Đại Phương Quảng Phật

Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 44

大方廣佛華嚴經

(十一)淨行品

                              Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Địa điểm: Hương Cảng Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội

Khởi giảng từ ngày mồng Bảy tháng Mười Một năm 2005

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Minh Tiến

 

Tập 1549

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, tiểu đoạn thứ ba trong đoạn lớn thứ sáu của phần kệ tụng, xem từ bài kệ thứ mười một. Chúng ta đọc kinh văn một lượt.

 

          (Kinh) Kiến báo ân nhân, đương nguyện chúng sanh, ư Phật, Bồ Tát, năng tri ân đức.

          ()報恩人。當願眾生。於佛菩薩。能知恩德。

          (Kinh: Thấy người báo ân, nguyện cho chúng sanh, hay biết ân đức của Phật, Bồ Tát).          

 

          Thanh Lương đại sư đă nêu ra mười loại ân đức thị hiện của chư Phật. Trong phần trước, chúng ta đă học đến loại thứ tám. Hôm nay, xem từ loại thứ chín. Thứ chín là…

 

          (Sao) Thị diệt sanh thiện ân. Cố Pháp Hoa kinh vân: “Nhược Phật cửu trụ ư thế, bạc phước chi nhân bất chủng thiện căn, bần cùng, hạ tiện, tham trước ngũ dục, nhân ư ức tưởng vọng kiến vơng trung. Nhược kiến Như Lai thường trụ bất diệt, tiện khởi kiêu tứ, nhi hoài yếm đăi, bất năng sanh nan tao chi tưởng, cung kính chi tâm. Thị cố Như Lai dĩ phương tiện thuyết: “Tỳ-kheo đương tri, chư Phật xuất thế, nan khả trị ngộ”. Năi chí vân “tư chúng sanh đẳng, văn như thị ngữ, tất đương sanh ư nan tao chi tưởng, tâm hoài luyến mộ, khát ngưỡng ư Phật, tiện chủng thiện căn”.

          ()示滅生善恩。故法華經云,若佛久住於世,薄福之人,不種善根,貧窮下賤,貪著五欲,人於憶想妄見網中,若見如來常住不滅,便起憍恣,而懷厭怠,不能生難遭之想,恭敬之心,是故如來以方便說,比丘當知,諸佛出世難可值遇。乃至云斯眾生等,聞如是語必當生於難遭之想,心懷戀慕,渴仰於佛,便種善根。

          (Sao: Ân “thị hiện diệt độ [khiến cho hữu t́nh] sanh khởi điều thiện”. V́ thế, kinh Pháp Hoa chép: “Nếu Phật trụ lâu dài trong cơi đời, kẻ bạc phước chẳng gieo thiện căn, nghèo cùng, kém hèn, tham đắm ngũ dục. Do con người [bị vướng mắc] trong lưới ức tưởng, vọng kiến, nếu thấy Như Lai trụ thế dài lâu, chẳng diệt, sẽ sanh ḷng kiêu căng, luông tuồng, ôm ḷng chán ngán, lười nhác, chẳng thể sanh ư tưởng khó gặp gỡ, dấy ḷng cung kính. V́ thế, đức Như Lai nói phương tiện: ‘Các tỳ-kheo nên biết, chư Phật xuất thế khó thể gặp gỡ’, cho đến nói ‘những chúng sanh ấy nghe nói như thế, ắt sanh ư tưởng khó gặp gỡ, ôm ḷng quyến luyến, hâm mộ, khát ngưỡng đức Phật, bèn gieo thiện căn’).

 

          Đấy là một đoạn khai thị của Thanh Lương đại sư. “Thị diệt sanh thiện” (Thị hiện diệt độ để sanh khởi thiện căn [cho chúng sanh]). Đức Phật có năng lực thường trụ chẳng diệt trong thế gian hay không? Thưa cùng chư vị, có chứ! Xác thực là có năng lực ấy; v́ sao biết? Trong các vị đệ tử của đức Phật, tôn giả Tân Đầu Lô (Piṇḍola Bhāradvāja) hiện thời vẫn c̣n trụ trong thế gian. Tôn giả Đại Ca Diếp cũng trụ trong thế gian, chờ đợi ngài Di Lặc thị hiện thành Phật, sẽ đem y bát của Thích Ca Mâu Ni Phật truyền trao cho Phật Di Lặc. Sau khi Phật Thích Ca diệt độ, ngài Di Lặc sẽ giáng sanh thị hiện thành Phật trong thế gian này. Trong Di Lặc Hạ Sanh Kinh có nói thời gian ấy là năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm. Nói cách khác, tôn giả Ca Diếp phải chờ tới khi ấy. Hiện thời, ngài Ca Diếp đang ở nơi đâu? Theo kinh điển ghi chép, Ngài đang ở núi Kê Túc thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Hoa. V́ thế, lăo ḥa thượng Hư Vân triều bái núi Kê Túc cũng hết sức cung kính, ba bước một lạy, lạy đến tận trên núi. Tuy chẳng gặp tôn giả Ca Diếp, nhưng nghe âm thanh của khóa tụng, nghe tiếng chuông, trống, kiền chùy. C̣n tôn giả Tân Đầu Lô là do đức Thế Tôn chẳng cho phép nhập diệt, bắt Ngài thường trụ trong thế gian để chúng sanh gieo ruộng phước. Thông thường, chúng ta làm cỗ chay cúng đại chúng để tu phước, nhất định là nếu có bậc thật sự có phước đến ứng cúng, phước báo ấy sẽ to lớn. Đối với chuyện này, đức Thế Tôn đă dặn ḍ tôn giả Tân Đầu Lô; v́ thế, ngài [Tân Đầu Lô] vẫn trụ trong thế gian. Ngài ứng hóa trong thế gian, nhưng loài người chúng ta chẳng nhận biết! Đáng nên hiện thân ǵ để đắc độ, bèn hiện thân ấy, Ngài chẳng có thân h́nh nhất định.

          Từ kinh điển, nh́n bề ngoài, các Ngài là Đại A La Hán; thật ra, các Ngài toàn là Pháp Thân Bồ Tát. Nếu luận định khít khao sự thật, chúng ta biết tôn giả Ca Diếp đă thành Phật từ nhiều kiếp lâu xa, thị hiện thân Thanh Văn nhằm giúp Thích Ca Mâu Ni Phật giáo hóa chúng sanh, tôn giả Tân Đầu Lô cũng không phải là ngoại lệ. Đấy chính là “thùy h́nh lục đạo” (giáng hiện thân h́nh trong sáu đường) như chúng ta đă thấy trong phần trước. Thân phận bất định, Quyền, Thật bất định, h́nh tướng bất định, thuyết pháp bất định, thường trụ trong nhân gian. Lẽ nào Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng có năng lực này? V́ sao Ngài phải thị hiện nhập Bát Niết Bàn?

          Kinh Pháp Hoa đă nói rất hay, cùng một đạo lư giống như vậy. Đó gọi là “ai nấy có cùng một tâm, tâm có cùng một lư ấy”. Năm xưa, thầy Lư ở Đài Trung suốt ba mươi tám năm. Tại Đài Trung, Ngài kiến lập Đài Trung Liên Xă và Từ Quang Đồ Thư Quán, mở lớp dạy học. Khi tôi đến Đài Trung, thầy đă dạy mười năm tại đó. Tôi thấy các bạn học theo chân thầy suốt mười năm, tôi hết sức hâm mộ. Tôi làm như thế nào để có thể đuổi kịp đón đầu họ? Tuy thầy đă dạy suốt mười năm, trên thực tế, thời gian lên lớp hoàn toàn chẳng dài. Thầy dạy học tại Đài Trung, giảng kinh, thuyết pháp cho mọi người mỗi tuần hai lần, mỗi lần hai tiếng đồng hồ, nhưng cần phải dùng Đài ngữ để phiên dịch (phiên dịch [từ tiếng Phổ Thông] sang tiếng Mân Nam). Do đó, trên thực tế, thời gian [giảng giải] chỉ có một giờ. Mỗi tuần giảng một lần tại Đài Trung Liên Xă, mỗi tuần giảng một lần hoặc hai lần tại Từ Quang Đồ Thư Quán. Ngoài ra c̣n có một lần dạy về Nho học. V́ thế, chỉ có ba lần, [tức là] mỗi tuần chỉ giảng ba lần. Dạy Nho học hai tiếng đồng hồ, không có phiên dịch. Đó là dạy học dành cho học sinh trong nội bộ. Do vậy, trên thực tế, mỗi tuần dạy học bốn tiếng đồng hồ.

          Thoạt đầu, tôi đến Đài Trung, khi ấy, tôi đă nghĩ là có thể đuổi kịp. Thời gian thầy dạy học đại khái mỗi năm là bốn mươi lăm tuần; gặp dịp Tết, thầy nghỉ. V́ thế, một năm đại khái là bốn mươi lăm tuần. Do đó, thời gian chẳng dài! Lúc đó, tôi đă nghĩ: “Nếu tôi không phải đi làm, dùng toàn bộ thời gian để học tập, tôi tin là trong ṿng hai năm sẽ có thể đuổi kịp họ học mười năm”, dấy lên ư niệm ấy. Buông xuống công việc như thế nào? Nghĩ tới Chương Gia đại sư khuyên tôi xuất gia, tôi xuất gia là do Chương Gia đại sư khuyên lơn, khích lệ. Tôi vừa dấy lên ư niệm ấy, sang năm thứ hai, duyên ấy quả nhiên chín muồi, tôi tŕnh lên thầy Lư. Thầy Lư hỏi tôi: “V́ sao muốn xuất gia?” Tôi thưa rơ đạo lư này, tôi nói: “Thầy dạy tại đây đă mười năm, bản thân con có công việc, mỗi ngày làm việc tám tiếng đồng hồ, mỗi ngày học tập chỉ có bốn tiếng đồng hồ! Nếu con chẳng cần phải đi làm, dùng thân phận người xuất gia để khéo học tập, mỗi ngày tối thiểu con có thể học mười giờ, hai năm bèn đuổi kịp”. Thầy nghe nói, cũng gật đầu: “Có lư!” Chẳng phải là vô lư, như vậy th́ mới chấp thuận cho tôi xuất gia. V́ lẽ đó, xuất gia chẳng bao lâu, tôi lại trở về Đài Trung, chẳng cần phải đi làm, trong hai năm, thật sự đuổi kịp [các bạn học].

          Tốc độ tiến triển trong học tập của tôi mau lẹ hơn họ. Các bạn học ở Đài Trung hỏi tôi: “Anh học bằng cách nào vậy? Thầy dạy anh cách nào?” Tôi đáp: “Thầy chưa có lần nào đặc biệt dạy tôi. Khi lên lớp, giảng kinh, mọi người đều cùng học với nhau, thầy chưa hề dạy riêng một ḿnh tôi, chẳng có lần nào!” Tôi nói: “Tôi có thể học nhanh hơn quư vị một chút là do tâm thái học tập của chúng ta khác nhau”. Các đồng học của chúng tôi rất đông, thường ở cùng một chỗ, họ nói: “Khác nhau như thế nào?” Tôi đáp: “Quư vị là người Đài Trung, nhà quư vị ở Đài Trung. Thầy quanh năm dạy học tại đây. Năm nay, quư vị học chẳng hiểu c̣n có năm sau, năm sau học chẳng hiểu th́ c̣n năm sau nữa, có thời gian ấy”. Tôi nói: “Tôi khác quư vị. Tôi từ bên ngoài tới, chẳng có cội rễ tại Đài Trung. V́ thế, tôi đối với thời gian mỗi ngày ở Đài Trung đều hết sức trân quư, tôi rất nghiêm túc học tập, v́ sao? Không chừng ngày nào đó, tôi chẳng có cái duyên này nữa, phải rời khỏi. [Do đó], tâm thái khác nhau”. Họ nghe nói, cảm thấy cũng có lư. Bởi lẽ, tôi nghiêm túc hơn, tinh tấn hơn họ, tương ứng với điều này!

          V́ thế, tỷ dụ trong kinh Pháp Hoa được nêu ở đây rất hay. Nếu đức Phật thường trụ trong thế gian này, đức Phật có thể trụ thế mấy trăm năm, mấy ngàn năm, pháp vận của đức Phật là một vạn hai ngàn năm, người ta sẽ không chịu học Phật. Điều thứ nhất là họ nh́n vào đức Phật, [bèn nói]: “Ngài là thần, thọ mạng của Ngài dài ngần ấy. Chúng tôi không làm được, bọn tôi là phàm phu, làm sao có thể học theo Ngài cho được?” Thứ hai là kẻ thật sự bạc phước trong thế gian, chẳng phải là người gieo thiện căn, sẽ chẳng có cách nào gieo thiện căn; đó cũng là hạng người tuy hằng ngày ở cùng một chỗ với đức Phật chẳng thể sanh khởi thiện căn được. Phần kinh văn kế đó đă nói rất rơ ràng, v́ sao chẳng sanh khởi được? “Bần cùng, hạ tiện”. “Bần cùng” (貧窮, nghèo túng) là chẳng có phước báo. “Hạ tiện” (下賤, kém hèn) là chẳng có địa vị. Trong thế gian, người như vậy đông lắm, chiếm đại đa số. “Tham trước ngũ dục” (Tham đắm ngũ dục): Vẫn đang đuổi theo tiếng tăm, lợi dưỡng, hưởng thụ ngũ dục, lục trần. Quư vị bảo kẻ đó gieo thiện căn, học Phật, [hắn sẽ biện bác]: “Chẳng gấp ǵ! Đức Phật thường trụ trong thế gian mà”, tức là như tôi nói về người ở Đài Trung, năm nay chẳng học nên hồn, hăy c̣n có năm sau. Năm sau học không đàng hoàng, hăy c̣n năm sau nữa! Có thời gian như thế! Giải đăi, chần chừ, như thế sẽ lầm lạc đại sự cả một đời, kẻ ấy chẳng chịu tinh tấn. Đối với chuyện nghe pháp, kẻ ấy khất lại lần sau, theo đuổi ngũ dục, lục trần, tiếng tăm, lợi dưỡng [trước đă], xếp những thứ ấy vào địa vị hàng đầu. Dùng tâm thái ấy học Phật, sẽ hết sức khó khăn, chẳng sanh khởi tâm thành kính đối với Phật pháp, đối với Tam Bảo.

          Phật, Bồ Tát, thiện tri thức thị hiện diệt độ. Sau khi các Ngài diệt độ, đă thật sự độ rất nhiều người. Mọi người nhất định sẽ nghĩ: “Phật chẳng c̣n trụ thế, thầy chẳng c̣n nữa”. Nhất định sẽ nghĩ: “Ta theo thầy nhiều năm ngần ấy, thầy dạy ta những ǵ? Trong hội của thầy, ta đă học những ǵ?”, sẽ nghiêm túc phản tỉnh. Giống như thuở ấy, tôi theo học với Chương Gia đại sư, đại sư dạy tôi mỗi tuần hai giờ vào ngày Chủ Nhật. V́ bản thân tôi phải đi làm, chỉ thân cận thầy vào ngày Chủ Nhật. Ngài dành cho tôi thời gian hai tiếng đồng hồ, suốt ba năm giống như một ngày. Ba năm sau thầy văng sanh, tôi hết sức nghiêm túc phản tỉnh, dựng một cái lều ở chỗ hỏa táng thầy. Tôi ở trong lều ba ngày. Người canh giữ bên thầy có đến mười mấy người, dẫn đầu là Cam Châu Hoạt Phật. Chúng tôi đều là bạn bè rất thân thiết, đều là học tṛ của Chương Gia đại sư. Họ dựng lều ở nơi hỏa táng khoảng một tuần. Tôi v́ bận rộn công việc, chỉ xin nghỉ ba ngày, ở đó ba ngày. Nghiêm túc phản tỉnh trong ba năm ấy đại sư đă dạy tôi những ǵ, nghiêm túc phản tỉnh!

          V́ lúc thầy c̣n tại thế, tôi đă sơ sót, dụng tâm chẳng khẩn thiết. Phản tỉnh lần ấy khiến cho tôi một mực tiếp nhận sự giáo huấn của lăo nhân gia, tôi đă hoàn toàn sơ sót sự giáo huấn ấy. V́ tôi học Phật là do Triết Học dẫn nhập, thầy Phương đă hướng dẫn tôi, coi kinh Phật như Triết Học, tức là Triết Học trong kinh Phật. Tiến nhập từ góc độ ấy, chẳng phải từ tôn giáo. V́ thế, đối với lư luận và phương pháp trong kinh điển th́ rất hâm mộ, nhưng đối với giới luật cũng rất khinh mạn. Tuy ở trước mặt thầy chẳng dám nói năng, nhưng khẳng định là thầy đă thấy tôi có quan niệm rất sai lầm: Tôi cho rằng giới luật có tánh chất giống như lễ nghi của Trung Hoa vào thời cổ, là những khuôn phép cho cuộc sống của những kẻ b́nh phàm!

          Lễ giáo nhằm lập khuôn phép cho cuộc sống, chắc chắn sẽ v́ thời điểm, v́ nơi chốn mà khác biệt. Cổ lễ Trung Hoa trong thời Tam Đại khác nhau. Tam Đại là [ba triều đại] Hạ, Thương, Châu, [lễ nghi trong ba triều đại ấy] chẳng giống nhau! Ví như trước kia vào thời đại đế vương, sự kính lễ [trang trọng] nhất sẽ là nhân dân hoặc bầy tôi hễ gặp hoàng thượng bèn hành lễ gồm ba lần quỳ, chín lần khấu đầu. Hiện thời, lễ nghi của chúng ta, [thể hiện sự kính lễ nhất] chính là cúi ḿnh ba lần, làm sao giống nhau cho được? [Theo cái nh́n sai lầm của tôi thuở ấy], những giới luật trong Phật pháp giống như lễ, là những khuôn phép trong cuộc sống. Ba ngàn năm trước chính là thời gian bất đồng, chúng ta thuộc ba ngàn năm sau. Xét về nơi chốn, đó là lễ của Ấn Độ, chính là lễ của Ấn Độ vào thời cổ, hiện thời ta học nó để làm ǵ? Chúng ta nay là người thuộc thế kỷ hai mươi mốt. V́ thế, tôi coi những thứ ấy như một loại kỷ niệm, biết trạng huống sinh hoạt của hết thảy nhân dân, một số chế độ, phong tục, tập quán xă hội trong thuở ấy, coi chúng như [những dữ kiện] lịch sử th́ được rồi, hiện thời làm sao có thể sử dụng nó cho được? Bởi đó, đối với kinh, luật, luận, tôi rất coi trọng kinh và luận, đối với giới luật hoàn toàn chẳng nghĩ phải nghiêm túc học tập những thứ ấy.

          Đại sư rất từ bi, mỗi tuần tôi đến gặp Ngài, tuyệt đại đa số là khi tôi rời đi, Ngài đều đưa tôi đến tận cửa, thường xuyên dặn một câu: “Giới luật rất trọng yếu”. Nói một câu nhẹ nhàng như vậy, diễn tả đơn sơ, trong ba năm, tôi nhớ đă nghe [thầy dặn ḍ như vậy] tối thiểu ba chục hoặc năm chục lần. V́ thế, ấn tượng rất sâu, nhưng chẳng lưu ư. Đại sư đă văng sanh, tôi ở trong lều ba ngày, ngẫm lại giáo huấn của lăo nhân gia, lập tức ấn tượng ấy sâu đậm nhất, ngay tức khắc trồi lên. Thầy nói nhiều lượt ngần ấy có ư nghĩa ǵ, chẳng phải là rất trọng yếu ư? Khi ấy, mới suy xét chuyện này lần nữa, tiếp nhận. Nếu đại sư chẳng văng sanh, tôi vĩnh viễn chẳng tiếp nhận giới luật của nhà Phật, “thị diệt sanh thiện ân” (ân “thị hiện diệt độ nhằm sanh khởi điều lành”).

          Khi thầy ĺa khỏi thế gian, tôi thật sự coi trọng câu nói ấy, hoàn toàn tiếp nhận, mới nghiêm túc xem phần Giới Luật trong Tạng Kinh, mới biết lễ trong pháp thế gian thuộc về thế gian. V́ thế, xưa nay, trong ngoài nước, [lễ nghi] khác nhau. Giới luật trong nhà Phật chẳng phải là pháp thế gian, tôi nghĩ đến điều này, nó là ǵ? Nó là tiêu chuẩn [để phân định] thánh phàm. Tiêu chuẩn thánh phàm vượt trỗi không gian, vượt trỗi thời gian, tôi lănh hội ư nghĩa này. Nếu nay chúng ta mong siêu phàm nhập thánh, giới luật hết sức trọng yếu. Nếu chẳng mong vượt thoát lục đạo, lễ của Nho gia là được rồi. Chúng ta phải tuân thủ lễ xưa nay, trong ngoài nước. Chúng ta hiểu lễ của cổ nhân, nhưng chắc chắn là giữ lễ theo hiện đại, chẳng tuân thủ lễ pháp của cổ nhân. Quan niệm này là một quan niệm rất mới mẻ, khiến cho tôi tiếp nhận giới học. Nhưng giới học là căn bản; bởi lẽ, Giới là Phật thân, Giáo là Phật ngôn, Thiền là Phật tâm, tuy một mà ba, tuy ba mà một, thiếu một điều đều chẳng được. Có như vậy, tôi mới một lần nữa học Tam Quy, Ngũ Giới. V́ thế, nếu lăo nhân gia chẳng ra đi, tuy tôi ở trước mặt lăo nhân gia thọ Tam Quy, Ngũ Giới, [chỉ là] h́nh thức, hữu danh vô thực! Chuyện này cũng giống như giáng một gậy đánh thức tôi, hoàn toàn có cùng ư nghĩa với đoạn [chú giải] nói về ân này.

          Do đó, trong kinh đức Phật đă nói, đấy là nói về những kẻ b́nh phàm, đặc biệt là trong xă hội hiện thời, chúng ta thấy rất rơ ràng, họ tham đắm tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần. “Ức tưởng” (憶想) là vọng tưởng; vọng tưởng là Kiến Tư phiền năo. Kiến phiền năo bao gồm Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Thủ Kiến, và Tà Kiến. Trong Tư phiền năo, Tư () là tư tưởng, [Tư phiền năo] là tham, sân, si, mạn, nghi. “Ức tưởng vọng kiến vơng trung” (Trong lưới ức tưởng, vọng kiến) là nói về mười thứ phiền năo, kẻ b́nh phàm ai mà chẳng có những thứ ấy! Lục đạo chúng sanh cho đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên, chẳng đoạn tập khí phiền năo này! Càng lên cao hơn, công năng định lực càng sâu hơn. Công năng định lực chế phục phiền năo, chẳng đoạn, nhưng đôi khi tập khí phiền năo vẫn dấy lên hiện hành!

          V́ thế, sanh vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, thọ mạng là tám vạn đại kiếp, khi thọ mạng đă tới, vẫn bị đọa lạc. Đó gọi là “trèo cao ngă nặng”. Trèo đến chỗ cao nhất, tức Vô Sắc Giới Thiên, hễ đọa lạc th́ chẳng phải là đọa lạc trong nhân gian, mà chắc chắn sẽ đọa lạc vào địa ngục. V́ sao? Trong cảnh giới ấy, khi người ấy đă mất đi công năng định lực, sẽ sanh ḷng sân khuể, sanh tâm ngờ vực, hủy báng thánh hiền: “Thánh hiền đă nói rơ ràng, Phật, Bồ Tát đă nói rơ ràng, tu hành mà khế nhập cảnh giới Niết Bàn sẽ chẳng sanh, chẳng diệt, v́ sao nay ta đă đạt đến cảnh giới Niết Bàn - người ấy ngỡ Tứ Không Thiên trong cơi trời Tứ Thiền[1] là Niết Bàn, tưởng cảnh giới ấy là bất sanh, bất diệt - cớ sao ta nay vẫn bị đọa lạc?” Có thể thấy đấy là giả, chẳng thật. Hễ có một niệm ấy, sẽ là cái nhân khiến đọa vào địa ngục A Tỳ. V́ thế, trong tội Ngũ Nghịch, [quả báo] hủy báng Tam Bảo và phá ḥa hợp Tăng là trong địa ngục A Tỳ, đạo lư ở chỗ này, chúng ta chớ nên không biết. Nhưng do chính người ấy nẩy sanh hiểu lầm, hoàn toàn chẳng phải là cảnh giới Niết Bàn thật sự, cảnh giới ấy tương tự Niết Bàn, chẳng thật! Niết Bàn là vĩnh hằng bất biến, quyết chẳng bị thoái chuyển. Cảnh giới Tứ Không Thiên sẽ thoái chuyển, hễ công năng định lực mất đi, sẽ bị thoái chuyển. Người ấy dựa vào công năng định lực để duy tŕ. V́ thế, chẳng phải là lâu dài, cũng thuộc về vô thường. Tam giới vô thường mà!

          Câu này nói về lục đạo chúng sanh. Nếu chúng sanh trong lục đạo thấy Như Lai thường trụ bất diệt, những kẻ học Phật ấy nhất định sẽ dấy ḷng ngạo mạn, tự cho ḿnh là đệ tử đức Phật, nhưng lại chẳng nghiêm túc học tập, mà giải đăi, chán chường, mệt mỏi sẽ là chuyện chắc chắn! V́ thế, chẳng thể nghĩ “thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Họ chẳng nghĩ đến chuyện này, cho rằng: “Ta được làm thân người, rất may mắn. Đức Phật thường trụ, học Phật khi nào cũng đều được! Hiện thời có thể hưởng thụ niềm vui ngũ dục, đến khi tuổi tác đă cao sẽ lại học cũng đâu có trễ!” Hễ đức Phật thường trụ, sẽ luôn có một hạng chúng sanh ôm tâm lư cầu may như thế! Tôi đă gặp chuyện này rất nhiều. Trước kia, tôi có rất nhiều bạn bè, tuổi c̣n lớn hơn tôi, c̣n có những người già bằng lớp tuổi cha tôi. Sau khi tôi đă học Phật, thường gặp họ, [khuyên nhủ] th́ họ cũng đều gật gù: “Rất hay! Xuất gia học Phật khá lắm, tốt lắm!” Họ nói: “Hiện thời tôi c̣n bận đi làm, chờ đến khi tôi về già sẽ học”. Chẳng được mấy năm đă qua đời mất rồi! Trên đường đến suối vàng, chẳng có già hay trẻ! Họ muốn chờ tới về hưu mới lại học [Phật], c̣n chưa về hưu đă qua đời! Dẫu cũng có người thuộc lớp tuổi đó, sau lúc sáu, bảy mươi tuổi về hưu, xác thực là tinh thần lẫn thể lực đều suy thoái, rất muốn học, nhưng tinh thần và thể lực chẳng đủ, cũng đành bỏ cuộc. Tôi gặp rất nhiều người như thế đó.

          V́ thế, phải biết, thiện tri thức và Phật hoàn toàn chẳng trụ măi trong thế gian. Các vị tổ sư đại đức xưa kia chưa đến bảy mươi tuổi đă khuất bóng rất nhiều, năm, sáu chục tuổi đă ra đi. Chúng ta ngẫm xem, những vị ấy đều thực hiện ân “thị diệt sanh thiện”, khiến cho sau khi thầy đă ra đi, những học tṛ tiếp nhận sự giáo hóa của các Ngài thật sự nghĩ tưởng khó gặp gỡ, sẽ nghiêm túc học tập những điều thầy đă dạy, dũng mănh tinh tấn, đầu sào trăm thước tiến thêm một bước nữa. V́ thế, hễ thầy diệt độ, có rất nhiều học tṛ chứng quả, thành tựu. [Thầy khuất bóng] đă kích thích họ rất lớn, khiến cho họ nghiêm túc phản tỉnh, kiểm điểm, sám hối, sửa lỗi đổi mới. V́ thế, thầy c̣n sống có ân to lớn đối với chúng ta, Ngài ra đi, diệt độ, đối với chúng ta cũng là đại ân. Tôi cảm ơn Chương Gia đại sư; nếu Ngài không ra đi, tôi sẽ chẳng có thành tựu, tối đa là coi Phật pháp như Triết Học, coi như một môn học thuật thế gian để nghiên cứu, sẽ chẳng thể lănh hội nghĩa thú chân thật trong giáo huấn của đức Phật!

          Sau khi đại sư đă khuất, một năm sau tôi quen biết thầy Lư. Dường như thầy Lư cùng độ tuổi với Chương Gia đại sư. Khi tôi quen biết Chương Gia đại sư, lăo nhân gia đă sáu mươi lăm tuổi, Ngài khuất bóng lúc sáu mươi tám tuổi. Một năm sau, tôi quen biết thầy Lư, thầy Lư năm ấy đă bảy mươi tuổi. V́ thế, dường như tuổi tác của hai vị tối đa là chênh nhau một, hai năm. Tôi nghĩ tuổi đă cao ngần ấy, chẳng biết thầy sẽ ra đi vào lúc nào! Cổ nhân nói, từ xưa tới nay đều nói là thất thập cổ lai hy”, [tức là] “nhân sanh thất thập cổ lai hy” (đời người bảy chục tuổi xưa nay hiếm). V́ thế, kẻ đă ngoài bảy mươi thường bị mọi người nói là “năm tháng c̣n sót lại như ngọn đuốc trước gió”, có thể ra đi bất cứ lúc nào!

          Trong cổ lễ Trung Hoa, thầy Lư từng bảo chúng tôi: “Thất thập bất lưu túc, bát thập bất lưu phạn”, [nghĩa là] đối với người đă hơn bảy mươi tuổi, đừng nên giữ họ ở lại nhà [của chính ḿnh], dẫu một đêm cũng chẳng nên! [Bởi lẽ], vạn nhất họ ở lại một đêm, qua đời trong đêm ấy, vậy là chẳng phải bản thân quư vị chuốc phải phiền phức ư? Chẳng mời người bảy mươi tuổi ngủ lại, nhưng có thể mời người ấy ăn cơm. Người đă tám mươi tuổi th́ ngay cả mời ăn cơm cũng chớ nên. Vạn nhất họ ăn một bữa cơm bị mắc nghẹn, qua đời, quư vị vẫn bị nói là hại người ấy, hạ độc trong thức ăn! V́ thế, cổ lễ Trung Hoa nói “bát thập bất lưu phạn” (chẳng mời người đă tám mươi ở lại ăn cơm). Điều ấy chẳng coi là thất lễ, “bảy mươi chẳng mời ngủ lại”. Thầy Lư thường nói lời ấy. Tôi hiểu ư thầy v́ sao nói lời ấy, nhằm nhắc nhở lũ học tṛ chúng tôi: Thầy hiện diện trên cơi đời, tuổi tác đă cao như vậy, chẳng biết ra đi khi nào, phải ham học, phải nghiêm túc, phải nỗ lực, chớ nên lỡ làng thời gian quá tốt đẹp. [Nếu bỏ lỡ], sai lầm mất rồi!

          Kể ra thầy Lư cũng từ bi, đúng thế, đến chín mươi bảy tuổi thầy mới mất, dạy học tại Đài Trung đúng ba mươi tám năm. Có thể nói, tại Đài Loan, thầy là người thành tựu nhất; tuy phước báo chẳng lớn, nhưng thầy thật sự dạy! Thầy dạy học chẳng dầy dặc, v́ chính thầy có công việc. Nếu thầy thôi việc, chuyên tâm dạy học, giảng kinh hằng ngày, sẽ tuyệt diệu lắm! Mỗi tuần thầy giảng kinh hai lần, thật sự là thời gian quá ít. Nếu học tṛ đối với thầy, đối với những điều chính ḿnh đă học mà chẳng nghĩ là khó gặp, chẳng có tâm thành kính, sẽ chẳng có thành tựu. Chúng ta nói là nhân tài “tục Phật huệ mạng, vị văng thánh kế tuyệt học” (nối tiếp huệ mạng của đức Phật, kế thừa cái học tuyệt diệu của các vị thánh hiền đời trước), sẽ chẳng thể xuất hiện được.

          Do vậy, thuở tại thế, đức Phật thường nói, chúng ta thấy điều này trong khá nhiều kinh luận, Thích Ca Mâu Ni Phật thường bảo “thân người khó được, Phật pháp khó nghe”, thời thời khắc khắc nhắc nhở chúng ta. Nhất là trong khi ấy, thuở đức Thế Tôn tại thế, công khóa sáng tối là niệm kinh Vô Thường. Trong Đại Tạng Kinh có bản kinh này, h́nh như tôi cũng thấy có bản lưu hành riêng lẻ, nhưng không được lưu thông phổ biến. Kinh văn không dài, nhắc nhở chính ḿnh “vạn pháp vô thường”. Quư vị thật sự có thể thấu hiểu vô thường th́ mới có thể nghiêm túc, mới có thể nỗ lực, mới biết điều ǵ là quư báu nhất trên thế gian này. Thời gian quư báu nhất, những thứ khác toàn là giả. Các đồng học học Phật ai nấy đều có thể nói: “Vạn ban tương bất khứ, duy hữu nghiệp tùy thân” (Muôn thứ chẳng mang được, chỉ có nghiệp theo thân). Đức Phật dạy các đệ tử: Hai loại nghiệp thiện và ác đều phải buông xuống, chuyên tu Tịnh nghiệp. V́ sao? Do thiện nghiệp sẽ ở trong ba thiện đạo, quả báo của ác nghiệp là trong ba ác đạo, chẳng thoát khỏi lục đạo luân hồi. Được làm thân người chẳng dễ dàng! Được làm thân người lại c̣n gặp gỡ Phật pháp, càng khó khăn hơn. Gặp gỡ Phật pháp mà nếu chẳng thể vượt thoát lục đạo ngay trong một đời này, đúng là đáng tiếc! V́ thế, từ kinh nghiệm trong một đời này, tôi đă thấu hiểu sâu xa chuyện này!

          V́ sao ở trong thế giới hiện thời mà chúng tôi chẳng bị nhuốm bẩn, nguyên nhân là ǵ? Hằng ngày đọc kinh, hằng ngày nghe giáo huấn của Phật, Bồ Tát, hằng ngày ở cùng một chỗ với các vị tổ sư đại đức. Các bản chú giải đều là [do các vị] tổ sư đại đức [biên soạn], chẳng có ngày nào ĺa khỏi, cho nên mới có thể giữ được [chính ḿnh chẳng bị ô nhiễm]! Ba ngày không đọc kinh, thử hỏi quư vị có thể chống nổi ngũ dục lục trần dụ dỗ, mê hoặc hay không? Chẳng chống đỡ nổi, khẳng định là quư vị đọa lạc, tiến đến tam đồ. Do vậy, tôi có thể giữ vững, thưa tŕnh thật ḷng cùng quư vị là do hằng ngày giảng kinh. Giảng kinh mỗi ngày th́ quư vị phải đọc kinh mỗi ngày. Chẳng đọc, giảng cái ǵ đây? Năm mươi lăm năm giống như một ngày. V́ thế mới thấy thấu suốt thế gian; sau đấy, quư vị mới có thể thật sự buông xuống, chẳng c̣n ghim giữ pháp thế gian, cũng như chẳng ghim giữ lục đạo lẫn mười pháp giới trong tâm. Căn tánh của chính ḿnh chẳng phải là hạng người thượng thượng căn. Chuyện này phải nói thật ḷng, phải thật thà, căn tánh của chúng tôi là căn tánh trung hạ. Nếu ngoài niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ ra, muốn dùng các pháp môn khác để đoạn Hoặc chứng Chân, tôi chẳng làm được! Đi theo con đường ấy chẳng suông sẻ, chính ḿnh hiểu rơ điều này hơn bất cứ điều ǵ khác! Tôi tiếp nhận giáo huấn của thầy Lư, suốt đời chuyên tu Tịnh nghiệp. Lăo nhân gia làm mẫu cho tôi thấy, chuyên tu Tịnh nghiệp, cầu sanh Tịnh Độ, thân cận Di Đà, thành tựu đạo nghiệp. Thành tựu của chúng ta là mong tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, đấy là mục tiêu trong một đời này, hồi hướng Tây Phương.

          Chúng ta sống trong hoàn cảnh hiện tiền, hoàn cảnh này là cơi đời thiên hạ đại loạn. Chẳng phải là đại trị mà là đại loạn, chưa hề có tiền lệ trong lịch sử, chẳng t́m thấy trong lịch sử trong nước lẫn ngoài nước. Tuy quá khứ có đời loạn, nhưng so sánh với hiện thời, [thuở trước] vẫn là xă hội tốt đẹp rất khó có! Hiện thời đă loạn, loạn đến mức cùng cực; v́ thế, tôn giáo ngoại quốc nói đến “tận thế”. Chúng ta gặp đúng cảnh này, chẳng thể không dành ra một phần thời gian để giúp đỡ xă hội, giúp ǵ vậy? Hóa giải xung đột, khôi phục an định, ḥa b́nh. Vậy th́ phải làm như thế nào? Ngoài việc mở lớp dạy học giống như chư Phật, Bồ Tát, chẳng có biện pháp thứ hai nào! Trong mấy ngàn năm lịch sử, chúng ta quan sát kỹ lưỡng xưa nay trong ngoài nước, [sẽ thấy] họp hành chẳng thể giải quyết. Nếu có thể giải quyết, cổ nhân nhất định dùng phương pháp họp hành! Cổ nhân có thể thâu được hiệu quả từ dạy học, thảy đều là do mở lớp dạy học! Chúng ta ắt cần phải thí nghiệm phương pháp của Phật, Bồ Tát, cổ thánh tiên hiền. Thí nghiệm quả nhiên hữu hiệu; v́ thế, hiện thời, tín tâm trọn đủ mười phần. Đấy là lư do v́ sao phải rút ra một chút thời gian để làm những công tác ấy, đạo lư ở chỗ này! Nếu là đời thái b́nh thịnh trị, công việc suốt đời của chúng tôi sẽ là giảng kinh, dạy học. Ngoài chuyện ấy ra, thứ ǵ cũng sẽ chẳng tham dự. Đấy là chánh nghiệp của chúng tôi. A! Nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói đoạn này tới đây.

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem tiếp đoạn cuối cùng, tức “bi niệm vô tận ân” (悲念無盡恩, ân nghĩ xót thương vô tận). Đại sư dạy:

 

          (Sao) Vị Thế Tôn đồng nhân trung thọ, ưng thọ bách niên, lưu nhị thập niên phước, dĩ tư Mạt Pháp đệ tử. Đại Tập kinh vân: “Bi mẫn chúng sanh cố, xả thọ đệ tam phần, linh ngă pháp hải măn, tẩy dục chư thiên nhân. Giả sử hủy cấm giới, tất trụ bất thoái địa. Nhược hữu qua đả bỉ, tức vi đả ngă thân. Nhược hữu mạ nhục giả, tắc vi hủy nhục ngă”. Hựu vân: “Lưu bạch hào chi phước dĩ phú đệ tử”. Ngôn “lưu giáo” giả, tức Tam Tạng, Bát Tạng, quảng ích chúng sanh, y chi tu hành, giai đắc thành Phật.

          ()謂世尊同人中壽,應壽百年,留二十年福,以庇末法弟子。大集經云,悲愍眾生故,捨壽第三分,令我法海滿,洗浴諸天人,假使毀禁戒,悉住不退地。若有撾打彼,即為打我身,若有罵辱者,則為毀辱我。又云留白毫之福以覆弟子。言留教者,即三藏八藏,廣益眾生,依之修行,皆得成佛。

          (Sao: Ư nói, trong tuổi thọ giống như loài người, lẽ ra đức Thế Tôn thọ một trăm năm, nhưng Ngài lưu lại phước trong hai mươi năm để che chở hàng đệ tử trong thời Mạt Pháp. Kinh Đại Tập nói: “V́ xót thương chúng sanh, nên bỏ phần thọ mạng thứ ba ḥng khiến cho biển pháp của ta được tràn đầy, gột rửa các hàng trời người, khiến cho kẻ dẫu hủy phạm giới cấm ắt trụ nơi địa vị Bất Thoái. Nếu có kẻ nào đánh đập họ chính là đánh đập ta. Nếu có kẻ nhục mạ họ, chính là hủy nhục ta”. Lại nói: “Lưu lại phước nơi tướng bạch hào để che chở các đệ tử”. Nói đến chuyện “lưu lại giáo pháp” th́ Tam Tạng hoặc Bát Tạng lợi ích chúng sanh rộng răi, nương theo đó tu hành, sẽ đều được thành Phật).

 

          Đấy chính là bi niệm vô tận! Ư nghĩa [của đoạn này] nhằm nói thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, thọ mạng của con người, chúng ta nói tuổi thọ b́nh quân là một trăm năm. Chư vị phải biết, Phật pháp nói đến thọ mạng của con người th́ có Tăng Kiếp và Giảm Kiếp hai loại khác nhau! Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện trong thế gian này nhằm Giảm Kiếp. Giảm Kiếp là cứ một trăm năm sẽ giảm một tuổi. Thọ mạng loài người dài nhất là tám vạn bốn ngàn năm. Khi đạt đến tám vạn bốn ngàn tuổi, cứ mỗi trăm năm bèn giảm một tuổi, một mực giảm cho đến khi loài người thọ mười năm. Mười năm là ngắn nhất, con người thọ mười tuổi. Từ mười tuổi trở đi, cứ mỗi trăm năm tăng thêm một tuổi, tăng cho đến tám vạn bốn ngàn tuổi. [Một chu kỳ] một tăng một giảm như vậy được gọi là tiểu kiếp. Hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp, bốn trung kiếp là một đại kiếp. Đấy là cách tính thời gian trong Phật pháp. V́ thế, tiểu kiếp là [chu kỳ] một tăng một giảm. Nay chúng ta đang thuộc Giảm Kiếp. Thời Thích Ca Mâu Ni Phật, thọ mạng của loài người là một trăm tuổi, cứ mỗi trăm năm giảm một tuổi. Kể từ sau khi đức Phật diệt độ cho đến hiện thời là ba ngàn năm, theo ghi chép của người Hoa là ba ngàn năm. V́ thế, tuổi thọ b́nh quân của người hiện thời là bảy mươi tuổi. Đương nhiên là nói theo đại đa số, tức cộng nghiệp. Trong cộng nghiệp có biệt nghiệp, thọ mạng do biệt nghiệp sẽ khác nhau. V́ thế, có người sống lâu hơn bảy mươi tuổi, có người chẳng sống đến bảy mươi tuổi. Thuở đức Phật tại thế, có người sống hơn trăm tuổi, cũng có người chẳng thọ tới một trăm tuổi. Một trăm tuổi là rất b́nh thường, nhưng đức Phật tám mươi tuổi bèn viên tịch, Ngài hăy c̣n [thọ mạng] hai mươi năm. Nói thông thường là hăy c̣n hai mươi năm, [Ngài ra đi trước] hai mươi năm nhằm lưu lại phước trong hai mươi năm ấy. Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, Ngài đáng lẽ hưởng thọ mạng một trăm tuổi, nhưng Ngài đă ra đi trước, tám mươi tuổi liền khuất bóng.

          “Đồng nhân trung thọ” (Có thọ mạng giống như nhân loại): Trong thời đại này, thọ mạng của nhân loại là bao nhiêu, Phật, Bồ Tát thị hiện thọ mạng đều giống như nhân loại. “Lưu nhị thập niên” là tám mươi tuổi Ngài liền khuất núi, để lại phước báo của hai mươi năm, tức phước báo của đức Phật. Ban phước báo ấy cho ai? Ban cho “mạt thế chúng sanh”, ban cho đệ tử. “Mạt thế” là nói đến thời Mạt Pháp. Đệ tử thời Mạt Pháp nghiêm túc tu hành, sẽ chẳng sợ chết đói, chẳng sợ chết rét, tuyệt đối chẳng chết v́ đói mà cũng chẳng chết v́ lạnh. V́ sao? Phước thừa trong hai mươi năm của đức Phật trọn đủ cho đến lúc Phật pháp diệt mất, nhu cầu về tứ sự cúng dường của đệ tử Phật môn đều có thể đầy đủ, chẳng thiếu khuyết. “Tứ sự cúng dường” là thức ăn, quần áo, đồ trải nằm, thuốc men; đó là bốn thứ không thể thiếu khuyết trong đời sống của chúng ta, đức Phật đều cung cấp. V́ thế, chỉ cần chuyên tâm tu đạo, chẳng cần lo lắng về vấn đề cuộc sống vật chất, Phật, Bồ Tát sẽ lo liệu. Nếu bản thân chúng ta phan duyên, Phật, Bồ Tát sẽ chẳng chiếu cố. Do vậy, quư vị sẽ bị lưu chuyển theo nghiệp.

          Phải tin tưởng lời này. V́ sao? Quư vị mới dám buông xuống. Rất nhiều người biết, đức Phật thường thường dạy chúng ta phải buông xuống, phải bố thí, phải xả, nhưng [chúng ta] chẳng dám, cứ sợ xả rồi ngày mai sẽ chẳng có cơm ăn, ngày mai phải bị rét buốt, chẳng dám làm! Đấy là do nguyên nhân ǵ? Vẫn chẳng tin Phật. Đối với giáo huấn của đức Phật, vẫn ngờ vực y như cũ, chẳng thể triệt để phụng hành. Lỗi lầm ấy chẳng ở nơi Phật pháp, mà ở bản thân chúng ta. V́ thế, nghi là Căn Bản Phiền Năo, tham, sân, si, mạn, nghi. Hoài nghi giáo huấn của đức Phật, chẳng thể hoàn toàn tiếp nhận. Sai mất rồi! Nhất định phải tin tưởng. Tôi có được những nguyên lư và nguyên tắc cơ bản về học tập này, toàn là đạt được từ chỗ Chương Gia đại sư. Trong ba năm ấy, Ngài đă dạy những điều cơ sở, là những cương yếu hết sức quan trọng, suốt đời này, cả năm mươi lăm năm, tôi được thọ dụng. Đúng là chỉ cần y giáo phụng hành, khẳng định là chướng duyên và tai nạn vẫn có, nhưng đều rất thuận lợi vượt qua, do oai thần của Tam Bảo gia tŕ!

          Tiếp đó, [ngài Thanh Lương] trích dẫn kinh Đại Tập, “bi mẫn chúng sanh cố, xả thọ đệ tam phần” (do v́ thương xót chúng sanh, nên xả phần thứ ba của tuổi thọ). Đấy là đức Phật đă xả hai mươi năm cuối [trong tuổi thọ]. “Linh ngă pháp hải măn, tẩy dục chư thiên nhân” (Khiến cho biển pháp của ta viên măn, gột rửa các hàng trời, người). Câu trước nhằm nói để chánh pháp tồn tại lâu dài, nhất định phải dựa vào sức gia tŕ từ oai thần của đức Thế Tôn, tức là hai mươi năm phước báo của Ngài. V́ thế, Phật pháp hiện nay vẫn đang suy vi, suy đến nông nỗi này, trong tương lai, có thể phục hưng hay không? Có thể chứ! Chương Gia đại sư bảo tôi điều này. Tôi đă từng hỏi thầy, thầy dạy: “Thời kỳ Mạt Pháp hăy c̣n chín ngàn năm, trong chín ngàn năm ấy, Phật pháp có lúc hưng, lúc suy. Hưng hay suy không do pháp, pháp chẳng có hưng hay suy. Hưng hay suy là do con người, mà cũng là do phước báo của chúng sanh”. Chúng sanh đều có thể tin tưởng thiện pháp, Phật pháp sẽ hưng thịnh, chư Phật, Bồ Tát ứng thế. Mọi người chẳng tin tưởng, không chịu học, Phật pháp sẽ suy vi. Dẫu trong thế hệ chúng ta, [Phật pháp] suy vi, thế hệ tiếp theo có thể là sẽ có người hưng khởi. V́ thế, chín ngàn năm Mạt Pháp có hưng và suy.

          Phật pháp quyết định chẳng thể diệt, v́ sao? Pháp vận của Ngài hăy c̣n chín ngàn năm. Sau chín ngàn năm, Phật pháp sẽ diệt. V́ thế, chúng ta chẳng cần phải bận ḷng chuyện này, chính ḿnh phải thật sự nỗ lực, thật sự phát phẫn, phải gánh vác sứ mạng giữ ǵn chánh pháp trụ thế lâu dài. Nay tôi hiểu rơ, giác ngộ, chọn lựa nghề nghiệp này, “nghề nghiệp” này là thần thánh, không ǵ có thể sánh bằng. V́ sao? Nối tiếp huệ mạng của Phật, lợi ích chúng sanh, chẳng phải v́ chính ḿnh. Nối tiếp huệ mạng của Phật, lợi ích chúng sanh đều phải thực hiện từ chính ḿnh, chẳng thể đ̣i hỏi ai khác! Ta làm, làm có hiệu quả, chắc chắn sẽ cảm động được một số người, nhất định là sẽ có người chí đồng đạo hợp. Người chí đồng đạo hợp như vậy ngày càng nhiều, Phật pháp sẽ hưng vượng. V́ thế, chẳng làm từ chính ḿnh, chắc chắn là chẳng thể! “Linh ngă pháp hải măn” (Khiến cho biển pháp của ta tràn đầy) chính là chánh pháp trụ thế lâu dài, “tẩy dục chư thiên nhân” (gột rửa hàng trời người) là hoằng pháp lợi sanh.

          Mấy câu tiếp đó nói rất hay. “Giả sử hủy cấm giới, tất trụ bất thoái địa” (Giả sử có kẻ hủy phạm giới cấm, [đều khiến cho] người ấy trụ nơi địa vị chẳng thoái chuyển). Đă thọ giới, thọ giới rồi làm không được; v́ sao nói người ấy vẫn trụ nơi địa vị Bất Thoái? Khi thọ giới, đă gieo thiện căn trong A Lại Da Thức; giáo pháp Đại Thừa thường diễn tả điều này là “nhất lịch nhĩ căn, vĩnh vi đạo chủng” (một phen thoảng qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo), chắc chắn chẳng lui sụt! Mắt chúng ta xem kinh, nh́n tượng Phật, hễ lướt qua mắt, cũng vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo! Nhưng nếu quư vị có thể tŕ giới cấm, sẽ thành tựu trong đời này. Nếu quư vị chẳng tŕ giới cấm, nếu hủy phạm giới luật, ắt trụ nơi địa vị Bất Thoái, tức là nói ai nấy trong tương lai chắc chắn có duyên phận gặp gỡ Phật pháp, thiện căn sẽ dấy lên hiện hành. Đó gọi là Bất Thoái. Chẳng phải là nói trong một đời này, mà là nói về đời kế, hoặc đời sau nữa! Chủng tử thiện căn của quư vị (được gọi là chủng tử Kim Cang) vĩnh viễn bất hoại. Dẫu cho vô lượng kiếp về sau nó mới dấy lên hiện hành, cũng sẽ thành Phật, có ư nghĩa này. Cũng chớ nên hiểu lầm ư nghĩa của phần kinh văn ở chỗ này. Hiểu lầm ư nghĩa th́ trật mất rồi! Chẳng có nghĩa là hiện thời giới ǵ ta cũng chẳng cần giữ, chúng ta sẽ bất thoái trong hiện tại, chẳng phải vậy, mà là chủng tử Kim Cang trong tương lai chẳng bị thoái thất, nói theo ư này! Hiện thời, quư vị mê hoặc, điên đảo, tạo tác tội nghiệp, quư vị vẫn phải chịu quả báo luân hồi. Chịu hết quả báo, đă hứng chịu xong, gặp duyên, thiện căn lại dấy lên tác dụng, lại dấy lên hiện hành, đó gọi là Bất Thoái. Ngàn muôn phần đừng hiểu lầm ư nghĩa này.

          Trong hai câu kế đó, “nhược hữu qua đả bỉ” (nếu có kẻ đánh đập họ), đấy là có kẻ lấn hiếp đệ tử đức Phật, đức Phật nói “tức vi đả ngă thân” (tức là đánh đập thân ta). Lời này là thật. Cho nên chúng ta phải hiểu đạo lư này. Lại đọc tiếp hai câu kế đó, “nhược hữu mạ nhục giả. Đấy là chửi rủa đệ tử đức Phật, kể cả hàng tại gia. Bất luận xuất gia hay tại gia, nếu quư vị chửi bới họ, “tắc vi hủy nhục ngă” (tức là đă hủy nhục ta). “Ngă” là đức Thế Tôn tự xưng. Lời này là thật. Do vậy, người xuất gia phạm lầm lỗi, chúng ta đối đăi người ấy như thế nào? Phổ Hiền Bồ Tát đă nói hay lắm, lễ kính người ấy, chẳng nói đến lỗi lầm của người ấy, v́ sao? Người ấy là đệ tử đức Phật, ta cung kính người ấy là gieo phước. Nếu ta phê b́nh người ấy, tức là đă phê b́nh Tam Bảo, hủy nhục Tam Bảo. V́ sao tội hủy nhục Tam Bảo nặng nề ngần ấy? Khiến cho kẻ khác trông thấy, nghe nói, bèn chẳng sanh tín tâm đối với Phật pháp, đạo lư ở chỗ này! V́ thế, chúng ta phải suy xét tầm ảnh hưởng, khiến cho hết thảy chúng sanh có thiện niệm tốt lành đối với Tam Bảo, đừng nên khiến cho họ v́ ta mà sanh ác niệm, sanh ra ảnh hưởng không tốt, vậy là ta sai lầm mất rồi!

          V́ thế, bất luận là xuất gia tại gia, hàng tại gia đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới, bất kể họ tŕ giới hay không, họ tạo tác chuyện ác chẳng liên quan ǵ đến ta. V́ sao? Mỗi người có nhân quả riêng, ai chịu báo nấy, ta cần ǵ phải phê b́nh họ? Ta cần ǵ phải chỉ trích họ? Ta phê b́nh, chỉ trích, thật ra chính ḿnh đă mất đi ḷng đôn hậu, nhưng có một loại t́nh h́nh ta có thể phê b́nh, chỉ trích người ấy. Đó là ǵ? Chẳng có kẻ thứ ba hiện diện, ta khuyên dạy kẻ ấy. Đóng chặt cửa pḥng th́ có thể! Chỉ cần có kẻ thứ ba hiện diện th́ chớ nên! Đấy là giáo huấn của Như Lai. Hiện thời, những kẻ hiểu đạo lư này quá ít, người thật sự có thể làm được càng ít hơn nữa! Họ không hiểu th́ làm sao có thể làm được?

          V́ thế, ngàn muôn phần đừng v́ cho rằng chúng ta tùy tiện phê b́nh. Trong xă hội hiện thời, đại chúng mất ḷng tin đối với Phật pháp. V́ sao mất ḷng tin? Họ nghe quá nhiều, mà cũng thấy quá nhiều, làm sao có thể tin tưởng cho nổi? Chúng ta tùy tiện phê b́nh, tùy tiện nhục mạ, có trách nhiệm hay không? Có chứ! Chướng ngại khá nhiều chúng sanh nhập Phật môn. Cổ nhân nói rất hữu lư, “nhược yếu Phật pháp hưng, trừ phi Tăng tán Tăng” (nếu muốn Phật pháp hưng thịnh, ngoại trừ Tăng ca ngợi Tăng). Chúng ta tán thán lẫn nhau, tạo thiện niệm tốt nhất, thiện duyên tốt nhất cho đại chúng trong xă hội, mà cũng là khiến cho lương tâm của những đệ tử Phật trót phá trai, phạm giới được phát hiện, họ có thể quay đầu, quay đầu là bờ! Nếu họ làm chuyện sái quấy, quư vị thường chửi bới họ, họ bị chửi riết đâm lỳ, cũng coi như không có ǵ hết, vẫn y như cũ làm theo ư ḿnh, căn bản là chẳng quan tâm tới quư vị! Đâm ra là ǵ? Đâm ra là khiến cho họ chẳng biết phản tỉnh, chẳng biết quay đầu. Nếu đối với ác hạnh, ác nghiệp của kẻ ấy, chúng ta chẳng nói một câu nào, hễ kẻ ấy có một tí thiện hạnh, chúng ta liền tán thán kẻ ấy. Lâu ngày chầy tháng, lương tâm sẽ phát hiện; đấy chính là giáo dục. Đấy thật sự là hộ pháp, hộ tŕ. V́ thế, ư nghĩa này hết sức hay, hết sức sâu, chúng ta phải chú tâm thấu hiểu. Nếu có thể thật sự y giáo phụng hành, quư vị sẽ thật sự là đệ tử đức Phật.

          Trong Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng đại sư đă nói rất hay: “Nếu người thật tu đạo, chẳng thấy lỗi thế gian”. Vẫn thấy lỗi lầm của thế gian, trong khi giảng kinh, chúng tôi cũng thường nói, đó chẳng phải là lỗi lầm của thế gian, mà là lỗi lầm của chính ḿnh! Chính ḿnh có lỗi lầm ǵ vậy? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Quư vị nói xem, có đúng như thế hay không? Ngày hôm qua, tôi c̣n nói “một người mà vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều buông xuống, người ấy sẽ thành Phật. Có thể buông xuống phân biệt, chấp trước, người ấy là Bồ Tát. Chẳng thể buông xuống vọng tưởng và phân biệt, nhưng buông xuống chấp trước, người ấy thành A La Hán, và cũng vượt thoát tam giới”, đấy là đúng! Quư vị đối với vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều chẳng buông xuống, sẽ là lục đạo phàm phu, sai mất rồi. Nếu chẳng thể buông xuống ba thứ ấy trong một lúc, quư vị sẽ chẳng thể văng sanh! Niệm Phật v́ sao văng sanh? Chẳng buông xuống những thứ ấy, nhưng trong một sát-na văng sanh, ngay trong sát-na ấy, người đó buông xuống, cho nên mới có thể văng sanh được. Đó gọi là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Khi sắp chết, thở hắt một hơi cuối cùng mà vẫn chẳng buông xuống được, vậy là uổng công niệm Phật suốt đời rồi!

          Tịnh Tông nói rất hay, đới nghiệp chỉ là “đới cựu nghiệp” (mang theo nghiệp cũ), chẳng mang theo nghiệp hiện hành. Cựu nghiệp là ǵ? Nghiệp thuộc về ngày hôm qua đều là cựu nghiệp, trọn chẳng mang theo nghiệp [gây tạo] trong ngày hôm nay, chẳng mang theo nghiệp hiện tiền. Hễ c̣n một niệm hiện tiền, sẽ chẳng thể văng sanh. V́ thế, chúng ta niệm Phật, mỗi ngày niệm Phật giống như ǵ? Giống như luyện binh, huấn luyện, khi lâm chung là đánh giặc, hy vọng một niệm cuối cùng lúc lâm chung là chánh niệm, là A Di Đà Phật, chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ mới có thể văng sanh. Do vậy có thể biết, sự huấn luyện trong lúc b́nh thường hết sức quan trọng, lâm chung quư vị mới nắm chắc. Nếu sơ sót sự huấn luyện trong lúc b́nh thường, khi lâm chung, sẽ chẳng nắm chắc. V́ cho đến khi ấy, hễ c̣n có một niệm không buông xuống được, sẽ chẳng thể văng sanh, lầm lỡ đại sự!         

          Đương nhiên phương pháp tốt nhất là trong lúc b́nh thường hằng ngày, chúng ta hăy tưởng như một niệm khi lâm chung. V́ thế, Ấn Quang đại sư dạy chúng ta, niệm Phật như thế nào th́ mới có thể thành tựu? Phương pháp của Ngài hay lắm, dán một chữ Chết trên trán. Có nghĩa là thường tưởng ta sẽ chết, ta sẽ chết trong ngày hôm nay, hăy xem quư vị c̣n muốn chẳng buông xuống hay không? Tôi đă đến thăm quan pḥng (關房, nơi bế quan) của lăo nhân gia, tiểu Phật đường trong quan pḥng của Ngài rất bé, chỉ là một gian nhà, đại khái chỉ bằng một phần ba pḥng thâu h́nh này. Trên bàn Phật, chỉ thờ một bức tượng A Di Đà Phật. Trên vách tường phía sau tượng Phật, dán một chữ Tử do lăo nhân gia tự viết. Mỗi ngày thấy chữ Tử, thời thời khắc khắc nghĩ đến cái chết, muôn niệm đều nguội lạnh, buông xuống muôn duyên! Đối với kẻ khác bèn khiêm hư, cung kính, chỉ có đối với hạng người nào là có chỉ trích? Những học tṛ thật sự chịu nghe dạy. Suốt đời lăo nhân gia chẳng thâu nhận đồ đệ xuất gia, chẳng có đồ đệ xuất gia, toàn là đệ tử quy y, tức là đệ tử quy y xuất gia và tại gia. Thật sự chịu học, thật sự hiếu học, thật sự mong thành tựu trong một đời này, Ngài sẽ chẳng rất khách sáo giáo huấn quư vị. Nếu chẳng phải là kẻ chân tâm mong học, mong cầu sanh Tịnh Độ, lăo nhân gia sẽ rất khách sáo đối với quư vị. Quư vị có thể thấy Ngài rất từ bi.

          Đấy là chúng ta thấy xă hội trong hiện tiền hiểu lầm người xuất gia, hiểu lầm Phật giáo, có cách nh́n sai lầm đối với người xuất gia học Phật, ảnh hưởng toàn thể xă hội. Hiểu lầm nền giáo dục của đức Phật sẽ gây chướng ngại cho việc thúc đẩy [khuếch trương] nền giáo dục của đức Phật. Không chỉ là bản thân họ chẳng học, mà c̣n khiến cho đại chúng trong xă hội trông thấy hiện tượng ấy cũng hiểu lầm Phật giáo là mê tín. Thời thơ ấu, Tiểu Học, và Sơ Trung (cấp hai, Trung Học đệ nhất cấp), tôi luôn ngỡ Phật giáo là mê tín, đối với Phật giáo chẳng có ấn tượng tốt đẹp! Tôi tiếp xúc các tôn giáo khá lâu, v́ trong các bạn học có người là tín đồ đạo Cơ Đốc, có người là tín đồ đạo Hồi, các cuộc lễ bái họ thường mời tôi đến tham dự. Tôi cũng đến đó rất nhiều lần, nghe những vị mục sư hoặc A Hoăng (thầy tu đạo Hồi) giảng đạo, cũng cảm thấy rất hữu lư. Xem kinh sách của họ, cũng đều có thể sanh tâm hoan hỷ, chỉ riêng đối với Phật giáo là hiểu lầm nghiêm trọng. Bởi lẽ, Phật giáo không có ai giảng kinh. Chùa miếu rất nhiều, toàn là thắp nhang, lạy lục, toàn là làm kinh sám, Phật sự, siêu độ người chết. V́ thế, có ấn tượng rất xấu. Chẳng thể trách đại chúng trong xă hội! Hiện thời, bản thân chúng ta phải nghiêm túc phản tỉnh, chúng ta đă trái nghịch giáo huấn của đức Phật.

          Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, Ngài giảng kinh hơn ba trăm hội, thuyết pháp bốn mươi chín năm, đó là ǵ? Nói theo kiểu hiện thời là “mở lớp dạy học”. Khi tôi ở Đài Trung, đối với Đài Trung Liên Xă và Từ Quang Đồ Thư Quán của thầy Lư, lăo nhân gia đă mở tổng cộng hơn ba mươi lớp, mở lớp dạy học, có khóa học dài hạn, có khóa học ngắn hạn. Như khóa Đại Chuyên Phật Học th́ thời gian ngắn, hai tuần lễ. Dài nhất h́nh như là lần thứ ba, bốn tuần lễ. Đó là khóa học dài nhất trong kỳ nghỉ; về sau, thông thường là trong khóa nghỉ Hè và nghỉ Đông đều là hai tuần, ngắn hơn! Khóa học dài ngày, tức khóa giảng kinh, dài nhất là lớp học kinh Hoa Nghiêm. Các lớp giảng kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, th́ kinh Vô Lượng Thọ khoảng ba, bốn tháng, c̣n như giảng kinh A Di Đà th́ đại khái là một, hai tháng. Mở lớp dạy học khiến cho người ta hiểu Lư, tŕ giới, tuân thủ pháp tắc.

          Trừ chuyện ấy ra, trong Liên Xă có bốn mươi tám ban niệm Phật, chiếu theo bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật. Liên hữu quá đông, phải chia ban, chia thành bốn mươi tám ban. Thông thường họ niệm Phật, mỗi tuần hai lần đến nghe kinh. Mỗi tháng, mỗi ban c̣n có một lần tụ hội, mời thầy giảng khai thị, giải đáp nghi vấn. Chuyện này đều là dài hạn, tháng nào cũng đều có, suốt mấy chục năm chẳng gián đoạn. Đối với nhi đồng, thầy lập hai ấu trĩ viên (trường Mẫu Giáo, nhà trẻ). Đối với người già, có một viện an lăo (dưỡng lăo). Đối với kẻ bệnh hoạn, thầy có Bồ Đề y viện. Kẻ trẻ tuổi th́ có ban thanh niên và ban thanh nữ. Các lớp dạy học th́ có lớp Phật học, lớp Nho học, c̣n có lớp dạy thư pháp, lớp thi từ, lớp mỹ thuật, hội họa, tổng cộng mở hơn ba mươi lớp. Mở lớp dạy học đấy nhé! Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế là như vậy; v́ thế, Phật pháp là giáo dục xă hội đa nguyên văn hóa.

          Chúng ta mới hiểu rơ Phật giáo là ǵ, mới hiểu rơ ràng, mới thấy rơ Phật giáo chẳng mê tín. Đă thế, Phật giáo chẳng phải là tôn giáo, mà là giáo dục xă hội. V́ sao? Trong tôn giáo, chắc chắn chẳng thể thiếu Thần (Chúa, Thượng Đế) được! Trong Phật giáo chẳng có! Trong Phật giáo chỉ có thầy, Thích Ca Mâu Ni Phật là Bổn Sư của chúng ta. Ngài chẳng phải là thần, mà là thầy. Nói “thành Phật” th́ như trong kinh luận, kinh Hoa Nghiêm đă dạy thấu triệt như thế này: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai, chỉ v́ vọng tưởng và chấp trước mà chẳng thể chứng đắc”. Lời này đă giảng rơ ràng như vậy, minh bạch như vậy! Phật là ǵ? Phật là Như Lai, Ngài có trí huệ viên măn, có đức năng viên măn, có tướng hảo viên măn. Đức Phật nói hết thảy chúng sanh thảy đều có trí huệ, đức năng, tướng hảo. Phật ở nơi đâu? Hết thảy chúng sanh ai nấy đều là Phật. Quư vị vốn đă thành Phật, v́ sao nay chẳng phải là Phật? Hiện thời, quư vị sanh khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, cho nên quư vị biến thành phàm phu.

          Kinh Hoa Nghiêm dạy chúng ta: Chỉ cần quư vị có thể buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quư vị sẽ là Như Như Phật. Các loại trí huệ, thần thông, và đức tướng của chư Phật quư vị thảy đều có, khôi phục toàn bộ. Hiện thời, biến thành t́nh trạng này là do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đă che lấp và chướng ngại trí huệ, đức năng, tướng hảo vốn có trong tự tánh. Tuy có mà chẳng thể hiện tiền, chẳng dấy lên tác dụng. V́ thế, phàm phu thành Phật, nói theo lư luận là trong một niệm. Chỉ cần quư vị chịu buông xuống, sẽ thành Phật. Khi nào quư vị buông xuống, sẽ thành Phật khi ấy. Buông xuống trong hiện tại, sẽ thành Phật trong hiện tại. Chẳng thể buông xuống vọng tưởng, có thể buông xuống phân biệt và chấp trước, quư vị thành Bồ Tát. Phân biệt cũng không buông xuống được, vậy th́ quư vị buông xuống chấp trước, sẽ thành A La Hán. Buông xuống chấp trước chính là buông xuống lục đạo luân hồi. Lục đạo luân hồi là do chấp trước biến hiện; v́ thế, nó chẳng phải là thật!

          Thuở ấy, tôi thỉnh giáo Chương Gia đại sư. Tôi thưa: “Con biết Phật pháp tốt đẹp, con có sự nhận thức thô thiển là do tiên sinh Phương Đông Mỹ giới thiệu”. Tôi thỉnh giáo Ngài: “Có phương pháp ǵ khiến cho con có thể khế nhập rất nhanh chóng hay không?” Ngài dạy tôi: “Thấy thấu suốt, buông xuống”. Tôi học năm mươi lăm năm, cảm kích thầy ngay hôm đầu tiên đă dạy cho tôi bí quyết ấy. Tôi thật sự làm, nhưng buông xuống không triệt để cho lắm. Tuy không triệt để, đấy là do tập khí phiền năo quá nặng, nhưng mỗi năm buông xuống nhiều hơn. Mỗi tháng buông xuống nhiều hơn một tí. Các đồng học có phát hiện chuyện này hay không? Tôi tin là đại đa số chẳng phát hiện, có một ít người rất chú tâm sẽ phát hiện. Họ phát hiện như thế nào? Nghe tôi giảng kinh, mỗi năm khác hẳn! [Không chỉ là] mỗi năm khác hẳn, mà mỗi năm có tiến bộ, mỗi tháng khác hẳn, mỗi tháng đều có tiến bộ.

          Trí huệ chẳng do học được, trí huệ từ đâu mà có? Buông xuống một phần, trí huệ trong tự tánh thấu lộ một phần. Buông xuống hai phần, sẽ thấu lộ hai phần. Đức năng và tướng hảo cũng giống như thế. Đấy gọi là Tánh Đức hiển lộ. Thấy thấu suốt và buông xuống là Tu Đức. Tuy có Tánh Đức, nếu quư vị chẳng có Tu Đức, Tánh Đức sẽ không thể hiện tiền. V́ thế, chỉ cần quư vị quan sát cẩn thận sẽ thấy ngay! Phải thấy thấu triệt, phải buông xuống triệt để, đó gọi là công phu thật sự. Dùng công phu thực tế này để niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ th́ mới tương ứng. V́ lẽ đó, “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”, đạo lư ở chỗ này.

          Nhất định phải y giáo tu hành. Đức Phật dạy quyết định chẳng sai! Quư vị có thể học mười nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát th́ gọi là “đại tu hành”. Tâm địa thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi, hết thảy cung kính, đối với người, đối với sự, đối với vật, đều ẩn giấu điều ác, tuyên dương điều lành. Đấy là “xưng tán Như Lai”. Chẳng ghim trong ḷng tất cả hết thảy những thứ bất thiện; thấy, nghe, tiếp xúc toàn là hết thảy những điều thiện, chẳng có ǵ không tán thán, đấy là “xưng tán Như Lai”. “Quảng tu cúng dường”: Phàm là những ǵ có lợi cho chúng sanh, bèn tận tâm tận lực cống hiến. Phật pháp nói “cúng dường” là nói đến bố thí. “Sám hối nghiệp chướng”, sám hối như thế nào? Hằng ngày sửa đổi, hằng ngày sửa lỗi đổi mới, hằng ngày thấy thấu suốt, hằng ngày buông xuống, thật sự sám hối! “Tùy hỷ công đức” chúng ta thường nói là “tùy duyên”. Trong cuộc sống hằng ngày, thứ ǵ cũng đều tùy duyên, tâm địa chẳng có phiền năo, chẳng có ưu lự, chẳng có vướng mắc, quư vị nói xem, có tự tại lắm hay không? “Thỉnh chuyển pháp luân”, chẳng cần thỉnh ai khác, hăy thỉnh chính ḿnh. Thỉnh người khác, người ta không đáp ứng, quư vị sẽ sanh phiền năo. Hăy thỉnh chính ḿnh. “Thỉnh Phật trụ thế” cũng là thỉnh chính ḿnh, chánh pháp tồn tại lâu dài!

          Điều cuối cùng quan trọng lắm, “hằng thuận chúng sanh”. Chúng sanh tạo ác, tạo tội cũng phải tùy thuận. Họ đọa tam đồ, đọa địa ngục, vẫn phải tùy thuận, rất nhẫn nại chờ đợi cơ duyên chín muồi. Cơ duyên chẳng chín muồi, sẽ chẳng độ được! Quư vị nói ǵ với họ, họ đều không tin tưởng, chẳng thể tiếp nhận. Họ tạo nghiệp chịu báo, chịu hết khổ nạn rồi mới có thể quay đầu, mới có thể giác ngộ. Khi ấy, quư vị giúp họ vẫn không trễ! Những đạo lư sự tướng như vậy trong kinh luận Đại Tiểu Thừa đă nói quá ư là nhiều, chúng ta muốn học, học chẳng xong! Chỉ cần quư vị nắm được cương lănh, sẽ có thể khế nhập. Đấy gọi là “biết học”.

          V́ thế, các vị tổ sư đại đức thường trắc nghiệm học tṛ, hỏi họ: “Hội ma?” (會麼, hiểu chăng?) Câu này có ư nghĩa rất sâu! Người biết học, từ kinh luận chúng ta thường thấy [từ ngữ] “thiện học” (善學, khéo học). “Thiện học” chính là “hội ma” như các tổ sư đă nói. “Hội” () là có thể khế nhập; chẳng hiểu, khó lắm! Hễ hiểu, sẽ dễ dạy, nắm được cương lănh. Thấy thấu suốt là hiểu rơ ràng, minh bạch, chẳng hồ đồ tí nào, trí huệ đấy! Buông xuống là tŕ giới, là đắc Định. Tŕ giới, hằng thuận chúng sanh; đắc Định, thanh tịnh chẳng nhiễm. Đấy là Phật pháp, đấy là tự tánh! Phật pháp chẳng phải là thứ ǵ khác, Phật pháp là chân tâm của chính ḿnh, là bản tánh của chính ḿnh. Đối với chân tâm bản tánh của chính ḿnh, Huệ Năng đại sư đă nói hay lắm: “Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi bặm”. Chúng tôi thường nói điều này, v́ ích kỷ, tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn, thảy đều chẳng có, [tức là] trong chân tâm tự tánh của chính ḿnh chẳng có [những thứ ấy]. Những thứ ấy là ǵ vậy? Tồn tại trong vọng tâm, chẳng phải là chân tâm. V́ thế, đó chẳng phải là tự tánh, chẳng phải là chân tâm, mà là tập tánh. Tập tánh chẳng thật. Có thể đoạn trừ tập tánh, có thể buông xuống. Trong chân tánh chẳng có [những thứ ấy]. Chỉ cần quư vị buông xuống hư vọng, vô lượng trí huệ và vô lượng đức năng trong tự tánh sẽ thật sự hiện tiền. V́ thế, cổ nhân có một câu nói: “Chỉ cần buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chẳng cần cầu Chân. Chân tự sẽ tự nhiên hiện tiền!” Cách nói ấy hay tuyệt! “Chỉ trừ vọng tưởng, chẳng cần t́m Chân”. Nếu quư vị cầu chân, chân sẽ biến thành vọng. Quư vị chẳng cầu, nó tự nhiên hiện tiền. A! Phần sau c̣n có một đoạn nhỏ nữa, hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói tới chỗ này!

 

Tập 1550

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, tiểu đoạn thứ ba trong đoạn lớn thứ sáu của phần kệ tụng, xem từ bài kệ thứ mười một:

 

          (Kinh) Kiến báo ân nhân, đương nguyện chúng sanh, ư Phật, Bồ Tát, năng tri ân đức.

          ()見報恩人。當願眾生。於佛菩薩。能知恩德。

          (Kinh: Thấy người báo ân, nguyện cho chúng sanh, hay biết ân đức của Phật, Bồ Tát).          

 

          Trong đoạn này, Thanh Lương đại sư đă nói mười điều. Nói thật ra, ân cha mẹ, ân Phật, Bồ Tát, ân thầy, ân chúng sanh, nói chẳng tận! Trong kinh chỉ nêu mấy thí dụ mà thôi! Mười điều ấy chúng ta đă đọc qua, phía sau điều cuối cùng hăy c̣n có mấy câu chúng ta cũng phải đọc, chẳng thể sơ sót! Thanh Lương đại sư viện dẫn kinh điển bảo:

 

          (Sao) Hựu vân, lưu bạch hào chi phước dĩ phú đệ tử. Ngôn lưu giáo giả, tức Tam Tạng, Bát Tạng, quảng ích chúng sanh, y chi tu hành, giai đắc thành Phật.

          ()又云留白毫之福以覆弟子。言留教者,即三藏八藏,廣益眾生,依之修行,皆得成佛。

          (Sao: Lại nói: “Lưu lại phước [do tu tập tướng] bạch hào để tạo phước cho các đệ tử”. Nói đến chuyện “lưu lại giáo pháp” th́ Tam Tạng hoặc Bát Tạng lợi ích chúng sanh rộng răi, nương theo đó tu hành, sẽ đều được thành Phật).

 

          Đấy là điều thứ mười, tức là đoạn cuối cùng nói về ân “bi niệm vô tận”. Trong kinh, đức Phật cũng nói về chuyện này, nhưng gần như không có ai nhắc tới. Khi chúng tôi xuất gia thọ giới, vị Giới ḥa thượng là lăo pháp sư Đạo Nguyên, pháp sư Bạch Thánh khai đường, chúng tôi nhớ các Ngài đă nói với chúng tôi [về chuyện này].

          Thuở đức Thế Tôn trụ thế, tuổi thọ trong cơi đời đáng lẽ là một trăm tuổi, lăo nhân gia tám mươi tuổi đă khuất bóng, cho nên c̣n phước báo của hai mươi năm lưu lại cho chúng sanh thời Mạt Pháp. Cũng có nghĩa là sau khi đức Phật diệt độ, pháp vận của lăo nhân gia là một vạn hai ngàn năm. Trong một vạn hai ngàn năm ấy, hàng đệ tử xuất gia, tức xuất gia tứ chúng, [nghĩa là] tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, hai mươi năm phước báo của đức Phật đủ cho họ dùng. Lại nói đến bạch hào của đức Phật. Tướng bạch hào là một trong ba mươi hai tướng của đức Phật, tức là giữa hai đầu chân mày có hai sợi bạch hào (白毫, lông màu trắng trong suốt). Bạch hào cuộn tṛn lại giống như một viên châu. Nó chẳng phải là một hạt châu, mà là hai sợi bạch hào [cuộn tṛn lại]. Đấy là Phật tướng. Đức Phật giảng kinh, thuyết pháp, bạch hào thường tỏa ra quang minh, [kinh thường ghi là] “bạch hào phóng quang”. Phước của tướng bạch hào cũng gia tŕ các đệ tử trong đời sau, tức là hàng tại gia và xuất gia thảy đều có phần. Đấy là bi niệm vô tận của chư Phật Như Lai. Nhưng quư vị phải nghiêm túc học, phải khéo học, chớ nên cô phụ đức Phật đă ban phước, nhất định phải nghiêm túc y giáo phụng hành, phải làm một đệ tử tốt đẹp của đức Phật, chớ nên phá hoại h́nh tượng của Phật pháp. Tội phá hoại h́nh tượng Phật pháp có cùng cấp bậc với phá ḥa hợp Tăng, chẳng khác ǵ cả! Quả báo đều là trong địa ngục. Chớ nên không biết điều này, chớ nên không cẩn thận.

          Tuy trong kinh Đại Tập đức Phật đă nói, hôm trước, chúng ta đă đọc điều này, “giả sử hủy cấm giới, tất trụ bất thoái địa” (giả sử hủy phạm giới cấm, ắt trụ nơi địa vị Bất Thoái). Tôi đă nói rất rơ ràng về hai câu này: Lời Phật dạy là thật, chẳng giả, nhưng chẳng phải là [nói về] hiện tiền. Hiện tiền tŕ giới tu hành, niệm Phật cầu văng sanh, hai câu ấy sẽ trở thành sự thật. Cớ sao biết hủy phạm giới vẫn là ắt trụ nơi địa vị Bất Thoái? Chẳng tŕ giới mà vẫn có thành tựu ư? Tấm gương của pháp sư Oánh Kha đời Tống là một chứng minh tốt nhất. Trải các đời, những kẻ phá giới phạm trai như pháp sư Oánh Kha cuối cùng đều có thể sám hối văng sanh rất nhiều. Phải hiểu điều này, chớ nên hàm hồ, đọc lơ mơ lướt qua! [Để rồi] cứ tưởng chúng ta xuất gia, phá giới, phạm trai chẳng sao hết, đức Phật nói “vẫn trụ nơi địa vị Bất Thoái” mà! Đến cuối cùng, quư vị đọa địa ngục, chê trách đức Phật nói chẳng giữ lời! Quư vị lại báng Phật, báng Pháp, đọa vào địa ngục A Tỳ.

          Câu chuyện về pháp sư Oánh Kha được chép trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, trong Cao Tăng Truyện cũng có, Văng Sanh Truyện cũng có, An Sĩ Toàn Thư cũng có trích lục. Đấy là một vị xuất gia, nghiệp chướng rất nặng, chẳng có cách nào tŕ giới, cho nên phá giới. Chính Sư biết người xuất gia phá giới trong tương lai nhất định đọa tam đồ, nghĩ tới chuyện này, cảm thấy rất kinh sợ, bèn hỏi đồng tham đạo hữu có phương pháp ǵ để có thể cứu Sư. Các đạo hữu cũng rất từ bi, đưa cho Sư xem một quyển Văng Sanh Truyện. Xem xong, Sư hết sức cảm động, đau đớn khóc lóc, tuôn lệ, do như vậy bèn phát khởi đại nguyện, đóng chặt cửa liêu pḥng niệm Phật. Niệm suốt ba ngày ba đêm, chẳng ngủ nghỉ, chẳng ăn uống, chân thành đến mức cùng cực, nghiễm nhiên niệm cảm A Di Đà Phật hiện đến. A Di Đà Phật bảo Sư: “Ông c̣n mười năm tuổi thọ, thọ mạng hăy c̣n mười năm. Đợi đến khi ông lâm chung, ta lại đến tiếp dẫn ông. Ông hăy khéo niệm Phật”. Pháp sư Oánh Kha thưa: “Không được đâu! Con tập khí rất nặng, nghiệp chướng rất sâu, chẳng chống nổi dụ dỗ, mê hoặc. Hễ hoàn cảnh nhân sự dụ dỗ, mê hoặc, trong mười năm ấy, con chẳng biết sẽ lại phạm bao nhiêu tội lỗi, chính ḿnh chẳng có cách nào khống chế. Con chẳng cần mười năm thọ mạng, nay con theo lăo nhân gia ra đi”. A Di Đà Phật mỉm cười đáp ứng, Ngài bảo: “Như vậy cũng được, ba ngày sau ta lại đến tiếp dẫn ông”.

          Oánh Kha cũng rất cao hứng, mở cửa pḥng bảo các đồng tham đạo hữu trong tự viện: “Tôi niệm Phật ba ngày ba đêm, A Di Đà Phật đến ước hẹn ba ngày sau sẽ đến tiếp dẫn tôi”. Trong tự miếu chẳng có một ai tin tưởng: “Ngươi là hạng người như vậy mà có thể văng sanh ư?” Nhưng nghe ra giọng điệu và thái độ của Sư chẳng giống gạt người, dường như là thật sự có chuyện ấy. Cũng may thời gian ba ngày rất ngắn, mọi người chờ xem. Tới ngày thứ ba, thời gian Sư ước định với đức Phật đă đến, mọi người đều đến xem. Sư xin mọi người niệm Phật tiễn Sư văng sanh. Đương nhiên là mọi người hoan hỷ: “Ngươi chẳng sanh bệnh, khỏe mạnh, coi ngươi ra đi bằng cách nào?” Niệm gần được một khắc, pháp sư Oánh Kha nói: “A Di Đà Phật đến rồi, tôi thấy Ngài tới rồi, nay tôi theo Ngài ra đi”. Cáo từ đại chúng, Sư liền ra đi. Đấy chính là ǵ? Giả sử hủy phạm giới cấm, ắt trụ địa vị Bất Thoái. Quư vị thấy đó, văng sanh thế giới Cực Lạc, dẫu là hạ hạ phẩm văng sanh, vẫn là viên chứng ba món Bất Thoái, thật đấy! Há có giả ư? Vấn đề là quư vị phải thật sự sám hối cầu văng sanh, sẽ có thể trụ nơi địa vị Bất Thoái. V́ thế, ngài Oánh Kha đă nêu một tấm gương rất hay. Do vậy, đối với những vị xuất gia mà phá giới, phạm trai, chúng ta nhất định chớ nên khinh mạn. Nói không chừng, người ấy một phen tỉnh giác, sợ đọa địa ngục, sẽ dũng mănh, tinh tấn vượt trỗi chúng ta học Phật vài chục năm, chúng ta đều chẳng sánh bằng họ.

          Kẻ tại gia không học Phật, như vua A Xà Thế đă được nói tới trong kinh Quán Vô Lượng Thọ. Nhà vua tạo tội Ngũ Nghịch, giết cha, hại mẹ, làm thân Phật chảy máu, phá ḥa hợp Tăng, chuyện xấu ǵ cũng đều làm hết. Lâm chung hối hận, khi lâm chung giác ngộ đời này đă làm chuyện sai lầm to lớn, tự biết ắt đọa trong tam đồ, cho nên mới quay đầu, thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, nhà vua thật sự văng sanh. Trong cách nh́n thông thường của chúng ta, Quán Kinh nói hạ hạ phẩm văng sanh toàn là kẻ tội nghiệp rất nặng niệm Phật văng sanh. Vua A Xà Thế tạo nghiệp nặng nề dường ấy, chúng ta nghĩ nhất định là hạ hạ phẩm văng sanh, chẳng ngờ trong kinh A Xà Thế Vương, Thích Ca Mâu Ni Phật dạy “vua A Xà Thế văng sanh là thượng phẩm trung sanh”. Đọc xong, chúng tôi hết sức cảm động, đấy là nhất niệm chân tâm sám hối. Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: “Lăng tử hồi đầu kim bất hoán” (Lăng tử quay đầu, vàng chẳng đổi được). Nhà vua thật sự quay đầu, quay đầu th́ là thiện nhân! Chúng ta chẳng thể tưởng tượng điều này!

          V́ thế, văng sanh Tây Phương Tịnh Độ bao gồm hai phương thức. Một là chúng ta b́nh thường niệm Phật, tích lũy công đức. Loại kia là tạo ác lắm nỗi, lâm chung sám hối, tùy thuộc công phu sám hối của người ấy, [tùy thuộc] ḷng chân thành của người ấy. Nếu là mười phần chân thành, giống như vua A Xà Thế là thượng phẩm trung sanh, tuyệt diệu thay! Tâm chân thành kém hơn một bậc, lại kém hơn một bậc, vẫn có thể văng sanh, trung thượng phẩm văng sanh, hoặc hạ phẩm thượng sanh, thảy đều có thể, đều trụ địa vị Bất Thoái. Chúng ta phải biết điều này. Nếu chẳng dũng mănh thống thiết sám hối, quả báo của tội nghiệp sẽ là trong tam đồ. Thọ xong, thọ hết quả báo trong tam đồ, quư vị mới ĺa khỏi tam đồ. Sau đấy, chắc chắn có duyên phận gặp gỡ Phật pháp, nhưng chẳng biết duyên phận ấy sẽ [xảy ra] vào lúc nào. Có khi mau chóng th́ là đời kế, hoặc đời sau sẽ gặp gỡ. Có khi chậm chạp, mười mấy đời, một, hai trăm đời, thậm chí c̣n có trường hợp trải qua bao nhiêu đại kiếp. Thời gian sớm hay muộn là vận mạng của mỗi người, mà cũng là do tập khí nghiệp chướng của mỗi người!

          Do vậy có thể biết, huân tập Phật pháp có công đức chẳng thể nghĩ bàn. Thời gian huân tập Phật pháp dài, quư vị sẽ rút ngắn thời gian, dễ dàng cảnh giác, dễ dàng quay đầu. Nếu thời gian huân tập Phật pháp ít, tập khí thế tục rất nặng, tập khí tham, sân, si, mạn rất nặng, quư vị sẽ quay đầu trễ tràng. V́ sao? Dẫu gặp gỡ pháp, gặp gỡ thiện tri thức hướng dẫn, quư vị chẳng chịu tiếp nhận, chẳng nghe theo. V́ thế, quư vị rất khó quay đầu. Chỉ cần quay đầu, chẳng có ai không thành tựu! V́ thế, người trong thế gian nhất định phải biết thân cận thiện tri thức, sợ nhất là suốt ngày ở chung với ác tri thức, phiền phức sẽ to lớn! Chớ nên không biết điều này!

          Tiếp đó, [ngài Thanh Lương nói] “lưu giáo” (để lại giáo pháp), “giáo” () là kinh điển. Đấy là đại sự bậc nhất của bi niệm vô tận. Nếu kinh giáo của Phật, Bồ Tát chẳng truyền lại, bi niệm vô tận cũng giống như một lời nói suông. V́ sao? Chẳng có cách nào lợi ích chúng sanh. Khi chư Phật, Bồ Tát tại thế, giảng kinh, thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, mọi người được lợi ích. Phật, Bồ Tát chẳng tại thế, dùng ǵ để giáo hóa chúng sanh? Kinh giáo. Kinh giáo ở đây là Tam Tạng, hoặc Bát Tạng. Tam Tạng th́ chư vị biết. Kinh, Luật, Luận Tam Tạng, Đại Tạng Kinh là Tam Tạng kinh điển. Bát Tạng là ǵ? Bát Tạng vẫn là Tam Tạng. V́ sao gọi là Bát Tạng? Quư vị thấy Kinh, Luật, Luận, lại thêm chú, [thành bốn phần là] Giới, Định, Huệ, Chú. Giới là Luật Tạng, Định là Kinh Tạng, Huệ là Luận Tạng, cộng thêm Chú. Đấy là nội dung của Tam Tạng, tức là Giới, Định, Huệ, Chú. Đấy là bốn loại lớn để đức Phật giáo hóa chúng sanh. Đại Thừa bao gồm Giới, Định, Huệ, Chú thành bốn tạng. Tiểu Thừa cũng có Giới, Định, Huệ, Chú, [tạo thành bốn tạng]. V́ thế, gọi gộp chung là Bát Tạng. Bát Tạng là nói chi tiết, c̣n Tam Tạng là nói đại khái. Do vậy, nội dung của Tam Tạng và Bát Tạng chẳng sai biệt, chúng ta phải hiểu điều này.

          Đức Phật lưu lại [kinh điển] nhiều ngần ấy, gọi là Pháp Bảo. Trân bảo thế gian có thể cứu giúp chúng ta thoát khỏi cảnh bần cùng. Nếu quư vị có của báu, sẽ giàu có, có thể tránh khỏi nỗi khổ nghèo túng. Nhưng sanh tử luân hồi là nỗi khổ to lớn, dùng phương pháp ǵ để có thể tránh khỏi? Giáo huấn của Phật, Bồ Tát có thể giúp chúng ta giải quyết nỗi khổ sanh tử luân hồi to lớn. Quư vị nói đó có phải là của báu hay chăng? C̣n quư báu hơn tất cả hết thảy trân bảo trong thế gian! Tam Tạng hoặc Bát Tạng dẫu nhiều, quư vị chỉ cần thọ tŕ một thứ sẽ có thể đắc độ, công đức chẳng thể nghĩ bàn.

          Nhưng bất luận Đại Thừa hay Tiểu Thừa, quư vị thấy nguyên tắc chỉ đạo tu học cao nhất của Tịnh Tông là Tịnh Nghiệp Tam Phước. Tổng cộng là ba điều, điều thứ nhất là phước nhân thiên, chẳng phải là Phật pháp, mà là pháp thế gian. Đối với phước nhân thiên, đức Phật dạy chúng ta “hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện Nghiệp”. V́ thế, kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo là phước nhân thiên. Phước nhân thiên là cơ sở của Phật pháp. Do đó, trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, đức Phật đă nói từ nhân thiên, sau đấy lại nói đến Thanh Văn Bồ Đề, Độc Giác Bồ Đề, Vô Thượng Bồ Đề, đều là dùng Thập Thiện Nghiệp Đạo làm căn bản, làm cơ sở. Do vậy có thể biết, nếu chúng ta học Phật, bất luận tại gia hay xuất gia, quư vị tu Đại Thừa cũng thế, mà tu Tiểu Thừa cũng thế, Tông Môn cũng vậy, Giáo Hạ cũng vậy, Hiển Giáo cũng vậy, Mật Giáo cũng vậy, tu từ nơi đâu? Tu từ Thập Thiện Nghiệp Đạo. Chẳng có mười thiện nghiệp, sẽ chẳng có Phật pháp; nhưng v́ sao hiện thời chúng ta vẫn chẳng làm được Thập Thiện Nghiệp Đạo? Đấy là do chúng ta đă sơ sót giáo dục luân lư đạo đức từ bé. V́ thế, tuy hiện thời nói đến Thập Thiện, chẳng làm được! Phải như thế nào th́ mới có thể làm được? Chớ nên không học bổ sung, chúng ta t́m căn bản của căn bản. Căn bản của căn bản là “hiếu thân, tôn sư”, [tức là] hiếu thuận cha mẹ, tôn sư trọng đạo. Học điều này từ chỗ nào? Học từ Nho gia và Đạo gia.

          Trung Hoa từ xưa tới nay, mấy ngàn năm qua đă tiếp nhận sự giáo dục của ba nhà Nho, Thích, Đạo, đó là ba hệ thống giáo dục. Trọng điểm trong giáo học của Nho gia là luân lư, đạo đức. Trọng điểm của giáo dục Đạo gia là nhân quả cảm ứng. Trọng điểm của giáo học nhà Phật là trí huệ, nói thông thường th́ là giáo dục tôn giáo. Nay chúng ta nói đến giáo dục tôn giáo sợ mọi người nẩy sanh hiểu lầm. Người ta hễ nghe nhắc đến [giáo dục tôn giáo] bèn bảo là mê tín, chúng ta nói là “giáo dục trí huệ”, mọi người sẽ chẳng hiểu là mê tín. Trọng điểm giáo dục của đức Phật là trí huệ, trí huệ mới có thể giải quyết hết thảy vấn đề, chẳng có trí huệ sẽ không được. Nói cụ thể hơn một tí, giáo dục Giới, Định, trí huệ rất hoàn chỉnh, nếu đại chúng b́nh phàm hỏi tới, quư vị có thể đáp được!

          Phật giáo đă là Định Huệ, giáo dục trí huệ, ắt phải t́m luân lư, đạo đức làm căn cội. V́ thế, chúng ta nói đến căn cội của tam giáo, tức là căn cội của tam giáo Nho, Thích, Đạo, quư vị chớ nên không biết. Căn cội của Nho gia là Đệ Tử Quy, căn cội của Đạo giáo là Thái Thượng Cảm Ứng Thiên và Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn. Đấy là căn cội của Đạo gia. Căn cội của Phật gia là Thập Thiện Nghiệp Đạo. Nếu chúng ta thật sự mong thành tựu trong một đời này, trước hết, hăy vun đắp căn cơ. Nếu quư vị chẳng có ba căn cơ ấy, quư vị học thế nào đi nữa, đều chẳng thành công, chớ nên không biết điều này! V́ thế, tôi đề nghị trước hết học Đệ Tử Quy, sau đấy học Cảm Ứng Thiên, rồi học Thập Thiện Nghiệp, sẽ chẳng có một tí vấn đề nào. Khẳng định là quư vị có thể thực hiện, có thể làm được, quư vị có căn cội mà! Sau đấy, bất luận tu học bộ kinh luận nào, pháp môn nào, cũng đều có thành tựu. Chúng ta là người tu học trong hiện thời, chớ nên sơ sót điều này, đừng nên ham cao chuộng xa, chớ nên nhảy cấp, nhất định phải là theo thứ tự trước sau th́ mới có thể thành tựu.

          Phàm là người mong mỏi thật sự có thành tựu trong một đời này, quư vị chớ nên sơ sót. Quư vị học từ Đệ Tử Quy và Cảm Ứng Thiên là tốt nhất. V́ sao? Rất hữu ích cho việc học Phật của quư vị. Cảm Ứng Thiên thuộc về giáo dục nhân quả. V́ vậy, chúng tôi thường nhắc tới bốn loại giáo dục, luân lư, đạo đức, nhân quả, tôn giáo, nay chúng tôi đổi tôn giáo thành trí huệ, mọi người dễ hiểu. Bốn loại giáo dục ấy là một Thể. Do quư vị có giáo dục nhân quả, chắc chắn sẽ giúp quư vị khai trí huệ, quư vị sẽ sống đời này hết sức hạnh phúc mỹ măn. V́ quư vị có trí huệ, quư vị có thể chọn lựa cho đời sau, có thể chọn lựa thiên đường, có thể chọn lựa thế giới Cực Lạc, hoặc Tịnh Độ của chư Phật, Bồ Tát, chính quư vị có thể chọn lựa. Sau đấy mới thật sự giúp quư vị giải quyết vấn đề.

          Bởi lẽ, kinh điển, sau khi Phật, Bồ Tát diệt độ, trong Tam Bảo, quan trọng nhất là Pháp Bảo. Thuở đức Phật tại thế, bậc nhất Phật Bảo, thứ hai là Pháp Bảo. Khi đức Phật chẳng tại thế, thứ nhất là Pháp Bảo, thứ hai là Tăng Bảo, thứ ba mới là Phật Bảo. V́ sao? Đức Phật chẳng tại thế, chúng ta đối với Phật Bảo chỉ là cung kính, chỉ là lễ bái, nhưng Phật Bảo chẳng thể dạy dỗ chúng ta. Ai dạy chúng ta? Tăng Bảo dạy chúng ta. Chúng ta t́m một vị thiện tri thức tốt hoặc một vị thầy tốt nhất. Thiện tri thức tốt đẹp hoặc vị thầy tốt lành cũng chẳng nhất định là người xuất gia. Trong hàng tại gia cũng có. Họ tŕ giới, tu Định, hiểu kinh, họ cũng diễn giáo, “diễn” () là biểu diễn, giảng kinh, thuyết pháp, tự hành, hóa độ người khác, trong các vị cư sĩ, cũng có không ít vị. Thời đầu Dân Quốc, chúng ta biết những vị đại cư sĩ thành tựu trong Phật môn c̣n nhiều hơn người xuất gia, rất nhiều vị thật sự có thành tựu. Đấy là “quảng ích chúng sanh”, lợi ích chúng sanh [rộng khắp].

          Người đời sau nương vào đó tu hành, đều được thành Phật. Chỉ cần quư vị nương vào kinh điển Tam Tạng. Tại Trung Hoa có mười tông phái, ở Nhật Bản có mười ba tông phái, bất luận tông phái nào, chắc chắn nương theo kinh luận do Thích Ca Mâu Ni Phật đă dạy. Hoặc là lấy một thứ, hoặc là lấy vài thứ. Tổ sư mỗi tông phái chế định khóa tŕnh khác nhau, nhưng thảy đều có thể thành tựu. Có vị nương theo một bộ kinh, có người suốt đời nương theo kinh A Di Đà, thật sự văng sanh. Có người suốt đời tham Thiền, nương theo kinh Kim Cang, thật sự khai ngộ. Nương theo kinh Pháp Hoa, nương theo kinh Lăng Nghiêm, một bộ kinh, suốt đời hạ thủ công phu nơi một bộ kinh.

          Trong thời cận đại, lăo pháp sư Viên Anh lăo pháp sư Hải Nhân đều chuyên tu kinh Lăng Nghiêm. Thuở sinh tiền, pháp sư Viên Anh có Viên Minh Giảng Đường, là học viện chuyên đề xướng kinh Lăng Nghiêm, đấy là [thâm nhập] một bộ kinh. Năm 1977, lần đầu tiên tôi sang Hương Cảng giảng kinh Lăng Nghiêm, giảng suốt bốn tháng. Lăo ḥa thượng Hải Nhân trụ tại Đại Dự Sơn, tôi có đến thăm Ngài. Khi đó, Ngài đă chín mươi mấy tuổi, năm sau Ngài văng sanh. V́ thế, tôi đă được gặp mặt Ngài một lần. Khi ấy, tại Hương Cảng, Ngài cũng được tôn là Thủ Lăng Nghiêm Vương, suốt đời chuyên tu, chuyên hoằng kinh Lăng Nghiêm. Học tṛ của Sư cũng chẳng đông. Nghe nói chỉ có sáu vị, cả sáu người đều rất lỗi lạc. V́ Ngài đ̣i hỏi phải thuộc ḷng kinh Lăng Nghiêm. Không chỉ thuộc kinh mà c̣n phải thuộc chú giải. Chẳng thể thuộc, Ngài chẳng tiếp nhận. Do vậy, học tṛ của Ngài chỉ có sáu người. V́ vậy nói bất luận pháp môn nào, bất luận bộ kinh luận nào, hễ nghiêm túc y giáo phụng hành, chẳng có ai không thành tựu.

          Đây là nói về tầm quan trọng của kinh điển. Hễ ĺa khỏi kinh điển, sẽ chẳng có Phật pháp, phải biết điều này! Chẳng có Phật pháp, tức là có những trang thiết bị vật chất, như những tháp miếu của Phật, những thứ di tích ấy vẫn c̣n, [nhưng không có thực chất]. Trong phần sau có nói:

 

          (Sao) H́nh tượng, tháp miếu, năi chí xá-lợi, nhất hưng cúng dường, thiên phản sanh thiên đẳng, cố tự đảnh chí túc hạ, kết thành ân trọng.

          ()形像塔廟,乃至舍利,一興供養,千返生天等,故自頂至足下,結成恩重。

          (Sao: Đối với h́nh tượng, tháp, miếu, cho đến xá-lợi, hễ dấy lên sự cúng dường, sẽ [được phước đức như] ngàn lần sanh trong cơi trời v.v… V́ thế, từ đỉnh đầu cho đến dưới chân đều kết thành ân trọng).

 

          H́nh tượng” là h́nh tượng của Phật, Bồ Tát. Bất luận là tượng bằng đất nặn, điêu khắc bằng gỗ, hoặc là những h́nh tượng do kim loại đúc thành, tuy chẳng thể khiến cho quư vị đều được thành Phật, chúng chẳng làm được điều này, nhưng đă cho quư vị [cơ hội] tu phước. Quư vị có thể lễ kính, có thể lễ bái, sẽ dẫn phát thiện căn của quư vị, công đức ấy rất to. “Tháp” () để thờ xá-lợi của đức Phật. Quá nửa là để cúng dường xá-lợi. “Miếu” () là tự miếu, nơi thờ phụng h́nh tượng Phật, Bồ Tát. Ở chỗ này, chư vị phải biết, nơi đây đă biến thành miếu, chẳng phải là Tự, chẳng phải là tự, viện, am, đường. Trong tự, viện, am, đường, có Tam Tạng, Bát Tạng, có giảng kinh, giáo học. Nếu tự, viện, am, đường hiện thời chẳng có ai giảng kinh, chẳng có ai giáo học, thậm chí kinh điển cũng chẳng có, chỉ có những h́nh tượng, giống như hiện thời nói là kinh sám Phật sự, th́ là Miếu! Trên thực chất, nó là Miếu; trên chiêu bài, vẫn dùng chữ Tự, nhưng Tự đă biến thành Miếu. Do vậy, Tự và Miếu khác nhau, chúng ta phải biết điều này! Điều này có nghĩa là trong thời kỳ Mạt Pháp, trong thời kỳ Phật pháp suy vi, tháp miếu, tượng Phật lồ lộ, nhưng chẳng có ai học kinh giáo.

          Hiện thời, chúng ta thấy vấn đề này đúng là ngày càng nghiêm trọng! Người thật sự tu hành tŕ giới, tụng kinh ngày càng ít, mà kẻ lạy Phật, tu sám, cầu phước ngày càng nhiều! Toàn là cầu phước, chẳng chú trọng Giới, Định, Huệ, [chỉ lo] cầu cảm ứng, cầu Phật, Bồ Tát phù hộ thăng quan phát tài, làm những chuyện ấy, có thể cầu được hay chăng? Trong Phật pháp có nói: “Trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng”. Quư vị phải hiểu lư luận, phải hiểu phương pháp, đúng lư đúng pháp mà cầu, chẳng có ǵ không cảm ứng. Lư và pháp ở chỗ nào? Lư và pháp ở trong Tam Tạng, trong Bát Tạng. Do vậy có thể biết, nếu ĺa kinh giáo, cầu phước nơi tháp miếu, sẽ rất hữu hạn, chỉ có thể nói là gieo một chút thiện căn. Thật ra, những ǵ quư vị cầu được vẫn là do trong mạng của quư vị có! Đối với chuyện này, hy vọng quư vị hăy đọc kỹ Liễu Phàm Tứ Huấn th́ sẽ hiểu rơ. Quư vị hăy xem phần thiền sư Vân Cốc khai thị cho Viên Liễu Phàm, đoạn văn ấy hay lắm! Phải đọc cho nhiều, suy nghĩ cho nhiều, chúng ta sẽ biết cầu phước, cầu phú quư, cầu con cái, cầu thăng quan, cầu tiêu tai diên thọ (tiêu trừ tai nạn, kéo dài tuổi thọ) như thế nào, chẳng có thứ ǵ không cầu được! Khai thị của thiền sư Trung Phong dành cho những kẻ đọc sách hay khéo tột bậc!

          “Năi chí xá-lợi” (Cho đến xá-lợi): Xá-lợi (Śarīra) được thờ phụng trong tháp. Xá-lợi của Phật, xá-lợi của Bồ Tát, xá-lợi của La Hán, xá-lợi của tổ sư đại đức. Thấy xá-lợi giống như thấy người, chúng ta có thể nghĩ đến hành trạng của Phật, Bồ Tát, thiện tri thức, sẽ có thể sanh khởi thiện căn. V́ thế, hễ cúng dường, sẽ đạt được phước báo là “thiên phản sanh thiên” (sanh trong cơi trời một ngàn lần), tức một ngàn lần qua lại trong cơi trời hoặc nhân gian, chẳng đọa vào ác đạo. Phước báo ấy to cỡ nào! V́ thế, người tu phước đông đảo, họ chẳng thành Phật. Tiếp đó là nói “cố tự đảnh chí túc hạ” (v́ thế từ đỉnh đầu cho đến dưới chân) là nói về toàn thân đức Phật, từ đỉnh đầu cho đến ḷng bàn chân hóa thành xá-lợi. Nói theo phía chúng sanh, sẽ đều là vô tận từ bi, vô tận ân huệ, kết thành ân trọng.

          Đức Phật đối với chúng sanh có ân đức nhiều dường ấy, ân đức to ngần ấy, nay chúng ta đọc phần kinh văn này, hăy báo ân! Chẳng biết ân, sẽ không biết báo ân; biết ân th́ mới có thể phát nguyện báo ân, mới phát ra cái tâm ấy. Báo đáp bằng cách nào? Trong đoạn kinh văn này, phần trước có một bài kệ, trong lời Sớ có một bài kệ, chúng tôi cũng đă đọc trong phần trước. Bài kệ ấy được nói trong kinh: “Giả sử đảnh đới kinh trần kiếp. Thân vi sàng ṭa biến tam thiên, nhược bất truyền pháp lợi chúng sanh, tất cánh vô năng báo ân giả     (Giả sử đeo, đội trải trần kiếp, thân làm giường ṭa khắp đại thiên, nếu chẳng truyền pháp lợi chúng sanh, rốt cuộc chẳng thể báo ân được).

          Phần sau lại có một bài kệ, thuộc phần Sao, ư nghĩa đại khái tương đồng:

 

          (Sao) Duy hữu truyền tŕ chánh pháp tạng, tuyên dương giáo lư thí quần sanh, tu tập nhất niệm khế Chân Như, tức thị chân báo Như Lai giả.

          ()唯有傳持正法藏,宣揚教理施群生,修習一念契真如,即是真報如來者。

          (Sao: Chỉ có truyền tŕ chánh pháp tạng, tuyên dương giáo lư thí muôn loài, tu tập một niệm hợp Chân Như, chính là thật sự báo ân Như Lai).

 

           So với bài kệ trước, bài kệ này càng dễ hiểu hơn. Bài kệ trước có ư nghĩa rất sâu, bài này chúng ta vừa đọc liền hiểu rơ!

          Chúng ta phải báo ân như thế nào? Chỉ có “truyền tŕ”! Tŕ () là ǵ? Tŕ là làm được, là thọ tŕ. Chúng ta nhất định phải làm được. Đối với những ǵ đức Phật dạy chúng ta, chúng ta nghiêm túc học tập, ắt phải biến chúng thành cuộc sống, thành tư duy, thành tiêu chuẩn xử thế đăi người của chúng ta, đó là Tŕ. Chính ḿnh có thể tŕ th́ chúng ta có thể truyền, mong mỏi chánh pháp đừng bị đoạn tuyệt, đời nào cũng đều có người truyền thừa. Từ chỗ thầy truyền tới, chúng ta đạt được; trong tương lai, chúng ta cũng phải truyền cho đời kế tiếp. “Truyền tŕ chánh pháp tạng”, quư vị nhất định phải có nguyện này. “Tuyên dương giáo lư thí quần sanh”. “Tuyên dương” (宣揚) là quư vị có cơ duyên dạy người khác, đem đạo lư, phương pháp, sự tu học và hiệu quả của Phật pháp làm cho người khác thấy, dạy dỗ người khác, đấy là Pháp Bố Thí, bố thí hết thảy chúng sanh. Cơ duyên của mỗi cá nhân khác nhau, hễ tận tâm tận lực th́ thảy đều viên măn, công đức đều là chẳng thể nghĩ bàn.

          Hai câu trước, ai nấy đều có thể làm được, câu thứ ba th́ không phải ai cũng đều có thể làm được, nhưng người tu Tịnh Độ chiếm tiện nghi rất lớn, nghĩa là sao? Người tu Tịnh Độ nếu thật sự niệm Phật văng sanh, sẽ là một niệm khế nhập Chân Như. Trong các pháp môn khác, điều này chẳng dễ dàng. Pháp môn Tịnh Tông là pháp môn đặc biệt, thật thà niệm một câu Phật hiệu đến cùng, sẽ thật sự có thể văng sanh. Hễ văng sanh, sẽ khế nhập Chân Như, sẽ tương ứng. Đấy là người thật sự báo ân Phật, thật sự báo đền ân Phật. V́ sao? Quư vị thành Phật, hạ hạ phẩm văng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư của Tây Phương Cực Lạc thế giới, cũng sẽ thành Phật viên măn ngay trong một đời. V́ thế, văng sanh là thành Phật, chuyện này tuyệt vời lắm thay! Bất luận chúng ta tu hành hoằng pháp lợi sanh như thế nào, nếu quư vị sơ sót chuyện văng sanh, hai câu sau sẽ chẳng có! Nhưng để báo ân Phật, báo đáp chẳng viên măn, báo đáp chẳng rốt ráo, nhất định phải niệm Phật văng sanh, đấy mới là người báo ân Phật viên măn rốt ráo. Chúng ta học tập bài kệ này tới đây.

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem bài kệ kế tiếp là bài thứ mười hai:

 

          (Kinh) Kiến bội ân nhân, đương nguyện chúng sanh, ư hữu ác nhân, bất gia kỳ báo.

          ()背恩人。當願眾生。於有惡人。不加其報。

          (Kinh: Thấy kẻ bội ơn, nguyện cho chúng sanh, đối với kẻ ác, chẳng báo thù họ).

 

          Nguyện này là đại đức, cũng là đại hạnh của Bồ Tát, nhất là trong hiện thời, ít kẻ báo ân, kẻ bội ân, vong ân phụ nghĩa phổ biến, chỗ nào cũng đều có thể trông thấy. Không chỉ là tại Trung Hoa, mà gần như trên cả thế giới, có thể nói là “thấy lợi quên nghĩa”, chẳng biết ân nghĩa, cho nên họ chẳng biết báo ân là ǵ, ân đức là ǵ, họ không biết. Nếu thấy kẻ tri ân, báo ân, họ sẽ nói kẻ đó là “đứa ngốc, đầu óc có vấn đề, chẳng biết tự lợi!” V́ thế, trong thế gian hiện thời, làm chuyện tốt chẳng dễ dàng! Có những người làm thiện sự cũng đến kể với tôi, họ làm thiện sự bị chướng ngại quá ư là nhiều, đến hỏi tôi “v́ sao có lắm chướng ngại ngần ấy?” Từ xưa tới nay, chuyện tốt khó làm, người tốt càng khó làm!

          Thời cổ, những bậc thánh hiền, những người lănh đạo đất nước đều là thánh hiền. Thời đại trước kia th́ gọi là hoàng đế, thiên tử, hoàng thượng thánh minh; những lời ấy có lư. V́ sao? Họ đọc rất nhiều sách, đă được hưởng sự giáo dục tốt nhất. “Thánh minh” (聖明) nếu nói đơn giản sẽ là người hiểu biết, là người có trí huệ thông hiểu, chẳng phải là phường hồ đồ. Người thông hiểu sẽ chẳng làm chuyện hồ đồ, sẽ không gây tổn thương cho người khác, chẳng thể nào thương thiên hại lư, cho nên là thánh minh. Nhưng vào thời ấy, làm người tốt, làm chuyện tốt cũng rất khó khăn; thật ra, vẫn c̣n tốt hơn chúng ta trong hiện thời quá nhiều, dễ làm! V́ quư vị làm chuyện tốt, sẽ thật sự có người tán thán, có kẻ hộ tŕ. Hiện thời, trong thời đại này, quư vị mong làm chuyện tốt, chẳng có ai tán thán, chẳng có ai hộ tŕ, lại c̣n t́m nhiều cách gây khó dễ, chướng ngại quư vị, phá hoại quư vị nhiều lắm. Đấy là nguyên nhân ǵ vậy? Thánh hiền thế gian và xuất thế gian dạy chúng ta, “hành hữu bất đắc, phản cầu chư kỷ” (có chuyện ǵ chẳng làm được, hăy quay lại xét ḿnh). Chúng ta làm chẳng thuận lợi, chướng duyên rất nhiều, làm như thế nào? Hăy quay lại phản tỉnh, xét lại chính ḿnh. V́ sao có lắm chướng ngại ngần ấy? Nếu quư vị thật sự t́m ra nguyên nhân đạo lư, cái tâm quư vị sẽ b́nh, tâm an lư đắc, đă thông suốt đạo lư, sau đấy sẽ là tâm b́nh khí ḥa. Có cần phải làm chuyện tốt hay không? Phải làm! Thật sự là chướng ngại quá nhiều, nhưng bất đắc dĩ, làm không được là v́ chúng sanh chẳng có phước, chính ḿnh có lỗi lầm hay chăng? Chính ḿnh chẳng có lỗi lầm, v́ sao? Chính ḿnh đă tận tâm, tận lực, há có lỗi lầm! Lỗi lầm ở chỗ chúng sanh thiếu phước!

          Cớ sao chúng sanh chẳng có phước? Phải biết điều này, chúng sanh chẳng có cơ duyên tiếp nhận giáo huấn của thánh hiền. Chúng ta không nói tới thánh hiền; đối với người hiện thời, ư nghĩa thánh hiền rất khó lănh hội. Họ cũng chẳng biết thánh hiền là ǵ? Chúng tôi nói cách khác, người hiện thời chẳng được hưởng giáo dục luân lư, đạo đức, giáo dục nhân quả, nói như vậy họ sẽ dễ hiểu. Giáo dục luân lư là ǵ? Trung tâm của giáo dục luân lư nhằm nói rơ mối quan hệ giữa con người với nhau. Họ chẳng hiểu mối quan hệ giữa con người với nhau, chẳng thấu hiểu! Cha con, anh em là ǵ? Thân thích, bằng hữu là ǵ? Tôn ty, lớn bé là ǵ? Chẳng hiểu các mối quan hệ ấy. V́ sao không hiểu? Chẳng có ai dạy! Vài hôm trước, từ báo chí tôi thấy có bản tin đứa trẻ mười tuổi giết mẹ, may là mẹ nó chỉ bị thương, c̣n chưa chết! V́ nguyên nhân ǵ? Đứa nhỏ chơi game điện tử, mẹ nó không cho chơi, nó lấy dao phay giết mẹ. Đấy là nguyên nhân ǵ? Chẳng được hưởng giáo dục luân lư, chẳng thể trách nó. Nói thật thà, nó chẳng có lầm lỗi, [mà là] cha mẹ, sư trưởng của nó đă sơ sót trong việc giáo huấn.

          Nhưng hiện thời, người Hoa gặp một nguy cơ nghiêm trọng nhất, nguy cơ ấy là ǵ? Nếu chẳng thể khôi phục sự dạy học về văn hóa truyền thống, coi như tiêu, chuyện này rất đáng sợ! Chư vị nhất định phải hiểu, dẫu chánh quyền bị mất chẳng sao cả, [coi như] không có ǵ cả! Dẫu sao người Hoa có tâm lượng to lớn, ai làm hoàng đế cũng đều được, chỉ cần chúng ta giữ được văn hóa. Quư vị tới làm hoàng đế, có thể tôn trọng truyền thống văn hóa của chúng tôi, chúng tôi cũng có thể bao dung. Người Mông Cổ vào làm chủ Trung Hoa một trăm năm, người Măn Thanh vào làm chủ Trung Hoa hai trăm sáu mươi năm, xác thực là họ đă tôn trọng, chẳng hủy diệt văn hóa truyền thống của Trung Hoa; ngược lại, lại bị Trung Hoa đồng hóa, cùng người Hoa hợp thành một nhà. Đấy là một thứ sức mạnh rất tuyệt vời của văn hóa Trung Hoa. Các vị học giả, chuyên gia phương Tây chẳng thể không tự đáy ḷng tán thán điều này!

          Nhưng trong một trăm năm gần đây nhất, do v́ luôn có chiến tranh, loạn lạc. Sau khi nhà Măn Thanh mất nước, bọn quân phiệt Trung Hoa cát cứ, xă hội hỗn loạn. Tuy là cục diện hỗn loạn, giáo học văn hóa truyền thống c̣n có thể tiếp tục. Nhưng năm Dân Quốc 26 (1937), Nhật Bản phát động chiến tranh đối với Trung Hoa. Tám năm Kháng Chiến đă khiến cho Trung Hoa rối loạn, xă hội nháo nhào, bị tổn thương hết sức nghiêm trọng. Cách giáo học truyền thống chẳng c̣n, hằng ngày lo tỵ nạn, tôi sanh nhằm thời đại ấy. Khi Kháng Chiến bùng nổ, tôi mười một tuổi. Khi Kháng Chiến kết thúc, tôi mười tám tuổi, quư vị thấy đó, toàn là đang trong độ tuổi cầu học. Tôi nhớ trong tám năm ấy, tôi ở chỗ nào, thời gian dài nhất chẳng quá mười tháng lại phải đi, ngắn nhất là một, hai tuần. V́ thế, trong tám năm, tôi đi qua mười tỉnh, hoàn toàn là đi bộ, chẳng có công cụ giao thông, nhọc nhằn như vậy đó! Những chỗ rất gần với tiền tuyến sẽ nghe được tiếng súng máy, tiếng đại bác càng chẳng cần phải nói nữa. V́ thế, toàn thể xă hội đại loạn. Măi cho đến hiện tại, giáo học truyền thống hoàn toàn bị sơ sót, bỏ quên. Điều này hết sức đáng sợ.

          Đề xướng chữ Giản Thể cố nhiên đem lại đôi chút thuận tiện, nhưng phải trả một cái giá quá lớn! Cái giá phải trả là ǵ? Chẳng có năng lực đọc cổ thư Trung Hoa. Văn tự Trung Hoa là phù hiệu trí huệ, sau khi đơn giản hóa [Hán tự], quư vị chẳng thấy được trí huệ và ư nghĩa trong những chữ ấy, phải trả một cái giá quá ư to lớn. V́ thế, tôi đă từng nghe nói, người Nhật đă từng nói, khi Trung Hoa thi hành chữ Giản Thể, họ liền cười nhạo: “Năm mươi năm sau, người Hoa không nhận biết chữ Hán, phải thỉnh giáo người Nhật”. Tôi nghe lời ấy rất cảm động. Lần đầu tiên tôi sang thăm Nhật Bản, đi cùng pháp sư Đạo An, thời gian lần đó cũng dài, ở Nhật Bản hơn hai mươi ngày, viếng thăm rất nhiều nơi, chẳng thể không bội phục người Nhật!

          Mấy năm trước, tôi lại sang thăm Nhật Bản, thời gian cách nhau vừa đúng ba mươi năm, thấy văn hóa truyền thống của người Nhật bị suy thoái trên một mức độ lớn. Chúng tôi trông thấy rất khó chịu. Người Nhật Bản học theo phương Tây rất triệt để, đă bị Tây hóa, hiện thời chỉ c̣n giữ lại h́nh thức, chứ luân lư, đạo đức, nhân quả cũng đều chẳng tin tưởng. Ngược lại, người Đại Hàn dấy lên, Đại Hàn hết sức coi trọng, nghiêm túc học tập Nho, Thích, Đạo, vượt trỗi người Nhật rất nhiều. V́ thế, trước kia, Đại Hàn chẳng bằng Nhật Bản, hiện thời đă vượt xa khá nhiều. Do đó, trong tương lai, đối với nền văn hóa truyền thống của Trung Hoa, đúng là người Hoa và người Nhật Bản đều phải sang Đại Hàn học tập. Người Đại Hàn kế thừa truyền thống Trung Hoa; đấy là chuyện rất lỗi lạc, chúng ta chớ nên không gấp rút đuổi theo. Nếu chúng ta không quật khởi, chẳng nghiêm túc nỗ lực học tập, trong tương lai, chắc chắn người Đại Hàn là thầy của chúng ta, trừ phi chúng ta vứt bỏ truyền thống năm ngàn năm. Nếu muốn khôi phục truyền thống, chẳng thể không cầu người Đại Hàn dạy dỗ!

          V́ thế, phải biết, trong xă hội, kẻ vong ân phụ nghĩa nhiều ngần ấy, không biết ân cha mẹ, không biết ân thầy, mà cũng chẳng biết ân quốc gia, càng chẳng biết ân chúng sanh, càng chẳng biết ân Phật pháp. Chẳng có khái niệm, chẳng tiếp xúc, [lầm tưởng Phật pháp] là mê tín, lập tức bài xích. Giáo dục của ngoại quốc từ bé đă dạy ǵ? [Chạy theo] hiệu quả và lợi ích, dạy cạnh tranh. Trong khi giảng kinh, tôi thường luôn nhắc tới chuyện này, học cạnh tranh từ bé, khi lớn lên sẽ là đấu tranh, lại nâng cao hơn nữa là chiến tranh. Chiến tranh trong hiện thời là cùng nhau chết sạch, quư vị nói xem, có đáng sợ lắm hay không? V́ thế, ở đây, đức Phật dạy chúng ta, trông thấy những kẻ vong ân phụ nghĩa, bèn dẫn phát đại nguyện, nguyện hết thảy chúng sanh trong khắp pháp giới hư không giới, “ư hữu ác nhân, bất gia kỳ báo” (nếu có kẻ ác, chẳng trả thù họ), phải thương xót họ. Họ vô tri, chớ nên trách móc họ!

          V́ thế, người theo đuổi công tác dạy học, trong quá khứ đều biết, quư vị đọc sách từ nhỏ, sách vỡ ḷng là Tam Tự Kinh. Câu đầu tiên trong Tam Tự Kinh là
nhân chi sơ, tánh bổn thiện”. Có ai là ác? Chẳng có kẻ ác! Sau đấy v́ sao biến thành ác? Học theo điều xấu, quư vị chẳng khéo dạy dỗ. V́ thế, câu thứ hai trong Tam Tự Kinh là “tánh tương cận, tập tương viễn” (tánh th́ gần giống như nhau, do huân tập mà trở nên khác xa nhau). Câu này đă nói rất rơ ràng! Bản tánh vốn lành, mọi người đều như nhau, chẳng có ǵ sai biệt, nhưng tập tánh khác nhau. Tập tánh ngày càng xa cách bản tánh, hiện thời đă xa đến mức độ nào? Xa đến nỗi hoàn toàn quên bẵng bản tánh! Có bản tánh hay không? Có chứ! Về căn bản là chẳng biết có bản tánh, chỉ biết là thiện hay ác. Thiện là ǵ? Lợi chính ḿnh là thiện, bất lợi cho chính ḿnh
th́ toàn là ác. V́ thế, trẻ nhỏ đối với mẹ, mẹ cho nó chơi game điện tử th́ nó vui vẻ, nghĩ là thiện. Mẹ chẳng cho phép chơi th́ là ác. Ác th́ phải diệt trừ, nghiễm nhiên cầm dao giết mẹ! Nguyên nhân ở chỗ này, quư vị phải t́m cho ra!

          Giáo học truyền thống của Trung Hoa là một nền giáo học tốt đẹp dường ấy. V́ thế, trong một trăm năm trước, có thể nói là dân chúng Trung Hoa là dân chúng thiện lương nhất trên thế giới, có thể nhẫn nhục, có thể nhường nhịn, chẳng thích tranh giành, có thể chịu khổ, chịu hết mọi nỗi khuất nhục mà họ vẫn sống được, lại c̣n có thể ǵn giữ truyền thống. Điều này khá lắm! Truyền thống ấy chính là gia giáo, căn cội là gia giáo. Bởi lẽ, xưa kia, trẻ nhỏ sanh ra được ai dạy? Cha mẹ dạy. Quan trọng nhất là sự dạy dỗ của mẹ. V́ con ở với mẹ thời gian khá dài, cha có lúc phải đi làm, mẹ th́ quá nửa là không biết chữ. Mẹ tôi không biết chữ, nhưng từ nhỏ, cụ đă kể cho chúng tôi những câu chuyện hiếu, đễ, trung, tín, dạy chúng tôi xử sự, đăi người tiếp vật như thế nào, bà cụ hiểu hết. Cụ học từ đâu ra? Từ thế hệ trước, ông bà dạy cho mẹ.

          Về giáo dục xă hội, giáo dục xă hội tại Trung Hoa vào thời cổ đă dựa vào ǵ? Nói theo cách hiện thời, [sẽ là] dựa vào biểu diễn văn nghệ. Tại nông thôn, trong những dịp lễ Tết, rước thần, trảy hội, nhằm ngày vía của thần, Phật, đều có lễ mừng. Trong lễ mừng, thông thường là mời ban hát đến diễn tuồng. Nội dung tuồng tích Trung Hoa nói chung chẳng ngoài hiếu, đễ, trung, tín, thiện có thiện quả, ác có ác báo, họ (khán thính giả) học từ chỗ này, toàn là giáo dục. Chẳng như hiện thời, văn nghệ hiện thời lấy chuyện giải trí làm mục đích. Trung Hoa chẳng vậy. Văn nghệ tại Trung Hoa trong mấy ngàn năm qua lấy giáo dục làm mục đích. V́ chẳng có trường học nhiều ngần ấy, chẳng có nhiều thầy như vậy, trước kia cũng chẳng có TV, radio, những thứ thường được dùng là ca múa, tuồng hát, mỹ thuật, đều là nghệ thuật. Mọi người đều tuân thủ, các nhà nghệ thuật đều tuân thủ một câu nói của Khổng lăo phu tử, đó là nguyên tắc chỉ đạo cao nhất, tức là “tư vô tà” (思無邪, chẳng nghĩ tà vạy). Quư vị thấy, nghe, tiếp xúc, tuyệt đối sẽ chẳng nẩy sanh ác niệm, lấy chuyện này làm mục đích. V́ thế, những kẻ không biết chữ tại nông thôn đều hiểu đạo lư làm người, mà cũng đều biết cách dạy dỗ con cái.

          Do vậy, giáo dục gia đ́nh là điều đặc sắc trong sự truyền thừa năm ngàn năm của Trung Hoa, người ngoại quốc chẳng có. Dạy từ khi nào? Trẻ nhỏ sanh ra, mở mắt ra, nó có thể thấy, có thể nghe, tuy nó chẳng nói năng, nó có thể thấy, có thể nghe. Bởi vậy, cha mẹ, người lớn ở trước mặt trẻ nhỏ, ăn nói lẫn cử chỉ đều phải đoan trang, khiến cho trẻ nhỏ thấy, nghe, tiếp xúc, toàn là những thứ chánh diện, toàn là thiện, quyết định chẳng cho chúng nó trông thấy những dáng vẻ hung ác. Người lớn quan tâm chiếu cố trẻ nhỏ như vậy, trẻ nhỏ đến khi tṛn ba tuổi sẽ có năng lực phân biệt đúng, sai, thiện, ác, nó có năng lực ấy. V́ sao? Từ bé nó đă học được, đó gọi là căn cội! Trung Hoa có một câu ngạn ngữ cổ: “Thiểu thành nhược thiên tánh, tập quán thành tự nhiên” (Những ǵ được h́nh thành từ bé sẽ trở thành giống như bẩm tánh, do thói quen mà trở thành tự nhiên).

          Đến năm, sáu tuổi, trẻ phải thực hiện Đệ Tử Quy, hiếu thảo cha mẹ, tôn kính bậc trưởng thượng, đối với ai lớn hơn nó, nó đều phải tôn trọng. Trong gia đ́nh, có những chuyện nó sẽ phải học làm, như quét dọn, ứng đối. Đấy là khởi sự học, đều do cha mẹ dạy, người bề trên dạy. Thông thường, đến sáu, bảy tuổi bèn đi học. Đi học trong trường tư thục, được thầy dạy dỗ. Trước khi lên mười, người dạy (cha, mẹ, thầy) đều là lấy thân làm gương, chính ḿnh làm được, nêu gương cho nó xem, chẳng phải là ngôn giáo, mà là thân giáo. Sau khi lên năm, lên sáu, mới ngôn giáo, trẻ hiểu ư nghĩa. Từ khi sanh ra cho đến ba, bốn tuổi, hoàn toàn là thân giáo, thảy đều là làm cho trẻ thấy. Lúc đó, chẳng bảo trẻ niệm Đệ Tử Quy, mà là cha mẹ đều làm được. Tuy cha mẹ chẳng đọc sách, nhưng đều hiểu đạo lư làm người. Họ hiểu những điều được nói trong Đệ Tử Quy; tuy họ không biết chữ, nhưng họ đều làm được. Do vậy, trẻ nhỏ từ bé đă được học, hiểu. Đến khi sáu, bảy tuổi đi học, thầy cũng làm được. Nói thật ra, những người làm thầy, tức thầy giáo trong trường tư thục đă làm được Đệ Tử Quy, Cảm Ứng Thiên cũng có thể làm được. Thập Thiện Nghiệp Đạo cũng chẳng sai kém cho mấy! Họ có căn cội, đó gọi là nền tảng sâu dầy. V́ thế, ngạn ngữ mới có câu: “Tam tuế khán bát thập, thất tuế khán chung thân”(từ [tánh cách của một người] lúc ba tuổi, có thể thấy được tánh cách của người ấy lúc tám mươi. Nh́n vào cách cư xử lúc bảy tuổi, sẽ biết suốt đời người ấy sống như thế nào). Bảy tuổi là vừa mới đi học, có thể phán đoán cả đời của đứa trẻ ấy.

          V́ thế, mắt xích quan trọng nhất trong giáo dục truyền thống bị mất đi, như Tam Tự Kinh đă nói: “Cẩu bất giáo, tánh năi thiên”. [Ư nói] nếu quư vị chẳng khéo dạy nó, dần dần nó sẽ học theo thói xấu! Chúng ta nh́n vào sự giáo dục trẻ nhỏ trong hiện thời, nó giết cha, giết mẹ, giết anh em là do được dạy dỗ mà ra. Ai dạy nó? TV dạy nó, Internet dạy nó, tṛ chơi điện tử dạy nó. Quư vị thấy nội dung của những thứ ấy là ǵ? Bạo lực, t́nh dục, giết, trộm, dâm, dối, hằng ngày nó học những thứ ấy. V́ thế, nó chẳng biết giết người là tội lỗi, chẳng biết đó là sai lầm, coi đó là tṛ chơi!

          Do vậy, tôi thấy chuyện này rất lo ngại, những đứa trẻ ấy trong tương lai lớn lên, từ bé chúng nó đă chơi đùa như vậy, trong tương lai, chúng nó nắm chánh quyền, mỗi quốc gia chế tạo nhiều vũ khí nguyên tử và vũ khí hóa học như thế, đến khi lọt vào tay của chúng nó, sẽ bị sử dụng loạn xạ, v́ sao? Tṛ chơi mà! Chúng nó chẳng biết đó là sai lầm, chẳng biết giết người là có tội, chẳng biết chiến tranh, tai họa là sai lầm, chẳng biết, tṛ chơi mà! Giống như chơi đùa với máy chơi game vậy. Lúc ấy sẽ là tận thế, làm như thế nào đây? Bởi lẽ này, tôi mới đề xuất, mong mỏi những quốc gia có vũ khí nguyên tử phải cảnh giác, tốt nhất là tiêu hủy vũ khí hạch nhân và vũ khí hóa học, như vậy th́ mới mang lại an toàn cho xă hội. Nếu không, nhiều thứ ngần ấy bày ra đó, chắc chắn sẽ có ngày dùng tới. Nếu dùng tới, sẽ là ngày tàn của thế giới, đáng sợ hơn bất cứ điều ǵ khác! Hiện thời, những người ấy c̣n có thể kiềm chế. Kẻ lănh đạo quốc gia biết kiềm chế, sợ rằng một hai thế hệ sau sẽ chẳng thể kiềm chế.

          Chúng ta thấu hiểu đạo lư này, đối với những kẻ làm ác trong hiện thời sẽ tự nhiên có thể dung thứ họ, lại c̣n dùng phương pháp ǵ? Chỉ vận dụng cảm hóa, quyết định chớ nên trả đũa. Trả đũa sẽ chẳng thể giải quyết vấn đề, chỉ khiến cho cừu hận sâu xa hơn. Bởi lẽ, ở phương Tây, xác thực là có những người đối với chuyện xử lư bọn khủng bố, họ chủ trương dùng cách giáng trả, dùng sự trấn áp, tức là dùng vũ lực để trấn áp, trả đũa bằng vũ lực, có hiệu quả hay không? Nh́n vào hiện thời, chẳng có hiệu quả! Sau khi sự kiện Mười Một tháng Chín phát sanh, khá nhiều vị chuyên gia, học giả suy nghĩ nghiêm túc, [nhận thấy] trấn áp hay trả đũa đều chẳng thể giải quyết vấn đề. V́ thế, mới nghĩ tới chuyện hăy nên chọn lựa phương pháp ḥa b́nh để giải quyết. Cách nghĩ ấy là chánh xác!

          Làm từ nơi đâu? Làm từ chính bản thân ta. V́ thế, tôi tham dự hội nghị nhiều lần, tôi đề xuất “để hóa giải xung đột, phải làm từ trong nội tâm sâu thẳm của chính ḿnh”. Đối với hết thảy người, đối với hết thảy sự, đối với hết thảy vật, phải hóa giải ư niệm đối lập trong nội tâm của chúng ta, chẳng đối lập với người khác, chẳng đối lập với sự, mà cũng chẳng đối lập với hết thảy vật, hóa giải ư niệm đối lập từ trong nội tâm của chính ḿnh. Người khác hủy báng, lăng nhục, hăm hại ta, ta đều chẳng so đo, đều chẳng bận ḷng. V́ sao? Nếu quư vị so đo, ghim trong ḷng, vô dụng, họa hại vô cùng! Đây chẳng phải là chuyện một đời, sẽ tạo thành đời đời kiếp kiếp oan oan tương báo, chẳng hết, chẳng xong, quá đau khổ! Giải quyết vấn đề ấy như thế nào? Chính là chẳng ghim trong ḷng, nơi ta chẳng có, nơi họ có. Họ đối với ta không tốt, ta đối với họ tốt lành. Nếu họ c̣n có thiện căn, c̣n có phước báo, thời gian lâu sau, chắc chắn họ sẽ bị cảm động, sẽ quay đầu là bờ. Chúng ta tiếp nhận, dung nạp, bao dung họ, quyết định chẳng so đo, đấy là giáo dục. Phải biến ác nhân thành thiện nhân, phải biến kẻ mê hoặc, điên đảo thành người giác ngộ, hóa mê thành ngộ, hóa ngu thành trí, hóa phàm thành thánh, đấy là giáo dục.

          V́ thế, phải làm từ nội tâm, có thể làm đến mức trong nội tâm chẳng có kẻ đối địch, cổ nhân diễn tả chuyện này là “nhân giả vô địch”. “Nhân giả” (仁者, người có ḷng nhân) là Bồ Tát. Trong tâm Bồ Tát, tuyệt đối chẳng có kẻ đối địch. Người ngoài đối địch với Bồ Tát; Phật, Bồ Tát bao dung kẻ ấy, Phật, Bồ Tát tuyệt đối là dùng thiện ư đối đăi người khác. Thấy kẻ khác làm ác, chẳng nói một câu nào. Thấy kẻ khác làm việc thiện, có thể tán thán họ. Đấy là “xưng tán Như Lai” như trong mười nguyện Phổ Hiền đă nói. Như Lai là Tánh Đức, Tánh là thiện, bản tánh vốn lành. V́ thế, quư vị làm lành, chúng tôi tán thán quư vị. Quư vị làm ác, chẳng nhắc tới một câu nào, mà cũng chẳng ghim trong ḷng. Trước hết là độ chính ḿnh; sau đấy, quư vị sẽ có thể độ người khác. Chẳng độ nổi chính ḿnh, làm sao quư vị có thể độ người khác cho được? Thấy người khác làm ác, khó nhẫn nhất là người ác có ác ư đối với chính ḿnh. Chuyện này khó nhẫn nhất! Phải nhẫn, khó nhẫn vẫn phải nhẫn, khó hành vẫn phải hành, đấy là ǵ? Công phu! Nếu quư vị thấu hiểu đạo lư này, người khác dùng ác ư đối với ta, ta không chỉ chẳng oán hận kẻ ấy. Không chỉ chẳng có cái tâm trả thù, mà c̣n đối với kẻ ấy tột bậc cảm ơn! Cảm ơn ǵ vậy? Tăng tấn cảnh giới cho ta! Vị thầy dạy ta Nhẫn Nhục Ba La Mật chính là kẻ ấy.

          Từ kinh Phật, các đồng học đều biết rành chuyện vua Ca Lợi cắt chặt thân thể. Trong kinh Kim Cang đă trích dẫn câu nói ấy, thật sự là chuyện khó chịu đựng nhất. Nhẫn Nhục tiên nhân chẳng có lỗi lầm, vua Ca Lợi nổi giận, đem [tiên nhân] lăng tŕ xử tử. “Lăng tŕ” (凌遲) là dùng đao lóc thịt, lóc từng miếng một, măi cho đến khi người ấy bị hại chết; đó là chẳng để cho người ấy chết yên lành. Nhưng Nhẫn Nhục tiên nhân đối với vua Ca Lợi bèn phát nguyện: “Ta chẳng có tâm nóng giận, chẳng có tâm trả thù. Trong tương lai, ta thành Phật, sẽ độ ngươi trước tiên”. Nhẫn Nhục tiên nhân thuở ấy là chuyện thuộc về tiền thân của Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật, thật sự độ người đầu tiên là vua Ca Lợi. Tôn giả Kiều Trần Như chính là thân sau của vua Ca Lợi. Nói rồi bèn giữ lời, chẳng báo oán, chỉ biết báo ân, chẳng biết báo oán. Tiên nhân cảm kích vua Ca Lợi, v́ sao? Khảo nghiệm cuối cùng về Nhẫn Nhục Ba La Mật, ngươi có thể nhẫn hay không? V́ thế, vua Ca Lợi cắt chặt thân thể chính là [giúp Nhẫn Nhục tiên nhân] viên măn Nhẫn Nhục Ba La Mật. Có thể chịu đựng điều này, quư vị mới thật sự là viên măn, chẳng có mảy may oán hận nào!

          V́ thế, chúng ta bị người ta lăng nhục, phải thường nghĩ đến chuyện vua Ca Lợi cắt chặt thân thể, tâm chúng ta sẽ b́nh lặng. V́ sao? Chúng ta hứng chịu những tổn thương nhẹ hơn Nhẫn Nhục tiên nhân quá nhiều. So sánh nỗi tổn thương của Ngài với sự tổn thương của chúng ta trong hiện tại, [sự tổn thương của Ngài] không chỉ vượt gấp trăm lần, ngàn lần, Ngài nhẫn được. Chúng ta chỉ là bị va đập đôi chút, thấm vào đâu? Thành tựu đức hạnh của chính ḿnh. V́ thế, người biết tu hành sẽ chuyển cảnh giới. Kinh Lăng Nghiêm đă dạy: “Nếu có thể chuyển vật, ắt giống như Như Lai”. Đặc biệt là đối với nghịch cảnh, ác duyên, quư vị phải biết chuyển. Hễ chuyển được, sẽ hữu ích cho sự tu hành của chúng ta rất lớn, giúp chúng ta tăng tốc độ tiến cao hơn, lẽ đâu chẳng cảm ơn? Lẽ nào c̣n có thể trả thù? Há có đạo lư ấy! Thuận cảnh và nghịch cảnh đều như nhau, thuận cảnh cũng nhằm khảo nghiệm ta, giúp chúng ta tăng tấn. Đối với thuận cảnh, chớ nên tham luyến. Hễ có tham luyến là hỏng. V́ thế, trong thuận cảnh, tức là đối với thuận cảnh và thiện nhân, chẳng dấy ḷng tham luyến, mang ḷng cảm ơn, nhưng chẳng tham luyến. Đối với nghịch cảnh, ác nhân, có tâm cảm ơn, chẳng trả thù, chẳng oán hận, đoạn sân khuể. Trong nghịch cảnh, học đoạn sân khuể; trong thuận cảnh, học đoạn tham dục. Đoạn tham, sân, si từ chỗ nào? Nếu quư vị chẳng nghiêm túc rèn luyện trong hoàn cảnh nhân sự, có thể đoạn tham, sân, si ư?

          Do đó, quư vị phải thấu hiểu đạo lư này, người tu hành tu ǵ vậy? Siêng tu Giới, Định, Huệ, dứt diệt tham, sân, si. Tham, sân, si đă đoạn, ba ác đạo sẽ chẳng có, cái tâm cảnh giác sẽ cao. Đối với thuận cảnh, thiện duyên, hễ quư vị sanh ḷng tham ái, sẽ đi vào ngạ quỷ đạo. Cảnh giới ấy là ǵ? Lôi kéo, dẫn dụ quư vị vào ngạ quỷ đạo. Nghịch cảnh, ác duyên hiện hữu trước mặt quư vị, nếu quư vị dấy ḷng sân khuể, dấy lên ư niệm trả thù, nó sẽ lôi kéo quư vị vào địa ngục đạo. Quư vị hăy ngẫm xem, nếu quư vị là một người thông hiểu, sẽ chẳng bị hại. Đối với nghịch cảnh, ác duyên mà chẳng sân khuể, không chỉ là chẳng đọa địa ngục, mà c̣n tăng tấn vượt trỗi trên một mức độ lớn. Đối với thuận cảnh, thiện duyên chẳng dấy ḷng tham luyến. Chẳng sanh tham luyến, sẽ không vào ngạ quỷ đạo, cũng là tăng tấn vượt trỗi trên một mức độ lớn. Giải quyết vấn đề này như thế nào? Trí huệ. V́ thế, quư vị có trí huệ, cảnh giới thảy đều chuyển được. Quư vị thấy người ấy vốn là cảnh giới tam đồ, nay chuyển biến, tối thiểu là biến thành ba cảnh giới thiện. Quả báo trong đời sau của quư vị là Dục Giới Thiên, Sắc Giới Thiên, và Vô Sắc Giới Thiên. Nếu quư vị có thể niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, sẽ vượt thoát mười pháp giới.

          V́ thế, “ư hữu ác nhân” (với kẻ làm ác), chẳng dấy ḷng sân khuể, “bất gia kỳ báo” (chẳng trả thù họ), đấy là đại đức. Quư vị chẳng có cảnh giới ấy, sẽ chẳng tu thành đức to lớn này. Họ tạo cơ hội cho quư vị tu đại đức, mà cũng tạo cơ hội cho quư vị đọa địa ngục. Tức là cảnh giới ấy hiện tiền, một đằng là thiên đường, một đằng là địa ngục, chính quư vị chọn lựa. Chẳng khởi tâm, không động niệm, sẽ là thiên đường. Khởi tâm động niệm, dấy ḷng oán hận, tâm sân khuể là địa ngục. Trong thuận cảnh khởi tâm động niệm, khi dấy ḷng tham ái, sẽ là ngạ quỷ, súc sanh. V́ thế, cảnh giới hiện tiền, quư vị phải thường nghĩ tưởng, đối với cảnh giới này, ta sẽ tạo ba ác nghiệp hay là ba thiện nghiệp? Ba thiện nghiệp hoàn toàn tùy thuận Tánh Đức, ba ác nghiệp hoàn toàn trái nghịch Tánh Đức, đạo lư là như thế đó. Do vậy, quư vị phải thấu hiểu, quyết định tu ba thiện nghiệp, quyết định xa ĺa tham, sân, si. Bất luận cảnh giới ǵ cũng sẽ chẳng dẫn phát ư niệm tham, sân, si trong tâm, quư vị sẽ thành công, Giới, Định, Huệ của quư vị có cơ sở.

          Do vậy, hiện thời, người vong ân phụ nghĩa quá ư là nhiều, kẻ hăm hại, kẻ lường gạt, kẻ lấn hiếp, kẻ khiến quư vị phải chịu tội, kẻ phá hoại quư vị, thảy đều là hảo nhân! Quư vị có thể ngay lập tức giác ngộ, chẳng có mảy may sân khuể, chẳng báo thù mảy may, chính ḿnh chẳng thua thiệt, chịu một chút khổ trước mắt chẳng sao cả, đời sau sẽ là cơi trời hoặc nhân gian, chẳng phải là tam đồ. Ngược lại, quư vị hăy nên thương xót những kẻ ấy, v́ sao? Do họ tạo tác [ác nghiệp], trong tương lai, sẽ đọa tam đồ, đọa tam đồ rồi vẫn mong ta giúp đỡ họ, siêu độ họ. Đấy là chánh lư, là sự thật. Đức Thế Tôn đă thị hiện, trước hết là phải độ Kiều Trần Như. Phàm là kẻ nào làm hại chúng ta, khi chúng ta đă thành tựu, trước hết là phải độ họ, hăy nên phát cái tâm ấy. A! Nay đă hết thời gian rồi. Chúng tôi giảng bài kệ này tới đây!

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 44 hết

 



[1] Do cơi Vô Sắc bao gồm bốn tầng trời lần lượt tương ứng với bốn cấp Thiền Định, nên thường gọi là Tứ Thiền Thiên. Do không c̣n sắc chất, bốn cơi trời ấy thường gọi là Tứ Không Thiên, tức Không Vô Biên Xứ (Ākāśānantyāyatana), Thức Vô Biên Xứ (Vijñānānantyāyatana), Vô Sở Hữu Xứ (Ākiṃcanyāyatana) và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (Naivasaṃjñānāsaṃjñāyatana).