Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 11
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích
Tịnh Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Xin xem tiếp đoạn Tây
Phương trong phần Sáu Phương Chư Phật,
trước hết chúng tôi đọc kinh văn một
lượt:
Xá Lợi Phất! Tây
phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ
Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô
Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật,
Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật,
Tịnh Quang Phật. Như thị đẳng Hằng hà
sa số chư Phật các ư kỳ quốc, xuất
quảng trường thiệt tướng biến phú tam
thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực
ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị
Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức
Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
舍利弗。西方世界。有無量壽佛。無量相佛。無量幢佛。大光佛。大明佛。寶相佛。淨光佛。如是等恆河沙數諸佛。各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
(Xá Lợi
Phất! Thế giới phương Tây có Vô Lượng
Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô
Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh
Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật.
Hằng hà sa số chư Phật như thế đó,
mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện
tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên
đại thiên thế giới, nói lời thành thực:
“Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh Xưng Tán Bất
Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư
Phật Sở Hộ Niệm này”).
Trong đoạn này, đức
Thế Tôn nêu danh hiệu của bảy vị Phật trong
các thế giới ở phương Tây. Quư vị thấy
trong hai phần trên đều là năm vị Phật,
ở chỗ này đột nhiên lại kể tên bảy vị
Phật. Trong pháp hội Di Đà, con số Bảy
tượng trưng cho viên măn, như trong phần
trước chúng ta đă thấy “thất trùng la vơng, thất trùng hàng thụ, thất
trùng lan thuẫn” (bảy tầng lưới mành,
bảy tầng hàng cây, bảy tầng lan can). “Bảy” ở đây không
phải là con số mà hoàn toàn nhằm biểu thị pháp,
biểu thị sự viên măn. Con số Bảy biểu
thị viên măn v́ bốn phương, trên, dưới, thêm vào
chính giữa th́ sẽ là viên măn. Kinh Hoa Nghiêm dùng con số Mười
để biểu thị viên măn, Mười là con số, từ
một đến mười, đó là con số viên măn. Từ
mười đến một trăm, từ một
trăm đến một ngàn đều nhằm biểu
thị sự viên măn. Kinh Di Đà dùng số Bảy
để biểu thị viên măn; chúng ta thấy trong kinh Vô
Lượng Thọ có bảy, có mười sáu, có hai
mươi mốt, có hai trăm mười ức
đều nhằm biểu thị sự viên măn,
đều chẳng thể hiểu chúng chỉ là những
con số. Thế giới Cực Lạc ở phương
Tây, cho nên liệt kê danh hiệu bảy vị Phật
ở phương Tây.
Vị Phật thứ nhất
là Vô Lượng Thọ Phật. Vô Lượng Thọ
Phật có phải là giáo chủ của Tây Phương
Cực Lạc thế giới hay không? Cũng có thể nói
như vậy! Nhưng như trong phần trên đă nói, phương
Tây có Hằng hà sa số chư Phật, trong số hết
thảy chư Phật, có rất nhiều vị Phật đồng
danh đồng hiệu. Dẫu đồng danh đồng
hiệu, nhưng Vô Lượng Thọ Phật của Tây
Phương Cực Lạc thế giới được
đặc biệt tôn kính, là do ư nghĩa nào? Trong phần
trên, tôi đă thưa cùng quư vị rồi, thế giới Cực
Lạc không phải là một thế giới b́nh
thường, mà là thế giới như thế nào?
Giống như hết thảy chư Phật lập
một ngôi trường ở đó, ngôi trường ấy
là trường học của Phật, Bồ Tát. Hết
thảy chư Phật giống như gia trưởng (người
chủ trong gia đ́nh), hết thảy chúng sanh giống như
con cái; con cái muốn thành Phật, thành tựu trí huệ
viên măn, đức năng viên măn, tướng hảo viên
măn th́ phải đến đó học. V́ thế, lập ra
một ngôi trường như vậy!
A Di Đà Phật làm hiệu
trưởng của ngôi trường ấy, Quán Âm và
Thế Chí giống như chủ nhiệm giáo vụ,
chủ nhiệm huấn đạo. Vị hiệu
trưởng ấy được hết thảy các gia
trưởng tôn kính. Chắc từ tỷ dụ này quư
vị hiểu rơ v́ sao không một vị Phật nào lại
chẳng tôn kính, tán thán A Di Đà Phật, v́ sao? Chư
Phật có tôn trọng th́ đệ tử chư Phật
mới tôn trọng; gia trưởng có tôn trọng th́ con cái
mới tôn trọng. V́ thế, chư Phật (gia
trưởng) phải đứng ra nêu gương, dẫu
Phật Phật đạo đồng, các vị Phật
hoàn toàn b́nh đẳng, không có sai biệt, nhưng
để biểu thị pháp, để giáo hóa chúng sanh nên
hết thảy chư Phật đặc biệt tôn kính vị
hiệu trưởng ấy. Đạo lư là như vậy đó!
V́ thế, trong đoạn này, kinh văn liệt kê bảy
đức Phật để biểu thị sự viên măn.
Vị Phật thứ nhất là Vô Lượng Thọ Phật. Chúng ta thấy Vô Lượng
Thọ
là thọ mạng vô lượng. Thọ là một loại
phước báo, người Hoa thường nói “ngũ phước lâm môn” (năm
thứ phước vào cửa), phước bậc nhất
trong năm phước là Thọ. Từ xưa, tổ
sư đại đức khi giới thiệu Tây
Phương Tịnh Độ, nói đức bậc
nhất (đức tánh to lớn nhất) của Tây
Phương Tịnh Độ là ǵ? Thọ mạng
trường cửu! Có thọ mạng trường
cửu th́ chúng ta tu hành chứng quả mới không khó;
chẳng hạn như nói theo kinh này, phàm phu từ Sơ
Phát Tâm đến khi tu thành Phật quả phải trải
vô lượng kiếp; hàng Pháp Thân Bồ Tát từ Sơ Trụ
Bồ Tát trong Viên Giáo tu cho đến khi viên măn Phật
quả phải mất ba A-tăng-kỳ kiếp. Những
con số ấy đều là con số thiên văn, không cách
nào tính toán được! Đức Phật trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới vô lượng
lần vô lượng thọ, hăy nên giảng như thế
nào?
Nên biết “vô lượng” là một đơn vị số
đếm của cổ Ấn Độ; kể từ A-tăng-kỳ
trở đi là mười con số lớn cuối cùng. A-tăng-kỳ
là con số lớn nhất đầu tiên [trong mười
số ấy]. Mười con số lớn này không tính theo
lối gấp mười mà tính theo lối nhân gấp bội.
A-tăng-kỳ lần A-tăng-kỳ là một Vô
Lượng. Vô Lượng lần Vô Lượng là một
Vô Biên, tính theo cách như thế! Do vậy, Vô Lượng
Thọ vẫn c̣n là có hạn lượng, nhưng số
lượng ấy không quan trọng! Nếu cứ tính là
một Vô Lượng thôi th́ thọ mạng của quư
vị là A-tăng-kỳ lần A-tăng-kỳ, nhưng
để thành Phật phải mất bao nhiêu thời gian?
Ba A-tăng-kỳ! Thọ mạng của quư vị là A-tăng-kỳ
lần A-tăng-kỳ, vậy th́ ba A-tăng-kỳ có thấm
vào đâu! Giống như người sống
được một trăm tuổi, để thành
tựu tu hành chứng quả, chứng đắc Vô
Thượng Bồ Đề, phải cần bao nhiêu
thời gian? Ba ngày thôi! Thọ mạng một trăm
năm, ba ngày thấm vào đâu? Chẳng phải là
quyết định thành Phật ư?
Thành Phật đúng là vô
lượng không hạn lượng, thực sự là vô
lượng, chẳng phải là vô lượng có hạn
lượng, mà là vô lượng không hạn lượng.
Do vậy, ta có thể nói phàm ai văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới đều có thọ mạng vô
lượng không hạn lượng, chẳng phải là vô
lượng có hạn lượng. V́ sao? Do họ
đều có thể trong một thời gian rất ngắn
(dựa trên thọ mạng của họ để so sánh) chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề, rốt ráo
Phật quả, đó là phẩm đức bậc nhất
của Tây Phương Cực Lạc thế giới! Bất
cứ thế giới nào khác đều không có chuyện này.
Chỉ dựa vào một điều này thôi, nếu chúng ta
thực sự thấu hiểu rơ ràng sẽ chẳng thể
không sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Quư vị chẳng muốn sanh về đó là lầm
lạc quá đỗi rồi! Như vậy, trong danh
hiệu này có phước báo, có phước, có thọ,
phước vô lượng, thọ vô lượng. Như tôi
vừa mới nói đó, vô lượng ở đây thực
sự là vô lượng, chẳng phải là vô lượng
có hạn lượng.
Vị Phật thứ hai là Vô
Lượng Tướng Phật. Tướng là
tướng hảo, biểu thị phú quư. Người
thế gian chúng ta thường nói người nào đó có “phước
tướng”, [tức là người ấy có] tướng
giàu có, tướng cao quư. “Quư”
là có địa vị cao cả trong xă hội như
quốc vương, đại thần có quư tướng.
Giàu là của cải dư dật. Vô Lượng
Tướng Phật là vừa tôn quư lại vừa giàu có,
vô lượng vô biên phước đức và của
cải.
Vị Phật thứ ba là Vô
Lượng Tràng Phật. Tràng (幢) tiêu biểu cho những ǵ cao cả, rơ
ràng, cao hiển. Tràng có nghĩa là được hết
thảy đại chúng tôn kính, đức cao, chúng ta
thường nói là “đức
cao vọng trọng”, [tức là] đức cao, trí cao, danh
cao, nay ta nói là mức độ nổi danh rộng khắp;
không ai chẳng ca ngợi. Quư vị thấy đó, cả
ba điều sau đây đức Phật đều
hội đủ: Thọ mạng, phú quư, cao hiển (tài
nghệ cao), không ǵ chẳng cao; những điều ấy
đều nhằm biểu thị quả báo. Quả báo do
đâu mà có? Quả nhất định phải có nhân; v́
thế, ba đức Phật tiếp theo đại
diện cho nhân hạnh.
Đại
Quang Phật: Quang là quang minh trí huệ, Ngài đại
diện cho Trí; bởi lẽ phước thọ, phú quư, cao
hiển đều do trí huệ sanh ra.
Đại
Minh Phật: “Minh” là
chiếu sáng, tức là đại trí khởi tác dụng.
Tác dụng ấy gồm có Tự Thọ Dụng và Tha Thọ
Dụng. Ở phần trên đă nói đến phước
báo, phú quư, cao hiển; cao hiển là Tự Thọ Dụng,
đồng thời cũng là tác dụng giáo hóa chúng sanh;
không có đại trí, đại đức, đại
năng như thế, làm sao có thể giáo hóa chúng sanh? Chính
ḿnh phải có những thành tựu thù thắng như
thế th́ mới có năng lực giúp cho người khác
thành tựu, trí huệ khởi tác dụng là như vậy!
Y báo và chánh báo trang nghiêm của thế giới Cực
Lạc đều là do trí huệ của A Di Đà Phật khởi
tác dụng. Phàm đại chúng từ mười
phương thế giới văng sanh thế giới Cực
Lạc đều là do tịnh nghiệp của họ khởi
tác dụng. Do tịnh nghiệp đă tu của
người văng sanh tương ứng với nguyện
hạnh của A Di Đà Phật nên chiêu cảm
được [như vậy]. Trong phần khai thị
của Hệ Niệm Pháp Sự này, thiền sư Trung
Phong đă giảng rất rơ ràng.
Bảo
Tướng Phật biểu thị sự tôn thắng.
Trong kinh Đại Thừa, đức Thế Tôn
thường nói: “Phật hữu
vô lượng tướng, tướng hữu vô
lượng hảo” (Phật có vô lượng
tướng, mỗi tướng có vô lượng hảo).
Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới
sẽ đạt được thân Kim Cang Na La Diên, Kim Cang
Na La Diên (Vajra-nārāyana) là thân kim cang. Kim Cang Lực Sĩ[1] thân
thể cứng chắc, không ai sánh bằng. Thân thể
Phật giống như vậy đó. Văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, những
thế giới phương khác không thể sánh bằng,
điều thù thắng nhất là ǵ? Sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới th́ thân thể,
tướng hảo, quang minh, trí huệ, đức
năng, phước báo của chính ḿnh tợ hồ
gần bằng với A Di Đà Phật. Mười
phương thế giới chắc chắc chẳng có
việc như vậy, [ở Cực Lạc] hưởng
phước của A Di Đà Phật mà! Thật là
chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế, Bảo
Tướng Phật biểu thị sự tôn thắng.
Nếu quan sát kỹ sáu đức Phật này th́ trí
huệ, thọ mạng, phước đức, tức
những điều hết thảy chúng sanh mong cầu, các
Ngài đều trọn đủ, lại c̣n rốt ráo viên
măn, không thiếu khuyết chút nào.
“Vô
phước chẳng thể độ sanh, thành Phật rồi,
trăm kiếp tu phước”. Nếu quư vị không có phước báo, quư vị chẳng
thể độ sanh. V́ sao? Dù có trí huệ, có năng
lực, nhưng tướng mạo không tốt,
người ta vừa nh́n bèn nghĩ: “Gă này không có
phước báo!”, đánh mất tín tâm đối với
quư vị. Thuyết pháp cho họ nghe, họ bèn hoài nghi,
chẳng thể tin nhận phụng hành. V́ thế, Bồ
Tát thành Phật, phải dùng thời gian một trăm
kiếp để chuyên môn tu phước báo, tu tướng
hảo! Trong nhà Phật thường nói là ba mươi hai
tướng, tám mươi vẻ đẹp, ngạn
ngữ thường nói “tướng
tùy tâm chuyển”. Phải dùng cả một thời gian
dài như thế để tu điều ǵ? Tu cái tâm
thuần thiện thuần tịnh, cái hạnh thuần
thiện thuần tịnh. Tâm hạnh thuần thiện
thuần tịnh, sẽ cảm được
tướng hảo, quang minh. Tướng Phật đúng
là viên măn, ai trông thấy cũng đều yêu mến.
Tướng hảo tiếp dẫn chúng sanh, chúng sanh thích
thấy, bằng ḷng đi theo, bằng ḷng học theo,
bằng ḷng nghe giảng dạy, y giáo phụng hành.
Nói thật ra, công phu tu hành
của quư vị đắc lực hay không, quư vị có bao
nhiêu công phu không thể lừa người khác chút xíu nào, v́
sao? V́ đều thể hiện trên tướng hảo
của quư vị! Ngạn ngữ Trung Quốc đă nói
về việc này rất có lư như sau: “Một
người trước khi tṛn bốn
mươi tuổi, mạng tướng chịu
ảnh hưởng của tiên thiên[2],
tức là chịu ảnh hưởng của nghiệp báo
trong đời quá khứ. Từ bốn
mươi tuổi trở đi, chịu ảnh
hưởng của hậu thiên; nói cách khác, chính ḿnh
phải chịu trách nhiệm”. Khởi tâm động
niệm, hết thảy hành vi trong bốn mươi
năm sẽ biến đổi tướng mạo trang
nghiêm. Bởi thế, người nào đến tuổi
già, tướng mạo đoan nghiêm th́ nhất định
phải là người tốt, tu phước, tu cả
đời. Tướng chuyển theo tâm, mạng chuyển
theo tâm. Thân thể và thể chất của chúng ta cũng
chuyển theo tâm!
Qua thí nghiệm kết tinh nước,
tiên sinh Giang Bổn Thắng đă chứng minh điều
này, chứng minh những điều được nói
trong kinh Đại Thừa: Vũ trụ sống
động! Chính ngay trong kinh Lăng Nghiêm, đức
Phật đă giảng: “Chư
pháp sở sanh, duy tâm sở hiện, nhất thiết nhân
quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành Thể” (Các
pháp được sanh ra chỉ là do tâm hiện, hết
thảy nhân quả, vi trần, thế giới, do tâm mà thành
Thể). Ấy là do tâm hiện, thức biến, là bản
năng (năng lực sẵn có) của tâm. Năng lực
ấy bất sanh, bất diệt, không đến, không
đi, không thường, không đoạn, chẳng phải
có, chẳng phải không, vĩnh hằng. Bản năng
ấy là ǵ vậy? Bản năng là có thể thấy, có
thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết;
trong phần khai thị của Hệ Niệm Pháp Sự, thiền
sư Trung Phong gọi [bản năng ấy] là “tâm linh tri”.
Nói về Tâm, Ngài cũng giảng ba
thứ. Thứ nhất là Nhục Đoàn Tâm, tức là trái
tim trong thân thể chúng ta. Đó là trái tim thịt, chỉ là
một cơ quan mà thôi, không có tác dụng ǵ lớn lao cho
lắm [ngoài việc duy tŕ sự sống]. Thứ hai là
Duyên Lự Tâm, nghĩa là mọi người chúng ta có
khả năng suy nghĩ, tưởng tượng, phân
biệt thị - phi, thiện - ác, cũng như mọi
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
đều thuộc về cái tâm này. Trong Phật pháp, tâm ấy
được gọi là Thức. Thức là sở biến
(cái được biến hiện), nó có thể biến,
duy thức sở biến, Duyên Lự Tâm là sở biến.
Cảnh giới ấy hiện tướng, [chủ thể
có khả năng] hiện tướng là chân tâm. Chân tâm được
gọi là “linh tri tâm”, [tức
là cái tâm có khả năng] linh minh giác tri. Chữ “linh” bao hàm cả ba chữ kia
(tức “minh, giác, tri”); kinh Lăng Nghiêm nói bốn chữ,
chữ “linh” bao gồm
kiến, văn, giác (thấy, nghe, cảm nhận). Linh là như
vậy đó! Sau “linh” c̣n có
một chữ “tri” nữa, “linh tri” là “kiến - văn - giác - tri”.
Từ thực nghiệm khoa học, phát
hiện nước có thể thấy, có thể nghe, có
thể hiểu được ư tưởng con
người, tùy theo trạng huống ư tưởng con
người mà nước biến hóa bất đồng, đấy
chẳng phải là như kinh Phật thường nói “cảnh chuyển theo tâm” hay
sao? Thế gian xem tướng đoán mạng cũng thường
nói “tướng chuyển theo tâm”,
thật vậy đó! Mạng chuyển theo tâm, Phong Thủy
cũng chuyển theo tâm. Phong Thủy là hoàn cảnh chúng ta
đang sống; v́ thế, các nhà Phong Thủy thường
nói: “Phước nhân cư phước
địa, phước địa phước nhân cư”
(Người có phước sống nơi đất có phước,
đất tốt lành th́ người có phước ở).
Vấn đề là chính ḿnh phải tu phước. Tự
ḿnh tu phước th́ bất luận sống tại nơi
nào, Phong Thủy nơi đó sẽ tự nhiên biến
đổi, hoàn toàn giống như hiện tượng
nước kết tinh. Thí nghiệm khoa học chứng
minh những đạo lư và những sự tướng đă
được nói trong kinh Phật. Đối với
điều này chúng ta tin sâu không nghi.
Cái hay của việc học Phật là
chuyển được cảnh giới. Chúng tôi
thường nói: Chuyển cảnh giới th́ chuyện đầu
tiên là chuyển thân thể. Thân thể chúng ta vốn
chẳng khỏe mạnh mà chuyển thành khỏe mạnh,
thọ mạng vốn không dài chuyển thành trường
thọ. T́nh trạng thông thường là từ sáu
mươi tuổi trở đi, con người dần
dần suy lăo, khí quan dần dần lăo hóa. Người
học Phật có khả năng giảm chậm sự lăo
hóa khí quan; vốn sáu mươi tuổi bị lăo hóa
nhưng phải đến năm tám mươi tuổi vẫn
chưa bị lăo hóa, tai nghe mắt thấy rơ ràng, mắt
không ḷa, tai không điếc, da dẻ không nhăn nheo; đó
là công phu niệm Phật, công phu tu hành của quư vị! V́
vậy, công phu tu hành nh́n ở chỗ này. Nếu cảnh
giới nơi cái thân ḿnh không chuyển được, há
quư vị c̣n có thể chuyển được cảnh
giới bên ngoài ư? Đầu tiên là phải chuyển
cảnh giới nơi cái thân ḿnh. Cái đầu tiên
phải chuyển nơi thân là vẻ mặt. Nói cách khác, quư
vị học Phật mười năm, hai mươi
năm, hăy xét kỹ xem quư vị có đoan nghiêm và an
tường như Phật hay chăng?
Vị Phật cuối cùng, tức vị
Phật thứ bảy ở Tây Phương là Tịnh Quang
Phật, Ngài “biểu thị
pháp tu phước căn bản”. Quư vị thấy:
Ở phần trên nói đến tu
huệ, c̣n ở đây là tu phước! Tây Phương Cực
Lạc thế giới tu phước, phương
Trong kinh Thập Thiện Nghiệp
Đạo, có một câu dạy chúng ta: “Bồ Tát hữu nhất pháp, năng ly nhất thiết
thế gian khổ” (Bồ Tát có một pháp có thể ĺa
hết thảy khổ thế gian). Pháp ấy thù thắng.
Pháp ǵ vậy? Chúng ta phải nghe cho kỹ, phải học
cho khéo. Phật dạy: “Thường
niệm thiện pháp”, tức là tâm thiện, “tư duy thiện pháp” tức
suy nghĩ thiện, “quán sát
thiện pháp” tức hành vi thiện. Sau đó lại nói:
“Bất dung hào phân bất thiện
hiệp tạp” (Chẳng dung mảy may bất thiện
xen tạp). Câu này rất quan trọng! Nay chúng ta tu hành, tu
hành thành tựu không rơ ràng, không có ǵ chuyển biến rơ
rệt, là v́ nguyên nhân nào? V́ quư vị tu bị xen tạp. Điều
thiện quư vị tu bị xen tạp bất thiện, tâm
xen tạp bất thiện, niệm xen tạp bất
thiện, hành vi cũng xen tạp bất thiện. V́
thế, hiệu quả không rơ ràng, không trừ nghiệp
chướng được, nguyên nhân là do đây.
Phỏng theo cách đức Thế Tôn
thuyết pháp, chúng tôi bảo mọi người: Tâm chúng ta
“thường niệm pháp thanh
tịnh, tư duy tịnh pháp, quán sát tịnh pháp”. V́
thế, trong những năm qua, chúng tôi đặc biệt
đề xướng thuần thiện thuần tịnh, “bất dung hào phân bất tịnh
hiệp tạp, bất dung hào phân bất thiện hiệp
tạp” (chẳng dung mảy may bất tịnh xen
tạp, chẳng dung mảy may bất thiện xen tạp).
Đó chính là Tịnh Quang Phật! Tâm chúng ta thanh tịnh,
hiền lành, tư tưởng thanh tịnh, hiền lành,
hành vi thanh tịnh, hiền lành, hoàn toàn tương ứng
với Tịnh Độ, vô lượng trí huệ
phước đức bèn hiện tiền. Trí huệ,
phước đức hiện tiền, quư vị sẽ
biết rơ ràng, rành mạch.
Người thực sự học
Phật chẳng sanh bệnh. Thời đầu Dân
Quốc, vị giảng kinh thuyết pháp nổi tiếng
nhất là lăo pháp sư Đế Nhàn (Ngài giảng kinh
thuyết pháp nổi danh nhất thời ấy), có một
thời kỳ Ngài bị bệnh. Chuyện này đồn
đến tai pháp sư Ấn Quang. Pháp sư Ấn Quang
liền gởi một lá thư: “Ông
là pháp sư giảng kinh thuyết pháp, làm sao có thể sanh
bệnh được?” Lời tổ Ấn Quang
rất hữu lư, bệnh là ǵ? Bệnh là nghiệp bất
thiện, nếu tâm địa thực sự thuần
thiện thuần tịnh, làm sao sanh bệnh
được? Tâm thanh tịnh quyết định
chẳng nhiễm virus, tâm từ bi chắc chắn có
thể hóa giải virus. V́ thế, ai tâm địa thanh
tịnh từ bi sẽ chẳng sanh bệnh; nói cách khác,
thân quư vị thường có bệnh chứng tỏ tâm quư
vị không thanh tịnh, không từ bi. Nếu tâm
địa thực sự chân thành, thanh tịnh, b́nh
đẳng, mỗi tế bào nơi thân quyết
định rất b́nh ổn, những tế bào trong thân
rất tự nhiên giữ đúng trật tự, cho nên thân
thể con người khỏe mạnh.
Bệnh là ǵ? Bệnh là những tế
bào trong thân thể không ổn định khiến bệnh tật
sanh ra. V́ sao chúng không được ổn định? V́
sao chúng bị loạn trật tự? Ắt phải có
nguyên nhân. Đức Phật đă nói nguyên nhân là ba
độc phiền năo khởi tác dụng, ba độc là
tham - sân - si. Như vậy, tham- sân - si là virus bên trong chúng ta;
bên trong đă có virus th́ virus bên ngoài mới có thể cảm
nhiễm được, trong ngoài giao cảm! Nếu bên
trong không có tham - sân - si, không có virus, dẫu virus bên ngoài tàn
hại cũng chẳng thể cảm nhiễm quư vị
được. V́ sao? V́ quư vị mạnh khỏe, không có
điều kiện cảm nhiễm, các bác sĩ hiện
thời cũng nói như thế, họ gọi đó là
“sức khỏe tâm lư”. Tâm lư khỏe mạnh, không có tham -
sân - si th́ mới là khỏe mạnh thực sự. Không
đoạn tham - sân - si th́ tâm chẳng khỏe mạnh.
Tịnh Quang Phật hay lắm! Để văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới th́ phương
pháp tu hành này rất quan trọng, nó là pháp môn tu
phước. Ở phần trên, chúng ta đă thấy trong
phần tu huệ, “vô
lượng tinh tấn”, tức tinh tấn tu huệ. “Tịnh Quang” là tu
phước. Lại xem tiếp đoạn phương
Bắc, chúng tôi đọc kinh văn một lượt.
Xá Lợi Phất! Bắc phương
thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối
Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh
Phật, Vơng Minh Phật. Như thị đẳng Hằng
hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất
quảng trường thiệt tướng biến phú tam
thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực
ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị
Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức
Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
舍利弗。北方世界。有燄肩佛。最勝音佛。難沮佛。日生佛。網明佛。如是等恆河沙數諸佛。各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
(Xá Lợi
Phất! Thế giới phương Bắc có Diệm
Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật,
Nhật Sanh Phật, Vơng Minh Phật.
Hằng hà sa số chư Phật như thế đó,
mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện
tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên
đại thiên thế giới, nói lời thành thực:
“Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh Xưng Tán Bất
Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư
Phật Sở Hộ Niệm này”).
Quư vị thấy đức Thế Tôn
thuyết pháp hết sức có ư nghĩa; đến
phương Bắc lại nói năm vị Phật, cho
thấy việc nêu lên bảy vị Phật [ở phương
Tây] là đặc thù. Trong mọi lúc thông thường th́
đều là năm vị Phật. “Phương Bắc kể đại lược
năm vị Phật biểu thị sự hóa tha”.
Phần trên là thành tựu trí huệ và phước
đức của chính ḿnh; có trí huệ, có phước
đức th́ mới có thể giáo hóa chúng sanh. “Phước huệ đầy
đủ, lấy độ sanh làm sự nghiệp”.
Trong thế gian này, chư Phật, Bồ Tát làm những
việc ǵ? Người sống trong thế gian chẳng thể
không làm chuyện ǵ, cả một đời này không có chuyện
ǵ hết, vậy là hưởng phước rồi.
Hưởng phước nhưng không tu phước th́ phước
báo ấy sẽ bị hưởng hết, hưởng
hết rồi th́ không c̣n phước nữa! Không có
phước, nhưng trong A Lại Da Thức chắc chắn
vẫn c̣n có nghiệp bất thiện. Những nghiệp
bất thiện ấy sẽ đem lại khổ báo cho
quư vị. Hưởng phước xong, hưởng
thiện phước xong, nỗi khổ bất thiện
sẽ hiện tiền. Bởi lẽ người sống
trong thế gian chẳng thể không có việc này việc
nọ, chẳng thể không làm này làm nọ.
Do vậy, chư Phật xuất
hiện trong thế gian, Bồ Tát xuất hiện trong
thế gian phải có sự nghiệp. Sự nghiệp
của chư Phật chẳng giống với những nghề
nghiệp thông thường trong thế gian, mà là ǵ? Nghề
nghiệp của Ngài là “sư
đạo” (đạo làm thầy). Chư Phật
Như Lai xuất hiện trong thế gian, nhất
định phải xuất hiện dưới thân
phận một vị thầy. C̣n Bồ Tát không nhất
định, Bồ Tát có thể xuất hiện làm các ngành
nghề. Trong phẩm Phổ Môn, chúng ta thấy Quán Thế
Âm Bồ Tát có ba mươi hai ứng thân, mọi
người đều biết. Trong kinh Hoa Nghiêm, quư vị
thấy Phật, Bồ Tát thị hiện thành năm
mươi ba vị thiện tri thức, nam, nữ, già,
trẻ, làm các nghề nghiệp. Nếu mang thân Phật th́
chắc chắn là thầy, chẳng thể theo đuổi
các nghề nghiệp khác. Phật pháp là “sư đạo”, mang thân phận ông thầy th́
chắc chắn hằng ngày phải dạy học.
V́ thế, Thích Ca Mâu Ni Phật
v́ chúng ta thị hiện: Từ năm ba mươi
tuổi, Ngài biểu diễn tu hành chứng quả,
chứng đắc quả Phật Vô Thượng Bồ
Đề. Sau khi thành Phật, bắt đầu giáo hóa
chúng sanh, bắt đầu giảng kinh, thuyết pháp. Tám
mươi tuổi viên tịch, giảng kinh thuyết pháp
suốt bốn mươi chín năm. Tám mươi
tuổi viên tịch là v́ người Hoa tính theo tuổi ta,
nếu theo cách tính tuổi của người ngoại
quốc th́ Thích Ca Mâu Ni Phật viên tịch năm bảy
mươi chín tuổi. Giảng kinh thuyết pháp bốn
mươi chín năm; nay gọi giảng kinh, thuyết pháp
là “lên lớp”, tức là dạy học! Lên lớp dạy
học suốt bốn mươi chín năm, không nghỉ
ngày nào, không có ngày nào nghỉ
xả hơi, không hề có! Trong hết thảy thời,
hết thảy chỗ đều dạy học, từ
trước đến nay chưa từng gián đoạn;
nay chúng ta gọi là “cơ
hội giáo dục”. Bất luận ở chỗ nào,
bất luận gặp được ai, hoặc là đức
Phật chủ động gọi ai đó đến mà
giảng, hoặc người nào đó hướng về đức
Phật nêu câu hỏi thỉnh giáo, đức Phật bèn v́
người ấy giải đáp.
Đức Phật lên lớp không có pḥng
học cố định, thính chúng không cố định.
Kinh nói “một ngàn hai trăm
năm mươi lăm người”, đó là
Thường Tùy Chúng. Đức Phật đi đến
đâu, những học tṛ ấy theo Ngài đến đó.
Bọn họ cũng buông hết thảy thế gian
xuống, chuyên môn theo Thích Ca Mâu Ni Phật học tập. V́
thế, kinh thường liệt kê đại chúng. Liệt
kê đại chúng cũng nhằm biểu thị pháp. Ở
đây, lần này chúng tôi giới thiệu rất
đơn giản, không giảng cặn kẽ như khi
giảng kinh Di Đà, [đại chúng] biểu thị pháp.
Một ngàn hai trăm năm mươi lăm vị
ấy, nói thật ra, đều là những học tṛ
kiệt xuất, đều là những học sinh có sở
trường, đức Phật dùng bọn họ
để biểu thị pháp, hiển thị trong cuộc
sống thường nhật, lúc lên lớp dạy học,
từng chuyện nhỏ nhặt, vụn vặt
đều chân thật chẳng dối, học vấn chân
thật, đức hạnh chân thật!
Phạm vi giảng dạy của đức
Phật hết sức rộng lớn, không giống như
Khổng lăo phu tử. Khổng lăo phu tử chỉ dạy
con người, chẳng dạy cho thiên địa quỷ
thần, chỉ hy vọng con người làm người
cho trọn vẹn là được rồi! Phạm vi dạy
dỗ của đức Phật rất lớn, bao gồm
cả những chiều không gian sai khác như khoa học
ngày nay đă đề cập. Phạm vi hết sức
rộng lớn; v́ thế, đức Phật giảng y báo
và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, kinh
Đại Thừa thường nói như vậy. Kinh Hoa
Nghiêm chẳng thể nghĩ bàn bậc nhất, nói đến
pháp giới trùng trùng vô tận, khoa học ngày nay đang
nghiên cứu theo phương hướng này. Chúng tôi mong
mỏi sẽ có những thành quả nghiên cứu, những
thành quả ấy nhất định sẽ tương
ứng với những điều được
giảng trong kinh Hoa Nghiêm.
Sở dĩ đức Phật lấy
độ sanh làm sự nghiệp; ngày nay chúng ta gọi “độ sanh” là “giáo dục xă hội”. Đức
Phật theo đuổi sự nghiệp giáo dục xă
hội đa nguyên văn hóa, nay ta gọi là một
nghề. Thế nhưng Phật dạy học không thâu
học phí, Ngài không có trường học cố
định, hết thảy chúng sanh đều là
đối tượng giáo hóa của Ngài, thực sự
đáng gọi là “đại
học”.
Lược nêu tên năm vị Phật,
vị thứ nhất là Diệm Kiên Phật. Kiên (肩) là cái vai, Diệm (燄) là ngọn lửa, ngọn lửa
biểu thị trí huệ. Con người chúng ta có hai vai,
dùng Diệm Kiên để biểu thị Quyền Trí và
Thật Trí. V́ thế, “sau khi
phước huệ trọn đủ, liền dùng hai trí
Quyền và Thật để gánh vác gia nghiệp của
Như Lai, lợi ích chúng sanh”. Như Lai là Phật quả
rốt ráo, thành Phật rồi th́ bổn phận sự
nghiệp của Ngài được gọi là “gia nghiệp”. Sự
nghiệp bổn phận của Ngài là giáo dục xă hội
đa nguyên văn hóa, nền giáo dục ấy bao gồm
những điều như hiện nay gọi là “giáo
dục gia đ́nh, giáo dục nhà trường, giáo dục
xă hội”, thảy đều bao gồm trong ấy.
Đúng là đại học vấn.
Ngài làm như thế nào để giúp
đỡ giáo dục gia đ́nh? Học tṛ tại gia
rất nhiều, xuất gia ít. Đối với học
tṛ tại gia, đức Phật dạy họ sống
ở nhà th́ phải học tập luân lư, đạo
đức như thế nào, đối xử ḥa thuận
với người trong nhà ra sao, trọn hết bổn
phận của chính ḿnh. Cha mẹ thương yêu, trong
ngũ luân thập nghĩa[4]
đă nói: “Phụ tử
hữu thân, phu thê hữu biệt, trưởng ấu
hữu tự, quân thần hữu nghĩa, bằng hữu
hữu tín” (Cha con thương yêu, vợ chồng có trách
nhiệm khác nhau, lớn nhỏ có tôn ty trật tự, vua
tôi có nghĩa, bạn bè giữ chữ tín). Đấy chính
là giáo dục gia đ́nh. Giáo dục trong nhà trường nhằm
dạy quư vị học làm vị thầy tốt như
thế nào, học làm đứa học tṛ ngoan như
thế nào. Chẳng phải kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát
Hung đă giảng rất rơ ràng ư? Đức Phật
thường nói như thế. Giáo dục xă hội không
cần phải nói nữa! Bất luận đến nơi
đâu, bất luận gặp ai, chẳng phân quốc gia
nào, chẳng phân chủng tộc nào, chẳng phân tôn giáo nào,
chẳng phân văn hóa nào, chỉ cần quư vị
đến học, đức Phật đều vui vẻ
dạy dỗ. Lợi ích hết thảy chúng sanh bằng
hai trí Quyền và Thật. A! Bây giờ đă đến
giờ rồi!
*
Xin xem tiếp phần phương
Bắc lược nêu năm đức Phật. Vị
Phật thứ nhất là Diệm Kiên Phật, biểu
thị sự gánh vác gia nghiệp của Như Lai, tức
sứ mạng hoằng pháp lợi sanh. Công tác ấy
được thực hiện như thế nào? Phần ư
nghĩa biểu pháp của bốn vị Phật tiếp
theo đó nhằm chỉ dạy chúng ta [cách thực
hiện].
Tối Thắng Âm Phật, “biểu thị dùng âm thanh làm
Phật sự, diễn nói kinh này, khuyên dạy niệm
Phật, chính là âm thanh tối thắng”. Nói như
vậy là thuần dựa theo pháp môn Tịnh Độ để
nói. Nếu giảng theo nghĩa rộng th́ “thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại
âm văn” (chân giáo thể phương này, thanh tịnh
tại nghe tiếng); đấy chính là như Thích Ca Mâu Ni
Phật xuất hiện trong thế gian này, suốt bốn mươi chín năm
ngày ngày thuyết pháp dạy học. Những âm thanh do đức
Phật thốt ra đều là Tối Thắng Âm, âm thanh ấy
tối thắng v́ giúp cho hết thảy chúng sanh phá mê khai
ngộ. Quư vị phải nhớ kỹ, khuyên dạy
một chúng sanh đoạn ác tu thiện, chẳng
đọa tam đồ, đời sau vẫn có thể
tiếp tục hưởng phước báo trời
người th́ âm thanh ấy là âm thanh thù thắng, rất
thù thắng. Không như trong xă hội hiện thời, quư
vị nghĩ xem: Trong xă hội hiện thời, mắt
thấy tai nghe những âm thanh ǵ vậy? Âm thanh tam
đồ! Đúng là chỉ sợ quư vị chẳng
đọa tam đồ!
Âm thanh thuyết pháp của đức
Phật là âm thanh thanh tịnh. Âm thanh thù thắng khuyên con người
đoạn ác tu thiện, khuyên con người chớ
đọa tam đồ. Âm thanh ấy tối thắng, âm
thanh tối thắng là âm thanh giúp cho hết thảy chúng
sanh phá mê khai ngộ, đó chính là âm thanh tối thắng!
Đem Tịnh Tông so với Đại Thừa th́ âm thanh
của Tịnh Tông là thù thắng nhất; Đại
Thừa chẳng thể sánh bằng! V́ sao? Phá mê khai
ngộ, quư vị chẳng thấy trong một đời mà
có thể vượt thoát lục đạo luân hồi,
thành Phật, thành Tổ! Chuyện ấy các pháp khác không làm
được, nhưng Tịnh Tông có thể làm
được. Tịnh Tông dạy quư vị niệm
Phật văng sanh, bất thoái thành Phật. V́ thế, nó thù
thắng khôn sánh. Đặc biệt là “diễn nói kinh này”, kinh này thông với kinh Vô
Lượng Thọ, chẳng những thông với kinh Vô
Lượng Thọ mà c̣n thông với kinh Hoa Nghiêm. Cổ
đức nói kinh Hoa Nghiêm, kinh Vô Lượng Thọ, kinh A
Di Đà là cùng một bộ kinh, kinh Hoa Nghiêm là Đại Bổn,
kinh Vô Lượng Thọ là Trung Bổn, c̣n kinh A Di Đà là
Tiểu Bổn, không sai chút nào!
Kinh A Di Đà Tiểu Bổn này
là lược thuyết, tức là giới thiệu
đại lược. Kinh Vô Lượng Thọ giảng
rất tường tận, giới thiệu mọi
phương diện của Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Kinh Hoa Nghiêm giảng rộng, giảng
cụ thể nhất, thuyết minh tường tận nhất.
V́ thế, ba bộ kinh này chỉ là một bộ. “Diễn nói kinh này”, nói theo
nghĩa rộng, chính là diễn nói kinh điển văng sanh
Tịnh Độ, “khuyên
người niệm Phật là âm thanh thù thắng nhất”.
Đó chính là hoằng pháp lợi sanh, thực sự gánh vác
gia nghiệp của Như Lai, đảm đương
sự nghiệp chẳng thể nghĩ bàn.
Vị Phật tiếp theo là Nan
Trở Phật, “biểu
thị hoằng hộ chánh pháp, dũng mănh tinh tấn,
chẳng sợ tà ma, ngoại đạo và hết thảy
chướng nạn”. Trở (沮) là phá hoại, Nan Trở là rất khó
phá hoại. “Hoằng hộ”:
Hoằng pháp và hộ pháp là một Thể, hoằng pháp và
hộ pháp công đức như nhau; thậm chí công
đức hộ pháp c̣n cao hơn hoằng pháp.
Người hoằng pháp, có thể nói là chẳng dễ dàng,
rất khó có; thế nhưng hộ pháp càng khó hơn!
Nếu không có người hộ pháp mạnh mẽ,
người hoằng pháp dù giỏi nhưng không có ai hộ
tŕ, sẽ không có cơ hội hoằng dương Phật
pháp. Nói cách khác, dù thầy thực sự giỏi, có học
vấn, có đức hạnh, lại có phương pháp
giảng dạy rất tốt, nhưng không ai dùng
đến, không có trường nào mời, đúng là “không
đất dụng vơ”. Trường học chính là hộ
pháp của ông thầy.
Nếu nay quư vị học thành
tựu rồi, quư vị đúng là một nhân tài hoằng
pháp tốt, nhưng không đạo tràng nào mời quư
vị. Chủ nhân của đạo tràng, trụ tŕ,
đương gia, chấp sự đều là nhân tài
hộ pháp, bọn họ phải hộ tŕ quư vị,
mời quư vị trụ trong đạo tràng ấy
giảng kinh, thuyết pháp, mọi việc đều
chiếu cố rất châu đáo, chẳng để quư
vị không phải lo lắng chút ǵ, cứ chuyên làm công
việc giảng kinh, thuyết pháp, hết thảy sự
vụ thuộc phương diện thường trụ
bọn họ đều chia nhau gánh vác. Hoằng pháp và
hộ pháp phải phối hợp mật thiết th́
Phật pháp mới hưng vượng. Nếu không có
hộ pháp, quư vị giảng kinh, thuyết pháp ở đó,
người ta không thích thú ǵ. V́ sao không thích thú? Anh giảng
được, tôi không thể giảng. Tín đồ
thường đến nghe anh, tôn kính anh, không tôn kính tôi, [do
vậy] thường hay ghen ghét chướng ngại [người
hoằng pháp]. Người ta chướng ngại ḿnh,
trọn chẳng cho ḿnh có cơ hội giảng kinh
hoằng pháp, hỏng rồi! Đó là ǵ vậy? Kẻ
ấy thiếu trí huệ, chẳng hiểu đạo lư
này, cũng chẳng hiểu nhân quả.
Người làm hiệu trưởng
không cần phải giảng kinh, thuyết pháp, không cần
phải lên lớp dạy học như giáo viên, không
cần thiết! Học tṛ nghe vị thầy giỏi
giảng, học thành công th́ công đức bậc nhất
quy về ai? Hiệu trưởng! Hiệu trưởng v́
chúng ta mời vị thầy giỏi như thế,
thầy do chính hiệu trưởng mời về,
quyền mời thầy nằm trong tay hiệu
trưởng. Bởi thế, chăm sóc trường cho
tốt đẹp th́ học tṛ thành tựu nhiều, công
lao không do giáo viên, mà do hiệu trưởng. Hiệu
trưởng có huệ nhăn nhận biết ông thầy
tốt, có năng lực mời mọc giáo sư tốt.
Bởi thế, công đức hộ pháp cao hơn hoằng
pháp, hoằng pháp là giáo viên, hộ pháp là hiệu
trưởng. Hiệu trưởng có quyền lực
mời mọc, cũng có quyền lực băi chức: “Tôi
không cần đến anh nữa!” Ông ta có quyền lực
ấy. Người hoằng pháp chỉ nghe theo lệnh: “Ông
mời tôi, tôi nỗ lực dạy dỗ; ông không cần
tôi nữa, tôi đành ra đi thôi!”
Nhất định phải
hiểu đạo lư ấy, thành tựu của đạo
tràng là có được nhân tài. Đạo tràng không xuất
hiện nhân tài tức là thất bại hoàn toàn. Sanh ra
những nhân tài như thế nào? Có sanh ra được
nhân tài hay không? Mấu chốt nằm ở người trụ
tŕ, hay vị thường trụ, hoặc vị chấp
sự chủ chốt. Vị chấp sự chủ
chốt là những người có quyền lực trong
đạo tràng ấy như Trụ Tŕ, Đương Gia,
Thủ Ṭa, Duy Na. Đấy đều là những
người có quyền lực nhất trong đạo tràng
ấy; [thành tựu của đạo tràng] chính là thành
tựu của họ. Do vậy đạo tràng hưng hay
suy, trách nhiệm đặt trên thân mấy người
đó. Nhân tài hoằng pháp không chịu trách nhiệm, họ
không có quyền, không làm chủ, họ phải nghe theo lời
sai phái, nghe lệnh chỉ huy. Bởi vậy, người
hoằng pháp là giáo viên, hộ pháp là người thực
sự có quyền lực.
Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n tại
thế, đối với người xuất gia, đức
Phật yêu cầu mọi sự đều là công tác
hoằng pháp, giao phó công tác hộ pháp cho quốc
vương, đại thần, thỉnh những
người ấy đến hộ tŕ. Bọn họ
lập đạo tràng, lễ thỉnh pháp sư
đến giảng kinh, thuyết pháp. Quư vị giảng
hay, pháp duyên thù thắng th́ tiếp tục lễ thỉnh
hàng năm. V́ thế, pháp sư nhất định phải
tu dưỡng đạo đức, học vấn, và ngôn
hạnh của chính ḿnh hầu nêu gương tốt
nhất cho đại chúng trong xă hội. V́ sao? Nếu pháp
sư không tu tập tốt đẹp, năm sau
người ta không thỉnh nữa. Thậm chí giảng
xong một bộ kinh này, bộ kinh tiếp theo
người ta không mời giảng nữa. Chẳng nghiêm
túc, chẳng khéo học không được! Bởi
vậy, giáo viên và chức viên (người có chức
vụ trong trường) có quan hệ mật thiết,
hoằng hộ chánh pháp như thế mới không bị phá
hoại. Nhất là hộ pháp, trọng yếu lắm!
Hộ pháp phải chánh trực, phải có huệ nhăn.
Đặc biệt là trong thời kỳ
Mạt Pháp, con người không phải là thánh hiền, có ai
không phạm lầm lỗi! Pháp sư giảng kinh chẳng
phải là thánh nhân, c̣n là phàm phu, chắc chắn có lầm
lỗi! Người ngoài nắm lấy những lỗi
lầm ấy để công kích, đồn đăi, sanh
sự, hủy báng, tạo đủ mọi áp lực
với người hộ pháp. Nếu người hộ
pháp không có trí huệ, không có nghị lực, nghe những
kẻ đó bàn ra tán vào sẽ hiểu lầm pháp sư
giảng kinh, khai trừ vị pháp sư giảng kinh
ấy. Chuyện như vậy từ xưa đến nay
rất nhiều, không phải là ít; v́ thế, hoằng pháp và
hộ pháp đều không phải là chuyện dễ.
Thế nhưng hiện thời lại có một con đường,
con đường ǵ vậy? Tức là mạng Internet và truyền
thông vệ tinh. Tuy vậy, vẫn phải có người
hộ pháp có sức lực lui tới chủ tŕ chánh
nghĩa, mời mọc các đại đức, pháp
sư, trưởng giả, cư sĩ v́ hết thảy
chúng sanh giảng kinh thuyết pháp.
Đạo tràng không cần phải
lớn lắm, có một studio nhỏ là được
rồi. Mỗi ngày ở đó dùng máy chiếu phim, nhờ
khoa học kỹ thuật để phát h́nh ảnh và âm
thanh đi khắp thế giới, chúng sanh có duyên sẽ
thích thú nghe, bất luận ở
chỗ nào cũng đều có thể thâu được. Khoa
học kỹ thuật thông tin đại chúng ngày càng
tiến bộ, tôi thường bảo các đồng
học, đại khái năm năm sau là chuyện rất
có khả năng, năm năm sau nhất định các
băng thông (digital bandwith) rộng gấp mấy lần
hiện thời, rất có thể mạng Internet sẽ thay
thế truyền h́nh. Giá thành của truyền h́nh vệ
tinh mắc, giá thành của mạng Internet rất
thấp, lại rất thuận tiện. Trong tương
lai những máy móc thâu phát rất có thể sẽ giống
như điện thoại di động (cell phone) hiện
thời, màn huỳnh quang nơi điện thoại
cầm tay được nới rộng hơn một chút;
bất luận khi nào, dù đang du hành cũng nh́n thấy
được, đều có thể nghe được.
Trước kia, chúng tôi nói [truyền
h́nh] vệ tinh là đem giảng đường giảng
kinh thuyết pháp đến tận nhà quư vị, quư vị
ở nhà mở máy truyền h́nh (TV) lên là thấy. Nay
tiến bộ hơn, chẳng những đưa
đến tận nhà mà c̣n đưa đến tận tay,
quư vị nói có phải là tiện lợi quá hay chăng?
Trước kia đâu có như thế, trước kia không
có ai tưởng tượng việc này, nay dần dần
thực sự thực hiện được, giá thành không
cao, hiệu quả rất lớn. Bởi thế,
người phát tâm hoằng pháp phải tích cực,
phải nỗ lực, phải học tập cách
đối diện trước máy quay phim để
giảng kinh thuyết pháp trong studio, khiến cho Phật
pháp được phục hưng theo phương hướng
ấy. Ḷng tôi mong mỏi mỗi vị pháp sư giảng
kinh đều có một trạm phát h́nh, tương lai
chúng ta có thể phát đi suốt hai mươi bốn
tiếng đồng hồ trên mạng Internet. Mỗi
một cá nhân chuyên đổ công sức nơi một, hai
bộ kinh, không cần quá nhiều, thính chúng có thể
chọn lựa. Họ thích học bộ kinh nào cũng
như thích nghe quư vị giảng diễn, họ sẽ hằng
ngày nghe, tiếp nhận sự giáo huấn của quư
vị. Nan Trở Phật là như vậy đấy!
Hoằng hộ lại sợ bị ma
tà, ngoại đạo chướng nạn, từ xưa
đến nay, trong nước, ngoài nước đều
không tránh khỏi chuyện này, suốt cả đời
bản thân chúng tôi phải gặp không ít lần! Đụng
chuyện, chúng tôi không tranh, mau chóng thoái nhượng. Mau
chóng thoái nhượng như vậy khiến cho chướng
nạn giảm ít. Nói chung, phải nhớ kỹ, phải
thường suy tưởng: “Chư Phật, Bồ Tát
vĩnh viễn không đối lập với bất
cứ một chúng sanh nào”, phải nhớ thật kỹ
điểm này. Sở dĩ Phật, Bồ Tát
được gọi là Nhân Giả, tức là người
nhân từ, bậc nhân từ không đối địch ai.
Thế nào là Nhân Giả? Không có địch nhân. Đấy
là nhân từ thực sự. Nếu có kẻ đối
lập, có oan gia đối đầu th́ chẳng phải
là người nhân từ. Người nhân từ vĩnh
viễn không có oan gia đối đầu, lúc oan gia
đối đầu đến t́m, ta phải
nhường nhịn họ, tuyệt đối không
đối lập với họ, quyết định không nóng
giận, quyết định không báo thù. Người
như vậy chính là Bồ Tát, là người giác ngộ.
Người không giác ngộ mới có tâm
sân khuể, mới có ư niệm báo thù. Người giác
ngộ quyết định không có! V́ thế, lúc cảnh
giới hiện tiền, sẽ thấy quư vị là giác
ngộ hay vẫn c̣n mê hoặc. Trong cuộc sống thường
ngày, trong những sự việc nhỏ nhặt ḿnh gặp
phải, phải rèn luyện từ những chuyện
nhỏ nhặt. Rèn luyện như thế nào? Đối với
nghịch cảnh, chuyện chẳng vừa ḷng, chuyện
không như ư, không có tâm nóng giận, không mang tâm oán hận,
không tâm báo thù, phải rèn luyện công phu ấy. Khi
nghịch cảnh lớn lao hiện tiền, tâm địa
quư vị tự nhiên rất thản nhiên, dùng trí huệ để
xử trí, chẳng làm việc theo cảm t́nh th́ quư vị
mới không bị hết thảy ma chướng gây
chướng nạn.
Vị Phật thứ tư, Nhật Sanh
Phật. Nhật là mặt trời, biểu thị trí
huệ. Bởi thế, “Nhật
Sanh Phật biểu thị tướng giáo học tăng
trưởng, huệ nhật tự - tha sáng rực
giữa trời, chánh pháp tồn tại lâu dài, phước
lợi trời - người”. V́ vậy, giảng kinh,
dạy học ḷng phải rỗng rang! Học tập
nhất định phải hiểu phương pháp,
người trên dạy dỗ chúng ta như thế nào, ta
học thành như vậy rồi, ta phải biết
dạy người khác như thế nào? Đời
đời truyền cho nhau. Trước kia, thầy Lư
dạy chúng tôi, thường thường khuyến khích
chúng tôi: Từ cổ đến nay, những người
sơ học phát tâm giảng kinh rất nhiều,
đến cuối cùng, thành tựu e rằng chỉ
được một, hai hay hai ba người mà thôi. V́
nguyên nhân ǵ? Thoái chuyển, thoái tâm! Gặp phải khó
khăn chẳng thể đột phá. Nguyên nhân phổ
biến nhất khiến ta gặp phải khó khăn là ǵ?
Tâm háo thắng quá mạnh, tâm mong giỏi giang quá mạnh,
đấy là nguyên nhân gây thất bại bậc nhất
trong việc học kinh giáo. Mười người
thất bại, đại khái là chín người v́ nguyên
nhân này, tâm mong giỏi giang quá mạnh, hy vọng giỏi
hơn người khác.
V́ thế, thầy Lư dạy chúng tôi:
Từ cổ đến nay, người thành công phải
ngồi yên đứng vững, giữ lấy câu giáo
huấn lời vàng lẽ ngọc của cổ nhân: “Đản cầu vô quá, bất
cầu hữu công” (Chỉ cầu không có lỗi,
chẳng cầu có công). Quư vị giữ được hai
câu ấy th́ rất có thể thành công. Bởi lẽ,
chỉ mong lên ṭa giảng, giảng không sai lầm, không
cầu giảng hay, không cầu giảng có hiệu quả,
thường xuyên phản tỉnh, thường sửa
lỗi. Muốn giảng giỏi th́ nói chung phải
mười năm, hai mươi năm, trong một thời
gian dài như vậy ngày ngày sửa lỗi, ngày ngày phản
tỉnh, tích lũy công đức mười
năm, hai mươi năm, đương nhiên sẽ
giảng rất hay. Đây chẳng phải là chuyện
trong một thời gian ngắn, chỉ mấy tháng là đă
giảng giỏi, hoặc một, hai năm bèn giảng
giỏi, không có chuyện ấy đâu! Những bậc
tổ sư đại đức xưa nay, thông Tông thông
Giáo, không vị nào chẳng huân tu lâu dài mà thành công!
Dẫu là thiên tài, nghĩa là “nghe một, ngộ cả ngàn”
như Lục Tổ Huệ Năng đại sư
của Thiền Tông, hai mươi bốn tuổi khai
ngộ, Ngũ Tổ đem y bát truyền cho, vẫn phải
như thế nào? Tuổi c̣n trẻ quá, phải đến
ẩn cư trong đám thợ săn mười lăm
năm, gần như là đến bốn mươi tuổi
mới lộ diện. Hai mươi bốn tuổi
được truyền y bát, ẩn cư trong đám
thợ săn mười lăm năm, quư vị cứ
nghĩ đi, bốn mươi tuổi mới xuất
hiện, mà Ngài là bậc thiên
tài đó nghe! Cũng chẳng thể cứ hễ làm
được là ra mặt liền, sẽ làm không được
đâu! V́ thế, tâm kiên nghị, nhẫn nại là bí
quyết thành công, thành tựu càng lớn th́ càng phải có
tâm nhẫn nại. Người không có tánh nhẫn nại,
đừng nói pháp xuất thế gian, ngay cả pháp
thế gian cũng chẳng thể thành tựu. V́ thế,
kinh Kim Cang nói rất hay, “nhất
thiết pháp đắc thành ư Nhẫn” (hết
thảy pháp được thành do Nhẫn), quư vị có
thể nhẫn nại! Tuân thủ quy củ của
thầy, thầy dạy quư vị như thế nào th́
cứ thật thà làm theo.
Tôi ở Đài Trung thân cận thầy
Lư, tôi học bất cứ ǵ so với đồng học
quả thật đều nhanh hơn,
tôi có sức hiểu biết, tôi có năng lực ghi
nhớ, nhưng thầy Lư vẫn hạn chế tôi: Bốn
mươi tuổi trở đi mới được ra ngoài
giảng kinh. Trước khi bốn mươi tuổi
phải luyện tập giảng ở nhà, không
cần ra ngoài. Bên ngoài có người mời cũng không
đi, tôi tuân thủ quy củ ấy mười năm.
Nếu tôi giống những người khác tâm mong giỏi
giang quá mạnh, chẳng tuân thủ quy củ của
thầy Lư, rất có thể tôi đă sớm bị đào
thải rồi. Về thành tựu thế gian hay xuất
thế gian thường có câu nói rất hay: “Người chất phác, người tuân thủ quy
củ, những người như vậy được
thành tựu”. Không thật thà, không tuân thủ quy củ,
ngày ngày cứ nghĩ chuyện huê dạng, thọ mạng
sẽ không lâu! Chẳng những bị người khác ghen
ghét, c̣n bị quỷ thần ghen ghét; nói cách khác, thần hộ
pháp ít, c̣n những ác quỷ, la-sát rất nhiều. Họ đều
t́m đến gây phiền phức, chướng ngại
rất nhiều, đều ở quanh bên cạnh, làm sao có
thể làm cho tốt được cơ chứ?
Bởi thế, con người chớ nên
có tâm ghen ghét, phải thường mong người khác giỏi
hơn ḿnh. Người khác giỏi hơn ḿnh th́ ḿnh có
phước. Giảng kinh, thuyết pháp, hoằng hộ
chánh pháp đều là tu phước, ai sẽ hưởng
phước? Đại chúng thanh tịnh hưởng
phước, mỗi ngày nghe kinh niệm Phật là
hưởng phước đấy! Tôi rất thích mỗi
ngày được nghe kinh, niệm Phật, chuyện ǵ
cũng không cần hỏi đến, quư vị nói xem: Có
phải là cuộc sống rất tốt đẹp hay chăng?
Thế nhưng tôi không có phước báo ấy, không ai
giảng cho tôi nghe. Nếu hiện thời có một
người có thể giảng kinh cho tôi nghe mỗi ngày, tôi
sẽ hằng ngày cúi lạy người đó, hằng
ngày cảm tạ, thật đó, không giả đâu! Tôi
phải cảm tạ người ấy cúng dường
pháp, cảm tạ tài cúng dường của những
vị đại đức hộ pháp, lấy thành quả
tu hành của chính ḿnh để báo đáp.
Vị Phật cuối cùng là Vơng Minh Phật,
“biểu thị phương
pháp hoằng nguyện độ sanh, dùng vô lượng pháp
môn (như những mắt lưới) cứu độ
chúng sanh”. Hoằng dương và hộ tŕ chánh pháp phải
có hoằng nguyện như thế, phải có tâm
lượng như thế, phải có trách nhiệm như
thế th́ Phật pháp mới hưng thịnh. Một
đạo tràng giảng kinh thuyết pháp không phải chỉ
có một vị pháp sư, nay chúng ta lập mười
pḥng học, chúng tôi hy vọng có mười vị pháp
sư, chúng tôi hy vọng có mười môn, hai mươi môn
học; nhưng học sinh chẳng thể cái ǵ cũng
học hết được, không thể được!
Học sinh tối đa chỉ học hai môn. Trước
kia, ở Đài Trung, thầy Lư dạy chúng tôi như
thế; tối đa chỉ có thể học đồng
thời hai môn, nhất định chẳng được
học ba môn! Thầy nói học ba môn chẳng thể thành
tựu. Tốt nhất là như thế nào? Tốt nhất
là học một môn sẽ mau có thành tựu. Theo một
vị thầy học một bộ kinh, học cho kỹ
bộ kinh ấy, tốt nghiệp xong, quư vị mới có
thể học bộ thứ hai.
Thế nào là tốt nghiệp? Nhất
định phải được vị thầy gật đầu:
“Ngươi học được rồi”. Ngay chính
bản thân tôi, trước kia ở Đài Trung, dẫu
thầy Lư không hạn chế, nhưng chính chúng tôi tự hạn
chế ḿnh, học xong một bộ kinh, nhất
định phải giảng mười lần, lên đài
giảng! Thầy Lư dạy chúng tôi chỉ giảng một
lượt, lần thứ hai là học sinh giảng cho
thầy nghe, thầy giúp chúng tôi sửa cho đúng. Từ
đó về sau, lần thứ ba, lần thứ tư, cho
đến lần thứ mười, đều là
thầy ngồi ở dưới nghe, học sinh giảng
trên ṭa. Giảng xong mười lần, thầy gật
đầu: “Được rồi!”, th́ mới coi là
tốt nghiệp môn học ấy. Phương pháp dạy
học chúng tôi dùng hiện nay tuân theo phương pháp
ấy. Thầy hằng ngày nghe giảng, hằng ngày giúp tṛ
sửa cho đúng, ngày ngày giúp quư vị giải quyết
vấn đề, giúp quư vị nâng cao cảnh giới.
Một bộ kinh học mười
biến xong, lại xem xét đức hạnh, định
lực của quư vị. Quư vị có định lực
sẽ chẳng bị danh văn lợi dưỡng bên
ngoài lay động th́ mới có thể ra giảng kinh
được. Nếu ra giảng kinh, vừa tiếp xúc
danh văn, lợi dưỡng bèn khởi tham - sân - si -
mạn, ngay lập tức bị đọa lạc là xong.
Trong t́nh huống ấy, chắc chắn không
được đi. Đạo tràng có thể bảo
vệ quư vị, quư vị ra ngoài không có ai bảo vệ,
không chống chọi nổi dụ hoặc sẽ bị
đọa lạc. Đọa lạc rồi quay
đầu rất khó.
Vơng Minh Phật là trong đạo tràng có
nhiều nhân tài hoằng pháp, nhiều khoa mục. V́
thế, Phật giáo giống như một trường
đại học, mỗi một vị thủ ṭa ḥa
thượng là thầy giáo, mỗi thầy giáo đều
có sở trường chuyên môn, thâm nhập một môn. Quư
vị muốn học một bộ kinh luận nào, cứ
theo học với vị đó, vị thầy ấy
nhất định rất nghiêm túc dạy quư vị, thành tựu cho quư vị. Thầy tṛ hợp
đạo, người dạy, kẻ học cùng tăng
trưởng. Làm công tác hoằng pháp rồi nghỉ hưu
th́ làm công tác hộ pháp, cũng có nghĩa là đảm
nhiệm chấp sự thường trụ, v́ đại
chúng phục vụ. Lúc tôi mới học Phật, tôi có ư
nghĩ như sau: Trước năm bốn mươi
tuổi học tập, hoằng pháp cũng thuộc về
học tập. Từ năm bốn mươi đến sáu
mươi tuổi, suốt cả hai mươi năm
phải làm thường trụ phục vụ, đảm
nhiệm công tác. Sau sáu mươi tuổi bèn nghỉ hưu,
từ khước mọi công tác thường trụ,
từ khước để làm ǵ? Chuyên môn giảng kinh
dạy học, không phải bận tâm lo công việc.
Đối với hoằng pháp lẫn
hộ pháp, tự ḿnh đều có kinh nghiệm khá phong phú,
biết phải bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp
như thế nào, biết chăm sóc nhân tài hoằng pháp ra
sao, bồi dưỡng nhân tài hộ pháp, có kinh nghiệm
thực tế. Nếu trong đạo tràng người
hoằng pháp càng nhiều, chúng tôi cũng càng mở
nhiều pháp môn. Phương châm của chúng tôi là “nhất định phải tuân thủ cách
thức thâm nhập một môn, trường thời huân tu” của cổ đức. Mỗi vị
thầy chuyên dốc công sức nơi một môn, thời
gian tối thiểu phải là mười năm.
Mười năm chuyên dốc công phu nơi một môn th́
sẽ thành tựu, chẳng thể học quá nhiều, quá
tạp. Thông một môn, hết thảy đều thông;
dẫu thông hết thảy môn, vẫn cứ chuyên hoằng
một môn, v́ sao? Nêu gương cho hậu học. Con
người hiện thời không biết lợi ích của
việc chuyên tu, nên nhất định phải làm gương
cho họ thấy, khiến cho họ hiểu rơ, khiến
họ hoan hỷ, họ sẽ có thể thành tựu.
Lại xem tiếp phần Hạ phương, chúng tôi
cũng đọc đoạn kinh văn nói về Hạ
phương một lượt:
Xá Lợi Phất! Hạ phương
thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn
Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng
Phật, Tŕ Pháp Phật. Như thị đẳng Hằng
hà sa số chư Phật các ư kỳ quốc, xuất
quảng trường thiệt tướng biến phú tam
thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực
ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị
Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất
Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
舍利弗。下方世界有師子佛。名聞佛。名光佛。達磨佛。法幢佛。持法佛。如是等恆河沙數諸佛。各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當
信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
(Xá Lợi
Phất! Thế giới phương dưới có Sư
Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật,
Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Tŕ Pháp Phật. Hằng
hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi
vị ở trong nước ḿnh, hiện tướng
lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên
thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các
ngươi hăy nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở
Hộ Niệm này”).
Đến đây là một đoạn.
Phương dưới có tên sáu vị Phật, không
giống như phần trên, trong đoạn trên là năm
vị Phật, ở đây sáu vị. Đương nhiên
những con số đều có ư nghĩa, chắc chắn
không phải là ngẫu nhiên, chắc chắn không nêu tùy
tiện. Con số ấy “biểu
thị đại hạnh giáo hóa, phổ độ chúng
sanh”; đấy là nói về pháp Đại Thừa! Dùng
sáu vị Phật để biểu thị pháp, tượng trưng cho sáu Ba La Mật
của Đại Thừa. Phương Bắc biểu
thị sự hóa tha, khởi đầu! Giống như
vị pháp sư học kinh giáo, đại khái là từ
mười năm đến hai mươi năm
đầu, đều thuộc vào giai đoạn này. Sau hai
mươi năm dạy dỗ, giảng kinh giáo, có thể
nói là lúc ấy đă mở mang trí huệ, dần dần
cũng có thể khế nhập tam-muội.
Người ấy có định lực, có trí huệ, có
kinh nghiệm, có thể mở rộng sự nghiệp
hoằng pháp lợi sanh, “đại
hạnh giáo hóa phổ độ chúng sanh”, người
ấy đă có thể ứng phó được.
Trong những đức hiệu của chư
Phật, vị thứ nhất là Sư Tử Phật.
Sư Tử là tỷ dụ, “sánh
ví sự thuyết pháp của Phật, biểu thị pháp
vương tử thay Phật hoằng pháp, giống như
Phật, chẳng hai”. Bởi lẽ, người
hoằng pháp ở đây không phải là sơ học, mà là
pháp sư hoằng pháp thành thục, trong nhà Phật gọi
là bậc Thượng Tọa. Hoằng pháp trọn
mười năm là Hạ Tọa, hai mươi năm là
Trung Tọa, trọn ba mươi năm là Thượng
Tọa. Theo như tập tục của chúng ta, tức
tập tục trong nhà Phật mà nói, th́ địa vị ấy (được biểu
thị bằng sáu vị Phật ở phương Hạ)
là Thượng Tọa. Thượng Tọa là người
thực hiện sự nghiệp giảng kinh hoằng pháp ba
mươi năm, phải nhớ như vậy. Suốt ba
mươi năm phải hằng ngày dạy dỗ th́
mới xứng [danh xưng Thượng Tọa]!
Cả năm chỉ giảng một hai
tuần hoặc một tháng th́ không tính, v́ không phải là
giáo viên. Có trường học nào mà thầy chỉ lên
lớp một tháng mỗi năm hay chăng? Dạy
một hai tuần thôi ư? Không có trường nào như
thế cả! Giáo viên của những trường chánh quy
phải dạy học hằng ngày, giáo sư đại
học mỗi tuần tối thiểu phải lên lớp
một lần hai tiếng hoặc ba tiếng, mỗi
một tuần như thế chẳng thể gián
đoạn, trường học như thế đó! Trong
Phật pháp không như vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật làm gương cho chúng ta. Thích Ca Mâu Ni
Phật giảng kinh mỗi ngày, suốt bốn mươi
chín năm không gián đoạn. Ngày ngày giảng, mỗi
năm giảng không gián đoạn, đủ ba
mươi năm mới thực sự là Thượng
Tọa. Tuyệt đối chẳng thể một ngày
nóng, mười ngày lạnh mà tính là Thượng Tọa
đâu nhé!
Năm vị Phật ở phương
Bắc tượng trưng cho ba mươi năm
đầu, sáu vị Phật ở phương
dưới tượng trưng cho ba mươi năm sau.
“Đại hạnh giáo hóa,
phổ độ chúng sanh”. Đức hạnh, trí
huệ, học vấn, kinh nghiệm, kỹ xảo giáo hóa
chúng sanh của quư vị đều thành thục; lúc đó
có thể nói là “pháp duyên thù
thắng, hiện sư tử hống”. Sư tử
hống tượng trưng cho đức Phật
thuyết pháp. Pháp vương tử thay Phật thuyết
pháp, nên ta nói là “giống như
Phật, chẳng hai”. Quư vị không giảng lầm kinh
giáo, bất luận quư vị nói cạn hay sâu, nói dài, nói
ngắn, nhất định khế cơ, khế lư. Trên là
khế hợp lư được chứng bởi chư
Phật, dưới khế hợp căn cơ của chúng
sanh đáng được độ. Đó là bản lănh
của Phật, quư vị cũng phải học theo. Quư
vị hăy suy nghĩ: Tự hành, hóa tha, năm dài tháng
chầy thành thục, chẳng phải là háo cường háo
thắng trong một thời gian ngắn mà ḥng thành tựu!
Không có đạo lư ấy đâu nhé! Bởi thế,
đối với một điểm này, quư vị nhất
định phải cảm kích người hộ pháp.
Sở dĩ tôi cảm kích Hàn Quán
Trưởng là v́ bà ta giúp tôi suốt cả ba mươi
năm. Ba mươi năm giúp cho tôi có cơ hội hằng
ngày lên đài giảng. Mỗi ngày đều có cơ hội
lên đài giảng, đó mới chính là chân chánh hộ pháp.
Do đó, chúng tôi cảm kích, chúng tôi được thành
tựu như thế này. Nếu không có ba mươi năm
ngày ngày giảng kinh, dễ ḥng thành tựu ư? Ba
mươi năm, đúng là như người ta
thường nói “bà ta giúp tôi lên bậc Thượng Tọa
rồi bèn tịch”. Chúng tôi vĩnh viễn ghi nhớ,
vĩnh viễn ôm ḷng báo ân, dùng cách nào để báo ân? Dùng
thành tích của chính ḿnh để báo đáp; ngoài cách ấy
ra, không có cách ǵ báo đáp được. Nay đă hết
giờ rồi!
Tập
32
Xin xem tiếp phần phương
dưới, vị Phật thứ hai trong sáu vị
Phật ở phương dưới.
Danh Văn Phật.
名聞佛。
“Danh
xưng (tức danh hiệu của Ngài) vang khắp
mười phương, biểu thị Ngài là con mắt
của trời người, giống như Quán Âm, Phổ
Hiền, các vị tổ sư trong nhà Phật”. Phương dưới nêu tên sáu vị
Phật nhằm biểu thị nền giáo dục của
đức Phật thịnh hành trong thế gian, giúp hết
thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, cầu sanh về Tịnh
Độ. V́ sao phá mê khai ngộ phải cầu sanh về Tịnh
Độ? Có đạo lư đấy! Có thực sự giác
ngộ th́ mới cầu sanh về Tịnh Độ. Nói
cách khác, bất luận quư vị tu học pháp môn nào,
dẫu công phu giỏi đến mấy, đắc
tam-muội, minh tâm kiến tánh, nhưng nếu không cầu
sanh về Tịnh Độ, quư vị chẳng thực
sự triệt ngộ. Người thực sự
triệt để giác ngộ, không ai chẳng cầu sanh về
Tịnh Độ!
Quư vị thấy bậc Địa
Thượng Bồ Tát (hàng Bồ Tát từ Sơ Địa
trở lên) trong kinh Hoa Nghiêm, Thập Địa Bồ Tát
từ đầu đến cuối không rời niệm
Phật, thực sự giác ngộ, triệt để giác
ngộ. Đầu - cuối: Đầu là bậc Sơ
Địa, cuối là Đẳng Giác, tổng cộng
mười một địa vị. Trong mười
một địa vị ấy, không vị nào chẳng
niệm A Di Đà Phật, không vị nào chẳng cầu
sanh về Tịnh Độ. Văn Thù, Phổ Hiền nêu
gương! Hai vị thượng thủ trong hội Hoa
Nghiêm bày đầu, phát nguyện cầu sanh về Tịnh
Độ! Do đây biết rằng: Chân chánh giác ngộ,
triệt để giác ngộ, không ai chẳng phát tâm
cầu sanh về Tịnh Độ!
Danh Văn Phật đương nhiên
không ngoại lệ. Ở đây, danh hiệu Phật này tượng
trưng cho con mắt của trời - người. Thiên - nhân
tượng trưng cho ba đường lành trong lục
đạo, có huệ nhăn, có khả năng phân biệt
đúng - sai, tà - chánh, lợi - hại. Trong các pháp thế
gian và xuất thế gian, niệm Phật cầu sanh về
Tịnh Độ thù thắng bậc nhất, thù thắng
không ǵ sánh bằng, sao không tuyển chọn pháp môn này? Quán
Âm Bồ Tát là vị thượng thủ Bồ Tát của
Tây Phương Cực Lạc thế giới, Phổ
Hiền Bồ Tát là vị thượng thủ Bồ Tát
trong pháp hội của Tỳ Lô Giá Na Phật nơi thế
giới Hoa Tạng, các tổ sư đại đức
trong nhà Phật phát nguyện cầu sanh về Tịnh
Độ rất nhiều. Danh hiệu mấy vị
Phật [trong phương dưới] này đều là [biểu
thị] Phật pháp thịnh hành trong thế gian, hiển
thị t́nh trạng hưng vượng. Vị Phật
thứ ba là:
Danh Quang Phật.
名光佛。
“Biểu
thị đại trí tùy diễn, pháp âm xa nghe, có thể
khiến cho chúng sanh phá mê khai ngộ, ĺa khổ
được vui”. Trong
đức hiệu của Phật có một chữ Danh nhằm
bao hàm mật nghĩa! Mật nghĩa ấy chính là dạy
chúng ta chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn,
tâm không điên đảo, quyết định văng sanh.
Quang biểu thị trí huệ. V́ thế, danh hiệu này
biểu thị trí huệ viên măn, hằng thuận chúng sanh,
ứng theo căn cơ mà ban bố giáo pháp; “Tùy” là tùy thuận chúng sanh. [“Tùy diễn”] là tùy thuận căn tánh, tùy ḷng chúng
sanh ưa thích, tùy thuận phương thức sinh sống
hiện tại của chúng sanh mà v́ họ diễn nói.
Bởi thế, Phật giáo hóa chúng sanh hết sức
sống động, tùy thời, tùy chỗ mà biến hóa,
điều này rất giống với việc dạy
học trong thế gian. Ví như một đứa trẻ,
tùy theo độ tuổi của nó, tuổi của nó lớn
hơn th́ trí huệ và kinh nghiệm cũng tăng
trưởng theo. Thầy dạy nó nhất định
phải tùy theo độ tuổi, tùy theo trí huệ, tùy theo
kinh nghiệm của nó mà không ngừng điều chỉnh
tài liệu giảng dạy và phương pháp dạy
dỗ. Tuyệt đối chẳng thể dạy nó
bằng một khóa tŕnh hễ đă soạn thành th́ bất
biến, không phải như vậy!
Dẫu cho việc dạy học
thời cổ, đúng là từ nhỏ (lúc mới sáu
bảy tuổi) liền dạy nó đọc Tứ Thư,
Ngũ Kinh, đến năm bảy tám mươi tuổi
tóc râu bạc trắng vẫn đọc Tứ Thư
Ngũ Kinh, tài liệu giảng dạy không thay đổi;
nhưng quư vị phải hiểu: Trong phương pháp
dạy học, đối với việc giải thích, thấu
hiểu, vận dụng tài liệu giảng dạy,
đúng là theo từng độ tuổi mà thay đổi.
Kinh điển Phật giáo cũng giống như thế. Từ
lúc quư vị mới học Phật dạy quư vị
đọc kinh, cho đến một trăm tuổi
vẫn là đọc một bản kinh đó, nhưng có
thể nói là quư vị lănh hội sai khác, mỗi năm không
giống nhau, mỗi tháng khác nhau. Đem những ư nghĩa do
quư vị đă thấu hiểu từ kinh sách áp dụng vào
cuộc sống thực tại, áp dụng vào công việc,
áp dụng trong cách xử sự, đăi người,
tiếp vật, dẫn dắt chúng sanh phá mê khai ngộ
trong đời này, ĺa khổ, được vui. Chẳng
những dẫn dắt một đời mà lại c̣n
dẫn dắt đời đời kiếp kiếp trong
mai sau, kinh điển chẳng thể nghĩ bàn! Bởi
thế, phải biết tùy cơ diễn nói!
“Pháp âm xa
nghe”: Phàm phu chúng ta chẳng
dễ ǵ hiểu nổi chuyện “pháp âm xa nghe” này. Hiện tại khoa học kỹ
thuật phát triển, chúng ta có thể dùng kỹ thuật
khoa học để chuyển tải h́nh ảnh và âm thanh
thành sóng điện từ (electromagnetic wave). Người
ở phương xa thâu được sóng điện
từ ấy, lại chuyển nó thành h́nh ảnh và âm thanh,
nên sẽ thấy được, nghe được. Nay
nhờ máy truyền h́nh, máy phát thanh (radio), mạng Internet
nên h́nh ảnh và âm thanh đều có thể thấy
được. Pháp âm xa nghe đấy! Nhưng thật ra,
chúng ta mê mất tự tánh nên tác dụng đức năng
trong tự tánh chẳng hiện tiền, bởi thế, các
nhà khoa học dùng máy móc, dùng khí cụ (dụng cụ)
để hỗ trợ chuyển biến. Chứ trên
thực tế, kinh Phật dạy chúng ta, không cần
phải nhờ vào bất cứ máy móc nào, tự bản
thân chúng ta sẵn có năng lực. Sắc tướng, âm
thanh, ư niệm và tạo tác của chúng ta trong khoảng
sát-na tợ hồ đồng thời trọn khắp hư
không pháp giới. Chúng ta phải hiểu đạo lư và chân
tướng sự thật này. Nếu sự thấy - nghe -
hay - biết của chúng ta chẳng trọn khắp hư
không pháp giới, quư vị hăy nghĩ xem, lẽ nào chúng ta
lại có thể khởi tác dụng cảm ứng
đạo giao với chư Phật, Bồ Tát?
Tâm tánh của Phật và Bồ Tát
trọn khắp hư không, pháp giới, tâm tánh của
hết thảy chúng sanh cũng trọn khắp hư không
pháp giới. V́ thế, nói theo mặt tâm tánh th́ không hai, không
khác, tự - tha bất nhị; chẳng những chúng sanh và
Phật không hai, mà chúng sanh và hết thảy hữu t́nh, vô
t́nh chúng sanh cũng không hai! Từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta hăy chú
tâm thấu hiểu và quán sát sẽ thấy vũ trụ là
một Thể, đă là một Thể th́ nhất
định chẳng thể chia cắt! Nay nói từ cái thân
người của chúng ta đây th́ tất cả hết
thảy khí quan và các tế bào trên thân người
đều là một Thể, nhưng cái một Thể ấy
lại có thể chia cắt, hiện tại có thể dùng “thủ
thuật ngoại khoa” (giải phẫu) để chia
cắt. Vũ trụ một Thể là Pháp Thân, Pháp Thân
chẳng thể chia cắt. Bởi vậy, nếu muốn
tỷ dụ th́ nói thật ra, chẳng có một vật nào
có thể dùng để sánh ví cho thích hợp; tỷ dụ
chỉ có thể mường tượng, tương
tự; chắc chắn không có cách nào sánh ví cho thật phù
hợp được.
Như vậy, thấy - nghe - hay - biết
trọn khắp pháp giới, hư không giới, do chúng ta có
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên
năng lực ấy bị chướng ngại, chứ
năng lực ấy không hề bị hoại mất. Khi
nào quư vị trừ được chướng ngại
ấy, năng lực sẽ khôi phục hiện tiền. Nói
“khôi phục” cũng không thích đáng! Khôi phục là
phải mất đi rồi có lại được th́
mới gọi là khôi phục; chứ về căn bản,
năng lực ấy không hề bị mất đi,
chỉ là bị chướng ngại mà thôi! Dẫu bị
chướng ngại, năng lực vẫn khởi tác
dụng y như cũ, chẳng qua nó khởi tác dụng
nhưng chúng ta không cảm nhận được.
Chướng ngại là như vậy đó, chướng
ngại sự cảm nhận của chính chúng ta là v́
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
chưa thể buông xuống được! Nói chung,
phải hiểu rơ: Quả thật pháp âm có thể xa nghe.
“Có thể
khiến cho chúng sanh phá mê khai ngộ, ĺa khổ
được vui”. Đây
là âm thanh thù thắng, phần trên gọi là “âm thanh tối
thù thắng” (Tối Thắng Âm). Thế nhưng, nói
thật ra, mê hay ngộ là do chính ḿnh. Người hiểu
và kẻ không hiểu khác biệt rất lớn; bởi
vậy, tổ sư đại đức trong Tông Môn và
Giáo Hạ nhà Phật thường trắc nghiệm
học tṛ: “Ngươi hiểu ư?” Câu hỏi này có ư
nghĩa rất sâu xa, sâu rộng vô tận. “Ngươi
hiểu ư?”, nếu quả thật hiểu, phàm tất
cả tướng đều là Thật Tướng;
tất cả âm thanh đều là Phật âm, hiểu là như
vậy đó! Hiểu là giác ngộ. Nếu như mê th́
cảnh giới bên ngoài, tức cảnh giới
được tiếp xúc bởi sáu căn sẽ
được gọi là “sáu
trần”!
Trần (塵) là ǵ?
Trần là bất giác, Trần là mê hoặc, Trần là ô
nhiễm, đó gọi là “sáu
trần”. Sau khi giác ngộ th́ không gọi là sáu trần nữa
mà gọi là “sáu tánh”, mắt
thấy Sắc Tánh, chứ không phải là Sắc Trần.
Như vậy, chưa hiểu th́ mắt thấy Sắc Trần,
tai nghe Thanh Trần; c̣n nếu giác ngộ th́ mắt
thấy Sắc Tánh, tai nghe Thanh Tánh, thấy - nghe - hay - biết
đều là tánh, minh tâm kiến tánh! Căn tánh Năng
Kiến (chủ thể nhận biết) của sáu căn
và sáu tánh (tánh của sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp là sáu tánh) của cảnh giới Sở Kiến (bị
nhận biết), Năng - Sở là một không hai. V́
thế, ông Âu Dương Cánh Vô nói: “Phật pháp không phải là triết học!” Trong
triết học, Năng và Sở là hai; trong Phật pháp,
Năng và Sở là một, không hai. Ư nghĩa này rất sâu!
Tánh Thấy
và Sắc Tánh là một tánh. Quư vị thường nghe nói
đến Phật Tánh và Pháp Tánh, ở đây, quư vị
sẽ hiểu rất rơ ràng: Mắt thấy Sắc, căn
tánh của mắt là Phật Tánh; c̣n sắc tánh của sắc
tướng được quư vị thấy đó th́ là
Pháp Tánh. Nếu như mê th́ [tác dụng nhận biết của
nhăn] căn chẳng được gọi là Căn Tánh, mà
gọi là Nhăn Thức, những ǵ ở bên ngoài
được thấy bởi Nhăn Thức sẽ gọi là
Sắc Trần, không gọi là Sắc Tánh. Mê một th́ mê
hết thảy, mê nơi chính ḿnh nên cũng mê nơi
cảnh giới bên ngoài. Mê nơi chính ḿnh là chuyển Tánh
Thấy thành Nhăn Thức, đó là mê vậy! Tánh Thấy bị
chuyển thành Nhăn Thức th́ cảnh giới bên ngoài
cũng bị chuyển theo, y báo chuyển theo chánh báo;
Sắc Tánh bên ngoài bị chuyển thành Sắc Trần,
cảnh chuyển theo tâm mà! Từ chỗ này, ta có thể
hiểu hết sức rơ ràng thế nào là Phật tánh,
thế nào là Pháp Tánh? Phật Tánh có thể biến, có giác và
mê; Pháp Tánh th́ không, Pháp Tánh chuyển theo Phật Tánh.
Phật Tánh là chánh báo, Pháp Tánh là y báo; y báo hoàn toàn chuyển
theo chánh báo.
Chánh báo giác ngộ th́ chính là như Giao
Quang đại sư đă nói trong sách Lăng Nghiêm Chánh
Mạch; Sư giảng rất hay: “Bỏ Thức dùng Căn”. Bỏ Thức dùng
Căn là chuyển Thức thành Trí, Pháp Tướng Tông
gọi [bỏ Thức dùng Căn] là “chuyển Thức
thành Trí”. “Chuyển” th́ có
chuyển trên mặt Nhân và chuyển nơi mặt Quả. Trong
tám thức th́ thức thứ sáu và thức thứ bảy
chuyển nơi Nhân, năm thức đầu và thức
thứ tám chuyển nơi Quả. Quư vị hiểu rơ th́
sẽ biết chúng ta phải dụng công như thế nào.
Năng lực mạnh nhất của thức thứ sáu
tức Ư Thức là phân biệt, năng lực mạnh
nhất của thức thứ bảy tức Mạt Na
Thức là chấp trước. Vậy th́ chúng ta phải
chuyển chúng bằng cách nào? Không chấp trước
hết thảy pháp thế gian hay xuất thế gian, không
chấp trước là chuyển Mạt Na Thức thành B́nh
Đẳng Tánh Trí. Không phân biệt hết thảy pháp
thế gian và xuất thế gian nữa; không phân biệt
sẽ chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quán Sát Trí.
Phải chuyển từ chỗ ấy. Đối với thức
thứ tám và năm thức trước, quư vị không
cần phải bận tâm, hai thứ đó sẽ chuyển
theo. Thức thứ tám và năm thức trước
thảy đều bị chuyển cả, liên đới
chuyển theo.
Người tu hành bất luận tu
học một pháp môn nào, trong kinh Phật thường nói
là “tác quán”. Danh từ “Chỉ Quán” chỉ chung
cả tám vạn bốn ngàn pháp môn, kể cả pháp môn
Tịnh Độ Niệm Phật. Trong nhà Phật, bất
luận Đại Thừa hay Tiểu Thừa, Hiển
Giáo, Mật Giáo, Tông Môn, Giáo Hạ, danh từ ấy (tức
Chỉ Quán) là nguyên tắc chỉ đạo tổng quát,
là tổng cương lănh. Chẳng hạn như chúng ta
niệm một câu A Di Đà Phật có phải là tu Chỉ
Quán hay không? Phải! Lúc niệm một câu A Di Đà
Phật, buông xuống vạn duyên, trong tâm chỉ có một
câu A Di Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra, ư niệm
ǵ cũng không có, buông ư niệm xuống chính là Chỉ; một
câu Phật hiệu rơ ràng, minh bạch là Quán. V́ thế, trong
kinh Đại Tập, đức Thế Tôn nói Tŕ Danh
Niệm Phật là “thậm thâm
thượng diệu Thiền”, Thiền chính là Chỉ
Quán. V́ sao nói niệm Phật không phải là Tu Thiền?
Đúng là đang tu Thiền ấy chứ, đă thế,
lại c̣n tu Thượng Thượng Thâm Diệu
Thiền, rất ít ai biết!
Chỉ (止) là ǵ? Là dứt vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước, khiến cho chúng ngừng
dứt. Trong giáo pháp Đại Thừa, Chỉ thường
được gọi là tam-muội, tâm địa vĩnh
viễn giữ chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh
giác, từ bi là Chỉ! Quán (觀) là cảnh giới bên ngoài rơ ràng, minh
bạch; trong - ngoài đều rơ ràng; trong là căn tánh
của sáu căn, ngoài là Pháp Tánh. Minh tâm kiến tánh! Minh tâm
là năng kiến, chân tâm; Kiến tánh: Không một pháp nào
chẳng do tánh biến hiện, “duy
tâm sở hiện, duy thức sở biến”, tâm
thức là Pháp Tánh. V́ thế, đạt đến cảnh
giới này, những cảnh giới mà sáu căn
đối ứng và tiếp xúc chỉ là Pháp Tánh mà thôi!
Giống như cổ đức thường ví von: “Dĩ kim tác khí, khí khí giai kim” (Dùng
vàng làm đồ vật, món nào cũng đều là vàng). Vàng
ṛng chế làm ngàn vạn món đồ vật, lấp lánh
chóa mắt để ḿnh đến ngắm nghía,
thưởng thức. Quư vị
nh́n xong, thấy chúng là ǵ? Chỉ
là hoàng kim mà
thôi!
Ngoài hoàng kim ra, không có ǵ khác hết.
V́ vậy, người thực sự
minh tâm kiến tánh thấy núi, sông, đại địa,
hư không, pháp giới, hết thảy chúng sanh, nếu quư
vị hỏi người ấy thấy ǵ ư? Những
ǵ họ thấy là một tánh; giống như những
thứ lấp lánh chóa mắt ta thấy toàn là vàng ṛng,
khắp tất cả là vàng ṛng! Trừ hoàng kim ra, không c̣n
có ǵ khác. Lúc kiến tánh, ngoại trừ Pháp Tánh ra, cái ǵ
cũng không có! Pháp Tánh là thanh tịnh, Pháp Tánh là b́nh
đẳng, Pháp Tánh không sanh diệt, Pháp Tánh không
đến đi: “Đương
xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (Sanh ra
từ nơi nào, diệt tận ngay nơi đó), “tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri
lượng” (tùy theo tâm chúng sanh, ứng theo khả
năng nhận biết của họ). Quư vị thấy mấy câu kinh Lăng Nghiêm
giảng rất rơ ràng. Chân tướng của vũ
trụ vạn hữu đấy! Phá mê khai ngộ rồi
sẽ ĺa khổ được vui, tất cả hết
thảy khổ đều chẳng có; chẳng bị
hết thảy khổ, đó chính là lạc!
Trong kinh Di Đà, đức Thế Tôn
cho biết v́ sao thế giới ấy gọi là Cực
Lạc? Đức Phật giảng rất hay, chúng sanh
trong thế giới ấy không có các nỗi khổ, không
phải chịu khổ, nên gọi là Cực Lạc. Thế
giới này của chúng ta khổ nhiều vui ít, vui cũng
là khổ, chẳng phải là chân lạc! V́ thế,
đức Phật nói Vui là Hoại Khổ, không khổ
không vui là Hành Khổ; nói cách khác, nỗi khổ bao trùm
mọi trạng huống cuộc sống của chúng sanh
trong thế giới Sa Bà. Bọn họ đang chịu
khổ, tam giới đều khổ. Thế giới
Cực Lạc không khổ, chẳng có Khổ Khổ,
Hoại Khổ, và Hành Khổ; v́ thế, gọi là Cực
Lạc. Chúng ta hiểu rơ, hiểu thông suốt, hiểu rành
rẽ ư nghĩa thô thiển ấy th́ sẽ chết ḷng
trọn ư niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,
đă thế, c̣n khuyên người khác. Bất cứ
chướng nạn nào cũng chẳng chướng
ngại quư vị được! V́ sao? Thực sự
hiểu rơ, hiểu minh bạch chân tướng của sự
thật. Danh Quang Phật là như vậy đó. Tiếp
theo là vị Phật:
Đạt Ma Phật.
達磨佛。
Đạt Ma (Dharma) là dịch âm
tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Pháp.
Chúng ta nói Phật - Pháp - Tăng: Phật Đà (Buddha),
Đạt Ma (Dharma), Tăng Già (Sangha) đều là dịch
âm tiếng Phạn, bởi thế, Đạt Ma
được dịch là Pháp, “biểu
thị đại pháp được truyền thừa từ
chính đức Phật”. Pháp môn ấy sâu rộng vô
tận, không pháp nào có thể sánh bằng. Quư vị học
đại pháp ấy từ đâu? Ta học từ
thầy, thầy là ai? Thầy là Thích Ca Mâu Ni Phật,
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đương nhiên, chúng
ta được thừa hưởng từ từng
đời tổ sư truyền xuống nên chúng ta mới
biết. Tuy là tổ sư dạy cho chúng ta, nhưng kinh
chúng ta đọc ở đây là do chính miệng Như Lai
nói ra, tổ sư đại đức lại giới thiệu
cho ḿnh. Chúng ta mở kinh ra chính là được truyền
thừa trực tiếp từ đức Phật.
Huống chi Thích Ca Mâu Ni Phật
trước khi nhập Niết Bàn dạy chúng ta Tứ Y
Pháp (bốn phép nương tựa). Phật không c̣n trong thế
gian, chúng ta phải nương tựa vào đâu? Đức
Phật rất từ bi, chỉ dạy chúng ta Tứ Y Pháp:
1) Thứ nhất là “y pháp, bất y nhân” (nương vào pháp, chứ
không nương theo người). Pháp là ǵ? Pháp là kinh
điển. Nương theo Pháp, Pháp do đức Phật
nói, trực tiếp nương theo lời Phật
giảng. Quư vị thấy đó, thực sự phi phàm! Chúng
ta là truyền nhân trực tiếp của Thích Ca Như Lai.
Đặc biệt là Tịnh Độ Tông, Tịnh
Độ Tông không có tổ sư, tổ sư Tịnh
Độ Tông do đâu mà có? Do người đời sau
đặc biệt tôn kính những vị tu Tịnh
Độ ấy, xưng tụng các Ngài là tổ sư.
Bởi thế, tổ sư Tịnh Độ Tông khác
với tổ sư các tông phái khác. Hết thảy tông phái
khác là một thầy truyền cho một tṛ, v́ thế có
nhiều đời. Tịnh Độ Tông không có, Tịnh
Độ Tông là dân tuyển, chẳng phải là một
người truyền cho một người: Sơ Tổ
không truyền cho Nhị Tổ, Nhị Tổ cũng
chẳng truyền cho Tam Tổ. Người đời sau
công nhận thành tựu của vị ấy: Đối
với sự tu tŕ Tịnh Độ, đối với
việc hoằng dương Tịnh Độ Tông, Ngài có
cống hiến đặc biệt thù thắng, bèn tôn Ngài
làm tổ sư. Bởi thế, cho đến nay, Tịnh
Độ Tông chỉ có mười ba đời, tức là
chỉ có mười ba vị. “Y
pháp bất y nhân”, trực tiếp truyền thừa.
Chúng ta trực tiếp truyền thừa
giáo huấn của Thích Ca Mâu Ni Phật, ba kinh một
luận của Tịnh Độ Tông, sau này, tổ sư
đại đức thêm vào hai loại, nay là năm kinh
một luận, đủ rồi, đó là trực tiếp
truyền thừa! Chúng ta phải hiểu ư nghĩa này, quả
thật trong Tịnh Độ Tông không có Tổ Sư
truyền cho nhau từng đời, chúng ta chớ hiểu
lầm. V́ sao? Mỗi một người tu Tịnh
Độ đều là trực tiếp truyền thừa,
thật chẳng thể nghĩ bàn! Ai nấy đều là
đệ tử Thích Ca Mâu Ni Phật, là đích truyền!
Bởi thế, pháp môn này được hết thảy chư
Phật khen ngợi, hết thảy Bồ Tát, thiện
thần ủng hộ, chẳng phải là không có lư! “Kham làm khuôn phép cho chúng sanh”,
được truyền thừa từ chính đức Phật,
kham làm khuôn phép cho chúng sanh, làm mô phạm cho hết thảy
chúng sanh, “tức là Tứ Y Pháp
trong nhà Phật vậy”. Chúng tôi cũng nêu Tứ Y Pháp ở
đây, “y pháp bất y nhân”.
2) Thứ hai, “y nghĩa bất y
ngữ” (nương theo nghĩa chứ không nương
theo lời nói). Hiện thời có rất nhiều
người phê b́nh bản hội tập, họ không
hiểu câu này trong pháp Tứ Y. Nếu hiểu
được câu này, vấn đề sẽ
được giải quyết ngay. Cốt sao ư nghĩa của
Phật minh bạch, lời lẽ nhiều thêm một câu
hay bớt đi một câu, nói sâu, nói cạn, nói dài, nói
ngắn cũng không ăn nhằm ǵ. Chỉ cần đúng
ư nghĩa là được rồi! Nêu ra pháp Tứ Y này,
đức Phật biết rơ ràng minh bạch rằng trong
tương lai kinh giáo lưu thông đến mười
phương, ngôn ngữ, văn tự tại mỗi
địa phương khác nhau, nhất định
phải thông qua phiên dịch. Phiên dịch rồi, những
bản dịch ấy có được đại chúng tin
tưởng hay không th́ dùng pháp Tứ Y này để luận.
Bản dịch không có vấn đề: Hễ ư nghĩa
đúng th́ ngôn ngữ bất đồng cũng không sao hết!
Ư nghĩa phải đúng! “Y
nghĩa bất y ngữ”.
Bản hội tập là [tập hợp
những ư quan trọng được] tuyển chọn
từ năm bản dịch gốc, chúng ta đem bản
hội tập đối chiếu với những bản
dịch gốc, không sai ư nghĩa, y nghĩa bất y
ngữ, chúng ta thấy tin tưởng được, có
thể sử dụng được. Nếu phản
đối tức là không hiểu Tứ Y Pháp. Nói thật
ra, hiện nay có rất nhiều người nghi hoặc những
bản phiên dịch không đáng tin, nhất định
phải dựa vào nguyên bản Phạn văn. Theo như
chúng tôi biết về kinh điển nguyên bản bằng
Phạn văn th́ lúc đức Phật c̣n tại thế,
không dùng văn tự để ghi chép. Sau khi đức
Phật diệt độ, ngài A Nan nhắc lại,
đại chúng ghi chép. Rốt cuộc là đáng tin
tưởng hay không? Nếu thực sự
t́m lấy bản rốt ráo tin tưởng
được, th́ không phải do người thân cận
Thích Ca Mâu Ni Phật ghi chép lại sẽ không
được. Từ miệng người này truyền
sang người khác, ai nấy đều hoài nghi, sẽ trở
thành vấn đề nghiêm trọng. Tất cả hết
thảy kinh, ngay cả nguyên bản Phạn văn cũng
bị phết mấy dấu hỏi, như vậy là quư
vị sẽ không đạt được lợi ích thù
thắng!
3) Thứ ba, “y
liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa”
(nương theo kinh liễu nghĩa, không nương vào
kinh không liễu nghĩa). Liễu nghĩa là ǵ? Bất
liễu nghĩa là ǵ? Ở đây, tôi chỉ ra nguyên
tắc cho quư vị: Liễu nghĩa, bất liễu
nghĩa mỗi người mỗi khác. Khế cơ và
khế lư th́ là liễu nghĩa; khế lư không khế cơ
là bất liễu nghĩa. Khế cơ mà không khế lư
cũng là bất liễu nghĩa. Liễu nghĩa nếu
giảng đến rốt ráo là nếu chúng ta nương
vào pháp môn này để tu học, trong một đời
chúng ta có thể khai ngộ, có thể chứng quả, có
thể vượt thoát lục đạo, vượt thoát
mười pháp giới, th́ đối với ta, pháp môn
ấy là liễu nghĩa! Rốt ráo liễu nghĩa th́
phải giúp cho chúng ta trong một đời này chứng
được Phật quả viên măn rốt ráo.
Đấy chính là liễu nghĩa bậc nhất trong các
liễu nghĩa. Ngàn kinh vạn luận bày trước
mặt quư vị, chính quư vị chọn lựa, pháp môn nào,
bộ kinh nào đối với chúng ta là rốt ráo liễu
nghĩa? Chính là bộ kinh nào, pháp môn nào mà chúng ta y theo đó,
trong một đời này sẽ chắc chắn thành
tựu Phật quả viên măn. Quư vị hăy suy nghĩ,
trừ kinh A Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ ra,
muốn trong một đời sẽ chứng đắc
Phật quả viên măn rốt ráo là chuyện không thể
được. Nói cách khác, kinh Di Đà và kinh Vô
Lượng Thọ là liễu nghĩa rốt ráo!
Kinh Di Đà từ xưa đến nay
có hai bản dịch, La Thập đại sư dịch ư,
đó chính là bản dịch chúng ta đang đọc
tụng. Bản dịch của ngài Huyền Trang là dịch
thẳng. Hai loại bản dịch như vậy. Nay chúng
tôi đều in cả hai bản dịch, quư vị có
thể tham khảo, có thể so sánh. Từ cổ
đến nay, tổ sư đại đức, rất
nhiều người học Phật đều chọn
lấy bản dịch của ngài La Thập, quả
thật đây là bản dịch hay. C̣n như kinh Vô
Lượng Thọ, từ mục lục Đại
Tạng Kinh, chúng ta thấy thời cổ kinh này
được phiên dịch đến mười hai
lần. Từ đời Hậu Hán đến Nam Tống,
trong ṿng tám trăm năm, tổng cộng mười hai
lần phiên dịch, nhưng có những bản đă
bị thất truyền, tức là có bảy bản trong
số ấy bị thất truyền, nay chỉ c̣n lưu
truyền năm bản, chúng ta gọi là “năm bản
dịch gốc”(ngũ chủng nguyên dịch).
Đối chiếu những bản
ấy thấy sự khác biệt rất lớn, v́ thế,
dựa trên t́nh h́nh này cổ đức nhận định:
Nhất định Thích Ca Mâu Ni Phật phải giảng
kinh Vô Lượng Thọ nhiều lần, chứ không phải
chỉ một lần. Nếu chỉ một lần, cùng
một bản gốc dẫu được nhiều
người dịch đến đâu đi nữa th́
chỉ đại đồng tiểu dị, không thể nào
sai biệt quá lớn như thế được! Rơ ràng
nhất là phần phát nguyện của A Di Đà Phật,
quư vị thấy đó, trong năm bản dịch, hai
bản ghi bốn mươi tám nguyện, hai bản ghi hai
mươi bốn nguyện, một bản ghi ba
mươi sáu nguyện, sai biệt rất lớn như
thế. Nếu chỉ là một bản gốc (tức
nguyên bản tiếng Phạn) th́ chẳng thể có dị
biệt lớn như vậy được. V́ vậy,
từ ba loại sai biệt ấy, cổ đức phán
đoán đương thời Thích Ca Mâu Ni Phật
giảng kinh Vô Lượng Thọ tối thiểu ba
lần. Chúng ta không được đọc những
bản thất truyền, nhưng nói chung kinh này phải được
giảng từ ba lần trở lên! Thích Ca Mâu Ni Phật
giảng kinh chưa bao giờ giảng trùng lặp, thế
nhưng kinh Vô Lượng Thọ lăo nhân gia giảng
tối thiểu ba lần, nên bộ kinh này rất đáng
được coi trọng!
Do vậy, hội tập là chuyện
cần thiết! Người hội tập sớm
nhất là ông Vương Long Thư, người
đời Tống. Bản hội tập của ông
Vương Long Thư mang tên Đại A Di Đà Kinh, đă
được lưu trong Càn Long Đại Tạng Kinh, tức
là đă nhập tạng rồi. Trong tác phẩm chú giải
A Di Đà Kinh là A Di Đà Kinh Sớ Sao, Liên Tŕ đại
sư có trích dẫn kinh Vô Lượng Thọ, quá nửa những
đoạn kinh Vô Lượng Thọ được Ngài
trích dẫn lấy từ bản hội tập của ông
Vương Long Thư. Do đây ta biết, bản hội tập
của ông Vương Long Thư đă được
tổ sư khẳng định! Tổ sư chẳng
trích dẫn từ bản dịch gốc mà dùng bản
hội tập là có lư. Nếu nay chúng ta hoài nghi bản
hội tập th́ là sai lầm quá sức, chính là không hiểu
được pháp Tứ Y!
4) Pháp cuối cùng trong Tứ Y Pháp là “y trí bất y thức”. Đây
chính là điều chúng ta hiện đang nói: Chẳng riêng
việc học Phật mà ngay cả trong xử sự,
đăi người, tiếp vật b́nh thường,
cũng phải dựa theo Lư Trí, chẳng được
làm việc theo t́nh cảm. Nay ta gọi Thức là “dùng
cảm t́nh để xử sự”. Xử sự theo
cảm xúc thường mắc sai lầm, quư vị
phải dựa vào Lư Trí, học Phật lại càng phải
làm như thế. Ở đây, đức Phật dạy chúng
ta: Phải dùng trí huệ để phán đoán, chọn
lựa, chẳng thể xử sự theo cảm t́nh.
Xử sự theo cảm t́nh sẽ tạo thành sai lầm.
Ở đây, chúng tôi có chú thích một câu
như sau: “Pháp sư Khuy Cơ
soạn Thông Tán Sớ để làm gương cho mạt
thế”. Làm gương như thế nào? Chính là “y trí bất y thức”. Khuy
Cơ đại sư là đồ đệ của
Huyền Trang đại sư, Ngài soạn Thông Tán Sớ
để chú giải kinh A Di Đà, nhưng không dùng bản
dịch của thầy ḿnh. Nói theo lẽ thường,
bản dịch của thầy ḿnh khá lắm, lẽ ra, ta
phải dùng bản dịch của thầy ḿnh để
soạn chú giải. Ngài lại không làm như vậy, mà dùng
bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, chẳng dùng
bản dịch của thầy ḿnh. Như vậy có
phải là bất kính đối với thầy hay
chăng? Không phải! Bản dịch của ngài La Thập
rất hay, đă được lưu truyền rộng
răi toàn quốc, cớ ǵ phải dùng bản dịch của
thầy ḿnh, rất ít người đọc đến
bản dịch ấy. Khi Ngài chú giải kinh này, dù là t́nh
thầy tṛ, vẫn chẳng thể nhiễu loạn sự
thấy nghe của người tu hành. Ngài chọn dùng
bản dịch của Cưu Ma La Thập, thầy Ngài là Huyền
Trang đại sư cũng không trách móc, không nói:
“Ngươi phản thầy nghịch đạo!” Không
hề có! Huyền Trang đại sư có nhă lượng
như vậy, Khuy Cơ đại sư làm như vậy khá
lắm. Đó chính là “y trí
bất y thức”, nương theo lư trí chứ không dùng
cảm t́nh. Thầy tṛ họ nêu gương cho chúng ta. Bây
giờ đă hết giờ rồi!
*
Xin xem tiếp vị Phật thứ
năm trong đoạn thứ sáu của phần
Mười Phương Phật.
Pháp Tràng Phật.
法幢佛。
“Biểu
thị v́ chúng sanh làm con mắt chọn lựa pháp, dựng
tràng pháp, lập tông chỉ, giáo hóa thịnh hành,
phước độ chúng sanh”. Đó là ư nghĩa của danh hiệu này. Tràng (dhvaja) là
một loại cờ xí, chúng ta thường nói là “tiêu chí” (biểu hiệu). Tràng
có h́nh tṛn, hơi giống b́nh nén khí ở phi trường,
hơi giống h́nh dạng ấy. Tại Trung Quốc và
Nhật Bản, chúng ta vẫn thường thấy
những cái tràng tại các tự viện lớn.
Thời cổ, khi chùa chiền giảng
kinh, thuyết pháp, nay chúng ta gọi là “lên lớp”, làm
thế nào để thông tri cho người khác biết mà
đến nghe, đến cùng học tập? Phật pháp
là đạo thầy tṛ, người Hoa hết sức coi
trọng và tôn kính thầy. Bởi vậy “chỉ văn lai học, vị văn văng giáo”
(chỉ nghe nói có kẻ tới xin học, chứ chưa
nghe nói thầy phải đi tới chỗ tṛ để
dạy). Học là cầu học, quư vị phải đến
chỗ thầy để cầu học, chứ thầy không
phải đến dạy cho ḿnh. Thầy hết sức
khiêm hư, trọn chẳng dám chèo kéo quư vị, nay ta nói
“chiêu sinh”, chứ xưa kia không dám bảo là chiêu sinh. Nói “chiêu
sinh” là rất cuồng vọng, anh có đức hạnh ǵ
mà dám dạy người khác, người càng đạo
đức lại càng khiêm hư. Làm cách nào đây? Bèn dùng
tràng phan, dùng phương pháp ấy để thông báo cho
mọi người biết: Bữa nay trong đạo tràng
của chúng tôi có giảng kinh, dạy học, chúng tôi treo
tràng trên cột cờ. Mọi người xa gần trông
thấy cột cờ của đạo tràng có treo cái tràng
h́nh tṛn, liền biết hôm nay pháp sư sẽ giảng kinh,
thuyết pháp, người thích nghe kinh sẽ tự
đến. V́ thế, không chiêu sinh, mà là thông tri, quư vị
thích th́ đến, không thích th́ thôi. Dùng phương pháp
ấy, hoàn toàn tự động, khiêm hư mà!
Trong thời đại hiện nay
lại khác hẳn, trong thời đại hiện tại
đă bước vào giai đoạn kỹ thuật cao,
chúng ta không dùng tràng nữa, v́ với khoảng cách rất
gần dùng tràng th́ được, chứ với khoảng
cách xa th́ không có hiệu quả. Nay chúng ta đem thời
gian, băng tần [của đài truyền h́nh hay đài phát
thanh] giảng kinh in ra như quảng cáo để giới
thiệu cùng hết thảy đại chúng, khiến cho
mọi người đều biết. Nếu quư vị
thích nghe kinh, thích nghe kinh ǵ, vào lúc nào, ở làn sóng nào th́
đến lúc đó quư vị tự mở lên, hoàn toàn có
cùng ư nghĩa với tràng phan.
V́ thế, giới thiệu cho
người khác nghe kinh, nay có thể không cần phải
gởi tặng kinh sách, băng thâu h́nh, băng thâu âm,
đều không cần đến nữa, tốt nhất
là in những tấm cạc (card), to bằng tấm danh
thiếp, in những thông tin [giảng kinh] trên đó,
tặng cho bạn bè thân thiết và người quen
biết. Họ thích nghe th́ dựa theo những thông tin đó,
vào lúc nào, trên làn sóng nào, họ đều có thể thâu
được, hoặc là nối vào Internet, hoặc là xem
truyền h́nh, truyền h́nh vệ tinh. Vậy là tốt!
Những việc ấy có cùng ư nghĩa như treo tràng phan,
giới thiệu người khác nghe kinh nghe pháp. Treo phan th́
quá nửa là pháp hội, thông tri nếu quư vị có thời
gian th́ đến cùng tu. Pháp hội cộng tu dùng phan; pháp
hội giảng kinh dùng tràng, gọi là “pháp tràng”.
Dạy học, giảng kinh là “v́ chúng sanh làm con mắt chọn
lựa pháp”, đặc biệt là đối với
kẻ sơ học, đúng là Phật pháp bảng lảng
như khói trên mặt biển, pháp môn nhiều như
thế, kinh điển ngần ấy, ta học pháp môn nào
đây? Pháp môn nào thích hợp cho ḿnh? Bởi thế, bản
thân pháp sư có kinh nghiệm tu hành và giảng dạy, có
thể giúp mọi người chọn lựa pháp môn, nêu ra
những phương pháp tu học cho người ấy
tham khảo. Đó là “làm con
mắt pháp”, giúp mọi người chọn lựa pháp
môn. Chuyện này cần phải có trí huệ, nhất là pháp
sư truyền pháp. Truyền pháp là giảng kinh, thuyết
pháp, truyền đạo, trong các tôn giáo khác thường
gọi là “nhà truyền giáo”. Người ấy nhất
định phải hiểu thực trạng xă hội, con
người thường suy nghĩ những ǵ? Nói năng
những ǵ? Làm những ǵ? Phải chú tâm quan sát! Có như
vậy quư vị mới dạy học, mới thuyết
pháp khế cơ, những ǵ quư vị đề xuất
đều khớp với những nhu cầu bức
thiết của người ta, có như vậy
người ta mới hoan hỷ, mới bằng ḷng
học tập.
Hiện tại xă hội động
loạn, nhu cầu bức thiết nhất của con
người là xă hội an định, thế giới ḥa
b́nh, con người đối xử ḥa thuận với
nhau, hợp tác cùng nhau, đấy chính là nhu cầu bức
thiết trong hiện tại. Khóa tŕnh dạy học
của chúng ta phải lấy những điều ấy
làm trung tâm, trọng điểm. Đối với mỗi
cá nhân, sự lợi - hại, được - mất
của người ấy quan trọng hơn bất
cứ ǵ khác. Những chuyện lợi - hại,
được - mất, nói chung, chẳng ngoài ba loại: Thứ
nhất là cầu giàu có, thăng quan, phát tài; thứ hai là
cầu trường thọ, mạnh khỏe, sống lâu. Những
điều ấy đều là nhu cầu bức thiết.
Từ hai nhu cầu này, chúng ta nêu ra khóa tŕnh thứ ba là trí
huệ, cầu trí huệ. V́ sao? Quư vị muốn thăng
quan, phát tài, muốn cầu sống lâu, khỏe mạnh, đều
cần phải có trí huệ, không có trí huệ sẽ chẳng
thể làm được!
Theo thứ tự của nền giáo
học nhà Phật, trí huệ được xếp vào hàng
đầu. Con người hiện thời xếp trí
huệ xuống cuối, cái họ mong muốn đầu
tiên là phát tài, kế tiếp là mạnh khỏe, sống lâu,
điên đảo như thế đó! Trong sự giáo
học và tu hành của Phật pháp, điều đầu
tiên là trí huệ, phải cầu trí huệ. Thứ hai là
mạnh khỏe sống lâu, phát tài là chuyện cuối cùng,
không đáng coi là quan trọng. Có trí huệ th́ vấn
đề nào chẳng thể giải quyết
được! V́ thế, từ đầu đến
cuối, sở cầu của Phật pháp là Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu nói theo cách bây
giờ th́ là “trí huệ viên măn rốt ráo”. Phật pháp là
phương pháp trí huệ, Phật học là học
vấn trí huệ, phá mê khai ngộ mà! Đó là Phật pháp.
Chữ Phật là tiếng Phạn, có nghĩa là trí huệ,
là giác ngộ; v́ thế, theo mặt chữ dịch ra th́
Phật pháp là phương pháp trí huệ, là phương
pháp giác ngộ. Quư vị mới thực sự có năng
lực, có trí huệ v́ hết thảy chúng sanh chọn lựa
phương pháp tốt nhất khiến cho họ học
được không khó khăn, lại c̣n đạt
được lợi ích thù thắng.
Câu thứ hai: “Dựng
pháp tràng, lập tông chỉ”. Nói như bây giờ, “dựng
pháp tràng” là tạo lập đạo tràng. Đạo tràng
trong hiện thời chẳng thể không tuân thủ lời
Ấn Quang đại sư dạy. Lăo nhân gia dạy chúng
ta, từ thế kỷ hai mươi trở đi,
đạo tràng theo quy mô nhỏ; thời đại đă
khác với thời quân chủ, xă hội nông nghiệp
trước kia. V́ thế, đạo tràng không thể
giống như trước được. Đạo
tràng hiện tại phải có quy mô nhỏ, tổ sư
dạy chúng ta: Chúng thường trụ lấy hai
mươi người làm giới hạn, chẳng
được vượt quá hai mươi người,
tự ḿnh lo liệu cuộc sống của chính ḿnh.
Đạo tràng quy mô nhỏ không cần phải hóa duyên,
người thực sự tu hành sẽ được cúng
dường, cuộc sống thanh bần một chút là
tốt. V́ sao? Cuộc sống thanh bần sẽ kích phát
đạo tâm, khiến cho quư vị chẳng lưu
luyến thế gian này, không tham ái, không lưu luyến, tâm
cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ sẽ
khẩn thiết.
Đạo tràng xây cho to, giàu có, choáng
lộn, nguy nga th́ con người không có đạo tâm. V́
sao? Khởi tham - sân - si, tham luyến hoàn cảnh ấy, không
muốn văng sanh, tâm phan duyên bèn sanh khởi, đều là
chướng đạo! Tổ sư suy nghĩ rất
hợp lư. Đạo tràng nhỏ, vài người chí
đồng đạo hợp cùng nhau tu hành, tốt quá!
Chẳng làm pháp hội, quyết định chẳng làm
kinh sám Phật sự, thuần túy là đạo tràng
niệm Phật. Tổ dạy không thâu đồ
đệ, không truyền giới, không làm pháp hội, ngay
cả kinh cũng không cần giảng, thật thà niệm
Phật. Công khóa mỗi ngày giống như Phật thất
thông thường, hai mươi người cùng tu một
chỗ. Nay chúng tôi quan sát t́nh h́nh xă
hội trong hiện tại, nhận thấy cách nghĩ
của tổ sư tuyệt đối chính xác; nhưng
trong t́nh h́nh xă hội hiện tại, phải nghe kinh! V́
sao? Không nghe kinh, quư vị sẽ không hiểu lư. Không
hiểu lư th́ niệm Phật là tu mù luyện đui! Trong
thời đại xưa kia th́ được, chứ
trong thời đại hiện thời chẳng
được! Chúng ta phải hiểu rơ t́nh trạng
hiện tại để tuân thủ nguyên tắc do tổ
sư đă chỉ dạy.
Hiện tại, cái đạo tràng
nhỏ này của chúng ta phải nghe kinh, một ngày tối
thiểu là nghe kinh hai giờ, có thể dùng thời gian c̣n
lại để niệm Phật. Mỗi ngày nghe kinh chớ
để gián đoạn! Nghe kinh không những khiến quư
vị hiểu rơ lư, mà mỗi ngày nghe giáo huấn của
Phật, sẽ kiên định tín nguyện của chính
ḿnh, hóa giải những phiền năo, vọng tưởng,
tập khí. Nghe kinh sẽ hóa giải [những thứ ấy]
dễ dàng, giải hạnh tương ứng. Nếu là
sơ học, phiền năo tập khí nặng nề, tốt
nhất là mỗi ngày nghe kinh bốn tiếng đồng
hồ, niệm Phật trong Niệm Phật
Đường mười hai tiếng đồng hồ.
Tu như vậy không ai chẳng thành công, thực sự
thực hành mà! Đạo tràng ấy chắc chắn
được chư Phật hộ niệm, long thiên
thiện thần ủng hộ.
C̣n như hoằng dương Phật
pháp, lợi ích chúng sanh th́ dùng Internet, dùng truyền h́nh
vệ tinh; v́ thế, trong đạo tràng nhỏ này lập
thêm một studio [để thâu phát những buổi giảng
kinh] là đủ. Đó là đối ngoại hoằng pháp.
Đối ngoại hoằng pháp tự nhiên có người,
bản thân chúng ta không cần bận tâm, chúng ta chỉ
cần đem bài giảng (tức là giảng kinh nội
bộ mỗi ngày hai hay bốn tiếng đồng hồ)
thâu âm hay thâu h́nh lại, có những tín đồ rất
nhiệt tâm, để cho họ truyền bá là
được rồi, chẳng cần phải bận tâm
chút nào. Tốt nhất là ít tiếp xúc ngoại cảnh,
càng ít càng tốt, tâm chúng ta an định. Đương
nhiên sẽ có những cư sĩ nhiệt tâm hộ tŕ
đạo tràng nhỏ ấy, chuyện lưu thông Phật
pháp để cho họ làm. Như vậy, thân tâm hoàn toàn yên
định, vậy là tốt! “Dựng
pháp tràng” chính là lập đạo tràng.
“Lập
tông chỉ”, tông chỉ là
cương lănh và phương châm tu hành. Như pháp sư Ấn
Quang đă dạy chúng ta chuyên tu Tịnh nghiệp,
đấy chính là “lập tông
chỉ”. Đạo tràng này của chúng ta chuyên tu
Tịnh tông, chẳng xen tạp các pháp môn khác, thuần túy
là tịnh nghiệp đạo tràng. Những kinh luận
được học tập ở đây chỉ là năm
kinh một luận, đó là khoa mục chủ tu, không
cần phải mở rộng ra bên ngoài. Nay chúng tôi kiến
lập học viện tại đây, học viện
đương nhiên phải bồi dưỡng nhân tài
hoằng pháp. Bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp
cũng dùng phương pháp ấy, giải và hạnh cùng
tiến. Theo lộ tŕnh, chúng ta cũng dùng phương pháp
này, thực sự làm!
Thế nhưng, trong xă hội hiện
tại, mỗi cá nhân đều chăm chút cái thân của
chính ḿnh, tự tư tự lợi, thậm chí vong ân
phụ nghĩa, không có tâm từ bi, không có sự lễ kính
chư Phật như trong mười nguyện Phổ
Hiền, không có tâm lễ kính. Nhằm báo ân thí chủ, chúng
tôi cũng mở lớp Phật học ngắn hạn.
Một năm bốn quư chúng tôi mở
bốn lần, mỗi khóa học ngắn hạn kéo dài
bảy mươi ngày, tức mười Phật thất
để các đồng học chúng ta có cơ
hội luyện tập giảng kinh, dạy học;
đồng thời để cho các thí chủ đàn-việt
hộ tŕ có thể trông thấy thành tích tu học của
chúng ta tại nơi đây. Chúng ta phải dùng thành tích để
báo đáp ân thí chủ, khiến cho họ cùng sống
với chúng ta hai tháng, đến xem thành quả giải
hạnh của chúng ta có đáng cho họ tiếp tục
hộ tŕ hay không. Nếu sau khi xem xét, họ rất không
vừa ư, từ đó về sau họ không đến
hộ tŕ nữa, như vậy là chánh xác, là đúng. Tông
chỉ phải rơ ràng.
“Giáo hóa thịnh
hành”, ở đây quư vị
làm tốt, chỗ khác có người phỏng theo, mong
rằng đạo tràng quy mô nhỏ thực sự tu Tịnh
nghiệp này các nơi đều có. Đều có những
vị pháp sư hoặc là trưởng giả, cư
sĩ tốt đẹp đến lănh đạo. Số người
quả thật không cần nhiều, đấy mới là “phước độ chúng sanh”.
Vị Phật cuối cùng là:
Tŕ Pháp Phật.
持法佛。
Đây là vị Phật thứ
sáu, Tŕ Pháp, “biểu thị
tự - tha y giáo tu hành thật chứng, Phật pháp từ
đầu đến cuối coi trọng thực tiễn”.
“Tŕ” là ǵn giữ, là thọ
tŕ. Chúng ta tiếp nhận lời giáo huấn của
Như Lai, vĩnh viễn ǵn giữ, y giáo phụng hành,
đó là Tŕ Pháp. Ở đây, đức Phật làm gương
cho chúng ta. Chúng ta mong mỏi hết thảy chúng sanh có duyên
cùng Phật, đều có thể “thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác diễn
nói”. Y giáo phụng hành th́ chính ḿnh phải tự làm
trước, tự ḿnh không làm được lại mong
người khác làm th́ đó là chuyện không thể
được! Chư Phật Như Lai, tổ sư
đại đức, thậm chí bậc thánh hiền, quân
tử trong thế gian trong thời cổ đều là
tự ḿnh làm được rồi mới khuyên
người khác, sau đó mới dạy dỗ
người khác. Đó là tŕnh tự nhất định, tự
ḿnh phải làm trước, tự ḿnh đạt
được lợi ích, bất luận tư
tưởng, kiến giải, ngôn hạnh đều không
do dự, không hoài nghi, v́ sao? Tự ḿnh làm được là
đă trải qua thực chứng: Pháp môn này không sai, tôi thực
sự hưởng lợi ích; khi ấy khuyên người,
người ta mới tin.
Như vậy, hoằng pháp có
hai giai đoạn: Trước hết, để
khuyến cáo mọi người th́ chính ḿnh phải có
đức hạnh, phải có tiếng tăm, rồi
mới giáo hóa chúng sanh. Đến khi nào khuyên dạy
trở thành chỉ dạy? Trong phần trên chúng tôi đă
nói rồi, phải là Thượng Tọa mới có tư
cách giáo hóa chúng sanh. Chúng tôi dùng thí dụ giảng kinh
để luận về Thượng Tọa: Quư vị
phải lên đài giảng kinh trọn ba mươi năm.
Mười năm là Hạ Tọa, hai mươi năm là
Trung Tọa, ba mươi năm là Thượng Tọa. Nói
cách khác, chưa đủ ba mươi năm th́ chỉ
khuyên dạy. Đủ ba mươi năm th́ đại
khái niên kỷ của chính ḿnh cũng không chênh lệch mấy.
Hai mươi tuổi ra giảng kinh, giảng đến
ba mươi năm là năm mươi tuổi. Xưa kia,
người ta thấy người như vậy bèn
gọi là “lăo pháp sư” v́ đă năm mươi tuổi
rồi, bởi thế, lúc đó có thể chỉ dạy.
Đều là chính bản thân phải làm trước. Quư
vị muốn dạy người khác, mà chính ḿnh không làm,
làm sao dạy được ai?
Có lần, tôi qua Đài Loan,
dẫu thời gian chỉ vỏn vẹn năm ngày, tôi
được gặp gỡ nhiều đồng tu. Có vài
vị đồng tu bảo tôi: Chúng con ở nhà dạy con
cái, con c̣n nhỏ dạy chúng đọc sách Đệ
Tử Quy. Trẻ nhỏ đọc xong, hỏi cha mẹ: “Ba
má chưa làm được như vậy!” Ba má chúng nó không
biết nói sao, [trẻ nhỏ bắt bẻ]: “Ba má chưa
làm được, sao kêu con làm?” Giáo dục thời cổ,
cha mẹ thực sự làm được, kêu con học
tập, con cái ngoan ngoăn học, không nghi ngờ ǵ. Nay khó
lắm! V́ sao? Làm thân cha mẹ, lúc nhỏ không có người
dạy, nay mới thấy những điều [dạy
trong sách Đệ Tử Quy] tốt đẹp, muốn
dạy con cái của chính ḿnh, nhưng tự ḿnh chưa thể
làm được, tự ḿnh không thể lấy thân ḿnh làm
gương, giáo dục gia đ́nh thật chẳng dễ! Muốn
dạy con cái phải lấy chính thân ḿnh làm gương.
Trường học cũng thế, thầy dạy học
tṛ, thầy phải lấy chính thân ḿnh làm gương th́
mới dạy tốt được. Nếu chính ḿnh
chẳng thể làm gương, làm sao dạy học sinh cho
được?
Cùng một đạo lư đó,
người lănh đạo quốc gia, xă hội, nếu
chẳng thể dùng thân ḿnh làm gương, làm sao quư vị
giáo hóa toàn dân trong nước? Làm sao giáo hóa dân trong cả
một thành phố? Quư vị làm thị trưởng,
tức là làm vua, làm cha mẹ, làm thầy! Quư vị phải
là tấm gương tốt nhất cho đô thị, cho
khu vực, cho quốc gia ấy. Trước kia, quả
thật là như vậy. Nếu quư vị là người
lănh đạo một nước mà vua không ra vua (vua là
người lănh đạo một nước), chẳng
giống như một người lănh đạo quốc
gia, nhân dân sẽ bị khổ. Nhân dân bị khổ sẽ
không cam ḷng, sẽ lật đổ chánh quyền, sẽ
làm cách mạng.
Do vậy, trước kia, khi giảng
kinh ở Tân Gia Ba, lúc ấy tôi vẫn chưa ở lâu dài
tại Tân Gia Ba, mỗi năm qua đó một tháng,
giảng kinh một tháng. Pháp sư Diễn Bồi
đối với tôi hết sức tốt, có lần Ngài
mời tôi dùng cơm tại đạo tràng của Ngài,
hỏi tôi một câu:
- Pháp sưTịnh Không ! Ông tán thành quân
chủ hay tán thành dân chủ?
Tôi thưa:
- Tôi tán thành quân chủ.
Ngài hỏi:
- Tại sao?
Tôi nói:
- Quân chủ tốt hơn dân chủ.
Ngài nói:
- Đầu óc ông cổ hủ quá, không
hợp thời!
Tôi nói:
- Tôi không bận tâm hợp thời hay
không hợp thời, tôi chỉ dùng sự luận sự: Điểm
tốt của quân chủ là ǵ? Đế vương
muốn đời này truyền cho đời kia, muốn
con cháu đều làm hoàng đế, điều ấy
dẫu là có ḷng riêng tư, nhưng chỉ cần
đối xử tốt với nhân dân là được
rồi! V́ thế, vua phải bồi dưỡng những
người kế vị đất nước, thực
sự dụng tâm! Mời những vị học giả
đức cao trọng vọng bậc nhất trong toàn
quốc, phẩm đức, học vấn, tài nghệ
đều bậc nhất làm thầy dạy thái tử,
vương tử. Đấy đều là những
người thừa kế quốc gia xă hội trong
tương lai, bọn họ phải hưởng sự
giáo dục tốt nhất. Bởi thế, khi họ
nối ngôi chẳng đến nỗi đại loạn v́
nhận sự giáo dục của thánh hiền, đọc
sách hiểu lư! Nếu họ không tuân thủ giáo huấn
của thánh hiền, không tuân thủ pháp tắc tổ tông
đă lập, [tuân theo] điển chế và pháp lệnh do
tổ tông đă lập, họ muốn phá hoại, không tuân
thủ sẽ khó thể giữ nổi chánh quyền,
sẽ bị người khác nổi lên lật đổ,
thay đổi triều đại. V́ thế, kẻ làm
đế vương chẳng thể không lo lắng, dè
dặt th́ mới ḥng giữ được ngôi.
Những hoàng đế cuối cùng, nói
trắng ra, là kẻ trái nghịch lời thầy giáo
huấn, trái nghịch lời cha mẹ răn dạy.
Đến khi họ nắm quyền, làm xằng, làm
bậy, tham cầu hưởng thụ, mặc kệ nhân
dân sống chết, lập tức bị người ta lật
đổ! Chúng ta có thể thấy những chuyện này
từ lịch sử Trung Quốc. C̣n những người
lănh đạo do dân bầu lên có phải là người
được hưởng sự giáo dục tối
hảo hay không, rất khó nói! Họ có phải là
người có trách nhiệm, thực sự thương yêu
trăm họ, quan tâm trăm họ, v́ trăm họ
giải trừ khổ nạn, khiến cho trăm họ
được thực sự hưởng hạnh phúc
mỹ măn, rất khó xác định! V́ sao? Nhiệm kỳ
hữu hạn, nói thật ra, cảm giác trách nhiệm không
bằng đế vương.
Quư vị hăy khéo chú tâm, chú ư quan sát,
thể hội: Dẫu chế độ quân chủ có
khuyết điểm, nhưng so với chế độ
dân chủ th́ ít khuyết điểm hơn. Nói trên
phương diện giáo dục, thời đại quân
chủ hết sức coi trọng giáo dục. Rất
nhiều chế độ hết sức tốt, ngăn
ngừa những cái nhỏ nhặt, chấm dứt
những cái sẽ lần lần xảy ra. Quư vị
thấy trong lịch sử Trung Quốc, bậc đế
vương thực sự có trách nhiệm rất nhiều,
kẻ không trách nhiệm cực ít. Ai vậy? Những vua
chúa cuối trào. Những vua chúa mất nước là
kẻ vô trách nhiệm, bởi thế, họ bị kẻ
khác diệt trừ rất nhanh. Quư vị phải nh́n vào
những vị vua mở nước, đừng nh́n vào
những vua cuối trào; nh́n vào những vị vua khai
quốc, nh́n vào những thời kỳ triều đại
cường thịnh, sẽ thấy khác hẳn.
Tu học, giáo học Phật pháp, từ
đầu đến cuối coi trọng thực tiễn
nhất; bởi thế, Phật pháp trọng thực
chất chứ không trọng h́nh thức. H́nh thức là
nhằm để giáo hóa chúng sanh, đương nhiên
cũng rất quan trọng, nhưng quan trọng nhất
lại chính là thực chất. Nếu quư vị không
thật tu, chỉ tu h́nh thức th́ h́nh thức chẳng
thể lợi ích xă hội, chẳng thể lợi ích chúng
sanh, nhất định phải chân tu! Chân tu chính là phải
y giáo phụng hành! Trong những khóa giảng, chúng tôi
thường khuyến khích, cổ vũ các đồng
học: Người chân tu phải buông xuống những
thành kiến của chính ḿnh, buông xuống vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước của chính
ḿnh, phải tùy thuận những điều được
giảng dạy trong kinh luận. Kinh luận chính là giáo
huấn của Phật, Bồ Tát, phải hoàn toàn thực
hiện những giáo huấn trong kinh luận, biến chúng
thành hành vi sinh hoạt của chính ḿnh trong thực tế,
đó gọi là chân tu!
Vừa khởi lên một ư niệm,
phải nghĩ trong kinh giáo đức Phật có chấp
thuận ư niệm ấy hay không. Ư niệm được
Phật hứa khả chắc chắn là thiện niệm,
nhất định lợi ích chúng sanh, lợi ích xă
hội, ư niệm ấy tốt. Nếu đức Phật
không hứa khả th́ ư niệm ấy nhất định
là tự tư, tự lợi, nhất định là
tổn người, lợi ḿnh. Chẳng được
khởi ư niệm “tổn người, lợi ḿnh”, v́ đó
là tạo nghiệp. Thực sự dốc công phu nơi
khởi tâm động niệm, đó là tu từ căn
bản. Ngôn ngữ, tạo tác thời thời khắc
khắc đều phải nghĩ đến những ǵ
kinh luận đă giáo huấn. V́ sao phải dạy quư
vị thực hiện khóa sáng và khóa tối?
Về thực chất, dụng ư của
khóa sáng là nhằm cảnh tỉnh chính ḿnh, ngày hôm nay ḿnh
phải tuân thủ lời Phật, Bồ Tát giáo huấn,
không được trái nghịch. Khóa tối để
phản tỉnh, lúc ấy phải nghiêm túc phản tỉnh
những tư tưởng, kiến giải, ngôn hạnh
của chính ḿnh trong ngày hôm nay có trái nghịch giáo huấn
của Phật, Bồ Tát hay không? Hễ có trái nghịch
phải gấp sám hối, phải sửa lỗi, ngày mai
chẳng dám trái phạm nữa. Những tư
tưởng, hành vi hoàn toàn tương ứng giáo huấn
của Phật, Bồ Tát th́ ngày mai phải tiếp tục
giữ ǵn, đừng để mất đi. Đó là thực
sự thực hiện công khóa sáng tối, đấy
mới là chân chánh tu hành! Khóa tụng sáng tối không
phải là h́nh thức, đọc cho Phật, Bồ Tát nghe;
Phật, Bồ Tát không cần nghe! Chính là niệm cho tự
ḿnh nghe đấy! Phải hiểu đạo lư mà Tŕ Pháp
Phật đă dạy cho chúng ta ở đây. Lại xem
tiếp thượng phương Phật, chúng tôi đọc
kinh văn một lượt:
Xá Lợi Phất! Thượng phương
thế giới hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương
Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang
Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc
Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thụ Vương
Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất
Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật.
舍利弗。上方世界有梵音佛。宿王佛。香上佛。香光佛。大燄肩佛。雜色寶華嚴身佛。娑羅樹王佛。寶華德佛。見一切義佛。如須彌山佛。
(Xá
Lợi Phất! Thế giới phương trên
có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật,
Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật,
Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa
Nghiêm Thân Phật, Sa La Thụ Vương Phật, Bảo
Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa
Phật, Như Tu Di Sơn Phật).
Ở phương trên, đức
Thế Tôn nêu tên mười vị Phật. Trong phần
trên, ở phương Tây chúng ta thấy kể tên bảy
vị Phật, con số Bảy biểu thị viên măn, con
số Mười cũng biểu thị sự viên măn; kinh
Hoa Nghiêm dùng số Mười để biểu pháp. Ở
chỗ này, trong bút kư[5]
ghi: “Phương trên nêu đại
lược mười danh hiệu Phật, biểu
thị giác hạnh viên măn, một đời thành Phật”.
Mọi thứ đều biểu thị pháp môn này.
Đoạn kinh văn này có ư nghĩa rất sâu, nhà Phật
gọi là “mật nghĩa”.
Mật ở đây không phải là bí mật, mà có nghĩa
là ư nghĩa sâu kín, rất sâu. Những đồng học chúng
ta học Đại Thừa hăy nên thấu hiểu! Ư
nghĩa ấy thực sự rất rơ ràng giống như
kinh Hoa Nghiêm vậy, chẳng khác ǵ cả! Nhằm biểu
thị ư nghĩa ấy! Nếu quư vị chú tâm quan sát danh
hiệu mười vị Phật này, thấu hiểu
những danh hiệu ấy th́ ư nghĩa của những danh
hiệu ấy lại càng rành rành.
Chúng ta hăy xem vị Phật đầu
tiên, Phạm Âm Phật. “Phạm”
(梵) nghĩa là
thanh tịnh, “Âm” là âm thanh.
Đây chính là chư Phật thị hiện giáo hóa chúng sanh
trong thế giới Sa Bà này. Chúng sanh trong thế giới Sa
Bà căn tai nhạy bén nhất. Văn Thù Bồ Tát v́ chúng
ta chọn lựa pháp viên thông, [đă nói]: “Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại
âm văn” (Giáo thể thực sự của phương
này, thanh tịnh nơi nghe tiếng). Giúp đỡ hết
thảy chúng sanh bằng phương cách nào? Bằng
dạy dỗ, bằng thuyết pháp. Âm thanh ấy là âm thanh
thanh tịnh, từ chỗ nào mà thấy là thanh tịnh? “Xả Tứ Tướng, Tứ
Kiến, thuyết pháp thanh tịnh, không nhiễm
trước”. Đấy là chân chánh phát tâm giống
như chư Phật, Bồ Tát, đến trong thế
giới này, thừa nguyện tái lai. Lúc chúng ta đến
đây là phàm phu, mê hoặc, điên đảo, nhưng sau
hai mươi, ba mươi năm học tập, un
đúc, cũng có thể chuyển phàm thành thánh.
Người thượng căn th́ mười
năm là chuyển được, chuyển phàm thành thánh, thực
sự làm được! Bắt đầu từ đâu? Kinh
Kim Cang dạy: Phá Tứ Tướng, phá Tứ Kiến.
Tứ Tướng là ngă tướng, nhân tướng, chúng
sanh tướng, thọ giả tướng. Tứ
Kiến chính là điều được nửa phần
sau kinh Kim Cang nói đến, tức Ngă Kiến, Nhân Kiến,
Chúng Sanh Kiến, Thọ Giả Kiến. V́ thế, chúng tôi thường khuyên lơn đồng
học: Chúng ta tu hành phải dốc công nơi đâu? Phá
Tứ Tướng! Phá Tứ Tướng bằng cách nào? Buông
tự tư tự lợi xuống, buông danh văn, lợi
dưỡng xuống, buông ngũ dục, lục trần
xuống, buông tham - sân - si - mạn xuống, đó chính là
phương pháp thực tế để phá Tứ Tướng.
Trong sinh hoạt thường nhật hằng ngày
phải làm như vậy, nghiêm túc thực hiện,
người căn tánh thượng đẳng th́
mười năm sẽ chuyển phàm thành thánh. V́ sao?
Tứ Tướng, Tứ Kiến đă phá rồi, trong
Đại Thừa, quư vị tối thiểu là bậc
Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín của Viên
Giáo; trong Tiểu Thừa phải là quả Tu Đà Hoàn, thực
sự thành tựu. Đó là bậc thượng căn.
Trung căn th́ hai mươi năm, hạ căn ba
mươi năm sẽ chuyển phàm thành thánh.
Lúc ấy, quư vị thuyết pháp
đương nhiên thanh tịnh, vô ngă mà! Khởi tâm
động niệm đều v́ hết thảy chúng sanh,
họ được lợi ích chứ không phải ḿnh
lợi ích, niệm niệm xả kỷ v́ người khác,
không nhiễm trước mảy may. Nhiễm trước
là ǵ? Tự tư tự lợi là nhiễm trước, [nếu
thấy] chúng ta có chỗ nào tốt đẹp hả?
Nhiễm trước mất rồi! Không có ta đâu nhé!
Bởi thế, lúc chúng ta đến
đây, tức lúc chúng ta đến đầu thai trong
thế giới này là do nghiệp lực mà đến. Học
Phật rồi sẽ chuyển nghiệp lực thành
nguyện lực. Cái thân nghiệp lực đă chết, cái
thân hiện tại là thân nguyện lực. Thân nguyện
lực [của chúng ta] không khác ǵ chư Phật, Bồ Tát
thừa nguyện tái lai. Nay sống trong thế gian này là v́
hết thảy chúng sanh khổ nạn, chẳng phải v́
tự ḿnh. Nếu v́ ḿnh th́ sẽ văng sanh bất cứ lúc
nào, chuyện của chính ḿnh đă làm xong rồi. Kinh
luận thường nói: “Sở
tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu” (Việc
làm đă xong, không c̣n phải chịu lấy thân sau), “bất thọ hậu hữu”
là vĩnh viễn không bị đọa trong luân hồi,
công việc của chính ḿnh đă giải quyết ổn
thỏa. Thân thể này vẫn trụ trong thế gian
để làm ǵ? Há chẳng phải rất bất tịnh,
rất kém minh bạch ư? V́ chúng sanh, v́ Phật pháp, v́ chánh
pháp tồn tại lâu dài, v́ rộng độ chúng sanh, v́
những lẽ như vậy chứ nào phải v́ chính ḿnh;
thực sự chuyển được rồi! Hễ c̣n
tự tư tự lợi là chưa chuyển
được. Phải hiểu cho rơ ràng, minh bạch
điều này. Bây giờ hết giờ rồi!
Tập
33
Xin xem tiếp danh hiệu
của vị Phật thứ hai trong mười
đức Phật ở thượng phương thế
giới.
Tú Vương Phật.
宿王佛。
“Biểu
thị pháp của Đại Thừa Bồ Tát là
đường tắt vô thượng đạo”. Tú (宿) là tinh tú, “tú
vương” (vua của các tinh tú) nghĩa là tinh tú
lớn nhất trong các ngôi sao. Đấy đều là y
theo pháp thế gian để luận, hoàn toàn là dựa trên điều
mắt chúng ta thấy được, theo cảm quan chúng
ta th́ nó lớn nhất. Lớn nhất trong những ngôi sao
trên trời là mặt trăng (theo con mắt chúng ta nh́n),
không ngôi sao nào lớn bằng mặt trăng cả! Trên
thực tế, mặt trăng có phải là ngôi sao lớn
nhất hay không? Chuyện ấy chúng tôi không bàn đến,
chỉ nói theo cảm quan của chúng ta mà thôi. Nay chúng ta
ngẩng đầu nh́n hư không, thấy mặt trăng
lớn nhất. Điều đó tượng trưng cho
Đại Thừa Bồ Tát đạo, Đại
Thừa Bồ Tát đạo cũng thù thắng bất
đồng. Đương nhiên, Đại Thừa
nhất định phải vượt trội Tiểu
Thừa. Nếu so trong các pháp Đại Thừa th́ sẽ
có pháp là đường tắt, dễ dàng thành tựu. Do
đó, nói pháp môn có khó, dễ. Đường tắt là
đường gần. Tiểu Thừa xa xôi, quanh co,
chẳng thể thành Vô Thượng Bồ Đề. So giữa
Tiểu Thừa với Đại Thừa th́ Đại
Thừa là đường gần; Tiểu Thừa
giống các ngôi sao, Đại Thừa giống mặt
trăng, quang minh đương nhiên sáng hơn nhiều,
dùng ư nghĩa đó.
Thế nhưng chúng ta nhất
định phải hiểu: Cả mười Phật
hiệu này đều biểu thị Phật pháp viên măn.
Quư vị thấy đó, đức Phật đầu tiên
là Phạm Âm Phật; nói cách khác, bất luận Đại
Thừa hay Tiểu Thừa, Hiển Giáo hay Mật Giáo, Tông
Môn hay Giáo Hạ, âm thanh thuyết pháp đều là phạm
âm. V́ sao? Tiểu Thừa Sơ Quả phá Tứ
Tướng, không chấp tướng nữa; nói cách khác,
vô ngă, không v́ ḿnh là sự chứng đắc của Sơ
Quả. Đấy là nhập vào hàng thánh nhân, dự vào ḍng Thánh,
không c̣n là phàm phu nữa. Nói cách khác, phàm phu chẳng rời
khỏi tự tư tự lợi, vẫn chưa quên Ngă!
Niệm niệm đều là niệm tham chấp, không quên
Ngă được! Tiểu Thừa Sơ Quả đă quên
Ngă, vô ngă, là bậc thánh nhân, phàm và thánh sai biệt ở
chỗ này. Nói cách khác, “hữu
ngă” là phàm phu, “vô ngă” là
thánh nhân, phân biệt đơn giản như vậy. Phàm và
thánh sai khác ở chỗ này!
Lục đạo phàm phu lên đến
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, chưa phá Tứ
Tướng; bởi thế, chẳng thể
sánh bằng Tiểu Thừa Tu Đà Hoàn. Bồ Tát thuộc
địa vị Sơ Tín của Viên Giáo mới thực
sự thanh tịnh, không nhiễm trước. Đấy
chính là căn bản của việc học tập Phật
pháp. Phạm Âm Phật tượng trưng cho sự
tự hành hóa tha, không ǵ chẳng thanh tịnh, không nhiễm
trước. Tú Vương Phật tượng trưng cho
Đại Thừa, Đại Thừa là
đường tắt vô thượng đạo, là con
đường gần. Phật hiệu thứ ba là:
Hương Thượng
Phật.
香上佛。
“Biểu
thị hạnh pháp mà Lục Tổ Thiền Tông đă
dạy trong chương Truyền Hương Sám Hối, là
đường tắt nhất trong các đường
tắt”. V́ sao dùng chữ Hương Thượng? Trong
Lục Tổ Đàn Kinh có phẩm Truyền Hương Sám
Hối, hương được giảng trong phẩm
ấy là Ngũ Phần Pháp Thân Hương: Giới
Hương, Định Hương, Huệ Hương,
Giải Thoát Hương, và Giải Thoát Tri Kiến
Hương, năm phần Pháp Thân Hương. Như
vậy, Hương Thượng Phật tượng trưng
cho Thiền Tông. Trong Đại Thừa, Thiền Tông
lại là đường tắt của Đại
Thừa, cho nên là “đường
tắt nhất trong các đường tắt”.
Đường đă gần lại c̣n có đường
gần hơn! Nói cách khác, chọn lựa pháp môn cho chúng ta,
pháp môn nào tốt? Đại Thừa hay hơn Tiểu Thừa,
nhưng Thiền Tông lại thù thắng nhất trong
Đại Thừa. Xin xem tiếp vị Phật thứ
tư:
Hương Quang Phật.
香光佛。
“Biểu
thị pháp môn Niệm Phật của Tịnh Tông”. V́ sao
nói Hương Quang đại diện cho pháp môn này? Trong
kinh Lăng Nghiêm có nói Hương Quang Trang Nghiêm; v́ thế,
khi thấy hai chữ Hương Quang, quư vị phải
biết nó tượng trưng cho Tịnh Độ Tông. Chúng
tôi thấy cũng có lúc các chùa miếu dùng chữ
Hương Quang làm tên, như Hương Quang Tự,
Hương Quang Đường, Hương Quang Thất,
Hương Quang Trang Nghiêm. Chỉ cần thấy chữ
Hương Quang th́ nơi ấy nhất định
phải tu Tịnh Độ. Đó là từ kinh Lăng
Nghiêm mà có, tu Tịnh Độ [th́ dùng chữ ấy
vậy]. “Kinh Lăng Nghiêm nói
Hương Quang Trang Nghiêm là đường càng tắt
hơn nữa trong những con đường tắt
nhất”. Thiền Tông là đường tắt nhất
trong các đường tắt, Tịnh Độ lại
là con đường tắt hơn con đường
tắt nhất ấy. Nói cách khác, nó là con đường
gần nhất trong những con đường rất
gần, thẳng chóng nhất, ổn thỏa nhất, thích
đáng nhất, dễ dàng nhất, đơn giản
nhất; thành tựu lại thù thắng khôn sánh. Bởi
thế, pháp môn Tịnh Độ cũng gọi là
đường tắt hơn con đường tắt
nhất trong các đường tắt, ư nghĩa là ở
chỗ này.
Quư vị thấy ở đây,
danh hiệu Phật nhằm ngầm dạy chúng ta chọn
lựa như thế nào. Ba danh hiệu Phật này rất
có ư vị, chúng ta phải chọn lựa pháp môn nào?
Chọn pháp Đại Thừa, Thiền Tông hay Tịnh Tông?
Thiền Tông khó hơn Tịnh Độ. Cổ đức
nói pháp môn Tịnh Độ “vạn
tu, vạn nhân khứ” (vạn người tu, vạn
người về); chẳng sót một ai. Thế nhưng
tu học pháp môn này nhất định phải hiểu
đạo lư, phương pháp, cảnh giới; kinh
điển Tịnh Tông chỉ nhằm giảng giải ba
chuyện trên. Chúng ta hiểu đạo lư Tịnh
Độ, biết phương pháp tu học Tịnh
Độ, biết cảnh giới quả báo Tịnh
Độ thù thắng khôn sánh, rơ ràng, rành rẽ, chẳng tu
mù, luyện đui. Lại xem tiếp vị Phật
thứ năm:
Đại Diệm Kiên Phật.
大燄肩佛。
Ở phần trên, chúng ta đă
thấy có Diệm Kiên Phật, ở đây là Đại
Diệm Kiên Phật. Vị Phật này biểu thị ư
nghĩa: “Trao pháp tối
thượng một đời thành Phật cho con người”.
Chúng ta muốn giúp đỡ người khác, chẳng
được tiếc pháp, phải giới thiệu pháp
môn vô thượng cho người khác, khiến họ trong
một đời này sẽ thành tựu viên măn Phật
Quả. “Do vậy, tổ
sư của Tịnh Tông được tôn xưng là
đại sư”. Danh xưng “đại sư” dùng để tôn xưng
đức Phật, trong nhà Phật chỉ có chư
Phật Như Lai mới được xưng là “đại sư”. Quư vị
thấy Bồ Tát, Đẳng Giác Bồ Tát, ta gọi Quán
Âm Bồ Tát là Quán Âm đại sĩ, không gọi là
đại sư, v́ sao? Ngài không phải là Phật, chẳng
thể không hiểu điều này.
Chúng ta là phàm phu, là hạng
xuất gia tầm thường, nếu xưng “đại
sư” là hết sức quá phận. Người khác gọi
ḿnh là đại sư c̣n tạm chấp nhận
được, chứ chính ḿnh quyết định
chẳng được tự xưng, không có lẽ ấy
đâu! Tổ sư Tịnh Tông cũng chẳng tự
xưng là đại sư, mà do hậu nhân xưng tụng.
Lúc các Ngài c̣n tại thế, như Ấn Quang đại
sư lúc c̣n sống, quư vị thấy những bộ
Văn Sao được lưu thông trước kia
nhằm lúc tổ sư c̣n sống, mang tựa đề
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, không phải là đại
sư mà là Pháp Sư Văn Sao. Sau khi lăo nhân gia viên tịch,
văng sanh rồi, hậu nhân tôn Ngài làm vị Tổ thứ
mười ba của Tịnh Tông, nên mới gọi là
đại sư. Lúc Ngài c̣n sống, không ai gọi Ngài là
đại sư cả; tự Ngài cũng chẳng dám
xưng là đại sư, do hậu nhân xưng tụng mà
thôi!
Trong lịch sử, mọi
người gọi các vị tổ sư Tịnh
Độ Tông là đại sư, v́ sao? Là do pháp môn này. Các
vị dùng pháp môn này tiếp dẫn chúng sanh, sánh với
chư Phật Như Lai không hai, không khác. Chư Phật
Như Lai dùng phương pháp nào để chỉ dạy
chúng sanh thành Phật ngay trong một đời, thành vô
thượng đạo? Chính là phương pháp này. Nay các vị
pháp sư trong Tịnh Tông cũng dùng phương pháp này,
không khác ǵ phương pháp chư Phật Như Lai đă
dùng, do vậy, được xưng tụng là đại
sư. Tổ sư Tông Hoa Nghiêm chẳng xưng là
đại sư, tổ sư tông Thiên Thai cũng chẳng
xưng là đại sư. Thời cổ làm thầy
của hoàng đế cũng không xưng là đại
sư, mà xưng là “quốc sư”. Tổ sư các tông phái
th́ gọi là tổ sư, không gọi là đại sư, mà
là tổ sư đời thứ mấy. Thanh Lương
đại sư là do hậu nhân chúng ta tôn xưng; Ngài là
tổ sư đời thứ tư của tông Hiền
Thủ (Hoa Nghiêm), ngài Tông Mật là tổ sư đời
thứ năm, nên [hai Ngài được] gọi là Tứ
Tổ, Ngũ Tổ, không gọi là đại sư.
Chỉ ḿnh [tổ sư của] Tịnh Độ Tông
xưng là đại sư. Từ chỗ này chúng ta hiểu
rơ: Pháp môn Tịnh Độ thù thắng, không khác ǵ chư
Phật đích thân dạy dỗ, thực sự chẳng
thể nghĩ bàn! Đó là Đại Diệm Kiên Phật.
Xin xem tiếp vị Phật thứ sáu:
Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm
Thân Phật.
雜色寶華嚴身佛。
Danh hiệu vị Phật này
tượng trưng cho kinh Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm. Tựa đề của kinh Hoa
Nghiêm nếu dịch thẳng từ tiếng Phạn là Đại
Phương Quảng Phật Đà Tạp Hoa Trang Nghiêm Kinh,
dịch từng chữ là như vậy. Người Hoa
thích đơn giản, bỏ bớt chữ Đà trong
Phật Đà, bỏ bớt chữ Tạp trong Tạp Hoa,
tỉnh lược chữ Trang trong Trang Nghiêm; v́ thế
dịch Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm
Kinh. Quư vị thấy Tạp Sắc Bảo Hoa Trang Nghiêm
Phật có phải là biểu thị Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh hay không?
Đức
Phật này “biểu thị
một đời viên măn, chỉ có kinh Hoa Nghiêm
giảng tường tận,
nhất là nó chứng thực pháp môn Niệm Phật là
chỗ quy hướng rốt ráo, phải nên suy nghĩ sâu
xa, hăy nên lấy Thiện Tài làm thầy”. Đây là lấy một bộ kinh
lớn để làm chứng, một đời viên măn
thành Phật th́ Thiện Tài đồng tử là đại
diện, có thể nói Ngài nổi tiếng nhất trong nhà
Phật. Thiện Tài đồng tử không sanh lần thứ
hai, một đời thành tựu, một đời viên
măn, “nhất là kinh Hoa Nghiêm
chứng thực pháp môn Niệm Phật là chỗ quy
hướng rốt ráo”, dùng kinh Hoa Nghiêm để chứng
minh. Kinh Hoa Nghiêm dạy một đời chứng
đắc viên măn rốt ráo như thế nào? Bằng pháp
môn Niệm Phật, niệm A Di Đà Phật cầu sanh
Tây Phương Tịnh Độ. Trong hội Hoa Nghiêm,
chúng ta thấy Thiện Tài đồng tử sau khi
đắc Căn Bản Trí – quư vị phải hiểu rơ: Đắc
Căn Bản Trí, nhà Thiền gọi là “đại
triệt đại ngộ”, minh tâm kiến tánh là
đắc Căn Bản Trí. Sau khi đắc Căn
Bản Trí, vị thầy dạy Thiện Tài đồng
tử ra ngoài tham học. Tham học nhằm ư ǵ? Tham
học để thành tựu Hậu Đắc Trí,
nhằm thành tựu viên măn Hậu Đắc Trí. Năm
mươi ba lần tham học là v́ vậy đó!
Vị thiện tri thức tham
phỏng đầu tiên rất quan trọng, pháp thế gian
hay xuất thế gian đều theo ư nghĩa này, tức
là “tiên nhập vi chủ”
(pháp nào theo học đầu tiên th́ pháp ấy là chánh yếu),
vị thầy đầu tiên hết sức quan trọng! Theo
bản Bát Thập Hoa Nghiêm, vị thầy đầu tiên là
tỳ-kheo Đức Vân, bản Tứ Thập Hoa Nghiêm
gọi là tỳ-kheo Cát Tường Vân. Cát Tường Vân
và Đức Vân là một người, Cát Tường chính
là Đức, [kinh được] hai người phiên
dịch nên [danh hiệu của vị thiện tri thức này
được] dịch khác nhau, nguyên bản là một.
Tỳ-kheo Cát Tường Vân tu pháp môn nào? Ngài tu cái pháp nay chúng
ta gọi là Ban Châu Tam Muội. Ban Châu Tam Muội là chuyên
niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ.
Ngài tu pháp môn ấy, Thiện Tài đồng tử
đến tham học với Ngài, hướng về Ngài
thỉnh giáo, Ngài bèn v́ Thiện Tài giảng hai mươi
mốt pháp môn Niệm Phật. Hai mươi mốt không
phải là con số, chúng ta phải hiểu hai mươi
mốt theo ư nghĩa biểu thị pháp trong Mật Tông, hai
mươi mốt tượng trưng cho viên măn. Hoa Nghiêm
là căn bản của toàn bộ Phật pháp, nhà Phật
gọi là “căn bản pháp
luân”. Nói theo thuật ngữ của người hiện
thời th́ gọi là “Phật học khái luận”. Hết
thảy những pháp do Thích Ca Mâu Ni Phật đă giảng
trong bốn mươi chín năm chẳng ra ngoài kinh Hoa
Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm bao gồm toàn bộ căn bản Phật
pháp, bởi thế, nó được gọi là “pháp luân viên măn”.
Ngài Cát Tường Vân thị hiện
pháp môn Niệm Phật này chẳng thể nghĩ bàn!
Thiện Tài học được pháp này. Chúng ta hăy chú tâm
quan sát kỹ, thầy của Ngài là Văn Thù Bồ Tát.
Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát đều
phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, đều tu
pháp môn Niệm Phật, kinh Hoa Nghiêm đă chứng thực
rơ ràng như vậy. Đến vị thiện tri thức
cuối cùng là Phổ Hiền Bồ Tát, tức vị
thiện tri thức thứ năm mươi ba (tỳ-kheo Cát
Tường Vân là vị thứ nhất, Phổ Hiền
Bồ Tát là vị thiện tri thức cuối cùng), Phổ
Hiền Bồ Tát dạy Thiện Tài đồng tử “mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc”. [Từ sự
kiện toàn bộ quá tŕnh tham học] mở đầu
dạy pháp môn niệm Phật, tối hậu “dẫn về Cực Lạc”,
chúng ta hoàn toàn hiểu rơ: Thiện Tài đồng tử tu
pháp môn nào? Pháp môn Niệm Phật. Từ đầu
đến cuối đều tu pháp môn Niệm Phật. Quư
vị thấy trong khi tham phỏng, có thể nói pháp môn nào
Ngài cũng tiếp xúc, cũng thông đạt, nhưng
tự ḿnh vẫn tu pháp môn Niệm Phật, nhất
định chẳng bị ảnh hưởng, nhất định
chẳng thay đổi. Năm mươi ba lần tham
học bao hàm ư nghĩa ấy. Nếu không hiểu
điều này th́ năm mươi ba lần tham học coi
như trắng tay.
Cứ mỗi lần tham phỏng
một vị thiện tri thức th́ trong khoa phán của
Thanh Lương đại sư, Ngài phán định phần
cuối của mỗi đoạn kinh văn ấy là “luyến đức lễ
từ” (luyến mộ đức hạnh, lễ kính,
tạ từ). Nên hiểu bốn chữ ấy như
thế nào? “Luyến
đức” là cảm tạ thiện tri thức dạy
dỗ, thiện tri thức v́ con diễn nói khiến cho con
hiểu rơ ràng mọi điều. “Lễ từ” có nghĩa là ǵ? Lễ là cung cung kính
kính, “từ” là không học
pháp môn ấy, vẫn chỉ học pháp Niệm Phật
của chính ḿnh. Con rất cảm kích, Ngài dạy con, con
đều hiểu rơ, thấu hiểu nên trí huệ mở
mang. “Lễ từ” là như
như bất động, tự ḿnh thường trụ
trong Niệm Phật tam-muội th́ mới một
đời thành tựu được! Một đời
thành tựu phải nhờ vào “mười
đại nguyện vương dẫn về Cực
Lạc”. Điều này chứng thực pháp môn Niệm
Phật là rốt ráo chỉ quy.
Vị tổ sư thứ nhất
của Tịnh Độ Tông là ai? Phổ Hiền Bồ
Tát là vị tổ sư thứ nhất. Trong hội Hoa
Nghiêm “mười đại
nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, quư
vị nói Ngài không phải là vị tổ sư thứ
nhất th́ ai là tổ sư đời thứ nhất?
Thế nhưng chúng tôi đọc cuốn Tịnh Tu
Tiệp Yếu của lăo cư sĩ Hạ Liên Cư
thấy Ngài viết như thế này: “Tịnh Tông Sơ Tổ
Sơ Tổ Tịnh Tông Trung
Quốc là Huệ Viễn đại sư. Vào thời
đại Đông Tấn, ngài dựng liên xă tại Lô
Sơn, tức Đông Lâm Niệm Phật Đường,
tập hợp những người chí đồng
đạo hợp gồm một trăm hai mươi ba
người chuyên tu Tịnh nghiệp. Do chuyên tu tịnh
nghiệp tại Lô Sơn, Ngài trở thành người
khởi phát Tịnh Tông đầu tiên tại Trung Quốc,
nên ta gọi Ngài là Sơ Tổ. V́ vậy khi nói đến
Sơ Tổ, chúng ta phải hỏi vị Tổ Sư nào?
Sơ Tổ của thế giới Sa Bà hay Sơ Tổ
cả pháp giới hay là Sơ Tổ của Trung Quốc?
Trước kia, chúng tôi ở Mỹ, cũng đến các
nơi thành lập Tịnh Tông Học Hội. Trước
kia, ở Mỹ Quốc và Gia Nă Đại có hơn hai
mươi Tịnh Tông Học Hội, nay tôi không biết
c̣n được bao nhiêu. Lăo cư sĩ Hoàng Niệm
Tổ trêu: “Pháp sư Tịnh Không! Ông là Sơ Tổ
của Tịnh Tông Mỹ Quốc”. Như vậy, Sơ Tổ
tùy thuộc địa phương nào, khu vực nào, ai là
người đầu tiên đề xướng niệm
Phật.
Cuối cùng là “phải
nên suy nghĩ sâu xa”. Chúng ta phải nghĩ cho chín, pháp môn rất nhiều, tám vạn bốn
ngàn vô lượng pháp môn, chúng ta tuyển chọn như
thế nào? Học theo Thiện Tài, “lấy Thiện Tài
làm thầy là được”. Thiện Tài chọn pháp
môn Niệm Phật, tŕ danh niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ, Ngài thành công, Ngài thực sự văng sanh.
Vị Phật thứ bảy là:
Sa La Thụ Vương Phật.
娑羅樹王佛。
“Biểu
thị viên chứng kiên cố rốt ráo, làm đại pháp
vương, Mật - Tịnh bất nhị”. Sa La Thụ
Vương Phật tượng trưng cho Mật Tông,
Mật Pháp gọi là “rốt ráo kiên cố”. Bởi thế,
vị Phật này biểu thị sự chứng
đắc Mật pháp kiên cố rốt ráo, là đại
pháp vương, hiển thị Mật và Tịnh bất
nhị. Ấy là v́ Đại Thừa Phật pháp ở
Trung Quốc được chia thành tám tông phái, Tiểu
Thừa gồm hai tông phái, nên Phật giáo Trung Quốc có
tất cả mười tông phái. Trong mười tông phái
này, bất luận tu học pháp môn nào, kết cuộc
chỉ là ba môn, tức ba môn Giác, Chánh,
Tịnh. Như Tánh Tông, Thiền Tông thuộc về Giác Môn:
Đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh.
Mọi tông của Giáo Hạ thuộc về Chánh Môn: Chánh
tri, chánh kiến. Tịnh Tông và Mật Tông thuộc vào
Tịnh Môn: Tâm tịnh th́ cơi nước tịnh. Do
vậy, Mật và Tịnh thuộc cùng một loại,
dẫu cùng một loại nhưng Mật khó, Tịnh
dễ, rất dễ dàng phân biệt khó - dễ!
Tịnh Độ Tông giảng
thân tâm thanh tịnh, xa ĺa ô nhiễm, giữ ǵn thanh
tịnh, vậy là c̣n dễ! Thanh tịnh trong Mật Tông
c̣n thù thắng hơn Tịnh Tông, v́ sao? Chẳng ĺa
nhiễm ô, ở trong nhiễm nhưng chẳng nhiễm,
cao lắm! Đương nhiên là khó! V́ thế, Mật Tông
chẳng dễ ǵ thành tựu, nhưng đều là tu tâm
thanh tịnh. Lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ là bậc
kim cang a-xà-lê trong Mật Tông, chúng ta thường gọi [kim
cang a-xà-lê] là Thượng Sư[6]. Lăo
nhân gia tối hậu niệm Phật văng sanh, chẳng dùng
đến Mật pháp. Trong thời gian tối hậu,
mỗi ngày Ngài niệm mười bốn vạn câu
Phật hiệu cầu sanh Tịnh Độ. Cụ Hoàng
bảo tôi (lúc tôi sang Bắc Kinh thăm cụ, cụ
bảo tôi), hơn bốn mươi năm sau ngày Trung
Quốc được “giải phóng”[7]
(lúc ấy vẫn chưa đến năm mươi
năm, mới hơn bốn mươi năm), Trung
Quốc có mười ba ức người [học Mật
Tông], người học Mật Tông trong hơn bốn
mươi năm ấy nhiều dường ấy, có bao
nhiêu người thành tựu? Cụ bảo tôi chỉ có sáu
người! Rồi lại bảo tôi: “Từ rày về sau, học Mật Tông chẳng
thể thành tựu, chỉ có cách tu Tịnh Độ”.
Trong ô nhiễm không bị ô nhiễm, công phu ấy cao
lắm! Có mấy ai có thể thành tựu?
Tu học trong Mật Tông
chẳng ĺa ngũ dục, lục trần, ngày ngày ở
trong ngũ dục, lục trần, chẳng bị tiêm
nhiễm mảy may, phải có bản lănh ấy, phải có
công phu ấy. Không như Tịnh Độ Tông, Tịnh
Độ Tông tách ĺa ngũ dục, lục trần, tu tâm
thanh tịnh. Bởi thế, luận về đẳng
cấp, Mật Tông là thanh tịnh thượng thừa,
thượng thượng thừa. Chúng ta tu Tịnh
Độ Tông tâm địa thanh tịnh là trung hạ, trung
hạ thừa, chẳng bằng Mật Tông. V́ thế, chúng
ta phải tôn kính Mật pháp, tự biết chính ḿnh không có
năng lực tu học, nên cứ tu pháp môn Niệm
Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Sau khi gặp A Di Đà Phật,
phương pháp tu hành, cảnh giới của chúng ta
sẽ được nâng cao, như vậy là chính xác, không
sai một
chút
nào. V́ sao Tịnh - Mật bất nhị? V́ đều là tu
tâm thanh tịnh.
Ba vị Phật kế đó
tương ứng với ba vị ở phương
Đông. Trong sáu phương Phật, trước hết
chúng ta thấy tại phương Đông có các vị
Phật tượng trưng cho pháp, biểu thị ba thân: “A Súc Bệ Phật, Tu Di
Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang
Phật”; trong đây chúng ta thấy đều dùng
chữ Tu Di: Tu Di Tướng, Đại Tu Di, Tu Di Quang là
v́ sao? Đấy chính là điều người học
Phật chúng ta mong cầu. Phải chứng đắc Pháp
Thân, Báo Thân, Ứng Hóa Thân; ấy là Phật Quả rốt
ráo. Đến phương trên, chúng ta trông thấy:
Bảo Hoa Đức Phật.
寶華德佛。
“Biểu
thị Báo Thân viên măn”. Báo Thân viên măn là thân trí huệ viên
măn, tự tánh vốn sẵn đủ trí huệ hiện
tiền.
Kiến Nhất Thiết Nghĩa
Phật.
見一切義佛。
“Biểu
thị ngàn trăm ức hóa thân, ngũ nhăn viên minh, ứng
khắp các căn cơ”. Đây là Ứng Hóa Thân, ngàn
trăm ức Hóa Thân! Trong chín pháp giới, chúng sanh có
cảm, Phật liền có ứng. Cảm ứng
đạo giao quyết định chẳng sai chạy, có
cảm bèn lập tức có ứng, quyết định
chẳng thể nói là không ứng. Ở phần trên, tôi
đă nói về đạo lư cảm ứng đạo giao
rồi, Cảm có bốn loại lớn, Ứng cũng có
bốn loại lớn: Hiển Cảm Hiển Ứng,
Hiển Cảm Minh Ứng, Minh Cảm Hiển Ứng, Minh
Cảm Minh Ứng, những hiện tượng cảm
ứng đạo giao chẳng ngoài bốn loại lớn
này. Phật, Bồ Tát, A La Hán đều có năng lực, nhưng
Như Lai cảm ứng vô điều kiện, trọn
khắp chúng sanh trong khắp pháp giới hư không
giới, ứng hiện trọn khắp!
Bồ Tát và A La Hán có lúc phải
có duyên phận, nhà Phật thường nói “Phật chẳng độ kẻ vô duyên”. Bồ
Tát và chúng sanh có duyên phận bèn ứng, nếu không có duyên
phận với chúng sanh ấy sẽ chẳng ứng. V́
sao? Lúc Ngài đến, chúng sanh hoàn toàn không vui thích, Ngài
rất muốn giúp người ấy, nhưng kẻ ấy
không ưa Ngài, chẳng tiếp nhận Ngài, Ngài không
đến. Phật khác hẳn, Phật là vô điều
kiện, nhưng sự ứng hiện của Phật
như vừa mới nói, có hiển ứng (ứng hiện
rơ ràng) và minh ứng (ứng hiện ngầm). Minh (冥) là thầm che chở, ban ơn cho quư vị
mà quư vị chẳng nhận biết; Hiển (顯) là rất rơ ràng, quư vị có thể cảm
nhận được. Cảm ứng đạo giao
chẳng thể nghĩ bàn! Như vậy, vị Phật
này tượng trưng cho Ứng Hóa Thân. Vị Phật sau
cùng:
Như Tu Di Sơn Phật.
如須彌山佛。
Tu Di xuất hiện, “biểu thị Pháp Thân thanh
tịnh, làm Lư Thể cho hết thảy các pháp”. Như
Tu Di Sơn Phật; ba thân ấy là một, “viên chứng một thể ba thân”, ba thân là
một nhưng ba, ba nhưng một, từ trí huệ mà nói
th́ là Báo Thân, từ Lư Thể mà nói th́ là Pháp Thân, từ tác
dụng mà nói th́ là Ứng Hóa Thân; chứng đắc viên
măn một Thể ba thân. Quư vị thấy ba vị Phật
này tương ứng với phương Đông, thấu
triệt từ đầu đến cuối. Chúng ta
lại xem tiếp đoạn kế đó:
“Trên
đây đă nêu đại lược danh hiệu của các
vị Phật, hàm ư rất sâu, ngầm dạy cho người
niệm Phật tông chỉ trọng yếu trong lịch
tŕnh tu tập từ sơ phát tâm cho đến viên măn
Bồ Đề, như năm mươi ba lần tham
học trong kinh Hoa Nghiêm, chẳng thể không biết”.
Phật là trí huệ viên măn rốt ráo, phương pháp
dạy học cao minh đến cùng tột, trong kinh
Phật thường nói là “phương
tiện thiện xảo”, bốn chữ này chúng ta
chẳng dễ ǵ lănh hội nổi. Quư vị chú tâm quan sát
mới ḥng hiểu được Ngài hiển thị
phương tiện thiện xảo như thế nào.
Quư vị thấy đó,
đức Phật nêu lên những danh hiệu ấy,
những danh hiệu ấy đều nhằm dạy chúng
ta nên tu học như thế nào. Phương Đông là
căn bản tu học, dạy cho quư vị pháp căn
bản. Phương
Quư vị thấy tŕnh tự này, theo
thứ tự thuận, mỗi một giai đoạn
học một pháp môn nào, dùng danh hiệu Phật, Bồ Tát
để biểu thị pháp ấy; v́ thế, những ư
nghĩa này rất sâu. “Ngầm
dạy người niệm Phật”, chúng ta phải
hiểu được mật nghĩa này. Thật
đấy, đức Phật giảng kinh thuyết pháp “ư tại ngôn ngoại” (ư nằm
ngoài lời), chúng ta phải lănh hội, phải thấu
hiểu được. Đấy chính là những
điều tổ sư đại đức trước
kia thường giảng, quư vị hiểu chăng? Quư
vị nghe có hiểu hay chăng? Quư vị có thấu
hiểu ư nghĩa này hay chăng? Có hiểu như vậy rồi,
quư vị mới biết phải nên tu học như
thế nào.
Pháp thế
gian và xuất thế gian, tôi thường nói chỉ có
người có trí huệ mới ḥng nắm chắc cơ
hội, mới thành công. Pháp thế gian như vậy mà
Phật pháp cũng như vậy. Cơ hội ở trước
mặt mà quư vị bỏ lỡ, bỏ lỡ lần này
không biết đời nào kiếp nào mới có thể gặp
gỡ. Phàm ai thành công th́ chẳng có ǵ khác cả, phải
nhận biết cơ hội, nắm ngay lấy cơ
hội, người ấy sẽ thành công. Giống như
người kinh doanh trong thế gian thường nói đến
“cơ hội kinh doanh” hay “cơ duyên thương nghiệp”,
tức là cơ hội kiếm tiền, phải nhận
thấy [cơ hội ấy] rất chuẩn xác, phải
nắm ngay lấy, đầu tư vào đó, thực
sự kiếm lợi. Cơ hội trước mắt mà
để lỡ, không nắm lấy; Phật pháp cũng
như vậy, phải nhận biết cơ duyên tu
phước, tu huệ.
Bậc đại thánh
đại hiền thế gian hay xuất thế gian không có
ǵ khác cả, các Ngài không có ḷng riêng tư, v́ hết thảy
chúng sanh phục vụ, nhà Phật gọi là “độ
sanh”. Độ sanh nghĩa là ǵ? Độ sanh nay
gọi là phục vụ, phục vụ hết thảy
chúng sanh vô điều kiện, có thể bỏ ḿnh v́
người, đấy là đại từ đại bi.
Đấy gọi là tâm đại Bồ Đề.
Người không chịu bỏ ḿnh v́ người, thủy
chung không thể thành tựu. Quư vị nói ḿnh niệm
Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, chúng sanh có khổ nạn hy vọng ḿnh giúp
đỡ mà một chút cũng không chịu làm, trong tâm
nghĩ như thế nào? Đợi đến khi tôi sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới
rồi, tôi học thành sẽ trở lại giúp quư vị,
rơ ràng là hiện tại đủ sức giúp người,
lại không chịu giúp, đợi về Tây Phương
Cực Lạc thế giới học thành rồi mới
giúp th́ sẽ chẳng thể sanh về thế giới
Cực Lạc được!
Thế nào mới là “đến
Cực Lạc thế giới học thành rồi mới
quay về”? Nay thấy chúng sanh khổ sở, nhưng chính
ḿnh thực sự không có năng lực giúp đỡ, ḿnh
cần phải sang Tây Phương Cực Lạc thế
giới học lấy bản lănh, vậy là đúng! C̣n
nếu nay quư vị có năng lực, nhưng không chịu
làm, chính là trái nghịch bổn nguyện A Di Đà Phật.
Có một phần năng lực th́ giúp đỡ một
phần, có hai phần năng lực bèn giúp hai phần, công
đức viên măn. Cửa ải khó khăn nhất của
hết thảy chúng sanh học Phật là ǵ? Tiến th́ ít,
lui th́ nhiều. Đừng nói bọn người sơ
phát tâm chúng ta gặp phải cảnh duyên bất thuận
liền lập tức ngă ḷng, Tiểu Thừa cũng ngă
ḷng. Tứ Quả A La Hán ứng hóa trong thế gian này,
thấy chúng sanh khó độ đều ngă ḷng, huống
chi lũ phàm phu sát đất chúng ta, phiền năo tập khí
chưa đoạn được phần nào, rất
dễ thoái đọa, vừa lui sụt bèn đọa
lạc. Đó là điều khẳng định!
Sách Liễu Phàm Tứ Huấn
nói về t́nh h́nh khi ấy rất hay, lúc ấy nếu
gặp được vị thiện tri thức chân chánh
cảnh tỉnh ḿnh, nâng đỡ ḿnh, giúp đỡ ḿnh,
kinh Kim Cang gọi chuyện đó là “thiện hộ niệm chư Bồ Tát” (khéo
hộ niệm các Bồ Tát), Như Lai giáo huấn: Các
đại Bồ Tát thường phải chiếu cố
các tiểu Bồ Tát. Tiểu Bồ Tát rất dễ thoái
chuyển, rất dễ đọa lạc, lúc họ
gặp phải thoái duyên [các đại Bồ Tát] phải
gấp giúp đỡ họ. Chẳng dễ dàng ǵ, chúng ta
cứ nghĩ xem: Trong một đời ta có thể
gặp được vị thiện tri thức thực
sự hay không? Gặp được thiện tri thức thực
sự là phước báo lớn lắm mới có thể
giữ cho quư vị không bị thoái chuyển. Chướng
duyên đâu đâu cũng có, chướng duyên do đâu mà
có? Vô lượng kiếp tạo tác nghiệp chướng,
nay chúng đều khởi hiện trên con đường
Bồ Đề, chẳng thể không biết điều
này. A! Nay đă hết giờ rồi!
*
Chúng ta xem tiếp tiểu đoạn
thứ chín:
“Phật
độ sanh, sanh thọ hóa, kỳ gian nan dị thâm thiển,
tổng tại ư duyên, duyên chi sở tại, ân đức
hoằng thâm, chủng chủng giáo khải, năng linh hoan
hỷ tín nhập, năng linh xúc động túc chủng, năng
linh ma chướng nan giá, năng linh thể tánh khai phát, chư
Phật bổn tùng Pháp Thân thùy tích, cố kết duyên chủng,
nhược thế xuất thế, tất bất khả
tư nghị dă” (Phật
độ sanh, chúng sanh nhận sự giáo hóa (thọ hóa),
khó - dễ, cạn - sâu trong khoảng ấy nói chung là do
duyên. Duyên tồn tại, ân đức sâu rộng,
đủ mọi thứ dạy dỗ, khơi gợi
khiến cho [người được hóa độ] hoan
hỷ tin nhập, khiến cho xúc động túc chủng,
khiến cho ma chướng khó ngăn trở, khiến cho
thể tánh khai phát. Chư Phật vốn từ Pháp Thân thị
hiện ứng hóa, kết chắc duyên chủng. Dù là
thế pháp hay xuất thế
pháp thảy đều chẳng thể nghĩ bàn). Ư
nghĩa của đoạn này rất sâu, đó chính là
lời đại sư Ngẫu Ích đă viết trong sách
Yếu Giải, đặc biệt là người phát tâm
theo đuổi công cuộc hoằng pháp và người làm
nhiệm vụ hộ pháp không thể chẳng hiểu
đạo lư này. Nếu không hiểu đạo lư này, trên
con đường tự hành hóa tha chúng ta không thể tránh
khỏi ngă ḷng, đó là hiện tượng tất nhiên. Phật
độ chúng sanh, “độ”
là giáo hóa, chỉ dạy chúng sanh. Chúng sanh tiếp nhận sự
giáo hóa của Phật. Chữ “hóa” ư nghĩa rất
sâu, chúng tôi thường nói là “tiếp nhận giáo huấn”.
Nói “tiếp nhận giáo huấn” chỉ là nói một bên,
không viên măn. Dạy rồi th́ sao? Dạy rồi, quư vị
có học hay chăng? Quư vị không chịu học th́
sự giáo huấn ấy không thành tựu, không có thành tích.
“Hóa” (化) là có thành tích, có
biến đổi khí chất, thực sự có thành
tựu và thành tích. Cổ nhân nói “độc
thư chí tại biến hóa khí chất” (đọc sách
ḥng biến đổi khí chất), phải có chuyển
biến, chuyển biến là biến hóa, chuyển ác thành
thiện! Thực sự chuyển được! Chuyển
mê thành ngộ, chuyển phàm thành thánh, đấy
đều là thành tích dạy học được
hiển lộ cụ thể. Có thể chuyển phàm thành
thánh, hóa phàm thành thánh chính là thành tích tốt nhất, là thành
tích viên măn. Có thể chuyển mê thành ngộ là thành tích
bậc nh́. Có thể dạy cho chúng sanh chuyển ác thành
thiện là thành tích bậc ba. Giống như cổ nhân
Trung Quốc dùng cách đánh số Giáp, Ất, Bính… th́
chuyển phàm thành thánh là hạng Giáp, chuyển mê thành
ngộ là hạng Ất, chuyển ác thành thiện là
hạng Bính v.v... Trong chữ Hóa có những ư nghĩa như
thế đó, chúng sanh tiếp nhận sự giáo hóa của
Phật, chắc chắn biến hóa! Mức độ
thấp nhất là chuyển ác thành thiện, thực sự
khởi biến hóa.
“Kỳ
gian nan dị thâm thiển, tổng tại ư duyên” (Trong ấy, khó - dễ, cạn - sâu, nói
chung là do duyên). Duyên: Chẳng riêng ǵ Phật pháp nói
đến duyên, mà pháp thế gian cũng nói đến duyên.
Rất nhiều người không biết ư nghĩa này,
học tṛ theo học với thầy phải có duyên. Duyên
từ đâu mà có? Học tṛ tôn trọng thầy, yêu thích vị
thầy ấy, thầy cũng yêu mến tṛ, thầy tṛ
ấy có duyên rất sâu. Duyên sâu như thế nào? Học
tṛ nghe lời, thầy khéo dạy, do v́ tṛ tôn trọng
thầy, thực sự tôn trọng, tôn trọng như
thế nào? Y giáo phụng hành. Thầy dạy rồi mà nếu
ta không làm được, tự cảm thấy ḿnh phụ
ḷng thầy. Đấy là sức thúc đẩy của
duyên. Thầy cũng như vậy, học tṛ thực
sự chịu học, nếu thầy không dạy cho
giỏi, thầy cảm thấy sai trái đối với
học tṛ.
Trước kia, tôi cầu học ở
Đài Trung, thầy Lư thường dạy tôi, toàn là
những lời cổ nhân đă nói: Học tṛ đối
với thầy có mười phần thành kính, theo học
với thầy; nếu thầy chỉ dạy chín phần,
c̣n thiếu một phần là có lỗi với học tṛ.
Nếu học tṛ chỉ tôn kính thầy năm phần,
thầy chẳng thể dạy tṛ đến sáu phần,
v́ sao? Dạy sáu phần là nhiều hơn một phần,
tṛ chẳng thể hấp thụ. Nó chẳng thể
tiếp nhận, đúng là lăng phí hơi sức! Trong Văn
Sao, Ấn Quang đại sư có nói rất hay: “Một phần thành kính
được một phần lợi ích, mười
phần thành kính được mười phần lợi
ích”. Do vậy, thầy dạy học quyết
định phải có học tṛ mười phần thành kính,
những ǵ thầy giảng đều phơi bày trọn
vẹn, không giữ lại một tí nào. Nếu tâm thành kính
chưa đủ th́ quư vị có được mấy phần
thành kính sẽ lănh hội được mấy phần.
Nếu không có tâm thành kính, sẽ chẳng đạt được
phần [lợi ích] nào hết! Điều đó cũng
không sao! V́ sao? Quư vị thuộc loại dự thính,
cũng tính là có duyên, tốt lắm! Bởi lẽ, thông thường
quư vị hướng về thầy thỉnh giáo, thầy chẳng
thể dạy quư vị, nay trong giảng đường
có học tṛ mười phần thành kính, thầy bèn
giảng những pháp tinh túy, ḿnh có thể nghe ké bên
cạnh. Nghe được bao nhiêu thầy không chịu
trách nhiệm.
Do vậy, đức Phật thuyết
pháp (đây là những chuyện chúng ta thường
thấy trong kinh điển, nhưng chúng ta đọc mà không
hiểu, đến khi tổ sư chú giải mới
chỉ ra), bậc đương cơ khi ấy là
người mười phần thành kính, đức
Phật đối với người ấy nói pháp đó,
những kẻ khác là bàng thính (nghe ké). Như đức
Thế Tôn giảng kinh Hoa Nghiêm, đương cơ
của kinh Hoa Nghiêm là bốn mươi mốt địa
vị Pháp Thân đại sĩ, tức Pháp Thân Bồ Tát;
Quyền Giáo Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác là bàng thính,
Phật chẳng giảng cho những người ấy, nhưng
gặp được duyên th́ cũng coi như không
uổng, gieo được chủng tử vào A Lại Da
Thức. Do vậy, “tổng tại ư duyên” (nói chung là do duyên).
“Duyên chi sở
tại, ân đức hoằng thâm” (Duyên tồn tại, ân đức sâu
rộng), một đời tôi gặp được ba
vị thầy, đúng là ân đức sâu rộng. Chúng ta
làm học tṛ tôn trọng, kính yêu thầy, đối
với học tṛ như vậy, thầy chăm chút tṛ không
điều nhỏ nhặt nào chẳng quan tâm, chúng ta
cảm kích ân thầy dạy bảo. Dùng ǵ để
tỏ ḷng cảm kích? Y giáo phụng hành, ta thường nói
là đem công đức do chính ḿnh tu học, công đức
hoằng pháp lợi sanh, công đức hộ pháp hồi
hướng về thầy, báo ân thầy. Khi xưa,
thầy dạy ta chẳng uổng công,
chúng ta tiếp nối huệ mạng của Phật,
giống như chạy đua tiếp sức, thầy giao
cây gậy cho ta, ta nhất định phải hoàn
thành. Rồi ta lại giao cho người khác tiếp
sức. Người tiếp sức là ai? Là người
đối với Phật, đối với Pháp,
đối với thầy có tâm thành kính. Không có thành kính th́
quư vị chẳng nắm được cây gậy ấy.
Pháp thế gian hay xuất thế gian đều là một
ḷng Thành, một ḷng Kính. “Bất
Thành vô vật” (không có ḷng Thành chẳng ra ǵ), dẫu như
thế nào cũng không đáng bàn đến nữa! V́
vậy, phải có thành kính, có ân đức.
“Chủng
chủng giáo khải” (đủ
mọi thứ dạy dỗ,
khơi gợi), Giáo (敎)
là
giáo hối (敎誨: dạy dỗ); Khải (啟) là khải phát (啟發: khơi mở, khơi gợi). “Năng linh hoan hỷ tín
nhập” (Có thể khiến cho vui thích tin nhập), học tṛ thực sự có ḷng
chân thành, cung kính, tôn sư trọng đạo, nghe lời
thầy dạy bảo bèn hoan hỷ, tin tưởng, không
ngờ vực, sẽ có thể khế nhập. “Nhập” (入) có nghĩa là giải ngộ, chứng
ngộ, hiểu được, hành được,
chứng được, đó là “nhập”. Đó là học tṛ dễ dạy. Ta
thường nói là đứa học tṛ “có ngộ tánh”, vừa nói liền hiểu, hiểu
rơ ràng. Kẻ căn tánh kém cỏi hơn, khó lắm! Quư vị
có giảng cho nó, nó cũng không hiểu, cứ vẫn tùy
thuận tập khí phiền năo, không quay đầu lại,
hạng người như vậy nhiều lắm! Thực
sự nghe rồi tin tưởng, hiểu biết, lại
y giáo phụng hành, thực sự ra, trong ngàn vạn
người chưa được một kẻ!
Trên thực tế, trong các buổi
giảng, chúng tôi thường nói, nhưng chưa bao
giờ đề cập đến chuyện này, chúng tôi
thường nói “hiếu
học”, quan trọng nhất là chữ “hiếu”, “hiếu” (好) là
ưa thích! Con người chỉ cần hiếu học th́
sẽ nhất định gặp được vị
thiện tri thức thực sự, v́ sao? Cảm ứng! Hiếu
học là năng cảm, sẽ cảm động
được chư Phật, cảm động thiện
tri thức. “Hiếu”
chắc chắn sẽ y giáo phụng hành, quư vị chịu
học, tin được, hiểu được,
nhưng làm chưa được th́ chưa phải là
hiếu học, chưa đủ điểm đạt
chữ Hiếu, chưa đạt tiêu chuẩn. Thực
sự “hiếu” th́ nhất
định y giáo phụng hành, nhất định làm
được.
Duyên quan trọng lắm! Cùng một
đạo lư ấy, mười phương thế
giới chư Phật rất nhiều, v́ sao chúng ta lại
khăng khăng niệm A Di Đà Phật? V́ sao không
niệm đức Phật khác? A Di Đà Phật có duyên
với ta, ta yêu mến Ngài, Ngài cũng yêu thích ta, có duyên
đấy! Phật chẳng độ kẻ vô duyên. Sao
biết là có duyên? Vừa tiếp xúc kinh điển
Tịnh Độ bèn hoan hỷ, đó là có duyên. Vừa nghe
liền hiểu, hiểu rồi lại thực sự
chịu làm, y giáo phụng hành, từ những điều
đó mà thấy. Thay bằng bộ kinh khác th́ cũng có
thể tin tưởng, cũng rất hoan hỷ. Có lúc
rất nhiều chỗ ḿnh không hiểu, phải đi
hỏi người khác, nghe người khác giảng
tợ hồ người ta cũng không hiểu rơ ràng, không
có cách nào y giáo phụng hành; hoặc hiểu nhưng hành chẳng
dễ, khó lắm. Pháp môn này dễ dàng, thẳng chóng,
ổn thỏa, thích đáng, nhanh chóng lại thành công viên
măn, bởi thế có duyên!
Trong hàng Bồ Tát cũng có rất
nhiều Bồ Tát, lại khăng khăng niệm Quán
Thế Âm Bồ Tát là v́ nguyên nhân nào? Quán Thế Âm Bồ Tát
có duyên với người thế giới Sa Bà. Bởi
thế ngạn ngữ Trung Quốc thường nói: “Gia gia Quán Thế Âm, hộ hộ
Di Đà Phật” (Nhà nhà
Quán Thế Âm, nhà nhà Di Đà Phật). Di Đà, Quán Âm tợ hồ đặc biệt hữu
duyên với người Hoa, duyên phận lại rất sâu,
đạo lư là như vậy. Mười phương
chư Phật cũng đều biết, đại khái Di
Đà, Quán Âm chẳng những có duyên với chúng ta ở
nơi đây mà mười phương chúng sanh đều
có duyên phận rất sâu xa với hai Ngài. Do vậy, chư
Phật Như Lai tuyên dương, chư Phật Như Lai
khuyên ta phát tâm học theo Di Đà và Quán Âm. Quả thật,
mấy câu tiếp theo đó quả thật đă giải
thích hết sức rơ ràng về hiệu quả của cái
duyên sâu xa.
“Năng
linh xúc động túc chủng” (có thể dấy động
những chủng tử xa xưa), “túc chủng” là chủng tử thiện căn trong
đời quá khứ. Thiện tri thức, thầy dạy
dỗ khiến cho những chủng tử thiện căn
trong A Lại Da Thức bị động chạm; nói cách
khác, sự học tập của quư vị tiếp nối
sự học tập trong quá khứ, duyên ấy tốt
lắm! Tiếp nối sự học tập trong quá
khứ, sự học tập ấy vốn bị gián
đoạn; v́ sao bị đoạn? Mê
khi cách ấm, chúng ta là thân nghiệp báo, lúc đầu thai
quên mất chủng tử thiện căn trong đời
trước; dẫu có, nhưng không khởi hiện hành,
không khởi tác dụng. Thiện tri thức chỉ dạy
không ngừng, hoát nhiên khai ngộ. Ngộ có nguyên nhân là do trong
đời quá khứ đă từng tu học rồi.
Thầy là Tăng Thượng Duyên.
“Năng linh ma chướng nan giá” (có thể khiến cho ma chướng khó
ngăn trở), thật đấy! Trên đường
Bồ Đề, quư vị muốn tu hành, muốn hóa
độ chúng sanh, luôn bị ma chướng ngăn
trở. Nếu có thiện tri thức chỉ dạy, ma
cảnh ấy sẽ hóa giải. Hóa giải như thế
nào? V́ quư vị có trí huệ, nhớ kỹ lời dạy
của thiện tri thức, không hoài nghi, không mê hoặc. Ma
chướng có thuận cảnh và nghịch cảnh,
nếu quư vị có trí huệ, có huệ nhăn, quư vị sẽ
thấy được. Thuận cảnh là ǵ? Mọi
chuyện đều rất như ư, khiến quư vị
khởi tham ái. Phải biết tham ái là phiền năo, là
một trong ba độc. Trong t́nh cảnh ấy, quư vị
khởi tham ái không phải là chuyện tốt, ma
chướng hiện tiền. Quư vị có trí huệ th́ ma
chướng không thể chướng ngại, quư vị có
thể đối phó hết sức giỏi. Biết
ơn, báo ơn, cảm ơn, cung kính đức, sẽ
chẳng sanh phiền năo. Phiền năo là tham ái, chẳng sanh
tâm tham, không ngu si.
Nếu ma chướng là nghịch
cảnh th́ nghịch cảnh sẽ như thế nào?
Khiến cho quư vị nóng giận, sanh ghen ghét, ư niệm
bất thiện sanh khởi. Quư vị phải nhận
biết rơ ràng. Nếu quư vị có trí huệ, sẽ
chuyển nghịch cảnh thành thuận cảnh, chẳng
những nó không thể chướng ngại quư vị mà có
lúc c̣n nâng cao [cảnh giới của] quư vị lên nữa.
Bởi thế, cổ đức dạy cho chúng ta một
câu thành thực: “Bồ Đề đạo thượng,
vô Phật diệc vô ma” (Trên
đường Bồ Đề không có Phật mà cũng
không có ma). Đúng như vậy đó! Phật và ma
từ đâu có? Một niệm giác th́ hữu t́nh và vô t́nh
đều là cảnh giới Phật; một niệm mê th́
hữu t́nh và vô t́nh đều là cảnh giới ma. Thưa
thật cùng quư vị, quả thật không có Phật
lẫn ma, ma và Phật chỉ do tự tánh biến
hiện. Đấy chẳng phải là điều kinh
Phật thường nói đó ư? Hết thảy pháp sanh
từ tâm tưởng. Tâm tưởng của ta giác chứ
không mê th́ hết thảy pháp đều là Phật pháp. Tâm
tưởng của ta mê hoặc, điên đảo, mê
chứ không giác th́ hết thảy pháp đều là ma
chướng. Bởi thế, Phật và ma chỉ là
cảnh giới do ư niệm của chính ḿnh biến
hiện.
Trong thời gian gần đây, ai nấy
đều thấy những thí nghiệm kết tinh
nước của tiến sĩ Giang Bổn Thắng,
từ những tỷ dụ ấy, quư vị có thể
hiểu: Chúng ta dùng thiện tâm, một niệm thiện,
tâm yêu thương, tâm cảm tạ th́ quư vị thấy nước
sẽ kết tinh đẹp đẽ dường ấy.
Nếu chúng ta dùng ác niệm, tâm thái rất bất hảo
đối với nước th́ nước sẽ kết
tinh hết sức khó coi. Nước không tốt cũng
không xấu, xấu hay tốt là do tâm ta, do ư niệm
của chúng ta, nước chuyển biến theo tâm niệm
của chính chúng ta.
V́ thế, Ngẫu Ích đại sư
nói rất hay: “Cảnh duyên vô hảo
xú” (cảnh duyên không tốt, xấu). “Cảnh” là hoàn cảnh vật chất. “Duyên” là hoàn cảnh nhân sự
(quan hệ giữa con người với nhau). Cũng có
thể nói là hoàn cảnh vật chất lẫn hoàn cảnh
nhân sự đều không có Phật mà cũng không có ma.
Phật tượng trưng cho cái tốt, ma đại
diện cho cái xấu, không tốt xấu. “Hảo xú tại ư tâm” (xấu hay tốt do tâm),
do chính cái tâm của chúng ta, do ư niệm của ḿnh!
Giống như nước, nước chẳng tốt hay
xấu. Chúng ta dùng thiện niệm đối với nó, nó
sẽ biến thành rất đẹp đẽ. Chúng ta dùng
ác tâm đối đăi nó, nó biến thành xấu xa. Bản
thân nước quả thật không tốt hay xấu. Quư vị
phải hiểu đạo lư này: Tổ sư dạy chúng
ta hoàn cảnh vật chất và hoàn cảnh nhân sự là
b́nh đẳng, thực sự thanh tịnh, b́nh
đẳng, chỉ do tâm hiện. Chúng ta thấy tốt hay
xấu là do thức của chính ḿnh biến hiện.
Thức là vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. Hoàn cảnh bên ngoài biến hiện thuận
theo tâm niệm.
Trong Hệ Niệm Pháp Sự, thiền
sư Trung Phong đă giảng: “Tịnh
Độ tức thử phương, thử phương
tức Tịnh Độ” (Tịnh Độ là
phương này, phương này là Tịnh Độ). Tây
Phương Cực Lạc thế giới và thế
giới Sa Bà của chúng ta không hai, không khác! Không khác ǵ nhau!
V́ sao trên mặt Sự lại có sai biệt quá lớn
như thế? Tâm con người không giống nhau. Tâm của
người thế giới Cực Lạc là tâm thiện, nên
núi, sông, đại địa, hữu t́nh, vô t́nh
đều biến thành tốt lành phi thường.
Người trên địa cầu này tâm bất thiện,
tự tư, tự lợi, tham, sân, si, mạn. V́ thế,
hữu t́nh, vô t́nh, núi, sông, đại địa
đều biến thành đời ác ngũ trược.
Nếu có thể ĺa khỏi cái tâm niệm của
người đang sống nơi đây th́ Cực Lạc
và Sa Bà b́nh đẳng, một tí ti sai khác cũng chẳng
có! Sai biệt bất đồng là do tâm hạnh của
cư dân [trong hai thế giới] khác nhau. Chúng ta muốn
biến quả địa cầu này thành thế giới
Cực Lạc th́ trên lư luận chẳng khó ǵ, chỉ
cần cư dân sống trên địa cầu này có thể
đoạn ác tu thiện, đều có thể phá mê khai
ngộ th́ hữu t́nh, vô t́nh, núi, sông, đại địa
thảy đều biến thành thế giới Cực
Lạc, vô lượng các thứ báu trang nghiêm. Lư như
thế, Sự cũng như thế. Do vậy, chân
thiện tri thức có thể giúp đỡ ḿnh, đúng là “năng linh ma chướng nan giá”
(có thể khiến cho ma chướng khó ngăn trở).
Những vị thầy của tôi, ba
vị thầy của tôi đều văng sanh cả rồi.
Thầy Lư mất sau cùng, cũng đă cách đây mười
hai năm rồi. Trong mười hai năm ấy chúng tôi
đă trải qua không ít ma chướng, nhưng đều
có thể vượt qua rất thuận lợi. Đó là v́
nguyên nhân nào? V́ chúng tôi nhớ kỹ những lời
thầy dạy trước kia; lúc gặp phải
chướng nạn, chúng tôi biết hóa giải như
thế nào, chẳng bị ngăn trở, quấy nhiễu
ra sao, làm sao nâng cao cảnh giới của chính ḿnh, làm sao
nâng cao, kế tục việc tự hành hoằng pháp
chẳng đến nỗi gián đoạn giữa
chừng, đều là do thầy dạy dỗ. Nếu
thầy không chỉ dạy chúng tôi, quả thật chúng tôi
không có năng lực đối phó ma chướng. V́ sao?
Chắc chắn sẽ cùng ma chướng ḱnh chống,
nhất định sẽ nóng giận, mắc sai lầm.
Oan gia nên cởi không nên buộc, kẻo kết oán cùng
người. Nay chúng ta đă hiểu phương pháp,
gặp phải oán đối, từ nội tâm có thể
hóa giải oán kết, từ đó đôi bên cùng
được lợi ích, chẳng kết oán hận.
“Năng
linh thể tánh khai phát” (Có
thể khiến cho thể tánh khai phát), câu này nói về mọi người chúng ta, giúp cho
ta được khai ngộ, nhà Thiền gọi “thể tánh khai phát” là “minh tâm kiến tánh”. “Khai” là khai ngộ, “phát” là thấy rơ, Tịnh Tông
gọi là “nhất tâm bất
loạn”; thể tánh khai phát chính là Lư nhất tâm bất
loạn. Lư nhất tâm bất loạn là minh tâm kiến tánh
trong nhà Thiền, là cảnh giới đại khai viên
giải trong Giáo Hạ. Chỉ là ba pháp môn bất
đồng, phương pháp tu học bất đồng, mà
nói ra danh từ thuật ngữ khác biệt, chứ thật
ra chỉ là một cảnh giới. V́ vậy, Lư nhất
tâm bất loạn là minh tâm kiến tánh, là đại khai viên
giải, ở đây gọi là “thể
tánh khai phát”. Trong Phật pháp gọi bản thể
của vũ trụ vạn hữu là Phật Tánh và Pháp Tánh;
nơi hữu t́nh gọi là Phật Tánh, nơi vô t́nh
gọi là Pháp Tánh. Phật Tánh và Pháp Tánh gọi chung là Thể
Tánh, quư vị hiểu rơ, tức là khai phát vậy.
Chuyện này rất khó hiểu, cũng
rất khó giảng rơ. Trong những buổi giảng, chúng
tôi cũng thường nhắc nhở. Nếu quư vị
hiểu rơ, sẽ giúp ích rất lớn cho việc tu
học, lợi ích lớn nhất chính là câu nói ở
phần trên: “Năng linh ma chướng nan giá” (có thể khiến cho ma chướng khó
ngăn trở). Quư vị thực sự hiểu
được đạo lư này sẽ thuận buồm xuôi
gió trên đường Bồ Đề, tinh tấn không
lười, không chướng ngại. Phật tánh:
Phật Tánh là ǵ? Bản năng (năng lực, khả năng
sẵn có) của sáu căn là Phật Tánh, mắt thấy,
tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân chạm, ư
biết, đó là bản năng. Bản năng là Phật
tánh. Pháp Tánh là ǵ? Sáu căn tiếp xúc với những
đối tượng bên ngoài là Pháp Tánh. Chúng ta dùng tánh
Thấy để thấy sắc tướng bên ngoài, th́
cái sắc tướng bên ngoài ấy là Pháp Tánh.
Tổ sư đại đức
thường nói cái niệm thứ nhất chính là chánh
niệm! Niệm thứ nhất không khác không hai với
niệm của chư Phật Như Lai. V́ thế, quư
vị là Phật, Như Như Phật; thế nhưng
vấn đề nằm ở đâu? Cái niệm thứ
hai là phiền toái rồi, bị đọa lạc,
chẳng thể duy tŕ cái niệm thứ nhất. Do cái
niệm thứ nhất không có vọng tưởng, không có
phân biệt, không có chấp trước, chúng vẫn
chưa khởi lên. Cái niệm thứ hai là khởi tâm
động niệm, vừa khởi tâm động niệm
bèn rớt vào ư thức, trí huệ Bát Nhă vốn sẵn có
nơi tự tánh bị biến thành ư thức, biến thành
tám thức, hỏng rồi, đọa lạc phàm phu
rồi. Hễ đọa lạc bèn tự nhiên khởi lên vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. Vọng tưởng
là A Lại Da Thức. Phân biệt là thức thứ sáu: Ư
Thức. Chấp trước là Mạt Na, phải biết
như thế. Trong Tự Tánh không có những thứ
ấy. Tự Tánh, Chân Tâm, trong Chân Tâm không có những
thứ đó. Những thứ đó là nhiễm ô, những
thứ ấy gọi là Bất Giác. Có những thứ
ấy, quư vị sẽ chẳng giác, nhà Phật gọi quư
vị là phàm phu. Quư vị không có vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước th́ Phật pháp gọi quư
vị là thánh nhân, gọi là Phật, Bồ Tát. Phật,
Bồ Tát và phàm phu sai biệt ở chỗ này!
Phật, Bồ Tát vĩnh viễn
giữ được cái niệm thứ nhất, tuyệt
đối chẳng rớt vào niệm thứ hai, bởi
thế gọi là “nhất tâm
bất loạn”. Chúng ta có nhất tâm, nhưng cái
nhất tâm ấy hết sức nhanh chóng, lập tức
rớt vào hai, ba, bốn, lập tức đọa lạc.
Đọa lạc rồi th́ mắt ta thấy bèn thành Nhăn Thức
thấy Sắc Trần, không gọi là Sắc Tánh; Nhĩ Thức
nghe Thanh Trần. Đó là cảnh giới phàm phu. Tâm
hạnh như vậy sẽ luân hồi trong lục
đạo, biến Nhất Chân pháp giới thành lục
đạo luân hồi. Phải hiểu đạo lư này, phải
hiểu rơ sự thật chân tướng. Thực sự
hiểu được, thực sự hiểu rơ th́
lục đạo và chín pháp giới há có chướng
ngại? V́ sao không chướng ngại? V́ nó là hư huyễn,
không thật.
Kinh Kim Cang nói: “Nhất thiết hữu
vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết thảy pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng), lục
đạo, mười pháp giới là mộng, huyễn,
bọt, bóng. Trong ấy, chỉ cần quư vị giác
chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không
nhiễm th́ quư vị vẫn trụ trong Nhất Chân pháp
giới. Chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trong thế
gian này, phàm phu chúng ta luân hồi trong lục đạo,
trụ trong đời ác ngũ trược, c̣n các Ngài
trụ trong Nhất Chân pháp giới, không tiêm nhiễm
mảy may. Các Ngài ḥa quang đồng trần với chúng
ta, cùng ăn uống vui chơi hệt như ta, cùng
chuyện văn giống như ta, nhưng hai cảnh giới
bất đồng, một đằng giác, một
đằng mê. Người giác trụ trong Nhất Chân pháp
giới, kẻ mê trụ trong đời ác ngũ
trược do chính ḿnh biến hiện, khác hẳn nhau! Sai
khác ở chỗ này!
Thân cận bạn lành th́ Phật là
bạn lành bậc nhất, chúng ta phải thân cận A Di
Đà Phật. A Di Đà Phật ở nơi đâu? Kinh A
Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng
Thọ Phật chính là A Di Đà Phật. Nếu chúng ta
đọc không hiểu, không nhận biết, ắt
phải có người giới thiệu, người
giới thiệu là ai? Tổ sư, đại đức
chú giải chính là người giới thiệu. Quư vị
thấy kinh A Di Đà có ba người giới thiệu
tốt nhất: Liên Tŕ đại sư, Ngẫu Ích
đại sư và U Khê đại sư, ba vị giới
thiệu rất hay! Đó là Sớ Sao của Liên Tŕ
đại sư, Yếu Giải của Ngẫu Ích
đại sư và Viên Trung Sao của U Khê đại
sư. Nay đang nhằm lúc chúng ta học kinh Hoa Nghiêm, kinh
Hoa Nghiêm có hai người giới thiệu: Thanh
Lương đại sư và trưởng giả Lư Thông
Huyền. Chúng ta dựa theo chú giải của hai vị này
để học tập. Như vậy, không có những
vị thực sự hữu tu hữu học, những
vị khế nhập cảnh giới ấy dẫn
dắt chúng ta, ta sẽ khó ḷng lănh hội những ư nghĩa
thực sự rất sâu trong kinh điển, rất khó
khế nhập. Đối với chúng ta, những chú
giải ấy quan trọng lắm.
Xưa kia, tiên sinh Phương Đông
Mỹ coi bộ Sớ Sao của ngài Thanh Lương,
bộ Hợp Luận của Lư trưởng giả
(tức ngài Táo Bá Lư Thông Huyền) là quốc bảo của
văn hóa Trung Quốc, tôn trọng không ǵ sánh bằng. V́
thế, cụ có thể khế nhập. Chưa có vị
xuất gia hay tại gia đại đức cư sĩ
giảng giải cho cụ cả! Chưa từng tiếp
xúc các đại đức nhà Phật, cụ hoàn toàn tự
đọc kinh ở nhà. Làm sao cụ có thể đọc
hiểu? Không có chi khác, thành kính mà thôi! Phương pháp
cụ đă dùng sau này thầy Lư đem dạy chúng tôi: “Chí
thành cảm thông!” Phương tiên sinh quả thật chí
thành cảm thông, không ai giảng giải, cũng không có ai để
bàn bạc, không ai cùng học tập, không hề, chỉ có mỗi
một ḿnh! Chúng tôi thấy cụ thành tựu, thấy
cụ dạy trong trường. Lúc ấy, không có máy thâu
h́nh, chỉ có máy thâu âm. Từ băng thâu âm, học tṛ ghi
lại lời lăo nhân gia giảng giải chỉnh
đốn thành văn tự, nay chỗ nào cũng lưu
thông, chẳng thể nghĩ bàn. Phần sau nói:
“
Nên dùng thân nào để độ chúng
sanh, bèn hiện thân đó. V́ thế ở đây bảo là: “
“Cố
kết duyên chủng” (kết chắc duyên chủng). “Cố” (固) là kiên cố, v́ sao? “Thập phương tam thế Phật, cộng đồng
nhất Pháp Thân, nhất tâm, nhất trí huệ, lực, vô úy
diệc nhiên” (Mười phương ba đời
Phật, cùng chung một Pháp Thân, một tâm, một trí
huệ, lực, vô úy cũng thế). Kinh luận nhà
Phật thường nói điều này. Như vậy, chúng
ta và hết thảy chư Phật đều có duyên,
cũng có duyên với hết thảy Bồ Tát. Đối
với hết thảy chúng sanh cũng đều có duyên
giống như vậy. Hiện thời gọi “duyên” là
“quan hệ”; hiện nay không gọi là “duyên” mà gọi là “quan
hệ”. Chúng ta có quan hệ với Phật, có quan hệ
với Bồ Tát, có quan hệ với Thanh Văn, Duyên Giác,
quan hệ hết sức mật thiết với hết
thảy chúng sanh, há có thể nói là không quan hệ
được ư? “Nhược
thế xuất thế” (Dù là thế gian hay xuất thế
gian), thế gian là chín pháp
giới chúng sanh; xuất thế là tứ thánh, “tất bất khả tư nghị
dă” (thảy đều chẳng thể nghĩ bàn).
Đúng là chẳng thể nghĩ bàn, không giả. Không một
chúng sanh nào chẳng hữu
duyên với ta, chẳng những hữu t́nh chúng sanh có
duyên
với ta, mà vô t́nh chúng sanh cũng đều chẳng
ngoại lệ.
Kinh Hoa Nghiêm nói “t́nh dữ vô t́nh, đồng viên Chủng Trí” (hữu
t́nh và vô t́nh, đều viên thành Chủng Trí). Hữu t́nh
lẫn vô t́nh đều chẳng ngoại lệ; nhưng
sao lại nói kẻ này có duyên với ta, kẻ kia vô duyên?
Đều là hữu duyên cả, nhưng trong duyên lại có
thân và sơ. Ví như người cùng một nhà, cha con
một nhà thân thiết nhất, chúng ta thường nói là
thân thiết bậc nhất, có duyên mật thiết
nhất. Thứ hai là huynh đệ, anh em, chị em, anh
chị em cùng một bọc là thân thiết bậc nh́,
đến đời thứ ba là con cháu ruột và cháu
họ là mối thân thiết bậc ba. Như vậy là có
thân và sơ khác nhau. Hết thảy đều có quan
hệ, nhưng thân hay sơ khác nhau. Có thể dùng pháp thế
gian để so sánh với Phật pháp, Phật pháp cũng
giống như vậy. Ta và hết thảy chư Phật
Như Lai đều hữu duyên, đó là chuyện
thật, không giả đâu! Nhưng trong đời
đời kiếp kiếp quá khứ, đă thường
lai văng với một vị Phật nào đó, thường
xuyên thân cận là có duyên với vị ấy, khác hẳn
cái duyên đối với những vị Phật khác. Duyên
do là như vậy.
Trong ṿng bầu bạn, chúng ta
thường qua lại với những ai th́ t́nh cảm
đối với những người ấy khác với
những người khác. Có như vậy, quư vị
mới thực sự hiểu v́ sao nhà Phật
thường nói “Phật bất
độ vô duyên chi nhân” (Phật chẳng độ
kẻ vô duyên), mới thực sự hiểu
được đạo lư này. Nói thật ra, ai mà không có
duyên? Đều có duyên hết. Phật chẳng độ
kẻ vô duyên là v́ duyên ấy quá ít, quá mỏng. Duyên sâu, duyên
dầy th́ gặp mặt bèn sanh ḷng vui thích, chúng ta gọi
là “rất hợp duyên”. Đó là v́ trong đời
đời kiếp kiếp quá khứ thường chung
đụng, hoặc thường làm người một nhà,
hoặc thường làm bạn bè tốt, thường là
đồng tham đạo hữu, duyên ấy rất sâu,
rất dễ dung ḥa. Hai bên có thể tạo dựng
mối quan hệ tin tưởng, tôn trọng, tin cậy,
nương tựa lẫn nhau, duyên sâu là như vậy
đó! Phải hiểu đạo lư này, chứ không
phải là thực sự chẳng có duyên. Núi, sông,
đại địa, thực vật, khoáng vật
thảy đều có duyên.
Nếu quư vị bảo là không có duyên th́
nước kia v́ sao quư vị dùng cái tâm yêu thương
đối với nó, nó liền kết tinh như một đóa
hoa rất đẹp, v́ sao nó lại có thể kết tinh
như thế? Từ chỗ này, quư vị mới vỡ
lẽ: Hữu duyên! Dùng ư niệm bất hảo đối
với nó, nó hiện ra xấu xí. Đó là duyên. Nếu
bảo là không có duyên làm sao giảng cho thông? Duyên ấy chính
là ǵ? Thể tánh. Một thể tánh, nơi vô t́nh chúng sanh,
nước là vô t́nh th́ thể tánh ấy được
gọi là Pháp Tánh, nơi hữu t́nh gọi là Phật Tánh.
Phật Tánh và Pháp Tánh gọi
gộp lại là “thể tánh”. Do vậy, pháp thế gian và
xuất
thế gian đều chẳng thể nghĩ bàn. Nay đă
hết giờ rồi!
Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 11 hết
[1] Kim Cang Lực Sĩ là thần hộ
pháp của Phật giáo. Vị này thường
được coi là hóa thân của Kim Cang Thủ Bồ Tát
(Vajrapani). Kim Cang Lực Sĩ là danh xưng chung để
chỉ các vị thần hộ pháp tay cầm Kim Cang Xử
bảo vệ Phật pháp như Kim Cang Mật Tích (Guhyapāda-Vajra),
Na La Diên Kim Cang, Chấp Kim Cang Thần (Vajradhara, c̣n dịch
là Tŕ Kim Cang, Kim Cang Thủ, Kim Cang Dạ Xoa, Đại
Lực Kim Cang Thần, Kim Cang Lực Quỷ Thần) v.v...
Theo sách Huyền Ứng Âm Nghĩa, quyển 24: “Na La, cơi này dịch là Nhân (con
người), Diên cơi này dịch là Bổn Sanh. Na La Diên là
Nhân Bổn Sanh (sanh ra con người), tức là Phạm
Vương vậy”. Như vậy, Na La Diên là danh
xưng khác của Phạm Vương.
[2] Tiên thiên: Những ǵ được
bẩm sanh, tức là điều kiện về thân thể
được h́nh thành từ lúc bắt đầu mang thai
cho đến khi được sinh ra. Hậu thiên là
những biến đổi về thân thể do cách nuôi
dưỡng và chăm sóc.
[3] “Cách hành
như cách sơn” là một thành ngữ, hàm ư: Không
phải là người chuyên môn trong một nghề
nghiệp sẽ cảm thấy xa lạ đối với
nghề nghiệp ấy giống như thuộc vào một
thế giới khác, hoặc bị ngăn cách, che lấp
bởi một rặng núi to, không thể thấy
được những chuyện trong lănh vực ấy.
[4] Ngũ Luân là năm mối quan hệ
chính yếu trong xă hội, tức cha con, vua tôi, anh em,
vợ chồng, bè bạn. Do trong năm mối quan hệ
này, mỗi mối quan hệ đều có quan hệ song
phương nên mỗi mối quan hệ đều bao
gồm hai ư nghĩa, v́ thế mới nói là ngũ luân thập
nghĩa. Câu nói trên đây trích từ thiên Đằng Văn
Công trong sách Mạnh Tử. Chúng tôi dịch câu này theo cách
giải thích trong sách Tứ Thư Bạch Thoại
Giải.
[5] Bút kư ở đây chính là cuốn A Di
Đà Kinh Yếu Giải Nghiên Tập Báo Cáo của ḥa
thượng Tịnh Không.
[6] Thượng Sư là dịch nghĩa
chữ Guru trong tiếng Phạn. Đôi khi c̣n dịch là
Đạo Sư, Đại Sĩ. Chữ Guru ban
đầu chỉ có nghĩa là bậc thầy, chuyên gia
đầy kinh nghiệm về một lănh vực nào đó.
Trong Ấn Độ Giáo và đạo Sikh, chữ Guru
thường được chỉ những bậc hành
giả đạt kinh nghiệm tâm linh cao, thực
chứng. Riêng trong Phật giáo Tây Tạng, chữ Guru
Rinpoche chỉ dành riêng để gọi Liên Hoa Sanh
đại sĩ (Padmasambhava), sáng tổ Phật giáo Tây
Tạng.
[7] Chữ “giải phóng” ở đây
chỉ thời điểm Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa thành
lập, tức là khi Mao Trạch Đông chiếm trọn
Hoa Lục, chánh phủ Dân Quốc của Tưởng
Giới Thạch phải chạy ra Đài Loan. Cộng Ḥa Nhân
Dân Trung Hoa thành lập ngày Mồng Một tháng Mười
năm 1949. Như vậy, ḥa thượng Tịnh Không sang
thăm cụ Hoàng là vào năm 1989.