Trung Phong Tam Thời
Hệ Niệm Pháp Sự
Giảng Kư,
Phần 12
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Hội Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Xin xem tiếp tiểu
đoạn cuối cùng của phần Sáu Phương
Phật:
“Di Đà
thị Pháp Giới Tạng Thân, cố nhất niệm, nhất
thiết niệm, niệm nhất Phật, tức niệm
nhất thiết Phật. Cực Lạc thị pháp giới
tạng độ, cố nhất sanh, nhất thiết
sanh, sanh Cực Lạc nhất độ, tức sanh nhất
thiết chư Phật quốc độ dă” (Di Đà là Pháp Giới Tạng Thân, v́
thế niệm một là niệm hết thảy, niệm
một vị Phật chính là niệm hết thảy
Phật. Cực Lạc là pháp giới tạng độ, v́
thế sanh về một là sanh hết thảy, sanh về
một cơi Cực Lạc chính là sanh về cơi nước
của hết thảy chư Phật). Tiểu đoạn
này là lời khai thị của Ngẫu Ích đại
sư, nói rất hay, phá trừ triệt để mọi
nghi vấn đối với thế giới Cực
Lạc. V́ sao phải niệm A Di Đà Phật? V́ sao
phải sanh về thế giới Cực Lạc? Từ
trước đến nay chưa có ai giảng rơ ràng, minh
bạch được như vậy. Mười
phương chư Phật rất nhiều, v́ sao chỉ
niệm ḿnh A Di Đà Phật? Do câu nói này bèn minh bạch.
Mười phương Tịnh Độ cũng rất
nhiều, sao lại chỉ riêng sanh về Cực Lạc
Tịnh Độ? Lời giải đáp của Ngẫu
Ích đại sư rất hay: “Di
Đà là Pháp Giới Tạng Thân”. Trong kinh Đại
Thừa thường nói đến Pháp Tánh Thân, Pháp Tánh
Độ; Pháp Giới Tạng Thân chính là Pháp Tánh Thân,
đấy chính tên gốc của Pháp Thân Phật!
Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) cũng
là tên gốc của Pháp Thân. Nếu dịch ư nghĩa
của danh hiệu ấy sang tiếng Hán th́ Tỳ Lô Giá Na
chính là Biến Nhất Thiết Xứ (trọn khắp
mọi nơi). A Di Đà Phật nếu dịch sang
tiếng Hán là Vô Lượng, hết thảy đều vô
lượng: Vô lượng trí huệ, vô lượng
đức năng. Con người hiện tại cầu
vô lượng của cải, vô lượng tướng hảo, vô lượng
phước báo, cái ǵ cũng đều là vô lượng, sự
vô lượng ấy trọn khắp hết thảy mọi
chỗ! Bởi thế, Tỳ Lô Giá Na và A Di Đà Phật
đều là đức hiệu của Pháp Giới
Tạng Thân; niệm một Phật hiệu này là niệm
tất cả hết thảy Phật hiệu, nhất
định phải biết điều này! Tỳ Lô Giá Na
chỉ là “trọn hết thảy mọi nơi”, cái ǵ “trọn
hết thảy mọi nơi”? Nội dung của chữ A
Di Đà rất phong phú, đă phô bày rơ những ư nghĩa
ấy. Những danh hiệu chư Phật khác chỉ là Báo
Thân hay Ứng Hóa Thân của Pháp Giới Tạng Thân. Mười
phương cơi nước khác đều là Báo độ,
là Phương Tiện độ, là Đồng
Cư độ. Tạng Thân là Pháp Tánh Thân, Tạng
độ là Pháp Tánh Độ, tức Thường
Tịch Quang Độ. Do vậy, niệm một danh
hiệu Phật này là niệm tất cả hết thảy
Phật!
Giống như hiện nay chúng ta là
quốc gia dân chủ, trước kia là thời đại
đế vương; chúng ta nói đến danh hiệu Tổng
Thống là nói đến tất cả văn vơ bá quan trong một
nước, v́ Tổng Thống là bậc nhất. Niệm
danh hiệu của những vị Phật, Bồ Tát khác
giống như gọi tên bộ trưởng, tỉnh
trưởng, huyện thị trưởng, ư nghĩa là
như vậy đó. Thế giới Cực Lạc là Pháp
Giới Tạng Độ, giống như nói đến
tên một quốc gia; [như nói] Trung Quốc th́ tất
cả hết thảy những tỉnh, huyện, thành
phố của Trung Quốc há chẳng đều
được tính gộp trong ấy hay sao? Niệm danh hiệu
những cơi Phật khác giống như niệm tên một
tỉnh, niệm tên một thành phố, như chúng ta nói
đến Bắc Kinh, nói đến Thượng Hải,
nói đến Giang Tô, chỉ là một địa khu,
chứ không phải là toàn quốc.
Như vậy, nói đến thế
giới Cực Lạc giống như nói về toàn
thể, A Di Đà Phật là tên gốc của hết
thảy chư Phật, không vị Phật nào lại
chẳng vô lượng thọ, vô lượng giác ngộ,
vô lượng đức năng, vô lượng trí
huệ, vô lượng tướng hảo, mọi
đức Phật đều là như vậy. V́ thế,
đức Thế Tôn dạy chúng ta niệm A Di Đà
Phật, dạy chúng ta nhất định phải sanh
về Cực Lạc Tịnh Độ. Đạo lư là ở
chỗ này, đúng là “nhất
niệm, nhất thiết niệm; nhất sanh, nhất thiết
sanh” (niệm một là niệm hết thảy, sanh
về một là sanh về hết thảy). Sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới là sanh về
hết thảy các cơi Phật. Phải là người
đại thiện căn, đại phước
đức mới ḥng làm được!
Thế nào là đại thiện căn,
đại phước đức? Đối với pháp
môn này, nếu ai có thể tin tưởng, có thể
nhận hiểu, thực sự chịu thực hành th́
người như vậy chính là đại thiện
căn, đại phước đức. Gặp
được Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu [pháp
môn này] cho chúng ta, lại gặp được rất
nhiều thiện tri thức đem pháp môn này giới
thiệu cho ḿnh, đấy chính là đại nhân duyên mà trong
một đời này chúng ta được gặp gỡ!
Gặp gỡ rồi lại có thể tin tưởng,
hiểu biết, có thể thực hành, thực sự chẳng
dễ dàng! Đây chính là kinh nghiệm của bản thân
tôi. Tôi học Phật từ phương diện triết
học, chứ không phải từ mặt tôn giáo, theo
đuổi Phật giáo trên phương diện học
thuật. Sau khi theo đuổi, mới dần dần
nhận ra rất nhiều cái hay của Phật pháp, Phật
pháp rộng lớn mênh mông, tinh túy, sâu thẳm, sanh khởi
ḷng ngưỡng mộ vô hạn; do vậy, mới nghiêm
túc học tập!
Phật pháp có nội dung thật phong
phú, Tịnh Độ chỉ là một loại. Bởi lẽ,
nói thật ra, tu học Tịnh Độ rất dễ
dàng, rất đơn giản nên chúng tôi coi thường,
không xem trọng. Mục tiêu của chúng tôi là kinh to luận
lớn. Tôi đă thưa cùng với quư vị rất
nhiều lần, cuối cùng tôi quay đầu chuyên tu
Tịnh Độ là nhờ đọc những bộ kinh to
luận lớn như kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa, kinh Lăng
Nghiêm mới biết Tịnh Độ thù thắng.
Đặc biệt là thấy Văn Thù, Phổ Hiền,
Thiện Tài đồng tử đến cuối cùng,
đến cuối kinh Hoa Nghiêm, các Ngài đều phát
nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Do vậy, tôi
mới thức tỉnh, chú ư đến Tịnh Độ,
[thắc mắc]: V́ sao những vị ấy lại đều
cầu sanh Tịnh Độ? Họ đều là bậc
Đẳng Giác Bồ Tát trong thế giới Hoa Tạng; do
vậy, tôi mới thực sự lưu ư, đọc
tụng, nghiên cứu, học tập. Càng thâm nhập càng
biết pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn. Chẳng
lạ ǵ [trong kinh này], đức Thế
Tôn bốn lượt khuyên dạy, mười
phương chư Phật tán thán. Đến tác phẩm
Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư mới nói ra chuyện
tiền nhân chưa hề nói: “Di
Đà thị Pháp Giới Tạng Thân, Cực Lạc
thị Pháp Giới Tạng Độ” (Di Đà là Pháp
Giới Tạng Thân, Cực Lạc là Pháp Giới Tạng Độ).
Đấy mới chính là thực sự giăi bày trọn
vẹn triệt để khiến cho chúng tôi đối
với pháp môn này không c̣n tí ti nghi hoặc nào nữa!
Đồng thời, chúng tôi cũng
hiểu rơ: Nay vẫn có kẻ ngờ vực, vẫn
chẳng thể chết ḷng sát đất học tập,
không khác ǵ tôi trước kia. Ba bốn mươi năm
trước, đối với pháp môn này chúng tôi đă
chẳng từng trải qua giai đoạn ấy hay sao? Bởi
vậy, tu học Phật pháp, ta nay phải hết sức
quan sát, thọ mạng rất quan trọng! Phải
trường thọ th́ quư vị mới có thể học
được. Nếu thọ mạng ngắn ngủi,
chưa nhận biết th́ đă chết mất rồi, hoặc
là vừa mới nhận ra, chưa kịp tu hành th́ thọ
mạng đă hết, thật đáng tiếc! Do chỗ
này, chúng tôi cũng đặc biệt đề cao Tây
Phương Cực Lạc thế giới; cổ nhân nói
cái đức thứ nhất (tức là chuyện tốt
thứ nhất) chính là vô lượng thọ! Sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, thọ mạng
vĩnh viễn! Thực sự vô lượng, chẳng phải
là vô lượng hữu hạn, mà thực sự vô
lượng! Sanh về bất cứ đâu cũng là vô
lượng hữu hạn, nhưng nhất định
phải thành Phật, thành Phật rồi th́ sẽ vô
lượng một cách vô lượng.
Do vậy, chúng ta có thể nói: Sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ vô
lượng thọ là thật chứ không phải giả,
quả thật là vô lượng một cách vô lượng.
Trong một đời này, chúng ta gặp được
cơ hội như thế này, có thể nói là rất
nhiều may mắn! Chỉ những người hiểu
biết rơ ràng mới chịu triệt để buông
xuống hết thảy pháp thế gian và xuất thế
gian, chuyên học pháp môn này, chuyên tu pháp môn này! Quyết
định phải thành tựu ngay nơi một môn này th́
cái đời này mới có ư nghĩa, có giá trị, không
uổng phí! Do vậy, đoạn văn này hết sức
quan trọng. Đoạn lớn Sáu Phương Phật
chúng tôi giới thiệu đến đây thôi. Tiếp theo
là đoạn thứ năm: “Cái
lợi của tín nguyện tŕ danh”.
6.4.2. Cái lợi của tín
nguyện tŕ danh
Chúng tôi đọc kinh văn một
lượt:
Xá Lợi Phất! Ư nhữ ư vân hà? Hà
cố danh vi Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ
Niệm Kinh?
舍利弗。於汝意云何。何故名為一切諸佛所護念經。
(Này Xá
Lợi Phất! Ư ông nghĩ sao? V́ sao gọi là kinh
Được Hết Thảy
Đây là câu hỏi, đoạn sau là câu
trả lời:
Xá Lợi Phất! Nhược hữu
thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thị kinh,
thọ tŕ giả, cập văn chư Phật danh giả,
thị chư thiện nam tử, thiện nữ nhân giai vi
nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm,
giai đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La
Tam Miệu Tam Bồ Đề.
舍利弗。若有善男子善女人。聞是經受持者。及聞諸佛名者。是諸善男子善女人。皆為一切諸佛之所護念。皆得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提。
(Này Xá
Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện
nữ nhân nghe kinh này, thọ tŕ và nghe danh hiệu chư
Phật th́ những thiện nam tử, thiện nữ nhân
ấy đều được hết thảy chư
Phật hộ niệm, đều được bất
thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác).
Đến đây là một đoạn,
cuối cùng lại có một câu khuyên dụ chúng ta.
Thị cố Xá Lợi Phất! Nhữ
đẳng giai đương tín thọ ngă ngữ cập
chư Phật sở thuyết.
是故舍利弗。汝等皆當信受我語。及諸佛所說。
(V́ thế
Xá Lợi Phất! Các ông đều phải nên tin nhận
lời ta và lời chư Phật đă nói).
Đây là đoạn kinh văn lớn
thuộc phần sau cùng; chúng tôi cũng chia ra thành mấy
hạng mục nhỏ, chia thành mười mục nhỏ
để học tập. Thứ nhất là “khuyến tín Phật thuyết, văn kinh thọ tŕ,
văn chư Phật danh” (khuyên tin lời Phật, nghe
kinh thọ tŕ, nghe danh hiệu chư Phật). Ở
chỗ này, lại phải giải thích từ ngữ “chư Phật danh”. “
Ở phần sau đoạn kinh này, Thích
Ca Mâu Ni Phật có nói như sau: “Như
ngă kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư
nghị công đức” (Như ta nay xưng tán công
đức chẳng thể nghĩ bàn của chư
Phật), th́ chữ “chư
Phật” ấy chính là A Di Đà Phật. “Bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán
ngă bất khả tư nghị công đức” (các
vị Phật ấy cũng khen ngợi công đức
chẳng thể nghĩ bàn của ta) th́ “các vị Phật ấy” cũng là A Di Đà
Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật xưng tán A Di Đà Phật, A
Di Đà cũng xưng tán Thích Ca Mâu Ni Phật. Không riêng ǵ A
Di Đà Phật xưng tán Thích Ca Mâu Ni Phật, mà
mười phương ba đời hết thảy
chư Phật khen ngợi lẫn nhau, đều cùng tán thán
Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật cũng thế,
khen ngợi A Di Đà Phật và cũng xưng tán mười
phương hết thảy Phật; nhưng chữ “chư Phật danh” chủ
yếu chỉ A Di Đà Phật, v́ A Di Đà Phật là Pháp
Giới Tạng Thân! Danh hiệu ấy là danh hiệu
của hết thảy chư Phật, chúng ta nhất
định phải hiểu ư nghĩa này! Tín nguyện kiên
định do chỗ này mà sanh!
“Văn
kinh thọ tŕ” (nghe kinh
thọ tŕ), nghe đến kinh A Di Đà, quư vị có
thể tiếp nhận, quư vị có thể ǵn giữ
chẳng bỏ mất, đúng là “niệm tư tại tư” (niệm ở đâu,
nghĩ ở đấy), chuyện tốt là ǵ? “Vị chư Phật chi sở hộ
niệm” (được chư Phật hộ niệm).
Trong số chư Phật, vị thứ nhất chính là A Di
Đà Phật hộ niệm quư vị. Thứ hai là
mười phương ba đời tất cả hết
thảy chư Phật đều hộ niệm quư vị.
Niệm một danh hiệu Phật là tất cả danh
hiệu Phật đều niệm, không sót một vị
nào! Quư vị niệm những danh hiệu khác, chẳng
thể bao quát viên măn như vậy được! Nhất
quyết phải hiểu đạo lư này.
Mười phương vô lượng
vô biên thế giới, hết thảy chúng sanh có thiện
căn, phước đức, nhân duyên đầy
đủ trong ấy, không một ai chẳng niệm A Di
Đà Phật. Quư vị thấy trong thế giới Hoa
Tạng, Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát và
bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân
đại sĩ; bốn mươi mốt địa
vị ấy chính là bốn mươi mốt tầng cấp,
bao gồm hết thảy tất cả Bồ Tát trong thế
giới Hoa Tạng, không sót một vị nào! Địa
vị thấp nhất trong thế giới Hoa Tạng là
Sơ Trụ Bồ Tát, đó là Viên Giáo, tức Sơ
Trụ Bồ Tát trong Đại Thừa Viên Giáo, cao
nhất là Đẳng Giác Bồ Tát, [Phổ Hiền Bồ
Tát] khuyên dạy những vị ấy đều niệm A
Di Đà Phật cầu sanh Cực Lạc Tịnh
Độ, thật chẳng thể nghĩ bàn! Chúng tôi
thấy cảnh giới như vậy mới hoảng nhiên
đại ngộ, nguyên lai Phật pháp đến cuối
cùng nhắm vào chuyện này, nên tôi bèn thực sự
hiểu rơ, minh bạch, cớ sao không chết ḷng sát đất
quy y Tịnh Độ!
Thế nhưng nhân duyên không đủ,
sẽ không gặp được pháp môn này, không gặp
được những vị thiện tri thức chỉ
dạy tỉ mỉ cho ḿnh. Nếu chúng ta vẫn c̣n hoài
nghi, vẫn do dự, vẫn chẳng bằng ḷng tin
tưởng, chẳng bằng ḷng tiếp nhận là v́ sao?
Kinh bảo là v́ thiện căn, phước đức,
nhân duyên ít ỏi! Kinh dạy rất rơ ràng: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước
đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng
thể dùng chút thiện căn, phước đức nhân
duyên để được sanh về cơi ấy). Sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới th́
thiện căn, phước đức, nhân duyên phải
đặc biệt sâu dầy! Chúng ta có biết thiện
căn, phước đức, nhân duyên của chính ḿnh có sâu
dầy hay chăng? Không biết! Dù hiện tại không
biết, dần dần cũng sẽ biết. Dần
dần sẽ biết như thế nào? Chúng ta đối
với pháp này sanh ḷng tin, chúng ta rất vui ḷng văng sanh th́ sẽ
biết là chính ḿnh thiện căn sâu dầy, vốn không ít
ǵ! Nếu không ít, v́ sao lúc tiếp xúc lại gặp khó
khăn đến thế? Là v́ trong vô lượng kiếp chúng
ta bị phiền năo, tập khí chướng ngại, che
lấp. Hễ có thiện tri thức dẫn dắt, chúng ta
sẽ rất nhanh chóng trừ khử được
chướng ngại ấy, tín tâm, nguyện tâm sẽ sanh
khởi. Điều này thuộc về nhân duyên.
Đúng là như kinh này đă dạy: “Bất khả dĩ thiểu thiện
căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ
quốc” (chẳng thể dùng chút thiện căn,
phước đức, nhân duyên để được
sanh về cơi ấy); quư vị có thiện căn và
phước đức rất sâu, nhưng không có nhân duyên
dẫn dắt và khơi gợi quư vị, dù có thiện
căn và phước đức rất sâu, chúng cũng
chẳng thể hiện tiền. V́ sao? Bị danh văn,
lợi dưỡng trong thế tục, bị ngũ
dục, lục trần chướng ngại, mê man trong
đó. Do vậy, bậc chân thiện tri thức cảnh
tỉnh quư vị một chút, quư vị bèn hoảng nhiên
đại ngộ, đầy ắp ḷng tin vào bản thân,
trong một đời này, quyết định
được văng sanh, quyết định có thể thân
cận A Di Đà Phật, chẳng thể nghĩ bàn!
Bởi vậy, hết thảy chư Phật đều
hộ niệm quư vị. Nay chúng ta gọi sự hộ
niệm ấy là “quan hoài”
(quan tâm lo lắng). “Hộ”
(護) có nghĩa là che chở, giúp đỡ,
quan tâm. Lợi ích là “giai đắc
bất thoái Đại Bồ Đề” (đều
được chẳng thoái chuyển nơi Đại
Bồ Đề). Lợi ích này rất lớn, ai nấy
đều được chẳng thoái chuyển Vô
Thượng Bồ Đề Tâm! Vô Thượng Bồ
Đề Tâm chính là những điều trong mấy năm
gần đây chúng tôi thường đề cao: “Chân thành, thanh tịnh, b́nh
đẳng, chánh giác, từ bi”. Nó chính là chân tâm, Phật
tánh của chính ḿnh, chúng ta vốn sẵn có.
Hiện tại, cái sẵn có ấy
tợ hồ không có, thật ra, nó không mất đi,
chỉ là bị tự tư, tự lợi, danh văn,
lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần
chướng ngại. Chúng ta không buông những
chướng ngại ấy xuống được, cho nên
chân tâm của chính ḿnh chẳng thể hiện tiền.
Phải biết tự tư, tự lợi, danh văn,
lợi dưỡng, cái tâm tham cầu hưởng thụ
hết thảy chính là vọng tâm, chứ không phải là chân
tâm. Những thứ đó chướng ngại chân tâm của
chúng ta. Bởi thế, chỉ cần buông chướng
ngại xuống, buông tự tư tự lợi xuống,
buông danh văn, lợi dưỡng xuống, buông tham, sân,
si, mạn xuống th́ chân tâm của chúng ta bèn hiện
tiền. Chân tâm có vô lượng trí huệ, vô lượng
đức năng, vô lượng phước báo. Hoàn
cảnh thọ dụng của chân tâm là thế giới
Cực Lạc, tức thế giới Hoa Tạng.
Hoa Tạng và Cực Lạc ở
tại đâu? Ở ngay trước mắt; chỉ
cần quư vị buông vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước xuống sẽ thấy được,
sẽ thọ dụng được. Quư vị không
chịu buông xuống th́ Hoa Tạng sẽ thuận theo
vọng niệm của quư vị biến thành uế
độ, biến thành đời ác ngũ trược.
Chuyện này trong hiện tại đă nghiễm nhiên bị
khoa học phát hiện, đấy là chuyện tốt. Họ
vừa mới phát hiện cái khởi đầu, thế
nhưng khởi đầu này rất hay, khiến cho
những người đă tu Tịnh Độ chúng ta tín
tâm mười phần trọn đủ! V́ sao? Đă
được khoa học chứng minh. Chứng minh
điều ǵ? Chứng minh “tướng chuyển theo tâm”,
thân thể và thể chất chuyển theo tâm, hoàn cảnh sống
chuyển theo tâm. Chân tâm của chúng ta thuần thiện,
thuần tịnh, tướng mạo của chúng ta
thuần thiện, thuần tịnh, thân thể chúng ta
thuần thiện thuần tịnh, hoàn cảnh sống
thuần thiện thuần tịnh, đó là thật,
chứ không phải giả. Hết thảy pháp sanh từ
tâm tưởng, kinh Hoa Nghiêm giảng là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”;
kinh Lăng Nghiêm nói: “Chư pháp
sở sanh, duy tâm sở hiện, nhất thiết nhân
quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành Thể” (Các
pháp được sanh chỉ do tâm hiện, hết
thảy nhân quả, thế giới, vi trần, do tâm mà thành
Thể), chẳng thể nghĩ bàn! Khoa học đă
nghiễm nhiên chứng minh được điều
ấy, phát hiện được như vậy, kinh
Phật giảng rất thấu triệt dường ấy!
“Giai đắc
bất thoái Đại Bồ Đề” (đều được bất thoái
Đại Bồ Đề). Có thể nói là Đại
Bồ Đề dẫn xuất vô lượng trí huệ,
chúng sẵn có trong bản tánh của quư vị, chứ không
đến từ bên ngoài, chính ḿnh vốn sẵn có. Trong tâm
tánh của chính ḿnh, vốn sẵn có vô lượng trí
huệ, vô lượng tài nghệ, vô lượng
đức năng, vô lượng vô biên phước báo. Do
vậy, đức Phật khuyên dạy lần thứ ba
nhằm khuyên chúng ta phải tin tưởng. “Tín Thế Tôn thuyết” (tin
lời đức Thế Tôn nói), Thích Ca Mâu Ni Phật
giảng cho chúng ta nghe kinh này, chúng ta phải tin
tưởng lời đức Thế Tôn nói, phải tin
tưởng “lời chư
Phật nói”. Kinh Vô Lượng Thọ có không ít
đoạn kinh văn do chính A Di Đà Phật nói,
mười phương chư Phật Như Lai v́ chúng ta
chứng minh, khuyên dạy chúng ta phải tin tưởng,
phải tin lời chư Phật. Lại xem tiếp
một tiểu đoạn nữa.
“Thử
kinh độc hiển” (riêng
ḿnh kinh này hiển thị), tức là Phật Thuyết A Di
Đà Kinh không dài, nhưng quư báu nhất trong hết
thảy các kinh. Tại Trung Quốc, trong số những
kinh điển Phật giáo, tuy kinh Kim Cang và Tâm Kinh rất
nổi tiếng, nhưng chẳng ai không biết đó là do
ảnh hưởng của Thiền tông; chứ xét trên
thực tế, quư vị thử xét xem người tu hành thực
sự dùng pháp môn nào? Kinh Di Đà là bậc nhất. Không
riêng ǵ Tịnh Độ tông, bất luận tông phái nào, quư
vị cứ xem Thiền Môn Nhật Tụng, xem sách khóa tụng
của nhiều tông phái, khóa tối đều niệm A Di
Đà Kinh, đều niệm A Di Đà Phật. Gần như
chẳng phân tông phái, hễ là người học Phật,
học theo Đại Thừa th́ không ai chẳng niệm
kinh Di Đà, không ai chẳng niệm A Di Đà Phật.
Đó chính là “thử kinh độc
hiển”.
“Vô thượng
tâm yếu, năng niệm chi tâm tánh, Đệ Nhất Nghĩa
Đế, bổn nguyên Lư Thể” (vô thượng tâm yếu, cái tâm tánh
năng niệm, Đệ Nhất Nghĩa Đế,
cội nguồn lư thể), chúng ta phải hiểu những
điều này. Học Tịnh Độ mà không biết
những nghĩa lư tinh vi, tinh túy của Tịnh Độ
th́ làm sao có thể thành tựu ngay trong một đời? “Tâm Yếu” như Tánh tông hay
Thiền tông thường nói th́: Tâm là chân tâm, là những
tinh hoa trong chân tâm, Yếu là khẩn yếu. Đă thế
lại c̣n thêm hai chữ Vô Thượng, tức là không c̣n
ǵ cao hơn được nữa. Vô Thượng Tâm
Yếu là ǵ? Chính là cái tâm tánh năng niệm của chính
ḿnh, trong kinh này gọi [“vô thượng
tâm yếu”] là “nhất tâm
bất loạn”. Nhất tâm bất loạn là chữ La
Thập đại sư dùng để dịch, nguyên
bản Phạn văn không gọi là “nhất tâm bất loạn”, quư vị xem bản
dịch của ngài Huyền Trang sẽ thấy, Huyền
Trang đại sư dịch thẳng, dịch là “nhất tâm hệ niệm”. La
Thập đại sư dịch là “nhất tâm bất loạn”, dịch rất khéo!
Nhất tâm bất loạn là
được A Di Đà Phật gia tŕ, lúc được
A Di Đà Phật hộ niệm bèn đạt nhất tâm
bất loạn. Nhất tâm bất loạn là quả, là
thành tựu; c̣n công phu là nhất tâm hệ niệm, có
nghĩa là trong tâm chúng ta, trong cuộc sống thường
ngày từ sáng đến tối, trong tâm chỉ có A Di
Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra, không bận tâm đến
bất cứ ǵ khác, không có bất cứ tạp niệm
ǵ, không có vọng tưởng ǵ, cũng chẳng có phân
biệt, chấp trước, trong tâm chỉ có một câu A
Di Đà Phật. Vô thượng tâm yếu ấy, cái tâm
tánh năng niệm ấy chính là Đệ Nhất Nghĩa
Đế, là cội nguồn Lư Thể. Nếu quư vị thực
sự “phản bổn hoàn
nguyên” (trở về nguồn cội) th́ công đức
niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn. Trong đây
lại có lời giải thích:
“Chư Phật
danh tự, tức chỉ sở niệm A Di Đà Phật”
(Từ ngữ “danh hiệu
của chư Phật” chỉ đức A Di Đà Phật
được niệm). Như vậy A Di Đà Phật là
danh hiệu của chư Phật. Rất ít người
biết được điều này, từ xưa
đến nay cũng rất ít vị cổ đức
giảng như vậy. Bởi thế, cách giảng này
của Ngẫu Ích đại sư được Ấn
Quang đại sư khen ngợi, chúng ta biết Ấn
Quang đại sư là Đại Thế Chí Bồ Tát tái
lai, Ngài tán thán sách Yếu Giải: “Dẫu cho cổ Phật tái lai, chú giải kinh A Di
Đà lần nữa, cũng không thể hay hơn
được”. Tuyệt diệu! Tán thán như vậy
tức là coi Ngẫu Ích đại sư như A Di Đà
Phật tái lai. Thế nhưng từ đầu đến
cuối Ngẫu Ích đại sư không hiển lộ thân
phận, chúng ta nghĩ xem: Đại Thế Chí Bồ Tát
khen ngợi Ngẫu Ích đại sư như thế, chúng
tôi cho rằng, nếu Ngẫu Ích đại sư không phải
là A Di Đà Phật tái lai th́ cũng phải là Quán Thế
Âm Bồ Tát tái lai. Nếu không, dễ đâu
được Đại Thế Chí Bồ Tát tán thán
như thế!
Có người đă hoài nghi lời tán
thán ấy, chúng tôi đă từng gặp qua. Có người
tới hỏi tôi: “Pháp sư Tịnh Không! Ấn Quang
đại sư tán thán như vậy chẳng phải là
quá mức một chút hay không?” Tôi đáp: “Lăo nhân gia tán thán
như thế rất thích đáng, không quá lố chút nào”.
Đúng là như kinh Kim Cang đă nói: Như Lai là bậc chân
ngữ, thật ngữ, như ngữ. “Như ngữ” là lời Ngài tán thán hoàn toàn phù
hợp sự thật, quyết chẳng quá mức. Như
vậy, kinh này nói đến “chư
Phật” đều là chỉ A Di Đà Phật.
“Viên măn cứu
cánh vạn đức (rốt
ráo viên măn vạn đức); đấy chính là một trong
ba điều hiển thị độc đáo của kinh
này: Vô thượng tâm yếu chính là cái chân tâm niệm
Phật của chúng ta, phải dùng chân tâm để
niệm. Lúc mới học th́ chân tâm ấy chính là không hoài
nghi, không xen tạp, không gián đoạn. Lúc niệm
đến khế nhập cảnh giới th́ cái tâm
nhất niệm niệm Phật đă thành thục rồi,
tách rời vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. Chẳng những lúc niệm Phật không xen
tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, mà trong cuộc sống hằng ngày, làm
việc, xử sự, đăi người, tiếp vật
cũng chẳng xen tạp vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, lúc đó chính là cảnh
giới ǵ vậy? Chính là nhất tâm bất loạn, công phu
niệm Phật đă đạt được nhất
tâm rồi!
Nếu vẫn chưa đạt
được nhất tâm, mà lúc niệm Phật quư vị
có thể thực sự không hoài nghi, không xen tạp, không
gián đoạn, đó chính là “công
phu thành phiến”. Công phu thành phiến là nhất tâm
bất loạn ở mức nông cạn nhất, thế
nhưng chắc chắn quư vị sẽ được
văng sanh, tợ hồ sổ thông hành về Tây Phương
Cực Lạc đă nắm chắc trong tay, sanh vào cơi Phàm
Thánh Đồng Cư. Nếu đạt được
nhất tâm bất loạn, bèn sanh vào cơi Phương
Tiện Hữu Dư. Cao hơn nữa, đạt
đến Lư Nhất Tâm. Lư Nhất Tâm là ly niệm, Sự
Nhất Tâm là ly tướng. Kinh Kim Cang nói ĺa bốn
tướng: Vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng
sanh tướng, vô thọ giả tướng. Đó chính
là Sự Nhất Tâm Bất Loạn. Nếu quư vị không
có ư niệm, không ngă kiến, không nhân kiến, không chúng sanh
kiến, không thọ giả kiến th́ là Lư Nhất Tâm
Bất Loạn, sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm.
Nếu chúng ta tự hỏi trong một
đời này ḿnh có thể đạt đến cảnh
giới ấy hay không? Tôi xin trả lời: “Câu trả
lời là khẳng định. Vấn đề là chính quư
vị có chịu dụng công hay không?” Chuyện ấy
chẳng phải cầu nơi ai khác! Cổ thánh tiên
hiền nói rất hay: “Nhân sanh tại thế, cầu nhân
nan, thăng thiên nan” (Người
sống trong cơi đời, cầu cạnh người khác
khó khăn như lên trời). Chuyện phải
cầu cạnh người khác khó khăn lắm,
người ta không đáp ứng ḿnh làm ǵ được
đây? Chuyện này chỉ cầu nơi chính ḿnh, đừng
cầu nơi ai khác! Vấn đề là quư vị có
chịu buông xuống hay không, có buông tự tư, tự
lợi xuống được hay không? Có chịu buông danh
văn, lợi dưỡng xuống hay không? Có chịu buông
hưởng thụ ngũ dục, lục trần xuống
hay không? Có chịu buông tham, sân, si, mạn xuống hay không?
Chúng tôi thường khuyến khích đồng học,
chỉ cần quư vị buông xuống được th́
sẽ nhập cảnh giới, quư vị sẽ khế
nhập. Quư vị không buông xuống th́ không có cách ǵ
hết, Phật, Bồ Tát cũng không giúp được.
Phật, Bồ Tát chỉ có thể dạy chúng ta nguyên lư, nguyên
tắc và phương pháp; ngoài ra, không giúp cách nào
được nữa. Bởi thế, tự ḿnh phải
buông xuống, buông xuống là thấy thấu suốt,
thấy thấu suốt rồi lại càng buông xuống
triệt để, tự nhiên bèn khế nhập cảnh
giới!
Nhà Thiền nói “minh tâm kiến tánh”, chúng ta có thể minh tâm
kiến tánh hay không? Được chứ! Đạt
đến minh tâm kiến tánh là đại triệt
đại ngộ, đạt đến cảnh giới này
là Lư Nhất Tâm Bất Loạn, sanh vào cơi Thật Báo Trang
Nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Kiến tánh bèn trọn chẳng chấp tướng,
chấp tướng là chưa kiến tánh! Kiến tánh là
như vậy đó. Tự chúng ta có nhận biết
được chính ḿnh kiến tánh hay không? Biết
chứ! Biết rất rơ ràng, minh bạch. Hễ quư vị
c̣n chấp tướng, chấp tướng là phân
biệt, chấp trước (chấp tướng là phân
biệt, chấp trước) th́ quư vị vẫn chưa
kiến tánh. Người kiến tánh nhất định
chẳng chấp tướng; trong cuộc sống
thường ngày, người kiến tánh chắc chắn
tùy duyên. Kẻ chưa kiến tánh chắc chắn sẽ
phan duyên, khác hẳn! Người kiến tánh
được đại tự tại, người
chưa kiến tánh không tự tại. Cũng có thể nói
là người ấy c̣n vướng mắc; hễ c̣n
vướng mắc là c̣n chướng ngại, không
được đại tự tại!
Một bộ kinh A Di Đà này, một
câu A Di Đà này so với phương pháp tham Thiền
dễ hơn nhiều, đạt đến cảnh
giới tối cao của tham Thiền là minh
tâm kiến tánh bằng phương pháp này dễ dàng hơn
phương pháp của Tông môn rất nhiều. Nếu quư
vị thực sự muốn học, tôi có thể đưa
ra kinh nghiệm năm mươi năm tu học của chính
ḿnh cho quư vị tham khảo. Tôi thực sự đắc
lực là nhờ lời chỉ dạy của Chương
Gia đại sư. Năm mươi năm trước, tôi
vừa gặp mặt lăo nhân gia lần đầu, Ngài
dạy tôi: “Thấy thấu
suốt, buông xuống, bố thí”. Căn cơ học
Phật của tôi là lời khai thị của lăo nhân gia
trong lần đầu tiên gặp mặt ấy. Năm
mươi năm thọ tŕ lời răn dạy, y giáo
phụng hành, tôi là kẻ căn tánh trung hạ,
dần dần được nâng cao, cảnh giới
được nâng cao. Tôi chẳng phải là kẻ thượng
căn lợi trí; thượng căn lợi trí là kẻ
nghe một hiểu cả ngàn, tôi không được
như vậy, tôi phải nâng cao từng bước
từng bước một, giống như Khổng lăo phu
tử đă nói về việc nâng cao cảnh giới: “Tam thập nhi lập, tứ thập
nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mạng, lục
thập nhi nhĩ thuần, thất thập tùng tâm sở dục
bất du củ” (Ba mươi tuổi sở học
vững vàng, bốn mươi tuổi không lầm lẫn
v́ bị ngoại cảnh dao động, năm mươi
tuổi biết mạng trời, sáu mươi tuổi nghe
người khác nói liền thấu hiểu tâm ư, bảy
mươi tuổi thuận theo những mong muốn trong
ḷng mà thực hiện không trái vượt quy củ)[1]. Quả thật là tôi nâng cao
cảnh giới giống như vậy đó. Đúng là
cứ mỗi mười năm lại nâng cao một
mức lớn hơn.
Do vậy, con người chẳng thể
không tu trường thọ, tu trường thọ bằng
cách
nào? Nói thật ra, trường thọ vẫn là do thầy
chỉ dạy, ân đức của thầy lớn lao.
Thầy dạy tôi tu ba thứ bố thí, tu Tài Bố Thí
được của cải, tức là cuộc sống
vật chất không thiếu thốn. Chúng tôi không cầu
giàu có; dư dật, cầu giàu có th́ sao? Cầu giàu có,
dư dật dễ bị đọa lạc. Đấy
chính là một cửa ải: Lúc cuộc sống vật
chất quá phong phú sẽ không mong văng sanh, chẳng biết nỗi
khổ luân hồi. Quư vị thấy thuở Thích Ca Mâu Ni
Phật tại thế, Ngài xuất thân là vương
tử, vứt bỏ ngôi vua, vứt bỏ cuộc sống
vinh hoa, phú quư, đi khất thực, ngày ăn một
bữa, ngủ dưới gốc cây, làm gương cho
chúng ta thấy, chúng ta phải hiểu ư nghĩa này.
Nhất định chẳng tham cầu hưởng
thụ thế gian, vĩnh viễn ǵn giữ trí huệ cao
độ, tỉnh giác cao độ, chẳng để
đọa lạc! Thật giống như bậc
đại đức trong Tông Môn thường nói: “Bách hoa tùng trung quá, phiến
diệp bất triêm thân” (qua rừng trăm hoa nở,
mẩu lá chẳng dính thân); học được bản
lănh ấy sẽ vĩnh viễn sống trong cảnh
giới thanh lương tự tại, sung sướng
lắm! Niềm sung sướng ấy người khác
không thể biết được, Khổng phu tử
đă nói: “Học nhi thời tập
chi, bất diệc duyệt hồ” (Học rồi
thường tu tập, cũng chẳng vui sao?), niềm vui
ấy chính là pháp hỷ sung măn.
“Viên măn cứu
cánh vạn đức” (viên
măn vạn đức rốt ráo), trong đây lại có
mấy câu, “trí cứu cánh chứng
Bát Nhă đức” (trí rốt ráo chứng Bát Nhă đức).
Trí huệ viên măn, trí huệ là căn bản của hết
thảy các đức, trí huệ là bản thể của
chân tâm, chúng ta thường nói là “tâm tánh”, trí huệ chính là
bản thể của tâm tánh. Bởi thế, trí có thể
thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể
biết. Trong hội Lăng Nghiêm, đức Phật đă
giảng rất rơ ràng. Chúng ta thường thấy trong kinh
giáo, trong lời giảng kinh thuyết pháp của tổ
sư, hoặc là trong chú sớ, thường nói đến
“linh tri”, tâm đấy! Ví
như trong lời khai thị của thiền sư Trung
Phong có nhắc đến ba thứ tâm: Nhục đoàn tâm
(trái tim thịt), duyên lự tâm và linh tri tâm. Bát Nhă là linh tri
tâm. Hết thảy các pháp do Tâm mà thành thể; do đó, quư
vị phải hiểu: Hết thảy pháp đều có
thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có
thể biết.
Bởi vậy, từ việc kết
tinh nước, tiến sĩ Giang Bổn Thắng đă
chứng minh nước có linh tri, nó có thể thấy, có
thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết,
biết được ư tưởng của chúng ta. Chúng ta
dùng thiện ư th́ nó kết tinh hết sức đẹp,
chúng ta có ác ư th́ nó lập tức biến hiện hết
sức xấu xí. Không chỉ nước như vậy,
kinh Phật đă nói: Tất cả hết thảy vạn
vật không ǵ chẳng như vậy, tức là bùn, cát,
đá, kể cả hư không, hư không cũng là do tâm mà
thành Thể; do vậy, chúng đều có công năng phát
xuất từ bản tánh. Công năng phát xuất từ
bản tánh là thấy, nghe, hay, biết, thảy đều
trọn đủ. V́ thế, khoa học hiện tại hay
lắm! Tuy đă thí nghiệm thấy được
điều đó nơi nước, nhưng chúng ta
phải mở rộng thí nghiệm, tất cả hết
thảy vạn vật đều nên thí nghiệm nhằm
chứng tỏ chúng đều có thể thấy, nghe, hay,
biết, nhưng ư niệm ấy lại không có gần hay
xa.
Bọn họ đă làm thí nghiệm như
sau: Đem một b́nh nước đặt trên cái bàn làm
việc ở sở, thông báo cho hơn năm trăm
hội viên, trên toàn xứ Nhật Bản ở mọi
nơi khác nhau, cùng một thời gian, dùng ư niệm
thiện, dùng tưởng tượng, tưởng ḿnh chúc
phước cái b́nh nước ấy: “Ngươi rất
trong sạch, ngươi rất thanh khiết, ngươi
hết sức đẹp đẽ!” Ba bốn phút sau,
nước ấy kết tinh hết sức đẹp
đẽ, nó nhận lấy lời chúc phước
của mọi nơi, chứng tỏ ư niệm không có
gần hay xa. Bọn họ cho đó là cảnh giới
chẳng thể nghĩ bàn, trong Phật pháp chúng ta đă
biết rồi, v́ nguyên nhân ǵ vậy? Là do tâm mà thành Thể.
Nó có thể cảm nhận, có thể nghe, có thể
biết, nó có thấy - nghe - hay - biết!
“Đoạn
cứu cánh, chứng Giải Thoát đức” (đoạn rốt ráo, chứng Giải
Thoát đức). “Đoạn”
(斷) là đoạn vọng tưởng,
đoạn phân biệt, đoạn chấp trước.
Chỉ cần đoạn được vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước th́ sẽ
buông xuống được. Giải thoát là tự tại,
quư vị được đại tự tại. Sự
tự tại ấy chẳng thể nghĩ bàn! Tự
tại như thế nào? Năng lực được khôi
phục, chúng ta thường gọi [năng lực ấy]
là “thần thông”: Quư vị có
thể thấy trọn khắp hư không pháp giới,
cũng nghe được như vậy, năng lực
của sáu căn được khôi phục viên măn. Nhà
Phật gọi đó là “sáu món thần thông”, người
hiện tại gọi là “năng lực đặc
dị”. Đấy chính là năng lực sẵn có của chính
ḿnh, nào có đặc dị (đặc biệt, lạ lùng)
chi đâu! Chỉ cần quư vị buông xuống
được; quư vị buông xuống một phần,
năng lực khôi phục một phần, buông mười
phần sẽ khôi phục mười phần.
“Tâm tánh cứu
cánh, chứng Pháp Thân đức, tam đức viên măn, vạn
đức tất cụ” (Tâm
tánh rốt ráo, chứng Pháp Thân đức, ba đức
viên măn, vạn đức ắt đầy đủ).
Đây chính là những điểm độc đáo được
hiển thị bởi bộ kinh này. Nếu chúng ta có huệ
nhăn, có linh tri, quư vị thấy, thấu hiểu, và khế
nhập; đừng nghĩ bộ kinh này quá nhỏ! Nội
dung của kinh này chẳng khác ǵ kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm
chỉ là giải nói tường tận mà thôi. Bởi
thế, cổ nhân nói ba bộ kinh này chỉ là một
bộ, một tức là ba, ba tức là một. A! Bây
giờ đă hết giờ rồi!
*
Xin xem tiếp đoạn thứ ba
ở phần sau:
“Đại
Bổn vân: Nhược bất văng tích tu phước huệ,
ư thử chánh pháp bất năng văn, dĩ tằng khâm
phụng chư Như Lai, cố đắc nhân duyên văn
thử nghĩa” (Kinh
Đại Bổn nói: - Nếu trước kia chẳng tu
phước huệ th́ chẳng được nghe chánh pháp
này. Do đă từng kính ngưỡng, phụng sự
chư Như Lai, nên mới có nhân duyên được nghe nghĩa
này). Đại Bổn là kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Vô
Lượng Thọ là kinh A Di Đà được
giảng giải tường tận; cho nên mới gọi
là Đại Bổn và Tiểu Bổn. Tiểu Bổn
giản lược, tiện thọ tŕ, tiện đọc
tụng, tiện tu hành; thế nhưng người tu hành
pháp môn Tịnh Tông chẳng thể không đọc
Đại Bổn. V́ sao? Quư vị đọc Đại
Bổn, sẽ có thể hóa giải rất nhiều nghi
lự. C̣n như để thọ tŕ th́ chúng ta phải áp
dụng những giáo nghĩa trong kinh vào thực tế,
đương nhiên là càng đơn giản càng hay. Do
vậy, Tiểu Bổn là cương yếu của
Đại Bổn, là cương lănh của Đại
Bổn.
Nhất là trong phần trước,
Ngẫu Ích đại sư đă nói “thử kinh độc hiển” (điểm hiển
thị độc đáo của kinh này), hết thảy
kinh đều không nói đến ba chuyện đặc
sắc như trong kinh này, chuyện thứ nhất là “vô thượng tâm yếu”,
chuyện thứ hai là “danh
hiệu của chư Phật” chính là A Di Đà Phật,
chuyện thứ ba là “rốt
ráo viên măn vạn đức”, trí huệ viên măn,
đức năng viên măn, tướng hảo viên măn, Pháp
Thân viên măn, giải thoát viên măn, không có ǵ chẳng viên măn!
Kinh này thực sự chẳng thể nghĩ bàn!
Nếu quư vị muốn hiểu rơ
tường tận hơn nữa, c̣n có kinh Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, giảng những
sự việc ấy hết sức chi ly, hết sức
minh bạch, hết sức thấu triệt. V́ thế,
cổ đức lại nói kinh Hoa Nghiêm là đại
bổn của kinh Vô Lượng Thọ, kinh Vô
Lượng Thọ là Hoa Nghiêm trung bổn, A Di Đà kinh là
Hoa Nghiêm tiểu bổn. Ba bộ kinh này cùng giảng
một sự việc, chỉ là kinh này giảng đơn giản,
kinh kia giảng chi tiết. Bởi vậy, quư vị
muốn hiểu rơ tường tận th́ hăy đọc kinh
Hoa Nghiêm, muốn áp dụng trong cuộc sống
thường ngày th́ dùng kinh A Di Đà. Toàn bộ kinh Hoa
Nghiêm rút gọn thành Phật Thuyết A Di Đà Kinh,
chẳng thể nghĩ bàn! Do vậy, ở đây chúng tôi
dẫn mấy câu trong Đại Bổn, tức mấy câu
trong bài kệ đầu tiên, nếu quư vị thực
sự hiểu được, quư vị sẽ tiếc quư
một đời này, đời này chúng ta may mắn
lắm.
“Nhược
bất văng tích tu phước huệ” (nếu trước kia không tu
phước huệ), giả sử đời đời kiếp
kiếp trong quá khứ không tu phước, tu huệ,
tức là như kinh Di Đà đă nói: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn,
phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ
quốc” (Chẳng thể dùng chút thiện căn,
phước đức, nhân duyên để được
sanh về cơi ấy). Nhiều thiện căn (thiện
căn là huệ), nhiều phước đức; do
đời đời kiếp kiếp trong vô lượng
kiếp tu phước, tu huệ nên nhiều thiện
căn, nhiều phước đức “ư thử chánh pháp bất năng văn” (chẳng
thể nghe chánh pháp này), chánh pháp ở đây là Tịnh tông,
tức pháp môn Tịnh Độ, quư vị sẽ không
được nghe. Dẫu được nghe cũng
như thế nào? Nghe xong chẳng tin tưởng, ở ngay
trước mặt mà bỏ lỡ, chẳng thể
tiếp nhận, đối với pháp môn này nẩy sanh
rất nhiều nghi vấn, tự cậy thông minh!
Trong hai câu tiếp theo, “dĩ tằng khâm phụng chư Như Lai” (đă
từng kính ngưỡng, phụng sự chư Như Lai),
nghĩa là sao? Đấy chính là nhân duyên, trong đời quá
khứ có duyên cùng Phật, từng học Phật pháp, từng
y giáo phụng hành, v́ sao không thành công? Nguyên nhân không thành công là
v́ vẫn chưa buông xuống được! Đối
với danh lợi thế gian này chưa buông xuống
được, vẫn c̣n tham ái, tài sắc, danh vọng,
ăn uống, ngủ nghê, vẫn c̣n chấp trước.
V́ thế, tuy thân cận chư Như Lai (chữ “Như Lai” này bao gồm cả
các Bồ Tát, các thiện tri thức) mà chẳng thể
thành công. Dẫu không thành tựu, nhưng nhân duyên vẫn
c̣n, trong một đời này lại được
gặp gỡ. Gặp gỡ rồi, thời tiết, nhân
duyên bất đồng. Như chính bản thân tôi là một
thí dụ rất rơ rệt! Năm hai
mươi sáu tuổi mới được nghe
Phật pháp do tiên sinh Phương Đông Mỹ giới
thiệu. Nếu cụ giới thiệu nhằm đúng
mười năm trước đó, ắt tôi chẳng
thể tiếp nhận, dẫu gặp Phương tiên sinh
cũng uổng, tôi cũng chẳng tin tưởng cụ.
Do có thời tiết, nhân duyên, được chư
Phật hộ niệm, Phật, Bồ Tát ngầm bảo
hựu ḿnh, khi nào duyên chín muồi? Lúc nào quư vị có
thể tiếp nhận, có thể tin tưởng th́
thiện tri thức sẽ đến.
Thậm chí có rất nhiều người
thiện căn, phước đức rất sâu, nhưng
suốt đời mê man trong ngũ dục lục trần,
phải đến khi lâm chung [thiện căn và phước
đức] mới phát hiện, lúc lâm chung mới tin
tưởng. Giống như khi xưa chúng tôi ở
Washington DC, Hoa Kỳ, tiên sinh Châu Quảng Đại cả
một đời chẳng tin bất cứ một tôn giáo
nào, khi ấy có dạy ông ta cũng không tin. Con người
ông ta hết sức trung hậu, là người tốt,
dẫu làm ăn buôn bán bên đó nhưng nhiệt tâm làm
sự nghiệp công ích, chịu làm sự nghiệp
phước thiện xă hội, chịu giúp đỡ
người khác, nhưng không tin tưởng bất cứ
tôn giáo nào. Ba ngày trước khi lâm chung, do v́ bác sĩ đă
hết cách chữa trị, người nhà không biết làm
sao, đúng là “bệnh ngặt
vái tứ phương”, bà vợ ông ta quen biết
những đồng học thuộc Tịnh Tông Học
Hội chúng ta, thường gặp gỡ nhau khi mua thức ăn ngoài chợ. Khi ấy,
bà nghĩ đến những vị đồng học ấy,
hỏi họ học Phật có cách ǵ cứu ông ta hay không?
Khi ấy, Tịnh Tông Học Hội bèn
phái một vài vị đồng học đến khuyên ông
ta niệm Phật, ông ta vừa nghe bèn hoan hỷ. Khi
ấy, Cung cư sĩ (tức cư sĩ Cung Chấn Hoa)
khuyên ông ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,
thế giới này rất khổ, có ǵ đáng lưu
luyến cơ chứ? Ông ta vừa nghe bèn giác ngộ,
gọi cả nhà: “Tất cả vợ con đừng bi ai,
đừng bận ḷng v́ ta, ai nấy hăy niệm Phật,
hăy giúp ta niệm Phật!” Ba ngày sau, Phật đến
tiếp dẫn, ra đi hiện tướng lành hy hữu.
Có người thấy Phật đứng trên nóc nhà
tiếp dẫn ông ta văng sanh! Quư vị coi đó: Lúc lâm chung,
nhân duyên của ông ta chín muồi, đúng là “Phật thị
môn trung, bất xả nhất nhân” (trong nhà Phật chẳng bỏ một ai),
mỗi người nhân duyên khác biệt!
Do vậy, chúng ta chớ khinh
thường người không học Phật và
người không niệm Phật. Chớ nên coi thường!
V́ sao? Chúng ta là phàm phu, chẳng biết lúc nào nhân duyên của
người ấy sẽ chín muồi, cũng chẳng
biết thiện căn trong đời quá khứ của
người ấy như thế nào, biết đâu một
hai ngày trước khi lâm chung, nhân duyên của người
ấy thành thục, phẩm vị văng
sanh c̣n cao hơn chúng ta nữa kia, chúng ta đâu có bằng
được họ! Chuyện này đâu phải là không có!
V́ thế, người học Phật thời thời
khắc khắc phải biết tôn trọng hết
thảy chúng sanh, chẳng dám khinh thị một chúng sanh
nào, vậy là chính xác. Phải nên coi họ giống
như chư Phật Như Lai, dùng cái tâm chân thành, tâm thanh
tịnh, b́nh đẳng đối đăi hết thảy
chúng sanh, hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh!
Hết thảy vạn vật có Pháp Tánh! Nếu quư vị
thấy chúng sanh có Phật Tánh, thấy vạn vật có Pháp
Tánh th́ chúc mừng quư vị, quư vị chẳng phải là
phàm phu nữa, mà đă minh tâm kiến tánh, đă là Pháp Thân
Bồ Tát. Giáo pháp Đại Thừa nhằm dạy chúng ta
chuyện sau đây: “Tôn
trọng hết thảy chúng sanh, hữu t́nh và vô t́nh cùng
viên măn Chủng Trí”.
Do vậy, hiện thời bản thân
chúng ta cũng vô cùng may mắn, chúng ta có phần nơi
bốn câu kệ này, trong đời quá khứ, quả
thật đă tu phước, tu huệ, trong đời quá
khứ quả thật đă có duyên cùng Phật. Chúng ta
vừa tiếp xúc, gặp được thiện tri
thức vừa phân tích, vừa giải nói cho chúng ta, đúng
là có đạo lư, chúng ta bèn tin tưởng. Chúng ta cũng hết
sức nghiêm túc nỗ lực học tập, cảnh
giới mỗi năm quả thật ngày càng nâng cao, trong một
đời này pháp hỷ sung măn, hoan hỷ khôn sánh, không
ưu lự, không phiền năo, không vướng mắc,
từ nội tâm hóa giải hết thảy sự trái
nghịch. Trước hết, phải cầu cho tâm tánh được
ḥa thuận th́ thân thể sẽ khỏe mạnh.
Lúc tôi giảng kinh cũng thường
giảng v́ sao thân thể con người không
được mạnh khỏe? Là do nội bộ
những tế bào và khí quan phát sanh xung đột. Cổ
nhân Trung Quốc thường nói: “Gia ḥa, vạn sự hưng”. Nói trên phương
diện nhỏ hơn là thân thể chúng ta th́ đối
với tất cả khí quan và tế bào trong thân thể
phải đối đăi b́nh đẳng, đối
xử ḥa mục với nhau th́ thân thể sẽ khỏe
mạnh! Nếu các khí quan bên trong chúng ta đối chọi
nhau, hai bên không hợp tác sẽ đổ bệnh, không
mạnh khỏe! Duyên do là như vậy. Ai gây nên
đối chọi? Thưa cùng quư vị, phiền năo gây nên
đối chọi! V́ thế, cổ nhân nói một câu
hết sức hợp lư: “Ưu
năng sử nhân lăo” (lo buồn khiến con người
già xọm). Con người nếu sống trong ưu
lự, bận tâm quá nhiều, rất dễ lăo hóa. Ai có
thể buông xuống hết thảy, chuyện ǵ cũng
chẳng ghim vào ḷng th́ người ấy lăo hóa rất
chậm, cũng có thể nói là chẳng dễ ǵ suy lăo.
Năm hai mươi sáu tuổi
tôi mới bắt đầu học Phật, năm ba
mươi tuổi mới được biết thầy
Lư; lúc đó Lư lăo cư sĩ đă sáu mươi chín
tuổi, tôi gặp mặt thầy, ngỡ thầy
nhiều lắm là bốn mươi tuổi, chẳng
ngờ thầy đă là ông lăo gần bảy mươi! Nói
cách khác, người bảy mươi tuổi trông như
người mới bốn mươi, chẳng dễ ǵ
suy lăo, tinh thần, thể lực hệt như
người mới ba mươi, bốn mươi
tuổi. Điều này gây ấn tượng giáo huấn rất mạnh cho chúng tôi, khiến chúng
tôi chẳng thể không bội phục. Cụ mắt
chưa mờ, tai chưa điếc. Có lúc dạy chúng tôi
học Cổ Văn, gặp phải chữ hay từ
ngữ hiếm lạ, phải cầm tự điển
Từ Hải tra. T́m trong Từ Hải, những chữ
ấy rất nhỏ, nhỏ hơn những chữ in trên
báo rất nhiều, thầy Lư nói: “Đem lại đây, tôi
đọc cho các anh nghe”. Cụ lại
không đeo kính, đọc không sai một chữ nào, nhăn
lực tốt, bảy mươi tuổi mà con mắt
như người mới ba, bốn mươi tuổi;
rất đáng cho chúng ta học tập. Như vậy,
chẳng những lăo nhân gia ngôn giáo (dạy bằng lời lẽ)
mà c̣n thân giáo (dạy bằng cách lấy những hành vi
cử chỉ làm gương)! Hơn chín mươi
tuổi vẫn không cần ai săn sóc, tự ḿnh lo
liệu cho ḿnh.
Lúc ấy, lũ chúng tôi hầu
như không ai chẳng nói thầy nhất định
phải sống đến một trăm hai mươi tuổi,
một trăm ba mươi tuổi, quư vị thấy thân thể cụ [mạnh khỏe]
như thế đó! Thế nhưng cụ đă đi
trước, nguyên nhân mất theo cụ nói là v́ trúng
độc từ thức ăn! Hai lần bị trúng độc
từ thực phẩm, gây tổn hại rất lớn cho
thân thể, chứ cụ không có bệnh ǵ khác. V́ thế,
cụ dặn ḍ tôi: “Ăn ǵ cũng phải chú tâm cẩn
thận, phải chú ư đến vấn đề vệ
sinh”. Cụ bảo tôi rất nhiều lần: “Ngàn vạn
lần chẳng được ăn những ǵ bán ngoài
quán”. Cụ dạy rất có lư, những thứ bán ngoài quán
ăn rất ngon, nhưng không hợp vệ sinh, quư vị
cứ xuống bếp sẽ thấy. Ăn uống
phải đơn giản, cốt sao đủ dinh
dưỡng, chớ coi trọng màu sắc, hương
vị quá sức. Ăn uống đơn giản, tâm địa thanh tịnh, ít vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước, quư vị ít tiêu hao
năng lượng.
Do vậy, người tu hành trong quá
khứ ngày ăn một bữa, thầy Lư cả
đời ngày ăn một bữa. Cụ mỗi ngày
chỉ ăn một bữa, nhưng sức làm việc
của cụ bằng sức của năm người
b́nh thường chúng ta. Cụ mỗi ngày ăn một bữa,
lại ăn rất ít, thế là đủ rồi. Nguyên
nhân nào? Ít vọng tưởng, tạp niệm,
phân biệt, chấp trước, nên tiêu hao rất ít. Tôi
ở cùng một chỗ với cụ, học theo cụ!
Tôi cũng học ngày ăn một bữa, tôi làm như
vậy được năm năm. Tôi ăn như
vậy đến tháng thứ tám mới thưa với
cụ, tôi nói:
- Thưa thầy! Con cũng ngày
ăn một bữa.
- Bao lâu rồi?
- Tám tháng ạ!
- Thấy sao?
- Rất tốt ạ! Tinh thần,
thể lực vẫn b́nh thường.
Cụ vỗ bàn:
- Nên giữ vĩnh viễn như
vậy! Tốt lắm đó! Suốt cả đời
chúng ta không phải cầu cạnh người khác,
sống đơn giản, thâu nhập rất ít chúng ta
cũng sống tự tại, thâu nhập dư dật th́
đem giúp chúng sanh khổ nạn.
Lăo nhân gia dạy tôi như vậy đó!
Sau này, đến Đài Bắc giảng kinh, gặp Hàn Quán
Trưởng, Hàn Quán Trưởng nói: “Không được!
Thầy ngày ăn một bữa không được
đâu! Chúng tôi không dám lo cho thầy, lỡ thân thể
thầy không khỏe, bị bệnh, chúng tôi đảm
đương sao nổi!” Do vậy, bà ta nhất
định buộc tôi phải ăn ba bữa. Tốt thôi!
Ba bữa th́ ba bữa, nhưng ăn ba bữa vẫn
chỉ bằng ăn một bữa. V́ vậy, cho
đến tận bây giờ, quư vị đều biết
tôi ăn ǵ cũng ăn rất ít. Năm xưa ở
Mỹ, mỗi bữa cơm, món chính là cơm hoặc ḿ,
quư vị thấy tôi (người Mỹ hoặc
người Tây Phương thường dùng đĩa),
mỗi bữa ăn chỉ gồm hai vá cơm. Mỗi vá
gần đầy một chén nhỏ, hai vá cơm, rau
nhiều hơn cơm, ăn không nhiều! Sáng ăn,
tối không ăn, dẫu không ăn vẫn rất mạnh
khỏe, không ăn cũng được. Mọi
người ép tôi ăn, tôi ăn một chút, nhất
định chẳng ăn lặt vặt. Quư vị
muốn giữ cho thân thể khỏe mạnh th́ phải
biết đạo lư này, trọn chẳng được
ăn lặt vặt!
Ở đây, quan trọng nhất là nếu
tâm địa thanh tịnh, quư vị sẽ tiêu hao ít
năng lượng. Nếu quư vị vọng tưởng
nhiều, tạp niệm lắm, một ngày ăn ba
bữa cũng không đủ. Bổ sung năng
lượng không đủ, vẫn phải ăn
điểm tâm mới bổ sung năng lượng
được. V́ vậy, chuyện này chẳng thể
miễn cưỡng, không phải ai cũng có thể tùy
tiện học theo. Giống như xe hơi ngày nay vậy,
xe hơi rất phổ biến, có loại hao xăng, có
loại tốn ít xăng. Xe hao xăng không đổ
đủ xăng sẽ không chạy được,
bởi thế, nhất định phải bổ sung
năng lượng. Quư vị là loại xe hao xăng th́
mỗi ngày phải ăn nhiều bữa. Quư vị
thấy người khác ăn một bữa, chỉ
đành hâm mộ, không thể học theo, học không
được, nhất định phải hiểu
đạo lư này! Thân thể con người
là một cỗ máy, thực phẩm là năng lượng
bổ sung. Năng lượng tiêu hao th́ chín mươi
lăm phần trăm tiêu hao vào vọng tưởng,
tạp niệm, phiền năo, tập khí, tiêu hao vào đó. Trên
thực tế, lao tâm lẫn lao lực đều không
nhiều!
Như vậy, người tu hành
hiểu được đạo lư này, tâm địa thanh
tịnh, mỗi ngày chỉ cần bổ sung năng lượng
một chút là đủ. Quư vị thấy trong kinh,
đức Phật nói La Hán bảy ngày ăn một
lần, tức là tiêu hao năng lượng hết sức
ít, chẳng trở ngại việc làm chút nào. Bích Chi
Phật tâm càng thanh tịnh hơn nữa, nửa tháng
ăn một bữa, chúng tôi thấy trong kinh nói như
vậy. Điều đó nói lên điều ǵ? Chúng ta
gọi đó là công phu định lực (định công),
công phu định lực là mức độ thanh tịnh
của cái tâm. Tâm càng thanh tịnh, tiêu hao năng
lượng càng ít. Như vậy, theo bài kệ trong kinh
Đại Bổn, chúng ta rất may mắn, hai câu
đầu nói về thiện căn, phước
đức, hai câu sau luận về nhân duyên. Chúng ta
thiện căn, phước đức, nhân duyên
đều đầy đủ, thế th́ nay có thể
văng sanh hay không? Tùy thuộc quư vị có tinh tấn hay không.
Thiện căn duy nhất trong Đại Thừa là tinh
tấn!
Chướng ngại lớn nhất
đối với tinh tấn là phiền năo, tập khí;
bởi thế, quư vị phải buông xuống. Phiền năo
chướng ngại căn bản là tự tư, tự
lợi, danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục,
lục trần, tham - sân - si - mạn, tôi nói mười sáu
chữ ấy. Tôi thường kính khuyên các đồng
học, nếu thực sự buông mười sáu chữ
này xuống được, quư vị sẽ phá
được cửa ải thứ nhất, sẽ đi
trên con đường Bồ Đề. Nếu không buông
mười sáu chữ này xuống được, quư
vị học Phật chỉ ở ngoài cửa, vẫn
không bước vào cửa được! Mười sáu
chữ ấy là cái cửa lớn. Sau khi bước vào cái cửa
lớn ấy sẽ khác hẳn, cảnh giới khác
hẳn, sau đấy quư vị mới có thể
đăng đường, nhập thất. Nếu
luận theo ba bậc và chín phẩm trong bốn cơi Tịnh
Độ th́ vào cửa là Phàm Thánh Đồng Cư
độ; tiến hơn nữa, đăng
đường là Phương Tiện Hữu Dư
độ, nhập thất là Thật Báo Trang Nghiêm
độ. Chúng ta có thể nhập thất hay không? Câu
trả lời của tôi là khẳng định, nhưng
tự ḿnh phải dụng công, không ngừng buông xuống.
V́ vậy, tôi cảm tạ Chương
Gia đại sư, niệm niệm chẳng quên ân
đức của lăo nhân gia. Ngày đầu tiên, Ngài dạy
tôi sáu chữ, tuyệt diệu thật! Hết thảy
Bồ Tát thành Phật, từ sơ phát tâm đến
địa vị Như Lai, tu những ǵ? Không có chi khác
cả, chính là thấy thấu suốt - buông xuống, buông
xuống - thấy thấu suốt. Hai phương pháp này hỗ
trợ nhau, hoàn thiện nhau, buông xuống giúp thấy
thấu suốt, thấy thấu suốt lại giúp cho
buông xuống. Áp dụng vào hành động là bố thí. Trong
ba thứ bố thí th́ Tài Bố Thí được
tướng hảo (về quả, Tài Bố Thí
được tướng hảo), Pháp Bố Thí
được trí huệ, Vô Úy Thí được
trường thọ. Ba thứ quả báo do chính ḿnh tu. Ba
thứ bố thí này quyết định không cùng tận, ba
thứ quả báo vô lượng vô biên, mà cũng không có cùng
tận. Đạt đến quả vị Như Lai
mới thực sự là viên măn. Do vậy, Đẳng Giác
Bồ Tát vẫn phải tu ba thứ bố thí, tu Tài Bố
Thí, tu Pháp Bố Thí, tu Vô Úy Bố Thí. Trong hạnh môn,
một pháp bố thí là viên măn.
Tuy Bồ Tát nói đến Lục Ba La
Mật, nhưng nói thật ra, sáu Ba La Mật chỉ là
bố thí. Quư vị cứ nghĩ đi: Tŕ Giới Ba La
Mật và Nhẫn Nhục Ba La Mật là Vô Úy Bố Thí; Tinh
Tấn Ba La Mật, Thiền Định Ba La Mật và Bát
Nhă Ba La Mật là Pháp Bố Thí. Trong Bố Thí [Ba La Mật] có
Tài [Bố Thí], năm thứ Ba La Mật sau mở ra Pháp Bố
Thí và Vô Úy Bố Thí. Nói gộp lại là hai chữ “bố
thí”. Quư vị thực sự hiểu rơ, thực sự minh
bạch, sẽ tự nhiên chịu tu, sẽ chịu làm. Do
b́nh thường chúng ta không hiểu đạo lư sau đây:
Phiền năo của phàm phu là keo kiệt, nhỏ nhen,
chẳng chịu bố thí, chẳng chịu giúp đỡ
người khác, tự tư, tự lợi. Chẳng
những không chịu giúp đỡ người khác, mà c̣n
nghĩ cách đoạt lấy vật của người khác
về tay ḿnh, đúng là tổn người, lợi ḿnh,
tổn phước, chứ không phải là tu phước. Tổn
phước là phước báo đang có trong mạng ḿnh lại
bị tổn thất ở một mức độ
lớn. Đó là v́ mê hoặc, vô tri, chẳng hiểu rơ chân
tướng sự thật, người ấy chẳng biết
càng bố thí nhiều, đến cuối cùng phước
báo lớn đến đâu? Trọn pháp giới hư không
giới.
Hoàn cảnh cư trụ của chúng ta
là thế giới Hoa Tạng, là thế giới Cực
Lạc, những người chăm nom chúng ta là chư
Phật, Bồ Tát, là Thanh Văn, Duyên Giác, c̣n chúng sanh
khổ nạn là ai? Là chúng sanh trong chín pháp giới. Chúng sanh
trong chín pháp giới chính là phước điền của
chúng ta; chúng ta trồng phước, chúng ta giúp đỡ
họ, chúng sanh trong chín pháp giới là đối
tượng để ta bố thí. Trên cúng chư Phật,
Bồ Tát, dưới thí hết thảy chúng sanh th́ quư
vị mới đạt được phước báo
viên măn, trí huệ viên măn, tướng hảo viên măn, trong
Đại Thừa Phật pháp gọi là Pháp Thân, Bát Nhă, Giải
Thoát, tu thành tựu như vậy! Lại xem tiếp
tiểu đoạn thứ ba.
“Chiêm Sát
kinh vân: Tạp loạn cấu tâm, tuy tụng ngă danh, nhi bất
vị văn. Dĩ bất năng sanh quyết định
tín giải, đản hoạch thế gian thiện báo, bất
đắc quảng đại thâm diệu lợi ích. Nhược
đáo Nhất Hạnh tam-muội, tắc thành quảng đại
vi diệu hạnh tâm, danh đắc tương tự Vô
Sanh Pháp Nhẫn, năi văn thập phương Phật danh”
(Kinh Chiêm Sát nói: “Tâm nhơ
tạp loạn, dẫu tụng tên ta nhưng chẳng
được nghe [tên ta] v́ chẳng thể sanh tín giải
quyết định, chỉ đạt được
thiện báo thế gian, không đạt được
lợi ích sâu mầu rộng lớn. Nếu đạt đến
Nhất Hạnh tam-muội sẽ thành hạnh tâm vi
diệu rộng lớn, gọi là đắc tương
tự Vô Sanh Pháp Nhẫn, bèn được nghe danh hiệu
của mười phương chư Phật). Trong kinh
Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo có một đoạn
giảng rất hay, kinh Chiêm Sát là kinh giảng về
Địa Tạng Bồ Tát. Địa Tạng Bồ Tát
có ba bộ kinh, nay [ngoài bộ kinh được] mọi
người thường đọc tụng là Địa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh, c̣n có kinh Đại
Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân
Kinh, bộ thứ ba là Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh.
[Ba bộ này] gọi là Địa Tạng Tam Kinh. Trong kinh
Chiêm Sát có một đoạn giảng về việc tŕ danh
niệm Phật, nhưng là niệm danh hiệu Địa
Tạng Bồ Tát. Hiện thời người tu pháp môn
Địa Tạng cũng không ít, tôi đă gặp rất
nhiều.
Đoạn này hết sức quan
trọng, “tâm nhơ tạp
loạn” nghĩa là tâm không chân thành, vọng niệm
rất nhiều, chuyện vướng gan bận ruột
quá nhiều, đó là tâm nhơ tạp loạn. Quư vị
không buông tham - sân - si - mạn xuống được, không
buông danh văn, lợi dưỡng xuống
được, không buông ngũ dục, lục trần
xuống được, không buông tự tư tự
lợi xuống được, đó là tâm nhơ tạp loạn.
Tâm như vậy dù có niệm danh hiệu Địa
Tạng Bồ Tát, “nhi bất vị
văn” (nhưng chẳng được nghe tên ta). Cái
nghe (Văn) ở đây là Văn Huệ, [người có tâm
tạp loạn nhơ bẩn dẫu xưng niệm danh
hiệu Địa Tạng Bồ Tát, nghe tên Ngài, nhưng cái
“nghe” ấy] không phải là trí huệ, không phải là chân
tu. V́ sao vậy? Là v́ “bất năng
sanh quyết định tín giải” (chẳng thể
sanh tín giải quyết định). Nói cách khác, quư vị
không tin, không nguyện, ḷng tin không chân thật, như
cổ nhân nói là “lộ thủy
đạo tâm” (đạo tâm như nước trong
giọt sương), ḷng tin không kiên cố, tín tâm không chân
thật.
Dẫu niệm danh hiệu Phật hay niệm
danh hiệu Bồ Tát, “đản
hoạch thế gian thiện báo” (chỉ đạt được
thiện báo thế gian), tốt lành cái miệng mà thôi! “Khẩu niệm Di Đà tâm tán loạn,
hăm phá hầu lung diệc uổng nhiên” (miệng niệm
Di Đà tâm tán loạn, rách toạc cổ họng uổng
công thôi). Cổ đức đă nói hai câu ấy. Nói “rách toạc cổ họng”
uổng công là v́ sao? V́ quư vị chẳng thể văng sanh!
Uổng công! Thế nhưng có phước báo thế gian là
điều chắc chắn! Niệm danh hiệu Phật
hay niệm danh hiệu Bồ Tát sẽ đạt được
phước báo thế gian, nhưng không thoát khỏi tam
giới, không thoát luân hồi, chẳng thể văng sanh.
Như vậy, quư vị chỉ đạt được
sự tốt đẹp như vậy thôi. Một
đời này liễu sanh tử, thoát luân hồi, xuất
tam giới, vẫn chắc chắn không đạt
được! V́ thế, “bất
đắc quảng đại thâm diệu lợi ích” (chẳng
đạt được lợi ích sâu mầu rộng
lớn), vấn đề là ở chỗ này! Lợi ích sâu
mầu rộng lớn là liễu sanh tử, thoát luân
hồi, thành Phật đạo, đó là lợi ích sâu mầu
rộng lớn. Tâm nhơ tạp loạn sẽ không
đạt được lợi ích ấy, chỉ có thể
đạt được phước báo thế gian.
“Nhược
đáo Nhất Hạnh tam-muội, tắc thành quảng đại
vi diệu hạnh tâm” (Nếu
đạt được Nhất Hạnh Tam Muội
sẽ thành hạnh tâm rộng lớn vi diệu), Nhất
Hạnh tam-muội là ǵ? Dưới đây lại giải
thích. Cổ đức Trung Quốc dạy người ta “thâm nhập một môn”. Pháp
thế gian cũng không ngoại lệ! Nói đến
chuyện đi học, thời cổ thầy dạy tṛ
đọc sách, khóa tŕnh là một môn, chẳng giống
với trường học hiện thời. Trường
học hiện thời bày ra quá nhiều lớp, lớp
thứ nhất thầy Giáp đến dạy, lớp
thứ hai lại đổi thầy khác, thầy Ất
đến dạy, khóa tŕnh (nội dung môn học) khác nhau.
Cổ nhân Trung Quốc không làm như thế, ngày xưa
chỉ có một thầy. Thầy ở trường tư
chỉ có một vị, lúc dạy học chỉ là một
môn học. Học xong môn ấy mới được
học môn thứ hai, quyết định chẳng
được học hai môn cùng lúc. V́ sao? Loạn, liền
không đạt được hiệu quả. Nhất
Hạnh tam-muội trong nhà Phật rất giống như
vậy. Do vậy, quư vị chỉ có thể học
một bộ kinh.
Lúc chúng tôi học kinh giáo với thầy
Lư, lăo nhân gia dạy chúng tôi bằng phương pháp xưa lưu
truyền từ cổ, tức là học một bộ kinh.
Học hiểu một bộ mới được phép
học bộ thứ hai. Thế nào là học hiểu?
Phải lên đài giảng, lăo nhân gia ngồi dưới
nghe, nghe đến khi lăo nhân gia gật đầu: “Anh
[giảng] không sai lầm”, th́ mới tính là học xong
bộ kinh ấy. Nói cách khác, quư vị không lên đài
giảng một lần th́ cụ không thừa nhận, không
đồng ư: “Anh vẫn chưa học xong bộ kinh
ấy, vẫn phải tiếp tục học; chẳng cho
phép anh được học bộ thứ hai”.
V́ thế, tôi ở Đài Trung
mười năm, trong mười năm học năm
bộ kinh. Nói thật ra, năm bộ kinh đó học
nửa năm là xong, thông thường một học
kỳ ở Phật Học Viện đă học xong. Yêu
cầu của thầy chúng tôi là phải giảng
được th́ mới là thực sự hiểu
được, giảng cho thầy nghe coi như khảo
thí. Chúng tôi không có văn tự, không thi viết, cũng
không thi vấn đáp. Cứ đem kinh ấy giảng cho
thầy nghe một lượt, thầy nghe vừa ư
gật đầu là quư vị đă học hoàn tất
bộ kinh ấy, mới được chọn bộ kinh
thứ hai. Điều này giống như Nhất Hạnh tam-muội,
tức là chuyên tâm, “thâm nhập
một môn, trường thời huân tu” th́ quư vị mới ḥng thành
tựu
“hạnh tâm vi diệu rộng
lớn”.
“Hạnh
tâm vi diệu rộng lớn”,
quư vị nh́n vào văn tự cũng hiểu
được ư nghĩa: Tâm lượng rộng mở,
trí huệ hiện tiền, trí huệ vi diệu, tâm
lượng rộng lớn. Trong Đại Thừa
Phật pháp, Phật, Bồ Tát thường nói: “Tâm bao thái hư, lượng châu
sa giới”. Khi mẫu thân của Hồ cư sĩ văng
sanh, tôi có viết mấy chữ gởi cho bà ta: “Tịnh tâm biến pháp giới”,
“tịnh” (淨) là thanh tịnh, tâm thanh tịnh trọn
khắp pháp giới, tâm tịnh trọn khắp pháp
giới. “Thiện ư măn Sa Bà”:
Thiện niệm, thiện hạnh của chúng ta phải
đầy khắp thế giới Sa Bà. Thực sự làm
được như vậy! Bà Hồ bảo tôi: “Mẹ
con cả đời thích giúp đỡ người khác”.
Tốt lắm! Thiện ư phải tràn ngập cơi Sa Bà. Quan
trọng nhất là tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh phải
trọn khắp pháp giới, “tâm
thanh tịnh trọn pháp giới” là huệ, trí huệ
viên măn, “thiện ư đầy
Sa Bà” là phước báo, phước huệ song tu.
Đấy chính là “tâm hạnh
vi diệu rộng lớn”.
“Danh đắc
Tương Tự Vô Sanh Pháp Nhẫn” (gọi là được Tương
Tự Vô Sanh Pháp Nhẫn), không thực sự đạt
được, chỉ gần giống với Vô Sanh Pháp
Nhẫn. Thực sự đạt được Vô Sanh
Pháp Nhẫn th́ trong Đại Thừa phải là từ
Thất Địa trở lên. Thất Địa Bồ Tát
là Hạ Phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn, Bát Địa Bồ Tát
là Trung Phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn, Cửu Địa Bồ
Tát là Thượng Phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn, cao lắm!
Chỉ “tương tự” cũng đă khá khả quan, tâm
định rồi, đối với hết thảy pháp
không phân biệt, không chấp trước, đó là “tương
tự”. Vô Sanh Pháp Nhẫn thực sự
th́ vọng tưởng gần như đă đoạn
hết. Lúc “tương tự” th́ vọng tưởng
vẫn c̣n, những vọng tưởng ấy bọn phàm
phu ta không có cách ǵ nhận biết được, chúng
rất vi tế, phải đạt đến Thất
Địa Bồ Tát mới biết! Công phu định
lực ấy sâu đến nỗi chúng ta không có cách ǵ
tưởng tượng được.
Nay chúng tôi thấy rất nhiều
vị giáo sư đại học trong giới học
thuật rất có hứng thú đối với những
công năng đặc dị và những sự kiện
từ những chiều không gian bất đồng (chúng ta
gọi là “linh giới”), người
nghiên cứu rất nhiều. Thế nhưng chúng ta
biết rất rơ ràng, những cảnh giới đó c̣n
chưa bén gót cảnh giới của bậc Tu Đà Hoàn, nhưng
cũng có chỗ hay, nói chung là mở rộng tâm
lượng chính ḿnh, mở rộng tầm mắt,
vượt ngoài khoa học, vượt ngoài triết
học, đó là một hiện tượng tốt, kể
như là đột phá cả khoa học lẫn triết
học. Những thành tựu của họ mới chỉ là
tiếp xúc ở ṿng ngoài, ngay cả cảnh giới
[thấp nhất] là cảnh giới của bậc Tiểu
Thừa Tu Đà Hoàn, họ c̣n chưa nhận biết
được.
Cảnh giới của bậc Tu Đà
Hoàn là không ngă tướng, không nhân tướng, không chúng sanh
tướng, không thọ giả tướng; trong kinh
Đại Thừa, đức Phật thường
dạy, [bậc Tu Đà Hoàn] đă đoạn sạch tám
mươi tám phẩm Kiến Hoặc thuộc tam giới.
Những kẻ có công năng đặc dị biểu
diễn rất nhiều cảnh giới chẳng thể
nghĩ bàn, nhưng họ chưa đoạn
được tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc,
tâm địa họ chỉ thanh tịnh hơn mọi phàm
nhân một chút. Đúng như Ấn Quang đại sư
thường nói: “Một
phần thành kính được một phần lợi ích,
hai phần thành kính được hai phần lợi ích”.
Điều này bọn phàm nhân chúng ta có thể làm
được. Chúng ta có mấy phần chân thành, quả
thật sẽ được mấy phần công
đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn. Thế
nhưng những công đức lợi ích ấy là
tương tự, chưa phải là chân thật.
Thế nào là “tương tự?”
Tương tự có nghĩa là tuy đạt
được, nhưng cũng dễ dàng bị mất
đi; c̣n thực sự đạt th́ sau khi đạt
được, sẽ không bị mất đi. Do vậy,
tuy Tu Đà Hoàn là Tiểu Thừa Sơ Quả, họ
rất phi phàm, họ đạt Vị Bất Thoái. Họ đạt
được Vị Bất Thoái, nhưng địa vị
ấy không bị mất đi. Những chúng sanh trong tam
giới lục đạo dù đạt được
rồi lại bị mất đi, không có cách ǵ thoát ly luân
hồi, chẳng thể liễu sanh tử. Tuổi thọ
hết, xả thân rồi lại thọ sanh, quên sạch
những chuyện đời trước, bị mê khi cách
ấm, bị mất đi, không thể ǵn giữ vĩnh
viễn. Bậc Tu Đà Hoàn có năng lực ấy, Ngài có
thể ǵn giữ [những ǵ đă tu chứng] nên bảy
lần sanh vào cơi trời hay nhân gian, quyết định
chẳng đọa trong tam đồ, bởi thế,
gọi là Vị Bất Thoái!
Thẳng cho đến khi chứng
đắc quả A La Hán, A La Hán lại nâng cao lên thành
Bồ Tát. Bồ Tát chứng đắc Hạnh Bất
Thoái, quyết định chẳng lui xuống thành Tiểu
Thừa, vĩnh viễn ǵn giữ được (nói theo cách
người hiện tại) ḷng hy sinh phụng hiến
đối với hết thảy chúng sanh khổ nạn,
dẫu phải bỏ thân mạng của chính ḿnh cũng
không tiếc. Do vậy, thế gian lẫn xuất thế
gian không ai chẳng tán thán: “Có thể bỏ ḿnh v́
người!” Tiểu Thừa không như vậy! Tiểu
Thừa không có tâm lượng lớn lao như thế,
Tiểu Thừa coi trọng tự tu cho chính ḿnh, v́ họ
cảm thấy chúng sanh rất khó độ: Ta có hảo ư
giúp đỡ họ, họ lại dùng ác ư đối
đăi ḿnh! Do vậy, người Tiểu Thừa bị
ngă ḷng v́ điều này. Người Tiểu Thừa giáo
hóa người khác: Tôi dùng thiện ư đối với anh,
anh dùng thiện ư đáp lại, bèn rất hoan hỷ
dạy dỗ. Nếu quư vị không tiếp nhận, có ác ư
đối với họ, họ bèn thoái chuyển, cũng
như chẳng muốn gặp mặt quư vị nữa.
Không như Đại Thừa Bồ Tát,
Đại Thừa Bồ Tát có tâm lượng từ bi sâu
nặng. Chúng sanh có ác ư đối với họ, họ
vẫn dùng thiện ư đáp trả; ắt có ngày nào đó,
chúng sanh sẽ quay đầu, sẽ giác ngộ, Bồ Tát
có tâm nhẫn nại chờ đợi, nhất
định chẳng buông bỏ. V́ thế, Đại
Thừa Bồ Tát đáng được
mọi người tôn kính, đáng quư lắm! Bồ Tát
ở mức độ cao hơn nữa bèn nhập
cảnh giới của Phật, gọi là Pháp Thân Bồ
Tát. Pháp Thân Bồ Tát nhập cảnh giới của Phật,
thực sự thông đạt và hiểu rơ chân tướng
của vũ trụ nhân sinh; lúc ấy, thực sự có
thể nói là chỉ sanh trí huệ, chẳng sanh
phiền năo. Nhân vật đại biểu bậc nhất
cho Trung Quốc là Lục Tổ Huệ Năng đại
sư của Thiền tông. Quư vị thấy đó, lúc
Lục Tổ nói: “Trong tâm
đệ tử thường sanh trí huệ”, chính là Ngài
đă nhập cảnh giới của Phật, là Pháp Thân
Bồ Tát! Tối thiểu phải là bậc Sơ Trụ
trong Viên Giáo mới không sanh phiền năo nữa. Không sanh
phiền năo chắc chắn không sanh chấp trước, chắc
chắn không sanh phân biệt. Thực sự đoạn
được những chấp trước, phân biệt
đối với hết thảy người, hết
thảy sự, hết thảy vật
thuộc thế gian lẫn xuất thế gian th́ mới
nhập được cảnh giới này. Huệ Năng
đại sư đúng là bậc tái lai, chẳng phải
là phàm nhân. V́ sao? Mới hai mươi bốn tuổi đă
nhập được cảnh giới này!
Chúng ta thấy trong những
tổ sư, đại đức các đời; có
những vị ba, bốn mươi tuổi mới
nhập cảnh giới này; có người năm, sáu
mươi tuổi mới nhập cảnh giới này; có
người bảy, tám mươi tuổi mới nhập
cảnh giới này. Căn tánh, phước đức, nhân
duyên mỗi người khác biệt. Trong Tông Môn cũng có
một công án rất nổi tiếng: “Triệu Châu bát thập do hành cước”, [nghĩa
là] ngài Triệu Châu tám mươi tuổi vẫn c̣n đi
khắp nơi tầm sư
phỏng đạo. V́ sao? Chưa nhập cảnh giới.
Chưa nhập cảnh giới th́ vẫn phải nghiêm túc
nỗ lực tu học, đúng là phải tham học.
Nhập cảnh giới rồi th́ không cần nữa,
đă khế nhập cảnh giới rồi; nếu
chưa nhập cảnh giới th́ phải tham học.
Đây chính là chỗ khó khăn trong việc tu học
Phật pháp; do vậy, tổ sư, đại đức,
Phật, Bồ Tát mới khuyên chúng ta chuyên tu Tịnh
Độ, thành tựu dễ dàng. Đạo lư là đây! A!
Bây giờ đă hết giờ rồi!
Tập
35
Chúng tôi giảng tiếp
phần trước. Phần trước giảng phần
nói về kinh Chiêm Sát có một đoạn, câu cuối cùng
là: “Nhược đáo Nhất
Hạnh tam-muội, tắc thành quảng đại vi
diệu hạnh tâm, danh đắc Tương Tự Vô Sanh
Pháp Nhẫn, năi văn thập phương Phật danh” (Nếu
đạt được Nhất Hạnh tam-muội,
sẽ thành tựu tâm hạnh vi diệu rộng lớn,
gọi là được Tương Tự Vô Sanh Pháp
Nhẫn, bèn nghe danh hiệu của mười phương
Phật). Câu này có ư nói: Nhất Hạnh tam-muội chính là
danh hiệu của mười phương chư Phật.
Chúng ta phải đặc biệt lưu ư những câu nói này
của Ngẫu Ích đại sư. Thế nào là Nhất
Hạnh tam-muội? Tiếp theo đây, chúng tôi giải thích
đơn giản:
“Nhất
Hạnh tam-muội” chính là Niệm Phật tam-muội, nó
c̣n gọi là Nhất Tướng tam-muội. Trong
tương lai, nếu quư vị thấy những danh
từ sau đây trong kinh luận: Nhất Hạnh
tam-muội, Nhất Tướng tam-muội th́ phải
biết đó đều là Niệm Phật tam-muội.
Nhất Hạnh: Một hạnh là hết thảy hạnh,
một tướng là hết thảy tướng,
đều luận về Niệm Phật. Niệm vị
Phật nào? Chuyên niệm A Di Đà Phật nhất tâm
bất loạn! Nhất định phải hiểu ư
nghĩa này. Không riêng ǵ pháp xuất thế, mà pháp thế
gian cũng không ra ngoài lệ ấy. Nói đến thành
tựu th́ quan trọng nhất chính là “một môn thâm nhập”, tinh tấn không
lười biếng, trường thời huân tu, không ai chẳng
thành tựu!
Trong pháp xuất thế gian, pháp
môn Niệm Phật thù thắng khôn sánh. V́ thế, kinh Vô
Lượng Thọ dạy chúng ta: “Phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên
niệm”. Một dạ chuyên niệm chính là Nhất
Hạnh tam-muội, hay Nhất Tướng tam-muội, kinh
Di Đà gọi nó là “nhất
tâm bất loạn”, thành tựu của nó chính là “tâm hạnh vi diệu rộng
lớn”, tiêu chuẩn niệm Phật vốn là như
thế. Do vậy, không phát Bồ Đề tâm. Trong sách
Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư giảng
Bồ Đề tâm rất hay: Nó chính là ḷng tin chân thật,
nguyện thiết tha. Ḷng tin ấy chắc chắn không
hoài nghi, nguyện thiết tha là nguyện vọng khẩn
thiết, chỉ có nguyện vọng ấy, mọi
nguyện cầu khác đều buông bỏ hết! Không
cầu danh văn, lợi dưỡng, không cầu sanh lên
trời, không cầu phước báo, chỉ cầu văng sanh
thế giới Cực Lạc, chỉ cầu thân cận A
Di Đà Phật. Tín nguyện ấy chính là Vô Thượng
Bồ Đề tâm, lại c̣n thêm “một dạ chuyên niệm”. Một dạ chuyên
niệm là đúng, quư vị thấy đó: Ba điều
kiện Tín - Nguyện - Hạnh đều đầy
đủ. Tiêu chuẩn Niệm Phật vốn là như
thế! Lại xem tiếp đoạn dưới:
“Phật
độ chúng sanh, bất giản oán thân, hằng vô b́ quyện”
(Phật độ chúng sanh, không phân biệt oán - thân, luôn
không mệt mỏi). Đối với Phật, nhất
định chẳng được dùng phàm t́nh để
suy lường. Khi chúng ta chưa tiếp xúc Phật pháp,
không nhận biết Phật, Bồ Tát, không hiểu rơ,
không khỏi nẩy sanh những sự hiểu lầm.
Lại c̣n nghe theo, tin tưởng những lời ngoa
truyền, chê người khác mê tín, chê người khác [sùng
bái] ngẫu tượng[2],
hữu ư hay vô ư khinh miệt người khác, thậm chí
lăng nhục, phá hoại, [tưởng là] phá trừ mê
tín! Tội lỗi rất sâu, vậy th́ Phật, Bồ Tát
có trách móc hay chăng? Có vẫn độ người
như vậy hay chăng? Đó là suy nghĩ của phàm phu.
Chúng ta hiểu lầm rồi, chúng ta thấy cũng sai bét rồi!
Phật, Bồ Tát chắc chắn không thấy ân hay oán,
luôn luôn chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi
đối với hết thảy chúng sanh.
Quư vị có muốn giết hại các Ngài
(đương nhiên Phật, Bồ Tát không ở trong
đời, làm sao giết hại được? Hiện
tại chỉ là tượng Phật bằng đất
nặn, gỗ khắc, quư vị mang ḷng nóng giận, mang ác
niệm hủy phá th́ cũng giống như là sát hại
Phật, Bồ Tát), Phật, Bồ Tát vẫn không trách móc
quư vị! Chỉ cần một niệm quay đầu. Một
niệm quay đầu chính là thực sự sám hối,
biết lỗi trước của ḿnh. Trước kia, do vô
tri nên gây chuyện sai trái, nay con hồi đầu,
nương tựa đức Phật, con thực sự
tin tưởng, con nguyện sanh về Tịnh Độ
th́ Phật, Bồ Tát vẫn đoái hoài, chứ không ghét
bỏ! Bởi thế, các Ngài không phân biệt là oan gia
đối đầu hay người thân yêu. Không phân
biệt như thế, không chấp trước như
thế, một mực chân thành, b́nh đẳng, yêu
thương, che chở chúng sanh. Chỉ cần quư vị
chịu tiếp nhận, Phật, Bồ Tát đều vui
vẻ giúp đỡ, thành tựu cho quư vị, nâng
đỡ quư vị, hy vọng trong một đời này, quư
vị sẽ vượt thoát luân hồi lục
đạo, vĩnh viễn thoát khỏi biển khổ
(luân hồi là biển khổ), văng sanh thế giới
Cực Lạc, thù thắng khôn sánh! Phật, Bồ Tát
hộ niệm chúng sanh, giúp đỡ chúng sanh vĩnh
viễn không mệt mỏi. Như mọi người chúng
ta hay nói, các Ngài có tinh thần cao, thể lực tốt.
Trong mười phương thế
giới, chúng sanh vô lượng vô biên, chỉ cần
khởi tâm động niệm cầu Phật, Bồ Tát
giúp đỡ, Phật, Bồ Tát lập tức hiện
thân, cảm ứng đạo giao. Phật, Bồ Tát có năng
lực ấy, chúng ta sanh về thế giới Cực
Lạc cũng có năng lực ấy, có thể hóa thân.
Đấy chính là thần thông, tức Thần Túc Thông.
Một thân có thể biến ra vô lượng vô biên thân,
chỗ nào có cầu, chúng ta bèn phân thân, biến một thân
sang đó. Cái thân biến hiện ấy lại có thể biến
hóa tùy theo ư niệm của chúng sanh. V́ thế, biến ra
rất nhiều thân không giống nhau. Quư vị đă
đọc phẩm Phổ Môn, ắt biết Quán Thế Âm
Bồ Tát có ba mươi hai ứng thân, tức là ba
mươi hai thứ thân phận bất đồng,
mỗi một loại thân cũng không giống nhau.
Đấy không phải là Phật, Bồ Tát có ư nghĩ, có
phân biệt, có chấp trước đâu nhé! Phật,
Bồ Tát không phân biệt, không chấp trước, mà là hiện
tướng tùy theo ư niệm của chúng sanh. Đấy
chính là do chúng sanh duy thức sở biến, nguyên do là
như vậy.
Giống như tiến sĩ Giang Bổn
Thắng làm thí nghiệm kết tinh nước, ông ta làm thí
nghiệm suốt tám chín năm. Mỗi ngày dùng kính hiển
vi quan sát, từ trước đến giờ chưa
hề có hai mẫu nước kết tinh hoàn toàn giống
hệt nhau. Như thế là thế nào? Từ trước
đến nay chưa bao giờ có hai ư niệm tương
đồng! Ư niệm của chúng ta sanh diệt trong
từng sát-na, mỗi một niệm đều chẳng giống
nhau. Chúng ta nói “giống nhau” th́ “giống nhau” là ǵ? Là
tương tự! Tuyệt đối chẳng hoàn toàn giống
nhau. V́ vậy, cảnh giới biến hiện bởi ư
niệm không có cảnh nào giống nhau. Nếu hiểu
đạo lư và sự thật ấy th́ sẽ tùy loại
hóa thân, tùy tâm ứng lượng (tùy theo tâm của đối
tượng được giáo hóa mà ứng với khả
năng tiếp nhận của người ấy),
cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn!
V́ sao các Ngài chẳng cảm thấy
mệt mỏi? V́ không chấp tướng. Chư Phật,
Bồ Tát không có ngă tướng, không có nhân tướng,
không có chúng sanh tướng, không có thọ giả
tướng, ai mệt nhọc đây? V́ sao chúng ta làm
việc cảm thấy mệt mỏi? V́ chấp
trước có ngă, chấp trước cái thân này là ta, công
việc nhiều quá bèn cảm thấy mệt mỏi.
Phật, Bồ Tát không chấp trước thân này là ta, thân
là ǵ? Thân là cỗ máy. Nay nhân loại phát minh ra máy móc, sử dụng máy móc rất phổ
biến, máy móc không biết mệt mỏi. Máy móc đơn
giản nhất chính là cái đồng hồ; quư vị
thấy cái đồng hồ chạy suốt hai
mươi bốn tiếng đồng hồ không ngừng.
Nay đồng hồ chạy bằng pin, đến khi
hết pin mới ngừng. Gắn pin mới vào lại
chạy tiếp, vĩnh viễn không mệt mỏi,
đạo lư là như vậy đấy!
Thân thể của Phật, Bồ Tát
giống như cái đồng hồ, v́ hết thảy
chúng sanh phục vụ nhất định không mệt
mỏi. Nếu các Ngài chấp trước thân này là ta,
ắt sẽ mệt mỏi. Các Ngài không chấp
trước thân này là ta, hóa ra vô lượng vô biên thân,
đều v́ hết thảy chúng sanh phục vụ.
Chỉ cần chúng sanh cần đến, Ngài bèn hiện
thân, bèn đến phục vụ. Đúng là vô ngă
tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô
thọ giả tướng. Chẳng những không chấp
tướng, mà ngay cả ư niệm cũng không dính mắc,
vô ngă kiến, vô nhân kiến, vô chúng sanh kiến, vô thọ
giả kiến, không phân biệt. Vô Tướng là không
chấp trước. Các Ngài không phân biệt, không chấp
trước, cho nên vĩnh viễn không mệt, không
nhọc. Ba câu này vạch trần sự nghiệp
độ sanh của Phật. Đoạn kế tiếp
giảng về cảm ứng.
“Cẩu
văn Phật danh, Phật tất hộ niệm, bất
luận hữu tâm, vô tâm, tín dữ bất tín, giai thành duyên
chủng” (Chỉ cần nghe
tên Phật, Phật ắt hộ niệm, bất luận
hữu tâm, vô tâm, tin hay không tin, đều thành duyên
chủng). Trong đoạn này, chúng ta thấy chữ
Cẩu (苟),
nếu nói theo văn Bạch Thoại là “chỉ yếu” (只要:
chỉ cần). Chỉ cần quư
vị nghe được danh hiệu Phật, chỉ
cần quư vị thấy được tượng
Phật, bất luận là h́nh vẽ hay là tượng
Phật bằng đất nặn, gỗ khắc, chỉ
cần quư vị trông thấy tượng Phật, nghe danh
hiệu Phật đă là có duyên cùng Phật, Phật sẽ
hộ niệm quư vị. Kinh Phật nói “hộ niệm”, dân gian thường nói là “bảo hựu”, nghĩa là Phật
che chở, ban phước, người thế gian gọi
là “quan hoài” (quan tâm, nhớ
nghĩ), Phật, Bồ Tát quan hoài quư vị. Quư vị
từng trông thấy h́nh tượng Ngài, từng
được nghe danh hiệu Ngài, “bất luận hữu tâm, vô tâm”, vô tâm là ngẫu
nhiên, cũng bất luận tin hay chẳng tin. Có những
người, nhất là những người tin vào tôn giáo
khác, trông thấy tượng Phật, nghe đến danh
hiệu Phật, chắc chắn không tin tưởng, thậm
chí c̣n hủy báng, nói là mê tín. Anh chê là mê tín, nhưng Phật
vẫn bảo hựu anh, chẳng thể nghĩ bàn!
Bởi thế, “giai thành duyên chủng”
(đều thành duyên chủng). Chúng ta chẳng thể
không biết điều này, vô ư kết duyên cùng Phật, chuyện
này rất nhiều!
Do đây biết rằng: Phật
kết duyên với chúng sanh, nói thật ra, rộng lớn chẳng
hề có bờ mé. Thế nhưng để Phật
kết duyên với chúng sanh th́ cũng cần phải tạo
Tăng Thượng Duyên cho chúng sanh. Có rất nhiều
người trông thấy tượng Phật là do v́ lẽ
nào? Đương nhiên là phải có người tạo
tượng Phật cho người khác thấy. Nếu
ở chỗ này không có người tạo một bức
tượng Phật th́ người ở đây từ
trước đến nay chưa hề trông thấy tượng
Phật. Do vậy, những hàng đệ tử Phật chúng
ta có nghĩa vụ tạo tượng Phật! Hiện
tại ở Trung Quốc, ở ngoại quốc có rất
nhiều chỗ dựng tượng Phật lớn; chúng
ta phải biết, dựng những tượng lớn
ấy có công đức ở chỗ nào? Công đức là
như ở đây nói: “Cẩu
văn Phật danh, Phật tất hộ niệm, bất
luận hữu tâm, vô tâm, tín dữ bất tín, giai thành duyên
chủng” (Chỉ cần nghe danh hiệu Phật,
Phật ắt hộ niệm, bất luận hữu tâm, vô
tâm, tin hay không tin, đều thành duyên chủng), tạo
Tăng Thượng Duyên cho hết thảy chúng sanh!
Đặc biệt là những nơi du
lịch, văn cảnh, những nơi có người mỗi
ngày từ các nơi, các quốc gia đến thăm
viếng ngoạn cảnh, bất luận tin hay không tin,
họ trông thấy tượng Phật, nghe có người
niệm Phật ở đó, nghe được danh
hiệu Phật th́ họ sẽ có duyên với Phật.
Đúng như câu nói: “Nhất lịch
nhĩ căn, vĩnh vi đạo chủng” (Vừa
thoảng qua tai, vĩnh viễn thành hạt giống
đạo). Khi nào duyên chín muồi sẽ đắc
độ. Thế nào là chín muồi? Có thể tin, có thể
nguyện, có thể y giáo phụng hành, đó là chín muồi.
Nay duyên phận giữa ta và Phật chín muồi, chẳng
phải là ngẫu nhiên; nhiều đời, nhiều
kiếp thấy tượng Phật, nghe danh hiệu
Phật, cũng là có khi tin, có khi không tin, hữu tâm, vô ư, trong
quá khứ chúng ta là như vậy đó. Trong một
đời này, duyên chín muồi, cho nên trông thấy
tượng Phật, nghe danh hiệu Phật, bèn thực
sự tin tưởng, thực sự hiểu rơ, hoan hỷ
học theo đức Phật. Chúng ta xem tiếp mấy câu
cuối cùng.
“Phật từ
bất khả tư nghị, danh hiệu công đức bất
khả tư nghị, đích thị nan tín chi pháp” (Ḷng Từ của Phật chẳng
thể nghĩ bàn, công đức của danh hiệu
chẳng thể nghĩ bàn, đích thực là pháp khó tin).
Ở đây nói lên ba điều:
1) Ḷng từ bi của Phật chẳng
thể nghĩ bàn, bọn lục đạo chúng sanh ta không
có cách ǵ tưởng tượng được nổi.
Phật từ bi, khoan dung, tha thứ, rộng răi, bao dung
chẳng thể nghĩ bàn!
2) Danh hiệu có công đức chẳng
thể nghĩ bàn: Quư vị thấy đó, hết thảy
chúng sanh bất luận hữu ư hay vô ư, tin hay không tin, nghe
đến danh hiệu Phật, bèn được Phật
hộ niệm, có duyên với Phật. Công đức
của danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn!
3) Câu cuối cùng: [Pháp này] xác thực là
pháp khó tin.
Trong một đời này, chúng ta hiểu
rơ, thấu suốt, cho nên đem Phật pháp giới
thiệu cùng hết thảy chúng sanh. Dùng cách thức nào?
Dùng cách niệm danh hiệu Phật. Nay
khoa học kỹ thuật phát triển, chúng ta dùng máy
niệm Phật chạy pin (battery), thâu tiếng niệm A
Di Đà Phật vào “tinh phiến” (IC)[3].
Cái máy niệm Phật ấy niệm Phật suốt hai
mươi bốn tiếng không mệt mỏi. Tiếng
niệm Phật phát ra, chỉ cần có người nghe
được, bất kể người ấy tin hay
không tin, bất luận hữu tâm hay vô tâm, thảy
đều gieo chủng tử Phật, thảy đều có
duyên với Phật.
Nhất là trong năm nay, đài truyền h́nh Hoa Tạng của chúng ta ra
mắt từ ngày Nguyên Đán, giảng kinh, niệm
Phật hai mươi bốn tiếng đồng hồ.
Mỗi đoạn kinh văn giảng xong, lại niệm
Phật hai mươi phút, phát ra toàn thế giới. Những
ai có duyên? Người tiếp thâu hay xem nghe là người có
duyên. Mỗi một khi tiếp thâu, người xem nghe
tự ḿnh xem, người bên cạnh cũng vô ư hay hữu
ư, ngẫu nhiên nghe được, đều tạo thành
chủng tử Phật, gieo chủng tử Phật vào A
Lại Da Thức, công đức vô lượng vô biên,
chẳng thể nghĩ bàn! Do vậy, trong kinh này,
đức Thế Tôn nói kinh này là pháp khó tin. Trong tập sách
Tịnh Ngữ, lăo cư sĩ Hạ Liên Cư nói: “
“Văn
kinh, thọ tŕ, bất cẩn chư Phật hộ niệm,
nhân nhân giai đắc viên chứng tam Bất Thoái, niệm
niệm thú hướng Phật quả diệu giác dă” (Nghe kinh, thọ tŕ, không chỉ
được chư Phật hộ niệm, mà ai nấy
c̣n đều được viên chứng ba thứ Bất
Thoái, niệm niệm hướng đến Phật
quả diệu giác). Câu này nói đến cái hay của
việc nghe kinh thọ tŕ, niệm Phật, lợi ích
cũng chẳng thể nghĩ bàn. “Nghe kinh” là nghe bộ kinh này. Từ cổ
đến nay, kinh Di Đà được rất nhiều
người giảng, v́ sao? V́ công đức lợi ích thù
thắng khôn sánh; không chỉ pháp sư xuất gia, những
pháp sư giảng kinh cả đời chưa chắc
đă giảng những kinh khác, nhưng kinh A Di Đà nhất
định phải giảng. Chẳng cần biết là
pháp sư thuộc tông hay phái nào, hễ là pháp sư
giảng kinh, chắc chắn trong đời vị đó
phải từng giảng kinh Di Đà. Nếu quư vị
hỏi vị ấy có duyên cùng Tịnh Độ hay không?
Đương nhiên là kết duyên! Chẳng những kết
duyên, mà giảng kinh này c̣n là kết duyên rất sâu. Dẫu
một đời này chẳng nghĩ đến chuyện
văng sanh, ngày nào đó duyên chín muồi, chắc chắn
sẽ văng sanh thế giới Cực Lạc, đó là
đạo lư nhất định!
Những pháp sư chuyên tu Tịnh
Độ, nhất định cả đời không
chỉ giảng kinh Di Đà một lần. Trong quá khứ, lăo cư sĩ Lư Bỉnh
Cuốn Di Đà Yếu Giải Nghiên
Tập Báo Cáo này được giảng trong khóa giảng
đại chuyên Phật học. Do v́ thời gian nghe kinh
của các học sinh bị hạn chế nên bản báo cáo ấy giảng mấy ngày là
xong? Bảy ngày! Mỗi ngày giảng hai tiếng. Giảng
xong trong mười bốn tiếng đồng hồ!
Lần này, ở đây chúng tôi cũng dùng bản Báo Cáo
cũ như lần trước, nhưng giảng
tường tận, không quá tường tận, chỉ là
so với lần giảng trong khóa Đại Chuyên tỉ
mỉ hơn một chút, tốn không ít thời gian,
nhiều hơn mười bốn giờ. Như vậy, “nghe kinh, thọ tŕ”, chúng ta
hữu duyên nghe được bộ kinh này, nghe xong sanh tâm
hoan hỷ, lại có thể tiếp nhận, tiếp
nhận những phương pháp, lư luận, cảnh
giới được giảng trong kinh, hay lắm!
Chứng tỏ quư vị thiện căn, phước
đức đă chín muồi nên quư vị có thể tiếp
nhận, có thể duy tŕ.
“Tŕ” là ǵ?
Nay ta gọi “tŕ” là áp
dụng vào cuộc sống thường nhật của
chính ḿnh, áp dụng vào công việc của chính ḿnh, vào cách
xử sự, đăi người, tiếp vật. Bộ
kinh này có tác dụng đối với tư tưởng,
kiến giải, hành vi của chúng ta, đó gọi là
Thọ Tŕ, là nhập vào cảnh giới của kinh A Di
Đà. Bất kể quư vị nhập sâu hay cạn,
thời gian dài hay ngắn, đều được
chư Phật hộ niệm. Ư nghĩa của chữ “chư Phật” phải
được hiểu nước đôi, ở phần
trên chúng tôi đă nói rồi, kinh nói “chư Phật” là chỉ A Di Đà Phật. A Di
Đà Phật đă hộ niệm quư vị th́ mười
phương chư Phật không vị nào chẳng hộ niệm
quư vị. V́ sao? Mỗi một vị Phật đều
tôn kính A Di Đà Phật, tôn trọng A Di Đà Phật, khen
ngợi A Di Đà Phật, nên đệ tử của A Di
Đà Phật được hưởng lây! Bất
luận đến thế giới của đức Phật
nào, vị Phật nào trông thấy đệ tử của
A Di Đà Phật cũng đặc biệt tiếp
đăi, ai nấy cùng có tấm ḷng này, tâm cùng một lư này.
Không chỉ là được chư Phật hộ
niệm, phần sau lại c̣n cho biết cái điều
tốt lành lớn lao hơn nữa:
“Nhân nhân
giai đắc viên chứng tam Bất Thoái” (Ai nấy đều được viên
chứng ba thứ Bất Thoái), nhưng ở đây, phải
có điều kiện. Điều kiện chính là phải
đầy đủ “ḷng tin
chân thành, nguyện thiết tha, một dạ chuyên niệm”.
Nay quư vị chưa văng sanh, vẫn c̣n ở trong thế
gian này, dẫu ở trong thế gian này, nhưng tự ḿnh
đă chứng trọn vẹn ba thứ Bất Thoái mà chính
ḿnh không biết! Tuy chính ḿnh không biết, nhưng quả
thật đă thành tựu. V́ sao? V́ quư vị nhất định
văng sanh. Văng sanh Cực Lạc thế giới là quư vị viên
chứng ba thứ Bất Thoái. V́ vậy, chỉ cần quư
vị nhất định được văng sanh ngay trong
một đời này th́ khác nào quư vị đă viên chứng
ba thứ Bất Thoái ngay trong hiện tại! Ư nghĩa là
như vậy đó.
Ba thứ Bất Thoái này chẳng dễ
ǵ đạt được, nhất là viên chứng! “Viên” hết sức khó được!
Nếu nói quư vị chứng ba thứ
Bất Thoái th́ Sơ Trụ Bồ Tát thuộc Viên Giáo
đă chứng được, nhưng không viên. Địa
vị nào mới có thể gọi là Viên? Luận trên sự
thật, Đẳng Giác Bồ Tát mới là Viên. Thực sự
chẳng thể nghĩ bàn! Thật là pháp khó tin!
Nếu quư vị nới rộng ư nghĩa chữ Viên
một chút, mở rộng điều kiện một chút
th́ Tịch Diệt Nhẫn là Viên. Hạ Phẩm Tịch
Diệt Nhẫn là Pháp Vân Địa Bồ Tát, Đẳng
Giác là Trung Phẩm Tịch Diệt Nhẫn, nơi quả
địa Như Lai là Thượng Phẩm Tịch
Diệt Nhẫn. Như vậy, viên chứng ba thứ
Bất Thoái th́ địa vị thấp nhất phải là
Thập Địa Bồ Tát, rất cao! Đấy là ta
đă nới rộng ư nghĩa chữ Viên một chút
rồi! Nếu hỏi c̣n có thể nới rộng thêm chút
nữa hay không? Nếu nới rộng chút nữa th́ không
phải là viên chứng thực sự, chỉ là tiếp
cận viên chứng, đă mấp mé viên chứng, là
hạng Bồ Tát nào vậy? Vô Sanh Pháp Nhẫn Bồ Tát. Chứng
đắc Vô Sanh Nhẫn, Vô Sanh Nhẫn là hết thảy
pháp bất sanh bất diệt, thuộc những
địa vị nào? Thất Địa, Bát Địa,
Cửu Địa!
Do vậy, chúng ta đọc kinh Vô
Lượng Thọ thấy nói sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới, dẫu sanh trong Hạ Hạ
Phẩm thuộc Phàm Thánh Đồng Cư Độ,
đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Cũng có thể nói
A Duy Việt Trí Bồ Tát là Bồ Tát viên chứng ba thứ
Bất Thoái, điều kiện rộng răi hơn. A Duy
Việt Trí Bồ Tát là từ Thất Địa trở
lên. Nói cách khác, Bồ Tát chứng đắc Vô Sanh Pháp
Nhẫn là Thất Địa, Bát Địa, Cửu
Địa, từ Thất Địa trở lên có thể nói
là “viên chứng”, nhưng thực sự viên chứng th́ là Đẳng
Giác Bồ Tát, Thất Địa rất gần với viên
chứng. Không dễ đâu! Trong tám vạn bốn ngàn pháp
môn, trong vô lượng vô biên các cơi Phật đều không
có [chuyện này]. Chỉ có niệm Phật, niệm A Di
Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới mới có thành tựu như thế.
Chúng ta biết: Mười phương
hết thảy chư Phật Như Lai không vị nào chẳng
giảng Tịnh Độ Tam Kinh, không vị nào chẳng
giảng Hoa Nghiêm; nghĩa là kinh Hoa Nghiêm và Tịnh
Độ Tam Kinh là giáo học căn bản để
hết thảy chư Phật độ chúng sanh, ai nấy
đều phải giảng. Giống như môn học
căn bản, môn học bắt buộc phải học trong
nhà trường, tám vạn bốn ngàn pháp môn khác là
những môn học nhiệm ư (elective courses), c̣n đây là
căn bản pháp luân. Thành tựu trong một đời th́
chỉ có mỗi ḿnh pháp môn này, lại thành tựu thật
cao, thực sự chẳng thể nghĩ bàn, thực sự là pháp khó tin! “Niệm niệm thú hướng Phật quả diệu
giác dă” (niệm niệm hướng đến Phật quả
diệu giác). Đó chính là viên chứng ba thứ Bất
Thoái. Phương hướng và mục tiêu để tinh
tấn là Vô Thượng Phật Quả, tức Diệu
Giác, cao hơn Đẳng Giác. Diệu Giác là Phật quả
rốt ráo viên măn. Trực tiếp hướng đến
mục tiêu này, chứ không phải là theo từng giai
đoạn địa vị Bồ Tát mà tiến dần
lên, không phải vậy! Đây thực sự là đạo
thành Phật danh xứng với thật, trong ấy không có
tướng trạng cong quẹo, không ṿng vèo, ngoắt
ngoéo.
Danh hiệu của quả Diệu Giác,
trong kinh điển chúng ta thường đọc thấy
là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, hoàn toàn
là dịch âm tiếng Phạn, quả thật rất
dễ phiên dịch sang tiếng Hán, v́ sao không phiên dịch? V́
tôn trọng danh hiệu này nên không dịch, chứ chẳng
phải là không thể dịch được. Chúng ta
đặc biệt tôn trọng danh hiệu này, bởi
lẽ, nó chính là quả đức tối hậu mà mọi
người học Phật đều mong đạt
được. Chúng ta học Phật v́ lẽ ǵ? Nhằm
cầu cái ǵ? Chính là cầu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam
Bồ Đề. Nếu dịch sang tiếng Hán, A dịch
là Vô, Nậu Đa La dịch là Thượng, Tam dịch là
Chánh, Miệu dịch là Đẳng, Tam Miệu dịch là
Chánh Đẳng. Tam dịch là Chánh, Bồ Đề dịch
là Giác; bởi thế, dịch toàn bộ sang tiếng Hán th́
là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nói thật ra,
nếu tách danh hiệu ấy ra để luận th́ có ba
giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là Chánh Giác;
giai đoạn thứ hai là Chánh Đẳng Chánh Giác; giai
đoạn thứ ba là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác. Nếu quư vị thực sự đạt
được th́ danh hiệu liền biến đổi.
Có thể nói danh hiệu ấy chính là
học vị (degree) trong nền giáo dục của
đức Phật. Theo tiêu chuẩn học vị th́
học vị thấp nhất là A La Hán, giống như
trong các trường đại học hiện tại, học
vị thấp nhất gọi là Học Sĩ (Cử Nhân,
Bachelor), A La Hán tương đương với Học
Sĩ. Học vị thứ hai là Bồ Tát, giống như
Thạc Sĩ (Cao Học, Master), học vị thứ ba là
Phật, giống như Tiến Sĩ (PhD). Như vậy,
ba danh hiệu trên (tức Chánh Giác, Chánh Đẳng Chánh
Giác, và Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác) là ba danh
hiệu học vị, chúng ta phải hiểu như
vậy. Có thể thăng lên từng cấp: A La Hán
thăng lên một cấp là Bồ Tát. Bồ Tát lại
thăng lên một cấp thành Phật; Phật là học
vị cao nhất. Phải tu những pháp ǵ mới
đạt được những học vị ấy?
Tám vạn bốn ngàn pháp môn chính là phương pháp, chính là
đường lối, cái được ḿnh tu để
ḥng đạt đến đều là A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề.
Nếu quả thật quư vị tu thành
Chánh Giác th́ chính là thành A La Hán. Ở chỗ này, cũng có
rất nhiều người hỏi tôi: “Người
thế gian chúng ta có ai giác ngộ hay không? Khoa học gia có
được tính là giác hay chăng? Triết học gia có
được coi là giác hay không? Trong thế gian vẫn có
rất nhiều thánh hiền có trí huệ, có đạo
đức, có tính là giác hay không?” Tính chứ! Coi họ là
giác, nhưng có thể gọi là A La Hán hay chăng? Không thể!
V́ sao? Tiêu chuẩn của nhà Phật là phải có Chánh. Tiêu
chuẩn của Chánh là ǵ? Đoạn sạch phiền năo!
Phiền năo là ǵ? Danh từ nhà Phật gọi phiền năo là
Thân Kiến: Coi thân thể này là ta, đó là cách nh́n lầm
lạc, thân thể không phải là ta, thân thể là ǵ? Thân
thể là cái được sở hữu bởi ta,
giống như y phục, y phục không phải là ta, ta
sở hữu nó mà thôi!
Lục đạo chúng sanh đều
chấp thân thể là Ngă, lầm rồi! Đấy không
phải là Chánh Giác. Do quư vị vẫn c̣n chấp
trước thân thể là ta, c̣n chấp tham, sân, si, mạn
là ta, không buông những thứ ấy xuống
được, thị - phi, nhân - ngă không buông xuống
được; tham, sân, si không buông xuống
được; ngũ dục, lục trần không buông
xuống được, dù giác cũng chẳng thể
gọi là Chánh Giác. Người chánh giác buông hết những
thứ ấy xuống, chẳng c̣n chấp trước
thân là ta, quyết định chẳng chấp trước
danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục
trần, tham, sân, si, mạn, quyết định không có
những thứ ấy. Giác phù hợp với tiêu chuẩn
nhà Phật th́ Phật gọi là Chánh Giác; người
như vậy có danh hiệu là A La Hán. Người đạt
Chánh Giác sẽ vượt thoát luân hồi trong lục
đạo, vượt thoát luân hồi rồi lại
phải trở vào lục đạo, đấy là thừa
nguyện tái lai, trọn chẳng phải là thân nghiệp
báo, Ngài trở về làm ǵ? Vị ấy đến
độ chúng sanh, đến giáo hóa chúng sanh, hoàn toàn giống
hệt chư Phật, Bồ Tát thị hiện trong
lục đạo. Thuận theo tâm niệm của chúng sanh
bèn biến hóa những thân, sắc tướng bất
đồng. Đó là học vị đầu tiên.
Học vị thứ hai lại vượt
lên một cấp, nâng lên thành Bồ Tát, Bồ Tát là Chánh
Đẳng Chánh Giác, cao lắm. Chánh Đẳng:
Đẳng là ǵ? Đẳng (等: ngang bằng) với
Phật, nhưng chưa phải là Phật. Rất gần
với Phật, gần như Phật, chưa phải là
Phật, cao hơn A La Hán nên thêm chữ Chánh Đẳng vào
trước Chánh Giác.
Học vị tối cao chính là Phật
Đà. Điều thành tựu của đức Phật
chính là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nghĩa là
Chánh Đẳng Chánh Giác đạt đến đỉnh
điểm, không ǵ cao hơn nữa. Chánh Đẳng Chánh
Giác đạt đến rốt ráo viên măn, nên thêm chữ
Vô Thượng, Vô Thượng là Phật quả! Chánh
Đẳng Chánh Giác là quả vị Bồ Tát. A La Hán và Bích
Chi Phật đều là Chánh Giác, trong nhà Phật gọi họ
là Tiểu Thừa, hoặc c̣n gọi là Nhị Thừa.
Phải hiểu ư nghĩa nội hàm của những danh
từ thuật ngữ ấy, nếu không hiểu sẽ
đi chệch ra ngoài. Sau rốt, chúng ta hăy xem điều
cuối cùng:
“Văn
danh công đức, như thử siêu thắng, Thế Tôn cập
thập phương chư Phật, đồng sở tuyên
thuyết, bất khả tín hồ” (Công đức nghe danh hiệu siêu
thắng như thế, do Thế Tôn và mười
phương chư Phật cùng tuyên nói, chẳng đáng tin
ư?). Nghe được một câu danh hiệu A Di Đà
Phật, công đức lợi ích quá lớn, chính ḿnh không có
cách ǵ tưởng tượng được nổi!
Nếu không do chư Phật, tổ sư đại
đức giảng giải cho ta, ta làm sao hiểu
được? Ta thường cho là danh hiệu A Di Đà
Phật nghe đă quen tai, há lại hiếm lạ, phi thường
đến mức như thế ư? Nói thật ra, danh
hiệu ấy “như thử
siêu thắng” (siêu thắng như thế đó). Siêu (超) là siêu việt, Thắng (勝) là thù thắng. Bất luận quư
vị tin hay không tin, bất luận hữu ư hay vô ư,
đều đă gieo chủng tử vào A Lại Da Thức;
nói theo cách bây giờ là “đă ghi ấn tượng vào óc”,
người thế gian nói như vậy đó. Quư vị
đă có ấn tượng, ấn tượng ấy
vĩnh viễn chẳng mất đi, khi nào duyên chín muồi,
lúc ấy sẽ thưc sự đạt được
lợi ích chân thật, sẽ hiện tiền.
Duyên chín muồi th́ gặp
được thiện tri thức, gặp được
đồng học tốt đến chỉ dạy quư
vị, giúp quư vị đoạn nghi sanh tín, giúp quư vị tu
hành đúng lư, đúng pháp, trong một đời này bèn thành
công, vĩnh viễn thoát luân hồi, chứng thân Kim Cang
bất hoại, chứng vô lượng thọ, chứng vô
lượng quang (“vô lượng quang” là vô lượng trí
huệ), sẽ chứng đắc được như
thế. Do vậy, đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni
Phật và mười phương chư Phật
đều khuyên chúng ta, đều tuyên thuyết, há có thể
nào chẳng ư? Chẳng thể không tin! Bây giờ
hết giờ rồi!
*
6.4.3. Khuyến nguyện lưu
thông
Xin hăy xem tiếp đoạn lớn
cuối cùng của kinh A Di Đà “khuyến
nguyện khuyến hành lưu thông”. Chúng tôi đọc
kinh văn một lượt:
Xá Lợi Phất! Nhược hữu
nhân dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương
phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật
quốc giả, thị chư nhân đẳng giai
đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề, ư bỉ quốc
độ, nhược dĩ sanh, nhược kim sanh,
nhược đương sanh.
Thị cố Xá Lợi Phất! Chư
thiện nam tử, thiện nữ nhân, nhược hữu
tín giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ
quốc độ!
舍利弗。若有人已發願。今發願。當發願。欲生阿彌陀佛國者。是諸人等。皆得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提。於彼國土。若已生。若今生。若當生。是故舍利弗。諸善男子善女人。若有信者。應當發願。生彼國土。
(Này Xá Lợi Phất! Nếu có người đă
phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện,
muốn sanh trong cơi nước của A Di Đà Phật,
th́ những người ấy đều được
chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác, đối với cơi nước
ấy hoặc là đă sanh, hoặc đang sanh, hoặc
sẽ sanh.
V́ thế,
này Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ
nhân, nếu có ai tin tưởng, hăy nên phát nguyện sanh
về cơi ấy).
Đoạn này là khuyến nguyện, tức
“khuyến nguyện lưu
thông”. Chúng ta đọc kinh văn đến chỗ này,
vẫn phải chia thành mấy tiểu đoạn
để học tập. Tiểu đoạn thứ
nhất là “khuyến nguyện
văng sanh”. “Dĩ phát nguyện” là đă văng sanh rồi, “kim phát nguyện” là hiện
tại, hiện tại phát nguyện, hiện tại
niệm Phật nhất định được văng sanh
Tịnh Độ. “Đương
phát nguyện” là nói đến vị lai; sau này những
ai có duyên phận gặp được pháp môn này, gặp
được kinh điển này, thiện căn,
phước đức, nhân duyên đầy đủ, trong
tương lai họ phát nguyện, nhất định
được văng sanh. Đây chính là quá khứ, hiện
tại, vị lai: “Dĩ phát
nguyện” là quá khứ, “kim
phát nguyện” là hiện tại, “đương phát nguyện” là vị lai, “giai đắc bất thoái
Bồ Đề” (đều được bất
thoái Bồ Đề); bởi lẽ “đă phát nguyện”
là đă văng sanh, “nay phát nguyện” là hiện tại văng
sanh, “sẽ phát nguyện” là tương lai văng sanh. “Nhược hữu tín giả,
ưng đương phát nguyện” (Nếu có ḷng tin tưởng,
hăy nên phát nguyện): Trong kinh này đức Phật khuyên
chúng ta phải phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ!
“Tín nguyện
văng sanh, chánh hiển sở phát chi nguyện vô hư dă” (Tín nguyện văng sanh, chính là nhằm chỉ
rơ nguyện đă phát không hư huyễn). Người phát
ra nguyện ấy nhất định thực hiện,
nhất định chẳng để nguyện ấy
trở thành chuyện xuông. Trong sách Yếu Giải, Ngẫu
Ích đại sư nói: “Được
văng sanh hay không là do có tín nguyện hay không quyết
định”. Quư vị có tin, có nguyện th́ mới
được văng sanh. Văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới phẩm vị cao hay thấp, chúng ta
biết trong kinh nói đến ba bậc chín phẩm trong bốn
cơi Tịnh Độ; đại sư bảo chúng ta: “Phẩm vị cao hay thấp là
do công phu tŕ danh sâu hay cạn”. Chúng ta dùng lời lăo nhân
gia khai thị để luận định những thân
nghiệp báo trong lục đạo. Đức Phật
dạy trong lục đạo, xả thân thọ sanh có
Dẫn Nghiệp và Măn Nghiệp. Dẫn Nghiệp hướng
dẫn quư vị đầu thai trong một
đường nào đó, chúng ta cũng coi Tây Phương
Cực Lạc thế giới như một
đường. Hướng dẫn chúng ta sanh vào Tây
Phương Cực Lạc thế giới là Tín -
Nguyện. Tín Nguyện là Dẫn Nghiệp, niệm Phật
là Măn Nghiệp. Măn Nghiệp là sau khi sanh vào chỗ nào đó,
quư vị sẽ được hưởng phước
báo và lợi ích khác biệt nhau. Có bốn cơi, ba bậc, chín
phẩm khác nhau là do công phu niệm Phật của quư
vị sâu hay cạn.
Do đây biết rằng: Niệm
Phật rất quan trọng, quan trọng hơn bất cứ
ǵ
khác.
Quư vị muốn văng sanh trong phẩm vị cao th́ phải
chăm chỉ niệm Phật, chớ nên lăng phí thời
gian, chẳng được lăng phí tinh thần, phải
tranh thủ đại phước báo Tây Phương
Cực Lạc thế giới, nâng cao phẩm vị.
Thế nhưng Tây Phương Cực Lạc thế
giới và mười phương thế giới chư
Phật thật ra chẳng khác nhau. Mười
phương thế giới đặc biệt là trong
lục đạo như chúng ta, phước báo sai khác
rất lớn! Phú quư và bần tiện sai khác nhau thật
lớn; vậy mà Tây Phương thế giới tợ
hồ không sai biệt. V́ sao?
Chúng tôi lại dùng tỷ dụ để
diễn tả: Nếu Măn Nghiệp của quư vị,
tức là công phu niệm Phật thật tốt, niệm
đến Lư nhất tâm bất loạn, sanh vào Thật Báo
Trang Nghiêm độ của Tây Phương Cực Lạc
thế giới, Thượng Thượng Phẩm văng sanh,
hoa nở thấy Phật, đạt đến địa
vị A Duy Việt Trí Bồ Tát, quư vị thực sự
đạt được, đó là do chính ḿnh tu
được; c̣n những người khác không tu thành công
như vậy th́ sao? Chỉ cần có tín nguyện, công phu
niệm Phật rất cạn, có thể là chỉ niệm
Phật mấy ngày, thậm chí như trong lời nguyện
thứ mười tám đă nói: “Lâm
mạng chung thời, niệm thập thanh Phật hiệu”
(Lúc lâm chung niệm mười tiếng Phật hiệu),
thậm chí c̣n chưa niệm được mười
tiếng, chỉ niệm một, hai tiếng, công phu
niệm Phật rất mỏng, người ấy sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
đương nhiên sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư
độ. Thế nhưng sự hưởng thụ trong
Phàm Thánh Đồng Cư độ thể hiện trí
huệ, tướng hảo, quang minh, thần thông tợ
hồ không khác Bồ Tát trong cơi Thật Báo, chuyện này là
như thế nào vậy?
Trong đây có đạo lư: Chính là do
bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia
tŕ, chứ không phải do chính người ấy tu được!
Giống như tôi đă từng nói: Chúng ta có một
người bạn phú quư, bản thân ḿnh rất nghèo, cái ǵ
cũng không có, đến nhà người ta làm khách,
sống trong nhà đẹp của người ta, ra
khỏi cửa cũng có xe, ăn uống, sinh hoạt
giống hệt người ta, hưởng thụ
đều giống hệt, người ta có phước
mà! Chúng ta hưởng phước của chủ nhân,
chứ không phải do phước báo của chính ḿnh. Ra
khỏi cửa cũng có xe, xe không phải của ḿnh, toàn
là phước báo của người, ta hưởng,
nhưng chúng ta hoàn toàn không có quyền sở hữu. Sanh vào
cơi Phàm Thánh Đồng Cư hay cơi Phương Tiện
Hữu Dư của Tây Phương Cực Lạc thế
giới đều giống như vậy. Măn Nghiệp
của chính ḿnh không đủ, nhưng có đủ Dẫn
Nghiệp để sanh về thế giới Cực
Lạc th́ phước báo, trí huệ, phước
đức được hưởng hết thảy
đều chẳng khác với A Di Đà Phật cho
mấy, tợ hồ b́nh đẳng với các Bồ Tát
thuộc cơi Thật Báo Trang Nghiêm. [Phước báo của] Bồ
Tát trong cơi Thật Báo là do tự tu mà được, c̣n
[phước báo trong] cơi Phàm Thánh Đồng Cư và cơi
Phương Tiện Hữu Dư là do Phật gia tŕ,
thảy đều hưởng phước báo của A Di
Đà Phật. Duyên do là như vậy đó!
Một mặt hưởng phước
của A Di Đà Phật, một mặt chính ḿnh vẫn phải
tu phước huệ, trọn chẳng thể ở măi
trong cơi Đồng Cư, chẳng thể ở măi nơi
cơi Phương Tiện. Tự ḿnh phải nâng cao, v́
thế, ở nơi đó phải tu học, tu học
để đạt đến cơi Thật Báo là do chính ḿnh
tự tu thành. Chính ḿnh không tu thành cũng chẳng sao,
hưởng phước của A Di Đà Phật. A Di
Đà Phật có vô lượng vô biên phước báo cúng
dường đại chúng, có phước cho mọi
người cùng hưởng, chẳng riêng một ai
hưởng, từ bi đến cùng cực. Bởi
thế, đây là chuyện chẳng thể nghĩ bàn, là
pháp khó tin. Trong hết thảy thế giới chư
Phật không đâu được như vậy, tự
bản thân quư vị chẳng thể đạt đến
cảnh giới có loại thần thông, phước báo
như vậy; nhưng Tây Phương Cực Lạc
thế giới lại khác, A Di Đà Phật gia tŕ, dẫu
chính ḿnh không tu cũng được hưởng, cũng
có thần thông, cũng có phước báo. Ngẫu Ích
đại sư giảng là do tín nguyện và tŕ danh, c̣n
chúng tôi giảng là Dẫn Nghiệp và Măn Nghiệp, quư
vị phải hiểu cho kỹ. Đoạn tiếp theo:
“Bổn
kinh tam khuyến phát nguyện” (kinh này ba lần khuyên phát nguyện). Chúng ta hăy xem
kỹ một lượt. Lần trước chúng tôi
giảng Hệ Niệm, phần giảng kinh A Di Đà trong
đó chỉ giới thiệu rất giản lược,
không nói tường tận; nhưng khi xem kỹ, kinh này đúng
ra bốn lần khuyên chúng ta hăy nên phát nguyện văng sanh. Lần
thứ nhất, là “chúng sanh văn
giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ
quốc” (chúng sanh nghe được, hăy nên phát
nguyện, nguyện sanh về cơi ấy), rồi đến “sở
dĩ giả hà? Đắc dữ chư thượng thiện
nhân câu hội nhất xứ” (v́ cớ sao vậy?
Được cùng các thượng thiện nhân ở cùng
một chỗ). Đấy chính là lần thứ nhất
khuyên nên phát nguyện. Lần thứ hai th́ chúng tôi cũng
đă nói qua: Chính là đoạn Phật gọi ngài Xá
Lợi Phất, “ngă kiến thị
lợi, cố thuyết thử ngôn: Nhược hữu chúng
sanh, văn thị thuyết giả, ưng đương phát
nguyện, sanh bỉ quốc độ” (ta thấy
điều lợi ấy, nên nói như thế này: Nếu
có chúng sanh nghe nói như vậy, hăy nên phát nguyện, sanh
về cơi ấy). Đó là lần thứ hai. Lần thứ
ba nằm trong ngay đoạn kinh văn chúng tôi vừa
đọc trong giờ giảng trước: “Thị cố Xá Lợi Phất!
Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngă ngữ,
cập chư Phật sở thuyết” (V́ thế Xá
Lợi Phất! Các ông hăy nên tin tưởng lời ta và
lời chư Phật đă nói). Đó là lần thứ ba.
Lần thứ tư là: “Xá
Lợi Phất!
Ở đây, chúng ta thấy Thích Ca Mâu Ni
Phật đại từ đại bi, đặc biệt
khẩn thiết, chẳng ngại phiền bốn
lượt khuyến cáo. Chúng ta đọc kinh văn, nghe
giảng giải, nếu chẳng phát nguyện cầu sanh
Tịnh Độ, đúng là cô phụ Phật ân. Ở
chỗ này, chúng tôi cũng viết mấy câu: “Thích Ca bi tâm đặc biệt
khẩn thiết, chẳng ngại trùng lập, bốn
lượt khuyến dụ. Nếu chẳng phát nguyện
cầu sanh Tịnh Độ, chính là cô phụ ơn Phật
quá đáng!” Ở chỗ giống như thế này,
nhất định phải chú tâm thấu hiểu ân sâu
của Phật, thấu hiểu tâm ư của Phật.
Phát nguyện th́ phải phát như
thế nào? Cổ đức thường khuyên chúng ta: “Nguyện phải y theo Tứ
Hoằng Thệ”. Ai nấy đều biết Tứ
Hoằng Thệ Nguyện, tức là bốn điều
nguyện tổng quát của chư Phật, Bồ Tát. Ngay
cả bốn mươi tám nguyện của A Di Đà
Phật, bốn mươi tám nguyện ấy quy nạp
lại sẽ chẳng ra ngoài bốn hoằng thệ
nguyện. Bốn hoằng thệ nguyện mở rộng
ra chính là bốn mươi tám nguyện, bốn mươi
tám nguyện quy nạp lại thành ra bốn hoằng
thệ nguyện.
Nguyện thứ nhất là “chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ”. Nói thật ra, trong bốn nguyện,
nguyện thứ nhất này trọng yếu nhất, nó là
chánh nguyện, ba nguyện kia đều nhằm hoàn thành
nguyện này. Khắp pháp giới hư không giới, trong
hết thảy các cơi Phật, nhiều cơi có lục
đạo, những cơi không có lục đạo rất ít.
Tây Phương Cực Lạc thế giới không có
lục đạo, rất hiếm! Xem kinh Hoa Nghiêm, chúng ta
thấy rất nhiều thế giới thực sự có
lục đạo, có chín pháp giới rất nhiều.
Những cơi không có lục đạo, không có chín pháp
giới, thuần nhất thanh tịnh như thế
giới Cực Lạc chỉ là thiểu số, không
phải là không có, nhưng không nhiều.
“Độ” (度) là giúp
đỡ, nói theo cách bây giờ th́ “hộ niệm” là quan hoài, chiếu cố, giúp
đỡ, chữ Độ bao gồm nhiều ư nghĩa
như vậy. Hăy hỏi chính ḿnh có phát được cái
nguyện ấy hay không? Có thời thời, khắc
khắc, niệm niệm nghĩ giúp đỡ hết
thảy chúng sanh khổ nạn hay không? Nếu quả
thật trong mỗi niệm đều mang ư niệm ấy
th́ quư vị đă thực sự phát nguyện. Ḿnh yêu
thương, che chở hết thảy chúng sanh, quan hoài
hết thảy chúng sanh, chiếu cố hết thảy
chúng sanh, giúp đỡ hết thảy chúng sanh, tận tâm,
tận lực chẳng phân biệt chúng sanh thuộc
chủng loại nào, thuộc tộc loại nào trong chín
pháp giới, người cũng được, trời
cũng được, quỷ cũng được, quái
cũng được, yêu cũng được, ma
cũng được, súc sanh cũng được,
địa ngục cũng được, quan hoài hết
tất cả, chiếu cố hết tất cả, giúp
đỡ hết tất cả! Chỉ cần ta có thể
giúp đỡ họ chỗ nào, ta trông thấy, ta nghe
thấy, nhất định sẽ đưa tay giúp
đỡ, thực sự có thể bỏ ḿnh v́
người.
Tâm nguyện của ta là như thế. Nếu
không đủ năng lực, giúp người c̣n
được, giúp súc sanh đạo có khi ḿnh c̣n làm
được, c̣n quỷ thần ḿnh không trông thấy,
thiên thần ḿnh lại càng không thấy, làm sao giúp họ
được? Tâm, nguyện thấu suốt! Quư vị muốn
giúp đỡ chúng sanh trong chín pháp giới th́ phải
hội đủ điều kiện. Hội đủ điều
kiện ǵ? Qua lại giao tiếp với họ, phải
hội đủ điều kiện ấy. Những nhà khoa
học trong hiện tại gọi điều kiện
ấy là “những chiều không gian khác nhau”. Quư vị
muốn đột phá những chiều không gian khác nhau
để có năng lực giao tiếp với chúng sanh trong
chín pháp giới ư? Phải đoạn phiền năo!
Do vậy, điều nguyện thứ
hai là “phiền năo vô tận
thệ nguyện đoạn”. V́ sao? Bản năng (những
năng lực sẵn có trong tự tánh) của chúng ta
bị phiền năo che lấp, chỉ cần không c̣n
phiền năo nữa, bản năng sẽ hiện tiền.
Người ta thường gọi bản năng là
“thần thông”. Mắt chúng ta thấy vượt khỏi
những chiều không gian không bị chướng ngại,
thấy được thiên thần, thấy
được quỷ thần, thấy được
địa ngục, thấy được hết thảy
chúng sanh trong những chiều không gian bất đồng.
Chúng ta có thể nghe được, thấy
được, và cũng có thể thực sự giúp
đỡ họ, bởi lẽ, đoạn phiền năo
sẽ khôi phục bản năng. Đoạn phiền năo
là tam-muội, là Thiền Định. Thiền Định
hiện thần thông, phiền năo không có, tâm địa thanh
tịnh. Trong cái tâm thanh tịnh ấy, trí huệ,
đức năng, tướng hảo thảy đều
hiện tiền, đó chính là thần thông.
Như vậy, thần thông không có ǵ là
kỳ quái cả, ai nấy đều có, chỉ là hiện
thời thần thông của ḿnh chưa hiện tiền v́
phiền năo quá nặng, phiền năo gây chướng
ngại. Thần thông là cái hết thảy chúng sanh vốn có,
ai nấy đều b́nh đẳng, [thần thông] to
như nhau, trọn chẳng thể nói thần thông của người
này to, thần thông của người kia nhỏ, không
hề có! To như nhau cả! Lớn, nhỏ sai khác là do
đâu phát sanh? Là do phiền năo nhiều hay ít mà phát sanh [hiện
tượng thần thông sai khác ấy]. Phiền năo
nhiều, thần thông rất nhỏ; phiền năo nhẹ
đi, thần thông sẽ lớn hơn. Đoạn
sạch phiền năo th́ năng lực thần thông chẳng
khác ǵ chư Phật Như Lai. Bởi lẽ, thần thông
là bản năng, không phải do tu mà có, không do học mà đạt,
vốn đă sẵn đủ trong tự tánh của quư vị.
Phải hiểu rơ, phải thấu đáo điều này!
Thần thông, đức năng
khôi phục th́ tướng hảo cũng khôi phục.
Nếu chúng ta không có trí huệ là không xong; không có trí huệ
[th́ khả năng] giúp người rất hữu hạn.
Do vậy vẫn phải học: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”,
học pháp môn nhằm khai trí huệ. Phiền năo
đoạn sạch rồi, nhà Phật nói là Căn Bản
Trí hiện tiền, lúc nó khởi tác dụng th́ gọi là
Căn Bản Trí. Tiếp xúc vô lượng vô biên chúng sanh,
vừa tiếp xúc bèn hiểu rơ, bèn khai trí huệ, đó
gọi là Hậu Đắc Trí. “Pháp
môn vô lượng thệ nguyện học” chính là thành
tựu Hậu Đắc Trí. Giống như trong kinh Hoa
Nghiêm, Thiện Tài đồng tử tham học với
năm mươi ba vị thiện tri thức. Ở chỗ
thầy ḿnh là Văn Thù Bồ Tát, trong pháp hội của
thầy, Thiện Tài đă thành tựu hai điều
nguyện đầu: “Chúng sanh
vô biên thệ nguyện độ”, Ngài đă phát
được nguyện ấy; “phiền
năo vô tận thệ nguyện đoạn”, Ngài đă làm
được điều ấy. Do vậy, Ngài đă
đạt Căn Bản Trí. Đạt được hai
điều ấy rồi, thầy bèn dạy Ngài đi tham
học, giống như bảo Ngài ra thi thố, ra lăn
ḿnh vào xă hội, đi tham phỏng rất nhiều
thiện tri thức để thành tựu Hậu
Đắc Trí.
Hậu Đắc Trí là không ǵ chẳng
biết, nếu không tham học làm sao đạt được
Hậu Đắc Trí? Căn Bản Trí không cần tham
học cũng đạt được, c̣n Hậu
Đắc Trí th́ chẳng thể như vậy! Không có
Hậu Đắc Trí, chẳng thể giáo hóa chúng sanh! V́
sao? Căn Bản Trí khế lư, Hậu Đắc Trí
khế cơ. Nếu quư vị không có Hậu Đắc Trí
sẽ khế lư nhưng chẳng khế cơ, chẳng
độ chúng sanh được, không có cách ǵ giúp
đỡ họ. Khế cơ nhưng không khế lư
cũng chẳng độ được chúng sanh. Đức
Phật dạy chúng ta phải vừa khế cơ vừa
khế lư, nên tham học rất quan trọng. Tham học là “quảng
học, đa văn” (học rộng nghe nhiều). Trong
năm mươi ba lần tham học, chúng ta thấy
đối tượng tham phỏng của Thiện Tài
gồm già, trẻ, trai, gái, đủ mọi ngành nghề,
có quốc vương, đại thần, có hạng b́nh dân,
lại c̣n nhiều nhà tôn giáo như Bà La Môn, như ngoại
đạo Biến Hành, không ai chẳng tiếp cận, nên
thành tựu viên măn Hậu Đắc Trí. Đó mới thực
sự là giúp đỡ, lợi ích hết thảy chúng sanh, Ngài
có năng lực như thế.
V́ vậy, học Phật, sau
khi Căn Bản Trí hiện tiền, phải nhớ kỹ
là quư vị phải tham học! Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng
ta thị hiện, quư vị thấy đó, trước khi
thị hiện thành Phật dưới cội Bồ
Đề, Ngài cũng tham học khắp Ấn Độ.
Tham học xong trở về, dưới cội Bồ
Đề thị hiện đại triệt đại
ngộ, thành tựu Phật đạo. Đấy chính là
thệ nguyện cuối cùng trong bốn Hoằng Thệ
Nguyện: “Phật đạo
vô thượng thệ nguyện thành”. Như vậy,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành
chính là phải thành tựu hai điều kiện
trước đó là phiền năo vô tận thệ nguyện
đoạn và pháp môn viên măn rồi mới có thể thành
tựu Phật đạo. Nếu quư vị chỉ
đoạn hết phân biệt, nhưng không chịu học
pháp môn, chẳng chịu tiếp xúc chúng sanh trong chín pháp
giới th́ vĩnh viễn chẳng thể thành Phật
đạo. Phải hiểu đạo lư này! Có những
đồng học giữ quan niệm sai lầm, cho
rằng học Phật chỉ là thật thà học
Phật, nhất định chẳng được qua
lại với những kẻ không học Phật, càng
chẳng được qua lại với những tôn giáo
khác. Như vậy sẽ vĩnh viễn chẳng thể
thành Phật đạo, vĩnh viễn không có cách nào
độ sanh, chẳng thể rộng độ chúng sanh.
Phật pháp sống động, không phải đă thành
rồi bèn bất biến!
Lúc mới học, thầy quy
định những quy củ hết sức nghiêm khắc,
là v́ sao? Nhằm giúp quư vị đoạn phiền năo, Giới
Luật nhằm giúp quư vị đoạn phiền năo, giúp quư
vị đạt tâm thanh tịnh, giúp quư vị mở mang
Căn Bản Trí. Quư vị định rồi, do Giới
đắc Định, đă đạt được Định
rồi, Định là ǵ? Chẳng chấp lấy tướng,
như như bất động, ngoài không chấp
tướng, trong tâm bất động, thực sự
thành tựu tam-muội. Sau khi thành tựu th́ phải tham
học, “pháp môn vô lượng
thệ nguyện học”. Ai thực sự đạt
được “ngoài không
chấp tướng, trong tâm bất động” th́ không
pháp môn nào chẳng phải là Phật pháp. Pháp Đại
Thừa thường nói: “Pháp
nào chẳng phải là Phật pháp?”
Phật, Bồ Tát là Phật pháp, yêu ma
quỷ quái cũng là Phật pháp. Nghĩa là sao? Nay quư
vị phải hiểu hai chữ “Phật pháp” nghĩa là
ǵ. Phật là giác, giác chứ không mê. Quư vị ở trong
mười pháp giới, ngạ quỷ, địa ngục,
súc sanh, mà quư vị giác chứ không mê th́ địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh há chẳng phải luôn luôn là
Phật pháp ư? Nếu quư vị không giác, mê chứ không
giác, th́ ngày ngày ở cùng một nơi với Phật,
Bồ Tát, cũng vẫn là pháp thế gian, vẫn chẳng
phải là Phật pháp. V́ sao? V́ quư vị mê chứ không giác,
bất giác! Tà chứ không chánh, nhiễm chứ không
tịnh, quư vị làm chuyện mê - tà - nhiễm, không
phải là giác - chánh - tịnh. Giác - chánh - tịnh là
Phật pháp, mê - tà - nhiễm là pháp thế gian, là pháp chúng
sanh. Nói khó nghe hơn một chút là pháp luân hồi, không
phải là Phật pháp!
Quả thật, chúng tôi thấy có
những người học Phật không ít năm, mê
nơi Phật pháp, mê chứ không giác, hết sức
đáng tiếc! Do vậy, giáo học thế gian lẫn
giáo học nhà Phật đều nói phải cầu
“ngộ tánh”, Phật pháp hết sức coi trọng
điều này, pháp thế gian cũng thế. Trung Quốc
thời cổ, dạy học tại các trường
tư, quư vị thấy thầy giáo phải quan sát học
tṛ, biết đứa nào có ngộ tánh. Có ngộ tánh th́
căn tánh ấy viên dung, tương lai sẽ rất hữu
dụng! Đối với xă hội, đối với
quốc gia, đối với chúng sanh sẽ có cống
hiến rất lớn. Người không ngộ tánh khổ
hơn, chẳng thể phát huy, những ǵ họ học
trở thành chết cứng, người đọc sách
thường gọi là “kẻ cuồng sách”. Dẫu kẻ ấy
là người tốt, có quy củ, nhưng kẻ ấy
không hấp thụ được những ǵ đă học,
không tiêu hóa được, không biến thành dưỡng
chất được! Không tiêu được sẽ tích
trong bụng, biến thành bệnh.
“Ngộ” là tiêu hóa, nhà Phật thường nói “tiêu quy tự tánh” nghĩa là
hoàn toàn tiêu hóa, trở về tự tánh, tự tánh có
vạn đức vạn năng. V́ thế, thành tựu đức
hạnh, Căn Bản Trí hiện tiền th́ phải
nhớ kỹ: Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học! Pháp môn bao gồm những tôn giáo bất
đồng, tộc loại bất đồng, học
thuật bất đồng khắp pháp giới hư không
giới, quư vị đều phải tiếp xúc hết
tất cả, không thứ nào chẳng biết, giống
hệt như đức Thích Ca Mâu Ni Phật đă thị
hiện. Trong cả đời Thích Ca Mâu Ni Phật, không có
ai đến hỏi câu nào, đem bất cứ nghi nan
tạp chứng nào đến hỏi mà Ngài không biết,
đó là học rộng nghe nhiều. Ngài đă từng thấy,
từng học qua rồi!
Phát bốn nguyện này, quư vị
thấy đó: Đoạn phiền năo, thành tựu
đức hạnh, thành tựu Căn Bản Trí; học
pháp môn thành tựu Hậu Đắc Trí, thành tựu “không
ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể”; cuối cùng,
thị hiện thành Phật đạo, v́ sao? Chỉ có
thành Phật đạo, là địa vị Phật th́ mới
có thể độ Đẳng Giác Bồ Tát. Nếu không,
thuộc địa vị Bồ Tát th́ quư vị chỉ có
thể độ những hạng thấp hơn, chẳng
thể độ những địa vị cao, chẳng
thể độ những người cùng hàng với ḿnh.
V́ vậy thành Phật nhằm phổ độ, “chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ”, thực hiện
viên măn cái nguyện ấy.
Do vậy, những bạn đồng tu
thuộc học viện chúng ta muốn phát tâm hoằng pháp
độ sanh trong tương lai, chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ th́ quư vị hăy suy nghĩ: Phải đoạn
phiền năo, phải học pháp môn. Thứ tự của
việc đoạn phiền năo, học pháp môn chúng tôi
vừa mới giảng, quư vị phải nhớ nhé: Trước
hết, đoạn phiền năo, chứ không phải là
học pháp môn trước, mà trước hết là phải
đoạn phiền năo. Nay buộc quư vị học
một bộ kinh, học một bộ luận, quư vị phải
chuyên đổ công nơi bộ kinh hay luận ấy
để làm ǵ vậy? Để giúp quư vị đoạn
phiền năo. Do vậy, phải thâm nhập một bộ
kinh hay luận. Quư vị phải hiểu đây là
phương pháp do chư tổ truyền cho nhau, chúng tôi
vẫn dùng phương pháp cổ xưa, v́ phương
pháp này đáng tin cậy. Mấy ngàn năm qua, người
khai ngộ, chứng quả, văng sanh, tu hành có thành tựu,
bất luận tại gia hay xuất gia đều nhờ
phương pháp cũ kỹ này. Như vậy,
phương pháp xưa cũ, nhưng vẫn đáng tin
cậy, chúng tôi chẳng thể nêu cách mới, lập
dị được. Dạy lầm chúng sanh tội
lỗi không nhẹ, chính ḿnh lầm lạc c̣n có thể tha
thứ, chứ lầm lạc chúng sanh không thể tha
được. Do vậy, chúng tôi vẫn theo lối cũ,
sử dụng quy củ, biện pháp xưa. Một bộ
kinh, một bộ luận giúp quư vị đoạn
phiền năo, định tâm, thâu nhiếp tâm. Nếu chúng ta
không học tập kinh giáo, sẽ suy nghĩ lung tung. Suy
nghĩ lung tung ắt tạo nghiệp luân hồi. Tâm luân
hồi tạo nghiệp luân hồi, quyết định
chẳng thể thoát khỏi luân hồi trong lục
đạo.
Như vậy, hiện tại chúng ta
phải nghĩ như thế nào? Nghĩ đến một
bộ kinh, ta học bộ kinh ấy, ngày ngày nghĩ
đến nó, không nghĩ chi khác. Hết thảy
đều buông xuống, chuyên tâm suy nghĩ những ư
nghĩa trong kinh ấy, quư vị sẽ dễ dàng nhiếp
tâm, nhiếp trọn sáu căn! Tịnh niệm tiếp
nối, tịnh niệm của chúng ta là suy nghĩ nghĩa
lư trong kinh, như thế vọng niệm dần dần
giảm thiểu, tam-muội hiện tiền. Chúng ta
học kinh Di Đà liền nhập Di Đà tam-muội,
học kinh Vô Lượng Thọ bèn nhập Vô Lượng
Thọ tam-muội, đó là “nhất
tâm bất loạn” như kinh Di Đà đă nói.
Tam-muội có cạn, sâu: Cạn là công phu thành phiến, sâu là
Lư Nhất Tâm Bất Loạn. Nếu chứng
được Lư Nhất Tâm Bất Loạn rồi th́ ngay
lập tức tiến nhập khóa tŕnh kế tiếp, khóa
tŕnh ấy là “pháp môn vô
lượng thệ nguyện học”. Chưa đạt
Lư Nhất Tâm Bất Loạn th́ chưa được,
vẫn phải “một môn thâm
nhập, trường thời huân tu”. Đạt
đến Lư Nhất Tâm Bất Loạn th́ Căn Bản
Trí hiện tiền. Căn Bản Trí hiện tiền
sẽ lập tức triển khai tu Hậu Đắc Trí.
Hậu Đắc Trí là “pháp môn
vô lượng thệ nguyện học”.
Ngày nay chúng ta phát nguyện cầu sanh
Tịnh Độ “nguyện
nương vào bốn Hoằng Thệ”, hai nguyện
đầu “chúng sanh vô biên
thệ nguyện độ, phiền năo vô tận thệ
nguyện đoạn” là chán nhàm Sa Bà. “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”:
Sanh về thế giới Cực Lạc sẽ hoàn thành hai
nguyện ấy, trong thế gian này ta chưa làm
được. Trong thế gian này, chúng ta chỉ có thể
phát nguyện độ chúng sanh, nhưng năng lực
độ sanh rất nhỏ bé; bởi thế, nhất
định phải cầu sanh thế giới Cực
Lạc. Cầu sanh thế giới Cực Lạc mới có
thể thực sự đoạn sạch phiền năo, mới có thể hoàn toàn học pháp môn; sau
đó, mới thả chiếc bè Từ, trở vào chín pháp
giới, độ hết thảy chúng sanh. Thả chiếc bè Từ chính là Pháp Thân Bồ
Tát, cao hơn La Hán, cao hơn Quyền Tiểu Bồ Tát
nhiều lắm. Huống chi lại được oai
thần của A Di Đà Phật gia tŕ, lúc ấy, vào chín
pháp giới độ chúng sanh, không khác ǵ chư Phật
Như Lai. Phải phát nguyện cầu sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới là v́ đạo lư này.
“Cố đắc
bất thoái chuyển ư Đại Bồ Đề” (V́ thế, được bất thoái
chuyển nơi đại Bồ Đề). Như
vậy, trong mười phương thế giới,
độ hết thảy chúng sanh nhằm giúp cho chúng ta mau chóng
thành tựu Phật quả rốt ráo viên măn, chúng ta chẳng
thể không biết điều này. Lại xem tiếp
đoạn kế, chính là đoạn khuyến nguyện
cuối cùng:
“Nhất
niệm tương ứng nhất niệm sanh, niệm niệm
tương ứng niệm niệm sanh, diệu nhân, diệu
quả, bất ly nhất tâm, hà sĩ Sa Bà báo tận, chỉ
kim tín nguyện tŕ danh, liên ngạc quang vinh, kim đài ảnh
hiện, tiện phi Sa Bà thế giới nội nhân dă” (Một niệm tương ứng
một niệm sanh, niệm niệm tương ứng
niệm niệm sanh, diệu nhân, diệu quả, chẳng
ĺa nhất tâm, nào đợi Sa Bà báo tận, chỉ là hiện
nay tín nguyện tŕ danh, búp sen sáng ngời, đài vàng
hiện bóng, đă không c̣n là người trong thế
giới Sa Bà nữa). Trong mấy câu này, chúng ta thấy
điều quan trọng trước nhất là “tương ứng”, khó
nhất cũng là một câu tương ứng! Thế nào
là tương ứng? Trong các buổi giảng, chúng tôi thường
nói, thường khuyên các đồng học, thực
sự tương ứng chúng ta làm chưa được!
V́ sao? Thực sự tương ứng th́ phải kiến
tánh, có như vậy mới thực sự tương
ứng. Chưa kiến tánh chỉ có thể tương
tự tương ứng. “Tương tự tương
ứng” là như thế nào? Chúng tôi thường nói: “Tâm
đồng Phật tâm, nguyện đồng Phật
nguyện, ngôn đồng Phật ngôn, hạnh đồng
Phật hạnh”. Đó chính là tương ứng. Thực
hiện như thế nào? Cách thực hiện chính là câu
cuối cùng trong mỗi bộ kinh “tín thọ phụng hành” (tin nhận, vâng làm).
Cuối mỗi bộ kinh đều có bốn chữ
ấy, đó là tương ứng.
Trong kinh, đức Phật giảng
những đạo lư, phương pháp, cảnh giới,
phải thực sự tin, không hoài nghi tí ti nào! Thực
sự phát nguyện, thực sự mong mỏi sanh về thế
giới Cực Lạc càng nhanh càng tốt, thực sự
mong được bái A Di Đà Phật làm thầy, hằng
ngày nghe Ngài dạy dỗ. Có rất nhiều đồng học
than: “Tôi đúng là như thế đó, nhưng không có chút
tin tức ǵ!” Không sai! Tôi cũng biết quư vị thực
sự có mong ước ấy, nhưng tâm quư vị chưa
thật. V́ sao nói là tâm chưa thật? Quư vị có tâm chân
thành hay không? Có tâm thanh tịnh hay không? Có tâm b́nh đẳng
hay không? Có tâm chánh giác hay không? Có tâm từ bi hay không? Cho nên
trong cuộc sống thường ngày phải vun vén cái tâm
ấy, tâm như vậy là chân tâm. Chân tâm vốn có
đủ năm đặc tánh:
a) Chân thành: Quyết định không
hư ngụy; đối người, đối sự,
đối vật quyết định không hư ngụy.
b) Quyết định không sanh nhiễm
ô là thanh tịnh.
c) Quyết định không có cao thấp.
Không có cao thấp là b́nh đẳng.
d) Quyết định không mê. Không mê là
chánh giác.
e) Quyết định không tự tư.
Không tự tư mới là từ bi.
Như vậy, chúng ta niệm Phật
không linh là v́ đâu? V́ không tương ứng!
Do đó, cổ nhân thường nói: “Khẩu niệm Di Đà tâm tán loạn,
hăm
phá hầu lung dă uổng nhiên” (Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn,
hét rách cổ họng uổng công thôi). Nếu quư vị dùng
cái tâm chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi, chánh
giác, không chỉ niệm Phật, niệm kinh bằng cái tâm
ấy, mà trong xử sự b́nh thường, đăi
người, đăi vật đều bằng cái tâm
ấy. Chẳng được đối với Phật
bằng chân tâm, c̣n đối với người khác bèn
dùng vọng tâm. Đấy chẳng phải hạng người
có chân tâm, té ra kẻ ấy vẫn dùng vọng tâm đối
với Phật, v́ sao? Có phân biệt, có chấp
trước, nên không b́nh đẳng. Khó! Điều này khó
lắm!
Do vậy, chúng ta phải thực sự
thấy thấu suốt, thấy thấu suốt là ǵ? Quư
vị phải thực sự hiểu rơ chân tướng của
sự thật, rồi mới thực sự buông xuống.
Buông xuống sự hư giả, chân thành hiện tiền;
buông xuống hết thảy những nhiễm ô, thanh
tịnh hiện tiền, buông xuống kiêu căng, ngạo
mạn, b́nh đẳng hiện tiền; buông xuống ngu
mê, chánh giác hiện tiền; buông xuống tự tư, tự
lợi, từ bi hiện tiền. Lúc ấy, quư vị
niệm Phật th́ một niệm tương
ứng một niệm sanh, niệm niệm tương
ứng niệm niệm sanh, bất cứ đường nào
thông sang Cực Lạc đều thông suốt, vô ngại,
quả thật tâm tâm tương ứng với Phật Di
Đà, tâm là tâm Phật, nguyện là nguyện Phật,
hạnh là hạnh Phật, ngôn ngữ là ngôn ngữ
Phật, quư vị nghĩ coi: Quư vị được văng
sanh hay không? Thực sự nắm chắc! Bởi thế,
phải hiểu như thế nào là tương ứng,
thế nào là không tương ứng! Chẳng thể sai lầm
chút xíu nào!
Do lẽ này, Ấn Quang đại sư
dạy chúng ta trong thời kỳ Mạt Pháp, những
người cùng tu với nhau không được quá hai
mươi người, chuyên lấy niệm Phật làm
chánh, công khóa mỗi ngày giống như Phật thất
thông thường, chẳng làm pháp hội, không hóa duyên, không
quyên góp, không làm kinh sám Phật sự, không truyền
giới, không thâu đồ đệ, một mực
chất phác niệm Phật, ngay cả kinh cũng không
giảng. Như tôi đă nói, những điều khác tôi
đều tuân thủ lời Tổ Sư răn dạy,
nhưng cần phải giảng kinh. Tổ Sư dạy
không cần giảng kinh, trước kia th́ được;
xă hội, ḷng người thuần hậu, thiện
nhiều, ác ít, ai nấy đều hiếu thuận, tôn
sư; dạy họ niệm Phật, họ sẽ thật
thà niệm Phật, nên có thể thành tựu!
Nay th́ không thể, xă hội hiện
tại ác nhiều, thiện ít, chúng ta nghi lự trùng trùng,
lại c̣n tà tri tà thuyết lúc nào cũng có thể tiếp
xúc, luôn luôn phá hoại tín tâm của chính ḿnh, chướng
ngại nguyện vọng của chính ḿnh; bởi thế,
chẳng thể không giảng kinh. Mục đích giảng
kinh không có chi khác cả: “Đoạn nghi, sanh tín, kiên
định tín nguyện”, chỉ như thế mà thôi! Kinh
không cần giảng nhiều, giảng kinh Tịnh
Độ là được rồi, học một hai
loại là đủ, chắc chắn có thành tựu. Như
vậy, giảng kinh nhằm mục đích giúp chúng ta
tương ứng, chứ không có mục đích nào khác,
đoạn nghi, sanh tín, niệm niệm tương ứng
th́ mục đích giảng kinh của chúng tôi đă
đạt. A! Nay đă hết thời gian rồi!
Tập
36
Xin xem tiếp tiểu
đoạn thứ năm trong phần “Khuyến
nguyện, khuyến hạnh lưu thông”:
“Nhất
niệm tương ứng nhất niệm sanh, niệm niệm
tương ứng niệm niệm sanh” (Một niệm
tương ứng một niệm sanh,
niệm niệm tương ứng niệm niệm sanh).
Hai câu này trong phần trên đă giảng rồi. Thực
sự tương ứng th́ bọn phàm phu chúng ta làm chưa
được, ắt nhất định phải là
đă đạt Lư Nhất Tâm Bất Loạn, tức là đă
thành bậc Pháp Thân đại sĩ như trong hội Hoa
Nghiêm đă nói th́ mới niệm niệm tương
ứng. Ấy là “niệm niệm lưu nhập biển
Tát Bà Nhă, cũng là niệm niệm tương ứng với
tự tánh”, đấy mới thực sự là một
niệm tương ứng một niệm sanh, “một niệm tương
ứng một niệm Phật, niệm niệm
tương ứng niệm niệm Phật”. So với
tiêu chuẩn ấy, tiêu chuẩn cầu sanh Tịnh
Độ của chúng ta thấp hơn một chút, nhưng
nhất niệm rất trọng yếu. Trong nhất
niệm, không có tạp niệm, thực sự không hoài nghi,
không xen tạp, niệm niệm chẳng gián đoạn.
Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta phương
pháp niệm Phật hoàn toàn giống như phương pháp
của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát, hôm qua tôi đă
tŕnh bày cùng quư vị rồi.
Quan trọng nhất là tâm tánh của
năng niệm (cái tâm niệm Phật) phải là chân tâm,
thanh tịnh tâm, b́nh đẳng tâm, chánh giác tâm, từ bi
tâm. Trong cuộc sống hằng ngày, đối với người,
đối với sự, đối với vật
đều phải dùng cái chân tâm ấy, nhất
định chớ nên dùng vọng tâm. Trong xă hội ngày nay,
dẫu toàn bộ người đời đều dùng
vọng tâm, họ dùng vọng tâm hư ngụy đối
với ta, ta vẫn phải dùng tâm chân thành đối
xử với họ. V́ sao? Vọng tâm là tâm luân hồi, chúng
ta biết người dùng vọng tâm chẳng thể ra
khỏi luân hồi. Nay chúng ta cầu sao chẳng bị luân
hồi nữa; nếu dùng cái tâm luân hồi niệm
Phật th́ vẫn bị luân hồi, phải hiểu
đạo lư này! Chúng ta không muốn luân hồi nữa, hy
vọng một đời này vĩnh viễn thoát luân
hồi, văng sanh Cực Lạc th́ phải dùng chân tâm, chân
thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi, chánh giác, không
thể ĺa tâm ấy trong khoảnh khắc! Đối
với người, sự, vật trong thế gian và xuất
thế gian, đối với hết thảy các pháp
đều phải dùng cái tâm ấy, đó là một
niệm tương ứng một niệm sanh, tương
ứng với chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh
giác, từ bi, niệm niệm tương ứng niệm
niệm sanh. Dùng cái tâm ấy sẽ chẳng luân hồi trong
sáu nẻo. Từ trong cái tâm ấy, sanh khởi ḷng tin chân
thành, nguyện thiết tha, thật thà niệm Phật.
“Diệu nhân,
diệu quả, bất ly nhất tâm” (diệu tâm, diệu quả, chẳng ĺa
nhất tâm) nhất tâm xưng niệm là Diệu Nhân,
nhất tâm bất loạn là Diệu Quả. Muốn
đạt được nhất tâm, quư vị nhất
định phải buông xuống vạn duyên. Trong quá
khứ, đường chủ Niệm Phật Đường
thường hay nói ra rả: “Buông
thân tâm thế giới xuống”. Không buông thân tâm thế
giới xuống, chẳng thể đạt nhất tâm! Quư
vị không có cái nhân nhất tâm xưng niệm, đương
nhiên chẳng đạt được cái quả nhất
tâm bất loạn! Do vậy, nhân và quả đều
diệu. Nhất tâm rất trọng yếu; người
biết tu ắt hiểu rơ đạo lư này, liễu
giải sự thật chân tướng, trong tâm quả
thật không vướng mắc mảy may, một chút
vương vấn cũng không có. Trong cuộc sống
thường ngày, họ tùy duyên, tùy duyên mà sống,
đối xử ḥa thuận với hết thảy chúng
sanh, đối đăi b́nh đẳng, mảy may “quái ngại” cũng không có. “Quái” (罣) là “khiên quái” (牽 罣: mắc míu, nắm
níu), “Ngại” (礙) là chướng ngại. Đều
buông xuống hết, nhân quả đều tương
ứng.
Tiếp đó, đại sư Ngẫu
Ích giảng mấy câu rất hay: “Hà sĩ Sa Bà báo tận” (nào đợi Sa Bà báo tận), “sĩ” (俟) là chờ đợi, [“hà sĩ Sa Bà báo tận” nghĩa là] cần ǵ
phải chờ đợi đến khi thọ mạng
trong thế giới Sa Bà này hết rồi mới
được văng sanh? Chỉ cần nhân chân thật,
quả chân thật, th́ sanh ngay trong hiện tại! “Chỉ kim tín nguyện tŕ danh” (chỉ
nay tín nguyện tŕ danh): Chỉ cần trong hiện tại
có thể tin, có thể nguyện, nhất tâm xưng danh, th́
quang minh và màu sắc của đóa sen trong ao bảy báu
nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới ngày
càng tươi sáng. Dẫu chúng ta chưa mất, nhưng
hoa sen trong ao ở bên ấy do diệu nhân, diệu quả
của chúng ta sẽ ngày ngày tăng trưởng, quang minh,
màu sắc đẹp đẽ. Trong hoa sen “kim đài ảnh hiện” (đài vàng hiện bóng) sao
gọi là hiện bóng? Phải biết hoa sen trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới trong suốt,
từ bên ngoài có thể nh́n thấu bên trong, trông thấy
đài vàng bên trong ấy, đó là chỗ sanh về, là
chỗ ở của ḿnh, là chỗ tu hành chứng quả trong
tương lai.
“Tiện
phi Sa Bà giới nội nhân dă” (Đă
không c̣n là người trong thế giới Sa Bà nữa),
đó là lời thật, là chân tướng sự thật.
Bởi lẽ, chỉ cần chúng ta thực sự tu nhân,
tương lai nhất định chứng đắc
diệu quả. Nay chúng ta
đă báo danh, ghi sổ tại Tây Phương Cực
Lạc thế giới, giống như di dân, đă cầm
được sổ thông hành rồi, lúc nào ra đi
cũng được. Dẫu chưa đi, nhưng có
thể nói chính ḿnh đă là cư dân của thế giới
Cực Lạc, ḿnh đă cầm được sổ thông
hành về thế giới Cực Lạc. Trọn chẳng
phải là sanh về nơi ấy rồi mới là cư
dân, cầm sổ thông hành cũng là cư dân.
Pháp môn này “cực
viên, cực đốn, nan tư, nan nghị, duy hữu đại
trí, phương năng đế tín” (cực viên,
cực đốn, khó nghĩ, khó bàn, chỉ có bậc
đại trí mới ḥng tin tưởng chắc thật).
Pháp môn này cực viên, tức là viên măn đến cùng
cực, đúng là t́m chẳng được mảy may
khuyết hăm nào. “Đốn”
(頓) là nhanh chóng, tám vạn bốn ngàn pháp
môn không có pháp nào thành tựu nhanh chóng như thế cả,
chỉ có ḿnh pháp môn này. Bởi vậy, cổ đức
gọi pháp này là “môn dư
đại đạo”, chữ Môn chỉ tám vạn bốn
ngàn pháp môn, “môn dư đại
đạo” tức là một con đường lớn
thành Phật ở ngoài tám vạn bốn ngàn pháp môn, là con
đường tắt để thành Phật. “Nan tư, nan nghị” (khó
nghĩ, khó bàn), “tư” (思) là tư duy, suy nghĩ; không cách ǵ suy
nghĩ, tưởng tượng được, “nghị” (議) là nghị luận, không cách ǵ nghị
luận (bàn bạc) được. Ai có thể tin
tưởng được? Bậc đầy đủ
thiện căn, phước đức, đại
thiện căn, đại phước đức mới
ḥng tin tưởng được; không phải là bậc
đại thiện căn, đại phước
đức sẽ rất khó tin tưởng.
Như vậy, nay chúng ta hữu duyên
được tiếp xúc pháp môn này, được
thấy pháp môn này, nghe pháp môn này, có thể tin, có thể
nguyện, hoan hỷ y giáo phụng hành th́ ta chính là
người như Ngẫu Ích đại sư đă nói
ở đây: Ta chính là người của thế giới
Cực Lạc, đời này chắc chắn văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Nếu quư
vị không thể văng sanh là v́ không buông những
vướng mắc nơi đây xuống được,
những thứ đó chướng ngại quư vị. Quư vị
có vướng mắc, có chướng ngại, thân tâm
thế giới hết thảy vạn duyên quư vị không
buông xuống được!
Chướng ngại rất nhiều,
rất phức tạp, đối với thế tục,
nặng nhất là T́nh. T́nh chướng ngại quư vị. Đối
với xuất thế gian th́ Pháp cũng chướng
ngại quư vị. Bởi vậy, trong kinh Bát Nhă đức
Phật giảng rất khéo: “Pháp
thượng ưng xả, hà huống phi pháp?” (Pháp c̣n
phải bỏ, huống ǵ phi pháp?) Tác dụng của pháp là
ǵ? Kinh Kim Cang giảng: “Như
phiệt dụ giả” (Ví như cái thuyền). Tỷ
dụ ấy có nghĩa là để vượt sông th́
phải dùng đến thuyền, pháp giống như cái
thuyền giúp ḿnh vượt sông. Đă đến bờ bên
kia th́ không cần đến cái thuyền ấy nữa,
bởi thế nói: “Pháp thượng
ưng xả, hà huống phi pháp?” (Pháp c̣n phải bỏ,
huống ǵ phi pháp?) Nếu
quư vị c̣n lưu luyến pháp ấy, bỏ không
được, sẽ biến thành chướng ngại.
Giống như quư vị ngồi thuyền vượt sông,
rất quư cái thuyền, chẳng muốn bỏ thuyền th́
không lên bờ kia được. Quư vị phải bỏ
cái thuyền ấy mới bước lên được
bờ kia, bởi thế, nói: “Pháp
thượng ưng xả, hà huống phi pháp?” (Pháp c̣n
phải bỏ, huống ǵ phi pháp?) Chúng ta chọn Tây
Phương Cực Lạc thế giới, ba kinh một luận
của Tịnh Độ, hoặc nói theo hiện thời là
năm kinh một luận, đó là pháp; thông đạt pháp
rồi, hiểu rơ pháp rồi, ta có cần đến pháp
ấy nữa hay không? Pháp đă biến thành tâm hạnh
của chính ḿnh, tức là tương ứng. Đến
lúc ấy, đừng lưu luyến những kinh giáo ấy
nữa!
Sau khi đă nhập cảnh giới
Tịnh Độ, Liên Tŕ đại sư bảo: “Tam Tạng thập nhị bộ,
nhượng cấp biệt nhân ngộ” (Tam Tạng
mười hai bộ kinh nhường cho người khác
ngộ), tức là buông Tam Tạng mười hai bộ kinh
xuống. “Bát vạn tứ thiên
hạnh, nhiêu dữ biệt nhân hành” (Tám vạn bốn
ngàn hạnh dành cho người khác hành), vô lượng vô
biên pháp môn cũng buông xuống, tự ḿnh chất phác
niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Phương
hướng, đường lối, mục tiêu của
Ngài thảy đều đạt được. Chúng ta
tinh tấn nỗ lực đi trên con đường
ấy ắt sẽ đến nơi, nhưng chúng ta cứ
ngó trước trông sau, vẫn c̣n vướng bận nhiều
ngần ấy, nên không đi trọn. Bởi thế, sau khi
nhập cảnh giới này, nhập cảnh giới là thực
sự thông đạt, thực sự hiểu rơ, thực
sự giác ngộ, pháp thế gian lẫn xuất thế
gian thảy đều buông xuống, cuối cùng là một
câu danh hiệu. Một câu Di Đà niệm đến cùng
cực chính là thực sự tương ứng, một
niệm tương ứng, một niệm sanh, niệm
niệm tương ứng, niệm niệm sanh. Đó là
đại trí, đại thiện căn, đại
phước đức thực sự. “Đế tín”, “Đế”
(諦) là chân
thật, là hiểu rơ. “Đế
tín” là không mê tín, mà là chân tín. Phần Khuyến Nguyện
thuộc phần Lưu Thông giảng đến đây thôi.
Trong phần Lưu Thông, phần Khuyến Tín là Sáu Phương
Chư Phật, đến đây là hết phần Khuyến
Nguyện. Tiếp theo là phần Khuyến Hành của phần
Lưu Thông.
6.4.4. Khuyến hành lưu thông
Chúng ta xem kinh văn,
trước hết, đọc kinh văn một
lượt:
Xá Lợi Phất! Như ngă kim
giả, xưng tán chư Phật bất khả tư
nghị công đức.
舍利弗。如我今者。稱讚諸佛不可思議功德。
(Này Xá Lợi Phất! Như
ta nay khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn
của chư Phật).
“Chư
Phật” được nói ở đây, quư vị
phải nhớ kỹ, chính là A Di Đà Phật. Ở
phần trên, tôi đă thưa cùng quư vị rồi. Trong sách
Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đă dạy
chúng ta, “chư Phật” chính
là A Di Đà Phật, “công đức chẳng thể nghĩ
bàn”.
Bỉ chư Phật đẳng.
彼諸佛等。
(Các
đức Phật ấy).
“Bỉ
chư Phật” chính là A Di
Đà Phật, chữ “đẳng”
chỉ sáu phương Phật đă nói ở phần trên,
sáu phương chính là mười phương. A Di Đà
Phật và mười phương hết thảy chư
Phật. Câu này có ư nghĩa như vậy.
Diệc xưng tán ngă.
亦稱讚我。
(Cũng
khen ngợi ta).
“Ngă” là Thích Ca Mâu Ni Phật tự xưng.
Chư Phật (A Di Đà Phật và chư Phật) cũng “khen ngợi ta”.
Bất khả tư nghị công
đức.
不可思議功德。
(Công
đức chẳng thể nghĩ bàn)
Họ cũng khen ngợi công đức
chẳng thể nghĩ bàn của ta, ta có công đức
chẳng thể nghĩ bàn ǵ? Đoạn sau sẽ cho
biết.
Nhi tác thị ngôn: “Thích Ca Mâu Ni Phật
năng vi thậm nan hy hữu chi sự!”
而作是言。釋迦牟尼佛。能為甚難希有之事。
(Mà nói thế này: “Thích Ca Mâu Ni Phật có thể làm
được chuyện hy hữu rất khó”).
Đó chính là công đức chẳng
thể nghĩ bàn của Thích Ca Mâu Ni Phật, chuyện ǵ
là chuyện hy hữu rất khó?
Năng ư Sa Bà quốc độ,
ngũ trược ác thế: Kiếp trược, kiến
trược, phiền năo trược, chúng sanh
trược, mạng trược trung, đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vị chư chúng
sanh thuyết thị nhất thiết thế gian nan tín chi
pháp.
能於娑婆國土。五濁惡世。劫濁。見濁。煩惱濁。眾生濁。命濁中。得阿耨多羅三藐三菩提。為諸眾生。說是一切世間難信之法。
(Có thể
ở trong cơi nước Sa Bà, nhằm đời ác ngũ
trược: Kiếp trược, kiến trược,
phiền năo trược, chúng sanh trược, mạng
trược, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, v́ các chúng sanh nói pháp hết thảy thế gian khó
tin này).
Tiếp đó, Thích Ca Mâu Ni Phật
tự nói, Ngài bảo Xá Lợi Phất:
Xá Lợi Phất! Đương tri ngă
ư ngũ trược ác thế, hành thử nan sự.
(Này Xá
Lợi Phất! Hăy biết ta trong đời ác ngũ trược,
làm chuyện khó khăn này).
Thế nào là “chuyện
khó”?:
1) Thứ nhất là niệm Phật thành
Phật.
2) Thứ hai là v́ chúng sanh nói pháp môn này.
Đại sư Ngẫu Ích đă
giảng cho chúng ta biết v́ đâu Thích Ca Mâu Ni Phật
thành Phật? Đại sư nói: Thích Ca Mâu Ni Phật
niệm A Di Đà Phật mà thành Phật. Đó là niệm
Phật thành Phật. V́ sao biết niệm Phật thành
Phật? Trong đoạn kinh này, Ngài ở trong “đời ác ngũ
trược”.
Đắc A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề.
得阿耨多羅三藐三菩提。
(Đắc
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).
Đấy chính là thành Phật, chứng
đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài dùng
cách niệm Phật, niệm Phật thành Phật, chẳng
thể nghĩ bàn! Bởi vậy, phần Khuyến Hạnh
Lưu Thông cũng chẳng thể nghĩ bàn! Thích Ca Mâu Ni
Phật hiện thân thuyết pháp, nêu gương cho chúng ta
thấy, chẳng dùng ngôn ngữ khuyên dạy chúng ta, mà dùng
hành động biểu diễn cho chúng ta thấy. Đây
chính là đoạn “chư
Phật cùng khen ngợi Thích Ca, trong đời trược
chứng quả độ sanh”. Chúng ta vừa
đọc đến đoạn kinh văn này bèn tin nhận
phụng hành ngay!
Chư Phật khen [Phật Thích Ca] là “năng vi thậm nan hy hữu” (có
thể làm được chuyện hy hữu rất khó),
khen Thích Ca Mâu Ni Phật trong thế giới Sa Bà, nhằm
đời ác ngũ trược, làm được hai
sự nghiệp vĩ đại chẳng thể nghĩ
bàn, sự nghiệp hy hữu. Trong thế giới Sa Bà,
nhằm đời ác ngũ trược, đại sự
hy hữu thứ nhất là “chứng
đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”,
thật phi phàm! Sự nghiệp lớn lao thứ hai là “vị chúng sanh thuyết thử
nan tín chi pháp” (v́ chúng sanh nói pháp khó tin này). Tiếp đó,
nói: “Vị trược thế
chúng sanh thuyết” (V́ chúng sanh đời trược mà
nói), đặc biệt là trong xă hội hiện tại,
càng khó hơn trước nhiều. Nói Tiệm pháp c̣n
dễ, chứ giảng Đốn pháp khó lắm! V́ sao?
Mọi người không tin tưởng, chẳng dễ
dàng tiếp nhận. V́ sao nói Tiệm pháp lại dễ?
Tiệm pháp hợp với lư luận tư tưởng
của con người hiện thời, họ thấy
rất hợp lư. Đoạn trừ tám mươi tám
phẩm Kiến Hoặc chứng quả Tu Đà Hoàn,
rồi đoạn tám mươi mốt phẩm Tư
Hoặc chứng quả A La Hán, mọi người
đều tin tưởng. Chỉ niệm mỗi một
câu danh hiệu A Di Đà Phật mà có thể vượt
ngang ra khỏi tam giới, văng sanh bất thoái thành Phật,
người ta nghe xong bảo: “Há có chuyện dễ dàng
như vậy được ư?” Đâm ra chẳng thể
tin tưởng!
Nói “dư đốn
pháp do dị, Tịnh Độ hoành siêu đốn pháp vưu
nan” (các Đốn pháp khác c̣n dễ, Tịnh Độ
hoành siêu là Đốn pháp khó nhất). Các Đốn pháp khác
như Thiền tông, quả thật trong xă hội hiện
thời không đả phá Thiền tông, thích tịnh
tọa. Phong khí Thiền và Mật ở Mỹ quốc
rất thịnh, chứ Tịnh Độ không ai nói
cả! Khi xưa, chúng tôi giảng kinh Hoa Nghiêm tại Hoa
Tạng Đồ Thư Quán ở Đài Bắc, có một
sinh viên học ban tiến sĩ người Mỹ là sinh
viên thuộc loại trao đổi (exchanged student) thuộc
đại học Đài Loan, nghiên cứu Triết Học tại
đại học Đài Loan. Đề tài nghiên cứu
của cô ta là kinh Hoa Nghiêm, bởi thế, có những
đồng học giới thiệu cô đến gặp
tôi. Cô ta yêu cầu được nghe kinh Hoa Nghiêm, cô này độ
chừng ba mươi mấy tuổi, là nữ sinh viên, nói
được tiếng Hoa. Tôi rất bội phục, tôi
giảng kinh Hoa Nghiêm đương nhiên cô nghe
được. Sau đó, cô xin phép Quán Trưởng cho
ở lại Đồ Thư Quán; Quán Trưởng cũng
rất vui vẻ, cho cô được ở lại
Đồ Thư Quán. H́nh như cô ở lại Đồ
Thư Quán mấy tháng. Cô ta yêu cầu tôi: “Bạch pháp
sư! Ngài nên qua Mỹ quốc hoằng dương
Tịnh Độ”. Cô ta nói: “Pháp sư khác đến
nước Mỹ hoằng dương Tịnh Độ
hết sức khó khăn, nhưng thầy qua đó
hoằng dương Tịnh Độ th́ được!”
Do vậy, sau này tôi sang Mỹ, lời khuyến thỉnh
của cô ấy cũng là một nhân tố quan trọng.
Chánh thức từ Mỹ quốc
trở về mời tôi qua đó hoằng dương
Tịnh Độ
chính
là các đồng học thuộc Đại Chuyên Giảng
Ṭa: Từ Quang đại chuyên giảng đường,
Trung Quốc Phật Giáo Hội đại chuyên giảng
ṭa. Những đồng học ấy trong quá khứ
từng tham gia Đại Chuyên Giảng Ṭa, đương
thời tại Mỹ quốc có khoảng hơn ba trăm
người, sống rải rác tại các thành phố.
Điều rất hiếm có là bọn họ đều liên
lạc, hy vọng tôi sang Mỹ. Gặp được nhân
duyên tốt là nhằm lúc Vạn Quốc Đạo
Đức Hội của Trung Quốc mở đại
hội đại biểu thế giới tại Lạc
Sam Cơ (Los Angeles), Hàn Quán Trưởng là ủy viên
của họ. Hàn Quán Trưởng giới thiệu tôi
với vị hội trưởng, mời tôi làm cố
vấn cho họ. Có duyên phận như vậy, tôi liền
xin thông hành sang Mỹ, đó là lần đầu tôi sang
Mỹ, nhằm năm 1982.
Đến Mỹ rồi, đồng
học đều hay tin, từ các tiểu bang đến
gặp, duyên phận được kết từ đó. Từ
đấy trở đi, mỗi năm tối thiểu sang
Mỹ giảng một tháng, có lúc qua hai lần. Pháp khó tin
mà! Tôi hiểu rơ t́nh h́nh Phật giáo nước Mỹ, hai
năm đầu tôi đến các nơi thuộc
nước Mỹ làm công tác hoằng pháp, tôi giảng
Thiền, tôi giảng Mật, giảng Pháp Tướng Duy Thức,
thỉnh thoảng nhắc đến Tịnh Độ,
chứ không lấy Tịnh Độ làm chủ. Hai năm
đầu sử dụng phương thức ấy!
Mọi người rất vui vẻ tiếp xúc với tôi.
Lúc qua giảng lần thứ ba, tôi giảng Tịnh
Độ. Lúc ấy, khéo sao tôi vừa giảng xong bộ
Di Đà Kinh Sớ Sao, khi ấy chưa có băng thâu h́nh, chỉ
có băng thâu âm, thâu âm vào băng cassette, toàn bộ băng
thâu âm cuốn Di Đà Kinh Sớ Sao chúng tôi có mang theo một
bộ. Trước lúc giảng kinh, tôi bày bộ băng
thâu âm trước giảng đài, tổng cộng h́nh như
nhiều tới ba trăm ba mươi cuốn, mỗi
cuốn là chín mươi phút, nhiều tới ba trăm ba
mươi cuốn, một bộ A Di Đà Kinh bày ra đấy.
Tôi bắt đầu giới thiệu
Tịnh Độ, mọi người vừa trông thấy
những thứ được bầy ra bèn hỏi: “Thứ
ǵ vậy?” “A Di Đà Kinh đấy!” “Nhiều đến
thế sao?” Kinh A Di Đà chỉ một cuốn mỏng
tanh, mỗi ngày chúng tôi giảng mỗi lần một
tiếng rưỡi, giảng mất ba trăm ba
mươi ba lần, gần hết một năm. Mọi
người lúc trông thấy như thế tâm bèn ổn
định, cảm thấy rất kinh ngạc: “Kinh Di
Đà bé tí tẹo như vậy, làm sao giảng một
lần lại mất nhiều thời gian ngần ấy?”
Làm như vậy mới khiến họ sanh tín tâm! Thật
không dễ dàng, từ trước đến giờ
họ chưa để Tịnh Độ vào mắt!
Chúng tôi dùng phương thức ấy
để đem Tịnh Tông đến Mỹ quốc làm
cho mọi người chẳng dám khinh thường, thực
sự là pháp khó tin. Do họ thích Thiền, thích Mật, tôi cũng
đều có thể giảng hết, khẩu đầu
Thiền mà! Tôi cũng hiểu Mật về mặt
thường thức, vị thầy đầu tiên của
tôi, Chương Gia đại sư, là thượng sư
của Mật Tông, tôi thường ở bên Ngài nghe rất
nhiều, pháp môn này thực sự chẳng dễ dàng!
“Tịnh
Độ hoành siêu, đốn tu đốn chứng”. V́ sao nói là “đốn
tu, đốn chứng?” Một niệm tương
ứng, một niệm sanh, không phải là đốn tu,
đốn chứng hay sao? Một niệm tương
ứng một niệm Phật là chân tướng sự
thật của đốn tu đốn chứng.
Đốn là nhanh chóng, không có từng giai đoạn, không
mất một thời gian dài, Đốn đến
mức độ nào? Kinh Di Đà dạy: Hoặc một
ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày cho đến bảy ngày
bèn thành công! V́ sao có người tu Tịnh Độ cả
bao nhiêu năm, không có tin tức ǵ cả, tợ hồ
chẳng giống như kinh nói bảy ngày thành công,
chẳng khỏi khiến người ta hoài nghi! Thế
nhưng quư vị thấy Tịnh Độ Thánh Hiền
Lục hoặc trong Văng Sanh Truyện ghi chép, thời xưa
có những người thành tựu trong ṿng bảy ngày hay
không? Có! Thí dụ rơ ràng, rành rẽ nhất chính là pháp sư
Oánh Kha đời Tống, niệm Phật ba ngày bèn
niệm được A Di Đà Phật hiện
đến. Quả nhiên ba ngày sau Sư văng sanh, giống
hệt như kinh nói.
Cư sĩ Châu Quảng Đại văng
sanh là chuyện mới mười mấy năm
trước thôi, không xa xôi chi! Tôi ở Mỹ quốc, ông
ta cũng niệm Phật ba ngày, hoặc một ngày,
hoặc hai ngày, hoặc ba ngày ông ta bèn đi. Mấu
chốt là đâu? Vẫn là như kinh nói: “Thiện căn, phước đức, nhân duyên”.
Chúng ta niệm Phật niệm suốt mười mấy
năm, niệm mấy chục năm, không có tin tức chi
hết, chẳng phải kinh không linh mà v́ tự ḿnh
nghiệp chướng quá nặng, vướng mắc quá
nhiều! V́ chúng ta tu học không đúng lư, không đúng pháp,
bởi vậy, cảm ứng không có cách chi hiển
hiện được! Nếu quư vị có thể buông
hết thảy vướng mắc xuống, tu hành đúng
lư, đúng pháp. “Đúng lư, đúng pháp” là phải thông
đạt, phải hiểu rơ kinh giáo. Liên Tŕ đại
sư cũng thường nói: Nếu đối với
những ư nghĩa trong kinh điển, chúng ta không có tŕnh độ
hiểu biết, nhận thức kha khá, th́ ḷng tin chân thành,
nguyện thiết tha trong tâm ta sẽ không phát khởi
được, sẽ sanh ra những chướng ngại!
Ngẫu Ích đại sư chú giải
kinh Di Đà không phải là chuyện dễ. Quư vị
thấy đó, với cuốn Sớ Sao mà pháp sư Cổ Đức
c̣n soạn bản Sớ Sao Diễn Nghĩa. Ngài Cổ Đức
là thị giả của Liên Tŕ đại sư, là
đệ tử truyền pháp của Liên Tŕ đại
sư. Nói thật ra, Di Đà Kinh Sớ Sao chính là
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh rút
gọn, quả thật đáng xưng tụng là “bác đại tinh thâm” (rộng
lớn, tinh vi, sâu xa), thực sự dẫn dắt
người ta dự vào chỗ thù thắng. Cuốn
Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư có
thể nói là tinh hoa của cuốn Sớ Sao, rất
nhiều đoạn tiền nhân chưa nói đến,
Ngẫu Ích đại sư đă v́ chúng ta vạch trần
ra.
Như “phát
Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm”
chẳng hạn. Đối với chuyện phát Bồ
Đề tâm, chúng tôi thường nghi hoặc: Những ông
già bà cả trong làng quê không biết chữ, từ
trước đến giờ chưa hề nghe kinh,
Bồ Đề tâm là cái ǵ chưa hề biết
đến, nhưng họ niệm Phật có thể đứng
mà văng sanh, ngồi mà văng sanh, biết trước lúc
mất, thực sự văng sanh. Chúng tôi thường suy
nghĩ: “Rốt cuộc họ có phát Bồ Đề tâm
hay không?” Lúc tôi mới học Phật rất hoài nghi,
họ không phát tâm Bồ Đề, chỉ niệm Phật
xuông, sao vẫn có thể văng sanh? Cứ ôm măi niềm nghi
ấy, đến khi đọc Yếu Giải của
Ngẫu Ích đại sư mới hoảng nhiên khai
ngộ.
Trong Yếu Giải giảng: “Chân tín thiết nguyện tựu
thị Vô Thượng Bồ Đề tâm” (Ḷng tin chân
thành, nguyện thiết tha chính là Vô Thượng Bồ
Đề tâm), chúng tôi mới hiểu ra. Các bà cụ không
hiểu Bồ Đề tâm là ǵ, nhưng họ có ḷng tin
chân thành, có nguyện thiết tha, tín nguyện chân thành, không
mảy may nghi ngờ, đó vốn là Vô Thượng
Bồ Đề tâm! Càng suy nghĩ lời Ngẫu Ích
đại sư càng cảm thấy có lư. Chúng tôi mới
biết: Những ông già, bà cả thiếu hiểu biết,
thiếu văn hóa trong làng quê ấy niệm A Di Đà
Phật thầm hợp đạo mầu. Tuy tự ḿnh
không biết, nhưng họ quả thật đă hội
đủ điều kiện văng sanh như A Di Đà
Phật đă nói; họ thực sự đầy
đủ, bởi lẽ, họ chẳng có một mảy may
vướng mắc nào! Ngẫu Ích đại sư đă
giải đáp cho chúng tôi nghi vấn ấy.
Chữ “chư Phật” cũng do Ngẫu Ích đại
sư giảng ra, “chư Phật”
chính là A Di Đà Phật, trước kia không ai giảng
như vậy cả. Thích Ca Mâu Ni Phật do niệm A Di
Đà Phật mà chứng đắc Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác, tiền nhân cũng chưa hề nói
như vậy. Ngẫu Ích đại sư giảng như
vậy, chúng tôi xem kỹ lại kinh văn, đúng là
như vậy! Từ trước đến nay,
đọc kinh văn lơ mơ, không chú ư đến
điểm này. Ngài nói ra, chúng tôi coi kỹ lại, thấy
không sai! Thích Ca Mâu Ni Phật quả thật là niệm A Di
Đà Phật bèn chứng đắc Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác! Bởi thế, ở đây nói: “Thuyết thử vô tạ cù lao
tu chứng, đản tŕ danh hiệu, văng sanh bất thoái, đệ
nhất phương tiện, cánh vi nan trung chi nan dă” (Nêu
lên phương tiện bậc nhất không cần nhờ đến
sự tu chứng nhọc nhằn, chỉ tŕ danh hiệu,
văng sanh bất thoái càng là sự khó nhất trong những
sự khó). Do vậy, pháp môn này quan trọng nhất là Tín,
cơ sở của ḷng tin ấy là trí huệ. Nếu không
có trí huệ chân thật, không có đại trí huệ, quư
vị sẽ chẳng thể tin tưởng! Dẫu có trí
huệ, nhưng trí huệ không đủ lớn, th́ tín tâm
chẳng được viên măn.
Ở đây lại có một câu,
những câu này đều do đại sư Ngẫu Ích
viết trong Yếu Giải: “Diệu
quán dĩ tự bất dị” (chính bản thân phép quán
mầu nhiệm đă chẳng dễ). “Diệu quán” là mười sáu phép quán, tức
những phương pháp tu hành được giảng
trong Quán Kinh, không dễ dàng! Nói đến cách đơn
giản nhất, dễ dàng nhất, thẳng chóng nhất,
ổn thỏa, thích đáng nhất, không cần phải
nhọc nhằn khổ sở tu học mà có thể thành
công th́ “đản tŕ danh hiệu”
(chỉ tŕ danh hiệu), quá sức đơn giản! “Văng sanh bất thoái, đệ nhất
phương tiện” (văng sanh bất thoái, phương
tiện bậc nhất), đúng vậy! Trong vô
lượng pháp môn không có pháp nào sánh bằng pháp này, quá
đơn giản, quá dễ dàng. Ai ai cũng tu
được, vấn đề là tin hay không, có nguyện
hay không, có thể buông xuống vạn duyên hay không, có thể
buông hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian
xuống hay không?
Nếu ta muốn học, “pháp môn vô lượng thệ
nguyện học”, th́ học ở đâu? Về thế
giới Cực Lạc mà học! Chưa đến thế
giới Cực Lạc th́ đối với hết
thảy pháp môn khác, ta đều không nh́n đến. V́ sao?
Ta biết những pháp môn ấy quá khó, ta không có năng
lực, ta không có thời gian. Đến thế giới Cực
Lạc, ta có vô lượng thọ, trí huệ của ta
cũng đă mở mang, có chư Phật Như Lai chỉ dạy
ḿnh, có rất nhiều Đẳng Giác Bồ Tát đến
giúp chúng ta học, dễ dàng thành tựu! Trong kinh này,
đức Thế Tôn bốn lượt khuyên chúng ta phát
nguyện cầu sanh Tịnh Độ, bốn lần
lận! Bởi thế, chuyện khó nhất trong các
chuyện khó, Thích Ca Mâu Ni Phật đă làm được,
nên chư Phật khen ngợi Ngài.
Ngày nay, chúng ta tuân theo lời giáo huấn
của Thích Ca Mâu Ni Phật, y giáo phụng hành, chúng ta
cũng có thể làm được. Chúng ta làm
được th́ thử hỏi chư Phật Như Lai
chẳng tán thán ư? Tán thán giống hệt như vậy!
Phải biết văng sanh Tịnh Độ chính là
được chứng Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác. Không sai! Hiện tại chưa chứng
đắc, nhưng khẳng định là nhất
định sẽ chứng đắc! V́ thế,
trước khi quư vị nắm chắc, đă khẳng định
quư vị chắc chắn sẽ nắm được,
hiện tại gần như đă nắm được
rồi. Pháp môn này viên chứng ba thứ Bất Thoái mà!
Những chuyện như vậy đều là pháp khó tin
cả!
Trong đoạn văn tiếp theo: “Y tŕ danh pháp môn thích ngũ trược
ác thế” (nương vào pháp môn tŕ danh để
giải thích ngũ trược ác thế), chúng tôi giải
thích chữ “ngũ
trược ác thế”.
1) Thứ nhất là Kiếp
Trược, Kiếp (劫) là thời gian. Chúng ta giải thích là “thời
đại không tốt”, thời kỳ bất
thường, hết sức bất b́nh thường,
thời đại này không b́nh thường. “Trược” (濁) là nhiễm ô (nhơ bẩn), nhơ
bẩn nghiêm trọng. Nay chúng tôi gọi Trược là
nhơ bẩn, ắt mọi người đều
hiểu hết sức rơ ràng. Trước hết, chúng ta
hăy nghĩ đến hoàn cảnh sinh thái (ecological environment)
trên địa cầu bị phá hoại, do con người
gây ra. Nước bị ô nhiễm, không gian bị ô
nhiễm, xú dưỡng tằng (tầng ozone) bị phá
hoại chính là không gian bị ô nhiễm.
Ngoài ra, trên địa cầu, phi cơ,
tàu thuyền, xe hơi, công xưởng phun những làn khói
độc tản mát trong không trung nên không gian bị
nhiễm độc. Các nhà khoa học hiện đang
hết sức lo ngại, bởi lẽ, nồng độ
của khối khí độc ấy trong không trung nay đă
hết sức lớn, gần như tới mức băo ḥa.
Đến một ngày nào đó chẳng thể chứa thêm
nữa, lúc nó rớt xuống đất, địa
cầu sẽ chết sạch, rất có thể như
vậy. Bởi thế, nói đến ngày tận thế th́
có người nói đây cũng là một nhân tố. Sợ
rằng một ngày nào đó, lượng khí tồn trữ
trong không trung rất lớn, e rằng chúng sẽ rơi
xuống. Trên mặt đất càng ô nhiễm nghiêm
trọng hơn, động vật, thực vật
đều bị ô nhiễm. Lại c̣n tinh thần của
chúng ta cũng ô nhiễm, tư tưởng ô nhiễm, sinh
lư ô nhiễm. Đấy là Kiếp Trược! Kể
từ khi có sử sách đến nay, chưa lúc nào ô
nhiễm nghiêm trọng như trong thời đại hiện
tại! Nay đă hết giờ rồi!
*
Xin xem tiếp phần “y tŕ danh pháp môn, thích ngũ trược ác thế” (nương
theo pháp môn Tŕ Danh, giải thích ngũ trược ác thế).
1) Thứ nhất là Kiếp
Trược. “Phi đới
nghiệp hoành xuất chi hạnh, tất bất năng độ”
(Không có hạnh đới nghiệp vượt ngang ra
khỏi tam giới, ắt chẳng thể đắc
độ). V́ sao gọi là Kiếp Trược? Trong phần
trên, tôi đă thưa cùng quư vị rồi. Trong thời
đại ô nhiễm nghiêm trọng này, phàm phu tu hành trong
lục đạo chẳng thể không bị ảnh
hưởng, bị ô nhiễm bởi hoàn cảnh, nên không
thể đạt được tâm thanh tịnh. Tâm không
thanh tịnh, đương nhiên quư vị chẳng b́nh
đẳng, chẳng chân thành, chánh giác, từ bi thảy
đều không có! Con người hiện tại vừa
nghe những lời này đều hiểu rơ, sức dụ
hoặc của hoàn cảnh so với quá khứ không
biết đă tăng thêm gấp bao nhiêu lần, đáng
sợ hết sức! Bởi vậy, tổ sư nói
ngoại trừ pháp môn đới nghiệp hoành siêu này ra,
bất cứ pháp môn nào cũng không có cách nào thành tựu. V́
sao? Bất cứ pháp môn nào cũng đều phải tiêu
nghiệp, đều phải đoạn phiền năo, trong
thời đại này rất khó [thực hiện được].
Do vậy, người thực sự
phát tâm tu hành, v́ sao phải ở trong núi sâu không dấu chân
người lui tới? Tâm hạnh và cuộc sống của
họ hoàn toàn trở về với tự nhiên, điều
ấy rất có lư. Đại khái là không muốn bị ô
nhiễm ảnh hưởng th́ phải tránh né. Chúng tôi
thường khuyến khích mọi người cũng
như khuyên các đồng học đang tu Tịnh Tông: Hiện
nay ô nhiễm phổ biến nhất, nghiêm trọng
nhất là những phương tiện truyền thông, chúng
ta nên buông xuống, không xem báo chí, không đọc tạp
chí, không nghe radio, không xem truyền h́nh, cũng không xem
Internet, chúng ta mới có thể giữ được tâm
thanh tịnh, cố hết sức ít tiếp xúc với bên
ngoài. Dẫu không sống trong núi sâu mà trong hoàn cảnh sống
nhỏ nhoi nơi đô thị cũng tự động
cách tuyệt với bên ngoài, giữ ǵn thân tâm của chính
ḿnh thanh tịnh. Mỗi ngày trừ việc niệm
Phật ra, bèn tụng kinh, nghiên cứu giáo pháp, vậy là
tốt! Có thể giữ được thân tâm của chính
ḿnh thanh tịnh, chẳng bị hoàn cảnh bên ngoài ô
nhiễm. Quư vị phải có nghị lực, phải có
hằng tâm, phải có trí huệ mới thực sự làm
được.
Do vậy, chúng tôi kỳ vọng sâu xa,
những nhà truyền giáo thuộc các tôn giáo trên toàn thế
giới đều có một mạng lưới chuyên môn và
băng tần vệ tinh; chúng ta muốn học kinh giáo nào
để đoạn nghi sanh tín th́ chúng ta chuyên môn tiếp
nhận băng tần ấy, giống như lên lớp
ngay tại nhà vậy, như vậy là tốt! V́ sao mỗi
pháp sư phải cần một băng tần riêng? Một
băng tần có nhiều pháp sư cùng hoằng pháp, há không
được sao? Để giảng thông thường th́
được, c̣n đối với người chuyên tu mà
nói th́ sẽ gặp khó khăn. Người chuyên tu nhất
định phải thâm nhập một môn! Phải có
thời gian kha khá mới khế nhập cảnh giới,
mới thực sự đạt được lợi
ích. V́ thế, chính mỗi pháp sư phải có một
băng tần riêng, kẻ làm học sinh chúng ta có thể
chọn lựa, muốn học pháp môn nào, muốn thân
cận vị pháp sư nào th́ sẽ biết chắc vị
pháp sư ấy, biết chắc pháp môn ấy, bám rễ
nơi pháp môn ấy, có như vậy mới ḥng thành
tựu! Rễ sâu gốc chắc!
Đắc tam-muội
nơi một môn, mở mang trí huệ; mở mang trí
huệ rồi mới có thể học rộng, nghe
nhiều, thành tựu viên măn Hậu Đắc Trí, không ǵ chẳng
biết. Thời gian rất dài, các tổ sư đại
đức Trung Quốc thời cổ hạn định
thời gian ấy là năm năm, tối thiểu là năm
năm, tâm quư vị sẽ định! Trên thực tế,
trong hoàn cảnh chúng ta hiện giờ, năm năm
thật ra không đủ! Tôi theo thầy Lư, thầy Lư yêu
cầu tôi trong năm năm chuyên nghe một ḿnh thầy
giảng thôi, nhất định không được
tiếp xúc một vị thiện tri thức nào khác,
thầy chịu trách nhiệm. [Áp dụng] phương pháp
ấy độ chừng ba bốn tháng sẽ thấy
hiệu quả hiện tiền, hiệu quả rất
hiển nhiên, tâm dần dần định lại, trí
huệ mở mang, cảm giác chính ḿnh có năng lực làm
được những việc khác.
Thầy Lư yêu cầu tôi giữ
như vậy năm năm; xong năm năm, tôi lại xin
thầy Lư cho giữ thêm năm năm nữa, thầy
mỉm cười gật đầu. Tôi tuân thủ
lời giáo huấn của lăo nhân gia đến mười
năm, thân cận một vị thiện tri thức, nghe
một người giảng dạy, chỉ đạo. Mười
năm ấy quả thật bám chắc cội rễ, [giúp
cho tôi] có năng lực phân biệt chân - vọng, có năng lực phân biệt tà - chánh,
thị - phi, lợi - hại, được - mất. Lúc
đó, học rộng nghe nhiều, ai cũng tiếp xúc
được, pháp môn nào cũng lạm dự
được, chỉ giúp cho ḿnh, chứ không tổn
hại, chẳng thấy lạ, nghĩ khác, tiếp xúc
bất cứ ai, tiếp xúc bất cứ pháp môn nào
đều biết quay đầu, biết trở lại,
chẳng bị cảnh giới mê hoặc. Do vậy,
đối với ḿnh, cảnh giới không thể làm
tổn hại, chẳng bị lay động bởi nó, nó
tăng trưởng định lực cho ta, tăng
trưởng trí huệ. Đó là học rộng nghe nhiều,
có tư cách tham học.
Phương pháp dạy học từ xa (viễn
tŕnh giáo học - telecourses) trên đài truyền h́nh cũng
giống như thế, tự ḿnh phải học với
một vị thầy, học một pháp môn, đắc
định, đắc huệ nơi pháp môn ấy. Trí
huệ mở mang rồi th́ bất cứ pháp sư giảng
kinh hay cư sĩ giảng kinh nào ḿnh cũng đều có
thể nghe, tuyệt đối tăng trưởng tam-muội,
tăng trưởng trí huệ của ḿnh, thành tựu viên
măn Hậu Đắc Trí, không tạo ra những tác dụng
trái nghịch. Thế nhưng trước khi đắc
Định Huệ th́ khó lắm! Quyết định chẳng
được la cà pháp khác, la cà th́ nghe pháp này thấy hay,
pháp kia cũng tuyệt, cái này cũng muốn học, cái kia
cũng muốn học, khiến cho sự học tập
của ḿnh bị tán loạn, đáng sợ lắm!
Bởi thế, sự giáo huấn
tại Phật Học Viện rất khó thành tựu, đạo
lư là ở chỗ này, v́ nhiều thứ quá khiến cho học
sinh phân tâm, tinh thần ư chí không thể tập trung.
Những ǵ học viên học tập chỉ là Phật
học thường thức, c̣n Giới - Định- Huệ
như trong Phật pháp đă nói, chắc chắn kẻ
ấy không đạt được. Nếu muốn
đạt được Tam Học Giới - Định -
Huệ th́ phải thâm nhập một môn, trường
thời huân tu, mới ḥng đạt được.
Giới - Định - Huệ thực sự hữu
dụng, thực sự giúp quư vị liễu sanh tử,
xuất tam giới, c̣n Phật học thường
thức sẽ không thể. Trong cuộc sống thường
ngày, phiền năo tập khí vẫn cứ làm chủ tể y
như cũ; nói cách khác, quư vị vẫn là một gă phàm
phu sanh tử trong lục đạo, chẳng
được thọ dụng nơi Phật pháp! Bởi
thế, mới nói “tất bất
năng độ” (ắt chẳng thể độ
được), đạo lư là đây! Đặc biệt
là trong xă hội hiện tại, càng phải nhận
biết hoàn cảnh rơ ràng.
2) Thứ hai là Kiến Trược. Trược
(濁) là nhiễm ô,
Kiến (見)
là kiến giải. Kiến giải của chúng ta bị ô
nhiễm [th́ gọi là Kiến Trược]. “Ngũ Lợi Sử tăng thịnh,
phi bất giả phương tiện chi hạng, tất bất
năng độ” (Ngũ Lợi Sử tăng mạnh,
nếu không nhờ vào hạnh phương tiện, ắt
chẳng thể độ được). Nhất
định phải dựa vào phương tiện, tức
là phương pháp thích đáng nhất (Tiện là tiện
nghi, Phương là phương pháp. Phương Tiện là
phương pháp thích đáng nhất) th́ mới
được, mới ḥng được độ!
Ngũ Lợi Sử là ǵ? Nói tổng quát, Ngũ Lợi
Sử là Kiến Hoặc. Trong Đại Thừa
thường nói đến Kiến Tư phiền năo,
Ngũ Lợi Sử là Kiến phiền năo, tức kiến
giải lầm lạc. V́ sao gọi là Lợi Sử?
Đây là tỷ dụ. Thời cổ, nha môn là cơ
cấu tư pháp của chánh phủ, giống như
đơn vị tư pháp hoặc đơn vị h́nh
cảnh hiện tại, kẻ nào phạm tội bèn phái
người đi bắt về, người ấy bị
sai sử. Lợi (利) là rất
nhạy bén. Năm thứ kiến giải lầm lạc
ấy giống như (nói theo cách bây giờ cho mọi
người dễ hiểu) năm đội h́nh cảnh
vây quanh thân quư vị, thời thời khắc khắc giám
sát quư vị, bắt quư vị bất cứ lúc nào, ư
nghĩa là như vậy. Đây là tỷ dụ, ư nói bị
kiến giải mê hoặc. Ngũ là năm điều.
a) Điều thứ nhất là Thân
Kiến: “Thân Kiến. Bất
ngộ Tứ Đại giả hợp, hư huyễn vô
thường” (Thân Kiến: Chẳng hiểu là Tứ Đại
giả hợp, hư huyễn vô thường). Không ngộ
là mê, chẳng biết thân này rốt cuộc là ǵ, chấp
trước cái thân này là chính ḿnh, chấp trước nghiêm
trọng, v́ nó mà tạo vô lượng vô biên tội
nghiệp. Thân ấy đâu phải là Ngă, trong những
buổi giảng chúng tôi thường
nói: Rốt cuộc thân này là ǵ? Chỉ là cái ta có mà thôi,
giống như y phục là thứ ta có, nhưng chẳng
phải là ta, ta nên để nó phục vụ ḿnh mới là
chính xác, mới là Phật, Bồ Tát, mới là không mê.
Nếu ta phục vụ nó th́ là sai mất rồi! Nếu
như nói y phục không phải là ta, y phục phải
phục vụ ta th́ ta không thể ngày ngày phục vụ nó.
Ta ngày ngày phục vụ nó th́ nó trở thành chủ nhân, ta thành
đầy tớ, chẳng phải là điên đảo hay
sao? V́ thế, trong kinh đức Phật thường nói
hết thảy chúng sanh điên đảo tán loạn,
điên đảo ở chỗ nào? Điên đảo ở
ngay chỗ này, chẳng hiểu rơ chân tướng sự
thật.
Vậy th́ cái ǵ là Ngă? Trong kinh Đại
Thừa, đức Phật thường giảng tâm tánh là
Ngă, nói như vậy là đúng! Tâm tánh có thể biến, có
thể hiện. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Hư
không, pháp giới, nhất thiết chúng sanh, duy tâm sở hiện,
duy thức sở biến” (Hư không, pháp giới,
hết thảy chúng sanh chỉ do tâm hiện, chỉ do
thức biến). Như vậy, tánh thức là Ngă, chứ
thân không phải là Ngă. Thân do Ngă hiện
ra, do Ngă biến ra, lẽ ra nó phải phục vụ ta
mới là chính xác, ta chớ nên phục vụ nó. Ta là
chủ nhân, nó là đầy tớ, là nô bộc tùy thân, nó
phải tận trung với ta, sao ta lại mê hoặc
điên đảo đến nỗi nó trở thành chủ
nhân! Do vậy, đây là kiến giải lầm lạc
thứ nhất.
Thân thật ra là ǵ? “Tứ Đại giả hợp”. Tứ Đại
là vật chất, thân do vật chất tổng hợp
lại. Nay ta biết thân con người do rất nhiều
khí quan tổng hợp thành giống như một cỗ máy
do các bộ phận tổng hợp thành. Mỗi một khí
quan lại do các tế bào hợp thành. Lại đem tế
bào phân tích th́ tế bào do rất nhiều phân tử hợp
thành, phân tử do nguyên tử hợp thành, nguyên tử do
nguyên tử hạch (nuclear) và các điện tử (electron)
hợp thành, điện tử lại do các lạp tử
(lepton) hợp thành. Cứ phân tích dần dần, sẽ
thấy do rất nhiều điều kiện, vật
chất tổng hợp thành, nhưng cái được
hợp thành lại “hư
huyễn vô thường”, những thứ
được tổng hợp này sanh diệt trong từng sát-na. V́ thế, trong kinh Kim Cang,
đức Phật dạy chúng ta cách nh́n chính xác: Những
hiện tượng ấy, từ thân thể cho
đến núi, sông, đại địa bên ngoài, “nhất thiết pháp hữu vi,
như mộng huyễn bào ảnh” (hết thảy pháp
hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng). Mộng,
huyễn, bọt, bóng hư huyễn, vô thường, “như lộ, diệc như
điển, ưng tác như thị quán” (như
sương cũng như chớp, phải nên quán như
vậy). Đó là chánh giác của chư Phật, Bồ Tát,
chính xác không sai lầm điểm nào, giác ngộ
rồi mà! V́ thế, nó là công cụ, nó không phải là ta, mà là
cái được ta sở hữu. Quan niệm lầm
lạc thứ nhất là như vậy đấy!
Khi nào ta sẽ sửa đổi
được quan niệm lầm lạc ấy? Khi
tuyệt đối chẳng cho thân này là ta nữa. Sau khi
sửa đúng quan niệm ấy, lợi ích rất
lớn! V́ sao? Đối với đời người,
thống khổ lớn nhất là sanh - lăo - bệnh - tử,
quư vị xem nhẹ, Ngă đâu có sanh - lăo - bệnh - tử!
Sanh - lăo - bệnh - tử là cái ta sở hữu, nó có sanh - lăo
- bệnh - tử, giống như y phục là cái
được ta sở hữu, y phục dùng lâu ngày
phải bị hư rách, không được yêu thích
nữa, không cần nữa, bèn bỏ đi, thay cái mới.
Hiểu thân thể giống như y phục, dùng một
thời gian lâu, bộ máy lăo hóa, không c̣n hữu dụng
lắm, bỏ đi, đổi cái khác, đó gọi là sanh
tử tự tại! Không đau khổ một chút nào!
Đối với những thứ cũ mèm phải vứt
bỏ đi, không lưu luyến chút nào. Trong nhà quư vị,
những đồ đạc cũ dùng
hư nát rồi, vứt vào thùng rác, quư vị có lưu
luyến hay không? Cách nh́n của người giác ngộ
đối với thân thể này cũng như vậy,
đó là cách nh́n chính xác.
Những phẩm vật chính bản thân
ta có, ta phải yêu tiếc chúng, phải tiếc
phước, phải khéo sử dụng, chớ lăng phí. Hiện
thời không có mấy ai hiểu đạo lư này,
người hiện tại chỉ biết hưởng phước,
không biết tiếc phước, không biết tu
phước. Phước báo do đâu mà có? Do tu trong
đời quá khứ. Trong đời quá khứ tu phước
báo lớn, đời này thời gian hưởng
phước dài lâu. Nếu trong đời quá khứ tu
phước báo không lớn như vậy, thời gian
hưởng phước sẽ hữu hạn, hoặc là
hưởng mười năm, hoặc hưởng hai
mươi năm, hoặc hưởng đến ba
mươi năm, hoặc là bốn mươi năm
rồi không c̣n nữa. Nói cách khác, bốn mươi,
năm mươi năm sau kẻ ấy hưởng
hết phước, cuộc sống khốn khổ, hăm
trong khốn khổ. Người ấy chẳng cam tâm
hứng chịu nỗi khổ ấy, họ không hiểu
chân tướng sự thật, bèn làm chuyện ǵ?
Tạo nghiệp chướng, phải
nghĩ cách chiếm đoạt tài sản của
người khác để chính ḿnh thụ hưởng. Đoạt
lấy! Do vậy, tạo vô lượng vô biên tội
nghiệp, đời vị lai mắc quả báo tam
đồ! Thật ra, họ chiếm đoạt
được cũng là v́ trong mạng họ có, nếu trong
mạng không có, dù có đoạt cũng không đoạt được!
Đó là chân tướng sự thật, chỉ có
người học Phật chân chánh mới thông
đạt, hiểu rơ. Do vậy, người thực
sự giác ngộ sẽ biết tu phước, chứ
không hưởng phước. Dẫu có phước báo,
nhưng đem phước báo cúng dường cho
người khác hưởng, nên phước báo vẫn c̣n,
đă thế lại c̣n tăng trưởng, giống
như gởi tiền vào ngân hàng lại c̣n có tiền
lời! Tự ḿnh không dùng, để cho người khác
dùng, lại có lời, đạo lư tương
đồng.
Có phước không hưởng, thân
thể ḿnh có thể chịu khổ một chút, khổ
một chút sẽ chẳng lưu luyến thế gian này,
tâm hướng về Tây Phương Cực Lạc
thế giới càng khẩn thiết. Nếu chính ḿnh
phước báo quá lớn, hưởng thụ quá nhiều.
Như vậy là khá quá, rất tốt, người ấy bỏ
mặc, không nh́n đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới, không tách ĺa khỏi thế gian này
được, luống uổng đời này, không văng
sanh được! Do vậy, dẫu Thích Ca Mâu Ni Phật
không tán thành tu khổ hạnh, Ngài phản đối
sự khổ hạnh vô ích, nhưng lại tán thán
người tu khổ hạnh. Tu khổ hạnh hay ở
chỗ nào? Không lưu luyến thế gian này, tâm
hướng về Tây Phương Cực Lạc thế
giới càng tăng thêm, càng lớn mạnh, đúng là có cái
lợi. Có phước bèn để cho người khác
hưởng, kết duyên cùng chúng sanh là chuyện tốt!
Tương lai khi chính ḿnh thành Phật, pháp duyên hết
sức thù thắng. Do vậy, phải biết bản thân
ḿnh có phước báo th́ hăy nên biết bớt ra một chút
để kết duyên với người khác.
Quư vị đọc sách Liễu Phàm
Tứ Huấn, quư vị thấy tiên sinh Liễu Phàm sau khi đă
hiểu rồi, cuộc sống trong nhà ông rất tiết
kiệm. Mùa Đông may áo bông cho trẻ nhỏ, trong nhà có
bông sợi, bà vợ ông bán bông sợi đi, mua bông g̣n. Bông sợi
mắc, bông g̣n rẻ, dùng bông g̣n dồn áo bông có thể may
được nhiều hơn, con ḿnh có áo mặc, lại
c̣n có thể đem cho người khác mặc, tâm ấy
tốt quá! Đó là tiếc phước! Tiên sinh Liễu
Phàm nghe vợ nói như vậy, bảo: “Ta không sợ con
cái chẳng có phước báo!” Đó là tu phước cho
con, thêm phước cho con. Chúng ta đọc cuốn sách
ấy phải hiểu rơ đạo lư, phải thực
sự ngộ, chẳng thể đọc xuông!
Nhất là kẻ xuất gia chúng ta,
đến độ tuổi như tôi, bao năm hoằng
pháp dạy học, tích lũy được một chút
phước báo, người cúng dường rất
nhiều, tôi không hưởng thụ! Tôi nhường cho
mọi người hưởng thụ, tôi vẫn sống
đời thanh bần, v́ sao? Tôi sống cuộc
đời như vậy đă quen, sống rất
thoải mái. Mỗi ngày ăn uống một chút là
đủ rồi, bao nhiêu năm từ trước tới
nay tôi chưa hề cảm thấy đói đến nỗi
phải ăn món ǵ. V́ vậy, mỗi lần tôi vào pḥng
ăn phải ăn thứ ǵ cũng đều rất
đau khổ, không đói mà! Mọi người ăn, tôi
cũng ăn một chút, không ăn được không?
Được! Một ngày không ăn ǵ rất b́nh
thường, tinh thần thể lực vẫn vậy,
không thay đổi tí xíu nào! Hai ba ngày không ăn tôi chưa
từng thử qua, nhưng một ngày không ăn ǵ, có lúc
đúng là không muốn ăn ǵ hết. Tâm địa càng
thanh tịnh, càng ít tiêu hao năng lượng! Mấy chục
năm qua đều sống như vậy, sống
cuộc đời rất b́nh ổn!
Đừng nghĩ ḿnh phước báo
hiện tiền, chúng ta bèn có thể nâng cao mức sống,
lầm rồi, không được đâu! Lúc có
phước báo ấy, hăy để người khác
hưởng một chút. Thân thể khỏe mạnh, thanh
tịnh, từ bi, ăn uống càng ít càng tốt, nhất
định không được ăn vặt. Thứ tôi
thường uống là nước đun sôi, trà pha
nhạt, những loại nước quả ép tôi tuyệt
đối không nhúng môi. Cuộc sống như thế là
khỏe mạnh nhất, là phương thức sinh
hoạt vật chất tốt nhất. Y phục cốt
sao giữ ấm, không cần phải bằng chất
liệu tốt, không cần phải hoa lệ, không cần!
Càng không được ganh đua cùng người khác, ganh
đua là sai lầm lớn lao! Hoàn cảnh cư trụ
ưu nhă là tốt, cũng không cần phải to, săn sóc
cho dễ. Mọi người cùng hoan hỷ học
đạo, tu đạo! Đấy là chuyện chánh
của chúng ta. Như vậy, phải phá Thân Kiến,
biết nó là giả, không thật.
Bảo dưỡng thân thể th́ thanh tịnh
là quan trọng nhất, chớ có phiền năo. Cổ nhân
Trung Quốc thường nói: “Ưu
năng sử nhân lăo” (Buồn rầu khiến con người
già xọm). Trong ḷng có vướng mắc không buông
xuống được, có ưu lự, có phiền năo th́
bộ máy bị tổn hoại, hiệu dụng của
bộ máy ấy giảm thấp. V́ vậy, phải giữ
ḷng thanh tịnh, chân thành, từ bi, hiền lành. Dùng cái tâm
ấy để đối đăi thân thể ḿnh, chẳng
ưu lự, chẳng phiền năo, sao cho tâm thường
sanh hoan hỷ. Thường sanh tâm hoan hỷ, pháp hỷ
sung măn, thiền duyệt làm thức ăn, kinh Đại
Thừa thường nói như thế. Đấy là
dưỡng chất tốt nhất, khỏe khoắn
nhất, chẳng hề có mảy may tác dụng phụ.
Phải hiểu đạo dưỡng thân, thân là công
cụ, thân chẳng phải là Ngă.
b) Thứ hai là Biên Kiến, Biên (邊) ở đây là hai bên. “Bất ngộ kiến giải kư thiên, thất hồ
Trung Đạo” (kiến giải do chẳng ngộ nên
thiên lệch, đánh mất Trung Đạo). Lệch
về một phía trong hai bên, không phải là Trung
Đạo, người hiện tại gọi là
“tương đối”, tương đối là hai bên.
Trong quan niệm của chúng ta, quư vị thấy con
người quả thật sống trong Biên Kiến,
sống trong không gian tương đối. Đă có dài th́
đối nghịch của dài là ngắn, đối
nghịch của xa là gần, đối nghịch của
lớn là nhỏ, không ǵ chẳng tương đối.
Đấy chẳng phải là chân tướng sự
thật. Chân tướng sự thật là ǵ? Chân
tướng sự thật là pháp môn Bất Nhị.
Phật pháp thường nói đến pháp môn Bất
Nhị. Ai nhập pháp môn Bất Nhị? Ai minh tâm kiến
tánh th́ nhập pháp môn Bất Nhị; nói cách khác, Nhất
Chân pháp giới là pháp môn Bất Nhị. Nếu quư vị
vẫn c̣n có ư niệm đối lập th́ chẳng
nhập pháp môn Bất Nhị; nói cách khác, quư vị không ra
khỏi mười pháp giới; quư vị thoát khỏi
lục đạo nhưng không ra khỏi mười pháp
giới. Bậc Sơ Trụ Bồ Tát của Viên Giáo phá
một phẩm vô minh, thấy một phần chân tánh,
chứng một phần Pháp Thân, nhập pháp môn Bất
Nhị! Trong quan niệm của họ, chắc chắn không
có sự đối lập.
Sự đối lập rơ rệt
nhất của người thế gian chúng ta là tôi -
bạn, tôi và bạn đối lập nhau, rắc rối xảy
ra liền. Đối lập sẽ phát sanh xung đột!
Xung đột rồi bèn có đấu tranh, nên mới có
chiến tranh. Sở dĩ người nhập pháp môn Bất
Nhị th́ mới gọi là thánh nhân là v́ người ấy
thực sự giác ngộ, không c̣n tương tự
nữa! Trong Phật pháp gọi người ấy là
bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Như vậy, đối
lập không phải là chuyện tốt! Toàn là nẩy sanh
từ quan niệm lầm lạc, nhà Phật thường
nói “nhất thiết pháp tùng tâm
tưởng sanh” (hết thảy pháp từ tâm
tưởng sanh). Đấy là vọng tưởng, không
phải sự thật, trong sự thật không có
đối lập. Câu này hết sức khó hiểu, v́ sao
trong sự thật lại không đối lập? Lúc chúng
ta không phân biệt th́ vẫn là đối lập, có dài - ngắn,
có xa - gần! Ta không phân biệt, không chấp trước
pháp nào th́ vẫn c̣n có dài - ngắn, vẫn c̣n có xa - gần!
Do vậy, chúng ta rất khó thể hiểu nổi lời
Phật dạy!
Nhưng trong hiện tại các nhà khoa
học đă giúp ích chúng ta rất nhiều. Gần đây,
khoa học gia đă phát hiện thực sự không có
đối lập. V́ sao? Họ phát hiện thời gian và
không gian không thật. Trong một điều kiện nào
đó, không gian và thời gian bằng zéro, hiện
tượng đối lập không c̣n nữa! Không gian
bằng zéro là không c̣n xa - gần, thời gian bằng zéro là
không có quá khứ, hiện tại, vị lai, đấy là
những thứ tương đối khó hóa giải
nhất. Thời gian và không gian chẳng đối lập
th́ hết thảy những thứ đối lập khác
đều dễ dàng hóa giải, không c̣n đối lập
nữa.
Đối lập sanh từ vọng
tưởng, chấp trước của chúng ta; những vọng
tưởng, chấp trước vi tế bản thân chúng
ta không biết được, tập khí mà! V́ vậy, không
hay không biết. Những vọng tưởng, chấp
trước thô, rơ rệt chúng ta biết rất rơ, nhưng
những thứ vi tế chúng ta không biết. Do vậy, theo
kinh Phật, hiểu rơ triệt để chân tướng của
sự thật phải là Bát Địa Bồ Tát. Bát Địa
Bồ Tát mới thấy được những chủng
tử tập khí trong A Lại Da Thức. Chúng quá vi tế,
mắt thịt của chúng ta không có cách ǵ thấy
được. Do vậy không ngộ, không ngộ th́ mê,
kiến giải lệch lạc! Đối với vũ
trụ, nhân sinh, hết thảy người, sự,
vật đều thấy sai lạc! “Thất hồ Trung Đạo” (đánh mất
Trung Đạo), không giống với
bậc chân chánh giác ngộ, bậc thực sự giác
ngộ biết, thấy Trung Đạo, chẳng thiên
lệch, chẳng tà vạy. Đó là kiến giải thực
sự chính xác.
c) Thứ ba là Kiến Thủ Kiến. “Phi quả kế quả” (Không
phải Quả coi là Quả). Kiến Thủ Kiến là kiến
giải lầm lạc trên mặt Quả, không phải là
quả báo chân chánh [mà tưởng là quả báo chân chánh]. “Kế” (計) là ǵ? Kế là “cho là”. Tự ḿnh suy tính cho nó thực sự là
quả báo. “Bất ngộ hữu
lậu giới trung, chung phi cứu cánh” (Chẳng
ngộ trong hữu lậu giới trọn không phải là
rốt ráo). Giảng về điều này, đức
Phật thường lấy thiên đạo làm thí dụ. Cơi
trời không phải là quả báo chân chánh. Có rất
nhiều người tưởng cơi trời là hằng
sống, lên được cơi trời ắt bất sanh
bất diệt. Hiểu vậy là sai lầm. Cơi trời có
thọ mạng, thọ mạng của họ dài hơn
thọ mạng của chúng ta, dài nhất là cơi trời Phi
Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên trong tầng trời Vô
Sắc. Thọ mạng dài ngần nào? Phật bảo là tám
vạn đại kiếp. Quư vị nhất định
phải hiểu thế giới này, chúng ta thường
gọi là thế giới Sa Bà, mỗi một lần
thế giới thành - trụ - hoại - không là một
đại kiếp. [Mỗi một giai đoạn trong bốn
giai đoạn] thành - trụ - hoại - không là một trung
kiếp, bốn trung kiếp là một đại kiếp.
Thế giới một lần thành - trụ - hoại - không
là một đại kiếp. Thế giới này thành -
trụ - hoại - không bao nhiêu lần? Tám vạn lần.
Thời gian ấy rất dài!
Tuy thời gian dài như vậy, nhưng
nếu luận về thời gian dài vô hạn th́ tám
vạn đại kiếp không dài! Bởi lẽ, khi
hết tám vạn đại kiếp th́ thọ mạng
phải chấm dứt, cho nên chẳng phải là rốt
ráo! Chẳng phải là quả báo rốt ráo, quư vị
lại tưởng là quả báo rốt ráo, lầm rồi!
Thứ kiến giải ấy gọi là Kiến Thủ
Kiến, chẳng phải là quả mà coi là quả. Bởi
lẽ, người ta không liễu giải, không ngộ nên
không biết. “Hữu lậu giới
trung” (trong hữu lậu giới), lục đạo là
hữu lậu, “lậu” (漏) là phiền năo. Phiền năo, tập khí chưa
đoạn th́ ở trong lục đạo! Công phu
định lực của quư vị sâu th́ chỉ có thể
khuất phục phiền năo, chứ phiền năo trọn
chẳng chuyển thành Bồ Đề, cũng có nghĩa
là không thực sự đoạn phiền năo, chỉ đè
nén nó không cho khởi tác dụng mà thôi! V́ vậy, ở trong
lục đạo là chẳng rốt ráo! Lại thưa cùng
quư vị, chín pháp giới cũng chẳng phải là
rốt ráo. Nói chín pháp giới chính là nói mười pháp
giới, mười pháp giới không rốt ráo! Chỗ nào
mới là rốt ráo? Nhất Chân pháp giới là rốt ráo!
Do vậy, tu học Phật pháp,
chẳng cần biết là tông nào, phái nào, Tịnh
Độ tông cũng không nằm ngoài lệ ấy! Nhất
định phải chứng đắc minh tâm kiến tánh,
đừng tưởng Tịnh Độ tông là có thể chẳng
cần tới minh tâm kiến tánh, đới nghiệp văng
sanh, không phải vậy! Đới nghiệp văng sanh, sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới vẫn
phải chứng “minh tâm kiến tánh”, đó mới là thành
tựu thực sự! Đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới vẫn phải tu, vẫn phải
học! Không ngừng tinh tấn, không ngừng nâng cao,
từ Phàm Thánh Đồng Cư Độ tiến lên
Phương Tiện Hữu Dư Độ, từ
Phương Tiện Hữu Dư Độ tiến lên
Thật Báo Trang Nghiêm Độ, vậy là quư vị thực
sự kiến tánh! Hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sanh,
phải biết: Trong cơi Đồng Cư và cơi
Phương Tiện hoa chưa nở! Cơi Thật Báo hoa
mới nở. V́ thế, về nơi đó ngày ngày vẫn
phải tu, hằng ngày vẫn phải học.
Dẫu hoa chưa nở, nhưng hoa
ấy rất lớn, hoa và hư không pháp giới không khác.
Đó là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn! Chúng tôi
đọc kinh Hoa Nghiêm mới có thể lănh hội
đại lược như sau: Trong vi trần có thế
giới, vi trần không lớn, thế giới không
nhỏ. Quư vị hiểu hoa sen trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, hoa sen không phóng đại, thế
giới không rút nhỏ, nhưng quư vị cảm thấy
thế giới trong hoa sen chẳng khác ǵ hư không pháp
giới bên ngoài. Bởi vậy, đó là cảnh giới
chẳng thể nghĩ bàn. Trong hoa chẳng những có Tây
Phương Tam Thánh, mà c̣n có mười phương chư
Phật, Bồ Tát. Chẳng những có mười
phương chư Phật, Bồ Tát, mà trong hoa c̣n có vô lượng
vô biên thế giới. Trong mỗi một đóa hoa của
mỗi người văng sanh đều như thế. Thật
ra, Tây Phương thế giới là như vậy, mà
thế giới này của chúng ta có lúc nào chẳng như
vậy? Cái khác là người ở Tây Phương thế
giới là giác chứ không mê, chúng sanh trong thế giới
này mê chứ không giác, khác nhau ở chỗ này, trừ
điều ấy ra, không có ǵ khác cả!
d) Thứ tư là Giới Thủ
Kiến, “phi nhân kế nhân” (không
phải nhân mà tưởng là nhân). Giới Thủ Kiến là
kiến giải lầm lạc nơi nhân. Như vậy,
nói thật ra, hai Kiến Hoặc (Giới Thủ Kiến và
Kiến Thủ Kiến) này là luận theo nhân quả.
Giới Thủ Kiến là nh́n lầm nơi nhân, chẳng
phải là nhân mà coi là nhân. “Bất
ngộ chưng sa tác phạn, trần kiếp nan thành” (Chẳng
biết là nấu cát thành cơm, trải trần kiếp
(kiếp số nhiều như vi trần) khó thể thành):
Phần sau đó, nêu ra một tỷ dụ. Quư vị
muốn nấu cơm, nhân của cơm là ǵ? Nhân của
cơm là gạo tẻ, quư vị lấy gạo nấu
cơm th́ rất dễ dàng nấu thành cơm. Nếu
lấy bùn cát nấu, mong nó biến thành cơm (“trần kiếp” ư nói thời
gian rất dài), cứ coi một vi trần là một
kiếp [th́ dù nấu trong số kiếp nhiều bằng số
vi trần] cũng không thể nấu cát thành cơm
được. V́ sao? Nó không phải là nhân! Tỷ dụ
đơn giản này chắc mọi người dễ
hiểu. Lại bảo cùng quư vị, chúng ta muốn phát tài
th́ phát tài là quả báo, quư vị cầu tài. Dùng
phương pháp ǵ để cầu tài? Hiện tại
trong thế gian này có rất nhiều phương pháp, hoàn toàn
không phải là cái nhân thực sự để phát tài, quư
vị hoàn toàn sai lầm, cái nhân thực sự của phát
tài là ǵ?
Trong kinh đức Phật dạy chúng
ta phải thực hiện tài bố thí. Tài bố thí là cái
nhân thực sự. Quư vị không chịu tu tài bố thí,
keo kiệt, hẹp ḥi, ngày ngày vắt kiệt trí năo tính toán
muốn biến của cải của người khác thành
của ḿnh, tức là ngày ngày động năo tổn
người lợi ḿnh, vậy th́ làm sao có thể phát tài
cho được? Cái nhân sai lầm, vĩnh viễn
chẳng được giàu có. Nghĩ đủ cách làm
người khác phải lo lắng, hăm hại người
khác, lừa dối người khác! Có lừa
được th́ vẫn là trong số mạng của ḿnh sẵn
có, nhưng sự giàu có trong mạng ḿnh bị hao hụt. Bị
chiết khấu th́ khi ḿnh hưởng hết sẽ không
c̣n nữa! Người thực sự hiểu th́ bố
thí, càng thí càng nhiều, về sau quư vị của cải
vô lượng vô biên, do như vậy mà có. Người
thế gian mấy ai hiểu được cái nhân thực
sự, hiểu cái quả thực sự. Chỉ có
người chân chánh giác ngộ mới hiểu, kẻ mê
hoặc điên đảo không hiểu! Khởi tâm
động niệm, hết thảy hành vi luôn phạm sai
lầm rất nghiêm trọng, lẽ đâu không khổ?
Khổ là do chính ḿnh chuốc lấy, không ai gây cho ḿnh
cả. Nay đă hết giờ rồi!
Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Giảng Kư
Phần
12 hết
[1] Câu này trích từ thiên Vi Chánh sách Luận
Ngữ, chúng tôi dịch theo cách diễn giải của
cụ Lư Bỉnh
[2] Ngẫu tượng: Những
tượng có h́nh dáng người,
thần thánh được làm bằng gỗ, đất,
kim loại v.v... và được con người sùng bái,
thờ cúng.
[3] “Tinh phiến” (chip, microchip): Chip là
những linh kiện điện tử, gọi đầy
đủ là “tập thành điện lộ” (IC, Integrated Circuit,
đôi khi dịch nôm na là “vi mạch tích hợp”, hay“mạch
tích hợp” tuy nghe hơi kỳ kỳ), có kích thước
rất nhỏ gồm các mạch điện kết
hợp các linh kiện bán dẫn (như transitor), và linh
kiện điện tử thụ động như
điện trở, điện dung khí (capacitor, ta
thường gọi là “tụ điện”) được
chế tạo bằng chất bán dẫn (semiconducting
material) như chất silicon chẳng hạn.