Đại Phương Quảng Phật

Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 55

大方廣佛華嚴經

(十一)淨行品

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Địa điểm: Hương Cảng Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội

Khởi giảng từ ngày mồng Bảy tháng Mười Một năm 2005

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Minh Tiến

Tập 1571

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, đoạn thứ chín trong phần Kệ Tụng, xem từ bài kệ thứ tư:

 

          (Kinh) Kiến Phật tháp thời, đương nguyện chúng sanh, tôn trọng như tháp, thọ thiên nhân cúng.

          ()見佛塔時。當願眾生。尊重如塔。受天人供。

          (Kinh: Khi thấy Phật tháp, nguyện cho chúng sanh, tôn trọng như tháp, được trời, người cúng).

 

          “Tháp” () là một kiến trúc cao, rơ rệt. Vào thời cổ, quá nửa là dùng để cất giữ xá-lợi; sau này, tháp cũng trở thành một biểu tượng trong Phật môn. Tại Trung Hoa, hai ngàn năm qua, đại đa số chùa Phật đều có tháp, có những ṭa tháp được xây cất rất cao, rất lớn, h́nh thành một thứ giống như trong hiện tại được gọi là “địa tiêu” (地標, đặc điểm tiêu biểu của một vùng). Tháp đặt tại đó, có một loại tác dụng dường như để trấn tà, tránh tà. Từ xưa đến nay, người phương Đông chú trọng Phong Thủy. Trong Phong Thủy, tháp cũng dấy lên tác dụng nhất định. Chỗ có tháp th́ nhất định có chùa Phật, tự viện am đường nhất định có người tu hành. Do vậy, Bồ Tát trông thấy tháp Phật, tự nhiên sẽ xứng tánh, phát ra đại nguyện “đương nguyện chúng sanh, tôn trọng như tháp, thọ thiên nhân cúng” (nguyện cho chúng sanh, tôn trọng như tháp, nhận trời, người cúng), “cúng” () là cúng dường, [“thọ thiên nhân cúng” là] tiếp nhận sự cúng dường của trời, người. Chúng ta phải ư nghĩa biểu thị pháp trong kinh giáo. Trong bài kệ này, quan trọng nhất là hai chữ “tôn trọng” (尊重). Đặc biệt là trong xă hội hiện tiền, điều thiếu sót phổ biến là “tự tôn, tự trọng”. Tự tôn tự trọng chắc chắn chẳng phải là tự đại cuồng vọng, chẳng phải vậy! “Tôn” () là tôn nghiêm, “trọng” () là trọng hậu. Người Hoa thường nói“trung hậu, lăo thành”; đấy cũng là Tánh Đức, tương ứng với tự tánh. Tự tánh vốn là tôn trọng.

          Con người phải như thế nào th́ mới là tự tôn? Người đă tự tôn rồi sau đó sẽ được kẻ khác tôn trọng. Chính ḿnh chẳng biết tôn trọng chính ḿnh, ai sẽ tôn trọng quư vị? Vậy th́ chúng ta phải nói: Như thế nào mới là tôn trọng chính ḿnh? Trong kinh giáo, đức Phật đă dạy chúng ta, hết thảy chúng sanh (ở đây là nói đến hữu t́nh chúng sanh) đều có Phật Tánh, hễ có Phật Tánh th́ sẽ đều làm Phật. Nói theo pháp thế gian, con người tánh vốn lành, “nhân chi sơ, tánh bổn thiện” (con người thoạt đầu tánh vốn lành). Do vậy, chúng ta thấu hiểu như thế nào là tự tôn tự trọng: Trong cuộc sống hằng ngày, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác có tương ứng với bổn thiện hay không? Tương ứng với bổn thiện th́ là tự tôn tự trọng. Ta tôn trọng Tánh Đức của ta, ta tôn trọng bổn thiện của ta, người khác sẽ chẳng có ác niệm. Trong Phật pháp, ta tôn trọng Phật Tánh của ta, ta tôn trọng Tánh Đức của ta, nói theo tổng cương lănh sẽ là đại Bồ Đề tâm, nói theo cái nhân th́ là Bồ Đề tâm, nói theo cái quả sẽ là đại Niết Bàn.

          Đối với Bồ Đề tâm, trong các buổi giảng, chúng tôi đă nói rất rơ ràng: “Thể của Bồ Đề tâm là chân thành”. Hai chữ Chân Thành rất khó hiểu. Nói thật ra, để hiểu th́ chẳng dễ hiểu, đương nhiên là rất khó giảng giải. Do rất khó giảng giải, tự nhiên sẽ là rất khó hiểu. Đấy là một cảnh giới mà người đă thật sự giác ngộ, thật sự thông đạt sẽ hiểu rơ; bởi lẽ, nó là Thể. Cổ nhân chú giải đă [từ ngữ này đă] chú giải rất hay, nhưng nghĩa lư ấy quá sâu, xác thực là chẳng dễ dàng lănh hội. Chân là ǵ? Ĺa khỏi hết thảy hư vọng là Chân. Chân là chẳng giả. Thành sẽ chẳng hư vọng. Hư t́nh giả ư tương phản với Thành. Phản diện của Thành là hư t́nh giả ư; phản diện của hư t́nh giả ư là chân thành. [Đối với người] đă từng học Phật Học, hơi khế nhập Phật pháp đôi chút, khi diễn tả [ư nghĩa của Chân Thành] th́ khá dễ dàng. Nếu quư vị sử dụng tám thức năm mươi mốt Tâm Sở th́ chẳng phải là chân thành, chẳng có Bồ Đề tâm. Nếu quư vị có thể buông bỏ tám thức và năm mươi mốt Tâm Sở, chẳng sử dụng chúng, đy là chân thành, Tánh Đức liền hiện tiền. V́ sao? Tám thức và năm mươi mốt Tâm Sở là vọng tâm. Vọng tâm chướng ngại chân tâm. Chân thành là chân tâm, là tự tánh, bổn tánh, Chân Như của chúng ta.

          “Minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”, khi nào kiến tánh? Buông xuống tám thức và năm mươi mốt Tâm Sở, chẳng sử dụng chúng. Những thứ ấy đem lại phiền phức. Tám thức là ǵ? Tôi nghĩ các đồng tu thông thường đều có thể tiếp nhận điều này. Thức thứ tám được gọi là A Lại Da, thức thứ bảy là Mạt Na, thức thứ sáu là Ư Thức. Những thức trước đó là Nhăn Thức, Nhĩ Thức, Tỵ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, [tương ứng với] mắt, tai, mũi lưỡi, thân, đấy gọi là “tiền ngũ thức”, gộp chung lại [với ba thức đă nêu trong đoạn trước] sẽ thành tám món, trong Duy Thức gọi là Tám Tâm Vương. Đấy chẳng phải là chân tâm, mà là vọng tâm. Dịch theo ư nghĩa th́ A Lại Da là Tạng Thức, Tạng () là “bao hàm”. Nói theo kiểu hiện thời, [A Lại Da Thức] giống như cái kho, hoặc pḥng hồ sơ. Quư vị thấy đó, chúng ta thấy sắc, nghe tiếng đều có một ấn tượng. Ấn tượng ấy được chứa đựng trong A Lại Da Thức; v́ thế, A Lại Da Thức giống như cái kho. Chúng ta mới gặp một người lần đầu, gặp mặt người ấy bèn có ấn tượng, lần thứ hai gặp mặt, vẫn nhận biết người ấy. V́ sao nhận biết? V́ trong A Lại Da Thức của quư vị đă cất giữ hồ sơ trong đó, nay lại trông thấy, lập tức lôi hồ sơ ấy ra, vừa đối chiếu bèn thấy chẳng sai, đúng là người ấy, nhận biết như thế đó!       

          Trong A Lại Da Thức chứa đựng vô lượng vô biên hồ sơ; v́ sao có nhiều đến thế? Đời đời kiếp kiếp, [tức là] đời đời kiếp kiếp từ vô lượng kiếp đến nay, thảy đều tàng trữ trong ấy, chẳng sót một điều ǵ. Hễ gặp duyên, nó liền dấy lên hiện hành, liền khởi tác dụng; đấy là chủng tử. Trong A Lại Da Thức chứa đựng chủng tử; v́ thế, A Lại Da c̣n gọi là Chủng Tử Thức. Thức thứ bảy tức Mạt Na là chấp trước, thức thứ sáu tức Ư Thức là phân biệt, năm thức trước khởi tác dụng, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng. Năm thức trước, mắt chỉ là trông thấy, chỉ thấy sắc, có phân biệt hay không? Chẳng có, mà cũng chẳng có chấp trước, chư vị phải hiểu điều này! A Lại Da cũng chẳng có phân biệt, mà cũng chẳng có chấp trước, nó chỉ cất chứa ấn tượng. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, cho đến ư, lại c̣n có ư thức. Ư thức là niệm, dấy lên một niệm cũng giữ lại ấn tượng. V́ thế, trong cái kho A Lại Da này có quá nhiều chủng tử. Đức Phật dạy chúng ta, đối với mỗi chúng sanh, chủng tử của mười pháp giới thảy đều có. Trong A Lại Da Thức của chính quư vị có chủng tử Phật, có chủng tử Bồ Tát, có chủng tử của Thanh Văn và Duyên Giác, có chủng tử của chư thiên. Có [chủng tử của] người, tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chủng tử ǵ cũng đều có.

          Chủng tử dấy lên hiện hành cần đến duyên, chủng tử là nhân. Nhân duyên đầy đủ mới sanh ra quả. Ví như trong đời này, chúng ta được làm thân người, sanh đến thế giới này. Đến như thế nào? Chính là v́ trong A Lại Da có chủng tử người. Chủng tử người là ǵ? Trong đời quá khứ, đă từng tu Ngũ Giới, Thập Thiện, tu khá lắm. Ngũ Giới và Thập Thiện là chủng tử của loài người. Nếu là Thượng Phẩm Thập Thiện, c̣n thêm Tứ Vô Lượng Tâm, tức là từ, bi, hỷ, xả; đấy là chủng tử của thiên đạo. Nói thật thà, chủng tử cũng là b́nh đẳng, hết thảy chúng sanh thảy đều có, c̣n như quư vị vào đường nào là do gặp duyên [của đường đó], cũng có nghĩa là chủng tử gặp được những điều kiện khiến cho nó có thể đơm bông kết quả. Ví như chủng tử (hạt giống) của thực vật, thực vật muốn có thể khai hoa kết quả th́ nhất định phải có đất tốt, hết sức thích ứng với nó. Đă có loại đất ấy, lại c̣n có nước, có phân bón, có ánh sáng mặt trời, có không khí, những thứ ấy đều trọn đủ, nó sẽ tăng trưởng rất tốt đẹp.

          Do vậy, đức Phật bảo chúng ta, đây là nói đại lược, chẳng thể nói cặn kẽ. Nói cặn kẽ th́ nhân duyên là vô lượng. Quy nạp vô lượng nhân duyên thành bốn loại lớn:

          1) Thân nhân duyên (親因緣): Thân nhân duyên chính là những chủng tử nghiệp tập được chứa đựng trong A Lại Da Thức.

          2) Sở duyên duyên (所緣緣): Cái duyên này cũng trọn đủ. Sở duyên duyên chính là bản thân chủng tử đă có trọn đủ quả báo.

          3) Vô gián duyên (無間緣): Năng lượng ấy hoặc năng lực ấy sẽ vĩnh viễn chẳng tiêu mất.

          Như vậy là đối với bốn loại duyên của chủng tử, chính bản thân chủng tử đă hội đủ ba điều kiện ấy, nó đều có trọn đủ. Như thế nào th́ nó mới có thể dấy lên hiện hành? Cần đến tăng thượng duyên!

          4) Tăng thượng duyên (增上緣) là hoàn cảnh bên ngoài. Ví như quư vị có chủng tử trong nhân đạo, xác thực là đă trọn đủ điều kiện ấy, nhưng điều đầu tiên là quư vị phải có cha mẹ. Cha mẹ là tăng thượng duyên của quư vị. Linh tánh của quư vị gặp được cái duyên là cha mẹ, nó sẽ vào trong thai. Ở trong thai là duyên. Ở trong thai hấp thụ dưỡng chất, dần dần từng bước trưởng thành, mười tháng bèn lọt ḷng. Sau khi đă sanh ra, cha mẹ chăm sóc, nuôi nấng quư vị. Những điều này đều là duyên, chẳng thể gián đoạn giữa chừng. Hễ gián đoạn giữa chừng, quư vị sẽ chẳng sống nổi! Cha mẹ có tâm yêu thương, hy vọng quư vị khôn lớn, kết hợp với cái duyên của chính quư vị, quư vị bèn được làm người, từ từ trưởng thành.

          Phật pháp đă nói những đạo lư và chân tướng sự thật này rất thấu triệt. Thuở ấy, chẳng có khoa học kỹ thuật ǵ, mà cũng chẳng có những phát minh máy móc! Quư vị thấy trong kinh điển, Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói loài người mang thai, cứ bảy ngày biến hóa một lần. Những lời Ngài dạy xác thực đă vượt trỗi y học hiện đại. V́ sao đức Phật có thể nói rơ ràng ngần ấy? Thiên Nhăn của đức Phật đă trông thấy rất rơ ràng: Thai nhi ở trong thai mẹ, biến hóa từng ngày như thế nào, Ngài đều trông thấy rất rơ rệt. Đức Phật có thể thấy thấu suốt. Hiện thời, [các nhà khoa học, bác sĩ] cần phải dựa vào máy móc, đức Phật chẳng cần. Do vậy, nói đến khoa học, v́ sao năng lực của đức Phật vượt trỗi khoa học? Đức Phật nói điều này chẳng phải là sở trường chuyên biệt của Ngài, [mà là] trong tự tánh của hết thảy chúng sanh vốn sẵn có loại năng lực ấy. Vốn sẵn đầy đủ, quư vị chẳng làm cho nó khôi phục, tức là quư vị chẳng tôn trọng chính ḿnh. Vốn sẵn đầy đủ, cớ sao hiện thời chẳng có? Đức Phật đă nói rất rơ ràng: V́ quư vị dấy lên chướng ngại khiến cho trí huệ và đức năng vốn sẵn có bị chướng ngại. Dấy lên chướng ngại ǵ vậy? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước! V́ thế, năng lực của quư vị bị mất đi.

          Các nhà khoa học hiện thời phát hiện đủ thứ; nói thật ra, những ǵ họ biết về chân tướng của vũ trụ chỉ là một, hai phần trăm mà thôi, cũng là rất khá rồi. Đối với chân tướng sự thật, toàn là đang sờ sẫm, suy đoán chân tướng, ai cũng đều chẳng có năng lực trông thấy. V́ sao? Họ có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước, vậy là khó lắm! V́ sao chư Phật, Bồ Tát có thể trông thấy? Các Ngài chẳng cần phải nghiên cứu, v́ đă đích thân trông thấy, tức là khử sạch, buông bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ mới là tôn trọng chính ḿnh. Hằng ngày quư vị vẫn c̣n khởi tâm động niệm, có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, [tức là] chẳng biết tôn trọng chính ḿnh! Chúng ta đời đời kiếp kiếp luân hồi trong lục đạo là do chẳng biết tôn trọng Tánh Đức, chẳng biết tôn trọng tự tánh. Biến trí huệ thành phiền năo, biến quả đức đại Niết Bàn thành sanh tử, quư vị nói xem có oan uổng hay không?

          Trong giáo pháp Đại Thừa, trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă dạy chúng ta, khi nào quư vị có thể khẳng định, thật sự nhận biết “sanh tử là Niết Bàn, phiền năo là Bồ Đề”. Chúng tôi càng nói điều này càng mơ hồ. Bồ Đề là đại giác, “không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể”, đó là tướng của Tánh Đức, hiện tướng của Tánh Đức. Khi mê, nó liền biến thành phiền năo, khi đă ngộ th́ là Bồ Đề. Niết Bàn là cái quả của Tánh Đức. Phật pháp chẳng ĺa nhân quả. Cái quả ấy, ngộ th́ là đại Niết Bàn, mê là sanh tử, nó là một, chẳng hai. Giống như nay chúng ta nói, nếu quư vị thật sự tôn trọng Tánh Đức của chính ḿnh, quư vị là Phật, là Pháp Thân Bồ Tát. Quư vị chẳng tôn trọng Tánh Đức của chính ḿnh, quư vị là lục đạo phàm phu. Đạo lư là như thế đó.

          V́ thế, “tôn trọng như tháp”, tháp là cao, rơ rệt, [hay nói gọn là] “cao hiển”. Trời, người kính ngưỡng; trời, người tự nhiên sẽ cúng dường. Chúng ta rất dễ dàng lănh hội điều này. Trong thế gian này, người thật sự có cống hiến đối với xă hội, đối với đại chúng, sẽ luôn được đại chúng yêu mến, đại chúng tôn trọng, đồng thời cũng sẽ có rất nhiều đại chúng cúng dường, chính là do đạo lư này. Nếu quư vị thật sự tôn trọng Tánh Đức, tuyệt diệu chi hơn? Chúng ta mê mất đă lâu, đă mê mất Tánh Đức rất lâu, khởi tâm động niệm giống như kinh Địa Tạng đă dạy: “Không ǵ chẳng phải là tội, không ǵ chẳng phải là nghiệp”. Ngôn ngữ và tạo tác đều là tự lợi. Hễ tự lợi (mưu lợi cho chính ḿnh), chắc chắn sẽ tổn hại kẻ khác! Quư vị đừng cho rằng: “Ta ích kỷ, nhưng ta chẳng tổn hại người khác”, sai mất rồi! Ích kỷ sẽ tổn hại người khác! Đặc biệt là học Phật, người học Phật mà ích kỷ, “ta chẳng tổn hại người khác”, chính quư vị hoàn toàn chẳng biết chính ḿnh đă tổn hại người khác to lớn! Ta tổn hại người khác ở chỗ nào? Sự ích kỷ của quư vị đă phá hoại h́nh tượng Phật giáo, khiến cho khá nhiều người trông thấy [bèn nghĩ], “học Phật là như thế đó, chẳng thể học Phật được!” Tội này nặng lắm mà chính quư vị chẳng biết!

          Trong một gia đ́nh, nếu chính quư vị chẳng biết tôn trọng chính ḿnh, người khác trông thấy hành vi của quư vị chẳng thích đáng, sẽ chửi bới cha mẹ, chửi bới tổ tiên của quư vị, có đúng như vậy hay chăng? Vậy th́ quư vị hăy nghĩ xem, chúng ta là đệ tử đức Phật, ở khắp mọi nơi đều phải làm rạng danh đức Phật, phải giữ mặt mũi cho Phật, Bồ Tát, vậy th́ ta phải làm cho tốt. Làm như thế nào? Y giáo phụng hành, đấy là tôn trọng chính ḿnh, tôn trọng giáo huấn của Phật, Bồ Tát, ta là học tṛ ngoan của Phật, khiến cho đại chúng trong xă hội nh́n vào, [sẽ cảm nhận] “học tṛ của đức Phật khác hẳn, học tṛ đức Phật thật sự đáng cho người khác tôn trọng”. Vậy là đức Phật được rạng mày nở mặt. Tôi nghĩ đạo lư này chẳng khó hiểu, hơi lắng ḷng chú tâm suy nghĩ, quư vị sẽ đều có thể hiểu rơ!

          Phật là tâm ǵ, ta là cái tâm ǵ? Tâm niệm của Phật là niệm nào cũng đều nghĩ đến chúng sanh khổ nạn, những chúng sanh nào khổ nạn? Mười pháp giới khổ sở, lục đạo khổ sở, tam đồ càng khổ hơn. Chính ḿnh chẳng biết, Phật, Bồ Tát thấy rất rơ ràng. Chư Phật, Bồ Tát niệm nào cũng đều giúp đỡ hết thảy chúng sanh ĺa khổ được vui. Niềm vui ấy là niềm vui ǵ vậy? Niềm vui Niết Bàn; tôi vừa mới nói niềm vui Niết Bàn là quả. Như thế nào th́ mới thể đạt được niềm vui Niết Bàn? Phải phát Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm là nhân; đă có nhân th́ sẽ có quả. Nay chúng ta là cái tâm ǵ? Tâm luân hồi. Những ǵ là tâm luân hồi? Tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến. Chúng ta tự hỏi chính ḿnh, có tâm tham hay chăng? Đối với tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, quư vị có tham hay không? Lúc quư vị chẳng đạt được, có sân khuể hay không? Quư vị có biết tham, sân là sai lầm hay không? Chẳng biết tham, sân là sai lầm; đấy là ngu si. Phật, Bồ Tát rát miệng, buốt ḷng chỉ dạy quư vị, quư vị hoài nghi, chẳng tin tưởng. Thật sự đến cứu quư vị, v́ quư vị dẹp khổ, ban vui, quư vị hoài nghi, chẳng tin tưởng, chẳng tiếp nhận. Khởi tâm động niệm toàn là trái nghịch Tánh Đức, sai lầm đặc biệt to lớn! Đấy là tâm luân hồi, tâm luân hồi đang làm chủ tể của quư vị. Do vậy, quư vị khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác toàn là nghiệp luân hồi. Tâm luân hồi tạo nghiệp luân hồi, tâm Bồ Đề tạo nghiệp Bồ Đề.

          Chính ḿnh luôn cảm thấy bản thân c̣n khá lắm, luôn thấy khuyết điểm và lỗi lầm của người khác, trước nay chưa hề thấy lỗi lầm của chính ḿnh. Đấy là ǵ? Chẳng biết tôn trọng Tánh Đức của chính ḿnh, chẳng biết tôn trọng linh tánh chính ḿnh. Đấy là sự thua thiệt to lớn, vô lượng kiếp đọa lạc trong lục đạo luân hồi! Nếu quư vị liễu giải sự thật này, Phật, Bồ Tát sẽ hỏi quư vị một câu: “Chẳng phải là quư vị có lỗi với chính ḿnh hay chăng? Chẳng phải là quư vị đă có lỗi với tự tánh của chính ḿnh ư? Chẳng phải là quư vị đă có lỗi với bổn thiện của chính ḿnh ư?” Trong kinh điển, đức Phật đă nói những lời ấy quá nhiều! Bồ Đề tâm khởi tác dụng, ở đây chúng ta thấy, từ trong phẩm kinh này, chúng ta thấy một trăm bốn mươi mốt nguyện của Bồ Tát. Chỉ cần quư vị có Bồ Đề tâm, khẳng định quư vị khởi tâm động niệm chắc chắn sẽ tương ứng với phẩm Tịnh Hạnh. Phẩm Tịnh Hạnh chỉ nêu những thí dụ tiêu biểu mà thôi. Từ sáng đến tối, quư vị khởi tâm động niệm, không chỉ là một trăm bốn mươi mốt lần, mỗi niệm đều tương ứng với Tánh Đức. Đấy mới là tôn trọng chính ḿnh, mới là thật sự tự tôn tự trọng.

          Do vậy có thể biết, trong tiêu chuẩn của Phật pháp, hạn định thấp nhất của tự tôn tự trọng là Bồ Đề tâm. “Chẳng phát Bồ Đề tâm” th́ chẳng thể coi là “thật sự tự tôn tự trọng”, tiêu chuẩn này cao lắm! Tiêu chuẩn này giống như mục đích hy vọng đạt tới khi chúng ta đi xa. Tuy chưa đạt tới đích đến, nay chúng ta mong đến nơi đó, chúng ta phải chọn lựa phương tiện giao thông nào? Đi theo phương hướng nào? Đấy là ǵ? Nhà Phật gọi đó là “tu hành”, quư vị chọn lựa pháp môn nào? Pháp môn nhiều lắm, tám vạn bốn ngàn. Tại Trung Hoa, để học Phật th́ pháp môn có mười tông, trong mỗi tông c̣n có phái. Kinh luận được sưu tập trong Đại Tạng Kinh có hơn sáu ngàn bộ. Nương theo một bộ kinh [để học tập, tu hành] đều được, giống như chúng ta mong đạt tới đích đến, phải t́m kiếm một công cụ, ngồi xe hay ngồi thuyền? Xe có rất nhiều chiếc, chúng ta chọn một cỗ xe; giống như từ trong Đại Tạng Kinh, chọn ra một bộ kinh, chọn lựa một pháp môn.

          Sau khi đă chọn lựa nhất định, mục tiêu chánh xác, phương hướng chánh xác, phải buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, thâm nhập một môn, huân tu lâu dài, sẽ đạt tới đích đến, [tức là] đạt tới quả đức Đại Niết Bàn. Chúng ta chọn lựa phương hướng, chọn lựa mục tiêu, chọn lựa công cụ, đấy cũng là tự tôn tự trọng. Nhưng sự tự tôn tự trọng này chẳng phải là thật. Thật và giả nói như thế nào? Thật là vĩnh viễn bất biến, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, đấy là thật. Chúng ta chọn lựa một pháp chẳng đáng trông cậy, nói không chừng, sau khi tu tập một khoảng thời gian, sẽ không ưa thích pháp môn ấy, [sẽ so đo] c̣n có những pháp hay hơn pháp ấy. Người đó muốn thay đổi công cụ, xe lửa không bằng xe hơi, [cho rằng cần phải] thay đổi công cụ; hễ thay đổi th́ sẽ thoái chuyển, thậm chí chôn vùi tín tâm, dường như là tu hành đă rất lâu mà chẳng có hiệu quả, nghi t́nh ngày càng nặng thêm, hễ hoài nghi, có thể thành tựu hay không? Hễ hoài nghi, sẽ ngay lập tức thoái đọa, bỏ sạch công lao trước kia!

          Nhà Phật thường nói đến Tam Chuyển Pháp Luân, đấy là nói đến ba loại phương thức giáo học:

          1) Nói theo phía người thượng căn, tức là người thật sự thông minh, có trí huệ, thường nói là “điểm đến rồi thôi”, dễ dạy! Hễ điểm đến bèn chẳng có vấn đề ǵ, người ấy tự ḿnh lên đường, tin tưởng, chiếu theo lời chỉ dạy của quư vị để thâm nhập một môn, huân tu lâu dài, người ấy thành công, thành công rất dễ dàng! Loại thứ hai là kẻ trung căn, kẻ trung căn chẳng có trí huệ như vậy.

          2) Hạng trung căn nghi lự nhiều, vọng tưởng, phân biệt nhiều, chúng ta thường nói là “nghiệp chướng nặng nề”. Quư vị điểm đến không được! Kẻ ấy chưa chắc đă làm. Ắt phải rát miệng buốt ḷng khuyên bảo, khuyên lơn kẻ ấy, dùng sự chân thành để cảm động kẻ ấy. Kẻ ấy sẽ cảm thấy: Nếu ta chẳng nghiêm túc tu tập, ta có lỗi với thầy. Nếu ta chẳng nghiêm túc học đàng hoàng, ta có lỗi với cha mẹ. Đấy là hạng trung căn, cho nên phải khuyên dạy.

          3) Hạ căn khó lắm, quư vị khuyên họ, họ cũng chẳng thể tiếp nhận, hạng này khó độ nhất! Ắt phải khiến cho họ tự trông thấy, thấy rơ “tạo ác nghiệp sẽ bị ác báo”, họ bèn tỉnh giác: “Chuyện này chớ nên làm. Hễ làm sẽ có kết quả như vậy. Làm việc thiện có thiện quả”. Họ ắt phải đích thân trông thấy nhân quả báo ứng th́ mới tin tưởng. Niệm Phật nhất định phải là tự ḿnh trông thấy, người niệm Phật ấy thật sự văng sanh, kẻ đó mới có thể tự phấn chấn: “Người ấy làm được, ta phải nên làm thử xem, ta cũng đáng nên làm được”. Đấy là phường hạ căn.

          V́ thế, đối với ba loại căn tánh này, đức Phật bèn có ba cách nói khác nhau. Đối với kẻ hạ căn bèn Tác Chứng Chuyển (作證轉), [tức là] hiện thân thuyết pháp để chứng minh. Đức Phật nói với các đệ tử: Ta dạy quư vị buông xuống chấp trước, đối với pháp thế gian và xuất thế gian, hết thảy người, hết thảy sự, hết thảy vật, chớ nên chấp trước nữa, quư vị thấy ta đă buông xuống. Đức Phật thật sự buông xuống, buông xuống ích kỷ, buông xuống tiếng tăm, lợi dưỡng, buông xuống ngũ dục, lục trần, buông xuống tham, sân, si, mạn, lăo nhân gia nêu gương cho chúng ta thấy. Kẻ hạ căn trông thấy h́nh tượng đức Phật, nh́n vào cuộc đời đức Phật, sẽ bị đức Phật cảm vời. Đức Phật dạy chúng ta từ bỏ tham, sân, si, Ngài đă làm được, chẳng có tâm hâm mộ vinh hoa phú quư thế gian, mà cũng chẳng dấy niệm [nghĩ tới]. Cuộc sống giàu có, địa vị cao trỗi, ngay cả đế vương Ngài cũng chẳng màng, thật sự buông xuống rất triệt để. Tu hành trong một số tôn giáo có thể sanh lên trời, nhưng cơi trời Ngài cũng chẳng cần, nêu gương cho mọi người thấy. Sau khi đức Phật diệt độ, càng tuyệt diệu là các đệ tử đức Phật cũng làm giống như đức Phật, khiến cho mọi người tâm phục, khẩu phục, thật sự làm được!

          Sự thị hiện cuối cùng là chẳng ngă bệnh, tự tại rời khỏi thế gian này. Chúng ta thấy Văng Sanh Truyện chép [các vị tu Tịnh Độ thành tựu] đứng mất, ngồi mất, chẳng sanh bệnh, biết trước lúc mất, biết ngày nào sẽ ra đi, tuyên bố cùng mọi người, đến khi đó, thật sự ra đi. Đấy đều là Tác Chứng Chuyển để độ kẻ hạ căn. Kẻ hạ căn trông thấy t́nh h́nh ấy, họ sẽ tỉnh ngộ. Kẻ hạ hạ căn trông thấy những gương ấy, vẫn chẳng giác ngộ; đấy là do cái duyên chưa chín muồi! Duyên chưa chín muồi th́ trong Phật môn thường nói: “Phật chẳng độ kẻ không có duyên”. Phương tiện của đức Phật chỉ có ngần ấy, thi thố hết sạch rồi mà quư vị vẫn chẳng tin tưởng, vẫn chẳng thể cảm động, vậy th́ chờ đến đời sau, kiếp sau, chứ đời này chẳng được! Nhưng quư vị đă thấy những chuyện ấy, đă gieo thiện căn trong A Lại Da. Quư vị trông thấy, nghe thấy, tiếp xúc, đức Phật hiện thân thuyết pháp, làm ra những dáng vẻ ấy, cho đến đối với các đệ tử nhà Phật đă làm ra h́nh tượng ấy cho quư vị trông thấy, [thế mà] quư vị vẫn chẳng thể đắc độ, vẫn chẳng động tâm, khi ấy, chính ḿnh phải nên biết [bản thân] nghiệp chướng nặng nề dường ấy! Đời này chẳng thể đắc độ, chắc chắn là phải tiếp tục luân hồi trong lục đạo. Tiếp tục luân hồi trong lục đạo, quư vị sẽ biết tam đồ khổ sở, đặc biệt là nỗi khổ trong địa ngục.

          Đời Tống, pháp sư Oánh Kha thị hiện văng sanh. Đây là một vị xuất gia phá giới, chẳng giữ Thanh Quy. Ngài đă v́ chúng ta thị hiện, tức là Ngài sợ nỗi khổ trong địa ngục, [nhận biết] chính ḿnh nghiệp chướng tập khí nặng nề ngần ấy, hằng ngày làm chuyện sai quấy. Ngài hỏi đồng tham đạo hữu: “Kẻ giống như tôi chắc chắn đọa địa ngục, các vị có phương pháp ǵ để cứu tôi?” Các vị đồng học vẫn khá lắm, cho Sư một quyển Văng Sanh Truyện, bảo Sư hăy tự xem. Sau khi xem xong, Sư hết sức cảm động, đóng chặt cửa niệm Phật. Kinh Di Đà nói “nhược nhất nhật” cho đến “nhược thất nhật”, Sư chẳng ngủ nghê, chẳng ăn thứ ǵ, không uống nước, tức là cứ một mạch [mà niệm], [chỉ có] một ư niệm cầu A Di Đà Phật. Đó gọi là “hễ thành bèn linh”, người chân thành đến tột bậc, suốt ba ngày ba đêm niệm A Di Đà Phật hiện đến. A Di Đà Phật hiện thân, bảo Sư: “Ông hăy c̣n có mười năm tuổi thọ, chờ đến lúc ông mạng chung, ta sẽ lại đến tiếp dẫn ông, ông hăy khéo niệm mười năm”. Oánh Kha thưa: “Không được ạ! Con căn tánh kém hèn quá nặng, chẳng chống đỡ nổi dụ dỗ, mê hoặc. Trong mười năm ấy, con sẽ phạm rất nhiều tội lỗi, con chẳng cần thọ mạng, nay con đi theo Ngài”. A Di Đà Phật nghe nói cũng đồng ư, bảo Sư: “Được! Ba ngày sau ta sẽ đến đón ông”. Thật vậy! Ba ngày sau, Phật đón Sư văng sanh.

          Những trường hợp như vậy là ǵ? Toàn là Phật, Bồ Tát thị hiện Tác Chứng Chuyển cho chúng ta, nhằm chứng minh. Sự chứng minh ấy triều đại nào cũng đều có, hiện thời cũng có. Chúng ta nghe, thấy, nếu có cái tâm cảnh giác cao độ, như vậy là quư vị sẽ c̣n được cứu. Nếu nghe xong mà trơ trơ chai lỳ, quư vị biết là quư vị hết cách cứu. A! Nhất định phải hiểu ư nghĩa của hai chữ Tôn Trọng này, nay đă hết thời gian rồi!

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem tiếp bài kệ thứ năm tiếp theo:

 

           (Kinh) Kính tâm quán tháp, đương nguyện chúng sanh, chư thiên cập nhân, sở cộng chiêm ngưỡng.

          ()心觀塔。當願眾生。諸天及人。所共瞻仰。

          (Kinh: Tâm kính nh́n tháp, nguyện cho chúng sanh, chư thiên và người, cùng nhau chiêm ngưỡng).

         

          “Tháp” là chỗ cất giữ xá-lợi sau khi đức Phật diệt độ; do đó, thấy tháp giống như thấy Phật. Bất luận trong tháp ấy có xá-lợi của đức Phật hay không, trong ấy, chắc chắn có tượng Phật, chắc chắn có kinh điển, lại c̣n có tăng sĩ giữ tháp. V́ thế, tuyệt đại đa số là Tam Bảo đầy đủ. “Kính tâm quán tháp”: Dùng cái tâm chân thành, cung kính để quán tháp, tự nhiên sẽ nghĩ đến Tam Bảo trọn đủ, Phật, Pháp, Tăng. V́ thế, dẫn phát đại nguyện là “chư thiên cập nhân, sở cộng chiêm ngưỡng” (chư thiên và người, cùng nhau chiêm ngưỡng). Tam Bảo là khuôn mẫu tiêu biểu cho trời người, lẽ nào chẳng chiêm ngưỡng? Mỗi khi gặp gỡ, trông thấy, đều phải nên nghĩ tưởng: Từ tháp, quư vị sẽ nghĩ “kiến lập Phật pháp, giữ cho chánh pháp trụ thế lâu dài, nối tiếp huệ mạng của Phật, phổ độ chúng sanh”, ư niệm ấy sẽ tự nhiên sanh khởi. Nếu trong tháp ấy chẳng có Tam Bảo, cũng chẳng có tượng Phật, mà cũng chẳng có kinh điển, mà cũng chẳng có người xuất gia, chúng ta trông thấy h́nh trạng của cái tháp ấy, cũng tự nhiên nghĩ tháp trước đây có đủ Tam Bảo, v́ sao hiện thời Tam Bảo chẳng trụ thế? Vậy là chúng ta phải tự ḿnh phát tâm, phát tâm nối tiếp huệ mạng của Phật, phát tâm phổ độ chúng sanh, nguyện ấy bèn xứng tánh, tương ứng với tự tánh.

          Cổ thánh tiên hiền dạy chúng ta, “hành hữu bất đắc, phản cầu chư kỷ” (có chuyện ǵ chẳng làm được, hăy xét lại chính ḿnh). Chúng ta mong cầu chánh pháp tồn tại lâu dài, chẳng thể hy vọng người khác [sẽ thực hiện]. Hy vọng người khác nhất định sẽ bị thất vọng, nhất định phải hiểu đạo lư này! Vậy th́ cầu ai? Nhất định phải cầu chính ḿnh. Cổ nhân đă nói, người sống trên cơi đời có hai điều khó khăn to lớn: [Một là] lên trời khó lắm, [hai là] cầu cạnh người khác sẽ khó khăn. Cầu người khác chẳng bằng cầu chính ḿnh. Chính ḿnh thật sự phát tâm, đúng lư đúng pháp tu hành, chánh pháp sẽ trụ thế. Muốn cho chánh pháp trụ thế lâu dài, vậy th́ quư vị phải khéo dạy người khác, đời đời tương truyền, vậy th́ [chánh pháp] sẽ tồn tại lâu dài. Đời đời có người kế thừa, chẳng nên để pháp bị gián đoạn nơi ta. Về phía chúng tôi, chư vị đều biết, thầy của tôi là lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam, Ngài là học tṛ của pháp sư Ấn Quang. Suốt đời Ngài dựng liên xă, lập Từ Quang Đồ Thư Quán, Bồ Đề Y Viện tại Đài Loan, thành khẩn lănh chúng niệm Phật suốt ba mươi tám năm. Chúng tôi đích thân trông thấy chuyện này. Tôi đắc pháp từ Ngài; v́ thế, chi phái này là đích truyền của Ấn Quang đại sư. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường xuyên ôn tập giáo huấn của tổ sư, tức là bộ Văn Sao của Ấn Quang đại sư, thời thời khắc khắc nhắc nhở chính ḿnh, tự hành, hóa độ người khác. Đến thế hệ của tôi, tôi vẫn muốn t́m truyền nhân. Nếu chẳng có truyền nhân, tức là có lỗi với thầy. Do vậy, để chánh pháp trụ thế th́ phải cầu chính ḿnh thực hiện. Để chánh pháp trụ thế lâu dài th́ nhất định phải có học tṛ, thật sự có học tṛ có thể gánh vác, y giáo phụng hành, đời đời tương truyền th́ mới có thể trụ thế lâu dài!

          Đương nhiên là truyền nhân càng nhiều càng tốt. Năm xưa, tôi gặp mặt lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ lần đầu tại Bắc Kinh. Tôi đến gặp cụ, tôi đến Bắc Kinh liên lạc với cụ, c̣n chưa đến thăm nhà cụ, cụ đă đến khách sạn gặp tôi trước. Thuở ấy, hoằng dương bản hội tập của kinh Vô Lượng Thọ tại hải ngoại chỉ có ḿnh tôi; trong nước, hoằng dương bản ấy cũng chỉ có ḿnh cụ. Chúng tôi gặp nhau, hoan hỷ vô lượng. Gặp mặt ngày đầu tiên, cụ liền giao cho tôi một nhiệm vụ, hy vọng tôi ở hải ngoại, bất luận đi đến nơi đâu, cũng đều phải lập Tịnh Tông Học Hội. Cụ bảo tôi, Tịnh Tông Học Hội là nguyện vọng của lăo cư sĩ Hạ Liên Cư. Hạ lăo cư sĩ đề ra kiến nghị ấy, c̣n chưa thực hiện th́ lăo nhân gia đă văng sanh. Do vậy, cụ Hoàng phó thác niềm hy vọng ấy nơi bản thân tôi.

          Tôi rời khỏi Bắc Kinh đến Ôn Ca Hoa (Vancouver) giảng kinh, thật sự thành lập Gia Nă Đại Tịnh Tông Học Hội đầu tiên ngay tại Ôn Ca Hoa. Từ Ôn Ca Hoa trở lại Cựu Kim Sơn (San Francisco), giảng kinh tại Cựu Kim Sơn, thành lập Mỹ Quốc Tịnh Tông Học Hội; hiện thời, hội trưởng là cư sĩ Dương Nhất Hoa cũng điều hành khá lắm. Kế tiếp, cũng thành lập một Tịnh Tông Học Hội tại Lạc Sam Cơ (Los Angeles). Mấy năm ở Mỹ, tổng cộng đă thành lập mười mấy hội tại Mỹ và Gia Nă Đại. Sau khi tôi rời đi, nghe nói gần như có khoảng ba mươi hội. Hễ đến một địa phương, đều thành lập Tịnh Tông Học Hội. Năm ngoái, chúng tôi đến Ba Lê, thành lập Pháp Quốc Tịnh Tông Học Hội. Sang thăm Luân Đôn, thành lập Luân Đôn Tịnh Tông Học Hội trong năm nay. Đấy đều là những Tịnh Tông Học Hội tượng trưng chánh pháp thường trụ thế gian.

          Thường trụ th́ phải có người. Đấy là h́nh tượng, h́nh tượng đă có, c̣n người, tức người thật sự tu Tịnh Độ, thật sự thị hiện thụy tướng văng sanh ngay trong đời này, người như vậy phải nhiều! Bất luận là thân phận tại gia hay xuất gia, nam chúng hay nữ chúng đều như nhau, đều là những bậc thánh nhân phi phàm. Chỉ cần có thể thật sự văng sanh th́ là thánh nhân, chẳng giả tí nào! Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, chư vị đều biết là “tức thân thành Phật” (thành Phật ngay trong thân này). Dẫu là người hạ hạ phẩm văng sanh, hễ đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, được oai thần từ bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật gia tŕ, đối với kinh luận của Tịnh Tông, quư vị đều quen thuộc [những chuyện này]. Thế giới ấy rất đặc biệt, chẳng giống các sát độ (cơi nước) của chư Phật: Đối với bốn cơi của chư Phật, trong thế giới Cực Lạc, hễ sanh về một cơi là sanh về hết thảy. Chẳng như trong cơi này, tức là trong báo độ của Thích Ca Mâu Ni Phật, bốn cơi chẳng ở cùng một chỗ, mà là bốn chiều không gian khác nhau, đây kia chẳng tiếp xúc lẫn nhau. Nhưng bốn cơi trong Tây Phương Cực Lạc thế giới ở cùng một chỗ, chẳng có giới hạn các chiều không gian khác nhau. Do đó, tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị có thể trông thấy A Di Đà Phật, có thể trông thấy hết thảy chư Phật Như Lai trong mười phương thế giới, có thể hằng ngày thân cận Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, mười phương chư đại Bồ Tát. Hoàn cảnh học tập ấy quá tốt đẹp.        

          Hằng ngày ở chung với các vị ấy, cho nên công phu của quư vị chỉ có tiến, chẳng lùi. V́ sao Tây Phương Cực Lạc thế giới viên chứng ba thứ Bất Thoái? Đạo lư ở chỗ này! Những ǵ sáu căn của quư vị tiếp xúc toàn là chánh pháp. Dẫu trong A Lại Da Thức c̣n có những chủng tử của lục đạo tam đồ, do chúng chẳng có duyên, chẳng có duyên th́ sẽ vĩnh viễn chẳng dấy lên hiện hành. Nhưng những chủng tử nghiệp tập ấy trong A Lại Da có tác dụng, có tác dụng ǵ vậy? Chúng sanh trong đường nào có cảm, quư vị có thể hiện thân giống như họ trong đường ấy. V́ sao quư vị có thể hiện? A Lại Da Thức có chủng tử, cho nên chủng tử ấy dấy lên hiện hành, chẳng phải là nghiệp báo, mà là Bồ Tát nương theo nguyện trở lại (thừa nguyện tái lai). Do đó, Ngài tự tại, chứ [sanh vào đường nào mà do] nghiệp báo [chi phối] th́ sẽ chẳng tự tại. Đấy là đạt được sự ứng hóa đại tự tại trong mười pháp giới, là thân nguyện lực, chẳng phải là thân nghiệp lực.

          Nh́n thấy tháp, chớ nên không nghĩ đến những chuyện này. Do vậy, người khéo học, người biết cách học, thấy sắc, nghe tiếng bèn khởi chánh niệm, họ chẳng khởi lên tà niệm. Dẫu là thấy chuyện chẳng đúng pháp, họ cũng có thể chuyển nó thành chánh niệm. Đấy là như kinh Lăng Nghiêm đă dạy: “Nếu có thể chuyển vật, ắt giống Như Lai”. Kinh Hoa Nghiêm nói là Như Lai, vĩnh viễn chẳng bị cảnh giới xoay chuyển. Quư vị có thể chuyển biến cảnh giới, chẳng bị cảnh giới xoay chuyển. Không chỉ là bản thân quư vị có phước, mà c̣n có bao nhiêu chúng sanh khổ nạn cũng được hưởng ké. Hưởng ké ǵ vậy? Rất nhiều tai nạn được ngấm ngầm hóa giải, do nguyên nhân nào? Do công đức tu hành. Tập khí của con người rất nặng, chẳng bị cảm động, chứ thiên, địa, quỷ thần, núi sông, cơi đất đều cảm động. Núi, sông, cơi đất cảm động, từ thí nghiệm với nước của tiến sĩ Giang Bổn Thắng người Nhật, chúng ta có thể thấy, mà cũng có thể lănh hội lời dạy của đức Thế Tôn trong kinh Hoa Nghiêm: “T́nh dữ vô t́nh, đồng viên Chủng Trí” (Hữu t́nh và vô t́nh cùng viên măn Chủng Trí). Chúng ta đă thấu hiểu!

          Những cảnh giới này đều là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, rất khó hiểu, rất khó diễn tả. V́ thế, có những thành tựu khoa học, chúng ta cũng có thể mượn dùng, tuy chẳng giống khít khao với Phật pháp, nhưng đă khá gần rồi. Từ các loại thí nghiệm, chúng ta có thể suy đoán. Bất luận ở nơi đâu, hễ quư vị thấy nó (tháp nhà Phật), bèn dấy lên chánh niệmchánh pháp trụ thế lâu dài. Ngược lại, phải đ̣i hỏi chính ḿnh, chánh pháp ở nơi đâu? Ở ngay trong tâm hạnh của chính ḿnh. Trong giáo pháp Đại Thừa, đức Thế Tôn thường căn dặn điều này, tất cả học tṛ của đức Phật đều phải nên ghi nhớ, y giáo tu hành. Kinh Kim Cang đă dạy: “Thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác diễn nói”. Những thứ quư vị đă học, phải có thể lư giải; sau khi đă lư giải, phải tiếp nhận toàn bộ. “Tiếp nhận” chính là y giáo phụng hành.

          Học tập có thứ tự, v́ sao hiện thời học tập gặp khó khăn ngần ấy? V́ sao chẳng trông thấy thành quả? Đó là do chúng ta đă sơ sót thứ tự, học tập theo kiểu nhảy cóc, cho nên chẳng trông thấy thành tích. Giống hệt như đi học, chưa hề học Tiểu Học, chưa hề học Trung Học, mà kẻ ấy muốn vào học Đại Học. Học nhiều năm cách mấy đi nữa, vẫn chẳng có cách nào. Rất dụng công, rất nỗ lực, nhưng mỗi lần thi cử đều chẳng đậu, đến cuối cùng, ngay cả tín tâm của chính ḿnh cũng bị mất luôn! Học Phật trong hiện thời, rất nhiều người phạm sai lầm này! Phải nên làm như thế nào? Phải nên từ nhỏ [đến lớn], từ cạn đến sâu, từ dễ đến khó, quư vị phải dựa theo thứ tự này. V́ thế, trong kinh Phật Tạng có một câu rất hay do chính Thích Ca Mâu Ni Phật đă dạy: “Không trước là học Tiểu Thừa, sau học Đại Thừa, sẽ chẳng phải là đệ tử của Phật”. Ba câu ấy nhằm bảo chúng ta, học tập phải theo thứ tự, phải có thứ tự, tuần tự tiến dần th́ sẽ dễ dàng.

          Tiểu Thừa nông cạn, Tiểu Thừa học dễ dàng. Phật pháp truyền sang Trung Hoa, chẳng trái nghịch giáo huấn của đức Phật. Kinh Tiểu Thừa được phiên dịch [sang tiếng Hán] rất hoàn chỉnh. Hiện thời, A Hàm Bộ trong Đại Tạng Kinh chính là kinh Tiểu Thừa. Đối chiếu kinh, luật, luận Tiểu Thừa [trong Đại Tạng Kinh tiếng Hán] với Đại Tạng Kinh bằng tiếng Ba Lợi (Pāḷi) theo Nam Truyền hiện thời, gần như là toàn bộ đều được phiên dịch [sang tiếng Hán]. Tạng Kinh bằng tiếng Ba Lợi so với kinh luận [A Hàm] đă được phiên dịch tại Trung Hoa, tôi nghe nói đại khái chỉ nhiều hơn năm mươi mấy bộ, gần như có tổng cộng cũng gần ba ngàn bộ. Chỉ nhiều hơn năm mươi mấy bộ, quư vị có thể suy ra mà biết, phiên dịch khá hoàn chỉnh.

          V́ sao người Hoa không học Tiểu Thừa? Không học Tiểu Thừa là từ giữa đời Đường trở đi bèn chẳng học Tiểu Thừa. Phật pháp cuối đời Tùy đầu đời Đường vốn có hai tông phái Tiểu Thừa là Thành Thật Tông và Câu Xá Tông. Hiện thời chẳng có ai biết hai tông phái ấy, không có ai học. Kinh điển c̣n đó, chẳng có người học. Đấy là do nguyên nhân nào? Người Hoa học Phật, bất luận tại gia hay xuất gia, đều có cơ sở của Nho. Từ nhỏ đă tiếp nhận giáo huấn, luân lư, đạo đức của Nho gia; và cũng tiếp nhận giáo huấn của Đạo gia. Đạo gia chủ yếu là giáo dục nhân quả. V́ thế, tôi thường nói: Căn cội của Nho gia là Đệ Tử Quy, căn cội của Đạo gia là Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, căn cội của Phật gia là Thập Thiện Nghiệp Đạo. Do vậy, người Hoa đă có cơ sở Nho và Đạo thay thế Tiểu Thừa, cho nên có thể trực tiếp tiến nhập Đại Thừa, chẳng khó khăn tí nào. Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện, đối với hàng xuất gia th́ giới Sa Di, giới Tỳ Kheo, giới Bồ Tát đều có thể thật sự làm được. Trải các đời, những người tu hành thành tựu trong tứ chúng đều có, thành tựu vượt trỗi Ấn Độ.

          Nhưng trong hai trăm năm gần đây nhất, Phật pháp suy vi. V́ sao suy? Nho cũng suy, Đạo cũng suy. Nhà Măn Thanh vào những năm cuối hủ bại, văn hóa phương Tây tiến nhập [Trung Hoa], người Hoa thấy người phương Tây nước giàu, quân mạnh, đối với văn hóa truyền thống của chính ḿnh gần như chôn vùi tín tâm. Trong suốt một trăm năm, hứng chịu những điều đúng là sỉ nhục đặc biệt to lớn. Sau khi nước Tân Trung Hoa được thành lập, người Hoa lại ngẩng đầu lên, nhưng như thế nào? Vứt bỏ văn hóa truyền thống. Hậu di chứng của hiện tượng này khó thể tưởng tượng nổi. Mong cho xă hội b́nh trị, an định lâu dài, đó là một vấn đề to lớn. Trung Hoa đă duy tŕ xă hội, duy tŕ quốc gia suốt năm ngàn năm chẳng suy đồi là nhờ vào luân lư và đạo đức. Sau này, Phật giáo truyền đến, [nước Trung Hoa] được tăng thêm sinh lực. Trong suốt hai ngàn năm qua, người Hoa đă tiếp nhận giáo dục ǵ? Nho, Thích, Đạo; nếu quư vị đọc bài Thượng Dụ của hoàng đế Ung Chánh, sẽ hiểu rơ. Văn hóa truyền thống diệt vong, c̣n đáng sợ hơn vong quốc! Nói thật ra, vong quốc chẳng đáng sợ, văn hóa tồn tại th́ chắc chắn sẽ có ngày [đất nước] phục hưng. Nhưng sau khi văn hóa bị mất đi, sẽ vĩnh viễn chẳng thể phục hưng. Giống như bốn nước có nền văn minh cổ to lớn trên thế giới th́ ba nước đă chẳng c̣n, hiện thời, Trung Quốc chao đảo, sắp sụp đổ. Hiện thời, nếu chẳng giác ngộ, nếu chẳng cấp tốc nỗ lực khôi phục, chẳng cần nhiều [thời gian], sau ba mươi năm nữa, sẽ chẳng thể hưng khởi được, nước có nền văn minh cổ thứ tư trong lịch sử sẽ bị tiêu mất. Hễ nó tiêu mất, khổ nạn trên thế gian sẽ nhiều hơn nữa!

          Người sống trên thế gian này chẳng có mảy may ư nghĩa. “Chẳng có mảy may ư nghĩa” tức là chỉ có tạo tội nghiệp th́ nhiều, chứ kẻ thiện hạnh, thiện niệm quá hiếm hoi! Ư nghĩa và giá trị của đời người là nâng cao linh tánh của chính ḿnh. Để nâng cao linh tánh, nhất định phải cậy vào giáo dục luân lư, đạo đức, nhân quả, trí huệ; bốn thứ ấy đều chẳng có. Trí huệ nói theo người phương Đông chẳng giống như người phương Tây. Trí huệ như người phương Tây đă nói chẳng ĺa khỏi tâm ư thức, nó là phân biệt, chấp trước, chẳng ĺa khỏi. Dùng phân biệt, dùng chấp trước để thăm ḍ vũ trụ. Hiện thời, nói đến vật lư vũ trụ, nói đến Lượng Tử Lực Học, nói rất nhiều, giải thích khởi nguyên của vũ trụ, thậm chí giải thích nguồn gốc sanh mạng, dùng phương pháp này. Người phương Đông không như vậy! Người phương Đông dùng Thiền Định, Thiền Định rất sâu để đột phá các chiều không gian; đấy là trí huệ. V́ thế, trí huệ từ Thiền Định mà đạt được, tiểu định khai tiểu trí huệ, đại định khai đại trí huệ. Những điều đức Phật dạy trong kinh điển chính là đại trí huệ.

          Khoa học gia hiện thời nói đến vật lư vũ trụ, Lượng TLực Học, trong kinh Phật có [những điều ấy] hay không? Có chứ! Nói c̣n thấu triệt hơn họ. Ngay trong kinh này, chúng ta đă đọc thấy trong những phần trước về thế giới quan vi mô: Đức Phật nói trong vi trần có thế giới. Hiện thời, họ (các nhà khoa học) vẫn chưa nói đến thế giới quan vi mô, chưa bàn tới vấn đề này, chỉ nói vi trần là loại vật chất rất nhỏ. Các nhà khoa học hiện thời nói đến khoa-khắc (quark, hạt vi lượng), nguyên tử, điện tử, hạch tử (nucleus), lạp tử (particles). Trong Phật pháp th́ dùng chữ “vi trần”. Vi trần chia rất nhiều đẳng cấp, loại nhỏ nhất được gọi là Cực Vi Chi Vi, tức là chẳng thể chia nhỏ hơn nữa. Trong Cực Vi Chi Vi có thế giới, vi trần chẳng ph́nh to, thế giới cũng chẳng rút nhỏ, trong vi trần nghiễm nhiên có thế giới! Ai có thể vào? Phổ Hiền Bồ Tát có thể vào thế giới trong vi trần. Thế giới trong vi trần lại có vi trần, trong những vi trần ấy lại có thế giới, trùng trùng vô tận. Trong khoa học, chẳng có cách nói này, “chẳng có ǵ lớn mà lọt ra ngoài, chẳng có ǵ nhỏ mà không ở trong”. Đă thế, Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh c̣n nói “lớn, nhỏ chẳng hai”, đấy mới là thật sự khế nhập. Chẳng có lớn, nhỏ, chẳng có trước, sau, chẳng có gần, xa, chẳng có đối lập, đấy chính là tứ vô ngại pháp giới được nói trong kinh Hoa Nghiêm, [tức là] lư vô ngại, sự vô ngại, lư sự vô ngại, sự sự vô ngại. Đức Phật dựa vào đâu để nói những điều này? Dựa vào ǵ để có thể nói ra đại đạo lư sâu xa dường ấy? Thấy từ trong Thiền Định, chẳng phải là tư duy, tưởng tượng, chẳng cần phải suy xét, chẳng cần phải nghiên cứu. Suy xét hay nghiên cứu toàn là thức thứ sáu tức Ư Thức [khởi tác dụng]. Do vậy, Ngài là Tánh Đức trực giác.

          Trong Thiền Định rất sâu, lục căn dấy lên tác dụng, tự nhiên, quư vị chẳng có ǵ không thông đạt, chẳng có ǵ không hiểu rơ. Tam Bảo: Tam Bảo là Tánh Đức của chúng ta, tức Giác, Chánh, Tịnh. Giác là Phật Bảo, Chánh là Pháp Bảo, thanh tịnh là Tăng Bảo, chẳng phải là nói đến bên ngoài. Nhưng sau đó mới hiểu trong và ngoài chẳng có giới hạn, trong và ngoài là một, tự và tha chẳng hai. Đại vũ trụ và tiểu vũ trụ là một chỉnh thể, là một Thể. Đấy là nói “mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân, một tâm, một trí huệ, lực, vô úy cũng thế”, trong phần trước, chúng ta đă từng đọc rồi đó. Lẽ nào chẳng thể khiến cho kẻ khác kính ngưỡng? Chúng ta lại xem bài kệ kế tiếp, tức bài thứ sáu:

 

          (Kinh) Đảnh lễ ư tháp, đương nguyện chúng sanh, nhất thiết thiên nhân, vô năng kiến đảnh.

          ()禮於塔。當願眾生。一切天人。無能見頂。

          (Kinh: Đảnh lễ nơi tháp, nguyện cho chúng sanh, hết thảy trời người, chẳng thể thấy đỉnh).

 

          Tháp rất cao, quư vị phải lên hư không th́ mới có thể thấy đỉnh tháp. Khi quư vị ở phía dưới, sẽ chẳng thấy đỉnh. Hiện thời, khoa học kỹ thuật phát triển, có những ṭa cao ốc h́nh dạng giống như cái tháp, tại Hương Cảng chỗ nào cũng có thể trông thấy. Chúng được tạo h́nh xác thực là giống như một ṭa tháp, cao ốc mấy chục tầng. Tuy chẳng phải là tháp, nó có h́nh dáng giống tháp. Sau khi trông thấy, chúng ta cũng sẽ dẫn phát đại nguyện ấy. “Đảnh lễ ư tháp” (đảnh lễ nơi tháp). Đây cũng là một môn công khóa tu hành trong Phật môn, lạy xá-lợi của Phật. Trong tám vạn bốn ngàn hạnh môn, có một hạnh môn như thế.

          Lạy Phật, thông thường là mỗi ngày ba ngàn lạy. Trong Ảnh Trần Hồi Ức Lục có ghi chép một câu chuyện như thế, nhà Phật gọi là “công án” (公案), tức là ghi chép, tường thuật chuyện này. Tôi không nhớ nổi tên vị pháp sư ấy, tức là vị pháp sư phơi nến. Đấy là vị sư làm hương đăng trong chùa, chuyên môn coi sóc nhang và nến. Khóa lễ sáng tối, cúng Ngọ, khi đốt nến, thắp nhang, Sư trông coi chuyện này. Mùa Hè trời rất nóng, mọi người trong chùa miếu phơi quần áo, hong mền, c̣n có người đem phơi kinh sách. Có người nói đùa với thầy hương đăng, v́ thầy ấy thật thà: “Thầy hương đăng ơi! Thầy phải đem nến ra phơi. Nếu không, nến sẽ nổi mốc”. Quư vị thấy người thật thà chẳng có kiến thức thông thường, nghe lời, dọn hết nến ra phơi. Phơi nắng suốt hai tiếng đồng hồ, toàn bộ nến bị chảy tan hết. Khóa lễ tối, khi thắp nến, thắp đèn, sáp đă chảy tan hết rồi, mọi người thấy vậy đều chê cười. Thầy Duy Na tŕnh lên Phương Trượng: “Người này chẳng dùng được, sao lại có thể làm ra chuyện ngu xuẩn dường ấy?” Phương Trượng là vị có đạo hạnh, cảm thấy người này rất khó có, có thể thành tựu người ấy, bèn dạy Sư chẳng cần phải làm hương đăng nữa, đưa Sư đến chùa A Dục Vương, chỗ ấy có tháp thờ xá-lợi Thích Ca Mâu Ni Phật: “Hăy lạy tháp, mỗi ngày lễ ba ngàn lạy!” Sư thật sự nghe lời, lạy hết ba năm, Sư bèn khai ngộ. Sư không biết chữ, mà có thể làm thơ, có thể soạn kệ, học thứ ǵ học rất mau chóng. Về sau, nghiễm nhiên trở thành vị pháp sư giảng kinh, thuyết pháp; trí huệ đă mở mang!

          Ba năm “đảnh lễ nơi tháp”, lạy xá-lợi của Thích Ca Mâu Ni Phật, nghiệp chướng tiêu trừ. Do vậy, chư vị phải biết, cách để tiêu nghiệp chướng tốt nhất là lạy Phật, tâm chân thành, tâm cung kính, chẳng có một vọng niệm. Khi lạy Phật bèn tưởng Phật, hoặc là tưởng tướng hảo của Phật, hoặc là tưởng giáo huấn của Phật. Chẳng cần tưởng quá nhiều, càng đơn giản càng hay. Như chúng ta nghiệp chướng nặng nề, căn tánh lại chẳng tốt, hằng ngày chúng ta lạy Phật, chỉ tưởng Phật dạy chúng ta Thập Thiện Nghiệp Đạo, chỉ tưởng Phật dạy chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là được rồi, đă đủ rồi. Trong cuộc sống, xử sự, đăi người tiếp vật, niệm nào cũng đều chẳng trái nghịch Thập Thiện, chắc chắn chẳng tạo mười ác nghiệp, niệm nào cũng đều tu Thập Thiện. Trong công khóa thường ngày, lạy Phật th́ niệm A Di Đà Phật, cứ một tiếng Phật hiệu là một lạy. Khi chẳng lạy Phật th́ A Di Đà Phật chẳng rời khỏi miệng. Nếu công phu thật sự đắc lực, thật sự muốn không nói năng, đấy là một phương pháp hết sức có hiệu quả.

          Gần đây nhất, tại núi Đông Thiên Mục, c̣n có những đạo tràng khác, người thật sự có thành tựu đều là đắc lực nhờ “chỉ ngữ” (止語), tức là không nói năng, không tṛ chuyện với bất cứ ai, ở ngay trong Niệm Phật Đường. Ở trong Niệm Phật Đường, lạy Phật, kinh hành, chỉ tĩnh, đối với hoạt động và bảo dưỡng của thân thể của quư vị, thảy đều quan tâm đến. Quư vị ngồi đă mệt, tức là ngồi niệm Phật, ngồi đă mệt rồi th́ đứng lên lễ Phật. Lễ Phật là vận động, vẫn là đang niệm Phật. Lạy đă mệt bèn kinh hành, nhiễu Phật, đó là tản bộ, vẫn đang niệm Phật, Phật hiệu chẳng gián đoạn giữa chừng. Khi nghỉ ngơi th́ hăy đi ngủ cho sâu, lúc thức dậy, tinh thần no đủ, công khóa chẳng gián đoạn. Giống như lăo ḥa thượng Đế Nhàn đă dạy, hễ mệt mỏi bèn nghỉ ngơi, nghỉ ngơi đă khỏe khoắn bèn niệm tiếp. Ba năm hoặc năm năm, công phu thành phiến, văng sanh sẽ nắm chắc. Trong công phu thành phiến, cũng có ba bậc, chín phẩm. Công phu tốt đẹp, tức là ba phẩm thượng của công phu thành phiến, sẽ tự tại văng sanh. Chẳng cần chờ đến hết thọ mạng, có thể ra đi trước, thật sự biết trước lúc mất. Đó gọi là “sanh tử tự tại”, ta muốn ra đi khi nào, bèn ra đi ngay khi ấy. Trong quá khứ đă có, trong hiện tại cũng có [những vị thành tựu như vậy], trong đời này, tôi đă thấy mười mấy người!

          Chuyện này bày ra trước mặt, nếu quư vị chẳng tin tưởng, tức là chẳng có duyên với Phật, đời này chắc chắn chẳng thể thành tựu, vẫn phải luân hồi trong lục đạo, lại đợi đến đời sau, hoặc chờ đời sau nữa, khi gặp duyên, sẽ tiếp tục tu tập. Nhưng hễ luân hồi, sẽ đáng thương lắm! Trước kia, thầy Lư thường bảo chúng tôi: “Đời này chẳng thể thành tựu, chắc chắn chẳng tránh khỏi luân hồi nhiều kiếp dài lâu”. Đời sau c̣n được làm thân người, lại học Phật, quư vị há có vận may như thế ư? Chuyện này trong ức ức vạn người, khó có được một! Chớ nên không biết những chân tướng sự thật này, điều khẩn yếu là phải nắm chắc hiện thực, nhưng hiện thời Tăng Thượng Duyên rất khó, quư vị đến đạo tràng nào để có thể thật sự thành tựu quư vị? Khiến cho quư vị buông xuống vạn duyên, thứ ǵ cũng chẳng bận ḷng, ba bữa ăn mỗi ngày có người cung cấp, lúc mệt mỏi th́ có chỗ nghỉ ngơi. Quư vị có thể chẳng bận ḷng tí nào, nhất tâm nhất ư niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ; chẳng t́m thấy đạo tràng ấy!

          Hiện thời, tại Trung Hoa, ai nấy đều biết, tôi biết được hai nơi, một là Bách Quốc Hưng Long Tự tại Trường Xuân ở phương Bắc, tức là đạo tràng của pháp sư Thường Huệ, phía Nam th́ là Đông Thiên Mục Sơn, tức đạo tràng của cư sĩ Tề Tố B́nh. Hai đạo tràng ấy thành tựu người khác. Nếu quư vị thật sự nhất tâm niệm Phật cầu văng sanh, họ sẽ hết sức hoan nghênh, sẽ toàn tâm toàn lực chiếu cố, thành tựu quư vị. Những đạo tràng khác đương nhiên cũng có, nhưng tôi không hiểu rơ cho mấy. Từng nghe nói h́nh như Ngũ Đài Sơn cũng có đạo tràng, quy mô chẳng to lớn dường ấy. Chỗ khác đương nhiên là cũng có. Nơi nào có thể thành tựu người khác buông xuống vạn duyên để văng sanh, phước báo của vị công đức chủ to lắm! Giống như Đại Từ Bồ Tát đă nói, quư vị có thể thành tựu hai người văng sanh, phước báo của quư vị sẽ vượt trỗi phước báo do chính quư vị tu suốt một đời!        Ta thành tựu rất nhiều người văng sanh, bản thân ta có thể văng sanh hay không? Quư vị phải ghi nhớ lời Lục Tổ đại sư đă nói trong Đàn Kinh: Chuyện này phước chẳng thể cứu”. Quư vị phải biết thuở Lương Vũ Đế sinh tiền, nhà vua gần như đă cúng dường mười mấy vạn người xuất gia, dựng chùa miếu, đạo tràng bốn trăm tám mươi ngôi vào thời Nam Triều. V́ thế, Đạt Ma Tổ Sư đến nơi, vua khoe khoang với Tổ, [hỏi]: “Công đức của ta có lớn hay không?” Đạt Ma Tổ Sư nói: Hoàn toàn chẳng có công đức”. Những việc nhà vua đă làm là ǵ? Phước đức. Lục Tổ nói: Chuyện này phước chẳng thể cứu”, quư vị phải hiểu rơ điểm này. Đại Từ Bồ Tát nói là phước báo; nếu quư vị chẳng nhận lănh phước báo ấy, quư vị chăm sóc, cúng dường đại chúng, bản thân quư vị có thể buông xuống hết thảy, Phật hiệu cũng chẳng gián đoạn, vậy th́ quư vị thật sự là Phật, Bồ Tát tái lai, vậy th́ chắc chắn được văng sanh. Quư vị chẳng phải là phàm phu, v́ sao? Quư vị đă ĺa bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước!

          V́ thế, vào thời cổ xưa kia, người phụ trách và chấp sự trong đạo tràng đều là Phật, Bồ Tát hóa thân đến, chẳng phải là phàm nhân. Phàm nhân làm việc này như Lương Vũ Đế chỉ có thể tu phước mà chẳng thể văng sanh, đời sau có phước báo to lớn, [do đă] làm nhiều chuyện tốt đẹp như thế, chúng ta chớ nên không biết điều này. A! Nay đă hết thời gian rồi, chúng ta học bài kệ này tới đây.

 

Tập 1572

 

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười một, đoạn thứ chín trong phần Kệ Tụng, xem từ bài kệ thứ bảy:

 

          (Kinh) Hữu nhiễu ư tháp, đương nguyện chúng sanh, sở hành vô nghịch, thành Nhất Thiết Trí.

          ()右繞於塔。當願眾生。所行無逆。成一切智。

          (Kinh: Hữu nhiễu nơi tháp, nguyện cho chúng sanh, việc làm chẳng trái, thành Nhất Thiết Trí).

 

          Đây là nhiễu tháp. Thông thường, trông thấy bảo tháp, đệ tử Phật môn sẽ đều lễ bái. “Hữu nhiễu” (右繞, nhiễu theo chiều phải) là thuận theo chiều kim đồng hồ, thông thường đều là nhiễu ba ṿng. Nếu quư vị có thời gian, nhiễu bảy ṿng, nhiễu hai mươi mốt ṿng, nhiễu một trăm lẻ tám ṿng đều được, tối thiểu là nhiễu ba ṿng. “Hữu” biểu thị “thuận”, trong ấy có ư nghĩa biểu thị pháp. Cổ Ấn Độ và người Hoa, [nói chung là] người phương Đông, đều coi bên phải là Thuận. Thuận là tùy thuận Tánh Đức. Do vậy, khi nhiễu tháp, dẫn phát đại nguyện của Bồ Tát, “sở hành vô nghịch, thành Nhất Thiết Trí”, hai câu này có ư nghĩa rất sâu. “Sở hành” bao gồm khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác. Khởi tâm động niệm là ư nghiệp, ngôn ngữ là khẩu nghiệp, tạo tác là thân nghiệp. “Vô nghịch” là ba nghiệp thanh tịnh, đều có thể tùy thuận Tánh Đức. Ba nghiệp thanh tịnh viên măn, chính là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tức Phật quả viên măn rốt ráo. Do vậy có thể biết, hai câu này có ư nghĩa rất sâu!

          “Nhất Thiết Trí” được nói ở đây là theo nghĩa rộng, tức là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, biển Chánh Biến Tri của Như Lai. Tuy ở đây chỉ có tám chữ, đă nêu bày cho chúng ta mục tiêu chung cực của việc học Phật, chính là phải thành tựu trí huệ viên măn. Trí huệ viên măn chẳng phải do từ bên ngoài mà có, các đồng học ắt cần phải biết điều này. Trong giáo pháp Đại Thừa đă nói rất nhiều, nhưng cứ ắt phải nhắc đi nhắc lại không ngừng. V́ sao? Chúng sanh hết sức dễ quên, nói xong, nghe rồi liền quên tuốt. Nghe suốt mười lần, nghe một trăm lần, ngàn lần, vạn lần, quư vị vẫn chẳng thể thực hiện. Chẳng thể thực hiện vậy th́ vẫn phải nói. Do vậy có thể biết, chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp phải luân hồi trong lục đạo, chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi, trong giáo pháp Đại Thừa thường nói: “Trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai”. Bất luận căn tánh như thế nào, Phật, Bồ Tát chưa hề bỏ sót. Nói cách khác, thời thời khắc khắc giúp đỡ quư vị, giúp đỡ quư vị chưa hề gián đoạn. Sau đấy, quư vị mới biết Phật, Bồ Tát có ân đức to lớn đối với chúng sanh, vượt trỗi cha mẹ quá nhiều. Chúng sanh chẳng biết, [tức là] chẳng biết ân, chẳng biết báo ân, nhưng Phật, Bồ Tát chẳng trách móc chúng sanh, vẫn chẳng buông bỏ, không ngừng giáo hóa quư vị.

          Trước khi quư vị giác ngộ, Phật, Bồ Tát giáo hóa, chúng ta thường nói là “âm thầm gia tŕ”, nhưng người sáng mắt sẽ thấy rất rơ rệt, phàm phu chẳng nh́n ra. V́ thế, phàm phu chẳng biết cảm ơn, chẳng biết báo ân. Người hiểu rơ th́ đến khi nào sẽ thấu hiểu? Khi đă giác ngộ. Khi nào sẽ giác ngộ? Theo tiêu chuẩn của kinh Hoa Nghiêm th́ là Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín, c̣n theo giáo pháp Tiểu Thừa sẽ là Sơ Quả Tu Đà Hoàn đă giác ngộ. Giác ngộ như thế nào? Quư vị buông xuống phiền năo bèn giác ngộ. Nếu chẳng thể buông xuống tập khí phiền năo, sẽ giống như chúng ta trong hiện thời, tuy đời đời kiếp kiếp tiếp nhận sự giáo hóa ngấm ngầm của chư Phật, Bồ Tát, vẫn chẳng giác ngộ y như cũ. Nếu hỏi v́ sao chẳng giác ngộ ư? Tập khí quá nặng, đó là tập khí ác huân nhiễm từ vô lượng kiếp tới nay. Trong các buổi giảng, chúng tôi thường nói với các đồng học, [những tập khí phiền năo] chính là ích kỷ, tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn, đấy là nêu đại lược mấy loại tập khí ác. Nếu quư vị chẳng thể buông xuống mấy thứ ấy, quư vị sẽ chẳng có cách nào thấu hiểu!

          Gia tŕ rơ rệt th́ có sự tướng, có thuyết pháp. Như thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, lúc Ngài c̣n trụ thế, hành nghị cả đời của lăo nhân gia là nêu gương cho chúng ta, học Phật th́ phải nên học theo gương Ngài. Trước hết, quư vị thấy Ngài đă thị hiện, vinh hoa, phú quư, tiếng tăm, lợi dưỡng trong thế gian thảy đều buông xuống. Ngài là vương tử mà xuất gia, chẳng muốn làm quốc vương. Quư vị nói xem có bao nhiêu kẻ muốn tranh giành ngôi vua? Ngài đă đạt được mà buông bỏ, điều này có ư nghĩa giáo dục hết sức sâu nặng. Chúng ta sẽ giảng xong phẩm kinh này rất mau, phẩm tiếp theo sẽ nói tỉ mỉ, v́ sao từ bỏ ngôi vua? V́ sao phải từ bỏ vinh hoa, phú quư? Những thứ tâm lư và hành vi mong cầu, dục vọng ấy đều thuộc loại nghiệp luân hồi. Luân hồi khổ sở, quư vị không biết. Người sống trong thế gian, hiện thời nói đến ư nghĩa và giá trị của đời người, chúng ở đâu? Chư Phật, Bồ Tát, cổ thánh tiên hiền đă rát miệng buốt ḷng khuyên bảo, chỉ dạy chúng ta, ư nghĩa của đời người là ǵ? Giá trị của đời người là ǵ? Toàn bộ người thế gian đều sai lầm, ư nghĩa và giá trị thật sự chính là không ngừng nâng cao linh tánh của chính ḿnh, như vậy th́ quư vị mới chẳng uổng công sanh trong thế gian này! Chớ nên ở trong thế gian này [mà không nâng cao linh tánh của chính ḿnh], thời gian một đời chẳng dài, mấy chục mùa nóng lạnh, nếu những ǵ quư vị đă làm hoàn toàn trái đạo, đều trái nghịch tự tánh, quư vị sẽ bị phiền phức to lớn! Dẫu đời này quư vị đạt được vinh hoa, phú quư, đời sau quư vị sẽ càng đọa lạc hơn!

          Đức Phật đă nói về sanh tử luân hồi rất nhiều, Nho và Đạo cũng nói rất nhiều. Hiện thời, người phương Tây cũng nói chẳng ít, thật đấy, chẳng giả! Do vậy, đức Phật không dạy chúng ta chi khác, mà dạy chúng ta không ngừng nâng cao [linh tánh của chính ḿnh]. Trong giáo pháp Đại Thừa đă nói, có sanh tử hay không? Chẳng có! Có đến đi hay chăng? Cũng chẳng có! Bất cứ người nào, bất cứ chúng sanh nào, xét theo Nhất Thừa Giáo, tức là Phật pháp được nói đến chỗ tột cùng th́ mê, sanh tử, Niết Bàn, phiền năo, Bồ Đề đều chẳng thể được. Nói lời thật với chúng ta, Phật là vô lượng thọ, có ai mà chẳng phải là vô lượng thọ? Thật sự vô lượng, chẳng phải là giả vô lượng. Ở trong lục đạo, quư vị đă xả thân, thọ thân từ vô lượng kiếp đến nay, vẫn chẳng phải là quư vị đó ư? Quư vị há có sanh tử? Chỉ là ở trong lục đạo, không ngừng thay đổi thân thể, đấy là thật. Đấy là nói với quư vị: Thân thể có sanh tử, có sanh diệt, chứ linh tánh bất sanh bất diệt.

          Do vậy, chúng tôi thường xuyên dùng tỷ dụ để nói. Chúng ta sánh ví linh tánh như thân thể trong hiện tại, sánh ví quần áo như thân thể của chúng ta, coi thân thể như linh tánh. Quư vị thấy hằng ngày khi quư vị đi ngủ th́ cởi quần áo, cởi quần áo là chẳng cần thân thể nữa. Sáng hôm sau, thức dậy, lại thay một bộ quần áo mới, lại mặc quần áo. Mặc quần áo vào, tức là quư vị lại được một thân thể khác. Sau khi đă cởi ra, chẳng cần nữa, thân thể này đă sử dụng mấy chục năm, sử dụng không tốt cho lắm, không cần nữa, thay cái khác. Đấy là chân tướng sự thật. Quư vị liễu giải chân tướng sự thật này, sẽ không tham sống sợ chết, biết là chẳng có tử, chẳng có sanh tử, chỉ là thay đổi thân thể. Đương nhiên, đức Phật hy vọng chúng ta ngay trong một đời này, tối thiểu quư vị phải thay đổi thành thân thể A La Hán, đấy là đúng. A La Hán không ở trong lục đạo, đă vượt thoát lục đạo luân hồi. Đương nhiên, hy vọng nhất [là chúng ta] có thể đổi lấy thân thể Phật, đời này là phàm phu, đời sau làm Phật, có thể hay không? Có thể chứ! Đổi lấy thân thể Phật, quư vị đắc đại tự tại, viên măn rốt ráo, chẳng phải là không làm được!

          Trong một đời này, chúng tôi thấy thành Phật ngay trong một đời, tối thiểu đă trông thấy có mười mấy người, thật đấy, chẳng giả đâu! Dùng phương pháp ǵ để thành Phật? Niệm Phật văng sanh, chư vị phải biết: Sanh về thế giới Cực Lạc, cho dù là hạ hạ phẩm văng sanh, đều thành Phật. Đấy gọi là “sở hành vô nghịch”, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới liền “thành Nhất Thiết Trí”. Đấy là một pháp môn đặc biệt trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, cổ đức bảo: “Đấy là đạo dễ hành để thành Phật”. Những pháp môn khác rất nhiều, tám vạn bốn ngàn pháp môn, những pháp đó đều là đạo khó hành, khó ở chỗ nào? Phải đoạn phiền năo, chuyện này chẳng dễ dàng.

          Trong các buổi giảng, chúng tôi đă thưa tŕnh cùng quư vị: “Phật, Bồ Tát, La Hán chẳng phải là thần, chẳng phải là tiên nhân. Các Ngài là người, là bậc giác ngộ”. Thích Ca Mâu Ni Phật bảo chúng ta: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai”, có nghĩa là hết thảy chúng sanh vốn sẵn thành Phật. Hiện thời vẫn là Phật, chỉ là một vị Phật hồ đồ, Phật mê hoặc, điên đảo, bị những ǵ mê hoặc? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, ba loại phiền năo to lớn ấy. Thông thường, giáo pháp Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa gọi vọng tưởng là vô minh phiền năo. [Nói cách khác], vọng tưởng là vô minh phiền năo, phân biệt là Trần Sa phiền năo, chấp trước là Kiến Tư phiền năo. Kinh Hoa Nghiêm nói là “vọng tưởng, phân biệt, chấp trước”, trong giáo pháp Đại Thừa và Tiểu Thừa th́ thường nói là “Vô Minh, Trần Sa, Kiến Tư”. Nếu chúng ta chẳng c̣n chấp trước hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, thật sự buông xuống chấp trước, sẽ là A La Hán, sẽ thoát tam giới, sẽ thoát khỏi lục đạo luân hồi. Nói cách khác, hễ quư vị c̣n có chấp trước, dẫu chỉ mảy may chấp trước, quư vị sẽ chẳng thoát khỏi lục đạo. Nghiệp nhân của lục đạo luân hồi là chấp trước. Quư vị chấp trước là trái nghịch tự tánh; trong tự tánh chẳng có chấp trước, trong tự tánh chẳng có phân biệt, trong tự tánh chẳng có vọng tưởng. “Sở hành vô nghịch” là chẳng có những thứ ấy.

          Nay chúng ta có thể chẳng chấp trước, sẽ thành A La Hán, sẽ vượt thoát lục đạo. Chẳng có phân biệt, quư vị là Bồ Tát. Chẳng có vọng tưởng, quư vị bèn thành Phật, bèn vượt thoát mười pháp giới. Vượt thoát mười pháp giới sẽ đến nơi đâu? Thế giới Hoa Tạng. Thế giới Hoa Tạng là Nhất Chân pháp giới. Thế giới Cực Lạc chính là điểm trung tâm của thế giới Hoa Tạng. Nếu chúng ta tỷ dụ th́ Hoa Tạng giống như khu vực Cửu Long này, thế giới Cực Lạc chính là đường Thái Tử (Prince Edward Road) trong khu Cửu Long, là một đường phố náo nhiệt nhất, là đường phố sầm uất nhất. Hoa Tạng và Cực Lạc là một, không hai. Sanh vào Cực Lạc là sanh trong Hoa Tạng, sanh về Hoa Tạng nhất định sẽ đến Cực Lạc, v́ sao? Văn Thù, Phổ Hiền mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Quư vị sanh vào Hoa Tạng, nhất định gặp gỡ Văn Thù và Phổ Hiền, hai Ngài sẽ dẫn quư vị đi. Đấy gọi là đạo thành Phật, là “sở hành vô nghịch”.

          V́ thế, chúng ta nhất định phải biết Tánh Đức của chính ḿnh. Tánh ấy chính là bổn tánh, tự tánh. Trong tự tánh vốn có đức năng, thuần thiện, thuần tịnh, “Tịnh” là nói đến cái Thể của nó, “thiện” là nói đến tướng của nó. Hiện tướng được sanh khởi bởi tự tánh là thuần thiện. Thể của nó là thuần tịnh, vĩnh hằng bất biến. Nay chúng ta đă mê tự tánh, mê mất tự tánh. Tự tánh của chúng ta là thuần tịnh thể, thuần thiện tướng, có bị mất đi hay không? Chẳng có! Phải biết điều này, chắc chắn sẽ không bị mất đi. Nếu nó có thể bị mất, tức là có biến đổi, như vậy sẽ chẳng gọi là tự tánh, chẳng phải là thuần chân, thuần thiện, thuần tịnh, chẳng phải là ư nghĩa này. Vĩnh viễn chẳng bị mất đi, chỉ là sau khi đă mê, phiền năo và tập khí che lấp cái Thể và cái Tướng của tánh, giống như khí trời tại Hương Cảng ngày hôm nay, trời âm u, c̣n có chút mưa, mây phủ rất dầy, che lấp ánh mặt trời. Chúng ta hỏi hôm nay có mặt trời hay không? Có chứ! Mặt trời bị những tầng mây che phủ! Những tầng mây có thật sự ngăn che mặt trời hay chăng? Chẳng có! Tầng mây há có thể che khuất mặt trời! Mặt trời lớn hơn địa cầu mấy trăm vạn lần, các tầng mây làm sao có thể che khuất nó được? Tầng mây che lấp con mắt của chúng ta, hoàn toàn chẳng che khuất mặt trời. Từ thí dụ này, quư vị hăy chú tâm lănh hội.

          Do vậy, mê là chính ḿnh mê, tự tánh chẳng có mê, mà cũng chẳng có ngộ, chẳng có mê hay ngộ. Chúng ta chỉ cần tiêu trừ những tầng mây, mặt trời sẽ lại hiện tiền. V́ thế, đức Phật bảo chúng ta, chúng ta làm thế nào để trừ khử tầng mây che lấp tự tánh, trí huệ trong tự tánh, tức trí huệ Bát Nhă sẽ hiện tiền, đức năng trong tự tánh sẽ hiện tiền. Đức năng là tác dụng của tám thức và sáu căn. Quư vị thấy Tướng Tông có nói “chuyển tám thức thành bốn trí” th́ là giác ngộ. Hễ giác ngộ bèn chuyển, tám thức là mê, bốn trí là giác ngộ. Khi đó, mắt quư vị sẽ trông thấy chẳng chướng ngại.

          Hiện thời, những ǵ mắt của chúng ta có thể trông thấy hết sức nhỏ hẹp. Nếu nói theo tỷ lệ phần trăm, mắt chúng ta hiện thời có thể trông thấy đại khái chỉ có hai phần trăm. Nói cách khác, c̣n có đến chín mươi tám phần trăm không thấy! Đấy là ǵ? Mê! Nay v́ quư vị có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, ba tầng chướng ngại, quư vị chẳng thấy chân tướng của vũ trụ. Nếu có thể buông xuống chấp trước, tầng chướng ngại thứ nhất đă bị trừ khử, đức Phật dạy chúng ta mắt của A La Hán, thông thường A La Hán có thể thấy một tiểu thiên thế giới. Một tiểu thiên thế giới là đă tuyệt diệu quá rồi. Nay chúng ta gọi một “thế giới” [trong kinh Phật] là một hệ Ngân Hà. Một tiểu thiên thế giới là một ngàn hệ Ngân Hà. Chẳng cần dùng viễn vọng kính mà thấy cảnh tượng trong một ngàn hệ Ngân Hà giống như ở ngay trước mắt, có thể thấy rơ ràng như vậy. Năng lực nghe cũng giống như thế, chẳng cần phải dùng bất cứ máy móc nào, chẳng cần chúng giúp đỡ, đó là năng lực của quư vị. Đó là bổn năng (năng lực sẵn có); chỉ cần trừ khử chướng ngại, quư vị sẽ khôi phục [bổn năng ấy]. Các nhà khoa học trong hiện thời cũng thừa nhận, các nhà khoa học nói ǵ? Trong vũ trụ xác thực là có các chiều không gian khác nhau. Thế giới của chúng ta là không gian ba chiều, có không gian bốn chiều, cho đến không gian vô lượng vô biên chiều! Các chiều không gian được tạo thành như thế nào? Do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước tạo thành, phải biết không gian chẳng có các chiều. Đó là sự thật!

          Nếu quư vị lại buông xuống phân biệt, vậy th́ quư vị thuộc địa vị Bồ Tát, cao hơn A La Hán, lại nâng cao hơn. Vậy th́ những ǵ quư vị trông thấy, chúng tôi nêu một thí dụ, khả năng thấy của quư vị lại khuếch đại. Quư vị có thể khuếch đại đến một đại thiên thế giới. Một đại thiên thế giới là mười ức hệ Ngân Hà. Đấy là hàng Bồ Tát thông thường. Đọc kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy Bồ Tát có năm mươi mốt đẳng cấp. Bồ Tát trông thấy một đại thiên thế giới là địa vị ǵ? Theo kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát thuộc địa vị Bát Tín hoặc Cửu Tín sẽ trông thấy. Khi đạt đến địa vị Thập Tín, Ngài chẳng phải là thấy một đại thiên thế giới, mà có thể thấy một trăm đại thiên thế giới, một ngàn đại thiên thế giới, một vạn đại thiên thế giới, tới cuối cùng, quư vị có thể trông trọn khắp pháp giới hư không giới. Đấy là bổn năng của chính ḿnh, trí huệ, đức năng, tướng hảo của quư vị vốn là như vậy. Tướng hảo chẳng phải chỉ là ba mươi hai tướng và tám mươi thứ hảo. Đấy là đức Phật nói phương tiện. Từ kinh Hoa Nghiêm, quư vị thấy đó, “thân có vô lượng tướng, mỗi tướng có vô lượng hảo”. Hết thảy chúng sanh vốn là t́nh trạng như thế, cớ sao nay lại đáng thương ngần ấy? “Trái nghịch tự tánh” tức là sở hành của chúng ta trái nghịch. Sở hành trái nghịch th́ chẳng thành Nhất Thiết Trí, mà thành ǵ? Thành lục đạo, tam đồ. Khởi tâm động niệm toàn là ích kỷ, chẳng giống Phật, Bồ Tát. Phật, Bồ Tát khởi tâm động niệm là cứu khổ, cứu nạn. Nơi nào có tai nạn, các Ngài sẽ đến nơi ấy. Phật, Bồ Tát chưa hề nói “lánh nạn”.

          Chư vị biết đại nguyện của Địa Tạng Bồ Tát là “địa ngục chẳng trống, thề không thành Phật”. Ngài đến nơi đâu để độ chúng sanh? Trong pháp giới, chúng sanh khổ sở nhất là trong địa ngục. Ngài vào địa ngục độ chúng sanh. Những vị Bồ Tát khác v́ sao không vào? Thưa cùng chư vị, chỉ cần vào địa ngục độ chúng sanh th́ đều gọi là Địa Tạng Bồ Tát! Địa Tạng Bồ Tát chẳng phải là một vị, quá nhiều! V́ thế, phải biết [danh hiệu của] Phật, Bồ Tát, La Hán đều là thông hiệu (通號, danh hiệu chung), chẳng phải là danh hiệu chuyên biệt của một vị, mà là thông hiệu. Giống như chúng ta học hành trong nhà trường, học các khoa hệ khác nhau. Giáo hóa chúng sanh trong địa ngục, quan trọng nhất là dạy ǵ? Khóa tŕnh cơ bản. V́ sao? Họ ngay cả khóa tŕnh cơ bản cũng trái nghịch. Khóa tŕnh cơ bản là “hiếu thân, tôn sư” (hiếu thảo với cha mẹ, tôn kính thầy). Quư vị thấy học hành tại Trung Hoa xưa kia, tài liệu dạy vỡ ḷng cho trẻ là Tam Tự Kinh, câu đầu tiên là “nhân chi sơ, tánh bổn thiện, tánh tương cận, tập tương viễn, cẩu bất giáo, tánh năi thiên, giáo chi đạo, quư dĩ chuyên” (con người thoạt đầu tánh vốn lành. Tánh th́ gần giống như nhau, do huân tập mà thành khác xa nhau. Nếu chẳng được dạy dỗ, tánh sẽ thay đổi. Đường lối để dạy dỗ, cốt yếu là chuyên tinh). Vừa mở đầu đă nói đến sự giáo dục. Dạy ǵ vậy? Dạy luân lư, mở đầu luân lư là “phụ tử hữu thân”, “quân thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín” (cha con có t́nh thân, vua tôi có nghĩa, vợ chồng có trách nhiệm khác biệt, lớn nhỏ có tôn ty trật tự, bạn bè có chữ tín). Giáo dục trong thời đại thượng cổ là dạy những điều ấy!

          V́ thế, “cha từ, con hiếu” là cội gốc giáo dục. Cha mẹ dạy con cái phải tôn sư trọng đạo. Thầy dạy tṛ phải hiếu thuận cha mẹ, ân đức của hai đằng to như nhau. Suốt một giải Giang Nam của Trung Hoa, quư vị thấy họ thờ bài vị tổ tiên, hiện thời ít lắm, trước kia th́ nhà nào cũng đều có. Nhà nào chẳng thờ bài vị tổ tiên, coi sao được? Đó chẳng phải là người! Trên bài vị tổ tiên viết ǵ vậy? “Thiên địa quân thân sư” (Trời, đất, vua, cha mẹ, thầy), thờ bài vị ấy. V́ thế, thầy cũng được thờ trên đó. Trời đất th́ trời che phủ ta, đất chuyên chở ta, “quân” () trước kia là đế vương, tức là người lănh đạo quốc gia, họ bảo vệ chúng ta. Tiếp đó là cha mẹ, tức Thân (), rồi đến Thầy. Những điều này đều thuộc về Tánh Đức.

          Giáo dục hưng khởi; v́ thế, giáo dục tại Trung Hoa từ xưa tới nay, cả năm ngàn năm đều là một tư tưởng như thế, đều là một tông chỉ như vậy, tức là t́nh thân ái giữa cha và con. Trong mục đích giáo dục, mục đích đầu tiên là làm thế nào để có thể vĩnh viễn ǵn giữ bất biến t́nh thân ái giữa cha và con trong suốt một đời, mục đích giáo dục đă đạt được. Mục tiêu thứ hai là phải phát huy rạng rỡ t́nh thân ái ấy. Từ t́nh yêu thương cha mẹ, mở rộng thành yêu thương anh em, yêu thương gia tộc của quư vị, yêu thương xă hội, yêu thương quốc gia, yêu nhân loại, yêu chúng sanh, khuếch đại từng tầng một. Đấy là quan niệm giáo dục của Trung Hoa suốt mấy ngàn năm, quư vị phải thấu hiểu. Nói theo kiểu hiện thời, giáo dục của Trung Hoa, giáo dục của thánh hiền là giáo dục yêu thương. Quư vị yêu thương con người, làm sao có thể hại con người cho được? Quư vị thấy trong Đệ Tử Quy “phàm là người đều phải yêu thương”. Phàm là người, chẳng phân biệt quốc gia, chẳng phân biệt sắc tộc, chẳng phân biệt tôn giáo, người và người đối đăi b́nh đẳng, chung sống ḥa thuận. “Ḥa thuận”: Trong Thuận c̣n có ư nghĩa tương thân tương ái. V́ thế, chẳng nói là ḥa b́nh, mà là ḥa thuận. Ḥa là hài ḥa! Đấy quan niệm cơ bản trong giáo dục Trung Hoa, hoàn toàn là “sở hành vô nghịch”.

          Ngày nay, xă hội hiện thời có thể nói là “sở hành đều nghịch”, hoàn toàn trái nghịch Tánh Đức. Do vậy, mới bày ra một bầu hỗn loạn, hỗn loạn đến mức chướng khí mịt mù. Tôi ở Hương Cảng một khoảng thời gian, dẫu vào ngày nắng ráo, chẳng thấy trời xanh, mây trắng; ngẩng đầu nh́n lên không trung, thấy một bầu hỗn độn, ô trược. Trong tháng Tư, tôi tham gia hội nghị ở Hàng Châu. Sau khi tham dự xong, tôi đến Bắc Kinh. Từ Bắc Kinh đến Vân Nam, từ Vân Nam trở lại Hương Cảng. Ngồi trên máy bay, thấy phía dưới là một bầu hỗn độn, ô trược, là một khoảng mù mịt, cho thấy không khí đă bị ô nhiễm nghiêm trọng ngần ấy. Khi tôi bay ở vùng Thái B́nh Dương, khu vực Úc Châu khác hẳn. Ở trên không của Thái B́nh Dương, quư vị nh́n xuống dưới, có thể thấy nước biển sạch sẽ. Trên không trung của Úc có thể thấy mặt đất rành rành. Ở trên không trung của Trung Hoa, trên không phận của cả vùng này, thấy một bầu mù mịt. V́ sao thành ra t́nh trạng này? Từ đầu năm đến cuối năm, xác thực là rất khó có mấy ngày trông thấy trời xanh, buổi tối có thể thấy các ngôi sao. Chuyện này chắc chắn chẳng thể nói là hiện tượng tự nhiên. Hiện tượng tự nhiên có mối quan hệ mật thiết với ḷng người, Phật pháp nói là “cảm ứng”. Tâm hạnh thiện, núi, sông, đại địa, hết thảy chúng sanh, chẳng có ǵ bất thiện. Tâm hạnh bất thiện, sẽ chẳng có ǵ là thiện.

          Chuyện này trong kinh giáo đă nói rất nhiều: “Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”! Hiện thời, cư dân trong khu vực này, hết thảy các chúng sanh ấy, tâm họ tưởng điều ǵ? Toàn là tưởng tham, sân, si, mạn, nghi; quư vị nói xem, c̣n làm sao được nữa! Đấy là trái nghịch tự tánh một trăm tám mươi độ. Trong kinh, đức Phật đă nói rất rơ ràng: Tham lam là ngạ quỷ, sân khuể là địa ngục, ngu si là súc sanh. Do vậy, trong ngạ quỷ đạo, trời đất vĩnh viễn tối tăm, sương khói mịt mờ, chẳng thấy mặt trời, mặt trăng, mà cũng chẳng thấy tinh tú, giống như ngày âm u vậy. Đấy là khí hậu trong đường ngạ quỷ, do điều ǵ tạo thành? Tham lam. Địa ngục đạo hết sức khổ sở, có thể địa ngục là một bầu biển lửa, trong tám địa ngục lạnh cũng là một bầu biển lửa. Đó là do điều ǵ biến ra? Cái tâm sân khuể biến ra. Sân khuể là lửa, tham dục là nước, ngu si là gió, đấy là nguồn cội của Tam Tai. Thủy tai, hỏa tai, núi lửa bùng nổ đều thuộc về hỏa tai, gió lốc, băo tố làm sao có thể nói là chẳng có mối quan hệ với ḷng người?

          Giáo huấn của thánh hiền, giáo huấn của Phật, Bồ Tát chẳng có ǵ khác, [chỉ nhằm] khiến cho chúng ta trở về tự tánh. Do đó, các Ngài dạy chúng ta phải xa ĺa ngũ dục, lục trần, những thứ ấy chắc chắn đừng nên tham luyến, hễ quư vị có những thứ ấy th́ sai mất rồi. Quư vị phải học theo Phật, Bồ Tát; Phật, Bồ Tát liễu giải chân tướng sự thật, trong tự tánh chẳng có những thứ ấy. Những thứ có trong tự tánh là trí huệ, đức năng, vô lượng tướng hảo; người hiện thời nói là “chân, thiện, mỹ, huệ”; đấy là Tánh Đức. Người thế gian chỉ biết những danh từ và danh tướng ấy, [tức danh từ] “chân, thiện, mỹ, huệ”. Trên thực tế, “chân, thiện, mỹ, huệ” họ chẳng thấy một chữ nào! Không chỉ là chẳng trông thấy, [mà c̣n] chẳng có cách nào lănh hội; do đó, hữu danh vô thực. Nhưng đối với người tu hành, hữu danh hữu thực, quư vị chỉ cần buông xuống những thứ trái nghịch tự tánh. Mă Minh Bồ Tát dạy chúng ta: “Bổn Giác vốn có, bất giác vốn không”. [Nói cách khác], bổn thiện vốn có, bất thiện vốn không. Vốn là không, đương nhiên là có thể đoạn trừ, chỉ cần quư vị chịu buông xuống là đoạn được. Vốn có, đương nhiên là có thể khôi phục, nhất định có thể khôi phục thuần tịnh thuần thiện. Quư vị phải thật sự làm, nói thật ra, hoàn toàn chẳng khó!

          Đức Phật dạy hết thảy chúng sanh, xét theo phương thức, Ngài có ba loại [phương thức dạy dỗ] lớn:

          1) Thứ nhất là nêu chỉ, đấy là nói với hạng thượng căn. Chỉ cần đề ra, chỉ bày, họ liền hiểu rơ. Đó gọi là “nghe một biết mười, nghe một ngộ cả ngàn”. Đấy là bậc thượng căn.

          2) Kẻ trung căn, sau khi đă nêu bày, c̣n phải khuyên dạy.

          3) Kẻ hạ căn th́ nhất định phải nêu gương cho họ thấy, khiến cho họ thật sự trông thấy, họ mới tin tưởng!

          Chiều hôm nay, Tề cư sĩ đến đây, ở trong đạo tràng của chúng ta. Tôi nghe nói bà ta từ Cao Hùng đến. Bốn mươi năm trước, tôi ở Phật Quang Sơn tại Cao Hùng. Thuở đó, Phật Quang Sơn vừa mới khai sơn, pháp sư Tinh Vân mở Phật học viện, mời tôi đến dạy. Tôi ở đó mười tháng. Có một buổi tối, có một công nhân. Phật Quang Sơn từ đầu năm đến cuối năm đều có công tŕnh [kiến thiết], v́ thế, công nhân của họ là công nhân dài hạn. Có một vị công nhân là người làng Tướng Quân ở Đài Nam, mười mấy đồng học chúng tôi, buổi tối, dưới ánh trăng, thảo luận về bài học tại đó. Người ấy đến chỗ chúng tôi, cũng là đến nghe. Nghe một lúc, người ấy bảo chúng tôi, khuyên chúng tôi hăy niệm Phật cầu văng sanh. Ông nói [văng sanh] là thật, chẳng giả tí nào! Tôi nói: “Sao ông biết là thật?”
Ông ta kể: Năm ngoái, [tức là] năm ngoái của khi đó, đồng hương với bọn họ (tức là [những người sống trong] làng Tướng Quân) có một bà cụ niệm Phật ba năm, đứng văng sanh, [ông ta] đích thân trông thấy, [bà cụ] chẳng ngă bệnh!

          Ông ta nói bà cụ ấy là người rất tốt, là hảo nhân, hết sức từ bi. Trong quá khứ, bất luận là Phật cũng lạy, mà thần cũng lạy, cụ cũng chẳng hiểu, đúng là đến lễ bái khắp nơi. Ba năm trước đây, cụ cưới dâu. Con dâu học Phật, liền khuyên cụ chớ nên đi ra ngoài lạy lục, chẳng cần phải lễ bái lung tung, trong nhà lập Phật đường, chuyên niệm A Di Đà Phật, chuyên lạy A Di Đà Phật. Bà cụ ấy thiện căn rất sâu dầy, nghe theo lời khuyên nhủ của con dâu. Từ đấy trở đi, chẳng đi ra ngoài lạy lục lung tung nữa, ở nhà niệm Phật, niệm đă ba năm. Con trai và con dâu rất hiếu thuận; hôm bà cụ văng sanh, cụ bảo con trai và con dâu, bà cụ chẳng nói ḿnh sắp văng sanh. Khi ăn cơm tối, bà cụ bảo: “Các con ăn trước đi, không cần chờ mẹ. Mẹ đi tắm, cứ ăn trước đi”. Con trai và con dâu vẫn chờ bà cụ, đợi rất lâu, chẳng thấy bà cụ ra. Vào trong pḥng xem, bà cụ thật sự đă tắm rửa xong, thay quần áo, gọi th́ không có ai trả lời. Đi đến gian thờ Phật nhỏ của bà cụ, [họ trông thấy] bà cụ mặc áo hải thanh, đứng trước tượng Phật, tay cầm xâu chuỗi, gọi th́ bà cụ cũng không trả lời. Đến trước mặt nh́n kỹ, cụ đă qua đời, đứng mất. Hàng xóm đều trông thấy, thật đấy, chẳng giả tí nào, ba năm đấy nhé!       

          Bà cụ cũng rất thông minh, chẳng nói cụ sắp văng sanh để tránh người trong nhà trở ngại cụ. Cụ đi rồi, đến khi người nhà biết, cụ đă mất rồi. Chuyện này rất nhiều người ở phía Nam đều biết. Dường như là mười một, mười hai năm trước, thuở ấy giảng diễn một lần tại đại học Trung Sơn ở phía Nam Đài Loan, nhắc đến chuyện này. Thính chúng giơ tay, nói họ biết, họ bảo họ biết chuyện này, chẳng giả! Điều kiện để văng sanh là ǵ? Chẳng có ǵ khác, hăy buông xuống! V́ thế, vị đường chủ Niệm Phật Đường thường nói, buông xuống thân, tâm, thế giới, một câu Phật hiệu đă đủ rồi!

          V́ thế, tối hôm ấy, tôi có ấn tượng rất sâu. Vị công nhân ấy đă kể cho chúng tôi nghe sự từng trải của bà cụ niệm Phật văng sanh, khuyên chúng tôi nhất định phải nghiêm túc niệm Phật, chẳng giả tí nào! Đấy mới là tùy thuận Tánh Đức một trăm phần trăm, thật sự thành Nhất Thiết Trí, sanh sang Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn thành Phật. Trong thời kỳ Mạt Pháp, trừ pháp môn này ra, đối với các pháp môn khác mà mong thành tựu trong một đời, đúng là hết sức khó khăn, ngay cả chứng A La Hán cũng chẳng dễ dàng, huống hồ thành Phật. Chỉ riêng có pháp môn Tịnh Độ này là có thể thành tựu. A! Nay đă hết thời gian rồi, chúng ta nghỉ ngơi mấy phút.

***

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem bài kệ tiếp theo đó, tức bài kệ thứ tám:

 

          (Kinh) Nhiễu tháp tam táp, đương nguyện chúng sanh, cần cầu Phật đạo, tâm vô giải hiết.  

          ()繞塔三匝。當願眾生。勤求佛道。心無懈歇。

          (Kinh: Nhiễu tháp ba ṿng, nguyện cho chúng sanh, siêng cầu Phật đạo, tâm chẳng biếng trễ).

         

          Bài kệ này dạy chúng ta, học Phật phải biết tinh tấn. Phật pháp nói về thiện căn, thiện căn trong pháp thế gian có ba loại là vô tham, vô sân, vô si, [ba loại ấy] có thể sanh ra hết thảy các thiện pháp thế gian. V́ thế, chúng được gọi là ba thiện căn. Tương phản với ba thiện căn là tham, sân, si, được gọi là Tam Độc. Tam Độc phiền năo cũng là hết thảy tất cả ác pháp, pháp bất thiện trong thế gian đều sanh từ ba món ấy, chúng ta nhất định phải biết điều này. Muốn thành tựu hết thảy thiện pháp thế gian, vậy th́ quyết định phải nhớ: Quyết định phải đoạn tham, sân, si. Thật sự đoạn trừ tham, sân, si, sẽ là Tứ Quả La Hán. Trong hội Hoa Nghiêm, quả vị Bồ Tát là Thất Tín vị Bồ Tát, đoạn trừ tham, sân, si, người ấy sẽ thành Chánh Giác. Đối với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, người ấy đă đắc Chánh Giác. Trong toàn thể giáo pháp Đại Thừa, vị ấy đă thành tựu giai đoạn thứ nhất, giống như chúng ta đi học, đấy là học vị, học vị thứ nhất tức Học Sĩ (Cử Nhân) người ấy đă đạt được. A La Hán là danh từ dùng trong Phật môn, nếu dùng quy chế trong trường học hiện thời để sánh ví, [A La Hán] là Học Sĩ. Bồ Tát là Thạc Sĩ, Phật Đà là Tiến Sĩ. Học vị cao nhất được gọi là Phật Đà, chớ nên không biết điều này. Do vậy, trong Phật môn, Phật, Bồ Tát, La Hán đều là danh xưng học vị.

          Quư vị có thể buông xuống chấp trước, đối với hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian đều chẳng c̣n chấp trước nữa, quư vị đă đạt được học vị thứ nhất, đă nắm được Chánh Giác. Lại tiến cao hơn, không chỉ là chẳng chấp trước, mà tâm phân biệt cũng chẳng có, sẽ là Bồ Tát. Bồ Tát được gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác. Đẳng () là bằng với Phật. “Bằng với Phật” th́ đương nhiên vẫn chưa phải là một vị Phật thật sự, “bằng với Phật mà! Học vị cao nhất là Phật Đà, Phật Đà là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chẳng c̣n ǵ cao hơn nữa, địa vị này đă đạt tới tột đỉnh. “Nhiễu tháp ba ṿng” cũng có ư nghĩa này. V́ sao nhiễu ba ṿng? Thứ nhất là đoạn Kiến Tư, thứ nh́ đoạn Trần Sa, thứ ba đoạn vô minh. Đấy là sự biểu thị pháp. Nói theo sự chứng quả, ṿng thứ nhất là chứng A La Hán, ṿng thứ hai là chứng Bồ Tát, ṿng thứ ba là chứng Phật quả. Ư nghĩa biểu thị pháp rất nhiều, chúng ta suy ngẫm, sẽ có thể thấu hiểu. V́ thế, dẫn phát đại nguyện “đương nguyện chúng sanh, cần cầu Phật đạo, tâm vô giải hiết” (nguyện cho chúng sanh, siêng cầu Phật đạo, tâm chẳng biếng trễ). “Giải” () là giải đăi, “hiết” () là ngưng dứt. Giải đăi bèn biếng nhác, tán loạn. Ngưng dứt chắc chắn sẽ thoái chuyển.

          Tu hành và cầu học đều là cùng một đạo lư. Cổ nhân ví von “như thuyền đi ngược nước, không tiến ắt lùi”, v́ sao? Từ vô lượng kiếp đến nay, tâm tánh của phàm phu luôn bị tập khí phiền năo huân tập. Như vậy th́ quư vị sẽ hiểu: Tập khí phiền năo đă huân tập trong thời gian bao lâu? Vô lượng kiếp ở trong lục đạo. Trong lục đạo có thiện và ác, chúng ta có thể thấu hiểu, chắc chắn là thiện ít, ác nhiều. Do vậy, đức Phật nói căn bản phiền năo có hai mươi sáu thứ, tức là hai mươi sáu loại lớn. Ngài bảo Thiện Tâm Sở chỉ có mười một loại, Phiền Năo Tâm Sở gồm hai mươi sáu món; đấy là nói về vọng tâm của chúng ta, cũng là nói về thức tâm, tức tám thức, [gọi chung là] thức tâm. Đối với Phiền Năo Tâm Sở trong thức tâm, so sánh giữa bất thiện Tâm Sở và thiện Tâm Sở th́ [bất thiện Tâm Sở] nhiều hơn gấp đôi, hai mươi sáu món! Đó là lư do v́ sao con người học theo cái xấu rất dễ dàng, học cái tốt rất khó? Chẳng phải là quư vị đă hiểu rơ đạo lư này ư? Chủng tử tập khí trong A Lại Da Thức, bất thiện nhiều, thiện ít, thiện Tâm Sở và bất thiện Tâm Sở chẳng cân xứng. Đức Phật phân loại như thế, Tâm Sở thiện và ác khác nhau, số mục khác nhau, mà trên thực tế nay chúng ta có thể hiểu thấu. Nói theo tập khí, phải biết là có thể nói như thế này: Tập khí bất thiện chiếm đến tám chín phần mười, tập khí thiện chỉ có một, hai phần mười. Do vậy, học theo cái tốt rất khó, c̣n học theo cái xấu rất dễ dàng.

          Tại Trung Hoa, trong quá khứ, tinh thần của nền giáo dục xa xưa xác thực là luôn ngăn ngừa, chấm dứt ngay từ lúc mới manh nha; v́ thế, dạy học hết sức nghiêm ngặt, chỉ sợ trẻ nhỏ học theo cái xấu xa. Do đó, rất nghiêm ngặt. Vua Khang Hy dạy con cái của chính ḿnh: “Trước khi tṛn hai mươi tuổi, thi từ lẫn ca phú đều chẳng cần học, hăy chú trọng kinh sử tử thư”, V́ sao? Sợ học theo thói xấu. Trong tác phẩm văn học, vào thời cổ, cũng luôn có nguyên tắc, đó là “tư vô tà” (không nghĩ tà vạy), luôn giữ vững nguyên tắc này, nhưng mức độ cởi mở rất lớn, c̣n kinh sách hết sức nghiêm ngặt, cẩn trọng. V́ thế, trước khi đầy hai mươi tuổi, chánh yếu là học kinh điển, [thường nói là] “kinh học”. Sử học là hấp thụ giáo huấn, lịch sử là kết tinh từ kinh nghiệm của nhân loại. Xét xem những nhân vật xưa nay thành công, họ đă dựa vào ǵ để thành công? Thất bại th́ do nguyên nhân nào mà thất bại? Sự thành bại của cá nhân, quốc gia, xă hội hưng suy, lịch sử là một tấm gương soi. Dùng hai thứ ấy (kinh điển và sử sách) làm môn tu học chánh yếu. Khang Hy là một người rất thông minh, xác thực là siêng năng lo việc triều chánh, yêu dân, quản giáo con cái hết sức nghiêm ngặt. Trong cung đ́nh, thường xuyên không ngừng mời chuyên gia, học giả đến giảng dạy, lên lớp trong cung đ́nh.

          Năm ngàn năm qua, Trung Hoa yên ổn ḥa b́nh, là v́ lẽ nào? Chính là “kiến quốc, quân dân, tu thân vi bổn, giáo học vi tiên” (xây dựng đất nước, cai trị nhân dân, tu thân làm gốc, giáo học làm đầu), đó là ba câu thuộc về nguyên tắc chỉ đạo. Giáo dục truyền thống suốt năm ngàn năm của Trung Hoa chẳng ĺa khỏi nguyên tắc này, vĩnh viễn tuân theo nguyên tắc này. Cho đến thời Dân Quốc, nguyên tắc ấy mới bị vứt bỏ, học theo người phương Tây, vứt bỏ những thứ của tổ tiên chính ḿnh. Trong một trăm năm nay, nhân dân Trung Hoa chịu đủ mọi khổ nạn, nỗi khổ nạn ấy do đâu mà có, chúng ta phải biết. Chính là do đă vứt bỏ giáo huấn của tổ tiên mà gặp phải tai nạn to lớn như thế. Giáo huấn của tổ tiên là giáo dục yêu thương. Yêu thương th́ sẽ chẳng hại người, yêu thương th́ sẽ tôn kính con người, yêu thương th́ nhất định có thể chăm sóc người khác, có thể giúp đỡ người khác, có thể xả thân v́ người khác, chẳng phải là tổn người lợi ḿnh. Tổn người lợi ḿnh là trái nghịch Tánh Đức. Dẫu chính ḿnh chịu khổ mắc nạn, vẫn chẳng thể tổn người lợi ḿnh. Trong ấy có giáo dục nhân quả. Đă thông hiểu giáo dục nhân quả, chính ḿnh chịu khổ chịu nạn, họ chẳng oán trời hờn người, khi ấy sẽ làm như thế nào? Cổ thánh tiên hiền đă dạy chúng ta: “Hành hữu bất đắc, phản cầu chư kỷ” (Có chuyện ǵ chẳng làm được, hăy xét lại ḿnh). Tức là khi chúng ta gặp chuyện chẳng vừa ư, chính ḿnh phải nên khéo phản tỉnh, kiểm điểm, sửa lỗi, đổi mới, cầu sám hối, tiêu nghiệp chướng. Như vậy th́ mới có thể chuyển biến vận mạng của chính ḿnh, chẳng hề oán trời hờn người.

          Chư vị xem Liễu Phàm Tứ Huấn sẽ hiểu rơ, xem thứ mới được ra mắt gần đây nhất là Du Tịnh Ư Ngộ Táo Thần Kư, hai thứ ấy là tài liệu giáo dục điển h́nh về sửa đổi vận mạng. Quư vị phải xem hai thứ ấy cho nhiều để biết sửa đổi vận mạng của chính ḿnh bằng cách nào? Sửa đổi vận mạng tối thượng thừa là thành Phật, thành Bồ Tát ngay trong đời này; đấy là tối thượng thừa. Trong phần trước, tôi đă nhắc tới bà cụ ở làng Tướng Quân vào hơn bốn mươi năm trước, niệm Phật ba năm, đứng văng sanh. Đấy là thành tựu thượng thừa. Nếu quư vị hỏi do nguyên nhân ǵ ư? Chẳng có ǵ khác, buông xuống được! Chẳng lưu luyến mảy may, vậy là quư vị tăng cao từng tầng một. Hễ có mảy may chẳng buông xuống được, sẽ là chướng ngại nghiêm trọng.

          Hôm trước, tại Thâm Quyến có Hoàng cư sĩ, ba mươi tám tuổi văng sanh, cũng là niệm Phật hai năm mười tháng. Hôm qua, tôi mới thấy phần tài liệu này. Ông ta nghe nói tai nạn nghiêm trọng, tức là thế gian này bị tai nạn nghiêm trọng, chính ḿnh cũng cảm nhận rất sâu đậm, chẳng muốn hứng chịu tai nạn ấy, mong trước khi tai nạn xảy đến bèn văng sanh, ông ta thật sự làm được. Ông ta phát ra nguyện ấy, nêu gương cho mọi người, niệm Phật ba năm thật sự có thể văng sanh. Chuyện này khó có, ông ta đă làm gương. Ông ta chỉ niệm hai năm mười tháng, c̣n thiếu hai tháng mới đủ ba năm, đă biết trước lúc mất. Tôi xem tài liệu về ông ta: Trong hai năm ấy, ông ta bế quan, chỉ ngữ, tức là không nói năng, hết thảy đều buông xuống. Mỗi ngày nghe kinh sáu giờ, niệm Phật mười một tiếng đồng hồ, chưa hề gián đoạn. Bỏ luôn ăn cơm tối, tâm địa thanh tịnh. Ông ta đă nêu gương, làm theo h́nh thức ấy, chẳng có một ai không văng sanh! Trong tâm khởi tâm động niệm bèn chỉ tưởng A Di Đà Phật, chỉ niệm A Di Đà Phật, chỉ lạy A Di Đà Phật, một bộ kinh Vô Lượng Thọ, một câu Nam-mô A Di Đà Phật, ông ta thành tựu.

          Tôi xem tài liệu này rất cảm động, [gương sáng] ở ngay trước mắt, là chuyện hôm trước. Trước khi văng sanh, ông ta nói với các đồng học bên đó, muốn sang Hương Cảng gặp tôi. Chúng tôi giảng kinh th́ bốn giờ rưỡi bắt đầu, có khi trễ hơn một chút, đại khái là bốn giờ ba mươi lăm phút, ông ta ra đi lúc bốn giờ năm mươi phút, thật sự ra đi. Khi hỏa táng, có xá-lợi, có hoa xá-lợi. Tôi dặn ḍ các đồng tu bên đó hăy thu thập, thờ phụng cẩn thận. Đấy là tấm gương cho người niệm Phật chúng ta, đấy là thành tựu thật sự. Ông ta tốn thời gian hai năm mười tháng, “cần cầu Phật đạo, tâm vô giải hiết” (siêng cầu Phật đạo, tâm chẳng biếng trễ), ông ta đă làm được tám chữ ấy, tịnh nghiệp bèn viên măn.

          Phàm là người niệm Phật nhiều năm mà ngay cả tin tức cũng chẳng có, do nguyên nhân nào? Giải đăi, lười nhác, tán loạn, hằng ngày niệm Phật như có, như không. Hằng ngày nghe kinh cũng giống như thế. Tập khí phiền năo chẳng đoạn, nghe kinh suốt đời, vẫn mê hoặc, điên đảo, thậm chí giảng kinh suốt đời, đến khi lâm chung vẫn tay chân cuống quưt, đấy là do nguyên nhân ǵ? Chẳng buông xuống. Chuyện mắc mứu trong dạ quá nhiều, những chuyện mắc mứu trong ḷng chẳng có ǵ là thật, toàn là giả. Biết giảng kinh Bát Nhă, thật ra chẳng hiểu! “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, kẻ ấy biết niệm, biết giảng, nhưng chẳng làm được! Kẻ ấy vẫn coi tất cả hết thảy các pháp trong thế gian, vẫn coi thân thể này là thật, làm thế nào đây? Chúng ta đành phải nói, “tập khí nghiệp chướng quá nặng!” Đời này chẳng thể thành tựu, chắc chắn sẽ luân hồi, luân hồi hết sức đáng sợ, hết sức kinh hoàng!

          Nếu chúng ta chẳng dấy khởi cái tâm cảnh giác, năm trước, chúng tôi có biên tập một bộ sách, tức là từ trong Đại Tạng Kinh, [đối với những đoạn] đức Phật giảng về địa ngục, hoặc nói liên quan đến địa ngục, chúng tôi trích lục toàn bộ, sao chép, biên tập thành một quyển sách, tổng cộng thu thập từ hai mươi lăm bộ kinh luận. Tôi đặt tựa đề cho bộ sách ấy là Chư Kinh Phật Thuyết Địa Ngục Tập Yếu. Nếu tâm cảnh giác chẳng dấy lên nổi, đọc kỹ bộ sách này, quư vị thấy đức Phật giảng về t́nh h́nh trong địa ngục c̣n hay hơn bộ Ngọc Lịch Bảo Sao. Ngọc Lịch Bảo Sao[1] là sách của Đạo giáo, lưu thông rất rộng, trong ấy nói về quả báo rất nhiều, vẫn chẳng nhiều như đức Phật. Kinh Phật nói tỉ mỉ hơn sách ấy rất nhiều. [Trong Ngọc Lịch Bảo Sao] nghiệp nhân [được nhắc đến] ít hơn, tạo nghiệp nhân ǵ sẽ mắc phải quả báo ǵ, sách ấy chẳng nói rơ ràng cho mấy; nhưng Chư Kinh Phật Thuyết Địa Ngục Tập Yếu nói tỉ mỉ. Nếu quư vị thật sự thường đọc, thường kiểm điểm, thường xuyên phản tỉnh, quư vị sẽ thật sự cảm nhận địa ngục rất kinh hăi, quá đáng sợ!     

          Đời Tống, pháp sư Oánh Kha có thể văng sanh chẳng do ǵ khác! Sư biết địa ngục khổ sở, v́ sao Sư có thể dũng mănh tinh tấn? Sư sợ đọa địa ngục. Do vậy, sách này có thể cảnh giác chính ḿnh, có thể nhắc nhở chính ḿnh, chẳng dám giải đăi. Đọc xong, hăy suy ngẫm về chính ḿnh cho kỹ, chính ḿnh thông thường khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, chẳng phải là quư vị luôn tạo nghiệp nhân địa ngục đó chăng? Đức Phật dạy chúng ta học tập, trong mấy năm nay, chúng tôi đặc biệt đề xướng Đệ Tử Quy, có làm được hay không? Tôi thường nói đến ba căn cội của Nho, Thích, Đạo: Đệ Tử Quy của Nho gia, Cảm Ứng Thiên của Đạo giáo, Thập Thiện Nghiệp của Phật pháp. Đấy là ba căn cội của Nho Thích Đạo, quư vị có thể khéo tu ba căn cội ấy, làm được một trăm phần trăm, chắc chắn quư vị sẽ chẳng đọa vào ba ác đạo. Chẳng thể văng sanh th́ đời sau chẳng mất thân người, tu đàng hoàng c̣n có thể sanh lên trời, chớ nên không biết điều này, chớ nên không cảnh giác! Hễ đánh mất thân người, vạn kiếp chẳng có lại được. Lời cổ đại đức đă nói chẳng phải là lừa người, câu nào cũng là lời chân thật. Chỉ có kẻ thật sự thấu hiểu, trông thấy, đọc đến, sẽ cảm động. Đúng là đau đớn tuôn lệ, v́ sao chính ḿnh đọa lạc đến nông nỗi này? Trong chớp mắt, sẽ vào tam đồ. V́ sao trong mấy năm nay, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh Đệ Tử Quy là khóa tŕnh căn bản của tam giáo? Chỉ nhằm một mục đích, hy vọng quư vị sẽ chẳng đọa vào ba ác đạo, hy vọng quư vị đời sau giữ được thân trời, người. Trong đời này chẳng thể tăng tấn th́ đời sau c̣n cơ hội tăng tấn. Nếu đời sau chẳng được làm thân người, phiền phức sẽ to lớn, nhất định sẽ đọa lạc.Vào ba ác đạo dễ dàng, thoát ra khó lắm!

          Trong mấy năm nay, chúng tôi tiếp xúc không ít linh môi (spiritual medium). Do có những linh quỷ, thần linh dựa vào thân người, tiết lộ đôi chút tin tức cho chúng tôi. Tại Trung Hoa và ngoại quốc tôi đều gặp được. Những tin tức hé lộ, do những người khác nhau, ở các khu vực khác nhau, những linh môi ấy chẳng quen biết nhau, nhưng những trạng huống nói ra đại để là tương đồng, họ đều nói đến nỗi khổ trong địa ngục, nỗi khổ trong ng quỷ đạo. Hiện thời, nỗi khổ trong quỷ đạo đă gần như liên quan với nỗi khổ trong địa ngục; cũng có nghĩa là quỷ đạo khổ sở hơn trước kia quá nhiều. Sau khi chúng tôi nghe những tin tức ấy, có thể tin tưởng, có thể tiếp nhận, là do nguyên nhân nào? Người hiện thời tâm tham nặng nề hơn xưa kia, người hiện thời do tham lam gây tạo ác nghiệp cũng nặng nề hơn người xưa kia. Do vậy, chúng ta trông thấy cái nhân, có thể nghĩ đến quả báo. Con người chẳng thể không tu thiện nhân, tâm địa phải thiện, ngôn ngữ phải thiện, hành vi phải thiện; không chỉ là phải thiện, c̣n phải chủ động giúp đỡ hết thảy chúng sanh khổ nạn. Có cơ duyên, phải biết tu phước, phải biết tiếc phước, quư vị mới có thể có phước báo. Phước chí tâm linh, điều này thường nói là “quư vị mới có thể khai khiếu”, có đôi chút thông minh, trí huệ, có thể tiếp nhận giáo hóa của Phật, Bồ Tát, thánh hiền. Khi quư vị tiếp nhận, quư vị có thể nghe hiểu, có ư niệm y giáo phụng hành, vậy là quư vị có phước.

          Đức Phật dạy chúng ta thuần chân, vô vọng, đạo là ǵ? Đạo là tự tánh. Trong giáo pháp Đại Thừa, thường nói đến Pháp Tánh; đấy là Phật đạo. Không chỉ riêng mục tiêu học tập của Thiền Tông là “minh tâm kiến tánh”, Giáo Hạ cũng chẳng ra ngoài lệ ấy, nhưng danh tự khác nhau. Giáo Hạ gọi là “đại khai viên giải; đại khai viên giải chính là minh tâm kiến tánh. Một đằng là từ trong Định mà đạt được, một đằng là thông qua giáo học, thấy thấu suốt, buông xuống th́ mới đạt được. Nếu chỉ có giáo học, chính ḿnh chẳng thể thấy thấu suốt, buông xuống, vậy th́ quư vị phải biết: Sở học của quư vị là Phật học, chẳng phải là học Phật! Quư vị chẳng thể lănh hội nghĩa thú thật sự của Phật pháp! V́ thế, giáo học Phật giáo và giáo học thế gian khác nhau. Trong giáo học thế gian, Khổng Tử cũng dạy người ta buông xuống, nhưng Ngài không triệt để! Ngài có dục vọng hay không? Có chứ! Hạ thấp dục vọng, đức hạnh tự nhiên tăng lên, Ngài chẳng đoạn dục! Phật pháp th́ không chỉ là hạ thấp dục vọng, mà c̣n phải đoạn hết dục vọng. Vậy là đă tăng tấn trên một mức độ to lớn, bất đồng ở chỗ này!

          Nho gia dạy mọi người hăy v́ đại chúng phục vụ, v́ xă hội phục vụ, trong ấy, chẳng ĺa khỏi chính ḿnh, đồng thời cũng chăm sóc chính ḿnh. Nhiều phần là v́ người khác, ít phần v́ chính ḿnh, đấy là thánh hiền. Phật pháp chẳng v́ chính ḿnh, một trăm phần trăm xả ḿnh v́ người, người b́nh phàm rất khó làm được chuyện này! Do vậy, đức Phật dạy chúng ta những phương pháp, cái sẽ đạt được là viên măn, tức là Tánh Đức viên măn. Tánh Đức viên măn là trí huệ viên măn, năng lực viên măn. Đức năng là năng lực, viên măn tốt đẹp, tướng hảo tốt đẹp, quư vị chẳng có mảy may khiếm khuyết. V́ sao người thế gian chẳng cầu? Chẳng phải là không cầu, nói theo thuật ngữ Phật pháp, sẽ là “tập khí nghiệp chướng gây chướng ngại Tánh Đức”. Dẫu tiếp xúc Phật pháp, v́ tập khí nghiệp chướng nặng nề, kẻ ấy tán thán, ưa thích Phật pháp, nhưng chẳng làm được! Kẻ ấy chẳng thể thực hiện giáo huấn của đức Phật. Dẫu có thể làm th́ làm ít phần. Nói đi, nói lại, vẫn chẳng buông xuống được cái đăy da thối của chính ḿnh, đối với hoàn cảnh vật chất và hoàn cảnh nhân sự trong thế gian, vẫn lưu luyến y như cũ, chẳng chịu buông xuống. Đấy là cái gốc bệnh. Muốn đối trị cái gốc bệnh ấy, phải dũng mănh tinh tấn, hạ quyết tâm, thảy đều trừ bỏ!

          Thảy đều có thể trừ bỏ, vậy th́ sau đấy ta phải làm như thế nào? Thuở tôi c̣n trẻ học Phật, thầy dạy tôi buông xuống, tôi có thể lănh hội đạo lư ấy, thật sự buông xuống. Tôi c̣n có một vị thầy về pháp thế gian trong thời kỳ Kháng Chiến là tiên sinh Châu Bang Đạo, rất nhiều người biết cụ. Lúc tuổi già, cụ cũng học Phật, ở tại Đài Trung, chúng tôi thường cùng nhau nghe thầy Lư giảng kinh, cụ cũng tôn thầy Lư làm thầy. Thuở ấy, tôi sống rất vất vả, rất nhọc nhằn chắt bóp được ít tiền, mua một bộ Đại Tạng Kinh và một bộ Nhị Thập Ngũ Sử. Tôi quyên tặng toàn bộ, v́ thầy mở thư viện, hai bộ sách ấy lớn nhất, những thứ chính ḿnh thường thích đọc đều quyên tặng toàn bộ. Thầy Châu bảo tôi: “Nay anh đang học Phật, kinh điển rất hữu dụng đối với anh, sao mà ngay cả kinh điển cũng quyên tặng hết?” Lúc đó, tôi c̣n trẻ, cũng rất liều lĩnh, nói một câu, nói xong, tôi cũng rất hối hận, biết ḿnh đă nói sai rồi! Tôi nói ǵ vậy? Tôi nói: “Thưa thầy! Con quyên tặng những thứ này, đại khái là trong tương lai, con muốn sách ǵ, nhất định sẽ có cảm ứng. Con muốn sách ǵ, nhất định nó sẽ đưa đến”. Thầy Châu nghe nói, nh́n tôi, chẳng nói một câu nào!

          Nhưng lời ấy là thật, về sau, học kinh giáo, muốn tham khảo tài liệu nào đều có thể đạt được! Ngay cả thầy Lư cũng cảm thấy rất lạ lùng, v́ thầy nhắc đến kinh sách nào, những bản chú sớ từ thời cổ, hễ thầy nhắc đến, trong tay tôi thảy đều có. Thầy bảo: “Lạ thật! Sao anh có thể có lắm thứ ngần ấy?” Thật vậy! Sau khi quư vị đều xả hết sạch, nhà Phật nói “tâm tưởng sự thành, có cầu ắt ứng”. Chương Gia đại sư dạy tôi điều này, đúng lư, đúng pháp để cầu, v́ đạo nghiệp của chính ḿnh, v́ hoằng pháp lợi sanh, chẳng có ǵ không cảm ứng. Trong khi quư vị mong cầu mà chẳng có cảm ứng, nhất định là quư vị có nghiệp chướng, vậy th́ hăy tự ḿnh phản tỉnh, t́m ra nghiệp chướng, sau đấy, sám trừ nghiệp chướng, cảm ứng sẽ hiện tiền. Những điều này đều do thầy dạy, tôi áp dụng suốt năm mươi lăm năm, quả nhiên hữu hiệu. V́ thế, đối với giáo huấn của đức Phật, tôi có thể phụng hành một trăm phần trăm. Khi cần đến, thật sự là nó sẽ đưa tới, khi tôi chẳng cần, tôi bèn buông xả.

          Trong những năm qua, tôi đă sưu tập không ít sách, hiện thời, toàn bộ đều tặng cho Tịnh Tông Học Viện. Tịnh Tông Học Viện có Đồ Thư Quán, pḥng đọc sách, tôi quyên tặng toàn bộ để cho những người trẻ tuổi thuộc thế hệ sau tham khảo. Nội dung rất phong phú, những bộ lớn th́ có Tứ Khố Toàn Thư và Tứ Khố Hội Yếu. Đại Tạng Kinh tôi thâu thập đến mười loại phiên bản khác nhau. Do vậy, học Phật thật sự muốn dụng công, thật sự mong học giáo, Tịnh Tông Học Viện là nơi chốn học tập lư tưởng. V́ học viện chẳng có kinh sám, Phật sự, chẳng có pháp hội, thuần túy lấy chuyện đọc sách, giáo học làm mục tiêu. Do vậy, đối với giới học thuật và chánh phủ Úc, khi chúng tôi đăng kư, họ vẫn coi chúng ta là một đoàn thể tôn giáo. Nh́n vào những năm qua, trông thấy sự thật này, họ nói: “Bọn họ chẳng phải là tôn giáo, bọn họ là một đơn vị học thuật”. Do đó, hiện thời ở Úc chúng tôi thuộc về đơn vị học thuật, chẳng phải là một đoàn thể tôn giáo, chính là do sự thật tạo thành!

          Thuở ấy, chúng tôi đến đăng kư, mặc loại y phục này, người ta thấy là tôn giáo. Làm nhiều năm như vậy, “họ chẳng phải là tôn giáo, hoàn toàn khác với các tự viện. Họ học hành, họ dạy học, họ dạy người khác”. V́ thế, chúng tôi qua lại, cũng có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với trường đại học. Do đó, nhà trường chủ động tặng học vị. Tôi đă quá lớn tuổi, họ tôn trọng tôi, mời tôi làm giáo sư danh dự của nhà trường. Giáo sư danh dự có thể chẳng lên lớp. [Danh hiệu] giáo sư danh dự tặng cho ai? Cho những vị giáo sư già trưởng thượng, đă về hưu, nhà trường ban tặng giáo sư danh dự nhằm tôn trọng họ. Tôi cũng được đăi ngộ như thế nhằm khẳng định sự cống hiến đối với giáo dục. V́ vậy, có khi tôi tham gia hội nghị tọa đàm trong nhà trường, tham gia những hội ấy, cùng họ nghiên cứu, thảo luận. Đa số là họ đề ra một số câu hỏi, tôi giúp họ giải đáp.

          Họ cũng đều liễu giải công việc của cả một đời tôi, tôi suốt đời dạy học. Ngoài dạy học ra, tự ḿnh đọc sách. Măi cho đến hiện thời, tôi chẳng có chùa miếu, chỉ là khi xuất gia bèn ở trong chùa miếu hai năm. Sau này ở Từ Quang Đồ Thư Quán tại Đài Trung do thầy Lư mở, tôi ở đó mười năm. Chính ḿnh suốt đời chẳng có đạo tràng, nơi nào mời tôi giảng kinh, bèn đến nơi đó. Giảng xong lại ra đi. Pháp duyên khá lắm, khắp nơi đều có người mời, cũng đi khắp thế giới. Dựng học viện tại Úc Châu cũng là v́ các đồng học chữ Ngộ (các pháp sư có pháp danh bắt đầu bằng chữ Ngộ). Sau khi chúng tôi rời khỏi Đài Loan, chẳng có đạo tràng cố định, mọi người đều cảm thấy rất bất tiện, rất đau khổ. Do vậy, mới kiến lập học viện này, để họ lúc tuổi già có chỗ an thân lập mạng, có chỗ để thật sự dụng công học tập. Ngoại duyên thảy đều có đầy đủ, chỉ cần họ có thể làm được tám chữ này, “cần cầu Phật đạo, tâm vô giải hiết”, chẳng có ai không thành tựu. A! Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng tới đây!

          Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Phẩm thứ mười một

Tịnh Hạnh Phẩm

Phần 55 hết

 



[1] Tương truyền, Ngọc Lịch Bảo Sao (玉曆寶鈔) là do vào đời Tống, đạo nhân Đạm Si được các vị thần tiên truyền thụ sách này. Thiện thư này được lưu hành rất rộng, và tăng bổ dưới đời Thanh. Sách dạy về những sự báo ứng trong địa ngục, nhân quả báo ứng. Theo khảo chứng của Lư Tông Mẫn, đạo nhân Đạm Si là người nước Liêu, biên tập sách này vào năm Thái B́nh thứ mười (1030) đời Liêu Thánh Tôn, truyền cho đệ tử là đạo nhân Vật Mê khắc in vào năm Thiệu Thánh thứ năm (1098) đời Tống Triết Tông.