Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm Kinh
Phẩm thứ mười
một,
Tịnh Hạnh Phẩm
Phần 8
大方廣佛華嚴經
(十一)淨行品
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Địa điểm: Hương Cảng Phật
Đà Giáo Dục Hiệp Hội
Khởi giảng từ ngày mồng Bảy tháng
Mười Một năm 2005
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Minh
Tiến
Tập 1477
Chư vị
đồng học, xin xem phẩm Tịnh Hạnh thứ mười
một, đoạn thứ ba trong phần kinh văn trường
hàng. Chúng tôi đọc kinh văn một lượt.
(Kinh) Vân hà đắc thắng huệ,
đệ nhất huệ, tối thượng huệ, tối
thắng huệ, vô lượng huệ, vô số huệ, bất
tư nghị huệ, vô dữ đẳng huệ, bất
khả lượng huệ, bất khả thuyết huệ?
(經)云何得勝慧。第一慧。最上慧。最勝慧。無量慧。無數慧。不思議慧。無與等慧。不可量慧。不可說慧。
(Kinh:
Làm thế nào để được huệ thù thắng,
huệ bậc nhất, huệ tối thượng, huệ
tối thắng, huệ vô lượng, huệ vô số, huệ
chẳng thể nghĩ bàn, huệ chẳng sánh bằng, huệ
chẳng thể tính lường, huệ chẳng thể
nói được?)
Trong phần trước,
chúng ta học đến “tối
thượng huệ”, điều thứ ba là Tối Thượng
Huệ. Trong phần chú giải, Thanh Lương đại
sư đă nói:
(Sớ) Giản Quyền
Giáo cố.
(疏)揀權教故。
(Sớ:
Nhằm vạch rơ chẳng phải là Quyền Giáo).
[Các loại trí huệ
được nói trong] phần trước đều vượt
trỗi Nhị Thừa. “Đệ
nhất huệ” [là trí huệ] vượt trỗi Nhị
Thừa; “tối thượng huệ”
trong câu thứ ba là [trí huệ] vượt trỗi Quyền
Giáo. Tuy Quyền Giáo Bồ Tát cũng phát Bồ Đề
tâm, tu lục độ, vạn hạnh, nhưng chẳng
đoạn vô minh phiền năo, vẫn ở trong tứ thánh
pháp giới y như cũ. Những vị thuộc về Bồ
Tát pháp giới hay Phật pháp giới trong tứ thánh pháp giới
đều thuộc về Quyền Giáo. Nếu tiến cao
hơn, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp
Thân, vị ấy sẽ vượt thoát mười pháp giới,
sẽ chẳng phải là Quyền Giáo Bồ Tát! [Khi ấy],
phải nên sửa Quyền thành Thật, “Thật” trong Chân Thật, [Quyền Giáo Bồ Tát trở
thành] Thật Giáo Bồ Tát, [người như vậy] là Bồ
Tát thật sự. Thiên Thai đại sư gọi Quyền
Giáo là Tương Tự Tức Phật, [nghĩa là] rất
tương tự Phật, Bồ Tát, rất gần
gũi, nhưng vị ấy chưa phải là [Phật, Bồ
Tát] thật sự. Nếu tiến cao hơn th́ mới là Thật.
Câu thứ tư
là “tối thắng huệ”.
(Sớ) Phật quả
siêu nhân cố.
(疏)佛果超因故。
(Sớ:
Đó là cái nhân siêu việt của Phật quả).
Chúng ta xem hai câu
[chú giải] kế đó của Thanh Lương đại
sư, ư nghĩa cũng rất rơ rệt. Tiếp đó, lời
Sớ ghi:
(Sớ) Thượng tứ
giản liệt, dư lục đương thể.
(疏)上四揀劣,餘六當體。
(Sớ:
Nhằm vạch rơ bốn câu [nói về trí huệ] trên
đây nhằm nói về [trí huệ thuộc] loại kém,
sáu loại huệ c̣n lại là Thể).
Có thể thấy
[trí huệ được nói trong] bốn câu thuộc phần
trước chẳng vượt ngoài mười pháp giới.
Phật quả ở đây chính là [quả vị] Phật
trong mười pháp giới, “tối
thắng huệ” thuộc mười pháp giới. Công
phu tu hành của người ấy là “sắp phá vô minh, chứ
chưa phá”, thuộc vào giai đoạn ấy. Nếu phá vô
minh, vị ấy sẽ vượt thoát mười pháp giới.
Hễ vượt thoát mười pháp giới, sẽ sanh vào
thế giới Hoa Tạng. Đấy là Phật thật sự,
chẳng giả, thật sự là Pháp Thân Bồ Tát. Bốn
thứ trí huệ ấy (thắng huệ, đệ nhất
huệ, tối thượng huệ, tối thắng huệ)
chính là trí huệ trong mười pháp giới. Loại thứ
nhất là Thắng Huệ, thù thắng trong thế gian, thuộc
vào lục đạo. Lục đạo bao gồm hai
mươi tám tầng trời. Quư vị chẳng thể
nói chư thiên không có trí huệ! Trí huệ và thần thông của
chư thiên mạnh mẽ hơn chúng ta khá nhiều, nhân gian
chúng ta làm cách nào cũng chẳng thể sánh bằng!
Nhưng nếu so sánh với tứ thánh pháp giới, chư
thiên sẽ thua xa. Họ chẳng bằng Thanh Văn, chẳng
sánh bằng Duyên Giác!
[Lời sớ giải
đă] v́ chúng ta nói rơ từng tầng một; chúng ta cầu
trí huệ chân thật, học Phật, chớ nên không biết
[điều này]. Nếu đối với cái chẳng thật
mà đổ khá nhiều công sức, lăng phí bao nhiêu thời
gian, sẽ rất đáng tiếc! Hết thảy phải tu
từ chân thật; thực hiện chân thật từ chỗ
nào? Trong giáo pháp Đại Thừa, đức Phật
thường nói: “Hết thảy
phải học từ cái tâm chân thật”. Chư Phật,
Bồ Tát đều vận dụng cái tâm chân thật. Giáo
pháp Đại Thừa thường gọi cái tâm chân thật
là Bồ Đề tâm; đấy là chân tâm. Hết thảy
chúng sanh ai nấy vốn sẵn có chân tâm, hết thảy
chúng sanh có ai chẳng sẵn có? Có ai chẳng trọn đủ?
V́ sao lại luân lạc đến nông nỗi này? Đức
Phật bảo [nguyên nhân là v́] chúng ta đă mê mất chân tâm.
Đă mê mất chân tâm th́ cái chân tâm ấy được gọi
là “vọng tâm”. Thể của vọng tâm là chân tâm. Do vậy,
chân và vọng chẳng hai. Nói theo Thể, sẽ là một,
chẳng hai.
Phật, Bồ
Tát giác, giác chứ không mê; phàm phu, mười pháp giới
đều là phàm phu. Giáo pháp Đại Thừa nói rất
hay, [chúng sanh] trong lục đạo gọi là Nội Phàm,
trong tứ thánh pháp giới gọi là Ngoại Phàm. “Ngoại” là ǵ? Ở ngoài lục
đạo. Ngoài lục đạo có tứ thánh pháp giới.
Mười pháp giới là Nội Phàm và Ngoại Phàm. Nội
Phàm hoàn toàn trái nghịch Tánh Đức, đi ngược
đường! Tứ thánh pháp giới tuy dùng vọng tâm, nhưng
họ y giáo tu hành, chẳng trái nghịch thánh giáo. Nói cách
khác, họ sử dụng vọng tâm chánh đáng, sử dụng
chẳng khác chư Phật, Bồ Tát. [Đấy chính là] học
Phật! Đức Phật dạy ta như thế nào, ta
liền làm như thế ấy, học rất giống
như Ngài! Rất giống, bề ngoài rất giống,
nhưng trong tâm chẳng ngộ nhập, nhưng làm rất
giống. Đó gọi là Ngoại Phàm, thật sự là học
tṛ ngoan của đức Phật!
Chỉ cần nương
theo lư luận và phương pháp do đức Phật
đă nói để học tập, sẽ nhất định
có thể nâng cao cảnh giới của chính ḿnh, quyết
định sẽ có thể minh tâm kiến tánh. Minh tâm kiến
tánh là chứng quả. Nhưng nếu quư vị chẳng thể
y giáo phụng hành, tự ḿnh suy tưởng một kiểu
cách riêng để minh tâm kiến tánh, khó khăn lắm!
Chúng ta chớ nên không biết chuyện này! Mười
phương ba đời tất cả Bồ Tát tu hành
thành Phật, đúng là cùng một con đường, một
phương hướng, một mục tiêu. Tuy có tám vạn
bốn ngàn pháp môn, pháp môn bất đồng, chứ phương
hướng và mục tiêu giống nhau. Do vậy, kinh Bát Nhă
mới nói: “Pháp môn b́nh đẳng,
chẳng có cao thấp”, cuối
cùng đều đạt tới chỗ mục đích giống
nhau! Tịnh Độ Tông được gọi là “môn dư đại đạo”
(門餘大道, đường
lớn ở ngoài các môn), “môn”
(門) chính là tám vạn bốn ngàn pháp
môn. [Pháp môn Tịnh Độ] ở ngoài tám vạn bốn
ngàn pháp môn, chẳng thuộc trong tám vạn bốn ngàn pháp
môn. Vậy th́ đạo ấy có phải là cùng một phương
hướng, cùng một mục tiêu với các pháp môn khác hay
không? Thưa cùng chư vị, vẫn cùng! Nếu
phương hướng và mục tiêu chẳng tương
đồng, sẽ là tà đạo, chẳng phải là Phật
đạo! Nói thật ra, nguyên lư và nguyên tắc được
nói trong pháp môn Tịnh Tông và tám vạn bốn ngàn pháp môn
đều chẳng trái nghịch.
Nói chung, Phật
pháp bất luận Đại Thừa, Tiểu Thừa, Hiển
Giáo, Mật Giáo, Tông Môn, hay Giáo Hạ, tổng nguyên tắc
đều là “nương vào Giới,
Định, Huệ”. Chớ nên sơ sót điều này,
nhân Giới đắc Định, nhân Định khai Huệ.
Huệ là Phật tâm, Giới là Phật thân. Nhất cử
nhất động của Phật, quư vị ghi chép lại
sẽ là giới luật, Giáo là Phật ngôn. Do vậy,
Định và Huệ là một Thể. Định là Thể,
Huệ là Dụng. Huệ là Thể, Định là Dụng.
Định và Huệ là một Thể, nhân Giới đắc
Định, nhân Định khai Huệ. Huệ mới có thể
hóa giải tất cả hết thảy t́nh chấp hư
vọng của quư vị, thảy đều có thể hóa giải.
Do vậy, điều mong cầu trong Phật pháp chính là sáu
loại trí huệ “đương
thể” được nói trong phần sau. Bốn loại
trí huệ được nói trong phần trước, ngoại
trừ [trí huệ] thế gian, trong Phật pháp gọi trí
huệ thế gian là Thế Trí Biện Thông, chính là một
trong tám nạn, đức Phật chẳng thừa nhận
loại trí huệ ấy là trí huệ chân thật. Đức
Phật thừa nhận trí huệ của Nhị Thừa, Quyền
Giáo, và trí huệ của Phật trong mười pháp giới,
nhưng các loại trí huệ ấy đều chưa phá vô
minh phiền năo! Nói cách khác, chúng là trí huệ tương tự,
tiếp cận trí huệ, chẳng phải là chân thật.
Điều ǵ mới
là chân thật? “Đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh” mới là chân thật.
Bất luận tông phái nào, bất luận pháp môn nào, nhất
định phải đạt đến triệt ngộ,
trí huệ mới hiện tiền. Trí huệ hiện tiền,
quư vị mới có thể giải quyết hết thảy
các nghi nan tạp chứng trong thế gian và xuất thế
gian, mới có năng lực ấy. Chúng ta ắt phải biện
định rơ ràng điều này. Sau khi đă hiểu rơ, mới
biết Phật pháp xác thực chẳng dễ dàng. Nhưng
sau khi quư vị đă hiểu minh bạch, sẽ có thể
thấu hiểu Phật pháp cũng hoàn toàn chẳng phải
là rất khó khăn. Khó và dễ là ở chỗ nào? Ở
chỗ bản thân quư vị có thể buông xuống vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước hay không! Nếu
thật sự chịu buông xuống, Phật pháp chẳng
khó. Quư vị thấy Lục Tổ Huệ Năng đại
sư của Thiền Tông hai mươi bốn tuổi
đắc đạo, Ngũ Tổ truyền y bát cho Ngài, hai
mươi bốn tuổi đấy nhé! Kinh Hoa Nghiêm đă
ban cho chúng ta một tấm gương, Thiện Tài đồng
tử thành Phật trong một đời, thành Phật rốt
ráo viên măn. Trong kinh Pháp Hoa, long nữ tám tuổi thành Phật.
Những trường hợp ấy đă nói rơ [thành Phật]
chẳng khó, khó ở chỗ nào? Khó ở chỗ quư vị chẳng
thể buông xuống được. “Thấy thấu suốt, buông xuống”, hai câu ấy
nói rất dễ dàng, thực hiện chẳng đơn giản!
Người thật
sự tu hành chẳng có ǵ khác, đầu tiên là người
ấy thật sự thấy thấu suốt. “Thấy thấu
suốt” chính là trí huệ, biết chân tướng của vũ
trụ và nhân sinh đều là huyễn tướng, chẳng
chân thật! V́ thế, Phật pháp gọi nó là Hữu. Hữu
được gọi là Diệu Hữu, [bởi lẽ] Diệu
Hữu chẳng phải là có, Chân Không chẳng phải là
không! Quư vị phải hiểu rơ ràng, minh bạch chuyện
này; thế giới này là huyễn hóa, chẳng thật! Các pháp
vô thường, sanh diệt trong từng sát-na, kinh điển
đă nói rất nhiều [về chuyện này]. Kinh văn của
kinh Hoa Nghiêm khá dài, từ đây về sau c̣n có nhiều chỗ
nhắc lại [những điều này]; v́ thế, nếu
nghe phần trước mà chẳng hiểu, không sao cả,
trong các phần sau c̣n có, sẽ c̣n nhắc lại. Đấy
là chỗ từ bi trong Phật pháp, không chỉ là nói một
lần, mà là luôn luôn nhắc nhở quư vị.
Nói thật ra, đức
Phật hiểu bọn phàm phu chúng ta quá
rơ: [Bọn chúng ta nghe những giáo huấn trong kinh
điển], nghe rơ ràng, nghe minh bạch, thật sự thông
hiểu, cũng rất mong thực hiện, làm được
vài ngày lại mê! Đấy là do nguyên nhân nào? Tập khí quá
nặng! Tập khí phiền năo của chúng ta quá nặng, chẳng
dễ ǵ quay đầu! V́ vậy, Phật, Bồ Tát từ
bi, thường xuyên nhắc nhở, thường xuyên lặp
đi lặp lại. Chẳng ngại nói một câu đến
một ngàn lượt, chẳng sợ nói đến một
vạn lần! Chỉ cần quư vị c̣n chưa thật
sự quay đầu, sẽ nhắc nhở quư vị hằng
ngày. Chẳng giống như các vị thầy trong thế
gian, ngay cả Khổng lăo phu tử cũng chẳng làm được!
Quư vị thấy trong Luận Ngữ, Phu Tử đă nói: “Cử nhất ngung nhi bất
dĩ tam ngung phản” (Nêu ra một góc mà chẳng thể
suy ra ba góc kia), Phu Tử chẳng muốn dạy quư vị.
V́ sao? Quư vị quá đần! Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng
vậy. Đần độn ư? Không ngại! Chỉ cần
quư vị chịu học, Ngài sẽ dạy quư vị từng
lần một, nhắc nhở hằng ngày. Chỉ cần quư
vị có ḷng kiên nhẫn dạy bảo; sau dăm ba năm dạy
bảo , người ấy sẽ khai ngộ. Trong ấy,
có rất nhiều nhân tố!
Đức Phật
chẳng phải là người thế gian. Người thế
gian chẳng có Tha Tâm Thông, chẳng có Túc Mạng Thông. Thích
Ca Mâu Ni Phật nh́n một người, có thể biết đời
quá khứ người ấy đă làm ǵ. Chẳng phải
là một, hai, ba, năm đời trong quá khứ, mà là có thể
thấy vô lượng đời trong quá khứ của
người ấy. Năng lực của A La Hán có thể thấy
năm trăm đời, đương nhiên là năng lực
của Bích Chi Phật và Bồ Tát càng to hơn nữa.
Đức Phật có thể biết vô lượng kiếp,
biết trong đời đời kiếp kiếp quư vị
đă làm ǵ, hiểu rơ ràng! [Biết rơ] phải dùng phương
pháp ǵ để điều phục, giáo huấn, có thể
giúp quư vị giác ngộ. V́ thế, [Phật pháp] khế
cơ, khế lư. Nếu ai gặp đức Phật, người
ấy có đại phước báo, chắc chắn sẽ
tu hành chứng quả ngay trong một đời. Đó là
đạo lư nhất định. Thánh nhân thế gian chẳng
có năng lực ấy, chúng ta phải hiểu, phải
minh bạch điều này! Sau đấy, chính ḿnh mới
có thể sanh khởi tín tâm, yêu chuộng Phật pháp, học
tập Phật pháp, dùi mài chẳng bỏ, cũng có thể
thành tựu ngay trong một đời này.
Nhất là gặp
gỡ pháp môn Tịnh Độ, Thiện Đạo đại
sư đă nói rất hay: “Pháp
môn này, vạn người tu, vạn người văng sanh”.
Đại sư nói thật đấy, chẳng giả đâu
nhé! Trong thời đại hiện tại, v́ sao chúng ta thấy
người niệm Phật đông như thế, người
thật sự thành tựu rất ít? Chẳng phải là “vạn người tu, vạn
người văng sanh”. Vạn người tu, vạn
người văng sanh chính là [những người] biết
tu hành đúng lư, đúng pháp, chẳng có một ai không văng
sanh! Hiện thời, có rất nhiều người niệm
Phật chẳng hiểu lư, chẳng biết phương
pháp, đúng là “tu mù, luyện
đui”. Tu mù luyện đui sẽ kết pháp duyên với
A Di Đà Phật, chẳng thể thành tựu ngay trong
đời này! Do vậy, phải đúng lư, đúng pháp, trong
kinh điển đă dạy lư luận và phương pháp rơ
ràng!
Người niệm
Phật ai nấy đều đă từng đọc kinh Vô
Lượng Thọ. Quư vị đă hiểu những đạo
lư trong kinh Vô Lượng Thọ hay chưa? Quư vị có c̣n hoài
nghi hay không? Quư vị có thật sự tin tưởng hay
không? Phương pháp đă nói trong kinh Vô Lượng Thọ,
quư vị có làm được hay không? Quư vị thấy
kinh điển vừa mở đầu đă dạy chúng
ta rơ ràng, thực hiện từ “thiện
hộ tam nghiệp” (khéo ǵn giữ ba nghiệp), chúng ta
có làm được hay không? Câu đầu tiên là “thiện hộ khẩu nghiệp,
bất cơ tha quá” (khéo giữ ǵn khẩu nghiệp, chẳng
gièm chê lỗi của người khác), đấy là Thập
Thiện Nghiệp. Khẩu nghiệp trong Thập Thiện
Nghiệp là chẳng nói dối, chẳng
lưỡng thiệt (“lưỡng
thiệt” (兩舌) là thêu dệt thị phi), chẳng ác khẩu (“ác khẩu” (惡口) là ăn nói thô lỗ), chẳng ỷ ngữ (“ỷ ngữ” (綺語) là hoa ngôn xảo ngữ lừa gạt người
khác).
“Thiện hộ khẩu nghiệp” th́ quan trọng
nhất là “bất cơ tha quá”
(chẳng gièm chê lỗi của người khác). Thấy lỗi
lầm của kẻ khác, giống như chẳng trông thấy,
điều này quan trọng lắm! V́ sao? Tu pháp môn Tịnh
Tông là tu cái tâm thanh tịnh. Hằng ngày, chúng ta ghim trong tâm
chính ḿnh những lỗi lầm của kẻ khác, há cái tâm
của chính ḿnh chẳng biến thành thùng rác hay sao? Làm sao
quư vị có thể thanh tịnh cho được? Quư vị
thấy chuyện này trọng yếu lắm! Chẳng chấp
trước dấu vết! Thấy khuyết điểm của
người khác, phản ứng đầu tiên là “ta có phạm
lỗi lầm ấy hay không”? Nếu ta có, hăy nhanh chóng sửa
đổi, đừng bận tâm người khác [có lỗi
lầm hay không]. Chẳng có th́ chính ḿnh phải tự cổ
vũ chính ḿnh thêm gắng sức. Đấy là lầm lỗi
chúng ta chớ nên phạm. Hễ có bèn sửa; nếu không, hăy
càng thêm nỗ lực. Đó là người tu tịnh nghiệp
chân thật. Thấy kẻ khác chẳng đúng pháp, suốt
ngày từ sáng đến tối cứ nhắc đến,
tâm quư vị bị nhiễm bẩn, mà miệng cũng bị
bẩn thỉu theo, há có nên ư? Làm sao quư vị có thể thành
tựu cho được?
“Thiện hộ thân nghiệp, bất phạm luật
nghi” (Khéo giữ ǵn thân nghiệp, chẳng phạm luật
nghi), “luật” (律) là giới luật, “nghi”
(儀) là oai nghi, nay chúng ta nói là “phong độ”.
Câu thứ ba là “thiện hộ ư nghiệp, thanh
tịnh vô nhiễm” (khéo giữ ǵn ư nghiệp, thanh tịnh,
chẳng nhơ). Ư nghiệp là chẳng tham, chẳng sân, chẳng
si; chẳng sanh tham, sân, si đối với pháp thế gian
và xuất thế gian. Đấy là vừa mở đầu,
[kinh Vô Lượng Thọ] đă dạy chúng ta về Thập
Thiện Nghiệp Đạo, chúng ta có thực hiện hay
không? Có nghiêm túc thực hiện hay không? Đấy chính là
pháp căn bản!
Những lư luận
được nói trong kinh điển đều sâu rộng,
không ngằn mé, chúng ta phải nên thấu hiểu; hiểu được
bao nhiêu chẳng quan trọng, hăy đọc cho nhiều! Cổ
nhân dạy: “Độc thư thiên
biến, kỳ nghĩa tự kiến” (Đọc sách
ngàn lượt, tự thấy ư nghĩa). Quư vị đọc
một ngàn lần, tâm đă định, có thể ngộ
nhập đôi chút. Lại đọc một ngàn lần nữa,
lại ngộ nhập thêm một ít, rộng sâu chẳng có
bờ mé! Hằng ngày đều khế nhập, quư vị
nói xem có sung sướng lắm hay không? Đấy chính là “học nhi thời tập chi, bất
diệc duyệt hồ” (học rồi tập luyện,
cũng chẳng vui ư). [Kinh điển nhà Phật] chẳng
giống sách vở thế gian. Sách vở thế gian sâu rộng
có hạn mực! Kinh Phật chẳng có hạn độ,
mầu nhiệm chẳng thể diễn tả được.
V́ thế, điều khẩn yếu là phải thật sự
thực hiện, phải thật sự thấy thấu suốt.
Sau khi đă thấy thấu suốt, phải thật sự
buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, quư vị mới có thể đạt
được tự tại.
Câu kế tiếp
là “vô lượng huệ”, Thanh
Lương đại sư bảo:
(Sớ) Dư lục
đương Thể.
(疏)餘六當體。
(Sớ:
Sáu điều kia làm Thể).
“Thể” là Pháp Tánh, là chân tâm, là bản tánh, chính là trí
huệ Bát Nhă vốn trọn đủ trong tự tánh, cả
sáu món [trí huệ ấy] đều là trí huệ Bát Nhă. Bởi
lẽ, trí huệ chẳng phải do từ bên ngoài mà có,
trong nội tâm vốn sẵn đủ. Hiện thời,
trí huệ ấy chẳng thể hiện tiền; trí huệ
đă biến thành phiền năo, phiền năo vô lượng vô
biên, vọng tưởng vô lượng vô biên. Đó là ǵ?
Đó là trí huệ. Do vậy, giáo pháp Đại Thừa có
nói: “Phiền năo tức Bồ
Đề” (Phiền năo chính là Bồ Đề). Vấn
đề là quư vị có biết chuyển biến hay không?
Hễ chuyển biến, những phiền năo vốn toàn là
trí huệ. Do vậy, chẳng thể đoạn phiền
năo! [Nếu] đoạn phiền năo, trí huệ cũng chẳng
c̣n! Hăy chuyển phiền năo thành Bồ Đề, đó là đúng.
Nói “đoạn phiền năo”,
thật ra là “chuyển biến”,
chuyển đổi chúng. “Chuyển
mê thành ngộ” là “chuyển
phiền năo thành Bồ Đề”. Hai câu ấy có cùng một
ư nghĩa, là cùng một chuyện. Do vậy, đối với
những giáo huấn trọng yếu trong Phật pháp
như thế đó, chúng ta quyết định chớ nên
hiểu sai ư nghĩa. Hiểu sai ư nghĩa, chúng ta sẽ
đi sai đường!
(Sớ) Vô lượng huệ,
vô phân lượng.
(疏)無量慧,無分量。
(Sớ: Vô lượng
huệ, chẳng có số lượng).
Câu kế tiếp:
(Sớ) Vô số huệ,
vô nhược can.
(疏)無數慧,無若干。
(Sớ:
Vô số huệ là [trí huệ] chẳng tính rơ số lượng).
Vô lượng,
vô số, chẳng thể dùng những con số để
tính đếm được, chẳng thể diễn nói
bằng con số được. Đấy gọi là “vô lượng,
vô số”. Vô lượng, vô số ở đây chẳng phải
là những con số vào thời cổ Ấn Độ.
Trong những đơn vị số của cổ Ấn
Độ, có Vô Lượng, Vô Biên, Vô Số; [những danh
từ vừa nói] đều là những con số, thật
sự có hạn lượng. Ở đây, chẳng phải
vậy. [Vô lượng, vô số] chính là xứng tánh, vốn
sẵn trọn đủ trong tự tánh. Phải như thế
nào th́ chúng ta mới có thể khôi phục những trí huệ
ấy? Đức Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và
đức tướng của Như Lai”; ở đây,
[phẩm Tịnh Hạnh] nói đến sáu loại trí huệ.
“Chỉ v́ vọng tưởng,
chấp trước mà chẳng thể chứng đắc”.
Bằng một lời, đức Phật đă nói toạc
ra, khôi phục trí huệ vốn sẵn có trong tự tánh của
chúng ta như thế nào? Chẳng có ǵ khác! Chỉ cần
quư vị buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. Quư vị buông xuống một phần, trí huệ
bèn thấu lộ một phần! Buông xuống hai phần,
trí huệ bèn thấu lộ hai phần. Chúng tôi nêu tỷ dụ.
Ví như chúng ta có một ngọn đèn; trong studio có rất
nhiều đèn, bốn phía đều là đèn chiếu sáng.
Nhưng để cân bằng ánh sáng của những ngọn
đèn ấy, đều dùng một trang hay hai trang giấy
che bóng đèn, khiến cho ánh sáng của nó dịu bớt.
Che bằng hai, ba trang, vẫn rất sáng. Nếu che hai ba
trăm trang giấy, chẳng có ánh sáng nữa. Che bằng
hai ba ngàn trang giấy, tối thui!
Nay quang minh trong tự tánh của chúng ta sáng
ngời như ánh đèn, nhưng hiện thời những chướng
ngại che lấp phía trước trí huệ trong tự
tánh giống như những trang giấy, có bao nhiêu tầng?
Đức Phật nói “tám vạn bốn ngàn phiền năo”, tức
là [có thể hiểu thô thiển, giống như] nói đến
tám vạn bốn ngàn trang. Chúng ta dùng giấy rất mỏng,
[nhưng dùng đến] tám vạn bốn ngàn tờ th́ mảy
may ánh sáng cũng chẳng thể thấu lộ! Do đó,
người mới học chẳng dễ dàng! Mới học
khó lắm! Chúng ta phải diệt trừ những chướng
ngại ấy, tám vạn bốn ngàn tờ đấy nhé! Ta
diệt trừ bốn ngàn trang, trí huệ có mở mang hay
không? Chẳng mở mang, [do vậy] rất nóng ruột, [cứ
nghĩ] “vậy là vô dụng mất rồi!” Có tác dụng
chứ, nhưng quư vị c̣n chưa trừ [chướng
ngại] đủ mức. Nếu quư vị lại nỗ
lực, lại trừ một vạn trang. Nếu trừ một
vạn trang, sẽ thấu lộ một tí quang minh, quư vị
mới có thể sanh khởi tín tâm. Quư vị càng nghiêm túc nỗ
lực buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước.
Phải biết
thứ tự trước sau của ba thứ ấy. Thứ
tự trước sau là trước hết buông chấp
trước xuống. Chấp trước là phiền năo
thô nặng nhất, hăy khởi sự từ nó trước.
Phải học trong cuộc sống hằng ngày, trong công việc,
trong xử sự, đăi người tiếp vật. Học
không chấp trước, học tùy duyên. Nếu quư vị
hỏi v́ sao đừng nên chấp trước ư? Kinh
Bát Nhă đă dạy: “Phàm những
ǵ có tướng đều là hư vọng”, có ǵ
đáng để chấp trước? Ai nấy đều
không chấp trước, thiên hạ thái b́nh, chuyện ǵ
cũng đều chẳng có. Chúng ta hy vọng hóa giải
xung đột, xung đột sanh từ nơi đâu? Vẫn
chẳng phải là do chấp trước sanh ra ư? Tôi có
chấp trước, quư vị cũng có chấp trước,
xung đột sẽ nẩy sanh. Quư vị chấp trước,
tôi không chấp trước, xung đột chẳng nẩy
sanh. Quư vị tiến, tôi lùi. Chỗ nào cũng đều
phải học lễ phép, nhường nhịn, biển rộng
trời cao, cần ǵ cứ phải chấp trước? Cần
ǵ phải tranh chấp cùng người khác? Giáo dục hiện
thời dạy trẻ nhỏ bé tí đă cạnh tranh!
Tôi ở đại
học Côn Sĩ Lan (Queensland) của
Úc, có một lần dùng cơm cùng mọi người. Tôi
ngồi đối diện một vị giáo sư già, có
địa vị và kiến thức rất cao. Tôi thấy
trong bảng sắp tên của đại học, ông ta
được xếp hàng thứ hai, là người Mỹ,
khéo sao chúng tôi ngồi đối diện nhau. Tôi hỏi ông
ta, có phải là giáo dục nước Mỹ dạy trẻ
cạnh tranh từ mẫu giáo? Ông ta nói: “Đúng vậy. Tiểu
Học, Trung Học, Đại Học đều dạy cạnh
tranh”. Nếu cạnh tranh cao hơn, sẽ là đấu
tranh. Đấu tranh lại tăng cao hơn sẽ là chiến
tranh. Quan niệm giáo dục ấy chính là một tử lộ.
Quư vị có nhận biết hay không? Giáo dục của các bậc
thánh nhân phương Đông chẳng phải là như thế.
Từ nhỏ, đă dạy trẻ nhường nhịn, khiêm
hư, khiêm nhượng. Nhẫn nại, nhường nhịn,
khiêm nhượng (khiêm tốn, nhún nhường), lễ
nhượng (giữ lễ tiết, nhường nhịn),
đó chính là một con đường sống động.
Khái niệm cơ bản về giáo dục khác nhau. Nh́n bên ngoài,
dường như chúng ta bị thua thiệt; thật ra, đâu
có bị thua thiệt! Phàm là kẻ có lễ độ,
nhường nhịn, về sau, phước sẽ vô cùng. Đó
là trí huệ. Cạnh tranh, đấu tranh là phiền năo, hằng
ngày vắt óc để t́m cách ăn thua đủ với kẻ
khác; đấy là phiền năo. Há có như cách giáo học của
phương Đông, tâm địa của mỗi người
là quang minh, sanh trí huệ, chẳng sanh phiền năo? Khác hẳn!
Loại thứ
ba là “bất tư nghị huệ”.
(Sớ) Siêu ngôn niệm.
(疏)超言念。
(Sớ: Vượt
khỏi nói năng, suy nghĩ).
Đấy là trí
huệ chân thật. “Ngôn” (言) là ngôn ngữ, “niệm”
(念) là ư niệm. “Ngôn ngữ” là nghị luận, “ư niệm” là tư duy. “Bất
tư nghị huệ”: Trí huệ chân chánh, chẳng thể
nghĩ bàn. Đó là trí huệ chân thật. Trong Phật pháp,
gọi [những ǵ] có thể tư duy, có thể nghị luận
là Đệ Nhị Nghĩa. [Bất tư nghị huệ]
há có phải thuộc vào Đệ Nhị Nghĩa ư? “Đệ nhất huệ, tối
thượng huệ, tối thắng huệ” như
đă nói trong phần trước đều là có thể nghĩ,
có thể bàn. Nói xứng tánh, “vô
lượng huệ, vô số huệ” chẳng thể
nghĩ bàn; đấy gọi là “ngôn
ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt, mở miệng
liền trật, động niệm ắt sai”. Đấy
là huệ ǵ? Trong giáo pháp Đại Thừa, nó được
gọi là Căn Bản Trí. Kinh Bát Nhă đă nói rất hay: “Bát Nhă vô tri, không ǵ chẳng biết”.
Vô tri là Căn Bản
Trí, tức là “chẳng thể
nói, chẳng thể khởi tâm động niệm” đang
được nói ở đây. Đấy chính là Căn Bản
Trí. “Siêu việt ngôn niệm”,
[nghĩa là] ngôn ngữ lẫn tư duy đều không thể
đạt tới được! Chỉ khi nào cảnh giới
của chính quư vị nâng cao đến mức này, quư vị
sẽ có thể thấu hiểu. Hết thảy chư Phật,
Pháp Thân Bồ Tát chẳng hai, chẳng khác. Khi trí huệ khởi
tác dụng, tác dụng ǵ vậy? Hễ có người khác
hướng về các Ngài thỉnh giáo, nêu ra vấn đề
để thưa hỏi, các Ngài có thể đối
đáp trôi chảy, chẳng cần suy nghĩ, trí huệ chân
thật lưu lộ mà! Chúng ta có thể nh́n thấy [những
điều này] từ chỗ nào? Từ kinh điển của
Thích Ca Mâu Ni Phật. Phần lớn kinh điển của
Thích Ca Mâu Ni Phật đều là trả lời những
nghi nan của kẻ khác. Những người hướng
về Ngài thỉnh giáo, nam, nữ, già, trẻ, các nghề
nghiệp thảy đều có. Có nghi nan, hướng về
đức Thế Tôn thỉnh giáo, Ngài đều giải
thích, giúp quư vị đoạn nghi; những điều ấy
được ghi chép lại, biến thành kinh điển.
Không ǵ chẳng biết, ứng dụng đấy! Chẳng
có một vấn đề nào có thể bắt bí Ngài, chẳng
hề có! Ngài hoàn toàn chẳng cần học, Ngài chưa hề
học qua, [thế mà] thật sự thông đạt, hiểu
rơ chân tướng vũ trụ và nhân sinh.
Câu kế tiếp
là “vô dữ đẳng huệ”
(huệ chẳng có ǵ sánh bằng).
(Sớ) Vô đẳng thất.
(疏)無等匹。
(Sớ:
Không có ǵ sánh bằng).
Đây là nói chẳng
có ǵ có thể sánh bằng Ngài. Phật Phật đạo
đồng. Nếu quư vị chẳng chứng đắc
quả vị này, trí huệ của quư vị sẽ chẳng
viên măn. [Trí huệ] này là [trí huệ] nơi quả vị rốt
ráo. Trong phần trước đă nói “vô phân lượng, vô nhược can, siêu ngôn niệm”
(chẳng có hạn lượng, chẳng có số lượng
bao nhiêu, vượt khỏi ngôn từ và suy niệm), đó
là nói về [trí huệ của] Pháp Thân Bồ Tát. Ba thứ
trí huệ sau thuộc về Phật quả rốt ráo, trong
Phật pháp thường gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác. “Vô lượng huệ,
vô số huệ, bất tư nghị huệ” như
đă nói trong phần trước đều là [trí huệ]
của Đẳng Giác Bồ Tát, [từ quả vị thấp
nhất trong các địa vị] Pháp Thân Bồ Tát [cho
đến] Đẳng Giác Bồ Tát. Kinh thường phiên
âm là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Câu này
có thể phiên dịch, nhưng không phiên dịch. Nói theo thể
lệ dịch kinh, tức là trong Ngũ Chủng Bất
Phiên (năm loại chẳng phiên dịch), trường hợp
này là “tôn trọng bất phiên”,
[nghĩa là từ ngữ ấy] có thể phiên dịch, nhưng
chúng ta v́ tôn trọng nó, cho nên vẫn dùng cách phiên âm. Nó có ư
nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Ở đây, chúng
ta phải chú ư, Chánh Giác chẳng vượt thoát mười
pháp giới. Đối với Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ
Tát, Phật trong mười pháp giới, bốn loại huệ
đầu tiên được nói ở đây chính là bốn
loại huệ [thuộc về tứ thánh pháp giới]
trong mười pháp giới, chúng ta gọi [các thứ trí huệ
ấy] là Chánh Giác. Quư vị thấy “thắng huệ, đệ nhất huệ, tối
thượng huệ, tối thắng huệ” chính là Chánh
Giác. Nh́n như vậy, mọi người sẽ hiểu rất
rơ ràng. “Vô lượng huệ, vô
số huệ, bất tư nghị huệ” là [trí huệ
thuộc loại] Chánh Đẳng Chánh Giác, [trí huệ của]
Pháp Thân Bồ Tát là Chánh Đẳng Chánh Giác. Ba loại sau
đó, tức “vô dữ đẳng
huệ, bất khả lượng huệ, bất khả
thuyết huệ” chính là Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác. Giải thích như vậy
cũng rất rơ ràng, rất minh bạch. Bốn loại
trước thuộc về tứ thánh trong mười pháp
giới; đối với sáu loại sau, ba loại đầu
là Chánh Đẳng Chánh Giác, ba loại cuối cùng chính là Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Đối với
Huệ, trong phần trước, Thanh Lương đại
sư đă chú giải rất rơ ràng, “Huệ thị Đạo chi Thể” (Huệ là Thể
của Đạo). Trong câu đầu tiên mở đầu
đoạn này, Ngài viết: “Ngôn
Huệ giả, tức Đạo chi Thể” (Nói đến
Huệ th́ đấy chính là Thể của Đạo). Câu
này rất quan trọng. Những ǵ đức Phật
đă dạy, đă tu, đă thành tựu, đă giáo hóa chúng
sanh, đều là trí huệ. Trí huệ chẳng phải do
từ bên ngoài mà có, hết thảy chúng sanh ai nấy đều
trọn đủ, chỉ là quư vị mê hoặc có sâu hay cạn
khác nhau. Mê càng sâu, trí huệ càng ít. Mê càng cạn, trí huệ
hiện ra càng nhiều. Mê hay ngộ khác nhau! Giáo học chẳng
có ǵ khác, [chỉ nhằm] giúp cho chúng sanh phá mê khai ngộ
[mà thôi]! Có phải là thật sự giúp đỡ hay không?
Thật sự là chẳng thể, nhất định phải
biết điều này. V́ mê hay ngộ là cá nhân, là do chính
người ấy, là do bản thân người ấy. Ngộ
là chính người ấy ngộ, mê là chính người ấy
mê; ở chỗ này, đức Phật chẳng giúp đỡ
được. Đức Phật chỉ có thể dạy
quư vị những lư luận và phương pháp, quư vị
hăy khéo học. Quư vị phải nghiêm túc nỗ lực, phải
khắc phục khuyết điểm và sự nhiễm
trước của chính ḿnh, thật sự là công phu khắc
kỷ. V́ thế, trí huệ này chẳng có ǵ sánh bằng
được, đấy chính là Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác.
Kế tiếp là
“bất khả lượng huệ”,
loại cuối cùng là “bất
khả thuyết huệ”, trong chú giải, Thanh
Lương đại sư đă viết:
(Sớ) Nan tỷ giảo.
(疏)難比校。
(Sớ:
Khó so sánh được).
Điều cuối
cùng là:
(Sớ) Duy chứng
tương ứng.
(疏)唯證相應。
(Sớ:
Chỉ có đă chứng đắc mới có thể
tương ứng).
Đấy là “bất khả thuyết huệ”,
chính là Phật quả rốt ráo vừa mới nói. Sau
đó, Thanh Lương đại sư viết mấy câu
rất hay:
(Sớ) Dục ngôn kỳ
hữu, vô tướng vô h́nh.
(疏)欲言其有,無相無形。
(Sớ:
Muốn nói nó là Có th́ do nó chẳng có h́nh tướng [nên chẳng
thể nói là Có]).
Nó chẳng phải
là vật chất, mà cũng chẳng phải là tinh thần.
(Sớ) Dục ngôn kỳ
vô, thánh dĩ chi linh.
(疏)欲言其無,聖以之靈。
(Sớ:
Muốn nói nó là Không th́ do nó linh thông [nên chẳng thể nói
là Không được]).
Loại trí huệ
chân thật ấy đúng là khiến cho người ta phải
bội phục năm vóc sát đất! Nó có linh thông thật
sự hay chăng?
(Sớ) Dục ngôn câu giả,
Huệ vô nhị Thể, dục ngôn song phi, phi vô thuyên hiển,
cố bất khả thuyết.
(疏)欲言俱者,慧無二體,欲言雙非,非無詮顯,故不可說。
(Sớ:
Muốn nói là nó “vừa có, vừa không” th́ Huệ chẳng
có hai Thể. Muốn nói nó “chẳng phải có, chẳng phải
không” th́ nó chẳng phải là không thể diễn tả, hiển
lộ được. V́ thế là “chẳng thể nói”).
Mấy câu này nói hết sức hay! Nay đă hết
thời gian rồi! Chúng ta nghỉ ngơi mười phút.
***
Chư vị
đồng học, xin hăy ngồi xuống. Chúng ta lại
xem tiếp đoạn thứ tư trong phần trường
hàng. Chúng tôi đọc kinh văn một lượt.
(經)云何得因力。欲力。方便力。緣力。所緣力。根力。觀察力。奢摩他力。毗缽舍那力。思惟力。
(Kinh: Làm thế nào
để đắc nhân lực, dục lực, phương
tiện lực, duyên lực, sở duyên lực, căn lực,
quán sát lực, xa-ma-tha lực, tỳ-bát-xá-na lực, tư
duy lực?)
Đoạn này nói
đến mười loại lực; trong chú giải, Thanh
Lương đại sư đă chỉ ra: Mười loại
lực ấy chính là “cụ
đạo nhân duyên” (đầy đủ nhân duyên tu
đạo). “Cụ” (具)
là đầy đủ, “đạo”
(道) ở đây là nói đến
đạo quả. Do vậy có thể biết, đây là
điều kiện ắt cần phải trọn đủ
trong sự tu hành chứng quả của chúng ta. Thanh Lương
đại sư đă chú giải rất hay:
(Sớ) Đệ tam lực
giả, tức cụ đạo nhân duyên, giai ngôn lực giả,
thử thập các hữu tư đạo chi năng cố.
(疏)第三力者,即具道因緣,皆言力者,此十各有資道之能故。
(Sớ: Lực thứ
ba chính là đầy đủ nhân duyên tu đạo. Đều
nói là “lực” v́ mười thứ này đều có năng
lực giúp đỡ đạo).
“Tư” (資) là giúp đỡ, giúp chúng ta khai ngộ, giúp chúng ta
chứng quả. V́ thế, Trí Thủ Bồ
Tát hướng về Văn Thù Bồ Tát thỉnh
giáo, thật sự đều là hỏi
thay cho chúng ta. Chúng ta gặp Văn Thù Bồ Tát, chẳng biết
hỏi ǵ, Ngài (Trí Thủ Bồ Tát) thay chúng ta nêu câu hỏi.
Từ một đằng hỏi, một đằng
đáp, chúng ta sẽ biết tu hành như thế nào, biết
người tu hành phải trọn đủ những điều
kiện nào?
Quư vị thấy
điều thứ nhất là cần có trí huệ. Trí huệ
chính là “thấy thấu suốt”
như chúng ta thường nói. Quư vị chẳng thấy
thấu suốt, cho nên mới chẳng buông xuống
được! Do lẽ này, nói thật ra, thấy thấu
suốt là khó, chứ buông xuống chẳng khó! V́ sao hiện
thời chúng ta buông xuống khó khăn ngần ấy? Do chẳng
thật sự thấy thấu suốt, đạo lư vẫn
là ở chỗ này. Chẳng thật sự thấy thấu
suốt, chúng ta thực hiện từ chỗ nào? Trước
kia, thầy chúng tôi thường xuyên dạy chúng tôi đọc
kinh. Đọc kinh th́ nhất định phải ghi nhớ
lời dạy của cổ nhân: “Độc thư thiên biến, kỳ nghĩa tự
kiến” (Đọc sách ngàn lần, tự thấy ư
nghĩa). Nói thật ra, đạo lư này rất sâu! Đọc
kinh, tâm t́nh phải như đối trước Phật,
Bồ Tát, mở quyển kinh ra, tốt nhất là thờ một
bức tượng Phật, kinh do Phật nói, ta niệm ở
nơi đó, Phật, Bồ Tát ở trước mặt ấn
chứng cho ta. Ta cung kính đọc tụng tại đó.
Trong khi đọc tụng, tâm chúng ta chẳng có vọng
tưởng, chẳng có tạp niệm. Đấy là Giới.
Nhất tâm chuyên chú, đấy chính là Định. Niệm
từng chữ rơ ràng, chẳng bỏ sót, chẳng niệm
đảo lộn câu chữ; đấy chính là Căn Bản
Trí, tức là Huệ.
Do vậy, đọc
kinh theo phương pháp ấy xác thực là hoàn thành Tam Học
Giới, Định, Huệ cùng một lúc. Quư vị mỗi
ngày niệm một giờ chính là tu Tam Học Giới,
Định, Huệ một giờ. Niệm hai tiếng
đồng hồ chính là đang tu Tam Học Giới, Định,
Huệ hai tiếng đồng hồ. Trong xă hội hiện
thời, hai tiếng đồng hồ có được
hay không? Không được! Quư vị thấy một ngày
hai mươi bốn tiếng đồng hồ, quư vị
tu Giới, Định, Huệ hai tiếng đồng hồ,
hai mươi hai giờ kia quư vị bị xă hội nhuốm
bẩn, công phu hai tiếng đồng hồ của quư vị
chẳng chống đỡ nổi! V́ thế, đấy
là lư do v́ sao tu hành khó khăn dường ấy, đă t́m
được nguyên nhân rồi. Vậy th́ phải làm sao? Nói
thật ra, tối thiểu là năm mươi phần
trăm (tức là tối thiểu phải đọc tụng
mười hai tiếng mỗi ngày), công phu mỗi ngày của
ta là đọc tụng, sử dụng phương pháp
đọc tụng, phương pháp này rất hữu hiệu.
Nhất là đối với những kẻ được
gọi là “phần tử trí thức” trong hiện thời,
chúng ta mong t́m được một vị thầy tốt,
mong t́m được một hoàn cảnh tu hành tốt
đẹp, nhưng chẳng t́m được, [vậy th́]
thật sự mong đạt thành tựu phải làm như
thế nào? Đây chính là một phương pháp tốt
đẹp!
Nhưng cũng cần
phải có phước báo! Nếu quư vị chẳng có phước
báo, người nào có thể đọc kinh mười hai
tiếng đồng hồ mỗi ngày? Đại phước
báo đấy nhé! Cuộc sống của quư vị chẳng
thành vấn đề, áo cơm có người lo liệu
th́ quư vị mới có thể làm được. Nếu
không, quư vị chẳng làm được. Từ mười
hai tiếng đồng hồ trở lên, tốt nhất là
có thể đến mười sáu tiếng đồng hồ.
Thời gian ấy chiếm đến hai phần ba thời
gian mỗi ngày. Hai phần ba thời gian mỗi ngày, quư vị
đều luôn nhiếp tâm nơi kinh giáo. Nếu hằng ngày
[nhiếp tâm nơi kinh giáo] chẳng gián đoạn, liên tục
suốt dăm ba năm, quư vị đă vun quén căn cội
bền vững. Mười năm hoặc tám năm, quư vị
có thể khai ngộ. Thượng căn th́ có người
mười năm hay tám năm sẽ khai ngộ, trung căn
th́ có thể là mười năm hoặc hai mươi
năm, hạ căn th́ có thể là ba mươi năm hoặc
bốn mươi năm. Do vậy, để học Phật,
thọ mạng rất trọng yếu. Thọ mạng ngắn
củn là không được rồi!
Năm xưa, bao
người đă đoán mạng cho tôi, đều nói tôi
chỉ thọ đến bốn mươi lăm tuổi.
Bốn mươi lăm tuổi đúng là không được
rồi! Lúc tôi bốn mươi lăm tuổi, tôi học
Phật từ năm hai mươi sáu tuổi, tôi chẳng
dám nói là tôi trường thọ. Người ta đoán
như vậy, tôi tin tưởng, nghiêm túc nỗ lực niệm
Phật. Nếu tới khi bốn mươi lăm tuổi,
thật sự phải chết, sẽ văng sanh trong ba phẩm
hạ của cơi Phàm Thánh Đồng Cư th́ cũng
được, tối đa là chỉ có thể làm
được như vậy! [Thế mà] bốn mươi
lăm tuổi chẳng chết, c̣n sống cho đến
hiện thời, sống lâu hơn ba mươi lăm
năm. Trong ba mươi lăm năm ấy, đă nâng cao
Định và Huệ của chính ḿnh trên một mức
độ lớn. Do vậy, người học Phật nhất
quyết phải đoạn ác tu thiện, tích lũy công
đức, chẳng cầu thọ mạng mà thọ mạng
sẽ dài thêm. Dài thêm để làm ǵ? Kéo dài thêm ḥng nâng cao cảnh
giới của chính ḿnh. Nếu thọ mạng của chúng
ta dài [nhưng cảnh giới] chẳng thể nâng cao, sẽ
là sống uổng phí, há có ư nghĩa ǵ đâu? Chớ nên không
biết điều này!
Do vậy, hỏi
về mười loại lực này rất hay! Loại thứ
nhất là “nhân lực”, Thanh
Lương đại sư chú giải là:
(Sớ) Tức thị chủng
tánh.
(疏)即是種性。
(Sớ:
Chính là chủng tánh).
“Chủng” (種) là tập chủng (習種), tức là những chủng tử trong A Lại Da
Thức. Quư vị thấy Thanh Lương đại
sư bảo:
(Sớ) Vị dĩ hữu
tập chủng.
(疏)謂已有習種。
(Sớ:
Tức là nói đă có chủng tử được huân tập).
Trong đời
quá khứ, quư vị đă từng học, nay lại học
nữa, sẽ dẫn khởi chủng tánh trong A Lại Da
Thức của quư vị. Đời này lại khiến cho
nó mạnh mẽ hơn.
(Sớ) Vô đảo
văn huân.
(疏)無倒聞熏。
(Sớ:
Chẳng bị huân tập bởi nghe pháp điên đảo).
“Đảo” (倒) là điên đảo, chẳng hề có! Chúng ta tiếp
nhận sự Văn Huân (聞薰, sự huân tập do nghe nhận) từ chánh pháp
trong kinh giáo. Ngoài chánh pháp ra, đều là điên đảo,
đều là tà tri tà kiến. V́ thế, trong xă hội hiện
thời, chúng ta chẳng có cách nào ĺa khỏi xă hội,
nhưng phải biết xă hội này ô nhiễm hết sức
nghiêm trọng, đấy chính là “điên
đảo văn huân”. Những ǵ quư vị thấy,
nghe, tiếp xúc hằng ngày, đều chẳng phải là chánh
pháp. Quư vị bị những thứ ấy huân tập, tự
nhiên dưỡng thành khá nhiều tri kiến bất thiện,
tư tưởng bất thiện, ngôn luận bất thiện,
hành vi bất thiện; đấy là phiền toái to lớn!
Phật pháp gọi đó là “tạo
nghiệp”. Lẽ đương nhiên là quư vị sẽ
tạo tội nghiệp. V́ sao? Quư vị bị những thứ
ấy huân tập.
Tu hành trong thời
đại này, tánh cảnh giác của chính ḿnh phải cao, hết
sức cao! Gần như là hơn bốn mươi năm
qua, tôi chẳng xem báo chí, chẳng coi TV, cũng chẳng
nghe bất cứ đài radio nào cả. Tuy sống tại
đô thị, giống như ở nơi xa cách! V́ sao? Chẳng
bị những thứ ấy huân nhiễm! Có chuyện ǵ
quan trọng nẩy sanh, sẽ có các đồng học đem
những tin tức trọng yếu viết đơn giản
cho tôi biết. Tôi cũng biết, chẳng cần thông tin tỉ
mỉ dường ấy. Chuyện này sẽ không sanh ra
chướng ngại đối với tôi. Chúng tôi đọc
kinh hằng ngày, điều này quan trọng lắm! Chẳng
có ngày nào không đọc kinh, hằng ngày giảng kinh. Trao
đổi với các đồng học đều nhằm
nghiên cứu, thảo luận, tâm tâm niệm niệm chẳng
ĺa chánh pháp. Đó là huân tập thành cái nhân, cái nhân ấy
được gọi là “tập
chủng”.
(Sớ) Dữ tánh chủng
hợp.
(疏)與性種合。
(Sớ:
Phù hợp tánh chủng).
“Tập chủng” là hiện tiền, c̣n “tánh chủng” [là chủng tử]
vốn sẵn có trong tự tánh. Sự huân tập trong hiện
tại là sự huân tập bằng kinh giáo. Cái vốn sẵn
có trong tự tánh chính là Phật Tánh, như đức Phật
đă dạy: “Hết thảy
chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của
Như Lai”; đó là “tánh chủng”.
Chúng ta tiếp nhận sự huân tập của chánh pháp, kết
hợp với tánh chủng trong tự tánh. Đó là “nhân”. Cái nhân ấy được
gọi là cái nhân khai ngộ, là cái nhân để chứng quả.
V́ thế, “nhân lực”
được xếp hàng đầu, hết sức quan trọng.
Tiếp đó, Thanh
Lương đại sư trích dẫn Nhiếp Luận để
nói:
(Sớ) Lương Nhiếp
Luận vân, đa văn huân tập, dữ A Lại Da Thức
trung giải tánh ḥa hợp.
(疏)梁攝論云,多聞熏習,與阿賴耶識中解性和合。
(Sớ:
Nhiếp Đại Thừa Luận bản đời
Lương[1]
có nói: “Đa văn huân tập, ḥa hợp với tánh hiểu
trong A Lại Da Thức”).
“Giải tánh” (解性) chính là trí huệ, là sự học tập trong
đời quá khứ. Đời này tuy lại sanh vào nhân
gian, v́ bị mê khi cách ấm, chẳng nhớ được
những ǵ thuộc đời quá khứ. Tuy chẳng nhớ
được, nếu trong đời này lại có duyên dẫn
khởi nó, sẽ lư giải mau chóng hơn. Nhất định
là sẽ lư giải sâu hơn đời trước một
tầng. Thế nhưng, duyên hết sức quan trọng! Duyên
phải thuần chánh, chẳng thể có mảy may sai lệch
nào. Hễ có ǵ sai lệch, quư vị sẽ đi sai
đường, sẽ biến thành tà tri, tà kiến. V́ vậy,
đối với chuyện học Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật
đă nói rất rơ ràng: Quan trọng nhất là thầy. Thầy
là Tăng Thượng Duyên bậc nhất đối với
sự tu học của chúng ta, nhất định phải
thân cận thiện tri thức. Kinh Tiểu Thừa nói “thân cận minh sư”, chữ
Minh (明) trong minh bạch, hoặc Minh
trong quang minh, chẳng phải là danh tiếng rất lớn[2].
Danh tiếng rất lớn vô dụng, [“minh sư” là vị thầy] thật sự có
đức hạnh, thật sự có tu hành, có giải, có chứng.
Do vậy, người “có tu, có chứng” chính là vị thiện
tri thức tốt nhất!
Nay chúng ta ở
trong thời đại này, t́m một vị hữu chứng
chẳng dễ dàng, t́m chẳng ra! Nay chúng ta có thể t́m
được một vị hữu giải (có sự giải
ngộ), hữu hạnh là khá quá rồi. Vị ấy có thể
thật sự thông đạt Phật pháp, lại c̣n y giáo
tu hành; vị thiện tri thức ấy hết sức hiếm
có. Quư vị học theo vị ấy, sẽ chẳng
đâm quàng ngơ rẽ, sẽ chẳng phạm
sai lầm. T́m không thấy th́ làm như thế nào? T́m không
thấy, bèn có một phương pháp là t́m cổ nhân. Cổ
nhân đă mất, trước tác của họ vẫn c̣n.
Thầy tôi là lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam, tôi theo thầy
lúc ba mươi mốt tuổi, [khi ấy] lăo nhân gia
bảy mươi tuổi, lớn hơn tôi ba mươi
chín tuổi. Cụ hết sức khiêm hư, bảo: “Tôi chỉ
có thể dạy anh năm năm”, rất khiêm hư! Cụ
giới thiệu cho tôi một vị thầy, ai vậy? Pháp
sư Ấn Quang. Pháp sư Ấn Quang là thầy của cụ.
Khi ấy, tôi chưa xuất gia, c̣n là tại gia. Cụ dạy
tôi: “Đối với cổ
nhân, đừng học theo Tô Đông Pha; đối với
người hiện thời, đừng học theo Lương
Khải Siêu”. Trong lịch sử, hai người ấy
đều là Phật học gia, cũng là bậc đại
đức trong Phật môn. Họ rất giỏi về Phật
học, đọc rất nhiều, mà nghe cũng rất
nhiều, nhưng chẳng làm theo! Tập khí thế tục
rất nặng. Do vậy, họ chẳng thể thành tựu.
Cụ dặn tôi chớ nên học theo họ, cụ dạy
tôi hăy học theo pháp sư Ấn Quang. Pháp sư Ấn Quang
đă khuất, Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao hăy c̣n. V́ lẽ
ấy, thuở đó, cụ tặng tôi một bộ Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao, chính là Chánh Tập và Tục Tập
gồm bốn quyển. Hiện thời, toàn thư đă
được in ra, tổng cộng là bảy quyển
đóng b́a cứng. [Bộ sách tôi được tặng]
chính là quyển thứ nhất (Chánh Biên) và thứ hai (Tục
Biên) trong bộ toàn thư hiện thời.
Đọc hằng
ngày, hiểu rơ giáo huấn của tổ sư, có thể y
giáo phụng hành. Vận dụng những điều lăo
nhân gia đă dạy vào cuộc sống, vào công việc, vào
xử sự, đăi người tiếp vật; đó gọi
là “y giáo phụng hành”. Thật
sự có thể y giáo phụng hành, sẽ là học tṛ của
pháp sư Ấn Quang. Tuy Ngài chẳng c̣n, nhưng thuở
Ngài c̣n trụ thế, Ngài nhất định sẽ thừa
nhận: “Quư vị là do ta dạy dỗ mà thành”. Đấy
thật sự là chẳng t́m được một vị
thầy tốt đẹp, bèn học theo cổ nhân, làm học
tṛ tư thục của cổ nhân, tôn cổ nhân làm thầy.
Tôi đă dạy khá nhiều người, v́ tôi chẳng có
đạo tràng, đến nay, tôi vẫn chẳng có chùa miếu
của chính ḿnh, tôi cũng chẳng có tinh xá. Chỗ tôi ở
là do các vị cư sĩ cung cấp, rất nhỏ, quyền
sở hữu vẫn thuộc về họ, tôi không cần.
Tôi đến ở nhờ chỗ này; tôi rời khỏi,
nhà cửa sẽ trả lại cho họ. Do vậy, suốt
một đời này, tôi chẳng có đạo tràng của
chính ḿnh. Đấy cũng là học theo Ấn Quang đại
sư. Tổ Ấn Quang suốt đời chẳng có
đạo tràng, trụ ở chỗ người khác. Quư vị
thấy lăo nhân gia suốt đời không làm Trụ Tŕ, suốt
đời không nhận đồ đệ xuất gia, suốt
đời chẳng tham dự truyền giới, luôn nêu
gương tốt nhất cho chúng ta!
Tiếp nhận sự
cúng dường của tín đồ, Ngài dùng toàn bộ [tiền
cúng dường] để làm sự nghiệp hoằng pháp
lợi sanh. Phương pháp hoằng pháp lợi sanh của
Ngài là ấn tống kinh sách. Thuở ấy, trong thời
đại của Ngài, đấy chính là phương pháp hữu
hiệu nhất, có thể truyền khắp mười
phương, mà cũng có thể để lại cho đời
sau. Đấy chính là sự cống hiến to lớn nhất
của tổ Ấn Quang đối với Phật giáo cận
đại. Ngài đă thật sự lấy thân làm
gương, nêu gương cho chúng ta thấy, khiến cho
chúng ta học tập theo. Thầy Lư giới thiệu chẳng
sai tí nào! Chúng tôi rất cảm ơn chuyện này. Lời lẽ
của tổ sư ngôn từ giản dị, ư nghĩa bao
trùm. Nói thật ra, ngay trong thời Ngài, tức là vào những
năm đầu thời Dân Quốc, Ngài đă nh́n thấy
tai nạn trong xă hội. Do vậy, lăo nhân gia đặc biệt
đề xướng giáo dục nhân quả. Tôi lần đầu
tiên đến Hương Cảng giảng kinh là do pháp
sư Sướng Hoài và cư sĩ Tạ Đạo Liên khải
thỉnh vào năm 1977, sang năm là 2006, đă ba mươi
năm rồi! Trong ba mươi năm ấy, Hương
Cảng biến hóa quá lớn! Tôi tưởng nhớ xă hội
Hương Cảng vào ba mươi năm trước, thuần
phác hơn hiện thời, lại c̣n mang đậm t́nh
người.
Chỗ giảng
kinh là Trung Hoa Phật Giáo Đồ Thư Quán ở phố
Giới Hạn của khu vực Cửu Long. Ở nơi ấy,
tôi thấy Hoằng Hóa Xă của Ấn Quang đại
sư là chỗ lưu thông xuất bản kinh Phật. Sách
vở, kinh luận, thiện thư, lăo nhân gia đều in.
Ba thứ được in nhiều nhất là Liễu Phàm
Tứ Huấn, Cảm Ứng Thiên Vựng Biên và An Sĩ
Toàn Thư. Ba quyển sách ấy được in nhiều
nhất. Tôi dựa theo trang bản quyền [trong các bản
in] để tính toán, [nhận thấy] gần như là ba
trăm vạn bộ! Lúc đó, tôi rất kinh ngạc. Ngài
là tổ sư của Tịnh Độ Tông, là bậc
đại đức trong Phật môn, [thế mà] đối
với kinh luận Ngài chẳng hoằng dương như
vậy. Ngài in Liễu Phàm Tứ Huấn là nhân quả
được nói trong Nho gia, Cảm Ứng Thiên là Đạo
giáo, nửa trước của An Sĩ Toàn Thư là Văn
Xương Đế Quân Âm Chất Văn cũng là của
Đạo giáo. Ba thiên sau đó đều thuộc loại
đoản thiên. Vạn Thiện Tiên Tư giới sát, khuyên
người ta kiêng giết. Dục Hải Hồi Cuồng
khuyên kẻ khác kiêng dâm. Thiên cuối cùng là Tây Quy Trực Chỉ,
khuyên người ta niệm Phật. Ba thứ ấy
được in với số lượng lớn ngần
ấy, gởi tặng khắp nơi.
[Điều này]
khiến cho chúng tôi phản tỉnh sâu đậm, lắng
ḷng quan sát, [nhận ra]: Đấy chính là tấm ḷng từ
bi của lăo nhân gia, Ngài biết xă hội sẽ loạn, Phật
chẳng cứu được, mà Nho cũng chẳng thể
cứu. Dùng ǵ [để cứu]? Nhân quả báo ứng! Ba
loại sách ấy đều giảng về nhân quả báo
ứng, đề xướng giáo dục nhân quả. Nếu
ai nấy đều có thể tin tưởng nhân quả
báo ứng, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo
tác của người ấy sẽ thâu liễm. Tôi dùng hai
ba tuần lễ [suy niệm] mới ngộ được
đạo lư này! Đấy là thật sự đại từ
đại bi. V́ thế, sau khi từ Hương Cảng trở
về Đài Loan, h́nh như tôi cũng in năm vạn quyển
cho ba loại sách ấy. Lại c̣n đều giảng mỗi
loại. H́nh như giảng Liễu Phàm Tứ Huấn ba lần,
Cảm Ứng Thiên và An Sĩ Toàn Thư đều đă giảng
qua.
Đối với
xă hội hiện thời, tức ba mươi năm sau [kể
từ lúc ấy], tôi cảm thấy lăo nhân gia đề
xướng chuyện này tuyệt đối chánh xác! Thật
sự khiến cho tôi bội phục năm vóc sát đất.
Nhưng ba mươi năm sau, tŕnh độ tiếng Hán
trong xă hội đúng là xuống dốc
không phanh! Thời ấy, ba loại sách đó kẻ b́nh phàm
đều có thể đọc hiểu. Hiện tại,
người thời nay xem ba loại sách ấy không hiểu,
tôi tin tưởng những người hiện thời
dưới bốn mươi tuổi đều xem
không hiểu, [tuy những sách ấy] được viết
bằng thể loại Văn Ngôn đơn giản, dễ
hiểu. Nỗi khổ tâm cứu vớt tai nạn thế
gian của Ấn Quang đại sư, chúng ta phải kế
thừa. Lăo nhân gia đề xướng, nay chúng ta phải
suy nghĩ phương pháp, người hiện tại
thích nhất điều ǵ? Cái mà mỗi
ngày chẳng thể thiếu là TV. V́ thế, chúng tôi chế
ba loại ấy thành phim TV nhiều tập. [Phim] Liễu
Phàm Tứ Huấn hai mươi tập đă quay xong, nay
c̣n đang cắt ráp, sang tháng Hai, tháng Ba năm sau có thể
phát hành. Kế tiếp là Cảm Ứng Thiên ba mươi tập,
An Sĩ Toàn Thư ba mươi tập, tổng cộng là tám
mươi tập. Chúng tôi dùng phương thức phim truyền
h́nh nhiều tập để thúc đẩy cái tâm đại
từ đại bi, nguyện vọng cứu khổ cứu
nạn của tổ Ấn Quang, dùng phương pháp này
để phổ biến khắp thế giới.
Giáo dục nhân quả
quá trọng yếu! Quốc gia, dân tộc Trung Hoa có thể
đứng sừng sững năm ngàn năm trên thế giới,
chẳng bị đào thải là do nguyên nhân nào? Bản thân
tôi đă thể nghiệm mấy chục năm, điều
thứ nhất là giáo dục luân lư đạo đức,
đó là gia giáo. Thứ hai là giáo dục ḷng nhân từ, bác ái
của Nho gia. Thứ ba là giáo dục nhân quả từ miếu
Thành Hoàng và Thập Vương Điện. V́ thế, tôi cảm
thấy các cơ cấu thiết lập xưa kia tại
Trung Hoa tuyệt diệu lắm. Từ đường dạy
đạo hiếu, dạy luân lư. Khổng Miếu dạy
đạo đức, ngũ luân, bát đức. Miếu
Thành Hoàng dạy nhân quả. Ba cơ cấu này có ảnh
hưởng quá lớn đối với xă hội. Người
hiện thời không tin tưởng! Dẫu không tin, chẳng
phải là không có [nhân quả báo ứng]. Dẫu không tin, những
thứ ấy vẫn tồn tại! Chẳng có miếu
Thành Hoàng, nhân quả báo ứng vẫn có, chẳng trốn
thoát được. Nếu chư vị chú tâm, lắng
ḷng, quán sát, [sẽ thấy] chuyện nhân quả báo ứng
phát sanh mỗi tuần trên cả thế giới, nhật
báo, tạp chí đều có đăng tải. Tuy nói những
chuyện ấy là mê tín, khoa học chẳng có cách nào giải
thích, nhưng thật sự có những chuyện ấy, vẫn
có những người tin tưởng. Nói thật thà,
người tin tưởng vẫn là đa số, kẻ
không tin là thiểu số. V́ thế, những thứ ấy
khởi tác dụng rất lớn, đều nói về thiện
nhân, thiện quả, ác nhân, ác báo.
Nhân ở đây
chính là cái nhân làm Phật, điều này quan trọng lắm!
Cái nhân làm Phật [được dạy trong] kinh điển
Nhất Thừa thuộc kinh giáo Đại Thừa, Nhất
Thừa cao hơn Đại Thừa. Nhất Thừa nói về
[pháp] thành Phật, Đại Thừa giảng về pháp
thành Bồ Tát, Tiểu Thừa giảng về pháp thành Thanh
Văn và Duyên Giác. Kinh Pháp Hoa có nói: “Duy hữu Nhất Thừa pháp, vô nhị, diệc vô
tam, trừ Phật phương tiện thuyết” (Chỉ
có pháp Nhất Thừa, không hai cũng không ba, trừ Phật
nói phương tiện). Đức Phật nói lời thật,
khuyên con người làm Phật. Đó là nói lời thật.
Quư vị có thể làm Phật hay không? Quư vị có Phật
Tánh, cớ sao quư vị chẳng làm Phật? Nay quư vị chẳng
làm Phật, là v́ quư vị đă mê mất Phật Tánh, hoàn
toàn để tập tánh làm chủ. Quư vị thấy Tam Tự
Kinh của Nho gia đă nói rất hay: “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện” (Con người
thoạt đầu tánh vốn lành), “bổn thiện” chính là bản tánh của quư vị.
“Tánh tương cận, tập
tương viễn” (Tánh th́ giống như nhau, do huân tập
mà khác xa nhau). “Tương cận”
là tánh của mọi người giống như nhau, chẳng
có ǵ sai biệt, nhưng do huân tập mà dần dần khiến
cho quư vị xa rời [bản tánh]. Quư vị xa rời tánh,
nhân phẩm cũng sai biệt to lớn. “Cẩu bất giáo, tánh năi thiên” (Nếu chẳng dạy,
tánh bèn biến đổi), giáo dục được hưng
khởi từ chỗ này. Mục đích của giáo dục
thánh hiền là làm thế nào để giữ ǵn bản
tánh của quư vị, làm thế nào để ǵn giữ bản
tánh vốn lành, chẳng bị biến chất!
“Giáo chi đạo, quư dĩ chuyên” (Đạo giáo
dục quư ở chỗ chuyên nhất). Câu này quan trọng,
đă nêu rơ nguyên lư và nguyên tắc giáo học. Bất luận
học Nho hay học Phật, đều là “thâm nhập một môn, huân tu lâu dài”, quư vị mới
có thể thành tựu. V́ thế, phải hiểu “đọc
sách ngàn lần, đọc sách vạn lần, đọc
sách mười vạn lần”, rất hữu lư! Suốt cả
đời quư vị đọc một thứ, tâm sẽ
định, chẳng suy nghĩ lung tung. Định có thể
khai Huệ. Định đến một mức độ
nhất định, sẽ hoảng nhiên đại ngộ.
Một ngộ, hết thảy ngộ. Sau khi đă ngộ,
bất cứ kinh luận nào cũng đều thông. Điều
này khác với học vấn thế gian. Học đại
học trong thế gian, quư vị học tốt nghiệp từ
một khoa này, đối với những khoa khác, quư vị
sẽ chẳng biết chi hết! Phật pháp khác hẳn.
Tông phái trong Phật pháp, các tông, các phái rất nhiều; chỉ
cần quư vị thông một môn, đă ngộ th́ toàn bộ
đều ngộ. Không chỉ là ngộ Phật pháp, mà pháp
thế gian cũng thông suốt. Lạ lùng thay! Thông một
điều, sẽ thông suốt hết thảy. Ngộ một,
sẽ ngộ hết thảy. Tu một, sẽ là tu hết
thảy. Chứng một, sẽ chứng hết thảy.
Kinh Hoa Nghiêm dạy như thế đó.
Kinh Hoa Nghiêm là
pháp Nhất Thừa, “duy hữu
Nhất Thừa pháp” (chỉ có pháp Nhất Thừa). Đối
với pháp Nhất Thừa, trong các kinh điển được
phiên dịch tại Trung Hoa, [chỉ có] ba bộ là pháp Nhất
Thừa, chuyên môn giảng về phương pháp thành Phật.
Ba bộ kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và Phạm Vơng là pháp Nhất Thừa,
cao hơn Đại Thừa, chớ nên không biết điều
này. Kinh Hoa Nghiêm phân lượng quá lớn, v́ thế, trải
qua nhiều đời, người giảng rất ít. Kinh
Pháp Hoa được giảng nhiều hơn, v́ kinh Pháp
Hoa có phân lượng nhỏ hơn. Chúng tôi [giảng] lần
này là v́ trước khi văng sanh, Quán
Trưởng Hàn Anh đă yêu cầu tôi nhất định
phải giảng kinh Hoa Nghiêm một lượt, lưu lại
băng thâu h́nh để làm tài liệu tham khảo cho
người đời sau. Tôi đă nhận lời bà ta.
Kinh Hoa Nghiêm, kinh Vô
Lượng Thọ và kinh A Di Đà hoàn toàn quán thông. V́ thế,
cổ nhân bảo kinh Vô Lượng Thọ là trung bổn Hoa
Nghiêm, kinh A Di Đà là tiểu bổn Hoa Nghiêm, rất có lư! Do
vậy, cầu sanh Tịnh Độ, [nếu] quư vị có
thể hiểu Hoa Nghiêm, sẽ hoàn toàn hiểu rơ, thông đạt
Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng có
nghi lự, tín tâm kiên định, nguyện tâm kiên cố, niệm
Phật quyết định được văng sanh. Kinh Hoa
Nghiêm có thể nghe, chẳng cần đổ công dốc sức
nơi ấy, mà hăy nên dụng công nơi kinh Vô Lượng
Thọ, hoặc kinh A Di Đà. Chú giải hay nhất cho kinh
A Di Đà là bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư,
Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư. Hai bản
chú giải ấy quá hay, chú giải tuyệt diệu. Sớ
Sao hoàn toàn dùng nghĩa thú của Hoa Nghiêm. V́ thế, quư vị
đọc Sớ Sao sẽ giống như đọc kinh
Hoa Nghiêm, cách thức cũng giống hệt như Hoa
Nghiêm. Mở đầu là Thập Môn Khai Khải. Do vậy,
đối với câu văn đă trích dẫn từ Nhiếp
Luận, chúng ta phải hiểu: Trong A Lại Da Thức của
mỗi cá nhân đều có chủng tử Phật Tánh, nay lại
dùng kinh giáo Đại Thừa để huân tập, chủng
tử trong tập tánh của quư vị sẽ ḥa hợp
cùng tánh chủng.
(Sớ) Nhất thiết
thánh nhân dĩ thử vi nhân.
(疏)一切聖人以此為因。
(Sớ:
Hết thảy thánh nhân lấy điều này làm nhân).
“Hết thảy thánh nhân” ở đây bao gồm Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, là những người thật
sự tu hành, hy vọng vĩnh viễn thoát ly luân hồi, vượt
thoát mười pháp giới, thảy đều dùng điều
này làm nhân. Do đó, thuở đức Thế Tôn tại thế,
đă v́ mọi người giảng kinh thuyết pháp bốn
mươi chín năm. Phật pháp là giáo dục, chẳng phải
là tôn giáo. Các tín đồ tôn giáo cũng đến học.
Từ kinh luận, chúng ta thấy [chuyện này]. Kinh Hoa
Nghiêm cũng chẳng phải là ngoại lệ, ta thấy
rất nhiều [trường hợp giống như vậy].
Bà-la-môn là tôn giáo, họ đến học với Thích Ca Mâu
Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng buộc họ thay
đổi tôn giáo. Quư vị là tín đồ Bà-la-môn, học
Phật th́ vẫn là tín đồ Bà-la-môn. Quư vị là tín
đồ Du-già (Yoga) học Phật th́ vẫn là tín đồ
Du-già, chẳng biến đổi. Học Phật là ǵ? Học
Phật là đến nơi đây để cầu Giới,
Định, Huệ, đến học trí huệ. Đă có
trí huệ, quư vị trở về tôn giáo của chính ḿnh, sẽ
nâng cao cảnh giới tôn giáo của chính ḿnh. Do đó, Phật
giáo là sự giáo dục tốt nhất, chẳng phải là
tôn giáo. Nó chẳng phân biệt quốc gia, chẳng phân biệt
chủng tộc, chẳng phân biệt tôn giáo. Đúng là giống
như Khổng Tử, “chỉ
văn lai học” (chỉ nghe nói có người đến
học), hoan nghênh quư vị đến học, Thích Ca Mâu Ni Phật
thảy đều có thể tiếp nhận, nhất định
sẽ nghiêm túc tận hết trách nhiệm dạy bảo
quư vị. Chỉ cần quư vị chịu nghe lời, chịu
y giáo phụng hành, chẳng có một ai không thành tựu. V́
thế, các đồng học học Phật phải nhận
thức đức Phật, phải hiểu rơ ràng: Chúng ta
đến nơi đây nhằm mong học ǵ? Mong thành tựu
điều ǵ? Điều này rất quan trọng!
(Sớ) Vô Tánh Nhiếp Luận
vân: “Thử văn huân tập, tuy thị hữu lậu, nhi
thị xuất thế tâm chủng tử tánh”.
(疏)無性攝論云:此聞熏習,雖是有漏,而是出世心種子性。
(Sớ:
Bộ Vô Tánh Nhiếp Luận[3] có nói: “Sự huân
tập do nghe [pháp] này tuy là hữu lậu, nhưng nó chính là
chủng tử tánh của cái tâm xuất thế”).
Câu này rất quan
trọng. Nay chúng ta dùng kinh giáo để huân tập chính là
sự huân tập bởi nghe pháp trong hiện tiền, xác thực
là hữu lậu. V́ sao? Chúng ta chưa đoạn tập
khí phiền năo, chẳng đoạn vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước, thế mà [sự huân tập
ấy lại] là chủng tử tánh của cái tâm xuất
thế. Nếu chúng ta muốn đi theo con đường
xuất thế này (“xuất thế”
là vượt thoát tam giới lục đạo), nó sẽ
có thể hướng dẫn quư vị. Nó là con đường
chánh đáng, chẳng phải là nẻo tà! Điều này tốt
đẹp. Trong hết thảy các sự học tập, nó
là đạo xuất thế, hết sức hy hữu, khó
có!
Thứ hai là Dục
Lực, “dục” (欲) là dục vọng, Thanh Lương đại
sư chú giải rất hay:
(Sớ) Hữu thắng
dục lạc, hy đại Bồ Đề, cập khởi
hạnh cố.
(疏)有勝欲樂,希大菩提,及起行故。
(Sớ: V́ có dục lạc
thù thắng, mong cầu đại Bồ Đề, và khởi
hạnh).
Đối với
“dục lực” như kinh
đă dạy, nó cũng chính là “nguyện
lực” như chúng ta đă nói, các vị nghĩ xem có
đúng hay không? Nguyện lực đấy nhé! Có dục vọng
thù thắng, có sự “ái nhạo”
(yêu chuộng) thù thắng, “nhạo”
ở đây là “nhạo háo”
(樂好, thích thú, mến
thích). Người thế gian luôn có dục vọng, mỗi
cá nhân có dục vọng khác nhau. Thù thắng nhất, yêu chuộng
nhất là ǵ? “Hy đại Bồ
Đề” (Mong cầu đại Bồ Đề). Điều
quư vị mong cầu chính là đại Bồ Đề, tức
là Vô Thượng Bồ Đề. Ai chứng đắc Vô
Thượng Bồ Đề? Trong thế gian này, người
gần chúng ta nhất là Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài đă chứng
đắc, đă đạt được. V́ thế,
đối với Bồ Đề, Bồ Đề là tiếng
Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Giác. Đại Bồ
Đề là Đại Giác; từ ngữ dịch sang tiếng
Hán sẽ là Đại Giác. Đại Giác là đối với
vũ trụ, nhân sinh, quá khứ, vị lai, không ǵ chẳng
biết, không ǵ chẳng thể. Quư vị hăy ngẫm xem, có
ai chẳng mong cầu? Có ai chẳng mong cầu đạt
được? Đầu tiên, quư vị phải thừa
nhận điều này, phải nhận thức điều
này, phải hiểu rất triệt để, rất rơ
ràng, nguyện vọng của chúng ta mới có thể sanh khởi
được!
Tuy đă có nhân,
mà nếu chẳng có sự mong mỏi này; nói thật ra, sự
mong mỏi ấy chính là duyên. Cái duyên này là Sở Duyên Duyên,
c̣n cái nhân trước đó chính là Thân Nhân Duyên. Đă có Thân
Nhân Duyên, mà nếu chẳng có Sở Duyên Duyên, chẳng yêu
chuộng, chẳng mong cầu nó, nó cũng chẳng thể
hiện hành, cũng chẳng khởi tác dụng, dục vọng
mạnh mẽ mà! Quư vị thấy Thân Nhân Duyên th́ ai nấy
đều trọn đủ, nhưng Sở Duyên Duyên th́ chính
ḿnh phải phát tâm. Quư vị có thể vứt bỏ hết
thảy tất cả dục vọng trong thế gian, giống
như Thích Ca Mâu Ni Phật, ngay cả ngôi vua cũng buông bỏ,
vinh hoa, phú quư đều bỏ sạch. Chuyện này so với
chuyện làm quốc vương, so với sự hưởng
thụ vinh hoa phú quư vẫn là vui sướng hơn, những
kẻ b́nh phàm chẳng có trí huệ ấy. Có trí huệ, quư
vị mới có thể thật sự chọn lựa con
đường sung sướng, mới thật sự biết
chọn lựa giữa khổ và lạc! Trong thế gian này, trong tiếng tăm, lợi
dưỡng, ngũ dục, lục trần đều có lạc,
nhưng quư vị suy nghĩ cặn kẽ: Có thứ lạc
nào chẳng có tác dụng phụ? Quư vị ưa chuộng
thứ lạc ấy, sẽ phải trả giá bao nhiêu?
Hơn nữa, đối với những thứ lạc ấy,
đức Phật nói lạc là Hoại Khổ, chẳng phải
là chân lạc. Chân lạc là đại Bồ Đề, quyết
định chẳng có Hoại Khổ. Do vậy, Thích Ca Mâu
Ni Phật chọn lựa điều này. Đấy là sự
chọn lựa bằng trí huệ chân thật. Ngài thật
sự có thể thực hiện đại Bồ Đề
trong cuộc sống, thực hiện trong xử sự, đăi
người tiếp vật, thực hành trong giáo hóa chúng
sanh. Ngàn năm, vạn đời, bao nhiêu người kính
ngưỡng Ngài, bao nhiêu người đă học tập
Ngài, [đó là] đại lạc! Không ai có thể sánh bằng!
Chúng ta phải nhận biết rơ ràng điều này. Hôm nay
đă hết thời gian rồi, chúng tôi nói tới đây!
Tập 1478
Chư vị
đồng học, xin hăy ngồi xuống. Xin xem phẩm Tịnh
Hạnh thứ mười một, đoạn thứ
tư trong phần trường hàng. Chúng tôi đọc kinh
văn một lượt:
(Kinh) Vân hà đắc nhân
lực, dục lực, phương tiện lực, duyên lực,
sở duyên lực, căn lực, quán sát lực, xa-ma-tha lực,
tỳ-bát-xá-na lực, tư duy lực?
(經)云何得因力。欲力。方便力。緣力。所緣力。根力。觀察力。奢摩他力。毗缽舍那力。思惟力。
(Kinh: Làm thế nào
để đắc nhân lực, dục lực,
phương tiện lực, duyên lực, sở duyên lực,
căn lực, quán sát lực, xa-ma-tha lực, tỳ-bát-xá-na
lực, tư duy lực?)
Đối với
sự tu hành, khai ngộ, chứng quả, mười loại
lực này chẳng thể khuyết thiếu. Trong phần
trước, chúng ta đă học đến phương tiện,
tức là “phương tiện
lực”. Chúng ta thấy Thanh Lương đại
sư chú giải:
(Sớ) Phương tiện
giả, vị tạo tu lực, y lục phương tiện,
thành bi trí cố.
(疏)方便者,謂造修力,依六方便,成悲智故。
(Sớ:
Phương tiện nghĩa là do sức tạo tác và tu chỉnh,
nương vào sáu phương tiện mà thành bi và trí).
“Tạo tu”: “Tạo”
(造) là tạo tác, “tu” (修)
là sửa cho đúng. Ngôn ngữ là tạo tác nơi khẩu
nghiệp, động tác là sự tạo tác nơi thân, khởi
tâm động niệm là tạo tác ư nghiệp. Quư vị thấy
đối với người chẳng tu hành, thường
nói: “Quư vị tạo nghiệp”! Đấy là lời chân thật,
bọn phàm phu chúng ta có ai không tạo nghiệp? Trong nghiệp
có ác nghiệp, thiện nghiệp và vô kư nghiệp. Tạo
thiện nghiệp, đạt được phước
báo trong ba thiện đạo. Tạo ác nghiệp sẽ chịu
khổ trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tức
là sự khổ trong ba ác đạo. Chẳng thiện chẳng
ác th́ gọi là vô kư nghiệp. Vô kư nghiệp cũng có quả
báo, [chính là] ngu si. V́ thế, tu tập là chuyện hết sức
trọng yếu. [Tu tập] chính là làm thế nào để
uốn nắn ba loại tạo tác ấy.
Sự tạo tác
trong lục đạo đều chẳng chánh đáng; v́
thế, đều gọi là tâm luân hồi, nghiệp luân hồi.
Đó là phàm phu trong lục đạo. Chánh là ǵ? Bất
chánh là ǵ? Tiêu chuẩn của chánh và bất chánh là ǵ? Trong ấy,
có một tiêu chuẩn tuyệt đối; đó là Tánh
Đức. Tự tánh vốn sẵn đầy đủ
trí huệ và đức tướng. Tương ứng với
điều ấy th́ là chánh. Trái nghịch với điều
ấy, sẽ là tà, chẳng chánh! Bọn phàm phu chúng ta nay
đang tạo tác và tu chỉnh nương cậy điều
ǵ? Nhất định là phải nương theo giáo huấn
của thánh nhân. Sự tạo tác nơi ba nghiệp của
thánh nhân đều có thể tùy thuận Tánh Đức. Tuy
chúng ta chẳng kiến tánh, chẳng biết Chân Như tự
tánh là ǵ, nhưng chúng ta có thể tùy thuận Phật, Bồ
Tát, tùy thuận hành vi của các bậc thánh hiền. Hành
theo các Ngài, sẽ chẳng đến nỗi phạm sai lầm!
Đại thánh
là Phật Đà, Phật tâm là Thiền, Thiền là Phật
tâm. Ngôn ngữ của Phật là kinh giáo, kinh giáo là ngôn ngữ
của Phật. Hạnh nghiệp của Phật là giới
luật. Quư vị thấy ba thứ ấy, ba thứ kinh,
luật, luận nhằm tu chỉnh hành vi nơi tam nghiệp
của chúng ta. Giới luật tu chỉnh hành vi nơi khẩu
nghiệp và hành vi nơi thân nghiệp. Kinh luận tu chỉnh
hành vi do kiến giải và tư tưởng sai lầm.
Chúng ta có căn cứ. Tuy nhiên, kinh, luật, luận nhiều
quá, chúng ta học suốt cả một đời chẳng
xong, phải tu như thế nào? Một bộ là được
rồi, một bộ trong kinh, luật, luận là
được rồi! Trong giới học thuật hiện
thời, thường có quan niệm khác hẳn các bậc
thánh hiền. Bậc thánh hiền tự ḿnh tu học, dạy
người, đều tuân theo những quy củ xưa
cũ của cổ thánh tiên hiền truyền lại nhiều
đời, tức là: “Thâm nhập
một môn, huân tu lâu dài”. Quư vị xem Tam Tự Kinh, phần
mở đầu của Tam Tự Kinh đă dạy chúng ta:
“Giáo chi đạo, quư dĩ
chuyên” (Đạo giáo dục quư ở chỗ chuyên nhất).
Giáo th́ phải chuyên, chẳng thể tạp, chẳng thể
nhiều. Học cũng phải chuyên, cũng chẳng thể
tạp, cũng chẳng thể loạn.
Tôi theo thầy Lư
học kinh giáo; thuở ấy, các bạn học của tôi
có hơn hai mươi người. Lớp học ấy
giống như trường tư thục, chẳng phải
là mọi người cùng học một bộ kinh giáo, chẳng
phải vậy, mà là mỗi người học một bộ
kinh riêng của người ấy. Quư vị thích học
kinh ǵ cũng đều có thể, chính quư vị chọn lựa,
chọn lựa từ Đại Tạng Kinh. Quư vị chọn
lựa xong, thầy giám định. Nếu thầy thấy
quư vị chọn bộ kinh ấy mà tŕnh độ của
quư vị chẳng đủ, căn tánh của quư vị chẳng
đủ. Nếu căn tánh và tŕnh độ của quư vị
chẳng đủ, [thầy sẽ khuyên]: “Không được!
Chọn lại một bộ khác”. Thật sự chọn
chẳng thỏa đáng, thầy sẽ chọn giùm quư vị
một bộ, lại c̣n chọn một bộ kinh nhỏ
v́ quư vị bắt đầu mới học!
Lớp học ấy
là lớp giảng kinh, tức là học cách giảng kinh. Học
giảng kinh là dùng một bộ kinh để lên bục giảng,
giảng mấy lần? Thầy quy định, tối thiểu
chẳng thể ít hơn ba lượt. Như kinh Bát Đại
Nhân Giác, giảng ba lượt là viên măn. Nói thật ra, ba lần,
mỗi lần hai tiếng đồng hồ. Trong hai tiếng
đồng hồ, có phiên dịch. Một người giảng
bằng tiếng Phổ Thông; khi ấy, ở Đài Loan, người
kia nói bằng Đài ngữ[4].
V́ thế, có hai người phiên dịch. Thoạt nh́n th́
dường như là hai người phiên dịch, nhưng
trên thực tế, chính là hai người cùng học một
bộ kinh. Lên bục giảng, thông thường là [người
nói tiếng] Phổ Thông nói trước một đoạn,
người nói Đài ngữ cũng nói một đoạn.
Dường như là phiên dịch; thật ra, hai người
ấy cùng dùng một bài giảng như nhau. V́ vậy, trên
thực tế là giảng một giờ. Ba lượt, ba
ngày, bộ kinh ấy tốn ba tiếng đồng hồ.
Đối với kẻ mới học, phương pháp này
rất hữu hiệu, khiến cho sĩ khí của nhóm người
học tập như chúng tôi hết sức tràn trề, học
rất hứng thú. Lâu nhất th́ chẳng thể hơn
mười lần, tức là mười ngày. Thầy quy định như vậy. Ngắn
nhất là ba ngày, dài nhất chẳng thể hơn mười
ngày. Lớp học kinh tại Đài Trung vào thuở ấy
là như vậy đó.
Kinh luận
được chọn lựa phải rất cạn, chính
ḿnh thật sự có đủ mức độ nhận thức,
có thể lư giải, quư vị mới có thể giảng cho
người khác cũng có thể lư giải, cũng có thể sanh tâm hoan hỷ. Lớp học
kinh thuở ấy của chúng tôi giống như trường
tư thục. Hai đồng học cùng học một
bộ kinh như nhau, một người nói tiếng Phổ
Thông, người kia nói bằng Đài ngữ. Lớp học
ấy kéo dài hai năm, các đồng học gồm hơn
hai mươi người thay phiên giảng, nhưng khi lên
lớp, tất cả các đồng học đều phải
đến. Khi lên lớp, mọi người đều phải
dụng tâm lắng nghe, dụng tâm học tập. Quư vị
thấy cách này cũng coi như là quảng học đa văn,
nhưng công phu của chính ḿnh chỉ vận dụng
nơi bộ kinh mà chính ḿnh đang học tập. Những
điều mà các đồng học khác giảng giải, học
tập, sẽ có thể giúp cho việc học tập bộ
kinh của chính ḿnh càng đạt lư giải thâm nhập hơn!
Quả thật, phương pháp này hết sức hay! Quyết
định chẳng thể đồng thời học hai hay
ba bộ kinh điển, thầy chắc chắn chẳng chấp
thuận, chẳng dạy quư vị! Quư vị theo học với
thầy, chỉ có thể học một thứ. Học một
thứ hoàn tất rồi, mới có thể học bộ
thứ hai. “Học hoàn tất”
là ǵ? Quư vị lên bục giảng, giảng cho đến
khi thầy hài ḷng, gật đầu, coi như quư vị
đă học xong bộ kinh ấy, quư vị mới có thể
học bộ thứ hai. V́ thế, tôi ở Đài Trung
mười năm, trong mười năm học năm bộ
kinh. Nếu trong Phật Học Viện thông thường,
năm bộ kinh ấy [chỉ cần mất] một
năm là đă học xong, c̣n chúng tôi là mười năm,
thâm nhập một môn mà!
Tôi đă thưa
cùng quư vị chuyện học kinh của chính ḿnh. Sau khi quư
vị đă thấy, [sẽ cảm nhận] chẳng có mảy
may hiếm lạ chi hết. Tôi học bộ kinh thứ nhất
từ thầy Lư là A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung Kinh. Bộ
kinh này tôi cũng có giảng nghĩa. Bộ thứ hai là Phật
Thuyết A Di Đà Kinh, bộ thứ ba là Phổ Hiền Hạnh
Nguyện Phẩm, bộ thứ tư là kinh Kim Cang, bộ
thứ năm là kinh Lăng Nghiêm. Từ cạn đến
sâu, từ nhỏ đến lớn, có thứ tự nhất
định, chẳng thể rối loạn. Quư vị học
thật sự, học đến một mức độ
sâu xa, sẽ được thọ dụng. Học tập
được thọ dụng bao nhiêu tùy thuộc bề
sâu lư giải và khế nhập của quư vị. Khế nhập
là ǵ? Quư vị thật sự vận dụng trong cuộc sống.
Nói theo chúng ta trong hiện thời, trong cuộc sống,
trong công việc, trong xử sự, đăi người tiếp
vật, quư vị thật sự dùng được, đó
chính là sự hưởng thụ. Tiên sinh Phương Đông
Mỹ nói: “Học Phật là sự
hưởng thụ cao nhất trong đời người”,
chẳng giả tí nào!
Sự hưởng
thụ như Phương tiên sinh đă nói chính là như câu
nói đầu tiên của Khổng Tử trong
sách Luận Ngữ: “Học nhi
thời tập chi, bất
diệc duyệt hồ” (Học rồi tập luyện,
há cũng chẳng vui sao). Đấy là sự hưởng
thụ, tức là sự hưởng thụ cao nhất
trong đời người. Nếu quư vị chẳng thể
hiểu; do vậy, nói đến “thâm giải”, kinh điển nhà Phật cũng
thường nói “thâm giải
nghĩa thú”. Nếu quư vị đă hiểu sâu xa, th́ sẽ
hành đắc lực, nghiêm túc nỗ lực y giáo phụng
hành. Những ǵ chúng ta đă học chính là cuộc sống,
cuộc sống chính là những ǵ ta đă học; đấy
mới là có ư vị! Nay chúng ta học Hoa Nghiêm, nhất
định phải nhập cảnh giới Hoa Nghiêm, cuộc
sống của chúng ta chính là Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm, Đại Phương Quảng Phật
Hoa Nghiêm chính là cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Đấy
mới là thật sự thọ dụng.
V́ thế, đối
với “tạo tu” (tạo
tác, tu chỉnh), nhất định là phải có
phương tiện th́ mới có thể thành tựu ḷng
đại từ bi và trí huệ của quư vị. “Thành bi trí cố” (Cho nên thành tựu
bi trí): Ứng dụng từ bi và trí huệ vào cuộc sống
hằng ngày th́ gọi là “phương
tiện”. Phật giáo là ǵ? Phật giáo thường nói: “Từ bi làm gốc, phương
tiện làm cửa”, Bi là “từ bi làm gốc”, Trí là “phương tiện làm cửa”. Ở đây,
đức Phật nói đến sáu món phương tiện:
(Sớ) Nhất, từ
bi cố luyến. Nhị, liễu tri chư hạnh. Tam,
hân Phật diệu trí. Tứ, bất xả sanh tử.
Ngũ, luân hồi bất nhiễm. Lục, xí nhiên tinh tấn.
(疏)一慈悲顧戀,二了知諸行,三欣佛妙智,四不捨生死,五輪迴不染,六熾然精進。
(Sớ:
Một, từ bi chăm nom, yêu mến. Hai, hiểu rơ các hạnh.
Ba, ưa thích diệu trí của Phật. Bốn, chẳng bỏ
sanh tử. Năm, luân hồi mà chẳng nhiễm đắm.
Sáu là hừng hực tinh tấn).
Sáu câu này nói rất
đơn giản, nhưng [ư nghĩa] trong mỗi câu [đều
là] sâu rộng không ngằn mé, nghĩa thú vô cùng. Nay quốc
gia đang nói đến xă hội hài ḥa, thế giới hiện
thời cũng đang hô hào làm thế nào để thực
hiện ḥa b́nh. [Để thực hiện những điều
ấy, cứ làm theo] mấy câu này là được rồi.
Đặc biệt là câu đầu tiên, “từ bi cố luyến”.
“Từ bi” là ǵ? Chính là tâm yêu thương chân thành. Hết
thảy chúng sanh có [từ bi] hay không? Có chứ! Hết thảy
chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của
Như Lai, làm sao chẳng có [từ bi] cho được? Từ
bi là đức, hết thảy chúng sanh thảy đều
có. Rất đáng tiếc, chúng sanh đă mê mất từ
nhiều kiếp lâu xa trước, [cho nên] chẳng có tâm từ
bi! Đôi khi, giống như một ánh chớp trong đêm đen,
tâm từ bi phát ra trong khoảnh khắc, rất ngắn,
ngay lập tức chẳng c̣n nữa! Chẳng thể giống
như chư Phật, Bồ Tát, tâm từ bi giữ
được vĩnh hằng, trong hết thảy mọi
lúc, hết thảy mọi chỗ đều là một bầu
từ bi. Đấy là điều đầu tiên trong các phương
tiện. Quư vị chẳng có tâm từ bi th́ c̣n tu ǵ nữa?
V́ thế, Phật pháp nói: “Từ
bi làm gốc, phương tiện là cửa”.
“Từ” là ban vui cho chúng sanh, “bi” là cứu khổ cho chúng
sanh. Khi chúng sanh gặp khổ nạn, quư vị giúp họ hóa
giải, đấy là Bi. Chúng sanh chẳng đạt
được sự vui sướng thật sự, quư vị
giúp cho họ được vui. Đấy là Từ. Cội
nguồn của khổ và lạc chính là mê hoặc. Mê là mê mất
tự tánh, không biết chân tướng của vũ trụ
và nhân sinh, quư vị chẳng có ǵ không khổ. Khi một kẻ
đang mê, Nhất Chân pháp giới, thế giới Hoa Tạng
biến hiện thành mười pháp giới; đấy là
Khổ. Lạc thật sự là ǵ? Là giác ngộ. Sau khi đă
ngộ, chuyển thức thành trí, tâm khai ư giải, chuyển
mười pháp giới thành Hoa Tạng. Đấy chính là “nếu có thể chuyển cảnh,
ắt giống như Như Lai”; đó là lạc chân thật.
V́ thế, từ bi đối với hết thảy chúng
sanh được biểu hiện ở chỗ nào? Biểu
hiện bằng giáo hóa. Trong giáo hóa, quan trọng nhất là
thân giáo, [tức là] dùng thân làm gương, thường nói
là “hiện thân thuyết pháp”.
Quư vị không hiểu, tôi nói cho quư vị nghe, quư vị hoài
nghi. [Vậy th́] làm cho quư vị thấy. Đối với
người hiện thời, làm cho quư vị thấy, quư vị
thấy rồi cũng chẳng hiểu, vẫn hoài nghi!
Năm xưa, chúng
tôi mở lớp bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp ngắn
hạn ở Tân Gia Ba, cứ mỗi kỳ là ba tháng. Khi mở
khóa thứ nhất, có chín học sinh, tôi đến dạy.
Học sinh nghi hoặc, chẳng thể tiếp nhận,
hoài nghi chúng tôi: “Quư vị mở khóa học này, t́m chúng tôi
đến học tập, dụng ư là ǵ? Mục đích là
ǵ?”
Nghi vấn như thế, học gần một tháng rưỡi
mới coi như là đă hiểu rơ. Chúng tôi chẳng có mục
đích, mà cũng chẳng có dụng ư ǵ cả! Chỉ là v́
chúng tôi thấy nhân tài hoằng pháp trong Phật giáo quá ít, hy
vọng là đối với các nhân tài thật sự có chí
phát tâm hoằng pháp, chúng tôi sẽ toàn tâm toàn lực giúp
đỡ những người ấy. Người khác
đối với chúng ta tốt quá, bèn hoài nghi: “Dụng tâm
của họ là ǵ? Dụng ư là ǵ?” Cho đến một tháng
rưỡi mới hiểu rơ ràng, ai nấy đều gào
khóc, quỳ sụp xuống đất sám hối. Thời
gian của khóa học ba tháng đă mất hết một nửa,
[họ mới hiểu], chẳng dễ dàng! Hiện thời,
quư vị hảo tâm, thiện tâm đối với người
khác, người ta suốt đời không chỉ từng
thấy, mà c̣n chưa hề nghe nói, lẽ nào chẳng hoài
nghi quư vị cho được?
Do vậy, hiện
thời khó làm chuyện tốt, chẳng giống như xưa
kia. Đối với quư vị, họ đánh khá nhiều
dấu hỏi. Có thể hóa giải hoàn toàn những dấu
hỏi ấy hay không, rất khó nói! Nhưng chuyện này có
phải làm hay không? Phải làm! Tùy duyên, chúng ta sẽ rất
tự tại. Có duyên, quư vị hoài nghi cũng thế, mà chẳng
hoài nghi cũng thế, chỉ cần quư vị chịu
đến học, chúng tôi luôn nhiệt tâm dạy quư vị,
giúp đỡ, thành tựu quư vị. Nếu quư vị chẳng
thể tiếp nhận? Chẳng thể tiếp nhận th́
quư vị có thể ra đi. Đa số chẳng thể tiếp
nhận, chúng tôi liền ngừng khóa học, không tổ chức
nữa. Đức Phật dạy chúng ta tùy duyên chứ
không phan duyên! “Tùy duyên” là hễ
thời tiết nhân duyên c̣n có thể, [tức
là] c̣n có thể tổ chức, tuy có chướng ngại,
nhưng chẳng khẩn yếu, vẫn có thể thực
hiện th́ phải làm! [Nếu như] chướng ngại
nghiêm trọng, chẳng thể thực hiện, hăy ngay lập
tức “thu dọn sạp hàng, ra đi”, bản thân chúng ta
công đức đă viên măn. Kinh Lăng Nghiêm đă dạy rất
hay: “Phát ư viên thành”, công đức
viên măn! Chẳng phải là ta không làm, [chỉ v́] hoàn cảnh
không cho phép. Mọi người chẳng biết thứ này
tốt đẹp, chẳng thể tiếp nhận, chúng ta
bèn đổi sang phương pháp khác.
Giống như
hiện thời chúng ta dùng phương pháp này, chúng ta dùng mạng
Internet, dùng [truyền h́nh] vệ tinh. Người thích nghe,
có thể tiếp thu mỗi ngày, có thể nghe hằng ngày.
Kẻ chẳng ưa nghe, chẳng bắt băng tần ấy,
sẽ vĩnh viễn chẳng trông thấy! Tốt lắm,
chẳng miễn cưỡng mảy may! Chúng ta gặp mặt
nhau mỗi ngày qua màn h́nh, quư vị thấy tôi rất thân
thuộc, tôi chẳng nhận biết quư vị! Tháng Sáu năm
nay, tôi đến thăm Luân Đôn, viếng thăm đại
học Ngưu Tân (Oxford) và đại học Luân Đôn. Ở
đó, có mấy vị giáo sư tiếp đăi tôi rất
thân thiết. Họ là người Anh, có thể nói tiếng
Phổ Thông rất khá. Sau này, tôi mới biết họ chuyên
môn nghiên cứu Hán học, nghiên cứu những thứ thuộc
về Trung Hoa. Họ rất thân thiết đối với
tôi, tôi cũng rất cảm kích. Những
vị giáo sư ấy bảo tôi: “Pháp sư! Tôi quen biết
thầy đă rất lâu”, tôi cũng rất kinh ngạc. Họ
nói: “Hằng ngày tôi gặp thầy trên truyền h́nh vệ
tinh hoặc trên Internet”. Trên mạng Internet rất quen thuộc,
gặp mặt càng thân thiết hơn. Người Âu Châu rất
coi trọng Hán học, họ nghiên cứu rất có thành tựu,
rất khó có! Chúng tôi thấy vậy hết sức hoan hỷ.
Do vậy,
từ bi là điều quan trọng nhất. Nền giáo dục
truyền thống của Trung Hoa đă bị mất
đi, thật sự quá đáng tiếc! Nếu quư vị
hiểu cách giáo dục truyền thống Trung Hoa, nay chúng ta một
ḷng chân thành yêu thương giúp đỡ người khác,
họ sẽ chẳng nghi hoặc. V́ sao? Do được
dạy dỗ từ bé, [sẽ thấy chuyện giúp đỡ
người khác vô điều kiện] rất b́nh thường!
Há c̣n có mong cầu, c̣n có mục đích chi nữa? Chẳng
có, rất b́nh thường. Năm ngàn năm trước,
Trung Hoa coi trọng giáo dục, dạy những ǵ? Dạy
những lời ấy. Câu này (“từ
bi cố luyến”) thuộc về Phật môn, Trung Hoa chẳng
nói theo kiểu ấy. Trung Hoa th́ sao? “Phụ tử hữu thân” (Cha con có t́nh thân). Quư vị
hăy ngẫm xem, “phụ tử hữu
thân” và “từ bi cố luyến”
có phải là cùng một chuyện hay không? Đúng là giống
hệt như nhau! Đứa trẻ vừa mới sanh ra, được
cha mẹ chăm sóc chẳng rời khỏi một thời,
một khắc nào. Đó là “luyến”
(戀)! Mẹ đến chỗ nào làm
chuyện ǵ đó, trong tâm nghĩ đứa con thơ nay đang
như thế nào. Làm xong chuyện bèn trở về ngay lập
tức, “cố luyến”
đấy! “Từ bi cố luyến”
đúng là “phụ tử hữu
thân”! Khi đứa trẻ mới vừa được
sanh ra, đặc biệt là trong ṿng nửa năm, thông
thường nó c̣n chưa biết nói, c̣n chưa biết đi.
Quư vị thấy cha mẹ yêu thương nó, quyến luyến
nó, dốc hết tấm ḷng, chẳng kèm thêm bất cứ
điều kiện ǵ! Điều kiện ǵ cha mẹ cũng
quên tuốt, trong tâm chỉ có đứa bé ấy.
Giáo dục được
sanh ra, được hưng khởi từ chữ này (Ái).
Đấy là thiên tánh, [t́nh yêu thương giữa] cha con
hay mẹ con là thiên tánh! Mục đích giáo dục là làm thế
nào để ǵn giữ vĩnh viễn t́nh yêu thương ấy.
Mối t́nh thân ái giữa cha mẹ đối với con cái
được vĩnh viễn giữ ǵn, giữ ǵn suốt
cả đời chẳng biến đổi, chuyện này
cần phải cậy vào giáo dục. Do đó, mục tiêu
thứ nhất trong giáo dục chính là chuyện này. Hiện
thời, chúng tôi cực lực đề xướng Đệ
Tử Quy. Đệ Tử Quy chẳng phải là sách giáo
khoa, chẳng phải là thứ để cho trẻ nhỏ
đọc, mà là ǵ? Dành cho cha mẹ. Kẻ làm cha mẹ thảy
đều phải làm được, làm cho con cái quư vị
thấy, sử dụng thân giáo. Trẻ nhỏ sanh ra hai, ba
ngày, mở mắt ra nó có thể nh́n, tai có thể nghe, trông
thấy nhất cử, nhất động, một câu nói,
một tiếng cười của người lớn, nói
theo Phật pháp, sẽ in vào A Lại Da Thức của nó,
biến thành chủng tử. Do vậy ở trước mặt
con cái (trước mặt trẻ thơ), cha mẹ nói năng,
cư xử đều phải theo quy củ, hoàn toàn để
cho trẻ hấp thụ những điều chánh đáng,
chẳng để cho chúng thấy những điều phản
diện! Quư vị thấy nó từ lúc sanh ra được
hai ba ngày đă bắt đầu học, học cho đến
lúc ba tuổi. Cổ nhân nói “tam
tuế khán bát thập”, chẳng phải là không có đạo
lư! Trẻ được huân tập trong ba năm ấy, thâm
căn cố đế, [cho tới] tám mươi tuổi
cũng chẳng bị biến đổi. Đấy chính
là ư nghĩa của câu “tam tuế
khán bát thập”. Tám mươi tuổi cũng chẳng bị
biến đổi, người ấy thảy đều
học được rồi!
V́ vậy, Đệ
Tử Quy là gia giáo, là cha mẹ dùng thân thể biểu hiện
cho con cái thấy. Trẻ thơ ba bốn tuổi đă có năng
lực phân biệt đúng, sai, thấy kẻ khác làm chuyện
này nọ, [bèn nhận xét]: “Kẻ ấy đúng, kẻ kia
sai”. Nó biết đúng và sai, nó có tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn
của nó chính là tiêu chuẩn trong Đệ Tử Quy, nó đă
học hiểu rồi. Đến khi sáu, bảy tuổi, vào
trường học, thầy dạy nó, thầy cũng nêu
gương tốt, tức là giáo dục gia đ́nh
được tiếp nối. Thầy dạy hiếu,
đễ, trung, cha mẹ dạy con cái tôn sư trọng đạo.
Trong trường học, dạy những ǵ? “Trưởng ấu hữu tự,
bằng hữu hữu tín” (Lớn nhỏ có tôn ty trật
tự, bạn bè giữ chữ tín), tôn sư trọng đạo.
Hầu hạ thầy giống như hầu hạ cha mẹ.
[Đó là chuyện] học tṛ phải làm, chẳng phải là
nói suông, mà phải làm. Học hầu hạ thầy như
thế nào, v́ về đến nhà sẽ biết hầu hạ
cha mẹ. Hầu hạ đàn anh như thế nào, tức
là [hầu hạ] những bạn học lớn tuổi hơn
ta; về nhà, sẽ biết hầu hạ anh chị của
chính ḿnh. Điều được coi trọng nhất chính
là thân giáo, ngôn giáo là phụ trợ. Giáo dục Tiểu Học
đều thuộc loại [giáo dục] đức hạnh.
Đức hạnh là bậc nhất. V́ thế, đức
hạnh và ngôn ngữ phải do thầy dạy, hễ có
sai lầm th́ thầy phải giúp tṛ sửa chữa cho đúng.
Vào độ tuổi
ấy, trong suốt quá tŕnh của một đời người,
trí nhớ mạnh mẽ nhất. Phàm là những sách vở
của cổ thánh tiên hiền cần phải ghi nhớ,
đều bắt trẻ học thuộc, học thuộc
đến mức có thể nhớ nằm ḷng. Có thể
ghi nhớ nằm ḷng; khi đă nhớ nằm ḷng rồi,
thời xưa học tṛ đi học được trắc
nghiệm [bằng cách trả bài]. Học tṛ có tŕnh độ khác nhau,
căn tánh không giống nhau. Giống như sách giáo khoa hiện
thời, mỗi “mặt giấy”[5] là
mười ḍng, mỗi ḍng hai mươi chữ. Sách vở
thời cổ được sắp chữ đại khái
đều là như vậy. Bất luận nhà (thư cục)
nào khắc in, thảy đều là mỗi mặt giấy có
mười ḍng, mỗi ḍng hai mươi chữ, rất
khoa học! V́ thế, hỏi quư vị trang thứ mấy,
ḍng thứ mấy, đều giống như nhau, bất
luận do nhà nào in sách, thảy đều giống như
nhau. Điều này mang tính khoa học, thống nhất!
V́ vậy, khi đọc
sách, đứa có thiên tư tốt, đại khái là mỗi
ngày có thể học một trang, một “trang” gồm hai mặt
giấy, hai mặt giấy th́ gần như là bốn trăm
chữ. Quư vị thấy một ḍng là hai mươi chữ,
mười ḍng là hai trăm, hai mặt giấy là hai mươi
ḍng, tức bốn trăm chữ. Như vậy th́ coi là ǵ?
Kẻ thượng căn, là học tṛ tốt. Thượng
căn th́ một ngày có thể thuộc hai mươi hàng. C̣n
có đứa đặc biệt thông minh, một ngày có thể
thuộc sáu trăm chữ, [kẻ như vậy] rất ít,
chẳng nhiều! Đứa thuộc bốn trăm chữ
th́ c̣n có. Trong một tư thục, thông thường là sẽ
có khoảng hai ba đứa có năng lực này. Kẻ là căn
tánh bậc trung sẽ thuộc mười hàng, từ
mười hàng cho tới mười lăm hàng. Kẻ căn
tánh bậc hạ th́ từ năm hàng cho đến mười
hàng, năm hàng là một trăm chữ. Mỗi ngày đọc
sách [như vậy đó].
Tiêu chuẩn là
mười lượt. Quư vị đọc mười
lượt bèn có thể thuộc, lấy điều này làm
tiêu chuẩn. Ví như chúng ta đối với một mặt
giấy này, một mặt gồm mười ḍng tức là
hai trăm chữ, sau khi quư vị đọc mười
lượt, vẫn không thuộc được, bèn giảm
bớt. Giảm bớt hai ḍng, c̣n tám ḍng. Vẫn không thuộc
được, lại giảm bớt hai ḍng, c̣n sáu ḍng. Nhất
định là mười lần bèn có thể thuộc
được. Điều này chẳng miễn cưỡng
tí nào! Mỗi cá nhân có tŕnh độ khác nhau; v́ thế,
đồng học cùng nhau học sách, mỗi người có
tiến độ (mức độ tiến triển) khác
nhau. Có người tiến độ mau, có người tiến
độ chậm, tùy theo năng lực học tập của
chính họ. Sau khi đọc mười lần có thể thuộc,
thầy đốc thúc tṛ phải đọc thuộc một
trăm lần. V́ sao? Tṛ sẽ chẳng quên mất. Ngày hôm
sau, khi lên lớp, trước hết là đọc thuộc
ḷng những ǵ đă học hôm qua cho thầy nghe, tức là
ôn tập; sau đấy, sẽ dạy bài hôm nay. Thâm nhập
một môn, huân tu lâu dài. Sách chẳng được giảng
giải, chỉ dạy quư vị đọc. V́ thế, sau
khi học xong Tiểu Học, những sách đă học sẽ
là suốt đời chẳng quên. Đến mai sau, quư vị
trưởng thành, ra làm việc trong xă hội, những ǵ quư
vị đă học đều có thể dùng được,
dẫn chứng kinh điển, chẳng cần tra cứu
tài liệu, tất cả đều ở trong đầu.
Tôi đă thấy
hai người là tiên sinh Phương Đông Mỹ và lăo cư
sĩ Lư Bỉnh Nam. Từ nhỏ, họ đă được
huấn luyện theo kiểu ấy. Bảy, tám mươi
tuổi, viết văn, dẫn chứng kinh điển, chẳng
cần phải tra sách. Chúng tôi hỏi thầy: “Thưa thầy!
Thầy đúng là tuyệt diệu quá!” “Anh có hiểu không? Khi
làm học sinh, do quỳ trên gạch mà thành ra như vậy
đấy!” Các cụ nói thật đấy, chẳng giả
đâu! Khi đó, nếu quư vị học chẳng thuộc,
thầy giáo sẽ phạt quỳ. Khi quỳ, chẳng phải
là quỳ suông, mà là quỳ trên miếng gạch, khiến
cho quư vị khó chịu đựng nổi. Quư vị chẳng
dụng công có được hay không? V́ thế, đúng là
chịu được nỗi khổ nhất trong các thứ
khổ th́ mới là người cao quư trong mọi người.
Thời cổ nói “thập tải
hàn song, tái nhất cử thành danh” (mười năm bên
song lạnh, đi thi một lần sẽ thành danh), quư vị
chẳng dụng công th́ làm sao được?
Do vậy, giáo dục
của Trung Hoa là một chữ Ái. Mục tiêu thứ nhất
là ǵn giữ [chữ Ái ấy]. Quư vị yêu thương cha
mẹ, yêu thương anh em, yêu thương gia tộc, vĩnh
hằng bất biến, suốt đời chẳng thay đổi.
Đấy là giáo dục thành công! Mục tiêu thứ hai của
giáo dục là phát huy rộng lớn cái tâm yêu thương ấy.
Không chỉ là yêu thương gia tộc của quư vị, mà
c̣n có thể yêu thương xóm giềng, nay chúng ta nói là quư
vị “có thể yêu thương xă hội, yêu thương quốc
gia, có thể yêu thương nhân loại”. Quư vị thấy
trong Đệ Tử Quy có dạy: “Phàm thị nhân, giai tu ái” (Phàm là người th́
đều phải yêu thương). Phải mở rộng
điều này, mở rộng đến mức yêu thương
nhân loại. Trong Phật pháp, càng nói rộng hơn, yêu thương
hết thảy chúng sanh, ngay cả động vật, thực
vật thảy đều yêu thương, c̣n bao gồm cả
khoáng vật, tức là thiên nhiên. Do vậy, giáo dục Trung
Hoa là “phụ tử hữu thân”
có cùng ư nghĩa với “từ
bi cố luyến” ở chỗ này, quư vị tiếp nhận
sự giáo dục ấy.
Người hiện
thời chẳng được tiếp nhận nền giáo
dục ấy. V́ thế, triển khai cái tâm ấy, người
khác sẽ hoài nghi quư vị. Họ hoài nghi là chuyện phải
lẽ, chúng ta chớ nên nói: “Họ hoài nghi, thôi đi! Chẳng
cần quan tâm đến họ nữa”. Như thế th́
sai mất rồi, chúng ta học những thứ này c̣n có tác
dụng chi nữa? Đă học th́ phải yêu thương
chúng sanh, đă học th́ sẽ yêu thương thế giới.
Đấy là giáo học của Nho và Phật, là cốt lơi
của nền giáo dục truyền thống, thật sự
có thể hóa giải tất cả hết thảy tranh chấp
và xung đột trên thế giới hiện thời, xác thực
là có thể hóa giải chúng, có thể đem lại an định
ḥa b́nh cho thế giới; chúng ta chớ nên không biết điều
này. Đối với Nho, đối với Phật, quư vị
đă học được bao nhiêu? Rốt cuộc là có
được bao nhiêu? Nh́n từ sự thực hiện ḷng
từ bi, nh́n từ mức độ sâu rộng của ḷng
từ bi, sẽ biết công phu của quư vị đạt
được bao nhiêu. Đấy là phương tiện thứ
nhất, quan trọng hơn bất cứ điều ǵ khác.
Phương tiện
thứ hai, “liễu tri chư hạnh”.
Liễu (了) là hiểu
rơ, “tri” (知) cũng là hiểu rơ. Chữ Hạnh (行) ở đây phải đọc giọng Khứ
Thanh, hiểu như là động từ, nghĩa là việc
làm của hết thảy chúng sanh, quư vị phải hiểu
rơ. Quư vị chẳng hiểu rơ, sẽ chẳng thể giúp
đỡ họ. V́ thế, quư vị phải hiểu rơ. Đặc
biệt là trong xă hội hiện tiền, các nghề nghiệp
đều nẩy sanh thói tệ. [Có biết rơ] nguyên nhân ở
chỗ nào, quư vị mới biết phải giúp họ như
thế nào! Chúng ta tiếp xúc rất rộng. Quư vị chẳng
tiếp xúc rộng răi, sẽ chẳng thể biết rộng
răi, chẳng hiểu sâu xa! Trong xă hội, mỗi quốc
gia, mỗi sắc dân, mỗi tôn giáo, các nền văn hóa
khác biệt, đều phải tiếp xúc. Quư vị đều
tiếp xúc, đều liễu giải, quư vị mới có
thể phát hiện cội rễ xung đột ở chỗ
nào, quư vị mới biết hóa giải, cứu chữa vấn
đề ấy tận gốc!
Tôi thường
nói với người khác: Tất cả những nỗi tệ
hại trong thế giới ngày nay đều có chung một
cội nguồn, chính là con người chẳng biết tự
yêu thương chính ḿnh! Chẳng biết tự yêu thương
chính ḿnh, họ sẽ chẳng biết yêu thương người
khác. V́ thế, họ chẳng biết “phụ tử hữu thân”. Chẳng biết điều
này, họ sẽ chẳng biết “nghĩa quân thần”, chẳng biết “phu phụ chi biệt” (vợ
chồng có trách nhiệm khác nhau), họ cũng chẳng biết
“trưởng ấu trật tự”
(tôn ty trật tự giữa kẻ lớn người nhỏ),
cũng chẳng biết “bằng
hữu hữu tín” (bạn bè giữ chữ tín), xă hội
lẽ nào chẳng loạn cho được? Con người
nếu thật sự biết tự yêu thương chính
ḿnh, chắc chắn sẽ chẳng dám làm chuyện thiếu
suy nghĩ, chắc chắn sẽ chẳng dám tạo tội
nghiệp. Tạo tội nghiệp, làm chuyện thiếu
suy nghĩ, lẽ nào chẳng có lỗi đối với
chính ḿnh? Phải tự yêu thương chính ḿnh. Làm thế
nào để chẳng có lỗi đối với cha mẹ?
Làm thế nào để không có lỗi với tổ tông? Làm
thế nào để chẳng có lỗi đối với thầy?
V́ thế, con người phải biết tự yêu
thương chính ḿnh.
Người thật
sự tự yêu thương chính ḿnh nhất định là
người tốt, tuân thủ quy củ. Kẻ biết tự
yêu thương chính ḿnh, quyết định sẽ học
tập các bậc thánh hiền. V́ sao? Các vị thánh hiền
đều biết tự yêu thương chính ḿnh, thời
thời khắc khắc mong nâng cao cảnh giới của chính
ḿnh. Trong Phật pháp nói là “phiền
năo khinh, trí huệ trưởng”. Phiền năo mỗi năm
một ít hơn, trí huệ mỗi năm một tăng
trưởng. Ư niệm ích kỷ mỗi năm một giảm
thiểu, ư niệm đại từ đại bi mỗi năm
một tăng trưởng, người ấy biết tự
yêu thương chính ḿnh. Biết “con
người tánh vốn lành”, biết chúng sanh và chính ḿnh
đều có Phật Tánh, đấy là tự yêu
thương chính ḿnh. Chỉ có tự yêu thương chính
ḿnh th́ mới hiểu “từ
bi cố luyến”, mới biết “phụ tử hữu thân”, mới có thể liễu
giải luân lư đạo đức. “Liễu tri chư hạnh” th́ mới có thể giúp
đỡ đại chúng. “Liễu
tri chư hạnh” là khế cơ; câu kế tiếp sẽ
là khế lư. Nay đă hết thời gian rồi, chúng ta nghỉ
ngơi mười phút.
***
Chư vị
đồng học, xin hăy ngồi xuống. Chúng ta lại xem
tiếp sáu thứ phương tiện, điều thứ
ba là “hân Phật diệu trí”
(ưa thích diệu trí của Phật). “Hân” (欣) ở
đây là ưa thích, [“hân Phật
diệu trí” là] ưa thích trí huệ của Phật. Nói
thật ra, trí huệ của Phật chính là trí huệ vốn
sẵn có trong tự tánh của chính ḿnh. Đó là trí huệ
chân thật. Nay chúng ta thấy đức Phật có [loại
trí huệ ấy]. Quư vị thấy trong cuộc sống, công
việc (công việc của Ngài là giáo học), đăi người
tiếp vật, đức Phật đều tỏ lộ
trí huệ viên măn khôn sánh, xác thực là khiến cho chúng ta cảm
thấy yêu thích khôn cùng. Do ưa thích, chúng ta sẽ mong đạt
được, làm thế nào để có thể đạt
được trí huệ giống hệt như chư Phật
Như Lai? Đức Phật nói rất hay, chỉ cần
có thể trừ bỏ một tầng chướng ngại
nơi trí huệ và đức năng trong tự tánh, trí huệ
liền hiện tiền. Chướng ngại là ǵ? Vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. Vô lượng
vô biên phiền năo và chướng ngại, nói chung chẳng
ra ngoài ba loại lớn ấy! V́ thế, A La Hán buông xuống
chấp trước, đối với hết thảy các
pháp thế gian và xuất thế gian đều chẳng c̣n
chấp trước nữa. Chúng ta có chịu buông chấp
trước xuống hay không? Buông chấp trước xuống,
sẽ gọi là Chánh Giác. Quư vị thấy trong Phật môn
mong cầu điều ǵ? Tôi nghĩ các đồng học
đều biết, chúng ta thường xuyên thấy kinh nhắc
đến A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Câu này là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán,
sẽ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. [Từ ngữ
ấy] có thể phiên dịch, chẳng phải là không thể
phiên dịch. Có thể phiên dịch, cớ sao chẳng phiên
dịch? Do tôn trọng, nên chẳng phiên dịch, v́ chuyện
này là mục tiêu mong cầu chung cực của người
học Phật chúng ta, là trí huệ viên măn sẵn có trong tự
tánh.
Trong ba loại chướng
ngại, buông xuống chấp trước, quư vị sẽ
đắc Chánh Giác. Quư vị thấy: Đối với Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, quư vị đă đạt
được Chánh Giác. Trong phần trước, tôi đă
nói rất cặn kẽ cùng quư vị, Chánh Giác không ở trong
lục đạo. Trong lục đạo chẳng có Chánh
Giác, Chánh Giác ở chỗ nào? Trong tứ thánh pháp giới, [trí
huệ trong] tứ thánh pháp giới là Chánh Giác. Nếu lại
cũng có thể buông phân biệt xuống, chẳng phân biệt
pháp thế gian và xuất thế gian, lại phá một phẩm
vô minh, vô minh là vọng tưởng, lại phá một phần
vọng tưởng, quư vị sẽ là Chánh Đẳng Chánh
Giác. Chánh Đẳng Chánh Giác có bốn mươi mốt địa
vị; trong kinh Hoa Nghiêm, [trí huệ của các địa vị]
Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng,
Thập Địa, và Đẳng Giác đều gọi là Chánh
Đẳng Chánh Giác. Đoạn hết bốn mươi
mốt phẩm vô minh, tức là đoạn sạch vọng
tưởng, chứng đến quả vị cuối cùng,
gọi là Diệu Giác. Đẳng Giác lên cao hơn sẽ là
Diệu Giác. Diệu Giác là quả vị, gọi là Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tức là A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
V́ lẽ này, chúng
ta yêu mến trí huệ của Phật, mong khôi phục diệu
trí Bát Nhă sẵn có trong tự tánh của chính ḿnh. Quư vị
phải nên hiểu tầm trọng yếu của việc đoạn
phiền năo. Chớ nên có chấp trước! Hễ có chấp
trước, sẽ chẳng thoát khỏi lục đạo.
Hễ có phân biệt, sẽ không thoát mười pháp giới,
phải hiểu điều này. Chấp trước chính là
thức thứ bảy, tức Mạt Na. Phân biệt là thức
thứ sáu. Pháp Tướng Tông nói: “Chuyển thức thành trí”, chuyển thức thứ
bảy thành B́nh Đẳng Tánh Trí. Do vậy, chúng ta buông xuống
chấp trước, B́nh Đẳng Tánh Trí liền hiện
tiền. Tôi thường nói: “Nền ḥa b́nh trên thế giới
được kiến lập trên cơ sở đối đăi
b́nh đẳng”. Chúng ta đối với hết thảy
người, sự, vật đều bất b́nh đẳng,
thế giới sẽ chẳng có ḥa b́nh. Ḥa là quả, đối
xử ḥa thuận; cái nhân là đối đăi
b́nh đẳng. V́ sao tăng đoàn hiện thời chẳng
thể thực hiện Lục Ḥa Kính? Nếu tăng
đoàn Lục Ḥa Kính xuất hiện, trên địa cầu
này có một tăng đoàn Lục Ḥa Kính xuất hiện,
người trên cả thế giới đều được
phước, thật sự là đại nạn hóa thành tiểu
nạn, tiểu nạn hóa thành chẳng có nạn ǵ! V́ sao chẳng
làm được? Chúng ta thấy người khác bất b́nh
đẳng, chúng ta nh́n sự, nh́n vật cũng đều
bất b́nh đẳng! Ta ưa thích cái này, ta ghét cái kia,
đấy là chấp trước. V́ sao Tăng đoàn thời
đức Thế Tôn xưa kia có thể đối xử
ḥa thuận? Mỗi ngày tiếp nhận giáo huấn của
đức Phật, ai nấy đều y giáo phụng hành,
đều buông chấp trước xuống, chẳng c̣n chấp
trước nữa. Không chấp trước, tánh b́nh đẳng
hiện tiền, chúng ta nói là “chân
thành, thanh tịnh, b́nh đẳng”, điều này hết
sức trọng yếu. Do vậy, nhất định phải
thực hiện từ chỗ này.
Chấp trước
th́ chúng ta chẳng thể ngay lập tức đoạn
được. Thật đấy, chẳng giả đâu
nhé! Tập khí phiền năo đă dưỡng thành từ vô lượng
kiếp trước, há có thể ngay lập tức đoạn
hết đơn giản như vậy ư? Do đó, trong
Phật môn thường nói: “Lư
có thể đốn ngộ, Sự cần phải trừ
dần dần”. Trong Sự, cần phải rèn luyện
dần dần th́ mới có thể diệt trừ. Kinh chẳng
thể một ngày không đọc. Một ngày không đọc
kinh, nhất định là tập khí phiền năo của quư
vị sẽ tăng trưởng, sẽ không giảm bớt.
Chỉ có đọc kinh hằng ngày, phản tỉnh hằng
ngày, sửa lỗi hằng ngày, đổi mới hằng
ngày, như vậy th́ mới ḥng phiền năo ngày một nhẹ
bớt, trí huệ ngày một tăng trưởng. Đó là
đúng! Kinh không chỉ là phải nghe, mà c̣n phải giảng,
càng giảng càng hiểu rơ! Giảng, không có ai nghe ư? Dẫu
không có ai nghe, cũng giảng. Thời cổ, “Sanh công thuyết pháp”, tức
là ḥa thượng Đạo Sanh thuyết pháp, không có ai
nghe. Ngài chất một đống đá lớn đặt
ở đó, đối trước đá giảng. V́ thế,
đá gật đầu. Chuyện này đă ban cho chúng ta một
sự khải thị rất lớn. Nay chúng ta giảng
kinh không có ai nghe, trên tầng chín là Vạn Tánh Tổ Tiên Kỷ
Niệm Đường, chúng ta có thể đối trước
hơn một vạn hai ngàn bài vị của tổ tiên
để giảng, thính chúng rất đông. Quư vị hiểu
rơ đạo lư này, giảng kinh sẽ chẳng thể gián đoạn.
Xác thực là
trong những năm qua, đă có rất nhiều tin tức đặc
biệt cho tôi biết, chúng sanh trong chín pháp giới đều
đang nghe kinh Hoa Nghiêm. Tin tức ấy truyền đến
khiến cho chúng tôi cảm động, hoan hỷ không chi lớn
bằng. Chẳng phải là không có ai nghe, mà là thính chúng quá đông!
Đấy là quư vị đọc mỗi ngày, giảng mỗi
ngày. Chỗ có cây cối, hoa cỏ, được lắm
chớ! Giảng cho cây cối, hoa cỏ nghe, dạy và học
tăng trưởng lẫn nhau! Quư vị có thể làm
như vậy, trong tương lai, pháp duyên nhất định
là hết sức thù thắng. Đấy là điều khẳng
định.
Điều phương
tiện thứ tư là “bất
xả sanh tử”. Xả thân, thọ thân trong chín pháp giới,
chẳng vứt bỏ. Câu này có nghĩa là ǵ? Giống như
chư Phật, Bồ Tát, “ngàn
xứ khẩn cầu, ngàn xứ ứng”. Hễ chúng sanh
có cảm, Bồ Tát bèn có ứng. Chúng sanh khải thỉnh,
chúng ta phải đến giảng, chỉ cần có người
[khải thỉnh]! Thế gian trong hiện tại có rất
nhiều tai nạn, phàm là đạo tràng có chánh pháp đều
có thể giúp hóa giải tai nạn. Dẫu chẳng thể
hoàn toàn hóa giải tai nạn, tai nạn lớn sẽ đổi
thành tai nạn vừa, tai nạn vừa hóa giải thành tai
nạn nhỏ, tai nạn nhỏ hóa thành chẳng có tai nạn.
Đấy là điều khẳng định! Thời gian
tai nạn dài, có thể rút ngắn thời gian, chúng ta có thể
tin tưởng, chẳng hoài nghi điều này. V́ thế, hễ
con người trọn đủ “từ bi cố luyến”, chắc chắn là nơi
nào có tai nạn, sẽ đến nơi ấy để hoằng
pháp, đến đó giảng kinh hoằng pháp, tu hành đúng
như lời dạy, ta và người đều
được lợi. Không chỉ là ta lẫn người
cùng được lợi, mà dương thế và âm gian
đều cùng lợi lạc. Đấy là “bất xả sanh tử”. Dẫu cho dưới một
t́nh huống nào đó, hy sinh thân mạng cũng chẳng tiếc
nuối, cũng chẳng có mảy may lưu luyến. V́ sao?
V́ chính ḿnh tiếp nhận giáo huấn của đức Phật,
đă liễu giải rơ ràng, minh bạch, hết thảy
chúng sanh có sanh tử hay không? Chẳng có! Sanh tử là thay
đổi một cảnh giới mà thôi. Khoa học hiện
thời nói đến “các chiều
không gian khác nhau”, chúng ta nói là “thay
đổi băng tần TV” mà thôi. Chẳng có băng tần
này th́ băng tần kia hiện ra, lấy đâu ra sanh tử?
Người có thể
thật sự tu hành, trong phần trước đă nói là “liễu tri chư hạnh”, bản
thân chúng ta hiểu rất rơ ràng: Sau khi chúng ta vứt bỏ
cái thân này, đời sau nhất định là càng thù thắng
hơn đời này ! V́ sao? Trong đời này, đoạn
ác tu thiện, tích lũy công đức, đều là tiến
cao hơn, chẳng đọa lạc xuống dưới.
Chết rồi sẽ được nâng
cao hơn viên măn, quyết chẳng đọa trong ba ác
đạo, quư vị nói xem: Thù thắng ngần ấy, há có
ǵ để kinh hoảng, sợ hăi? Chẳng có lẽ ấy!
Hết thảy v́ chúng sanh, chẳng v́ chính ḿnh. Dẫu người
khác hiểu lầm, chẳng liễu giải, hủy báng, vũ
nhục, hăm hại quư vị, thậm chí giết chết quư
vị, chúng ta chẳng có chút ḷng oán hận nào, mà là cảm
kích. V́ sao? Cảm kích kẻ ấy đă nâng ta lên cao hơn.
Cái thân này bị giết hại, [tức là] đă được
tiến lên cao hơn rồi! Người ấy đưa
ta lên cao hơn, chẳng phải là kéo ta xuống, mà là đưa
ta lên cao hơn. V́ thế, vĩnh viễn sống trong thế
giới cảm ơn! Kẻ chẳng thể khế nhập
cảnh giới ấy sẽ chẳng hiểu, người
khế nhập cảnh giới sẽ hiểu rơ.
Phương tiện
thứ năm là “luân hồi bất
nhiễm” (chẳng nhiễm trước luân hồi). Tuy
lục đạo luân hồi rất khổ, nhưng chúng
sanh khổ sở ở trong ấy rất đông, đúng
như đại nguyện của Địa Tạng Bồ
Tát: “Địa ngục chẳng
trống, thề chẳng thành Phật”, “ta chẳng vào địa ngục, ai vào địa
ngục”. Ta vào địa ngục để làm ǵ? Nhằm
cứu độ chúng sanh trong địa ngục, v́ những
điều này mà vào. Ư nghĩa này nhằm nói rơ: Nơi nào chúng
sanh có khổ nạn, người có tấm ḷng từ bi bèn
muốn đến đó, quyết định là chẳng
thể bỏ mặc, không hỏi tới! C̣n tham cầu
hưởng thụ ngũ dục, lục trần, chẳng
muốn cùng chịu đựng tai nạn với chúng sanh khổ
nạn, [tức là] chẳng có tâm từ bi! Kẻ chẳng
có tâm từ bi sẽ đọa lạc, phải biết điều
này. Người có tâm từ bi sẽ tiến cao hơn.
Luân hồi mà chẳng
nhiễm đắm là như thế nào? Chẳng có tâm luân hồi!
Bồ Tát vận dụng Bồ Đề tâm, chẳng phải
là luân hồi tâm. Luân hồi tâm là ǵ? Ích kỷ, tiếng tăm,
lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân,
si, mạn; đấy là luân hồi tâm. Nghiệp đă tạo
bởi luân hồi tâm đều là luân hồi nghiệp. Luân
hồi tâm tạo ra thân nghiệp, ngữ nghiệp, ư nghiệp,
toàn là luân hồi nghiệp, chẳng thoát khỏi lục
đạo luân hồi. Bồ Đề tâm chẳng phải
là luân hồi tâm, nghiệp đă tạo bởi Bồ Đề
tâm chính là tịnh nghiệp. Trong lục đạo luân hồi,
chẳng có quả báo của tịnh nghiệp, phải biết
điều này! Tịnh nghiệp rơ rệt, nông cạn nhất
chính là tứ thánh pháp giới; tịnh nghiệp sâu rộng
là thế giới Cực Lạc. Do vậy, người ấy
không thuộc trong mười pháp giới, chẳng ở
trong lục đạo. Ở trong lục đạo độ
chúng sanh, chỉ cần quư vị dùng Bồ Đề tâm,
chúng tôi đă nói rất minh bạch: Dùng “chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, Chánh Giác, từ
bi”, đấy chẳng phải là luân hồi tâm, sẽ ở
trong luân hồi mà quyết định chẳng nhiễm
đắm luân hồi, dùng cái tâm ấy! Dùng cái tâm ấy
để xử sự, đăi người tiếp vật
như thế, chắc chắn là sẽ thấy thấu suốt,
buông xuống, tự tại, tùy duyên, đó là điều khẳng
định. Niệm Phật quyết định sanh về
Tịnh Độ. Luân hồi bất nhiễm đấy!
Điều cuối
cùng trong sáu phương tiện là “xí nhiên tinh tấn”. Xí nhiên tinh tấn: “Xí nhiên” (熾然) là tỷ dụ, có trạng thái giống
như lửa mạnh cháy hừng hực. Chúng ta thường
nói là “dũng mănh, tinh tấn”,
quyết định chẳng biếng nhác, há có lẽ nào
đạo nghiệp chẳng thành tựu? Đương
nhiên là thành tựu. Trong sáu phương tiện ấy, ở đây, Thanh Lương đại
sư bảo: “Nhiếp Luận
quảng thuyết” (Nhiếp Luận rộng nói). Nếu
chúng ta muốn biết thêm, hăy xem trong Nhiếp Luận. Đấy
là phương tiện lực.
Lại xem tiếp
loại thứ tư là “duyên lực”.
(Sớ) Vị thiện hữu
khuyến phát.
(疏)謂善友勸發。
(Sớ:
Ư nói: Bạn lành khuyên lơn, phát khởi).
Đối với pháp thế gian
và xuất thế gian, duyên hết sức trọng yếu.
V́ thế, đức Phật dạy: “Chư pháp nhân duyên sanh” (Các pháp sanh từ nhân
duyên). “Duyên” ở đây là nói
đến bạn lành. Gặp bạn lành khuyên dạy quư vị,
quư vị bèn phát tâm, mới phát nguyện. Thật đấy!
Phật pháp xác thực giống như hư không tồn tại
trong thế gian, nhất là hiện thời, chúng ta lợi dụng
phương thức khoa học kỹ thuật cao, [sử
dụng] Internet và vệ tinh bao trùm toàn cầu. Bất luận
ở nơi chốn nào, bất luận thời gian nào,
đều có thể bắt sóng để xem. Nhưng có khá
nhiều người chẳng biết băng tần, chẳng
biết tiếp sóng như thế nào, có bạn bè giới
thiệu cho quư vị, quư vị liền trông thấy, duyên đă
chín muồi rồi! Nếu chẳng có cái duyên ấy, quư vị
phải thường xuyên đi tới, đi lui, ṃ mẫm
t́m kiếm. Đến chỗ nào? Đến các đoàn thể
tôn giáo. Chúng ta học Phật, tự viện, am đường
của Phật giáo trên khắp thế giới đều có.
Chỗ nào có tự viện Phật giáo, có thể đến
viếng cảnh, cũng có thể gặp gỡ thiện hữu,
tức là người hữu duyên! [Người ấy] giới
thiệu kinh sách và phương pháp tu học cho quư vị,
hoặc giới thiệu quư vị thân cận thiện tri
thức. Duyên ấy hết sức trọng yếu, thiện
hữu làm duyên. Chúng tôi chẳng mảy may hoài nghi chuyện
này!
Bản thân tôi vào
lúc hai mươi sáu tuổi được quen biết tiên
sinh Phương Đông Mỹ. Nếu chẳng do lăo nhân gia
giới thiệu, suốt cả đời này, chúng tôi chẳng
có duyên với Phật. Thuở trẻ, học theo những
tri kiến sai lầm, cứ ngỡ Phật giáo là mê tín, coi
Phật giáo là tôn giáo cấp thấp. V́ sao nói là cấp thấp?
Phiếm thần giáo, đa thần giáo, thứ ǵ cũng lạy!
Quan niệm sai lầm ấy rất sâu, rất khó dẹp
trừ. Nếu kẻ b́nh phàm muốn đem Phật giáo giới
thiệu cho tôi, tôi sẽ chẳng ngó ngàng tới; lại c̣n
ngược ngạo châm chọc kẻ ấy, gièm chê kẻ
ấy mê tín! Lúc tôi tuổi trẻ, thường thức cũng
rất phong phú, lại c̣n có chút tài ăn nói, mong biện định
với tôi quả thật chẳng phải là chuyện dễ!
Trong sự cảm nhận của tôi, thầy Phương
là một bậc trưởng thượng tôn kính nhất.
Ngài từ bi, yêu thương tôi, cùng vai vế với cha tôi.
Tôi học Triết với thầy, thầy dùng kinh Phật
làm tài liệu giảng dạy để giới thiệu Triết
Học trong kinh Phật. Do vậy, chúng tôi mới biết
trong Phật học có đại học vấn, trước
nay chưa hề nghe nói tới! Trước kia, cứ tưởng
Phật giáo là tôn giáo, nào biết nó là Triết Học! Do
được thầy Phương giới thiệu, tôi c̣n
thỉnh giáo lăo nhân gia: “Thưa thầy! Thầy học từ
nơi đâu?” Thầy phải kể ra nguyên nhân nguồn cội
cho tôi nghe, tôi mới tin tưởng.
Để tiếp
xúc Phật pháp, thầy chỉ dạy, nhất định
là phải từ kinh điển. Trải qua sự chỉ
dạy như vậy, tôi mới lợi dụng ngày nghỉ
đến chùa miếu để t́m kinh Phật. V́ thuở
ấy, kinh Phật được lưu thông với số
lượng quá ít, những tiệm sách thông thường
ngoài phố không bán. Thuở đó, tôi học Phật, tại
Đài Loan chỉ có ba nhà [xuất bản] in sách Phật, số
lượng đều rất ít. Thứ nhất là Khánh Phương
Thư Cục ở Đài Nam in sách Phật. Thứ hai là Thụy
Thành Thư Cục ở Đài Trung, cũng in kinh Phật,
nhưng c̣n in rất nhiều thứ khác, chẳng phải
là chuyên in sách Phật, nên số lượng rất ít, chẳng
dễ ǵ mua được! Thứ ba là tại Đài Bắc,
lăo cư sĩ Châu Kính Trụ lập một Ấn Kinh Xứ,
do mấy vị cư sĩ đóng góp chút ít tiền bạc,
in kinh nhằm kết duyên với mọi người. Đấy
là biếu tặng, chẳng phải là mua bán, số lượng
cũng rất ít. V́ thế, chẳng dễ t́m thấy sách Phật.
Chỉ có đến tự miếu để mượn
kinh sách chép lại, tôi c̣n sao được mấy bộ
kinh Phật.
Thiện hữu quan
trọng hơn bất cứ ǵ khác. Sau khi thầy
Phương giới thiệu, tôi bắt đầu xem kinh.
Xem kinh đương nhiên gặp khó khăn, nhưng thầy
Phương đă nói một câu hết sức hấp dẫn
tôi: “Kinh Phật chính là Triết
Học cao nhất trên toàn thể thế giới, học Phật
là sự hưởng thụ cao nhất trong đời
người”. Sức hấp dẫn ấy hết sức
mạnh mẽ, chính là “dục
lực” như chúng ta đang nói ở đây. Mong cầu,
trong ấy có những điều tốt đẹp dường
ấy, dẫu xem không hiểu, vẫn muốn xem! Xem một
lần không hiểu th́ xem hai lần. Xem hai lần không hiểu,
xem ba lần, dùi mài chẳng bỏ! Duyên đúng là rất thù
thắng. Sau hơn một tháng như thế, hàng xóm của
chúng tôi vốn không quen biết, có một đứa con gái
tám tuổi, thường đến chơi trong sân nhà tôi.
Thấy tôi đang xem kinh Phật, nó trở về kể
cho bố biết. Bố nó đến thăm tôi, ông ta là Phật
tử, nghe nói tôi đang xem kinh Phật, ông ta rất hoan hỷ,
hỏi: “Có gặp khó khăn hay không?” Tôi nói: “Có chứ!” “Có
cần người chỉ dạy hay không?” “Khó có quá! Ai vậy?”
“Chương Gia đại sư”. Về sau, chúng tôi biết:
Ông ta (người hàng xóm ấy) là một vị thân vương
ở Nội Mông, là người Mông Cổ, tức là Mẫn
Thân Vương dưới thời Măn Thanh, rất thân thuộc
với Chương Gia đại sư.
Vậy là tôi kết
duyên với Chương Gia đại sư, hết sức
hữu duyên. Tôi được Ngài chỉ dạy ba năm,
căn cơ Phật học từ chỗ này mà có. Mười
năm sau đấy, học giảng kinh với thầy Lư,
đều là do thiện hữu khuyên lơn, phát khởi! Ở
chỗ thầy Lư, chúng tôi vốn đến nghe kinh, đâu
dám phát tâm giảng kinh? Giảng kinh là do thầy Lư khuyên, thầy
khuyên nhiều lượt, tôi đều chẳng dám. Cuối
cùng, thầy có lớp dạy giảng kinh, dẫn tôi đến
xem. Họ lên lớp, thầy dẫn tôi đến coi. Coi
xong, hết buổi học, tôi thưa với thầy:
“Được, con cảm thấy có thể tham gia”. Đấy
là một duyên rất quan trọng trong các duyên!
Câu kế tiếp
là “sở duyên lực”.
(Sớ) Tức sở
quán sát bi trí chi cảnh.
(疏)即所觀察悲智之境。
(Sớ:
Chính là cái cảnh được quan sát bởi bi và trí).
Đây gọi là “sở duyên”, cũng có nghĩa là những cảnh giới mà quư
vị gặp gỡ ngay trong cuộc sống hằng ngày của
chúng ta. Cái duyên ấy ở ngay trong cuộc sống hằng
ngày, đặc biệt là trong sự tiếp xúc với người
khác. Chúng ta học Phật, đương nhiên là có rất
nhiều bằng hữu học Phật thường xuyên cùng
nhau nghiên cứu kinh giáo, thảo luận, trao đổi sự
tâm đắc trong tu hành. Ngoài những người ấy
ra, c̣n có những bằng hữu không học Phật, cũng
thường xuyên thích nói chuyện gẫu với quư vị.
Trong khi chuyện gẫu, nhất định là quư vị sẽ
nói tới Phật pháp. Họ hỏi, quư vị đáp. Họ
hỏi han, chính quư vị hăy ngẫm xem, bản thân quư vị
giải đáp cho họ, họ có thỏa ư hay là không? Những
điều này sẽ giúp chúng ta tiến bộ hết sức
to lớn! Đấy gọi là “giáo
học tương trưởng”. Giáo học không nhất
định là trong lớp học, không nhất định
là học tṛ thật sự. Quư vị phải hiểu đạo
lư này! Hằng ngày, thời thời khắc khắc, khắp
nơi, khắp chốn, hễ gặp người khác đều
có thể dạy học, đều thuyết pháp. Do đó,
giảng kinh, thuyết pháp, chẳng có ngày nào gián đoạn!
Nói năng bèn là giảng kinh, giải đáp là giáo học.
Đấy là Trí và Bi của quư vị. Bi là ǵ? Thành khẩn,
thật thà giúp đỡ người khác nhận biết Phật
giáo, Phật giáo chẳng phải là mê tín. Đấy là từ
bi, đấy là trí huệ. Trong Phật môn nói là “đại từ đại bi, cứu
khổ cứu nạn”.
Trong phần
trước, đă nói về cội nguồn của khổ
nạn rất nhiều, nói chung là do mê mất tự tánh tạo
thành. Trong tự tánh, có vô lượng trí huệ, vô lượng
đức năng (nay chúng ta nói là “tài nghệ”), vô lượng tướng hảo (người
hiện thời nói là “phước
báo”), đều là vô lượng! Sau khi đă mê mất tự
tánh, trí huệ, đức năng, tướng hảo
đều chẳng thấy nữa! Kinh luận Phật giáo
đă nói chuyện này rất nhiều, chúng ta phải tin
tưởng, phải giúp đỡ chính ḿnh, và cũng phải
giúp đỡ tất cả hết thảy chúng sanh. Đó
gọi là “Phật độ
người hữu duyên”. Ai có duyên? Quư vị nói, giới
thiệu với họ, họ có thể tin, có thể lư giải,
có thể làm theo, đấy gọi là “kẻ hữu duyên”.
Tôi theo thầy Phương học tập, về sau xuất
gia, tôi đến thăm thầy, thầy sững sờ:
“Anh thật sự làm à?” Tôi thưa: “Vâng ạ! Thầy giới
thiệu thứ tốt đẹp như thế, con đương
nhiên phải làm”. Thầy bảo: “Đúng rồi! Anh đi
theo con đường này là đúng lắm”. Tôi xuất gia,
thầy tôi, bạn học, bè bạn, cấp trên, chẳng
có một ai tán thành, đều nói: “Ngươi mê muội mất
rồi! Ngươi học Phật th́ được, chứ
học Phật chẳng nên mê man đến nỗi này”. Chỉ
có ḿnh thầy Phương tán thán, chỉ có thầy nói tôi làm
đúng, “anh đi theo con đường này là chánh xác”. Do vậy,
c̣n may mắn là có một người trí huệ như thế,
là người mà chính tôi bội phục nhất trong ḷng, Ngài
đă ấn chứng tôi đi theo con đường này là đúng!
Thầy c̣n rất
thận trọng dặn ḍ tôi một nhiệm vụ, là ǵ? Hài
ḥa xă hội. Khi đó, chúng tôi tuổi trẻ, chẳng có sức
quan sát nhạy bén như thầy. Thầy bảo tôi: “Chúng
ta ở Đài Loan, người trong tỉnh này và người
ngoài tỉnh (người đến từ Trung Hoa Đại
Lục) cư xử với nhau hoàn toàn chẳng thuận thảo
cho lắm”. Do vậy, thầy dặn tôi: “Do thân phận này,
anh làm chuyện đỉều ḥa, hóa giải rất thuận
tiện”. Đối với những điều thầy dặn
ḍ tôi khi ấy, nay tôi mở rộng giáo huấn của thầy.
Trên thế giới có khá nhiều xung đột, trong giới
học thuật, hoặc trong xă hội thường nói: “Trừ khử xung đột,
xúc tiến ḥa b́nh”. Tôi tham gia đại học, trong đại
học có học viện ḥa b́nh, giúp đỡ nhà trường,
đại diện nhà trường tham dự hội nghị
ḥa b́nh của Liên Hiệp Quốc, tôi dùng từ ngữ “hóa giải xung đột, xúc tiến
an định ḥa b́nh”. Chúng tôi vĩnh viễn chẳng quên
giáo huấn của thầy, thầy từ bi quá!
“An định, ḥa
b́nh” là niềm mong mỏi chung của toàn thể nhân loại.
Có ai chẳng mong mỏi an định? Có ai chẳng trông
mong ḥa b́nh? Thực hiện từ nơi đâu? Thực hiện
từ chính bản thân chúng ta! Đầu tiên là hóa giải sự
đối lập với hết thảy mọi người,
đối lập với hết thảy sự ngay trong nội
tâm của chính ḿnh, khiến cho chúng ta trước hết là
tâm b́nh khí ḥa th́ mới có thể ḥa hợp với đại
chúng, hài ḥa với muôn vàn quốc gia. Đấy chính là “quan sát bi trí chi cảnh”. Có phải
là viên măn hay không? Chẳng viên măn! Viên măn là phải nói đến
hết thảy chúng sanh trong khắp pháp giới hư không
giới. Thế giới Sa Bà có mười pháp giới, hết
thảy các cơi Phật đều có mười pháp giới.
Chúng sanh trong mười pháp giới của thế giới
Sa Bà chẳng ḥa thuận, các pháp giới trong các cơi Phật
khác cũng chẳng khác biệt cho
mấy. V́ thế, công tác ḥa thuận phải là trọn khắp
pháp giới hư không giới th́ mới là viên măn. Đều
làm từ nội tâm của chính ḿnh; hễ ĺa khỏi nội
tâm của chính ḿnh, xác thực là chẳng có một pháp nào để
có thể đạt được cả! A! Hôm nay đă hết
thời gian rồi, chúng tôi nói tới chỗ này!
Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm Kinh
Phẩm thứ mười một,
Tịnh Hạnh Phẩm
Phần 8 hết
[1] Nhiếp Luận
(gọi đầy đủ là Nhiếp Đại Thừa
Luận, Mahāyāna-samgraha) do Vô Trước
Bồ Tát biên soạn. Bộ luận này có hai bản dịch
bằng tiếng Hán (bản thứ nhất do ngài Phật
Đà Phiến Đa dịch vào thời Bắc Ngụy, bản
thứ hai do ngài Huyền Trang dịch vào đời
Đường). Bản Nhiếp Luận đời
Lương nói ở đây chính là bản chú giải bộ
Nhiếp Luận, có tên là Nhiếp Đại Thừa Luận
Thích (do Thế Thân Bồ Tát biên soạn) được
ngài Chân Đế dịch sang tiếng Hán vào cuối đời
Hậu Lương. Bộ này có nhiều bản dịch,
ngoài bản dịch của ngài Chân Đế, c̣n có bản
dịch thứ hai là của nhóm các vị Cấp Đa, Hành
Cự v.v… phiên dịch vào đời Tùy. Bản cuối
cùng do ngài Huyền Trang dịch. Từ bản này, ngài Huyền
Trang lại triển khai các giáo nghĩa, soạn thành bộ
Thành Duy Thức Luận.
[2] Do Minh (明) và Danh (名) đều đọc là
Míng nên ḥa thượng phải nói rơ như vậy, v́ sợ
người nghe hiểu lầm là “danh sư” thay v́ “minh
sư”.
[3] Vô Tánh Nhiếp
Luận là một tác phẩm chú giải Nhiếp Đại
Thừa Luận, mang tên Nhiếp Đại Thừa Luận
Vô Tánh Thích do ngài Vô Tánh biên soạn. Bản chú giải này
được ngài Huyền Trang dịch sang tiếng Hán
thành mười quyển.
[4] Đài ngữ (Tâi-gú) là ngôn ngữ được sử dụng phổ
biến tại Đài Loan ngoài tiếng Phổ Thông, nhưng
chưa bao giờ được coi là ngôn ngữ chính thức.
Thậm chí vào năm 1980, đă có đề nghị chánh phủ
cấm dùng Đài ngữ trong công sở và trường học.
Kể từ năm 2011, Đài Ngữ mới được
chính thức công nhận như ngôn ngữ chính thức của
đảo quốc này. Thật ra, đây là một loại
phương ngôn của vùng Mân Nam tỉnh Phước Kiến,
chủ yếu là giọng nói của người thuộc
Tuyền Châu và Chương Châu tỉnh Phước Kiến,
pha trộn một số từ vay mượn từ tiếng
Hà Lan và Nhật Bản, cũng như các thứ tiếng của
thổ dân Đài Loan.
[5] Do thời cổ
in sách lên một trang giấy dài, rồi xếp lại thành
sách, sao cho hai mặt giấy có chữ đâu lưng với
nhau, khâu gáy thành sách. Cổ nhân gọi “trang” tức là một
nếp gấp ấy, mỗi trang đều có hai “mặt”.