Đại Phương Quảng Phật

Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 48

大方廣佛華嚴經

(十一)淨行品

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Địa điểm: Hương Cảng Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội

Khởi giảng từ ngày mồng Bảy tháng Mười Một năm 2005

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Minh Tiến

 

Tập 1557

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, đoạn thứ bảy trong phần Kệ Tụng, [tức phần] “đáo thành khất thực thời nguyện” (到城乞食時願, nguyện khi đă đến thành thị, khất thực). Chúng ta xem bài kệ thứ nhất:

 

           (Kinh) Nhược kiến thành quách, đương nguyện chúng sanh, đắc kiên cố thân, tâm vô sở khuất.

          ()見城郭。當願眾生。得堅固身。心無所屈。

          (Kinh: Nếu thấy thành quách, nguyện cho chúng sanh, được thân kiên cố, tâm chẳng khuất lấp).

         

          Đây là đến chỗ khất thực. Đoạn lớn phía trước gồm hai mươi bốn nguyện, đều là từ trên đường trông thấy hết thảy người và sự việc mà dẫn phát đại nguyện. Đă đến đích, trong quá khứ, chúng ta đọc kinh đă thấy: Thông thường, người xuất gia lập đạo tràng ở ngoài thành. Thời đức Thế Tôn, chúng ta biết trong đạo tràng hoàn toàn chẳng có pḥng ốc, chẳng hề có. Các Ngài đều ở dưới cội cây, thật sự là “giữa trưa ăn một bữa, đêm nghỉ dưới cội cây”. V́ thế, chỗ nghỉ ngơi hằng ngày đều thay đổi! Đức Thế Tôn chẳng cho phép. Chẳng hạn như cội đại thụ này rất to, quư vị thấy bóng râm rất ưa thích, mỗi ngày đều đến nơi đây để tĩnh tọa, hoặc nghỉ ngơi. Đức Thế Tôn sợ quư vị nẩy sanh ḷng lưu luyến đối với nơi đây; v́ thế, chỉ cho phép nghỉ lại một tối, đến hôm sau, ắt phải chọn nơi khác để nghỉ ngơi. Quư vị thấy trong thuở đó, đức Phật đă ngăn ngừa cho các đệ tử, sợ sẽ dẫn khởi phiền năo nẩy sanh. Ái dục là phiền năo, ưa thích hoàn cảnh ấy chính là phiền năo. Hết thảy đều phải dùng cái tâm b́nh đạm, tâm b́nh thường để cư xử. Sự thọ dụng trong tu học Phật pháp ở ngay trong cuộc sống hằng ngày; nếu chẳng đạt được sự thọ dụng trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta học Phật để làm ǵ cơ chứ? Học để sử dụng, chớ nên không biết đạo lư này!

          Khất thực cũng không cho phép quư vị hằng ngày chỉ tới khất thực ở một nhà, chẳng được phép! Quy củ là chỉ có thể khất thực bảy nhà. Nếu một nhà cúng dường rất phong phú, quư vị đă đựng đầy bát rồi, chẳng cần đến nhà thứ hai. Nếu cảm thấy cơm chẳng đủ, quư vị có thể xin tại nhà thứ hai, nhà thứ ba. Tới khi quư vị nghĩ là đủ rồi, sẽ chẳng cần [đến xin những nhà sau đó nữa]. Nhưng nếu liên tục cả bảy nhà đều chẳng xin được, chẳng thể lại đến nhà thứ tám, hăy nhanh chóng quay về. Trở về th́ có cái để ăn hay chăng? Có chứ! V́ khất thực chẳng phải là một ḿnh ta ăn. Sau khi đă xin được cơm, nhất định phải quay về đạo tràng; sau đấy, mỗi người đem cơm xin được trộn lẫn với nhau, lại chia ra. Do vậy, cơm ấy được gọi là “ca-sa phạn”. Ngạn ngữ Trung Hoa thường nói “nhất bát thiên gia phạn” (một bát cơm ngàn nhà), chẳng giả! Quư vị thấy các đệ tử thường tùy của đức Thế Tôn là một ngàn hai trăm năm mươi lăm vị, mỗi vị khất thực, chẳng phải là cơm ngàn nhà ư? Trộn lẫn lại rồi chia ra, xét theo bản thân quư vị cần nhiều hay ít mà chia, xác thực là “một bát cơm ngàn nhà”. Đấy là thật sự đạt đến công bằng, chẳng có đối xử trọng hậu hay bạc bẽo. Đối với Lục Ḥa Kính như nhà Phật đă nói, đấy mới là thật sự thực hiện Lợi Ḥa Đồng Quân, ăn uống hoàn toàn như nhau! Chẳng phải là quư vị xin cơm từ nhà này đồ ăn ngon lành, nhà kia tệ hơn, [mà là] thảy đều trộn lẫn với nhau. Quư vị thấy cuộc sống của Tăng đoàn công bằng như thế đó!

          Nơi Tăng đoàn tụ tập cách biệt thành thị hoặc hương trấn, [thành thị hoặc hương trấn] là chỗ khất thực, chẳng thể cách biệt quá xa. Theo kinh điển ghi chép, thông thường gần như là khoảng ba, bốn dặm. Ba, bốn dặm thời cổ chẳng hơn hai cây số trong hiện thời. Quư vị đi và về gần như là đi bốn cây số. Khoảng cách ấy chẳng thể coi là dài, sẽ không làm quư vị mất nhiều thời gian. Không giống đạo tràng của Phật giáo Trung Hoa! Đạo tràng của Phật giáo Trung Hoa chẳng cần khất thực. Đạo tràng [tại Trung Hoa] đều xây dựng theo kiểu cung điện, có pḥng ốc, chẳng phải là qua đêm dưới cội cây. Đạo tràng như vậy thường kiến lập trong núi sâu, cách đô thị khá xa, [v́] họ chẳng cần khất thực.

          Kinh tế của tự viện Trung Hoa dựa vào ǵ? Dựa vào sự bố thí của tín chúng. Bố thí không coi trọng tiền tài; trong quá khứ, người ta thí xả toàn là đất đai trong vùng núi, ruộng nương, bố thí cho tự viện. V́ thế, tự viện có ruộng, có núi. Ruộng và núi đều để cho nông dân cày cấy, ruộng của tự viện chẳng phải nạp tô cho chánh quyền. Cày cấy ruộng nương của tự viện th́ khi thâu hoạch phải chia một phần cho tự viện, cho thường trụ. Do đó, thâu nhập kinh tế của tự viện khá ổn định, chẳng cần dựa vào sự quyên mộ hóa duyên tín chúng từng lúc, chẳng cần thiết! Cũng có những đạo tràng do quốc gia kiến lập, [chánh quyền] nhất định sẽ cắt ra một vùng đất hoặc núi rừng giao cho đạo tràng. Đấy là thâu nhập kinh tế của nhà chùa. Về sau, người xuất gia cũng tự ḿnh cày cấy; chuyện này do Bách Trượng đại sư lăo nhân gia đề xướng, gọi là “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm, suốt ngày đó chẳng ăn). Trồng lương thực, trồng hoa quả, trồng rau dưa, người xuất gia tự ḿnh gieo trồng, nhưng đa số vẫn là thuê nông dân cày cấy. Đấy là thâu nhập kinh tế, chẳng giống như Ấn Độ vào thời cổ. [Tăng đoàn ở] Ấn Độ vào thời cổ khất thực, [do đó, đạo tràng] chẳng thể cách biệt thôn trấn, thành thị quá xa!

          Trước kia có thành, có quách[1], hiện thời chẳng có. Hiện thời, tôi nghe nói thành Tây An ở Trung Hoa vẫn c̣n, dường như tường thành ở các thành thị khác đều bị triệt hạ. Trước kia th́ có, khi chúng tôi c̣n bé, ở quê nhà, thuở đó, thông thường là huyện thành đều có tường thành. Sau khi đă phá đi, có thể là trong thời chiến tranh chống Nhật, v́ những tường thành chẳng chống nổi hỏa pháo hiện đại, nhằm giúp mọi người thuận tiện tản cư, tránh né chiến tranh mà có những nơi phá hủy các tường thành ấy, chuyện này rất đáng tiếc. “Thành quách” xưa kia là pḥng lũy bảo vệ, nói theo ư nghĩa kiên cố của nó. Do vậy, [Bồ Tát] phát đại nguyện, “đắc kiên cố thân, tâm vô sở khuất” (được thân kiên cố, tâm chẳng khuất lấp).

          Thân như thế nào mới là “kiên cố thân”? Chuyện này ắt cần phải xét theo giáo pháp Đại Thừa, chẳng phải là bảo quư vị hằng ngày rèn luyện thân thể, rèn luyện công phu, chẳng phải là ư nghĩa ấy. Trong Phật pháp, xác thực là “đắc đạo” th́ tấm thân sẽ kiên cố! Quư vị đọc kinh Văng Sanh thấy nói: Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ đạt được tấm thân kiên cố thật sự, “tử ma chân kim sắc thân” (thân có màu như vàng tía được trau giồi sáng bóng), trọn đủ tướng hảo, chẳng phải [chỉ là] ba mươi hai tướng và tám mươi thứ hảo. Ba mươi hai tướng và tám mươi thứ hảo là [thân tướng của đức Phật] trong thế giới Sa Bà, ở trên quả địa cầu này! Thân tướng trong thế giới Cực Lạc xác thực là “thân có vô lượng tướng, mỗi tướng có vô lượng hảo!” Các đồng học học Phật phải biết, đấy chính là mục tiêu tu học thật sự của chúng ta. Chớ nên tham luyến thế giới này. Hễ tham luyến thế gian này, sẽ chẳng đến thế giới Cực Lạc được! Nếu chẳng thể đến thế giới Cực Lạc, ở trong thế gian này, nói thật ra, vẫn là thân kiên cố. Thân kiên cố là như thế nào? Tôi suy nghĩ mấy bữa, các đồng học nghe cư sĩ Chung Mậu Sâm nói về chuyện luân hồi nhân quả ở phương Tây đă được họ (người Âu Tây) dùng phương pháp khoa học chứng minh. Các vị nghe rồi [sẽ biết] ông ta kể không ít trường hợp, đều là chân thật!

          Người ngoại quốc dùng phương pháp thôi miên để cho người ấy (người được thôi miên) trở lại đời quá khứ, tự thuật trạng huống sinh hoạt trong đời quá khứ của chính ḿnh. Nghiễm nhiên là có người có thể nhớ hơn một ngàn năm, luân hồi trong lục đạo mấy chục lần, chẳng phải là một lần. Trong khi được thôi miên, có lúc có các vị thần linh thừa cơ hội ấy để tiết lộ rất nhiều tin tức, các vị đều đă nghe cả rồi! Trong các tin tức ấy, có mấy điều rất quan trọng. Tôi nghe băng thâu âm, điều quan trọng nhất là cho người đời biết: Sanh mạng là vĩnh hằng, chẳng có sanh tử. [Đă là] vĩnh hằng, chẳng có sanh tử, th́ phải là tấm thân thật sự kiên cố. Thân thể này có sanh tử, chẳng phải là linh tánh của quư vị có sanh tử. Linh tánh chẳng có sanh tử, quư vị có thể hết sức yên ḷng! Nhưng trong phương diện này, quư vị cũng phải nghĩ có chuyện rất phiền phức. Trong lục đạo, con người xả thân, thọ thân giống như chúng ta thay quần áo. Quư vị thấy hằng ngày tối thiểu phải thay quần áo một lần. Buổi tối đi ngủ bèn cởi ra, sáng hôm sau thức dậy phải thay đổi, lại mặc quần áo. Cởi ra giống như chết, nói theo phương diện quần áo th́ giống như chết, sáng hôm sau lại mặc tức là lại sanh. Nếu đổi một bộ quần áo mới, cái cũ chết đi, cái mới lại sanh ra, là chuyện như thế đó. Thật sự hiểu rơ đạo lư này, sẽ chẳng có ư niệm tham sống sợ chết! Trong hội Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật đă giảng chuyện này rất cặn kẽ! Vua Ba Tư Nặc nghe xong, hiểu rơ, hết sức hoan hỷ, v́ vua ngỡ là có sanh tử. Đức Phật dạy “chẳng có sanh tử”, thân có sanh tử, tánh chẳng có sanh tử.

          Ngài dạy trong thân thể quư vị, sanh diệt và bất sanh diệt ḥa hợp. Sanh diệt là ǵ? Thân thể. Bất sanh diệt là ǵ? Nay chúng ta nói là tinh thần của quư vị. Đức Phật đă dạy rất rơ ràng, bất sanh bất diệt là ǵ? Căn tánh trong lục căn. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư là lục căn. Căn tánh của lục căn bất sanh bất diệt, đấy mới là chính ḿnh thật sự. Giáo pháp Đại Thừa nói “minh tâm kiến tánh”, khẳng định tâm tánh là chính ḿnh, nhục thân chẳng phải là chính ḿnh, ư thức cũng chẳng phải là chính ḿnh, mà là một bộ phận tinh thần như chúng ta nói trong hiện thời. Nhục thể đương nhiên chẳng phải là chính ḿnh, mà một bộ phận của tinh thần, tức vọng tưởng, phân biệt, chấp trước cũng chẳng phải là chính ḿnh. Nếu quư vị t́m được chính ḿnh thật sự, khẳng định, nhận thức nó, sẽ được gọi là thánh nhân, chuyển phàm thành thánh. Ai có thể chứng đắc? A La Hán, Bồ Tát, Phật Đà, những vị ấy đă thật sự t́m được, đă t́m ra chân ngă, bất sanh bất diệt.

          Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ vẫn có sanh diệt, chúng ta có thể lư giải điều này. Suốt ngày từ sáng đến tối, chúng ta dấy vọng tưởng, chẳng phải là chỉ nghĩ đến một chuyện, chẳng biết đă nghĩ tưởng bao nhiêu chuyện! Niệm trước đă diệt, niệm sau lại sanh, suy nghĩ loạn xạ. Do đó, ư niệm là có sanh diệt, chẳng phải là thường trụ. Nhưng căn tánh nơi sáu căn, mắt có thể thấy, tánh Thấy bất sanh bất diệt. Tai có thể nghe, tánh Nghe bất sanh bất diệt. Âm thanh có sanh diệt, sắc tướng có sanh diệt; phân biệt, chấp trước có sanh diệt. Tánh Thấy, tánh Nghe, tánh Ngửi, tánh Nếm chẳng có sanh diệt. Chẳng có sanh diệt chính là “thân kiên cố”. V́ thế, đối với những tánh ấy, nói theo kiểu hiện thời, sẽ chẳng phải là vật chất, cũng chẳng phải là tinh thần. V́ sao? Người hiện thời nói đến tinh thần, nói thật ra, đó chính là Kiến Phần của tám thức như Pháp Tướng Tông đă nói. Kiến Phần là tinh thần, Tướng Phần là vật chất, những thứ này đều chẳng thật. Ǵ là thật? Cái chân thật là Tự Chứng Phần, đó là thật! Kiến Phần và Tướng Phần do đâu mà có? Đều do Tự Chứng Phần biến hiện; đấy mới là thật. Đấy mới là “kim cang bất hoại thân”, c̣n gọi là chân tâm, c̣n gọi là bản tánh.

          Nhà Phật nói đến cái tâm th́ tâm có chân và vọng khác nhau. Tám thức là vọng tâm, tự tánh là chân tâm. Nhưng trước khi thấy chân tâm, quư vị ở trong lục đạo luân hồi, trong lục đạo luân hồi th́ có vọng tâm. Nếu chẳng có vọng tâm, sẽ chẳng có luân hồi. Nhưng vọng tâm chẳng phải là vật chất; do vậy, nó chẳng có sự sanh tử nơi nhục thân, chẳng có sự sanh tử ấy, chúng ta thường gọi nó là “linh hồn”. Nó có thể đi đầu thai, lại t́m một thân thể khác. Thần linh cũng đă tiết lộ, những kẻ đầu thai vào thế gian này, v́ sao có thể đến đầu thai? Họ nói chẳng ngoài hai loại nguyên nhân, một loại là đến trả nợ, loại kia là “đến làm phận sự”. Họ nói là “phận sự”, có ư nghĩa như thế đó! [So với cách nói mơ hồ của thần linh], đức Phật nói rất rơ ràng! Phật pháp dạy người ta sanh vào thế gian này, luân hồi trong lục đạo, thật sự có hai loại:

          1) Một loại là do nghiệp lực. Nghiệp lực chủ tể sự luân hồi. Nghiệp lực là ǵ? Báo ân, báo oán, đ̣i nợ, trả nợ, vĩnh viễn làm những chuyện ấy, vĩnh viễn làm chẳng xong! V́ thế, Phật pháp nói ví von là “sanh tử b́ lao” (生死疲勞, sanh tử nhọc nhằn, mệt mỏi), mệt chết luôn! Quư vị chẳng thoát khỏi lục đạo luân hồi th́ sẽ là hiện tượng này.

          2) Loại người thứ hai là ǵ? Chính là Phật, Bồ Tát thị hiện. Chúng sanh có cảm, Phật, Bồ Tát sẽ ứng. Đó là “thừa nguyện tái lai” (乘願再來, nương theo nguyện mà trở lại), các Ngài chẳng do nghiệp lực. Các Ngài đến để làm ǵ? Các Ngài đến giúp đỡ chúng sanh khổ nạn. Thần linh th́ nói là họ đến phục vụ, đến làm phận sự, chẳng phải là đến trả nợ. V́ thế, có hai loại người.

          Chúng ta đến thế gian này, cớ sao mà đến? Chư vị nhất định phải hiểu, chúng ta do nghiệp lực mà đến. Hễ là phàm phu, [sẽ là] do nghiệp lực mà đến. Rất may mắn là đời này gặp gỡ Phật pháp; do gặp gỡ Phật pháp, hăy nên chuyển nghiệp lực thành nguyện lực. Tôi đă nói lời này mấy chục năm, chuyển bằng cách nào? Đời này chúng ta đă hiểu rơ, giác ngộ, nguyện lực của ta vượt trỗi nghiệp lực, sẽ chuyển biến. Thừa nguyện tái lai, chẳng cần nói đến chuyện ta đă sanh sang thế giới Cực Lạc rồi mới quay lại. Đó là thừa nguyện tái lai. Trong hiện thời là nâng cao nguyện lực, khiến cho nguyện lực của chúng ta to hơn nghiệp lực, thân này sẽ chuyển, thật sự chuyển. V́ sao? Thân này có thọ lượng.

          Quư vị thấy tiên sinh Liễu Phàm được Khổng tiên sinh đoán mạng, đoán chuẩn xác! Hiện thời, tôi nghe nói gần đây có phát hành một bộ đĩa CD, mỗi vị đồng học đều có thể thỉnh một bộ về nhà. Bộ phim ấy chỉ có hai đĩa, chính là giáo dục nhân quả. Tôi luôn hy vọng các đồng học sẽ lấy về, hằng ngày coi đó như công khóa để thực hiện, mỗi ngày nghe một lần. Quư vị nghe hai đĩa ấy hai tiếng đồng hồ, mỗi ngày thực hiện công khóa ấy hai tiếng đồng hồ, mỗi ngày đều chẳng gián đoạn. Nếu nghe hơn ba trăm lần, sẽ nẩy sanh hiệu quả. Hiệu quả ấy có thể hữu ích cho quư vị, chuyển biến nghiệp lực của quư vị thành nguyện lực, quư vị sẽ sanh tử tự tại. Quư vị thấy thọ mạng của tiên sinh Liễu Phàm là năm mươi ba tuổi, suốt đời ông ta nghiêm túc nỗ lực đoạn ác tu thiện, thay đổi quan niệm của chính ḿnh, nguyện lực to hơn nghiệp lực, ông ta sống đến bảy mươi bốn tuổi, sống lâu thêm hai mươi năm. Ông ta c̣n có thể sống lâu hơn nữa hay không? Có thể chứ! Nếu nguyện lực to hơn nữa. [Nguyện lực của] ông ta c̣n chưa đủ lớn, [nếu đủ lớn], sẽ chuyển được!

          Khởi tâm động niệm chẳng v́ chính ḿnh, mà v́ chúng sanh. Tiên sinh Liễu Phàm khởi tâm động niệm v́ chính ḿnh, v́ chúng sanh, vẫn chẳng quên mất chính ḿnh, [thế mà] đă chuyển. Chuyện này là một tấm gương rất hay cho chúng ta. Tôi đă thưa tŕnh cùng các đồng học, giảng kinh trong nhiều năm qua, chẳng biết đă thưa tŕnh bao nhiêu lần! Lúc tôi c̣n trẻ, có rất nhiều người đoán mạng cho tôi, ngay cả Cam Châu Hoạt Phật cũng nói tôi đoản mạng: Thọ mạng của tôi chỉ có bốn mươi lăm tuổi. Năm nay, tôi đă tám mươi tuổi, sống lâu hơn ba mươi lăm năm, vượt trỗi tiên sinh Liễu Phàm. Tiên sinh Liễu Phàm sống thêm hai mươi năm, tôi hơn cụ mười lăm năm, chuyển biến đấy! Trước khi tṛn tám mươi tuổi, có lúc c̣n nghĩ ngợi v́ chính ḿnh, thỉnh thoảng c̣n nghĩ. Sau tám mươi tuổi, chẳng c̣n nghĩ đến chuyện của chính ḿnh, niệm nào cũng [nghĩ tưởng] v́ chúng sanh khổ nạn làm thêm một ít chuyện. Đấy là như thần linh đă nói.

          Do vậy, làm như thế nào để chuyển nghiệp lực của chính ḿnh thành nguyện lực, phải hiểu đạo lư này! Nếu chẳng hiểu đạo lư này, quư vị đă phí công học Phật rồi! Quư vị có thể thật sự y giáo phụng hành, thật thà thực hiện, vun quén vững bền ba căn cội trong nền văn hóa truyền thống, tôi tin là từ ba năm đến năm năm, nguyện lực của quư vị sẽ vượt trỗi nghiệp lực. V́ sao chẳng làm? Ba căn cội ấy, căn cội nhà Phật là Thập Thiện Nghiệp Đạo, phải nghiêm túc học tập; căn cội của Nho là Đệ Tử Quy, căn cội của Đạo là Cảm Ứng Thiên. Cả ba căn cội ấy tiên sinh Liễu Phàm đều có, tuy có căn bản về Nho, chẳng chuyển được. Ông ta học Nho, là người tốt, tôi tin là những điều Đệ Tử Quy đă dạy, chắc chắn ông ta đều làm được. Trước khi gặp thiền sư Vân Cốc, trong hai mươi năm, vận mạng hằng năm của ông ta đều hoàn toàn đúng như Khổng tiên sinh đă đoán định, chẳng biến hóa mảy may nào, chuẩn xác tột bậc! Gặp gỡ thiền sư Vân Cốc, thiền sư Vân Cốc đă dạy ông ta căn cội của Phật và Đạo.

          Đạo là ǵ? Công Quá Cách là Đạo. Những điều mục trong Công Quá Cách chính là [nội dung của] Cảm Ứng Thiên. Đối với Thập Thiện, Tam Quy, Ngũ Giới, Lục Độ, Tứ Nhiếp trong nhà Phật, tôi tin là thiền sư Vân Cốc chắc chắn truyền dạy ông ta những khoa mục cơ bản nhất ấy. Ông ta rất khó có, hết sức nghiêm túc, hết sức nỗ lực, ông ta làm được, vận mạng biến đổi toàn bộ! Trong mạng của ông ta chẳng có công danh. “Chẳng có công danh” tức là trong mạng chẳng có Cử Nhân, chẳng có Tiến Sĩ, bằng cấp của ông ta chỉ có thể đạt đến Tú Tài, đến Cống Sanh, chẳng có Cử Nhân, chẳng có Tiến Sĩ. Nay chúng ta gọi “công danh”“học lịch” (bằng cấp). Đến cuối cùng, ông ta thi đỗ Cử Nhân, cũng đỗ Tiến Sĩ. Trong mạng của ông ta vốn chẳng có những thứ ấy! Trong mạng chẳng có con cái; về sau, ông ta cầu con cái, thật sự sanh được một đứa con, đều là trong mạng chẳng có! Về sau, ông ta làm tri huyện Bảo Tŕ, trong mạng cũng chẳng có! Đó là một huyện lớn. Mạng của ông ta có thể làm Tri Huyện, nhưng thời gian cũng chẳng dài, chỉ có ba năm, lại c̣n là một huyện rất nhỏ, là một huyện rất nhỏ ở ven tỉnh Tứ Xuyên. Bảo Tŕ là một huyện lớn thuộc về kinh thành.

          Đấy là nguyện lực vượt trỗi nghiệp lực, đấy mới thật sự là “đắc kiên cố thân” (đạt được thân kiên cố). Mạng của quư vị bất hảo, thường xuyên bị bệnh tật, khổ nạn vấn vít, nếu nguyện lực lớn hơn nghiệp lực, những thứ ấy thảy đều chẳng có. Quư vị có thể chẳng ngă bệnh, cần đến tấm thân khỏe mạnh, v́ sao? Quư vị v́ chúng sanh khổ nạn phục vụ. Để phục vụ, chẳng có thân thể sẽ không được. Thân thể là công cụ, đều đă sửa đổi.

          Chúng ta thấy một cụ già, suốt đời phát nguyện, đúng là nguyện lực vượt trỗi nghiệp lực, là một khuôn mẫu rất tốt, tức là cư sĩ Hứa Triết ở Tân Gia Ba. H́nh như mấy hôm nay bà ta sang Thượng Hải. Năm nay đă một trăm lẻ tám tuổi, vẫn phục vụ xă hội. Thân thể bà rất khỏe, hằng ngày ăn một bữa, cuộc sống hết sức đơn giản, tai mắt thông tỏ. Khi bà một trăm lẻ một tuổi, đă đến chỗ tôi xin quy y. Tôi truyền Tam Quy, Ngũ Giới cho bà cụ. Năm nay cụ đă một trăm lẻ tám tuổi. Hằng ngày, cụ phải chăm sóc hơn hai mươi người. Hơn hai mươi người ấy đều hết sức nghèo khổ, đều đă già, ông già, bà cả, chẳng có con cái chăm sóc, cuộc sống hết sức gian nan, bà cụ chăm sóc họ. Bà cụ đă một trăm lẻ tám tuổi, chiếu cố người già bảy, tám mươi tuổi, tai mắt thông tỏ, hành động nhanh nhẹn. Hằng ngày biếu gạo, biếu đồ ăn, biếu dầu cho hơn hai mươi người ấy.

          cụ đi khắp nơi t́m những đồng tham đạo hữu để quyên một ít tiền, bà cụ sẽ lo liệu. Tôi ở Tân Gia Ba, cũng thường giúp đỡ bà, bản thân bà không cần [tiêu xài ǵ], [sở dĩ bà quyên mộ tiền bạc là] để chăm sóc những người nghèo nàn đáng thương ấy. Bản thân bà chưa hề mua một bộ quần áo nào, từ đâu mà có quần áo để mặc? Lượm từ thùng rác! Người khác vứt đi, chẳng cần đến, bà nhặt về. Vừa vặn th́ mặc, chẳng vừa th́ sửa lại. Bản thân bà cũng sống cuộc đời nghèo hèn nhất. Bà bảo tôi: “Nếu tôi chẳng sống như vậy, ở chung với những người nghèo khổ ấy, [họ thấy tôi] là kẻ có tiền, có thế, là kẻ phú quư, sẽ tránh xa, chẳng dám tiếp cận”. V́ thế, muốn biến thành bạn bè, biến thành tri giao của họ, nhất định phải nghèo như họ, khổ như họ, họ sẽ rất hoan hỷ tiếp nhận. Đấy là thật sự đại từ đại bi. Những ǵ bà ta đă học thảy đều thực hiện trong cuộc sống, [thực hiện] lâu dài chẳng suy giảm! Đấy chính là tấm gương tốt đẹp, là khuôn mẫu tốt đẹp về “đắc kiên cố thân, tâm vô sở khuất” (được thân kiên cố, tâm chẳng khuất lấp).

          Lại nghĩ những ǵ bà ta đă có thể làm, chúng ta có thể làm được hay không? Đương nhiên là có thể. V́ sao? Đó là nguyện lực, chẳng phải là nghiệp lực. Nghiệp lực của mỗi người chúng ta khác nhau. Trong đời quá khứ, quư vị tu phước, tích lũy công đức, đời này quư vị sanh trong thế gian này để hưởng phước. Phước báo của quư vị là do đă tu tập trong đời quá khứ. Đời này, trong thế gian này, hứng chịu rất nhiều khổ nạn, nghèo túng, trắc trở, là do đời quá khứ đă tạo nghiệp bất thiện, chẳng có cách nào sửa đổi điều ấy! Do vậy, gọi là “nghiệp lực”. Trong đời này, chúng ta học Phật đă hiểu rơ, biết số mạng là có, nhưng vận mạng chẳng phải là đă h́nh thành sẽ bất biến. Bởi lẽ, trong số mạng có định số và có biến số. Trước khi tiên sinh Liễu Phàm gặp gỡ thiền sư Vân Cốc, đó là định số, v́ sao? Chính ông ta cũng chẳng tạo ác, nhưng cũng chẳng tu thiện, cho nên vận mạng mỗi năm được Khổng tiên sinh tiên đoán chuẩn xác dường ấy. Thiền sư Vân Cốc đă nói rất rơ ràng! Biến số là ǵ? Quư vị tạo ác, phước báo trong mạng quư vị bị hao tổn, bị biến hóa. Ví như Khổng tiên sinh đoán ông Liễu Phàm đậu hạng nhất, nhưng khi quư vị đi thi, đậu hạng ba, hoặc đậu hạng năm, thoái chuyển rồi, đó là ǵ? Quư vị đă tạo tác bất thiện. Nếu quư vị tạo điều thiện, tu thiện, trong mạng quư vị đáng lẽ đậu hạng ba, đột nhiên năm nay quư vị đỗ hạng nhất, đấy là đă tiến cao hơn!

          Do vậy, biến số là cộng, trừ, nhân, chia. Hằng ngày chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, thiện th́ cộng, ác th́ trừ, hằng ngày đều có cộng, trừ, nhân, chia! Nhưng mức độ cộng, trừ, nhân, chia chẳng lớn. Do vậy, tiên đoán vẫn rất chuẩn xác. Đại khái là chẳng sai lệch. Nếu là đại thiện hay đại ác, sẽ sai biệt rất lớn. Đại thiện bèn nhân lên, đại ác bèn chia ra, biến hóa hết sức to lớn. Ví như trong mạng quư vị đáng lẽ sống đến tám mươi tuổi, nhưng sáu mươi tuổi đă chết, thọ mạng bị hụt mất hai mươi năm, khuyết giảm! Nếu quư vị tích lũy đại thiện, thọ mạng là tám mươi năm, quư vị có thể sống đến trăm tuổi, tức là cộng thêm hai mươi năm. V́ thế, từ trong khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác mà có cộng, trừ, nhân, chia. Thiện là ǵ? Ác là ǵ? Phàm những ǵ lợi ích chúng sanh, lợi ích xă hội th́ là thiện. Lợi ích chính ḿnh, tổn hại xă hội th́ là ác. Do vậy, nhất định phải hiểu: Tổn người lợi ḿnh, chắc chắn là ác; bỏ ḿnh v́ người chắc chắn là thiện. Đoạn ác hành thiện th́ mới là thật sự đạt được thân kiên cố!

          V́ chính ḿnh, ví như trong mạng của quư vị, tức trong vận số của con người, các nhà tướng số đều biết cứ mỗi năm năm sẽ chuyển biến một lần, tức là mạng cứ năm năm chuyển biến một lần. Trong một đời này, quư vị có năm năm rất tốt đẹp, và có năm năm rất tồi tệ. Đấy là cứ lấy mỗi năm năm trong suốt một đời quư vị để so sánh, nhất định là có [t́nh trạng như vậy]. Nhưng phước báo của mỗi cá nhân khác nhau, năm năm tốt nhất của Giáp có thể thua năm năm tốt nhất của Ất, Thậm chí năm năm kém cỏi nhất của Ất vẫn c̣n tốt đẹp hơn năm năm tốt nhất của Giáp. Đấy là v́ trong đời quá khứ đă tu tập khác nhau. Người phương Đông nhấn mạnh chuyện này! Nay quư vị xem báo cáo của cư sĩ Chung Mậu Sâm, [sẽ thấy] người phương Tây cũng đă nêu ra [nhận định ấy]. Hơn nữa, c̣n từ thôi miên mà nh́n lại đời quá khứ, c̣n có kẻ đến từ súc sanh đạo, rất nhiều! C̣n có kẻ đến từ ngoài hành tinh, túc thế tiền sanh, họ sống tại tinh cầu khác, sau khi đă chết từ bên đó, linh hồn của họ bay tới địa cầu, đến địa cầu lại t́m kiếm thân thể. Kiếm thân thể chính là đầu thai, đến chỗ này!

          Do vậy có thể biết, linh tánh vĩnh viễn chẳng sanh diệt của chúng ta có không gian hoạt động rất lớn, không chỉ hạn cuộc nơi địa cầu, cũng chẳng hạn chế trong Thái Dương Hệ, cũng chẳng hạn chế trong thế giới Sa Bà. Thế giới Sa Bà có mười ức hệ Ngân Hà, đều là phạm vi sống của chúng ta. Nếu quư vị nói đến chuyện niệm Phật văng sanh thế giới Cực Lạc; thế giới Cực Lạc là một đại thế giới khác, càng xa hơn! V́ thế, đức Phật đă dạy rất hay, hết thảy các cơi Phật trong khắp pháp giới, hư không giới đều là chỗ để chúng ta xả thân, thọ thân. “Xả thân” là chúng ta ĺa khỏi nơi đây; “thọ thân” là chúng ta đến chỗ kia, lại t́m một thân thể, linh tánh vĩnh viễn bất diệt. V́ thế, đă hiểu rơ, đă giác ngộ, phải làm một người tự do tự tại, Phật pháp nói là giải thoát. “Giải thoát” là ǵ? Giải thoát từ trong nghiệp lực, tự do tự tại là nguyện lực, [hay cũng có thể nói] “nguyện lực là tự do tự tại”. Thật sự mong phát khởi Tứ Hoằng Thệ Nguyện của chư Phật, Bồ Tát, “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Nói theo kiểu hiện thời, “độ” () là giúp đỡ, hiệp trợ vô lượng vô biên chúng sanh trọn khắp pháp giới hư không giới.

          Chúng sanh khổ nạn nhiều lắm! Nói thật thà, không chỉ là thế giới này của chúng ta, mà thế giới nơi phương khác cũng thế, kẻ làm ác nhiều, làm lành ít, quyết định là thiện ác hỗn tạp. V́ sao? Thế giới mới có thể tồn tại. Nếu trong thế giới này, chúng tôi nói là “tinh cầu” cho mọi người dễ hiểu, chúng sanh trong tinh cầu này hoàn toàn đều làm ác, chẳng làm lành, tinh cầu này sẽ bùng nổ, sẽ bị hủy diệt, chẳng thể duy tŕ, đạo lư ở chỗ này! Phàm tinh cầu này c̣n có thể tồn tại, nhất định là thiện ác xen lẫn. Dẫu thiện ít, ác nhiều cũng chẳng sao, nó vẫn có thể tồn tại. Đến khi thiện quá ít so với ác, chắc chắn nó sẽ bị hủy diệt, chúng ta gọi chuyện này là “ngày tàn của thế giới”. Lư và Sự đều phải hiểu rơ ràng, minh bạch. Trong phẩm Thế Giới Thành Tựu và Hoa Tạng Thế Giới thuộc phần đầu kinh Hoa Nghiêm đă nói rất cặn kẽ, nói rất nhiều. Có thế giới thuần thiện hay không? Có chứ! Nó vĩnh viễn tồn tại. Thế giới Cực Lạc vĩnh viễn tồn tại, thuần thiện, chẳng ác. Thế giới Hoa Tạng là thuần thiện, là cơi Thật Báo của Tỳ Lô Giá Na Phật, thuần thiện! Thế giới thuần thiện như thế giới Cực Lạc th́ trong vũ trụ cũng chẳng ít. Khi nào chúng ta có thể đến chơi, đến thăm những thế giới ấy? Quư vị hội đủ điều kiện th́ được, điều kiện là ǵ? Kiến tánh, [tức] minh tâm kiến tánh. Minh tâm kiến tánh th́ quư vị mới đắc đại tự tại. Minh tâm kiến tánh bằng cách nào?

          Học Phật và Phật học là hai chuyện [khác nhau]. Cũng có đại học ở ngoại quốc đến t́m tôi, nhưng tôi không đi. V́ sao không đi? [Họ theo đuổi] Phật học, tức là coi Phật học như một thứ học vấn để nghiên cứu, chẳng nói đến chuyện y giáo tu hành. Quư vị thấy những người đó thường được gọi là Phật học gia, là tiến sĩ Phật học, hoặc chuyên gia Phật học, nói đến nỗi hoa trời rơi lả tả, đạo lư rành rẽ, có nghe nói người nào trong số ấy khi lâm chung sẽ có thụy tướng hay chăng? Chưa từng nghe! Học Phật là y giáo phụng hành, khi văng sanh, tướng lành ǵ cũng đều có, thật sự thành tựu! Nói theo Lư, phàm phu thành Phật ngay trong một niệm, nơi Sự cũng là như thế, chỉ là quư vị chưa chuyển được ư niệm. Buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quư vị vốn đă thành Phật. Quư vị thấy đơn giản lắm! Chẳng buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quư vị là phàm phu, sẽ xả thân, thọ thân trong lục đạo, hoàn toàn do nghiệp lực chi phối quư vị. Nay chúng ta hy vọng nguyện lực sẽ lớn hơn nghiệp lực, vượt trỗi nghiệp lực trên một mức độ lớn. Trong một đời hiện tại này, hăy toàn tâm toàn lực giúp đỡ chúng sanh khổ nạn, đời sau quyết định sanh về Tịnh Độ. Đấy là học Phật, chẳng phải là Phật học. Đấy là thật sự “đắc kiên cố thân”, thật sự “tâm vô sở khuất”. “Tâm vô sở khuất” chính là tâm tưởng sự thành, mọi chuyện như ư. Nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói bài kệ này tới đây!

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem tiếp bài kệ thứ hai:

 

          (Kinh) Nhược kiến vương đô, đương nguyện chúng sanh, công đức cộng tụ, tâm hằng hỷ lạc.

          ()見王都。當願眾生。功德共聚。心恆喜樂。

          (Kinh: Nếu thấy kinh đô, nguyện cho chúng sanh, công đức cùng nhóm, tâm luôn hỷ lạc).

 

          “Vương đô” (王都) là thành thị nơi quốc vương và chư hầu cư trụ. Trong phần trước là thành quách thông thường. Ở đây, kinh nói rơ là “vương đô”, tức là chỗ cư trụ của quốc vương hoặc chư hầu. Dẫn phát đại nguyện “đương nguyện chúng sanh, công đức cộng tụ, tâm hằng hỷ lạc” (nguyện cho chúng sanh, công đức cùng nhóm, tâm luôn vui sướng). V́ đô thành, vào thời cổ gọi là “kinh sư” (京師) hoặc “kinh thành” (京城). “Kinh” () có nghĩa là “lớn”. Đô thị lớn, thành thị lớn được gọi là “kinh thành”. Tất nhiên là chỗ con người và văn hóa hội tụ, là chỗ tinh hoa của một quốc gia. Nó không chỉ trung tâm chánh trị, mà nhất định c̣n là trung tâm công thương, mậu dịch, nhất định là trung tâm học thuật. Từ xưa tới nay, Trung Hoa coi trọng học thuật nhất. Ngạn ngữ có câu “cầu tài ư thị”, “thị” () là chợ, là chỗ thị trường buôn bán. [Câu nói ấy có nghĩa là] nếu quư vị muốn cầu tiền tài, nhất định là phải cầu ở chỗ nay ta gọi là đô thị công thương nghiệp. “Cầu danh tại triều”, “triều” () là vương đô. Đấy là nói học thuật và đức hạnh của quư vị ở chỗ ấy mới có thể so sánh với người khác, mới vượt trỗi người khác được! Đấy là nơi tập hợp nhân tài cả nước. V́ thế, dẫn phát “công đức cộng tụ” (công đức cùng nhóm họp) trong lời đại nguyện.

          Từ hai câu hoằng nguyện này, chúng ta biết điều trọng yếu nhất trong hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian chính là đức hạnh, tức là giáo dục như văn hóa truyền thống của Trung Hoa đă nói. V́ thế, thủ đô được gọi là “kinh sư”, “sư” () có nghĩa là khuôn phép, học làm thầy người khác! Nơi chốn hoặc thành thị đế vương cư trụ chính là khuôn mẫu, là gương mẫu cho tất cả các thành thị trong cả nước, nên gọi là “kinh sư”. Ở đấy, nhân tài đông đảo, giáo dục tốt đẹp, dạy dỗ tốt lành! Đấy chính là như trong năm ngàn năm qua, [đă có quan niệm] “kiến quốc, quân dân, giáo học vi tiên” (xây dựng đất nước, cai trị nhân dân, dạy học làm đầu). Tôi thêm vào câu trên đây một câu nữa, câu ấy cũng do cổ nhân đă nói, từ hai câu, nay tôi nói thành ba câu: “Kiến quốc, quân dân, tu thân vi bổn, giáo học vi tiên” (Xây dựng đất nước, cai trị nhân dân, tu thân làm gốc, dạy học làm đầu). Dạy học mà nếu chính ḿnh chẳng tu thân, lấy ǵ để dạy? Tu thân là ǵ? Chính ḿnh làm được trước đă. Chẳng làm được, chẳng cần phải nói nữa. Nói ra, chẳng có ai tin tưởng! V́ thế, phải làm từ chính ḿnh trước đă! Khổng Mạnh tự ḿnh làm được, nói cho kẻ khác nghe, dạy người khác, người ta tin tưởng, bằng ḷng tiếp nhận, bằng ḷng học tập theo. Thích Ca Mâu Ni Phật tự ḿnh làm được, cho nên mới có nhiều người học theo Ngài như vậy! Chính ḿnh chẳng làm được, không được rồi! Lời nói và việc làm của quư vị chẳng giống Phật, nói một đằng, làm một nẻo, ai tin tưởng quư vị? Nói khó nghe một tí, ai tôn trọng quư vị? Ai coi trọng quư vị?

          V́ thế, thầy luôn được gọi là “phạm” (, khuôn phép). Tư tưởng, ngôn hạnh và cử chỉ của thầy là khuôn mẫu cho học tṛ. Không chỉ là khuôn mẫu cho học tṛ, mà c̣n là khuôn mẫu cho xă hội. Tuy thầy thanh bần, v́ chẳng theo đuổi sự nghiệp sản xuất, quá nửa là lo dạy học. Dạy học chính là Pháp Bố Thí. Bản thân Thích Ca Mâu Ni Phật sau khi đă thành tựu đức hạnh và học vấn, những nhu cầu trong cuộc sống đều nhờ người khác cúng dường. Cúng dường chỉ mong vừa đủ, trọn chẳng cầu quá lố. V́ thế, đối với nhu cầu trong cuộc sống, đức Phật đă nói rất rơ ràng, rất minh bạch, thức ăn, quần áo, ngọa cụ (đêm ngủ phải trải đệm), thuốc men khi ngă bệnh, bốn thứ ấy được gọi là “tứ sự cúng dường”. Chẳng mong cầu xa hoa, có ǵ chẳng vừa ư? Ai chẳng hoan hỷ? Cuộc sống vật chất hết sức đơn giản, rất dễ thỏa măn. Tâm Ngài định, Định sanh Huệ, do Định mới có thể khế nhập, chẳng có những nỗi tư lự nào khác. Học vấn thế gian và xuất thế gian thảy đều là như vậy, chúng ta phải hiểu điều này!

          Do vậy, đại chúng trong xă hội cúng dường Ngài, Ngài có cống hiến ǵ cho xă hội? Cống hiến rất to lớn! Kẻ b́nh phàm chẳng biết, nhưng đế vương biết. Kẻ b́nh phàm chẳng biết tôn kính, đế vương tôn kính, đế vương tôn Ngài làm thầy, gọi Ngài là quốc sư. V́ sao? Ngài là tấm gương cho nhân dân cả nước, ai nấy đều có thể học tập theo Ngài, [ngơ hầu] có đạo đức giống như Ngài. Nay chúng ta nói là “học tập luân lư, đạo đức, nhân quả, trí huệ”, Ngài là tiêu chuẩn. Ở chỗ này, từ thời cổ đă có câu ngạn ngữ: “Hiền nhân, quốc chi bảo” (Hiền nhân là của báu của đất nước). Tuy cuộc sống vật chất của Ngài thanh bần, [nhưng Ngài là] quốc bảo! Quốc vương hy vọng xă hội an định, hy vọng thiên hạ thái b́nh, công tác ấy phải do ai thực hiện? Công tác ấy dành cho thầy. Đấy mới thật sự thấu hiểu giáo huấn cổ xưa, “kiến quốc, quân dân, giáo học vi tiên” (kiến thiết đất nước, cai trị nhân dân, giáo học làm đầu).

          Tại Trung Hoa, mấy ngàn năm qua, có đế vương nào chẳng biết? Đế vương nào chẳng tuân hành? Nếu ông ta chẳng tuân theo, sẽ mất chánh quyền, sẽ bị kẻ khác thay thế. Quư vị thấy tại Trung Hoa, các hoàng đế cuối mỗi triều đại cũng hiểu rơ, nhưng họ chẳng tôn trọng, cứ tùy thuận tập khí phiền năo của chính ḿnh, tham cầu hưởng thụ, chẳng tôn trọng luân lư, đạo đức. Kết quả là chánh quyền ấy bị người khác lật đổ, bị người khác thay thế. Nếu tôn trọng, chư vị phải hiểu, nhân dân chẳng muốn tạo phản. Tạo phản là chuyện rất khổ. Tạo phản là do bị ép buộc bất đắc dĩ mới làm chuyện ấy! Tuy nhà vua chẳng tốt, chỉ cần c̣n có thể sống được, th́ sẽ có thể duy tŕ an định. Đối với những người theo đuổi công việc dạy học, quư vị có thể tôn trọng họ ba phần, họ cũng rất hài ḷng, xă hội bèn có thể an định, có thể ḥa b́nh. Nếu quư vị có tám phần, chín phần tôn trọng học thuật, tôn trọng những người có học thức, thiên hạ sẽ đại trị, khẳng định [là như thế]! V́ thế, cội nguồn b́nh trị hay loạn lạc ở ngay chỗ này, quư vị có coi trọng giáo dục luân lư, đạo đức, nhân quả hay không?

          Biểu hiện rơ rệt nhất là tại thủ đô, tại kinh sư. Vương đô là kinh sư, ở đấy, biểu hiện rơ rệt nhất: Nhà vua tôn sư trọng đạo! Trong cổ lễ Trung Hoa, do lănh thổ rộng lớn, dân cư đông đúc, trong quá khứ là mấy ức, hiện thời là mười mấy ức. Trong khu vực châu Á, chẳng nước nào sánh bằng Trung Hoa; v́ thế, từ xưa, Trung Hoa xưng là “thiên triều”. Tuy là nói tự tôn tự đại, nhưng nó có giáo học luân lư, đạo đức. Tuy là thiên triều, nhưng chẳng dám khinh thường những tiểu quốc láng giềng ở bốn phía. Những nước nhỏ láng giềng đến Trung Hoa triều cống, tức là triều cống hoàng đế, hoàng đế đối xử với họ lễ độ có thừa, chẳng lơ là, khinh mạn, toàn là đối xử theo đúng lễ giữa chủ và khách. Các nước nhỏ biếu một chút cống phẩm, hiện thời gọi cống phẩm (貢品) là lễ vật, nhưng đế vương Trung Hoa tỏ ra phong độ của đại quốc, lễ vật tặng lại nhất định phải ban tặng nhiều hơn đồ tiến cống. Cũng có nghĩa là quyết định chẳng thể chiếm đôi chút tiện nghi của kẻ khác, phải đối đăi trọng hậu đối với tân khách. Đấy là ǵ? Đấy là thực hiện giáo dục luân lư, đạo đức. V́ thế, [kinh đô] chính là chỗ văn vật tụ hội.

          Trong các huyện thị trên cả nước, thực hiện các biện pháp chánh trị đều học tập theo vương đô, phỏng theo phương thức thi hành chánh trị ở vương đô. Do vậy, tại vương đô có trường Thái Học (太學), tại các huyện thị có huyện học (縣學, trường huyện). Tiệc tùng chánh thức, chỗ ngồi trong yến tiệc có tôn ty. Đại khái là những ghế hàng đầu nhất định dành cho người đọc sách, dành cho thầy. Do đó, đối với địa vị trong xă hội xưa kia, người đọc sách rất nghèo, nhưng rất có địa vị trong xă hội, sĩ, nông, công, thương, “sĩ” () là người đọc sách. “Học nhi ưu tắc sĩ” (Học vấn ưu tú bèn làm quan). [Chữ Sĩ (, quan lại)] là chữ Sĩ () thêm chữ Nhân () vào bên cạnh, có nghĩa là “tùng chánh” (從政, ra làm quan). Cũng có nghĩa là những cán bộ trong chánh quyền của nước nhà được chọn lựa từ nơi đâu? Từ những ai học thuật, luân lư, đạo đức, nhân quả, trí huệ đều trọn đủ, chọn lựa từ những người ấy, tuyển chọn, đề bạt nhân tài! Nhà trường là nơi để dạy dỗ bồi dưỡng cán bộ cho nước nhà, đó gọi là “học vấn ưu tú bèn được quốc gia chọn lựa, phân phối công việc cho quư vị”.

          Nhưng trong thành tích chánh trị, Trung Hoa lại chẳng giống ngoại quốc. Quư vị làm quan ở địa phương này, điều quan trọng nhất nhà vua đ̣i hỏi quư vị là tuyển chọn, đề bạt nhân tài cho nước nhà. Do vậy, nhân tài tại Trung Hoa là tuyển cử. Sự tuyển cử ấy chẳng phải do dân chúng bỏ phiếu, chẳng phải vậy! Tất nhiên là do quan viên địa phương ngấm ngầm điều tra, chọn lựa phương thức ấy. “Ngấm ngầm điều tra”những quan viên ấy dân chúng b́nh phàm hoàn toàn chẳng nhận biết, chẳng như hiện thời có báo chí, có TV, có thể trông thấy họ thường xuyên, trước kia chẳng có. Nếu họ mặc quan phục, quư vị sẽ biết người đó là quan. Nếu họ ăn mặc như b́nh dân, về căn bản là quư vị sẽ chẳng nhận biết. V́ thế, “ngấm ngầm điều tra” là mặc quần áo b́nh dân, đi xem xét, nghe ngóng các nơi. Tuyển chọn, đề bạt có tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn gồm hai điều kiện, tức hiếu và liêm. Nghe ngóng những thanh thiếu niên ở nơi ấy có hiếu thuận với cha mẹ hay không, đặc biệt rơ ràng là hiếu thuận đối với cha mẹ. Lại nghe ngóng coi kẻ đó có liêm khiết, trọn chẳng khinh thường, dễ dăi tiếp nhận đồ biếu tặng hoặc cúng dường của kẻ khác, chẳng tiếp nhận [cúng dường hay không]?  

Đối với hai điều kiện ấy, điều kiện thứ nhất là kẻ đó có thể hiếu thuận với cha mẹ, sẽ có thể tận trung với nước nhà, sẽ có thể yêu thương, che chở nhân dân. Liêm khiết th́ sẽ chẳng tham ô. V́ thế, điều kiện để quốc gia chọn lựa, đề bạt cán bộ là hai điều ấy. Hai điều kiện ấy chính là điều kiện cơ bản. Quư vị thấy từ xưa tới nay, từ đời Hán đă quy định cử Hiếu Liêm. Chế độ ấy từ đời Hán măi cho đến đời Thanh vẫn tuân theo thể lệ ấy. Quan viên địa phương thường đi khắp nơi nghe ngóng, nơi đây có hiếu tử, biết liêm khiết, sẽ đề bạt lên chánh phủ, tâu lên hoàng thượng để đưa kẻ ấy về vương đô học hành trong trường Thái Học. Đấy là vinh dự hết sức cao. V́ vào học trong trường Thái Học toàn là do nhà nước chi trả, trước kia nói là “quan phí” (官費), chính ḿnh chẳng cần đóng tiền, quốc gia bồi dưỡng quư vị.

          Trên thực tế, ở huyện, trong trường huyện đă là quan phí. Trường học ở huyện cũng là tuyển chọn [những sĩ tử] phù hợp hai điều kiện hiếu và liêm ấy. Trước hết là tuyển vào học tại trường huyện, có thành tích ưu tú, khác lạ tại trường huyện, sẽ cử đến học trường Thái Học ở kinh sư. Trong danh sách hạn định sĩ tử đi học, có thể là một huyện chỉ có thể cử một người, lại c̣n chẳng phải là hằng năm. [Nếu cử] hằng năm, Trung Hoa có đến mấy ngàn huyện, nhà trường (trường Thái Học) sẽ không thể chứa nổi! Do vậy, thông thường dường như là ba năm, cứ ba năm có thể cử một người. Hằng năm, tại trường huyện đều mở khoa thi, người nào luôn đỗ đầu, điều quan trọng nhất trong khảo thí chính là phẩm đức và học thuật của quư vị đều xếp hàng đầu suốt ba năm, quư vị sẽ có thể được chọn vào trường Thái Học [là chỗ] nhân tài tụ tập.          

          Trong Phật pháp, chúng ta phải hiểu sách vở của chúng ta là kinh Phật, chẳng thể quên mất Phật pháp. Phật pháp chọn lựa nhân tài theo tiêu chuẩn nào? Trong giáo pháp Đại Thừa đă nói quá nhiều, “phát Bồ Đề tâm”, đấy là tiêu chuẩn. Phát Bồ Đề tâm, nói thông thường là Tứ Hoằng Thệ Nguyện, thứ nhất là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, đấy là Vô Thượng Bồ Đề tâm. Quư vị phải phát nguyện độ các chúng sanh khổ nạn. Nói theo kiểu hiện thời, “độ” chính là dạy học. V́ sao người ta có khổ? Khổ do mê mà có; mê hoặc, điên đảo, đối với hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian đều nghĩ sai, nh́n sai, nói sai, làm sai, chuốc lấy ác báo. Đấy là nhân quả báo ứng! Phải giúp họ ĺa khổ được vui bằng cách nào? Giúp họ giác ngộ, giác là cái nhân của lạc. Lạc là cái quả của giác. Giống như vậy, cái nhân của khổ là mê, quả của mê là khổ. Do lẽ này, đức Phật giúp chúng sanh ĺa khổ được vui bằng phương pháp nào? Sử dụng giáo học, giáo học được gọi là Pháp Bố Thí.

          Trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường nói đến chuyện “giảo lượng bố thí” (較量布施, so lường sự bố thí), “giảo” () là so sánh. Kinh Kim Cang mọi người quen thuộc nhất, đọc phổ biến nhất, trong kinh đă nói [về chuyện giảo lượng công đức bố thí] rất nhiều! Bố thí bảy báu đầy khắp đại thiên thế giới, đấy là nói tỷ dụ, chẳng tuyệt vời lắm ư? Đó là phước báo to cỡ nào! Bố thí bảy báu đầy ắp đại thiên thế giới chẳng sánh bằng người nói bốn câu kệ, công đức của Pháp Bố Thí to lớn. Đấy là đạo lư ǵ vậy? Bảy báu trọn khắp đại thiên thế giới là vật chất, vật chất có thể giải quyết những thiếu hụt nghèo túng trong cuộc sống vật chất của quư vị, có thể giúp đỡ về phương diện ấy, nhưng chẳng thể giúp quư vị liễu sanh tử, chẳng thể giúp quư vị thoát tam giới. Quư vị chỉ có thể hưởng thụ trong đời này, chẳng thể giúp cho đời sau được. V́ thế, bố thí bảy báu trong đại thiên thế giới là có hạn lượng. Nhưng đối với bốn câu kệ trong kinh Phật, nếu người ấy thật sự nghe hiểu, nghe minh bạch, lập tức khai ngộ, công đức ấy quá to! Hễ khai ngộ th́ sao? Người ấy không chỉ là vượt thoát lục đạo, mà c̣n vượt thoát mười pháp giới, những nỗi khổ trong lục đạo và mười pháp giới người ấy thảy đều vượt thoát. Có những tấm gương nào hay không? Trong kinh giáo, những tấm gương như vậy quá nhiều! Tại Trung Hoa, nổi tiếng nhất là tấm gương của Thiền Tông Lục Tổ Huệ Năng đại sư, rất nhiều người biết vị này. Tại Bắc Kinh, có một vị đồng tu trong Phật môn là Cao cư sĩ, ông ta “thuyết thư”[2] hết sức hay, đă ghi âm thành bộ đĩa chuyên môn kể chuyện về Lục Tổ Huệ Năng. Đại khái là hai, ba tháng nữa, bộ băng ấy có thể hoàn thành. Trong tương lai, sau khi nhận được, ở đây có thể phát sóng, hăy nghe những câu chuyện về Huệ Năng đại sư.

          Thật vậy, Ngũ Tổ đă v́ Ngài nói bốn câu kệ, Ngài khai ngộ! Chuyện này chứng tỏ Pháp Bố Thí, Pháp Cúng Dường vượt trỗi Tài Bố Thí, Tài Cúng Dường chẳng thể sánh bằng, không thể sánh bằng được! V́ thế, chúng ta cũng biết, học Phật là tích lũy công đức. Phải chú ư điều này, công đức! Công đức chứ không phải là phước đức đâu nhé! Tu Tài Bố Thí là phước đức. Công đức là ǵ? Công () là công phu. Công phu tăng tấn, tăng cao hơn th́ quư vị sẽ đạt được. Ví như hiện thời mọi người học Đệ Tử Quy, trong Đệ Tử Quy có tất cả một trăm mười ba chuyện, quư vị thảy đều làm được, thực hiện được, đó là công đức của quư vị viên măn, quư vị đă làm được! Nếu nói “ta chỉ làm được một nửa, c̣n một nửa chưa làm được”, vậy th́ quư vị có được một nửa công đức, công đức của quư vị chẳng viên măn. Đấy là công đức.

          Do vậy, công đức chẳng có cách nào cho người khác, mà cũng chẳng có cách nào tu thay cho người khác. Người nào tu, người nấy đắc, đấy là công đức. Phước đức th́ chính ḿnh tu được nhiều, phước của ta có thể cho người khác chung hưởng, có thể chia sẻ cho người khác hưởng. Phước đức có thể thí, công đức chẳng thể! Nếu có thể thí công đức, chúng ta chẳng cần phải tu hành! Công đức của Thích Ca Mâu Ni Phật rất lớn, Ngài chia một tí cho chúng ta chẳng phải là đủ rồi hay sao? Bởi lẽ, công đức chẳng có cách nào [chia sẻ]. Thích Ca Mâu Ni Phật thật sự chia sẻ phước đức cho chúng ta hưởng. Trong phần trước, chúng ta đă đọc về chuyện này. Ví như người xuất gia trong hiện thời, nói thật ra, người xuất gia bất luận đức hạnh hay bất cứ phương diện nào vẫn đều là chẳng đủ, nhưng họ tiếp nhận mười phương cúng dường. V́ sao người trong mười phương cúng dường? Người trong mười phương thấy quư vị là đệ tử đức Phật; cho nên tín đồ Phật giáo đều vui ḷng cúng dường quư vị. Do phước đức của Thích Ca Mâu Ni Phật [mà được cúng dường như thế], chẳng phải là do chính ḿnh có phước, mà là hưởng phước của đức Phật, chớ nên không biết điều này! Quư vị có biết th́ mới sẽ cảm ân đức Phật, hăy nên nghiêm túc khéo y giáo tu hành, chẳng cô phụ Thích Ca Mâu Ni Phật. Chẳng cô phụ th́ chính ḿnh trong tương lai sẽ thành tựu, thành tựu nơi đạo nghiệp, xứng đáng với các tín chúng đă cúng dường. Nếu chính ḿnh chẳng thành tựu, lẽ nào chẳng có lỗi với họ? Trong tương lai, nếu chẳng như pháp, sẽ phải đọa lạc. Đọa lạc th́ trong tương lai phải trả nợ. Phật môn có một câu nói cũ mèm: “Kim sanh bất liễu đạo, phi mao đới giác hoàn” (Đời này chẳng liễu đạo, mang lông, đội sừng đền). Chính là bốn câu kệ: “Thí chủ nhất lạp mễ, đại như Tu Di sơn, kim sanh bất liễu đạo, phi mao, đới giác hoàn” (Một hạt gạo thí chủ, to như núi Tu Di, kiếp này chẳng liễu đạo, đeo lông, đội sừng đền). Nếu quư vị chẳng thể thành tựu, [chẳng] thành tựu tức là nếu quư vị chẳng thể thoát ĺa lục đạo luân hồi, do hiện thời quư vị tiếp nhận những thứ cúng dường của mười phương cho nên sẽ bị mắc nợ, trong tương lai, quư vị sẽ phải trả nợ!

          Xuất gia và tại gia chẳng khác nhau. Người tại gia tu hành có thể tiếp nhận sự cúng dường của người khác hay chăng? Có thể! Nếu họ thật sự cúng dường quư vị, quư vị thật sự niệm Phật văng sanh, họ cũng có phước. Văng sanh là thành Phật, hạ hạ phẩm văng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư chính là thành tựu viên măn ngay trong một đời, chẳng thể nghĩ bàn! Chẳng có duyên phận xuất gia, dùng thân phận tại gia bế quan tu hành, có thể tiếp nhận cúng dường hay không? Có thể! Có thí chủ bằng ḷng giúp cho quư vị thành tựu, quư vị hăy khéo tu hành, thật sự thành tựu để báo đáp. Xưa nay, trong ngoài nước, những trường hợp như thế rất nhiều. Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, cư sĩ Duy Ma là hàng tại gia. Thích Ca Mâu Ni Phật có một nhóm học tṛ, cư sĩ Duy Ma cũng có một nhóm học tṛ. Do vậy, nói tứ chúng đệ tử tại gia và xuất gia, đều có Tài Bố Thí, đều có Pháp Bố Thí, Phật pháp mới có thể hưng vượng, chúng sanh mới có thể đắc độ. “Đắc độ” th́ chúng sanh mới có thể ĺa khổ được vui, mới có thể phá mê khai ngộ, chớ nên không biết [điều này]!

          Vậy th́ đối với người xuất gia, nếu chúng ta hỏi, Thích Ca Mâu Ni Phật ba y một bát, trước kia người xuất gia chắc chắn chẳng thể cầm tiền bạc, họ dùng ǵ để bố thí? Họ dùng nội tài để bố thí. “Nội tài” (內財) là thân thể, giống như hiện thời nói là “làm công quả”. Thích Ca Mâu Ni Phật suốt đời “làm công quả”, Ngài v́ hết thảy chúng sanh. Nói theo cách hiện thời, [sẽ là] “mở lớp dạy học, chẳng thâu học phí”. Dạy học có phải hao tốn thể lực hay không? Có phải vận dụng tinh thần hay không? Thể lực và tinh thần là nội tài. Trong Tài Bố Thí, công đức của Nội Tài Bố Thí c̣n thù thắng hơn Ngoại Tài Bố Thí. Ngoại tài th́ sao? Vật ngoài thân dẫu quư vị bố thí nhiều đến mấy đi nữa, vẫn chẳng bằng chính ḿnh hao công tốn sức. Đấy gọi là Nội Tài. Phước báo của Nội Tài vượt trỗi Ngoại Tài. V́ thế, những vị xuất gia cũng có Tài Bố Thí. Rời khỏi thân thể này, rời khỏi tinh thần và trí huệ, quư vị dùng ǵ để bố thí cơ chứ? Do đó, bố thí có phạm vi hết sức rộng!

          Trong tứ chúng đệ tử th́ có vị xuất gia, có vị là tại gia. Học tṛ nói đến cúng dường th́ cũng có Tài Cúng Dường, và cũng có Pháp Cúng Dường. Sử dụng tài lực th́ là Tài Cúng Dường, vật chất cũng là Tài Cúng Dường. Dùng thân thể, nay nói là “làm công quả”, đến phục vụ những việc nhọc nhằn th́ là Nội Tài Cúng Dường. Giúp sức hoằng pháp, công tác hoằng pháp có rất nhiều chuyện vụn vặt, chư vị đều biết chuyện này, cũng thuộc về Pháp Cúng Dường, như trong hiện thời hết sức phổ biến. Trước kia, Pháp Cúng Dường là ǵ? Quư vị nghe buổi giảng này, nghe thật sự có tâm đắc, nghe hoan hỷ, quư vị đi khắp nơi nói với người khác. Đấy là Pháp Cúng Dường. Hiện thời th́ sao? Hiện thời chúng ta có băng thâu h́nh, băng thâu âm, có sách vở, tuy chính ḿnh chẳng có tiền, chẳng sao cả! Có rất nhiều người đă làm rất nhiều [những loại băng và sách ấy], quư vị lấy nhiều một tí, đến khắp nơi chia cho những người quư vị quen biết. Người nào có thể tiếp nhận th́ giới thiệu cho họ; đấy là Pháp Cúng Dường.

          Tuy quư vị chẳng có tiền, “tôi lấy mấy đĩa từ trong đạo tràng này”, quư vị cầm lấy để giới thiệu, dùng thân thể của chính ḿnh. V́ thế, đấy là quư vị đă Nội Tài Cúng Dường. Cầm những sách vở, đĩa CD giới thiệu cho thân bằng hảo hữu, đấy là Pháp Cúng Dường. Chớ nên không hiểu! Sau khi đă hiểu, quư vị mới thật sự thực hiện. Phật pháp sống động, chẳng chết cứng! Đă học th́ phải học thông đạt, thông suốt chẳng trở ngại. Đấy là quư vị thật sự có ngộ xứ. Quư vị chẳng học những thứ chết cứng, chẳng chết cứng nơi văn tự! Ấn Quang đại sư đă làm mẫu, đă khải thị cho chúng ta, chúng ta phải chú tâm thấu hiểu. Suốt đời lăo nhân gia do mối quan hệ ngôn ngữ, Ngài là người phương Bắc, giọng địa phương chẳng đổi, người phía Nam nghe không hiểu Ngài nói ǵ. V́ thế, Ngài chẳng có cách nào giảng kinh. Nhưng Ngài có một phương pháp khác, Ngài dùng văn tự. V́ thế, suốt đời tổ Ấn Quang dùng văn tự hoằng pháp. Ấn Quang Đại Sư Văn Sao độ vô lượng chúng sanh!

          Ngài đă v́ chúng ta thị hiện, tu thân làm gốc, giáo học làm đầu. Quư vị thấy trước khi lăo nhân gia bảy mươi tuổi, Ngài tu thân, chẳng hoằng pháp, mà cũng chẳng giảng, cũng chẳng viết lách. Bảy mươi tuổi, Tổ bị kẻ khác phát hiện. Thời đầu Dân Quốc, có mấy vị đại đức cư sĩ học Phật, là hàng tại gia, tức tại gia cư sĩ. Họ triều bái Phổ Đà sơn lễ Quán Âm Bồ Tát, gặp Tổ tại Tàng Kinh Lâu của Phổ Đà sơn, thấy vị pháp sư này cử chỉ bất phàm. Họ vừa gặp liền biết vị này có tu hành, rất có đạo hạnh. Hướng về Tổ thỉnh giáo, những lời của Tổ đă nói xác thực chấn động ḷng người, khiến cho người ta nghe xong bội phục năm vóc sát đất! Sau khi những người ấy trở về Thượng Hải, đă giới thiệu Ngài với các bạn bè: “Phổ Đà sơn có một vị cao tăng, các vị có thể đến đó bái phỏng, có thắc mắc ǵ có thể đến đó hỏi Ngài”. Như vậy, dần dần người biết đến Ngài nhiều hơn.

          Thuở ấy, dùng thư từ trao đổi, nói chung là giao thông chẳng thuận tiện, thư từ trao đổi là gởi thư qua lại, trả lời. Về sau, các bức thư trả lời được đăng lên báo hoặc tạp chí. Về sau, càng nhiều hơn, tập hợp lại, biến thành Văn Sao, dùng phương pháp này. Lăo nhân gia tám mươi tuổi văng sanh, thời gian hoằng pháp là mười năm. Mười năm ấy là mười năm trong tuổi già của Ngài. Lúc tuổi già, đạo nghiệp thật sự thành tựu. Đức hạnh và đạo nghiệp thuần thục. V́ vậy, văn tự do Ngài viết hay dường ấy, tinh vi, khéo léo dường ấy. Đấy chính là v́ Ngài ở Tàng Kinh Lâu ba mươi năm, quản lư Đại Tạng Kinh, đọc sách tại đó. Những thứ của ba nhà Nho, Thích, Đạo Ngài đều đọc, đọc suốt ba mươi năm. Văn Sao chính là báo cáo tâm đắc trong việc học Phật và đọc sách của Ngài. Quư vị thấy tác phẩm ấy hay khéo lắm!

          Tôi theo thầy Lư học Phật, thầy Lư rất khiêm hư. Thầy nói: “Năng lực của tôi chỉ có thể dạy anh năm năm. Tôi ắt phải giới thiệu cho anh một vị thầy khác!” Ai vậy? Chính là thầy của Ngài, tức Ấn Quang đại sư. Tuy Ấn Quang đại sư đă khuất bóng, Văn Sao hăy c̣n. Thầy bảo tôi đọc Văn Sao, dạy tôi học theo Ấn Quang đại sư. Chánh xác! Ba mươi năm trước, lần đầu tiên tôi đến Hương Cảng giảng kinh, trông thấy hành động đặc biệt, lạ lùng của Ấn Quang đại sư, tức là Hoằng Hóa Xă. Về sau, Ngài suốt đời in sách. Tiền cúng dường của mười phương dùng để làm một chuyện, Ngài chẳng làm ǵ khác. Chuyện khác đă có kẻ khác làm, ấn tống kinh sách chẳng có ai làm, Ngài chuyên môn làm chuyện này. Nhưng trong những kinh luận và thiện thư đă ấn hành, số lượng lớn nhất là Liễu Phàm Tứ Huấn, Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, và An Sĩ Toàn Thư. Tôi hết sức kinh ngạc, kinh điển nhà Phật hay như vậy, Ngài đều in với số lượng ít, ba thứ ấy lại được ấn tống với số lượng lớn.

          Khi đó, từ trang bản quyền, tôi phỏng tính, đại khái là có ba trăm vạn bản. Con số này rất đáng kinh hăi! Vào thời đại ấy, kỹ thuật ấn loát vẫn chưa phát triển cho lắm, phí tổn rất cao, v́ sao Ngài làm như vậy? Chẳng nghĩ ra! V́ sao chẳng dốc sức hoằng dương Phật pháp, mà làm chuyện này? Liễu Phàm Tứ Huấn có thể miễn cưỡng nói là Nho, Cảm Ứng Thiên là Đạo, An Sĩ Toàn Thư là thể loại hỗn hợp Đạo và Nho. V́ sao Ngài làm chuyện này? Tôi suy nghĩ vài tuần mới bỗng dưng hiểu rơ: “Đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn!” Xă hội hiện thời rối loạn, Nho dẫu tốt đẹp, cứu không kịp. Phật dẫu tốt đẹp, cũng chẳng cứu kịp. Chỉ có làm bằng cách nào? Nhân quả. Nếu mọi người thật sự hiểu nhân quả, tin tưởng “thiện có thiện quả, ác có ác báo”, như vậy th́ quư vị khởi tâm động niệm sẽ thâu liễm đôi chút. Điều này sẽ hữu ích to lớn cho xă hội. Tôi mới hiểu rơ Ngài làm cách ấy nhằm cứu độ xă hội trong hiện thời.

          Ngài là người thuộc thế kỷ trước, đầu thế kỷ, cách chúng ta hiện thời cũng gần một thế kỷ. Thế kỷ hiện thời so với thế kỷ trước, xă hội cũng không chỉ rối loạn hơn trước gấp trăm lần, chẳng phải là mười lần, mà là vượt hơn gấp trăm lần. Hiện thời, người ta khổ lắm! Dùng phương pháp ǵ để giúp đỡ? Ngoài nhân quả ra, chẳng có phương pháp thứ hai tốt đẹp nào! V́ thế, chúng tôi mới làm phim truyền h́nh Liễu Phàm Tứ Huấn, cũng sắp ra mắt trong một thời gian ngắn nữa. Phim truyền h́nh nhằm tuyên truyền, tôi giới thiệu cùng chư vị hai đĩa, đấy là phiên bản được quay sớm nhất do Mă Lai thực hiện. Đấy là công khóa. Tuyên truyền cần thiết, công khóa càng quan trọng hơn! Do tuyên truyền nên mọi người đă biết, sau đấy mới nghĩ phải học như thế nào? Hai đĩa phim ấy là tinh hoa, hai đĩa phim ấy quư vị hăy khéo học, nhằm sửa đổi vận mạng của quư vị, dụng ư ở chỗ này! Hiện thời, Sơn Tây Tiểu Viện và V́ Sao Chẳng Thể Ăn Chúng Nó là nhân quả trong hiện thời, những nhân vật [trong ấy] hăy c̣n đó, người lẫn sự việc đều là chuyện thành tựu trong hiện tại, c̣n có hiệu quả hơn những thứ do pháp sư Ấn Quang đề xướng! V́ thế, phải dốc sức đề xướng những thứ ấy, tuyên dương khắp thế giới ḥng cứu văn thế giới. A! Chúng tôi giảng bài kệ này đến đây.

 

Tập 1558

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, đoạn lớn thứ bảy trong phần Kệ Tụng, xin xem bài kệ thứ ba:

 

          (Kinh) Kiến xử lâm tẩu, đương nguyện chúng sanh, ưng vị thiên nhân, chi sở tán ngưỡng.

          ()見處林藪。當願眾生。應為天人。之所歎仰。

          (Kinh: Thấy ở rừng rậm, nguyện cho chúng sanh, đáng được trời người, tán thán, ngưỡng mộ).

 

          Trong bài kệ này, Thanh Lương đại sư đă giải thích rất đơn giản bằng một câu nói:

 

          (Sớ) Lâm tẩu, tắc chúng đức du quy.

          ()林藪,則眾德攸歸。

          (Sớ: Rừng rậm chính là chỗ các đức hướng về).

 

          Đây là khất thực tại thành thị, tại vương đô, hoặc tại vùng ngoại thành. “Lâm tẩu” (林藪) thuộc về ngoại thành, là chỗ có nhiều cây cối rậm rạp. Bồ Tát từ cảnh giới ấy, dẫn phát đại nguyện xứng tánh. Phật pháp nói “vạn đức trang nghiêm” chính là ư nghĩa này. V́ thế, người ấy (người khất thực) chẳng phải là đang đi đường, mà đă tới gần đô thành, tới gần vương đô, trông thấy [những cảnh vật] tại đó. Trong vương đô, chắc chắn có những chỗ chúng ta thường gọi là “hoa viên”, tức chỗ có nhiều cây cối, hoa cỏ. Quá nửa là chỗ để dạo chơi ngắm cảnh, giống như công viên trong đô thị hiện tại. Nó chẳng phải là vùng ngoại ô, chẳng phải là dă ngoại, nơi ấy mới dẫn khởi vạn đức trang nghiêm, v́ đến tụ hội ở đấy đều là những bậc đức hạnh cao hơn những nơi khác. Chẳng phải là nói những nơi khác không có cao nhân, tuy có, nhưng chẳng nhiều như ở nơi được gọi là “kinh sư” (京師), tức là nơi đế vương cư trụ. Nơi ấy chính là nơi văn vật tụ họp. V́ thế, sẽ nghĩ chính ḿnh phải nên dùng vạn đức để trang nghiêm chính ḿnh. Do vậy, nguyện của người ấy là “ưng vi thiên nhân, chi sở tán ngưỡng” (đáng được trời người, tán thán, ngưỡng mộ), “thán” () là tán thán, “ngưỡng” () là ngưỡng vọng.

          Bài kệ này nếu nói theo truyền thống Trung Hoa sẽ là “kiến hiền tư tề” (見賢思齊, thấy người hiền mong được bằng). Ở đây, chúng ta thấy người ta có đạo đức, có học vấn, có sự tu luyện nhiều ngần ấy, chính ḿnh nhất định phải nghĩ: Chúng ta phải hướng theo họ học tập, mong bằng họ. Đương nhiên, người học Phật sẽ từ cảnh giới ấy lập tức nghĩ tới chúng hội của Như Lai, chư đại Bồ Tát; khẳng định là sẽ nghĩ tới chúng hội của Như Lai. Đấy mới là vạn đức trang nghiêm danh xứng với thật! V́ lẽ này, học Phật th́ đến đâu để học? Quư vị chẳng học theo Phật, sẽ đến nơi đâu để có thể thành tựu? Lũ b́nh phàm chúng ta cầu học sẽ đến nơi đâu? Nhất định là phải đến trường học, là chỗ thầy tṛ nhóm họp, là chỗ có hoàn cảnh học tập. V́ thế, họ dễ dàng thành tựu!

          Phật môn có câu ngạn ngữ: “Y chúng, lại chúng” (Nương tựa đại chúng, dựa vào đại chúng). Một người tu học, nếu chẳng có thông minh, trí huệ, nghị lực, chí hướng vượt trỗi kẻ khác, sẽ rất khó thành tựu. Do đó, khi xưa, tổ sư nhằm khích lệ người đời sau, giúp cho họ thành tựu đức hạnh và đạo nghiệp mới kiến lập tùng lâm. Đối với tùng lâm, khi xưa, tiên sinh Phương Đông Mỹ giới thiệu Phật pháp cho tôi, lăo nhân gia đặc biệt coi trọng, và cũng đặc biệt nhấn mạnh, Ngài nói: “Phật giáo Trung Hoa muốn hưng khởi, nhất định phải phục hưng chế độ tùng lâm”. Khi đó, tôi vừa mới vào Phật môn, chẳng biết “chế độ tùng lâm” là ǵ, nhưng nghe thầy nói vài lần, ấn tượng cũng rất sâu. Sau này, khi xuất gia bèn rất lưu ư, thầy đă nhắc đến vấn đề này, mới biết tùng lâm đạo tràng trên thực tế là đại học Phật giáo!

          Chúng ta nh́n vào chế độ tùng lâm, [sẽ thấy] chủ tịch của tùng lâm là Hiệu Trưởng, cũng thường gọi là Trụ Tŕ hoặc Phương Trượng. Danh xưng rất nhiều, nói theo kiểu hiện thời, vị ấy là Hiệu Trưởng của tùng lâm, tùng lâm là đại học. Dưới đó, chia thành ba bộ phận, tức là xét theo cách tổ chức của nó, thứ nhất là Thủ Tọa (首座), tức Thủ Tọa ḥa thượng. Vị Thủ Tọa quản trị giáo vụ. Quư vị thấy trong một ngôi trường, giáo học được xếp hàng đầu. Thủ Tọa ḥa thượng không chỉ là một vị, chia ṭa để giảng kinh. Nếu tùng lâm ấy đông người, hai, ba ngàn người ở, tức là học tṛ có đến hai, ba ngàn người, sẽ mở rất nhiều môn học, chẳng phải là một môn! Mỗi môn học đều phải thỉnh một vị thầy đến dạy, cho nên gọi là “phân ṭa giảng kinh” (chia thành nhiều giảng ṭa khác nhau để giảng kinh). “Phân ṭa” (分座) nghĩa là pḥng học khác nhau, hiện thời nói là “lớp học khác nhau”. Quư vị thích học pháp môn nào, bèn vào pḥng học ấy để nghiêm túc học tập.

          Chế độ Phật giáo chẳng có nhiều [quy định và cơ cấu phức tạp] như trường học trong hiện thời, cũng chẳng nghiêm ngặt như vậy, mà có tánh chất giống như các trường dành cho nghiên cứu sinh. Chẳng hạn như Hoa Nghiêm, Hoa Nghiêm là một khoa mục, nhất định có một vị Thủ Tọa ḥa thượng làm chủ giảng. Phàm là người học Hoa Nghiêm, sẽ học trong pḥng học ấy, trước kia gọi là “điện đường” (殿堂), nay gọi là “giáo thất” (教室, pḥng học). Học Pháp Hoa trong một pḥng học khác, học kinh Vô Lượng Thọ lại là một pḥng học khác nữa. Tùy thuộc quư vị có bao nhiêu học tṛ, học tṛ ưa thích khoa mục nào, tùng lâm sẽ thỉnh pháp sư đến giảng bộ kinh ấy. Có giảng ṭa dài hạn, giảng ṭa dài hạn là một bộ kinh được giảng viên măn, môn học ấy kết thúc, học tṛ tốt nghiệp. Chỉ học một bộ kinh, cũng là “thâm nhập một môn, huân tu lâu dài”.

          Dạy học trong tùng lâm hoàn toàn không coi trọng việc nghiên cứu, thảo luận kinh giáo, không coi trọng chuyện ấy, mà coi trọng ngộ tánh. Đấy là thật sự học Phật, chẳng phải là Phật học, xác thực là mong giúp cho quư vị tăng tấn, khế nhập cảnh giới. Học Hoa Nghiêm phải khế nhập cảnh giới Hoa Nghiêm, học Pháp Hoa phải khế nhập cảnh giới Pháp Hoa, học kinh Vô Lượng Thọ phải khế nhập cảnh giới Tịnh Độ, đấy mới tính là thành tựu! Đương nhiên là căn tánh của học nhân khác nhau, khế nhập có cạn hay sâu khác nhau. Sâu th́ xác thực là minh tâm kiến tánh, đấy thật sự là đạt đến viên măn! Tông Môn, Giáo Hạ khác nhau nơi h́nh thức, khác nhau về phương pháp, nhưng phương hướng và mục tiêu hoàn toàn như nhau. Thiền Tông th́ phải minh tâm kiến tánh, Giáo Hạ cũng phải [minh tâm kiến tánh], nhưng không gọi là minh tâm kiến tánh, mà gọi là “đại khai viên giải” (大開圓解).

          V́ thế, trong việc dạy học, giảng kinh chính là dạy học, đối với học tṛ hoàn toàn chẳng có khảo thí, thành tích của học tṛ nh́n từ chỗ nào? Phức giảng (複講, giảng lặp lại). Đại khái học tṛ cũng chẳng đông. Từ xưa tới nay, Trung Hoa theo phương pháp dạy học này, chẳng thể nào một lớp có đến mấy chục học tṛ, chẳng có lẽ ấy! Trước kia, thầy Lư bảo chúng tôi, lớp học theo quy mô nhỏ, một vị thầy tối đa chỉ có thể dạy mười đứa học tṛ. Đối với mỗi tṛ, thầy sẽ có đủ tinh thần để dốc ḷng chú ư. Nếu học tṛ quá đông, thầy chẳng có cách nào cả, sẽ chăm nom không xuể. Trong quá khứ, chúng tôi ở dưới ṭa của thầy Lư ở Đài Trung, thầy mở lớp học kinh chỉ có đến hai mươi mấy học tṛ, nhưng phương pháp của thầy là cách dạy học trong trường tư thục, mỗi cá nhân cũng đều được chú ư. Nói thật ra, thầy dạy học chỉ dạy hai người. Hơn hai mươi người [cùng theo học], nhưng [mỗi bộ kinh] chỉ dạy hai người. Hai người ấy ngồi đối diện với thầy, tức là ngồi ở bàn đầu tiên, thầy dạy hai người đó. Các đồng học khác ngồi chung quanh, nói theo kiểu hiện thời sẽ là dự thính. Thầy chẳng hỏi, các vị chẳng thể lên tiếng, nhưng hai vị đồng học ấy có thể chủ động nêu câu hỏi với thầy, thỉnh giáo thầy, chúng tôi ở bên cạnh lắng nghe. Có khi thầy nghe xong, cười x̣a, chẳng trả lời, mà hỏi: “Trong các bạn học, ai có thể giải đáp?” Như vậy th́ quư vị mới có thể đứng lên. Thầy chẳng lên tiếng, các vị sẽ chẳng thể nói ǵ, cứ dụng tâm lắng nghe.

          Hai vị đồng học ấy học một bộ kinh. Thầy dạy xong bộ kinh ấy, hai đồng học ấy lui xuống chỗ dự thính, lại có hai người khác [thế chỗ]. Thầy dựa theo thứ tự báo danh trước hay sau để sắp xếp. Người học kế đó nhất định là học một bộ kinh khác. Thầy giảng, người ấy nghe, nghiêm túc học tập. Học xong, trong ṿng bốn hay năm ngày sau, người ấy phải phức giảng. Phức giảng gồm hai lượt giảng. Phức giảng lần đầu nói chung là bốn ngày sau khi đă học tập, quư vị phải soạn bài giảng. Khi phức giảng, cũng là các bạn học và thầy cùng nghe quư vị lên bục giảng lại, giúp quư vị sửa chữa sai lầm. Sau đấy, hôm sau lại lên giảng đài, giảng cho đại chúng. Thính chúng cỡ chừng hơn một trăm người. Tại Đài Trung Liên Xă, nữ chúng th́ ở Đài Trung Liên Xă, nam chúng th́ ở chùa Linh Sơn, chùa có giảng đường. V́ thế, mỗi tuần đều giảng kinh, do bọn học tṛ chúng tôi đến giảng, do thầy dạy dỗ, biện pháp như thế đấy!

          V́ vậy, dẫu là hơn hai mươi người, trên thực tế, thầy vẫn dạy rất dễ dàng, v́ thầy chỉ dạy hai người. V́ sao dạy hai người? Giảng kinh thuở ấy, một người dùng tiếng Phổ Thông để nói, c̣n phải dịch sang tiếng Đài. V́ thế, có hai người, một người nói tiếng Phổ Thông, một người nói tiếng Mân Nam. Giống như trên giảng đài có hai người, một người giảng, một người phiên dịch. Thật ra, họ dùng cùng một bài giảng, hai người cùng lên giảng đài biểu diễn. Phương pháp này tuy rất vụng về, đương nhiên là vẫn có phần nào dáng dấp của tùng lâm, nhưng dễ dăi hơn quy củ trong tùng lâm. Xét về mặt tŕnh độ th́ cũng hạ thấp hơn rất nhiều. Dẫu sao là hàng tại gia, là những kẻ trẻ tuổi mới học, giống như học Tiểu Học trong Phật giáo, tùng lâm là đại học Phật giáo, nhưng phải nên biết là phương thức gần như chẳng khác biệt cho mấy. V́ thế, một thầy chỉ hướng dẫn mười mấy học tṛ, thầy mới có tinh thần để có thể quan tâm trọn hết!

          Lớp học của chúng tôi khi đó là lớp sơ học, chỉ cần giảng kinh tàm tạm, tức là nhắc lại lời thầy giảng, không cho phép quư vị phát huy ư kiến của chính ḿnh, chẳng thể được! Hoàn toàn là phức giảng những ǵ thầy đă dạy, v́ bản thân chúng tôi chẳng khế nhập cảnh giới. Phức giảng mà giảng trật, đó là v́ thầy giảng trật, chẳng phải là chúng tôi nói trật, thầy phải thay chúng tôi gánh trách nhiệm. Chúng tôi học giảng kinh theo phương pháp ấy, đấy là mở đầu. Học tập kinh giáo, Giáo Hạ, mọi người đều biết, mục tiêu là phải đại khai viên giải, chẳng nhằm chú trọng phức giảng. Phức giảng nhằm dẫn dắt quư vị thuở đầu. Sau khi đă đại khai viên giải, mở kinh văn ra, quư vị có thể hiểu ư nghĩa, c̣n cách giảng như thế nào chẳng nhất định, Phật chẳng có pháp nhất định để có thể nói! Cách giảng là nhất định phải quán cơ, Cơ () là ǵ? [Cơ là căn cơ của] thính chúng, cũng có nghĩa là [nhận biết] nhu cầu bức thiết của thính chúng trong hiện tiền, họ cần ǵ?

          Nói theo nguyên tắc b́nh thường, thính chúng cần Tín, Giải, Hạnh, Chứng”, quư vị phải giúp đỡ họ những điều này. Hễ c̣n có nghi hoặc, đối với pháp môn này hoặc kinh bổn này, hay môn công khóa này, hễ c̣n có hoài nghi, quư vị phải giúp họ kiến lập tín tâm. Quư vị có phương hướng và mục tiêu giảng kinh, làm thế nào để giúp họ tin tưởng, đoạn nghi sanh tín. Sau khi đă tin lại nâng cao, phải giúp họ thâm nhập lư giải. Sau khi đă có thể lư giải, lại giúp họ làm thế nào để vận dụng những điều đă tin, đă hiểu vào trong cuộc sống, thực hiện trong công việc, thực hiện trong xử sự, đăi người tiếp vật. Học những thứ ấy hữu dụng, chẳng phải là vô dụng! Cuối cùng càng cao hơn, mục tiêu chung cực là khế nhập cảnh giới, đó là Chứng, tức là chứng quả. Áp dụng trong cuộc sống hằng ngày, đó là thực nghiệm. V́ vậy, học vấn Phật pháp chẳng giả. Xưa kia, Phương tiên sinh giới thiệu cho tôi, cụ đă nói đây là học vấn chân thật trác tuyệt. Nó chẳng phải là nói suông, chẳng phải là huyền học. Nó phải thông qua thực nghiệm. Hiện thời, cái thông qua thực nghiệm được gọi là khoa học. V́ thế, các lư luận Phật học nhất định phải được rèn luyện trong cuộc sống!

          Quư vị thấy kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng là năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử. Năm mươi ba lần tham học chính là trải qua sự việc để rèn luyện cái tâm. Luyện ǵ vậy? Luyện sao cho sáu căn trong cảnh giới sáu trần chẳng khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, không chấp trước, không sanh phiền năo, chỉ sanh trí huệ. Đấy là như Huệ Năng đại sư gặp Ngũ Tổ đă thưa: “Trong tâm đệ tử thường sanh trí huệ”. Ngài chỉ nói một câu như vậy, Ngũ Tổ biết ngay Ngài đă đạt đến mức độ nào, đă đạt đến mức “trải qua sự việc để rèn luyện cái tâm”, căn tánh quá nhạy bén. [Lục Tổ là] học tṛ sơ học mà ngay lập tức thuộc vào giai đoạn thứ tư (tức Chứng), Tín, Giải và Hành đều chẳng cần bàn tới! Ngài nói về chuyện “trải qua sự việc để rèn luyện cái tâm”; [đó chính là Chứng]. V́ thế, thông thường, chúng ta học Phật gồm có bốn giai đoạn (Tín, Giải, Hành, Chứng). Tông Hoa Nghiêm dùng bốn giai đoạn để phán định bộ đại kinh này!

          Các vị hăy ngẫm xem, Phật pháp có phải là khoa học hay không? Người hiện thời tin tưởng khoa học, chẳng tin Phật pháp, chẳng biết Phật pháp chính là khoa học, há chẳng nực cười ư? V́ sao chẳng tin tưởng? Hiểu lầm! V́ phàm nhân thường nói “Phật giáo là mê tín”. Do tôn giáo là mê tín, cho nên Phật giáo cũng là mê tín. Chụp cho cái mũ mê tín, chẳng dụng tâm quan sát, chẳng liễu giải, chẳng nhận thức Phật giáo. [Phật pháp là] khoa học thù thắng nhất, thế mà lại vứt bỏ, đó là môn khoa học có lợi ích nhất, trăm điều lợi, chẳng có hại điều nào! Khoa học Âu Tây trong hiện thời có thể nói là “lợi ít, hại nhiều!” Ba mươi năm trước, tiến sĩ Thang Ân Tỷ (A. Toynbee) đă nói, khi ấy, tôi cũng chưa được nghe nói, nay thấy trong sách của ông ta có viết, người này có tầm nh́n xa: “Mỗi thứ phát minh khoa học cố nhiên đem lại những tiện lợi cho chúng ta, nhưng nhân loại phải trả giá đau đớn, thê thảm!” Ông ta nói như vậy đấy! Quư vị suy ngẫm, [sẽ thấy] đúng thế! Chẳng sai tí nào!

          Phát minh máy bay, tàu thủy, du hành thuận tiện. Xe hơi là công cụ giao thông hiện đại. Tôi nghĩ chúng ta đang phải trả giá ǵ vậy? Loại t́nh cảm sâu đậm giữa con người như xưa kia chẳng c̣n. T́nh thân thiết giữa con người với nhau, t́nh cảm tôn trọng, yêu thương, chăm sóc, quan tâm lẫn nhau, quan niệm hỗ trợ hợp tác như xưa kia chẳng có! Trước kia, chẳng có những thứ phát minh khoa học kỹ thuật ấy, lữ hành là ǵ? Lữ hành bèn cưỡi ngựa, hoặc ngồi xe ngựa, xe ḅ, một ngàn dặm đường gần như phải đi mất mười ngày. Bạn bè lâu năm gặp gỡ, đi đường xa như thế, đi mất mười ngày mới đến, t́nh cảm khác hẳn! Hiện thời, một ngàn dặm đường, máy bay mất một giờ, ngồi xe th́ sáu, bảy tiếng đồng hồ, loại nhiệt t́nh ấy chẳng có, cái giá phải trả nói thật ra là “cái được chẳng bù đắp nổi cái mất”. V́ thế, ông ta (tiến sĩ Thang Ân Tỷ) nói, đối với mỗi thứ phát minh th́ mỗi lần đều phải trả giá rất lớn. Khoa học kỹ thuật phát triển đến mức tột cùng cũng là ngày tàn của nhân loại. V́ sao? Quư vị đă phải trả giá hết sạch, trả hết ráo rồi. Trả hết ráo th́ nhân loại bị hủy diệt, các tôn giáo thường nói là “tận thế”. Trả giá bằng sanh mạng, bằng toàn bộ sự sanh tồn của chúng ta, sẽ cùng chết ngủm với khoa học kỹ thuật!

          Nhưng khoa học của nhà Phật sanh từ trí huệ, nó là chánh diện, chẳng phải là phản diện! V́ sao khoa học kỹ thuật phát triển đến cuối cùng sẽ có hiện tượng bi thảm như vậy? V́ nó chẳng có ĺa khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, cũng có nghĩa là nó chẳng ĺa khỏi tập khí phiền năo, chẳng ĺa khỏi tham, sân, si, mạn, sự phát triển ấy sẽ có những thói tệ, sẽ có tác dụng phụ! Đối với Phật pháp, quư vị thấy kinh Kim Cang nói: “Vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”. Kinh Hoa Nghiêm nói “xả vọng tưởng, đoạn phân biệt, chấp trước”. Trong ấy chẳng kèm theo phiền năo, chẳng có tập khí, thuần chân vô vọng. V́ thế, quan sát cặn kẽ trong ấy, [sẽ là] đầy đủ trí huệ viên măn; luân lư, đạo đức viên măn, trời, người tán thán, trời, người ngưỡng mộ, đạo lư ở chỗ này!

          Chỗ Phật, Bồ Tát giảng kinh thường gọi là “đạo tràng”, chúng ta nói là “nơi chốn”. Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, phần lớn chỗ giảng kinh là núi rừng, dưới cội cây, bên bờ sông, nay nói là “dă ngoại”, chẳng có bất cứ thiết bị ǵ. Ở nơi đó, có một tảng đá lớn, đức Phật trải lên đó một ít cỏ làm đệm, ngồi trên tảng đá ấy. Khi chẳng có tảng đá th́ chỗ nào hơi cao hơn bèn trải cỏ làm ṭa nơi đó, đức Phật ngồi tại đó. Các đồng học vây quanh bốn phía, nghe đức Phật giảng kinh, dạy học, chẳng có bất cứ thiết bị ǵ! V́ thế, khi giảng kinh th́ chỗ giảng kinh được gọi là “đạo tràng”. Thính chúng có lúc mấy trăm người, có khi mấy ngàn người, chẳng kể là đông! Nhưng quư vị phải biết, trời, rồng, quỷ, thần, nhân phi nhân v.v… số lượng chẳng biết là bao nhiêu. “Phật dĩ nhất âm nhi thuyết pháp, chúng sanh tùy loại các đắc giải” (Đức Phật dùng một âm thanh để thuyết pháp, chúng sanh tùy theo từng loài mà đều hiểu). Những loài ấy (các chúng sanh thuộc những chiều không gian khác nhau) trông thấy đạo tràng ấy, đạo tràng ấy là ǵ? Các phẩm đức đều hội tụ!

          Đức Phật là bậc đại đức, mỗi vị thính chúng của đức Phật cũng đều là bậc đại đức; v́ thế, trời, người tán dương. Quư vị nói xem, ai nh́n thấy? Đức Phật trông thấy. Đức Phật là ngũ nhăn viên minh. Phật nhăn chẳng bị chướng ngại bởi các chiều không gian, Ngài đă đột phá toàn bộ. Mắt chúng ta rất tệ! Các nhà khoa học nói, để mắt thịt của con người có thể trông thấy, phải có ánh sáng th́ mới có thể trông thấy. Không có ánh sáng, sẽ chẳng thấy. [Nếu như] ánh sáng của mặt trời, mặt trăng hay đèn đều chẳng có, quư vị sẽ không thấy ǵ hết. V́ thế, x̣e tay ra, chẳng thấy năm ngón tay. Chúng ta có thể trông thấy là nhờ vào ánh sáng. Mắt có thể thấy ánh sáng hết sức hạn hẹp. Các nhà khoa học bảo: Đối với ánh sáng, chẳng hạn như có một trăm loại ánh sáng khác nhau, nhục nhăn chỉ có thể thấy hai phần trăm! Nói cách khác, c̣n có chín mươi tám phần trăm chẳng trông thấy! Phật nhăn rất nhạy bén, Ngài có thể thấy một trăm phần trăm. Bồ Tát có thể thấy bảy mươi, hoặc tám mươi phần trăm. A La Hán cũng có thể thấy bốn mươi, năm mươi phần trăm, năng lực mạnh hơn chúng ta quá nhiều. Quư vị nói Dục Giới Thiên, Sắc Giới Thiên, A La Hán đều có thể trông thấy. Sơ Quả Tu Đà Hoàn có thể trông thấy ngạ quỷ, địa ngục, chư thiên Dục Giới. Mọi người cùng nhau học tập, tin tức giảng kinh của đức Phật, tùy thuận Tánh Đức của Phật, Bồ Tát, trong khoảng sát-na sẽ trọn khắp pháp giới, quư vị biết thính chúng đông cỡ nào!

          Phật, Bồ Tát chẳng trụ thế, A La Hán cũng chẳng trụ thế. Đấy là ǵ? Đấy là do chúng sanh bạc phước, thánh nhân không đến. Có phải là thánh nhân có ư nghĩ chẳng đến hay chăng? Chẳng phải vậy! Ngài cũng chẳng có ư nghĩ sẽ đến. Nói cách khác, hễ chúng sanh có cảm th́ Ngài sẽ ứng. Thiện dấy lên cảm ứng với thiện, ác cũng dấy cảm ứng với ác. Chúng ta thường nói, khí phận giống nhau, tự nhiên nẩy sanh cảm ứng. Tâm hạnh của chư Phật, Bồ Tát thuần thiện. V́ thế, dân cư ở nơi đây có nhiều người thiện tâm, thiện hạnh, tự nhiên là Phật, Bồ Tát sẽ đến. Thiện tâm, thiện hạnh là cảm, tự nhiên sẽ ứng. Giống như trong thí nghiệm với nước của tiến sĩ Giang Bổn Thắng, nước chẳng có tâm, chúng ta đối với nó bằng thiện niệm, phản ứng là h́nh mẫu kết tinh sẽ hết sức đẹp đẽ. Chúng ta dùng tâm bất thiện đối với nó, phản ứng của nó cũng rất khó coi. Đạo lư là như thế đó!

          Đại đa số người trong thế gian hiện thời, chỉ sợ là đến chín mươi mấy phần trăm, ai mà chẳng có tâm tham? Ai chẳng có ngạo mạn? Ai không ngu si? Tâm là tham, sân, si, mạn, nghi. Ai chẳng tham tài? Ai chẳng tham sắc? Ai chẳng háo danh? Ai chẳng muốn quyền lực? Tranh danh đoạt lợi! Tham lam đă thành tập tánh, khởi tâm động niệm toàn là tổn người lợi ḿnh. Những thứ này cũng cảm, cảm ǵ vậy? Cảm các loài yêu ma quỷ quái, la-sát, Tu-la, cảm những thứ ấy ṃ đến. Đấy là ǵ? Những thứ ấy đến giúp quư vị làm loạn! V́ thế, bản thân chúng ta sống trong thế gian này, vận mạng của chính ḿnh là do nghiệp lực của chính ḿnh chiêu cảm. Vậy th́ nếu quư vị nói “tâm mọi người bất thiện, tâm ta thiện, ta ở chung với mọi người, cũng sẽ bị liên lụy hay sao?” Chẳng phải vậy! Kinh Lăng Nghiêm đă dạy rất rơ ràng, “nghiệp lực có đồng phận vọng kiến, có biệt nghiệp vọng kiến”, chúng ta thường nói là có cộng nghiệp và có bất cộng nghiệp.

          Cộng nghiệp là ǵ? Mọi người đều có. Bất cộng nghiệp là cá nhân riêng có. Chúng ta đă sanh vào thế gian này, tức là có cộng nghiệp với thế gian này, nhưng những sự gặp gỡ trong suốt đời mỗi người sẽ khác nhau! Trong đời này, thật khó có là chúng ta gặp gỡ giáo huấn của thánh hiền, gặp gỡ giáo huấn của Phật, Bồ Tát, y giáo phụng hành, vậy th́ biệt nghiệp của chúng ta sẽ chẳng giống biệt nghiệp của những kẻ b́nh phàm. Rất rơ rệt, tâm kẻ khác bất thiện, tâm chúng ta là thiện. Kẻ khác suy nghĩ bất thiện, chúng ta suy nghĩ những điều thiện. Quyết định chẳng có ư niệm tổn thương, làm hại chúng sanh, đối với muỗi, kiến cũng chẳng nỡ ḷng tổn thương. Bị người khác hủy báng, lăng nhục, chúng ta coi như chẳng có chuyện ǵ, quyết định chẳng sanh ḷng nóng giận, quyết định chẳng có ư niệm trả đũa! Lại c̣n thương xót họ, thương xót họ v́ lẽ ǵ? Tư tưởng, hành vi của họ có lỗi lầm, lỗi lầm ǵ vậy? Trái nghịch Tánh Đức của họ. Lỗi lầm ấy chẳng kết tội với người khác, mà là [kết tội] với chính bản thân họ, nhất định phải hiểu đạo lư này!

          V́ bản tánh của mỗi người vốn lành, [những thứ như] tham, sân, si, mạn, bất thiện, thị phi, nhân ngă, [hay nói gọn là] tham, sân, si, mạn, trong tự tánh đều chẳng có! Chúng ta thường nói đến ích kỷ, thị phi, nhân ngă, ngũ dục, lục trần, trong tự tánh thảy đều chẳng có. Những thứ ấy hoàn toàn trái nghịch tự tánh. Hễ trái nghịch tự tánh, quư vị sẽ đọa lạc, từ Nhất Chân pháp giới đọa lạc vào mười pháp giới. Nếu quư vị chẳng thể giác ngộ tập khí ấy, chẳng thể sửa đổi nó, sẽ càng hăm sâu hơn, quư vị luân hồi trong ấy, mỗi lần càng sâu hơn, chẳng thể giảm bớt, mà sẽ càng sâu đậm hơn. Chuyện này rắc rối to lớn! Do vậy, [đối với kẻ] tâm hạnh bất thiện, người thật sự học Phật, tức người thật sự học Phật được thọ dụng, chắc chắn sẽ sanh khởi ḷng thương xót. Bản thân chúng ta đức hạnh và trí huệ chẳng đủ, chẳng có cách nào giúp đỡ, đúng là ḷng có thừa mà sức chẳng đủ!

          Phật, Bồ Tát chẳng đến, chẳng đến nghĩa là sao? Chúng ta chẳng có duyên để cảm! Bản thân chúng ta cầu Phật, Bồ Tát có cảm ứng, hướng dẫn đại chúng cầu Phật, Bồ Tát chẳng được, để hướng dẫn đại chúng th́ phải có đông người. Nếu ở nơi đây chúng ta có mấy trăm người, mấy ngàn người, đều có thể như pháp tu hành, sẽ có cảm ứng. Sự cảm ứng ấy có thể cảm Phật, Bồ Tát đến thế gian này dạy bảo chúng ta, đấy là người ở nơi này đều có phước. Thật sự chí đồng đạo hợp quá khó khăn! Tôi học Phật năm mươi lăm năm, mong cầu một đạo tràng đúng pháp mà chẳng cầu được! Quư vị nói xem, một đạo tràng đúng pháp khó hay dễ? Nếu quư vị nói chẳng khó, thật sự chẳng khó! Bốn người cùng nhau tu hành, ai nấy đều tuân thủ Lục Ḥa Kính, đấy là đạo tràng đúng pháp! Nếu Hương Cảng có một đạo tràng như vậy, toàn thể người Hoa, toàn thể người tại Đông Nam Á đều có phước, tai nạn ǵ cũng đều chẳng có. V́ sao? Được chư Phật hộ niệm, được long thiên thiện thần che chở!

          Nay quư vị hăy ngẫm xem, quư vị có thể t́m được bốn người hay chăng? Cổ nhân Trung Hoa chẳng nói là bốn, nói là ba, “tam nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn kim” (ba người đồng ḷng, sắc bén cắt vàng). Chẳng t́m thấy người đồng ḷng! Hiện thời, chẳng cần nói là ba người, một ḿnh quư vị phát tâm, quư vị có thể phát khởi cái tâm ấy hay không? Một chặp hoài nghi, một chặp thoái chuyển, một chặp tập khí hiện tiền, bản thân ta chẳng làm Lục Ḥa Kính được! Đức Phật nói bốn người, bốn người thật sự thực hiện Lục Ḥa Kính. Chư vị phải hiểu, nếu thật sự thực hiện Lục Ḥa Kính, chúng tôi đă nghĩ, chắc chắn là Đệ Tử Quy, Thập Thiện Nghiệp Đạo, Tam Quy, Ngũ Giới, giới Sa Di, giới Bồ Tát thảy đều làm được, làm được một trăm phần trăm! Khi ấy, Lục Ḥa Kính sẽ hiện tiền. V́ thế, hiện thời chẳng t́m được bốn người! Mấy ai thực hiện Đệ Tử Quy? Mấy ai thực hiện Thập Thiện Nghiệp? Mấy ai thực hiện Tam Quy, Ngũ Giới? Mấy ai thực hiện Sa Di Luật Nghi, giới tỳ-kheo, giới Bồ Tát? Chẳng có! Một người cũng chẳng có! Chính ḿnh cũng chẳng làm được! Nói cách khác, một đạo tràng đúng pháp chẳng có, làm sao Phật, Bồ Tát có thể đến cho được?

          Chúng ta lại thường nghe nói, nhà Phật nói: Phật, Bồ Tát đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, nơi nào có lắm người khổ sở, các Ngài sẽ đến đó. Chẳng sai! Xác thực là Phật, Bồ Tát chẳng bỏ chúng sanh, nhưng như thế nào? Các Ngài quyết định chẳng dùng thân phận Phật, Bồ Tát để đến. Nếu dùng thân phận Phật, Bồ Tát để xuất hiện, không chỉ là chẳng thể tiêu nghiệp chướng cho chúng sanh, ngược lại, c̣n đem lại tai nạn to hơn cho chúng sanh! Đấy là đạo lư ǵ vậy? Quư vị phải hiểu rơ, tâm hạnh và luồng sóng tư tưởng bất thiện của quư vị sẽ chiêu cảm khá nhiều yêu ma, quỷ quái. Phật, Bồ Tát đến nơi đây, thật sự đến, yêu ma, quỷ quái có thế lực rất lớn, chúng nó sẽ hủy báng Tam Bảo. Quư vị sẽ nghe lời chúng nó, tin là thật. Do v́ quư vị chẳng có năng lực, chẳng có trí huệ phân biệt chân, vọng, tà, chánh, đúng, sai, chẳng có cách nào phân biệt, sẽ bị chúng nó xúi giục mà hủy báng, khinh nhục Tam Bảo, tội càng nặng hơn! V́ thế, Phật đến là từ bi, không đến cũng là từ bi, quyết định chẳng thể dùng thân phận Phật, Bồ Tát!

          Vậy th́ dùng thân phận ǵ? Chẳng nhất định, quyết định là [thuận theo từng] cá nhân. Bản thân quư vị có thiện tâm, có chân tâm, sẽ có cảm ứng. Đối với sự cảm ứng ấy, nếu tâm địa của quư vị rất thanh tịnh, rất điềm tĩnh, chẳng bộp chộp, xáo động, chúng ta nói là “rất b́nh lặng”, quư vị sẽ cảm thấy phiền năo nhẹ nhàng, trí huệ tăng trưởng. Phiền năo mỗi năm một ít hơn, trí huệ mỗi năm một tăng thêm. Trong ấy, c̣n có Phật, Bồ Tát gia tŕ quư vị. Hoặc là hiển nhiên, hoặc ngấm ngầm, giúp đỡ, chiếu cố quư vị trong ấy. Đúng là “trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai”. Đó gọi là biệt nghiệp, tức là sự báo ứng cá biệt. Gặp những người chí đồng đạo hợp, tụ tập lại, khéo nghiêm túc học tập, nói theo hiện thời th́ cũng là một đoàn thể khó có. Đoàn thể ấy có phải là Lục Ḥa Kính hay chăng? Vẫn chưa làm được! Hễ thực hiện Lục Ḥa Kính th́ tốt quá rồi!

          Lục Ḥa Kính thật sự là phải có bốn vị đại đức thật sự phát tâm, bỏ ḿnh v́ người! Phải đạt tới chuẩn mực vô tướng như kinh Kim Cang đă dạy, thật sự làm được “vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”. Khi ấy, ba căn cội như chúng ta đă nói là Đệ Tử Quy, Thập Thiện Nghiệp Đạo và Cảm Ứng Thiên của Đạo giáo, cũng như Tam Quy, Ngũ Giới, Sa Di Luật Nghi đều làm được một trăm phần trăm! Từ chỗ này, quư vị mới hiểu, hai món Kiến Ḥa Đồng Giải và Giới Ḥa Đồng Tu trong Lục Ḥa Kính là quan trọng nhất, mới có thể làm được. Nếu quư vị vẫn c̣n chấp tướng, tức là quư vị c̣n chấp trước, c̣n có phân biệt, sẽ chẳng làm được! Đặc biệt là chấp trước! Phải thật sự buông xuống chấp trước, phiền năo phân biệt nhẹ hơn th́ mới có thể khế nhập cảnh giới này, mới có thể từ chỗ này dần dần tăng tấn, thật sự là “vạn đức trang nghiêm”. Do vậy có thể biết, cảnh giới hiện tiền th́ phải hồi quang phản chiếu, phải biết phát tâm tăng tấn chính ḿnh, đó là đúng. Chúng tôi nói bài kệ này tới đây!

         

          (Kinh) Nhập lư khất thực, đương nguyện chúng sanh, nhập thâm pháp giới, tâm vô chướng ngại.

          ()入里乞食。當願眾生。入深法界。心無障礙。

          (Kinh: Vào xóm khất thực, nguyện cho chúng sanh, nhập pháp giới sâu, tâm không chướng ngại).

 

          Đây là sau khi đă tiến vào thành thị. “Lư” () nói theo hiện thời là đường phố. Đến phố phường, cùng với bài kệ kế tiếp là đến “môn hộ” () của người ta. Tới chỗ ấy, đại nguyện xứng tánh của Bồ Tát sẽ tràn trề nẩy sanh, nguyện cho hết thảy chúng sanh “nhập thâm pháp giới, tâm vô chướng ngại” (nhập pháp giới sâu, tâm không chướng ngại). Trong kinh Phật thường nói, nhu cầu trong đời sống vật chất của đệ tử xuất gia nhà Phật trông cậy đại chúng cúng dường. Nhu cầu của họ rất hữu hạn, mỗi ngày là một bữa cơm, nhu cầu chẳng nhiều! Trai chủ (người bố thí) nếu gia cảnh giàu có đôi chút, cúng dường cho họ một bát cơm, nhu cầu trong một ngày của họ đă được thỏa măn. Rốt cuộc, trong xă hội người giàu có ít ỏi, người nghèo khổ đông đảo, từ xưa đến nay gần như chẳng có ngoại lệ. Đô thành của đế vương cũng chẳng phải là ngoại lệ, nghèo giàu chẳng đều! Đấy là do nguyên nhân nào? Nhà Phật nói là nghiệp lực, chúng ta chớ nên không biết điều này.

          “Khất thực” nhằm duy tŕ thân mạng, “khất pháp” nhằm tăng tấn huệ mạng của chính ḿnh. Tỳ-kheo (Bhikṣu) là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán, ư nghĩa thứ nhất là Khất Sĩ. “Khất” () là khất thực, người Hoa nói là “xin cơm, ăn xin”. Nhưng chữ tiếp theo hay lắm, người xin xỏ này chẳng phải là thường nhân, mà là Sĩ. Trong xă hội Trung Hoa vào thời cổ, Sĩ có thân phận và địa vị cao nhất, ông ta là người đọc sách, có học vấn, có đạo đức. Tuy có học vấn, có đạo đức, ông ta sống đời khất thực, xin đại chúng một bát cơm. Mỗi ngày xin một bát cơm, đối với đức Phật th́ khất pháp, tức là mong tiếp nhận giáo huấn của Phật Đà. Người ấy có hai cái mạng, thân thể này là thân mạng. Ngoài thân mạng ra, quan trọng hơn là huệ mạng, tức “Pháp Thân huệ mạng”. Quư vị thấy từ khất thực để nuôi thân mạng, bèn nghĩ “nhập thâm pháp giới, tâm vô chướng ngại” (nhập pháp giới sâu, tâm không chướng ngại). Đấy là Pháp Thân huệ mạng, quan trọng hơn thân mạng của chúng ta. [Bởi lẽ], thân mạng có sanh diệt, huệ mạng chẳng có sanh diệt.

          Gần đây, có các đồng học nghe cư sĩ Chung Mậu Sâm báo cáo những nghiên cứu về sanh mạng luân hồi của các học giả phương Tây. Ông ta đọc chẳng ít, báo cáo với chúng ta. Tôi nghe một đoạn, nói đến nước Mỹ có một vị tiến sĩ là Ngụy Tư (Brian L. Weiss)[3], trong bài báo cáo của ông ta có một câu chuyện như thế này: Ông ta vận dụng tâm lư trị liệu, giúp người khác điều trị những nghi nan tạp chứng, hiện thời hết sức phổ biến tại ngoại quốc. Án lệ (hồ sơ bệnh án) này là giúp người bệnh dưới t́nh trạng thôi miên sâu, sẽ kể ra những chuyện gặp gỡ trong kiếp trước ḥng t́m ra nguyên nhân gây bệnh. Đồng thời, trong khi đó, sau khi họ ngưng đối thoại, đột nhiên có âm thanh. Âm thanh ấy chẳng thuộc vào nội dung tṛ chuyện của hai người bọn họ, theo phán đoán th́ là thần linh nhờ cơ duyên này để truyền đạt tin tức cho nhân gian. Chuyện này phát sanh rất nhiều. Câu chuyện này rất có nghĩa, có thể ấn chứng cho những điều chúng tôi đă nói hôm nay.

          Vị thần linh ấy cho chúng ta biết, sanh mạng chẳng có ngằn hạn, con người quyết định chẳng chết. Mọi người nghe chuyện này cũng rất an ủi, các vị cứ tưởng con người sẽ chết đi. Con người không chết! Không chỉ là con người không chết, mà trên thực tế, cũng chẳng có sanh ra! Điều này rất gần với ư nghĩa trong giáo pháp Đại Thừa. Đức Phật nói bất sanh bất diệt; bất sanh bất diệt là nói đến Pháp Tánh. Nhưng vị thần linh ấy chẳng thuộc tầng bậc cao như đức Phật. Chúng ta quan sát kỹ lưỡng nội dung của những điều ông ta nói, [sẽ biết] ông ta chẳng thoát khỏi lục đạo. Không chỉ là chẳng thoát khỏi lục đạo, có thể là ông ta chỉ thuộc trong Dục Giới. Dục Giới cũng rất lớn. Dục Giới kể từ Tha Hóa Tự Tại Thiên trở xuống, có sáu tầng trời, có Tu La, loài người, dưới đó là súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, phạm vi rất lớn, tối thiểu cũng có mười mấy loại chiều không gian khác biệt. Các nhà khoa học hiện thời đă đề cập, thừa nhận: “Trong vũ trụ, tối thiểu có mười một loại chiều không gian khác nhau tồn tại”. Những chiều không gian khác nhau ấy, theo cách nh́n của Phật pháp, được gọi là Dục Giới Thiên. Dục Giới Thiên gồm sáu loại [chiều không gian] bất đồng, tức là sáu tầng trời của Dục Giới, cộng với nhân đạo, Tu La, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, sáu cộng với năm chẳng phải là mười một ư? Nói cách khác, hoàn toàn chưa đạt tới Sắc Giới và Vô Sắc Giới!

          Sắc Giới có mười tám tầng trời, tức là mười tám chiều không gian khác nhau. Vô Sắc Giới có bốn tầng trời, lại là bốn chiều không gian khác nhau. Đấy là đối ứng với cách nói của các nhà khoa học, chúng ta dùng Phật pháp để đối chứng, th́ [khoa học chỉ biết đến] Dục Giới. Trong Dục Giới có mười một loại chiều không gian khác nhau, cũng rất đáng nể! Luân hồi trong ấy, tức là luân hồi trong Dục Giới chính là ǵ? Chúng ta thường nói là “linh hồn”. [Linh hồn] có sanh tử hay không? Chẳng có! Nhưng quư vị xem những tin tức ấy, sẽ biết những lời đức Phật dạy hoàn toàn chánh xác. Vị thần linh ấy chỉ nói đến nhục thể bất đồng hoặc những không gian đă trải qua, vĩnh viễn chẳng có ngưng nghỉ. Đấy là luân hồi! Thân có hư hoại, nhục thể hữu hoại, có sanh diệt, linh hồn nương gá vào thân thể này để sống một khoảng thời gian. Tới khi thân thể hư hoại, nó lại t́m một thân thể khác.

          Khi linh hồn của một người rời khỏi, thân thể ấy sẽ chết. Thật ra, người ấy hoàn toàn chẳng chết, người ấy lại t́m một thân thể khác, thay đổi thân thể, [cho nên] cũng chẳng có sanh! Giống như chúng ta cởi rồi mặc quần áo. Quần áo đă rách rưới, cũ kỹ, không ưa thích nữa, thay một bộ khác, chính là như vậy. Nhưng câu sau đó quan trọng, “vĩnh viễn chẳng có ngưng nghỉ” tức là luân hồi không ngừng. Phật pháp nói là “sanh tử b́ lao” (sống chết nhọc nhằn), chẳng có ngưng dứt, đấy là chân tướng sự thật. V́ thế, quư vị hiểu ở đây có hai loại mạng. Nhục thể là thân mạng, chúng ta khất thực nhằm nuôi thân mạng. Hướng về Phật, Bồ Tát khất pháp, nhằm nâng cao linh tánh chân thật của chính ḿnh. Đó là chính ḿnh thật sự, nhưng đấy vẫn chẳng phải là thuần chân, chỉ là chân thật hơn thân thể này. Nó luân hồi trong lục đạo, chúng ta phải tăng tấn, tăng cao hơn, chớ nên đọa lạc. Thân mạng là giả, nâng cao linh tánh mới là thật. Đấy là người thật sự thông minh, chẳng làm những thứ giả.

          Thứ hai, v́ sao phải luân hồi? V́ sao luân hồi trong lục đạo? Trước hết, chúng ta dùng cách nói của các nhà khoa học. Cách nói về luân hồi của các nhà khoa học chỉ giới hạn trong Dục Giới, chẳng nói đến Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Họ chẳng đạt đến cảnh giới ấy cũng là có đạo lư. V́ sao? [Để đạt đến] Sắc Giới và Vô Sắc Giới cần Thiền Định, cần công phu định lực. Các nhà khoa học chẳng có công phu định lực, chỉ dựa vào các máy móc khoa học để quan sát, chẳng hề có công phu định lực! V́ thế, tối đa là họ chỉ có thể đạt tới tầng trời chót đỉnh của Dục Giới Thiên, tức là Tha Hóa Tự Tại Thiên. Dục Giới có sáu tầng trời, chúng ta phải ghi nhớ: Từ nhân gian đi lên là Tứ Vương Thiên, lại lên cao hơn là Đao Lợi Thiên, người Hoa gọi [chúa cơi trời Đao Lợi] là Ngọc Hoàng đại đế, tức là Thượng Đế được nói đến trong rất nhiều tôn giáo. Nếu lên cao hơn nữa, cần phải có Thiền Định, chưa đắc Định, tiểu định chẳng phải là đại định, [sẽ là] Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, Hóa Lạc Thiên, và Tha Hóa Tự Tại Thiên. Trong phạm vi luân hồi ấy đều có khổ lạc khác nhau, chưa đoạn dục, bất quá chỉ là càng lên cao, dục vọng càng thấp, càng nhẹ, người ấy càng tiến lên cao. Dục vọng càng nghiêm trọng, sẽ càng đọa lạc xuống dưới.

          V́ sao con người đến nhân gian? Tiến sĩ Ngụy Tư (Brian L. Weiss) đă từ lời kư thác của thần linh, cho biết sở dĩ con người phải sanh vào trong nhân gian, dùng h́nh thức nhục thể để tồn tại, là v́ phải làm việc, hoặc v́ trả nợ. Ông ta nói nhiều ngần ấy, nếu chúng ta hỏi đức Phật về vấn đề này: “Bạch Phật! Người thế gian đông đảo ngần ấy, v́ sao họ sanh vào nơi đây?” Đức Phật sẽ trả lời rất đơn giản, “thù nghiệp” (酬業, đền trả nghiệp). Đời người nhằm trả nghiệp, đền trả nghiệp báo của quư vị, c̣n ông ta (Brian L. Weiss) nói là “trả nợ”. Một loại người khác là “làm việc”, “làm việc” nói theo Phật pháp sẽ là “độ sanh”, tức Phật, Bồ Tát thừa nguyện tái lai. Chúng sanh có cảm, các Ngài sẽ đến. Các Ngài cũng đến thế gian này, chẳng phải là để trả nợ, các Ngài chẳng có nợ nần, đến để làm ǵ? Đến giúp đỡ những chúng sanh khổ nạn; v́ thế, gọi là “thừa nguyện tái lai”. Hai nguyên nhân ấy giống như đức Phật nói. Trả nợ th́ có đền nợ mạng, có đền nợ tiền, c̣n có đền nợ nhân t́nh. Nợ quá nhiều!

          Tiếp đó nói, trong một đời, mỗi cá nhân chỉ nhớ được những chuyện gặp gỡ trong một đời này, quên bẵng những chuyện gặp gỡ trong đời trước. Đấy là hiện tượng rất phổ biến. Người có thể nhớ đời trước tuy có, nhưng là thiểu số, rất ít. Trong kinh Phật cũng có nói, một người sanh ra mà có thể nhớ được chuyện đời trước là chuyện như thế nào? Đoạt thai. Người ấy chẳng nhớ chuyện đời trước là v́ ở trong thai mẹ mười tháng, kinh Phật h́nh dung người ấy ở trong tù ngục, nên gọi là “thai ngục” (胎獄). Mười tháng là thai ngục, sống một ngày bằng một năm. Mẹ uống một chén nước lạnh, con giống như đang ở trong địa ngục Hàn Băng, rét chết luôn! [Mẹ] uống một chén nước nóng, [con cảm thấy] giống như lửa thiêu đốt, khổ chẳng thể nói nổi! Do đau khổ quá lớn, quên sạch sành sanh những chuyện trước kia!

          Có thể nhớ chuyện đời trước là chuyện như thế nào? Khi mẹ có mang là [mang thai] người khác, người ấy đến nhập thai, nhưng duyên của người ấy với mẹ ấy chẳng sâu. Người ấy cũng đến đ̣i nợ, khiến cho mẹ chịu tội mười tháng. Người ấy cũng chẳng vui sướng ǵ, vừa sanh ra đă chết, ra đi. Một linh hồn khác nương vào thân thể ấy, nên liền sống lại, nhưng [linh hồn của] người sống đó chẳng phải là [linh hồn] của người trước đó (người đến đầu thai). Linh hồn ấy do chẳng phải chịu đựng mười tháng thai nghén, chuyện đời trước thảy đều biết, trong Phật pháp gọi là “đoạt thai” (奪胎). Đầu thai thông thường th́ gọi là “tọa thai” (坐胎). Kẻ tọa thai sẽ chẳng nhớ [chuyện trong đời trước], c̣n người đoạt thai th́ ghi nhớ. V́ vậy, trong thế gian này, xác thực là rất ít, rất ít người thật sự biết chuyện đời trước. Trong báo cáo của tiến sĩ Chung (Chung Mậu Sâm) cũng trích dẫn rất nhiều trường hợp, quá nửa là trẻ nhỏ [ghi nhớ chuyện đời trước]. Dựa theo những điều chúng nó nói để điều tra th́ đều là thật, chẳng giả. Đấy là các trường hợp đoạt thai!

          Tiếp đó nói, trong một đời, mỗi cá nhân đều có tập khí bất hảo, những ham thích bất hảo, ví như tham lam, háo sắc v.v… Tập khí bất hảo quá nhiều! Thập Ác là tập khí bất hảo, sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói đôi chiều (khuấy động thị phi), ác khẩu (thích chửi mắng người khác), nói thêu dệt (hoa ngôn xảo ngữ gạt người), tham, sân, si, mạn, ích kỷ, tổn người lợi ḿnh, đều là những tập khí bất hảo. Ắt cần phải khắc phục những tập khí ấy trong đời này. Nói cách khác, người thật sự có phước báo, thật sự thông minh đến thế gian này, đời này sẽ làm ǵ? Làm chuyện này, đấy là tu hành. Khắc phục những tập khí phiền năo của chính ḿnh, đoạn ác tu thiện. Khắc phục sát sanh, thật sự biến thành không sát sanh. Khắc phục trộm cắp, biến thành không trộm cắp. Khắc phục Thập Ác, biến thành Thập Thiện.

          Những lời dạy của thánh nhân toàn là Tánh Đức, đều là những thứ vốn sẵn có trong tự tánh. Mê mất tự tánh, tùy thuận tập khí bất hảo trong đời đời kiếp kiếp, biến thành xấu xa. Tam Tự Kinh nói: “Tánh tương cận, tập tương viễn, cẩu bất giáo, tánh năi thiên” (Tánh gần giống như nhau, do huân tập mà khác xa nhau. Nếu chẳng dạy, tánh sẽ biến đổi), chính là [nói về] đạo lư này! Nếu quư vị chẳng sửa đổi những tập khí ác ấy, họ nói, những tập khí ác ấy sẽ mang qua đời sau. Đă thế, trong đời sau sẽ càng nghiêm trọng hơn, phiền phức lắm! Nói cách khác, đời kế tiếp sẽ càng khó sống hơn đời này. Đấy là nói về ǵ? Tánh tội, trái nghịch tự tánh; đó là lỗi lầm to lớn. Quư vị vốn là Phật, cớ sao quư vị trở thành t́nh trạng này?

          Lại nói tới ngoại duyên, nợ nần cũng giống như vậy. Nợ nần có nợ mạng, có nợ tiền, có nợ nhân t́nh, cũng rất phức tạp! Đời trước chưa trả sạch hết nợ nần, đời này phải trả, khi trả, nhất định c̣n phải trả thêm tiền lời. Nói chung, c̣n phải trả nhiều hơn món nợ đă thiếu trong đời trước! Nếu đời này chẳng trả xong, nhất định phải mang sang đời vị lai. Đời sau sẽ phải trả, nhất định lại tăng nặng hơn đời này. V́ thế, chỉ có trả xong trong đời này, phải có quan niệm này. Quư vị phải biết, đời sau quư vị sẽ tự tại, sẽ giải thoát. Nợ mạng phải trả xong, nợ nhân t́nh cũng phải trả cho xong. Nhân t́nh rất khó xử, nếu quư vị có thể chịu đựng, đặc biệt là nghịch cảnh, ác duyên, cam tâm t́nh nguyện chịu đựng. V́ sao? Chúng ta phải nên trả nợ, chẳng có mảy may tâm oán hận, chẳng có tâm báo thù, sẽ trả xong xuôi. Nếu c̣n có ḷng oán hận, c̣n báo thù, đời sau vẫn phải trả, chẳng hết, chẳng xong, chớ nên làm!

          Tiếp nhận ân huệ của người khác, nhất định phải báo ân, niệm niệm chớ quên điều tốt đẹp của người khác. Người khác xử tệ với ta, phải quên sạch sành sanh! Bố thí ân đức cho người khác, chẳng đ̣i hỏi người ta đền đáp. Mong được người ta đền đáp th́ sao? Đời sau lại phải làm tới làm lui, chẳng hết, chẳng xong! Bố thí cho người khác, chẳng mong được đền đáp, tốt lắm! Khi có lỗi với người khác, nhất định phải sám hối, nhất định phải sửa đổi! Chiếm tiện nghi của kẻ khác, phải biết là chẳng thể chiếm tiện nghi được, hễ chiếm đoạt sẽ đều là nợ nần! Nếu đời này đă giác ngộ, đă hiểu rơ, hăy nhanh chóng đền trả, chớ nên dính mắc mảy may! Nếu quư vị chiếm dụng tài vật của quốc gia, sẽ càng nghiêm trọng hơn, v́ sao? Chủ nợ quá nhiều! Tài vật của quốc gia là do người dân đóng thuế. Nói cách khác, nếu quư vị chiếm tiện nghi từ những thứ ấy, quư vị sẽ mắc nợ dân chúng cả nước, chuyện này phiền phức lắm!

          Những tài vật thuộc về thường trụ trong Phật môn càng chớ nên chiếm đoạt, v́ sao? Trong kinh, đức Phật đă dạy rơ ràng, tạo tội Ngũ Nghịch, Thập Ác th́ Phật có thể cứu người ấy, chứ trộm cắp đồ vật của thường trụ, Phật chẳng thể cứu. V́ sao? Phật môn là đạo tràng mười phương, tài vật của nó không chỉ là sở hữu chung của những vị xuất gia trên địa cầu, mà là trọn khắp pháp giới, hư không giới, do mười phương ba đời tất cả hết thảy những người xuất gia cùng sở hữu. Nói cách khác, chẳng biết rơ con số chủ nợ! V́ thế, Phật chẳng thể cứu. Nếu quư vị thật sự thông hiểu, minh bạch, sẽ trả ngay lập tức. Không chỉ là phải trả, mà c̣n có thể [đền trả] nhiều hơn một tí, tu phước báo nhiều hơn một chút. Tu phước trong Phật môn dễ nhất, mà tạo tội cũng dễ nhất. Thật sự tu phước trong Phật môn th́ là phước báo nhân thiên. Tạo một chút tội nghiệp trong Phật môn, sẽ là tam đồ địa ngục, nháy mắt quả báo sẽ hiện tiền! Con người thọ mạng rất ngắn ngủi, cần ǵ cứ phải làm chuyện này? V́ thế, thảy đều trả xong, hiện tiền sẽ yên tâm thoải mái, đời sau được đại tự tại, chẳng nợ nần chúng sanh.

          Quyết định phải đoạn dứt ư niệm sát sanh, đoạn dứt hành vi sát sanh, cư xử hoan hỷ với hết thảy chúng sanh. Chớ nên nói ta ghét cái này, ta thích cái kia, chớ nên! Quư vị ưa thích, tức là có cái duyên ưa thích, đời sau c̣n phải trở lại. Quư vị chán ghét, đời sau kẻ ấy cũng chán ghét quư vị, tự làm tự chịu. Tuyệt đối chẳng phải là do Thượng Đế an bài, hay là vua Diêm La trừng phạt, chẳng phải vậy, tự làm tự chịu! Hiện thời, chúng ta cư xử với rất nhiều người, sự, vật trong xă hội, trong ấy có rất nhiều trường hợp rất hợp duyên. Đó là do thiện duyên trong quá khứ. Có rất nhiều khi chẳng hợp duyên, gặp mặt cũng chẳng mong gặp gỡ, đó là ác duyên trong đời quá khứ. Hiện thời, làm như thế nào? Hăy sửa đổi! Nhất định phải sửa! Chẳng sửa đổi th́ sẽ ra sao? Chẳng sửa th́ đến đời sau, vấn đề ấy sẽ càng nghiêm trọng hơn. Chớ nên tích lũy oán hận, nhất định phải hóa giải. Hóa giải chẳng từ nơi đối phương, mà từ chính ḿnh. Sau khi chính ḿnh đă hóa giải hết sạch, tuy đối phương có [oán hận], [nỗi oán hận] của người ấy cũng chẳng làm được ǵ. Giống như đánh nhau, người ta đấm tới, quư vị thu hồi nắm đấm của chính ḿnh, nắm đấm của kẻ đó đánh vào khoảng không. Quyết định chớ nên oan oan tương báo. Có như vậy th́ quư vị mới có cơ hội thoát ly luân hồi, chẳng c̣n làm chuyện ấy nữa. Chuyện ấy vất vả, vĩnh viễn chẳng ngưng ngớt, quư vị nói xem có nhọc nhằn lắm không!

          Không chỉ là chúng ta có thể chẳng c̣n luân hồi nữa, mà chúng ta c̣n phải tăng tấn. Tăng tấn cao hơn, thù thắng nhất, ổn thỏa nhất, đáng tin cậy nhất, nhanh chóng nhất, thật sự là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Phải biết sau khi quư vị đă thấy rơ ràng thế gian này, thần linh đă thấu lộ tin tức cho chúng ta về trạng huống luân hồi trong lục đạo. Vị ấy bảo quư vị hăy trả hết nợ trong đời này, chẳng nợ mạng, mà cũng chẳng thiếu nợ. Chuyện này nói th́ dễ, thực hiện th́ nói thật ra cũng chẳng phải là chuyện dễ! Nếu quư vị chẳng thể thông đạt Phật pháp, căn bản là quư vị chẳng làm được! Đă thông đạt Phật pháp th́ được! Liễu Phàm Tứ Huấn nói đến chuyện sửa lỗi, sám hối, sửa lỗi đổi mới. Sách ấy nói có ba loại sửa đổi, một là sửa nơi Sự, hai là sửa từ Lư, ba là sửa từ tâm. Có thể sửa đổi từ tâm, sẽ thật sự có thể hóa giải. Chẳng [sửa đổi] từ tâm hoặc từ lư th́ sẽ đều chẳng rốt ráo. Nói cách khác, chẳng rốt ráo th́ sẽ chẳng thoát khỏi lục đạo luân hồi. V́ thế, Phật pháp nói đến tâm pháp, tâm tịnh, cơi nước tịnh; tâm b́nh, thiên hạ b́nh. Tựa đề kinh Vô Lượng Thọ dạy chúng ta “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”.

          Câu nói cuối cùng của thần linh rất hay, những gặp gỡ trong sanh mạng đời sau của quư vị hoàn toàn do chính quư vị tạo ra, gây tạo trong đời này. Đấy chính là như trong Phật pháp thường nói: “Muốn biết cái nhân trong kiếp trước, những ǵ phải hứng chịu trong đời này chính là nó. Muốn biết cái quả trong đời sau, những ǵ đă làm trong đời này chính là nó đấy”. Hễ khởi tâm động niệm, ngôn ngữ và tạo tác của chúng ta trong đời này chính là cái nhân cho đời sau. Đời sau nhất định có quả báo. Trong đời này, quư vị khởi tâm động niệm là thiện, ngôn ngữ và tạo tác là thiện, đời sau quư vị nhất định là đại thiện báo. Trong đời này, chúng ta xử sự, đăi người tiếp vật, khởi tâm động niệm bất thiện, ngôn ngữ, hành vi bất thiện, quả báo trong đời sau quư vị chắc chắn là trong ba ác đạo. Tự làm, tự chịu! Chớ nên không biết điều này!

          Bồ Tát liễu giải rất rơ ràng, rất minh bạch; v́ thế, khuyến khích chúng ta, mong mỏi chúng ta “nhập thâm pháp giới”. Khế nhập thâm pháp giới bằng cách nào? Kinh Đại Thừa. Kinh Đại Thừa rất nhiều, nhưng rốt ráo viên măn th́ không chi hơn Hoa Nghiêm. Có thể khế nhập Hoa Nghiêm bằng cách nào? Khế nhập như thế nào? Nay chúng ta c̣n chưa học xong; nói thật ra, kinh Hoa Nghiêm có ba mươi chín phẩm, chúng ta mới học được mười một phẩm, phía sau c̣n có mấy phẩm kinh văn rất dài. Kinh có tất cả chín mươi chín quyển, nay chúng ta đă đọc chưa đến hai mươi quyển. Cuối cùng, phẩm Nhập Pháp Giới chính là “nhập thâm pháp giới”. Nhập thâm pháp giới chính là phẩm Nhập Pháp Giới cuối kinh Hoa Nghiêm. Đó là pháp giới sâu, tức thế giới Hoa Tạng. Điều này thật sự chẳng dễ dàng!

          Nhưng chúng ta quyết định chớ quên tổng cương lănh tu hành trong giáo pháp Đại Thừa. Tổng cương lănh là ǵ? “Buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước”; đấy là tổng cương lănh, phải thường nghĩ đến. Chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt là trong công việc, xử sự, đăi người tiếp vật, hễ một niệm chấp trước sanh khởi, hăy ngay lập tức hồi quang phản chiếu. Chỉ cầu chuyện làm được viên măn, chớ nên thật sự chấp trước. Thật sự có chấp trước, sẽ hứng chịu thua thiệt to lớn. Chớ nên phân biệt, chớ nên khởi tâm động niệm, chúng tôi thường nhắc đến điều này! Những lời này đều dựa theo lời đức Phật đă dạy trong phẩm Xuất Hiện: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai, chỉ v́ vọng tưởng, chấp trước mà chẳng thể chứng đắc”. Từ câu giáo huấn này, chúng ta hiểu, đúng là như kinh Hoa Nghiêm và Viên Giác đă dạy: “Hết thảy chúng sanh vốn đă thành Phật”. Quư vị hiện thời có phải là Phật hay không? Phải! Trong mắt Phật, chẳng giả tí nào, quư vị là Phật thật sự! Bất quá, vấn đề hiện thời của quư vị là ở chỗ nào? Vấn đề ở chỗ trong chân tâm của quư vị dấy khởi vô minh (vọng tưởng), phân biệt, chấp trước, chuyện này phiền phức to lớn. Vọng tưởng là vô minh, vọng tưởng là ǵ? Tôi thường nói rất đơn giản, rất nông cạn, [vọng tưởng chính là] khởi tâm động niệm. Điều này rất khó, sáu căn của quư vị tiếp xúc cảnh giới sáu trần, há có lẽ nào chẳng khởi tâm động niệm? Hễ khởi tâm động niệm, vô minh liền sanh. Từ vô minh, nhất định dấy lên phân biệt; từ phân biệt, nhất định dấy lên chấp trước. Đấy là càng mê, càng sâu, càng tù hăm, càng khổ!

          V́ thế, đối với ba tầng cấp tu học trong Phật pháp, chúng ta mới hiểu rơ. Chúng ta đoạn chấp trước, sẽ thành Chánh Giác. Vốn là Chánh Giác, Chánh Giác là A La Hán. Buông xuống phân biệt, chẳng cần nữa, sẽ là Bồ Tát, sẽ chứng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu thật sự có thể đạt đến chẳng khởi tâm, không động niệm, sẽ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, sẽ gọi là Phật Đà. V́ thế, quư vị là Phật, vốn là Phật, chỉ cần trong hết thảy các cảnh giới, chẳng khởi tâm, không động niệm, quư vị vốn là Phật. Khởi tâm động niệm, nhưng chẳng phân biệt, quư vị là Bồ Tát. Khởi tâm động niệm, c̣n có phân biệt, chẳng chấp trước, vậy th́ quư vị là A La Hán. Nếu chấp trước cũng chẳng buông xuống được, quư vị là lục đạo phàm phu. Quư vị giống như vị thần linh ấy. Thần linh cũng là lục đạo phàm phu, phải lưu chuyển trong lục đạo, vĩnh viễn không ngưng ngớt, khổ lắm! Kinh Phật gọi hiện tượng ấy là “sanh tử b́ lao” (sống chết nhọc nhằn), chẳng ngưng nghỉ! Sau khi nhục thể hư hoại, quư vị vứt bỏ, bỏ đi, ngay lập tức lại t́m một nhục thể khác! V́ thế, bảo quư vị là chẳng có chết, mà cũng chẳng có sanh, bất sanh, bất diệt!

          V́ thế, cái được thần linh nhắc đến chính là “thần thức” được nói trong kinh Phật. Thần thức là ǵ? Là tự tánh bị mê hoặc, điên đảo. Đă giác ngộ tự tánh, nhất định sẽ buông xuống chấp trước, thành A La Hán. Nếu tiến cao hơn một bậc, buông xuống phân biệt, th́ là Bồ Tát. Nếu tiến cao hơn nữa, sẽ là Phật. Nay chúng ta được làm thân người, lần này đến nơi đây để mong làm chuyện này. Trừ chuyện này ra, quư vị phải hiểu toàn là chuyện luân hồi. Quư vị làm chuyện luân hồi, làm sao có thể vượt thoát luân hồi cho được? Chỉ có triệt để buông xuống chuyện luân hồi, quư vị mới có thể vượt thoát luân hồi, như vậy th́ quư vị mới có thể nhập thâm pháp giới. Nhập thâm pháp giới như thế nào? Chính là phẩm cuối cùng, tức phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện. Chư vị phải biết, toàn văn phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện gồm bốn mươi quyển, những đồng học học kinh Hoa Nghiêm gọi phần ấy là Tứ Thập Hoa Nghiêm. Tứ Thập Hoa Nghiêm là một phẩm trong kinh Đại Hoa Nghiêm. Kinh văn của phẩm ấy dài nhất, trong ấy có năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài. Năm mươi ba lần tham học ấy chính là nhập pháp giới.

          Trong quá khứ, ở nơi đây, khi đó c̣n chưa có đạo tràng này, chúng tôi thuê gian pḥng lớn của Nhai Phường Phước Lợi Hội ở phố Tiêm Sa Trớ (Tsim Sha Tsui)[4]. Khi đó, mỗi tháng chúng tôi đến đây giảng năm ngày, giảng phẩm Nhập Pháp Giới. Chọn lọc để giảng, chẳng phải là giảng toàn bộ kinh văn. Đối với mỗi cuộc tham học trong năm mươi ba lần tham học, chọn ra một đoạn, tức đoạn hay khéo nhất để giới thiệu với chư vị. Nói đại ư, năm mươi ba lần tham học chính là cuộc sống hằng ngày. Trong xă hội, có rất nhiều nghề nghiệp, nam, nữ, già, trẻ, các nghề nghiệp, Phật, Bồ Tát chia những thứ ấy thành năm mươi ba loại, quư vị từ sáng đến tối đều có thể tiếp xúc. V́ thế, ở ngay trong cuộc sống hằng ngày của quư vị, chẳng hề ĺa khỏi cuộc sống. Trong cuộc sống hằng ngày, quư vị chuyển cảnh giới của chính ḿnh như thế nào? Đúng như kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Nếu có thể chuyển vật, ắt giống Như Lai”. Bọn phàm phu chúng ta chẳng biết chuyển, cớ sao chẳng biết chuyển? Quư vị đă bị cảnh giới xoay chuyển. Chẳng hạn như thấy một người quư vị ưa thích, hễ trông thấy cũng rất hoan hỷ, sẽ cười, sẽ rất vui sướng, quư vị đă bị cảnh giới chuyển! Trông thấy một kẻ quư vị căm ghét, tức oán thân trái chủ hoặc oan gia đối đầu của quư vị, vừa trông thấy, tâm sân khuể liền sanh khởi, rất bực bội. Cái tâm của quư vị đă bị cảnh giới xoay chuyển. Quư vị cũng nhập pháp giới, nhưng nhập nhân pháp giới trong lục đạo! “Thâm pháp giới” là Phật pháp giới, quư vị chẳng nhập Phật pháp giới. Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật đều có thể chuyển biến cảnh giới.

          Chuyển bằng cách nào? Đối với thuận cảnh, thiện duyên (những cảnh giới ấy hết sức tốt đẹp, mối quan hệ nhân sự cũng hết sức tốt đẹp, toàn là thiện nhân), chẳng có tham luyến, hoàn toàn dùng trí huệ để đối đăi, chớ nên dùng cảm t́nh. Cảm t́nh là ǵ? Phân biệt, chấp trước là t́nh, được gọi là “t́nh chấp”. Dùng trí huệ, luôn hoan hỷ, luôn b́nh đẳng, xem như nhau. “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, biết chân tướng sự thật này, những điều thần linh đă nói chính là chân tướng sự thật. Đối với nghịch cảnh, ác duyên, hoàn cảnh bất hảo, chẳng hạn như phong khí xă hội bất hảo, hoàn cảnh nhân sự bất hảo, làm ǵ cũng đều có chướng ngại, luôn có kẻ kiếm chuyện làm phiền, thậm chí hủy báng, hăm hại, ở trong hoàn cảnh ấy, chẳng sanh tâm sân khuể, tuyệt đối chẳng có sân khuể, chẳng báo thù, tâm địa vẫn b́nh thản.

          Mấy năm trước, tôi rời khỏi Tân Gia Ba, di dân sang Úc, đi theo tôi có hơn hai mươi đồng học. Tôi viết hai câu: Xử nghịch cảnh, tùy ác duyên, vô sân khuể, nghiệp chướng tận tiêu” (Ở trong nghịch cảnh, tùy thuận ác duyên, chẳng sân hận, nghiệp chướng tiêu hết). Trong nghịch cảnh, trong ác duyên, không sanh ḷng sân khuể, chẳng trả đũa, hoan hỷ, thuận chịu nghịch cảnh, nghiệp chướng sẽ tiêu. Câu thứ hai: Xử thuận cảnh, tùy thiện duyên” (Ở trong thuận cảnh, tùy thuận thiện duyên), hết thảy tốt đẹp, bất cứ thứ ǵ cũng đều rất đẹp đẽ. Vô tham si, phước đức toàn hiện” (Không tham si, phước đức hiện toàn vẹn). Trong thuận cảnh, chẳng tham ái, chẳng ngu si, cũng chớ nên chấp trước, hết thảy đều tùy thuận, phước báo hiện tiền. Đấy là ǵ? Năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử dùng điều này. Do đó, bất luận thuận cảnh hay nghịch cảnh, thiện duyên hay ác duyên, người ấy thảy đều được lợi ích, đạt được lợi ích ǵ vậy? Mài sạch tham, sân, si! Quư vị chẳng rèn luyện trong cảnh giới, làm sao quư vị biết đoạn trừ tham, sân, si? Tham, sân, si, mạn, nghi là ǵ? Là chấp trước, chấp trước nghiêm trọng. Ở đây, Ngài không chỉ đoạn trừ chấp trước, mà đồng thời cũng đoạn trừ phân biệt, cuối cùng nghiễm nhiên có thể đạt tới chẳng khởi tâm, không động niệm. V́ thế, tham học năm mươi ba lần viên măn, Ngài bèn viên măn thành Phật. Đấy là “nhập thâm pháp giới”, Ngài đă nêu gương cho chúng ta thấy.

          V́ thế, thuở ấy, thầy Phương giới thiệu Phật pháp cho tôi, đặc biệt giới thiệu kinh Hoa Nghiêm. Thầy nói đây là khái luận triết học trong kinh Phật, thầy coi kinh Phật như triết học, Hoa Nghiêm là triết học khái luận trong kinh Phật! Hay lắm! Có lư luận, thật sự là lư luận cao sâu, có phương pháp, phương pháp xảo diệu. Sau đó lại kèm theo biểu diễn, năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài là biểu diễn, làm cho quư vị thấy. Thầy nói trong các sách triết học trên cả thế giới, chẳng t́m thấy sách nào hay như thế. Kinh có biểu diễn, làm cho quư vị thấy, đấy mới là trí huệ chân chánh, trí huệ viên măn. Một người có thể sống cuộc đời trí huệ, chẳng có ǵ bất lợi, đạt được đại tự tại! V́ thế, học Hoa Nghiêm, phải nhập cảnh giới Hoa Nghiêm, pháp giới Hoa Nghiêm chính “thâm pháp giới”. Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói tới chỗ này!

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một

Tịnh Hạnh Phẩm, phần 48 hết

 



[1] Quách (), c̣n gọi là “thành tường” (城墙), là lớp tường thành bọc ngoài lớp tường thành chính để tăng thêm tác dụng bảo vệ. Phía ngoài lớp Quách thường có hệ thống hào sâu để ngăn ngừa địch quân áp sát chân thành tấn công. Hệ thống hào nước sâu này được gọi là “thành hào” (城濠), hoặc “hộ thành hà” (護城河). Trên quách, thường có những chỗ xây lơm xuống gọi là “đỏa khẩu” (垛口) để cung thủ có chỗ bắn tên ra. Cứ cách một quăng lại có “thành lâu” (城樓), tức là tháp canh. Tháp canh ở bốn góc được gọi là “giác lâu” (角樓). Cửa thành ở mỗi mặt của Quách tương ứng với cửa thành tại lớp tường thành chính.

[2] Thuyết Thư (說書), hay c̣n gọi là B́nh Thư (评书) là một h́nh thức kể chuyện theo lối giảng diễn rất thịnh hành vào thời cổ. Riêng tại Quảng Đông, Hồ Bắc th́ gọi là Giảng Cổ (kể chuyện xưa). H́nh thức này được thành lập từ đời Tống. Các nhà “thuyết thư” chuyên nghiệp thường là những người có học thức, có tài ăn nói, kể lại các câu chuyện (thường là những câu chuyện lịch sử) rất sinh động, hùng hồn, khiến cho người nghe trầm trồ tán thưởng. Người kể chuyện thường mặc trường bào, ngồi trước một cái bàn nhỏ, tay cầm quạt phe phẩy. Họ liên tục xếp quạt, mở quạt theo từng diễn biến để tạo hiệu quả. Đôi khi họ c̣n dùng tỉnh mộc, tức khối gỗ nhỏ để gơ xuống bàn tạo thành một tiếng “cạch” rất lớn để gây chú ư. Họ luyện cách nói nhấn nhá, biết ngừng đúng những chỗ cao trào, khiến cho người nghe thắc mắc, háo hức muốn nghe thêm. Đôi khi đến cao trào họ ngưng ngang tại đó, sẽ hẹn ngày hôm sau kể tiếp, khiến người nghe hôm sau lại ṃ đến nghe. Có nhiều chuyện ai cũng biết như Thủy Hử, nhưng với tài nghệ của người Thuyết Thư, thính giả nghe đi nghe lại chẳng chán. Bộ Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa và Thủy Hử đă được biên soạn dựa theo những câu chuyện lưu hành trong dân gian từ các nhà Thuyết Thư, tức là những giai thoại không được ghi chép trong chánh sử.

[3] Brian Leslie Weiss (sanh năm 1944) là nhà phân tâm học và thôi miên học người Mỹ. Ông là tác giả của nhiều đầu sách bán rất chạy (best seller) về đề tài tiền kiếp. Ông có nhiều báo cáo nghiên cứu về các đề tài tiền kiếp, tái sanh, đời tương lai cũng như sự tồn tại của linh hồn sau khi chết. Ông tốt nghiệp từ trường y khoa thuộc viện đại học Yale vào năm 1970. Làm bác sĩ nội trú tại Trung Tâm Y Tế của viện đại học Nữu Ước, rồi làm bác sĩ nội trú tại Yale. Ông trở thành trưởng khoa Phân Tâm Học của Mount Sinai Medical Center tại Miami, Florida. Ông nẩy sanh hứng thú nghiên cứu về tiền kiếp khi chữa trị cho một bệnh nhân được biết dưới bí danh là Catherine. Trong những lần thôi miên, bà này đă kể nhiều chuyện về kiếp trước. Kiểm chứng bằng cách đối chiếu với những hồ sơ cũ tại kho dữ liệu thành phố, dần dần ông bị thuyết phục vào sự tái sanh. Tác phẩm bán chạy nhất của ông là Only Love is Real.

[4] Tiêm Sa Trớ (尖沙咀) c̣n gọi là Tiêm Sa Chủy (尖沙嘴) là một khu phố sầm uất ở phía Nam khu Cửu Long (Kowloon) của Hương Cảng, nh́n thẳng ra vịnh Victoria. Phần lớn các viện bảo tàng và các trung tâm thương mại, dịch vụ của Hương Cảng nằm ở khu này.