Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư
中峰三時繫念法事全集講記
凈空老法師主講
地點: 澳州凈宗学會
寳光字弟子如和譯
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Giảng tại Tịnh Tông Học
Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Dẫn Nhập
Lần
đầu tiên mạt nhân được biết đến
Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm là vào năm 2001 trong kỳ
Phật Thất mùa Thu tại Tịnh Tông Học Hội
Dallas. Do không biết tiếng Quan Thoại nên chúng tôi không
nghe ra các âm thanh tụng niệm để theo kịp khóa niệm;
nhờ đó, chúng tôi có dịp thong thả đọc từng
trang Tam Thời Hệ Niệm và nhận thấy đây là một
tác phẩm vô cùng quư giá cho Tịnh nghiệp hành nhân.
Thoạt
nh́n, dễ hiểu lầm đây chỉ là một thứ khóa
tụng nhằm hồi hướng cho các vong linh sau khi Phật
thất viên măn. Thế nhưng, càng đọc kỹ, càng
thấy mỗi một lời khai thị trong bản pháp sự
khoa nghi này đúng là kim chỉ nam cho người tu Tịnh
Độ. Càng đọc, chúng tôi càng nhận thấy tư
tưởng của Trung Phong quốc sư qua những lời
khai thị hoàn toàn nhất quán với tư tưởng của
lịch đại tổ sư Tịnh tông. Dường
như, trong các trước tác, ngài Ngẫu Ích chịu ảnh
hưởng của ngài Trung Phong rất nhiều, nhưng
do kiến văn thô lậu, hữu hạn, chúng tôi không dám
đoan chắc điều này. So với tác phẩm Tịnh
Độ Sám Nguyện của ngài Tuân Thức, ư nghĩa,
văn chương, khai thị, thứ tự tác pháp của
Tam Thời Hệ Niệm đều vượt trội. Nhất
là trong pháp sự này, đối tượng quy kính hoàn toàn
chuyên nhất nơi Tây Phương Tam Thánh, không lễ bái
quá nhiều danh hiệu thập phương chư Phật,
Bồ Tát, Thanh Văn Tăng như trong Tịnh Độ
Sám Nguyện, khiến tư tưởng “nhất tâm
chuyên niệm, hồi hướng phát nguyện văng sanh”
của Tịnh tông càng được củng cố mạnh
mẽ, người hành tŕ cũng dễ chú tâm hơn.
Đă từ lâu mạt
nhân mang tâm nguyện phiên âm, chuyển ngữ pháp sự khoa
nghi này, nhưng đành bó tay v́ văn chương của ngài
Trung Phong quá cô đọng, hầu như không cách nào gượng
dịch được. May mắn sao! Mùa Thu năm nay
(2004), chúng tôi t́m được bản Giảng Kư về
khoa nghi pháp sự này của lăo pháp sư Tịnh Không trên
trang nhà Hoa Tạng Phật Giáo Đồ Thư Quán. Xin trân
trọng diễn nôm, với tâm nguyện giúp cho những
hành nhân Tịnh tông có thêm tài liệu làm kim chỉ nam ḥng củng
cố chí thú nhất tâm chuyên niệm, hồi hướng
văng sanh. Chúng tôi hoàn toàn tâm đắc lời Ḥa Thượng
Tịnh Không khai thị: Ngoài năm kinh một luận Tịnh
Độ, mỗi hành nhân Tịnh Độ nên thường
đọc đi đọc lại pháp sự này, tùy văn
nhập quán để phần nào thể hội ư chỉ “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh
Độ”; để từ đó, sự lư viên dung, sự
sự vô ngại, niệm niệm chẳng rời A Di
Đà Phật.
Dưới mỗi câu
trong chánh văn trong pháp sự khoa nghi, chúng tôi tạm dịch
thành đôi ḍng tiếng Việt để phô bày phần nào
huyền nghĩa của chánh văn. V́ sức học quá hạn
hẹp, thiếu hẳn văn tài, lời văn vụng về,
thô kệch, què quặt, không thông suốt, chúng tôi không dám gọi
đây là bản dịch, mà chỉ gọi là “bản chuyển
ngữ”. Để người đọc tiện theo dơi, chúng
tôi tự tiện đánh số chia khoa mục và đặt
tiểu đề. Do nguyên cảo là một bản ghi chép
trung thực lời Ḥa Thượng giảng trong nhiều
ngày, nên có những đoạn được Ḥa Thượng
nhắc đi nhắc lại đôi ba lần. Khi chuyển
ngữ, chúng tôi vẫn giữ nguyên như thế, không tỉnh
lược, ngơ hầu người đọc có thể
tưởng tượng như đang trực tiếp tham
dự pháp hội giảng kinh của Ḥa Thượng.
Trong khi đang dịch
nháp bài giảng này, chúng tôi thấy có những vị thiện
tri thức khác cũng đang dịch băng giảng, nên
chúng tôi đă bỏ dở, không làm nữa, nhưng rồi
nuối tiếc, nên đành chuyển ngữ tiếp cho đến
khi hoàn thành cảo bản vào cuối năm 2005. Do nghĩ bản
chuyển ngữ này là việc làm dư thừa, coi như một
tài liệu chỉ dành riêng cho chính ḿnh học hiểu Trung
Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự, chúng tôi giữ
nguyên h́nh thức mộc mạc, trúc trắc của nó để
đăng tải trên trang nhà Di Đà Nguyện Hải
(niemphat.net), v́ nghĩ sẽ chẳng ai bận tâm đọc
nó sau khi đă có băng giảng được lưu hành.
Cho tới cuối năm 2010, trong một cuộc điện
đàm, sư huynh Đức Phong đă có nhă ư muốn ấn
hành bài giảng này để giúp cho những đồng tu
cao tuổi, khó thể đọc lâu trên Internet, có thể
thuận tiện tra cứu khi cần thiết, dễ dàng đánh
dấu chương nào, phần nào cần thiết để
đọc đi đọc lại từng phần lời
giảng, suy ngẫm ḥng thấu hiểu để thực
hành hạnh “tùy văn nhập quán” như lăo pháp sư Tịnh
Không đă ân cần chỉ dạy. Vâng lời từ huấn
của sư huynh Đức Phong, chúng tôi tu chỉnh, điều
chỉnh cách chấm câu chưa hợp lư, ghi thêm chánh văn
tiếng Hán, diễn nôm một số từ ngữ Hán Việt
không phổ biến, cũng như nhuận sắc cho lời
văn đỡ thô vụng, quê kệch hơn, cũng như
sửa lỗi chánh tả. Dẫu đă cố gắng hết
sức, nhưng tài cùn, trí cạn, thiếu hẳn sự tu
tŕ, kiến thức chắp vá, lơ mơ, chắc chắn
sẽ có những sai sót không thể nào tha thứ được
trong bản chuyển ngữ ngô nghê này, ngưỡng mong các
liên hữu xa gần sẽ rộng ḷng từ bi lân mẫn
chỉ giáo, phủ chính.
Nếu việc làm liều lĩnh
này của chúng tôi có công đức nào th́ xin hồi hướng
công đức ấy lên bổn sư thượng Giải
hạ Thắng, trụ tŕ chùa Bửu Quang quận 7, Sài G̣n,
chư tổ sư hoằng truyền Tịnh tông Việt
Nam và Trung Hoa, lịch đại tổ tiên, phụ mẫu,
tông thân quyến thuộc, cũng như các liên hữu Vạn
Từ, Minh Tiến, Huệ Trang, Đức Phong luôn nâng đỡ,
khuyến khích chúng tôi mỗi khi “chân chùn, gối mỏi, ngă
ḷng, lười nhác”. Nguyện do công đức này, tất
cả Tịnh nghiệp hành nhân trong cơi Sa Bà này và mười
phương thế giới đều cùng được
viên thành chí nguyện, cùng hội ngộ nơi Tây
Phương Cực Lạc; tất cả chúng sanh trong
mười phương nghiệp đạo đều
thoát chốn u đồ, đồng sanh Tịnh Độ.
Trọng Đông năm 2010, Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa kính bạch
Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư
phần 1
中峰三時繫念法事全集講記
Chủ giảng: Lăo pháp sư
Thích Tịnh Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Tập 01
A. Giới
thiệu giản lược về tác giả
Trong giai
đoạn này, hằng tháng những Tịnh tông liên hữu
vào mỗi Chủ Nhật lại cử hành pháp sự Tam Thời Hệ Niệm một
lần tại Tịnh Tông Học Viện của chúng ta, thực
hiện rất hoan hỷ, nhưng có rất nhiều chỗ
trong những lời khai thị của thiền sư Trung
Phong họ chẳng hiểu rơ cho lắm. Lẽ
đương nhiên, họ chẳng thể “tùy văn nhập quán”. Bởi
thế, các đồng học đến t́m tôi, hy vọng
tôi sẽ giảng nghi thức này một lượt. Tôi nhớ
trong quá khứ đă từng giảng nghi thức này tại
Tân Gia Ba, nhưng giảng rất đơn giản. Tôi cũng
đọc tụng tập sách này mỗi ngày. Lời Thiền
Sư khai thị giản dị, nhưng ư nghĩa sâu sắc,
đúng như Phật pháp nói: “Bất
cứ một pháp nào cũng đều có thể giúp chúng ta
thành Vô Thượng Đạo”, bởi pháp nào cũng
đều viên măn; nhưng vấn đề là phải thông
hiểu, mà thông hiểu chẳng phải là chuyện dễ.
Quư vị đă yêu cầu, tôi cũng hoan hỷ. Chúng tôi lợi
dụng thời gian này để chúng ta cùng học kỹ tập
sách này.
Tựa
đề [của tập sách này] là Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm Pháp Sự Toàn Tập; trước hết,
chúng tôi giới thiệu cùng quư vị hai chữ Trung Phong.
Trung Phong là tên người. Thiền Sư pháp danh là thượng
Minh hạ Bổn, Minh (明) là quang
minh, Bổn là chữ bổn trong “bổn mạt” (本末: gốc ngọn). Trung Phong là biệt hiệu của
Ngài. Ngài là người huyện Tiền Đường,
Hàng Châu; đại khái là người ở Tiêu Sơn thuộc
Hàng Châu. Tiêu Sơn nằm bên bờ sông Tiền Đường.
Ngài sanh vào cuối thời nhà Tống, lớn lên dưới
thời Nguyên, là người thuộc giai đoạn Tống
mạt Nguyên sơ. Ở đây, chúng tôi cũng phải giới
thiệu nhà Nguyên đơn
giản như sau:
Ở Trung
Quốc, từ cổ đến nay, người thống
trị quốc gia là người Hán, Hán tộc. Trước
kia, các dân tộc khác đều sống tại ngoại quốc,
nay ḥa nhập thành dân tộc Trung Hoa. Dân tộc Trung Hoa có
năm mươi hay sáu mươi sắc dân bất đồng,
nhưng Hán tộc lớn nhất, dân số đông nhất.
Triều đại nhà Nguyên do người Mông Cổ kiến
lập, Thanh triều do người Măn Châu kiến lập,
đều thuộc ngoại tộc. Khi chưa thống nhất
th́ gọi họ là “ngoại tộc”, thống nhất rồi,
họ bèn ḥa lẫn vào Trung Quốc thành một thể. Bởi
thế, bản thân Trung Quốc là dân tộc đa nguyên
văn hóa, giống như một cái ḷ luyện lớn, vừa
có thể bao dung, vừa có thể đối xử ḥa thuận
với nhau, đối đăi b́nh đẳng. Đấy
chính là điều cổ thánh tiên hiền Trung Quốc
răn dạy, là thành tựu của văn hóa Trung Hoa.
Lănh tụ
Mông Cổ thời ấy là Hốt Tất Liệt (Khubilai),
là hậu duệ của Thành Cát Tư Hăn (Gengis Khan). Cuối
đời vua Lư Tông triều Tống, vào năm Cảnh
Định thứ nhất đời Tống Lư Tông - Cảnh
Định là niên hiệu, tức là năm 1260 dương
lịch, nói như vậy mọi người đều hiểu
rơ; năm nay là năm 2003. Nhà Nguyên của Mông Cổ lập
quốc vào năm 1260, nhằm vào năm Cảnh Định
thứ nhất thời Tống Lư Tông; Hốt Tất Liệt
trở thành Đại Hăn, tức vị (lên ngôi) tại
Khai B́nh. Khai B́nh nằm tại cực Bắc Nhiệt Hà
(Jehol), nay thuộc địa khu Mông Cổ, nằm ở
phía chánh Bắc thành Bắc Kinh. Hốt Tất Liệt lấy
niên hiệu là Trung Thống, sau đổi sang niên hiệu
khác; ông ta tức là Thế Tổ Hoàng Đế nhà Nguyên,
trong sử gọi là Nguyên Thế Tổ.
Tính từ
năm đầu Dân Quốc, triều Nguyên có trước
Dân Quốc 652 năm. Năm nay là năm Dân Quốc 92 (2003),
quư vị phải biết thời đại này, đích xác
là sáu trăm năm mươi hai năm cộng thêm chín
mươi hai năm nữa, hơn bảy trăm năm! Thời
đại nhà Nguyên cách nay đă hơn bảy trăm
năm rồi. Chẳng bao lâu sau (thời gian các hoàng đế
cuối đời Tống tại vị rất ngắn), vào
niên hiệu Hàm Thuần thứ bảy đời Tống
Độ Tông, tức là năm 1271, Mông Cổ lập quốc,
đổi quốc hiệu là Nguyên, năm thứ nhất
nhà Nguyên bắt đầu từ đó. Năm 1276, nhà Tống
mất nước, cũng là năm Mông Cổ thống nhất
toàn bộ Trung Quốc. Trung Quốc được thống
nhất hoàn toàn vào năm 1277, đấy chính là năm nhà
Nguyên góp mặt vào lịch sử Trung Quốc. Niên hiệu
của Nguyên Thế Tổ khi đó là năm Chí Nguyên thứ
mười bốn (1277). Nếu tính từ thời kỳ
Dân Quốc, năm ấy cách thời Dân Quốc sáu trăm
ba mươi lăm năm. Giới thiệu đơn giản
lịch sử nhà Nguyên Mông Cổ cùng quư vị như thế
đó.
Tiếp
đến, chúng tôi xin giới
thiệu người biên soạn
Tam Thời Hệ
Niệm: thiền sư Trung Phong . Thiền
sư Trung Phong sanh năm Quư Hợi, tức năm Cảnh
Định thứ tư đời Tống Lư Tông. Năm Cảnh
Định thứ tư chính là năm 1263 Tây lịch. Ngài
sanh nhằm ngày mồng Hai tháng Mười Một năm
1263. Theo truyện kư, Ngài họ Tôn, mẫu thân họ Lư. Bà mẹ
Ngài nằm mộng, mộng thấy “Vô Môn Khai đạo
giả, tŕ đăng lung chí kỳ gia, dực nhật toại
sanh”: Vị lăo nhân Vô Môn Khai[1] tay
cầm lồng đèn đi vào nhà bà, ngày hôm sau bèn sanh. Do
đây biết rằng: Mẫu thân Ngài nằm mộng ngày mồng
Một tháng Mười Một; ngày mồng Hai tháng Mười
Một bà bèn sanh một bé trai, đứa bé trai ấy là thiền
sư Trung Phong. Truyện kư ghi lại chuyện này, nay chúng
ta có thể tin tưởng được. V́ sao vậy?
Chúng ta nghe nói những chuyện như vậy rất nhiều,
đúng là có chuyện như vậy.
Đứa
bé ấy trở lại làm người, quyết định
chẳng phải là người tầm thường; nó oai
nghi đẹp đẽ chẳng giống mọi đứa
bé khác. Vừa mới biết đi, đứa bé ấy bèn
biết nói. Vừa mới biết đi, tức là [như
truyện kư chép] “tài ly cưỡng
băo” (vừa mới khỏi phải địu)[2],
nó liền biết nói, vừa mới biết đi đă biết
ngồi xếp bằng tịnh tọa. Vừa mới biết
nói đă biết xướng phạm bái[3].
Chơi với mấy bạn nhỏ khác, nếu quan sát kỹ,
tṛ chơi của chúng đều là Phật sự, giống
như những việc thuộc pháp hội nhà Phật. Nó
thích chơi những tṛ như vậy. Do đây, ta biết
đời trước nó là người xuất gia, mang
theo tập khí đời quá khứ. Căn bản là chẳng
có ai dạy, dẫu thời ấy Phật pháp rất thịnh
hành, nhưng một đứa bé nhỏ xíu như thế
không ai dạy, lại tự biết. Chẳng những
đời trước nó là người xuất gia, mà c̣n
chẳng phải là người xuất gia tầm thường;
nếu là hạng tầm thường sẽ chẳng thể
có thành tựu như thế.
Bổn
tích nhân duyên của Ngài, chúng ta là phàm phu chẳng thể biết
Ngài có phải là Phật, Bồ Tát ứng hóa hay không, rất
khó nói được. Phần lớn cuộc đời
Ngài trụ tại núi Thiên Mục. Có mấy vị đồng
học đă đến núi Thiên Mục rồi. Đương
nhiên Phật sự Hệ Niệm cử hành tại núi Thiên
Mục, chúng tôi tin tưởng nhất định
được thiền sư Trung Phong gia tŕ. Bất quá ở
mọi nơi trên thế giới, nếu chúng ta quán tưởng
núi Thiên Mục, quán tưởng thiền sư Trung Phong, th́
thời gian lẫn không gian chẳng bị chướng ngại,
đều có thể cảm ứng Tam Bảo, được
oai thần của Phật, Bồ Tát gia tŕ.
Năm Ngài lên chín tuổi,
mẹ mất; bởi thế, cũng có thể coi Ngài là một
cô nhi. Năm mười lăm tuổi, Ngài có ư niệm xuất
gia, nhưng cha vẫn c̣n sống. Thiền sư Trung Phong rất
hiếu thuận, dẫu có ư niệm xuất gia, nhưng
cha không đồng ư, bèn chẳng thể tùy tiện xuất
gia. Dù tại gia, nhưng trong nhà có Phật đường,
Ngài ở nhà lễ Phật nhưng lại đốt tay, “lễ
Phật nhiên tư” – “nhiên tư” (然臂) là đốt hương trên cánh tay, tại
gia cư sĩ thọ Bồ Tát giới đều đốt
hương trên cánh tay, người xuất gia đốt
trên đầu – “thệ tŕ ngũ giới” (thề giữ ngũ giới).
Mỗi ngày niệm kinh Pháp Hoa, kinh Viên Giác, kinh Kim Cang. Suốt
mười mấy năm ngày đêm tinh tấn, tối
cũng chẳng nghỉ ngơi, “dạ tắc thường
hành” (đêm thường
đi kinh hành). Hễ mệt bèn dộng đầu vào
cột để tự răn nhắc ḿnh.
Chúng ta
nghĩ thử xem, từ cổ đến nay, những
người thực sự biết dũng mănh tinh tấn
chẳng nhiều. Chúng ta thấy thiền sư Trung Phong
trước khi xuất gia, hành tŕ suốt mười mấy
năm như thế, chẳng phải là thị hiện cho
chúng ta thấy hay sao? Làm gương cho hàng hậu học lẫn
đại chúng đương thời. Chúng tôi hay nói “học
vi nhân sư, hạnh vi thế phạm” (học làm thầy
người, hạnh làm khuôn mẫu cho đời), Ngài làm
gương, nêu khuôn mẫu cho đại chúng. Người
học Phật chân chánh phải giống như vậy. Nhà
Ngài ở gần núi Linh Động, Ngài thường lên
đảnh núi tọa thiền. “Phủ quan” (đến
tuổi đội mũ) – tức là năm hai mươi
tuổi – “duyệt Truyền Đăng Lục” (là một
bộ ngữ lục của Thiền Tông, một ngàn bảy
trăm đoạn công án Thiền Tông được chép
trong sách này). Sách này rất dày, toàn là những câu chuyện về
những sự tu hành, khai ngộ, chứng quả trong nhà
Thiền.
Trong quá
khứ đă từng có người viết thư, người
này tham Thiền, [chuyện này có ghi trong] Ấn Quang Văn
Sao thiên nào tôi không nhớ. Khi tôi mới học Phật, lúc
c̣n chưa xuất gia, xem sách tại thảo am của pháp
sư Sám Vân ở Phố Lư, đọc Ấn Quang Văn
Sao. Đấy là công khóa đầu tiên pháp sư Sám Vân buộc
tôi phải đọc. Tôi sống ở trên núi ấy
năm tháng rưỡi, những sách tôi đọc là A Di
Đà Kinh Sớ Sao, A Di Đà Kinh Viên Trung Sao, A Di Đà Kinh
Yếu Giải. Pháp sư Sám Vân dạy tôi phải nỗ lực đọc thật kỹ ba bộ
sách ấy, đă thế lại c̣n phải lập đồ
biểu phân
khoa những cuốn sách ấy[4].
Ngoài ra là xem Ấn Quang Văn Sao.
Tôi nhớ có một người gởi thư
cho Ấn Quang đại sư, nói một ngàn bảy
trăm đoạn công án ấy, ông ta đều tham ngộ
thấu triệt phần lớn, nhưng vẫn c̣n có mấy
điều ông ta chưa hiểu. Ấn Quang đại
sư viết thư trả lời rất khéo. Sư nói: “Với một ngàn bảy
trăm đoạn công án ấy, nếu hiểu rơ
được một điều, ông sẽ hiểu toàn bộ;
nếu c̣n một điều chưa hiểu rơ tức là
ông chẳng hiểu toàn bộ”. Vị nhân giả ấy
sau khi nhận được thư của Ấn Quang
đại sư, giống như bị nước lạnh
xối vào đầu, tỉnh ngay, bèn buông bỏ chẳng
tham Thiền nữa, thật thà niệm Phật. Quư vị
phải biết, từ xưa, các tổ sư đại
đức thường dạy chúng ta: “Một ngộ, hết
thảy ngộ”. Vẫn c̣n một sự chưa ngộ
th́ cái ǵ quư vị cũng chẳng ngộ cả! Ngàn vạn
phần chớ tự nghĩ ḿnh khai ngộ, như thế
đúng là lầm đấy!
Tổ Ấn Quang gơ gậy ngay vào
đầu, chẳng đánh thức riêng ḿnh ông ta mà chúng ta
đều phải đề cao cảnh giác. Chúng ta khai ngộ
rồi chưa? Chớ hề! Khai ngộ thực sự, cổ
đức đă nói rất rơ: “Thông
một kinh, hết thảy kinh đều thông”. Chúng ta
đă thông một kinh hay chưa? Nếu thông rồi, hết
thảy kinh bày trước mặt chúng ta sẽ đều
chẳng có chướng ngại chi, như vậy mới
là thông! Hết thảy pháp thế gian bày trước mặt
quư vị chẳng chướng ngại ǵ. Pháp thế gian,
xuất thế gian hoàn toàn thông rồi, thế mới gọi
là “đại triệt, đại ngộ”, mới là đại
khai viên giải, chẳng dễ dàng đâu! Trước kia,
lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ rất cảm khái bảo
tôi: “Từ thời Mạt Pháp
trở đi, tức là từ nay trở đi, chúng sanh
không có khả năng”; cho nên chúng tôi kết luận rằng:
Chỉ có thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ, chỉ có con đường này là ổn thỏa,
thích đáng nhất, đáng tin cậy nhất. Ngài Trung
Phong là thiền sư, đích thật là bậc đại
triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh trong Tông Môn.
Quư vị xem đó, Ngài dạy chúng ta niệm Phật, tam thời
hệ niệm.
Vào lúc ấy,
có một vị xuất gia thấy Sư rất có thiên
tư, vị xuất gia ấy hiệu là Minh Sơn. Nh́n vào
danh hiệu ấy, chúng tôi cho rằng rất có thể
Sư [Minh Sơn] là đồ đệ của ḥa thượng
Cao Phong, v́ thuộc hàng chữ Minh. Minh Sơn đem ngài
Trung Phong đến núi Thiên Mục ra mắt thầy, vị
thầy ấy là thiền sư Cao Phong Diệu. Trong lịch
sử Thiền Tông, ḥa thượng Cao Phong cũng rất
nổi tiếng, Ngài là quốc sư đời Nguyên.
Môn giám của
thiền sư Cao Phong rất cao, thực sự là một
cao tăng hữu đạo (chúng tôi không nói “đắc
đạo”, mà nói “hữu đạo” là điều hết
thảy mọi người đều khẳng định),
nh́n người rất giỏi. Vừa trông thấy chàng
trai trẻ, Ḥa Thượng đặc biệt hoan hỷ, đặc
biệt hữu duyên, bèn ngay lập tức cho xuất gia. Trung
Phong thiền sư thưa: “Cha con chẳng cho phép, con chẳng
thể xuất gia”. Trong tâm Sư rất muốn xuất
gia, nhưng cha vẫn c̣n, cha chẳng thuận cho xuất
gia. Thiền sư Cao Phong bảo: “Ngươi quay về
khéo bàn bạc cùng cha, hy vọng cha ngươi đồng
ư cho ngươi xuất gia”. Đó là chuyện lúc ngài 20 tuổi.
Sau khi gặp
được thiền sư Cao Phong, Ngài bèn tiếp nhận
sự chỉ dạy của ngài Cao Phong. Bởi vậy, thành
tựu của một cá nhân dù là pháp thế gian hay xuất
gia gian đều chẳng có ngoại lệ, thầy dạy
rất quan trọng! Gặp được một vị
thầy thực sự cao minh chỉ dạy, quư vị tiến
bộ rất nhanh! Có một ngày, Ngài niệm kinh Kim Cang, niệm
đến câu “hà đảm Như Lai” (gánh vác Như Lai), niệm
đến đó “hoảng nhiên khai giải”, thực sự
là bỗng nhiên đại ngộ,
đại ngộ chứ chưa triệt ngộ, nhưng
có lợi cho Ngài rất nhiều. “Do thị nội ngoại
điển tịch, giai đạt kỳ nghĩa thú” (Do vậy nội ngoại điển
tịch[5]
đều nắm được ư nghĩa), đó là
ngộ vậy. Nội điển là kinh Phật, ngoại
điển là sách vở Nho Gia, Đạo Gia, bách gia chư
tử; những kinh sách như vậy đều có thể
thông đạt hết. Dẫu ngài Trung Phong đă ngộ nhập
cảnh giới, nhưng rất khiêm hư, chẳng
nghĩ ḿnh khai ngộ. “Thời niên nhị
thập hữu tứ”, năm ấy Ngài hai mươi bốn tuổi, “thật
Chí Nguyên Bính Tuất tuế dă” (đúng vào năm Bính Tuất
niên hiệu Chí Nguyên), năm Bính Tuất
trong niên hiệu Chí Nguyên là năm 1286 Tây lịch. “Minh
niên, tùng Cao Phong thế nhiễm ư Sư Tử Viện” (Năm sau, bắt đầu xuất
gia với Cao Phong tại Sư Tử Viện). Sư
Tử Viện là tên đạo tràng, chúng ta biết Ngài xuất
gia năm hai mươi lăm tuổi. Tụng kinh Kim Cang
giác ngộ vào năm hai mươi bốn tuổi, nội
ngoại điển tịch không c̣n ǵ chướng ngại
nữa.
Trước
kia, lăo cư sĩ Lư Bỉnh
Chính vào lúc
ấy, “dân gian ngoa truyền” (ngoa truyền tức là
chẳng phải thật, là đồn thổi, nay ta gọi
“ngoa truyền” là đồn đại), đồn
đại điều ǵ? “Quan tuyển đồng nam nữ”
(Quan lại phải tuyển
đồng nam, đồng nữ), tức là quan phủ
phải tuyển bé trai, bé gái. Việc ấy chẳng thật,
chỉ là lời đồn. Trung Phong bèn đến hỏi
thầy, Ngài nói: “Hốt hữu nhân lai vấn ḥa thượng,
thảo đồng nam nữ thời, như hà” (Nếu như chợt có người
đến hỏi Ḥa Thượng đ̣i đồng nam,
đồng nữ, th́ sao?): Thưa thầy, bên ngoài họ
đồn có người đến hỏi thầy bắt
đồng nam đồng nữ, th́ thầy làm sao? Cao Phong
Diệu Thiền Sư bèn nói: “Ta đưa cho người
ấy một cái trúc tỵ”. Tôi từng thấy cái trúc tỵ
(竹篦),hiện thời rất hiếm
thấy. Nó là cái lược chải đầu bằng
trúc, nhưng răng dày hơn
lược thường, răng rất khít, trước
kia dùng để gỡ đầu (người Việt gọi
là “lược bí”). Vào thời Dân Quốc kháng chiến, nó rất
phổ biến tại nông thôn và những thành phố nhỏ,
bây giờ không thấy nữa. Hiện thời, phần lớn
lược làm bằng chất nhựa hóa học đúc,
không thấy loại trúc tỵ ấy nữa. Nó là vật dụng
dùng để chải gỡ nam nữ đều dùng,
đàn bà dùng nhiều nhất.
Sư nói:
Nếu có ai đến hỏi tôi đ̣i đồng nam,
đồng nữ, tôi bèn cho nó [cái trúc tỵ] như vậy
đó! “Sư ngôn hạ đỗng nhiên” (Sư nghe nói xong, bèn rỗng rang):
Trung Phong thiền sư nghe câu nói ấy,
bèn bỗng nhiên đại ngộ, “triệt pháp nguyên
để” (thấu triệt
nguồn đáy pháp). Đó là đại triệt,
đại ngộ. Bây giờ chúng ta đọc đến
đoạn này có ngộ chút nào không? Đừng nói là đại
ngộ, ngay đến tiểu ngộ cũng không có, giống
như câu hỏi không được đáp, đấy chính
là phương tiện thiện xảo dạy dỗ của
thầy, người khác nghe chẳng hiểu; có thể nói
là “chạm đúng Thiền cơ, đả thông huyệt
đạo”. Câu “thấu triệt nguồn đáy pháp”
này rất phi thường. Từ đây, ta biết Sư khai ngộ năm hai mươi bảy tuổi,
khai ngộ rồi không ai biết, chỉ có thầy
Ngài biết, người khác không biết. Bởi thế, “lục
trầm chúng trung, nhân vô sở tri” (ch́m khuất trong chúng, không ai biết). Mọi
người cùng chấp tác trong đạo tràng ấy không
ai biết Ngài đă khai ngộ.
Tiếp
đấy, khi đó “Cao Phong thư chân tán phó Sư” (Cao Phong viết bài tán trao cho
Sư): Thiền sư Cao Phong là thầy Ngài, viết
cho Trung Phong mấy câu. Bốn câu ấy cũng thuộc Thiền
cơ, nay chúng ta đọc cũng chẳng hiểu. Ngài
nói: “Ngă tướng bất
tư nghị, Phật tổ mạc năng thị, độc
hứa bất tiếu nhi, kiến đắc bán biên tỵ”
(tạm dịch: “Ngă tướng
chẳng nghĩ bàn, Phật, tổ chớ coi thường,
riêng cho đứa con tệ, được thấy nửa
bên mũi”). Đây là lời thầy Ngài viết, khen ngợi
chỗ ngộ của Ngài, Ngài ngộ ǵ chúng ta không biết.
Chúng tôi đọc bốn câu kệ này của sư Cao
Phong, chúng tôi cũng không cách ǵ hiểu được.
Đúng là rốt cuộc quư vị ngộ nhưng vẫn
chẳng ngộ. Nếu lúc ngộ th́ sẽ hiểu từng
câu, từng chữ rành rẽ, nói với người
chưa ngộ cũng vô dụng. Bài kệ trên hoàn toàn giống
với một ngàn bảy trăm đoạn công án. Sau này
có những người tham học đến thỉnh giáo
ngài Cao Phong, Cao Phong thiền sư bảo bọn họ:
“Các ông có câu hỏi ǵ cứ đi hỏi ổng. Ông ta pháp
hiệu là Minh Bổn. Các ông qua mà hỏi ổng”. Cứ
như thế, dần dần mọi người biết
Trung Phong thiền sư thực sự có năng lực chỉ
dạy đại chúng.
Chúng ta biết
chắc chắn Sư mới hai
mươi bảy tuổi, tuổi tác chẳng lớn
lắm. Đương thời có vị xuất gia, “Hoài tăng Tử Chứng”,
Hoài (淮) là tên đất, Tăng là người
xuất gia, Tử Chứng là pháp hiệu, “thường vấn Cao Phong chư đệ tử ưu
liệt” (thường hỏi Cao Phong về các đệ
tử giỏi hay dở). Đại khái, chúng tôi cho rằng
vị này là người ngang vai vế với ngài thiền sư
Cao Phong Diệu. Có một lần, vị này hỏi Ḥa Thượng:
“Trong đám đệ tử ông có ai ưu tú, thực sự
khế nhập cảnh giới, có kiến địa
chăng?” Ngài Cao Phong nói: “Nhược
sơ viện chủ đẳng” (trước hết kể
từ hàng viện chủ),
ư nói toàn bộ đại chúng trong chùa, “nhất bán tri giải, bất đạo toàn vô” (kẻ
biết một phần, hiểu một nửa, chẳng thể nói là hoàn toàn không có ai), số người biết một
phần hiểu một nửa khá nhiều, Sư nêu tên mấy
vị, rồi mới nhắc đến Minh Bổn, “duy Bổn
Duy Na” (chỉ có thầy
Duy Na Minh Bổn), đại khái khi ấy, ngài Trung Phong giữ
chức Duy Na trong chùa, [nên gọi là] thầy Duy Na Minh Bổn.
Sư giữ chức Duy Na rất
hợp lư, v́ chúng ta thấy trong phần trước của
truyện kư có kể Sư vừa biết đi bèn biết
nói, biết xướng phạm bái. Chúng tôi cho rằng
đời trước Sư rất thông thạo phạm
bái, nhất định xướng rất hay; bởi thế,
nhà chùa thỉnh Sư giữ chức Duy Na. Thầy Duy Na Bổn,
Bổn tức là Minh Bổn, “can
thượng lâm tân hoàng” (là bụi trúc mới nổi giữa
rừng tre), dùng cách ví von này rất hay! V́ núi Thiên Mục khắp
nơi đều là trúc. Tôi từng đến chỗ ấy,
e rằng hơn một trăm dặm, hai trăm dặm
toàn là trúc. “Tha nhật thành tài vị
dị lượng dă” (Ngày sau thành tài chẳng dễ
lường nổi): Người ấy tiền đồ
tương lai vô lượng! Đặc biệt tán thán
Sư; trong tất cả đệ tử, Sư được
thầy đặc biệt coi trọng.
Đến
đời Nguyên Thành Tông, tức là hoàng đế thứ
hai của nhà Nguyên, là con của Hốt Tất Liệt, tên
là Thiết Mục Nhĩ (Temur). Ông ta làm hoàng đế,
đặt niên hiệu là Nguyên Trinh, tức vị vào năm
Nguyên Trinh nguyên niên, tức năm 1295. Tháng Mười Một
năm ấy, thầy của Ngài viên tịch. [Truyện kư
chép] “tương thiên hóa”
nghĩa là viên tịch; “dĩ Đại
Giác chúc Sư” (đem Đại Giác phó chúc cho Sư).
Đại Giác là tên chùa, đem đạo tràng ủy thác cho
Trung Phong thiền sư, “Sư
từ, thôi đệ nhất tọa Tổ Ung chủ chi” (Sư
thoái thác, cử vị thượng tọa đứng
đầu là Tổ Ung làm chủ [chùa ấy]); Ngài thoái
nhượng, chẳng làm trụ tŕ. Đến niên hiệu
Đại Đức (1297), Sư đi tham học khắp
cả một vùng từ Kim Lăng (Nam Kinh) tới An Huy. Năm
Mậu Tuất (1298), Sư trụ tại thảo am ở
Lô Châu. Trong thời gian đó, nếu nói như bấy giờ
là tiếng tăm của Sư ngày càng cao. Do trí huệ,
đạo đức, biện tài, tài giáo hóa chúng sanh của
Sư, người đến t́m Sư cầu đạo
ngày càng đông.
Thiền
Sư thích thanh tịnh, thích tấn tu. Xem trong hành trạng
một đời Ngài, thời gian Ngài trụ tại một
địa phương nào chẳng lâu, đều là tham học
các nơi, ở trong thảo am, cuộc sống rất
đơn giản, rất thô phác, quư vị có thể đọc
trong sách ghi về hành trạng của Ngài. Năm Quư Sửu
(1313), trong năm ấy có nhân duyên. Chúng ta biết lúc lăo nhân
gia trụ thế, nhằm lúc người Mông Cổ làm chủ
Trung Quốc; những nhân vật làm quan to, giữ chức
vị trọng yếu, hiển hách đều là người
Mông Cổ. Từ hoàng đế đến các quan đứng
đầu địa phương hết sức tôn kính
Sư. Nếu chẳng phải là bậc đạo đức
chân chánh dễ ǵ được. A! Bây giờ đă hết
thời gian rồi.
*
Chúng ta tiếp
tục xem hành trạng một đời của ngài Trung
Phong Thiền Sư. Ngài sanh vào cuối đời Tống,
Sư sống qua năm đời hoàng đế triều
Nguyên. Đầu tiên là Hốt Tất Liệt, tức Nguyên
Thế Tổ. Thứ hai là Thành Tông Thiết Mục Nhĩ,
thứ ba là Vơ Tông, thứ tư là Nhân Tông, thứ năm là
Anh Tông, sống suốt năm đời hoàng đế.
Năm
1313, nhằm thời đại Nguyên Nhân Tông, là đời
hoàng đế thứ tư của nhà Nguyên. Năm ấy, Thừa
Tướng lễ thỉnh pháp sư đến tư dinh,
ta thường gọi là Tướng Phủ, khẩn khoản
thỉnh thiền sư Trung Phong trụ tŕ Linh Ẩn Thiền
Tự. Ngôi chùa này rất nổi tiếng tại Hàng Châu. Quư
vị đều biết đời Tống có một vị
ḥa thường rất lừng danh là trưởng lăo Tế
Công, Tế Công trưởng lăo trụ tại chùa Linh Ẩn.
Nơi đây c̣n giữ rất nhiều di tích về Ngài, có
thể nói là đạo tràng bậc nhất của Hàng Châu.
Thừa Tướng khẩn khoản thỉnh Sư về
làm trụ tŕ. Thiền sư Trung Phong từ tạ. Trong
Tướng Phủ có một số quan lớn hiện diện,
lại lễ thỉnh, mọi người đều thỉnh,
tợ hồ đương thời không có ai có đạo
đức, được mọi người ngưỡng
vọng hơn Ngài cả!
Họ lại
thỉnh cầu Ngài thuận theo nguyện vọng của
đại chúng, mong Ngài sẽ làm trụ tŕ, nhằm khôi phục
lại đạo tràng này, xin Ngài đừng thoái thác. Lăo
nhân gia bèn nói một câu hết sức quan trọng. Ngài nói: “Phù trụ tŕ giả, tu cụ
tam chủng lực, thứ bất bại sự” (phàm trụ
tŕ th́ cần phải có đủ ba lực, mới khỏi
hỏng việc). Nói như bây giờ, làm trụ tŕ phải
có ba điều kiện th́ quư vị mới trở thành vị
trụ tŕ giỏi, hộ tŕ chánh pháp, giáo hóa chúng sanh. Ba
điều kiện ǵ vậy? Thứ nhất là đạo
lực, thứ hai là duyên lực, thứ ba là trí lực. Ba
điều kiện ấy rất trọng yếu. “Đạo là Thể, Duyên và Trí
là Dụng”. Phải thực sự có Đạo! Thế
nào là Đạo? Minh tâm kiến tánh là Đạo. Nói thật
ra, lăo nhân gia thực sự có đạo, ba điều kiện
đều hội đủ, v́ sao Ngài lại phải làm
như vậy? Nhằm giáo hóa đệ tử đời
sau. Ở đây, Ngài diễn tuồng, biểu diễn,
khiêm hư nói ḿnh thiếu đạo, chẳng có trí, chẳng
thể nói là không duyên. Pháp duyên của Ngài rất thạnh.
Đạo
là Thể, đạo là ǵ? Trong các chú sớ khác đă giảng
rất nhiều. Đạo là thực sự thông đạt,
hiểu rơ Thật Tướng của các pháp. Trong thế
gian này, bất cứ hoàn cảnh nào, thuận cảnh, nghịch
cảnh, thuận duyên, ác duyên, thực sự chẳng nhiễm
mảy trần. Kinh Kim Cang nói: “Phàm
sở hữu tướng, giai thị hư vọng... Nhất
thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh”
(Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng…
Hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt,
bóng), toàn là nói về sự
thật. Chẳng những pháp thế gian chẳng nhiễm
trước, mà Phật pháp cũng chẳng nhiễm trước,
đấy là chân chánh hữu đạo! Như trong kinh luận
thường hay nói “tùy duyên
nhưng chẳng phan duyên”, tùy duyên nhưng chẳng chấp
vào tướng tùy duyên. Đấy là điều kiện
đầu tiên. Nếu vẫn c̣n có một mảy vọng
tưởng, chấp trước chưa thể buông xuống
th́ sẽ không được! Làm sao anh có thể lănh chúng? Tự
ḿnh vẫn chưa có thành tựu th́ dẫn mọi người
đi về đâu đây? Chẳng cáng đáng nổi địa
vị ấy, trách nhiệm rất nặng!
Duyên, quan
trọng nhất là pháp duyên và nhân duyên. Pháp duyên và nhân duyên tốt,
làm việc dễ dàng, có người giúp đỡ, ít nhọc
ḷng. Nói như bây giờ là nhân lực, tài lực, vật lực
thảy đều là duyên. Quư vị trụ tŕ một đạo
tràng lớn nào, trong đạo tràng có nhiều người
cùng tu một chỗ, nếu nhân lực, vật lực, tài
lực khó khăn, tu hành ắt gặp chướng ngại.
Nhà Phật thường nói: “Pháp
luân vị chuyển, thực luân tiên” (bánh xe pháp chưa
chuyển, bánh xe ăn đă lăn trước). Nếu quư
vị ăn chẳng no, tu đạo rất nhọc nhằn.
Cuộc sống khổ sở một chút không quan trọng
lắm, nói chung, cốt sao ăn no, mặc ấm. Áo cũ
rách một chút cũng không sao, miễn sao chống
được lạnh. Trà thô, cơm nhạt, miễn sao
no dạ, tâm yên, đạo thạnh. Thân tâm bất an chắc
chắc tu hành có trở ngại, nhất là khi tiếp dẫn
kẻ sơ cơ, duyên rất trọng yếu. Xử sự,
tiếp người, đăi vật phải có trí huệ;
không có trí huệ sẽ chẳng thể viên dung.
Quư vị
thấy lăo nhân gia nói làm trụ tŕ phải có đủ ba
điều kiện như thế, trọng yếu nhất
là đạo. Đạo là Thể, duyên và trí là Dụng. “Hữu kỳ Thể, nhi khuyết
kỳ Dụng, thượng khả vi chi” (Có Thể mà
thiếu Dụng th́ vẫn có thể làm được): Có
đạo, nhưng duyên và trí chẳng đủ th́ vẫn
ổn. Khuyết điểm là “hóa
quyền bất châu, sự nghi bất bị” (quyền
giáo hóa chẳng trọn, sự nghi chẳng đủ), giáo
hóa chúng sanh chẳng viên măn lắm, chẳng thành công lắm,
trật tự lo liệu mọi việc chẳng hoàn bị.
V́ sao vậy? Do chẳng đủ trí, thường hay bị
sơ sót, vẫn cứ phải cho qua, làm miễn cưỡng!
“Sử đạo thể kư
khuy, tiện vô dị vô toán, tuy duyên dữ trí, diệc hề
vi tai” (Nếu đạo thể đă khuyết, th́ chẳng
khác ǵ không đáng kể đến nữa. Dù có duyên và trí
cũng chẳng làm ǵ được!). Đây là lời cảm
thán, nếu đạo thể chẳng có, chưa kiến
đạo, chưa ngộ đạo th́ cũng chẳng đáng
tính đến. Chữ “toán”
trong câu “vô dị vô toán” (chẳng
khác ǵ không đáng tính đến) là tính toán. Dù có chút duyên và
trí, vẫn là vô dụng, chẳng cách nào bổ cứu
được!
Nói cách
khác, hoằng pháp lợi sanh, nối tiếp huệ mạng
Phật, việc ấy anh làm chẳng được. Nếu
“Thể, Dụng tịnh khuyết,
nhi mạo yên cư chi, viết nhân, viết quả” (Thể,
Dụng cùng khuyết, cứ mạo muội nhận lănh,
nói nhân, nói quả): Đây là trách nhiệm phải gánh lấy
nhân quả. Quư vị có sợ nhân quả hay không? Chẳng
có Thể cũng chẳng có Dụng, duyên chẳng đủ,
duyên chẳng đủ sẽ thành ǵ? Thành ra phan duyên! Ngày
ngày ở trong nhà vắt óc, tà tri, tà kiến, nghĩ mọi
phương pháp phan duyên, thật là lầm lạc quá sức,
khởi tâm động niệm không ǵ chẳng phải tội!
Pháp duyên
do đời trước, đời này kết thành, tự
nhiên xảy đến. Nếu khởi tâm động niệm
toan đi ra ngoài hóa duyên (kêu gọi quyên góp) là lầm mất
rồi, chẳng có đạo ǵ cả! Chúng ta hăy lắng
ḷng quan sát tổ sư đại đức Trung Quốc
trong các đời, các Ngài kiến lập đạo tràng
giáo hóa chúng sanh, duyên đều tự động
đưa đến, đă vậy, c̣n sao nữa? [Các Ngài]
có muốn cự tuyệt cũng cự chẳng được.
Người ta thành tâm thành ư đến chỗ Ngài tu bố
thí cúng dường, họ đến tu phước, tuyệt
đối chẳng cần chèo kéo họ. Đối với
danh vọng, hễ thật tu bèn được tiếng,
chẳng phải như trong hiện tại, dùng đủ
mọi phương pháp để được nổi
danh, chẳng phải vậy! Người tu đạo phải
làm như thế nào? Nhất định chẳng được
phan duyên. Hoàng đế triệu kiến thiền sư Trung
Phong mấy lượt, Ngài chẳng đến chầu!
Rốt
cuộc, Thiền Sư vẫn từ khước trụ
tŕ chùa Linh Ẩn. Lời Ngài vừa nói đó đáng để
cho chúng ta ngày nay phản tỉnh. Nếu chính chúng ta kiến
lập một đạo tràng, quư vị phải dùng tiêu chuẩn
của Ngài để cân nhắc: Rốt cuộc, đối
với Phật pháp, đối với xă hội, đối
với chúng sanh, chúng ta có công hay có tội vậy?
Đời
Nguyên Nhân Tông, tức đời hoàng đế thứ
tư, năm Mậu Ngọ, tức năm 1318, tháng Chín
năm ấy, Nhân Tông hoàng đế phán cùng các đại
thần thân cận: Ta từng nghe đến đạo hạnh
của ḥa thượng Trung Phong núi Thiên Mục, đă nghe
tiếng từ lâu, “lũy dục
chiêu nhi lai” (nhiều lượt muốn xuống chiếu
vời đến), “lũy”
(累) là nhiều lần, chẳng phải chỉ
một lần. Nhiều lần nghĩ xuống chiếu buộc
Sư tiến kinh. Các đại thần đều nói
Sư không khỏe, “liêu mỗi
vị kỳ hữu tật” (thường viện cớ
bị bệnh), thân thể không khỏe, không cách nào phụng
chiếu được.
Quư vị
xem đấy, nếu người khác gặp như vậy,
há c̣n phải đợi hoàng đế hạ chỉ?
Nghĩ đủ cách để gặp mặt hoàng đế!
Sư chẳng cần làm vậy, hoàng đế càng thêm tôn
trọng đức hạnh của Sư. “Tứ hiệu” (ban hiệu), tức là phong hiệu,
“Phật Từ Viên Chiếu Quảng
Huệ thiền sư”. Bởi vậy nay chúng ta thấy
trên tựa đề sách có ghi: “Nguyên
cố Thiên Mục Sơn Phật Từ Viên Chiếu Quảng
Huệ thiền sư Trung Phong ḥa thượng”, đó
là hiệu do hoàng đế phong. Lại ban tặng Sư ca-sa,
lễ vật; đă phong hiệu, lại c̣n ban một phần
lễ vật, đặc biệt ra lệnh cho Hàng Châu Lộ
(theo chế độ nhà Nguyên, gọi là Lộ, đến
đời Minh và Thanh, đổi thành Tỉnh. Theo chế
độ nhà Nguyên, khu vực hành chính địa
phương đều gọi là Lộ. Ở đây, Lộ
người đứng đầu địa
phương, tương đương với tỉnh
trưởng bây giờ. Ở châu Úc chúng ta là châu trưởng
- governor). Hoàng đế chỉ thị “ưu lễ ngoại hộ”, tức là sai quan viên
địa phương hộ pháp, để thiền
sư an tâm tu đạo trên núi.
Chuyện về Ngài rất
nhiều, được khắp trong triều, ngoài nội
tôn kính, ngưỡng mộ, đến thỉnh giáo, đến
cầu học. Câu nào ghi trong truyện kư cũng là lời
chân thật, Sư được đế vương,
đại thần thuở ấy biết đến, chẳng
ai sánh bằng. [Truyện kư] chép đại sư thường
dạy dỗ người đến học, dạy hàng hậu
học “chỉ thượng
thông ngôn, bất cầu thật ngộ” (chỉ cốt
sao nói cho lưu loát, chẳng cầu thực sự chứng
ngộ) là chuyện thật. Căn bệnh này hiện tại
rất phổ biến. Sư sống cách chúng ta hơn bảy
trăm năm; bảy trăm năm trước Phật
pháp đă suy rồi, người thực sự tu hành chẳng
nhiều. Bởi thế, lăo nhân gia hết sức cảm
khái, nói bất luận tại gia hay xuất gia, học
để làm ǵ? Học một chút lời lẽ thông đạt
Phật pháp, thông cái ǵ? Thông thạo ngôn từ. Quư vị
nghe cho nhiều, học cho nhiều, quư vị giảng
được, chẳng cần phải thực sự chứng
ngộ.
“Thường viết kim nhật chi tham thiền bất
linh nghiệm giả” (Sư
thường nói: “Nay kẻ tham Thiền chẳng linh nghiệm”),
trong thời đó, người tham Thiền khi ấy đă
chẳng linh. V́ sao chẳng linh? Ngài nói có ba điều, thứ
nhất là “vô cổ nhân chân thật
chí khí” (không có chí khí chân thật như cổ nhân). Trong
thời thiền sư Trung Phong, người học Phật
rất nhiều, nhưng không thực sự giống
như cổ nhân. Cổ nhân thực sự tu tập,
nhưng bất luận người tại gia hay xuất
gia trong thời của thiền sư Trung Phong, nếu
đem so với chúng ta hiện thời, họ c̣n cao minh
hơn chúng ta nhiều lắm. Ta làm sao so sánh với họ
được? Từ đây thấy rơ: Đúng là cứ mỗi
một đời lại kém hơn đời trước.
Lăo tổ tông của chúng ta là Thích Ca Mâu Ni Phật, chúng ta học
Phật nhất định phải mong bằng được
Thích Ca Mâu Ni Phật. “Thủ pháp
hồ thượng, cẩn đắc hồ trung” (Cầu
lấy pháp bậc thượng, chỉ đạt
được bậc trung), quư vị mới có chút thành tựu.
Nếu quư vị “thủ pháp hồ
hạ” (giữ pháp thấp thỏi), làm sao thành tựu
được? Nay lăo nhân gia nói vấn đề thứ nhất
là “chí khí chân thật”, quư vị
đang tu thật hay tu giả? Đấy là mấu chốt
để được linh nghiệm hay không linh nghiệm,
thành tựu hay không thành tựu!
Thứ hai, “chẳng coi sanh tử vô thường
là một đại sự”. Thật vậy, ngày nay học
Phật, có ai v́ sanh tử vô thường mà tu hành cơ chứ?
Cổ nhân thực sự v́ điều đó. Xuất gia tu
đạo v́ lẽ ǵ? V́ đại sự sanh tử vô
thường. Người hiện thời quên sạch sự
kiện này, [điều này] thật đáng khiến cho chúng
ta phản tỉnh sâu xa. Nếu mục đích học Phật
của chúng ta là muốn danh văn, lợi dưỡng, nhắm
vào ngũ dục, lục trần, th́ đúng là như cổ
nhân đă nói: “Kim sanh bất liễu
đạo, phi mao, đới giác hoàn” (Đời này chẳng
liễu đạo, mang lông, đội sừng đền).
Sẽ mang lông đội sừng đền vào đời
sau ư? Không phải vậy! Đời sau là tam đồ
địa ngục. Chịu tội địa ngục măn rồi
mới mang lông, đội sừng. Nếu quư vị hỏi
có tội ǵ ư? Phá hoại h́nh ảnh Phật giáo, đó
là đại tội! Nói như kiểu buôn bán trong thế
gian, quư vị giương chiêu bài để làm bậy, quư
vị khiến cho xă hội mất ḷng tin nơi Phật
pháp!
Trong quá khứ, chúng tôi
đă từng giảng một phần kinh Đại Bảo
Tích, tức là kinh Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo,
c̣n gọi là kinh Di Lặc Sở Vấn. Tôi nhớ đă giảng
cả ba lượt, từng giảng một lần tại
Hoa Tạng Đồ Thư Quán ở Đài Bắc. Bại
hoại h́nh ảnh Phật giáo, chướng ngại chánh
pháp, quư vị thấy quả báo nói trong kinh chẳng phải
là giả đâu, chẳng phải là dọa dẫm người
đời, mà là sự thật đấy! Nhưng hiện
thời lắm kẻ lớn mật làm càn, chẳng biết
nhân quả đáng sợ, cứ bịa chuyện, đặt
chuyện, rốt cuộc c̣n lại cái tâm ǵ? Giáo dục của
thánh hiền và Phật, Bồ Tát chỉ là từ bi. Nhà Phật
thường nói: “Từ bi vi bổn,
phương tiện vi môn” (Từ bi làm gốc,
phương tiện là cửa).
Trưa
hôm qua, tôi và hiệu trưởng và phó hiệu trưởng
trường đại học khoa học Côn Sĩ Lan (
Điều
thứ ba là: “Vứt bỏ những
thói quen, những điều ḿnh quen thói coi trọng từ
bao kiếp đến nay chưa được”. Câu này
chúng tôi diễn tả cách khác cho mọi người dễ
hiểu: Từ vô thỉ kiếp đến nay, những tập
khí bất thiện quư vị chưa buông xuống được!
Đấy chính là ba
nguyên nhân khiến cho quư vị tham Thiền chẳng linh nghiệm,
niệm Phật chẳng thể đạt Nhất Tâm, tu bất
cứ pháp môn nào cũng chẳng thể thành tựu. Tiếp
đó, Sư lại nói: “Hựu
bất cụ cửu viễn bất thoái chuyển thân tâm”
(Lại chẳng đủ
thân tâm bất thoái chuyển lâu dài). “Cụ” (具) là trọn
đủ. Quư vị chẳng đầy đủ, chẳng
có! Chẳng có điều ǵ? Chẳng có tâm dài lâu, chẳng
có tâm bất thoái chuyển. Tâm bất thoái chuyển dài lâu ấy
là tâm dũng mănh, tinh tấn, quư vị không có, bởi thế
chẳng thể thành tựu. Căn bệnh là đây.
Tiếp đó, Sư lại
nói, nói rất hay! “Tất cánh bệnh
tại ư hà, kỳ thật bất thức sanh tử căn
bản cố” (Rốt cuộc là bệnh ở đâu, thật
ra là do chẳng biết cội rễ sanh tử vậy). Đúng
là thiền sư nói một lời vạch trần hết
cả; quư vị chẳng hiểu rơ cội rễ sanh tử,
nên từ trước đến nay quư vị chưa từng
nỗ lực thực sự học tập. Cội rễ
sanh tử là ǵ? Trong những lời khai thị nơi tác phẩm
Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự của lăo nhân gia có nói;
trong phần khai thị của thiên thứ nhất, Sư
giảng rất rơ ràng, trong truyện kư cũng có nói. Chúng
tôi đem đoạn văn đó đối chiếu phần
khai thị trong Hệ Niệm Pháp Sự, thấy đúng là
khẩu khí của lăo nhân gia, những khai thị ấy do
chính Ngài soạn, chứ không phải do người khác viết.
Chúng ta cũng
nên đọc qua một lượt đoạn văn ấy:
“Phù căn bản giả, tánh
chân viên minh, bổn vô sanh diệt văng lai chi tướng” (Căn
bản ấy chính là tánh thực sự viên minh, vốn chẳng
có tướng sanh diệt, qua lại), nói thật ra, chẳng dễ hiểu cho lắm.
Đấy là cảnh giới của Pháp Thân Bồ Tát, minh
tâm kiến tánh là Pháp Thân Bồ Tát, chẳng phải là cảnh
giới của người tầm thường. Thế
nào là căn bản? Căn bản là tâm tánh, minh tâm kiến
tánh là căn bản, tánh thực sự viên minh, vốn không
sanh diệt. Cái tướng sanh diệt đến đi ấy
chẳng hề có! Bất sanh bất diệt, chẳng
đến chẳng đi. Đến, đi (khứ, lai) là
quá khứ, vị lai; chẳng những không có thời gian,
mà cũng chẳng có không gian. Hiện thời, khoa học mới
chậm chạp phát hiện điều này, cư sĩ
Chung Mậu Lâm từng diễn giảng tại đây cho chúng
ta nghe rồi, các vị đồng học đều
đă nghe những ǵ khoa học phát hiện rồi đó.
“Lương do bất giác, miết
khởi vọng tâm, mê thất bổn nguyên, hư thọ luân
chuyển” (Do v́ bất giác, thoạt khởi vọng tâm,
mê mất cội nguồn, luống chịu luân hồi),
đây là lời giảng v́ sao phàm phu cứ luân lạc măi
cho đến nay như thế. Nhất niệm bất giác
sanh khởi vô minh. Vọng tâm là vô minh, mê mất cội nguồn
(tức bổn tánh), mê mất bổn tánh, hóa thành luân hồi
lục đạo, tự làm tự chịu. Bởi vậy,
nói “mê chi tắc sanh tử thỉ”
(mê th́ sanh tử bắt đầu). Sanh tử bắt
đầu tức là có sanh tử; ngộ th́ luân hồi bèn
dứt. Chân tướng của sanh tử luân hồi nói gọn
trong một câu: “Cái căn hồ
mê, nhi bổn hồ vọng dă” (Là do mê căn mà lầm bản;
hoặc: do mê căn nên bản biến thành vọng). Về
cơ bản, mê nơi căn, do mê nơi căn bản khiến
tâm tánh biến thành vọng thức.
Kế
đó là mấy câu cũng rất quan trọng: “Đương tri sơn, hà,
đại địa, minh, ám, Sắc, Không, Ngũ Ấm, Tứ
Đại, chí ư động, bất động pháp,
giai thị sanh tử căn bản” (Phải biết núi,
sông, đại, địa, sáng, tối, Sắc, Không, Ngũ
Ấm, Tứ Đại, cho đến pháp động hay
bất động, đều là cội gốc sanh tử).
Ai biết được điều này? Chẳng phải
người chân tu thật chứng sẽ chẳng thể biết
được. Chuyện này ở ngay trước mắt,
suốt ngày từ sáng đến tối chẳng hề
tách rời, nhưng phần lớn chúng ta cứ sống
trong mê hoặc điên đảo. Tướng của mê là
ǵ? Là khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp
trước. Mấy lời đại sư nói chúng ta phải
hiểu rơ: Núi, sông, đại địa, sáng, tối, Sắc,
Không, Ngũ Ấm, Tứ Đại, pháp động và bất
động đă được đức Phật giảng
rất thấu triệt trong kinh Lăng Nghiêm. Hễ ngộ
th́ [những cảnh giới ấy] sẽ biến thành cảnh
giới Hoa Nghiêm, lư sự vô ngại, sự sự vô ngại;
mê th́ chúng đều là căn bản sanh tử.
Thưa
cùng quư vị, pháp chẳng có mê hay ngộ. Như nhà khoa học
Giang Bổn Thắng (Masaru Emoto) của Nhật Bản
đă làm những thí nghiệm với nước, nước
không có mê hay ngộ. Các pháp núi, sông, đại địa,
sáng, tối, sắc, không, ngũ ấm v.v… chẳng có mê hay
ngộ. Thiện ư, năng lượng tốt của chúng
ta tác dụng vào chúng, khiến chúng bèn lập tức có phản
ứng, có phản ứng tốt đẹp vô cùng. Nếu
chúng ta dùng ác ư, ác niệm tác động lên chúng, chúng phản
ứng xấu tệ vô cùng. Chúng chẳng hề phân biệt,
chấp trước, do đâu mà như thế? Pháp tánh! Pháp
tánh là chân tánh. Lầm lạc là do chính ta tự mê, mê rồi
th́ hết thảy vạn sự, vạn vật đều
biến thành căn bản sanh tử.
Bởi thế, thiền
sư nói: “Nhược bất
tằng hướng chân thật pháp trung, thoát nhiên siêu ngộ”
(Nếu chẳng từng hướng đến pháp chân
thật để giải thoát, đốn ngộ). Câu này rất
quan trọng: Phải từ pháp chân thật, Thoát (脫) là giải thoát, Siêu (超) là siêu việt, th́ quư vị mới thực
sự ngộ. “Tiện ư ngộ
ngoại, biệt lập sanh nhai, bất tồn khỏa cữu”
(Lại t́m riêng cách sanh nhai ngoài Ngộ, chẳng phải
là vẫn giữ nguyên nếp sai lầm cũ ư?) Đây
là Pháp Thân Bồ Tát, là Nhất Chân Pháp Giới. Nhưng ở
đây, quư vị phải lưu ư! Nếu quư vị chưa
đoạn sạch phiền năo tập khí th́ trong cảnh giới
nào quư vị cũng sẽ lại khởi tâm động niệm,
giống như trong kinh Lăng Nghiêm, đức Thế Tôn đă
nói: “Tri kiến lập tri, thị
vô minh bổn” (Từ trong tri kiến lại lập ra một
tri kiến nữa, bèn là cái gốc của vô minh), quư vị
vẫn chẳng thể siêu việt. Có như vậy quư vị
mới thực sự thấu hiểu v́ sao ngộ nhập
cảnh giới chân thật khó khăn đến thế! Chúng
tôi thường nói thuần tịnh, thuần thiện,
trong ấy chẳng được lẫn mảy may bất
tịnh bất thiện ǵ; hễ có mảy may bất thiện
bất tịnh th́ là trật rồi.
V́ thế,
ở đây đại sư khuyên dạy chúng ta: “Duy hữu thống dĩ sanh tử
đại sự vi kỷ trọng nhiệm giả, tử
tận thâu tâm, phương kham thấu bạc. Trực hạ
thảng tồn hào phát hứa thiện, ác, thủ, xả, ái,
tăng, đoạn, tục chi kiến, tắc chi diệp
sanh hỹ, khả bất thận hồ!” (Chỉ nên
đau đáu lấy đại sự sanh tử làm trách nhiệm
nặng nề của chính ḿnh, chết sạch cái tâm qua
quít, cầu may, chụp giựt, th́ mới ḥng cập bến
(ư nói: An tâm tu đạo). Nếu như c̣n chừng bằng
mảy tóc thấy có thiện, ác, lấy, bỏ, yêu, ghét, đứt,
nối, th́ cành lá lại sanh, há chẳng nên cẩn thận ư?)
Câu này hết sức trọng yếu. “Hào phát hứa” (c̣n chừng bằng mảy tóc) tức
là c̣n một chút xíu, trong tâm quư vị vẫn c̣n tí tẹo vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. Chẳng hạn
như: Làm lành chớ chấp vào lành; có lầm lỗi, tự
ḿnh lầm lỗi, hoặc thấy người khác lầm
lỗi, đều chớ vướng bận nơi ḷng. V́
sao vậy? Trong chân tánh chẳng có thiện - ác, chẳng có
thị - phi, chẳng có tà - chánh, chẳng có sanh - diệt,
chẳng có đến - đi, chẳng có trước - sau.
“Vốn chẳng có một vật,
chỗ nào nhuốm bụi trần”. Bụi bặm là tỷ
dụ, mảy may bất tịnh bất thiện cũng
không có!
Nói thiện
hay nói ác đều là phương tiện thiện xảo
nhằm giúp chúng sanh quay đầu; bởi lẽ, nếu
nói sự thật với họ, họ không hiểu, họ
mê càng sâu hơn. Vậy th́, với kẻ mê, nói theo chuyện
mê, đó là tùy thuận Tục Đế. Lời khai thị
của đại sư ở đây là tùy thuận Chân
Đế. Chân Đế là thanh tịnh tịch diệt,
trong Tục Đế mới có thị - phi, thiện - ác.
V́ sao? V́ quư vị chẳng ĺa phân biệt, chấp trước.
Chẳng ĺa phân biệt, chấp trước th́ phải nói
lời phân biệt, chấp trước với quư vị; nếu
ĺa phân biệt, chấp trước th́ nói lời chân thật
cùng quư vị.
Năm
Quư Hợi (1323) đời vua Anh Tông, vừa tṛn đúng một
Giáp Tư, tức năm sáu mươi mốt tuổi, Sư văng
sanh nhằm ngày Mười Bốn tháng Tám. Ngài ngồi viên
tịch, lúc Ngài muốn viết chữ, ngồi bên bàn bèn mất,
hy hữu thay! Nếu quư vị muốn hiểu tường
tận, xin đọc Thiên Mục Trung Phong Ḥa Thượng
Quảng Lục, quyển cuối cùng. Thiên cuối cùng là
truyện kư về Ngài, pháp đệ đồng học của
Ngài là thiền sư Tổ Thuận viết thiên ấy, quư
vị có thể tự xem.
Trong hai
tiếng đồng hồ vừa qua, chúng tôi đem lược
truyện của Trung Phong Thiền Sư giới thiệu
đơn giản với quư vị. Buổi học sau,
chúng ta sẽ chánh thức bước vào Hệ Niệm Toàn
Tập.
Tập 02
B. Giải
thích đề mục
Xin hăy xem
đề mục Hệ Niệm Pháp Sự. Đề mục
tổng cộng mười chữ: “Trung Phong Hệ Niệm
Pháp Sự Tam Thời Toàn Tập” (中峰繫念法事三時全集).Bản tôi dùng ở đây là bản in của
Hoa Tạng Đồ Thư Quán, tục ấn[6] năm
Dân Quốc 79 (1990). Tôi dựa theo cách đánh số trang
trong bản in này, có những bản in khác có số trang hơi
khác, bất quá đại khái cũng tương đồng.
Trung Phong
là pháp hiệu của thiền sư Minh Bổn đời
Nguyên, ở trên tôi đă giới thiệu cùng quư vị rồi.
Ngài là một vị đại đức rất phi thường,
hữu tu, hữu chứng, hữu đức, hữu học.
Qua truyện kư, chúng ta đă thấy sự tích cả một
đời của lăo nhân gia, đúng là khiến người
ta cảm thấy năm vóc gieo sát đất. Tác phẩm Hệ
Niệm Pháp Sự do vị đại đức nhà Thiền
này soạn ra, ư nghĩa rất sâu. Thưa cùng quư vị! Phật
pháp đến tối hậu vẫn phải là cầu sanh
Tịnh Độ, điều này Ngài khai thị rất rơ
rệt! Do đây, ta có thể thấy được sự
thù thắng của pháp môn Tịnh Độ. Huống chi
kinh Hoa Nghiêm, là một bộ kinh được lịch
đại cao tăng đại đức Trung Quốc
công nhận là bản kinh đệ nhất của nhà Phật,
là pháp luân viên măn, đến cuối kinh, mười đại
nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn
về Cực Lạc. Tông môn đến cuối cùng cũng
cầu văng sanh, quư vị chỉ cần đọc Thiền
Môn Nhật Tụng sẽ thấy rành rành. Phương pháp
tu hành này hiển thị rơ trí huệ tối cao.
Bản Hệ
Niệm Pháp Sự Tam Thời Toàn Tập này lợi ích kẻ
âm lẫn người dương. Nếu coi [việc tụng
niệm] bản [nghi thức] này như chuyện kinh sám Phật
sự, miệng có, tâm không, th́ trật mất rồi! Chúng
ta phải coi nó như là khóa tụng cần phải tu tập.
“Hệ niệm”: Khi La Thập
đại sư dịch Phật Thuyết A Di Đà Kinh,
đă dịch ư chữ này; bởi thế, trong kinh văn có
những câu như “nhất tâm
bất loạn, tâm chẳng điên đảo”. Trong quá
khứ, tôi cũng đă từng nghe có người nói: “Nhất
tâm bất loạn, bọn phàm phu chúng ta chẳng thể làm
được; bởi thế, đối với pháp môn
này bèn nẩy sanh ngờ vực, chẳng dám đảm
đương”. Nhưng kinh A Di Đà c̣n có bản dịch
của Huyền Trang đại sư. Huyền Trang đại
sư dịch thẳng, chiếu theo bản tiếng Phạn
mà dịch thẳng ra. Trong bản Phạn ngữ có mười
phương Phật, bản của La Thập đại
sư chỉ có sáu phương Phật, cho thấy La Thập
đại sư đă dịch rút gọn. Trong bản Huyền
Trang, “nhất tâm bất loạn”
được dịch là “nhất
tâm hệ niệm”. Nếu nói “nhất
tâm hệ niệm” th́ phàm phu có thể làm được,
chứ mức độ nhất tâm bất loạn th́ cao
quá.
Nếu chúng
ta hỏi: La Thập đại sư có dịch sai nghĩa
chăng? Thưa cùng quư vị, chẳng bao giờ sai! Phàm là
người văng sanh, nhất định phải niệm
đến nhất tâm hệ niệm, lúc lâm chung, A Di Đà Phật
đến tiếp dẫn, lúc tiếp dẫn quư vị, nhất
định Phật phải phóng quang. A Di Đà Phật
phóng quang, Phật quang chiếu gội; Phật quang vừa
chiếu, công phu của quư vị được nâng cao, từ
Nhất Tâm Hệ Niệm đạt đến Nhất Tâm
Bất Loạn. V́ thế, đại sư La Thập chẳng
hề dịch lầm. Đích thực là đại sư
thấy vấn đề này rất rơ ràng, rất minh bạch!
Chữ “niệm” (念) trong văn tự Trung Quốc thuộc
loại hội ư. Quư vị thấy ở trên là chữ Kim (今), dưới là
chữ Tâm (心); nghĩa là trong cái tâm hiện tại có Phật.
Trong tâm phải có th́ mới gọi là Niệm. Chẳng phải
là quá khứ có, chẳng phải là vị lai có, mà là “kim” (nay), hiện tại có,
đó gọi là Niệm. “Hệ
niệm” là niệm niệm chẳng bỏ.
“Tam thời”: Trong pháp sự có
đệ nhất thời, đệ nhị thời, đệ
tam thời. Ở Ấn Độ vào thời cổ, một
ngày đêm được chia thành ngày ba thời, đêm ba
thời. Do đây biết rằng, phải hiểu nghĩa
chữ “tam thời” theo
nghĩa rộng, tức là ngày đêm chẳng biếng nhác.
“Pháp” là phương
pháp, “Sự” là chuyên cầu
văng sanh Tịnh Độ. Hiện tại, mọi người
tu pháp sự này, dùng chữ “tam
thời” theo nghĩa hẹp. Ở Trung Quốc, chia ngày
đêm thành mười hai thời thần: Tư, Sửu, Dần,
Măo, Th́n, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Một
thời thần bằng hai giờ hiện thời. Nếu
để giúp người khác, như các vong linh được
nhắc đến trong bản này, th́ cả hai nghĩa rộng
và hẹp đều dùng được, hoàn toàn phụ thuộc
vào thời tiết, nhân duyên.
“Pháp”: Trung Phong quốc
sư v́ chúng ta chế định pháp bản này, chiếu
theo pháp bản này để tu pháp sự cầu văng sanh, pháp
sự ở đây là cầu văng sanh. Bản này gồm ba thời
hoàn chỉnh nên gọi là “toàn tập”.
Quư vị hăy xem chữ “tập”;
Tập nói như bây giờ là bản hội tập. Pháp sự
này do Trung Phong quốc sư hội tập. Quư vị thấy
đó, nội dung gồm tán tụng, có Hương Tán, có kệ
Tán Phật, có tán Phật, có tụng kinh, có kinh A Di Đà, có
niệm chú, có chú Văng Sanh, có lễ bái, có sám hối, có hồi
hướng. Tu pháp (cách thức tu tập) rất viên măn, ư
nghĩa tương đồng với Văng Sanh Luận của
Thiên Thân Bồ Tát. Trong Văng Sanh Luận, Thiên Thân Bồ Tát
nói đến Ngũ Niệm pháp môn, bản Hệ Niệm
này cũng là ngũ niệm pháp môn. Tu hành Tịnh Độ
là phương pháp tốt đẹp, trong ấy có khai thị.
Chúng tôi đề xướng bản này đă mấy
năm, mọi người đều rất thông thuộc.
Trong nghi quỹ, có phần chúng tôi tỉnh lược[7], và
trong Tam Thời có phần nào trùng lập, chúng tôi chỉ giảng
một lần là đủ, làm như vậy sẽ tiết
kiệm thời gian.
C. Chánh thức
giảng vào kinh văn
1.
Hương Tán
Giới
định chân hương,
Phần
khởi xung thiên thượng,
Đệ
tử kiền thành,
Nhiệt
tại kim lư phóng,
Khoảnh
khắc nhân uân,
Tức
biến măn thập phương.
Tích nhật Da Thâu,
Miễn
nạn tiêu tai chướng.
Nam mô
Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.
戒定真香
焚起衝天上
弟子虔誠
爇在金爐放
即遍滿十方
昔日耶輸,
免難消災障。
南無香雲蓋菩薩摩訶薩
(Giới
định chân hương,
Đốt xông tận trời
thẳm,
Đệ tử dốc
ḷng thành,
Thắp đặt trong lư vàng,
Khoảnh khắc khói bốc cuồn cuộn,
Tỏa khắp mười phương,
Xưa bà Da Du,
Thoát nạn tiêu tai chướng.
Đoạn
thứ nhất là Hương Tán. Ở đây, đại
sư v́ chúng ta kết tập bài “Giới Định Chân
Hương”, dùng bài Hương Tán này. V́ sao chẳng dùng bài
“Lư Hương Tán”? Bài Lư Hương Tán phổ biến
nhất; v́ sao dùng bài Giới Định Chân Hương? Cả
đời đại sư dạy người chú trọng
đức hạnh. Ngài sống cách chúng ta hơn bảy
trăm năm, hơn bảy trăm năm, Sư cảm nhận
sâu xa phong hóa thế gian ngày một suy đồi, hàng đệ
tử Phật môn (chỉ người xuất gia tu hành)
chân tu đă ít ỏi lắm rồi. Sáng hôm nay, tôi đă giới
thiệu ngắn gọn, đơn giản về Ngài rồi,
quư vị đă nghe qua. V́ đâu tham Thiền chẳng
được lợi ích, Sư giảng v́ đâu tham Thiền
chẳng linh? V́ sao chẳng bằng cổ nhân? Có nguyên nhân cả,
ta phải t́m cho ra nguyên nhân. Bởi thế, trong phần
Hương Tán, chúng ta đừng nghĩ Ngài tùy tiện
dùng bài Giới Định Chân Hương đấy nhé, có
dụng ư rất sâu đấy!
Pháp sám hối
xuyên suốt toàn bộ sự tu hành trong Phật pháp, bất
luận là Tông Môn, Giáo Hạ, Đại Thừa, Tiểu Thừa,
Hiển Giáo, Mật Giáo, không một hạnh môn nào chẳng
phải là pháp sám hối! Sám hối phải có thành ư, phải
có hành động, chẳng phải là miệng nói xuông, miệng
nói xoen xoét chẳng ích ǵ! Vậy, rốt cuộc phải
sám hối theo cách nào? Phải y giáo phụng hành, quư vị
tích cực nỗ lực làm theo mọi điều Phật,
Bồ Tát dạy dỗ, đó là chân sám hối! Chúng tôi
thường nhắc mọi đồng học phải
cùng gắng sức dốc công gạt bỏ tập khí vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, triệt
để buông xuống, chẳng để có mảy may xen
tạp, nhất tâm nhất ư cầu sanh Tịnh Độ.
Đó là đại sự sanh tử! Từ vô lượng
kiếp đến nay, chúng ta luân hồi trong lục đạo
chẳng thể giải quyết được vấn
đề, chúng ta phải giác ngộ, phải hiểu rơ.
Điều
này thật chẳng dễ dàng ǵ! Nhà Phật thường
nói: “Trăm ngàn vạn kiếp
khó gặp gỡ”, một đời này gặp
được Phật pháp; gặp được Phật
pháp là gặp cơ hội để liễu sanh tử, xuất
tam giới. Gặp được cơ hội chớ coi
thường, bỏ lỡ, nhất định phải gh́
chặt lấy, trong một đời này quyết định
thành tựu, chẳng bị luân hồi nữa. Tùy thuận
tập khí phiền năo là tạo luân hồi, vẫn luân hồi
trong sáu nẻo y như cũ. Đấy là điều Quốc
Sư trông thấy, rất mực cảm thán; đấy là
một nhân tố quan trọng khiến công phu tu hành chẳng
đắc lực. Trong suốt cuộc đời dạy
dỗ của lăo nhân gia, Ngài thường cảnh tỉnh “sanh tử sự đại”.
Phải biến sự việc này thành một sự lớn
lao nhất mà chúng ta phải thực hiện trong một
đời này th́ chúng ta mới được cứu. Bởi
thế, mở đầu [Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự],
Ngài chọn bài Giới Định Chân Hương.
Quư vị
hăy xem [ư nghĩa của] danh tự, thế nào là Chân
Hương? Giới và Định là Chân Hương, nói thật
đấy, chẳng phải giả đâu! Ngay trong thời
đại chúng ta đây, những năm trước
đây, không lâu mấy; chúng tôi không được thấy sự
việc trong nửa thế kỷ trước, nhưng có rất
nhiều người thấy, chúng tôi
nghe đích thân họ kể lại. Hư Vân lăo ḥa thượng
tu Giới, tu Định, chân tu. Lăo ḥa thượng cả
năm tắm một lần, cạo tóc một lần; bởi
vậy, chúng ta thấy rất nhiều ảnh chụp tóc
Ngài rất dài. Quư vị xem tóc Ngài dài như thế mà một
năm mới cạo tóc một lần, tắm một lần,
cổ áo Ngài ghét (hờm) đóng dày cộp, đen thui,
nhưng thơm tho, không hề khó ngửi chút nào. Đấy
là Giới Định Chân Hương,
thân tỏa
mùi thơm.
Ngoài ra
c̣n có vị Kim Sơn Hoạt Phật (Phật sống chùa
Kim Sơn), Ngài sống suốt hai mươi mấy năm
Dân Quốc, rất tiếc là khi ấy chúng tôi c̣n nhỏ tuổi
quá, không biết Ngài. Suốt đời, Kim Sơn Hoạt
Phật không rửa ráy, tắm gội. Trên thân khoác một
bộ quần áo, bộ quần áo ấy chưa hề
được giặt giũ. Suốt đời chưa từng
giặt quần áo, Ngài cũng chưa từng tắm gội,
trên thân tỏa mùi thơm. Đó là Giới Định Chân Hương.
Chúng ta thắp
một cây nhang, phải tưởng đó là Giới, phải
tưởng đó là Định. Hương tượng
trưng cho Pháp. Đệ tử Phật, bất luận tại
gia hay xuất gia, cúng Phật nhất định phải
thắp nhang, phải đốt đèn, phải dâng nước.
Đó là ba thứ vật cúng đơn giản nhất
để cúng Phật, Bồ Tát; bớt đi những thứ
khác không ăn nhằm ǵ, nhưng những thứ trên không
thể bớt được! Hương tượng
trưng cho ǵ? Hương tượng trưng cho Giới,
Định; thấy hương, nghe mùi hương, phải
tưởng Giới Định. Chư Phật, Bồ Tát
tu Giới, tu Định thành tựu. Giờ đây, các Ngài
cũng dạy chúng ta như thế.
Đăng
(đèn) tượng trưng cho ánh sáng trí huệ, ngụ ư
đốt ḿnh soi sáng người khác. Trí huệ chẳng
phải là Tự Thọ Dụng, mà là Tha Thọ Dụng. Trí
huệ do đâu mà có? Trí huệ phát xuất từ Giới,
Định. Nhân Giới sanh Định, nhân Định
khai Huệ.
Nước
tượng trưng cho tâm tánh. Tất cả hết thảy
vật cúng khác đều chẳng cần thiết lắm,
bởi lẽ hiện tại cuộc sống con người
bước vào thời đại công nghiệp, nhà cửa
(đặc biệt là tại đô thị) quá nửa sống
trong chung cư (apartment). Một ṭa cao ốc có cả mười
gia đ́nh sống, có ṭa nhà cả trăm gia đ́nh sống.
Nhà càng dựng về sau càng thấp lè tè. V́ sao vậy?
Để tiết kiệm năng lượng. Mùa Đông mở
máy ấm, mùa Hè mở máy lạnh, bởi thế trần
nhà càng thấp, pḥng ốc cũng hẹp hơn để
tiết kiệm năng lượng. Gian pḥng thấp
như thế, chúng ta vói tay là đụng trần nhà rồi.
Bởi thế, nếu thờ Phật ở nhà, nói chung phải
thờ tượng Phật nhỏ, đương nhiên đốt
nhang chẳng thích hợp.
Hương
đốt, đèn dầu, nến đều chẳng thích
hợp, v́ sao vậy? Chúng có chất muội (bồ hóng), muội
dầu làm đen nhà. Nhà cửa hẹp quá, chẳng như tự
viện điện đường rất lớn, không khí
lưu thông, nhà cao, nên chẳng có vấn đề ǵ. Bởi
thế, hiện tại ở chung cư [cúng hương,
đèn] chẳng thích hợp lắm, tốt nhất là cúng
nước. Nước rất quan trọng, nó tượng
trưng thanh tịnh b́nh đẳng. Tâm ta trong sạch
như nước, b́nh đẳng hệt như nước.
Nước biểu thị những ư nghĩa đó. Trong hết
thảy thời, hết thảy chỗ, phải luôn giữ
được thanh tịnh - b́nh đẳng - giác, chỉ
cần tâm thanh tịnh tự nhiên sẽ có trí huệ, Giác
là trí huệ.
Vật
cúng nhằm biểu thị pháp, nước chẳng phải
để cho Phật, Bồ Tát uống; phải hiểu ư
nghĩa này. Chén cúng tốt nhất là dùng thứ trong suốt,
biểu thị ư nghĩa vô cùng sáng rơ. Ngoài chén có thể nh́n
thấy nước trong sạch đựng bên trong. Chớ
nên cúng trà, trà có màu, chẳng trong sạch, phải cúng bằng
nước. Bởi thế, hiểu được ư
nghĩa biểu thị pháp th́ mỗi khi trông thấy chén
nước cúng, liền nghĩ tâm ta phải thanh tịnh,
phải b́nh đẳng. Từ việc cúng nước phải
biểu lộ được ư nghĩa của pháp được
biểu thị. Bất luận nơi đâu, hễ trông thấy
nước, như lúc quư vị đang khát, uống một
chén nước, thấy nước bèn nghĩ đến
“thanh tịnh - b́nh đẳng - giác”. Giáo học Phật
pháp dùng phương pháp này để thời thời khắc
khắc cảnh tỉnh chúng ta, vừa trang nghiêm lại vừa
đẹp mắt, lại bao hàm ư nghĩa thật phong phú.
“Giới định chân
hương”: Đây là lúc thắp hương.
“Phần khởi xung thiên thượng”:
Hương vừa thắp lên, khói hương bốc tận
trời. “Xung thiên thượng”
(xông lên trời) là mong cầu cảm ứng. Chư Phật,
Bồ Tát, thiên thần đều ở phía trên chúng ta. Phía
dưới có chăng? Có! Phía dưới là hạ
phương thế giới. V́ thế, đối với
chữ “thiên thượng” ở
đây, chúng ta phải hiểu nó hoàn toàn chẳng chỉ có nghĩa
là phương trên, mà c̣n có nghĩa là pháp giới. Như
trong kinh Hoa Nghiêm, [nói] Thiện Tài tham học năm
mươi ba lần, thiện tri thức đều ở
phương Nam là có đạo lư đấy! Chúng ta sống
tại Bắc bán cầu, phương
Bởi
thế, chốn “thiên thượng”
ở đây không có nghĩa là phương trên, chẳng biểu
thị phương vị phía trên, chẳng ngụ ư như
thế, mà có nghĩa là thượng phương tôn kính,
phương trên tôn kính nhất của chúng ta. Ở “thượng
phương” đó, chư Phật, Bồ Tát đang ở.
Chúng ta đọc kinh A Di Đà, Đông, Nam, Tây, Bắc,
trên, dưới, đâu đâu đều có Phật, Bồ
Tát. Dùng chữ “thiên thượng”
để biểu thị ư tôn kính của chúng ta. “Phần khởi xung thiên thượng”
là mong cầu cảm ứng.
“Đệ tử kiền thành”:
Người tu hành theo Hệ Niệm Pháp Sự, chúng ta
đối với Phật, Bồ Tát
xưng là “đệ tử”; Phật, Bồ Tát là thầy,
là thiện tri thức của chúng ta. Đạo thầy tṛ
cốt ở “kiền thành”. Ấn Quang đại sư giảng
rất hay: “Nhất phần thành
kính tắc nhất phần cảm ứng, thập phần
thành kính tắc thập phần cảm ứng” (Một
phần thành kính là một phần cảm ứng, mười
phần thành kính bèn được mười phần cảm
ứng). Khi xưa, thầy Lư dạy tôi như vậy. Chúng
ta dùng tâm tư thái độ nào để học tập th́
mới đạt được lợi ích chân chánh? Chúng
ta kém cổ nhân rất xa, đừng nói đến thời
cổ, chỉ sánh với Trung Phong quốc sư, chúng ta làm
sao sánh bằng Ngài được? Ngài
chỉ mười lăm tuổi, chẳng những dốc
chí nơi việc học, lại c̣n dốc chí nơi đạo;
so với học, đạo lại cao hơn một tầng.
Quư vị xem trong truyện kư th́ thấy đêm ngày Ngài siêng
gắng nơi pháp thế gian lẫn xuất thế gian. Đúng
là dũng mănh tinh tấn như kinh điển đă nói,
đêm ngày chẳng ngưng nghỉ. Kinh điển sách vở
Nho - Thích - Đạo ba tông, Ngài đều xem cả,
căn bản rất sâu dày.
Năm
hai mươi bốn tuổi Ngài khai ngộ. Tuy chưa phải
là triệt ngộ, chúng tôi nói đến tiểu ngộ,
đại ngộ; thế nào là đại ngộ? Kinh
điển, sách vở thế gian, xuất thế gian Ngài
đều có thể dung hội, quán thông, chân chánh khai ngộ.
Thiền sư Cao Phong Diệu ấn chứng cho Ngài vào
năm hai mươi bảy tuổi, Ngài xuất gia năm hai
mươi lăm tuổi. Chúng ta
không cách chi sánh bằng Ngài được! Tự ḿnh phải
biết hổ thẹn, phải biết gắng sức.
Trung Phong quốc sư chỉ cho chúng ta biết chứng bệnh
tu hành chẳng đắc lực là v́ đâu? Ngài nói rất
hay, nhưng trong đó trọng yếu nhất là “chẳng biết sanh tử là việc
lớn”. Trong các nhân tố, nó trọng yếu nhất,
nhưng ta lại coi thường nó! Bởi thế, chẳng
có tấm ḷng chân thành học đạo như cổ nhân. Ấn
Quang đại sư bảo người như vậy là
không có thành ư, làm sao thành tựu được? Không có thành
ư, không biết sanh tử là việc lớn, đă thế c̣n
chẳng chịu buông bỏ tập khí phiền năo từ vô
thỉ kiếp đến nay, đó là đại chướng
ngại!
Tôi
thường khuyên lơn các đồng học, mỗi một
người chúng ta, đặc biệt là người hiện
thời, “tự tư, tự lợi,
danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần,
tham, sân, si, mạn”, tôi nói mười sáu chữ này quư vị
phải thực sự buông xuống. Trung Phong quốc
sư nói rất hay, chẳng những phải thực sự
buông xuống, mà c̣n phải buông sạch sành sanh, mảy may
nào cũng chẳng giữ lại, tiêu chuẩn của lăo
nhân gia là như vậy. Chỉ cần có chút mảy may nào,
quư vị khó ḷng thành tựu. Triệt để buông xuống
th́ chúng ta mới có chút tiến bộ nơi Bồ Đề
đạo. Những thứ căn bản chướng
đạo ấy nếu quư vị chẳng dẹp trừ,
sẽ vĩnh viễn bị loại ra ngoài cửa Phật,
chẳng bước vào cửa được!
Chúng ta phải
thường tự suy nghĩ, ngày ngày phản tỉnh v́
sao chẳng buông xuống được? Phải chiếu
theo lời Trung Phong quốc sư thuyết pháp! Nói cách khác
là tham sống sợ chết. Tham sống, chẳng sống
hoài được; sợ chết, chẳng thể tránh khỏi
được. Thực sự chịu buông xuống th́ cả
sống lẫn chết đều xong, sau đấy mới
dần dần cầu thông đạt Phật pháp. Bởi
thế, hai chữ “kiền thành”
này hết sức trọng yếu: Quư vị phải có thành
ư. Trong lúc quư vị cắm vào lư hương, hương
cháy trong lư: “Nhiệt tại
kim lư phóng”.
“Khoảnh khắc”: Rất
nhanh chóng.
“Nhân uân”: Diễn tả khói
hương bốc cuồn cuộn, sau khi đốt
hương xong, đàn hương này – toàn là nói đàn
hương – khói hương xông mù mịt.
“Tức biến măn thập
phương” (liền trọn khắp mười
phương): Ở trên đă nói là “phần khởi xung thiên thượng”, “thiên thượng”
là “biến măn thập
phương”. Chữ “phương”
ở đây chỉ mười phương chư Phật,
Bồ Tát. “Thiên thượng” có nghĩa như thế
đấy. Tiếp đó, bài kệ nêu lên một công án:
“Tích nhật Da Thâu, miễn nạn
tiêu tai chướng”: Bà Da Thâu Đà La (Yasodharā)
là phi tử của Phật Thích Ca Mâu Ni. V́ sao lại nêu tên
bà? V́ Giới Định. Thích Ca Mâu Ni Phật quyết
định muốn xuất gia, phụ vương bảo:
“Ngươi muốn xuất gia th́ phải có con để
lại rồi mới được xuất gia.
Ngươi xuất gia rồi, gia tộc ta bị đứt
ḍng ư?” Ngay lúc đó, Thích Ca Mâu Ni Phật bèn chỉ vào
phi tử Da Thâu Đà La, nói: “Nàng đă mang thai!” Da Thâu Đà
La nghe lời ấy rùng ḿnh một cái, quả thật bà
đă hoài thai; sáu năm sau mới sanh La Hầu La. Bởi
thế, đương thời rất nhiều người
hoài nghi La Hầu La (Rāhula) chẳng phải
là con của Thích Ca Mâu Ni Phật. Chồng bà Da Thâu Đà La
đă bỏ đi cả sáu năm rồi, sao [bây giờ] mới
sanh đứa bé này? Bởi thế, họ hủy báng, phê
b́nh, đơm đặt đủ chuyện hết sức
khó chịu. Bà Da Thâu Đà La bèn bồng đứa bé, phát thệ:
“Nếu quả thật đứa bé này là con Thích Ca Mâu Ni Phật,
hai mẹ con chúng tôi nhảy vào hầm lửa sẽ chẳng
bị lửa thiêu!” Bà làm như thế, quả nhiên cả
hai mẹ con an nhiên vô sự trong lửa hừng. Khi đó mọi
người đều tin, mọi lời đồn nhảm
cũng chấm dứt. Giới Định Chân Hương
đấy! Bởi thế “miễn
nạn tiêu tai chướng!” Phụ vương cha bà
cũng tin tưởng, trong là gia tộc, tức
vương tộc, ngoài là nhân dân, toàn quốc thấy sự
kiện ấy, mọi người chẳng dị nghị
nữa! Đấy là một mẫu chuyện về cuộc
đời của tôn giả
“
Nam-mô là tiếng Phạn,
nghĩa là quy y, quy mạng. Hương Vân Cái là tỷ dụ
khói hương kết thành lọng báu trên không trung. Bồ
Tát là Giác Hữu T́nh, Ma Ha Tát là đại Bồ Tát. Hương
Vân tượng trưng cho Giới Định, Giới
Định giác ngộ hết thảy hữu t́nh chúng sanh,
Hương Vân mang ư nghĩa như vậy.
Hương Vân Cái chẳng
phải là Bồ Tát ư? Hương Vân Cái đúng là Bồ
Tát. Chỉ cần chân chánh giác ngộ chúng sanh, chúng sanh do
người ấy được khai ngộ th́ người
ấy là Bồ Tát. Bồ Tát chẳng có h́nh tướng nhất
định, Như Lai cũng chẳng có h́nh tướng nhất
định, hóa thân trong hữu t́nh chúng sanh, hóa thân trong vô
t́nh chúng sanh, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn.
Đó là đại ư bài Hương Tán. Bây giờ đă hết
giờ rồi.
2. Kệ
Giác Hải
Xin xem tiếp
bốn câu kệ:
Giác
hải hư không khởi,
Sa Bà nghiệp
lăng lưu,
Nhược
nhân đăng bỉ ngạn,
Cực Lạc
hữu quy châu.
覺海虛空起。
娑婆業浪流。
若人登彼岸。
極樂有歸舟。
(Biển
giác khởi hư không,
Sa Bà sóng nghiệp trào,
Ai muốn lên bến giác,
Cực Lạc sẵn thuyền
về).
Nội
dung bốn câu kệ này hết sức phong phú. Hai câu đầu
thuyết minh khởi nguyên của vũ trụ và sanh mạng;
đó là hiện tượng do đă mê mà có. Hai câu sau dạy
chúng ta phương pháp “quay
đầu là bờ” (hồi đầu thị ngạn).
V́ sao chúng ta mê mất tự
tánh? V́ “giác hải hư không khởi!”
Biển Giác vốn chẳng có hư không, biển Giác là tánh
hải, trong kinh luận thường gọi “tâm tánh” là biển
Giác. V́ vậy, quư vị phải nhớ kỹ chỗ này, tự
tánh bản giác. Trong Khởi Tín Luận, Mă Minh Bồ Tát dạy
chúng ta: “Bản giác vốn có, bất
giác vốn không!” Bản giác là tự tánh, tự tánh là bản
giác; [nghĩa là] nó vốn là giác, cũng chưa hề bị
mê hoặc. Nay chúng ta nói “mê mất
tự tánh” chỉ là tùy thuận phàm phu mà nói, thật ra,
tự tánh là chân tánh, chân tánh sao mê được? Nếu mê,
làm sao có thể gọi là chân?
Trong Hệ
Niệm Pháp Sự, Trung Phong đại sư khai thị
điều này rất minh bạch. Tuy lời khai thị
không nhiều, nhưng nói rất rơ, chỉ là mê và ngộ.
Mê và ngộ cũng chẳng phải là thật, càng nói càng u
huyền. “Hư không”: Trước hết phải có
hư không rồi mới có thế giới. Có thế giới
rồi mới có chúng sanh. Nói có trước - sau, nhưng
trên thực tế là sanh khởi, chỉ do tâm hiện, hiện
khởi hết sức nhanh!
Hiện
tại, các nhà khoa học cũng nói như thế. “Nhất thời đốn hiện”
(nhanh chóng hiện cùng lúc), chẳng có thứ tự trước
- sau. Thật ra, quư vị không có cách nào để nói thứ
tự trước - sau được cả, tốc độ
của nó phải là một phần ức vạn phần của
một giây, làm sao quư vị phát hiện thứ tự
trước sau cho được? Bởi thế, kinh Đại
Thừa thường nói là “nhất
thời đốn hiện”. Trong hội Lăng Nghiêm,
đức Phật cũng nói đến việc này: “Đương xứ xuất sanh,
tùy xứ diệt tận” (do ngay nơi đó mà hiện
ra, cũng từ nơi đó mà diệt hết). “Đương xứ” là ǵ?
Là hiện tiền, chẳng có xa - gần. Không có xa - gần
là không có không gian, không có trước - sau là không có thời
gian. Thời gian, không gian đều là t́nh chấp (chấp
trước trong t́nh thức) của phàm phu, chẳng phải
là sự thật! Rốt cuộc, thế nào là sự thật?
Là mê - ngộ! Ở đây nói đến giác, là giác bị mê[8].
Mê là mê cái ǵ? Mê chân vậy! Trong kinh Phật h́nh dung rất ư
vị, nhất niệm bất giác là mê; thời gian một
niệm rất ngắn.
Trong kinh
Nhân Vương, đức Phật đă nói [về một
niệm]; rất nhiều các đồng học đă từng
niệm kinh Nhân Vương rồi! Trong quá khứ, chúng tôi ở
Đài Loan, dường như năm nào Đài Loan cũng
đều mở pháp hội Nhân Vương để cầu
phước cho quốc gia. Trong kinh Nhân Vương, đức
Phật giảng một cái khảy tay là sáu mươi
sát-na, tức là một sát-na bằng 1/60 của khoảng thời
gian khảy ngón tay. Mỗi một sát-na có chín trăm lần
sanh diệt, mỗi một lần sanh diệt là một niệm. Nếu tính theo giây, th́ một
lần khảy ngón tay rất nhanh, một giây khảy
được bốn lần, bốn nhân sáu mươi
nhân chín trăm[9] ước
chừng hai mươi vạn tám ngàn, tức là trong một
giây có hai mươi mốt vạn sáu ngàn lần sanh diệt.
Trong một giây có hai mươi mốt vạn sáu ngàn lần
sanh diệt, quư vị làm sao có thể nhận biết được?
Nhất niệm bất giác th́ một niệm ấy là hai
mươi mốt vạn sáu ngàn lần sanh diệt trong một
giây. Điều tôi vừa thưa cùng quư vị ấy chỉ
là Như Lai nói phương tiện, chẳng phải là nói chân
thật. Đó là nói phương tiện, chứ quư vị
không có cách ǵ nhận biết tốc độ quá nhanh
như thế; nói thật ra, c̣n nhanh hơn tốc độ
vừa nói đó nữa!
Đừng
nói chi khác, hiện tại chúng ta biết tốc độ
ánh sáng nhanh nhất, tốc độ sóng điện từ
(electromagnetic wave) chẳng kém tốc độ ánh sáng mấy,
một giây đi được ba mươi vạn cây số.
Ánh sáng đi một cây số chỉ mất một phần
ba mươi vạn giây; trong một phần ba mươi
vạn giây, ánh sáng đi được một cây số. Nếu
chúng ta [lần lượt tính thời gian] ánh sáng đi được
một mét, đi được một centimetre, một
milimetre, th́ trong một phần ức vạn của một
giây, trong t́nh huống như thế, ánh sáng bất động.
Do đấy, chúng ta mới thấu hiểu điều được
nói trong kinh Phật “thanh tịnh
tịch diệt tướng”, đó là cảnh giới sở
chứng của bậc Bát Địa trở lên. Quư vị
nghĩ xem: Công phu định lực ấy thật sâu!
Trong đại định ấy, chẳng có ánh sáng nữa;
ánh sáng bất động. Đấy là biển Giác. Nếu
động một cái, hễ động là rắc rối
liền: Không gian xa - gần, thời gian trước - sau
liền từ đó sanh khởi. Đó gọi là thế giới;
Thế là thời gian, Giới là không gian, thời gian và
không gian cùng phát sanh. Thế nhưng quư vị phải hiểu
đó là huyễn tướng, kinh Kim Cang giảng rất
hay: “Nhất thiết hữu vi
pháp, như mộng, huyễn, bào ảnh, như lộ, diệc
như điển, ưng tác như thị quán” (Hết
thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt,
bóng, như sương, cũng như chớp, hăy nên quán
như thế). Quư vị phải thực sự thấy rơ
ràng, thấy minh bạch, nh́n ra chân tướng sự thật.
Những
ǵ ta thấy trong hiện tại là huyễn tướng, là
tướng tiếp nối liên tục hư huyễn. Cho rằng
tướng tiếp nối hư huyễn là chân thật,
khởi lên vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. A! Đó là “Sa Bà
nghiệp lăng lưu”. “Nghiệp lăng lưu” (sóng nghiệp
trào dâng) là ǵ? Là lục đạo luân hồi! Hăy xem hoàn cảnh
chúng ta đang sống: Thế giới Sa Bà, tam đồ lục
đạo là cảnh giới biến hiện từ vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. Huyễn
tướng giống hệt như nằm mộng,
nhưng giấc mộng ấy là ác mộng, đă ác mộng
lại c̣n chẳng tỉnh, cứ tiếp diễn hoài, khổ
quá! Ngày ngày gặp ác mộng, niệm niệm trong ác mộng,
vô lượng kiếp đến nay vẫn chẳng tỉnh
ra, càng mê sâu hơn, càng hăm trong cái khổ!
Phải
nói thật, nếu nói theo ngôn ngữ bây giờ, người
thời cổ thiện căn
so với chúng ta sâu dầy hơn nhiều.
V́ sao vậy? Vọng tưởng chẳng nhiều bằng
người hiện tại, dễ dạy hơn! Phật,
Bồ Tát ứng hóa trong thế gian này giáo hóa dễ dàng, vừa
thị hiện, thực sự có không ít người quay
đầu. Hiện tại, Phật, Bồ Tát ứng hiện
trong thế gian này có nhiều chăng? Hết sức nhiều.
Chúng sanh dễ độ chăng? Chẳng dễ độ!
Họ chẳng thể hồi đầu! Xác thực là họ
chẳng thể hiểu rơ chân tướng sự thật.
Họ cứ tưởng những ǵ họ nghĩ, họ
thấy đều tuyệt đối chính xác, cho những
ǵ Phật nói đều là mê tín, lẽ đâu có đạo
lư ấy, lẽ đâu có những chuyện ấy! Họ
nói Phật mê tín, bảo Phật giáo chẳng phù hợp hiện
thực.
Kính
thưa cùng quư vị dăm câu: Bọn họ theo chủ
nghĩa lư tưởng, chẳng thiết thực. Họ
nói những lời lẽ rất dễ nghe, chứ thật
ra khó lắm, thực sự chẳng dễ dàng! Hăy quay
đầu, kẻo lầm, Phật giảng tám vạn bốn
ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn. “Chư pháp b́nh đẳng, vô hữu cao hạ” (Các
pháp b́nh đẳng, chẳng có cao thấp), Phật nói
như thế đấy; nhưng đối với căn
tánh của con người hiện tại, trừ Tịnh
Độ ra, không có pháp nào thành tựu được cả!
Đừng nói tu hành chứng quả phải hiểu rơ chân
tướng sự thật, quư vị nghiên cứu kinh giáo
mà không hiểu rơ chân tướng sự thật th́ cũng
vô ích, không chuyển cảnh giới được!
Đó là
lời chân thật, cũng chính là lời Trung Phong quốc
sư đă giảng. Vọng tưởng, tập khí, phiền
năo từ vô thỉ kiếp đến nay quư vị chưa
buông xuống được. Đây là lời thành thật:
Nếu quư vị có thể buông xuống được th́
chẳng thành vấn đề, pháp môn nào cũng tu thành tựu
cả! Nếu không buông xuống được, sẽ chẳng
thể thành tựu. Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô
lượng pháp môn, không có pháp nào đới nghiệp thành
tựu, chỉ có tiêu nghiệp mới thành tựu. Quư vị
thấy kinh luận Đại, Tiểu Thừa thường
nói: Kiến, Tư phiền năo tiêu rồi bèn chứng quả
A La Hán; Trần Sa phiền năo tiêu bèn chứng quả vị
Bồ Tát. Vô minh phiền năo cũng tiêu sẽ thành Phật,
chẳng có đới nghiệp. Bây giờ quư vị hăy xem
kỹ nhé, tôi thường nói: Khoan nói tới Kiến Tư
phiền năo! Kiến phiền năo trong Kiến Tư phiền
năo là thô nhất, đức Phật nói nó gồm tám
mươi tám phẩm, nếu quư vị có năng lực
tiêu trừ được nó th́ mới chứng Tu Đà
Hoàn, [Tu Đà Hoàn] là Sơ Quả của Tiểu Thừa. Quư
vị cứ nghĩ thử xem! Do vậy, trong thời kỳ
Mạt Pháp, rất khó vậy!
Một
ngàn năm thứ nhất sau khi đức Phật diệt
độ là thời kỳ Chánh Pháp, Phật tử nghiêm tŕ
giới luật, dùng phương pháp Tŕ Giới chứng
được Tứ Quả, Tứ Hướng của Tiểu
Thừa. Hết một ngàn năm ấy, tiến vào thời
kỳ Tượng Pháp, tŕ giới chẳng thể chứng
quả, căn tánh con người chẳng được
như trước. Phật giáo hóa chúng sanh phải thay
đổi phương pháp, tu Định. Thiền Định
thành tựu trong thời Tượng Pháp, Tượng Pháp
dài một ngàn năm. Sau một ngàn năm ấy, căn tánh
của chúng sanh tệ hơn thời Tượng Pháp rất
nhiều. Nói cách khác, tu Định chẳng thể khai ngộ,
gần đây nhất là như Đàm Hư đại
sư thường nói. Sách Ảnh Trần Hồi Ức Lục
là tự truyện của Ngài, tôi đă đọc qua. Tôi chẳng
có duyên phận với cụ Đàm, chưa từng
được gặp mặt. Năm 1977, tôi giảng kinh tại
Hương Cảng, trụ nơi đạo tràng của
Ngài, tức Trung Hoa Phật Giáo Đồ Thư Quán ở
đường Giới Hạn thuộc khu Cửu Long do
lăo nhân gia sáng lập. Trong Đồ Thư Quán ấy, Ngài
có một căn pḥng nhỏ, lúc tôi giảng kinh ở
đó, ngụ tại căn pḥng của lăo nhân gia. Tôi giảng
kinh ở Đồ Thư Quán ấy không ít lần, coi
như rất có duyên phận.
Lăo nhân
gia từng nói: “Trong thời kỳ
Mạt Pháp, người tham Thiền khai ngộ chưa từng
thấy được một người”. Chẳng những
chưa từng thấy mà cũng chưa từng nghe nói
đến nữa. Đó là lời lăo ḥa thượng nói. Ngài
từng gặp người tham Thiền đắc định,
nghe nói lại càng nhiều hơn, tham Thiền đắc
Định nhưng chưa khai ngộ. Nghe lời này chúng
ta phải hiểu rơ: Tham Thiền đắc Định
chưa khai ngộ th́ chưa thoát khỏi lục đạo
luân hồi, tương lai sẽ đi về đâu? Người
đắc Thiền Định sanh thiên. Tùy theo công phu Thiền
Định sâu hay cạn! Định lực cạn chẳng
thoát được Dục Giới. Chúng ta biết từ tầng
trời thứ ba của Dục Giới trở lên, Dạ
Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại, [muốn
sanh lên] bốn tầng trời này đều phải tu Thiền
Định. Công phu Thiền Định sâu - cạn bất
đồng, quư vị sanh trong tầng trời nào? Nói thật
ra, ngay cả những mức Thiền Định đó mà c̣n
chưa có ai thành tựu cả! Chân chánh thành tựu Thiền
Định chẳng sanh trong Dục Giới, mà sanh vào Sắc
Giới. Tứ Thiền, Bát Định sanh trong Sắc Giới
hay Vô Sắc Giới, nhưng vẫn chưa thoát luân hồi
lục đạo!
Thiền
Định nhất định phải đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh, mới siêu thoát luân hồi;
cụ Đàm nói (Ngài văng sanh khi đă hơn chín mươi
tuổi) suốt một đời Ngài chưa từng gặp
được một ai [tham Thiền được đại
triệt đại ngộ]. Quư vị thấy đó, khó
khăn quá! Bởi thế, thời Mạt Pháp chỉ có Tịnh
Độ thành tựu. Trong kinh Đại Tập, đức
Phật dạy: “Thời kỳ
Mạt Pháp, Tịnh Độ thành tựu”. Niệm Phật
cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
đới nghiệp văng sanh, nhưng cổ đức giảng
rất nhiều về đới nghiệp: Đới nghiệp
là mang theo chủng tử của nghiệp, chẳng phải
là mang theo tập khí. Câu nói này hết sức trọng yếu!
Đới nghiệp là mang theo nghiệp cũ, chứ không
phải vác theo nghiệp mới. Điều này rất phiền
phức đấy nhé! Chúng ta ngày ngày tạo nghiệp nên niệm
Phật chẳng bảo đảm văng sanh. Ai đảm bảo
văng sanh? Người chẳng tạo nghiệp mới!
Người chẳng tạo nghiệp mới, chưa
đoạn chủng tử của nghiệp và tập khí, nhưng
làm thế nào chẳng tạo nghiệp?
Trong
đề mục pháp sự này, Trung Phong quốc sư
đă chỉ rơ “hệ niệm”,
nhất tâm hệ niệm A Di Đà Phật. Trong ư niệm
của chúng ta từ sáng đến tối, ngày đêm chẳng
ngưng dứt, chỉ có một niệm A Di Đà Phật,
ngoài ư niệm A Di Đà Phật ra, niệm ǵ cũng chẳng
có. Đấy nào phải là chuyện dễ! Thành Phật lẽ
nào dễ dàng? [Tu tập] như vậy là dễ dàng nhất
rồi! So với tám vạn bốn ngàn pháp môn, pháp môn này dễ
dàng nhất. Phương pháp này có nghĩa là bất luận
niệm nào cũng đều gọi là vọng niệm cả.
Bất luận ư niệm ǵ, hễ ư niệm khởi lên bèn
quy về A Di Đà Phật hết. Đó là điều cổ
nhân thường nói: “Chẳng
sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. Niệm
là mê, niệm ǵ cũng là mê, đều là vọng tưởng
cả!
Quư vị
phải chuyển cho nhanh, chẳng để cho vọng niệm
tiếp nối; niệm vừa mới khởi lên th́ niệm
thứ nhất vừa khởi, niệm thứ hai bèn là A Di
Đà Phật. Cốt sao quư vị vừa phát hiện th́
ngay lập tức chuyển niệm đó thành A Di Đà Phật.
Hệ niệm giống như dùng dây cột chặt, cột
chặt vào A Di Đà Phật. Nếu quư vị thực sự
làm được điều này, th́ xin chúc mừng quư vị,
quư vị sẽ sanh về thế giới Cực Lạc
làm Phật ngay trong một đời này.
Quư vị
hăy nghĩ đến câu chuyện pháp sư Đàm Hư
thường kể: Thầy của Ngài là pháp sư Đế
Nhàn, người đệ tử làm thợ vá nồi của
pháp sư [Đế Nhàn] chẳng phải là nhất tâm hệ
niệm đó ư? Lăo ḥa thượng dạy ông ta một
phương pháp, ông ta thực sự làm theo! Lăo ḥa thượng
dạy ông ta một phương pháp chẳng khó, chỗ khó
khăn là tŕ cho bền, thực sự làm! Chỉ
đơn giản như thế này: “Một câu
Hai câu tiếp
đó là “Nhược nhân
đăng bỉ ngạn, Cực Lạc hữu quy châu”
(Ai muốn lên bến giác, Cực Lạc sẵn thuyền về).
Trong thời đại Mạt Pháp chỉ có một biện
pháp, đức Phật dạy chúng ta, ngoài biện pháp ấy
ra, chẳng có biện pháp thứ hai. Bởi thế, Ấn
Quang đại sư xuất hiện trong thế gian dạy
những người tu hành chúng ta liễu sanh tử, thoát
tam giới. Lăo nhân gia dạy chúng ta ở chùa nhỏ, những
đồng học cùng tu không quá hai mươi người,
có một cái Niệm Phật Đường nho nhỏ là
đủ rồi. Trong Niệm Phật Đường chẳng
cần phải trần thiết tráng lệ, không cần thiết
làm như thế! Chỉ cần thờ một bức
tượng A Di Đà Phật, hoặc thờ Tây
Phương Tam Thánh là được rồi, sạch sẽ,
thanh tịnh, v́ sao? Nhất tâm hệ niệm. Thấy Phật,
Bồ Tát quá nhiều sẽ bị phân tâm. Tất cả hết
thảy chư Phật Như Lai đều được
đại diện bằng A Di Đà Phật, dùng Quán Thế
Âm, Đại Thế Chí đại diện cho hết thảy
Bồ Tát Ma Ha Tát. Toàn bộ đều được niệm
đến, mười phương ba đời chẳng
sót vị nào. Tâm định, chẳng tán loạn, tập
trung ư chí tinh thần, chẳng lăng phí chút thời gian nào.
“Bỉ ngạn” (bờ kia) là
bờ Giác. Nay chúng ta đang ở bến mê, chư Phật,
Bồ Tát ở bến Giác. Giờ đây chúng ta muốn phá
mê khai ngộ, muốn bỏ mê về với giác th́ thế
giới Cực Lạc có biện pháp. “Châu” (舟: thuyền) là công
cụ chuyên chở. “Quy châu”,
Quy (歸) là quay đầu, thế giới Cực
Lạc có chiếc thuyền đưa chúng ta quay đầu.
“Quy châu” chính là pháp sự này;
quư vị nương theo pháp sự này giống như có chiếc
thuyền để nương về vậy. Quư vị ngồi
vững vàng, chắc chắn trên chiếc thuyền ấy sẽ
phản vọng quy chân, phản mê quy ngộ, trở vào
trong Giác Hải. “Cực Lạc
hữu quy châu” [nghĩa là như vậy đó!]
Bởi
thế, bốn câu kệ này chỉ có hai mươi chữ,
nhưng ư nghĩa rộng sâu vô tận. Chỉ có “phản
vọng quy chân, phá mê khai giác” là chân. Đó gọi là Phật
pháp, Phật pháp chân chánh. Bốn câu kệ này phơi bày toàn
bộ tông chỉ của Tam Thời Hệ Niệm. V́ sao
chúng ta phải nương theo pháp sự này mà tu hành? Đă
nói rồi, phương pháp này là phương pháp để
một đời bất thoái thành Phật.
3. Kỳ
đảo văn
Tiếp
đó, chúng ta thấy có một đoạn văn. Đoạn
văn này có thể gọi là văn kỳ đảo (cầu
nguyện), mở đầu là bốn câu kệ:
Pháp
vương lợi vật,
Bi trí hồng
thâm,
Phổ
biến thập phương.
Minh
dương mị cách.
法王利物。
悲智洪深。
普遍十方。
冥陽靡隔。
(Pháp
vương lợi vật,
Bi trí rộng sâu,
Trọn khắp mười
phương,
Âm, dương chẳng cách).
“Pháp vương” là Như Lai, ở
đây chỉ A Di Đà Phật, Tỳ Lô Giá Na Phật,
Thích Ca Mâu Ni Phật. Sao nói là ba vị Phật? Tỳ Lô Giá
Na là Pháp Thân Phật, A Di Đà Phật là Báo Thân Phật,
Thích Ca Mâu Ni là Ứng Thân Phật. Pháp, Báo, Ứng, ba thân một
mà ba, ba nhưng một, toàn là Tự Tánh Phật.
“Lợi vật”: Chữ “vật” (物) chỉ chín pháp giới chúng sanh. Đại
sư chẳng nói “lợi nhân”,
nếu “lợi người” th́ chỉ nói đến loài
người, chẳng bao gồm các đường khác; bởi
thế nói là “lợi vật”.
Chữ “vật” có ư nghĩa
như “chúng sanh”, phạm vi hết sức rộng lớn.
Chúng sanh là các hiện tượng do các duyên ḥa hợp mà
sanh khởi. Bởi thế, chữ “chúng sanh” bao quát; như
nay ta nói bao gồm động vật, thực vật,
khoáng vật, bao gồm tất cả hết thảy hiện
tượng tự nhiên. V́ sao vậy? Chúng đều là do
các duyên ḥa hợp mà sanh khởi. V́ sao ở đây chẳng
nói “pháp vương lợi ích
chúng sanh”? Bởi mỗi câu chỉ có năm chữ, dùng
chữ “vật” hợp cách
hơn. Chư Phật Như Lai lợi ích hết thảy
chúng sanh, Vật là hết thảy chúng sanh, bao gồm cả
hữu t́nh lẫn vô t́nh.
“Bi trí hồng thâm”: Chư Phật
Như Lai dùng ǵ để lợi ích chúng sanh? Đại bi,
đại trí. “Hồng” (洪) là lớn, chúng ta thường nói bi trí
rộng sâu không ngằn mé. “Hồng”
là rộng, sâu, giống như biển cả. Phật dùng
bi trí như thế ấy. Có trí mà không có bi, không có tâm từ
bi th́ chẳng thể lợi ích chúng sanh. Có tâm từ bi
nhưng thiếu trí huệ cũng chẳng thể lợi
ích chúng sanh. Bi trí là tánh đức, trong tự tánh vốn sẵn
đủ đức năng. Chúng sanh mê mất tự tánh, tức
là mê mất trí huệ rộng lớn, sâu thẳm, mê mất
tâm từ bi. Do mê tâm từ bi bèn biến thành tự tư tự
lợi, mê mất trí huệ nơi tự tánh, người
thế gian chúng ta gọi [sự mê mất ấy] là “ngu si,
hồ đồ”. Ngu si hồ đồ là mê mất Bát Nhă
trong tự tánh. Tự tư tự lợi là mê mất tâm từ
bi trong tự tánh. Phật, Bồ Tát ứng hóa trong thế
gian giúp chúng ta phá mê khai ngộ. Ngộ điều ǵ? Ngộ
tự tánh vốn sẵn có trí huệ Bát Nhă, ngộ tự
tánh vốn sẵn có đại từ đại bi, chúng ta
và chư Phật Như Lai chẳng
khác ǵ nhau.
“Phổ biến thập
phương, minh dương mị cách”: “Mị cách” là
không chướng ngại, “thập
phương” là mười pháp giới. Mười pháp
giới là nói toàn thể, “minh
dương” (cơi âm và nhân gian) là nói đến cảnh giới
hiện tiền. Nay chúng ta thuộc dương gian, chúng ta
muốn giúp đỡ hết thảy chúng sanh trong ba
đường ác. Đối với những người
nhà, quyến thuộc, bằng hữu đă mất của
chúng ta, chúng ta chịu cảnh âm dương cách biệt;
nhưng âm gian hay dương cảnh chẳng thể chướng
ngại chư Phật, Bồ Tát . “Mị” (靡) là không, “mị
cách” là chẳng cách trở.
Pháp sự
này được cử hành nhất định phải có
người phát khởi, hoặc chính chúng ta chủ động
phát khởi, như tại học viện chúng ta, mỗi Chủ
Nhật đều cử hành một lần, tức là do học
viện chủ động phát khởi. Nói chung đều
là có người khải thỉnh, bởi thế, trong kinh
văn có câu:
Kim
mông trai chủ.
今蒙齋主。
(Nay nhờ trai chủ).
“Trai chủ” là người
phát khởi. Phát khởi nhất định phải hữu
sự, tức là nhất định v́ việc ǵ đó mà toan
đặc biệt hồi hướng. Nhưng đặc
biệt hồi hướng th́ quư vị phải hiểu như
trong kinh Địa Tạng đă giảng rất rành rẽ.
Người tu hành pháp này là tự lợi, trong bảy phần
công đức, bản thân người tu pháp hưởng
sáu phần, vong linh chỉ được hưởng một
phần, một phần bảy kia hồi hướng về
đâu chúng ta phải hiểu. Nếu chẳng phải để
siêu độ họ th́ mọi người chúng ta đă chẳng
tu pháp sự này! Chúng ta tu pháp sự này thực sự
được lợi ích th́ lợi ích ấy là do họ mà
có, họ được hưởng một phần lợi
ích. Nếu chúng ta tu pháp sự này mà người tu học
hiểu thấu, thực sự hiểu rơ sanh tử là việc
lớn và hiểu rơ tầm quan trọng của việc cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới; nếu thực
sự thấu hiểu, chúng ta nhất định hạ
quyết tâm, một đời này chẳng thể không sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới, th́ những
vong nhân được ta siêu độ sẽ được
hưởng lợi ích rất lớn.
Chúng ta chiếu
theo phương pháp này tu học, đạt được
bao nhiêu lợi ích th́ những vong linh chỉ được
hưởng được một phần bảy. Chúng ta
được lợi ích nhiều th́ họ hưởng
được nhiều, chúng ta được ít, họ
hưởng được ít. Nếu chúng ta chỉ làm pháp
sự xuông ngoài miệng, qua quít tắc trách th́ sẽ chẳng
được lợi ích ǵ, vong linh cũng chẳng
được hưởng ǵ. Phải hiểu đạo
lư này! Thời cổ cũng có những pháp sự siêu độ,
hiện thời [pháp sự] phổ biến nhất ai nấy
đều biết là Lương Hoàng Sám. Lương Hoàng
chính là Lương Vơ Đế. Lương Vơ Đế thỉnh
ngài Bảo Chí Công siêu độ cho phi tử nhà vua. Vợ
ông ta đọa trong ác đạo, ngài Bảo Chí Công là hóa
thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Tu pháp sự ấy, vợ
ông ta ĺa khỏi ác đạo, sanh lên trời Đao Lợi.
Sớm
hơn nữa, chúng tôi đọc trong An Thế Cao Truyện
Kư thấy vào thời xa xưa kia, nhằm đời Hậu
Hán, khi Phật pháp truyền đến Trung Quốc chưa
lâu, ngài An Thế Cao siêu độ bạn đồng học,
tức long vương hồ Củng Đ́nh. Siêu độ
bằng cách nào? Long vương đem toàn bộ những thứ
tín đồ cúng dường cho y ta quyên tặng hết,
ngài An Thế Cao v́ hắn ta dựng một ngôi chùa thờ
Phật ở Nam Xương, dùng tiền của long
vương để dựng chùa, dùng ngôi chùa ấy để
thực hiện sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh. Nhờ
công đức ấy, long vương lập tức thoát
thân súc sanh, sanh lên trời Đao Lợi thật nhanh, thật
hữu hiệu. Bởi thế, long vương là trai chủ,
Lương Vơ Đế là trai chủ của Lương
Hoàng Bảo Sám, nhằm siêu độ thân thuộc, bằng
hữu của họ.
Đặc thỉnh sơn
tăng đăng tọa.
特請山僧登座。
(Riêng thỉnh sơn tăng lên ṭa).
Đặc
biệt lễ thỉnh, “sơn
tăng” (ông sư sống trong núi) là khiêm hư, khiêm
xưng.
Y bằng
giáo pháp.
依憑教法。
(Nhờ vào giáo pháp).
Căn cứ,
nương tựa, nhờ vào phương pháp của đại
sư Trung Phong đă biên soạn.
Tác
Tam Thời Hệ Niệm Phật sự.
作三時繫念佛事。
(Làm Phật sự Tam Thời Hệ
Niệm).
Phật
sự Tam Thời Hệ Niệm vốn do Trung Phong thiền
sư biên tập.
Năi
nhĩ vong linh, tao thử thắng duyên.
迺爾亡靈。遭此勝緣。
(Vong linh
các ngươi, gặp duyên thù thắng này).
Những
vong linh các ngươi – dù chỉ nhằm siêu độ một
người, th́ những người đến nghe ké rất
nhiều, không ai chẳng hưởng lợi ích. Bây giờ
hết giờ rồi, buổi học sau chúng tôi sẽ tiếp
tục giảng từ đoạn này, giảng từ
đoạn “năi nhĩ vong linh”.
Hôm nay giảng đến đây thôi.
Tập 03
Hôm qua giảng
đến phần văn tác bạch sau bài kệ “giác hải”, đầu đoạn
văn này trước hết thuyết minh đạo lư cảm
ứng. Đạo lư ấy rất sâu, chẳng dễ hiểu
cho lắm, nhưng chắc chắn có chuyện như thế
ấy, nghĩa lư rất sâu. Tu pháp sự này là v́ một
nhân duyên đặc biệt, tức là siêu độ vong
linh, đó là nhân duyên đặc biệt. Trên thực tế,
pháp môn này đúng là vô cùng thù thắng; bởi thế, Tịnh
Tông Học Hội mỗi Chủ Nhật cử hành một
lần, tạo thành một khoa mục trong chương
tŕnh tu học của chúng ta. Trung Phong đại sư khai
thị vô cùng tinh vi, chúng ta có dịp thường xuyên đọc
tụng, theo văn nhập quán, giúp chúng ta tiêu trừ nghiệp
chướng, nâng cao cảnh giới, rất hữu ích.
Chúng tôi đọc đoạn văn ấy một lượt:
Pháp
vương lợi vật,
Bi trí hồng thâm,
Phổ biến thập
phương,
Minh dương mị cách.
法王利物。
悲智洪深。
普遍十方。
冥陽靡隔。
(Pháp
vương lợi vật,
Bi trí rộng sâu,
Trọn khắp mười
phương,
Âm, dương chẳng cách).
Mười
sáu chữ trong bài kệ bốn câu này, ngày hôm qua đă thuật
cùng
quư vị rồi. Trước hết
chúng ta phải hiểu rơ chân tướng của sự thật:
Trong chân tướng, không gian chẳng có xa - gần, thời
gian chẳng có trước - sau. Bởi thế, đối
với chư Phật, Bồ Tát, đối với tất
cả hết thảy chúng sanh trong mười pháp giới,
chúng ta thực sự chẳng chướng ngại ǵ,
đúng như kinh Hoa Nghiêm dạy lư sự vô ngại, sự
sự vô ngại. Hễ có cảm bèn lập tức có ứng.
Giờ đây, nhờ vào trai chủ, tức là v́ nhân duyên
đặc biệt, v́ một chuyện nào đó mà họ thực
hiện pháp sự này.
Đặc
thỉnh sơn tăng đăng tọa.
特請山僧登座。
(Riêng thỉnh sơn tăng lên ṭa).
“Sơn tăng” là pháp
sư chủ tŕ pháp hội nói tự khiêm, tự xưng một
cách khiêm nhượng.
“Y bằng
giáo pháp, tác Tam Thời Hệ Niệm Phật Sự”.
依憑教法。作三時繫念佛事。
(Nhờ
vào giáo pháp, làm Phật sự Tam Thời Hệ Niệm).
Hôm qua
chúng tôi đă giảng đến đây.
Năi
nhĩ vong linh, tao thử thắng duyên.
迺爾亡靈。遭此勝緣。
(Vong linh các ngươi, gặp duyên thù thắng
này).
“Thần
linh” là tiếng để gọi
chung chúng sanh trong chín pháp giới. Chuyên gọi một
người nào đó đă qua đời khuất núi th́ nói
là “vong linh”; c̣n như trong
công khóa tu học thường ngày, th́ gọi là “thần linh”, tức là nói trọn
khắp hết thảy tôn thần trong pháp giới, tận
hư không giới. V́ nguyên nhân nào? V́ cầu sanh Tịnh
Độ. Thần linh trong chín pháp giới vẫn phải
cầu sanh Tịnh Độ ư? Đúng vậy! Trong kinh
Hoa Nghiêm, chúng ta thấy bốn mươi địa vị
Pháp Thân đại sĩ, bao gồm cả Văn Thù, Phổ
Hiền đều cầu sanh Tịnh Độ. Có vậy,
quư vị mới hiểu pháp môn Tịnh Độ thù thắng!
Chúng sanh
trong chín pháp giới vẫn c̣n mê hoặc, chẳng biết
đại sự nhân duyên thù thắng; chúng ta đem tin tức
này báo cho họ. Chúng ta tin tưởng sâu xa họ nghe
được tin tức này, trong đời quá khứ ai nấy
đều có thiện căn, ta khơi dậy thiện
căn của họ khiến họ giác ngộ. Giác ngộ
đây chẳng phải là minh tâm kiến tánh, mà giác ngộ
là ǵ? Do thiện căn trong đời quá khứ phát hiện,
tất nhiên họ sẽ niệm A Di Đà Phật cầu
sanh về thế giới Cực Lạc, cùng dự pháp hội
này với chúng ta, cùng mọi người chúng ta thực hiện
khóa lễ này.
“Năi nhĩ vong linh, tao thử thắng
duyên”: “Tao” (遭) là gặp gỡ,
chúng ta gặp được pháp duyên thù thắng này, pháp
duyên thù thắng này chẳng dễ gặp được, đúng
là “trăm ngàn vạn kiếp
khó gặp gỡ”, [mà nay may mắn] gặp được
pháp duyên thù thắng này.
Tự nghi nghiêm túc oai nghi.
自宜嚴肅威儀。
(Hăy tự nghiêm túc oai nghi).
“Nghiêm túc oai nghi” ở đây
như cổ nhân Trung Quốc thường nói: “Thành ư trung nhi h́nh ư ngoại”
(ḷng Thành bên trong thể hiện ra ngoài). Từ “nghiêm túc oai nghi” bên ngoài thấy
được nội tâm kiền thành cung kính. Cứ hễ
có tâm cung kính th́ rất nhiều việc tự nhiên thành, chẳng
cần phải tạo tác ǵ, cũng chẳng cần ai phải
dạy, chẳng cần ai dặn ḍ, tự nhiên biểu hiện
thái độ hết sức cung kính. Điều này tôi thấy
rất nhiều.
Lai
lâm tọa hạ, cung linh diệu pháp.
來臨座下。恭聆妙法。
(Đến
dự dưới ṭa, kính nghe diệu pháp).
Đến
tham dự pháp hội cùng chúng ta, cung cung kính kính lắng
nghe. Ở đây chúng ta sẽ đọc kinh A Di Đà, hăy
nghe kinh, trong Tam Thời Hệ Niệm có những khai thị
hết sức tinh vi, chúng ta hăy cùng nhau tu học.
Nhất
tâm thọ độ.
一心受度。
(Một dạ
lănh nhận giáo huấn).
“Thọ độ”
nghĩa là tiếp nhận lời răn dạy, trong Phật
pháp thường gọi là “độ”,
tức là “giáo đạo” (教導:
Chỉ dạy). V́ sao chẳng dùng chữ
“giáo đạo”, lại dùng chữ “độ”? Độ là nói từ mặt Quả,
từ thành tựu mà nói. “Giáo
đạo” là nhân, là dạy học. Dạy học có
được thành tựu hay không? Nếu có thành tựu
th́ gọi là Độ. Ư nghĩa gốc của chữ
Độ vốn là tỷ dụ, giống như vượt
qua sông vậy, chúng ta từ bờ bên này vượt sang bờ
bên kia. Nếu chúng ta vượt được sông qua
đến bờ đối diện th́ gọi là “độ quá” (vượt
qua). Bởi thế, kinh Phật thường dùng tỷ dụ
sau: Chúng ta đang ở bờ mê hoặc bên này, bờ đối
diện là giác ngộ, chúng ta muốn từ mê vượt
lên giác. Phật răn dạy nhằm giúp chúng ta phá mê khai ngộ,
giúp chúng ta đoạn ác làm lành. Nay chúng ta đang ở bờ
ác bên này, ta muốn vượt qua bờ thiện bên kia. V́
thế, Độ là từ quả mà nói, Giáo là từ nhân mà
nói. Do vậy, chữ Độ rất sâu sắc, rất
viên măn, Giáo có lúc chẳng viên măn, Độ là đă
đưa ra thành tích hết sức tốt đẹp cho
quư vị thấy.
Muốn “thọ độ” th́ trọng
yếu nhất là phải “nhất
tâm”. Có nhất tâm th́ quư vị mới tiếp nhận
được sự giáo huấn, mới thực sự
chuyển được cảnh giới. Nhất tâm là chân
thành, nhị tâm chẳng chân thành. Trước kia, tiên sinh
Tăng Quốc Phiên đời Thanh, nói thật ra, ông ta
cũng là một học giả bất phàm, thích đọc
sách; trong bút kư đọc sách của ông ta có định
nghĩa chữ Thành. Thế nào là Thành? Cổ thánh tiên hiền
Trung Quốc rất coi trọng chữ Thành này, bất luận
pháp thế gian hay xuất thế gian, mấu chốt để
thành tựu hay không là do quư vị có ḷng Thành hay không? Thế
nào là Thành? Tăng Quốc Phiên nói: “Nhất niệm chẳng sanh là Thành”. Ông ta giải
thích cách này rất giống với thuyết nhà Phật. Nhất
niệm chẳng sanh, niệm ở đây là vọng niệm;
không có vọng niệm. Cũng có thể nói phân biệt, vọng
tưởng, chấp trước đều là vọng niệm,
đều phải đoạn sạch những vọng niệm
ấy, ǵ cũng chẳng c̣n, đó gọi là Thành. Nếu vẫn
c̣n có một niệm, một niệm vui thích hay một niệm
sân hận, quư vị chưa buông xuống được
th́ chưa có được chữ Thành ấy!
Một con người
tốt, hết sức từ bi, đối với người,
đối với hết thảy chúng sanh đều có tâm
yêu thương, nhưng trong tâm c̣n có điều ǵ đó, như
là tham luyến, hoặc là nóng giận vĩnh viễn chẳng
buông xuống được th́ do một niệm ấy, tấm
ḷng Thành bị phá hoại mất. V́ sao đức Phật
dạy chúng ta tu thành kính? Đức Phật biết quư vị
nóng giận, tham ái là do đầu dây mối nhợ từ
đời quá khứ, chứ chẳng phải là nhân duyên một
hai đời. Bởi thế, hiện thời, các bác sĩ
tâm lư ngoại quốc đều chữa tâm bệnh. V́ sao
họ không buông những chuyện ấy xuống được,
có ấn tượng sâu đến thế? Thực sự
là niệm niệm chẳng quên, chứa trong chỗ sâu kín của
tâm hồn. Đấy là chỗ thương tích trí mạng
cho việc tu hành chứng quả, chẳng những không thể
chứng quả, mà c̣n chẳng thể khai ngộ nổi.
Bác sĩ tâm lư ngoại
quốc dùng thuật thôi miên khiến những người
đó trở về đời quá khứ, một đời
quá khứ, hai đời quá khứ, ba đời quá khứ.
Tôi từng nghe nói: Có trường hợp thôi miên đến
mức rất sâu, người được thôi miên có thể
nhớ việc trong hơn tám mươi đời trước,
kể ra hết. Hơn tám mươi đời trước
tức là cách hiện tại gần như ba bốn ngàn năm.
Những sự việc khiến cho kẻ ấy bị
đả kích nghiêm trọng trong thuở đó, như bị
người khác hăm hại, bị người khác lăng
nhục đau đớn không thiết sống nữa. Những
ư niệm ấy ghi khắc rất sâu; trong A Lại Da Thức
hàm tàng những chủng tử đó, mấy ngàn năm sau,
mấy chục đời sau, những chủng tử ấy
vẫn hiện hành, vẫn khởi tác dụng. Quư vị
nói có phiền phức hay chăng? Thông qua phương thức
[thôi miên] đó khiến cho [bệnh nhân] tự nói ra.
Hiện thời khoa học
phát triển, dùng máy ghi âm thâu lại, chờ lúc họ tỉnh
dậy, mở cho họ nghe. Họ nghe xong, vấn đề
chi cũng được hóa giải hết, là v́ sao? Biết
rơ tiền nhân hậu quả, không sự ǵ là ngẫu nhiên cả.
Người này tốt với ḿnh là v́ trong đời
trước ḿnh tốt với kẻ ấy; người
này chơi xấu ḿnh là do ḿnh trong đời trước xử
tệ với hắn, oan oan tương báo! Nghĩ vậy
không bận ḷng nữa, coi như xong, chuyện đó xong rồi,
kết liễu rồi! Hy vọng đời sau kiếp sau
gặp được bạn bè tốt, chẳng cần phải
trở thành oan gia, chẳng cần đối đầu nữa,
hóa giải hết.
Đức Phật có
năng lực như thế, đức Phật biết
được sự t́nh của hết thảy chúng sanh
trong vô lượng kiếp trước. Bởi thế, đức
Phật thuyết pháp cao minh, Ngài có thể lôi ra hết những
chủng tử nghiệp chướng, tập khí ẩn sâu
trong Tạng Thức của ta khiến cho ta giác ngộ, khiến
ta tự dẹp yên (nói theo cách bây giờ) những mâu thuẫn,
nghi ngờ, lo lắng trong nội tâm, hóa giải hết tất
cả, [v́ thế], nhất tâm và ḷng thành kính của ta bèn hiện
tiền. Có điều kiện ấy th́ quư vị mới
có thể tu đạo, nhất tâm thọ độ!
4. Lư
Hương Tán
Tiếp
theo là phần Lư Hương Tán là bài tán tụng phổ
biến nhất trong Phật môn. Trước hết, mở
đầu bằng bài Giới Định Chân Hương.
Bài này tôi đă thưa cùng quư vị rồi, Trung Phong đại
sư có dụng ư đặc biệt. Không có Giới, không
có Định, tu pháp môn ǵ cũng chẳng được lợi
ích, bởi thế phải nêu Giới Định trước
hết.
Bài Lư
Hương Tán thuộc thể loại tán tụng. Nếu
dùng thuật ngữ tôn giáo thông thường để nói
th́ nó thuộc thể loại kỳ đảo, dùng h́nh thức
thi ca để diễn đạt. Tôi nói như thế này
chắc mọi người rất dễ hiểu, rất
dễ lănh hội. Đây là bài cầu nguyện, mong nhờ
vào lời cầu nguyện này mà được cảm ứng
đạo giao cùng chư Phật, Bồ Tát, đến gia
tŕ pháp hội này. “Gia tŕ” là
danh từ trong Phật giáo, nói theo cách bây giờ là “đến
che chở, ban phước, giúp sức” khiến cho việc
làm này của chúng ta được thành công viên măn. Việc
làm ở đây chính là pháp sự Hệ Niệm. Những
đại chúng cùng dự hội, đại chúng gồm
chúng sanh trong chín pháp giới đây, ai nấy đều
được lợi ích, đắc Pháp Hỷ. Chúng ta hăy
xem bài Hương Tán.
Lư
hương sạ nhiệt.
爐香乍爇。
(Ḷ hương vừa đốt).
“Sạ” (乍) là mới vừa. Cái đỉnh báu, cái
ḷ hương vừa mới đốt lên, khói hương
tỏa khắp.
Pháp
giới mông huân.
法界蒙熏。
(Pháp giới khắp xông).
Pháp giới
rất lớn! “Xông khắp
pháp giới” là sự thật, có phải là khoa
trương hay không? Trong bài văn tác bạch ở trên có
câu “phổ biến thập
phương, minh dương mị cách” (trọn khắp
mười phương, âm dương chẳng ngăn
cách). Trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường
nói: “Nhất thiết pháp tùng tâm
tưởng sanh” (Hết thảy pháp sanh từ tâm tưởng
sanh). Tâm tưởng ấy là sóng tâm chuyển động,
tốc độ nhanh không có cách ǵ tưởng tượng
được. Hiện tại, vật lư học nghĩ tốc
độ ánh sáng nhanh nhất, nhưng các nhà vật lư cận
đại biết chắc chắn trong vũ trụ quả
thật c̣n có những thứ có tốc độ nhanh
hơn ánh sáng; nhưng trong Thái Dương Hệ của
chúng ta, tốc độ ánh sáng nhanh nhất, một giây
đi được ba mươi vạn cây số.
Thưa thật cùng quư vị, nhanh nhất là ư thức, ư niệm.
Ư niệm vừa nẩy sanh, tốc độ lan truyền
của nó liền trọn khắp hư không pháp giới,
ánh sáng chẳng thể sánh bằng được. Tổ
sư đại đức dạy chúng ta: Tâm càng thanh tịnh,
càng định, th́ phạm vi lan truyền của sóng niệm
càng lớn. Kinh Lăng Nghiêm nói “tịnh
cực quang thông”, [nghĩa là] tịnh đến mức
cùng cực th́ quang (quang là tâm quang, quang minh của trí huệ
Bát Nhă nơi tự tánh) bèn thông suốt. Thông suốt ở đây
là khắp hư không pháp giới, thật đấy! Chẳng
giả đâu!
Bây giờ,
nếu hỏi: Lũ phàm phu tục tử chúng ta vọng niệm
tơi bời th́ có được năng lực lớn
lao như thế chăng? Nói như trên là thật đấy,
chẳng sai đâu! Nhưng quư vị phải hiểu:
Chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát mỗi vị
đều là “tịnh cực
quang thông”. Nói cách khác, năng lực tiếp thâu của
các Ngài rất lớn, tuy chúng ta phát sóng, tin tức của
chúng ta không đến được các Ngài, nhưng các
Ngài có năng lực tiếp thâu đến tận chỗ
chúng ta, chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế, chúng ta khởi
tâm động niệm ở đây, dẫu xen tạp vọng
tưởng, xen tạp ác nghiệp, các Ngài vẫn có thể
tiếp nhận được, năng lực tiếp nhận
của các Ngài trọn khắp hư không pháp giới. Bởi
thế “pháp giới mông huân”
là thật, chẳng giả!
諸佛海會悉遙聞。
(Hải hội chư Phật
thảy xa nghe).
Bao gồm
Pháp Thân Bồ Tát. “Dao văn”
là quan niệm của phàm phu chúng ta: Ở rất xa, các Ngài
cũng nghe thấu; nhưng trong cảnh giới các Ngài, chẳng
có xa hay gần, người học Phật chúng ta chẳng
thể không biết điều này! Minh tâm kiến tánh, sau
khi kiến tánh, không gian lẫn thời gian đều chẳng
c̣n nữa, đều quy nhất hết. Chúng ta cảm thấy
có xa - gần, nhưng đối với các Ngài sẽ là hệt
như trước mắt, ở ngay trước mắt.
Tùy xứ
kết tường vân.
隨處結祥雲。
(Khắp chốn kết
mây lành).
Khắp chốn kết
mây lành là chuyện dĩ nhiên. Tiếp theo đó:
Thành
ư phương ân.
誠意方殷。
(Ḷng thành mới ân cần)
“Thành ư phương ân” là chúng
sanh năng cảm. Chúng sanh phải có thành ư, thành ư ân cần,
th́ quư vị mới nhờ vào lư hương [để
cảm Phật, Bồ Tát] được. Lư
hương nhằm biểu thị pháp, biểu thị một
chút thành ư của chúng ta, vừa đốt bèn ân cần. Quư
vị thấy hương [cúng dường ấy]
được [chư Phật, Bồ Tát] ứng như thế
này: “Tùy xứ” là chư Phật
ứng, “kết tường
vân” là khí thế gian ứng. Đạo vị này quá sức
sâu đậm. Chư Phật, Pháp Thân Bồ Tát ở khắp
mọi nơi khởi cảm ứng đạo giao cùng
chúng ta, “kết tường
vân” là khí thế gian ứng. Ư nghĩa này rất nồng
đậm. Chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát ở
khắp các nơi bèn cảm ứng đạo giao. “Kết tường vân” là nói
khí thế gian, tức vô t́nh thế gian. Điều này
đă được khoa học gia Giang Bổn Thắng của
Nhật Bản chứng minh: Nước kết tinh tạo
thành dạng thức (pattern) mỹ lệ, đấy chính
là “kết tường vân”.
Tâm yêu thương, tâm cảm tạ, mỹ ư, thiện hạnh
có thể làm cho thiên địa vạn vật kết tinh
thành dạng đẹp đẽ nhất, đấy chính
là ư nghĩa của chữ “tường
vân”.
諸佛現全身。
(
Ở
đây, “chư Phật” có
hai nghĩa: Thứ nhất là rất nhiều các đức
Phật Như Lai; thứ hai là gồm cả các Pháp Thân Bồ
Tát. Trong Viên Giáo, từ Sơ Trụ trở lên đều
là “phần chứng tức Phật”[10] . Trong Viên
Giáo, từ Sơ Trụ lên đến Đẳng Giác, Diệu
Giác gồm bốn mươi hai địa vị, thảy
đều là “chư Phật”.
Cư sĩ Giang Vị Nông chú giải kinh Kim Cang giải
thích chữ “chư Phật”
như vậy, [bốn mươi mốt địa vị
Pháp Thân đại sĩ và Diệu Giác] chính là bốn
mươi hai địa vị chư Phật. Ở
đây, hai nghĩa này đều hợp lư cả. Nói theo chiều
ngang là hết thảy chư Phật, Bồ Tát; nói theo chiều
dọc là bốn mươi hai địa vị chư Phật.
Đây là chư Phật đến cảm ứng, trí Chánh
Giác thế gian. Trong chữ “chư
Phật” c̣n có một ư nghĩa nữa là tam thân chư Phật,
tức Pháp Thân, Báo Thân, và Ứng Hóa Thân. Nói như vậy rất
hoàn thiện, tất cả đều hiện toàn thân, thực
sự hiện thân, chứ chẳng phải giả. Quư vị
phải hiểu thấu suốt, minh bạch, biết cảm
ứng đạo giao chẳng thể nghĩ bàn. Nếu
quư vị chẳng thể thấu suốt, minh bạch
điều này th́ quư vị chỉ xướng bài tán này, chỉ
niệm theo văn mà thôi, chẳng nhập được cảnh
giới, chẳng thể thụ dụng chân thật. Tiếp
đó là Phật hiệu:
南無雲來集菩薩摩訶薩。
Ở đây không phải
là Hương Vân Cái Bồ Tát. “Vân
Lai Tập”: Chư Phật, Bồ Tát vô lượng vô
biên như mây, đều nhóm đến đạo tràng này,
từ mười phương nhóm đến. Danh hiệu
này phải xưng ba lần, biểu thị chúng ta ân cần
khẩn thiết khải thỉnh, thỉnh ba lần
nhưng niệm một câu. Lần niệm Vân Lai Tập cuối
cùng thường thêm hai chữ Hải Hội thành Nam Mô Vân
Lai Tập Hải Hội Bồ Tát Ma Ha Tát. Hai lần đầu
là Nam Mô Vân Lai Tập Bồ Tát Ma Ha Tát, lần thứ ba là
Nam Mô Vân Lai Tập Hải Hội Bồ Tát Ma Ha Tát. Đấy
thường là cách tán tụng kỳ đảo dùng trong các
pháp hội quy mô lớn. Bởi vậy, quư vị phải
nhớ kỹ: Tất cả hết thảy tán tụng
đều là những bài cầu nguyện như trong tôn
giáo thường nói, giống như thơ ca ngợi, thi ca
tán dương; trong nhà Phật gọi là Phạm Bái, là Tán Tụng.
Trong bài
Hương Tán ở phần trước, chúng tôi từng
nhắc đến công án Da Thâu Đà La, nay tôi giới thiệu
rất đơn giản cùng quư vị. Da Thâu Đà La là phi
tử của Thích Ca Mâu Ni Phật, bà ta mắc nạn; chuyện
ấy chúng tôi chẳng cần thuật chi tiết. Nói kỹ
rất mất thời gian; nếu quư vị muốn biết
rơ hăy coi trong sách Kinh Luật Dị Tướng. Sách Pháp Uyển
Châu Lâm càng chép rơ hơn, tợ hồ có ba cách giải thích
v́ sao Da Thâu Đà La mắc nạn? V́ sao tôn giả La Hầu
La ở trong thai mẹ sáu năm mới sanh? Đều có
nhân quả! Trong kinh thuyết minh cặn kẽ, tra cứu
kinh rất phiền, phải biết tra đúng bộ kinh
nào; cổ nhân đă làm việc ấy rồi, làm rất kỹ.
Họ đem các công án, nhân duyên trong các kinh gom lại một
chỗ, soạn thành một loại sách, nay gọi là Phật
Học Từ Điển. Sách cổ nhân soạn mang tên Kinh
Luật Dị Tướng và Pháp Uyển Châu Lâm, quư vị
có thể tham khảo những sách đó. Tiếp theo là một
đoạn bạch văn, đoạn bạch văn này
thuộc thể loại kỳ đảo.
5. Kỳ
đảo văn
Thử
nhất biện hương.
此一瓣香。
(Một nén hương này).
Hương
này là hương h́nh thức. Chúng ta đốt
Đàn Hương, cắt Đàn Hương thành từng mảnh,
từng nén, nhằm tượng trưng cho điều
ǵ? Tượng trưng cho tâm hương của chúng ta, biểu
thị một tấm ḷng kiền thành lễ kính. Do vậy,
nó là một nén tâm hương. Những câu tiếp theo toàn
nói về tâm hương, chứ chẳng phải là
hương vật chất.
Căn
bàn kiếp ngoại.
根蟠劫外。
(Gốc cuộn ngoài kiếp).
“Kiếp” (kalpa) là thời gian,
đây là nói bằng thí dụ. Đàn Hương là gỗ
Chiên Đàn, dùng để sánh ví Pháp Thân của chúng ta, Pháp
Thân của chúng ta là cây Chiên Đàn. Một mảnh
hương này là tâm hương của chúng ta, cội rễ
của Pháp Thân vượt ngoài thời kiếp, Kiếp là
thời gian, câu này có nghĩa là siêu việt thời gian.
Chi
bá trần hoàn.
枝播塵寰。
(Nhánh trùm vũ trụ).
“Trần hoàn” là không gian, hư
không pháp giới. Tám chữ này (tức “căn bàn kiếp ngoại, chi bá trần hoàn”) có
nghĩa là siêu việt thời gian lẫn không gian. Siêu việt
cả thời gian lẫn không gian chỉ có chân tâm. Chẳng
phải là chân tâm, chẳng phải là bổn tánh, sẽ chẳng
có cách ǵ siêu việt được!
Bất
kinh thiên địa dĩ sanh thành.
不經天地以生成。
(Chưa từng được
trời đất sanh thành).
Nó chẳng
phải do trời đất sanh ra. Chẳng phải do trời
đất sanh ra th́ từ đâu đến? Tự tánh vốn
sẵn có đủ. Câu này nói rất rơ hương này là loại
hương ǵ? Hương chân tánh, chân hương tâm tánh.
Chúng ta dùng hương ấy để cúng dường Phật.
Vậy th́ chúng ta phải hỏi: Phật là ǵ? Tiếp
đó, [lời bạch văn] lại nói ta dùng chân
hương tâm tánh để cúng dường.
Khởi
thuộc âm dương nhi tạo hóa?
豈屬陰陽而造化。
(Há lẽ thuộc âm
dương tạo hóa?)
“Tạo”
là tạo tác, “hóa” là biến
hóa. “Khởi thuộc âm
dương tạo hóa” ư nói hương ấy vĩnh hằng
bất biến. Vĩnh hằng bất biến là chân, bị
Âm - Dương tạo tác, biến hóa th́ chẳng phải
là chân, chẳng phải là chân tâm. Quư vị hăy nghĩ xem: Làm
sao không cảm ứng cho được? Chúng ta đốt
một mảnh Đàn Hương, mảnh Đàn
Hương này là giả, là huyễn hóa, chẳng phải thật,
nó có sanh diệt, nhờ vào nó để biểu thị chân
hương tâm tánh, vĩnh hằng bất biến, bất
sanh bất diệt. Hương là tánh đức, Quang là trí
huệ sẵn có nơi tự tánh; v́ thế, thường
gộp chung thành “hương
quang trang nghiêm”. Ở đây:
Nhiệt
hướng lô trung.
爇向爐中。
(Đốt đặt trong ḷ).
Cái ḷ này
cũng biểu thị pháp. Mảnh hương này đốt
trong ḷ hương, hương là tánh đức của
chúng ta. Ḷ là ǵ? Ḷ là pháp giới! Mật Tông sử dụng Mạn
Đạt Lạp (Mandala), Mạn Đạt Lạp biểu
thị pháp giới; trong Hiển giáo th́ dùng lư
hương để biểu thị pháp giới. Cúng
dường khắp pháp giới, tận hư không giới.
Chuyên
thân cúng dường.
專伸供養。
(Chuyên dâng cúng dường).
Ở đây
nói rất rơ đối tượng cúng dường...
Thường
trụ Tam Bảo, sát hải vạn linh.
常住三寶。剎海萬靈。
(Thường trụ
Tam Bảo, vạn linh trong các cơi nhiều như biển).
Bao gồm hết
thảy, Thường Trụ Tam Bảo là Trí Chánh Giác thế
gian, Sát Hải Vạn Linh là hữu t́nh thế gian và khí thế
gian, thảy đều cúng dường trọn khắp
pháp giới, hư không giới, không sót một thứ ǵ. Chúng
ta xướng bài tán này, cầu nguyện như thế, quư
vị có cái tâm ấy hay chăng? Cổ đức thường
dạy chúng ta “tùy văn nhập
quán”, [tức là] dựa theo kinh văn mà biến hóa tâm
lượng giống hệt như trong kinh văn đă
nói, công đức ấy chẳng thể nghĩ bàn. Bởi
thế, nếu quư vị chẳng hiểu ư nghĩa, quư vị
chỉ xướng theo chứ không có ư nghĩ ǵ, chỉ là
dẻo miệng, chẳng thể tương ứng! Nhất
định phải hiểu được ư nghĩa.
Thường xuyên xướng tụng, thường niệm
theo, sẽ tự nhiên biến thành tâm hạnh của chính
ḿnh. Ta dùng ngay trí huệ, Giới, Định, tánh đức
của chính ḿnh, niệm niệm chẳng quên cúng dường
trọn khắp pháp giới, hư không giới hết thảy
chúng sanh. Trên là chư Phật Như Lai, dưới là chúng
sanh trong địa ngục, hữu t́nh, vô t́nh, đều
cúng dường hết, cây cối hoa cỏ, sơn hà đại
địa cũng đều gộp hết trong đó, “sát hải vạn linh” mà! Tiếp
đó, đặc biệt chỉ ra:
Cực
Lạc đạo sư A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế
Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng.
極樂導師。阿彌陀佛。觀音勢至。清淨海眾。
Đặc biệt nêu lên Tây Phương Cực
Lạc thế giới, trong câu trước là thảy đều
cúng dường trọn khắp; ở đây, đặc
biệt nêu rơ, bởi mục tiêu của chúng ta là cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân cận
A Di Đà Phật. Dùng cách nào
để cầu? Dùng cúng dường trọn khắp
để cầu. V́ sao? Di Đà cúng dường như thế,
Quán Thế Âm, Thế Chí cúng dường như thế; nay
ta cũng cúng dường như thế bèn đầy đủ
điều kiện văng sanh thế giới Cực Lạc. Quư
vị không có điều kiện ấy mà muốn sanh về
thế giới Cực Lạc th́ chỉ là vọng tưởng
v́ chẳng đầy đủ điều kiện!
Bây giờ
đă hết giờ rồi, chúng ta nghỉ vài phút.
*
Chúng ta
hăy xem tiếp, trên đây là một đoạn văn kỳ
đảo, chúng ta hăy đọc qua một lượt:
Thử
nhất biện hương, căn bàn kiếp ngoại, chi
bá trần hoàn, bất kinh thiên địa dĩ sanh thành, khởi
thuộc âm dương nhi tạo hóa, nhiệt hướng
lô trung, chuyên thân cúng dường thường trụ Tam Bảo,
sát hải vạn linh.
此一瓣香。根蟠劫外。枝播塵寰。不經天地以生成。豈
屬陰陽而造化。爇向爐中。專伸供養。常住三寶。
剎海萬
靈。
(Một nén hương này, gốc cuộn ngoài kiếp,
nhánh trùm vũ trụ, chẳng do trời đất sanh
thành, há thuộc Âm Dương tạo hóa? Đốt đặt
trong ḷ, chuyên dâng cúng dường, thường trụ Tam Bảo,
vạn linh trong các cơi nhiều như biển).
Mấy
câu này thật hết sức trọng yếu, nhất định
chẳng được nói niệm xuông đoạn văn
này là đủ, tâm ta nhất định phải hoàn toàn ứng
với văn, đấy là cái nhân chân thật để cảm
ứng. V́ sao được cảm ứng? Cái nhân chân thật
là ở chỗ này (tức tâm hoàn toàn ứng với lời
văn trong bài Kỳ Đảo này), chúng ta chẳng thể
không biết điều này. Do vậy, ta biết: Người
chân chánh giác ngộ, thực sự minh bạch, họ
cũng thực sự có cùng một Thể với pháp giới
và hư không giới, niệm niệm chẳng ĺa, niệm
niệm chẳng cách ngăn, chướng ngại. Họ cảm
ứng cùng pháp giới, hư không giới; trên là chư Phật
Như Lai, dưới là chúng sanh trong địa ngục,
t́nh và vô t́nh (vô t́nh là sơn hà đại địa, hoa cỏ,
cây cối, bao gồm hết thảy tất cả hiện
tượng tự nhiên, nói theo khoa học hiện thời
là các hiện tượng vật chất trong vũ trụ),
thảy đều được bao gồm trong ấy.
Thành ư!
Chúng tôi nói tâm chân thành trọn khắp, tâm thanh tịnh trọn
khắp, tâm b́nh đẳng trọn khắp, tâm chánh giác trọn
khắp, tâm từ bi trọn khắp vừa cảm th́ ba thứ
thế gian trong pháp giới, tức trí Chánh Giác thế gian
là chư Phật, Bồ Tát, hữu t́nh thế gian là hữu
t́nh chúng sanh, khí thế gian là vô t́nh, ba thứ thế gian (là
toàn thể vũ trụ) đều có ứng. Một niệm
của chúng ta cảm th́ mọi thứ trong toàn thể
vũ trụ thảy đều ứng, chẳng thể
nghĩ bàn! Chúng ta dùng điều này để hồi
hướng như trong đoạn văn sau đây:
Cực
Lạc đạo sư A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế
Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng.
極樂導師。阿彌陀佛。觀音勢至。清淨海眾。
Đây là chuyên chỉ (tức nói rơ đối tượng
hồi hướng), bởi lẽ, công khóa chúng ta đang tu
đây nhằm để cầu sanh Tịnh Độ, cầu
được thân cận Di Đà, thân cận Quán Âm, Thế
Chí, thân cận hết thảy đại chúng trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Nếu tâm hạnh chúng ta chẳng thuần
tịnh, thuần thiện, sẽ chẳng thể cảm ứng.
Bởi thế, trong tâm chẳng được xen tạp mảy
may; nếu không, sai mất rồi! Trong tâm ắt chẳng
có kẻ oán hận nào, chẳng có oán hận ǵ; hễ có một
thứ nào th́ sẽ là xen tạp, tâm thuần tịnh thuần
thiện bị phá hoại. Nhất định phải biết
buông xuống; chẳng thể buông xuống được
là hại ḿnh, hại tự tánh, hại chân tâm. Tự tánh
mê th́ chân tâm trở thành hư vọng, v́ đă bị một
vọng niệm xen tạp. Ngàn vạn phần chẳng
được xem thường vọng niệm, vọng niệm
đó gây hại; không có pháp thế gian, xuất thế gian
nào gây hại bằng nó đâu! Có như thế th́ mới
thấy tánh chất nghiêm trọng của vọng niệm.
Sau cùng là hai câu tổng kết:
Tất
trượng chân hương, phổ đồng cúng dường.
悉仗真香。普同供養。
(Đều cậy vào chân hương,
b́nh đẳng cúng dường khắp cả).
Chân
hương này là hương quang tánh đức, “phổ đồng cúng dường”
là tu đức, tương ứng với tánh đức.
Đức Phật nói: Trong hết thảy các thứ cúng
dường, pháp cúng dường bậc nhất. Sự
cúng dường ở đây thuộc về pháp cúng dường,
nay chúng ta đang tu hành pháp cúng dường; như trong phẩm
Phổ Hiền Hạnh Nguyện đă dạy chúng ta “như giáo tu hành cúng dường”
(cúng dường bằng cách tu hành theo đúng lời dạy).
Phật dạy chúng ta như thế nào, chúng ta học làm
theo như thế ấy, mọi sự Phật chỉ dạy
chúng ta đều thực hành, đó là cúng dường. Chúng
ta thấy những lời trần thuật trong đoạn
văn kỳ đảo này đều là những lời đức
Phật thường răn dạy trong kinh luận, chúng ta
phải học tập, niệm niệm chẳng quên, niệm
niệm thực hiện, khế nhập cảnh giới,
đó là “phổ đồng
cúng dường”. Tiếp đó, đọc ba lần:
南無香雲蓋菩薩摩訶薩。
Ư nghĩa giống
như ở phần trên, niệm danh hiệu này phải hiểu
được ư nghĩa của danh hiệu. “Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha
Tát” là tiếng gọi chung hết thảy Bồ Tát, chứ
chẳng phải chuyên chỉ một vị nào, hoặc
chuyên chỉ một “quần thể”
nào! Nay chúng ta gọi “quần thể” là đoàn thể. Tất
cả Bồ Tát Ma Ha Tát trong khắp giới, hư không giới
đều được bao gồm trong ấy, đều
là Hương Vân Cái. [Bài văn kỳ đảo trong phần
này của] pháp sự giống như đoạn văn kỳ
đảo vừa được nói trong phần trên, đều
cùng là Tự Phần của pháp sự.
Dưới
đây, chánh thức bước vào pháp sự Tam Thời
Hệ Niệm. Tam
Thời Hệ Niệm có ba thời: Thời
thứ nhất, thời thứ hai và thời thứ ba. Quư
vị phải biết ba thời này cùng lấy “tŕ danh niệm
Phật” làm chủ, nhưng với mỗi thời pháp sự,
mở đầu bằng niệm kinh, đại sư chọn
Phật Thuyết A Di Đà Kinh. Trước hết là niệm
kinh, rồi mới niệm chú, tức là niệm chú Văng
Sanh. Tiếp đó là nghe kinh, tức là nghe giảng khai thị.
Mỗi chữ, mỗi câu trong phần khai thị đều
là kinh văn, nay chúng ta gọi là “tập
hội”, tức là tom góp những khai thị trọng yếu
nhất, tinh túy nhất trong kinh luận nhà Phật, ḥng cảnh
tỉnh chúng ta, khiến cho chúng ta thời thời khắc
khắc chẳng quên, cùng học tập. Trước khi niệm
kinh, trước hết phải niệm ba câu:
南無蓮池海會佛菩薩。
Nam-mô nghĩa là quy
mạng, quy y, lễ kính, chí thành cung kính. “Liên Tŕ Hải Hội” là Tây Phương Cực Lạc
thế giới, hội này vĩnh hằng chẳng tan, nếu
nói bằng thuật ngữ Phật pháp th́ là pháp hội bất
sanh bất diệt. “Liên Tŕ”
có thật! Trong kinh đức Phật đă nhắc đến
ao báu, nước tám công đức. Ao ấy do các báu hợp
thành, đáy ao chẳng phải là cát bùn mà là cát bằng vàng.
Phật nói như vậy. Trong ao ấy nở đầy
hoa sen, hoa sen do đâu mà có? Hết thảy chúng sanh trong
mười phương thế giới phát nguyện cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong ao
sen trước giảng đường của Phật A
Di Đà bèn mọc một đóa hoa sen. Trên hoa ghi tên họ
kẻ ấy, chẳng nhầm lẫn! Hoa sen do đó mà có, tột
bậc tuyệt diệu vậy!
Nếu
tâm quư vị lui sụt, không c̣n ư nguyện cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới nữa, hoa sen ấy
bèn chết khô, chẳng c̣n hoa sen đó nữa. Có thể nói:
Trong thế giới Cực Lạc, tất cả hết thảy
hoa cỏ, cây cối, t́nh và vô t́nh đều là bất sanh bất
diệt, trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
chỉ thấy có một tướng sanh diệt là hoa sen
trong ao sen, hoa sen thực sự có sanh có diệt. Cá nhân
đó nhất niệm muốn cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới th́ trong ao đó mọc lên một
đóa sen; tâm thoái thất th́ hoa sen chẳng c̣n nữa. Trong
thế giới Cực Lạc, chỉ có mỗi chuyện
này là thấy có tướng sanh diệt. Nếu quư vị
phát tâm rất chân thành, thiết tha, tu hành thật dũng
mănh, hoa của quư vị tăng trưởng rất nhanh,
ánh sáng, màu sắc xinh đẹp. Nếu quư vị tu hành xen
tạp quá nhiều, hoa kém tươi đẹp, tựa hồ
có quá nhiều màu sắc hỗn tạp, hoa sen cũng chẳng
to.
Nói tóm lại,
người chuyên tu Tịnh nghiệp, hết thảy chẳng
xen tạp th́
hoa sen của người ấy tăng trưởng vừa nhanh, vừa
đẹp, vừa lớn. Trong
tương lai, khi văng sanh, A Di Đà Phật
cầm hoa sen đó đến tiếp dẫn [hành giả]
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, hóa
sanh trong hoa sen đó! Có phải là sanh về thế giới
Cực Lạc là sẽ biến thành một đứa bé ở
trong hoa sen ấy hay không? Thưa cùng quư vị, không phải
vậy! Nếu biến thành giống như một đứa
bé dần dần lớn lên th́ Tây Phương Cực Lạc
thế giới có tướng sanh - lăo - bệnh - tử.
Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có những
chuyện như thế, hễ sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, h́nh dạng sẽ vĩnh viễn cố
định như thế, hóa sanh mà! Tướng hảo
quang minh chẳng khác Phật cho lắm!
Trong kinh
Vô Lượng Thọ, đức Phật đă giới thiệu
bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật rất
rơ ràng, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
thể chất đều là thân kim cang tử ma chân kim sắc,
thân kim cang bất hoại, tướng mạo chẳng chỉ
có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ
đẹp đâu nhé, chẳng phải chỉ vậy! Ba
mươi hai tướng, tám mươi tùy h́nh chỉ là Ứng
Liệt Thân trong thế gian chúng ta mà thôi. A Di Đà Phật trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới “có vô lượng tướng, mỗi
tướng có vô lượng vẻ đẹp”, đến
chỗ nào bèn mang thân [tương xứng với] nơi đó.
Trong kinh đức Phật dạy rất rơ ràng: A Di Đà
Phật tiếp dẫn quư vị văng sanh, liên hoa hóa sanh, quư
vị ở trong hoa sen ấy, do v́ quư vị mang nghiệp
theo nên hoa sen chưa nở, đó là đới nghiệp.
Bài kệ
Hồi Hướng chúng ta thường đọc cũng
là lời cầu nguyện nơi tâm: “Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”. Do đây ta
biết: Câu ấy đâu phải là nói tùy tiện, lúc nào hoa
nở? Lúc chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn, hoa sẽ
nở! Vô Sanh Pháp Nhẫn là pháp chứng đắc của
Bồ Tát Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa.
Thất Địa Bồ Tát chứng được hạ
phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn, Bát Địa chứng trung phẩm,
Cửu Địa chứng thượng phẩm. Do đây
ta biết rằng: Trong hoa sen, quư vị chứng đắc
quả vị rồi hoa sen mới nở. “Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”. Do đây biết
rằng: Nếu chưa thực sự chứng đắc
Thất Địa th́ hoa chưa nở. Khi hoa chưa nở,
có phải là rất cô độc hay chăng? Chẳng phải,
trong hoa có thế giới, thế giới ǵ vậy? Thế
giới Cực Lạc.
Trong hoa
là thế giới Cực Lạc, ngoài hoa cũng là thế
giới Cực Lạc. Thế giới Cực Lạc trong
hoa chẳng nhỏ, thế giới Cực Lạc ngoài hoa
chẳng lớn, trong - ngoài là một, chẳng phải hai.
A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí giáo hóa quư vị ở
trong hoa, hải hội đại chúng cũng ở trong
hoa. Quư vị cảm thấy kỳ quá ư? Không có chút ǵ kỳ
quái hết. V́ sao vậy? Quư vị thấy trong kinh Hoa Nghiêm
c̣n có những việc càng kỳ quái hơn nữa kia! Kinh
Hoa Nghiêm nói sao? Trong vi trần có thế giới. Mỗi một
vi trần – nơi thân chúng ta chẳng biết có bao nhiêu là
vi trần – vi trần được nói trong nhà Phật chính
là cơ bản của vật chất. Khoa học hiện
tại nói cơ bản của vật chất là ǵ? Là nguyên
tử, điện tử (electron), lạp tử (leptons). Hiện
thời họ c̣n phát hiện những hạt nhỏ
hơn lạp tử, h́nh như được đặt
tên là khoa-khắc (quark), nhỏ hơn lạp tử nhiều,
trong kinh Phật gọi chúng là “vi trần”. Trong vi trần
có thế giới, thế giới lớn cỡ nào? Hoàn toàn
giống với thế giới chúng ta hiện đang cảm
nhận đây!
V́ thế,
đức Phật thường nói: Trong một lỗ chân
lông hay nơi đầu một sợi lông, Phật chuyển
đại pháp luân. Chuyển đại pháp luân là khai đại
pháp hội, vạn ức Bồ Tát cùng ở một chỗ
nghe đức Phật giảng kinh thuyết pháp. Ở
đâu vậy? Trên đầu một sợi lông. Đầu
lông chẳng phóng to, pháp hội chẳng rút nhỏ. Trong tự
tánh chẳng có lớn - nhỏ, chẳng có dài - ngắn, chẳng
có trước - sau, chẳng có xa - gần. Mấy năm gần
đây, hằng ngày chúng ta đọc Hoa Nghiêm, đối với
những điều đức Phật đă nói như thế,
chúng ta nghe quen tai rồi, chẳng c̣n cảm thấy kỳ
quái nữa. Có những người nghe như thế bèn có
thể tiếp nhận được, chứng tỏ tâm
lượng họ dần dần mở rộng. Sự việc
này quả thật rất khó hiểu, thực sự khó hiểu;
chúng tôi sẽ nêu thí dụ để quư vị hiểu
được. Trong kinh Phật, tỷ dụ được
dùng nhiều nhất là “mộng,
huyễn, bọt, bóng”. Trong bốn thứ mộng, huyễn,
bọt, bóng ấy, lấy mộng làm chủ, huyễn, bọt,
bóng là nói thêm.
Mỗi
cá nhân chúng ta đều có kinh nghiệm nằm mộng, quư
vị nói cảnh giới trong mộng là lớn hay nhỏ?
Cảnh giới trong mộng là ǵ? Theo Phật pháp, mộng
là do một chủng tử trong A Lại Da Thức hiện
hành, nhớ kỹ: Một chủng tử! Chủng tử ấy
lớn cỡ nào? Hiện nay, khoa học nêu ra một thuyết
tôi nghe bèn gật đầu, cũng có lư đôi chút! Các nhà
khoa học nói khởi nguyên của vũ trụ là từ một
điểm bất th́nh ĺnh “bùng vỡ” biến hiện ra
vũ trụ. Tôi nghe vậy, không đồng ư “bùng vỡ”
là chân tướng sự thật, nhưng từ trong một
điểm đột nhiên biến hiện ra th́ đúng. Một
điểm lớn cỡ nào? Các nhà khoa học tính toán, cho rằng
lấy một sợi tóc trên đầu chúng ta đem cắt
ngang, nh́n vào thiết diện của sợi tóc thấy rất
nhỏ. Họ nói một điểm lớn cỡ nào?
Đem thiết diện (mặt cắt ngang) của một
sợi tóc đó chia thành một trăm ức phần, những
phần chia nhỏ như vậy có thể xếp bày thành một
trăm ức phần, cảnh giới được hiện
đó gọi là “nhất thời
đốn hiện”. Điều này có thể giải
thích mộng cảnh của chúng ta.
Mỗi ngày từ sáng
đến tối chúng ta đều nằm mộng. Những
tướng được hiện trong mộng cảnh sẽ
hiện như thế nào? Hiện khởi những chủng
tử trong A Lại Da Thức. Những chủng tử ấy
tợ hồ không có h́nh tướng, chẳng những mắt
thịt không thấy được mà kính hiển vi
cũng chẳng thể thấy. Các nhà khoa học do đâu
mà biết? Họ suy diễn từ lư luận Số học.
Về căn bản, khoa học kỹ thuật hiện
đại vẫn chưa làm được, vẫn
chưa có biện pháp để phát hiện điều này;
nhưng cách giải thích ấy khiến chúng tôi nghĩ
đến những điều được dạy trong
kinh: Trong A Lại Da Thức tàng trữ chủng tử, những
chủng tử ấy không có h́nh tướng. Nếu chúng
có h́nh tướng, đức Phật nói “trọn hư không cũng chẳng thể chứa hết
được nổi”, nhưng chúng thực sự tồn
tại. Mỗi một chủng tử đều có thể
nhất thời đốn hiện, hiện ra cảnh giới,
cảnh giới chẳng có lớn hay nhỏ.
Làm thế
nào để nhập cảnh giới ấy? Theo kinh Hoa
Nghiêm mà chúng ta đă đọc trước đây, Phổ
Hiền Bồ Tát nhập được. Trên thực tế,
Phổ Hiền Bồ Tát nói Đẳng Giác có thể nhập
được, nhưng Phổ Hiền là Đẳng Giác,
có vị Đẳng Giác Bồ Tát nào chẳng tu hạnh Phổ
Hiền? V́ thế, Phổ Hiền chẳng phải là một
người, Văn Thù cũng chẳng phải là một vị.
Quán Âm, Thế Chí [cũng giống như thế], chỉ cần
là một vị Đẳng Giác Bồ Tát [tu hạnh giống
như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí], chúng ta
đều có thể coi [những vị Đẳng Giác Bồ
Tát ấy] như là một người. Danh hiệu bất
đồng biểu thị trí huệ, năng lực bất
đồng, chứ trên thực tế, trí huệ năng lực
của các Ngài đều viên măn. Danh hiệu tượng
trưng cho sự viên măn của một bộ phận [trí
huệ, năng lực] nào đó. Ư nghĩa là như vậy
đó. Đẳng Giác Bồ Tát có thể nhập vô lượng
vô biên thế giới, thế giới trùng trùng vô tận, chẳng
thể nghĩ bàn.
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni cho chúng ta biết: Hoa sen trong ao sen “đại như xa luân” (to
như bánh xe), chẳng phải như hạt cải, chẳng
phải là vi trần. Do đây, chúng ta hiểu rơ: Mỗi hoa
sen là một thế giới, kẻ ấy (người
được liên hoa hóa sanh trong thế giới Cực Lạc)
tu hành trong đó, hoạt động trong đó. Ở trong
hoa sen, hằng ngày cúng dường mười phương
vạn ức chư Phật chẳng chướng ngại.
Tây Phương Cực Lạc thế giới và Hoa Tạng
giống nhau. Chẳng những giống nhau mà Cực Lạc
c̣n là cốt lơi của Hoa Tạng, là phần tinh túy của
Hoa Tạng, là bộ phận tinh hoa nhất, được
bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia
tŕ, tác dụng chẳng thể nghĩ bàn. Đến khi hoa
nở sẽ thấy Phật, sau khi hoa nở là cảnh giới
nào? Là cảnh giới Thật Báo Trang Nghiêm Độ của
A Di Đà Phật! Quư vị phải hiểu Phàm Thánh Đồng
Cư Độ, Phương Tiện Hữu Dư Độ
đều là lúc hoa chưa nở, khi hoa nở là Thật
Báo Trang Nghiêm Độ.
Kinh Quán
Vô Lượng Thọ Phật nói rất rơ ràng, văng sanh Phàm
Thánh Đồng Cư Độ, ở trong hoa sen bao lâu mới
nở? Mười hai kiếp. Chúng ta nghe thời gian mười
hai kiếp [cảm thấy] lâu quá! Trên thực tế, hăy
nghĩ xem, trong các kinh Đại Thừa, đức Phật
nói, kể từ ngày quư vị chứng được quả
Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo, phá một phần vô
minh, chứng một phần Pháp Thân, tính từ ngày đó trở
đi, tu hành trong thế giới Hoa Tạng, tu trọn bốn
mươi mốt địa vị, cuối cùng chứng
được địa vị Diệu Giác, phải mất
bao nhiêu thời gian? Trong kinh thường nói là ba đại
A-tăng-kỳ kiếp!
Ba đại
A-tăng-kỳ kiếp! Trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới là mười hai kiếp, quư vị mới
thấy trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
tu hành nhanh hơn nhiều lắm. Trong các cơi Phật khác phải
tu ba đại A-tăng-kỳ kiếp, trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới chỉ tu mười
hai kiếp, [đó là sự tu hành của những người
thuộc] Hạ Hạ Phẩm văng sanh trong Phàm Thánh Đồng
Cư Độ. V́ thế, mười phương Bồ
Tát có ai mà chẳng muốn biết pháp môn này? Có ai chẳng
muốn học pháp môn này? Quả thật do nhân duyên mỗi
người bất đồng, thực sự có rất
nhiều Bồ Tát chẳng biết [pháp môn Tịnh Độ].
Thiện Đạo đại sư bảo: “Tổng tại duyên bất đồng”
(nói chung là do gặp duyên khác nhau). Chúng ta nay gặp
được pháp duyên thù thắng này, chẳng phải là
việc đơn giản. Tây Phương Cực Lạc
là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, nhất quyết
chớ nên hoài nghi. Quư vị hoài nghi là đă bỏ lỡ
cơ hội trong một đời này vậy!
Trong ba
kinh, Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cho chúng ta biết
cơi Tịnh Độ nào của Tây Phương Cực Lạc
thế giới? Ngài toàn giới thiệu cho chúng ta Phàm Thánh
Đồng Cư Độ. Những điều nói trong
kinh A Di Đà là [nói về] Phàm Thánh Đồng Cư Độ,
kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
cũng đều nhằm giới thiệu cơi ấy. Phàm
Thánh Đồng Cư Độ đă thù thắng như thế,
những cơi [Tịnh Độ] cao hơn [trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới] th́ cần phải
nói chi nữa? Người học Phật bỏ Tịnh
Độ Di Đà, tu các pháp môn khác, chẳng những là khó,
mà thật ra c̣n đúng như thầy Lư Bỉnh Nam đă viết
trong bản chú giải kinh Vô Lượng Thọ, đó là
những kẻ ngu si, mê hoặc – “phi ngu tức mê” (không ngu th́ cũng là mê). Vứt bỏ
pháp chúng ta hết sức có khả năng thành tựu ngay
trong một đời này, vứt bỏ pháp như vậy quả
là đáng tiếc!
Ao sen,
nước tám công đức do tự tánh biến hiện,
duy tâm sở hiện, hải hội đại chúng chẳng
ngoại lệ. Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ.
A Di Đà Phật là tự tánh Di Đà, bởi thế trong
khai thị ở phần sau, Trung Phong thiền sư nói: “Ngă tâm tức thị A Di Đà Phật,
A Di Đà Phật tức thị ngă tâm” (Tâm ta chính là A Di
Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm ta), “thử phương tức Cực
Lạc, Cực Lạc tức thử phương” (phương
này tức Cực Lạc, Cực Lạc tức
phương này). Những lời ấy hết sức sâu xa,
nhưng là chân tướng của sự thật, chẳng
giả chút nào. Những người học Phật, đem
ḿnh và Phật chia thành hai, Phật chẳng phải là ta, ta
chẳng phải là Phật; đem hoàn cảnh sống hiện
tại của chúng ta và thế giới Cực Lạc chia
thành hai, Cực Lạc chẳng phải là Sa Bà, Sa Bà chẳng
phải là Cực Lạc. Quư vị thấy Trung Phong Thiền
Sư đă hợp hai thứ ấy thành một.
V́ sao
tướng khác nhau? Tướng khác nhau là do tâm tưởng
sanh. Do quư vị nghĩ “chẳng phải là một” nên
tướng chẳng giống nhau. Nếu cách nghĩ, cách
nh́n của quư vị là một, th́ tướng bèn thành một.
Hiện tại, chúng ta khởi tâm, động niệm, nói
năng, tạo tác, thực sự chẳng giống với
người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Tâm họ thuần tịnh, thuần thiện, tâm chúng ta bất
tịnh, bất thiện. Dù có nói là tịnh th́ trong tịnh
vẫn xen tạp bất tịnh, nói là thiện th́ vẫn
xen tạp bất thiện, nên chẳng giống nhau
được! Do vậy, đương nhiên cảnh giới
chẳng thể giống nhau.
Trong sách,
tiến sĩ Giang Bổn Thắng cho biết đă nhiều
năm, ông ta hằng ngày quan sát nước kết tinh giống
như hoa tuyết, chưa bao giờ thấy hai mẫu kết
tinh giống nhau. Mùa Đông hoa tuyết kết tinh cũng
giống như thế. Nh́n dưới kính hiển vi, chắc
chắn [mỗi hoa tuyết hay h́nh dạng kết tinh của
nước] chẳng giống nhau, chúng ta hiểu rơ đạo
lư này. Ai thấy tất cả hết thảy kết tinh
đều tương đồng? Kinh Đại Thừa
nói “Phật Phật đạo
đồng”. Chúng ta hăy nghĩ xem: Sau khi thành Phật, một
phẩm sanh tướng vô minh tối hậu đă đoạn
sạch rồi; nói cách khác, vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước chẳng c̣n mảy may ǵ xen tạp, chư
Phật thấy hết thảy hiện tượng trong
vũ trụ nhất định tương đồng. Thập
Địa Bồ Tát, Đẳng Giác Bồ Tát thấy hết
thảy cảnh giới hết sức giống nhau, hết
sức gần gũi, nhưng xem kỹ vẫn chẳng
tương đồng, huống chi lục đạo phàm
phu! Đương nhiên [phàm phu thấy các cảnh giới]
chẳng tương đồng! Mỗi một người
chúng ta thấy nước kết tinh cũng chẳng
tương đồng, v́ sao? Tiền niệm khác với hậu
niệm. Đức Phật này giống hệt đức
Phật kia v́ các Ngài đều chẳng có ư niệm, cách thấy
của các Ngài hoàn toàn tương đồng, trong mỗi niệm
các Ngài thấy tương đồng.
Quư vị
nhất định phải biết tất cả hết
thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ
đều sanh diệt trong từng sát-na. Đấy là Thật
Tướng! Bất sanh bất diệt chỉ là Tánh, tự
tánh bất sanh bất diệt. Tánh là ǵ? Ở đây, Trung
Phong đại sư nói tới “linh
tri”, tức là Ngài nói đến tâm. Theo Ngài, tâm có ba thứ:
1) Một là “nhục
đoàn tâm” (trái tim thịt), tất cả hết thảy
chúng sanh đều có.
2) Hai là “duyên lự tâm”, tức là tâm vọng tưởng phân biệt,
vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước,
là vọng tâm. Ai nấy đều có, chẳng giống
nhau.
3) “Linh tri tâm” giống
nhau. Linh tri tâm là chân tâm, chân tâm bất sanh bất diệt.
“Linh, tri”: Kinh Lăng
Nghiêm nói hơi tỉ mỉ hơn một chút, kinh dùng bốn
chữ “kiến, văn, giác,
tri” (thấy, nghe, hay, biết), Trung Phong thiền sư gộp
“kiến, văn, giác” thành một
chữ Linh. Linh Tri là chân tâm, hư không pháp giới do nó biến
hiện; bởi thế, hư không pháp giới
đương nhiên đầy đủ “kiến, văn, giác, tri”. Tâm là năng biến (chủ
thể thực hiện hành động biến hiện), vạn
pháp là sở biến (cái được biến hiện bởi
tâm). Cổ nhân nói: “Dĩ kim tác
khí, khí khí giai kim” (Dùng vàng chế đồ vật, món
nào cũng là vàng). Vàng là bản chất, có món vật nào lại
chẳng mang đặc tánh của vàng? Đương nhiên
là có, món nào cũng có đủ [đặc tánh ấy], chắc
chắn chẳng khiếm khuyết mảy may. Từ tỷ
dụ này, chúng ta suy ra: Tất cả hết thảy vạn
sự vạn vật trong vũ trụ đều có linh
tri.
Hiện tại, tôi có
liên lạc với tiến sĩ Giang Bổn Thắng, ông ta
cũng rất hoan nghênh tôi đến Nhật Bản tham
quan pḥng thí nghiệm của ông. Ông ta cũng muốn hiểu
rơ cảnh giới Hoa Nghiêm. Tôi yêu cầu ông ta làm thật
nhiều thí nghiệm để t́m hiểu sâu hơn “tất
cả hết thảy vạn vật trong vũ trụ
đều có linh tri”. Tất cả hết thảy vạn
vật đều là sống, chẳng có thứ nào chết
cả, thứ nào cũng có đủ “kiến, văn, giác,
tri”. Chúng ta muốn cuộc sống của chính ḿnh tốt
đẹp, hoàn cảnh tốt đẹp, chẳng phải
là không làm được, mà thực sự là chẳng dễ
thực hiện. Thực hiện bằng cách nào? Thiện
ư, thiện tâm th́ tất cả cảnh giới đều
biến thành tốt, núi sông đại địa đều
sung măn linh khí. V́ sao có tai nạn? V́ tâm chẳng lành. Trong tâm
đầy ắp tự tư tự lợi, đầy ắp
tham, sân, si, mạn, khởi tâm động niệm tổn
người lợi ḿnh, khiến cho phản ứng của
tất cả hết thảy vạn vật thảy đều
biến thành xấu xa. Phản ứng tốt đẹp là
mô thức kết cấu tươi đẹp, dưới
kính hiển vi, quư vị sẽ thấy được [điều
này]. Tâm t́nh bất hảo, ư niệm bất hảo, phản
ứng sẽ rất khó coi!
Do vậy, thế giới
Cực Lạc là tâm thanh tịnh của chính ḿnh, do thiện
ư, mỹ ư biến hiện ra. Thế giới Sa Bà của
chúng ta là do tâm nhiễm ô, do ác ư, ác niệm biến hiện
ra. Bản thân hết thảy vạn vật vốn chẳng
có ư niệm, chẳng có vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước, chỉ là có linh tri, chứ không có vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. Hữu t́nh chúng
sanh có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước;
vô t́nh chúng sanh bị chuyển theo ư nghĩ của quư vị.
Do vậy, kinh thường nói “cảnh
tùy tâm chuyển” (cảnh chuyển theo tâm). Đó là một
nguyên lư, nguyên tắc căn bản, phải tin tưởng
sâu xa, chớ nên nghi ngờ! Từ nơi đâu để
thực hiện [chuyển cảnh theo tâm]? Từ thiện
ư, từ nơi ư niệm của quư vị mà thực hiện,
sửa đổi toàn bộ hết thảy ư niệm ác và
tư tưởng ác, đổi thành thiện ư, đổi
thành mỹ ư th́ thế giới này trở thành tốt đẹp,
thành thiện mỹ, thành “liên
tŕ hải hội”.
Chữ “Phật Bồ Tát” chẳng cần phải giải
thích nữa. Do vậy, quư vị hăy nghĩ xem: Câu này bao gồm
những nghĩa lư rộng sâu vô tận, dù chúng tôi ngày ngày
giảng nói, giảng suốt cả trăm năm cũng
chẳng giảng hết. Hôm nay hết giờ rồi, chúng
tôi giảng đến đây thôi.
Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,
phần 1 hết
[1] Vô Môn Khai tức là ngài Vô Môn Huệ Khai
(1183-1246), tác giả bộ sách Thiền nổi tiếng Vô
Môn Quan.
[2] “Cưỡng
băo” (襁褓), ta gọi
là cái địu. Người Trung Hoa thường dùng vải
dày may thành cái địu, có bốn sợi dây, buộc con
cơng sau lưng để người mẹ rảnh tay dễ
làm lụng. “Vừa mới khỏi phải địu” tức
là đứa bé đă tự đi lẫm chẫm được,
không c̣n phải địu sau lưng nữa.
[3] Phạm bái (梵唄): Các h́nh thức tán tụng kinh điển
trong Phật giáo Trung Hoa.
[4] Tức là chia sách ra thành từng đoạn
nhỏ, đặt tựa đề để nêu tóm gọn
ư nghĩa cho mỗi phân đoạn, hệ thống những
tác phẩm ấy.
[5] Nội ngoại điển tịch:
Sách vở trong nhà Phật gọi là “nội điển”,
sách vở thế gian gọi là “ngoại tịch”.
[6] Tục ấn: lần in thứ hai, thứ
ba v.v… sau lần in đầu tiên.
[7] Trong nghi quỹ trước khi vào Đệ
Nhất Thời, có những phần tụng Tâm Kinh, tụng
các chú Khai Yết Hầu, Thí Thực, Thí Thủy… Ḥa Thượng
lược đi không giảng.
[8] Nói “giác bị mê” chỉ là một cách
nói cho dễ hiểu, chứ thật ra giác không bao giờ
mê. Chẳng qua, do chấp trước, phân biệt, vọng
tưởng, vô minh của chúng ta che lấp khiến cho giác
không khởi công dụng được, nên gọi là “giác bị
mê”, chứ giác tánh không bao giờ mê!
[9] Một giây khảy ngón tay bốn lần, một khảy
ngón tay có 60 sát-na, một sát-na có chín trăm lần sanh diệt.
Như vậy là trong một giây có 4x60x900 lần sanh diệt.
[10] Phần chứng tức Phật: một
trong sáu loại Phật theo giáo nghĩa Thiên