tí công phu giác chiếu, biết tập khí phiền năo của chính ḿnh nặng nề! Sau khi đă phát tác, sau đấy sẽ hối hận, nhưng khi cảnh giới hiện tiền, chính ḿnh chẳng thể làm chủ, bất tri bất giác lại phát tác, chẳng biết phải bao nhiêu lần rồi mới có thể quay lại được. Bản thân tôi có kinh nghiệm, tôi là người từng trải, tôi học Phật năm mươi lăm năm, biết chuyển đổi cảnh giới khá khó khăn, tốn thời gian khá dài!

          Tôi có thể chuyển đổi là nhờ vào ǵ? Tôi có một bí quyết, tôi biết tập khí hết sức khó chuyển, dùng phương pháp ǵ? Tôi dùng giảng kinh. Quư vị thấy những năm đầu tiên, gần như là hai mươi, ba mươi năm trước, tôi thường nói, các vị trước kia nghe tôi giảng kinh, thuở ấy, chẳng có băng thâu h́nh, chỉ có băng thâu âm, tôi thường nói: “Tôi không biết giảng, tôi phải luyện tập trên giảng đài”. V́ thế, có những người phê b́nh tôi, bảo tôi thích giảng kinh. Tôi nói:Chẳng phải là tôi yêu thích, mà là dùng giảng kinh để trị liệu tập khí phiền năo của tôi. V́ giảng kinh sẽ ép quư vị phải chuẩn bị hằng ngày, hằng ngày quư vị phải đọc kinh, tinh thần phải dốc trọn vào kinh điển. Tôi dùng phương pháp này để sửa đổi tập khí phiền năo, rất hữu hiệu!

          Tôi nói: “Tôi [giảng kinh] nhằm đối trị chính ḿnh. Ngày nào đó, tôi thật sự biết giảng, chẳng có tập khí phiền năo, tôi sẽ không giảng”. Đừng nghĩ là tôi ưa thích, tôi khoái giảng, chẳng phải vậy! Tập khí phiền năo của mỗi cá nhân khác nhau; nói chung, quư vị phải t́m một phương pháp hữu hiệu để trị liệu. Tôi dùng phương pháp này để trị bệnh, có người biết, nhưng chẳng nhiều. Phương pháp để chữa trị khuyết điểm của mỗi người cũng khác nhau, có người dùng tham Thiền, có người dùng niệm Phật, có người dùng tŕ chú. Tôi đều thử qua, không đắc lực, [đối với tôi] kinh giáo rất đắc lực. Đương nhiên là chuyện này chắc chắn liên quan đến tập khí đọc sách. Tôi ưa thích đọc sách, khi đọc sách bèn chuyên chú, chẳng bị phân tâm. V́ vậy, đọc sách cũng là Thiền Định. Tôi cũng đă nói chuyện này rất nhiều. Chúng ta tụng kinh, học Giáo, cũng là Tam Học Giới, Định, Huệ được hoàn thành một lượt. Do vậy, quư vị phải hiểu phương pháp. Khi quư vị chẳng hiểu phương pháp, vẫn cứ dùng vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ sai mất rồi, sẽ chẳng thâu được hiệu quả!

          Do đó, đọc kinh, nghiên cứu giáo, đều chớ nên dùng phân biệt, cũng chớ nên dùng chấp trước, hăy tâm b́nh khí ḥa. Đối với chỗ không hiểu, đừng nên nghiên cứu; hễ nghiên cứu, chắc chắn là sai lầm. Làm như thế nào đây? Không hiểu th́ coi như xong, cứ đọc qua. Đọc nhiều lượt, công lực sâu hơn, sẽ tự nhiên hiểu rơ! V́ thế, cổ nhân nói: “Đọc sách ngàn lần, tự thấy ư nghĩa”. Lời này nói rất hợp lư, là thật, chẳng giả! Niệm cho đến khi cái tâm thanh tịnh hiện tiền, trí huệ sanh khởi. Trí huệ sanh như thế nào? Chỗ [trước kia] không hiểu [nay] bèn xem hiểu. [Trước kia] liễu giải chẳng đủ độ sâu, nay đă liễu giải ở mức độ sâu. Đấy đều là hiện tượng trí huệ hiện tiền. Chuyên học một bộ kinh, hễ mở xem những bộ kinh điển khác đều có thể đọc hiểu, đều có thể hiểu rơ ư nghĩa, thấu suốt những kinh khác. Phật, Bồ Tát, các vị tổ sư đại đức chẳng gạt người. Các Ngài thật sự yêu thương, bảo vệ người đời sau, há có lẽ nào gạt người? Câu nào cũng đều là lời thật, điều quan trọng nhất là quư vị phải tin tưởng. Nếu quư vị chẳng tin, sẽ không có cách nào cả! Vậy th́ quư vị sẽ thật sự chẳng nhập môn được!

          Bồ Tát thấy sông ng̣i, có thể nguyện cho chúng sanh “đắc dự pháp lưu” (được dự vào ḍng pháp). Niệm nào cũng đều chẳng quên giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ. Nay chúng ta đắp tượng Phật, tạo tháp Phật, có lợi ích ǵ cho chúng sanh hay không? Chẳng thể nói là không có, nhưng chỉ có một loại lợi ích: Khiến cho họ trông thấy, đó gọi là “hễ lướt qua mắt, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo”, kết thiện duyên với Phật pháp. Đấy là đă đạt được mục đích. Muốn cho trong một đời này, người ấy giác ngộ, tu hành, khai ngộ, chứng quả, chuyện ấy sẽ chẳng thực hiện được! Chẳng dựng tháp, mà cũng chẳng tạo tượng Phật được th́ phải nên làm như thế nào? Phải đọc kinh, phải nghiên cứu giáo, lợi ích sẽ to lớn!

          V́ thế, thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, Ngài chẳng dùng một bức tượng Phật nào để giáo hóa chúng sanh, quư vị phải biết [điều này]. Dạy như thế nào? Lên lớp, giáo học, giảng kinh hơn ba trăm hội, thuyết pháp bốn mươi chín năm, chư vị đều biết chuyện này! Hằng ngày lên lớp cùng mọi người, chưa hề nghỉ ngơi! V́ sao lên lớp chưa hề nghỉ ngơi? Hễ gặp người khác, nam, nữ, già, trẻ, các nghề nghiệp, chỉ cần đức Thế Tôn gặp gỡ, nhất định sẽ tṛ chuyện với họ. Tṛ chuyện là giảng kinh, tṛ chuyện nhằm giúp cho người ấy giác ngộ, giúp người ấy giải quyết nghi nan tạp chứng. Quư vị nói xem, đấy có phải là giảng kinh hay chăng? Há có gián đoạn hay chăng? Chẳng phải là tụ tập đại chúng để lên lớp trong giảng đường th́ mới gọi là giảng kinh. Đối trước một người cũng là giảng kinh, đối với hai người, cũng là giảng kinh!          

          Thích Ca Mâu Ni Phật giao tiếp với người khác, chỉ cần mở miệng, không có một chữ nào thừa thăi, vô ích. Đức Phật dạy chúng ta chẳng hư luận, chính Ngài làm sao có thể hư luận cho được? Hư luận là những lời lẽ chẳng có ư nghĩa, lời lẽ đùa bỡn, suốt đời đức Phật chẳng hư luận. Tiếp xúc đại chúng bèn ứng cơ thí giáo (應機施教, thuận theo căn cơ, mà ban cho giáo pháp). Người ấy có căn tánh như thế nào, dùng phương pháp ǵ, dùng ngôn ngữ kiểu nào để giúp cho người ấy giác ngộ, quay đầu. Bản lănh này từ bậc A La Hán trở lên mới có. Do có thần thông, A La Hán biết năm trăm đời quá khứ của kẻ khác, Ngài có năng lực ấy. [Năng lực ấy được gọi là] Túc Mạng Thông; cho nên Ngài thuyết pháp rất khế cơ. Năng lực của Bồ Tát càng to hơn nữa. Lũ phàm phu chúng ta th́ không được, chẳng có năng lực quan sát căn cơ, chẳng biết đời quá khứ quư vị làm ǵ, học ǵ, đều chẳng biết. Do đó, năng lực quan sát căn cơ chẳng như Phật, Bồ Tát, hiệu quả của việc thuyết pháp đương nhiên cũng chẳng sánh bằng A La Hán, chẳng cần nói tới Phật, Bồ Tát, chẳng sánh bằng được! Nhất định phải hiểu điều này, nhưng chính ḿnh phải nghiêm túc nỗ lực, chính ḿnh hăy khéo học, tùy thời, tùy chỗ dùng sở học của chính ḿnh để giúp đỡ người khác. Chúng ta được dự vào ḍng pháp, mà cũng giúp cho người khác nhập ḍng pháp.    

          Hiện thời, để nhập biển Phật trí, chỉ có một con đường, [chính là] “Tín Nguyện Tŕ Danh, cầu sanh Tịnh Độ”, như thế th́ chắc chắn sẽ nhập biển Phật trí. Nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng tới chỗ này, [hăy] nghỉ ngơi vài phút!

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem tiếp bài kệ kế tiếp là bài kệ thứ mười một.

 

          (Kinh) Nhược kiến pha trạch, đương nguyện chúng sanh, tật ngộ chư Phật, nhất vị chi pháp.

          ()見陂澤。當願眾生。疾悟諸佛。一味之法。

          (Kinh: Nếu thấy ao tù, nguyện cho chúng sanh, mau ngộ pháp một vị của chư Phật).

 

          Đối với chữ “pha trạch”, Thanh Lương đại sư có chú giải:

         

          (Sớ) Pha trạch giả, súc thủy viết Pha, bất tập chư lưu, cố nguyện nhất vị.

          () 陂澤者,畜水曰陂,不集諸流,故願一味。

          (Sớ: “Pha trạch”: Chứa nước th́ gọi là Pha, do chẳng gom nhóm các ḍng chảy, nên nguyện “một vị”).

 

          Nay chúng ta gọi “pha trạch” (陂澤) là ao chứa nước. Nước trong cái ao ấy tĩnh lặng, chẳng lưu động. Bài kệ kế tiếp nói tới “tŕ chiểu” (池沼, ao chuôm). Tŕ chiểu gần giống như “pha trạch”, chỗ khác biệt là một đằng th́ nước lưu động, chúng ta gọi là “hoạt thủy” (活水,nước lưu chuyển, sống động). Một đằng là nước chẳng lưu động, ta gọi là “nước chết” (nước tù đọng), nó chẳng lưu động, giống như ao chứa nước vậy. Thứ này cũng thường thấy, v́ tại nông thôn, những cái ao để chứa nước giống như vậy cũng rất nhiều. Chủ yếu là dùng để tưới tắm, hoặc nuôi cá, thả vịt, sẽ đều làm một cái ao chứa. Tùy thuộc trạng huống của mỗi nơi, ao sẽ lớn hay nhỏ khác nhau, có ao rất lớn. Gặp t́nh h́nh này, Bồ Tát tự nhiên sanh khởi nguyện “đương nguyện chúng sanh, tật ngộ chư Phật, nhất vị chi pháp” (nguyện cho chúng sanh, mau ngộ pháp một vị của chư Phật). “Tật” () là nhanh chóng!

          Phật pháp tuy xác thực nói là vô lượng pháp môn, nhưng đến cuối cùng, đúng là một vị. Một vị ấy rốt cuộc là ǵ? Kinh Bát Nhă đă nói hay nhất: “Chư pháp Thật Tướng” (Thật Tướng của các pháp). Như đối với Tâm Kinh, các đồng học học Phật trong khóa tụng sáng tối đều niệm Tâm Kinh, trong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự cũng niệm Tâm Kinh. Tâm Kinh dạy chúng ta “pháp nhất vị”. “Nhất vị” là chẳng hai, hai th́ chẳng phải là nhất vị. Nhất vị được gọi là pháp vị. Đắc pháp nhất vị, quư vị nhất định sẽ hưởng thụ pháp hỷ sung măn. Phải biết trong vũ trụ vốn là nhất vị, v́ sao bị biến thành ngũ vị? Ngũ vị điều ḥa, sẽ biến thành vô lượng vị; từ một pháp biến thành mười pháp, mười pháp biến thành vô lượng pháp. V́ sao vậy? “Duy tâm sở hiện” là nhất vị, “duy thức sở biến” sẽ biến thành vô lượng vô biên, thức biến mà! Vô lượng, vô biên, từ nhất vị lưu xuất mười pháp giới, y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới lưu xuất từ nhất vị. Nay chúng ta học Phật, cầu ǵ vậy? Cầu trở về nguồn, chúng ta từ mười pháp giới trở về một pháp giới, đó là thành tựu viên măn!

          V́ sao có thể biến? Biến thành phức tạp ngần ấy? Xă hội hiện thời hết sức phức tạp. Tôi trích lục mấy câu nói của tiến sĩ Thang Ân Tỷ (A. Toynbee), tôi thấy những lời ấy, có cảm xúc rất sâu! Tôi đọc mấy câu ấy cho mọi người nghe nhé, ông ta nói: “Thế giới hiện thời rối loạn đến nỗi khiến cho con người khó thể chịu đựng nổi. Phong khí càng ngày càng khiến cho quần chúng hồ đồ, hăm vào [thái độ] chẳng nhận lănh trách nhiệm, hoặc [rơi vào] hầm bẫy hưởng lạc chủ nghĩa. Trừ chuyện giáo dục quần chúng và nâng cao tŕnh độ luân lư đạo đức cho quần chúng ra, chẳng có cách nào khác nữa!” Nói rất hay! Chúng sanh trong hiện thời chẳng bằng cổ nhân, tôi nói họ thua kém điều ǵ? Cuộc sống tinh thần! Tuy hiện thời cuộc sống vật chất rất phong phú, nhưng đúng như ông Thang Ân Tỷ đă nói, khoa học kỹ thuật mang lại sự thuận tiện và văn minh vật chất trong hiện thời, chúng ta đă phải trả cái giá to cỡ nào? Sau khi quư vị đă hiểu rơ, mới biết “cái được chẳng bù nổi cái mất!”

          Lúc tôi c̣n thuộc tuổi thiếu niên, thậm chí cho đến khi hai mươi, ba mươi tuổi, thời niên thiếu tôi sống ở nông thôn. Ở trong thôn trang ấy, dơi mắt nh́n bốn phía, chỗ kia là nhà nào, chỗ nọ là nhà nào. Thôn trang cách nhau chẳng xa, đại khái là một hai dặm đường. Hai dặm bằng một cây số hiện thời. Lũ nhóc chúng tôi thường chạy ra ngoài chơi, t́m bạn chơi đùa. Sống tại nông thôn, thân thiết với thiên nhiên, t́m mấy đứa nhỏ, đều ở thôn khác, cùng vầy đoàn trèo núi, đều quen biết nhau, đều hết sức thân thiết, đều giống như người một nhà. T́nh người nồng hậu lắm, đấy mới là cuộc sống của con người. Về sau, tuy sống tại đô thị, con người cũng khá mật thiết, xóm giềng cùng phường khóm đều nhận biết nhau, gặp mặt há có lẽ nào chẳng chào hỏi nhau? Tết đến bèn đi chúc Tết lẫn nhau; những dịp thù tạc mọi người đều cùng đến, náo nhiệt! Quư vị thấy hiện thời phát triển, như tại khu vực Hương Cảng này, chúng ta sống cùng một tầng lầu, tầng lầu này có bốn nhà, đúng là cho đến già chết chẳng qua lại với nhau. Chẳng biết người cách vách của ta có họ là ǵ, đôi bên gặp mặt nhau chẳng chào hỏi, xă hội hiện đại [là như vậy đấy]. Quư vị nghĩ xem cuộc sống tinh thần, luân lư, đạo đức của chúng ta đă hoàn toàn tuyệt diệt. Đấy là hiện tượng xă hội trong hiện thời, v́ sao biến thành nông nỗi này? Chúng ta phải phản tỉnh rất sâu!

          Toàn thể vũ trụ vốn là một Thể, ai chứng minh? Phật đă chứng minh, Bồ Tát đă chứng minh! Pháp Thân Bồ Tát đă chứng đắc. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă dạy chúng ta, v́ sao chúng ta mê mất? Nguyên nhân gây nên mê mất chính là do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Kinh luận Pháp Tướng Tông có nói: “Do một niệm bất giác mà có vô minh”. “Một niệm” chính là tâm động, tâm động như thế nào? Nay chúng ta nói là “khởi tâm động niệm”. Khởi tâm động niệm là vô minh, đă mê, mê mất tự tánh. Phật và Pháp Thân Bồ Tát cao minh ở chỗ nào? Cao minh ở chỗ sáu căn tiếp xúc cảnh giới sẽ vĩnh viễn chẳng khởi tâm, không động niệm, đấy là Phật! Vĩnh viễn chẳng khởi tâm động niệm, đấy là Pháp Tánh nguyên bản. Pháp Tánh vốn là như thế, hết thảy chúng sanh thảy đều có. Quư vị có thể chứng đắc, nói thông thường là quư vị thành Phật th́ mới đắc nhất vị!

          Mới động một niệm, nhất vị bị mất đi, quư vị dấy lên biến hóa, biến thành ǵ? Biến thành Bồ Tát. Vẫn coi như c̣n khá, v́ quư vị mới động, “sóng” c̣n chưa lớn, nhưng đă chẳng phải là nguyên bản. Nguyên bản th́ về căn bản là chẳng có sóng, chẳng có dao động. Khởi tâm động niệm bèn có dao động, đó là cảnh giới ǵ? Phật pháp giới trong mười pháp giới. Chư vị phải biết, vị ấy chẳng thuộc về Nhất Chân pháp giới, mà là Phật pháp giới trong mười pháp giới. Vị ấy có khởi tâm động niệm, chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước. Sau khi đă khởi tâm động niệm, dấy lên phân biệt, phân biệt hết sức nhỏ yếu th́ là Bồ Tát pháp giới. Nếu phân biệt nghiêm trọng hơn, [tức là] nghiêm trọng hơn hàng Bồ Tát, sẽ là Duyên Giác pháp giới. Nghiêm trọng hơn sẽ là Thanh Văn pháp giới. Nếu từ trong ấy, lại dấy lên một niệm chấp trước, sẽ vào lục đạo, tức là thiên pháp giới, nhân pháp giới, cho đến địa ngục. Chấp trước trong lục đạo, càng đi xuống, chấp trước càng nặng hơn; càng hướng lên trên, chấp trước càng nhẹ hơn. Kinh Phật nói hay lắm, nói đơn giản, nói minh bạch.

          Chúng ta tu ǵ? Nay chúng ta mong trở về, quay trở về Nhất Chân pháp giới, chẳng có chi khác, chớ nên chấp trước. Chấp trước chẳng phải là Sự, [có nghĩa là] phân biệt và chấp trước chẳng phải là [xét theo mặt] Sự, Sự không khẩn yếu! Kinh Hoa Nghiêm nói “Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”. Vấn đề ở chỗ nào? Chính là ư niệm chấp trước, chớ nên có ư niệm này! Nếu quư vị trừ khử chấp trước, phiền năo sẽ bị giảm bớt một nửa. Hoàn toàn đoạn Kiến Tư phiền năo, tự nhiên là quư vị chẳng ở trong lục đạo, chúng ta thường nói là “liễu sanh tử, thoát tam giới”. Hạn độ thấp nhất là quư vị chứng quả A La Hán, vượt thoát lục đạo luân hồi. Do vậy, A La Hán quyết định chẳng có chấp trước, đương nhiên là Bồ Tát càng chẳng có, nhưng như thế nào? Có phân biệt. A La Hán có phân biệt, Bích Chi Phật có phân biệt, Bồ Tát cũng có phân biệt, nhưng nhẹ hơn A La Hán. Đến khi đoạn sạch phân biệt, sẽ là Phật trong mười pháp giới, vị ấy vẫn c̣n khởi tâm động niệm. Khi nào khởi tâm động niệm cũng buông xuống, vị ấy bèn vượt thoát mười pháp giới, trở về Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân pháp giới chính là thế giới Hoa Tạng như kinh Hoa Nghiêm đă nói, c̣n kinh văng sanh gọi là thế giới Cực Lạc. Đấy là nhất vị!

          Nay tôi tin tưởng, mỗi vị đồng học học Phật đều mong mỏi chính ḿnh có thể ngay lập tức chứng đắc. Tôi đă nói với quư vị rất nhiều lần, lúc tôi mới học Phật, lần đầu tiên gặp mặt Chương Gia đại sư đă hỏi Ngài vấn đề này. Tôi thưa: “Con biết Phật pháp tốt đẹp, Phật pháp thù thắng, có phương pháp nào khiến cho con có thể ngộ nhập rất nhanh chóng hay không?” Có cùng một ư nghĩa [với từ ngữ nhất vị ở đây], tôi tin là rất nhiều người đều thắc mắc như tôi. Thầy dạy tôi: “Hăy thấy thấu suốt và buông xuống, anh sẽ có thể ngộ nhập”. Học “thấy thấu suốt, buông xuống” từ chỗ nào? Phải làm từ buông xuống! V́ quư vị chẳng buông xuống, sẽ chẳng có cách nào thấy thấu suốt. Thấy thấu suốt là Giải Môn, buông xuống là Hạnh Môn. Quư vị buông xuống càng nhiều, sẽ lư giải càng nhiều, càng rộng, càng sâu! Điều này cho thấy: Chấp trước, phân biệt, vọng tưởng chướng ngại ngộ môn của chúng ta, quư vị chẳng khai ngộ. V́ sao hằng ngày nghe kinh, nghe kinh vài chục năm, chẳng có một chút ngộ xứ nào cả? Chính ḿnh cũng thường cảm thấy bản thân chẳng có ngộ tánh, luôn tự trách chính ḿnh nghiệp chướng rất nặng. Điều ấy chẳng sai, chính là nghiệp chướng rất nặng. Nói thật ra, quư vị chẳng biết buông xuống, dẫu sám hối như thế nào đi nữa, vẫn chẳng thể khai ngộ! V́ sao? Chẳng buông xuống được! Cứ nhất định phải chấp trước! Thứ này đúng là đ̣i mạng, khi nào quư vị thật sự giác ngộ, hiểu rơ, sẽ buông xuống!

          Buông xuống thực hiện từ chỗ nào? Nhất định phải hiểu, trong hết thảy các pháp, pháp nào chấp trước nặng nhất, không buông xuống được nhất, quư vị hăy buông nó xuống trước; sau đấy, những thứ khác sẽ dễ dàng! Ví như quư vị rất coi trọng tiền tài, hăy thực hiện từ chỗ này. Coi danh lợi rất nặng, hăy thực hiện từ danh lợi. Coi vinh dự rất trọng, đó gọi là “mặt mũi”, chẳng buông xuống thứ này, sẽ không được. Hăy thực hiện từ chỗ này! Quư vị phải tự nghĩ, mỗi cá nhân khác nhau, tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, chúng ta đă thấy, có kẻ coi tiền tài rất nhẹ, nhưng coi danh rất nặng. Chúng ta nói thông tục là “thích đội mũ cao” (ưa chuộng lời tâng bốc), thích được người khác ca tụng! Nếu người nào nói một câu không tốt về kẻ ấy, kẻ ấy sẽ rất khó chịu đựng nổi, ôm ḷng căm tức mất vài ngày! Đấy là ǵ? Chẳng buông mặt mũi xuống được! Căn bệnh nào nặng nhất, hăy thực hiện trước từ nơi đó, sẽ rất hữu hiệu! Phương pháp này là do Chương Gia đại sư dạy tôi.

          Tôi thuở trẻ cũng chẳng có tiền của, nhưng thích sách vở nhất. Tôi rất yêu tiếc sách vở, ưa đọc sách, yêu thích nhất! Người khác mượn sách, tôi sẽ không cho mượn, rất keo kiệt! V́ sao? Sau khi cho mượn, họ trả lại cho tôi, nhất định chẳng phải là dáng vẻ vốn có! Họ làm bẩn sách của tôi, tôi cũng rất khó chịu. Họ viết chữ lên sách của tôi, hễ có vết khoanh, chấm, tôi chịu không nổi. V́ thế, tôi chẳng cho kẻ khác mượn sách. Đấy là tật xấu! Chương Gia đại sư bảo: “Anh hăy buông xuống từ chỗ này!” Được rồi! Hăy buông xuống trước. Buông xuống như thế nào? Sách tôi đă đọc, đọc rất nhiều lần, không sao, có thể cho người khác mượn, nhưng sách mới th́ không thể. Sau khi làm mấy năm mới dần dần có tiến bộ, sách mới mà tôi tự ḿnh c̣n chưa xem, người khác cần tôi cũng có thể cho họ mượn. Đấy là có tiến bộ. Thậm chí khi người khác cần, tôi cũng có thể đứt ruột tặng cho người ấy, dần dần dưỡng thành thói quen này. Đạt đến mục tiêu chung cực là phải buông xuống ư niệm chấp trước, buông xuống ư niệm phân biệt. Khởi tâm động niệm rất khó, chúng tôi chẳng nói, chỉ nói hai thứ này. Hai thứ này cũng chẳng dễ dàng, nhưng quư vị phải thật sự làm!

          Quư vị thật sự làm, sẽ đạt được lợi ích chân thật. Lợi ích chân thật là ǵ? Trong Phật pháp thường nói là “phiền năo nhẹ nhàng, trí huệ tăng trưởng”. Sáu căn tiếp xúc hết thảy cảnh giới bên ngoài, giống như trong Đàn Kinh đă nói: “Chỉ sanh trí huệ, chẳng sanh phiền năo”. Quư vị gặp vấn đề, c̣n có chuyện ǵ chẳng thể giải quyết? Phàm là những chuyện chẳng thể giải quyết, tức là quư vị sanh phiền năo, chẳng sanh trí huệ, quư vị làm cho vấn đề càng phức tạp hơn. Nếu sanh trí huệ, chẳng sanh phiền năo, dẫu vấn đề rắc rối, phức tạp đến mấy đi nữa, hễ đến trước quư vị, sẽ trở thành đơn giản, quư vị có thể xử lư tốt đẹp. Đấy mới là thật sự đạt được thọ dụng trong Phật pháp, nhất là như chúng ta đang nói ở đây, đó gọi là “nhập cảnh giới của Phật”. Vậy th́ quư vị phải thật sự hiểu, giáo học thời cổ coi trọng sư thừa, một vị thầy, một pháp môn, một bộ kinh điển. Cổ nhân học tập có kỳ hạn, thông thường ấn định kỳ hạn là năm năm. Sau năm năm, quư vị có ngộ xứ, thật đấy! Năm năm là nhất tâm bất loạn.

          Niệm Phật cũng thế, đọc kinh cũng thế, nghiên cứu giáo lư cũng thế. Nói chung, đều là Tam Học Giới, Định, Huệ. Tam Học đồng thời cùng tiến. Quư vị nương theo những quy củ đă định của Phật, Tổ để y giáo phụng hành, tức là tŕ giới. Nhất tâm chuyên chú là tu Định. Định đến một mức độ nhất định, sẽ khai trí huệ. V́ thế nói: Năm năm, người khai trí huệ rất nhiều. “Khai trí huệ” ở đây chẳng phải là đại triệt đại ngộ, chẳng phải là minh tâm kiến tánh, chúng ta nói là “tích tiểu ngộ thành đại ngộ”. Xác thực quư vị mỗi năm một thông minh hơn, mỗi năm có trí huệ hơn. Đấy chính là chân tướng sự thật của sự tu hành mà bản thân chúng tôi đă từng trải nghiệm. Đương nhiên là trong quá tŕnh ấy, chẳng có ngoại lệ, tất nhiên là chướng ngại tầng tầng, chẳng phải là thuận buồm xuôi gió. Chướng ngại tầng tầng mà quư vị có Tam Học Giới, Định, Huệ th́ sẽ rất dễ dàng đột phá. Nếu quư vị chẳng có Giới, Định, Huệ, sẽ rất dễ bị chướng ngại. Chướng ngại như thế nào? Ngă ḷng, quư vị thật sự bị thất bại, thoái chuyển, hoặc là đi lầm vào ngơ rẽ! Vào lầm ngơ rẽ, đấy là v́ chẳng nghe theo giáo huấn của thầy. Đă theo một vị thầy, lại đổi sang một vị khác, hoặc theo đồng thời mấy vị thầy, chuyện này rất phiền toái, rất dễ vào lầm ngơ rẽ. Do vậy, sư thừa là một thầy. Một vị thầy dẫn dắt quư vị đạt đến khai ngộ thật sự.

          Khai ngộ có h́nh trạng như thế nào? Có năng lực phân biệt chân vọng, tà chánh, thị phi, thiện ác, lợi hại. Quư vị vừa tiếp xúc, bèn có thể phân biệt rành rẽ, rơ ràng. [Tṛ đă] có năng lực ấy, thầy bèn buông tay. Buông tay là ǵ? Nhất định sẽ bảo quư vị đi tham học. “Tham học” là thứ ǵ quư vị cũng đều có thể tiếp xúc. Chẳng hạn như đối với kinh điển, kinh ǵ cũng đều có thể xem. Quư vị có năng lực ấy, xem nhiều sẽ có lợi ích đối với quư vị, thành tựu Hậu Đắc Trí, sẽ chẳng học theo thói xấu. Bất cứ hạng người như thế nào trong xă hội, quư vị cũng đều có thể tiếp xúc. Điều này giống như năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử, quư vị đă có năng lực ấy, thầy chẳng c̣n can thiệp [vào chuyện tu học của] quư vị nữa! Chẳng có năng lực ấy, thầy sẽ quản rất nghiêm, tức là bất cứ ai giảng kinh, thuyết pháp [quư vị] đều chẳng thể nghe. Bất cứ sách vở, văn chương nào chưa được thầy đồng ư, sẽ chẳng thể xem. Quản nghiêm ngặt, [là v́] sợ quư vị đi lầm vào ngơ rẽ! Đấy là thầy thật sự yêu thương, thật sự chăm sóc học tṛ. Nhất định phải bồi dưỡng quư vị có năng lực cơ bản này, sau đấy mới để cho quư vị ra ngoài, ḥng thành tựu viên măn Hậu Đắc Trí cho quư vị. Đó gọi là “không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể”. Đó là tham học, là học rộng nghe nhiều, là chuyện thuộc về bước thứ hai.

          Bước đầu tiên là Căn Bản Trí. Căn Bản Trí là ǵ? “Bát Nhă vô tri”; v́ thế, Căn Bản Trí là vô tri. Căn Bản Trí là cái tâm thanh tịnh. Căn Bản Trí là Pháp Tánh. Khi nó chẳng khởi tác dụng, ở trong trạng huống tĩnh, sẽ gọi là Căn Bản Trí. Khi nó dấy lên tác dụng, không ǵ chẳng biết. Khi chẳng khởi tác dụng, tâm như như bất động. Kinh Kim Cang nói: “Chẳng chấp lấy tướng, như như bất động”, vị ấy đạt đến tŕnh độ này. “Khởi tác dụng” là ǵ? Khi có người hướng về vị ấy thỉnh giáo, bất luận nêu ra vấn đề ǵ, vị ấy đều có thể giải đáp viên măn, tuyệt đối chẳng phải thông qua suy nghĩ: “Ta nghĩ xem phải trả lời câu hỏi này như thế nào?” Chẳng có! Bất luận vị đó đă học qua vấn đề ấy hay chưa, hoàn toàn đều có thể giải đáp rất thỏa đáng, rất viên măn cho quư vị. Đấy là biểu hiện của sự khai trí huệ! Do vậy, người khéo học, thật sự biết học, sẽ tôn sư trọng đạo, lại thêm chính ḿnh hiếu học, há có lẽ nào chẳng thành công?

          Học tập hết sức nhọc nhằn, phải có thể chịu đựng nỗi khổ này. Sau khi đă thật sự chịu được, sẽ có niềm vui thú trong ấy, đúng như sách Luận Ngữ đă nói: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? (Học rồi thường xuyên tập luyện, cũng chẳng vui ư?) Thật sự đắc pháp hỷ, thật sự được vui sướng. Sự vui sướng ấy chẳng có cách nào diễn tả được, chẳng có cách nào h́nh dung, chính ḿnh có đạt được th́ mới biết. Giống như cổ nhân đă bảo: “Như nhân ẩm thủy, lănh noăn tự tri” (Như người uống nước, lạnh nóng tự biết), nói chẳng được! Nội tâm hỷ duyệt, pháp hỷ sung măn. Nói theo phía thân thể của chúng ta, nay chúng ta nói là sinh lư, sự hỷ duyệt ấy chính là chất bổ dưỡng thù thắng nhất. Nó có thể khiến cho tinh thần của quư vị no đủ, chẳng chán ngán, uể oải. Chẳng biết mệt mỏi, chẳng biết chán ngán, đó là quư vị đă thật sự khế nhập!

          Đọc sách, học tập, học đạo, “phế tẩm vong san” (廢寢忘餐), nghĩa là quên ăn uống, ngủ nghỉ cũng quên luôn, [thế nhưng] tinh thần no đủ, thời gian ngủ mỗi ngày rất ít, hai ba tiếng đồng hồ là đủ rồi. Đang trong lúc mệt mỏi, đánh một giấc ngắn ngay trên bàn đọc sách là được rồi. Nghỉ ngơi chốc lát, tinh thần lại hồi phục, phấn chấn tinh thần. Nếu quư vị bảo người ấy buông việc học tập xuống, hăy buông sách xuống để làm chuyện khác, thưa cùng chư vị, sẽ rất dễ mệt mỏi. V́ sao? Chẳng có hứng thú. Đấy là v́ trong những thứ thuộc về thế gian, chẳng có sự vui thú. Cổ đại đức thường nói, “thế vị” (世味, hương vị của thế gian) chẳng nồng đượm như pháp vị. Hiện thời, chẳng được nếm pháp vị. Nếu đă được nếm, có muốn bỏ, sẽ chẳng thể! Thứ ǵ vui sướng nhất trong thế gian? Chuyện này vui sướng nhất, không có ǵ vui hơn điều này! Chuyện này ai nấy vốn có, ai nấy đều có phần. Trong hiện tại, quư vị bị chướng ngại hiện tiền, chẳng thể đột phá chướng ngại ấy, quư vị sẽ chẳng được nếm pháp vị. Khi đă đột phá chướng ngại, quư vị sẽ nếm được! Chuyện này cần phải có nghị lực, phải có cái tâm thường hằng, phải có mục tiêu và phương hướng nhất định, suốt đời chớ nên biến đổi!

          Nếu muốn tăng tấn cao hơn, điều kiện đầu tiên là phải đạt đến Vô Ngă. Lời dạy trong kinh Kim Cang là thật, chẳng giả: “Vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”. Ai đă làm được? A La Hán làm được. Từ Tu Đà Hoàn cho đến A La Hán là một phương hướng, một mục tiêu. Tu Đà Hoàn là Sơ Quả, chẳng c̣n chấp trước cái thân này là ta, đầu tiên là phá Ngă Chấp. C̣n có Ngă Chấp hay không? Có chứ, phá rất cạn, chẳng c̣n chấp trước cái thân là ta. Nay chúng ta chấp trước nghiêm trọng “thân là ta”. Chuyện này rất khổ năo, là căn cội của tất cả hết thảy phiền năo, quư vị chẳng phá trừ mảy may! V́ thế, quư vị có bệnh, nói chung là chẳng trị lành bệnh, nói chung là thường luôn phạm, chẳng thể đoạn trừ từ căn cội.

          Gần đây, tôi có đọc một bản báo cáo do một bác sĩ đích thân viết. Thuở trẻ, ông ta theo học tại Gia Nă Đại, năm cuối cùng đi kiểm tra thân thể, [phát hiện] mắc bệnh ung thư. Trải qua trị liệu nhiều năm, đến cuối cùng, phải dùng cách trị liệu hóa học (Chemotherapy) hết sức đau khổ, chẳng có cách nào đoạn trừ căn cội. Cuối cùng, ông ta nghĩ lại, thật sự phát tâm: “Coi như xong, không trị nữa, không đi khám bác sĩ, chẳng cần trị liệu. Trị liệu đau khổ quá”. Sau khi đă buông xuống chuyện này, ông ta hoàn toàn dùng ư chí, niệm nào cũng đều là thiện niệm, chuộng thiện, ưa thí, niệm niệm vẫn giúp đỡ kẻ khác. Thân thể mỗi ngày một khá hơn. Tới cuối cùng, đi kiểm tra, chẳng c̣n ung thư nữa, [đó là v́] chẳng c̣n coi trọng tấm thân này!

          Người thế gian có thân thể này, v́ sao bị bệnh tật mà chẳng thể trị lành? Do coi trọng thân thể này quá lố! Càng mong bảo dưỡng nó, bệnh tật càng xuất hiện. Sau khi thảy đều buông xuống, toàn thể tinh thần được thả lỏng, đâm ra có thể tập trung ư chí. Nói thật ra, phương pháp này có thể chứng minh rất khéo bởi thí nghiệm với nước của ông Giang Bổn Thắng. Một niệm thiện tâm, phản ứng nơi các tế bào trên toàn bộ thân thể đều biến thành thiện, quư vị sẽ khôi phục b́nh thường. Chuyện này chẳng phải là mê tín! Đầu tiên, quư vị phải khẳng định “sâm la vạn tượng” như Phật pháp đă nói đều do Pháp Tánh biến hiện. Thể là Pháp Tánh, Pháp Tánh chẳng có h́nh tướng. Chẳng có h́nh tướng mà có thể hiện ra h́nh tướng. Tất cả hết thảy các hiện tướng đều do Pháp Tánh hiện. Pháp Tánh vốn trọn đủ “thấy, nghe, hay, biết”, vốn đầy đủ sắc, thanh, hương, vị. Chỉ cần quư vị đưa chúng trở về cái vốn có, sẽ là tốt lành nhất, hoàn mỹ nhất. Quư vị bỏ thêm vọng niệm vào đó, nó sẽ nẩy sanh biến hóa. Tôi vừa mới nói, quư vị thấy một vọng niệm sanh khởi, nó sẽ biến chất, nhưng mức độ biến đổi rất nhỏ, bèn rơi vào Phật pháp giới trong mười pháp giới. Nếu nghiêm trọng hơn, sẽ biến thành Bồ Tát. Lại nghiêm trọng hơn, sẽ biến thành Duyên Giác hoặc Thanh Văn. Lại nghiêm trọng hơn, sẽ vào trong lục đạo. Chuyện là như thế đó!

          Nay chúng ta làm theo cách nào? Chính là buông xuống. Thật sự buông xuống, sẽ khôi phục. Vị bác sĩ ấy chẳng có công phu lỗi lạc ǵ khác, [chỉ là] buông xuống thân tâm thế giới, trở về tự tánh, hiệu quả bèn rơ rệt như vậy đó! Các vị xem Sơn Tây Tiểu Viện, [sẽ thấy] hơn bốn mươi người dùng phương pháp đọc kinh, niệm Phật, niệm đến mức đều trị lành bệnh. Nguyên nhân ǵ vậy? Chính do nguyên nhân này, chứng minh một câu đức Phật thường nói trong các bộ đại kinh: “Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”. Cổ đại đức nói, mà tôi cũng thường nói: Thế giới này và thế giới Cực Lạc với thế giới Hoa Tạng có ǵ sai biệt? Chẳng có mảy may sai biệt! V́ sao hiện tướng bất đồng? Do tâm bất đồng. Thiện tâm, sẽ chẳng có ǵ bất thiện. Tâm bất thiện, chẳng có thứ ǵ là thiện! Nếu chúng ta muốn sống tự tại, sống mỹ măn, quư vị chớ nên nghĩ tới điều ác, hăy nghĩ tới điều lành!

          Trong thế gian, chẳng có người nào không phải là thiện nhân! V́ sao? Bổn tánh vốn lành! Tam Tự Kinh được mở đầu bằng câu: “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh. Bồ Tát Giới Kinh đă nói rất hay: “Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ của ta trong quá khứ, là vị lai chư Phật”. Há có lẽ nào chẳng tôn trọng ư? Lẽ nào có thể đắc tội cho được? Ai nấy tôn trọng lẫn nhau, ai nấy kính yêu, quan tâm lẫn nhau, hỗ trợ hợp tác, thế giới này chính là thế giới Cực Lạc. Ḷng người biến thành lành, hành vi biến thành lành, núi, sông, đại địa chẳng có ǵ bất thiện!

          Gần đây nhất, có các vị đồng tu tặng cho tôi một ít rau xanh, rau xanh ấy ăn hết sức ngon. Vun trồng như thế nào? Họ kể với tôi, vun trồng bằng cách cho nó nghe Phật hiệu, đúng là khác hẳn. Ở Úc, trong vườn rau của chúng tôi, tất cả hết thảy các thứ rau đều được nghe Phật hiệu. Có khi c̣n nghe giảng kinh; v́ thế, rau dưa tăng trưởng tốt đẹp hơn ngoài chợ nhiều. Người trong các chợ rau trông thấy, [sẽ thắc mắc]: “Rau này từ đâu ra vậy? V́ sao phát triển tươi tốt dường ấy?” Thiện niệm, chẳng có ǵ khác! Cây cối, hoa cỏ đều được tưới tắm bằng kinh, bằng Phật hiệu. Chúng tôi đă làm vài năm, mọi người đều thấy hiệu quả, nhưng chính bản thân chúng ta vẫn chẳng chuyển nổi cảnh giới, là do nguyên nhân nào? Tập khí quá nặng! Thường là vừa tiếp xúc bèn quên sạch bách; xong chuyện, lại suy nghĩ, lại hối hận, ăn năn! Đấy là chỗ sống chẳng thể chuyển thành chín, công phu chẳng đủ, vẫn phải đổ công phu sâu hơn!

          Càng quan trọng hơn là thời thời khắc khắc biết buông xuống. Chúng ta thấy kẻ khác làm chuyện không tốt, trong tâm dấy lên ư niệm muốn giáo huấn kẻ đó. Hễ ư niệm ấy vừa mới dấy lên, hăy buông xuống. Rèn luyện từ chỗ này; đấy thật sự gọi là học Phật, thật sự rèn luyện công phu. Ta đối xử tốt với kẻ khác! Tốt cũng buông xuống. Chẳng lẽ người ấy phạm lỗi mà ta chẳng nói cho người ấy biết? Sau vài ngày rồi mới nói với người ấy. Nay quư vị nói với họ, quư vị đang bực bội, ứa gan, lời lẽ chẳng dễ nghe! Vài ngày sau, sẽ dịu đi, quư vị có thể nói dịu dàng, mềm mỏng với kẻ đó, sẽ khác hẳn! V́ thế, nhất định phải [đợi cho] đến khi chính ḿnh tâm b́nh khí ḥa rồi mới nói với kẻ ấy, giúp đỡ người ấy, họ sẽ tiếp nhận rất dễ dàng, sẽ cảm kích quư vị! Nay tuy quư vị nói với người ta, nhưng khi ngôn ngữ và thái độ rất thô tháp, kẻ ấy sẽ phản kháng, chẳng thể cảm kích quư vị. Thậm chí về căn bản, chẳng thể tiếp nhận, sẽ dấy lên tranh căi. Vậy là chẳng có ư nghĩa chi hết! V́ thế, buông xuống là có lư, chẳng phải là vô lư. Quư vị phải có trí huệ, phải thật sự luyện tập công phu ở chỗ này, bất luận gặp chuyện ǵ, đều phải thường nhớ buông xuống.

          Chỉ có buông xuống th́ mới có thể thấy thấu suốt. Thấy thấu suốt là hiểu rơ, đối với chân tướng sự thật bèn hiểu rơ, quư vị sẽ xử sự chẳng phạm sai lầm, tùy tâm ứng phó, khiến cho kẻ khác tâm phục, khẩu phục. Tâm thái của chính quư vị chánh xác, dùng tâm b́nh khí ḥa để xử trí mọi chuyện. Chúng ta thường xử trí mọi chuyện sai sót, [là do] tâm chẳng b́nh, khí chẳng ḥa, quư vị hăy ngẫm xem, có hợp lư hay chăng? V́ sao dùng lời lẽ tốt lành để khuyên người ta, người ta lại phản bác, vẫn không tiếp nhận? Nhất định phải quay lại suy xét tâm thái, ngôn ngữ, và thái độ của chính ḿnh ngay trong lúc đó, quư vị sẽ hiểu. V́ thế, Phật, Bồ Tát dạy chúng ta buông xuống là có lư. Như vậy th́ mới có thể rất nhanh chóng khế nhập cảnh giới của Phật, đạt được sự thọ dụng chân thật trong Phật pháp. Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói tới chỗ này.

 

Tập 1536   

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, xem từ bài kệ thứ mười hai trong tiểu đoạn thứ hai của đoạn thứ sáu trong phần kệ tụng.

 

          (Kinh) Nhược kiến tŕ chiểu, đương nguyện chúng sanh, ngữ nghiệp măn túc, xảo năng diễn thuyết.

          ()若見池沼。當願眾生。語業滿足。巧能演說。

          (Kinh: Nếu thấy ao chuôm, nguyện cho chúng sanh, ngữ nghiệp trọn vẹn, diễn nói khéo léo).

 

          Bài kệ trong phần trước nói về chuyện thấy “pha trạch”, bài kệ này nói đến “tŕ chiểu”. Nh́n từ h́nh tướng th́ chẳng sai khác cho mấy. “Pha trạch” cũng là ao, nhưng là ao để chứa nước, cũng có nghĩa là nước chẳng lưu chuyển. V́ thế, trong lời phát nguyện mới nói “nhất vị chi pháp” (pháp một vị). “Tŕ chiểu” (池沼) là cái ao có nước lưu chuyển, cũng có nghĩa là nó có chỗ để nước chảy vào, và cũng có chỗ để tháo nước ra. Chúng ta thường nói là nước lưu động. Ở đây chẳng phải là nước tù đọng. Do vậy, trong phần phát nguyện bèn nói: “Xảo năng diễn thuyết” (Có thể khéo diễn nói), v́ nước của nó lưu động, từ một phía chảy vào, chảy ra từ phía khác, nước là lưu động. Sai khác ở chỗ này! Nước chảy vào, ví như chúng ta tu học Phật pháp, tiếp nhận giáo huấn của Như Lai. “Chảy ra” th́ giống như chúng ta cũng có thể hoằng pháp lợi sanh. Như trong kinh giáo, đức Phật thường dạy chúng ta hai câu rất quan trọng. Kinh Kim Cang chỉ có năm ngàn chữ, văn tự không nhiều lắm, câu này được nhắc đến mười mấy lần, người đọc kinh Kim Cang nhất định đều rất quen thuộc: “Thọ tŕ đọc tụng, v́ người khác diễn nói”. Hai câu này quá trọng yếu. Khi nước chảy vào bèn thọ tŕ, đọc tụng; khi chảy ra, sẽ v́ kẻ khác diễn nói. V́ thế, quư vị thấy nguyện ở đây tương ứng với điều này, phát nguyện tương ứng với chuyện này khi trông thấy ao.

          “Đương nguyện chúng sanh”, nguyện là tự nhiên. Mỗi lần chúng tôi đều phải đề cập [điều này], v́ thính chúng trong đạo tràng chẳng cố định, gần như mỗi ngày đều có những khuôn mặt mới, có các đồng tu mới đến. Nhất là từ Trung Quốc Đại Lục, từ các nơi ở hải ngoại đến nơi đây thăm viếng. Nguyện của các vị Bồ Tát ở đây chẳng phải là Bồ Tát b́nh phàm, mà là các vị Pháp Thân Bồ Tát trong hội Hoa Nghiêm, chúng ta thường gọi các Ngài là Pháp Thân đại sĩ. Trong Lục Tức Phật của Thiên Thai đại sư, những vị [Bồ Tát] này là Phần Chứng Tức Phật. V́ thế, các Ngài là chân Phật, chẳng phải là giả Phật. Phật trong mười pháp giới, cao nhất trong mười pháp giới là Phật pháp giới, vị Phật ấy là Tương Tự Tức Phật, so với Pháp Thân đại sĩ trong hội Hoa Tạng, vẫn thấp hơn một bậc. V́ sao? Vị ấy chưa phá vô minh, chưa chứng đắc Pháp Thân. V́ thế, là Tương Tự Tức, phải biết điều này! Trong bốn loại Tịnh Độ, Tương Tự Tức chính là cơi Phương Tiện Hữu Dư.

          Bọn phàm phu chúng ta hoàn toàn chẳng đoạn phiền năo, luân hồi trong lục đạo. Tu hành trong lục đạo mà công phu đắc lực th́ gọi là Quán Hạnh Tức, vẫn chưa đạt đến mức Tương Tự. Quán Hạnh là công phu đắc lực. Quán Hạnh Tức mà tu các pháp môn khác th́ vẫn chẳng thể thành tựu, v́ quư vị chẳng thoát khỏi lục đạo, nhưng trong Tịnh Độ th́ hữu dụng. Tịnh Độ th́ như thế nào? Có thể văng sanh, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Nếu là địa vị Tương Tự Tức, sẽ sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư. Nếu phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, văng sanh thế giới Cực Lạc sẽ là cơi Thật Báo Trang Nghiêm, hoặc Thường Tịch Quang Tịnh Độ, khác hẳn! V́ thế, chỗ thù thắng của Tịnh Độ chẳng thuộc vào hai cơi trên (Thật Báo Trang Nghiêm và Thường Tịch Quang Tịnh Độ), mà là trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư; đây là điều đáng tán thán nhất. Bởi lẽ, bất cứ pháp môn nào, quư vị tu đến Quán Hạnh Tức, khi công phu đắc lực, chẳng thoát khỏi lục đạo, chỉ riêng pháp môn Tịnh Tông là có thể vượt thoát lục đạo! V́ thế, đây là chỗ thù thắng khôn sánh so với Tịnh Độ của tất cả chư Phật, chúng ta phải hiểu đạo lư này!

          Trong một đời này, chúng ta hăy tự suy nghĩ, địa vị Tương Tự và địa vị Phần Chứng chắc chắn là chúng ta chẳng làm được! Đây là nói thật thà! Nhưng Quán Hạnh Tức, chúng ta gọi là “niệm Phật công phu thành phiến”, Thiện Đạo đại sư đă nói hay lắm: “Vạn tu, vạn nhân khứ (Vạn người tu, vạn người văng sanh). Cũng có nghĩa là ai nấy đều có thể làm được. Trong một đời này, quư vị có thể thành tựu hay không? Thành tựu địa vị cao cỡ nào? Thiện Đạo đại sư nói hay lắm! Rất nhiều người biết Thiện Đạo đại sư là A Di Đà Phật hóa thân tái lai; các pháp sư Nhật Bản và Đại Hàn đều biết, tôi hỏi họ, [họ đều biết] Ngài có nói câu ấy. Lời Thiện Đạo đại sư đă nói chính là A Di Đà Phật đích thân nói: “Bốn cơi, ba bậc, chín phẩm, nói chung là do gặp duyên khác nhau”. Thật vậy, chẳng sai tí nào! Chúng ta liễu giải đạo lư này, liễu giải chân tướng sự thật, chính ḿnh hăy nên có phương hướng và mục tiêu để nỗ lực. Gặp gỡ pháp môn này, khẳng định văng sanh cơi Phàm Thánh Đồng Cư, cũng chẳng sót một ai! Quư vị chẳng thể văng sanh là do ngay cả công phu thành phiến quư vị vẫn chưa đạt tới. Công phu thành phiến là Quán Hạnh Tức. Đă đạt tới công phu thành phiến, phải tăng tấn hơn!

          Nói thật ra, hiện thời, chúng ta gặp duyên thù thắng khôn sánh. Thật vậy! Nếu quư vị thật sự chịu hành, trong đời này có thể văng sanh cơi Thường Tịch Quang hay chăng? Có thể sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm hay không? Câu trả lời là khẳng định, có thể! Kinh Hoa Nghiêm đă nói rất hay: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai, chỉ v́ vọng tưởng, chấp trước mà chẳng thể chứng đắc”. Lời này đă nói rất rơ ràng, rất minh bạch, rất đơn giản. “Hết thảy chúng sanh” bao gồm quư vị và tôi trong đó, vốn thành Phật! Kinh Hoa Nghiêm đă nói [như thế], mà kinh Viên Giác cũng nói [như vậy]. V́ sao nay biến thành nông nỗi này? V́ có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước. Do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nghiêm trọng, cho nên thành ra nông nỗi này! Do vậy mới có tam đồ, mới có lục đạo. Tam đồ lục đạo quyết chẳng phải là chân thật, đấy là huyễn tướng, sau khi đă mê mới có, sau khi đă giác sẽ chẳng có. Trong Chứng Đạo Ca, quư vị thấy Vĩnh Gia đại sư đă nói rất hay: “Mộng lư minh minh hữu lục thú, giác hậu không không vô đại thiên” (Trong mộng rành rành phô sáu nẻo, giác rồi ba cơi rỗng toang hoang). “Vô đại thiên” là ngay cả mười pháp giới đều chẳng có, phải biết điều này!

          Chúng ta tăng tấn như thế nào? Trong các buổi giảng, tôi đă nói rất nhiều lần. Đức Phật dạy chúng ta, căn bệnh của chúng ta là chấp trước, là phân biệt, là vọng tưởng, quư vị chỉ cần trừ khử những thứ ấy. Nếu chúng ta có thể đối với hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, đối với hết thảy người, sự, vật, từ nay trở đi chẳng c̣n chấp trước nữa, kể cả thân ta và cái ta sở hữu, tức ngă sở, đều chẳng chấp trước, hăy buông xuống, niệm Phật văng sanh sẽ chẳng phải là [sanh vào] cơi Phàm Thánh Đồng Cư, mà là ǵ? Cơi Phương Tiện Hữu Dư. Chẳng phải là tăng tấn ư? Lại có thể tiến thêm một bước nữa là phân biệt cũng đoạn trừ. Không chỉ là ta chẳng có chấp trước, mà đối với sâm la vạn tượng thuộc vào pháp thế gian và xuất thế gian, đều chẳng phân biệt. “Chẳng phân biệt” không phải là chẳng biết, mà là chiếu kiến. Trong cách nh́n của lũ phàm phu chúng ta có phân biệt; trong cái thấy của vị ấy chỉ có Chiếu, chẳng có phân biệt. Ví như mắt chúng ta thấy sắc, thấy rơ ràng, rành rẽ, chẳng chấp trước, chẳng phân biệt, đấy là ǵ? Đấy là Bồ Tát! Bồ Tát văng sanh vẫn sanh trong cơi Phương Tiện Hữu Dư, nhưng thuộc địa vị cao. Trong cơi Phương Tiện Hữu Dư cũng có ba bậc, chín phẩm, [thuộc về] Thượng Phẩm Thượng Sanh.

          Nếu phá một phẩm vô minh, vô minh là vọng tưởng, vọng tưởng ǵ vậy? Khởi tâm động niệm. Trong hết thảy các cảnh duyên, chúng ta không khởi tâm, chẳng động niệm, quư vị niệm Phật sanh về Tây Phương Tịnh Độ sẽ chẳng phải là cơi Phương Tiện Hữu Dư, mà là cơi Thật Báo Trang Nghiêm, chẳng sai khác thế giới Hoa Tạng tí nào, chính là Nhất Chân pháp giới, là bậc Pháp Thân đại sĩ. Chúng ta có thể chứng đắc Pháp Thân đại sĩ hay không? Chỉ cần quư vị làm được ba chuyện này, hăy buông xuống, triệt để buông xuống, chẳng chấp trước, chẳng phân biệt, chẳng khởi tâm, không động niệm. Chư vị phải ghi nhớ: Không chấp trước, quư vị sẽ chứng quả A La Hán; chẳng phân biệt, quư vị sẽ chứng quả Bồ Tát. Chẳng khởi tâm, không động niệm, quư vị sẽ thành Phật. “Thành Phật” chính là Pháp Thân đại sĩ như đang được nói trong kinh này. Quư vị chẳng phải là chứng đắc viên măn, mà là phần chứng. Xác thực là thật, chẳng giả, v́ sao? Quư vị dùng chân tâm, chư Phật Như Lai đều dùng chân tâm, chẳng dùng vọng tâm. Nhưng khởi tâm động niệm, cái tâm sẽ là vọng tâm, chân tâm biến thành vọng tâm, điều này hết sức vi diệu. Hễ khởi tâm động niệm [chân tâm] sẽ biến [thành vọng tâm]. Vọng tâm là ǵ? Thuật ngữ Phật pháp gọi nó là A Lại Da Thức. Chân Như bản tánh chỉ cần khởi tâm, động niệm liền biến thành A Lại Da Thức. Phật pháp nói “do một niệm bất giác mà có vô minh” nhằm nói về chuyện này.

          Nếu chúng ta luyện công phu sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần chẳng khởi tâm, không động niệm. Chư vị phải biết: Nếu trong tâm quư vị c̣n có “ta chớ nên khởi tâm, đừng nên động niệm”, quư vị đă khởi tâm động niệm mất rồi! Đấy chính là như Lăo Tử đă nói: “Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh” (Cái đạo mà có thể diễn tả, chẳng phải là đạo thường hằng. Cái danh có thể gọi tên được th́ chẳng phải là danh thường hằng), nhà Phật nói: “Ngôn ngữ dứt bặt, tâm hạnh xứ diệt”, chính là cảnh giới này. Thật sự chẳng khởi tâm, không động niệm. Khi ấy, sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần đều là “chiếu kiến”. Chiếu kiến là thấy chân tướng sự thật. Chân tướng sự thật là ǵ? Không và Hữu bất nhị, tức là như Tâm Kinh đă nói, quư vị hoàn toàn minh bạch: “Sắc chính là Không, Không chính là Sắc. Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng giống như thế”. Quư vị thấy được toàn bộ. Gần đây nhất, khoa học hiện thời mới phát hiện, Sắc là vật chất, vật chất từ đâu mà có? Từ trong Vô sanh ra Hữu, từ Hữu trở về Vô. Đại khái là khoa học đă suy diễn từ Toán Học, nhưng không biết làm thế nào để hiển thị rơ ràng cảnh giới ấy! Thật ra, cảnh giới ấy ở ngay trước mắt, hết sức rơ rệt, quư vị chẳng nh́n thấy đó thôi! V́ sao chẳng nh́n thấy? Do quư vị khởi tâm động niệm. Chỉ cần chẳng khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, không chấp trước, sẽ giống như kinh Pháp Hoa nói là “Phật tri, Phật kiến”, [tri kiến của] quư vị chính là Phật tri Phật kiến, quư vị vốn sẵn là Như Như Phật.

          Thiện Đạo đại sư nói: “Nói chung là do gặp duyên khác nhau”, quư vị có tin tưởng hay chăng? Chẳng sai tí nào! Gặp kinh Hoa Nghiêm chính là nhân duyên vô thượng. Bài kệ khai kinh chính v́ kinh này mà viết: “Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ, ngă kim kiến văn đắc thọ tŕ”. Ba chữ này trọng yếu. “Đắc thọ tŕ” là như ḍng nước chảy vào cái ao của quư vị, được thọ tŕ. “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”, quư vị đạt được thọ dụng, hoàn toàn hấp thụ. Sau đấy mới có thể đại từ đại bi, “ngàn xứ nguyện cầu, ngàn xứ ứng”, v́ hết thảy chúng sanh mà biểu diễn. Biểu diễn cho chúng sanh trông thấy, v́ người khác diễn nói. “Diễn” () là làm ra, làm ra ǵ vậy? Thể hiện ta đă buông xuống, thể hiện ta chẳng chấp trước. Ta chẳng có chấp trước, ta chẳng phân biệt, ta chẳng khởi tâm động niệm, làm ra [cho người khác thấy]. Thích Ca Mâu Ni Phật nêu gương cho chúng ta nh́n vào, chúng ta học Phật th́ học theo ai? Học theo Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật ở nơi đâu? Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh chính là sự biểu hiện của Thích Ca Mâu Ni Phật. Hằng ngày, Thích Ca Mâu Ni Phật đi ra ngoài, đoạn này toàn nói về những nhân vật cảnh quan mà ta trông thấy trên đường đi khất thực hằng ngày, trông thấy những thứ ấy. Sau khi quư vị thấy xong, trong tự tánh tự nhiên có phản ứng, hoàn toàn chẳng phải là “ta nguyện hết thảy chúng sanh”, [nếu thấy chính ḿnh có phát nguyện, tức là] quư vị vẫn có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước! Do vậy, trong “đương nguyện chúng sanh” ở đây, chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chính là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, là phản ứng tự nhiên!

          Tôi thường dùng thí nghiệm với nước của ông Giang Bổn Thắng để chứng tỏ cùng quư vị. Ông ta làm thí nghiệm mười một năm, nước là khoáng vật, biết nước có thấy, nghe, hay, biết. Tôi c̣n bảo ông ta: “Thấy, nghe, hay, biết đă được ông trắc nghiệm t́m ra, nó c̣n có sắc, thanh, hương, vị. Đối với sắc, thanh, hương, vị, nay ông chỉ thấy sắc tướng, chứ âm thanh, mùi, vị, ông chưa thí nghiệm được”. Tôi nói: - Ông vẫn phải nỗ lực, chắc chắn là có sắc, thanh, hương, vị. V́ sao? Tất cả hết thảy các hiện tướng là pháp tướng, pháp tướng do đâu mà có? Pháp tướng do Pháp Tánh biến ra. Pháp Tánh có thấy, nghe, hay, biết, có sắc, thanh, hương, vị, chúng vốn sẵn có. Trung Quán Luận nói “bát bất” là để h́nh dung những thứ này. Những thứ này được gọi là “linh tánh”. Chúng ta gọi chúng là “linh tánh”. Sắc, thanh, hương, vị, thấy, nghe, hay, biết chính là linh tánh, là bản tánh. “Bất sanh, bất diệt, bất lai, bất khứ, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị” (chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng đến, chẳng đi, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng một, chẳng khác) trong giáo pháp Đại Thừa đă nói rất rơ ràng, rất minh bạch, chúng ta thảy đều có. Nếu quư vị thảy đều buông xuống; vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều buông xuống, Tánh Đức sẽ hiện tiền viên măn, chẳng có một tí chướng ngại nào! Sắc thân của chúng ta là Pháp Tướng, mỗi tế bào đều có thấy, nghe, hay, biết, mỗi sợi lông, mảy tóc cũng có thấy, nghe, hay, biết, mà cũng có sắc, thanh, hương, vị. Tâm địa thanh tịnh, nó hoàn toàn b́nh thường, b́nh thường là ǵ? B́nh thường là sẽ chẳng lăo, chẳng có sanh, lăo, bệnh, tử, đó là b́nh thường. Hễ có sanh, lăo, bệnh, tử th́ là bất b́nh thường.

          Do vậy có thể biết, công phu tu hành của chúng ta vẫn chưa đủ. Nếu là đầy đủ, lúc tôi hai mươi sáu tuổi đă học Phật, năm nay quư vị nh́n vào dáng vẻ của tôi, chắn chắn vẫn giống hệt như lúc hai mươi sáu tuổi. [Có h́nh dáng già theo năm tháng như hiện thời] tức là công phu tu tập của tôi chẳng đủ. Nếu tôi thật sự thực hiện công phu đầy đủ, hai mươi sáu tuổi bèn đạt tới cảnh giới này, [h́nh dáng sẽ] vĩnh viễn là hai mươi sáu tuổi. Nó biến như thế nào? Biến từ chỗ nào? Biến từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; hễ quư vị có những thứ ấy, cái tâm sẽ biến, đấy là ǵ? Đấy là thức. V́ thế, nói: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Quư vị chỉ có tâm hiện, chẳng có thức biến, đấy là điều b́nh thường nhất. Nay chúng ta đối với tầng cao nhất này, tức là đối với vọng tưởng chẳng đoạn được, thật sự khó khăn! Đoạn vọng tưởng, quư vị sẽ chứng đắc địa vị Pháp Thân Bồ Tát, tối thiểu cũng là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo, chẳng có chuyện ǵ nữa, thật sự là bất sanh, bất diệt! Chẳng đạt được điều này, đối với hai tầng dưới, chúng ta nỗ lực th́ sẽ có thể làm được, tức là chúng ta chẳng phân biệt, chẳng chấp trước!

          Cái tâm phân biệt, tâm chấp trước của tôi ít hơn, nhẹ hơn người b́nh phàm. V́ thế, người khác thường hỏi tôi: “Thưa pháp sư! Thầy dùng ǵ để bảo dưỡng thân thể?” Tôi chẳng dùng chi hết. Nếu nói là có, nói theo kiểu hiện thời, sẽ là dùng ư niệm để bảo dưỡng thân thể. Ư niệm là ǵ? Tâm thanh tịnh. Trong những năm qua, tôi đă đề xuất “thuần tịnh, thuần thiện”. Tâm địa phải thanh tịnh, phải thiện lương, đấy là sự bảo dưỡng tốt nhất. Tâm địa thanh tịnh, thiện lương, chẳng bị bên ngoài quấy nhiễu, chẳng bị bên ngoài nhiễm ô. Tâm địa từ bi, từ bi có thể giải độc. Do vậy, bảo dưỡng phải dùng chính ḿnh, chẳng cậy vào bên ngoài. Bất cứ thứ ǵ bên ngoài, thưa cùng quư vị, đều có tác dụng phụ! Khá nhiều người chẳng hiểu đạo lư này. Do đó, có rất nhiều đồng tu từ Trung Quốc mang những món đồ bổ đến biếu tôi, tôi bảo họ: “Những món thuốc bổ này tôi đều dùng làm quà tặng để biếu người khác, bản thân tôi chẳng cần mảy may!” Thứ ǵ cũng đều không cần, chẳng có mảy may tác dụng phụ nào!

          H́nh tướng nhằm biểu diễn. Ngạn ngữ có câu nói: “Bồ Tát, Bồ Tát, niên niên thập bát” (菩薩菩薩,年年十八, Bồ Tát năm nào cũng là mười tám tuổi), thật vậy, chẳng giả! Trong quá khứ, khi tôi giảng kinh, đă có nói: “Tôi hai mươi sáu tuổi học Phật, tâm thái vĩnh viễn giữ ở lứa tuổi hai mươi sáu. Nếu quư vị mười bảy, mười tám tuổi học Phật, vĩnh viễn giữ ở tuổi mười bảy, mười tám. Sự thật này đă nghiễm nhiên được các nhà khoa học dùng phương pháp khoa học để chứng minh, khó có thay! Quư vị trông thấy điều này mà chẳng tin tưởng, vậy là chẳng có cách nào cả! Bởi lẽ, ưu tư có thể làm cho con người già khọm, con người chớ nên có ưu lự, chớ nên có tham dục. Quư vị nói “ích kỷ, tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn”, tôi thường nói: “Mười sáu chữ ấy đều chớ nên có, hăy triệt để buông xuống, quư vị sẽ đắc đại tự tại”. Tựa đề kinh Vô Lượng Thọ đă nêu ra cương lănh tu học mà quư vị sẽ đạt được, “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”. Quư vị nh́n vào tựa đề kinh, tựa đề kinh là Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm, đó là nói về quả. Cái nhân là Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác. Trong tựa đề kinh có nhân và có quả.

          Chúng ta phải như thế nào để đạt được tâm thanh tịnh? Buông xuống hết thảy chấp trước, tâm sẽ thanh tịnh. Buông xuống hết thảy phân biệt, tâm sẽ b́nh đẳng. Buông xuống khởi tâm động niệm, sẽ giác, Tông Môn nói là “đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”. Đấy chính là ư nghĩa được bao hàm trong bài kệ về ao chuôm này. Quư vị thấy nước từ bên này đổ vào, từ bên kia tuôn ra. “Đổ vào” là tin, nhận, phụng hành. Chảy ra ngoài” là v́ người khác diễn nói, nêu lên thí dụ này. Do vậy, trong phần phát nguyện, đă nói đặc biệt rơ ràng: “Ngữ nghiệp măn túc, xảo năng diễn thuyết” (Ngữ nghiệp trọn đủ, có thể khéo diễn nói). Chúng ta có cần phải đọc rất nhiều sách hay không? Có phải t́m rất nhiều tài liệu tham khảo hay không? Chẳng cần thiết! T́m những thứ phiền phức ấy để làm ǵ? Chúng ta hăy ngẫm xem, Thích Ca Mâu Ni Phật đọc bao nhiêu sách? Ngài nói ra kinh giáo nhiều ngần ấy, lưu truyền cho đến hiện tại, Ngài học từ chỗ nào?

          Lại nh́n vào Lục Tổ Huệ Năng đại sư của Thiền Tông Trung Hoa. Thuở tại thế, Ngài giảng kinh, thuyết pháp hơn ba mươi năm. Ngài chẳng biết chữ, nhưng bất luận hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, quư vị hỏi Ngài, Ngài đều biết rơ. Trước nay, Ngài chưa từng xem kinh giáo nhà Phật. Thiền sư Pháp Đạt niệm kinh Pháp Hoa mười năm, chẳng khai ngộ! Cứ tưởng chính ḿnh ghê gớm lắm, đọc kinh Pháp Hoa suốt mười năm cơ mà! Chúng ta ngẫm xem, mười năm th́ đại khái sẽ là hơn ba ngàn bộ. Mỗi ngày niệm một bộ, chẳng thiếu một ngày nào. Mười năm là ba ngàn sáu trăm bộ. V́ thế, khi gặp Lục Tổ, Sư đảnh lễ mà đầu chẳng sát đất, Lục Tổ trông thấy, bèn bảo Sư đứng dậy: “Nhất định là ông có điều ǵ đáng để kiêu ngạo, ông hăy nói cho ta nghe!” Sư liền nói ra: “Tôi đă niệm ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa, nhưng như thế nào? Sư chẳng hiểu ư nghĩa, hướng về Lục Tổ thỉnh giáo. Lục Tổ bảo: “Ta chưa được nghe bộ kinh ấy, ông hăy đọc cho ta nghe”. Sư quá thuộc, đúng là thuộc kinh làu làu. Đọc đến phẩm thứ hai, tức phẩm Phương Tiện, Lục Tổ bảo: “Chẳng cần niệm nữa, ta biết cả rồi!” Tổ giảng đại ư kinh Pháp Hoa cho Sư nghe. Nghe xong, Sư khai ngộ, lại đảnh lễ, dập đầu sát đất.

          Từ đâu mà Lục Tổ có năng lực ấy? Quư vị có thể đáp được hay không? Trong kinh có nói: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai”, từ đấy mà có. Quư vị vốn sẵn có, chẳng phải là học từ bên ngoài. Cho đến khoa học kỹ thuật trong hiện thời cũng vốn sẵn có trong tự tánh, chẳng có ǵ là vật ở ngoài tâm. Chỉ cần quư vị minh tâm kiến tánh, hễ người khác vừa hỏi, câu giải đáp sẽ tự nhiên xuất hiện! Giống như trong thí nghiệm với nước, chúng ta viết một chữ dán lên b́nh nước, nó lập tức dấy lên phản ứng. Quan sát kết tinh của nước dưới kính hiển vi, [sẽ thấy] thiện niệm [khiến cho nước kết tinh] hết sức tốt đẹp; do ác niệm bèn hết sức xấu xí, lập tức phản ứng. Đấy là Tánh Đức lưu lộ. Có người thường nói nước Đại Bi rất linh nghiệm. Sáng sớm hôm nay, tôi bảo các đồng tu, quư vị thấy cái b́nh nước này hiện thời chúng ta dán chữ “A Di Đà Phật”. Tôi nghĩ chúng ta in một trang chú Đại Bi, dán Đại Bi Chú lên b́nh nước; nước ấy sẽ là nước Đại Bi.

          Tiến sĩ Giang Bổn Thắng của Nhật Bản đă làm thí nghiệm. Ông ta dùng kinh Pháp Hoa, dùng Tâm Kinh để làm thí nghiệm. Quư vị dùng nước Đại Bi, nếu quư vị phát tâm đại từ đại bi, nước ấy sẽ linh nghiệm khôn cùng! Hiệp Hội của chúng ta xướng suất thực hiện, mọi nhà đều được b́nh an. Quư vị mời người khác niệm chú Đại Bi, trong ấy vẫn xen tạp vọng tưởng, hiệu quả sẽ bị chiết khấu. Dán Đại Bi Chú vào chén nước, chẳng có tí ti vọng tưởng nào, quư vị hăy ngẫm xem, phân biệt, chấp trước, vọng tưởng thảy đều chẳng có, công lực chẳng biết là to hơn chúng ta bao nhiêu lần! Quư vị hăy chú tâm suy tưởng, lời tôi nói có đúng hay không? Khi chúng ta dùng nước Đại Bi, cùng là một chén nước như nhau, hai người dùng sẽ đạt được hiệu quả khác nhau. Sai biệt ở chỗ nào? Tâm đại bi khác nhau! Nếu ta có mười phần tâm đại bi, ta sẽ có mười phần cảm ứng. Quư vị chỉ có năm phần tâm đại bi, sẽ cảm ứng chỉ có năm phần. V́ thế, khi dùng nước ấy, phải khởi tâm đại bi th́ mới hữu dụng!

          Trước kia, Chương Gia đại sư đă dạy tôi điều này: Dùng tâm đại từ bi niệm chú Đại Bi sẽ có cảm ứng. Nếu chẳng có tâm đại từ bi, niệm chú Đại Bi sẽ có lợi, tốt hơn nói lời nhăng nhít, nhưng hiệu quả và lợi ích chân thật chẳng lớn! Nhất định phải là tâm và miệng tương ứng th́ mới có thể sanh ra sự cảm ứng đạo giao. Chúng tôi nghe thầy giáo huấn, lúc đó, cảm nhận chẳng sâu đậm như thế. Từ mấy lần sang thăm Nhật Bản, đến thăm viếng pḥng thí nghiệm của tiến sĩ Giang Bổn Thắng, mới hoảng nhiên đại ngộ: Đạo lư này quá sâu! Do vậy, chúng ta là thiện tâm, các tế bào và khí quan trên toàn thân sẽ đều thiện. V́ thế, đối với chuyện tu hành, tôi thường nói, lại c̣n đă nói bao nhiêu năm: Tu hành có công đức ǵ hay không? Cứ nh́n vào khuôn mặt, nh́n vào thể chất của quư vị, sẽ biết ngay. Điều này giống như ǵ? Tùy thuộc tâm địa của quư vị là thiện hay bất thiện, nh́n vào kết tinh của nước dưới kính hiển vi sẽ thấy ngay. Thiện tâm th́ [nước kết tinh] hết sức đẹp đẽ. Tâm bất thiện, nó sẽ rất xấu xí. Cùng một đạo lư giống hệt, thiện tâm th́ diện mạo của quư vị tốt lành; thiện tâm th́ thân thể của quư vị tốt lành, khỏe mạnh, già mà chẳng suy, vẫn hoạt bát y hệt. Đạo lư ở chỗ này!

          Hiện thời, để tuyên truyền Phật giáo, nhất định phải thực hiện từ tâm, bản thân chúng ta phải thật sự làm, tướng mạo của chúng ta sẽ biến đổi, thể chất biến đổi. Thân thể vốn chẳng khỏe, nay biến thành rất khỏe. Tướng mạo vốn xấu xí, nay tướng mạo biến thành rất đẹp. Tướng chuyển theo tâm, thể chất cũng chuyển theo tâm. Phật pháp nói: “Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”. V́ thế, phải biểu diễn cho người khác thấy, đặc biệt là trong thời đại hiện tại này, quư vị nói suông, người ta chẳng tin tưởng. Quư vị biểu diễn cho họ thấy, chẳng cần nói, sau khi họ tiếp xúc quư vị, họ thấy quư vị xác thực là khác hẳn, sẽ hướng về quư vị thỉnh giáo. Sau đấy, quư vị lại nói rơ cùng họ, họ sẽ có thể nghe lọt tai, chẳng cần phải nói trước với họ. Trước tiên là bày ra h́nh tướng cho họ thấy. Đấy là chúng ta thực hiện từ cái tâm, thực hiện từ cá nhân ta, sau đấy mới mở rộng, thực hiện từ gia đ́nh của chính ḿnh!

          Lợi ích ấy quá to, nếu quư vị hiểu đạo lư này, tiền thuốc thang trong một đời quư vị sẽ giảm bớt. V́ sao? Chẳng ngă bệnh! Tiền thuốc thang giảm bớt, chớ nên hưởng dùng, phải quyên tặng cho bệnh viện, phải tặng cho rất nhiều người mắc bệnh khổ nạn. Tôi nói: - Kẻ chẳng hiểu đạo lư này, hằng ngày dấy vọng tưởng, hằng ngày làm chuyện tham, sân, si, mạn, cho nên họ bị bệnh tật, chẳng có cách nào chữa trị! Chúng ta đă hiểu, hoàn toàn dùng Phật pháp, Phật pháp là sử dụng tự tánh. Chúng ta dùng phương pháp này, cho nên có thể tiết giảm món tiền ấy. Nhà của quư vị b́nh an, người một nhà hạnh phúc, thật sự khỏe mạnh, sống lâu. Từ một nhà quư vị, sẽ ảnh hưởng đến dân tộc. Quư vị c̣n có thân thích, bạn bè, c̣n có láng giềng, cḥm xóm, quư vị phải giúp đỡ họ. Mở rộng như vậy, sẽ khiến cho cả nước được lợi ích, toàn thể thế giới đều được lợi ích. Điều này quan trọng hơn bất cứ điều chi khác. V́ thế, quư vị nhất định phải biết biểu diễn, diễn chẳng v́ chính ḿnh, mà là diễn cho người khác xem. Họ đến thỉnh giáo, quư vị sẽ giải thích cặn kẽ. Nếu họ tin tưởng, có thể lư giải, có thể tin theo, mà cũng có thể y giáo phụng hành, họ sẽ được lợi ích.

          Sáu đĩa DVD Sơn Tây Tiểu Viện, lại c̣n có đĩa V́ Sao Chẳng Thể Ăn Thịt Chúng Nó, tức là không ăn thịt chúng sanh, dường như cũng gồm bốn đĩa, tổng cộng là mười đĩa DVD, tôi nghe nói gần đây trong nước làm rất nhiều. Bộ đĩa Sơn Tây Tiểu Viện tường tŕnh có tới bốn mươi người mắc bệnh chẳng trị được, bệnh viện đă chấm dứt chữa trị. Họ trở về, đọc tụng kinh Địa Tạng, niệm Phật, nghiễm nhiên là chỉ trong mấy tháng, lại đi kiểm tra, bệnh ung thư chẳng c̣n nữa! Thân thể khôi phục rất b́nh thường, làm công việc ǵ cũng đều được! Nhóm người ấy đông tới bốn mươi người. thế, tôi nghe nói bộ đĩa DVD ấy được lưu thông với số lượng hết sức to lớn, rất nhiều người mong cầu! Đấy là ǵ? Chẳng có ǵ khác, chính là đạo lư như tôi vừa mới nói với quư vị: “Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”. V́ sao quư vị không nghĩ thiện, cứ nghĩ ác?

          V́ thế, tưởng Phật, tưởng Bồ Tát, đọc kinh, niệm Phật chính là tưởng thù thắng nhất, có thể chuyển biến các tế bào trên toàn thân quư vị thành tốt đẹp nhất, thù thắng nhất, đẹp đẽ nhất. Tế bào đă tốt đẹp, khí quan bèn tốt đẹp, tức là b́nh thường, sẽ chẳng có bệnh tật. Bệnh là ǵ? Bệnh là do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước biến ra; nay đối với vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quư vị thảy đều buông xuống, tưởng Phật, tưởng Bồ Tát, sẽ khác hẳn! V́ thế, phải nên biết: Thân thể vật chất chẳng có thiện hay ác, giống như nước chẳng có thiện hay ác. Quư vị dùng thiện niệm đối với nó, hăy xem nó hiện bày sự kết tinh. Dùng ác niệm đối với nó, quư vị lại xem kết tinh do nó hiển lộ, khác hẳn! Quư vị hiểu đạo lư này, nói thông thường, thân thể con người có bảy mươi lăm phần trăm là nước. Tôi nói không chỉ là nước, tất cả các hiện tướng, tất cả vật chất, quư vị phải hiểu Pháp Tánh và pháp tướng như trong kinh Phật đă nói. Pháp Tánh ở chỗ nào? Pháp Tánh là pháp tướng, pháp tướng là Pháp Tánh. Pháp Tánh giống như vàng, pháp tướng giống như các món đồ, vàng là đồ vật, đồ vật là vàng. Vàng ở trong đồ vật, đồ vật ở trong vàng, chẳng thể tách rời. Pháp Tánh chẳng có thiện hay ác, pháp tướng cũng chẳng có thiện hay ác. Niệm của quư vị là thiện, nó sẽ biến thành thiện. Niệm của quư vị là ác, nó sẽ biến thành ác.

          “Tối thiện” là thiện lẫn ác đều chẳng có, đó là cảnh giới của Phật. Có thiện, có ác chính là Đệ Nhị Nghĩa, là cảnh giới từ hàng Bồ Tát trở xuống. Thứ nhất trong mười pháp giới là Phật pháp giới; trong Phật pháp giới chẳng có thiện hay ác, v́ sao? Họ chẳng có khởi tâm động niệm. Khởi tâm động niệm là Bồ Tát, chẳng phải là Phật. Khi c̣n chưa có chấp trước, phân biệt, sẽ rất gần với Phật, tức là Phật pháp giới trong mười pháp giới. Có phân biệt, nhưng c̣n chưa có chấp trước, sẽ là Bồ Tát pháp giới, Duyên Giác pháp giới, và Thanh Văn pháp giới. Tới khi có chấp trước, hễ có chấp trước, sẽ biến thành thiên pháp giới, Tu La pháp giới, nhân pháp giới trở xuống đều có chấp trước. Chấp trước càng nghiêm trọng, càng đọa xuống dưới, đạo lư là như thế đó! Nếu quư vị tham cứu thấu triệt đạo lư này, sẽ thay đổi dáng vẻ của chính ḿnh, thật sự biến đổi chính ḿnh. Chúng ta thay đổi chính ḿnh, một nhà thay đổi, xóm giềng làng nước thảy đều thay đổi. Người trong thế gian hiện thời bận tâm nhất là làm thế nào để hóa giải xung đột, xúc tiến an định, ḥa b́nh, toàn bộ đều đạt được. Chẳng phải là không làm được, thật sự có thể làm được!

          Do vậy, xác thực là Phật pháp có thể giải quyết vấn đề hiện thực của chúng ta, có thể giải quyết vấn đề trong cuộc sống, đó là “trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng”. Người thế gian trong hiện thời cầu phát tài, cầu thăng quan, cầu tiếng tăm, lợi dưỡng, chẳng có ǵ không cầu được! Chỉ cần quư vị hiểu đạo lư này, hiểu phương pháp, đúng lư, đúng pháp, chẳng có thứ ǵ không cầu được. Đúng là “trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng”. Những điều này đều do Chương Gia đại sư truyền dạy khi tôi mới học Phật. Tôi có thể tin tưởng thầy, y giáo phụng hành, những thứ trong mạng [vốn] chẳng có [vậy mà] đều cầu được toàn bộ. Trong mạng chẳng có tài, tuy đời này tôi chẳng có tiền bạc ǵ, nhưng cuộc sống hết sức tự tại, ăn, mặc, ở, đi lại không có ǵ bị thiếu khuyết. Đến tuổi già, nhất là mười mấy năm gần đây, đúng là “có cầu ắt ứng”. Nhưng tôi chưa hề cầu v́ chính ḿnh, [toàn là] v́ chúng sanh khổ nạn mà cầu. Tuy chướng duyên rất nhiều, nhưng chẳng có ǵ là trở ngại to tát. Những sự thật này chính quư vị đều đích thân trông thấy. [Đă là] chính mắt trông thấy mà vẫn chẳng tin tưởng th́ chẳng có cách ǵ hết. Đích thân trông thấy chính là Tác Chứng Chuyển trong Tam Chuyển Pháp Luân đấy nhé!

          V́ lẽ đó, các đồng tu trong đạo tràng của chúng ta nhất định phải khéo tu học. Quư vị hiểu rơ phương pháp và lư luận của kinh Hoa Nghiêm, trong đời này sẽ sống hết sức hạnh phúc, hết sức viên măn. Vấn đề ở chỗ quư vị có thật sự nghe hiểu đạo lư này hay chăng? Những điều đă giảng trước kia đều được lưu trữ trong đĩa DVD, nay chúng tôi đă giảng hơn một ngàn năm trăm tập, mỗi tập là hai tiếng đồng hồ, đă giảng hơn ba ngàn giờ rồi! Nay chúng ta đang trong hội thứ hai. Tôi giảng cặn kẽ hội thứ nhất và hội thứ hai. Hội thứ ba là Thập Trụ Bồ Tát, từ hội thứ ba trở đi, tôi sẽ chẳng giảng cặn kẽ. Hiện thời, quư vị thấy một giờ tôi giảng một bài kệ; từ nay về sau, một giờ tôi sẽ giảng hai mươi bài kệ. V́ sao? Nếu với tốc độ này, tôi dự đoán bộ kinh này phải mất ba vạn giờ th́ mới có thể giảng xong, thời gian quá dài! Nay tôi có ư nghĩ rút gọn thành giảng bảy ngàn giờ sẽ viên măn. V́ thế, trong phần sau, tôi sẽ giảng rất mau.

          Phần trước phải giảng tỉ mỉ, v́ phần trước là cơ sở, giống như xây nhà. Trước đó, phải đắp nền. Nền nhất định phải kiên cố; từ đó, sẽ xây dựng hết sức dễ dàng. Nếu chẳng xây nền tảng đàng hoàng, quư vị có làm cả đời vẫn chẳng thể thành công! V́ sao? Tín tâm chẳng đủ! Tín tâm trọng yếu nhất. Kinh Kim Cang Bát Nhă dạy: “Tín tâm thanh tịnh, tắc sanh Thật Tướng” (Ḷng tin thanh tịnh sẽ sanh ra Thật Tướng). Bán tín bán nghi, làm sao quư vị có thể thành tựu cho nổi? Đối với hai hội trước, chúng ta dựa vào đấy để kiến lập tín tâm, kiến lập nguyện tâm, kiến lập năng lực lư giải. Từ đấy trở đi, thuận buồm xuôi gió, chẳng cần phải nói tỉ mỉ như thế nữa! V́ thế, nếu chư vị chẳng nghe phần trước, chúng tôi có đĩa DVD, quư vị có thể mượn từ Hiệp Hội để xem. Chớ nên coi TV, chớ nên đọc báo chí! Nếu quư vị đọc báo chí, xem tạp chí, chẳng bằng xem kinh Hoa Nghiêm. Nếu quư vị coi TV, sẽ chẳng bằng nghe giảng kinh Hoa Nghiêm. Nếu mỗi ngày quư vị có thể nghe từ bốn tiếng đến sáu tiếng đồng hồ, một năm sau sẽ thay đổi. Hai năm, ba năm, quư vị sẽ nhập cảnh giới; đó gọi là “gặp duyên bất đồng”. Hiện thời, cái duyên ấy ở chỗ này, chỉ cần quư vị chịu làm, đó chính là đạo tràng chánh pháp, hiếm có, khó gặp. Ở chỗ này, nếu các đồng học hời hợt, sơ ư, ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ, quư vị nói xem có đáng tiếc lắm hay chăng?

          Chỉ có khế nhập cảnh giới, trí huệ hiện tiền, quư vị mới có thể giải đáp hết thảy các nghi nan tạp chứng, mới biết làm người như thế nào, làm việc như thế nào, tiếp xúc với người khác như thế nào, qua lại với người khác như thế nào đều có thể đạt đến rốt ráo viên măn! Bộ kinh này thù thắng khôn sánh, là pháp luân viên măn, là căn bản pháp luân trong Đại Thừa Phật giáo. Hết thảy các kinh đều là quyến thuộc của Hoa Nghiêm. Nay chúng ta hạ thủ công phu nơi bộ kinh này, học từ căn bản, thật sự nắm được căn bản. Hy vọng các đồng học hiểu rơ, chớ nên ngay trước mặt mà bỏ lỡ đại cơ duyên này! Cơ duyên này chính là “một ngày hiếm có khó gặp từ vô lượng kiếp đến nay”. A! Chúng tôi nói bài kệ này đến đây. Nay đă hết thời gian rồi, chúng ta nghỉ ngơi mấy phút.

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem bài kệ tụng thứ mười ba:

 

          (Kinh) Nhược kiến cấp tỉnh, đương nguyện chúng sanh, cụ túc biện tài, diễn nhất thiết pháp.

          ()若見汲井。當願眾生。具足辯才。演一切法。

          (Kinh: Nếu thấy giếng nước, nguyện cho chúng sanh, trọn đủ biện tài, diễn hết thảy pháp).

 

          Vào thời cổ, nước dùng trong cuộc sống hằng ngày của dân chúng, rất nhiều [trường hợp] toàn là dùng nước giếng. Thời niên thiếu, tôi sống tại hương thôn, trong hương thôn hay trong thành thị đều dùng nước giếng. Đại khái là một con phố, một phường, hoặc một thôn trang, người sống trong thôn trang đông hơn đôi chút, đều có giếng nước. Thông thường là dùng nước từ khe suối, hoặc nước sông. Rất gần chỗ chúng tôi sống, khoảng chừng một dặm đường, có một cái hồ nhỏ, trên thực tế, hồ cũng rất lớn. V́ thế, nói đến nước hồ, chúng tôi đều dùng nước ấy để uống. Gánh một gánh nước khi tôi c̣n bé là chuyện thường làm. Người bé sức cũng bé, dùng thùng nhỏ, cũng có thể gánh hai thùng mỗi gánh. Khoảng cách là một dặm đường, một dặm đường ước chừng chưa đầy một cây số, [bởi lẽ], dặm của người Hoa chưa đến một cây số. Trẻ nhỏ làm chuyện này.

          Đối với nước giếng, đương nhiên là có thùng, thả vào trong giếng, có một sợi dây rất dài. Đối với chữ “cấp tỉnh”, Thanh Lương đại sư có chú giải chữ Cấp:

 

          (Sớ) Cấp giả, thủ dă, biện tài diễn pháp, do cảnh cấp thủy.

          ()汲者,取也,辯才演法,猶綆汲水。

          (Sớ: “Cấp” là kéo nước, biện tài diễn pháp ví như dùng dây để kéo gàu lấy nước).

 

          “Cảnh” () là sợi dây, tức là sợi dây thừng xỏ vào thùng đựng nước. Dùng sợi thừng ấy thả thùng vào trong giếng để lấy nước, có ư nghĩa này. V́ thế, dẫn phát đại nguyện tương đồng, tức là biện tài vô ngại, “cụ túc” (具足) là vô ngại. “Cụ túc biện tài”: Chư vị nhất định phải biết, “biện tài” là đức dụng của trí huệ. Có thể “diễn nhất thiết pháp” (diễn hết thảy các pháp). Ở đây, “diễn” () là biểu diễn, thiên trọng diễn thuyết, thiên trọng vấn đáp. Hết thảy chúng sanh gặp những vấn đề nghi nan đến thỉnh giáo, quư vị đều có thể giải nói cho họ. Lại c̣n chắc chắn là quư vị có năng lực quan sát căn cơ, v́ sao? Những vị được nói đến ở đây toàn là Bồ Tát, từ Thất Tín trở lên. Công phu đoạn chứng của địa vị Thất Tín giống như A La Hán của Tiểu Thừa, nhưng trí huệ và đức năng vượt trỗi A La Hán quá nhiều. A La Hán làm thế nào cũng chẳng thể sánh bằng được! Nói theo phương diện đoạn phiền năo th́ [Thất Tín Bồ Tát] giống như A La Hán, đều là đoạn Kiến Tư phiền năo.

          Kinh Hoa Nghiêm gọi Kiến Tư phiền năo là chấp trước. V́ thế, đối với điều này, chúng tôi chẳng ngại phiền mà nhắc nhở các đồng học, quyết định chớ nên chấp trước. Quư vị thấy trong thế gian này, tất cả các tranh chấp, tất cả các rắc rối, phiền năo, hết thảy các hiểu lầm, đối lập, xung đột, toàn bộ đều sanh từ chấp trước. Chỉ cần buông xuống chấp trước, những thứ ấy sẽ hoàn toàn chẳng c̣n nữa! Buông xuống chấp trước, phiền năo bị trừ khử quá nửa; cái c̣n sót lại, nói theo Phật pháp, sẽ là vi tế phiền năo, chứ những phiền năo thô nặng chẳng c̣n nữa, tức là hai mươi sáu món phiền năo được nói trong Bách Pháp Minh Môn Luận của Pháp Tướng Tông hoàn toàn chẳng c̣n nữa! Căn Bản Phiền Năo gồm sáu món là tham, sân, si, mạn, nghi, và ác kiến. Tùy phiền năo[2] có ba loại là Đại Tùy, Trung Tùy và Tiểu Tùy. Đại Tùy gồm tám món, Trung Tùy gồm hai món (Vô Tàm, Vô Quư), Tiểu Tùy gồm mười món. Hai mươi sáu món phiền năo là Căn Bản Phiền Năo, toàn là do từ chấp trước mà có. Chỉ cần buông xuống chấp trước, sẽ chẳng có phiền năo!

          Hai mươi sáu món phiền năo ấy chính là cội nguồn của lục đạo luân hồi. Chẳng có những thứ ấy, sẽ chẳng có lục đạo! Chúng ta chớ nên không biết [điều này]. Chẳng buông xuống những thứ ấy, sẽ có lục đạo luân hồi. Hễ buông xuống, lục đạo luân hồi chẳng c̣n nữa, quư vị bèn vượt thoát lục đạo. Trong pháp Đại Thừa, quư vị có quả vị là Bồ Tát thuộc địa vị Thất Tín theo kinh Hoa Nghiêm, tức A La Hán. Bát Tín là Bích Chi Phật. Cửu Tín Bồ Tát. Thập Tín chính là Phật trong mười pháp giới, là Tương Tự Tức Phật. Chúng ta có thể làm được hay không? Nỗ lực một chút th́ sẽ có thể, chẳng phải là không thể. Thành Phật phải mất ba đại A-tăng-kỳ kiếp, cũng có người cần đến vô lượng kiếp, đó là ǵ? Đó là h́nh dung buông xuống rất khó, kẻ b́nh phàm chẳng buông xuống! Quư vị có thể buông xuống, sẽ là anh hùng hào kiệt. V́ thế, chỗ chúng ta thờ phụng Thích Ca Mâu Ni Phật được gọi là Đại Hùng Bảo Điện. Các vị đến chùa miếu đều thấy Đại Hùng Bảo Điện, trong Đại Hùng Bảo Điện nhất định là thờ Thích Ca Mâu Ni Phật, Đại Hùng là đại anh hùng. Đại anh hùng khác người thường ở chỗ nào? Người thường làm không được, người ấy có thể làm được, bèn gọi là đại anh hùng. Người thường chẳng làm được chuyện ǵ? Chẳng thể buông xuống tập khí phiền năo! Thích Ca Mâu Ni Phật làm được, như tôi vừa mới nói, những chuyện này đều được dạy trong kinh Hoa Nghiêm. Buông xuống chấp trước, buông xuống phân biệt, buông xuống khởi tâm động niệm, sẽ là đại anh hùng!

          Thời cổ có câu ngạn ngữ như sau: “Xuất gia phi tướng tướng chi sở năng vi (出家非將相之所能為也, xuất gia chẳng phải là chuyện mà bậc tướng quân, tể tướng có thể làm được). Tướng () là ǵ? Nguyên soái. Tướng là () ǵ? Chính là Tổng Lư (總理, Thủ Tướng) của quốc gia trong hiện thời. Làm Thủ Tướng c̣n dễ dàng, chứ buông xuống chấp trước, phân biệt, vọng tưởng, chẳng dễ dàng đâu nhé! Người xuất gia làm chuyện ǵ? Buông những thứ ấy xuống! V́ thế, tướng quân và tể tướng chẳng thể buông xuống được, người xuất gia có thể buông xuống, đó là chuyện tướng quân và tể tướng chẳng thể làm, có ư nghĩa này. Nếu người xuất gia mà ngay cả chuyện này chẳng buông xuống được, có ǵ khác biệt hạng phàm phu tục tử thông thường đâu nhỉ? Có khác ǵ đâu? Nói chung, chư vị phải hiểu đạo lư này. Trong Phật môn có câu nói: “Thí chủ nhất lạp mễ, đại như Tu Di sơn, kim sanh bất liễu đạo, phi mao đới giác hoàn” (Một hạt gạo thí chủ, to như núi Tu Di, đời này chẳng liễu đạo, mang lông, đội sừng đền). Quư vị cứ tưởngcơm trong chùa dễ nuốt lắm ư! Trong các buổi giảng, tôi cũng nói đến chuyện này rất nhiều!

          Người xuất gia đi khất thực từng nhà xin được bát cơm này, chẳng giống như kẻ ăn mày xin một chén cơm bên ngoài! Khác nhau ở chỗ nào? Kẻ ăn mày xin một chén cơm, người ta cho hắn là v́ thương xót, tuyệt đối chẳng có bất cứ ḷng mong cầu được báo đền. V́ thế, quư vị có thể tiếp nhận, không sao hết? Người xuất gia tiếp nhận cúng dường khác hẳn, người ta đối với quư vị bằng cái tâm cung kính, chẳng phải là thương xót, chẳng phải là thấy quư vị đáng thương, chẳng phải là đồng t́nh với quư vị. Họ có ḷng cung kính, có niềm mong mỏi được báo đáp. Họ cúng dường quư vị là hy vọng quư vị thành tựu đạo nghiệp, sẽ độ họ! Họ có ḷng kỳ vọng to lớn đối với quư vị như thế. Nếu quư vị chẳng thể thành tựu đạo nghiệp, hưởng suông sự cúng dường của họ, sẽ như thế nào? Trong tương lai phải trả nợ. Việc này tuyệt đối chẳng phải là các tổ sư đại đức nói ra để dọa nạt chúng ta, chẳng phải vậy! Tổ sư đại đức là đệ tử đức Phật, đức Phật dạy đệ tử chẳng nói dối, không nói đôi chiều, không nói thêu dệt, không ác khẩu, lẽ nào tổ sư đại đức lại vọng ngữ cho được? Lẽ nào có thể lừa dối chúng ta? Trong kinh Kim Cang, đức Phật đă nói rất hay: “Như Lai là bậc chân ngữ, thật ngữ, như ngữ”. “Chân” là chẳng giả, “thật” là chẳng hư dối, “như ngữ” nghĩa là hoàn toàn là chân tướng sự thật, chẳng thêm, chẳng bớt”. Chớ nên coi thường, để sau này quả báo hiện tiền, quư vị hối hận cũng chẳng kịp!

          Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, duyên của chúng ta thù thắng khôn sánh, gặp gỡ ǵ vậy? Gặp đạo dễ hành! Tịnh Độ Tông là đạo dễ hành. Đối với các pháp môn khác, quư vị mong thành tựu trong một đời, đúng là chẳng dễ dàng, v́ sao? Phải đoạn phiền năo. Quư vị thấy kinh giáo đă nói, đoạn hết tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới th́ mới chứng quả Tu Đà Hoàn. Trong Đại Thừa, kinh Hoa Nghiêm nói địa vị Sơ Tín Bồ Tát. Địa vị Sơ Tín Bồ Tát đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc. Chúng ta có đoạn hay không? Nếu chúng ta đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc, quư vị mới là Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín. Tuy là Sơ Tín, cũng rất lỗi lạc. V́ sao? Quư vị dự vào ḍng thánh nhân. Trong bài kệ thứ mười thuộc phần trước, đă nói “đắc dự pháp lưu”, tức là từ địa vị Sơ Tín trở lên. Trong ba món Bất Thoái, quư vị chứng đắc Vị Bất Thoái. Chỉ cần quư vị tiến nhập, vĩnh viễn sẽ chẳng thoái chuyển. V́ thế, vị ấy (người đă đoạn Kiến Hoặc) là thánh nhân. Tuy chưa ra khỏi tam giới, sau khi đă nhập (đă dự vào ḍng thánh), sẽ được bảo đảm: Khi đức Phật chưa xuất thế, sẽ bảy lần qua lại cơi trời và nhân gian, chứng quả A La Hán. Khi chẳng có Phật xuất thế, sẽ chứng Độc Giác. Chẳng cần tới lần thứ tám, ở trong cơi trời hay nhân gian, quyết định chẳng đọa ba ác đạo.

          Vậy th́ nếu quư vị hỏi, vị ấy có cái nhân của ba ác đạo hay chăng? Có chứ! V́ sao chẳng đọa? Vị ấy vĩnh viễn chẳng làm chuyện tham, sân, si, mạn. [V́ thế], chẳng có duyên! Tuy có nghiệp nhân của ba ác đạo, chẳng có duyên; nhân mà chẳng có duyên, chẳng thể dấy lên hiện hành, chẳng thể kết quả, đạo lư ở chỗ này! Nói cách khác, từ Sơ Quả trở lên, tâm địa thiện lương, “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác” chưa trọn hết, vị ấy được chút phần. Nếu nh́n theo kinh Hoa Nghiêm, có tất cả năm mươi mốt giai vị Bồ Tát, cộng thêm địa vị cuối cùng là địa vị Diệu Giác, thành năm mươi hai địa vị. Chúng ta nói là “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác” cạn hay sâu cũng chia thành năm mươi hai đẳng cấp. Sơ Tín Bồ Tát chứng đắc đẳng cấp thứ nhất, Ngài có thanh tịnh, b́nh đẳng, giác, chẳng phải là không có, [tuy có, nhưng] rất cạn. Tuy rất cạn, hữu dụng! Hữu dụng ở chỗ nào? Trọn chẳng đọa vào ba ác đạo, hữu dụng ở chỗ này!

          Nếu chẳng có điểm này, quư vị khởi tâm động niệm vẫn là tham, sân, si, mạn, đều là ích kỷ, đều là thị phi, nhân ngă, vậy là chẳng có cách nào hết! Đấy chính là tam ác đạo hiện hành, nhất định sẽ dẫn khởi những chủng tử tập khí của ba ác đạo đă tạo từ thuở trước trong A Lại Da Thức. Trong tương lai, quả báo sẽ là ba ác đạo, cảnh giới hiện tiền! V́ thế, chuyện này chẳng phải do Diêm Vương quyết định, mà cũng chẳng do Thượng Đế quyết định, lại càng chẳng phải là ư nghĩ của Phật, Bồ Tát. Tự làm tự chịu! Do thiện cảm bèn thiện ứng, ác cảm bèn ác ứng. Nói chung là do khởi tâm động niệm, ngôn ngữ và tạo tác của mỗi cá nhân. Trong ấy, chắc chắn chẳng có mảy may mê tín, tuyệt đối chẳng phải là nói:Hễ tin th́ có, chẳng tin bèn không. Chuyện này nói chung là những lời giả do Thích Ca Mâu Ni Phật, và Phật, Bồ Tát khuyên [chúng sanh] làm lành [mà thốt ra]”. [Nếu nghĩ như vậy], quư vị đă lầm lẫn đặc biệt to tát. Quư vị đă để vuột mất cơ hội tốt đẹp ngần ấy ở ngay trước mặt! Đấy là cơ hội ǵ? Vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi trong một đời này. Trong luân hồi quá khổ sở, từ vô lượng kiếp đến nay sanh tử lưu chuyển, khổ sở chẳng thể nói nổi! Chẳng thoát ra được, đời này gặp gỡ Phật pháp, nên mới có cơ hội này.

          Do vậy, tôi thường nói giáo dục Phật pháp là nền giáo dục thù thắng nhất trong bốn loại giáo dục của thế gian này! Tiên sinh Phương Đông Mỹ đă bảo tôi lời ấy. Cụ đă nói với tôi một câu: “Học Phật là sự hưởng thụ cao nhất trong đời người”. Các đồng học chúng ta đông đảo như thế ở cùng một chỗ, nay quư vị đều học Phật, quư vị có thật sự hưởng được sự hưởng thụ cao nhất trong đời người hay chăng? Nếu quư vị hỏi tôi, tôi sẽ trả lời, tôi hưởng thụ được, v́ thế, tôi cảm tạ thầy. Trong hết thảy mọi chốn, hết thảy mọi lúc, tôi niệm niệm chẳng ĺa thầy, cảm tạ; niệm niệm chẳng ĺa khỏi hộ pháp, cảm tạ! Đời này, tôi sống trong thế giới cảm ơn, sống trong cảnh giới giáo huấn của Phật, Bồ Tát, chẳng có ngày nào không đọc kinh, chẳng có ngày nào không giảng kinh. Từ lúc xuất gia cho đến hiện tại là bốn mươi tám năm, sang năm sẽ giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, bốn mươi chín năm, pháp hỷ sung măn, thường sanh tâm hoan hỷ.

          Trong thế giới này có bị thử thách hay không? Có chứ! So với quư vị, tôi bị thử thách rất nhiều, và cũng rất nghiêm trọng. Tôi có thể hứng chịu, quư vị chẳng thể hứng chịu. Quư vị bị thử thách nho nhỏ đôi chút bèn nguội lạnh tấm ḷng, liền ngă ḷng. Đấy là ǵ? Quư vị chưa hề nếm pháp vị của Phật pháp. Nếu quư vị đă nếm được, dẫu thử thách to cách mấy, vẫn chẳng ngă ḷng. Mọi người đều đă từng niệm kinh Kim Cang. Trong kinh Kim Cang có một câu chuyện, tức là chuyện vua Ca Lợi cắt chặt thân thể. Kinh Kim Cang chỉ nhắc tới câu chuyện này đôi chút, nhưng trong rất nhiều bản chú giải, đă chú giải rất cặn kẽ. Câu chuyện cặn kẽ xuất phát từ nơi đâu? Trong kinh Đại Niết Bàn đă nói rất tỉ mỉ, đó là Nhẫn Nhục Ba La Mật đă đạt tới cảnh giới viên măn rốt ráo.

          Bồ Tát, Nhẫn Nhục tiên nhân là Bồ Tát, tu Nhẫn Nhục Ba La Mật, là một người tốt, thật sự là thuần tịnh, thuần thiện, đối với hết thảy chúng sanh, đối với hết thảy mọi người, chắc chắn chẳng có mảy may ác ư, bị vua Ca Lợi hiểu lầm. Vua Ca Lợi đem Ngài xử tử lăng tŕ. “Lăng tŕ” (凌遲) có nghĩa là ǵ? Dùng dao lóc từng miếng thịt trên người, khiến cho Ngài chết như vậy. Chịu tội ấy, chịu sự vũ nhục to lớn ngần ấy. Nhưng Nhẫn Nhục tiên nhân chẳng có một tí sân khuể nào, đương nhiên càng chẳng báo thù, lại c̣n phát nguyện: “Trong tương lai, ta thành Phật, sẽ độ ngươi đầu tiên!” Nhẫn Nhục tiên nhân là tiền thân của Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật, xác thực người được Ngài độ đầu tiên là vua Ca Lợi. Vua Ca Lợi chính là tôn giả Kiều Trần Như trong đời Thích Ca Mâu Ni Phật. Bồ Tát nói bèn giữ lời!

          Đó thật sự gọi là “khó nhẫn mà có thể nhẫn”, chúng ta thấm vào đâu? Nay chúng ta gặp phải bất cứ sự vũ nhục, thương tổn nào, vẫn chẳng đến mức như thời Nhẫn Nhục tiên nhân, thua Ngài xa lắc! Chẳng thể nhẫn th́ quư vị tu ǵ vậy? Khóa tŕnh tu học chủ yếu trong giáo pháp Đại Thừa là Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Bát Nhă, đó là “tu hành”. Đại chúng ở chung với nhau, cần phải tuân thủ quy củ là Lục Ḥa Kính. Chúng ta có làm được Lục Độ và Lục Ḥa Kính hay không? Mỗi ngày phải ghim điều này trong tâm. Nếu ghim Lục Ḥa, Lục Độ trong tâm, quư vị sẽ là tâm Bồ Tát. Niệm nào cũng mong thực hành Lục Ḥa và Lục Độ, quư vị đang tu Bồ Tát hạnh. [Vận dụng] Bồ Tát tâm Bồ Tát hạnh để niệm Phật, quư vị nói xem có thể văng sanh hay không? Nắm chắc văng sanh, chắc chắn là nắm chắc!

          Nay chúng ta thấy bài kệ này, hiện thời, chẳng dễ thấy giếng nước cho lắm. Hiện nay, mọi người dùng nước máy, nhưng tại nông thôn vẫn có. Chúng tôi cũng dự pḥng nước máy bị cúp, tức cúp điện, cắt nước, làm như thế nào? V́ thế, đạo tràng của chúng tôi tại Úc có đào giếng sâu, trong đạo tràng có một cái giếng sâu. Tôi sống ở vùng quê, sân ở nhà quê rất rộng, nếu tính theo Mẫu () của Trung Hoa, sẽ là sân rộng một trăm bảy mươi mẫu. Hương Cảng tính theo Xích ()[3], nói theo Xích th́ đại khái là chúng tôi có hơn một trăm vạn Xích. Một mẫu Anh (Acre) là bốn vạn Xích. Chúng tôi có hai mươi tám mẫu Anh, tức là hai mươi tám lần bốn vạn Xích. V́ thế, rất lớn, chúng tôi đào hai cái giếng sâu. Rất nhiều đồng tu biết, châu Úc thiếu nước; trong mùa khan hiếm nước, hoa, cỏ, cây cối trong sân của chúng tôi rất nhiều, nếu dùng nước máy để tưới sẽ là phạm pháp. Khi thiếu nước th́ nước máy chỉ có thể dùng để uống, chẳng thể dùng để tưới hoa, tưới cây, chẳng thể được! Chúng tôi dùng nước giếng sẽ chẳng có vấn đề ǵ, chẳng dùng nước máy!

          Nhưng hiện thời giếng nước là giếng sâu, chúng tôi kéo nước đương nhiên là chẳng thể dùng dây thừng, bèn dùng chong chóng, thứ này cũng hết sức tốt. Chúng tôi chẳng dùng ao chứa nước, mà dùng thùng chứa nước rất lớn. Loại thùng chứa nước một vạn gia-luân (gallons). H́nh như hiện thời chúng tôi đă làm tất cả mười cái. Nói cách khác, thông thường chúng tôi chứa mười vạn gia-luân nước, cung cấp quanh năm cho ba trăm người chắc chắn chẳng có vấn đề. Nguồn nước rất đầy đủ; đấy là dùng nước giếng. Những cái giếng cổ xưa trước kia, ở vùng nông thôn Trung Hoa hăy c̣n. Năm ngoái tôi có dịp đến thăm miền Nam tỉnh An Huy, đến thăm khu văn hóa Huy Châu, họ c̣n giữ lại mười mấy thôn trang cũ đă có từ ba trăm năm trước. Quư vị đến đó sẽ thấy trong những thôn trang ấy đều có giếng. Quư vị có thể thấy được cảnh quan ấy.

          Pháp ấy phối ứng với giáo pháp Đại Thừa sẽ là “cụ túc biện tài, diễn nhất thiết pháp” (trọn đủ biện tài, diễn hết thảy các pháp). “Biện tài” như tôi vừa nói chính là trí huệ Bát Nhă vốn sẵn có trong tự tánh. Giáo pháp Đại Thừa nói Căn Bản Trí và Hậu Đắc Trí. Căn Bản Trí c̣n gọi là Thật Trí, chân thật. Hậu Đắc Trí c̣n gọi là Quyền Trí, phương tiện quyền xảo. Biện tài là phương tiện quyền xảo. Chẳng có Căn Bản Trí, há có Hậu Đắc Trí? Giống như một cội cây to, chẳng có cội rễ, lấy đâu ra cành, lá, hoa, quả? Cành, lá, hoa, quả là Hậu Đắc Trí; v́ thế, nó có căn cội. Căn Bản Trí là như thế nào? Kinh Bát Nhă nói rất khá, “Bát Nhă vô tri, không ǵ chẳng biết”. Vô tri là Căn Bản Trí, là Thật Trí; “không ǵ chẳng biết” là Hậu Đắc Trí, là Quyền Trí. “Cụ túc biện tài” ở chỗ này là Hậu Đắc Trí.

          Ở chỗ này, quư vị phải hiểu, trí huệ chân thật sanh từ cái tâm thanh tịnh, chẳng phải học từ bên ngoài. Chúng ta đọc Đàn Kinh, Đàn Kinh có rất nhiều khải thị. Quư vị thấy Huệ Năng đại sư gặp Ngũ Tổ vào thuở ấy, chư vị phải biết, Ngài hai mươi bốn tuổi. Gặp Ngũ Tổ, lần đầu tiên gặp mặt, Sư bèn thưa tŕnh với Ngũ Tổ, Ngài nói: “Trong tâm đệ tử thường sanh trí huệ”. Đó là ǵ? Căn Bản Trí. V́ sao biết thường sanh trí huệ? Trong cuộc sống hằng ngày, trong công việc, trong xử sự, đăi người, tiếp vật, chính ḿnh sẽ biết, chẳng có sai lầm. Hễ có sai lầm, tức là không có trí huệ. Chẳng có sai lầm th́ phải là trí huệ. Kinh Kim Cang nói: “Tín tâm thanh tịnh, ắt sanh Thật Tướng”. Thật Tướng là Căn Bản Trí. Căn Bản Trí là ǵ? Căn Bản Trí là tâm thanh tịnh. Do vậy, nguyên tắc chỉ đạo tu hành cao nhất trong kinh Vô Lượng Thọ chính là năm chữ “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”. Thanh tịnh là Căn Bản Trí; b́nh đẳng và giác là Hậu Đắc Trí, là thiện xảo phương tiện.

          Tuy giáo pháp Đại Thừa gồm tám vạn bốn ngàn pháp môn, đến cuối cùng, thật sự nhập môn là ba môn. Ba môn ấy chính là thanh tịnh, b́nh đẳng, giác. Ở Trung Hoa, tám tông phái Đại Thừa [đều gộp trong] giác, chánh, tịnh, Tam Quy Y nhằm nói đến chuyện này. Tánh Tông, Thiền Tông, đến cuối cùng nhập môn là Giác môn, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, cũng có nghĩa là sáu căn đối trước cảnh giới sáu trần, chẳng khởi tâm, không động niệm. Chư vị phải biết: Chẳng khởi tâm, không động niệm là đại triệt đại ngộ, là minh tâm kiến tánh. Giáo Hạ đạt đến cảnh giới này, sẽ chẳng gọi là Giác, mà gọi là chánh tri chánh kiến, đại khai viên giải. Do chánh tri chánh kiến, cho nên Giáo Hạ đi vào từ cửa Chánh. Quư vị thấy Chánh môn và Giác môn có ǵ phân biệt? Chẳng có phân biệt! Tịnh Độ Tông và Mật Tông, hai tông phái này từ Tịnh môn mà vào, là tâm thanh tịnh, đúng là khá thuận tiện, kể cả Mật Tông. Từ Giác môn th́ xác thực phải là bậc thượng thượng căn. Đối tượng được tiếp dẫn bởi Lục Tổ là bậc thượng thượng căn. Do vậy, quư vị thấy trong một đời Ngài, hơn ba mươi năm truyền pháp, độ sanh, có bốn mươi ba người thật sự minh tâm kiến tánh. Những người ấy Đàn Kinh đều có chép tên, bốn mươi ba vị đấy nhé! Chẳng dễ dàng, bậc thượng thượng căn đấy!

          Quư vị chẳng phải là bậc thượng thượng căn, chẳng có cách nào hết, chẳng thể tiếp nhận. Cũng có nghĩa là chẳng có cách nào đoạn hết khởi tâm động niệm! Quư vị có thể đoạn chấp trước, có thể đoạn phân biệt, tức là quư vị có thể đoạn Kiến Tư, có thể đoạn Trần Sa phiền năo, chẳng đoạn Vô Minh. Vô minh là khởi tâm động niệm, quá khó khăn, chẳng phải là kẻ b́nh phàm mà ḥng làm được. Giáo Hạ th́ kẻ căn tánh trung thượng đều được, chẳng có vấn đề! Họ tiến dần dần, từ cạn đến sâu, chẳng phải là đốn ngộ, giống như đi học, từ lớp Một, dần dần tiến lên lớp Hai. Thiền Tông chẳng phải vậy, Thiền Tông muốn một bước lên trời, chẳng có tầng cấp. Tiến cao hơn từng bước cũng rất khó, phải tốn thời gian rất dài; v́ thế, cũng là chuyện khó khăn. Tịnh Tông chẳng phải là thượng thượng căn, mà cũng chẳng phải là trung thượng căn, hạ hạ căn vẫn có thể tu, chẳng cần đọc rất nhiều kinh điển. Thậm chí nói chỉ cần một câu Phật hiệu, quư vị cứ thật thà niệm, niệm cho đến khi cái tâm thanh tịnh th́ sẽ thành công.

          Chư vị phải biết bí quyết này. Chúng ta niệm Phật nhằm mục đích nào? Mục đích là mong niệm sao cho đạt được cái tâm thanh tịnh. Nói cách khác, bất luận phiền năo ǵ hay chuyện ǵ, quư vị hễ gặp phải bèn “Nam-mô A Di Đà Phật”, đổi ư niệm ấy thành A Di Đà Phật, đó gọi là niệm Phật. Vừa niệm Phật, lại c̣n vừa dấy vọng tưởng, không được rồi! Đấy chẳng phải là niệm Phật, giả trất, chẳng thật, sẽ như cổ đại đức bảo: Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, gào toác cổ họng vẫn uổng công”. Thật sự biết niệm Phật, ví như gặp chuyện vừa ư, trong tâm rất vui sướng, bèn “nam-mô A Di Đà Phật” để giằn sự vui sướng xuống. V́ sao? Mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, ham muốn đều là phiền năo, được gọi là thất t́nh, ngũ dục. Sau khi những thứ ấy sanh khởi, sẽ đều là chướng ngại, hăy dùng “A Di Đà Phật” để giằn xuống. Chuyện chẳng vừa ḷng, chẳng như ư, tâm sân hận dấy lên, hăy “A Di Đà Phật” ḥng giằn xuống cái tâm sân khuể của ta. Đó gọi là chế phục phiền năo. Dùng một câu A Di Đà Phật này, thảy đều quy về A Di Đà Phật, thất t́nh, ngũ dục, tham, sân, si, mạn, thị phi, nhân ngă, toàn bộ quy vào A Di Đà Phật, sẽ dẹp yên. Tịnh Tông dùng phương pháp này. Nếu quư vị niệm Phật như vậy th́ sẽ có hiệu quả.

          Người khác hủy báng ta, người khác chửi ta, ta nghe thấy, rất tức giận. “Nam-mô A Di Đà Phật”, sự cáu kỉnh tiêu mất, lại giằn ép xuống. Đó gọi là niệm Phật. Cảnh giới hiện tiền, chuyển theo cảnh giới, chẳng thể khống chế tí nào, quư vị hoàn toàn chẳng có công phu niệm Phật. Công phu thành phiến là ǵ? Công phu thành phiến là công phu đắc lực, công phu có thể dẹp yên vọng tưởng và tập khí của quư vị. Chẳng đoạn vọng tưởng, tập khí, nhưng câu Phật hiệu hữu dụng, bất luận ư niệm nào dấy lên, thiện niệm hay ác niệm, một câu Phật hiệu thảy đều dẹp yên. Đó gọi là niệm Phật. Niệm lâu dài, trong tâm có Phật. Trong tâm đă có Phật, khi cảnh giới hiện tiền, tự nhiên sẽ có thể khống chế. Tuy có lúc trong tâm rất bực bội, trong tâm dấy lên một trận như thế đó, nhưng thời gian rất ngắn, gần như mấy giây là yên, chẳng có nữa, sẽ tự nhiên hóa giải. Đó gọi là công phu đắc lực. Nếu quư vị vẫn thuận theo phiền năo dấy lên hiện hành, khởi tác dụng, công phu của quư vị chẳng đắc lực. Chư vị phải ghi nhớ, không đắc lực sẽ chẳng thể văng sanh, quan hệ quá lớn! Đắc lực th́ mới có thể văng sanh.

          Phải như thế nào th́ mới có thể đắc lực? Chẳng cần so đo cùng kẻ khác, chuyện ǵ cũng xem nhạt nhẽo đôi chút. Nếu thật sự chẳng có cách nào, hăy dùng kinh Kim Cang để giúp quư vị, hăy nghĩ kinh Kim Cang đă dạy: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng. Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Quư vị c̣n có ǵ so đo nữa? V́ thế, người khác tán thán quư vị, cũng gật đầu, nói chung là phải cám ơn người ta. Có tâm hoan hỷ hay chăng? Chẳng có! Kẻ hủy báng ta, cũng gật đầu, giữ sự lễ độ đối với người ta, có sân khuể hay không? Chẳng có. Đấy là phiền năo nghiêm trọng nhất, một là tâm hoan hỷ, hai là tâm sân khuể. Chẳng thuận theo ư ḿnh, tâm sân khuể liền dấy lên. Khi hợp ư ḿnh, tâm tham ái bèn dấy lên. Phải biết tham ái và sân khuể đều là phiền năo, tham ái là ngạ quỷ đạo, sân khuể là địa ngục đạo. Quư vị tùy thuận cảnh giới ấy phát tác, như vậy là quư vị đi vào địa ngục đạo, hoặc đi vào ngạ quỷ đạo. Trong tương lai, sau khi quư vị đă chết, khẳng định sẽ biến thành quỷ, hoặc biến thành [thân trong] địa ngục, sai lầm quá to!

          Hiện thời, A Di Đà Phật cứu chúng ta, cảnh giới ấy hiện tiền, thảy đều quy vào A Di Đà Phật. A Di Đà Phật, ba thiện đạo chẳng có, mà ba ác đạo cũng chẳng có, A Di Đà Phật ở Tây Phương Cực Lạc thế giới. Do đó, quư vị cảm ứng chắc chắn là trong thế giới Cực Lạc. Công phu niệm Phật như vậy mới đắc lực, niệm Phật như vậy mới là thật sự niệm Phật. Quyết chẳng phải là suốt ngày từ sáng đến tối lần tràng hạt, “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật”, [thế mà] chuyện chẳng như ư bé tí tẹo bèn nổi cáu, đấy chẳng phải là người niệm Phật. Ca tụng quư vị mấy câu, quư vị rất khoái chí, đấy chẳng phải là người niệm Phật, mà là hạng người nào vậy? Kết duyên với A Di Đà Phật, đă gieo chủng tử A Di Đà Phật trong A Lại Da Thức, đời này chẳng khởi tác dụng. Nói cách khác, đáng luân hồi như thế nào, quư vị vẫn phải luân hồi như thế ấy! Quư vị có cái tâm luân hồi, niệm Phật vẫn là chuyện luân hồi. V́ thế, hết thảy các pháp phải khởi sự làm từ tâm. Câu nói ấy là đúng!

          Quư vị dùng cái tâm Bồ Đề, bất luận làm chuyện ǵ cũng đều là Bồ Tát nghiệp, tuyệt đối chẳng phải là sự nghiệp tam đồ lục đạo, mà là sự nghiệp Bồ Tát. Quư vị dùng cái tâm Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, cuộc sống, công việc, xử sự đăi người, tiếp vật, nghiệp ấy sẽ là nghiệp Tiểu Thừa, là sự nghiệp tu tập của hàng Tiểu Thừa. V́ thế, cái tâm như thế nào, sẽ cảm quả báo như thế ấy. Đó là Dẫn Nghiệp. Ngôn ngữ và tạo tác, đó là chuyện đă làm xong; cái cảm được từ chuyện ấy chính là Măn Nghiệp. Hai thứ nghiệp lực rành rành. Ta dùng Bồ Đề tâm, tôi đă nói rất rơ ràng Bồ Đề tâm cùng chư vị, [chính là] tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm chánh giác, tâm từ bi, niệm nào cũng đều chẳng bỏ mười chữ ấy. Niệm nào cũng tương ứng với mười chữ ấy, quư vị là Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm là Phật tâm. Như vậy những chuyện quư vị đă làm, thích bố thí, thích tŕ giới, thích tŕ giới là thích làm người tốt. Tŕ giới là tiêu chuẩn của người tốt. Do vậy, quư vị ưa thích Đệ Tử Quy, ưa thích Thập Thiện Nghiệp Đạo, ưa thích Tam Quy, Ngũ Giới, người xuất gia ưa thích Sa Di Luật Nghi. Nếu quư vị sanh tâm hoan hỷ, sẽ học thấy thú vị, mới có thể vui thú, càng học càng hoan hỷ, pháp hỷ sung măn. Đó gọi là “học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? (Học rồi thường xuyên tập luyện, cũng chẳng vui sao?)

          Nếu chẳng đạt được pháp hỷ từ nơi đây, có ai muốn học? Càng học càng hoan hỷ, chắc chắn sẽ chẳng muốn bỏ, quư vị sẽ nhập cảnh giới. Đấy là cảnh giới ǵ? Mới nhập Phật môn bèn hoan hỷ dường ấy, sau đấy mới từng bước tiến cao hơn. Giống như chúng ta kéo nước từ giếng lên, nước giếng từ từ được đưa ra ngoài, từng bước nâng cao dần. Chính ḿnh đă tu thành công, có thể giúp đỡ người khác, giúp người khác cũng chẳng cần tác ư, tức là hễ có ư nghĩ “ta giúp đỡ người khác”, tức là quư vị c̣n chấp trước, c̣n phân biệt, [sự giúp đỡ ấy là] tự nhiên! Đức Phật dạy chúng ta điều này, Phổ Hiền Bồ Tát nói “hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức”. Tùy hỷ là tùy duyên, chẳng phan duyên. “Phan duyên” (攀緣) là như nay chúng ta nói, có kế hoạch, có mục đích, có các bước tiến hành, gọi chung là phan duyên. Phan duyên sẽ rớt vào phân biệt, chấp trước; tùy duyên th́ chẳng có [phân biệt, chấp trước]. Tùy duyên mới vui sướng. Tùy duyên mới tự tại, chẳng bị bó buộc. Khi có duyên, chắc chắn chẳng thể bỏ qua, phải rất nghiêm túc nỗ lực thực hiện. Khi chẳng có duyên, sẽ chẳng miễn cưỡng mảy may!

          Chúng ta tùy duyên như thế nào? Điều tùy duyên thứ nhất là chính bản thân chúng ta làm được giáo huấn của đức Phật, biến giáo huấn của đức Phật thành cuộc sống thông thường của chúng ta. Thân thể ta tùy duyên, thân tâm ta tùy duyên, chẳng cần bận tâm đến người khác [có hành theo giáo huấn của đức Phật hay không], ta phải y giáo phụng hành. Quư vị làm được rất tốt, chắc chắn sẽ cảm động người trong nhà, người nhà quư vị đều tôn kính, đều tán thán quư vị. Đương nhiên là họ sẽ làm theo quư vị, bất tri bất giác, hữu ư hay vô t́nh họ bị cuốn hút. Quư vị thuyết pháp cho người nhà, chỉ cần mở miệng sẽ đều là giảng kinh, thuyết pháp, ái ngữ, lợi hành, Tứ Nhiếp Pháp đấy nhé! Bố thí là Pháp Bố Thí, pháp ǵ thế? Chính ḿnh làm được, sự biểu diễn ấy là bố thí, tôi nêu gương cho quư vị thấy; đó là bố thí. Các vị chẳng liễu giải, tôi giảng giải cho quư vị, đấy là bố thí; dùng thân thể để làm ra, đó là nội tài bố thí. Quư vị thấy Tứ Nhiếp Pháp áp dụng vào gia đ́nh, bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, gia đ́nh của quư vị rất tốt đẹp! Gia đ́nh của quư vị được chư Phật tán thán, long thiên thiện thần gia hộ. Lợi ích chỉ có chư Phật có thể hiểu rơ, Bồ Tát tán thán chẳng trọn hết. Thật đấy, v́ sao chẳng làm? A! Hôm nay thời gian đă hết rồi! Chúng tôi giảng bài kệ này tới đây!

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 37 hết



[1] Pháp sư Thánh Hoài và Sướng Hoài là hai vị khác nhau.  

[2] Tùy phiền năo (Upakleśa):

1. Tiểu Tùy: Phẫn (phẫn nộ), hận (căm hận), năo (bứt rứt, lo lắng), phú (giấu diếm), cuống (dối trá), siểm (bợ đỡ, nịnh hót), kiêu (kiêu căng), hại (bức hại), tật (ghen ghét), xan (keo kiệt).

2. Trung Tùy: Vô Tàm (không thẹn), Vô Quư (không xấu hổ).

3. Đại Tùy: Bất tín, giải đăi, hôn trầm, phóng dật, thất niệm, tán loạn và oai tri (hiểu biết sai lệch).

[3] Xích chính là chữ người Hoa dùng để dịch chữ Foot trong tiếng Anh. Khi ḥa thượng nói một mẫu Anh là bốn vạn xích, Ngài có ư nói một phương xích (square foot).