Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư
Phần 10
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích
Tịnh Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Hội Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Xin hăy xem phần “chánh thị hành giả chấp
tŕ danh hiệu dĩ lập hạnh” (dạy hành giả
chấp tŕ danh hiệu để lập hạnh). Phần
giảng nghĩa được chia thành chín đoạn,
hôm nay chúng ta xem đến đoạn cuối cùng.
Đoạn thứ chín là “trùng
khuyến phát nguyện” (lại khuyên phát nguyện). Chúng
tôi đọc kinh văn một lượt:
Xá Lợi Phất! Ngă kiến
thị lợi, cố thuyết thử ngôn, nhược
hữu chúng sanh văn thị thuyết giả, ưng
đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.
舍利弗。我見是利。故說此言。若有眾生。聞是說者。應當發願。生彼國土。
(Này
Xá Lợi Phất! Ta thấy điều lợi ấy nên
nói như thế này: Nếu có chúng sanh nghe nói như vậy,
hăy nên phát nguyện sanh về cơi nước ấy).
Kinh văn nói “ngă kiến thị lợi” (ta thấy điều
lợi ấy), [tổ Ngẫu
Ích giảng] “thị Phật nhăn
sở kiến, cứu tận minh liễu dă” (là do chính
mắt đức Phật thấy, thấu hiểu rốt
ráo). Đây không phải là cái thấy của người
tầm thường, mà là do chính Thích Ca Mâu Ni Phật
đích thân thấy. Điều này rất quan trọng,
chúng ta chớ vô tâm hời hợt đọc lướt
qua. Điều Thích Ca Mâu Ni Phật trông thấy
được, nói thật ra, chúng ta chẳng thể
thấy được, [đức Phật thấy được]
lợi ích hết sức lớn lao! Chúng ta coi tiếp
đoạn văn [trong sách Yếu Giải], rốt
cuộc điều lợi ích ấy chính là ǵ vậy? “Thị lợi giả, hoành xuất
ngũ trược, viên tịnh tứ độ, trực
chí Bất Thoái vị, thị vi bất khả tư nghị
công đức chi lợi” (Điều lợi ích ấy
là vượt thoát [cơi nước] ngũ trược theo chiều ngang, thanh tịnh trọn
vẹn bốn cơi, đạt thẳng đến
địa vị Bất Thoái, đấy là lợi ích công
đức chẳng thể nghĩ bàn). Lợi ích tuyệt
diệu như vậy đó! Trong hết thảy các pháp
thế gian và xuất thế gian, không có ǵ hơn
được lợi ích này! Vô lượng vô biên pháp môn
của hết thảy chư Phật trọn khắp pháp
giới hư không giới đều chẳng thể sánh
bằng lợi ích này. Chúng ta được hạnh
ngộ pháp này quả thật chẳng phải là chuyện
dễ!
Thứ nhất là “hoành xuất ngũ trược”, quư vị
phải nhớ kỹ điều này! Bất luận tu
học pháp môn nào khác cũng chẳng thể “hoành xuất” (vượt khỏi
tam giới theo chiều ngang); nói cách khác, quư vị tu
học nhất định phải tiến lên từng
bước một, giống như đi học: Tiểu
học, sơ trung (trung học đệ nhất cấp, cấp
hai), cao trung (trung học đệ nhị cấp, hay cấp
ba), đại học, nghiên cứu sinh, tiến lên dần
dần. Mỗi một giai đoạn gồm một
năm học, hai năm học, ba năm học, bốn
năm học. Phương pháp ấy gọi là “thụ xuất” (vượt
thoát [tam giới] theo chiều dọc), khó lắm! Rất
ư là khó! Nay pháp môn này thật đặc biệt, hoành
xuất! Nay chúng ta đang mang thân người, phía trên cơi người
là cơi trời, tức Dục Giới Thiên. Quư vị
phải biết Dục Giới Thiên gồm Tứ
Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Đâu
Suất Thiên, tiến lên từng bước một. Nay
chúng ta không cần phải như thế, từ nhân
đạo vượt ngang ra khỏi tam giới (hoành xuất),
thoát khỏi lục đạo luân hồi, có đạo lư
như vậy hay chăng? V́ thế, pháp môn này
được gọi là pháp khó tin, thực sự khó tin
lắm!
Vượt thoát bèn đến đâu vậy?
Phi phàm lắm! Giống như đi học, nay chúng ta
đang học tiểu học, tiểu học là lớp Một,
không cần học lớp Hai, chúng ta thoát ra bèn học ngay lớp
dành cho nghiên cứu sinh. Chẳng phải là không có
người như vậy, nhưng hiếm lắm,
phải là đứa trẻ thiên tài kia! Thế nhưng
chúng ta không phải là thiên tài, dẫu chẳng phải là
thiên tài mà vẫn vượt cấp được, đă
vượt cấp học ngay vào lớp nghiên cứu sinh, mà
c̣n thực sự thành tựu nữa kia, chẳng thể
nghĩ bàn! Bởi thế, câu “ngă
kiến thị lợi” (ta thấy điều lợi
này) ở phía trước [đoạn kinh văn vừa nói
trên đây] hết sức quan trọng. V́ sao? Đức Phật
phải nêu chứng minh cho chúng ta thấy; nếu không
phải do chính đức Phật nói, chúng ta sẽ
chẳng thể tin nổi pháp môn này. V́ sao? V́ không t́m được
căn cứ để lư luận! Nay chúng ta tin lời A Di
Đà Phật, nhưng thật ra trên mặt căn cứ lư
luận chúng ta vẫn hồ đồ, vẫn không
biết. Thế nhưng chúng ta tin lời Thích Ca Mâu Ni
Phật chắc chắn là chân thật: “Như Lai thị chân ngữ giả, thật ngữ
giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả,
bất vọng ngữ giả” (Như Lai là bậc nói lời
chân thành, nói lời thành thật, nói đúng như sự thật,
không nói lời gạt gẫm, không nói dối). Chắc
chắn Ngài chẳng lừa dối chúng ta, chúng ta nghe
lời Ngài, thực hành theo lời Ngày dạy, chắc
chắn không lầm. Thế là tốt! Thực sự có
phước báo, người như vậy thực sự có thiện căn, người
như vậy thực sự phi phàm, chư Phật, Bồ
Tát đều tán thán, hoành siêu mà!
Sanh về Tịnh Độ, “viên tịnh tứ độ” (thanh
tịnh viên măn bốn cơi), “viên”
là viên măn, “tịnh” là thanh
tịnh, “tứ độ”
là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, Phương
Tiện Hữu Dư Độ, Thật Báo Trang Nghiêm Độ,
và Thường Tịch Quang Độ; quư vị sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn chứng
trọn vẹn bốn cơi ấy. Chứng được
một, bèn chứng hết
thảy, sanh vào Đồng Cư là sanh cơi Phương
Tiện, là sanh vào Thật Báo, là sanh vào Tịch Quang, có
đạo lư như vậy hay chăng? Chính Thích Ca Mâu Ni
Phật thấy như thế, Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng
ta chứng thực, Thích Ca Mâu Ni Phật khuyên dạy chúng
ta, chúng ta cứ tin tưởng đi theo lăo nhân gia là không
sai. Nếu cứ thuận theo thành kiến, phiền năo,
tập khí của chính ḿnh, cứ suy cái này nghĩ cái nọ
là sai lầm quá đỗi rồi! Đúng là chẳng
thể nghĩ bàn!
“Trực
chí Bất Thoái vị” (đạt
thẳng đến địa vị Bất Thoái): Không ṿng
vèo, quanh co, thẳng chóng chứng đắc trọn
vẹn ba thứ Bất Thoái. Chứng trọn vẹn ba
thứ Bất Thoái là địa vị nào vậy?
Đẳng Giác Bồ Tát! Do đọc kinh Hoa Nghiêm, chúng tôi
biết Sơ Trụ Bồ Tát thuộc Viên Giáo chứng
được ba thứ Bất Thoái là Vị Bất Thoái,
Hạnh Bất Thoái, và Niệm Bất Thoái, nhưng chưa
viên măn. Cho đến Thập Địa Bồ Tát vẫn
chưa thể nói là viên măn, bởi c̣n có địa vị
cao hơn. Do vậy, quư vị phải hiểu: Chứng
trọn vẹn ba thứ Bất Thoái chính là Đẳng Giác
Bồ Tát, là địa vị Bổ Xứ. Những ai
chứng trọn vẹn? Quán Âm Bồ Tát, Đại
Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát , Phổ Hiền
Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát. Những vị ấy chứng
trọn vẹn ba thứ Bất Thoái, Đẳng Giác
Bồ Tát mà! Pháp Vân Địa Bồ Tát vẫn chưa
thể nói là Viên, c̣n kém một phần nên chưa Viên,
gần như Viên, nhưng vẫn c̣n thiếu một chút.
Thật ra, không có cách ǵ để diễn tả sự
lợi ích ấy cả, người gặp
được pháp môn này hết sức may mắn!
“Thị vi
bất khả tư nghị công đức chi lợi” (đây là lợi ích công đức chẳng
thể nghĩ bàn); trong kinh nói “bất
khả tư nghị công đức chi lợi!” có nghĩa
là như vậy đó. Chúng ta phải suy nghĩ mấy câu
nói này, phải nghĩ cho thông, phải suy cho thấu,
rồi mới hạ quyết tâm dũng mănh tinh tấn,
thành tựu viên măn quyển kinh này và danh hiệu này;
chẳng c̣n lăng phí quá nhiều tinh thần và thời gian la
cà nơi các kinh điển thuộc vô lượng pháp môn
khác, không cần dùng đến chúng nữa, chỉ riêng pháp
này là đủ thành công rồi.
Lại xem tiếp tiểu đoạn
thứ hai: “Hựu thị lợi,
ước mạng chung thời tâm bất điên
đảo nhi ngôn” ([Nói] lợi ích này c̣n có nghĩa là lúc
lâm chung, tâm không điên đảo). Lợi ích này càng
giảng càng thù thắng, càng giảng càng chẳng thể nghĩ
bàn. Quư vị phải nhớ kỹ: Lợi ích chẳng
thể nghĩ bàn là lúc người ấy lâm chung, tâm không
điên đảo, lúc lâm chung rất sáng suốt, tỉnh
táo, không mê hoặc tí ti nào th́ người ấy mới có
thể tin, có thể nguyện, có thể niệm, có thể
cầu sanh về Tịnh Độ, A Di Đà Phật bèn
đến tiếp dẫn người ấy. Đó chính là
nguyện thứ mười tám trong bốn mươi tám
nguyện. Trong bốn mươi tám nguyện, Phật giáo
Nhật Bản bảo nguyện mười tám này là nguyện
trọng yếu nhất. Lúc lâm chung sáng suốt, tỉnh táo;
nếu lâm chung hôn mê điên đảo là không được
rồi! Dẫu trợ niệm cũng không chắc được
văng sanh. Bởi thế, từ xưa đến nay,
chẳng những các vị đại đức nhà
Phật, ngay cả các bậc đại đức thế
gian đều khuyên người ta trong một đời hăy
nên tu phước, tu phước nhưng đừng hưởng
phước, phước báo dành cho người khác
hưởng th́ phước báo của chính ḿnh càng lớn. Lúc
nào ḿnh mới hưởng phước? Chỉ một
dịp thôi: Khi lâm chung thần trí sáng suốt, ở đây
nói là “tâm không điên
đảo”, các phước báo khác đều chẳng
cần đến, để người khác hưởng
thụ, ḿnh chịu khổ chút không sao cả!
Trước kia, tôi học với
thầy Lư mười năm, cả đời thầy Lư
sống hết sức đạm bạc. Không hề ăn
bữa nào mà có tới hai món ăn! Suốt đời
thầy Lư chưa từng ăn hai món, quư vị chưa
trông thấy sẽ không biết đâu! Thầy tự
nấu cơm, tự chăm sóc ḿnh, đến chín
mươi tuổi vẫn tự chăm sóc ḿnh, nêu tấm
gương rất tốt cho chúng ta trong thời kỳ
Mạt Pháp. Trong thời Mạt Pháp, phong hóa thế gian
mỗi ngày mỗi tệ, con người không biết
hiếu thuận cha mẹ, không biết tôn sư; nếu
quư vị không biết tự chăm sóc ḿnh làm sao quư vị có
thể sống như thế được! Thầy Lư
ăn cơm từ một cái niêu nhỏ, mang theo cái niêu
nhỏ. Thầy thường ăn ḿ, ở Đài Loan
gọi là “tuyến miến”, c̣n Trung Hoa Đại Lục
gọi là “quải miến”, sợi ḿ rất nhỏ,
rất dễ nấu. Nước đun sôi rồi, thả
ḿ và vài cọng rau vào, lại đun cho sôi, đậy
nắp lại, tắt lửa, ủ mấy phút là xong,
đơn giản như vậy đó. Mỗi bữa
ăn nấu chừng bao lâu? Mười lăm phút!
Giải quyết một bữa cơm như vậy đó.
Thầy không có chén, dùng niêu làm chén luôn;
bởi thế, rửa sạch hết sức thuận
tiện. Trước kia, tôi học theo lăo nhân gia, tôi
học được, sống như thế không ít
năm, cho đến khi ở nhà Hàn Quán Trưởng tôi
mới thôi không tự nấu cơm. Trước khi ở
nhà Hàn Quán Trưởng, tôi tự nấu cơm lấy, lúc
ấy c̣n dùng bếp dầu (có lẽ người lớn
tuổi mới biết tới bếp dầu, người
trẻ tuổi không biết đâu!) rất thuận
tiện, không dùng bếp củi mà dùng bếp dầu.
Thầy Lư sống suốt đời như thế, trước
khi bếp dầu được phát minh th́ dùng bếp than.
Bởi lẽ, thầy biết tiếc phước,
thầy có thâu nhập tương đối khá; lúc ấy,
thầy muốn thuê một hai người đầy
tớ là chuyện dễ dàng; thầy thừa sức
nhưng không làm như thế, tự ḿnh chăm sóc ḿnh,
sống hết sức tiết kiệm, một ngày xài hai
đồng, cả tháng tiêu hết sáu mươi
đồng thôi!
Kiếm được bao nhiêu tiền
đều đổ vào sự nghiệp từ thiện, cụ
xướng suất kiến tạo Đài Trung Liên Xă,
dựng thư viện Từ Quang, lập y viện Bồ
Đề, mọi người quyên tặng, cụ
đứng ra lo liệu. Đạo tràng thành lập xong,
khi đă đi vào nề nếp, cụ bèn giao cho
người khác. Mời làm Đổng Sự Trưởng
hay Chấp Sự, cụ đều từ khước,
giao cho người khác làm. Không mảy may có tâm tham, không
mảy may lưu luyến. Do cụ tu phước nên lúc lâm
chung đích thực tâm không điên đảo, ra đi sáng
suốt, tự tại. Trước lúc mất, cụ c̣n
dặn ḍ đồ đệ, lời dặn rất sáng
suốt, minh bạch như thế này: “Thế gian đă loạn rồi, Phật, Bồ Tát,
thần tiên giáng hạ cũng không cứu được.
Chúng ta chỉ có một con đường sống là
niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ mà
thôi!” Di ngôn tối hậu của lăo nhân gia là như
vậy đó; quư vị thấy cụ sáng suốt, minh
bạch như thế đó. Đối với t́nh h́nh xă hội
hiện thời, chúng ta thấy rất rơ. Cụ đă
mất mười mấy năm rồi.
Lúc cụ bảo xă hội loạn, tánh
tỉnh giác của chúng tôi vẫn chưa cao! Nay nghĩ
lại mấy câu ấy, đúng là cụ thấy quá rơ ràng,
rất thấu triệt! Bởi thế, câu nói sau đây
quan trọng hơn bất cứ ǵ khác: “Lâm mạng chung thời, tâm bất điên
đảo” (Lúc lâm chung, tâm không điên đảo),
đó là điều kiện trọng yếu để quư
vị được văng sanh hay không. V́ sao lúc lâm chung
người ta lại bị điên đảo? V́ chẳng
biết tu phước; nhất là con người hiện
thời chỉ biết hưởng phước, chứ không
biết tu phước! Kể ra đạo tràng này cũng
khá, vẫn c̣n bố thí cúng dường; nay ở
địa phương này, chúng ta phải bố thí cúng
dường cho đại chúng trong xă hội, phải
thường mang cái tâm ấy, phải có nguyện vọng
ấy, phải có hành động ấy, chứ chẳng mong
cầu chính ḿnh hưởng thụ. Tự ḿnh phải
biết tiết kiệm, phải biết đoạn ác,
phải biết tu phước, hy vọng khi chính ḿnh lâm
chung tâm có thể thực sự không điên đảo.
Đoạn kế tiếp nói: “Cái uế độ tự lực
tu hành, sanh tử quan đầu, tối nan đắc lực”
(V́ tự lực tu hành trong uế độ, nơi cửa
ải sanh tử là khó đắc lực nhất). Câu này nói
thật đấy, phải thường tự răn
nhắc ḿnh. Hiện tại, trược uế đă
đến mức cùng cực, con người hoàn toàn trái
nghịch đạo làm người, chẳng biết
hiếu thuận, không biết tôn kính, kiêu căng, ngạo
mạn, ngỡ ḿnh là đúng, tưởng ḿnh siêu phàm!
Khởi tâm động niệm không ǵ chẳng cạnh
tranh, đấu tranh, tổn người, lợi ḿnh;
đó là căn nguyên của hết thảy động
loạn. Bởi vậy, tham sống sợ chết, lúc lâm
chung tay chân luống cuống. Người nghiệp
chướng nặng, lúc tuổi cao khó tránh khỏi căn
bệnh nay gọi là bệnh si ngốc nơi người
già (Alzheimer). Chứng si ngốc ấy chính là điên
đảo, hồ đồ. Người vừa bị
điên đảo, hồ đồ liền bị
phiền phức ngay, lưu chuyển theo nghiệp
chướng, chẳng thể tự làm chủ.
Quư vị phải hiểu: Văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới là chính ḿnh có
thể làm chủ. Tôi muốn đến thế giới
Cực Lạc, tôi muốn thân cận A Di Đà Phật, tự
ḿnh có thể làm chủ. Nếu tự ḿnh không làm chủ
được th́ vẫn phải luân hồi trong lục
đạo. Luân hồi trong lục đạo là bị
nghiệp lực lôi dẫn, một đời này thiện
nhiều, ác ít, lúc lâm chung không có ác niệm, sẽ theo
nghiệp lực sanh vào ba đường lành. Nếu ác
nhiều, thiện ít, sự ác bao trùm ư niệm, ư niệm ác
nhiều, ư niệm thiện ít, sẽ sanh vào ba ác
đạo. Bởi thế, chính ḿnh phải thường
suy nghĩ đời sau ḿnh sẽ sanh vào đường
nào, điều này hết sức quan trọng! Đời
sau sanh vào đường nào đừng hỏi ai khác, chính
ḿnh phải biết rơ ràng, minh bạch!
Mỗi ngày tụng kinh sáng tối
(điều này chúng tôi đă nói quá nhiều rồi), khóa
sáng là để tự cảnh tỉnh ḿnh; khóa tối là
phản tỉnh, kiểm điểm, sám hối, sửa
lỗi. Chúng ta có làm được như thế hay không?
Phản tỉnh, kiểm điểm chính là phát hiện những
lỗi lầm của chính ḿnh, sám hối là sửa
đổi những lầm lỗi của chính ḿnh, đó
chính là quư vị thực sự tu công phu đoạn ác tu
thiện. Công phu có thành tích th́ lúc lâm chung hiệu quả
sẽ hiện tiền, thần trí sáng suốt, tâm không
điên đảo, ư chẳng tham chấp. Lúc ấy,
niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ sẽ
cảm ứng đạo giao; dưới đây, chúng tôi
sẽ kể về [gương tu hành] của một
vị pháp sư cận đại:
Pháp sư Viên Anh dốc ḷng nơi
Tịnh Độ, tự xưng là Tam Cầu
Đường Chủ Nhân, tức là cầu phước,
cầu huệ, cầu sanh Tịnh Độ. Pháp sư
suốt đời giảng kinh hoằng pháp, soạn chú
giải cũng rất phong phú. Ngài có bộ Viên Anh Pháp
Sư Pháp Vựng được lưu truyền trong
thế gian. Suốt đời lăo nhân gia chuyên dốc công
nơi kinh Lăng Nghiêm. Từ bài
tựa cuốn Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, ta
thấy năm hai mươi lăm tuổi, Ngài phát tâm
học Lăng Nghiêm, đến năm bảy mươi
lăm tuổi mới hoàn thành tác phẩm Lăng Nghiêm Kinh
Giảng Nghĩa, suốt cả năm mươi năm!
Ngài làm gương cho chúng ta thấy thâm nhập một môn,
trường thời huân tu mới có thành tựu như
thế. Từ xưa đến nay, chú giải kinh Lăng
Nghiêm hết sức phong phú. Xưa kia, lúc tôi theo học với
thầy Lư ở Đài Trung cũng là học kinh Lăng
Nghiêm; khi đó, tôi sưu tập được hơn ba
mươi bản cổ chú. Thầy Lư dạy tôi: Tuy
những bản cổ chú hay, nhưng không dễ hiểu
cho lắm. Đại khái, những bản chú giải kinh
Lăng Nghiêm xưa nay, pháp sư Viên Anh đều đă
đọc qua; nói cách khác, cuốn Lăng Nghiêm Kinh Giảng
Nghĩa của Ngài chính là tác phẩm tổng hợp toàn
bộ chú giải xưa nay. Thầy Lư chỉ tôi: Anh hăy bắt
đầu bằng bộ Giảng Nghĩa của pháp
sư Viên Anh, đúng là đối với người
mới học tác phẩm này rất thuận tiện. Tiêu
biểu nhất trong số những bản chú giải
cổ là bản Trường Thủy Sớ[1]
đời Tống, bản Lăng Nghiêm Chánh Mạch
của Giao Quang đại sư vào cuối đời Minh.
Hai bản ấy đại biểu cho những bản chú
giải xưa nay, thầy Lư khuyên tôi nên tham khảo!
Lăng Nghiêm khai trí huệ! Pháp
sư Viên Anh thông minh, ở Thượng Hải, Ngài có
một đạo tràng gọi là Viên Minh Giảng
Đường. Viên Minh là kinh Lăng Nghiêm, [chữ “viên minh”
chỉ] hai mươi lăm môn viên thông trong kinh Lăng
Nghiêm, Ngài dùng ư nghĩa ấy nên đặt tên [nơi
ấy] là Viên Minh Giảng Đường. Thập niên chín
mươi tôi đến thăm
Thượng Hải, bái phỏng pháp sư Minh Dương,
đến viếng đạo tràng của lăo pháp sư Viên
Anh, thấy tiểu giảng đường của Ngài
không lớn, Tam Cầu Đường hoàn toàn không to, không
lớn bằng giảng đường của chúng ta;
ước chừng bằng một phần ba giảng
đường hiện tại của chúng ta mà thôi, có
thể chỉ bằng một phần tư, cho nên không
lớn lắm. Tôi ước tính chừng năm, sáu
chục người là ngồi chật giảng
đường; rất nhỏ! Năm sáu chục
người là ngồi kín hết. Trong đạo tràng ấy,
hai bên tượng Phật treo một đôi liễn do chính
lăo pháp sư viết, trên liễn viết “cầu
phước, cầu huệ, cầu sanh Tịnh Độ”.
Ngài gọi Phật đường ấy là Tam Cầu
Đường. “Phước”: Tâm không điên đảo
là phước; “Huệ”: Niệm Phật văng sanh là huệ,
trí huệ chân thật. Bởi thế, trong câu cuối cùng
Ngài nói rất rơ ràng: “Cầu
sanh Tịnh Độ”. Ngài là bậc chuyên gia về kinh
Lăng Nghiêm trong thời cận đại đấy!
Kinh Lăng Nghiêm và pháp môn Tịnh
Độ có mối quan hệ ǵ, chúng ta phải hiểu! Câu
hỏi này tôi đă gặp vào năm thứ hai sau khi tôi
thọ giới, [lúc ấy] tôi đảm nhiệm vai tṛ
thư kư trong giới đàn chùa Lâm Tế. Một ngày
nọ, có mấy vị đồng học thuộc đại
học Đài Loan dẫn một vị giáo sư của
họ, vị này là giáo sư tại trường
đại học Đài Loan (vị giáo sư ấy là
một ḥa thượng Nhật Bản) đến gặp
tôi. Tôi tiếp họ trong khách đường, vị giáo
sư ấy nêu câu hỏi: “Kinh Lăng Nghiêm và Tịnh
Độ có mối quan hệ ǵ?” Bởi ông ta hỏi tôi
học kinh ǵ, lúc đó nhằm lúc tôi đang học kinh
Lăng Nghiêm, nhưng tôi tu pháp môn Tịnh Độ. V́
thế, ông ta mới nêu câu hỏi ấy; ông cảm
thấy rất ngạc nhiên, bởi lẽ, mọi
người cho rằng kinh Lăng Nghiêm chỉ liên quan
đến Thiền, đến Mật. Năm hội
thần chú Lăng Nghiêm chính là Mật mà! Ông cho rằng
Lăng Nghiêm không dính dáng ǵ đến Tịnh Độ
cả. Tôi cũng chẳng trả lời mà hỏi
ngược lại: “Đại Thế Chí và Quán Thế Âm
có liên quan ǵ đến Tịnh Độ chăng?”
Tôi vừa hỏi như vậy, ông ta
hiểu liền. Tây Phương Tam Thánh ngoại trừ A
Di Đà Phật th́ chẳng phải là Quán Âm, Thế Chí hay
sao? Phương pháp tu hành chủ yếu trong kinh Lăng
Nghiêm chính là phương pháp của Quán Âm Bồ Tát và
Đại Thế Chí Bồ Tát; thuộc phần nào
vậy? Chính là đoạn kinh văn nói về Hai
Mươi Lăm Pháp Viên Thông. Trong hai mươi lăm pháp
môn có nêu những pháp thông thường, có pháp môn đặc
biệt. Tŕnh bày như thế nào? Theo cách liệt kê. Các
đồng học học kinh giáo phải lưu ư: Tŕnh bày
theo thứ tự thuận chính là những pháp môn thông
thường; nếu không tŕnh bày theo thứ tự
thuận th́ pháp môn ấy là đặc biệt. Hai
mươi lăm pháp đó từ đâu mà có? Quư vị
phải hiểu: Đó chính là những phương pháp tu
hành chứng quả do Thích Ca Mâu Ni Phật đă chỉ
dạy cho các đồ đệ.
Vô lượng vô biên pháp môn quy nạp
thành hai mươi lăm loại, trong mỗi một
loại chọn ra một pháp làm đại biểu. Hai
mươi lăm pháp ấy quy nạp thành sáu Căn, sáu Trần,
sáu Thức, ba lần sáu là mười tám, gọi là
Thập Bát Giới. Sau đấy lại thêm vào Thất
Đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không,
Kiến, Thức, đó chính là Thất Đại. Thập
Bát Giới cộng Thất Đại thành hai mươi
lăm. Đó là theo thứ tự thuận. Pháp tu của
Quán Thế Âm Bồ Tát là Nhĩ Căn trong sáu căn,
chiếu theo thứ tự thuận th́ đáng lẽ
phải nêu thành pháp thứ hai, như quư vị thấy
đó: Nhăn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ư, phải tŕnh bày
như vậy. Nêu sáu Căn đầu tiên rồi
đến sáu Trần, rồi đến sáu Thức;
cuối cùng là bảy Đại là thứ tự thuận.
Nhưng pháp Nhĩ Căn của Quán Thế Âm Bồ Tát không
theo thứ tự thuận, lại rút ra tŕnh bày cuối
cùng, xếp thành pháp thứ hai mươi lăm.
Trong bảy Đại, pháp tu của Đại
Thế Chí Bồ Tát thuộc về Căn Đại, theo
thứ tự “Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không,
Kiến, Thức” th́ Kiến là Căn Đại. Bởi
vậy, pháp tu của Đại Thế Chí Bồ Tát
đáng lẽ phải kể là pháp hai mươi ba,
nhưng pháp tu của Ngài cũng không được tŕnh
bày theo thứ tự thuận, [đáng lẽ] pháp cuối
cùng phải là Thức Đại của Di Lặc Bồ
Tát; không theo thứ tự này mà xếp
pháp Căn Đại sau [pháp tu của] Di Lặc Bồ Tát.
V́ thế, trong hai mươi lăm pháp Viên Thông có hai pháp
đặc biệt là pháp môn Niệm Phật của
Đại Thế Chí Bồ Tát và pháp môn Nhĩ Căn
của Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi vừa phân tích như
thế, vị giáo sư Nhật bèn chịu phục. Pháp
sư Viên Anh truyền dạy đề cao Lăng Nghiêm, nhưng
hạnh tại Di Đà là chính xác, hoàn toàn chính xác!
Ở đây, chúng ta phải chú ư
chuyện “cầu
phước”. Muốn cầu phước phải tu
phước, có tu phước th́ mới cầu
phước được. Cầu phước mà không
biết tu phước th́ phước từ đâu mà có? Có
phước lại c̣n phải có huệ, nếu không có
huệ th́ phước báo ấy không phải là chân
phước, trong kinh Phật thường gọi là “phước báo hữu lậu
thế gian”. Có phước mà không có huệ th́ chỉ
sợ quư vị phước báo càng lớn, tạo nghiệp
chướng càng nặng! Phước báo nhỏ hại
người ít, phước báo lớn hại người
nhiều, hậu quả chẳng thể tưởng
tượng được nổi! Một người
không có phước báo trong một đời này không làm
được chuyện lành lớn, nhưng cũng
chẳng tạo sự ác lớn. Nếu phước báo
lớn th́ phải có trí huệ. Nếu người ấy
có trí huệ và tu đại phước báo th́ sẽ là điều
tốt lành to lớn. Nếu không có trí huệ, sẽ
tạo chuyện đại ác. V́ thế, cầu huệ
hết sức quan trọng; thậm chí so với cầu phước,
cầu huệ càng trọng yếu hơn. Đức Phật
dạy người ta phước huệ song tu, cầu
huệ đừng quên cầu phước, cầu
phước chẳng được quên cầu huệ,
phước - huệ song tu! Đức Thế Tôn v́ chúng ta
nêu gương, v́ chúng ta nêu rơ: Mục tiêu chung cục
phải thuần chánh, tức là “quyết
định cầu sanh Tịnh Độ”. Chiếu theo
kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, biến các
đạo lư được giảng trong những kinh
ấy thành tư tưởng và kiến giải của
chính ḿnh, thực hiện những giáo huấn trong kinh
điển trong cuộc sống của chính ḿnh, đó là “tu chân” đấy! Có như
vậy mới ḥng nắm chắc chuyện cầu sanh
Tịnh Độ!
Lại xem tiếp điều thứ ba:
“Vô luận ngoan tu cuồng huệ,
đáo sanh tử quan đầu, bất năng đắc
lực, toàn nhiên vô dụng, tức ngộ môn thâm viễn,
tháo lư tiềm xác chi nhân, thảng phân hào tập khí vị trừ,
vị miễn tùy cường thiên đọa” (Đừng
nói là những kẻ tu hành ngoan bướng, trí huệ ngông
cuồng đến cửa ải sanh tử không làm
được ǵ, hoàn toàn vô dụng; ngay cả những
người chứng ngộ sâu xa, tu tập tiềm
dưỡng đích xác nếu c̣n chút phần mảy may
tập khí chưa trừ sẽ khó tránh khỏi thuận
theo nghiệp lực nào mạnh hơn mà đọa lạc
theo nghiệp lực đó).
Đây là Ngẫu Ích đại sư cảnh tỉnh chúng
ta, dạy chúng ta phải thời thời khắc khắc
tỉnh giác cao độ. “Ngoan
tu cuồng huệ” (tu hành ngoan bướng, trí huệ
ngông cuồng) chính là nói đến những kẻ không thực
sự tu hành trong Tông môn và Giáo Hạ, trong xă hội hiện
tại [những hạng người như vậy] hết
sức phổ biến. “Đáo
sanh tử quan đầu, bất năng đắc lực,
toàn nhiên vô dụng” (đến cái ải sanh tử,
chẳng làm được ǵ, hoàn toàn vô dụng):
Điều này nay chúng ta thấy rất rơ ràng, minh bạch;
quư vị chỉ cần lưu tâm một chút mà thôi, sẽ
thấy người xuất gia hiện tại, nói thật
ra, xuất gia c̣n kém cả tại gia. Người tu hành
tại gia lúc lâm chung tâm không điên đảo, tôi thấy
không ít; c̣n người xuất gia lúc lâm chung tâm không điên
đảo cả đời tôi chưa gặp
được một ai!
Những người xuất gia tôi
được gặp lúc mất đều điên
đảo, mê hoặc; trái lại, chính tôi đă gặp
mấy vị cư sĩ tại gia lúc mất sáng suốt,
tỉnh táo, không điên đảo. Bởi thế, câu nói “bất năng đắc lực,
toàn nhiên vô dụng” (chẳng làm được ǵ, hoàn
toàn vô dụng) là đúng, không sai chút nào. Câu kế tiếp “tức ngộ môn thâm viễn” (ngay
cả người chứng ngộ sâu xa) nhằm chỉ
những người thực sự chân tu, là người
xuất gia tốt lành trong nhà Thiền; “tháo lư tiềm xác chi nhân” (người tu tập
tiềm dưỡng đích xác) là những người tŕ
giới rất thanh tịnh, rất nghiêm nhặt, nghiêm tŕ
giới luật. Mấy câu tiếp đó của
đại sư rất quan trọng: Nếu anh vẫn c̣n
một điểm tập khí chưa đoạn hết,
tập khí ǵ vậy? Tập khí tham - sân - si - mạn c̣n
chưa đoạn hết, chỉ e rằng đến lúc
lâm chung, tập khí đó sẽ hiện tiền, vẫn
phải theo nghiệp lực đọa lạc. “Vị miễn tùy cường” (khó
tránh khỏi thuận theo nghiệp lực nào mạnh mẽ),
nghiệp lực mạnh, đạo lực mỏng yếu;
nói cách khác, “cường giả
tiên khiên” (nghiệp nào mạnh lôi trước), vẫn
phải lưu chuyển theo nghiệp lực, rất
đáng sợ! Không đùa đâu, quan hệ đến
tiền đồ đấy!
Bởi lẽ, đối với
những người thực sự tu hành, tập khí
lớn nhất là ngạo mạn, cho là “ta tu hành, các
ngươi không tu, các ngươi thua ta”. Kiêu căng,
ngạo mạn, không để ai vào mắt, thường
phê b́nh người không tu hành, không tŕ giới. Đấy
chính là tập khí hiện tiền, chẳng phải
người thưc sự tu hành. V́ sao kẻ đó không phải
là người thực sự tu hành? Lục Tổ
đại sư đă nói rồi: “Nhược chân tu đạo nhân, bất kiến thế
gian quá” (Nếu người thật tu hành, không thấy
lỗi thế gian). Kẻ nào suốt ngày từ sáng
đến tối thấy lỗi của người khác
th́ kẻ đó chính là người được
đại sư Ngẫu Ích nói đến ở đây. A!
Nay đă đến giờ rồi!
*
Xin tiếp tục xem tiểu
đoạn thứ tư:
“Vĩnh
Minh sở vị: ‘Thập nhân cửu tha lộ, ấm cảnh
hốt hiện tiền, miết nhĩ tùy tha khứ’, thử
thành khả hàn tâm dă” (Ngài Vĩnh Minh nói: ‘Mười
người chín lạc đường, ấm cảnh
chợt hiện tiền, chớp mắt đi theo nó’,
đúng là lời nói lạnh buốt cơi ḷng). Vĩnh Minh Diên
Thọ đại sư là người thời Nam Bắc
Triều, theo sử truyện ghi chép, Ngài là A Di Đà
Phật hóa thân tái lai, cũng nhằm biểu diễn cho
chúng ta thấy. Trong thời ấy, Thiền
phong rất thịnh, bởi thế, lăo nhân gia thị
hiện trước hết học Thiền, đại
triệt đại ngộ nơi Thiền. Thị hiện
đại triệt đại ngộ xong, quay về
Tịnh Độ, tu Tịnh. V́ thế, vào thời đó,
lăo nhân gia đề xướng Thiền Tịnh song tu, quư
vị phải hiểu: Đó là nhằm khế
hợp căn cơ của người thời ấy. V́
thế, Ngài có bài Tứ Liệu Giản dạy chúng ta phân
biệt pháp nào thù thắng, ba câu trên đây trích từ bài
thứ nhất. Câu đầu tiên là “hữu Thiền, vô Tịnh Độ” (có
Thiền, không Tịnh Độ), mười người
tu hành chín người đi lầm đường, v́ sao?
Lúc lâm chung, “ấm cảnh hiện tiền”, tức lúc
sắp mất, nếu Thiền không đắc lực, nói
trắng ra phải Thiền làm sao mới đắc
lực? Phải đại triệt đại ngộ, minh
tâm kiến tánh mới là đắc lực. Không đạt
đến triệt ngộ tức là chưa thể phá
một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân th́
vẫn phải theo nghiệp lực luân hồi. Đây
cũng có nghĩa là quư vị tu Thiền đắc
Thiền Định, nhưng chưa khai ngộ,
đắc Thiền Định rất chẳng dễ dàng!
Tùy theo công phu Thiền Định của quư vị sâu hay
cạn, quư vị sẽ thọ sanh nơi đâu? Sanh vào
Tứ Thiền Thiên. Nếu công phu càng sâu sẽ sanh lên
Tứ Không Thiên, nhưng không thoát khỏi luân hồi trong lục
đạo, vẫn là lưu chuyển theo nghiệp lực!
Quư vị sanh về Tứ Thiền Tứ Không Thiên, khi
thọ mạng hết lại bị đọa lạc
xuống [những cơi thấp hơn], chuyện như
vậy rất nhiều.
Đương thời,
Thiền phong thịnh hành, Vĩnh Minh đại sư
cũng không có cách nào khuyên dạy người ta bỏ
Thiền tu Tịnh, [dạy như vậy] họ chẳng
thể tiếp nhận. Bởi thế, Ngài dạy họ “có Thiền, có Tịnh
Độ”, tức là tu Thiền kiêm tu Tịnh
Độ; thật là khổ tâm! Công phu
Thiền không đắc lực sẽ nhờ Tịnh mà
đắc độ. Chúng ta nghe những lời ấy
của đại sư, ngàn vạn phần chớ có
Thiền Tịnh song tu, nếu không là lầm! Quư vị
phải hiểu dụng ư Thiền Tịnh song tu của
Ngài: Đối với những kẻ chẳng chịu
bỏ tu Thiền, chẳng chịu quay đầu,
Thiền Tịnh song tu nhằm dạy những kẻ
ấy, không phải dành cho người chuyên tu Tịnh
Độ. Chuyên tu Tịnh Độ thù thắng
lắm, “vô Thiền, hữu Tịnh
Độ, vạn tu, vạn nhân khứ” (không Thiền,
có Tịnh Độ, vạn người tu vạn
người về). Bởi thế, xem văn tự
của cổ nhân phải hiểu: Ngài nói những lời
ấy, viết lách như thế ấy là dành cho hạng
người nào; dụng ư ở đâu? Nhất định
phải hiểu cho rơ ràng, minh bạch th́ chúng ta mới ḥng
thọ dụng. Nếu quư vị nh́n lầm, nghe lầm,
đừng trách móc Ngài, Ngài đâu có lầm, lỗi tại
chính ḿnh mà!
Huống chi trong kinh Đại
Tập, đức Thế Tôn đă dạy chúng ta một
nguyên tắc chung: “Trong thời
kỳ Chánh Pháp, Giới Luật thành tựu. Thời kỳ
Tượng Pháp, Thiền Định thành tựu. Thời
kỳ Mạt Pháp, Tịnh Độ thành tựu”. Nay
chúng ta sanh nhằm thời Mạt Pháp, chiếu theo ghi chép
của cổ nhân Trung Quốc, gần đây Ấn Quang
đại sư và lăo ḥa thượng Hư Vân đều
chiếu theo những tài liệu của Trung Quốc cổ đại [để tính toán
th́] Thích Ca Mâu Ni Phật nhập diệt đến nay
đă hơn ba ngàn hai mươi năm. Nói cách khác, Chánh Pháp
một ngàn năm, Tượng Pháp một ngàn năm,
Mạt Pháp đă trải qua một ngàn năm rồi, nay
đang mở đầu một ngàn năm thứ hai
của thời Mạt Pháp. Mạt Pháp là một vạn
năm; nói cách khác, thời Mạt Pháp hăy c̣n chín ngàn năm
nữa. Rất nhiều người nói đến ngày Tận
Thế, nhưng Phật pháp không nói đến ngày đó,
Phật pháp chỉ nói đến Mạt Pháp. Mạt Pháp là
pháp vận theo thông lệ có lên, có xuống, có lúc cao trào, có
lúc thoái trào, dẫu vào lúc cao trào vẫn khó thể sánh
bằng Chánh Pháp và Tượng Pháp; nhưng văng sanh Tịnh
Độ lại thù thắng, thực sự vượt
cả những lúc cao trào trong thời Chánh Pháp, Tượng
Pháp th́ chỉ có ḿnh pháp môn này. Pháp môn này thù thắng khôn sánh.
Kinh sách chẳng thể nghĩ bàn nhất trong số
những kinh sách Văng Sanh chính là sách Di Đà Kinh Yếu
Giải. Câu nói của Vĩnh Minh đại sư là
lời cảm thán hết sức, các đồng học
học Phật chớ nên coi thường pháp môn Tịnh
Độ này.
Lại xem tiếp đoạn
kế đó [trong sách Yếu Giải]: “Tu hành duy hữu niệm Phật tối vi ổn đáng,
tự hữu tín nguyện tŕ danh tịnh nghiệp chi lực.
Hựu trượng Di Đà từ bi nguyện lực, sở
dụng chi công, quyết định bất hư, Phật cập
thánh chúng, hiện tiền úy đạo, cố đắc vô
điên đảo, tự tại văng sanh dă” (Tu hành
chỉ có niệm Phật là ổn thỏa, thích đáng
nhất, tự có sức tịnh nghiệp tín nguyện tŕ
danh, lại c̣n nhờ vào từ bi nguyện lực của A
Di Đà Phật nên sự dụng công
ấy quyết chẳng hư luống, Phật và thánh chúng
hiện trước mặt vỗ về, chỉ dạy,
nên được không điên đảo, tự tại
văng sanh). Mấy câu này
đều là lời thật, câu nào cũng đều là
chân tướng sự thật. Nhất định
phải hiểu ư nghĩa hai chữ “tu hành” cho thật rơ ràng, quyết chớ hàm
hồ! “Hành” là hành vi; hành vi
rất nhiều, đức Thế Tôn quy nạp thành ba
loại lớn: Ngôn ngữ nơi miệng, tức
hành vi khẩu nghiệp; tạo tác nơi thân, tức hành vi
thân nghiệp; ư niệm khởi lên, diệt mất, đó
là hành vi nơi ư nghiệp. Hành vi dẫu nhiều, nói chung
không ngoài ba loại trên. V́ sao? Chúng được gây
tạo bởi thân - ngữ - ư! Hành vi là tạo tác, nhưng
trong tạo tác có thiện, có ác; v́ thế, đức
Phật dạy hàng sơ học chúng ta phải đoạn
hành vi ác, phải học hành vi thiện, tức đoạn
ác tu thiện. Đức Phật dạy kẻ sơ
học như vậy.
Tu học nhất định có
thành tựu th́ đức Phật lại nâng tu hành lên
một mức nữa: Thiện và ác đều là nhiễm,
đều là nhiễm trước. V́ thế, đức
Phật nhất định lại dạy chúng ta phải đoạn
nhiễm, phải tu thanh tịnh, nâng cao cảnh giới! Xa
ĺa hết thảy nhiễm ô, nhiễm ô là vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. Đoạn
ác nhưng không chấp tướng đoạn ác, tu
thiện không chấp tướng tu thiện, vĩnh
viễn giữ ǵn thân tâm thanh tịnh, b́nh đẳng,
đó chính là tịnh nghiệp! Thân tâm thanh tịnh, niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ, thưa cùng quư
vị, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới phẩm vị khác biệt: Người đoạn
ác tu thiện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ
th́ sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Vừa đoạn
ác tu thiện lại vừa không chấp tướng th́
hạng người như vậy thân tâm thanh tịnh, văng
sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư hay sanh vào cơi Thật
Báo Trang Nghiêm, phẩm vị cao lắm!
Chúng ta tu Tịnh Độ không
ít năm th́ đương nhiên phải nâng cao cảnh
giới thêm lên. V́ thế, trong mấy năm qua, chúng tôi
đặc biệt nhấn mạnh vấn đề “thuần tịnh, thuần
thiện”, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm, chứ không phải
cơi Phương Tiện Hữu Dư, chúng ta phải nỗ
lực, tinh tấn không lười nhác nơi chuyện này.
V́ thế, đại sư dạy chúng ta: “Tu hành duy hữu niệm Phật tối vi ổn đáng”
(Tu hành chỉ có Niệm Phật là ổn thỏa, thích
đáng nhất). Tu tịnh nghiệp như thế nào? Dùng
phương pháp Niệm Phật. Ư niệm vừa mới khởi
lên bèn biến thành “A Di Đà Phật”, bất kể là
thiện niệm hay ác niệm, niệm vừa khởi lên
bèn quy nạp vào A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là
thuần tịnh, thuần thiện, đây là [cách tu] ổn
thỏa, thích đáng, đơn giản, dễ dàng, nhanh chóng,
thành tựu cao nhất!
Ở
phần trên, tôi đă tŕnh bày cùng quư vị căn cứ lư
luận của việc Niệm Phật rồi. Trong kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật, đức Thế Tôn
đă nói: “Thị tâm thị Phật,
thị tâm tác Phật” (Tâm này là Phật, tâm này làm
Phật), đó chính là căn cứ lư luận của
Niệm Phật. Chân tâm bổn tánh của hết thảy
chúng sanh và mười phương hết thảy chư
Phật Như Lai không hai, không khác, cùng một chân tâm, cùng
một bổn tánh. Chân tâm bổn tánh là thuần thiện,
thuần tịnh, trọn chẳng có mảy may bất
thiện xen tạp, quyết định không có mảy may
bất tịnh xen tạp, thuần thiện, thuần
tịnh. Do vậy, quư vị vốn sẵn là Phật, đó
là “tâm này là Phật”. Kinh Hoa
Nghiêm và kinh Viên Giác nói “nhất
thiết chúng sanh bổn lai thành Phật” (hết thảy
chúng sanh vốn đă thành Phật), tức là nh́n từ góc
độ này mà nói. Nay chúng ta tuy mê, nhưng mê cũng không
sao, mê th́ sao? Chân tâm bổn tánh chúng ta không biến đổi
mảy may. Kinh Đại Thừa giảng rất nhiều
về chân tâm bổn tánh: không sanh diệt, không đến
đi, không một, không khác, nên bảo là “không sanh, không diệt, không đến, không đi,
không một, không khác, không phải có, chẳng phải
không”. Đó là đặc tánh của nó, nhưng trong
đặc tánh ấy vẫn trọn đủ linh minh giác
tri.
Trong hội Lăng Nghiêm,
đức Thế Tôn đă giảng cho chúng ta biết: Bổn
tánh đầy đủ “kiến văn giác tri”! Hư
không, pháp giới, cơi nước và chúng sanh là “duy tâm sở hiện, duy thức
sở biến”. Kể cả hư không, pháp giới,
hết thảy chúng sanh; những thứ ấy do đâu mà
có? Do tâm hiện, thức biến! Bởi vậy, Lư Thể
của chúng là tâm tánh, tâm tánh đầy đủ linh tri. Do
đây biết rằng: Hư không, thế giới, hết
thảy vạn vật đều có linh tri; nói cách khác,
đều có kiến văn giác tri, cũng có nghĩa là
chúng có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm
nhận, có thể biết. Chẳng phải chỉ
động vật mới có khả năng ấy, mà thực
vật cũng có, khoáng vật cũng có, hư không cũng
có, chẳng thể nghĩ bàn!
Trong những năm vừa qua,
tiến sĩ Giang Bổn Thắng dùng phương pháp
thực nghiệm khoa học để quan sát, ông ta phát
hiện nước có khả năng thấy nghe hay
biết. Mở rộng ra, ông ta quan sát rất nhiều
loại thực vật, nhận thấy thực vật
cũng thấy nghe hay biết. Ngay cả những vật
dụng trong cuộc sống thường nhật, thực
phẩm cũng thấy, nghe, hay, biết. Cơm, bánh mạn
đầu, chuối, táo đều được thí
nghiệm, chứng tỏ chúng thực sự thấy, nghe,
hay, biết. Thấy - nghe - hay - biết là pháp tánh, do đâu
mà có? Pháp nhĩ như vậy, nghĩa là chúng vốn
sẵn là như vậy. V́ thế, nếu quán sát thí
nghiệm sâu hơn th́ bùn, cát, đá, đất đều
thấy nghe hay biết. Đại khái, khó quan sát nhất là
hư không, hư không cũng thấy nghe hay biết, không
pháp nào chẳng thấy nghe hay biết. V́ thế, đối
với những điều được nói trong kinh
Đại Thừa quư vị phải tin sâu, chớ ngờ
vực, các nhà khoa học phát hiện những điều
ấy rồi báo với quư vị, quư vị chẳng
cảm thấy lạ lùng chút nào hết, quư vị chỉ
cảm thấy: “Chuyện ấy b́nh thường! Kinh
Phật đă nói rồi, các ông chỉ dùng phương pháp
khoa học để chứng thực đó thôi, chúng
vốn dĩ là như vậy, không lạ lùng chi hết!”
Nếu chúng ta hiểu được đạo lư này th́ quư vị mới hiểu Tịnh Độ và
Uế Độ là như thế nào, Tịnh và Uế bất nhị! Tâm con
người lành th́ tất cả hết thảy vạn
vật kết tinh đều lành. Tâm con người
chẳng lành th́ tất cả hết thảy vạn
vật đều kết tinh chẳng lành. Kinh Phật
chẳng thường nói như thế này hay sao? “Cảnh tùy tâm chuyển!” Trong
kinh Lăng Nghiêm, đức Phật giảng: “Nhược năng chuyển vật,
tắc đồng Như Lai” (Nếu có thể
chuyển được vật th́ giống với Như
Lai). Bởi thế, hết thảy vạn vật
chuyển biến theo tâm tánh của chúng ta, tâm ta thiện
th́ không một pháp nào chẳng thiện, toàn là thiện. Tâm ta
bất thiện, hết thảy mọi pháp đều bất
thiện. V́ sao có uế độ? V́ sao có tai nạn? V́ ư
niệm bất thiện, do nghiệp cảm bất
thiện chiêu cảm, duyên do là như thế.
Chúng ta muốn chuyển biến thế
giới này không khó! Chỉ cần chúng sanh sống trong
thế giới này thực sự đoạn ác tu thiện
th́ tất cả hết thảy thiên tai và nhân họa
đều tiêu diệt, không c̣n nữa. Như vậy th́ phải
chuyển từ đâu? Chuyển từ tâm địa. Bao
nhiêu năm qua thế giới bàn chuyện bảo vệ môi
trường, tôi cũng đă nói khá nhiều lần: “Muốn
bảo vệ môi trường th́ phải bắt
đầu từ đâu? Từ tâm địa!” Tâm tịnh
th́ hoàn cảnh sẽ thanh tịnh; tâm thiện th́ hoàn
cảnh bèn thiện. Cái tâm, cái ư niệm của chúng ta không
thay đổi th́ không có cách ǵ thay đổi
được hoàn cảnh, dù có đổi cũng chẳng
đạt hiệu quả ǵ! Đức Phật dạy
rất hay: “Nhất thiết pháp
tùng tâm tưởng sanh” (Hết thảy pháp sanh từ
tâm tưởng). Dạy rơ ràng, minh bạch đến
như vậy, cớ sao quư vị nghe chẳng hiểu? V́
sao chẳng chịu làm theo? Nói thật ra, chuyện này quan
trọng hơn bất cứ ǵ khác, nhất định chớ
nên xem thường!
Vậy th́ chúng ta cầu sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới, Tây
Phương Cực Lạc thế giới do tịnh
nghiệp của chính ḿnh thành tựu và cảm thành. Tâm chúng
ta không thanh tịnh, hạnh không thanh tịnh, sẽ
chẳng thể sanh về Tịnh Độ! Bởi
vậy, niệm Phật, niệm một câu danh hiệu là
tịnh tâm, tịnh ư, tịnh hạnh. Thân - ngữ - ư
đều thanh tịnh th́ chuyện sanh về Tịnh
Độ sẽ được thành tựu. Nếu miệng
niệm Di Đà, trong tâm không thanh tịnh, khởi tâm
động niệm đều là tham - sân - si - mạn,
vẫn là phiền năo tập khí, niệm Phật như
thế sẽ chẳng thể văng sanh. Cổ nhân bảo: “Khẩu niệm Di Đà tâm tán loạn,
hăm phá hầu lung diệc uổng nhiên” (Miệng niệm
Di Đà tâm tán loạn, rách toạc cổ họng uổng
công thôi) V́ sao? Thân - ngữ - ư không thanh tịnh, bởi vậy,
chẳng thể thành tựu. Quư vị học Phật,
học pháp ǵ cũng không học được. Trong cuộc
sống hằng ngày vẫn là tâm tánh bộp chộp,
xốc nổi, gặp chuyện không biết xử trí
thế nào. Phiền năo khởi hiện hành, chứ không
phải trí huệ hiện hành, không sanh trí huệ, chỉ
sanh phiền năo. Học Phật như vậy khó lắm!
Học Phật chẳng thể thành tựu, chắc
chắn vẫn bị chuyển theo nghiệp lực!
Nếu quư vị hỏi rốt
cuộc là do nguyên nhân nào ư? Do thiện căn,
phước đức, nhân duyên của mỗi cá nhân khác
biệt; từ kinh nghiệm của chính tôi mà nói th́ là do
nghe kinh quá ít, bởi thế, không giác ngộ, phiền năo
tập khí vẫn làm chủ y như cũ. V́ vậy, chúng
ta phải thường suy nghĩ: V́ lẽ nào Thích Ca Mâu Ni
Phật ngày ngày giảng kinh? Bốn mươi chín năm
chưa từng gián đoạn một ngày nào. V́ sao phải
ngày ngày giảng kinh? Chính là đau ḷng rát miệng giúp cho quư
vị giác ngộ, giúp quư vị quay đầu. Từ
đâu quay đầu? Từ tập khí phiền năo mà quay
đầu lại, đừng nương theo tập khí
phiền năo cũ, nên tuân theo lời Phật, Bồ Tát
răn dạy. Kinh điển chính là những răn
dạy của Phật, Bồ Tát; những ǵ Phật,
Bồ Tát răn dạy chính là tánh đức của chúng ta.
Tùy thuận lời Phật, Bồ Tát răn dạy chính là
tùy thuận tánh đức của chính ḿnh. Không tùy thuận
tánh đức th́ chắc chắn tùy thuận phiền năo.
Tánh đức là ǵ? Tánh
đức vốn lành, “nhân chi
sơ, tánh bổn thiện” (con người lúc thoạt
đầu tánh vốn lành); tánh đức là pháp tánh, tánh
đức là Phật tánh. Phật tánh là thuần thiện,
thuần tịnh. Đó là thực sự học Phật, học
thực sự có ích. Không biết học th́ đúng là nói
trắng ra, dù chỉ học ngoài da cũng không được.
Do đâu mà thấy? Từ khởi tâm động niệm,
lời lẽ, hành vi mà thấy: Kẻ ấy vẫn tùy
thuận tập khí phiền năo, đúng là một phân,
một mảy Phật pháp cũng chẳng thọ dụng
được! V́ nguyên nhân ǵ vậy? Kinh Địa
Tạng bảo là “cang cường
nan hóa” (ương ngạnh, khó giáo hóa), tánh t́nh quá
bướng bỉnh, quá tự phụ! Luôn tự cho ḿnh có
lư, rất khó thể tiếp nhận lời Phật,
Bồ Tát dạy. Tập khí quá nặng, sửa không
được, cứ như vậy th́ đương
nhiên phải lưu chuyển theo nghiệp.
V́ thế, chính ḿnh phải
thường xuyên tự phản tỉnh, thường xuyên
kiểm điểm, phải t́m cho ra khuyết điểm
của chính ḿnh. Tự ḿnh có năng lực phát hiện cái
bệnh của ḿnh, trong Phật pháp gọi là “khai ngộ” hay giác ngộ!
Khai ngộ rồi mới khởi tu, khởi tu là sau khi khai
ngộ bèn sửa đổi những căn bệnh
tập khí của chính ḿnh. Đó là thực sự tu hành. Nay
chúng ta tu Tịnh Độ, tâm không thanh tịnh, ư niệm
không thanh tịnh, hành vi không thanh tịnh, hoàn toàn chẳng
tương ứng với Tịnh Độ. V́ thế,
phải biết tín nguyện tŕ danh tu Tịnh nghiệp; tự
ḿnh thực sự chịu tu Tịnh nghiệp, Tịnh
nghiệp là thiện, là tịnh, biểu hiện ra bên ngoài
là thiện, thuần thiện thuần tịnh. Đấy
là Tự Lực.
Pháp môn Tịnh Độ
được gọi là “nhị
lực pháp môn”: Tự Lực và Tha
Lực.
Tha Lực là A Di Đà Phật, “hựu
trượng Di Đà từ bi nguyện lực” (lại
nương vào nguyện lực từ bi của A Di Đà
Phật), đó là Tha Lực. “Trượng”
(仗) là nhờ cậy, phải làm sao mới
ḥng nhờ cậy nguyện lực của A Di Đà
Phật? Dùng tịnh nghiệp của chúng ta để
cảm lấy nguyện lực của A Di Đà Phật. Tịnh
nghiệp của chúng ta là Năng Cảm, nguyện lực từ
bi của A Di Đà Phật là Năng Ứng, cảm
ứng đạo giao! Hết thảy chúng sanh do nghiệp
lực cảm lấy Thập Ác; v́ thế, phải quán sát
kỹ càng, nếu thân - khẩu - ư chẳng ĺa Thập Ác
th́ phiền lắm! Thập Ác cảm được ǵ? Quả
báo khổ sở trong tam đồ! Thập Thiện khiến
quư vị cảm được vui sướng và
phước báo nơi ba đường lành trong sáu
đường; nhưng không thoát khỏi luân hồi
lục đạo. V́ thế, tịnh nghiệp quan
trọng lắm!
Trong tâm là A Di Đà Phật, miệng
niệm A Di Đà Phật, hết thảy tạo tác nơi
thân chẳng ĺa A Di Đà Phật. Tạo tác nơi thân
như thế nào mới gọi là chẳng ĺa A Di Đà
Phật? Những giáo huấn trong Vô Lượng Thọ
Kinh và Quán Kinh được biểu hiện nơi hành vi
của chúng ta; đó là không ĺa A Di Đà Phật! A Di Đà
Phật dạy chúng ta làm sao, chúng ta cứ làm như thế
ấy, dạy ta đừng làm điều ǵ, chúng ta nhất
định không làm! Như vậy là đúng! Niệm
niệm cảm ứng đạo giao như thế, chính là
“một niệm tương
ứng một niệm Phật, niệm niệm
tương ứng niệm niệm Phật”, “sở dụng chi công, quyết
định bất hư” (công phu đă vận dụng
quyết chẳng luống uổng). “Công” (功) ở đây là công phu, đến lúc lâm
chung, lúc thọ mạng sắp chấm dứt, Phật bèn
đến. “Phật cập
thánh chúng, hiện tiền ủy đạo” (đức
Phật và thánh chúng hiện trước
mặt vỗ về, chỉ dạy). “Ủy” (慰)
là an ủi, Phật đến an ủi, Phật
đến dẫn dắt, tức là tiếp dẫn quư
vị. Bởi thế, quư vị chẳng bị điên
đảo, tâm không bị loạn, nhất tâm bất
loạn, tâm không điên đảo, tự tại văng sanh!
Tiếp đó là lời đại sư Ngẫu Ích cực
lực tán thán pháp môn này:
“Pháp
môn thâm diệu”: “Thâm” là
Lư sâu, chúng ta không có cách ǵ hiểu thấu đáo; “diệu” là Sự diệu,
Tướng diệu, phương pháp xảo diệu, “phá tận nhất thiết hư luận,
trảm tận nhất thiết ư kiến” (phá sạch
hết thảy hư luận, chặt đứt hết
thảy ư kiến). Hai câu này là nói thật đấy, Ngẫu
Ích đại sư nêu ra những điều khó thể nói
được lắm, v́ nếu không nhập cảnh
giới này, sẽ không thể nói ra những lời ấy,
chẳng thể nghĩ bàn! Phá sạch hết thảy hư
luận, hư luận là ǵ? Thưa cùng quư vị, hết
thảy những ǵ chư Phật giảng kinh, thuyết
pháp, nếu đem so với pháp môn Niệm Phật chúng đều
là hư luận cả, không thể so sánh được! Tám
vạn bốn ngàn pháp môn chẳng dễ tu, rất khó
học tập, vẫn phải tốn thời gian rất
dài; pháp môn này lại quá nhanh chóng, một đời thành
tựu. Bởi thế, nó ổn thỏa, thích đáng,
đơn giản, dễ dàng, nhanh chóng; thành thử, các pháp
môn khác đương nhiên bị coi là hư luận. Chữ “hư luận” chỉ Phật pháp,
có nghĩa là pháp xuất thế gian; chữ “ư kiến” chỉ các pháp thế gian. Như
vậy, hai câu này có nghĩa là [pháp môn Tịnh Độ] siêu
việt hết thảy pháp thế gian và xuất thế
gian, pháp môn thâm diệu quá! Hết thảy pháp thế gian
hay xuất thế gian đều chẳng thể sánh
bằng!
“Duy
Mă Minh, Long Thọ, Trí Giả, Vĩnh Minh chi lưu, triệt
để đảm hà đắc khứ” (chỉ có
những bậc như Mă Minh, Long Thọ, Trí Giả,
Vĩnh Minh mới triệt để gánh vác
được). Ai mới có thể tin nổi pháp môn này? Ai
có thể chết ḷng sát đất tu tập pháp môn này? Ngẫu
Ích đại sư chỉ nêu tượng trưng vài
vị trong số các tổ sư: Mă Minh Bồ Tát và Long
Thọ Bồ Tát là người Ấn Độ, nêu tên hai
vị trong số các tổ sư cổ Ấn Độ. Lịch
đại tổ sư Trung Quốc cũng chỉ nêu hai
vị: Trí Giả đại sư và Vĩnh Minh Diên Thọ
đại sư. Trí Giả và Vĩnh Minh đều ở tại
Chiết Giang, Trí Giả đại sư ở núi Thiên Thai;
Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư ở Hàng Châu, là
tổ thứ sáu của Tịnh Tông. Chỉ có những
vị như vậy, các Ngài thực sự chứng
được quả vị Bồ Tát, không phải là
Bồ Tát tầm thường mà là Pháp Thân Bồ Tát, đều
đạt quả vị Pháp Thân Bồ Tát. Thế nhưng
chúng ta phải biết: Trí Giả đại sư là Thích
Ca Mâu Ni Phật tái lai, ứng hóa trở lại; Vĩnh Minh
Diên Thọ là A Di Đà Phật ứng hóa, cổ Phật
tái lai! Các Ngài mới triệt để “đảm hà đắc khứ” (gánh vác nổi), gánh vác là tiếp nhận hoàn
toàn, không một mảy ngờ vực, y giáo phụng hành.
“Kỳ
dư, thế trí biện thông” (Ngoài ra, những kẻ
thế trí biện thông): Ngoài ra là những kẻ có trí
huệ thế gian, người rất thông minh,
người khéo ăn nói nhất. Tiếp đó, Tổ nêu
mấy thí dụ: “Thông Nho,
Thiền khách”, các vị thông đạt kinh luận
của bách gia chư tử th́ gọi là “thông Nho”, chúng ta thường gọi là bậc “đại Nho”. “Thiền khách” là tổ sư
đại đức trong Tông môn. “Tận tư lượng độ, dũ thôi dũ
viễn” (Tận sức suy lường, càng suy
lường, càng cách xa): Nếu những người
ấy suy lường, nghiên cứu, thảo luận
những kinh sách Tịnh Độ th́ càng nghiên cứu chẳng
những không thể hiểu nổi sự thâm diệu
của pháp môn này mà ngược lại c̣n lạc xa hơn
nữa. V́ sao? Pháp môn này là pháp môn chẳng thể nghĩ
bàn, tuyệt đối chẳng thể dùng tư
tưởng, suy tư, khảo sát, nghiên cứu để
thấu hiểu được, tuyệt đối
chẳng thể bàn luận suông để hiểu rơ
được. V́ sao? V́ đó là cảnh giới Phật,
cảnh giới thuộc về quả địa Như
Lai. Đức Phật nói rất rơ, “duy Phật dữ Phật phương năng
cứu cánh” (chỉ có ḿnh Phật với Phật
mới hiểu được rốt ráo”). Đối
với pháp môn này, có thể dùng tỷ dụ để nói
về Đẳng Giác Bồ Tát như sau: “Do như cách la vọng
nguyệt” (giống như ngắm trăng qua một lớp the). Đẳng
Giác
Bồ Tát c̣n như thế, huống chi là phàm phu!
Từ ngữ “thông Nho, Thiền khách” chỉ những kẻ
chưa kiến tánh. Dẫu có kiến tánh th́ kiến tánh có
phẩm vị bất đồng, trong minh tâm kiến tánh
có đến bốn mươi mốt địa vị,
gọi chung là Tam Hiền Thập Thánh. Đă chứng
Thập Thánh th́ không có vấn đề ǵ, chứ c̣n
thuộc trong Tam Hiền th́ vẫn chưa được.
V́ sao Thập Thánh không có vấn đề ǵ? Đọc
kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy Địa Thượng Bồ
Tát từ Sơ Địa đến địa vị
thứ mười một (Đẳng Giác Bồ Tát) “thủy chung chẳng rời
niệm Phật”. Khai thủy (mở đầu) của
Địa Thượng Bồ Tát là Sơ Địa, chung
cục là Đẳng Giác Bồ Tát, mười một
địa vị như thế từ đầu
đến cuối tức là từ Sơ Địa
đến Đẳng Giác, các Ngài đều niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ; bởi thế, các
vị thuộc các địa vị này không có vấn
đề ǵ. Mă Minh, Long Thọ đều là Địa
Thượng Bồ Tát. Người minh tâm kiến tánh
nếu thuộc địa vị Tam Hiền th́ không
thấy người ấy niệm Phật; nhưng
nếu [vị nào] đăng địa (đă chứng từ
Sơ Địa trở lên), nhất định [vị đó]
niệm Phật. V́ thế, kinh Đại Thừa
thường nói: “Thập Địa
Bồ Tát thủy chung bất ly niệm Phật” (Hàng Thập
Địa Bồ Tát từ đầu đến cuối
chẳng rời niệm Phật). Pháp môn chẳng thể
nghĩ bàn!
“Hựu
bất nhược ngu phu ngu phụ lăo thật niệm Phật
giả, vi năng tiềm thông Phật trí, ám hợp diệu
đạo dă” (Lại chẳng bằng kẻ ngu phu ngu
phụ chắc thật niệm Phật, có thể ngầm
thông với Phật trí, thầm hợp diệu đạo).
Thật vậy! Chúng ta không bằng những ông bà già cả
nhà quê, chúng ta thua xa họ! Dẫu họ chuyện ǵ
cũng không biết, cũng chẳng nghĩ ngợi, hiểu
biết ǵ, dạy họ thật thà niệm Phật,
họ bèn thật thà niệm Phật; dạy họ
đoạn ác tu thiện, họ bèn thật thà chất phác
đoạn ác tu thiện, thực sự thành công. Cách tu hành
như vậy “tiềm thông Phật
trí, ám hợp diệu đạo” (ngầm thông với
Phật trí, thầm hợp diệu đạo). Dẫu
chưa học qua, nhưng tâm hạnh họ lại rất
ngầm khế hợp với pháp môn thâm diệu này; v́
thế, họ có thể thành tựu. Họ thành tựu
phẩm vị cao hay thấp cũng chẳng thể
nghĩ bàn, chúng ta không có cách ǵ suy lường
được hết. Những người như vậy
chẳng tầm thường đâu nhé, thiện căn
trong đời quá khứ rất sâu dầy!
Cuối cùng là lời tổng
kết: “Ngă kiến thị lợi,
cố thuyết thử ngôn” (ta thấy điều
lợi ấy, nên nói lời này). “Ta” ở đây là Thích Ca Mâu Ni Phật tự
xưng, Thích Ca Mâu Ni Phật trông thấy sự lợi ích
đó, v́ thế Ngài nói ra. Ngẫu Ích đại sư nói: “Phân minh dĩ Phật nhăn, Phật
âm, ấn định thử sự, khởi cảm vi kháng,
bất thiện thuận nhập dă tai?” (Phân minh dùng
mắt Phật, tiếng Phật để ấn
định việc này, há dám chống báng, chẳng ngoan
ngoăn theo vào ư?) Nếu quư vị thực sự là đệ
tử của Phật, quư vị phải hiểu ư nghĩa
sâu xa của câu kinh văn này, v́ sao? Điều do chính
mắt đức Phật thấy, do chính miệng đức
Phật nói, tức là đức Phật đă khẳng
định dứt khoát chuyện A Di Đà Phật
đến tiếp dẫn văng sanh rồi. Nếu chúng ta
trái nghịch, chẳng tuân thủ lời Phật dạy,
tức là chúng ta chẳng thuận theo ư Phật, chẳng
chấp thuận Phật dạy dỗ th́ chẳng phải
là đồ đệ của Phật. Đồ
đệ của Phật há chẳng vâng lời, làm theo
lời thầy dạy ư? Tùy thuận Phật, Bồ Tát
dạy dỗ, chắc chắn thành tựu. Không tùy
thuận là không có cách chi hết, phải luân hồi dài lâu.
Chúng tôi giảng đoạn lớn này đến đây
thôi.
Tập
29
6.4. Lưu Thông Phần
6.4.1.
Xin xem tiếp đơn vị thứ
sáu: “
Xá Lợi Phất! Như ngă kim giả
tán thán A Di Đà Phật bất khả tư nghị công đức chi lợi. Đông
phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di
Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang
Phật, Diệu Âm Phật, như thị đẳng Hằng
hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc,
xuất quảng trường thiệt tướng
biến phú tam thiên đại thiên thế giới,
thuyết thành thực ngôn: ‘Nhữ đẳng chúng sanh
đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật
Sở Hộ Niệm kinh.
舍利弗。如我今者。讚歎阿彌陀佛。不可思議功德之利。東方亦有阿閦鞞佛。須彌相佛。大須彌佛。須彌光佛。妙音佛。如是等恆河沙數諸佛。各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
(Này Xá Lợi Phất! Như
nay ta tán thán lợi ích công đức chẳng thể
nghĩ bàn của A Di Đà Phật, phương
Đông cũng có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật,
Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật.
Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi
vị ở trong nước ḿnh, hiện tướng
lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên
thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng
Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất
Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”).
Đến đây
là một đoạn. Chúng tôi chia đoạn thành năm
đoạn nhỏ để giới thiệu. Đoạn
thứ nhất là “thử kinh dĩ
Thật Tướng vi Thể, thị Thế Tôn triệt để
bi tâm, vô vấn tự thuyết, thùy kham nhiệm lưu thông
chi trách” (kinh này lấy Thật Tướng làm Thể,
do tâm bi triệt để nên đức Thế Tôn không ai
hỏi mà tự nói, ai là người có thể gánh vác trách
nhiệm lưu thông). Trước hết, chúng tôi giới
thiệu đại lược ư tưởng này. Bộ
kinh A Di Đà này kích thước không lớn, phàm là kinh
Đại Thừa đều lấy Thật Tướng
làm Thể. Thật Tướng là ǵ? Nh́n từ mặt
chữ, “chân tướng
sự thật” được gọi là Thật
Tướng. Chân tướng sự thật chính là Chân
Như Bổn Tánh, là Lư Thể của Pháp Thân và [chủ thể]
có thể hiện, có thể biến, [cũng như tất
cả các pháp] được hiện, được
biến, đó là chân tướng sự thật! Những
ǵ đức Thế Tôn dạy chúng ta không ngoài những
điều như vậy.
Pháp hội này do
bi tâm triệt để của Thích Ca Mâu Ni Phật mà có,
cũng có thể nói là từ tâm đại từ
đại bi viên măn rốt ráo, không ai thưa hỏi,
từ đầu đến cuối chỉ ḿnh đức
Thế Tôn tự nói; v́ thế, tựa đề kinh ghi là “Phật Thuyết”. Kinh
điển như vậy ai mới là người có
năng lực, hay như ta thường nói là “có đủ
tư cách” đảm nhiệm lưu thông? Quả thật,
kinh này khác hẳn với mọi kinh đức Phật
đă nói trong bốn mươi chín năm. Ngay cả kinh
Hoa Nghiêm cũng có người khải thỉnh; tuy vậy,
khải thỉnh trong kinh Hoa Nghiêm không phải là nói ra mà là
trong tâm có nghi vấn nhưng không nói ra, đức Phật
biết ngay, c̣n kinh này không ai nghĩ đến, không ai có
thể nêu được câu hỏi. Đức Phật
thấy duyên phận của đại chúng chín muồi, bèn
v́ chúng ta nói ra pháp môn thù thắng khôn sánh, là pháp hết
thảy chúng sanh khó tin. V́ sao gọi là “duyên chín muồi”?
Đức Phật nói ra chắc chắn có người tin
tưởng, có người có thể thấu hiểu, có
người chịu y giáo phụng hành, đó là “duyên chín
muồi”. Đức Phật chẳng đợi ai hỏi,
gấp gáp nói ra; v́ thế, kinh này mới là ḷng “độ
sanh thành Phật” (hóa độ cho chúng sanh thành tựu Phật
quả) triệt để, viên măn rốt ráo vậy!
Ở đây,
Ngẫu Ích đại sư v́ chúng ta nêu lên câu hỏi: Ai là
người có năng lực, có tư cách lưu thông? Lăo
nhân gia nói rất hay. Kinh chia thành ba phần, Ngài phán định
từ đây trở đi thuộc phần Lưu Thông. Từ
trước đến nay khi tổ sư đại
đức giảng kinh A Di Đà, chưa vị nào coi
phần này là Lưu Thông, đều cho đoạn này
thuộc về phần Chánh Tông; riêng ḿnh Ngẫu Ích
đại sư huệ nhăn trọn đủ, phán
định từ đây trở đi là phần Lưu
Thông, “chư Phật khuyến
tín lưu thông”. Trong phần Lưu Thông, Ngài cũng chia
thành ba khoa (ba tiểu đoạn): Khuyến tín, khuyến
nguyện, khuyến hành. Trong ba phần, Tự Phần
cũng là Tín - Nguyện - Hạnh, phần Chánh Tông cũng
là Tín - Nguyện - Hạnh, trong phần Lưu Thông cũng
là Tín - Nguyện - Hạnh, dùng ba tư lương quán
triệt cả ba phần. Ai có thể khuyến tín (khuyên
nên tin tưởng)?
Dưới
đây là phần lược giải ư nghĩa của
chữ Lưu Thông, [sách Yếu Giải viết]: “Lưu giả, lưu truyền vạn
cổ, thông giả, thông đạt thập phương” (Lưu
là lưu truyền muôn đời, Thông là thông đạt
mười phương). Giáo huấn của thánh hiền nếu
không có ai lưu truyền sẽ chẳng thể lợi ích
hết thảy chúng sanh. Con người hiện thời
không gọi là “lưu thông” mà gọi là “tuyên truyền, tuyên
đạo[2]”,
đều mang ư nghĩa lưu thông. Cổ Trung Hoa gọi
là “truyền thừa”, đều thuộc về ư nghĩa
lưu thông. Đời đời có truyền nhân thực
hiện công tác hoằng truyền, xiển dương chánh
pháp. Bộ kinh này là pháp khó tin, ngoại trừ Phật ra,
ai là người có thể đảm nhiệm tốt
đẹp hơn? Bởi thế, “duy Phật dữ Phật, năi năng cứu cánh chư
pháp Thật Tướng, kham cộng lưu thông” (chỉ
có Phật với Phật mới có thể rốt ráo
Thật Tướng các pháp, mới có thể cùng nhau lưu
thông). Chỉ có Như Lai Quả Địa, tức là thành
Phật, mới có thể triệt để rốt ráo
chứng đắc Thật Tướng của các pháp; v́
thế, đối với pháp môn khó tin này, chư Phật
không hoài nghi, các Ngài lưu thông bằng cách nào? V́ hết
thảy chúng sanh giảng kinh điển này, đó là lưu
thông.
Từ câu này chúng ta phải
hiểu: Tuyệt đối không phải Ngẫu Ích
đại sư tự chế ra câu nói ấy mà Ngài có kinh
điển để làm căn cứ. Quư vị thấy
trong cả đoạn kinh văn dài như vậy, sáu
phương Phật thật ra là mười phương, bản
dịch kinh A Di Đà của ngài Huyền Trang ghi
mười phương, La Thập đại sư
dịch ư, tỉnh lược. Người Hoa thích
đơn giản, không thích rườm rà, bởi thế, [ngài
La Thập] tỉnh lược mười phương
thành sáu phương: Đông, Nam, Tây, Bắc, trên,
dưới; c̣n th́ tỉnh lược Đông Nam, Tây Nam, Tây
Bắc, Đông Bắc. Mười phương tam thế
hết thảy chư Phật, không vị Phật nào chẳng
giảng pháp môn này. Nói cách khác, khi Phật ứng hóa trong
thế gian th́ vô lượng vô biên pháp môn chưa chắc
đă giảng, mà phải giảng những kinh nào?
Kinh Phật được gọi là Khế Kinh, nguyên tắc giảng kinh nhất định
phải là khế hợp căn tánh của chúng
sanh, khế hợp ḷng chúng sanh ưa thích, khế hợp
tŕnh độ của chúng sanh, khế hợp thói quen sinh sống hiện tại của chúng sanh, bởi
thế, gọi là Khế Kinh. Nếu không thích hợp tŕnh
độ hoặc có chỗ nào không thích hợp, đức
Phật sẽ không giảng. Giống như thầy
dạy tṛ, thầy thực
sự học vấn đầy ắp
bụng, mời thầy dạy học tṛ tiểu học:
“Được! Tôi cũng hoan hỷ dạy các bạn
nhỏ”. Dạy các em nhỏ có phương pháp dạy tṛ
nhỏ, dạy sao cho chúng hiểu được, tiếp
nhận được, vui thích làm theo, phải có
phương pháp dạy riêng. Dạy thanh thiếu niên,
tuổi tác lớn rồi, mười mấy tuổi, hai
mươi tuổi, người như thế nào có phương
pháp dạy học dành cho giai đoạn ấy. V́ sao?
Sức hiểu biết cao hơn; c̣n tuổi nhi
đồng có sức ghi nhớ mạnh mẽ. Căn tánh
như vậy đó, phải thích hợp căn tánh!
V́ thế, quan
trọng nhất khi dạy tiểu học là phải làm cho
trẻ nhớ kỹ những đạo lư và giáo huấn
của thánh hiền trong giai đoạn đó, đọc
nhiều, thuộc kỹ, không cần phải giảng
giải. Thầy nêu gương, làm gương có tác
dụng rất lớn, tác dụng như thế nào?
Khiến cho học tṛ khởi ḷng tin đối với
thầy, hết sức quan trọng đấy nhé! Học
sinh không hoài nghi thầy. Dạy học như vậy là
dạy trong giai đoạn đầu tiên, gia trưởng
(phụ huynh học sinh) và thầy hợp tác mật
thiết khiến cho học sinh ghi vào ḷng, in vào mắt,
nhớ kỹ trong tâm. Nói trắng ra, đó cũng là
diễn tuồng, thầy và cha mẹ cùng diễn cho
học tṛ xem tuồng.
Lúc tôi lên sáu
bảy tuổi đi học trường tư, tôi đă
kể cùng quư vị rồi đó. Cha tôi mang lễ vật
đến biếu thầy, xin cho tôi theo học. Vào
trường (trường này là trường tư
đặt trong từ đường của một
người nọ), trước hết, đối
trước bài vị của Khổng lăo phu tử (lúc
ấy chưa có tranh vẽ, chỉ có bài vị của
Khổng lăo phu tử), hành lễ theo cách cung kính nhất là
quỳ lạy ba lần, dập đầu chín cái. Cha tôi
lễ đằng trước, tôi ở đằng sau
lễ theo, quỳ lạy ba lần, dập đầu chín
cái. Lễ Khổng lăo phu tử xong, thỉnh thầy
ngồi lên cao, hành đại lễ quỳ ba lần,
dập đầu chín cái đối với thầy,
hết sức kính lễ. Thầy tuổi chưa cao, xem
chừng c̣n kém tuổi cha tôi, cha tôi hướng về
thầy lễ ba lần, dập đầu chín cái, tôi
ở đằng sau làm theo. V́ sao vậy? Để in vào
mắt, ghi vào ḷng kẻ làm học tṛ, cha tôn kính đối
với thầy như thế đó, bọn ta không
được hoài nghi. Lời thầy giống hệt
như thánh chỉ, không ngờ vực chi, đương
nhiên không phản đối, thầy dạy làm sao, học
theo làm vậy. Phụ huynh cung kính thầy như thế
ấy, thầy không tích cực dạy học tṛ làm sao xứng
với phụ huynh? Làm sao dám nh́n mặt học tṛ? Có
cảm giác trách nhiệm mà! Không như nhà trường bây
giờ, nhà trường hiện thời không c̣n quy cách
như vậy nữa.
Nay toàn bộ xă hội
hướng theo thương nghiệp hóa. Thầy dạy
học để làm ǵ? V́ tiền lương,
được trả lương giờ, v́ như vậy
đó! Học sinh đi học để làm ǵ? Để
kiếm văn bằng. Đạo nghĩa thầy tṛ không
c̣n nữa, t́nh bè bạn giữa đồng học cũng
không c̣n, không thể sánh bằng khi xưa được. Trước
kia, mối quan hệ thầy tṛ đúng là “nhất nhật vi sư, chung sanh vi phụ” (một
ngày là thầy, suốt đời là cha), thầy tṛ như
cha con, đồng học không khác ǵ anh chị em ruột.
Nay loại t́nh cảm ấy đă biến mất, quan
hệ giữa người với người hiện
tại là mối quan hệ lợi - hại, chứ đạo
nghĩa và t́nh bạn không c̣n nữa. Nhân gian bi thương
không ǵ hơn được nữa!
V́ thế, kinh
văn này cần phải có người thực sự
hiểu thấu, thông đạt, không ngờ vực
để lưu thông. Chư Phật lưu thông, chư
Phật đều tán dương, không vị Phật nào
chẳng hoan hỷ, không tán thán. Chúng ta đọc kinh Vô
Lượng Thọ thấy Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán A Di
Đà Phật, chính là thay mặt mười phương ba
đời hết thảy chư Phật cùng tán thán A Di
Đà Phật, xưng tán Di Đà là “quang trung cực tôn, Phật trung chi vương”
(quang minh cao quư nhất, vua trong các đức Phật)! Tán
thán đến cùng cực. Nếu chúng ta lắng ḷng suy
nghĩ, sẽ nhận rơ: Hết thảy chư Phật
đều tán thán A Di Đà Phật là “quang trung cực tôn, Phật trung chi vương”; vậy
th́ chúng ta học Phật, không học với A Di Đà
Phật c̣n học với ai đây? “Thập phương tam thế Phật, A Di Đà
đệ nhất” (Mười phương ba
đời Phật, A Di Đà Phật bậc nhất). Nay
chúng ta phải học với vị thầy bậc
nhất, vị thầy bậc nhất ấy do chính Thích Ca
Mâu Ni Phật giới thiệu cho chúng ta!
Thích Ca Mâu Ni
Phật giống như cha chúng ta, A Di Đà Phật là
thầy. Cha đem con đến bái sư, giao con cho
thầy; nếu chúng ta không tuân lời thầy dạy th́ chính
là đại bất hiếu. Thế nhưng có rất
nhiều kẻ t́nh chấp quá sâu, hết sức chấp
trước, cứ khăng khăng nhất định
phải theo Thích Ca Mâu Ni Phật. Họ cũng niệm
Phật, nhưng niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật, không niệm A Di Đà Phật. V́ sao? Họ
chưa từng đọc Phật Thuyết A Di Đà Kinh, hoặc
là đọc rồi nhưng không hiểu. Nếu thực sự
hiểu, sẽ không như thế, nhất định nghe
lời Thích Ca Mâu Ni Phật niệm A Di Đà Phật
cầu sanh về Tịnh Độ, Thích Ca Mâu Ni Phật
dạy chúng ta như vậy.
“Thử kinh điển vô thượng viên đốn
pháp môn” (kinh này là pháp môn vô thượng viên đốn),
kinh này viên đốn như các kinh Đại Thừa
lẫn Nhất Thừa! Hoa Nghiêm là viên đốn, Pháp Hoa là
viên đốn, Lăng Nghiêm là viên đốn, Tịnh
Độ Tam Kinh ngoài viên đốn c̣n thêm hai chữ “vô thượng”! Không thể
nói kinh Hoa Nghiêm là “vô thượng viên đốn”, v́ sao? Phía
trên c̣n có kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà. V́ sao
biết vậy? Quư vị thấy kinh Hoa Nghiêm đến cuối
cùng là “mười đại
nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát
dẫn về Cực Lạc”, tức là quy về kinh Vô
Lượng Thọ, quy về A Di Đà Phật. V́ thế,
kinh này được gọi là pháp môn vô thượng viên
đốn là như vậy đó.
“Duy thuyên Phật chi cảnh giới” (chỉ nói
về cảnh giới của chư Phật): Kinh này hoàn
toàn nói đến cảnh giới thuộc Quả Địa
Như Lai, chẳng phải cảnh giới Bồ Tát! “Cố viết duy Phật dữ
Phật khả dữ lưu thông nhĩ” (Nên nói chỉ có
Phật với Phật mới có thể lưu thông vậy).
Chỉ có đức Phật [Thích Ca Mâu Ni] và chư Phật
Như Lai mới đủ năng lực, đủ
điều kiện để lưu thông bộ kinh này. Từ
đây, chúng ta có thể khẳng định hết
thảy chư Phật Như Lai giáo hóa chúng sanh đều
phải diễn nói kinh này, hết thảy những kinh khác
chưa chắc chư Phật đều nói, chỉ riêng
ḿnh kinh này, hết thảy chư Phật không vị Phật
nào chẳng nói, không vị Phật nào không khuyên
người, không khuyên hết thảy chúng sanh niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ, Phật Phật
đạo đồng mà! Chúng ta phải hiểu rơ ràng,
thấu suốt điều này.
Lại xem tiếp
phân đoạn thứ hai, Ngẫu Ích đại sư
bảo: “Bất khả tư
nghị, lược hữu ngũ ư” (Chẳng thể
nghĩ bàn, nói đại lược có năm ư). Lược nói năm ư
nghĩa của chữ “bất
khả tư nghị” (chẳng thể nghĩ bàn), phải
nói đại lược v́ nói măi cũng không hết!
1) Thứ nhất
là “hoành siêu tam giới, bất
sĩ đoạn Hoặc” (vượt thoát tam giới
theo chiều ngang, chẳng cần đợi đến lúc
đoạn Hoặc). Đó là điều chẳng thể
nghĩ bàn! Chúng ta biết: Muốn thoát khỏi tam giới
lục đạo, ở phần trên tôi đă nói rồi,
phải dần dần nâng cao lên mới ḥng vượt
thoát, không phải là chuyện dễ dàng! Pháp môn này không cần!
Vượt thoát theo chiều ngang, chứ không cần theo
chiều dọc, vượt thoát ngay từ nhân đạo
(loài người). Thụ xuất (vượt thoát tam
giới theo chiều dọc) th́ phải đoạn Hoặc.
Nếu chẳng đoạn Kiến Tư phiền năo, chắc
chắn chẳng thể vượt khỏi tam giới lục
đạo.
Đoạn Kiến Hoặc, quư
vị thoát khỏi tam đồ, nhưng chưa thoát
khỏi lục đạo, quư vị vĩnh viễn không
đọa tam đồ; tức là trong lục đạo,
quư vị vĩnh viễn chẳng đọa vào địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đoạn sạch
Kiến Tư Hoặc mới thoát khỏi lục
đạo luân hồi, vượt thoát cả ba thiện
đạo. Phải đoạn được Tư
Hoặc! Sau khi vượt thoát lục đạo, sanh trong
Tứ Thánh pháp giới: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, và
Phật pháp giới trong mười pháp giới. Trong
cảnh giới ấy phải đoạn Trần Sa phiền
năo, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp
Thân th́ mới có thể thoát khỏi Tứ Thánh pháp
giới. V́ thế, phải đoạn Hoặc!
Nay trong pháp môn
Tịnh Độ không cần đoạn Hoặc mà
đới nghiệp văng sanh! Dẫu không đoạn
Hoặc, nhưng cổ đại đức nói rất rơ
là ta phải chế phục Hoặc nghiệp. “Hoặc” là tập khí phiền
năo. Quư vị phải khuất phục được
tập khí phiền năo, dẫu chưa đoạn Hoặc,
nhưng trong cuộc sống thường ngày chẳng
để cho chúng phát tác, phải có bản lănh ấy. Không
có bản lănh ấy sẽ chẳng thể văng sanh, chẳng
thể vượt ngang tam giới được! Phải
có bản lănh! Bản lănh ǵ vậy? Trong kinh Phật
dạy: Tŕ danh niệm Phật, chấp tŕ danh hiệu! Phải
tốn thời gian bao lâu? Không dài lắm đâu! Quư vị
thấy “hoặc một ngày,
hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc đến bảy
ngày”. Đúng là dễ dàng quá, đơn giản quá!
Người ta không tin: Há dễ dàng vậy ư? Đại
pháp vô thượng viên đốn mà! Nếu không dễ
dàng, đơn giản, ổn thỏa, thích đáng, nhanh chóng
như thế, sao là pháp vô thượng viên đốn cho được?
Ai có thể sanh
về đó được? Ai tin là sanh về
được, ai y giáo phụng hành là sanh về
được. Ngẫu Ích đại sư giảng kinh
này rất hay: “Được
văng sanh hay không hoàn toàn cậy vào tín nguyện có hay không?”
Quư vị có thực sự tin tưởng hay không, thực sự muốn ra đi hay không, quư vị có thể
hội đủ điều kiện ấy hay không? Sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
phẩm vị cao hay thấp là do công phu tŕ danh sâu hay
cạn. Giống như trong thế gian này của chúng ta,
lục đạo chúng sanh luân hồi xả thân thọ
sanh, sẽ có hai sức mạnh:
a. Một là Dẫn Nghiệp
dẫn dắt quư vị thọ sanh trong đường
nào; như lần này ta được làm thân người
là do Dẫn Nghiệp dẫn ta sanh vào thân người.
b. Trong một đời này,
chúng ta gặp gỡ, chúng ta hưởng nhận những
nỗi khổ niềm vui. Quả báo khổ hay
sướng ấy gọi là Măn Nghiệp (“măn” là viên măn). Măn
Nghiệp là quả báo của cả một đời,
nhất định phải hứng chịu.
Tây Phương Cực Lạc
thế giới cũng có hai điều kiện, cũng có Dẫn
Nghiệp tức là Tín Nguyện. Tín Nguyện hướng dẫn
chúng ta sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Đến Tây Phương Cực Lạc thế
giới, trong thế giới ấy có chín phẩm ba bậc
trong bốn cơi, quư vị văng sanh vào phẩm vị nào
giống như Măn Nghiệp, là do công phu niệm Phật sâu
hay cạn. Công phu niệm Phật sâu, phẩm vị cao;
công phu niệm Phật nông cạn, phẩm vị thấp
kém. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới,
phẩm vị bất đồng, thọ dụng khác
biệt. Bởi thế, chư vị hăy nghĩ đi:
Tợ hồ có Dẫn Nghiệp và cũng có Măn Nghiệp. Tín
- Nguyện - Hạnh: Tín Nguyện dẫn đường,
Hạnh là phẩm vị cao hay thấp. Trong Yếu
Giải, Ngẫu Ích đại sư đă giảng rất
hay! V́ vậy, pháp môn này không cần đoạn Hoặc,
một phẩm phiền năo chưa đoạn, chỉ
cần chế ngự; việc chế ngự phiền năo
phải được tu tập trong cuộc sống hằng
ngày. Tu tập như thế nào? Tôi thường nói: “Thuận
cảnh thiện duyên chẳng khởi tham luyến, không có
tâm tham luyến; nghịch cảnh ác duyên không khởi sân
khuể”. Phải rèn luyện trong cuộc sống thường
ngày!
Mấy năm gần đây, tôi
đặc biệt nhấn mạnh chuyện thuần
thiện, thuần tịnh. Giảng kinh Thập Thiện
Nghiệp Đạo xong rồi, tôi vẫn cứ nói măi: “Tâm
phải thuần tịnh, chẳng dung một phần
bất tịnh xen tạp, hành vi phải thuần thiện,
chẳng dung mảy may bất thiện xen tạp!”
Thuần tịnh thuần thiện là dùng một câu A Di
Đà Phật, dùng phương pháp ấy khiến cho chúng
ta trong một đời này tu thành thuần tịnh
thuần thiện, sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới phẩm vị sẽ cao! Đó là cái chúng ta
có thể mang theo được, tất cả hết
thảy pháp thế gian không một thứ ǵ có thể mang
theo được! Những ǵ không mang theo được
không thèm bận ḷng nữa, hết thảy tùy duyên! Những
ǵ mang theo được phải nghiêm túc nỗ lực làm
cho được. Tín - Nguyện - Hạnh mang theo
được. Đó là bất khả tư nghị
thứ nhất.
2) Bất khả tư nghị
thứ hai, “tức Tây
Phương hoành cụ tứ độ, phi do tiệm tấn”
(tức là Tây Phương trọn đủ cả
bốn cơi Tịnh Độ theo chiều ngang, chẳng do tiến
lên dần dần). Thật chẳng thể nghĩ bàn! Các
thế giới phương khác ngoại trừ thế
giới Cực Lạc, không có thế giới nào giống
như thế giới Cực Lạc, thế giới
Cực Lạc đặc biệt quá. Hết thảy các cơi
Phật khác đều có bốn cơi, thế giới của
Thích Ca Mâu Ni Phật cũng có bốn cơi, nhưng bốn cơi
không ở cùng một chỗ, bốn cơi có cao - thấp. Phàm
Thánh Đồng Cư Độ thấp nhất,
Phương Tiện Hữu Dư Độ cao hơn. Trong
thế giới Sa Bà của Thích Ca Mâu Ni Phật, lục
đạo là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, Tứ
Thánh pháp giới là Phương Tiện Hữu Dư Độ,
Nhất Chân pháp giới là Thật Báo Trang Nghiêm Độ,
là Thường Tịch Quang Độ. Phật Thích Ca có
bốn cơi, hết thảy chư Phật đều có
bốn cơi, nhưng không bày theo hàng ngang. Tây Phương
Cực Lạc thế giới khác hẳn, “hoành cụ tứ độ” (trọn đủ
bốn cơi theo chiều ngang). Thế giới ấy có
bốn cơi, bốn cơi b́nh đẳng, bốn cơi cùng ở
một chỗ.
“Phi
do tiệm tấn” (chẳng
do tiến dần dần), chẳng giống như chỗ
chúng ta, phải đoạn Kiến Tư phiền năo
rồi mới có thể dự vào Phương Tiện
Hữu Dư Độ. Đoạn sạch Trần Sa
phiền năo, phá một phẩm vô minh, quư vị mới sanh
vào Thật Báo Trang Nghiêm Độ. Đó là tu hành tiệm tấn
cao dần lên, không thể đạt ngay được.
Tây Phương Cực Lạc thế giới là đạt
được ngay; bởi vậy, sanh vào cơi Đồng
Cư sẽ đồng thời sanh vào Phương
Tiện Hữu Dư, sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm, sanh vào
cơi Tịch Quang; một chính là bốn, bốn nhưng mà
một; chẳng thể nghĩ bàn! Chỉ có Tây
Phương Cực Lạc thế giới là như
thế, bốn cơi ở cùng một chỗ. Các vị Bồ
Tát như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền
trụ trong Thật Báo Trang Nghiêm độ! Chúng ta văng sanh,
Kiến Tư phiền năo chưa đoạn, sanh trong Phàm
Thánh Đồng Cư Độ, ngày ngày chúng ta nghiễm
nhiên ở cùng một chỗ với các vị Quán Âm,
Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, đúng là pháp khó tin!
Ta là phàm phu, sao ở cùng một chỗ với thánh nhân cho
được? Lại là đại thánh, chứ không
phải tiểu thánh, chẳng phải bậc thánh nhân
tầm thường đâu nhé!
3) Điều thứ ba là “đản tŕ danh hiệu, bất
giả Thiền Quán chư phương tiện” (chỉ
tŕ danh hiệu, chẳng nhọc công dùng đến các
phương tiện Thiền Quán). Quư vị thấy đó,
thuận tiện quá đi! Phương pháp quá đơn
giản, quá dễ dàng: Chỉ cần chấp tŕ danh
hiệu, suốt ngày từ sáng đến tối trong
mười hai thời một câu A Di Đà Phật
chẳng gián đoạn. Đại Thế Chí Bồ Tát
dạy: “Đô nhiếp lục
căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn
sáu căn, tịnh niệm tiếp nối). Giác Minh Diệu
Hạnh Bồ Tát dạy chúng ta “không
hoài nghi, không gián đoạn, không xen tạp”; không hoài
nghi, không xen tạp là tịnh niệm, không gián đoạn
là tiếp nối, tịnh niệm tiếp nối vậy!
Điều này làm được, ai cũng có thể làm
được, chỉ sợ quư vị không chịu làm th́
không c̣n có cách ǵ hết. Nếu quư vị chịu làm, không một
ai chẳng làm được. Đó là sự chẳng
thể nghĩ bàn thứ ba, “đản
tŕ danh hiệu, bất giả Thiền Quán chư
phương tiện” (chỉ tŕ danh hiệu, chẳng
nhọc công dùng đến các phương tiện Thiền
Quán). Không cần phải tham cứu, cũng chẳng
cần dùng đến các pháp môn khác hỗ trợ, chỉ
một câu Phật hiệu niệm đến cùng tột là
được rồi.
4) Sự bất khả tư
nghị thứ tư “nhất
thất vi kỳ, bất tạ đa kiếp, đa sanh, đa
niên nguyệt” (lấy một thất làm kỳ hạn,
không cần mất nhiều kiếp, nhiều đời, nhiều
năm tháng). Quư vị thấy đó: Pháp môn này hết
sức nhanh chóng như vậy, một thất là bảy ngày;
kinh nói từ một ngày đến bảy ngày. Chẳng giống
như các pháp môn khác, đức Phật thường
dạy phải tu vô lượng kiếp, phải tu ba
đại A-tăng-kỳ kiếp, cần thời gian
rất dài, nhiều đời, nhiều kiếp, rất
nhiều năm tháng! Pháp môn này bảy ngày thành công. Bảy
ngày tu thành công là chuyện thực
sự có, từ xưa đến nay
quả thật đă có ghi chép, bảy ngày thực
sự có thể thành công. Nếu nói pháp
môn này đúng là bảy ngày bèn văng sanh th́ không những pháp
môn này là pháp khó tin mà c̣n biến thành một pháp môn rất
đáng sợ. V́ sao? Bảy ngày bèn phải chết rồi!
Ai dám tu pháp môn này nữa! Hết thảy chúng sanh trong
lục đạo có kẻ nào không tham sống sợ
chết? Nói cách khác, người không sợ chết mới
tu được pháp môn này, kẻ tham sống sợ
chết sẽ chẳng dám tu.
Không ít đồng học chúng
ta thường tham gia đả thất, vẫn có
người phát tâm đả tinh tấn Phật thất,
rất tốt, hiếm có! Đả trọn bảy ngày,
đả trọn một trăm lần bảy ngày vẫn
chưa văng sanh là v́ nguyên nhân nào vậy? Làm chưa giống
như kinh dạy. Kinh dạy bảy ngày thành công, nay chúng ta
niệm hết bảy mươi ngày, bảy trăm ngày
vẫn chưa thành công là v́ nguyên nhân ǵ? Là v́ chính ḿnh tu
chưa đúng lư, không đúng pháp; nếu đúng lư đúng
pháp, không ai chẳng thành công. Bởi thế, dù quư vị
niệm Phật đă lâu, A Di Đà Phật chẳng
đến tiếp dẫn quư vị.
A Di Đà thấy rơ quư vị
không muốn văng sanh nên Ngài không đến tiếp dẫn
kẻo quư vị sợ điếng người. A Di Đà
Phật rất từ bi, không dọa dẫm người
khác, đợi đến khi quư vị thực sự
muốn văng sanh, Ngài bèn đến; lúc lâm chung quư vị có
nguyện vọng khẩn thiết, Ngài bèn đến. Quư
vị không có nguyện vọng khẩn thiết,
đối với Cực Lạc chẳng mười
phần quy hướng, khẩn thiết mong cầu, Ngài
cũng không đến. V́ sao? V́ chẳng tương
ứng với bổn nguyện của A Di Đà Phật.
Ba điều kiện Tín - Nguyện - Hạnh thiếu
một điều không được; v́ thế, chúng ta
phải cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, chẳng được xem thường
nguyện. Phải nguyện như thế nào? Trong bản
Pháp Sự này, thiền sư Trung Phong đă giảng
rất rơ, nhất định phải lấy bốn
mươi tám nguyện của A Di Đà Phật làm bổn
nguyện của chính ḿnh; khi giảng đến phần
sau chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết cùng quư vị.
Bởi lẽ tâm chúng ta không giống với tâm của A Di
Đà Phật, nguyện chẳng giống với nguyện
A Di Đà Phật, nên chẳng thể văng sanh! Phải
đồng tâm, đồng nguyện, đồng
đức, đồng hạnh th́ mới chắc chắn
văng sanh, chớ nên coi thường!
5) Điều bất khả
tư nghị thứ năm là “tŕ
nhất Phật danh, tức vị chư Phật hộ niệm,
bất dị tŕ nhất thiết Phật danh” (tŕ
một danh hiệu Phật liền được chư
Phật hộ niệm, không khác ǵ tŕ hết thảy danh
hiệu). Đạo lư này quá sức sâu xa! Chúng ta b́nh
thường niệm Phật là niệm A Di Đà Phật,
là niệm danh hiệu của một vị Phật, đâu
biết danh hiệu ấy là danh hiệu chung của
hết thảy chư Phật, niệm một danh hiệu
này chính là niệm trọn tất cả hết thảy
chư Phật. V́ thế, trong đoạn này, tổ sư
giảng rất rơ ràng: Quư vị niệm A Di Đà Phật
sẽ được hết thảy chư Phật hộ
niệm; người Hoa thường nói “hết thảy
chư Phật đều bảo hựu ḿnh”, ta niệm
Phật, Phật cũng niệm ta. Tŕ danh hiệu của một
đức Phật giống như tŕ danh hiệu của hết
thảy chư Phật, v́ sao? Quư vị phải chú tâm xem xét
đoạn kinh văn này mới ḥng hiểu rơ
được. Hết thảy chư Phật không một
vị Phật nào chẳng niệm A Di Đà Phật, nay ta cũng
niệm A Di Đà Phật chính là đồng tâm,
đồng nguyện, đồng đức, đồng
hạnh với hết thảy chư Phật, lẽ
đương nhiên cảm được hết thảy
chư Phật hộ niệm!
Niệm Phật không linh,
gặp phải ma chướng, Phật hiệu không niệm
được, chẳng biết làm sao ư? V́ nguyên nhân ǵ?
Đều là do chẳng chết ḷng sát đất tin,
nguyện, hành đối với A Di Đà Phật. Nếu thực sự tâm,
nguyện, đức, hạnh giống với A Di Đà
Phật th́ hết thảy chư Phật đều hộ
niệm quư vị, hết thảy oán thân trái chủ, yêu ma
quỷ quái đều tôn kính, bội phục, ủng
hộ quư vị, lẽ đâu làm hại quư vị? Chúng ta
phải suy nghĩ đạo lư ấy cho nhiều mới
thông suốt được. A! Nay đă hết giờ
rồi!
*
Xin xem tiếp tiểu
đoạn thứ ba: “Tự
tha bất khả tư nghị” (Ta và người
chẳng thể nghĩ bàn). Ngẫu Ích đại sư
nói: “Hành nhân tín nguyện tŕ danh”,
hành nhân là những ai y giáo phụng hành, đầy
đủ ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha,
nhất tâm tŕ danh, hội đủ những điều
kiện ấy. “Toàn nhiếp Phật
công đức thành tự công đức” (Nhiếp hoàn
toàn công đức của Phật thành công đức
của chính ḿnh), [tức là] đem công đức của A
Di Đà Phật chuyển biến thành công đức
của chính ḿnh. V́ thế, học Phật quan trọng
nhất là học chuyển được cảnh
giới, biến hoàn cảnh bất thiện thành hoàn
cảnh thiện, phải chuyển từ nơi đâu? Chuyển
từ nơi khởi tâm động niệm của chính
ḿnh, phải bắt đầu từ ư niệm. Ư niệm chẳng
thiện phải lập tức biết ngay, nhà Phật
gọi sự nhận biết ngay ấy là “giác ngộ”.
Khi giảng pháp, chúng tôi
thường nói: “Giác chứ
không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không nhiễm”.
Niệm niệm phải giác, ư niệm vừa khởi lên liền
lập tức nhận biết, quan sát. Nếu ư niệm
ấy chẳng lành, chẳng chánh, chẳng tịnh, lập
tức chuyển ngay, chuyển thành thuần thiện,
thuần chánh, thuần tịnh, phải chuyển cho
lẹ! Cách chuyển như thế nào? Dùng một câu A Di
Đà Phật thuần giác, thuần chánh, thuần tịnh,
giác - chánh - tịnh viên măn rốt ráo. Vừa khởi ư
niệm, quyết chẳng để bất giác, bất
chánh, bất tịnh xen tạp, phải chuyển cho
lẹ! Nếu quư vị chuyển được, bèn có thể chuyển Sa Bà thành Cực
Lạc, chuyển phàm ngă (cái
ngă
phàm phu) thành A Di Đà Phật, rất giống với
A Di Đà Phật.
Lúc tôi giảng kinh đă nói rất
nhiều lần, nếu như chính ḿnh có thể thực
hiện toàn bộ bản kinh Vô Lượng Thọ,
biến bộ kinh ấy thành tư tưởng, kiến
giải, và ngôn hạnh của chính ḿnh th́ chẳng phải
là quư vị biến thành A Di Đà Phật hay sao? Quư vị
không là A Di Đà Phật, c̣n ai là A Di Đà Phật nữa! Đó
gọi là “chuyển phàm thành
thánh”. Tâm - nguyện - giải - hạnh của quư vị
hoàn toàn tương ứng với A Di Đà Phật, quư
vị không đến được thế giới Cực
Lạc c̣n ai đến nữa đây? Lại thưa
thật cùng quư vị, chỗ quư vị đang ở chính là
thế giới Cực Lạc, cảnh chuyển theo tâm!
Nếu tâm quư vị là tâm Phật, cảnh giới quư
vị đang ở sao không phải là cảnh Phật?
Như vậy, chính nội tâm chúng ta chuyển tạp
nhiễm thành thanh tịnh, chuyển tà tri tà kiến thành
chánh tri chánh kiến, chuyển mê hoặc điên đảo
thành chánh giác chẳng loạn. Người học Phật quư
ở chỗ chuyển được, chư Phật
Như Lai đều chuyển chính ḿnh thành A Di Đà
Phật, khiến cho chính ḿnh và A Di Đà Phật dung
hợp thành một Thể, cùng pháp giới hư không dung
hợp thành một Thể; đấy chính là chuyển
biến viên măn rốt ráo, chẳng thể nghĩ bàn!
“Hạ
kinh vân” (Trong
phần sau, kinh nói): Đây chính là trong đoạn cuối
cùng của kinh này có nói “chư Phật
bất khả tư nghị công đức, ngă bất khả
tư nghị công đức” (công đức chẳng
thể nghĩ bàn của chư Phật, công đức
chẳng thể nghĩ bàn của ta); tức là đoạn
kinh sau đây: “Xá Lợi Phất!
Như ngă kim giả, tán thán chư Phật bất khả tư
nghị công đức, bỉ chư Phật đẳng,
diệc xưng tán ngă bất khả tư công đức” (Này
Xá Lợi Phất! Như ta nay xưng tán công đức
chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật, các vị
Phật ấy cũng xưng tán công đức chẳng
thể nghĩ bàn của ta); ở đây, sách Yếu
Giải trích dẫn câu kinh này. “Tắc
chư Phật Thích Ca, giai dĩ A Di Đà Phật vi tự
dă” (như vậy, chư Phật và Phật Thích Ca
đều lấy A Di Đà Phật làm chính ḿnh). Chư
Phật và Phật Thích Ca đều lấy A Di Đà
Phật làm chính ḿnh, chính ḿnh là hóa thân của A Di Đà
Phật, A Di Đà Phật là bổn thân của ta, ta là hóa
thân của A Di Đà Phật, hóa thân và bổn thân là một,
chứ không phải hai. Chư Phật Như Lai chuyển thành
cảnh giới ấy, chúng ta có làm được
chăng? Được chứ! Câu trả lời là
khẳng định. Vấn đề là quư vị có
chuyển hay không, có chịu chuyển hay không, có bằng
ḷng chuyển hay không. Nếu quư vị muốn chuyển,
chịu chuyển, lẽ đâu chẳng thể chuyển
được!
Chúng ta tu Tịnh Độ, tu
Tịnh Độ là học theo A Di Đà Phật, chúng ta
phải học cho giống. Giống với A Di Đà
Phật là trúng, học chẳng giống là trật.
Phải nghiêm túc, phải nỗ lực! A Di Đà Phật
đại từ đại bi, bốn mươi tám
nguyện, nguyện nào cũng đều là muốn cứu
độ chúng sanh khổ nạn khắp pháp giới hư
không giới, nhưng v́ bi tâm triệt để, giúp cho chúng
sanh văng sanh Tịnh Độ viên thành Phật đạo
ngay trong một đời hiện tại này, chẳng
cần mất nhiều kiếp, nhiều đời,
nhiều năm tháng. Vậy th́ sao không dạy cho họ
được sớm thành tựu hơn một chút, thành
tựu nhanh chóng hơn một chút? Chẳng phải là phụ
bạc chúng sanh ư? Đức Thế Tôn dạy rất
nhiều pháp môn, v́ sao nói nhiều đến thế? Đó
là v́ chúng sanh chẳng thể tiếp nhận pháp môn này!
Quư vị phải hiểu:
Đây là pháp môn vô thượng viên đốn, chẳng
phải là một pháp môn b́nh thường, những ai không
có căn tánh, không có thiện căn, phước
đức, nhân duyên, đức Phật không nói! Đức
Phật luôn thuyết pháp thích ứng với căn cơ.
Đức Phật rất từ bi, nhưng không ép buộc
kẻ khác, dạy học mà ép buộc là không xong, nhất
định phải đợi đến khi chính kẻ ấy
giác ngộ, chính kẻ ấy muốn học, khi đó duyên
chín muồi. Nếu người ta không biết, bản thân
họ chẳng khởi ư niệm muốn học, tức là
duyên vẫn chưa chín muồi. Chẳng thể không
hiểu điều này! Cũng có nghĩa là chúng ta
đọc xong phải nên học tập, Ngẫu Ích
đại sư giúp chúng ta rất lớn, Ngài khai thị,
chỉ dẫn chúng ta.
Trong đoạn tiếp theo
đó, chúng ta bước vào kinh văn “lục phương hằng sa chư Phật tán kinh
khuyến tín” (sáu phương hằng sa chư Phật
tán thán, khuyên tin tưởng kinh này), lẽ tự nhiên kinh
văn được chia thành sáu đoạn. Sáu
đoạn kinh văn này ư nghĩa hết sức rơ ràng,
mỗi một đoạn nêu đại lược vài danh
hiệu, “lược cử
danh hiệu sở biểu tu nhân chứng quả chi sự,
bất khả tư nghị dă” (nêu đại
lược danh hiệu để biểu thị sự
việc tu nhân chứng quả chẳng thể nghĩ bàn). Tuy
chỉ nêu đại lược danh hiệu, nhưng nêu
tên năm vị, sáu vị, bảy vị cho đến
mười vị đều có ư nghĩa, đều
chẳng phải là nêu tên tùy tiện. Danh hiệu
đều nhằm biểu thị pháp nghĩa, những
bản chú giải kinh Di Đà xưa nay không giảng rơ,
quả thật những danh hiệu ấy mang ư nghĩa
biểu thị pháp, chúng tôi đọc kinh Hoa Nghiêm mới
hiểu rơ. Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đầu tiên
đức Thế Tôn giảng sau khi thị hiện thành
đạo. Trong bộ kinh được giảng
đầu tiên này, tất cả hết thảy danh
hiệu đều nhằm biểu thị pháp. Nói cách khác,
hết thảy pháp đức Phật đă giảng trong
suốt bốn mươi chín năm không danh hiệu nào
chẳng biểu thị pháp!
Đọc phẩm Danh Hiệu
[của kinh Hoa Nghiêm], chúng tôi thấy chẳng những danh
hiệu của Phật, Bồ Tát biểu thị pháp, mà
danh hiệu của hết thảy chúng sanh, tức danh
hiệu của hết thảy chúng sanh khắp pháp giới
hư không giới được nhắc đến trong
kinh đều là biểu thị pháp, đều là danh
hiệu Phật. Đây mới thực
sự là chẳng thể nghĩ bàn,
mới thực sự là giảng
đến viên măn rốt ráo. Đối với câu nói: “Phật thị môn trung, bất xả
nhất pháp” (Trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ
một pháp). Nếu chúng tôi không đọc phẩm Danh
Hiệu th́ chỉ hiểu câu nói ấy lờ mờ qua quít,
chẳng thể hiểu rơ ư nghĩa thực sự. Kệ Khai kinh nói: “Nguyện hiểu Như Lai chân thật nghĩa” (Nguyện
hiểu nghĩa chân thật của Như Lai), há nói dễ
dàng sao!
Tiếp theo đây, chúng tôi chia phần
này thành mấy tiểu đoạn. Tiểu đoạn
thứ nhất là câu tŕnh bày tổng quát, Đông
phương Hằng hà sa số chư Phật,
phương Nam, phương Tây, phương Bắc,
phương trên, phương dưới là sáu
phương. “Các ư kỳ quốc,
xuất quảng trường thiệt tướng, biến
phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành
thực ngôn, nhữ đẳng chúng sanh, đương tín
thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức
Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh” (Trong
mỗi một nước, hiện tướng
lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên
thế giới nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin tưởng
kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Được
Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”). Đó là
câu nói chung trong [phần kinh văn nêu lên sự tán thán của]
chư Phật trong sáu phương. Chúng ta biết ở mỗi
phương, trong mỗi một tam thiên đại thiên
thế giới có một đức Phật, đó là
tối thiểu! Cũng có những đức Phật giáo
hóa hai đại thiên thế giới, ba đại thiên
thế giới, thậm chí mười đại thiên
thế giới, hai mươi đại thiên thế
giới; tối thiểu là giáo hóa một đại thiên
thế giới. Phật nhiều như số cát trong sông
Hằng, không cách ǵ tính đếm được, như
vậy ta biết số thế giới cũng nhiều
như cát sông Hằng. Chư Phật Như Lai không thể
đếm hết. Đông, Nam, Tây, Bắc là dựa trên
thế giới Sa Bà của chúng ta để nói, tức là phương
Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc,
phương trên, phương dưới của thế giới
Sa Bà! Lúc đức Thế Tôn tại thế c̣n nói phương
Đông Bắc, phương Đông Nam, phương Tây
Bắc, phương Tây Nam, [gọi chung là] mười
phương. Ở phần trên, chúng tôi đă thưa cùng quư
vị, La Thập đại sư dịch kinh đă tỉnh
lược, chỉ nói sáu phương là đủ rồi.
Mỗi một đức
Phật trong số ấy đều nói, không vị
Phật nào chẳng giảng kinh này, bởi thế, kinh này
là pháp môn được hết thảy chư Phật cùng nhau
hoằng dương. Không một đức Phật nào chẳng
khuyên con người văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, quư vị hăy nghĩ xem pháp môn này như
thế nào? Thực sự là chẳng thể nghĩ bàn! Lưỡi
rộng dài là một trong ba mươi hai tướng, trong
kinh Phật đă dạy: “Ai ba đời không nói láo (phải tu suốt ba
đời, cả ba đời đều không vọng
ngữ), đầu lưỡi thè ra có thể chạm
đến chót mũi”, ba
đời không vọng ngữ đấy nhé! Như
vậy, tướng hảo là quả báo, đều là có
nhân. Không có nhân sẽ chẳng thể có tướng
hảo như vậy. Thích Ca Mâu Ni Phật le lưỡi có
thể che hết cả mặt, dùng điều đó
để chứng tỏ ḿnh nói lời thành thật, v́ sao?
Ba đời không nói dối có thể liếm đến
chót mũi; lưỡi Phật che kín mặt, chứng
tỏ Ngài đời đời kiếp kiếp không nói
dối cho nên lời Ngài nói được người khác
tin tưởng.
Nay đức Phật hiện
tướng lưỡi rộng dài chẳng thể nghĩ
bàn, “biến phú tam thiên đại
thiên thế giới” (che khắp tam thiên đại thiên
thế giới), không phải lưỡi thè ra che khắp
mặt mà là che khắp trọn vẹn tam thiên đại
thiên thế giới; đấy là Tánh Đức, thực sự
chẳng thể nghĩ bàn. “Thuyết
thành thực ngôn” (nói lời thành thật): Trước
hết, nêu ra chứng cứ thành thật, anh nói anh thành
thật, vậy chứng cứ ở đâu? Lưỡi
rộng dài là chứng cứ đấy; thực
sự có cái tướng ấy hay chăng?
Thực sự có! Thân tướng
đó là thân ǵ vậy? Báo Thân Phật, Pháp Thân Như Lai! Chẳng
giả tí nào! Pháp Tánh Thân mà! Trí Huệ Thân mà! Hiện
thần thông chẳng thể nghĩ bàn, thành tựu khôn
sánh, hy hữu khó được!
Đức Phật v́ chúng ta nói
lời thành thật, lời thành thực ǵ vậy? “Nhữ đẳng chúng sanh, đương
tín thị” (Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh này),
khuyên mọi người hăy nên tin tưởng vào bộ
kinh này, kinh này là kinh ǵ? “Xưng
Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất
Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh” (kinh khen
ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn
được hết thảy chư Phật hộ
niệm), đó chính là tên kinh này. Lúc La Thập đại
sư dịch kinh, đă không dùng tên gốc của kinh mà
dùng danh hiệu Di Đà làm tên kinh, dụng ư rất sâu, v́
lẽ ǵ? Đọc đến tên kinh này là đă niệm
một câu Phật hiệu, phương pháp tu hành trong kinh
này là chấp tŕ danh hiệu; nên dùng danh hiệu làm tên kinh,
dụng ư hết sức hay! Đấy chính là huệ nhăn,
bi tâm của Tổ Sư; người khác trông thấy kinh
điển này, đọc đến tên kinh chính là niệm
một tiếng Phật hiệu. Tên gốc của kinh này
do chính đức Thế Tôn đă nói và chư Phật cùng
nói là Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công
Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ
Niệm Kinh.
Tên kinh chẳng thể nghĩ
bàn! Từ tựa đề kinh, chúng ta thấy kinh này là
công đức chẳng thể nghĩ bàn. Do ai nói? Do
hết thảy chư Phật khen ngợi, chẳng riêng
ḿnh đức Phật Thích Ca, mà hết thảy chư
Phật đều khen ngợi; kinh này được
hết thảy chư Phật hộ niệm. Nói cách khác,
quư vị phải chân chánh phát nguyện, thâm nhập một
môn, trường thời huân tu th́ quư vị sẽ
được hết thảy chư Phật khen ngợi,
được hết thảy chư Phật hộ
niệm. Từ kinh này chúng ta thấy một sự thực
đă được chứng tỏ: Sáu phương
chư Phật đều nói như thế. Bởi vậy,
vào thời Càn Long nhà Thanh xưa kia, pháp sư Từ Vân Quán
Đảnh khi chú giải kinh Quán Vô Lượng Thọ
Phật đă nói: “Hết
thảy chúng sanh nếu có nghiệp chướng cực
nặng, tất cả kinh, luật, luận, sám nghi không
tiêu diệt được nghiệp chướng ấy,
không có cách ǵ tiêu diệt được nghiệp
chướng sâu nặng th́ rốt cuộc vẫn c̣n có
một phương pháp: Niệm A Di Đà Phật [nghiệp
chướng] bèn tiêu”. Quư vị có tin được hay
không? Quư vị không tin chứ tôi tin. Lời Tổ Sư nói
không sai, v́ sao nói niệm A Di Đà Phật tiêu
được nghiệp chướng? Người
niệm A Di Đà Phật được hết thảy
chư Phật hộ niệm, được hết
thảy chư Phật tán thán, lẽ đâu không tiêu?
Đấy chẳng phải là sức của một
đức Phật, mà thực
sự là sức của tất cả
hết thảy chư Phật trong mười phương
ba đời gia tŕ. Niệm bản kinh này cũng giống
như vậy. Niệm bản kinh này, niệm một câu A
Di Đà Phật, hết thảy chư Phật đều
hộ niệm quư vị! Quư vị đừng quên nhé!
Nay quư vị niệm Phật
chẳng đạt được hiệu quả to
lớn như vậy là do nguyên nhân nào? Do quư vị không
hiểu đạo lư, dẫu niệm Phật, nhưng tâm chẳng
tương ứng với hết thảy chư Phật;
hết thảy chư Phật gia tŕ, hộ niệm, tán thán
quư vị, nhưng chính quư vị không có cách ǵ tiếp nhận
được. Giống như hết thảy chư
Phật phát ra làn sóng điện, máy nhận sóng của
chúng ta đă hư, không thâu được, đúng như
vậy đó! V́ sao không thâu được? Tâm chúng ta không
thanh tịnh, vọng tưởng, tạp niệm quá
nhiều, cũng giống như chúng tôi thường nói:
Tâm quư vị không giống tâm của A Di Đà Phật,
nguyện cũng không giống, ngôn ngữ, hành vi cũng
không giống, bởi thế, thâu không được. Không
phải Phật chẳng hộ niệm ḿnh, không gia tŕ ḿnh,
Phật rất từ bi, rất b́nh đẳng gia tŕ
hộ niệm, nhưng có người tiếp thâu
được, có kẻ không tiếp thâu được.
Kẻ tiếp thâu được là tâm - nguyện -
giải - hạnh đồng Phật, không tiếp thâu
được là do tâm - nguyện - giải - hạnh khác
với Phật, quư vị tiếp thâu không được.
Đạo lư là như vậy.
Phương Đông liệt kê
đức hiệu của năm vị Phật: “Lược cử ngũ Phật
danh, biểu pháp môn tu học căn bản” (Nêu đại
lược danh hiệu của năm vị Phật
để biểu thị căn bản tu học của
pháp môn). Trong Ngũ Hành, phương Đông tượng
trưng cho sanh thành. Đem Xuân - Hạ - Thu - Đông
phối hợp với bốn phương: Xuân sanh, Hạ
trưởng, Thu thâu, Đông ẩn; v́ vậy, phương
Đông biểu thị căn bản tu học. Chúng ta
muốn tu Tịnh Độ phải hội đủ
những điều kiện nào? Căn bản của
mọi căn bản là “tín
tâm”. Bởi vậy, trong các kinh to luận lớn,
đức Phật thường nói: “Tín vi đạo nguyên công đức mẫu,
trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện
căn” (Tín là nguồn đạo, mẹ công đức;
nuôi lớn hết thảy các căn lành). Tín tâm hết sức
quan trọng, bởi thế, đức Phật đầu
tiên là A Súc Bệ Phật. Nếu dịch nghĩa chữ A
Súc Bệ (Aksobhya) th́ A Súc Bệ có nghĩa là Bất
Động. Người thường nghe kinh, đọc
kinh đều biết chữ A trong tiếng Phạn
dịch là Vô. Quư vị thấy chữ A Di Đà, A là Vô, Di
Đà là Lượng, Phật là Giác. V́ thế, nếu
dịch trên mặt danh nghĩa, A Di Đà Phật là Vô
Lượng Giác. Phật cũng có nghĩa là trí huệ, [A
Di Đà Phật là] Vô Lượng Trí, Vô Lượng Giác.
Ở đây, A là Vô, Súc Bệ là Động, tức Vô
Động; người Hoa quen nói là Bất Động. Phật
dịch là Giác, [A Súc Bệ Phật] là Bất Động
Giác.
Tiếp theo đây, chúng ta hăy chú
tâm lănh hội ư nghĩa của danh hiệu Phật. [Tổ
Ngẫu Ích giảng]: “Bất
vị bát phong sở động” (Chẳng bị tám
thứ gió thổi động). “Bát
phong” (tám thứ gió) chính là pháp thế gian: danh văn, lợi
dưỡng, ngũ dục, lục trần, chẳng
bị gió cảnh giới lay động! Đối
với pháp thế gian, tâm quư vị không động;
rồi th́ trong đối với Phật pháp, tâm cũng
không động: “Bất vị
tha pháp môn sở động” (Chẳng bị các pháp môn
khác lay động). Pháp thế gian hay xuất thế gian
đều chẳng động tâm, không dao động,
nhất tâm nhất ư tuyển chọn pháp môn này, cả
một đời cũng không thay đổi. “Ta học pháp môn này đến
rốt ráo, thành tựu viên măn pháp môn này”. Bởi thế,
đây là căn bản của mọi căn bản.
Nếu vừa tiếp xúc pháp thế gian hay Phật pháp bèn
bị dao động th́ khó lắm! Chính ḿnh phải
tỉnh giác cao độ, bị dao động bởi pháp
thế gian sẽ chẳng thể thoát khỏi luân hồi
lục đạo, dao động bởi Phật pháp
chắc chắn sẽ chẳng thể thâm nhập một
môn! Nói cách khác, bị gió cảnh giới trong pháp thế
gian lay động, tâm quư vị bèn dao động, sẽ
vẫn phải tiếp tục luân hồi sanh tử;
đối với pháp môn trong Phật pháp mà bị lay
động th́ bất luận tu một pháp môn nào, chắc
chắn cũng chẳng thể đạt “công phu thành
phiến”.
Chính ḿnh phải tự suy
nghĩ, thường xuyên phản tỉnh, v́ sao học
Phật nhiều năm dường ấy mà chẳng
thể thành tựu? V́ căn bản của quư vị
bị dao động. Nói lên điều ǵ? Quư vị không có
tín tâm, chẳng có trí huệ, chẳng có công phu định
lực, chẳng có ḷng tin vào bản thân, không có ḷng tin nơi
pháp môn, tâm không tin thầy. Do vậy, tâm quư vị thô phù, xáo
động, luôn luôn động, làm sao mà có thể thành
tựu cho được? Quư vị thấy đó,
đức Phật thứ nhất đă đem nguyên
tắc chung, tức là nguyên lư và nguyên tắc mấu
chốt của việc thành bại dạy cho quư vị
đấy.
Tiếp đó, chúng tôi nêu thí
dụ sau đây: “Như Hoa
Nghiêm Thiện Tài ngũ thập tam tham, tham tham luyến đức
lễ từ, bất vị sở động” (Như
năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài
trong Hoa Nghiêm, mỗi phen tham học đều luyến
mộ đức hạnh [của thiện tri thức],
lễ bái từ tạ, chẳng bị lay động).
Trong hội Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử đă
nêu gương tu học cho chúng ta. Làm gương như
thế này: Đối với chính ḿnh phải có tín tâm,
đối với thầy phải có tín tâm, đối
với pháp môn có tín tâm, trọn chẳng bị ngoại
cảnh lay động, nên Ngài thành công. Ngài tham học
năm mươi ba lần, sau khi tham phỏng, luyến
mộ đức hạnh của vị thiện tri
thức, lễ bái từ tạ, nhưng chẳng bị lay
động. Luyến mộ đức hạnh là
đối với pháp môn của vị thiện tri thức
đó tu học bèn hoan hỷ, lễ bái từ tạ là ư ǵ?
Tôi không học pháp môn của Ngài, nhưng tôi hoàn toàn
hiểu rơ pháp môn của Ngài. Hiểu rơ là trí huệ,
tức Hậu Đắc Trí! Pháp thế gian, pháp xuất
thế gian, không pháp nào chẳng hiểu rơ! Lễ bái từ
tạ nhằm ư ǵ? Lễ để cảm tạ, từ
tạ là không học. Tôi vẫn niệm A Di Đà Phật
của tôi, tuyệt đối chẳng bị lay
động. Hết thảy pháp thế gian và xuất
thế gian đều tiếp xúc, nhưng chẳng bị
lay động, như như bất động. Đó là
Niệm Phật tam-muội thành tựu! Tiếp xúc hết
thảy đều hiểu rơ th́ là trí huệ viên măn, chứ
không phải là chẳng tiếp xúc, không tiếp xúc th́
điều ǵ cũng chẳng biết v́ chưa từng
khảo nghiệm qua, tiếp xúc chính là thông qua khảo
nghiệm.
Tôi đă nhiều lần
giới thiệu cùng quư vị năm mươi ba lần
tham học ấy rồi, năm mươi ba vị
thiện tri thức ấy nam, nữ, già, trẻ, các ngành, các
nghề, những ǵ chúng ta tiếp xúc từ sáng đến
tối đều là năm mươi ba lần tham
học. Quư vị phải học sao cho giống hệt
như Thiện Tài đồng tử. Quư vị không học
sẽ thành ra “ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ!”
Nơi hoàn cảnh, từ sáng đến tối chúng ta
gặp rất nhiều trai, gái, già, trẻ, các nghề
nghiệp, người thiện, kẻ ác, thuận
cảnh, nghịch cảnh, tiếp xúc toàn bộ, tâm chúng ta
bị cảnh giới chuyển hay cảnh giới bị
ta chuyển, công phu ở chỗ này. Đức hạnh
của Thiện Tài đồng tử là có thể chuyển
cảnh giới, chẳng bị cảnh giới chuyển.
Bởi thế, Ngài thành công, một đời chứng
đắc vô thượng Bồ Đề!
Sở dĩ chúng ta thất
bại hoàn toàn là v́ bị cảnh giới xoay chuyển,
chẳng thể thành tựu trí huệ nơi cảnh
giới. Thành tựu trí huệ là thông đạt, hiểu
rơ; thành tựu Thiền Định là như như bất
động, chúng ta không thể thành tựu điều này cho
nên hoàn toàn thất bại. Thiện Tài đồng tử có
thể thành công viên măn v́ Ngài hoàn toàn khác với chúng ta. Sáu
căn của Ngài tiếp xúc cảnh giới sáu trần,
thành tựu trí huệ rốt ráo viên măn và Thiền Định
rốt ráo viên măn. Ngài tu Niệm Phật tam-muội, trong
kinh này gọi [Niệm Phật tam-muội] là “nhất tâm bất loạn”.
Thiện Tài chứng đắc Lư nhất tâm bất
loạn. Chứng ở chỗ nào? Chứng ngay từ nơi
sáu căn tiếp xúc sáu trần. Chúng ta phải học,
phải hiểu [như thế] nhé!
Ngài có thể “luyến đức, lễ từ, bất vị sở
động, thành tựu tự tha công đức trang nghiêm,
thị thử pháp môn tu học chi đại bổn dă” (luyến
mộ đức, lễ bái từ tạ, chẳng bị
lay động, thành tựu công đức trang nghiêm cho ḿnh
lẫn người, đó chính là cái gốc lớn lao
của việc tu học pháp môn này). A Súc Bệ Phật biểu thị ư nghĩa
như vậy. Ở đây, danh hiệu đức Phật
nhằm dạy chúng ta, chứ không phải để
niệm xuông. Thế nào là “thành
tựu tự - tha công đức?” Thành tựu chính ḿnh
là thành tựu người khác, tự và tha là một, không
hai. Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần bên
ngoài, thành tựu công đức chính ḿnh là ǵ vậy?
Đối với cảnh giới, hiểu rơ ràng, thấu
suốt, thành tựu trí huệ của chính ḿnh, tức
Hậu Đắc Trí, đó là công đức. Chẳng
bị cảnh giới lay động là thành tựu tam-muội
cho chính ḿnh, đó là công đức.
V́ thế, người biết
tu hành, trí huệ, tam-muội ngày càng tăng trưởng,
chẳng sanh phiền năo. Sáu căn tiếp xúc cảnh
giới sáu trần chỉ sanh trí huệ, chỉ sanh
tam-muội, quyết định chẳng sanh phiền năo.
Bởi thế, tôi thường nói người thực sự tu hành
sống giống như Phật, Bồ Tát, đúng là ĺa
khổ được vui, khoái lạc khôn sánh! Trung Phong
quốc sư nói rất hay: “Thử
xứ tựu thị Cực Lạc, Cực Lạc tựu
thị thử xứ. Ngă tâm tựu thị Di Đà, Di Đà
tựu thị ngă tâm” (chốn này chính là Cực Lạc,
Cực Lạc chính là chốn này, tâm ta là Di Đà, Di Đà
là tâm ta), quư vị thấy cảnh giới ấy là
cảnh giới nào vậy? Hai câu ấy người
tầm thường không thể nói được đâu.
Đúng là nếu không phải thực sự là bậc từng trải sẽ chẳng
thể nói nổi những lời ấy. Nếu quư vị
nói được như vậy, quư vị phải là người
từng trải.
Năm vị Phật ở
phương Đông, ba trong số năm vị ấy chính
là những mục tiêu người học Phật chúng ta
luôn mong hướng đến. Chúng ta học Phật
để làm ǵ? V́ muốn thành Phật. Phật là như
thế nào? Kinh nói Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Hóa Thân. Muốn
thành Phật th́ không có ǵ khác cả, chỉ là chứng
đắc, viên ngộ tam thân của chính ḿnh mà thôi! Trong
kinh đức Phật thường dùng núi Tu Di để
biểu thị Pháp Thân, biểu thị Lư Thể; v́
vậy, đức Phật thứ hai là Tu Di Tướng
Phật. Tu Di Tướng có nghĩa là “tướng hảo, quang minh được chín pháp
giới chiêm ngưỡng, tức là Báo Thân”.
Tướng như núi Tu Di, tức là như trong kinh
Đại Thừa thường nói: Phật có vô
lượng tướng, mỗi tướng có vô
lượng hảo, đó là Báo Thân Phật.
Tiếp theo là Đại Tu Di
Phật, Đại Tu Di là “đại
pháp lư thể, pháp giới
độc tôn,
tức Pháp Thân”. Có
thể hiện, có thể biến; Báo Thân và Ứng Hóa Thân là
cái được hiện, cái được biến. Chúng
ta thường gọi “đại pháp” là cơi nước,
chúng sanh, hư không, pháp giới. Trong hết thảy pháp
đều có hư không, nếu quư vị đă từng
đọc Bách Pháp Minh Môn Luận của Tướng Tông,
quư vị sẽ hiểu rơ. Thiên Thân Bồ Tát quy nạp
hết thảy pháp thành một trăm loại, trong một
trăm loại này, bao gồm cả hư không, hư không
cũng là một pháp. Pháp giới, cơi nước
(sát-độ), nay ta gọi “cơi nước” là “thiên thể”
(astronomical object) trong vũ trụ, hoặc gọi là “tinh
hệ” (galaxy). Tinh hệ lớn, tinh hệ nhỏ vô
lượng vô biên. Trong những tinh hệ ấy lại có
vô lượng vô biên chúng sanh cư trụ, như
địa cầu thuộc vào một tinh hệ, trên
địa cầu có rất nhiều chúng sanh sanh sống
trong ấy. Đấy toàn là “duy tâm sở hiện, duy
thức sở biến”; do vậy, tánh thức là năng
hiện, năng biến, hết thảy pháp là sở
hiện, sở biến. Năng và Sở là một, không hai.
Đó là Thật Tướng của vũ trụ, kinh
Phật gọi [Thật Tướng của vũ trụ] là
“Thật Tướng các pháp” (chư pháp Thật Tướng).
Pháp Thân: Bản thể của Thật Tướng gọi
là Pháp Thân.
Kế đó là Tu Di Quang
Phật, “quang minh chiếu
khắp ứng trọn các căn cơ, ứng hóa vậy”.
Chúng sanh có Cảm, Phật liền Ứng. Phật có
mối quan hệ mật thiết với hết thảy
chúng sanh, mối quan hệ ǵ vậy? Quan hệ là quang, con
người hiện tại gọi [mối quan hệ ấy]
là ǵ? Ba động (fluctuation, sự dao động theo làn sóng)!
Ư nghĩa này hay lắm, quả thật làn sóng của
Như Lai và làn sóng tư tưởng của chúng ta có
mối quan hệ mật thiết. Như Lai lặng sóng nên
gọi là Quang. Tư tưởng của chúng ta thật
chẳng thể gọi là Quang, mà gọi là Sóng, v́ sao?
Trồi lên, hụp xuống, nhô cao, xuống thấp, c̣n Phật
th́ b́nh lặng. Giống hệt như nước,
nước của người ta phẳng lặng,
nước của ḿnh sóng trào, gió to, sóng lớn. Thế
nhưng nước phẳng lặng và sóng trào vĩnh
viễn nối tiếp nhau ở cùng một chỗ,
niệm niệm cảm ứng đạo giao chẳng
thể nghĩ bàn, ứng hóa là như vậy đó!
Pháp, Báo, Ứng Hóa đều là
Huệ, tức trí huệ Bát Nhă nơi tự tánh. “Nhất thể tam thân, sở
cầu sở chứng”: Báo Thân, Pháp Thân, Ứng Hóa Thân,
một chính là ba, ba nhưng là một; điều
người học Phật chúng ta mong cầu chính là
chứng đắc viên măn ba thân này, giác ngộ trọn
vẹn, ngộ nhập viên măn. Nay đă hết giờ
rồi, đoạn sau c̣n một vị Phật nữa,
đến giờ kế tiếp chúng tôi sẽ giảng
tiếp.
Tập 30
Lần trước chúng ta
đă học đến phần sáu phương chư
Phật khuyến tín lưu thông của kinh A Di Đà. Sáu
phương chính là mười phương, đối
với mỗi một phương, đức Thế Tôn
chỉ nêu đại lược vài vị đại
biểu. Mỗi danh hiệu đại biểu đều
có ư nghĩa rất sâu, chúng ta nhất định phải
hiểu những ư nghĩa biểu pháp ấy, chớ nên xem
thường. Phương Đông có năm vị Phật,
vị thứ nhất là:
A Súc Bệ Phật.
阿閦鞞佛。
Ngài tượng trưng cho sự
bất động, tượng trưng cho nguyên tắc tu
học căn bản. Chẳng riêng ǵ tu pháp môn Tịnh
Độ niệm Phật [phải áp dụng nguyên tắc ấy],
mà tám vạn bốn ngàn pháp môn, không một pháp nào ra ngoài lệ
ấy. Trước hết, phải có tín tâm không lay
động th́ mới ḥng thành tựu. Nếu tín tâm bất
định, thấy lạ, nghĩ khác, cứ suy đi tính
lại th́ không riêng ǵ Phật pháp, mà ngay cả những pháp
thế gian cũng chẳng thể thành tựu
được. Thực sự thành tựu là như cổ đức
thường nói: “Thâm nhập
một môn, trường thời huân tu”.
Trong đoạn kinh này, Thích Ca
Mâu Ni Phật bốn lượt khuyên chúng ta văng sanh
Tịnh Độ, thân cận A Di Đà Phật, đúng là
nói một lần rồi hai lần, hai lần rồi ba lần,
ba lần rồi bốn lần, đau ḷng rát miệng
khuyên dạy chúng ta. Trong đoạn kinh văn này,
đức Phật cho biết: Không riêng ḿnh Thích Ca Mâu Ni
Phật khuyên dạy chúng ta, quư vị thấy đó,
mười phương hết thảy chư Phật
Như Lai, không vị Phật nào chẳng khuyên chúng sanh
niệm Phật cầu sanh về Tịnh Độ. Có
vậy, chúng ta mới biết pháp môn này thù thắng. Ở
phần trên, chúng tôi đă lược thuật cùng quư
vị năm thứ bất khả tư nghị;
điều bất khả tư nghị cuối cùng chính là
quư vị niệm danh hiệu một đức A Di Đà
Phật sẽ được hết thảy chư
Phật hộ niệm. Pháp môn này thật phi phàm; nói cách
khác, không khác ǵ niệm danh hiệu của hết thảy
chư Phật. Niệm một câu A Di Đà Phật chính là
niệm trọn danh hiệu của mười
phương tam thế hết thảy chư Phật, há c̣n
có pháp môn nào thù thắng hơn được nữa hay
không?
Chúng sanh trong thế gian này, quá
khứ, hiện tại không tránh khỏi tạo nghiệp,
không tránh khỏi kết oán cùng chúng sanh. Bởi vậy,
chúng ta thường thấy rất nhiều chúng sanh bị
oán thân trái chủ, ma quỷ dựa vào thân khuấy
nhiễu, thần kinh thác loạn, khổ chẳng thể nói
nổi. Những bệnh ấy là do hai nguyên nhân sau đây:
Một là oán quỷ dựa thân, ngoài ra là do tự ḿnh có nghiệp
chướng sâu nặng. Hai nguyên nhân ấy cùng hùa vào, khó thể
làm ǵ được! Chứng bệnh ấy có thuốc men
cũng không chữa trị được, cầu
thần, cầu Phật, Bồ Tát bảo hựu cũng
khá khó khăn. Có cách ǵ trị được hay chăng? Có
chứ! Khoảng đầu triều Thanh, pháp sư Từ
Vân Quán Đảnh nói niệm Phật có thể cứu
được! V́ sao niệm Phật có thể cứu
được? Bởi lẽ, quư vị niệm A Di Đà
Phật, mười phương hết thảy chư
Phật đều gia tŕ, đạo lư là đây!
Mười phương hết thảy chư Phật đều
gia tŕ, đều bảo hựu. Oan gia đối
đầu, yêu ma, quỷ quái ǵ ǵ đi nữa cũng
đều nhượng bộ mấy phần, chẳng
phải là một đức Phật có mặt, mà là hết
thảy chư Phật có mặt, chúng chẳng thể
lấn lướt được.
V́ thế, đối với
hết thảy bệnh tật khó trị, phương pháp
nào cũng vô hiệu, hết cách chữa trị, tụng
kinh, bái sám cũng vô hiệu, th́ thưa cùng quư vị, cuối
cùng chắc chắn hữu hiệu là Niệm Phật. Chúng
tôi cũng đă từng thấy, quả thật là có
rất nhiều người bị oán thân trái chủ
dựa vào thân, dường như niệm Phật cũng
vô hiệu, v́ nguyên nhân nào vậy? V́ niệm Phật
chẳng đúng pháp! Chuyện quan trọng nhất trong
việc niệm Phật chẳng đúng pháp th́ đầu
tiên là tín tâm và nguyện tâm. Nếu quư vị trọn đủ
ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, chuyên tŕ một câu
Phật hiệu, hiệu quả sẽ chẳng thể
nghĩ bàn, thống khổ bèn lập tức tiêu trừ,
sẽ b́nh phục như cũ. Pháp môn thật chẳng
thể nghĩ bàn!
Tôi c̣n nghe có người nói, có
người giảng: “Những kẻ niệm A Di Đà
Phật đều là vong ân phụ nghĩa”, v́ sao vậy?
Họ nói: “Bổn Sư trong thế giới chúng ta là Thích
Ca Mâu Ni Phật, quư vị không niệm Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật, lại niệm A Di Đà Phật ở
phương khác, vậy là vong ân phụ nghĩa!” Tôi nghe nói
vậy mới hiểu rơ. Nói thật ra, vong ân phụ
nghĩa không phải là chúng ta, mà là kẻ ấy. Sao lại
là kẻ ấy? Kẻ ấy niệm Nam Mô Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni Phật, chính là kẻ ấy vong ân phụ nghĩa,
v́ sao? Chính Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta niệm A Di
Đà Phật, xót ḷng rát miệng, quư vị thấy ngay trong
kinh này đấy thôi: Bốn lượt khuyên chúng ta
niệm A Di Đà Phật, cầu sanh về Tịnh
Độ, chúng ta cứ khăng khăng không nghe theo,
chẳng vui ḷng niệm A Di Đà Phật, chẳng muốn
cầu sanh về Tịnh Độ, cứ nhất
định phải niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật, ắt Thích Ca Mâu Ni Phật bực đến
chết! Đúng là vong ân phụ nghĩa, chẳng hiểu
thế nào là ân, thế nào là nghĩa cả!
Ví như trong gia đ́nh chúng ta,
thế giới Sa Bà là gia đ́nh, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật là cha của chúng ta. Thế giới Cực Lạc
thật ra là trường học, A Di Đà Phật là một
vị thầy giỏi. Nay cha gởi con đến
trường học hành, ḥng con được thân cận
một vị thầy giỏi, con cái cứ ương
bướng không nghe lời, chẳng chịu đi. Quư
vị nghĩ xem trong t́nh huống ấy, tâm cha mẹ
rất khó chịu: Chọn cho ngươi một vị
thầy tốt đẹp như thế, bảo
ngươi đến thân cận thầy, ngươi
cứ khăng khăng không nghe lời, cứ ở lỳ
trong nhà, không chịu đi học, c̣n ra thể thống chi
nữa! Bởi thế, kẻ vong ân phụ nghĩa
chẳng phải là chúng ta, chúng ta nghe lời, hiếu
thuận. Thuận ư cha mẹ, thuận ư Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni Phật răn dạy, chúng ta nhất tâm niệm A
Di Đà Phật, thân cận A Di Đà Phật. Đó chính là
bổn nguyện, là ư nghĩa chân chánh, là lời răn
dạy chân thật của Thích Ca Mâu Ni Phật. Chớ có
hiểu lầm!
Trong đoạn kinh văn này
chúng ta thấy không những Thích Ca Mâu Ni Phật dạy
chúng ta, mà mười phương ba đời hết
thảy chư Phật Như Lai đều giáo hóa chúng sanh
như thế, há c̣n sai được ư? Bởi
thế, trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế
Tôn thay mặt hết thảy chư Phật khen ngợi A
Di Đà Phật, nói A Di Đà Phật là “quang trung cực tôn, Phật trung chi vương” (quang
minh cao quư nhất, là vua trong các Phật), há c̣n sai
được ư?
Chúng ta niệm Phật, học
Phật, để cầu điều ǵ? Tâm nguyện, mong
cầu của hết thảy chúng sanh chẳng ngoài ba
việc: Thứ nhất là trí huệ, thứ hai là tài
nghệ (trong Phật pháp gọi là đức năng, hay năng
lực, điều ǵ cũng biết, không ǵ không biết),
thứ ba là phước báo, đều là cầu ba
điều ấy! Những ǵ Thích Ca Mâu Ni Phật, hết
thảy chư Phật Như Lai dạy chúng ta há chẳng
phải là ba việc ấy đó ư? Trong ba việc
ấy, đức Phật dạy trí huệ là chủ. Do
vậy, từ đầu đến cuối, Phật pháp
giảng về giác ngộ, điều Phật pháp mong
cầu là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Đây
là phiên âm tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Hán là
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Kẻ mới
học dẫu nghe nói như vậy nhưng không hiểu,
chúng tôi đành phải nói một cách phương tiện
như sau: Từ ngữ ấy có ư nghĩa là trí huệ chân
thật viên măn rốt ráo.
Quư vị có trí huệ,
đương nhiên quư vị có năng lực. Tài nghệ,
đa tài đa nghệ từ đâu mà có? Từ trí huệ
mà có, trí huệ là căn bản, phước báo cũng
từ trí huệ mà có. Quư vị phải có trí huệ,
mới biết gieo phước tại nơi đâu. V́ sao?
Quư vị nhận biết phước điền, quư
vị biết gieo phước, quư vị sẽ đạt
được vô lượng phước báo, vô
lượng vô biên của cải. Thật đấy! Vô
lượng vô biên của cải ǵ vậy? Trọn
khắp pháp giới hư không giới, không một thứ
ǵ chẳng phải là của cải của chính ḿnh,
thật đấy, không giả đâu! Quư vị có thể
hưởng thụ viên măn!
Trong những phước báo,
phước báo quan trọng nhất là thọ mạng; thân
cận A Di Đà Phật quư vị sẽ được vô
lượng thọ, được thân kim cang bất
hoại! Thân kim cang bất hoại không có sanh - lăo - bệnh
- tử. Sanh - lăo - bệnh - tử khổ lắm! Không có
cầu chẳng được, không có oán ghét mà cứ
phải gặp gỡ, không có yêu thương mà phải chia
ĺa, thế gian này gọi những điều đó là tám
nỗi khổ (bát khổ). Tám nỗi khổ điều
nào cũng chẳng có, đó là chân lạc, bởi thế,
gọi là Cực Lạc thế giới. Quan trọng
nhất là tín tâm kiên định bất động. Do
vậy, A Súc Bệ Phật tượng trưng cho ư
nghĩa này. Ba vị Phật tiếp theo chính là những
điều chúng ta mong cầu.
Tu Di Tướng Phật.
須彌相佛。
Là Báo Thân Phật, tức trí
huệ.
Đại Tu Di Phật.
大須彌佛。
Tượng trưng cho Pháp Thân
Phật, tức Lư Thể.
Tu Di Quang Phật.
須彌光佛。
Là Ứng Hóa Phật, tức là
thọ dụng. Chúng ta nói đến vô lượng vô biên
phước báo, quang minh chiếu khắp, thích ứng trọn
khắp các căn cơ, chúng sanh nơi nào có cảm,
lập tức hiện thân đến giúp đỡ.
Đại ư những danh hiệu này chúng tôi đă tŕnh bày
rồi. Vị Phật cuối cùng là:
Diệu Âm Phật.
妙音佛。
Diệu Âm Phật “biểu thị pháp tu học cội
gốc”, tức phương pháp tu
học. Phương pháp tu học căn bản
chính là nhất tâm xưng niệm Nam Mô A Di Đà Phật,
đó là Diệu Âm! Âm thanh tuyệt diệu tột bậc
trong thế gian lẫn xuất thế gian là một câu
Phật hiệu. Bởi thế, niệm ra một câu
Phật hiệu này sẽ cảm động hết
thảy chư Phật Như Lai khắp pháp giới hư
không giới. Đă là cảm động chư Phật
Như Lai th́ chúng ta phải biết: Chư Phật Như
Lai có trí huệ, phước đức viên măn, các vị
hộ pháp thần của chư Phật trọn khắp
hư không pháp giới. Được chư Phật
ủng hộ, chư Phật khen ngợi, lẽ nào thần
hộ pháp chẳng xưng tán, chẳng ủng hộ? V́
vậy, niệm một câu A Di Đà Phật sẽ
được hết thảy chư thiên thiện thần
ủng hộ, chư thiên thiện thần bảo hựu
quư vị! Quư vị niệm danh hiệu các đức
Phật khác, chẳng thể khiến cho toàn thể
thần hộ pháp khắp pháp giới bảo hựu, không
được như vậy! Chỉ có niệm A Di Đà
Phật, quư vị mới cảm được toàn
thể. Chẳng thể không biết điều này!
Trong kinh Đại Thừa,
đức Thế Tôn thường nói: Danh hiệu A Di
Đà Phật này chẳng phải chỉ là danh hiệu của
riêng ḿnh đức Phật tại Tây Phương Cực
Lạc thế giới mà c̣n tượng trưng cho bổn tánh, tự
tánh Phật! Đấy là đức hiệu của Tự
Tánh Phật! V́ vậy, niệm Phật hiệu này chính là
niệm Thể, Tướng, Dụng của Tự Tánh.
Thể của Tự Tánh là Pháp Thân; Tướng của
Tự Tánh là trí huệ; tác dụng của Tự Tánh - tức
Tự Tánh khởi tác dụng - chính là vô lượng vô biên
đại phước đức. V́ thế, nhất tâm
xưng niệm nam mô A Di Đà Phật chính là Diệu Âm;
ở đây, Ngài tượng trưng cho phương pháp
căn bản tu hành trọng yếu nhất, “Định Huệ giữ cân
bằng”! Nhất tâm xưng niệm, nhất tâm là
Định, xưng niệm là Huệ. A! Chúng ta lại xem
tiếp đoạn dưới, đoạn thứ hai chính
là những thế giới ở phương
Xá Lợi Phất! Nam
phương thế giới hữu Nhật Nguyệt
Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại
Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng
Tinh Tấn Phật, như thị đẳng Hằng hà sa
số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất
quảng trường thiệt tướng biến phú tam
thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn:
‘Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị
Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức
Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh.
舍利弗。南方世界。有日月燈佛。名聞光佛。大燄肩佛。須彌燈佛。無量精進佛。如是等恆河沙數諸佛。各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
(Này Xá
Lợi Phất! Nam phương thế giới có Nhật
Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật,
Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô
Lượng Tinh Tấn Phật.
Hằng hà sa số chư Phật như thế đó,
mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện
tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên
đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng
sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm
này”).
Quư vị phải thường
ghi nhớ, bộ kinh này là hết thảy chư Phật “Khen Ngợi Công Đức
Chẳng Thể Nghĩ Bàn”, cũng là “Được Hết Thảy
Trí huệ giống như
vầng thái dương, chư Phật, Bồ Tát là thái
dương lúc trời quang đăng, quang minh chiếu khắp;
phàm phu chúng ta là mặt trời trong hôm u ám, trên đầu
chúng ta có mây đen che phủ rất dầy, dẫu có ánh nắng,
nhưng bị che lấp, không soi thấu được!
Đạo lư là như vậy đó. Rốt cuộc
những thứ che lấp ấy là ǵ vậy? Thích Ca Mâu Ni
Phật dạy: Những thứ che lấp ấy chính là
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Kinh
Hoa Nghiêm giảng rất hay: “Nhất
thiết chúng sanh giai hữu Như Lai trí huệ, đức
tướng, đản dĩ vọng tưởng, chấp
trước, nhi bất năng chứng đắc” (Hết
thảy chúng sanh đều có trí huệ, đức tướng
như Như Lai; nhưng v́ vọng tưởng, chấp
trước nên chẳng thể chứng đắc). V́
thế, đức Phật dạy chúng ta tu hành, tu những
ǵ? Chỉ là bỏ vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước đi mà thôi! Chỉ cần bỏ
được, trí huệ vốn sẵn có trong tự tánh
sẽ hiện tiền, đức năng hiện tiền,
tướng hảo hiện tiền, quư vị vốn là
Như Như Phật! Nay v́ ta có phiền năo, có tập khí,
kinh Hoa Nghiêm gọi phiền năo tập khí là vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. Vọng
tưởng là tập khí; phân biệt và chấp
trước là phiền năo. Quư vị có những thứ
ấy nên trí huệ, đức năng, tướng
hảo sẵn có nơi tự tánh đều chẳng
thể hiện tiền.
Vọng tưởng, tập khí
là v́ chính ḿnh mê mất bổn tánh, nên mới sanh ra những
thứ ấy. Những thứ ấy không thật, là
giả, lúc mê bèn có, lúc giác ngộ bèn không có. V́ thế,
Phật pháp dạy con người giác chứ không mê, chánh
chứ không tà, tịnh chứ không nhiễm, quư vị có
thể bỏ được mà! Do vậy, giáo học
của Phật pháp từ đầu đến cuối
chẳng ĺa trí huệ. Quư vị thấy đó: Trước
hết là nói ra căn bản (căn bản tu học),
tiếp đến là giảng về tu huệ, tu
phước. Trước hết, chúng ta hăy xét danh hiệu
năm vị Phật.
Vị Phật thứ nhất
là Nhật Nguyệt Đăng Phật. Mặt trời
chiếu ban ngày, mặt trăng soi ban đêm. Chỗ nào
nhật nguyệt không soi thấu th́ đèn (đăng) có
thể soi được. Dùng Nhật, Nguyệt,
Đăng để biểu thị quang minh chiếu
khắp. V́ thế, đức Phật này tượng
trưng “tánh có đủ trí
huệ Bát Nhă viên măn, viên dung vô ngại, không đâu chẳng
chiếu, là điều được mong cầu vậy”.
Chúng ta mong cầu trí huệ viên măn, không ǵ chẳng
biết, không ǵ chẳng thể, không thiếu khuyết mảy
may. Những điều danh hiệu Nhật Nguyệt
Đăng biểu thị chính là những điều chúng
ta mong cầu.
Tên của vị Phật
thứ hai là Danh Văn Quang Phật. Xét đức hiệu
của vị Phật này, Quang là trí huệ, hằng ngày đang
tu, tu ǵ vậy? Tu đoạn phiền năo. Tập khí phiền
năo nếu thực sự đoạn được đôi phần, trí
huệ sẽ hiện tiền. Do vậy, đoạn một
phần phiền năo, trí huệ sẽ lộ ra một phần;
đoạn hai phần phiền năo, trí huệ sẽ lộ
ra hai phần. Quư vị muốn trí huệ Bát Nhă nơi tự
tánh hiện tiền th́ không có ǵ khác cả, chỉ
đoạn phiền năo mà thôi! Nếu vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước của quư vị vẫn
c̣n nặng nề như thế, chẳng chịu buông
xuống th́ nói cách khác, trí huệ của quư vị vĩnh
viễn không thể hiện tiền. Đó là công phu
đấy, chứ không phải là niệm kinh Phật cho
nhiều. Đọc nhiều các loại sách thông thái, quư vị
bèn có “trí huệ” th́ trí huệ ấy là giả, chẳng thật!
Giáo học Nho gia gọi cái học đó là cái học vay
mượn[3]!
Quư vị chẳng mở mang trí huệ, những ǵ quư
vị có được toàn là của người khác, không
có ǵ là của chính ḿnh hết! Khi nào trí huệ của quư vị
mở mang, lúc ấy sẽ được đại
tự tại, chẳng cần phải nhớ những thứ
của người khác nữa!
Chư Phật Như Lai, chư
đại Bồ Tát có trí huệ, quư vị cũng có, quư
vị vay mượn làm chi? Chỉ khi sơ học, trí
huệ chưa mở mang, cần phải nhờ vả
người khác, cầu người khác giúp đỡ.
Người khác chỉ có thể giúp ḿnh trong một giai
đoạn, chẳng thể nương nhờ
người ta vĩnh viễn, cứ vĩnh viễn
nương tựa người ta sẽ không ngóc đầu
lên được! Sau khi dựa dẫm người khác
một thời gian, tự ḿnh phải dần dần
tự lập. Dựa vào Phật, nhưng trí huệ mở
mang một chút, v́ sao? Thực
sự hiểu được ư nghĩa
lời Phật dạy, có thể y giáo phụng hành. Đức
Phật dạy chúng ta thấy thấu suốt, buông
xuống, chúng ta phải thực sự buông xuống! Buông xuống một phần,
trí huệ tăng trưởng một phần, quư vị
thấy thấu suốt một phần. Thấy thấu
suốt giúp quư vị buông xuống, buông xuống lại
giúp quư vị thấy thấu suốt. V́ thế, tu học
Phật pháp từ Sơ Phát Tâm cho đến địa
vị Như Lai, thấy thấu suốt giúp hành giả
buông xuống, buông xuống giúp cho hành giả thấy
thấu suốt, giúp đỡ lẫn nhau, thành tựu
lẫn nhau, thăng tiến trên con đường vô
thượng đạo!
Phương pháp ấy do chính
Chương Gia đại sư dạy tôi, rất hy
hữu! Ngày đầu gặp mặt, Ngài dạy tôi
phương pháp ấy. Suốt năm mươi năm qua
tôi được đại lợi ích nơi phương
pháp này. Cảm ân thầy, chẳng thể không buông
xuống, nếu không buông xuống được th́ đúng
là ngu si, đúng là đáng tiếc. “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp”
(Pháp c̣n nên bỏ, huống ǵ phi pháp). Cứ bỏ, quư
vị sẽ đạt được, được ǵ
vậy? Được những ǵ sẵn có nơi tự
tánh! Chẳng phải do từ bên ngoài mà được,
được trí huệ, được năng lực,
được tướng hảo.
“Danh
Văn Quang Phật, biểu thị sự thành tựu
nhỏ nơi tu huệ”. Có chút thành tựu nhỏ. Chút thành tựu nhỏ
là quư vị có “danh văn” (tiếng tăm), nay chúng ta
gọi là nổi tiếng. Chỉ cần có chút thành tựu
nhỏ, bên ngoài người ta biết đến tiếng
tăm ḿnh, khen ngợi ḿnh, “ắt
có danh văn”. Lúc ấy danh văn là cái cửa ải
trọng yếu nhất: Nếu quư vị đọa
lạc trong danh văn, lợi dưỡng là xong! Danh
lợi là cửa ải quư vị phải đột phá! Nếu
chẳng thể đột phá, bị nó chướng
ngại, sẽ vẫn phải luân hồi trong lục
đạo y như cũ. V́ thế, danh văn như bóng
tối. Đó là nói tỷ dụ. Danh văn giống như
bóng tối, ta vẫn phải y như cũ, dùng ánh sáng trí
huệ để soi tan. V́ thế, “trí quang chiếu đến liền diệt”.
Đó là tỷ dụ. “Phải
bỏ danh văn, lợi dưỡng, sẽ không trở
ngại cho việc thăng tấn đạo nghiệp”.
Con người, có thể nói là đa số, đại
đa số con người cứ hễ danh văn,
lợi dưỡng vừa hiện tiền bèn hồ
đồ, khởi tâm tham chấp, từ tham chấp
lại khởi lên kiêu căng, ngạo mạn, tự cho
ḿnh rất phi thường, khinh mạn người khác,
đấy cũng là phiền năo hiện hành! Bị
đọa lạc liền!
Chắc quư vị đều
đọc Từ Bi Tam Muội Thủy Sám rồi, quư
vị thấy Ngộ Đạt quốc sư mười
đời là cao tăng, chẳng phải là chuyện
dễ dàng! Trong nhân đạo, Ngài chẳng bị
đọa lạc, chết đi vẫn tái sanh trong nhân
gian, cứ mỗi lần [tái sanh] phước báo lại
càng lớn hơn. V́ sao? Do Ngài tu rất giỏi, tŕ
giới, tu định, tu phước, phước huệ
song tu, đời đời kiếp kiếp, mười
đời là cao tăng. Đến đời thứ
mười, phước báo càng lớn, làm thầy của
hoàng đế. Hoàng đế bái Ngài làm sư phụ,
tức là Quốc Sư. Có một ngày, hoàng đế cúng
dường một bảo ṭa bằng trầm hương,
nay chúng ta gọi bảo ṭa là “Thái Sư ỷ”[4]
(ghế Thái Sư), cái ghế Thái Sư ấy làm bằng
trầm hương. Chúng ta biết hết thảy loài
gỗ đều nổi trên mặt nước, nhưng
nếu thả gỗ trầm hương (tức “trầm
thủy hương”) xuống nước, nó liền ch́m
tận đáy. Trầm hương hết sức nổi
tiếng, quư giá. Hoàng đế dùng trầm hương làm
thành cái ghế Thái Sư để cúng cho thầy.
Ngộ Đạt quốc
sư tiếp nhận ṭa báu trầm hương ấy,
trong tâm hết sức hoan hỷ, khởi lên tâm ngạo
mạn: “Trong quốc gia hiện thời có bao nhiêu là đại
pháp sư, có ai được ngồi cái ṭa báu này? Chỉ
có ḿnh ta, trừ ta ra, không có người thứ hai!” Tâm
ngạo mạn vừa khởi lên, thần hộ pháp
bỏ đi. Thần hộ pháp không nói chuyện t́nh cảm,
không có cảm t́nh riêng như con người đâu nhé! Hễ
quư vị tu hành đúng pháp, các ngài nhất định
đến hộ tŕ. V́ sao? Nguyên nhân là v́ quư vị tu hành
đúng pháp, chư Phật hộ niệm; chư Phật
hộ niệm th́ lẽ đâu thần hộ pháp chẳng
ủng hộ! Thần hộ pháp phải ủng hộ!
Nhưng nếu quư vị vừa sanh phiền năo, phiền
năo tập khí vừa hiện hành, đạo tâm không c̣n, quư
vị không c̣n chân thành, khiêm nhường nữa, nay quư
vị kiêu căng, ngạo mạn, không để ai vào
mắt, thần hộ pháp bỏ đi ngay! Thần hộ
pháp bỏ đi là phiền lắm, oán thân trái chủ bèn t́m
đến ngay, oán thân trái chủ trong đời quá khứ
đấy!
Oán thân trái chủ cũng
thường ở quanh quẩn quư vị, ŕnh rập
đợi cơ hội. Bên quư vị có thần hộ pháp th́
họ chẳng dám đến gần, đợi ngày nào quư
vị phạm lỗi, tạo tác tội nghiệp, thần
hộ pháp bỏ đi, cơ hội đến rồi!
Họ bèn đến t́m quư vị gây rối. V́ thế,
quốc sư bị mọc một mụt ghẻ có h́nh
mặt người, gần như sắp mất mạng.
Đúng là trong đời quá khứ Sư tu cũng khá, cho
nên trong lúc tai nạn, lập tức có cảm ứng, tôn
giả Ca Nặc Ca là bậc Đại A La Hán đến
cứu Sư. Phương pháp cứu chữa là
điều giải (thương thảo, ḥa giải). Oán
thân trái chủ của Sư tiếp nhận sự
điều giải ấy. Tiếp nhận xong, mụt
ghẻ mặt người bèn nói cho biết ḿnh là ai, trong
đời quá khứ bị Sư sát hại, phải
chết oan uổng: “Oán căn ấy đời đời
kiếp kiếp không cách ǵ tiêu trừ được; v́
thế, đời này thấy Sư tiếp nhận ṭa báu
trầm hương của hoàng đế cúng dường,
sanh khởi tâm ngạo mạn (theo như người
ấy nói), thần hộ pháp bỏ đi, ta mới có cơ
hội đến báo cừu. Nay được tôn giả Ca
Nặc Ca là bậc đại A La Hán đến
điều giải, ta bằng ḷng tiếp nhận,
chẳng gây rối nữa”. Mụt ghẻ mặt
người liền lành.
Đọc câu chuyện này, chúng
ta phải khéo suy nghĩ, sánh với Ngộ Đạt
quốc sư, chúng ta tu hành như thế nào? Có hơn
được Ngài hay không? Chúng ta tạo tác nghiệp
chướng, phiền năo tập khí ít ra phải nặng
gấp trăm gấp ngàn lần Ngộ Đạt
quốc sư, nhưng không có oán thân trái chủ đến
t́m chúng ta, là v́ nguyên nhân ǵ vậy? Oán thân trái chủ ở
quanh bên quư vị thấy rất rơ ràng, quư vị tu hành chẳng
ra tṛ trống ǵ, cũng không thể văng sanh, đợi
mấy bữa nữa báo thù cũng không muộn. Chẳng
phải là không có sự ấy đâu nhé! Chính là như trong
Phật pháp nói “nhân quả báo ứng” đấy! Chẳng
phải là không báo, chưa đến lúc đấy thôi! Oán
thân trái chủ ở gần bên ta trông thấy, cười
hề hề, không gấp ǵ! Tới khi quả báo xảy đến,
quư vị có hối cũng không kịp!
Nói thật ra, những
chuyện cũ của cổ đức, chúng ta phải xem
cho nhiều mới ḥng luôn đề cao tỉnh giác, nỗ
lực tu hành đạo pháp, chẳng dám tạo tội
nghiệp, chẳng dám khởi một ư niệm bất
thiện. Đem công đức tu học của chính ḿnh
hồi hướng cho oán thân trái chủ bao đời, v́
sao? Chúng ta có phước báo, mọi người cùng
hưởng, hy vọng oán thân trái chủ bao kiếp
chẳng gây chướng ngại, tôi thành tựu chính là quư
vị cùng thành tựu. Lúc tôi thành tựu, nhất
định chẳng quên quư vị, sẽ độ quư
vị trước. Mọi người đều luân
hồi trong lục đạo thọ khổ, tôi thoát
khỏi lục đạo rồi sẽ nhất
định giúp đỡ mọi người, mọi
người đều cùng có thể thoát khỏi lục
đạo luân hồi, đều có thể văng sanh Cực
Lạc Tịnh Độ. V́ thế, oán thân trái chủ
đều biến thành Hộ Pháp, chẳng những không
gây rối, mà c̣n ủng hộ, lại c̣n bảo hựu quư
vị. V́ thế, cát - hung, họa - phước quả
thật chỉ trong một niệm. Danh lợi hiện
tiền chính là cửa ải rất đáng sợ!
Chúng tôi cũng thường
khuyến khích các đồng học, chúng ta ở trong thuận
cảnh, thuận theo thiện duyên, vậy là tốt. Lúc
ấy, sợ nhất là khởi tham luyến; bất
luận đối với người, đối với
sự, đối với vật mà có tâm tham, có ḷng keo
kiệt, không bỏ ra cho người khác th́ không xong
rồi! Vừa khởi ư niệm ấy lên, chư Phật
không thể hộ niệm nữa. Chẳng phải là
chư Phật không hộ niệm, nhưng v́ quư vị có
chướng ngại nên gây chướng ngại cho sự
hộ niệm của chư Phật. Oán thân trái chủ bao
kiếp đều kéo đến, lúc ấy họ có
dịp báo thù quư vị, phiền toái xảy ra, hung tai,
họa hại liên tiếp không ngừng! Chúng tôi thấy
rất nhiều đồng tu học Phật gặp
phải ma nạn. Nhân tố thứ nhất gây ra ma nạn
chính là tâm không thanh tịnh, phiền năo tập khí chiêu
cảm ma nạn. V́ thế, trong hết thảy thuận
cảnh, phải đặc biệt cảnh giác danh văn,
lợi dưỡng, chớ sanh tham si, như vậy
mới là tốt, trí huệ, phước báo mới thực sự
hiện tiền.
Phước báo hiện
tiền, trọn chẳng tự ḿnh hưởng nhận,
nhất định phải biết trong thế gian này
người khổ nạn rất nhiều, nếu chúng ta
cúng dường phước báo cho những kẻ khổ
nạn ấy th́ phước báo đó sẽ vô
lượng vô biên! Bởi lẽ, tu phước báo
chẳng nhằm hưởng trong nhân gian, đến
chỗ nào mới hưởng? Đến thế giới Cực
Lạc bèn hưởng, quyết định chẳng
hưởng phước ở nơi đây. Ở nơi đây
thường chịu khổ một chút là được,
v́ sao? Chịu khổ sẽ không có cái tâm tham luyến
thế gian này. Nếu trong thế gian này, cái ǵ cũng
hưởng thụ, sẽ chẳng muốn ĺa khỏi
thế gian này, chẳng về được thế
giới Cực Lạc. Phước chớ nên hưởng!
Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n tại thế, quư vị thấy
Ngài có phước báo bậc nhất, nhưng cả
đời Ngài chưa hề hưởng phước.
Suốt một đời ba y một bát, giữa Ngọ
ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây, nêu
gương cho chúng ta thấy! Ngài hưởng phước
nơi đâu? Hưởng phước trong Thật Báo Trang
Nghiêm Độ, Ngài ứng hóa thân trong chín pháp giới,
nhất định không thị hiện hưởng
phước nơi những tướng ấy, tuyệt
đối chẳng thị hiện.
Tiếp đó là Đại
Diệm Kiên Phật, “biểu
thị bắt đầu có đủ hai trí”. Kiên (肩) là cái vai, hai vai. Diệm (燄) là ngọn lửa, chỉ quang
minh. V́ thế, đây là nói tới Quyền Trí và Thật
Trí, bắt đầu có đủ hai trí! Vượt
được danh văn rồi mới có Quyền Trí và
Thật Trí. Trong lúc danh văn hiện tiền, nếu quư
vị không vượt qua được, sẽ chẳng
có Quyền Trí lẫn Thật Trí. Vượt qua danh văn
thuận lợi, quyết định không có tâm tham
luyến danh văn, lợi dưỡng, lúc ấy Quyền
Trí và Thật Trí bèn hiện tiền. “Phát tâm tiếp nối huệ mạng của Phật,
hoằng pháp lợi sanh, tức là tự lợi và lợi
tha”. Ở đây, quư vị phải hiểu thật rơ: Để
hoằng pháp lợi sanh th́ phải có Quyền Trí và Thật
Trí. Thật Trí là ǵ? Thật Trí là tâm thanh tịnh. Chân thành,
thanh tịnh, b́nh đẳng là Thật Trí; chánh giác, từ
bi là Quyền Trí. Quư vị hăy nghĩ xem: Nếu danh lợi
hiện tiền, trong tâm có chút ǵ tham chấp th́ sẽ
chẳng chân thành, không thanh tịnh, cũng không b́nh
đẳng. Nói cách khác, Thật Trí không có. Không có Thật
Trí th́ Quyền Trí cũng chẳng có. Nói khác đi, chẳng
có tâm giác ngộ th́ tâm từ bi cũng chẳng có, tâm
từ bi chính là Thế Gian Ái Duyên Từ, vui vẻ đối
với người khác, từ bi đối với
người khác. Quư vị chán ghét người khác tức
là đối với người khác không có tâm từ bi,
không b́nh đẳng!
Xưa nay, trong nước, ngoài
nước, không ít kẻ v́ danh văn lợi dưỡng
mà bị đào thải, bị đào thải với một
mức độ rất lớn. Tướng trạng
đào thải chúng ta thấy rất rơ: Danh văn, lợi
dưỡng hiện tiền, đúng là [những kẻ ấy]
tạo vô lượng vô biên tội nghiệp mà không
biết. Nếu trí huệ hiện tiền th́ họ sẽ
hiểu rơ, dùng danh văn, lợi dưỡng để
hộ tŕ chánh pháp, để giúp đỡ hết thảy
chúng sanh khổ nạn. V́ thế danh văn, lợi
dưỡng đưa đến cũng chẳng cần
phải tránh né, cốt yếu là quư vị dùng nó như
thế nào, dùng như thế nào cho hợp trí huệ th́ sẽ
có lợi ích lớn lao! Nếu dùng theo kiểu ngu si, sẽ
bị họa hại rất lớn! Đại hại hay
đại lợi đều là do một niệm giác hay mê,
rất quan trọng! Tiếp đó c̣n hai vị Phật
nữa, nay đă hết giờ rồi!
*
Xin xem tiếp
vị Phật thứ tư ở phương
Tu Di Đăng Phật.
須彌燈佛。
“Biểu
thị tu Huệ, tự chuyển Thức thành Trí, lại c̣n
giúp đỡ người khác”. Học Phật, giáo hóa chúng sanh, quan
trọng nhất là phải chuyển. Phật, Bồ Tát
khác với phàm phu ở chỗ này. Phàm phu chẳng thể
chuyển cảnh giới, nhất định bị
cảnh giới chuyển. Chư Phật, Bồ Tát
liễu giải Thật Tướng của các pháp, bởi
thế, các Ngài chuyển được cảnh giới,
sai biệt ở chỗ này. Chúng ta học Phật, nói
thật ra, quan trọng nhất là học theo Phật,
Bồ Tát xoay chuyển cảnh giới.
Bọn phàm phu chúng ta thật
đáng thương; trong cảnh giới thuận, cảnh
giới tốt lành sẽ bị thuận cảnh
chuyển, chuyển như thế nào? Khởi tâm tham
luyến. Gặp cảnh giới không tốt, cảnh
giới xấu hèn, lập tức bị cảnh giới
chuyển, sanh tâm nóng giận, sanh tâm chán ghét. Chúng ta
thường nói là “thất t́nh ngũ dục đều
động”. Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu
trần, khởi tâm động niệm đều là
phiền năo, đều là thất t́nh ngũ dục, đó
gọi là “tạo nghiệp”!
Đă tạo nghiệp, lẽ
đâu chẳng chịu quả báo? Nhà Phật thường
nói: “Vạn pháp giai không, nhân quả
bất không” (Vạn pháp đều không, nhân quả
chẳng không). V́ sao nhân quả chẳng không? Nhân tự
nhiên biến thành quả, quả lại biến thành nhân; v́
thế, nhân quả “chuyển
biến bất không” (chuyển biến chẳng phải
là không), nhân quả “tương
tục bất không” (tiếp nối chẳng không). Nói
chung là tiếp nối nhau, do tiếp nối nên có quả,
quả tiếp nối lại biến thành nhân, “tuần hoàn bất không” (tuần
hoàn chẳng không). Nói “nhân
quả chẳng không” là v́ có ba hiện tượng sau
đây: chuyển biến, tiếp nối, tuần hoàn.
Phật, Bồ Tát hiểu rơ,
hiểu rành rẽ, v́ thế, các Ngài chuyển
được cảnh giới, chẳng bị cảnh
giới chuyển. Trong cảnh giới tốt, chắc
chắn các Ngài chẳng khởi tham - sân - si - mạn,
quyết định chẳng khởi thất t́nh ngũ
dục, không hề khởi, không khởi tâm, không
động niệm, chẳng bị cảnh giới
chuyển. Đối với cảnh giới bất
thiện, cảnh giới ác, ác duyên hiện tiền,
chẳng những các Ngài không bị chúng chuyển, mà trái
lại, biến cảnh giới bất thiện thành
cảnh giới thiện, biến ác duyên thành thiện duyên,
thật phi phàm! Bởi thế, các Ngài thọ dụng
chẳng thể nghĩ bàn!
Tây Phương Cực Lạc
thế giới và thế giới của chúng ta đây có ǵ
khác biệt? Nói thật ra, hoàn toàn giống nhau, không sai
biệt chút nào! Thế nhưng, theo những ǵ tŕnh bày trong
kinh, sai biệt rất lớn. V́ nguyên nhân nào vậy? Không
có ǵ khác cả, thế giới giống hệt nhau,
nhưng tâm chúng sanh trong thế giới Cực Lạc
đều hiền lành, đều thanh tịnh, tâm thanh
tịnh sẽ biến thành Tịnh Độ, tất
cả hết thảy vạn vật không ǵ chẳng thanh
tịnh, cảnh chuyển theo tâm. Tâm con người trong
thế giới chúng ta không thanh tịnh, trong tâm ô nhiễm
nghiêm trọng, nên hoàn cảnh sống của chúng ta cũng
bị ô nhiễm nghiêm trọng, không thanh tịnh!
Cảnh chuyển theo tâm! Bản
thân cảnh không ô nhiễm, tâm thanh tịnh th́ cơi Phật
thanh tịnh; tâm không thanh tịnh, cơi nước ḿnh ở
cũng chẳng thanh tịnh. Đạo lư là như
vậy. Nếu tâm chúng ta thực
sự thanh tịnh, hiền lành, tất
cả hết thảy người, sự, vật chung quanh
chúng ta không ǵ chẳng thanh tịnh, hiền lành, Tịnh
Độ sẽ hiện tiền! Tâm chúng ta hư ngụy,
ô uế, bất b́nh, ngu si, tự tư tự lợi, tất
cả hoàn cảnh chúng ta đang sống đều
biến đổi theo tâm niệm, biến thành ngũ
trược ác thế. Ngũ trược ác thế vốn
do đây mà có, phải hiểu như thế!
Thế giới Cực Lạc
cố nhiên là do A Di Đà Phật thanh tịnh, b́nh
đẳng, từ bi mà thành tựu. Phàm những ai văng sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới, tâm địa
của mỗi người cũng phải thanh tịnh,
b́nh đẳng, từ bi giống như A Di Đà Phật
th́ mới được văng sanh. Bởi thế, kinh Vô
Lượng Thọ nói trong ba bậc văng sanh, chánh nhân văng
sanh đều là “phát Bồ
Đề tâm, một dạ chuyên niệm”. Đấy là
điều kiện trọng yếu nhất để được
văng sanh! Mấy năm gần đây chúng tôi đă hiểu “phát
Bồ Đề tâm” rất rơ ràng, Bồ Đề tâm là
ǵ? Chính là “chân thành tâm, thanh
tịnh tâm, b́nh đẳng tâm, chánh giác tâm, từ bi tâm”.
Quư vị dùng cái tâm ấy để “một dạ chuyên niệm” th́ sẽ cảm ứng đạo giao! Một
niệm tương ứng một niệm Phật,
niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật.
Niệm Phật không đắc
lực, niệm Phật vẫn có ma chướng hiện
tiền là v́ nguyên nhân nào? V́ quư vị không có tâm Bồ
Đề! Nếu quư vị đầy đủ ḷng chân
thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi th́
niệm một câu Phật hiệu bèn có công đức,
hiệu quả chẳng thể nghĩ bàn! V́ thế, chúng
ta phải hiểu rơ ư nghĩa những lời đức
Phật giảng trong kinh, phải thực sự biết y giáo
phụng hành. Chúng ta miệng niệm Di Đà tâm tán loạn;
tâm tán loạn là không chân thành, không thanh tịnh, không b́nh
đẳng, không trí huệ, không từ bi, đó gọi là
tâm tán loạn. Tâm tán loạn dù một dạ chuyên niệm
cũng không có hiệu quả, chẳng thể đạt
công phu thành phiến, v́ nguyên nhân ǵ? V́ tâm tán loạn!
Điều này quan trọng hơn bất cứ ǵ khác. V́
thế, tu Huệ th́ quan trọng nhất là phải
biết chuyển, tức là chuyển Thức thành Trí,
chuyển được một th́ sẽ chuyển
được hết thảy.
Tiếp đó, chúng tôi lại có
câu giải thích đơn giản: “Tự hành, hóa tha, phá mê, khai ngộ”: Tự ḿnh tu
hành, lấy việc phá mê khai ngộ làm mục tiêu hàng
đầu; giúp đỡ người khác, giáo hóa chúng sanh,
cũng là lấy phá mê khai ngộ làm mục tiêu hàng
đầu! Đó là tổng cương lănh, tổng nguyên
tắc nhất định phải nắm vững.
Thức là vọng tâm, Trí là chân tâm; nói cách khác, chuyển
vọng tâm thành chân tâm, dụng công nơi tâm địa!
Phải hiểu tác dụng của vọng tâm, tám thức;
tác dụng của thức thứ sáu là phân biệt; ư
thức phân biệt; thức thứ bảy là chấp
trước; thức thứ tám giống như cái kho, chúng
ta thường nói là “ghi ấn tượng”, mọi ấn
tượng đều cất vào đó, tích trữ trong cái
kho ấy. Từ vô lượng kiếp đến nay,
đời đời kiếp kiếp, bất kể
ấn tượng tốt hay ấn tượng xấu,
thảy đều được chứa trong ấy,
đó là vọng tưởng! Năm thức đầu là
nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ư, bản thân chúng không có
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
đều nghe theo sự chỉ huy của thức thứ
sáu và thức thứ bảy mà hành động. Thức
thứ bảy chấp trước, thức thứ sáu phân
biệt, biểu hiện ra bên ngoài, biểu hiện qua
năm thức trước, tạo nghiệp như vậy
đấy!
Bồ Tát thông minh, có trí huệ,
Ngài có thể chuyển biến, chuyển thức thứ
sáu thành Diệu Quán Sát Trí. Quán Sát là hiểu rơ, nơi
mắt, tác dụng của ư thức là thấy rơ, nơi tai
là nghe hiểu, nơi mũi là ngửi rơ, nơi
lưỡi là nếm rành rẽ, nơi thân tiếp xúc bèn hiểu
rơ ràng, nơi ư là biết rơ ràng. Quán Sát lại thêm chữ
Diệu. Diệu là dẫu hiểu rơ, nhưng không chấp
tướng, không phân biệt, hiểu rơ nhưng không phân
biệt, đó là trí huệ chân chánh! Hiểu rơ mà tṛng thêm
phân biệt th́ thành mê, không phải là trí huệ chân chánh, phải
gọi là Thức, chẳng gọi là Trí. Giống như
tấm gương soi cảnh tượng bên ngoài, quư
vị thấy rất rơ ràng minh bạch, rành rẽ, thông
suốt, nhưng không phân biệt, không chấp
trước, không vọng tưởng. V́ thế,
đức Phật thường dạy chúng ta “dụng tâm như kính”
(dụng tâm như gương). Trong cuộc sống
thường nhật, đối với hết thảy
người, sự, vật, chúng ta khởi tâm động
niệm giống hệt như tấm gương trong
trẻo, sáng suốt, rành rẽ, phân minh, không có vọng
tưởng, không phân biệt, không chấp trước.
Đó gọi là Trí chiếu! Diệu Quán Sát Trí chiếu
cảnh giới sáu trần.
“Chuyển
thức thứ bảy thành B́nh Đẳng Tánh Trí”. Thức thứ bảy là
nhiễm ô, chấp trước; chấp trước là
không b́nh đẳng, b́nh đẳng th́ không chấp
trước. V́ thế, đối với hết thảy
pháp, không c̣n chấp trước, tâm b́nh đẳng
hiện tiền, B́nh Đẳng Tánh Trí hiện tiền. Hễ
có mảy may chấp trước, phải như thế
này, phải như thế nọ mới là đúng; như
thế kia là không đúng, đấy chẳng phải là Trí,
mà là Thức! Thức sẽ tạo nghiệp, Trí không
tạo nghiệp. Dùng Trí không dùng Thức, dùng Trí để
chu toàn mọi sự th́ sẽ càng thực hiện viên măn,
trí huệ chân thật. Dùng Thức để xử sự,
chẳng thấy được viên măn, v́ sao? V́ rất nhiều
chỗ quư vị không thấy được. Nếu dùng Trí
để xử sự, sẽ thấy thấu suốt quá
khứ, hiện tại, vị lai, có thể thấy cơi này
và mười phương, há lầm được ư?
Học Phật phải học lấy trí huệ, có như vậy
mới có thể chuyển Thức thành Trí.
“Chuyển
thức thứ tám thành Đại Viên Kính Trí”. Đại Viên Kính (tấm gương
tṛn lớn) là tỷ dụ, Viên là viên măn; nói cách khác, không ǵ
chẳng biết. V́ sao không ǵ chẳng biết? Do trong A
Lại Da Thức từ vô thỉ kiếp đến nay,
tích chứa chủng tử tập khí, trong ấy có nào
thiện, nào ác, nào vô kư (không thiện, không ác), thảy
đều chuyển thành trí huệ. Do vậy, thiện
cũng tốt, ác cũng xong, thảy đều rơ ràng,
thảy đều thấu suốt, nghiệp nhân quả
báo chẳng mê hoặc mảy may. Vừa chuyển biến
liền biến thành không ǵ chẳng biết. Bát Nhă vô tri,
không ǵ chẳng biết!
Chuyển được ba
thức này th́ năm thức trước sẽ chuyển theo,
chuyển thành “Thành Sở Tác Trí”, thành tựu hành vi trí
huệ, tạo tác trí huệ, không bị mê hoặc, dùng trí
huệ để tạo tác nên tự lợi, lợi tha.
Đối với chính ḿnh, thành tựu ba mươi hai
tướng, tám mươi vẻ đẹp, trở thành
bậc thầy, thành gương mẫu, thành tiêu chuẩn
cho hết thảy chúng sanh noi theo, thành mẫu mực cho
hết thảy chúng sanh, biểu lộ qua năm Thức
trước cho nên tạo thành h́nh tượng ấy! Tu
hành quư nhất là chuyển biến; chúng tôi cũng
thường giảng như thế.
Chuyển biến từ đâu?
Bắt đầu từ đâu? Nhà Phật dạy từ
ngay nơi phương tiện ban đầu. Chuyển
từ chỗ nào? Phải chuyển từ ư niệm. Ư
niệm quá nhiều. Từ sáng đến tối, niệm
trước diệt, niệm sau sanh, sanh diệt không
ngừng! Đó là tướng phàm phu khổ năo, chẳng
giống với chư Phật và Pháp Thân Bồ Tát, các Ngài
không khởi tâm, không động niệm, các Ngài trụ
trong đại định, trụ trong tam-muội. Lục
đạo phàm phu trụ trong vọng niệm hết
sức đau khổ. Phật, Bồ Tát Thiền Định
rất sâu, trong hết thảy cảnh giới không
khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không
chấp trước, đó là “thường trụ
tam-muội”. Sáu căn của chúng ta tiếp xúc cảnh
giới sáu trần bên ngoài, khởi tâm động niệm,
phân biệt, chấp trước, đó là nhân; quả báo
bèn là luân hồi lục đạo. Nhân quả tuần hoàn,
nhân quả tiếp nối.
Thưa quư vị, chúng ta hăy thực sự tu hành,
đừng tu hành trên mặt h́nh tướng! Tu hành trên h́nh
thức chính là đại từ đại bi biểu
diễn cho người khác thấy; c̣n chính ḿnh phải
dụng công thực sự tu hành,
người khác không thấy được. V́ thế,
phải biểu diễn sự tu hành nhằm tiếp
dẫn đại chúng, nhằm lợi ích chúng sanh. V́
người khác nói, diễn nói chẳng phải v́ bản
thân, mà v́ người khác, nhằm hóa độ
người khác. Để độ chính ḿnh th́ quan
trọng nhất là nếu khởi tâm động niệm mà
có ư niệm tự tư tự lợi th́ khi ư niệm
ấy khởi lên, phải ngay lập tức diệt
trừ, v́ đó là tâm luân hồi! Niệm niệm nghĩ
đến ǵ? Nghĩ sao cho chánh pháp tồn tại dài lâu,
sao cho giáo huấn của hết thảy thánh hiền
được thường trụ trong thế gian,
được hoằng dương rạng rỡ, to lớn,
lợi ích chúng sanh. Chúng ta phải thường nghĩ
đến những điều này. Thường nghĩ
giúp đỡ những chúng sanh khổ nạn, giúp họ
ĺa khổ được vui, chúng ta có thể hy sinh chính ḿnh
v́ người khác, phải từ những chỗ ấy mà
chuyển biến. Tuyệt đối chớ nên nghĩ
như thế này: Trước hết phải tính sao cho có
lợi cho chính ḿnh, chuyện ǵ có lợi cho ḿnh th́ làm,
chuyện ǵ vô ích đối với ḿnh, có lợi cho chúng
sanh th́ chẳng buồn làm. Nếu vậy là lầm mất
rồi! Vẫn là cái tâm luân hồi, ngày ngày tạo
nghiệp luân hồi, dẫu có niệm Phật suốt
đời cũng chẳng thể văng sanh, vẫn cứ
phải luân hồi trong lục đạo, v́ sao? Tâm luân
hồi mà! Không có tâm buông bỏ luân hồi!
Nếu quư vị chuyển cái
tâm luân hồi thành tâm Bồ Đề, tôi thường nói
mười sáu chữ, v́ sao cứ phải nói măi? V́ chưa
làm được! “Tự
tư, tự lợi, danh văn, lợi dưỡng,
ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn”,
phải đoạn mười sáu chữ ấy. Phải
chuyển! Chuyển tự tư thành đại công,
chuyển tự lợi thành lợi ích hết thảy chúng
sanh. V́ sao không chuyển được ư niệm ấy? Quư
vị phải biết tự tư tự lợi rất
khổ! Lo được, lo mất, khổ không thể nói
nổi! Chuyển biến được cái tâm ấy
sẽ được đại lạc, ĺa khổ
được vui. Quư vị khởi tâm động
niệm đại công vô tư th́ ư niệm và nguyện
vọng của ḿnh nếu duyên chín muồi sẽ có rất
nhiều người giúp ḿnh, sự việc bèn thành
tựu, vui sướng, chúng sanh có phước. Nếu
không có thiện duyên, thậm chí vẫn có rất nhiều
chướng duyên chướng ngại ḿnh, chúng ta chỉ
than một tiếng: “Chúng sanh không có phước báo, duyên chưa
chín muồi”. V́ sao? Tự ḿnh không có ư niệm được
hay mất: Việc thành công, tự ḿnh không có ư niệm
đạt được; việc không thành công, tự ḿnh
chẳng có ư niệm mất mát.
Không có ư niệm được
- mất nên tâm quư vị thanh tịnh, tâm chân thành, trong tâm
vui sướng, không thọ khổ. Thành công, thọ
lạc; không thành công, vẫn cứ thọ lạc, không
thọ khổ. Người thế gian mê hoặc, điên
đảo, lo được, lo mất, sung sướng
th́ sướng phát cuồng; mất mát th́ đau khổ quá
đỗi, chẳng liễu giải chân tướng
sự thật, ư niệm tự tư tự lợi quá
nặng. V́ thế, “chuyển
Thức thành Trí” phải chuyển từ chỗ này.
Lúc tôi mới học Phật,
Chương Gia đại sư dạy tôi thấy thấu
suốt, buông xuống. Buông xuống chính là chuyển, buông
tự tư tự lợi xuống, buông danh văn, lợi
dưỡng xuống, buông sự hưởng thụ ngũ
dục, lục trần xuống, buông tham - sân - si - mạn xuống,
trí huệ bèn tăng trưởng! Rơ ràng nhất không sai
mấy là cảnh giới mỗi tháng mỗi khác, mỗi
tháng đều có lạc thú; đấy chính là như sách
Luận Ngữ nói: “Học nhi
thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?” (Học
rồi thường tu tập, cũng chẳng vui sao?),
trong nhà Phật gọi điều này là “pháp hỷ sung măn”. Pháp hỷ bổ dưỡng
con người, dưỡng thân, dưỡng tâm, thân tâm
mạnh khỏe. Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: “Nhân phùng hỷ sự tinh
thần sảng” (người gặp chuyện vui, tinh
thần sảng khoái), suốt cả đời quư vị
sống trong hoan hỷ, đó là hạnh phúc lớn lao
nhất. Quư vị không phiền năo, không lo lắng, không
vướng mắc chuyện ǵ trong ḷng, vui nào sánh bằng!
Niềm sung sướng ấy quư vị vốn có, nay quư
vị biến thành đau khổ như vậy là v́ có vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, tự
tư tự lợi, có tham - sân - si - mạn, hằng ngày
truy cầu danh văn, lợi dưỡng; cầu
được th́ lại sợ mất; cầu không
được bèn đau khổ không thể nói nổi! V́
thế, cầu được cũng khổ, cầu không
được cũng khổ; nỗi khổ ấy do chính
ḿnh chuốc lấy, chứ đâu phải quư vị
sẵn có!
V́ vậy, học Phật
phải học chuyển biến cảnh giới,
chuyển cảnh giới chẳng phải bên ngoài mà là
chuyển biến trong nội tâm. Trong kinh, đức
Phật đă giảng rất nhiều: “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (Hết
thảy pháp từ tâm tưởng sanh). Tâm năng
tưởng, cảnh giới bên ngoài là sở tưởng.
Quư vị muốn chuyển th́ đừng chuyển nơi
cái được tưởng (sở tưởng) mà
phải chuyển nơi năng tưởng. Chuyển
được năng tưởng th́ sở tưởng
bèn biến đổi. Rơ ràng nhất là trong thí nghiệm
kết tinh nước của ông Giang Bổn Thắng. Lần
này, pháp sư Định Luật từ Nhật Bản qua
Đài Loan viếng tang mẹ của Hồ cư sĩ,
mang theo một cuốn băng thâu h́nh, Sư có cuốn
băng ấy từ chỗ ông Giang Bổn Thắng. Chúng
tôi thấy rất rơ, so với h́nh chụp trong sách rơ
rệt hơn nhiều lắm. Là v́ trong sách, quư vị nh́n vào
h́nh chụp, không thấy nó biến hóa, qua băng thâu h́nh,
thấy h́nh ảnh biến hóa, khiến cho người ta rất
cảm động. Cảnh giới biến đổi theo
tâm niệm con người, ư niệm của quư vị là tốt
lành th́ nó càng biến đổi càng đẹp, càng biến
đổi càng to; lúc tâm lượng không lành, h́nh dạng của
chúng rất khó coi. Điều ấy chứng minh hết
thảy pháp từ tâm tưởng sanh, hết thảy pháp
chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến, chứng
minh rơ ràng! Bởi thế, cảnh giới chuyển biến
trong mỗi niệm.
Cư sĩ Giang Bổn
Thắng [thật ra] vẫn chưa là cư sĩ, ông ta là
tiến sĩ, cực lực hô hào, mong mỏi người
thế gian ai nấy đều có thể dùng thiện tâm,
thiện niệm đối đăi hết thảy
người, hết thảy sự, hết thảy vật
th́ quả địa cầu này sẽ biến thành tốt
đẹp phi thường. Lời kêu gọi ấy
giống như thiền sư Trung Phong đă nói trong Hệ
Niệm Pháp Sự, tâm ta là A Di Đà Phật, A Di Đà
Phật chính là tâm ta, Cực Lạc là cơi này, cơi này chính là
Cực Lạc. Vậy th́ quư vị biến đổi cái tâm
bằng cách nào? Nếu tâm biến thành thanh tịnh, b́nh
đẳng, từ bi, thế giới này sẽ là thế
giới Cực Lạc, không phải biến đổi
nơi cảnh giới mà là biến đổi nơi tâm
địa!
Trong thế gian này, những
người sống trên địa cầu không cần
nhiều, cổ đức thường nói là một
phần mười, tức trong mười người có
một người tâm địa thanh tịnh, b́nh
đẳng, từ bi, thiện lương th́ thế
giới này đă biến thành thế giới Cực
Lạc rồi. Chắc chắn một người có thể
ảnh hưởng cả chín người kia. V́ thế,
ông ta cổ vũ sự giáo dục yêu thương và
biết ơn. Trong những năm qua, chúng tôi thực sự không
tiếp xúc với ông ta, chúng tôi cũng cổ động
giáo dục yêu thương, giáo dục ḷng cảm ơn,
không bàn tính mà cùng hợp! V́ thế, chúng tôi hoan nghênh ông Giang
Bổn Thắng đến thăm Úc Châu, trong thời gian
viếng thăm, tôi hy vọng ông ta có thời gian
đến thăm học viện chúng ta, chúng tôi sẽ
sắp xếp một buổi diễn giảng cho ông
tại Đồ Văn Ba (Toowoomba). Trong phần sau là
tổng kết, ở đây là tiểu kết.
“Chiếu
phá Tam Hoặc của ḿnh lẫn người”. Tam Hoặc là ba loại mê
hoặc lớn. Ba loại này chính là vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước. Trong các kinh Đại
Thừa, đức Thế Tôn thường gọi ba loại
mê hoặc này là phiền năo, tức Kiến Tư phiền
năo, Trần Sa phiền năo, và Vô Minh phiền năo. Kiến
Tư phiền năo là chấp trước, Trần Sa
phiền năo là phân biệt, Vô Minh phiền năo là vọng
tưởng, danh từ khác nhau nhưng ư nghĩa hoàn toàn
tương đồng. Phải dùng trí huệ để
chiếu phá, “Tu Di biểu
thị nhất thể bất nhị”, Tu Di là Pháp Thân,
núi Tu Di tượng trưng cho Pháp Thân. Kinh luận
thường nói: “Thập phương
tam thế Phật, cộng đồng nhất Pháp Thân” (Mười
phương ba đời Phật cùng chung một Pháp Thân),
nói mười phương ba đời Phật là gộp
cả chúng ta trong ấy. Ba đời là quá khứ,
hiện tại, vị lai, hết thảy chúng sanh
đều là Phật vị lai, mọi người chúng ta
đều là Phật vị lai, chúng ta cùng với quá khứ
Phật và hiện tại Phật có chung một Pháp Thân,
nhất thể bất nhị, đức hiệu của
vị Phật này biểu thị ư nghĩa ấy. Vị
Phật cuối cùng là.
Vô Lượng Tinh Tấn
Phật.
無量精進佛。
“Biểu
thị pháp tu căn bản, thiện căn Đại
Thừa chỉ gồm một loại là tinh tấn, thành
tựu đại huệ”. Đức Phật nói đến thiện căn,
Căn là dùng thực vật làm tỷ dụ, thực
vật phải có rễ (Căn) th́ mới có thể
sống được, tăng trưởng
được, khai hoa kết quả được. Nói
đến thiện căn, là sánh ví nó giống như
rễ của thực vật, thiện căn có thể sanh
trưởng hết thảy thiện pháp, tất cả
hết thảy thiện pháp đều từ căn này sanh
ra, đức Phật gọi đó là “thiện căn”.
Thiện căn có thế gian
thiện căn và xuất thế gian thiện căn. Trong
lục đạo thế gian, tất cả hết
thảy thiện pháp từ đâu mà sanh? Đức Phật
nói có ba thứ thiện căn: không tham, không sân, không si,
như trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo nói
bất tham, bất sân, bất si là ba thiện căn!
Tất cả hết thảy thiện pháp trong lục
đạo đều sanh từ những Căn này. Trái
với ba thiện căn là tham - sân - si, gọi là Tam
Độc! Khi chúng tôi giảng kinh thường gọi
chúng là “bệnh độc”, trong tâm mỗi người
chúng ta có bệnh độc nghiêm trọng là tham - sân - si. Ba
thứ bệnh độc tham - sân - si gây tạo tất
cả hết thảy tật bệnh và tai nạn trong
thế gian này. Người ta thường nói đến
thiên tai, nhân họa, thủy tai, hỏa tai, phong tai,
địa chấn (động đất), ôn dịch,
những thứ ấy từ đâu mà có? Cội nguồn của
chúng đều là tham - sân - si.
V́ vậy, quư vị phải
hiểu minh bạch đạo lư sau đây: Nếu trong tâm
quư vị không có tham - sân - si, sẽ tránh khỏi rất
nhiều tai nạn. Dù quư vị có đến chỗ đang
có bệnh dịch cũng không bị truyền nhiễm. V́
sao? Quư vị không có những điều kiện cảm
ứng với chúng; virus gây bệnh truyền nhiễm
phải có môi giới, môi giới chính là cái tâm bất
thiện của chính ḿnh. Ác niệm sẽ khởi cảm
ứng đạo giao với chất độc ấy,
sẽ lây nhiễm dễ dàng. Nếu tâm địa của chính
ḿnh thanh tịnh, tâm địa từ bi, không có ư niệm
tham - sân - si, quư vị sẽ chẳng bị lây nhiễm.
Từ nguyên lư, nguyên tắc mà nói th́ đúng là như
thế!
Bởi thế, con người chẳng
thể không tu thiện. Cát - hung, họa - phước thực sự
chỉ trong một niệm. Một niệm lành th́
đại cát, đại lợi; một niệm không lành,
đại hung, đại họa. Nếu chúng ta thực
sự có tâm xu cát tỵ hung (t́m lành tránh
dữ) th́ phải xu cát tỵ hung bằng cách nào? Phải
đoạn ác tu thiện, quư vị sẽ không có tai
nạn! Đúng như cổ nhân đă nói: Người có
phước báo, tâm địa thanh tịnh, có trí huệ, có
phước báo! Ngạn ngữ nói rất hay, gặp
phải tai nạn th́ “phùng hung
hóa cát, ngộ nạn thành tường” (gặp
điều dữ hóa điều lành, gặp tai nạn
biến thành chuyện tốt lành), chuyển biến
đấy! Gặp phải hung tai nó bèn chuyển biến
thành hảo sự, cát tường. Gặp phải tai
nạn, chuyển biến thành phước báo cát
tường. Đều là chuyển biến nơi tâm, lúc
b́nh thường phải chuyển biến, chứ không
phải đến lúc tai nạn mới tính chuyển th́
chuyển chẳng được đâu! Công phu do lúc b́nh
thời, b́nh thời niệm niệm đều thiện,
niệm niệm là thiện niệm, hành vi nào cũng là
thiện hạnh. Quư vị thấy đó: Thiện
niệm, thiện ư, thiện hạnh th́ không ǵ chẳng
phải là tốt lành! Tâm tịnh, ư tịnh, hành vi thanh
tịnh, ắt sanh Tịnh Độ. Kinh đă dạy mà
cổ đức cũng thường nói: “Tâm tịnh tắc quốc độ tịnh” (Tâm
tịnh th́ cơi Phật tịnh). Quư vị khởi cảm
ứng đạo giao với Tịnh Độ th́ tự
nhiên sẽ văng sanh.
Trong pháp xuất thế gian,
thiện căn chỉ có một, chính là Tinh Tấn. Tinh
tấn là thiện căn duy nhất của Bồ Tát, “Thiện căn Đại
Thừa chỉ có một loại là Tinh Tấn”. Tinh
tấn là không lười nhác, “thành
tựu đại huệ”. Mục tiêu mà chúng ta mong
cầu là viên măn rốt ráo hiện tiền th́ phải
nhờ vào đâu? Nhờ vào tinh tấn. Tương phản
với tinh tấn chính là điều chướng ngại
lớn nhất cho pháp xuất thế gian, điều ǵ
vậy? Giải đăi! Người học pháp xuất
thế quyết định không tham - sân - si, tức là
hội đủ ba thiện căn thế gian cho nên
mới tu pháp xuất thế. Quư vị nhất định
phải hiểu đạo lư này: Tu pháp thế gian chưa
trọn mà toan tu pháp xuất thế gian sẽ chẳng
thể được đâu! Chẳng thể làm người
tốt trong thế gian mà lại muốn thành Phật, thành
Bồ Tát, chẳng thể nào được! Chẳng
thể không hiểu đạo lư này, phải hiểu
thấu triệt. V́ sao? Có hiểu th́ mới phát sanh ảnh
hưởng đối với tâm hạnh của chính ḿnh. Nếu
quư vị hiểu rất sâu, rất triệt để,
sẽ tự nhiên chịu làm như vậy. V́ sao? Làm như
vậy có đại lợi ích, làm như vậy có chỗ
rất tốt. Với chính ḿnh là ĺa khổ được
vui, với chúng sanh cũng giúp cho họ ĺa khổ
được vui. C̣n ǵ vui hơn mà không làm cơ chứ?
Rất nhiều đồng
học học Phật nghe những lời này đều
gật đầu, nhưng rất cảm thán bảo tôi:
“Thưa pháp sư! Con làm không được!” Tôi biết v́
sao họ làm không được! V́ sao họ làm không
được? V́ hiểu chưa sâu, nên thường
đến hỏi tôi phải làm cách nào? Tôi dạy họ
nghe kinh cho nhiều. Nghe kinh nhiều không có nghĩa là kinh ǵ
cũng nghe, phải hiểu ư này. Quư vị là sơ học,
nói “sơ học phải nghe kinh nhiều” nghĩa là chỉ
nghe một bộ kinh, tối đa là hai bộ, ba bộ
kinh, đừng nhiều hơn ba. Nghe bao lâu? Từ xưa
đến nay, tổ sư đại đức ấn
định quy củ là năm năm.
Tôi đến Đài Trung thân
cận thầy Lư. Thầy Lư cũng dạy tôi năm
năm phải chuyên công! [Tức là] chuyên môn nghe một
loại, hoặc là nghe hai loại, tối đa không
được quá ba loại, tối đa là ba loại.
Nghe đi nghe lại như vậy, hằng ngày không gián
đoạn, nghe suốt cả năm năm. Tốt ở
chỗ nào? Tâm quư vị bèn định. Nếu trong năm
năm ấy, quư vị nghe mười mấy loại, tâm
sẽ chẳng định. Há chẳng phải như kinh
này dạy “nhất tâm bất loạn”, tu nhất tâm
bất loạn đó sao? Nhất tâm bất loạn là
tam-muội, nhất tâm bất loạn là Thiền Định
rất sâu, tu như thế nào? Phải thâm nhập một
môn, tâm bèn định. Cứ nghe đi nghe lại, mỗi
lần nghe một lượt, quư vị lại cảm nhận,
lănh hội khác nhau. Mỗi lần nghe lại
được một lần công phu định lực, mỗi
lần nghe là một lần đắc trí huệ. Nghe
suốt năm năm như thế, quư vị ắt có
định, có huệ. Nói cách khác, dẫu chưa
đạt được Căn Bản Trí, nhưng đă
đạt được Tương Tự Căn Bản
Trí. Từ chỗ này, quư vị có thể kiến lập tín
tâm, đạt được pháp hỷ, rất sung
sướng, cảm nhận rất rơ phiền năo của
chính ḿnh giảm thiểu, tức vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước ít hơn, trí huệ tăng
trưởng. Bất luận tiếp xúc hết thảy
người, sự, vật, tợ hồ chính ḿnh có trí
huệ, chính ḿnh xử trí rất thích đáng.
Bản thân tôi đi theo con
đường này, tôi không tu pháp môn nào khác, chỉ là nghe
kinh, đọc kinh, giảng kinh, cả đời vui
sướng không mệt mỏi. Những chuyện đáp
ứng lời mời mọc giảng diễn bên ngoài nói
thật ra toàn là chuyện bất đắc dĩ,
chẳng phải là tôi muốn đi; không muốn đi sao
lại cứ đi? Đối với xă hội có chút
lợi ích th́ chúng tôi phải làm. Xă hội hiện tại
là đời loạn mà! Tà tri, tà kiến, tà thuyết, tà
hạnh ngập ngụa thế gian, chúng sanh rất
khổ, không giác ngộ! V́ thế, có ai t́m tôi, có cơ duyên
ấy, tôi cũng vui ḷng dâng chút cống hiến. Đem
sở học của chính ḿnh, đem những ǵ ḿnh hiểu
biết để thưa cùng đại chúng, dâng cho
đại chúng tham khảo ḥng tu học, tận hết
chút sức kém cỏi của chính ḿnh. Xong việc, tôi
trở về gấp studio của chính ḿnh, chẳng thích
đi ra ngoài, chỉ là bất đắc dĩ mà thôi!
Hết thảy là v́ chánh pháp tồn tại lâu dài, hết
thảy là v́ chúng sanh khổ nạn. A! Hôm nay hết giờ
rồi!
Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 10 hết
[1] Trường Thủy là hiệu của
ngài Tử Tuyền (965-1038). Sư có pháp hiệu là Đông
B́nh, thường được gọi là Trường
Thủy đại sư (v́ Ngài thường trụ tại
chùa Trường Thủy). Sư là người huyện
Tiền Đường, Hàng Châu, là cao tăng thuộc tông
Hoa Nghiêm. Sư xuất gia từ nhỏ, xuất gia với
ngài Hồng Mẫn, theo học với ngài Khế Tông chùa
Phổ Huệ, chuyên dốc sức nơi kinh Lăng Nghiêm.
Năm 13 tuổi, Sư đă được đặc
cách thọ Cụ Túc Giới. Sư cực lực hoằng
dương tông Hoa Nghiêm, được coi là người
có công lớn nhất trong công cuộc trung hưng tông Hoa Nghiêm
thời Tống. Những tác phẩm trọng yếu
nhất của Sư là Lăng Nghiêm Kinh Nghĩa Sớ Chú
Kinh, Lăng Nghiêm Kinh Khoa, Kim Cang Bát Nhă Toản Yếu Khoa,
Đại Thừa Khởi Tín Luận Bút Tước Kư.
[2] Tuyên đạo (宣導): Tuyên nói, chỉ dạy, hướng
dẫn.
[3] Nguyên văn “kư
vấn chi học” tức là nền học vấn do t́m
đọc, học hỏi, ghi nhớ, chứ không phát
xuất từ sự thể nghiệm, chứng nghiệm.
[4] Thái Sư Ỷ là loại ghế có
lưng tựa cao, hai bên có chỗ đặt tay. Loại
ghế này đă có từ thời Tống. Thoạt
đầu nó giống như giao ỷ (giao ỷ là loại
ghế có thể xếp được, có chỗ tựa
lưng và đặt tay), nhưng không xếp
được. Thành ghế và tay vịn hai bên ghế nối
liền với lưng ghế và mặt ghế, chứ không
tách khỏi mặt ghế như giao ỷ. Lưng ghế
cũng thẳng chứ không xiên như giao ỷ.
Đến thời Minh, lưng Thái Sư Ỷ làm cao hơn
nữa và thường chạm thủng, hoa văn uốn lượn
cầu kỳ sao cho phía trên của lưng ghế gồm
nhiều đoạn uốn lượn, móc vào nhau, ghế
cũng được làm to hơn trước, chân
ghế, thành ghế đều được chạm
trổ, uốn lượn thật thanh nhă. Có thuyết nói
loại ghế này mô phỏng các pháp tọa giảng kinh của
người Ấn Độ.