Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 13
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Hội Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Tập
37
Xin xem tiếp phần “y tŕ danh pháp môn thích Ngũ Trược
Ác Thế” (nương theo pháp môn tŕ danh để giải
thích Ngũ Trược Ác Thế). Trong phần trên, chúng tôi
đă giảng đến Ngũ Lợi Sử của
Kiến Trược, đă giới thiệu về Thân
Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới
Thủ Kiến, hôm nay chúng ta xét đến điều sau
cùng: Tà Kiến.
“Bát[1]
vô nhân quả, nghi ngộ chúng sanh, đọa nhập
thâm khanh” (Bài bác, cho rằng không có nhân quả, làm chúng
sanh nghi ngờ, lầm lạc, rớt vào hầm sâu). Chúng
ta phải chú tâm lănh hội mấy câu nói này của Ngẫu
Ích đại sư. Tà Kiến là ǵ? Trừ bốn loại
kiến giải sai lầm lớn đă nói trong phần trên,
tất cả hết thảy những kiến giải
lầm lạc đều gộp vào loại này; phạm vi
của loại này rất lớn, rất rộng. Nghiêm
trọng nhất trong mọi kiến giải lầm
lạc là không tin vào nhân quả báo ứng. Nhà Phật
thường nói: “Vạn pháp giai
không, nhân quả bất không” (Vạn pháp đều
không, nhân quả chẳng không).
Pháp thế gian và Phật pháp đều
được kiến lập trên cơ sở nhân quả,
đó là chân lư. Thiện có thiện báo, ác có ác báo, đó là
định luật tự nhiên, chắc chắn không có cách
nào thay đổi hay biến đổi định
luật tự nhiên. Các nhà khoa học hiện thời
rất thông minh, họ muốn biến đổi tự
nhiên, cũng đă làm được không ít chuyện. Nay
họ nghiên cứu cơ cấu của động vật
và thực vật, nhiều nhất là thực vật,
biến đổi để đạt được giống
tốt. Chúng ta thấy rất nhiều loại cây ăn
quả, đúng là qua sự cải thiện của sức
người, những loại ấy tăng trưởng
rất to, rất ưa nh́n. Chẳng hạn như các loài
táo, xoài, chúng ta thấy chúng đă được cải
thiện giống loại (cải biến gene), nhưng sau
khi cải thiện th́ sao? Trái nghịch nguyên tắc tự
nhiên, quả thật, nó tăng trưởng rất to,
rất ưa nh́n, nhưng phẩm vị trước kia
của giống ấy không c̣n nữa.
Bởi vậy, loại xoài rất lớn đă
được cải
biến gene, đem so với những
quả
thuộc loại thổ sanh thổ trưởng[2],
chưa từng cải biến gene, th́ loại sau không
được dễ coi bằng, nhỏ xíu, nhưng mùi
vị khác hẳn. Những thứ thực vật tùy
thuận tự nhiên quả thật bổ dưỡng, có lợi
đối với con người. Những thứ đă
biến đổi gene, con người ăn vào trọn
chẳng tốt lành ǵ, nhưng hiện tại con người
vẫn chưa biết. V́ sao mấy năm qua dường
như xuất hiện rất nhiều chứng bệnh
kỳ quái? Có người hỏi tôi, tôi bèn tùy thuận
lời cổ nhân nói để trả lời. Cổ nhân
dạy chúng ta: “Bệnh tùng
khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”. Chẳng
phải là do ăn những thứ đă được
biến đổi gene nên mới sanh ra rất nhiều thứ
bệnh chưa từng gặp hay chăng? Quư vị thay
đổi nguyên tắc tự nhiên, quy luật tự nhiên
sẽ đáp trả bằng những tai nạn dữ
dằn.
Nay ai nấy đều biết cây
cối rừng rậm đóng vai tṛ cân bằng sinh thái trên
địa cầu, tạo sự an toàn cho nhân loại, nó
ngăn ngừa lụt lội. Hiện tại con
người đă nhận biết: Chặt phá rừng
rậm bừa băi, phá hoại vành đai bảo vệ
đất nước, khi nước lũ tràn dâng sẽ
h́nh thành thủy tai. Trong quá khứ có thủy tai, nhưng
không dữ dội, không xảy ra nhiều như thế, mà
có thể chế ngự được một phần!
Như vậy, quư vị muốn biến đổi sinh thái
tự nhiên, muốn khống chế sinh thái tự nhiên, nhưng
thiên nhiên bèn phản ứng lại, quư vị chịu
đựng không nổi!
Do vậy, cổ thánh tiên
hiền, thánh nhân tại Trung Quốc lẫn ngoại
quốc dạy chúng ta phải tùy thuận tự nhiên. Tùy
thuận tự nhiên là khỏe nhất. Căn bản
nhất là thân thể của chúng ta từ lúc sanh ra khỏi
bụng mẹ vốn tự nhiên; con người hiện
tại cũng muốn thay đổi nó! Thường
thấy nhất là đi làm đẹp, đi sửa
sắc đẹp, không chịu tùy
thuận tự nhiên, cứ muốn thay đổi tự
nhiên. Chúng tôi biết rất nhiều trường hợp
sau khi sửa sắc đẹp bị những di chứng
không thể tưởng tượng nổi, mang lấy
rất nhiều đau khổ, rút ngắn tuổi thọ.
Đó là ǵ vậy? Đó là quư vị phải trả giá cho
việc phá hoại tự nhiên. Chán ghét tướng mạo,
thể chất của ḿnh không tốt đẹp th́ có
phương pháp để cải biến, dùng phương
pháp nào vậy? Vẫn là tùy thuận tự nhiên để
biến đổi, như vậy mới là chính xác!
Tướng mạo và thân thể của
chúng ta do cha mẹ mà có, cha mẹ ban cho chúng ta cái Duyên, tức
Tăng Thượng Duyên, c̣n Nhân là ǵ? Nhân là nghiệp
lực của chính ḿnh, [nghiệp lực gồm] Dẫn
Nghiệp và Măn Nghiệp. Quan trọng nhất là Măn
Nghiệp, tức là những nghiệp thiện hay ác đă
tạo trong đời quá khứ. Tạo nghiệp bất
thiện th́ tướng mạo không đẹp, thể
chất không tốt. Cải biến bằng cách nào? Phải
tùy thuận pháp tắc tự nhiên để thay đổi
mới là đúng; chẳng cần phải dùng đến
sức người, cứ tùy thuận tự nhiên. Nay chúng
ta đă hiểu đạo lư tự nhiên, pháp thế gian
lẫn xuất thế gian đều nói: “Tướng chuyển theo tâm”. Chúng ta muốn
được tướng hảo th́ phải chuyển
biến bằng cách nào? Tâm tốt lành. Tướng chuyển
theo tâm, tâm tốt, tướng bèn tốt. Tâm hồn
khỏe mạnh, thể chất khỏe mạnh, thân
thể khỏe mạnh theo. Đó là tùy thuận pháp tắc
tự nhiên để cải biến, rất hợp lư!
Đạo của thánh hiền
và đạo của Phật, Bồ Tát không có ǵ khác,
đều nhằm giúp chúng ta cải thiện hoàn cảnh
sống, cải thiện tướng mạo, cải
thiện thể chất. Cải thiện hoàn cảnh
sống quyết chẳng được dùng những hành
vi do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
của con người để thay đổi, phải
hoàn toàn tùy thuận quy luật và đạo lư tự nhiên.
Nhà Phật thường nói: “Phật
thị môn trung, hữu cầu tất ứng” (Trong cửa
nhà Phật, hữu cầu tất ứng). Cầu phú quư
được phú quư, cầu con cái được con cái,
cầu trường thọ được trường
thọ, cầu thành Phật bèn có thể được
thành Phật, cầu sanh lên trời bèn có thể
được lên trời, có cầu ắt ứng! Hoàn toàn
tùy thuận quy luật tự nhiên, theo thuật ngữ nhà
Phật th́ là “tùy thuận tánh
đức”. Tùy thuận tự tánh, tùy thuận pháp tánh
th́ mảy may hậu di chứng[3]
đều không có. Như vậy, chúng ta phải làm sao
chuyển Tà Kiến thành Chánh Kiến, đó là học
Phật.
Đức Phật đă
chuyển trọn năm thứ Kiến ấy, nên chúng ta
xưng tụng Ngài là bậc Chánh Tri Chánh Kiến; công phu
của A La Hán là Chánh Giác. Do vậy, trong sự giáo dục của
bậc đại thánh đại hiền thế gian hay
xuất thế gian, trước hết phải dạy
chúng ta nhận thức đạo lư nhân quả, phải
hiểu rơ sự thật chân tướng của nhân
quả báo ứng. Chúng ta mong cầu cái quả tốt th́
phải biết tu cái nhân tốt: Gieo thiện nhân, đạt
được thiện quả. Gây tạo ác nhân mà mong
cầu thiện quả là trái nghịch quy luật tự
nhiên, chắc chắn là sai lầm! “Nghi ngộ chúng sanh” (làm chúng sanh nghi ngờ,
lầm lạc). Đấy là thực tế. Trong xă hội
hiện tại, chúng ta thấy chúng sanh gây tạo chuyện
bất thiện, tai nạn hung hiểm xảy ra liên miên
không ngừng, ngày càng dữ dội hơn. “Đọa nhập thâm khanh” (Rớt xuống
hầm sâu): Chữ “hầm
sâu” chỉ quả báo trong tương lai, ví cho ba ác
đạo. Tiến vào ba ác đạo dễ, thoát ra
rất khó. Lại xem tiếp Phiền Năo Trược là món
trược thứ ba trong Ngũ Trược.
3) Phiền Năo Trược: “Ngũ Độn Sử tăng
thịnh, phi tức phàm tâm thị Phật tâm chi hạnh (vô
thủ, vô xả), tất bất năng độ” (Ngũ
Độn Sử tăng trưởng mạnh mẽ, không
dùng cái hạnh ‘phàm tâm tức là Phật tâm’ (không lấy,
không bỏ) ắt chẳng thể độ
được). Ở phần trên đă giải thích ư
nghĩa chữ Sử. Kiến Hoặc gọi là Lợi
Sử v́ chúng rất mạnh mẽ, nhạy bén, nhưng
dễ đoạn. Độn Sử rất mềm
mại, không ương ngạnh, mạnh mẽ, sắc bén
như thế, nhưng rất khó đoạn, nên mới nói
“dẫu ĺa ngó ư c̣n vương
tơ ḷng”, phiền năo mà! Phiền năo nhiễm ô. Năm
thứ Độn Sử này nếu nói theo ngôn ngữ
hiện thời là “cách suy nghĩ lầm lạc”, chúng được
gọi là Tư Hoặc. Năm thứ Lợi Sử ở
phần trên là cách nh́n lầm lạc, nh́n vũ trụ, cuộc
sống, hết thảy sự vật và con người
bằng cái nh́n lầm lạc; c̣n Ngũ Độn Sử
là suy nghĩ sai lầm, tư tưởng sai lầm
vậy.
Do kiến giải và tư tưởng của
quư vị lầm lạc, nên hành vi và ngôn ngữ của quư
vị đương nhiên cũng sai trái. Ngôn ngữ và hành
vi là tạo nghiệp (nghiệp gây tạo nơi thân và miệng),
tư tưởng lầm lạc là Ư nghiệp. Ư nghiệp
nhất định liên đới ngôn ngữ và hành vi; do
vậy, thân - ngữ - ư nghiệp của quư vị
đều tạo nghiệp, đều tạo tác bất
thiện, làm sao quư vị cảm được quả báo
tốt lành cho được! V́ thế, trong hoàn cảnh
ấy, chúng ta muốn giải thoát, muốn vượt
thoát sanh tử luân hồi, ở đây đại sư
dạy chúng ta: “Phi tức phàm tâm
thị Phật tâm chi hạnh” (Không dùng cái hạnh ‘phàm
tâm tức là Phật tâm’). Ư nghĩa rất rơ ràng: Phải
chuyển cái tâm phàm phu thành Phật tâm, Phật tâm tự
tại, Phật tâm không lấy - bỏ, không có
được - mất, Phật tâm tùy duyên, không phan duyên.
Nếu chúng ta học được như vậy th́ trong
một đời này cuộc sống sẽ thực sự
hạnh phúc, thực sự mỹ măn.
Trong năm điều (Ngũ
Độn Sử) thuộc Phiền Năo Trược, thứ
nhất là Tham, tức là xan tham (keo kiệt, tham lam). “Bất năng khán phá, bất liễu
nhất thiết hữu vi pháp như mộng, huyễn, bào,
ảnh” (Chẳng thể thấy thấu suốt,
chẳng hiểu rơ hết thảy pháp như mộng,
huyễn, bọt, bóng). Tham là gốc bệnh của lục
đạo chúng sanh trong chín pháp giới. Lục đạo
chúng sanh tham đắm danh văn, lợi dưỡng, tham
tài, sắc, ăn uống, danh vọng, ngủ nghỉ,
ngũ dục, lục trần, họ tham những thứ ấy.
Trong bốn pháp giới cũng có tham, họ tham những
ǵ? Tham Phật pháp. Nghĩa là họ đă phá
được Ngă Chấp, nhưng vẫn c̣n Pháp Chấp;
Pháp Chấp là chấp trước nơi pháp. Như vậy
là chưa liễu giải chân tướng sự thật
của vũ trụ vạn hữu. Nếu thực sự
thông đạt hiểu rơ chân tướng của vũ
trụ vạn hữu, xan tham bèn đoạn, không c̣n
nữa! Kinh Hoa Nghiêm giảng chân tướng của vũ
trụ vạn hữu rất thấu triệt, rất rơ
ràng. Đọc kỹ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta sẽ dần
dần hiểu rơ những sự việc này.
Hai câu tiếp theo, chúng tôi trích dẫn kinh Kim Cang: “Nhất
thiết
hữu vi pháp, như mộng,
huyễn, bào, ảnh” (Hết
thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng).
Kinh Kim Cang nói như vậy. Giảng hai câu này cho thật
thỏa đáng th́ không những chẳng dễ, mà c̣n
phải giải thích hết sức tỉ mỉ. Ở
đây, chúng tôi chỉ nói đơn giản thế này: Pháp
hữu vi là ǵ? Nói đơn giản nhất, đó là
những pháp có sanh có diệt. Có sanh có diệt th́ gọi là
pháp hữu vi; bất sanh bất diệt th́ gọi là pháp vô
vi. Trong thế giới theo cảm nhận của chúng ta,
quư vị nghĩ xem có thứ ǵ không sanh diệt?
Động vật có sanh - lăo - bệnh - tử, thực
vật có sanh - trụ - dị - diệt, khoáng vật (chúng
ta nói tới tinh cầu) có thành - trụ - hoại - không. Nói
chung, trong cảnh giới được tiếp xúc
bởi lục căn, không có thứ ǵ chẳng phải là
pháp sanh diệt.
Hữu sanh hữu diệt th́ gọi là
pháp hữu vi. Trong thế giới theo cảm quan của
chúng ta, chỉ có một thứ chúng ta thấy rất rơ
chẳng hiện tướng sanh diệt là hư không. Ngàn
vạn năm trước hư không vẫn như vậy,
ngàn vạn năm sau có lẽ cũng vẫn vậy. E
rằng chỉ có ḿnh hư không bất biến, ngoài hư
không ra, không có ǵ bất biến cả. Những hiện
tượng trong hư không cũng thiên biến vạn hóa,
cũng là pháp sanh diệt! Chúng ta phải nhận biết rơ
ràng, đức Phật dạy: Những pháp ấy
giống như mộng, huyễn, bọt, bóng, biến hóa không
ngừng trong từng sát-na.
Cái ǵ thực sự bất
biến? Năng Biến thực sự bất biến,
phải biết hết thảy pháp hữu vi là cái
được biến hóa (Sở Biến). Năng Biến
là ǵ vậy? Kinh Hoa Nghiêm dạy Năng Biến (chủ thể
có công năng biến hóa) chính là tâm tánh. “
Do vậy, nếu quư vị có một công
phu định lực kha khá sẽ chuyển
được Kiến Trược. [Muốn đoạn]
Phiền Năo Trược nhất định phải mở
mang trí huệ, tức là “chuyển
phiền năo thành Bồ Đề” mới ḥng
đoạn sạch. Do vậy, đoạn Tư Hoặc
khó hơn đoạn Kiến Hoặc!
Kinh Hoa Nghiêm có một bài kệ
như sau:
Pháp
tánh biến tại nhất thiết xứ,
Nhất
thiết chúng sanh cập quốc độ,
Tam
thế tất tại vô hữu dư,
Diệc
vô h́nh tướng nhi khả đắc.
(Pháp tánh trọn khắp tất cả
chỗ,
Hết thảy chúng sanh và cơi
nước,
Ba đời thảy
đều không c̣n sót.
Cũng không h́nh tướng
để ḥng được!)
Bài kệ này chúng tôi đă
giảng qua rồi. Nếu chúng ta thực sự biết rơ
hết thảy các pháp là nhất niệm tự tánh,
biết hết thảy chúng sanh đều là bạn lành
đời trước, có cùng một Phật Tánh th́
gọi là “nhập Phật tri
kiến”. Đó gọi là “minh
tâm kiến tánh”, đó là “kiến
tánh thành Phật”; phiền năo, tập khí lẫn căn
cội của nó đều bị chuyển biến. V́
vậy, tu hành là tu điều ǵ? Tôi phải nói thông tục
cho mọi người thật dễ hiểu, quư vị
sẽ hiểu rất dễ dàng: Tu để sửa
đổi nghèo khó thành phú quư, tu để sửa
đổi ngu si thành thông minh, trí huệ; tu để
sửa đổi bệnh khổ thành mạnh khỏe,
trường thọ. Quư vị hiểu điều này
chớ? Đúng vậy, nguyên do quả thật là như
vậy, quư vị phải thực sự hiểu rơ. Cái
học vấn này quư vị có cần học hay không? Có
muốn thực hiện phương pháp này hay không? Nếu
quư vị làm được, sẽ có đại lợi
ích.
Chúng ta muốn được
giàu có, muốn được vô lượng vô biên của
cải giống như chư Phật, Bồ Tát th́ có
được hay không? Phật, Bồ Tát trả lời
khẳng định: “Quư vị vốn đă có sẵn!
Của cải vô lượng vô biên trọn khắp hư
không pháp giới”. V́ sao nay lại biến thành bần cùng
như vậy? Là do quư vị đánh mất tự tánh “có
thể hiện, có thể biến”, cho nên mới biến
thành đáng thương như vậy. Chư Phật và
Pháp Thân Bồ Tát thấy quư vị rất giàu có, gia tài
vạn ức! Nay quư vị bần cùng như kẻ ăn
mày, thật đáng thương! Câu nói “thật đáng thương” ư vị rất sâu! Quư
vị chẳng thực sự lâm vào cảnh bần cùng
đến mức như thế. Nếu quư vị thực
sự lâm vào hoàn cảnh bần cùng như vậy, Phật,
Bồ Tát sẽ chẳng thể thốt ra câu ấy. Quư
vị gia tài vạn ức, nay phải ôm bát đi xin
cơm, há chẳng phải là kẻ đáng thương,
hồ đồ đến mức ấy hay sao? Vạn
ức gia tài ở đâu vậy? Ở nơi tánh
đức, tự tánh.
Trong kinh Đại Thừa,
đức Phật thường giảng tự tánh có vô
lượng trí huệ, trí huệ rốt ráo viên măn,
đức năng rốt ráo viên măn, tướng hảo
rốt ráo viên măn, không khác ǵ chư Phật, Bồ Tát! Kinh
Tịnh Độ nói đến A Di Đà Phật, kinh Hoa
Nghiêm nói đến Tỳ Lô Giá Na Như Lai, hết thảy
chúng sanh hoàn toàn giống hệt các Ngài, không sai khác tí ti nào!
Hoàn cảnh sanh sống, nhà cửa của chúng ta là ở
đâu? Trong Hoa Tạng, trong Cực Lạc. Hoa Tạng,
Cực Lạc chính là nhà của chúng ta. Nay chúng ta cũng
chẳng ĺa khỏi nhà, chỉ là do mê nên không biết cái nhà
của chính ḿnh, không biết chính ḿnh giàu có, cho nên mới
khởi tham - sân - si - mạn.
Do mê muội, chúng ta mới mong cuộc
sống giàu có, dư dật một chút, sống hạnh
phúc một chút, nhưng nay chúng ta không có cách ǵ minh tâm
kiến tánh, chưa giác ngộ, th́ phải làm cách nào
đây? Đức Phật dạy chúng ta “hành”! Quư vị
phải khéo tu, Tu Đức tương ứng với Tánh Đức
th́ điều mong cầu sẽ hiện tiền. Ta
muốn cầu giàu có th́ cái nhân của giàu có là phải
biết bỏ ra của cải. Quư vị phải nhớ
kỹ nguyên tắc chung ấy. “Bỏ,
được”, danh từ ấy chính là lời Phật
dạy. Mọi người trong thế gian cũng
đều nói: “Anh có bỏ ra được không?” Thật
ra, Bỏ chính là nhân, Được là quả. Xả tài
đắc tài, xả phước đắc phước.
Xả chính là bố thí.
Nếu chúng ta muốn giàu có, hăy tu Tài Bố
Thí. Muốn được thông minh, trí huệ, hăy tu Pháp Bố
Thí. Muốn được mạnh khỏe, trường
thọ, hăy tu Vô Úy Bố Thí. Vô Úy Bố Thí là cứu khổ,
cứu nạn, thấy hết thảy chúng sanh khổ
nạn, ta toàn tâm, toàn lực giúp đỡ. Làm như
vậy th́ quả báo là mạnh khỏe, trường
thọ. Những ǵ đức Phật dạy trong kinh
điển, nếu chúng ta có thể lănh hội, thấu hiểu,
có thể áp dụng vào những hành vi trong cuộc sống,
thường ghi nhớ những lời giáo huấn ấy
của đức Phật, niệm niệm không quên, hễ
gặp cơ hội bèn nghiêm túc nỗ lực thực
hiện. Tài phải tán, tán ắt có tụ, tụ rồi
lại phải tán. Tụ, tán vĩnh viễn tuần hoàn, vĩnh
viễn chuyển biến. Càng tụ nhiều, lại càng
tán nhiều, vĩnh viễn không dứt như thế,
tương ứng với Tánh Đức, Tánh Đức
sẵn có trong tự tánh sẽ hiện tiền. Đạo
lư là như vậy.
Điều thứ hai trong Phiền Năo
Trược là sân khuể. “Bất
năng nhẫn nhục, bất liễu nhất niệm sân
tâm khởi, hỏa thiêu công đức lâm” (Không thể
nhẫn nhục, không hiểu một niệm sân tâm dấy lên
sẽ đốt trụi rừng công đức). Trong kinh
luận Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa,
đức Phật thường dạy chúng ta: Tham - Sân - Si
gọi là ba độc phiền năo. Lúc tôi giảng kinh
cũng thường nói: Ba thứ này là virus nghiêm trọng
nhất, bên trong có tam độc th́ virus bên ngoài mới
cảm nhiễm được. Nếu bên trong không có tam
độc, dẫu virus bên ngoài nghiêm trọng đến
đâu cũng không thể cảm nhiễm. Phải hiểu
đạo lư này! Đó là chân tướng sự thật. Đức
Phật lại dạy chúng ta: Xan tham (keo kiệt, tham lam) là
nghiệp nhân của ngạ quỷ đạo, xan tham
đọa ngạ quỷ, sân khuể đọa
địa ngục, ngu si đọa súc sanh. Ba hạnh
nghiệp này là nghiệp nhân căn bản của ba ác
đạo. Cũng có thể nói: Ba ác đạo có rất nhiều
điều kiện, nhưng điều kiện hàng
đầu, điều kiện quan trọng nhất chính là
ba thứ này. Nếu chúng ta dẹp trừ được
ba thứ độc trong tâm này, chắc chắn không
đọa tam đồ.
Sân khuể nặng nề nhất,
cổ nhân Trung Quốc thường nói: “Tiểu bất nhẫn, tắc loạn đại
mưu” (không nhẫn được chuyện nhỏ,
ắt hư chuyện lớn). Sự việc thế gian
hay xuất thế gian, chuyện lớn phải nhẫn
nại lớn, chuyện nhỏ phải nhẫn nại
nhỏ. Người nào không thể nhẫn được,
sẽ chẳng thể thành tựu pháp thế gian hay
xuất thế gian nào cả! Chúng ta hăy lắng ḷng quan sát
những nhân vật quanh ta, ai có ḷng nhẫn nại rất
lớn, có thể nhẫn nhục, người ấy
sẽ có thành tựu lớn lao. Ai cái ǵ cũng không thể nhẫn
được, chúng ta biết kẻ đó chẳng thể
thành tựu pháp thế gian hay xuất thế gian nào. V́ sao? Kẻ
ấy không có tâm nhẫn nại! Ta thường nói là “không
chịu đựng nổi khảo nghiệm, rất khó
thành tựu!” Trong kinh Kim Cang, đức Phật đă
dạy một câu: “Nhất thiết
pháp đắc thành ư Nhẫn” (Hết thảy pháp
thành tựu bởi Nhẫn). Chúng ta muốn hoàn thành công việc
th́ phải dùng người, dùng người rất
trọng yếu! Dùng người mà muốn quan sát xem có
thể trọng dụng kẻ đó được hay không
th́ hăy nh́n vào ba chữ tham - sân - si. Nếu người
ấy không tham, không sân, không si, người ấy đáng
trọng dụng. Nếu người ấy xan tham không
đoạn, tâm sân khuể rất nặng, chẳng thể
nhẫn nhục, chẳng thể trọng dụng con
người như vậy được! Nếu trọng
dụng, nhất định sẽ làm hỏng việc, làm
lỡ việc. Biết người, khéo dùng người,
đó là đại học vấn đấy!
Không thể nhẫn nhục là v́ không
hiểu rơ lời đức Phật đă dạy: “Nhất niệm sân tâm khởi, hỏa
thiêu công đức lâm” (Một niệm sân tâm khởi,
đốt trụi rừng công đức). Do v́ công
đức chẳng dễ tu, chúng tôi thường nêu lên câu
nói này rất nhiều lần. Trong mười mấy
năm qua, trên giảng đài tôi thường cảnh
tỉnh các đồng học: Nhất định không
được sân khuể! Có sân khuể th́ người khác
bị tổn hại rất ít, chính ḿnh bị thiệt
hại quá lớn. V́ sao? Khiến cho toàn bộ công
đức chính ḿnh đă tu bị hủy hoại sạch.
Kinh Phật tỷ dụ: Công đức của quư vị đă
tu giống như chính quư vị trồng một cánh rừng.
Quư vị thấy đó: Nếu muốn gầy dựng
một khu rừng, phải dùng bao nhiêu tâm huyết, tốn
bao nhiêu thời gian vun quén cho mầm cây lớn trở thành
cây to. Một cuộc đất trở thành rừng
rậm há dễ dàng ư? Nhưng chỉ cần một
mồi lửa đủ để thiêu trụi toàn bộ
cánh rừng ấy!
Những chuyện như vậy nay chúng
ta thường nghe tin tức ở địa phương
này nọ lửa lớn cháy núi, rừng rậm cả
trăm ngàn năm bị lửa đốt sạch. Đức
Phật dùng chuyện này làm tỷ dụ, chúng ta tu công
đức không dễ dàng, vừa nổi máu nóng, công
đức mất sạch. Công đức là ǵ? Công
đức là Giới - Định - Huệ. Do Giới
đắc Định, do Định khai Huệ. Giới -
Định - Huệ là công đức. Vừa nổi nóng, Giới
- Định - Huệ đều không c̣n nữa, mất
sạch. Người tu hành sợ nhất là nóng giận,
công phu cũng rèn luyện ở chỗ này: Thuận
cảnh chẳng khởi tham luyến, nghịch cảnh
chẳng khởi sân khuể. Thuận cảnh hay nghịch
cảnh, thiện duyên hay ác duyên đều có thể giữ
được cái tâm b́nh thường th́ người
ấy công đức thành tựu.
Kinh Duy Ma nói: “B́nh
thường tâm thị đạo” (Tâm b́nh thường
là đạo), không phải là tiểu đạo mà là
đại đạo! Chúng tôi gọi đó là “tâm thanh
tịnh, b́nh đẳng”. Quư vị hăy nghĩ xem: “Chân thành, thanh tịnh, b́nh
đẳng, chánh giác, từ bi”. “Tham - sân - si - mạn - nghi” năm
chữ ấy phạm phải một chữ nào th́ chân
thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi
đều không c̣n; một chữ cũng không
được phạm! Chúng tôi thường gọi năm
điều ấy là chân tâm, là đại Bồ Đề
tâm, phải thường ǵn giữ! Ta niệm niệm
đều là chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh
giác, từ bi, quyết định tương ứng
với chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác,
từ bi, đó là chân tâm của ta. Nay ta mê mất chân tâm,
nay muốn khôi phục chân tâm của chính ḿnh, muốn khôi
phục th́ phải niệm đâu nghĩ đấy,
niệm niệm không quên, niệm niệm không rời.
Bất luận trong cảnh giới nào cũng có thể
giữ được chân tâm, giữ được
sự chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác,
từ bi, luôn đề cao cảnh giác.
Người mới vừa học
Phật, vừa mới dụng công, nói chung thời gian giác
ít, thời gian mê nhiều. Cổ nhân nói rất hay: “Bất
phạ niệm khởi, chỉ phạ giác tŕ” (Chẳng sợ niệm khởi, chỉ
sợ biết chậm). Niệm là mê! Không sợ mê
nổi lên, chỉ sợ giác (nhận biết) quá chậm!
Chẳng hạn như khi ta gặp phải thuận
cảnh thiện duyên, trong tâm vừa hoan hỷ bèn lập tức
giác ngộ: Hoan hỷ th́ được, nhưng không
thể tham luyến! Biết “nhất
thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh”
(hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn,
bọt, bóng), niệm câu ấy mấy lượt. Kinh Kim
Cang c̣n có câu “phàm sở hữu
tướng, giai thị hư vọng” (phàm những ǵ
có h́nh tướng đều là hư vọng), niệm
mấy câu ấy tâm bèn b́nh, hoan hỷ th́ được,
chẳng được tham luyến. Gặp phải
nghịch cảnh, ác duyên, tâm sân khuể sanh khởi,
cũng phải ngay lập tức niệm: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư
vọng”. Tâm b́nh khí ḥa th́ quư vị mới giữ ǵn
được cái tâm chân thành, thanh tịnh, b́nh
đẳng, chánh giác, từ bi, mới ḥng ǵn giữ
được! Giữ ǵn được th́ sẽ là
Phật, Bồ Tát. Không thể giữ ǵn, để
tham
- sân - si - mạn - nghi sanh khởi trong tâm th́ là phàm phu.
Tham - sân - si - mạn - nghi là căn
bản của lục đạo; lục đạo luân
hồi do đâu mà có? Do những thứ này biến
hiện, tức là tham - sân - si - mạn - nghi biến
hiện lục đạo luân hồi. Nếu chuyển
được tham - sân - si - mạn - nghi, chuyển thành
chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi th́
lục đạo không c̣n nữa, quư vị đă vượt
thoát lục đạo. Không những vượt thoát lục
đạo mà c̣n vượt thoát mười pháp giới,
đi về đâu? Đi về thế giới Cực
Lạc, đến thế giới Hoa Tạng, đến
Nhất Chân pháp giới rồi!
Quư vị phải hiểu: Công
đức của chính ḿnh tu học được,
bất cứ ai cũng không thể phá hoại, vậy th́ ai
có thể phá hoại? Chính quư vị tự phá hoại! Do
vậy, ma vương, ngoại đạo trông thấy quư
vị tu công tích đức, chúng phá hoại quư vị bằng
cách nào? Biến hiện đủ mọi cảnh giới
để dụ hoặc khiến quư vị khởi tâm tham,
khởi tâm sân khuể, khác nào chúng nó ở bên cạnh nh́n
quư vị nổi nóng: “Tốt lắm! Cháy nhanh lắm! Công
đức của nhà ngươi cháy sạch hết
rồi!” Quư vị bị mắc lỡm, tự ḿnh
đốt ḿnh, chứ chúng nó không có cách ǵ cả! Như
vậy, đối với thuận cảnh, nghịch
cảnh, thiện duyên, ác duyên, chúng ta phải có trí huệ
để đối đăi bằng lư trí, nhất
định không được xử sự theo cảm
t́nh, hành động theo cảm t́nh là bị mắc lừa rất
nặng.
Tham - sân - si là nhân, tam đồ là
quả báo. Quư vị tạo cái nhân ấy th́ tương lai
sẽ đọa tam ác đạo, nhất định
chẳng được mắc lừa. Trong kinh giáo,
đức Phật dạy chúng ta: Mấu chốt là chính
ḿnh phải biết chuyển biến. Kinh Lăng Nghiêm
dạy rất hay: “Nhược
năng chuyển vật, tắc đồng Như Lai” (nếu
có thể chuyển được vật th́ giống
như Như Lai). Lời này để nói với ai vậy?
Nói với Pháp Thân đại sĩ. Pháp Thân Bồ Tát
hiểu rơ, chứ lục đạo chúng sanh không hiểu.
V́ thế, Pháp Thân Bồ Tát có thể chuyển
được cảnh giới, chuyển bất thiện
thành thiện, chuyển nhiễm ô thành thanh tịnh,
đều tương ứng với Tánh Đức, hay
vậy đó! Chúng ta học được bản lănh
ấy, sẽ không sanh sân khuể nữa!
Việc này rất khó, nhất là oan gia
đối đầu, kẻ đó thường hủy
báng ḿnh, lăng nhục ḿnh, phá hoại ḿnh, ta trông thấy
kẻ ấy, nghe đến tên kẻ ấy, bèn nổi
nóng, chúng ta thường nói đó là “chuyện thường
t́nh của con người”. Thế nhưng Phật, Bồ
Tát khác với chúng ta; Phật, Bồ Tát trông thấy kẻ
khác bày đủ mọi cách, nhưng nghe đến danh
hiệu của họ hoặc nghe lời họ hủy
báng, các Ngài chẳng những không nổi nóng, lại c̣n sanh
tâm cảm kích. Do v́ nguyên cớ nào? Cớ sao lại sanh tâm
cảm kích? Kẻ ấy có tốt ǵ với ḿnh đâu
cơ chứ? Phật, Bồ Tát bảo: “Kẻ ấy tiêu
nghiệp chướng thay cho ta! Mỗi một chúng sanh
chúng ta trong vô lượng kiếp đă luân hồi sanh
tử trong lục đạo, tạo không biết bao nhiêu
tội nghiệp. Người ấy tiêu nghiệp
chướng cho ta, ta cung cung kính kính cảm kích
người ấy, không nẩy sanh chút tâm sân khuể nào”.
Đó là ǵ? Phải là bậc giác ngộ, bậc minh
bạch mới có thể làm như vậy được;
c̣n người mê hoặc, người không giác ngộ sẽ
không thể làm nổi. Do vậy, thuận cảnh,
nghịch cảnh, thuận duyên, nghịch duyên đều
là thiện tri thức, đều giúp chúng ta tiêu nghiệp
chướng, giúp chúng ta thành Phật đạo. A! Nay
đă hết giờ rồi!
*
Chúng ta xem tiếp điều thứ ba
trong Phiền Năo Trược là Si: “Bất năng minh giác” (chẳng thể minh giác), “minh”
là minh bạch, “giác” là giác
ngộ. “Bất liễu chư
hành vô thường, tất cánh không tịch” (chẳng
hiểu các hành vô thường, rốt ráo không tịch). “Si” là ngu si, nói thông thường
là không có năng lực hiểu rơ vũ trụ vạn
hữu là chân hay giả. Thế nào là chân? Thế nào là
giả? Thế nào là tà? Thế nào là chánh? Thế nào là
đúng? Thế nào là sai? Thế nào là thiện? Thế nào là
ác? Thế nào là lợi? Thế nào là hại? Chẳng
thể phân biệt, chẳng thể hiểu rơ, đó là ngu
si. Ngu si tạo thành tổn hại rất nặng nề.
V́ sao? V́ luôn luôn sai lầm, coi giả là thật,
tưởng thật là giả.
Chúng tôi nêu một thí dụ rơ ràng
nhất: Giáo huấn của cổ thánh tiên hiền là
thật, là chánh, là lành, là lợi; kẻ ấy hiểu
lầm, cho giáo huấn của cổ thánh tiên hiền là
giả, nhằm phục vụ đế vương chuyên
chế thuở xưa kia, là lừa dối chúng sanh,
chẳng tốt lành ǵ cho hiện tại, không có lợi ích
ǵ, cho nên phủ định, vứt bỏ, [thái độ
và cách nghĩ ấy] tạo thành tai nạn trọng
đại cho xă hội ngày nay, nhưng họ không biết
căn nguyên tai nạn là đâu? Quy kết về cội
nguồn th́ chính là Si, không có trí huệ thực sự! Làm
sao để có thể chuyển ngu si thành trí huệ? Chuyển
được là Phật, Bồ Tát, không chuyển
được th́ là phàm phu! Si là căn bản của
hết thảy ác nghiệp, v́ thế, đức Phật
gọi tham - sân - si là ba độc phiền năo, ba thứ
ấy chính là đại căn bản của hết
thảy sự bất thiện. Chuyển được ba
thứ ấy thành ba thiện căn “không tham, không sân, không
si”; đức Phật dạy hết thảy thiện pháp
thế gian đều do ba thiện căn “không tham, không sân,
không si” sanh ra.
Chúng ta học Phật không thể vượt
thoát thế gian th́ tối thiểu phải biết tu ba
thiện căn. V́ sao? Trong lục đạo, nhất
định chẳng đọa trong tam ác đạo!
Người thường tu ba thiện căn nhất
định sanh vào thiên đạo, bởi lẽ, nhân gian
không có phước báo lớn lao như thế, phải lên
trời hưởng phước. Nếu đem
phước báo ấy hồi hướng Bồ
Đề, hồi hướng chúng sanh, hồi
hướng cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, sẽ
chắc chắn được văng sanh, v́ sao? Kẻ ấy
là thiện nhân, Tây Phương Cực Lạc thế
giới là nơi các thượng thiện nhân cùng nhóm
họp, người ấy tâm lành, tư duy lành, hành vi lành,
nhất định được sanh. Ở đây, câu nói
sau đây của Ngẫu Ích đại sư có ư nghĩa
rất sâu xa: “Bất liễu
chư hành vô thường, tất cánh không tịch” (Chẳng
hiểu các hành vô thường, rốt ráo không tịch). Nói
cách khác, người ấy thực sự hiểu rơ: “Vạn pháp giai không, nhân quả bất
không” (Vạn pháp đều không, nhân quả chẳng
không). Tư tưởng của người ấy là trí
huệ, kiến giải là trí huệ, ngôn hạnh là trí
huệ, tất nhiên phát sanh trí huệ, trước hết
là không tham, nhất định không si, đó là điều
khẳng định!
Loại phiền năo lớn thứ tư
là Mạn. Mạn (慢) là ngạo mạn.
Quư vị phải nhớ kỹ: Mạn là phiền năo
căn bản, là phiền năo rất nghiêm trọng,
quyết định chẳng được coi
thường, chẳng thể bỏ qua, nó là chướng
ngại nghiêm trọng trong việc tu hành chứng quả. Quư
vị hăy suy nghĩ v́ sao trong Phật pháp phải hằng
ngày tu hành lễ kính; nguyện đầu tiên trong
mười đại nguyện vương là “lễ kính chư Phật”? Chúng
ta vào Phật đường, v́ sao trước hết
phải đối trước h́nh tượng Phật,
Bồ Tát lễ ba lạy? Làm như vậy để làm
ǵ? Nhằm tu đoạn trừ ngạo mạn. Dùng
đảnh đầu của chúng ta lễ dưới hai
chân Phật nhằm chiết phục sự ngạo mạn
của chính ḿnh. Sự giáo học ấy rất tiếc ít
người hiểu được ư nghĩa thực
sự, chỉ cung kính Phật, chứ không cung kính
người, đối với hết thảy vạn
vật lại càng không biết cung kính, như vậy là ǵ?
Là không biết lễ Phật!
Cổ nhân có tỷ dụ sau đây:
Người không biết tu lễ Phật, ngày ngày lễ
Phật như cái chày giă gạo thời cổ, quả thật
giống như cái chày cứ nhấc lên, đập
xuống, không có mảy may ư nghĩa ǵ cả! Phật pháp
đúng là từng giọt, từng điểm, từng
phía, từng mặt đều là giáo học, là giáo dục!
Dạy quư vị đối với Phật hết sức
cung kính như thế th́ ứng dụng trong cuộc sống,
trong xử sự, đăi người, tiếp vật,
đối với hết thảy người, hết
thảy sự, hết thảy vật, chúng ta phải cung
kính và lễ kính giống hệt như đối với chư
Phật Như Lai, có ư nghĩa như thế ấy! Nhằm
nhổ trừ tận gốc phiền năo ngạo mạn (ngạo
mạn là phiền năo căn bản), thực sự học
được một môn công khóa này th́ sẽ thực
sự đắc lực. Ngày nào đó, đối với
hết thảy người, hết thảy vật,
hết thảy sự, quư vị đều có thể khiêm
hư, đều nhún nhường th́ đă tốt
nghiệp công khóa ấy. Quư vị thấy Thích Ca Như Lai,
những vị đại Bồ Tát, các vị Pháp Thân
Bồ Tát, có vị nào c̣n tập khí ngạo mạn hay chăng?
Có vị nào tự cho ḿnh là đúng hay chăng? Không hề
có!
Qua kinh điển, chúng ta thấy Thích Ca
Mâu Ni Phật đối với kẻ bần cùng, già
bệnh, ăn xin, Ngài đều lễ kính, đều tôn
trọng, đều quan hoài, đều chiếu cố,
không hề có mảy may thái độ khinh mạn. Thấy
như vậy xong, lại nghĩ chúng ta thường ngày
xử sự, đăi người, tiếp vật, [hễ thấy]
tự ḿnh có tí tẹo hay ho ǵ bèn học theo quan niệm
lầm lạc của người thế gian, “cảm thấy rất đáng
kiêu ngạo”. Đó là quan niệm của lục
đạo. Quan niệm của những kẻ nào trong
lục đạo? Quan niệm của yêu ma quỷ quái, chứ
bậc thánh hiền, quân tử trong lục đạo không
hề có quan niệm ấy, các vị biết khiêm hư,
biết tôn kính người khác. Ngạo mạn, không
để ai vào mắt, coi thường người khác,
tự cho ḿnh là đúng, đấy là ma đạo, chứ
nào phải Phật đạo hay Bồ Tát đạo! Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát không có quan niệm ấy, ma th́
có, yêu ma quỷ quái tự cho ḿnh là đúng. Bởi vậy, chính
ḿnh phải thường tự quán sát ta đang đi theo
con đường nào? Nếu trong tâm ḿnh có năm thứ
kiến giải lầm lạc, năm thứ tư
tưởng sai lầm th́ chúng ta đang đi trên con
đường luân hồi, chứ không phải là Phật
đạo, không phải là Bồ Tát đạo! Ngay cả
trong Thanh Văn đạo cũng đă đoạn
những quan niệm ấy.
Đoạn được năm
thứ kiến giải lầm lạc trước (tức
Ngũ Lợi Sử) bèn chứng quả Tu Đà Hoàn;
đoạn được năm thứ phiền năo sau (tức
Ngũ Độn Sử) th́ chứng quả A La Hán, năm
điều ấy là tư tưởng sai lầm. Do
vậy, biết rằng: Phải sửa đổi
kiến giải, tư tưởng sao cho không c̣n lầm
lạc. Không c̣n lầm lạc nữa th́ sẽ vượt
thoát lục đạo. Đối với quư vị, những
chiều không gian khác nhau trong lục đạo không c̣n
nữa v́ quư vị đă vượt thoát rồi. Do
vậy, chúng ta phải thường xuyên phản tỉnh,
phải quán chiếu xem bản thân ḿnh có những kiến
giải lầm lạc, có những tư tưởng
lầm lạc như vậy hay không? Nếu vẫn c̣n, dù hằng
ngày niệm Phật cũng chẳng thể văng sanh!
V́ sao? Tuy nói văng sanh là đới
nghiệp văng sanh, nhưng cổ đức thường
nói: “Mang theo nghiệp cũ, chẳng
tạo nghiệp mới”, nay chúng ta vẫn có những
thứ đó, sẽ không đới nghiệp
được, sẽ chẳng thể văng sanh. Trong quá
khứ có th́ được, mang đi theo được!
Cổ nhân thường khuyến khích chúng ta: “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ,
chớ lại tạo họa mới”. Đó là ư
nghiệp! Trong tâm khởi lên cách nh́n sai lầm, cách nghĩ
sai lạc, đó là ư nghiệp, ư tạo nghiệp đấy!
Trong thân - khẩu - ư nghiệp, ư nghiệp nghiêm trọng
nhất, sức nó mạnh mẽ nhất, chúng ta chẳng
thể không biết, chẳng thể không hạ công phu
nơi đó.
Con trai Thích Ca Mâu Ni Phật là tôn giả
La Hầu La xuất gia từ nhỏ. Trong Tăng đoàn,
có lẽ Ngài là tiểu sa-di nhỏ tuổi nhất. Mọi
người thấy Ngài hằng ngày chơi đùa bên ngoài, đức
Phật biết Ngài tu mật hạnh. Gọi là “mật hạnh” v́
người ta không thấy Ngài biểu hiện ra ngoài,
dụng công trong tâm. Chúng ta học Đại Thừa,
nhất là học Tịnh Độ, học Hoa Nghiêm, hằng
ngày nói Phật tánh b́nh đẳng, hết thảy chúng sanh
đều có Phật tánh, Phật tánh b́nh đẳng. Do
vậy, đối với bất cứ chúng sanh nào (“chúng
sanh” nói ở đây là hữu t́nh chúng sanh, nay chúng ta gọi
là “động vật”) phải tôn trọng, phải quan
hoài, phải hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, chẳng
thể đối xử bằng ác niệm, chẳng
thể dùng hành vi ác để đối đăi, nhất
định phải biết đối xử ḥa thuận.
Sự ḥa thuận phát xuất từ
nội tâm, ḥa là tánh đức, tự tánh vốn là ḥa
mục, v́ sao không ḥa? Là v́ quư vị nhiễm phiền năo
tập khí, nhiễm trước tự tư tự lợi
nghiêm trọng, ngộ nhận người khác gây tổn
hại đến quyền lợi của chính ḿnh, ta cùng
người bất ḥa, hiểu lầm hết sức nghiêm
trọng. Phải biết tánh đức là b́nh đẳng,
ai có thể tổn hại lợi ích của quư vị? Không
hề, không có ai cả! Ai tổn hại lợi ích của
ḿnh? Bản thân ḿnh có quan niệm sai lầm, tư
tưởng sai lầm, nên lợi ích của chính ḿnh bị
tổn hại, chứ bên ngoài quả thật không có.
Nếu nghĩ người khác làm tổn hại ḿnh th́ quư
vị đúng là kẻ oan uổng. Chính quư vị tạo
tội nghiệp nghiêm trọng, tự chướng
ngại lợi ích của chính ḿnh. Đạo lư này rất
sâu, người hiện tại thực sự không có nhiều
người biết đến. Trước kia,
người biết lư này không ít, bậc hiền thánh
dạy, người già cả dạy, cha mẹ dạy,
thầy dạy, có người chỉ dạy ḿnh, nay không có
ai dạy cả!
Trong ṿng vũ trụ, mọi thứ tác
động lẫn nhau, nhất định không có ngoại
duyên có thể gây chướng ngại, nhất định
phải hiểu đạo lư này! Hễ nghĩ
người bên ngoài có thể chướng ngại ḿnh th́ chắc
chắn là cách nghĩ, cách nh́n lầm lạc. Nếu
người ngoài có thể chướng ngại ḿnh th́
đương nhiên người ngoài cũng có thể thành
tựu ḿnh. A! Phật, Bồ Tát là người ngoài,
Phật, Bồ Tát đại từ, đại bi, ắt
các Ngài thành tựu ḿnh, ḿnh đâu cần phải tu hành nữa!
Nếu Phật không đến giúp ta th́ Ngài không từ bi, đă
trái nghịch bổn nguyện. Muốn liễu giải chân
tướng sự thật th́ hăy nh́n vào hội Lăng
Nghiêm: A Nan là em họ của Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong tám
người anh em họ của Ngài, Thích Ca Mâu Ni Phật là
người lớn nhất, tức đại ca, A Nan là em
nhỏ nhất, đức Phật cũng yêu mến A Nan
nhất. A
thể
làm thay được!
Như vậy, trong đời này,
nếu quư vị nói người khác hại ḿnh, không có
chuyện đó đâu. Người mê ắt cũng gật
đầu: “Kẻ đó hại anh, có lỗi với anh!” Người
giác ngộ cười cợt: “Ai hại quư vị đâu?
Tự ḿnh hại ḿnh!” Sao tự ḿnh lại hại ḿnh? Quư
vị thường nghĩ kẻ nào đó hại ḿnh, quư
vị sẽ thực sự bị kẻ ấy hại.
Thật ra, kẻ ấy trọn chẳng hại quư vị,
chỉ là chính ḿnh nẩy sanh hiểu lầm, chính ḿnh có
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
những thứ ấy hại ḿnh thảm lắm!
Người giác ngộ không như vậy, người ta
dựng chuyện hủy báng ḿnh, hủy nhục ḿnh, hăm
hại ḿnh, ḿnh đă giác ngộ, đă minh bạch, bèn
chuyển biến ư niệm, cảm tạ kẻ ấy, anh
tiêu nghiệp chướng cho tôi, tăng phước
huệ cho tôi, nâng cao cảnh giới cho tôi. Người
giác ngộ là như vậy đấy! Quư vị thấy
một đằng giác, một đằng mê, sai biệt lớn
dường ấy. Những ngoại duyên bên ngoài tùy thuộc
cách nh́n, cách nghĩ, cách làm của quư
vị như thế nào; nếu quư vị thấy lầm,
nghĩ lầm, làm sai, quư vị sẽ bị tổn
hại, chính ḿnh tổn hại ḿnh. Nếu cách thấy chính
xác, cách nghĩ chính xác, cách làm chính xác, sẽ tự ḿnh nâng
cao cảnh giới của chính ḿnh.
Như vậy, ngoại duyên đều
là thiện duyên; tự ḿnh nghĩ sai, thấy sai, làm sai,
ngoại duyên bèn thành ác duyên; chứ thật ra, duyên bên ngoài
không có thiện hay ác. Ngẫu Ích đại sư nói
một câu không sai chút nào: “Cảnh
duyên vô hảo xú, hảo xú tại ư tâm” (Cảnh duyên
không tốt - xấu, tốt - xấu vốn do tâm), đúng
là nói ra chân tướng sự thật, nói rất rơ ràng. Do
vậy, ngạo mạn là đại phiền năo, khiêm
hạ là đại công đức; hăy nên khiêm hư, hăy nên
nhún nhường, khiêm tốn trước mặt
người khác. Thường học theo Thích Ca Mâu Ni
Phật, thường học theo Khổng lăo phu tử.
Khổng lăo phu tử đối với người khác
khiêm hư, quư vị thấy các học tṛ của Ngài,
rất nhiều học tṛ của Ngài cùng nêu nhận xét
về thầy ḿnh. Họ cùng nhất trí công nhận
thầy có năm đức, năm thứ đức
hạnh ấy mọi người không có. Sách Luận
Ngữ ghi là “ôn, lương,
cung, kiệm, nhượng” (ôn ḥa, thiện lương, cung
kính, tiết kiệm, nhường nhịn).
Phu Tử ôn ḥa, thiện lương, cung
kính, đối với bất cứ người hay sự
vật nào, Khổng lăo phu tử cũng đều cung kính.
Ngài tiết kiệm, nhường nhịn, không hề có
mảy may thái độ kiêu mạn nào. Lúc nào, chỗ nào,
Ngài cũng cảm thấy ḿnh không bằng người khác,
tự ḿnh học không đủ, khiêm hư, nhường
nhịn. Biết Phật tánh của hết thảy chúng
sanh là b́nh đẳng th́ ư niệm ngạo mạn tự
nhiên không c̣n, đấy chính là như đức Phật
thường giảng trong kinh Đại Thừa: “Nhất thiết chúng sanh giai vi
ngă quá khứ phụ mẫu, vị lai chư Phật” (Hết
thảy chúng sanh đều là cha mẹ ta trong quá khứ, là
chư Phật trong vị lai). Nghĩ đến
điều này, tâm cung kính bèn sanh khởi, chân tâm lễ kính
chư Phật bèn sanh khởi. Quả thật, trong thế
gian này, chúng ta chẳng chỉ có một đời, một
kiếp, quá khứ vô thỉ, vị lai vô chung. Chúng ta cùng
hết thảy chúng sanh đều có liên quan, có quan hệ
mật thiết, dẫu trong đời này không biết nhau,
nhưng nhiều đời nhiều kiếp trước
chắc cũng là người một nhà.
Tại phương Tây cũng có không ít
nghiên cứu khoa học, quá nửa là trong thế kỷ này,
nghiên cứu đời trước, đời này; phong
trào nghiên cứu về sự luân hồi ở phương
Tây đang được bắt đầu. Chúng tôi thấy
rất nhiều báo cáo khẳng định con người
quả thật có đời trước, chứng minh
lời Phật dạy là chính xác, không
phải là vọng ngữ. Trong tương lai, những
chúng sanh ấy đều là chư Phật vị lai.
V́ sao? Họ có Phật tánh. Chúng ta biết những chúng sanh
ấy bao gồm cả muỗi, kiến, những loài
động vật nhỏ nhoi ấy đều là cha
mẹ ta trong quá khứ, đều là vị lai chư
Phật; chúng ta thấy được như vậy th́ cái
tâm ngạo mạn không c̣n nữa. Đó là thực sự tu
hành!
Chữ cuối cùng là Nghi, tức ngờ
vực. “Bất năng quyết
đoán, bất liễu thị thiện tắc khả thân,
thị đạo tắc khả tấn” (Chẳng
thể quyết đoán, chẳng hiểu sự lành có
thể thân cận, chẳng hiểu đạo có thể
noi theo). Kinh Đại Thừa nói Nghi là chướng
ngại lớn nhất trên con đường Bồ Tát.
Nghi là ǵ? Ngờ vực lời thánh nhân răn dạy,
quả thật là đại chướng ngại, bỏ
lỡ cơ hội trong đời này. Đoạn nghi sanh
tín! Phá nghi bằng cách nào? Bằng trí huệ! Trí huệ
chẳng mở mang th́ không có cách ǵ phá trừ nghi hoặc. Có
như vậy rồi th́ quư vị mới có năng lực
quyết đoán, thân cận thiện pháp, thân cận thánh
hiền, mới ḥng đạt lợi ích, thành tựu
đạo đức của chính ḿnh, thành tựu học
vấn của bản thân, nâng cao được cảnh
giới của chính ḿnh.
Sự việc sung sướng nhất
trong một đời người là thân cận thiện
pháp, thân cận thánh hiền, niềm sung sướng này
trong xă hội hiện tại càng ngày càng hiếm, v́ sao?
Người đọc sách thánh hiền không c̣n. Trong xă
hội hiện tại, người đọc sách thánh
hiền bị người đời nh́n như thế nào?
Kẻ cổ hủ, không hợp thời, không thiết
thực! Do mọi người đều nh́n ḿnh bằng
con mắt khác lạ, những kẻ cổ hủ cũng
cảm thấy cảm khái muôn ngàn.
Biết thế gian biến huyễn vô
thường, hết thảy biến huyễn đều
là duy thức sở biến. Thức là ǵ? Là vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước. Chúng ta chú
tâm quan sát cách họ nghĩ, cách họ phân biệt, cách
họ chấp trước là chánh diện hay nghịch
diện, có tương ứng với quy luật tự
nhiên hay không. Kinh Phật gọi quy luật tự nhiên là “tánh đức”, Nho gia gọi
là “bổn thiện”. Sách
Đại Học giảng là “minh
đức, tân dân, chỉ ư chí thiện”. Tương
ứng với những điều đó, thế giới
này sẽ tốt đẹp; trái nghịch những
điều đó th́ thế giới này tất nhiên có tai
nạn dữ dội. Cát - hung, họa - phước phát
xuất từ sự khởi tâm động niệm, ngôn
ngữ và tạo tác của đại chúng trong xă hội;
thấy được rơ ràng, minh bạch [điều này]
th́ là bậc trí giả, là người có trí huệ.
Chịu phát tâm giúp hết thảy
đại chúng phá mê khai ngộ, người như vậy
được gọi là Nhân Giả (bậc có ḷng nhân), thực
sự nhân từ, biết điều không thể làm
được mà vẫn làm. Thích Ca Mâu Ni Phật là
người như thế, Khổng lăo phu tử cũng là
người như thế. Từ lịch sử, chúng ta có
thể thấy, nh́n từ thời đại của
Phật Thích Ca, Khổng Tử trở đi măi cho
đến ngày nay, trong ba ngàn năm, mực độ luân
lư đạo đức không ngừng hạ xuống,
chưa hề được nâng lên. Lúc tại thế,
Khổng lăo phu tử đă hết sức cảm thán. Luân
lư đạo đức của con người trong xă
hội thời ấy, nếu đem so với thời
Nghiêu - Thuấn - Vũ - Thang, kém hơn một mức
độ rất lớn. Thế nhưng nếu nh́n từ
thời đại Khổng lăo phu tử cho đến
hiện thời, có thể nói là ch́m đến tận
đáy. Đến tận đáy nghĩa là sao? Hoàn toàn không
c̣n ǵ nữa!
Trong thế giới ngày nay, nói thật ra, toàn bộ xă hội khởi
tâm động niệm quả thật là tham - sân - si -
mạn - nghi một trăm phần trăm. Trong thời
đại thượng cổ, vào thời Nghiêu - Thuấn -
Vũ - Thang, ḷng người trong cả xă hội không có
tham - sân - si - mạn - nghi. Tâm con người thời
ấy như thế nào? Vô tham, vô sân, vô si, vô mạn, vô nghi,
một trăm phần trăm là thiện căn. Ngày nay, một
trăm phần trăm là Tam Độc, nói gộp lại
là Ngũ Độc. Thời gian này bất quá là bốn hay năm
ngàn năm, vào thời đại trước bốn hay
năm ngàn năm ấy, nếu chúng ta dùng con số năm
để tính toán, tức là dùng năm thiện căn [để
luận định] th́ tâm của toàn bộ đại
chúng trong xă hội [thời ấy] đều giữ
năm thiện căn. Năm ngàn năm sau, tức hiện
thời, đại chúng trong xă hội toàn là ngũ
độc!
Hiện tại không có khả năng phân
biệt thiện - ác, không có năng lực phân biệt chánh
- tà, quư vị nói phải làm cách nào đây? Làm chuyện tốt,
không những người ta chẳng cảm kích, trái
lại c̣n oán hận, c̣n muốn tổn hại ḿnh. Nên làm
hay không? Vẫn cứ phải làm, chẳng thể không làm!
Chúng ta làm, chúng ta biết ḿnh tu được một chút
phước, chẳng hưởng trong thế gian này,
thế gian này không có phước. Sẽ hưởng ở
đâu? Nếu chẳng cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới th́ hưởng phước trong
thiên đạo. Người thực sự minh bạch,
người thực sự giác ngộ biết thiên
đạo không phải là rốt ráo, quyết định
cầu sanh Tịnh Độ, lấy “đoạn ác, tu
thiện” để làm tư lương tu Tịnh
Độ. Người khác đối với ḿnh bất
thiện, ta dùng sự chí thiện đối đăi họ;
người khác dùng hư ngụy đối với ḿnh,
ḿnh dùng ḷng chân thành đối với họ, ai đi
đường nấy! Quư vị hỏi: “Tôi v́ sao phải
làm như vậy” ư? Ta đi theo đường Bồ
Đề, ta đi theo con đường Bồ Tát, người
ta đi theo đường lục đạo, ai đi
đường nấy. Tiêu chuẩn của mỗi một
con đường khác nhau, ta chẳng thể bỏ tiêu
chuẩn của ḿnh. Nếu ta bỏ tiêu chuẩn của
ḿnh là hỏng. Đoạn này chúng tôi giới thiệu
đến đây thôi. Lại xem tiếp điều
thứ tư là Chúng Sanh Trược.
4) “Kiến Tư
sở cảm, thô tệ Ngũ Ấm ḥa hợp, giả
danh chúng sanh, phi hân yếm chi hạnh, tất bất năng
độ” (Do Kiến - Tư cảm lấy năm
ấm thô xấu ḥa hợp, giả gọi là chúng sanh, không
có hạnh ưa [cơi Cực Lạc] chán [ghét Sa Bà], ắt
chẳng thể độ được). Danh từ “chúng sanh” vốn có nghĩa là
các hiện tượng do các duyên ḥa hợp lại mà sanh
khởi, nên gọi là chúng sanh. Trong kinh Phật
thường gọi chúng ta là “chúng
sanh”, cách xưng hô này hay lắm. V́ sao? Từ cách xưng
hô, chúng ta được cảnh tỉnh, khiến chúng ta
hiểu được chân tướng sự thật. Thân
thể của chúng ta là hiện tượng do các duyên ḥa
hợp mà sanh khởi, nói trắng ra là không phải
thật. Các duyên ḥa hợp th́ hiện tượng này
tồn tại; nếu các duyên phân tán, hiện tượng
ấy không c̣n tồn tại nữa. Chớ nên coi đó là
thật, coi là thật th́ tức là sai rồi!
Hiện tượng này do đâu mà có? Câu
đầu tiên giảng rất hay: “Kiến Tư sở cảm” (Do Kiến - Tư
cảm lấy), Kiến - Tư chính là duy thức sở
biến, cũng là như trong giáo pháp Đại Thừa
đức Phật thường dạy: “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (Hết
thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh). Thân thể
của chúng ta cũng sanh từ tâm tưởng, Kiến Tư
là tâm tưởng, chính là Thức biến. Hết thảy các
pháp đều sanh từ tâm tưởng, đây là chân tướng
của sự thật trong vũ trụ. Một lời
của Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói toạc chân
tướng của sự thật trong vũ trụ,
khiến cho chúng ta hiểu rơ, tỉnh ngộ. Do các duyên ḥa
hợp mà sanh khởi, hiện thành tướng, chẳng
thể nói là có, cũng chẳng thể nói là không. Nếu
nói là không, rơ ràng hiện tượng tồn tại, quư
vị thấy - nghe - hay - biết, quư vị có thể cảm
nhận, tiếp xúc được! Nếu nói là có, nó “sanh ra từ đâu, sẽ
diệt tận nơi đó”, sanh diệt trong từng
sát-na, niệm niệm không ngừng. V́ thế, chẳng
thể nói là không, cũng chẳng thể nói là có; quư vị
phải hiểu rơ chân tướng sự thật.
“Thô tệ
Ngũ Ấm ḥa hợp” (Năm
Ấm thô xấu ḥa hợp), năm Ấm là Sắc,
Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Trước hết,
chúng tôi giải thích Ngũ Ấm một cách đơn
giản, rồi sau đó mới giảng câu “giả danh chúng sanh” (giả
gọi là chúng sanh). Ấm (陰) có nghĩa là che đậy, che
đậy thứ ǵ? Chướng ngại tánh của chính
ḿnh, cũng là duy tâm sở hiện, chướng ngại
tâm tánh. Ngũ Ấm chướng ngại tâm tánh của
chúng ta; chúng ta mê nơi năm ấm này, chẳng hiểu rơ
chân tướng của năm thứ này, khiến cho chúng
ta sanh ra những cách nh́n sai lầm và cách nghĩ sai lầm đối
với hết thảy vạn sự vạn vật trong
vũ trụ. V́ vậy, gọi là Ấm.
Ấm thứ nhất trong Ngũ Ấm là
Sắc. Nói theo cách bây giờ, Sắc là vật chất.
Tứ Đại Địa - Thủy - Hỏa - Phong là
vật chất. Vật chất có bốn đặc tánh lớn,
chắc chắn không thể tách rời bốn tánh chất
này. Đặc tánh của nó là địa, thủy, hỏa,
phong. Bốn chữ này đều là tỷ dụ,
đều là h́nh dung từ. Địa là loại vật
thể chúng ta có thể thấy được, có thể
sờ được, nó có thể rất nhỏ đến
nỗi nhục nhăn không thể thấy được.
Đức Phật nói thiên nhăn của A La Hán có thể
thấy được vi trần. Vi trần vẫn
chưa phải là nhỏ nhất, có những thứ c̣n
nhỏ hơn vi trần nữa, tức Sắc Tụ
Cực Vi và Cực Vi Vi, đó là những thứ nhỏ
nhất. A La Hán không thấy được Cực Vi Vi, ai
mới có thể thấy? Bát Địa Bồ Tát trông
thấy được. Bát Địa Bồ Tát là Bất
Động Địa, thấy được Cực Vi
Vi. Cực Vi Vi là căn nguyên của vật chất,
tất cả hết thảy vật chất đều do
nó tổ hợp thành. Như vậy nó là cái nhỏ nhất
của vật chất.
Khoa học hiện tại đă phát
hiện, cũng nói rất rơ ràng, rất minh bạch. Nhà
khoa học dùng phương pháp phân tích, đem vật
chất tách thành phân tử. Tách phân tử ra thấy phân
tử do nguyên tử hợp thành. Lại phân tích nguyên
tử th́ nguyên tử do nguyên tử hạch (nuclear, hạt
nhân nguyên tử) và điện tử hợp lại.
Điện tử vẫn c̣n có thể chia nhỏ, nó do
lạp tử hợp thành. Lạp tử vẫn c̣n phân ra
được, kinh Phật gọi đó là Cực Vi Vi.
Khoa học hiện tại đă phát hiện
được điều này hay chưa? C̣n chưa
được! Khoa học gia biết có vật chất
rất nhỏ, nhưng kính hiển vi hiện thời
vẫn chưa nh́n thấy. Chúng ta phải đợi
đến khi khoa học tiến hơn nữa, mới
biết họ có phát hiện được Cực Vi Vi như
kinh Phật nói hay không!
Từ những báo cáo khoa học mới
nhất, chúng ta thấy các nhà khoa học luận về “nguyên điểm”
(điểm khởi thủy) của vũ trụ. Chúng ta
có thể giả thiết là một sợi tóc (sợi tóc
không thô như thế, chúng ta giả thiết là một
sợi tóc), cắt ngang sợi tóc, mặt cắt ngang
của sợi tóc có h́nh tṛn, mặt cắt ngang này là h́nh
tṛn thẳng góc với chiều dọc sợi tóc. Nơi
mặt cắt thẳng góc ấy, xếp liên tiếp
những vi trần Cực Vi Vi, xếp được bao
nhiêu? Nơi thiết diện cắt ngang của một
sợi tóc xếp các vi trần khít nhau, được
một trăm vạn ức ức ức (ba chữ ức),
điều này kính hiển vi hiện thời chưa
thấy được. Nơi mặt cắt ngang thẳng
góc của một sợi tóc có thể xếp
được một trăm vạn ức ức ức
những hạt vi trần bé tí như thế, không có cách ǵ
thấy được. Hiện tại các nhà khoa học
chỉ phát hiện được điều này trên lư
luận.
Mỗi một hạt bé xíu như
thế có bốn hiện tượng: Địa là vật
chất, Thủy là độ ẩm, Hỏa là độ
nóng. Khoa học hiện tại nói đến những
vật tích điện âm hay điện dương.
Thủy là âm điện, Hỏa là dương điện.
Phong là động, không ngừng lặng. Tất cả
hết thảy hiện tượng vật chất
đều là động; nếu không động, sẽ
không tồn tại. Đây cũng là điều
được phát hiện bởi các nhà khoa học
hiện thời. Họ nói thế giới không có vật
chất. Vật chất là ǵ? Vật chất là một
loại hiện tượng chấn động. Cách
giải thích này rất có lư, tương ứng với
những điều kinh Phật đă giảng. Do từ
chấn động sanh ra hiện tượng, nên vật
chất có bốn đặc tánh!
Thế nhưng vật chất cũng là
“duy tâm sở hiện, duy
thức sở biến”, quyết định chẳng
tách rời cái tâm. Đặc chất (characteristics, đặc
tánh) của tâm cũng có Tứ Đại; vật có Tứ
Đại, tâm cũng có Tứ Đại. Tứ
Đại của tâm là ǵ? Thấy - nghe - hay - biết là
những đặc tánh của nó. Vật chất dù nhỏ
cũng chẳng bị mất đặc tánh của nó,
nơi vật chất [đặc tánh ấy được]
gọi là Pháp Tánh, nơi động vật gọi là
Phật Tánh. Phật Tánh và Pháp Tánh là một tánh, chứ
không phải hai, chỉ là một tánh, hoàn toàn tương
đồng. Tánh là Tâm, tức chân tâm. Chân tâm và bổn tánh có
cùng một ư nghĩa. Có khi ta gọi nó là tâm tánh; do tâm tánh
hiện ra, vật chất do tâm tánh biến hiện. Nó biến
thành vật chất. Vật chất có bốn đặc
tánh lớn là địa, thủy, hỏa, phong.
Như vậy, đối với cái
được gọi là vật chất, chúng ta nhận
biết rơ ràng! Vật chất rốt cuộc là ǵ? Từ
cái nhỏ nhất (Cực Vi Vi) có thể hợp thành
lạp tử, hợp thành điện tử, thành nguyên
tử, thành phân tử, rồi lại hợp thành hết
thảy vạn vật. Tất cả những ǵ sáu căn
của chúng ta có thể tiếp xúc, hết thảy hiện
tượng vật chất, hết thảy động
vật, thực vật, khoáng vật, cho đến hư
không đều thuộc vào hiện tượng vật
chất. Phải liễu giải chân tướng của nó
là ǵ, quư vị mới chẳng bị nó mê hoặc.
Đối với hiện tượng vật chất, quư
vị chẳng khởi tham - sân - si - mạn - nghi, nếu hiểu
rơ [th́ những phiền năo ấy] sẽ không khởi. Không
hiểu rơ, nhất định khởi tham - sân - si -
mạn - nghi, tánh thức có thể hiện có thể biến
của quư vị liền bị chướng ngại.
Đó gọi là Ấm, Sắc Ấm là như vậy đó!
A! Bây giờ đă đến giờ rồi.
Tập
38
Xin xem tiếp phần Ngũ Ấm:
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc Ấm
tôi đă giới thiệu cùng quư vị
rồi, Sắc là vật chất, chúng ta phải có nhận
thức chính xác đối với nó.
Nay tôi nói đến Thọ trong Thọ - Tưởng - Hành - Thức.
Thọ là năm thức đầu, tức là Nhăn, Nhĩ,
Tỷ, Thiệt, Thân “lănh nạp
ngũ cảnh” (lănh nạp năm cảnh); nói như bây
giờ th́ là [năm giác quan] tiếp nhận cảnh
giới bên ngoài. Mắt tiếp nhận Sắc bên ngoài, tai
tiếp nhận âm thanh bên ngoài, mũi tiếp nhận mùi
bên ngoài, lưỡi tiếp nhận vị bên ngoài, thân
tiếp nhận mát, ấm, lạnh, nóng. Đó là Thọ, tức
là [năm Căn] lănh nạp năm cảnh. Đó là nói
về tác dụng của Thọ,
tức là như nay ta nói “cảm thụ, hưởng
thụ” đều gộp trong chữ Thọ này. Pháp
Tướng Tông giảng Thọ bao gồm năm thức
đầu (tức Nhăn Thức, Nhĩ Thức, Tỵ
Thức, Thiệt Thức, Thân Thức).
Tưởng là thức thứ sáu,
tức Ư Thức. Ư Thức có thể “phân biệt, kế độ” (phân biệt, tính
toán, so đo). Thiền sư Trung Phong v́ chúng ta khai thị
có nói đến ba thứ tâm, th́ Duyên Lự Tâm chính là Ư
Thức, tức thức thứ sáu, duyên lự, phan duyên. Cái
tâm nào có thể tư duy, có thể tưởng
tượng th́ thuộc vào thức thứ sáu. Những ǵ
có năng lực phân biệt, có năng lực so
lường, tính toán đều thuộc vào phân biệt,
trong Ngũ Ấm chúng thuộc vào Tưởng. “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng
sanh” (hết thảy pháp sanh từ tâm tưởng). Công
năng của thức thứ sáu rất lớn!
Hành là thức thứ bảy, “hằng thẩm tư
lượng” (luôn xem xét, suy lường), v́ sao gọi là
Hành? V́ nó không gián đoạn, niệm niệm không gián
đoạn, chấp trước kiên cố. Thẩm (審) là xem xét, Hằng (恆) là thường hằng, từ
trước đến giờ không gián đoạn. Quan
trọng nhất ở đây là chấp trước Ngă. Ngă
có hai thứ, thứ nhất là Nhân Ngă, thứ hai là Pháp Ngă. Chấp
trước kiên cố, đó là sai lầm. Trên thực
tế, không hề có Ngă; Nhân Ngă lẫn Pháp Ngă đều
không có.
Cái cuối cùng là Thức, chữ
Thức ở đây chỉ thức thứ tám, “chấp
tŕ bất hoại”. Thức thứ tám là A Lại Da
Thức, thức thứ bảy là Mạt Na Thức, năm
thức đầu là Nhăn Thức, Nhĩ Thức, Tỵ
Thức, Thiệt Thức và Thân Thức. Đây là dựa
theo tám thức của Pháp Tướng để nói. Chúng ta
thường gọi thức thứ tám là “ấn
tượng”. Chúng ta thấy sắc, nghe tiếng, sáu căn
tiếp xúc cảnh giới bên ngoài tạo thành ấn
tượng. Quư vị thấy một người nào đó,
nghe âm nhạc diễn tấu một lần, quư vị có
thể nhớ được, có thể hồi
tưởng được sự việc đă qua, v́ sao vẫn
có thể nhớ lại được? Đó là v́ ấn
tượng đă ghi vào trong thức thứ tám. Thức
thứ tám giống như nay ta gọi là kho lẫm, là nhà
chứa lương, hay kho tài liệu, hoặc pḥng tàng
trữ hồ sơ. Tất cả hết thảy ấn
tượng được ghi nhận bởi sáu thức
đều tồn trữ nơi đây, vĩnh viễn
chẳng bị mất đi, chấp tŕ (ǵn giữ) không
hoại. Không chỉ là những ǵ chúng ta thấy - nghe - hay -
biết trong một đời được chứa trong
ấy, không bị mất đi, mà tất cả những
ấn tượng trong đời quá khứ, ngay cả
trong vô lượng kiếp trước đều tồn
trữ trong đó.
Chuyện này có thể chứng minh
bằng thuật thôi miên của phương Tây. Chúng tôi
từng xem một bản báo cáo: Có một người
được thôi miên đến một mức độ
rất sâu, có thể nói những chuyện vượt
khỏi một đời này, nói đến đời
trước, đời trước đó nữa, rồi
đời trước đó nữa, tổng cộng
gần đến tám mươi bốn đời.
Những chuyện thuộc tám mươi bốn
đời trước đều có thể nói ra hết,
tính ra thời gian là hơn bốn ngàn năm. Ông ta có
thể nói trạng huống cuộc sống thời đó,
ông ta tên gọi là ǵ, sống ở chỗ nào, tiếp xúc
những ai, hỏi ông ta thời ấy sử dụng
những loại tiền nào, ông ta đều nói
được, quyết chẳng phải là dối
người, quyết không bịa đặt. Điều
này chứng minh những chủng tử hàm tàng trong A
Lại Da Thức quả thật bất diệt. Chúng ta
biết thôi miên hữu hạn, nhưng nói được
đến tám mươi mấy đời trước
quả thật chẳng dễ dàng.
Phật pháp nói Thiền Định có
thể đột phá giới hạn, Thiền Định
rất sâu! Như Thiền Định của A La Hán có
thể biết được năm trăm đời,
năm trăm đời trong quá khứ, lại c̣n biết
năm trăm đời trong vị lai, A La Hán có năng
lực như vậy. Năng lực của Bồ Tát càng
lớn hơn; c̣n quả địa Như Lai th́ biết
tột cùng quá khứ vô lượng kiếp, vô
lượng kiếp vị lai, thảy đều rơ ràng,
thảy đều hiểu rơ. V́ sao? Nay chúng tôi hiểu
đạo lư này rất rơ, là v́ sau khi kiến tánh, ta
thường gọi là “minh tâm kiến tánh”, hàng Bồ Tát
Sơ Trụ trong Viên Giáo sau khi kiến tánh, liền
nhập Nhất Chân pháp giới, nhập pháp môn Bất
Nhị, thời gian và không gian bằng zéro. Vô lượng
kiếp trước đều bày trước mặt. Do
đây biết rằng: Những thứ đựng trong cái
kho tàng A Lại Da Thức này hết sức phong phú! Thích Ca
Mâu Ni Phật đă từng nói: “Nếu những chủng
tử, tức những ấn tượng, trong A Lại Da
Thức giả sử có vật chất, dù là vật
chất hết sức nhỏ bé th́ cùng tận cơi hư
không cũng chẳng thể chứa hết”, may là chúng
không phải là vật chất.
Nơi những Bồ Tát thuộc
địa vị sâu, kiến tánh cũng có sâu hay cạn sai
khác. Bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân
Bồ Tát đều minh tâm kiến tánh, nhưng sự
kiến tánh có sâu - cạn, rộng - hẹp khác nhau. Bồ
Tát thuộc địa vị sâu xa có thể thấy
được những chủng tử tập khí chứa
trong A Lại Da Thức của người khác, giống
như những ǵ chứa trong kho tài liệu, kho hồ sơ
lưu trữ của anh, tôi có thể lấy ra coi, có
thể tùy ư lấy ra coi. Không chỉ biết [chủng tử
tập khí] của chính ḿnh, mà c̣n biết [chủng tử
tập khí] của hết thảy chúng sanh không
chướng ngại. Quư vị thấy người được
thôi miên bằng phương
pháp thôi miên có thể rút ra những thứ trong kho hồ sơ
tư liệu của chính ḿnh, nhưng không có cách nào lấy
từ kho của người khác. Thiền Định
rất sâu có thể thấy được những
tập khí chủng tử chứa trong A Lại Da Thức
của hết thảy chúng sanh. Bởi thế, Phật
độ chúng sanh thuận tiện là v́ lẽ ǵ? Ngài
hiểu rất rơ căn tánh của chúng sanh, đời
đời kiếp kiếp quá khứ của người
ta, không điều ǵ Phật chẳng biết.
Thọ, Tưởng, Hành, Thức
thuộc về Tâm pháp. Đơn giản nhất, Phật pháp
chia hết thảy pháp thành hai loại lớn: Một là Tâm
pháp, hai là Sắc pháp. Khoa học hiện tại cũng phân
loại như vậy, họ chia thành vật chất và tinh
thần. Vật chất là Sắc pháp, tinh thần là Tâm
pháp. Nhà Phật giảng Sắc pháp và Tâm pháp là một,
chứ không phải hai. Những nhà khoa học, triết gia
thế gian đều chia chúng thành hai, dường như
vật chất không phải là tinh thần, tinh thần không
phải là vật chất, đều độc lập.
Thật ra, đức Phật nói chúng không độc
lập, là một, chứ không phải hai. Tâm pháp là cái có
thể sanh, có thể biến; Sắc pháp là cái
được sanh, cái được biến. Năng -
Sở là một, không phải hai. Do vậy, tiên sinh Âu
Dương Cánh Vô nói: “Phật
pháp không phải là triết học, chẳng phải là tôn
giáo”. Trong triết học, Năng - Sở (chủ
thể và khách thể) tách rời nhau, Năng không phải
là Sở, Sở không phải là Năng. Phật pháp cũng
nói đến Năng và Sở, nhưng Năng và Sở
thống nhất. Nói nghiêm ngặt, tinh thần và vật
chất quyết định chẳng tách rời nhau, v́ sao?
Vật chất có pháp tánh; đặc sắc của pháp tánh
là như trong phần trên đă nói, nó cũng có tứ
đại, tức bốn đặc tánh lớn là thấy
- nghe - hay - biết. Như vậy, hết thảy vật
chất đều có thấy - nghe - hay - biết, khoa
học hiện đại chỉ mới vừa phát
hiện điều này!
Tiến sĩ Giang Bổn Thắng nghiên
cứu nước kết tinh, phát hiện ban đầu là
vật chất cũng thấy, nghe, hay, biết; nhưng
trong kinh Phật đă nói [điều ấy], nói từ lâu
rồi, đức Phật đă nói từ ba ngàn năm
trước. Kinh Hoa Nghiêm (tức là một bộ kinh
Phật giảng đầu tiên), “nhất thiết chư pháp, duy tâm sở hiện, duy
thức sở biến” (hết thảy các pháp chỉ do
tâm hiện, chỉ do thức biến). Giảng sớm
nhất như vậy. Trong hội Lăng Nghiêm, đức
Phật lại giảng rất rơ: “
Nay chúng ta làm thí nghiệm trên những
thực vật, chú tâm quan sát, thấy đúng vậy! Chúng
ta dùng thiện ư đối với thực vật, mỗi
ngày ba lượt, mỗi lượt ba phút là đủ.
Đối với nó nói: “Ngươi mọc rất khá, ta
rất thích ngươi, rất cảm ơn ngươi”
th́ loại thực vật ấy mọc càng ngày càng
đẹp. Như với chậu Bồn Tài (Bonsai) của
tôi, thí nghiệm thấy rất rơ. Với một chậu
khác, nếu quư vị dùng ác ư đối với nó, nói: “Tao
rất chán ghét mày, mày càng mọc càng xấu, tao không ưa
mày”. Một, hai tuần sau, nó gần như héo khô, rất
rơ ràng. Từ thí nghiệm này thấy rơ cây thực sự hiểu
được ư nghĩ của con người.
Hiện tại rất nhiều
người bắt chước làm thí nghiệm này, chưa
thí nghiệm nào thất bại, chứng minh thực
vật có Pháp Tánh, thực sự có thấy, nghe, hay, biết.
Nó có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm
nhận, có thể biết. V́ sao? Thể của nó là Pháp Tánh.
Pháp Tánh có bốn đặc sắc, như trong Sắc pháp
có Địa, Thủy, Hỏa, Phong là bốn đặc
tánh. Hiện tại, chúng ta vẫn chưa có cách ǵ thí
nghiệm trên khoáng vật, đất, bùn, cát, đá, chúng ta
đang xem xét phải làm cách nào để quan sát chúng
cũng có đặc tánh thấy - nghe - hay - biết; nhưng
những điều Phật pháp đă giảng chúng ta có
thể hiểu được. Kinh Hoa Nghiêm nói “t́nh dữ vô t́nh, đồng viên
Chủng Trí” (hữu t́nh và vô t́nh, cùng viên măn Chủng Trí).
Vấn đề ấy, chúng ta đă giải quyết xong,
không c̣n ngờ vực nữa. “Nhất
thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (hết thảy pháp
sanh từ tâm tưởng), “cảnh
tùy tâm chuyển” (cảnh chuyển theo tâm); những
vấn đề này chẳng phải đă được
chứng minh rồi ư? Đó là thuyết minh hết
sức quan trọng.
Nếu chúng ta hiểu rơ, thực sự
hiểu, chúng ta sẽ hoàn toàn làm chủ Sắc, Thọ,
Tưởng, Hành, Thức của ḿnh. Thứ nhất, chúng
ta có thể làm chủ được ǵ? Có thể không già,
có thể không bệnh, có thể không chết, thực
sự làm chủ được! Kinh luận giảng
rất nhiều về sanh tử. Sanh tử là một
chuyển biến, chuyển biến trên nhân quả,
quyết định không có chết. V́ sao? Pháp Tánh của
quư vị bất sanh, bất diệt. Pháp tướng do
Pháp Tánh biến ra, thân thể là tướng, toàn thể
hết thảy hiện tượng trong vũ trụ là
tướng. Tướng có sanh - diệt, Tánh không sanh - diệt.
Thông đạt chân tướng sự thật này, ư
niệm sợ hăi đối với sanh - lăo - bệnh - tử
hoàn toàn tiêu diệt, không c̣n sợ hăi! Chúng là cái do ta
biến ra.
Năng Biến (chủ thể có công năng
biến hóa) là ta, thực sự là ta, cái được
biến (Sở Biến) không phải là ta, chớ nên
hiểu lầm ư nghĩa này. Sở Biến là cái bị ta
biến ra, há phải là ta ư? Ta là Năng Biến,
Năng Biến là ta. Như vậy, Năng Biến là Linh
Tri Tâm, vọng tâm là Sở Biến, đâu phải là ta.
Như vậy ṇi đến tám thức th́ tám thức không
phải là ta, tám thức ấy là tác dụng của tâm, nhưng những tác dụng
ấy là những tác dụng sai lầm, không phải là tác
dụng chính xác. Mê th́ gọi là Tám Thức, giác ngộ
rồi không gọi là Tám Thức nữa mà gọi là Tứ
Trí. Tứ Trí chính là tác dụng chính xác.
Do vậy, hiện tại chúng ta hết
sức thô, hết sức bất hảo, có thể nói là “thô ác Ngũ Ấm ḥa hợp” (năm
Ấm thô ác ḥa hợp). Cái thân hiện tại của chúng
ta là thân tướng do sắc thân và sắc tâm ḥa hợp, “giả danh chúng sanh”(giả
gọi là chúng sanh), do các duyên ḥa hợp mà sanh. Vật
chất là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, tinh thần là
Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Nhưng chúng sanh trong
lục đạo, từ vô lượng kiếp
đến nay đều chấp trước cái thân này là
chính ḿnh, luôn chấp trước Sắc, Thọ,
Tưởng, Hành, Thức là tâm của ḿnh, lầm lạc quá!
Do vậy, từ đó khởi Hoặc, tạo nghiệp,
chịu quả báo luân hồi, đời đời
kiếp kiếp không ngoi đầu ra nổi, không thoát khỏi
luân hồi lục đạo.
Ở đây, đại sư bảo
chúng ta: “Phi hân yếm chi hạnh,
tất bất năng độ” (Nếu không có hạnh
ưa - chán, ắt chẳng thể độ
được). Ưa - Chán là nói về Tịnh Độ,
chỉ có hướng về Tây Phương Cực Lạc
thế giới, chán ĺa lục đạo luân hồi, chán
ĺa lục đạo luân hồi trong Sa Bà th́ mới có
thể độ được! Phương pháp của
Tịnh Độ Tông đối với chúng ta hết
sức có ích, bởi lẽ, pháp môn này như trong phần
trên chúng ta đă xét thấy: Pháp môn này thuận tiện,
đơn giản, dễ dàng. Pháp môn này là hoành xuất,
không phải là thụ xuất (vượt thoát theo
chiều dọc). Hoành xuất là luận theo Kiếp
Trược; thuận tiện là luận theo Kiến
Trược; chuyển tâm phàm thành tâm Phật là luận trên
Phiền Năo Trược; chán ĺa lục đạo luân
hồi, hướng về Tây Phương Cực Lạc
thế giới là đối với Chúng Sanh Trược mà
luận. Lại xem tiếp điều sau là Mạng
Trược.
5) “Nhân quả
tịnh liệt, thọ mạng đoản xúc, phi bất
phí thời kiếp, bất lao cần khổ chi hạnh, tất
bất năng độ” (Nhân lẫn quả cùng kém,
thọ mạng ngắn ngủi. Không có hạnh chẳng tốn
[thời gian tu tập] nhiều kiếp, không nhọc
nhằn siêng khổ, ắt không thể độ
được). Chữ Mạng (命) chỉ thọ mạng, tức quư
vị được cái thân này, trong một đời này,
quư vị duy tŕ được thời gian bao lâu? Tuyệt
đại đa số là năm, sáu chục năm bèn
mất. Người mất vào tuổi năm, sáu chục
rất nhiều. Chết lúc mười mấy tuổi, hai
mươi tuổi cũng không ít. Đỗ Phủ là
người đời Đường, có một câu
thơ như sau: “Nhân sanh
thất thập cổ lai hy” (Người thọ
bảy mươi xưa nay hiếm), người thời
Đường nói như vậy đó.
Nhân: Thọ mạng của chúng ta có
được là do nghiệp nhân đă tạo trong
đời quá khứ, thọ mạng đạt
được trong đời này là quả báo [của nghiệp
nhân ấy]. Trong kinh Phật giảng rất rơ ràng nghiệp
nhân của khỏe mạnh sống lâu là Vô Úy Bố Thí. Quư
vị có tâm từ bi, mạnh mẽ cứu khổ cứu
nạn, tâm địa hiền lành, làm nhiều thiện
nghiệp th́ mới được sống lâu, khỏe
mạnh. Tự tư, tự lợi, tổn người,
lợi ḿnh, thọ mạng sẽ ngắn ngủi, nói theo
pháp thế gian của Trung Quốc là “tổn phước”,
tức phước báo của quư vị bị sứt mẻ,
giống như bị chiết khấu vậy, tức là bị
cắt bớt. Quư vị vốn có thể sống
đến một trăm tuổi, nay chỉ có thể sống
tới sáu bảy chục tuổi, tổn phước mà!
Nếu có thể bỏ ḿnh v́ người, niệm niệm
nghĩ đến chúng sanh khổ nạn trong xă hội,
hành động nào cũng có thể bỏ ḿnh v́
người, ắt thọ mạng luôn được
tăng trưởng, kéo dài tuổi thọ, diên niên ích thọ.
Thọ mạng dài lâu không phải để hưởng
phước mà để làm ǵ? Để phục vụ hết
thảy chúng sanh. Đó là lư do nói “nhân
quả đều kém!” Phải v́ hết thảy chúng
sanh phục vụ [th́ “nhân và quả mới đều không
kém cỏi”].
Trong thế gian này, mấy ai có thể sống
đến trăm tuổi? Rất ít! Chúng ta muốn trong
một đời tu hành chứng quả, ắt cần
phải “bất phí thời kiếp”
(không tốn thời gian nhiều kiếp), có thể tu thành
công trong thời gian ngắn, đă thế lại c̣n
phải sao nữa? “Bất lao
cần khổ” (không nhọc nhằn siêng khổ),
phải dễ tu nữa kia! V́ sao? Người bần
khổ trong thế gian nhiều, kẻ phú quư ít.
Người bần cùng hằng ngày bận bịu kiếm
sống, không có nhiều thời gian rảnh rỗi,
bởi thế, họ chỉ có thể dành chút thời gian
rảnh rỗi để tu hành, có như vậy th́ mới
được! Với pháp môn như vậy, họ mới
có thể thành tựu.
Tịnh Tông phù hợp những
điều kiện này. Đối với người
bận bịu quá sức, trong quá khứ tổ sư c̣n dạy pháp Thập Niệm: Sáng
sớm thức dậy, trong nhà có tượng Phật th́
đối trước tượng Phật lễ ba
lạy, chắp tay, niệm A Di Đà Phật, A Di Đà
Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, hết
một hơi là một niệm, niệm mười
hơi. Trong một hơi Phật hiệu nhiều ít không
quan trọng, không ăn nhằm ǵ cả, một hơi là
một niệm, niệm đủ mười hơi.
Người hơi dài có thể niệm được hai
mươi, ba mươi tiếng Phật hiệu. Tôi có
thể niệm chừng hai mươi tiếng trong một
hơi. Thân thể hơi yếu, khí ngắn hơn một
chút, th́ một hơi niệm được khoảng sáu,
bảy tiếng cũng không sao, đó là “một niệm”.
Sáng sớm niệm mười niệm, tối
trước khi ngủ niệm mười niệm. Đó
là pháp Thập Niệm.
Trước kia, cách nay cũng không ít
năm, cũng phải gần mười năm, tôi
giảng kinh tại Cát Long Ba (
Sau khi tôi đề xướng, có
rất nhiều người tu theo phương pháp ấy,
gọi điện thoại cho tôi
hoặc viết thư cho biết rất hiệu quả.
V́ sao? Phù hợp với giáo huấn của Tịnh Tông,
không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn. Mười
tiếng Phật hiệu ấy không gián đoạn, v́ trong
một thời gian ngắn ngủi, quư vị không thể
có vọng niệm, trong mười câu A Di Đà Phật
không xen tạp vọng niệm. C̣n như b́nh thường
niệm Phật, niệm tàn một cây hương, niệm
một tiếng đồng hồ, hoặc niệm nửa
tiếng, rất khó tránh khỏi bị xen tạp.
Mười câu của tôi không xen tạp, thực sự làm
được! Do vậy, người tu học theo
phương pháp này đạt được hiệu
quả rất tốt. Phương pháp này từng
được cổ động tại rất nhiều
địa phương: Mỹ quốc, Gia Nă Đại...
Dù cho quư vị có khóa tối, khóa sáng b́nh thường,
cũng nên dùng cách Thập Niệm này để trợ tu,
cũng hết sức tốt đẹp. Nếu như công
việc vô cùng bận rộn th́ dùng
phương pháp này làm Chánh Tu. Đó là “bất phí thời kiếp, bất lao cần khổ
chi hạnh” (cái hạnh chẳng lăng phí thời gian
nhiều kiếp, không nhọc nhằn, siêng khổ).
Ngẫu Ích đại sư đă đem đạo lư v́ sao
Tịnh Tông lại có thể vượt thoát việt
sanh tử luân hồi trong thời Ngũ Trược
giảng rơ ra.
Chúng ta lại xem kinh văn, phần trên
chúng tôi đă đọc rồi, thấy đức Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật: Chư Phật tán thán Bổn
Sư, trong thế giới Sa Bà, trong Ngũ Trược,
thành tựu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề, v́ chúng sanh nói pháp hết thảy khó tin này. Chúng
ta hăy xem đoạn kinh văn tiếp theo:
Xá Lợi Phất! Đương tri ngă
ư ngũ trược ác thế, hành thử nan sự,
đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề, vị nhất thiết thế gian thuyết
thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan!
舍利弗。當知我於五濁惡世。行此難事。得阿耨多羅三藐三菩提。為一切世間說此難信之法。是為甚難。
(Này Xá Lợi Phất! Nên biết ta trong đời
ác Ngũ Trược, làm chuyện khó này, đắc Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, v́ hết thảy
thế gian nói pháp khó tin này, thật là rất khó!).
Phần trên là chư Phật tán thán đức
Thế Tôn, c̣n trong đoạn này, đức Thế Tôn tự
nói. Do vậy, Ngẫu Ích đại sư bảo Thích Ca Mâu
Ni Phật do tu pháp môn nào mà thành Phật? Do niệm Phật
mà thành Phật, niệm A Di Đà Phật mà thành Phật,
kinh nào nói như vậy? Chính đoạn kinh văn này nói như
thế! Đức Phật bảo Xá Lợi Phất, há
chẳng phải là bảo với chúng ta ư? Các
ngươi hăy nên biết, ta (ta là Thích Ca Mâu Ni Phật
tự xưng) “ngă ư ngũ
trược ác thế, hành thử nan sự” (ta trong
đời ác ngũ trược, làm chuyện khó này),
chuyện khó ấy chính là niệm Phật. Niệm Phật
là pháp khó tin, niệm Phật thành Phật. Ngài niệm A Di
Đà Phật, cho nên “đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”, nói theo
cách người thế tục chúng ta thường nói là “đắc đạo”. A
Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề là Phật
đạo, là Vô Thượng Phật đạo. Thích Ca Mâu
Ni Phật đắc thành Phật đạo là do tu pháp môn
Niệm Phật, Ngài tu pháp môn Niệm Phật trong
đời ác Ngũ Trược.
Lại “vị nhất thiết
thế gian thuyết thử nan tín chi pháp” (v́ hết thảy thế gian nói
pháp khó tin này), “hết thảy thế gian” chính là chín
pháp giới, v́ chúng sanh trong chín pháp giới mà nói pháp khó tin
này, tức là pháp “niệm Phật thành Phật”, “thị vi thậm nan” (thật
là rất khó). Rất khó! Đúng là rất khó tin! Bởi
thế, thực sự tin được pháp môn này, ở
phần trên kinh đă nói rất kỹ: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước
đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng
thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân
duyên để được sanh về cơi ấy). Quư
vị có thể tin được pháp này, có thể
hiểu rơ pháp này, có thể tu hành pháp này, chứng tỏ
trong đời quá khứ, đời đời kiếp
kiếp, quư vị đă trồng nhiều thiện căn,
nhiều phước đức, nên trong đời này
gặp được duyên phận, nhân duyên tốt đẹp,
bèn thành tựu. Thiện căn, phước đức,
nhân duyên, hễ thiếu một điều sẽ không
thể thành tựu. Đầy đủ cả ba
điều này chẳng phải là chuyện dễ dàng. A!
Bây giờ chúng ta xem đến phần sau lời khai
thị của Ngẫu Ích đại sư, tức
đoạn thứ tám:
“Cố nhất
thanh A Di Đà Phật, tức Thích Ca Bổn Sư ư ngũ
trược ác thế, sở đắc chi A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp” (V́ thế một tiếng A Di Đà
Phật chính là pháp để Bổn Sư Thích Ca chứng
đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
trong đời ác ngũ trược), chúng ta vừa
học đến đoạn này. “Kim dĩ thử quả giác toàn thể” (Nay dùng
toàn thể quả giác ấy),
“nay” là hiện tại, Thích
Ca Mâu Ni Phật đem toàn bộ Vô Thượng Bồ
Đề do chính ḿnh chứng đắc trao cho chúng sanh
trong đời ác Ngũ Trược, thật không dễ
dàng! “Năi chư Phật sở hành
chi cảnh giới, duy Phật dữ Phật năng cứu
tận, phi cửu giới tự lực sở năng tín
giải dă” (đó chính là cảnh giới sở hành
của chư Phật, chỉ có Phật với Phật
mới có thể rốt ráo tận cùng, chúng sanh trong chín pháp
giới chẳng thể cậy vào tự lực mà ḥng tin
hiểu nổi). Từ chỗ này, chúng ta bèn lănh hội: [Pháp
môn Niệm Phật] khó, thực sự khó! Trong sách Tịnh
Ngữ, lăo cư sĩ Hạ Liên Cư đă nói pháp môn này “nan
tín, nan tín, chân nan tín”. Người niệm Phật
rất nhiều, v́ sao không thể thành tựu? Do không tin. Sao
biết người ta không tin? V́ kẻ ấy xen tạp,
niệm Phật xen tạp vọng tưởng vào đó. V́
nguyên nhân nào? Do không tin! Thực sự tin sẽ không xen
tạp, v́ sao? Thực sự tin th́ thế pháp, thế duyên,
Phật pháp đều buông xuống hết, quyết
định không xen tạp, rất dễ thành công.
Trong Văng Sanh Truyện, trong Tịnh
Độ Thánh Hiền Lục, chúng ta thấy hầu
như người thực sự tin, nguyện thiết tha
đều buông cả thế pháp lẫn xuất thế gian
xuống được, nhanh th́ từ ba tháng đến
nửa năm, chậm là hai năm, ba năm bèn thành công, có
thể sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới, thực sự có thể sanh về đó, biết
trước lúc mất, thực sự văng sanh. Do vậy,
trước đây từng có người hỏi tôi, không
chỉ một người, họ hỏi: “Trong Tịnh
Độ Thánh Hiền Lục, trong Văng Sanh Truyện,
người niệm Phật văng sanh đại đa
số không quá ba năm, có phải là từ khi họ
bắt đầu niệm Phật, thọ mạng [chỉ
c̣n] ba năm là hết hay chăng?” Tôi bảo mọi
người: Chẳng thể xảo hợp như vậy
được, trong thiên hạ há có chuyện xảo
hợp ấy? Mỗi người niệm Phật ba
năm bèn mất, tôi nói không có khả năng xảo
hợp như vậy được, trên thực tế th́
sao? [Niệm Phật] ba năm thành tựu th́ thọ
mạng vẫn c̣n đó, do họ không cần đến
nên đi trước, tôi tin rằng những người
như vậy rất nhiều.
Trường hợp rơ ràng nhất là
sư Oánh Kha đời Tống. Sư thực sự
dũng
mănh,
tinh tấn, niệm cảm A Di Đà Phật hiện
đến. A Di Đà Phật bảo sư: “Thọ
mạng ông hăy c̣n mười năm. Đợi mười
năm nữa, thọ mạng của ông hết, ta lại
đến tiếp dẫn ông”. Sư không cần:
“Mười năm tuổi thọ con không cần, con
muốn theo Ngài ngay bây giờ”. A Di Đà Phật đáp
ứng: “Tốt! Ba ngày sau ta sẽ đến tiếp dẫn
ông”. Ba ngày sau quả nhiên sư văng sanh. Như vậy, quư
vị phải hiểu người có năng lực ra đi
là thực sự niệm Phật thành công, công phu ǵ vậy?
Nói thật ra, không khó lắm đâu, công phu thành phiến
đấy thôi! Văng sanh Phàm Thánh Đồng Cư
độ. Rất nhiều người đạt đến
cảnh giới này, đi được, đối
với thế giới này không c̣n tham luyến, thực
sự buông xuống được! Phải nói như vậy
mới hợp lư.
Chúng ta
biết nếu công phu đạt đến tŕnh độ
này, quư vị nghĩ xem, quư vị có bằng ḷng đi hay
không? Có c̣n bằng ḷng chịu khổ trong thế gian này hay
không? Đâu có ai đần như thế! Thực sự
thành tựu công phu, có thể đi được mà
vẫn không đi, chỉ có một lư do: Ta và chúng sanh ở
nơi này vẫn c̣n có duyên, ta c̣n muốn mang theo mấy
người nữa cùng đi. Ta không gấp đi, ta ở
lại đây vài năm nữa ḥng mang theo những
người ấy đi. Quư vị hăy nghĩ xem, trừ
điều kiện ấy ra, há c̣n điều kiện nào khác
khiến ḿnh ở lại? Không có! Do nguyên nhân như vậy
mà ở lại thế gian này, chính là như tôi
thường nói: “Thừa
nguyện tái lai” (Nương theo bổn nguyện để
trở lại). Vấn đề nơi cái thân nghiệp
báo của người ấy đă giải quyết xong,
quả thật văng sanh lúc nào cũng được,
vẫn chưa đi v́ c̣n phải giúp chúng sanh hữu duyên.
Tức là trong thế gian này vẫn có những người
có thể tin lời người ấy khuyên dạy, có
thể hiểu biết, có thể hành, những kẻ
ấy có thể văng sanh. Người [có thể văng sanh mà ở
lại thế gian này] chẳng v́ bản thân mà v́ chúng sanh.
Trong Phật pháp thường nói: “V́ tiếp
nối huệ mạng của Phật, v́ rộng
độ chúng sanh”; c̣n chuyện của bản thân th́ giống
như kinh điển đă nói: “Sở
tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu”
(Việc làm đă xong, không thọ thân sau). Chuyện của
bản thân đă giải quyết ổn thỏa, thích
đáng, có thể văng sanh bất cứ lúc nào. “Hậu
hữu” là ǵ? Là luân hồi, quyết định
chẳng c̣n luân hồi trong lục đạo. Cảnh
giới như vậy, sanh tử đă giải quyết
xong, không có ǵ không buông xuống được. Chúng ta
học Phật, nói thật ra, tối thiểu phải
học được bản lănh ấy mới không
uổng một đời này. Bản lănh ấy không khó, v́
công phu ấy chẳng phải là rất sâu. Nếu muốn
đạt Sự nhất tâm bất loạn hay Lư nhất
tâm bất loạn th́ đúng là không dễ, nhưng công phu
thành phiến không khó. Khó nhất ở chỗ nào? Khó
nhất ở chỗ buông xuống.
Tôi thường khuyến khích các
đồng tu: Quư vị phải thực sự làm
được, đừng nghĩ đến lục
đạo luân hồi nữa. Trước hết, phải
buông tự tư tự lợi xuống, chớ nên có ư
niệm ấy. Phải buông danh văn, lợi dưỡng
xuống. Có lúc có thể dùng danh văn, lợi dưỡng
làm trợ duyên để hoằng dương Phật pháp.
Nếu nó giúp ích cho việc hoằng pháp lợi sanh, có
cơ duyên ấy, chúng ta cũng đừng từ chối.
V́ sao? Nó có thể phụ giúp. Không có cơ duyên ấy th́
trọn chẳng mong cầu, nhất định chớ nên
phan duyên. Nếu có duyên phận ấy, danh văn, lợi
dưỡng bèn đưa đến, tự ḿnh phải suy
nghĩ: Đối với việc hoằng pháp lợi sanh,
nếu nó không giúp ích ǵ th́ không cần đến nó. Nếu
nó có ích cho việc hoằng pháp lợi sanh, có thể phụ
trợ th́ có thể dùng nó, không tham luyến! Nói cách khác,
chính bản thân ḿnh không cần tới nó. Quyết
định chẳng được tham chấp
hưởng thụ ngũ dục, lục trần; hễ
tham chấp hưởng thụ ngũ dục lục
trần, lập tức bị đọa lạc,
đọa lạc rất nhanh! Hiện tại chúng ta
đang sống trong một xă hội thường được
gọi là một quốc gia đă mở mang, đă phát
triển, cuộc sống của mọi người dân
đều khá giàu có, người học Phật chúng ta nên tùy
duyên. Trong tùy duyên phải biết tiết kiệm, thứ
ǵ cũng phải biết mến tiếc, tiếc
phước đấy!
Hôm qua, tôi ở khách sảnh (nhà nghỉ dành
cho khách) số 61, trông thấy cái máy lọc nước, những
cái chậu rửa chén, mọi người dùng xong không
chịu tiện tay lau rửa sạch sẽ. Đó là yêu
tiếc vật lực. Quư vị thấy trong pḥng vệ
sinh của tôi, cái ṿi nước dùng đă lâu năm
rồi, quư vị cứ xem đi, vẫn c̣n mới, là v́
nguyên nhân nào? Dùng xong, trên mặt nó bám nước, dùng
khăn khô lau đi, giữ nó như mới hoài. Do vậy,
tôi dùng thứ ǵ, có thể dùng được hai
mươi năm, quư vị dùng tối đa mười
năm là hư. Tiện tay lau chùi sạch sẽ gọi là
tiếc phước! Việc nhẹ nhàng dễ làm, nhưng
mọi người không dưỡng thành tập quán,
từ nhỏ đă quen lăng phí, dường như
người trong nhà cũng không dạy quư vị.
Có liên quan đấy! Tôi xuất thân
từ một gia đ́nh nghèo khổ, cho nên đối
với thứ ǵ cũng biết yêu tiếc, từ nhỏ
đă dưỡng thành thói quen tuyệt đối không lăng
phí. Y phục, quả thật mặc đến khi không
thể mặc được nữa mới thay cái
mới, thay một bộ. C̣n mặc được,
cứ mặc tiếp, cốt sao sạch sẽ, cốt sao
chỉnh tề. Chúng ta tiếp kiến khách khứa cũng
nên như vậy, đó là bổn phận của
người xuất gia, bất luận dùng vật dụng
ǵ, như cái bàn, cái ghế, đều phải lau chùi
sạch sẽ, giữ cho nó hoàn hảo. Như vậy,
từng chút từng chút một dưỡng thành thói quen
tiếc phước, dưỡng thành thói quen tiết
kiệm.
Tham - sân - si - mạn nhất định phải đoạn. Mười sáu chữ
này tôi
thường
khuyên các đồng học. Có mười sáu chữ
ấy, quư vị niệm Phật chưa chắc
được văng sanh; mười sáu chữ ấy
phải đổi đi, phải đoạn đi th́ văng
sanh mới nắm chắc. A! Bây giờ đă hết
giờ rồi.
*
Xin xem tiếp đoạn
thứ tám, chúng tôi đọc đoạn văn ấy
một lượt:
“Cố nhất
thanh A Di Đà Phật, tức Thích Ca Bổn Sư ư ngũ
trược ác thế sở đắc chi A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp, kim dĩ thử quả
giác toàn thể, thọ dữ trược thế chúng sanh,
năi chư Phật sở hành cảnh giới, duy Phật dữ
Phật năng cứu tận, phi cửu giới tự lực
sở năng tín giải dă”
(V́ thế một tiếng A Di Đà Phật chính là pháp
để Bổn Sư Thích Ca đắc A Nậu Đa La
Tam Miệu Tam Bồ Đề trong đời ác Ngũ
Trược. V́ thế, nay đem toàn thể Quả Giác này
trao cho chúng sanh trong đời Trược, mà cảnh
giới sở hành của chư Phật ấy chỉ có
Phật với Phật mới có thể rốt ráo tận
cùng, chúng sanh trong chín pháp giới chẳng thể cậy vào
tự lực của chính ḿnh mà ḥng tin hiểu
được!)
Mấy câu cuối lại cần
phải giảng. Đạo lư “niệm Phật thành
Phật” không khó hiểu. Chư Phật Như Lai, các
tổ sư Bồ Tát đều thường nói: “Tự
tánh vốn sẵn là Phật, hết thảy chúng sanh
đều có Phật tánh, vốn sẵn là Phật”. Hiện tại lại phát
tâm niệm Phật, vốn sẵn là Phật, thưa cùng
quư vị, là “duy tâm sở hiện”. Nay biến thành phàm phu
là v́ “duy thức sở biến”. Phàm phu nay giác ngộ,
lại muốn niệm Phật, niệm Phật th́ do duy
tâm nên phàm phu lại biến thành Phật. Như vậy, quư
vị vốn đă thành Phật sẵn, nay lại niệm
Phật, há có đạo lư không thành Phật? Nếu dùng
Tịnh Độ Tông để luận th́ “tâm này là Phật”, tức quư vị vốn sẵn
là Phật, nay quư vị niệm Phật, “tâm này làm Phật”, tâm này là Phật mà tâm này
lại làm Phật, há lẽ chẳng thành Phật ư?
Thích Ca Mâu Ni Phật niệm Phật thành Phật,
đạo lư là như vậy!
Niệm Phật là nhân, thành Phật là
quả, há chẳng nói “hết
thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh” đó sao? Quư
vị niệm cái ǵ bèn thành cái đó. Như vậy, quư
vị niệm Bồ Tát sẽ thành Bồ Tát, niệm La Hán
sẽ thành La Hán. Quư vị niệm trời sẽ sanh lên
trời, niệm “nhân” tương lai vĩnh viễn không
mất thân người. Nhân (仁) là ǵ? Nhân là nhân từ, luân thường
đạo đức là nhân, quư vị không bị mất
thân người. Quư vị niệm niệm là tâm tham,
niệm niệm là tham th́ sẽ làm ngạ quỷ. Tham là
nghiệp nhân của đường ngạ quỷ. Quư
vị niệm niệm là sân khuể, sân khuể là
nghiệp nhân của địa ngục, quả báo là vào
địa ngục. Niệm niệm ngu si, ngu si là nghiệp
nhân của súc sanh. Như vậy, mười pháp giới do
đâu mà có? Mười pháp giới từ tâm tưởng
sanh, quư vị nghĩ cái ǵ liền hiện pháp giới như
thế ấy. Chúng ta đă hiểu đạo lư này, đă
hiểu rơ chân tướng sự thật này, cớ sao chúng
ta không nghĩ đến Phật? Như vậy, niệm
Phật là nhân, thành Phật là quả! Công đức
bậc nhất trong mười pháp giới, quư vị
phải hiểu rơ ràng.
Ở đây, Thích Ca Mâu Ni Phật
biểu diễn cho chúng ta thấy, niệm A Di Đà
Phật chứng Vô Thượng Phật Quả. Nay lăo nhân
gia đem phương pháp ấy, phương pháp ấy là
pháp bậc nhất để tu hành chứng quả,
truyền trao cho chúng ta là những chúng sanh trong đời Trược,
vấn đề là chúng ta có phước báo, thiện
căn, phước đức hay không. Nếu quả
thật có thiện căn, có phước đức, nghe
lời Thích Ca Mâu Ni Phật khuyến cáo bèn tin tưởng,
không hoài nghi, được đức Thế Tôn làm cho cảm
động, triệt để hồi đầu, thực
sự quay đầu lại, y giáo phụng hành, trong một
đời này, lẽ nào quư vị chẳng thành Phật
ư? Niệm vừa chuyển đă không c̣n là người
trong thế giới Sa Bà nữa! Quư vị chỉ c̣n
đợi ngày văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, đây là thành tựu thực sự, chân thật
thành tựu vậy!
Như vậy, trong ba câu sau cùng,
đại sư nói rất hay: Đây là cảnh giới
sở hành của chư Phật, hết thảy chư
Phật do đâu mà thành Phật? Không vị Phật nào chẳng
do niệm Phật mà thành Phật! Nếu các Ngài không
niệm Phật, làm sao thành Phật được?
Mười pháp giới sanh từ tâm tưởng, chỉ
có nhớ Phật, niệm Phật, hiện tại,
tương lai, nhất định thành Phật! Như
vậy, Lư và Sự này “duy Phật
dữ Phật năng cứu tận” (chỉ có Phật
với Phật mới có thể rốt ráo cùng tận),
rốt ráo triệt để hiểu rơ phải là Như Lai
quả địa. Nếu đối với chư
Phật Như Lai chúng ta có thể tin, có thể hiểu, có
thể hành, há chúng ta chẳng nhập Phật tri kiến
ư? Thật đấy, chuyện này nhất định sẽ
được oai thần của chư Phật gia tŕ,
được bổn nguyện của A Di Đà Phật
gia tŕ, được hết thảy chư Phật Như
Lai viên măn rốt ráo gia tŕ. “Phi
cửu giới tự lực sở năng tín giải dă” (Chẳng
phải cậy vào tự lực của chúng sanh trong chín
pháp giới mà ḥng tin hiểu được.) Đây là pháp
khó tin, chúng sanh thuộc chín pháp giới nếu cậy vào
tự lực để tin hiểu, dường như
không thể hiểu nổi. V́ thế, quư vị có thể
tin, có thể hiểu là do Phật lực gia tŕ, tự
lực cảm, Phật lực ứng, cảm ứng
đạo giao!
Ngày nay có rất nhiều đồng
học chúng ta, vẫn chẳng thể chết sạch ư niệm
mong ngóng, so đo, khiêm hư sát đất tu pháp môn này,
vọng tưởng, tạp niệm vẫn rất
nhiều, là v́ nguyên nhân nào? Nguyên nhân là v́ ít thiện căn,
ít phước đức, tuy gặp được duyên,
nhưng như thế nào? Không thể hoàn toàn tin
tưởng, chẳng thể buông xuống vạn duyên,
chứng tỏ thiện căn, phước đức
không đủ! Thiện căn, phước đức
không đủ, có thể bổ túc. Bổ túc là duyên, quư
vị có gặp được thiện tri thức chân
chánh giảng kinh luận Tịnh Tông cho quư vị hay không?
Như đem kinh Di Đà giảng giải tỉ mỉ,
như tôi đă nói, đem những cuốn Sớ Sao
của Liên Tŕ đại sư, cuốn Yếu Giải
của Ngẫu Ích đại sư, cuốn Viên Trung Sao
của U Khê đại sư giảng kỹ [cho quư vị
nghe] một lượt th́ cái duyên ấy chẳng thể
nghĩ bàn! Duyên ấy có thể nâng cao thiện căn,
phước đức của quư vị, bổ túc
những chỗ thiếu nơi thiện căn, phước
đức của chính ḿnh. Quư vị nghe xong, bèn bị
cảm động, thực sự có thể buông xuống
vạn duyên, nhất tâm xưng niệm bèn thành công. Không
gặp được thiện tri thức, khổ rồi,
sách của Liên Tŕ đại sư có sẵn đó, sách
của Ngẫu Ích đại sư cũng có sẵn đó,
nhưng đọc không hiểu, cũng uổng thôi!
Hiện tại, có người ngay
cả loại văn Văn Ngôn tương đối rơ ràng,
không sâu xa lắm mà c̣n đọc không được th́ c̣n
có cách nào chăng? Thời kỳ Mạt Pháp c̣n được
chín ngàn năm, đến tối hậu của thời
Mạt Pháp, hết thảy kinh đều diệt tận,
tối hậu đức Thế Tôn lưu lại kinh này
một trăm năm. Khẳng định kinh
được lưu lại ấy chính là kinh Vô
Lượng Thọ và A Di Đà Kinh, tức là Đại
Bổn và Tiểu Bổn diệt sau cùng. Đến cuối
cùng, những kinh này cũng diệt, vẫn c̣n một câu
Phật hiệu A Di Đà Phật lưu truyền trong
thế gian. Có người niệm được một
tiếng, nghe thấu một tiếng, đều trồng
thiện căn. Hy hữu khó gặp! Quả thật,
nếu chẳng được Phật lực gia tŕ, chúng
ta chẳng có năng lực y giáo phụng hành. Lại xem
tiếp đoạn dưới.
“Tín nguyện
tŕ danh nhất hạnh” (Một
hạnh tín nguyện tŕ danh), tín nguyện tŕ danh chính là
đầy đủ ba điều kiện của pháp môn
Tịnh tông. Chân tín, nguyện thiết, ta không có mong mỏi
ǵ khác, chỉ mong sanh về Tịnh Độ, chỉ mong
thân cận Di Đà, trừ nguyện vọng đó ra,
nguyện vọng ǵ cũng không có. Một cái nguyện ấy
đă đầy đủ bốn mươi tám nguyện
của A Di Đà Phật. Theo như Ngẫu Ích đại
sư đă giảng trong sách Yếu Giải, tín và
nguyện ấy thực sự là đại Bồ
Đề tâm, quyết định được sanh vào
Tịnh Độ. Quư vị tŕ danh th́ trong tương lai
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
phẩm vị của chính ḿnh cao hay thấp hoàn toàn do công
phu tŕ danh sâu hay cạn. Quư vị cật lực niệm
Phật, v́ lẽ ǵ? Nhằm nâng cao phẩm sen, chứ không
v́ ǵ khác. Công phu thực sự thành thục, nắm chắc
văng sanh. Nói cách khác, lúc nào quư vị cũng có thể ra
đi được, không có một tí chướng
ngại ǵ. Lại chú tâm quan sát trong thế gian này c̣n ai có
duyên phận hay không. Nếu có duyên phận, chẳng nóng ḷng
ra đi, mà mong mang thêm mấy người nữa. Chú tâm
quan sát thấy không có duyên phận, bèn an tâm ra đi.
Trong Văng Sanh Truyện thời cận
đại, chúng ta thấy đồ đệ của lăo
ḥa thượng Đế Nhàn là pháp sư Đàm Hư, cụ
Đàm kể cho chúng ta nghe rất nhiều chuyện.
Xưa kia tại chùa Cực Lạc ở Cáp Nhĩ Tân
(Harbin), pháp sư Tu Vô công phu niệm Phật chín muồi,
thấy không ai có duyên phận [với Sư]. Sư sống
trong đạo tràng, do v́ tự ḿnh chưa từng đi học,
không biết chữ, làm việc nặng trong đạo
tràng. Tuy Sư công phu niệm Phật chín muồi, nghĩ
không ai tôn trọng ḿnh, không ai tin tưởng ḿnh, chỉ có
tự ḿnh ra đi, công phu vừa chín muồi liền
lập tức ra đi. Đi rồi, mọi người
mới tin tưởng, mới khâm phục, khen ngợi
Sư. Nếu Sư không mất, không ai coi trọng Sư.
Do vậy, Sư công phu đă thành tựu, bèn phải ra
đi. Nếu trong cuộc sống quư vị tu dưỡng
đạo đức, thành tựu học vấn, có
rất nhiều người tôn trọng, tin tưởng,
quư vị nói ra họ chịu tiếp nhận, th́ khi công phu
thành thục, quư vị chẳng thể đi. Là v́ trong
thế gian này, có không ít người có duyên cùng quư vị. Có
duyên th́ chẳng thể đi; vô duyên th́ lập tức ra
đi. Như vậy, người công phu thành thục
trụ thế lâu dài, chẳng do ư ḿnh mà hoàn toàn v́ duyên
phận. Hữu duyên bèn trụ, duyên hết bèn đi, đó
là “thừa nguyện tái lai”.
Như vậy, câu này rất trọng
yếu, tín nguyện tŕ danh, phương pháp tu hành này “bất thiệp thi vi, viên chuyển
Ngũ Trược” (không cần phải tạo tác,
chuyển trọn vẹn Ngũ Trược). Phạm vi
của hai chữ “thi vi”
rộng răi vô cùng. Hết thảy hành vi thế gian, xuất
thế gian đều có thể buông xuống, cũng có
thể nói, pháp môn Niệm Phật này có cần các pháp môn
khác hỗ trợ hay không? Không cần! Pháp thế gian hay
xuất thế gian đều không cần đến,
thảy đều buông xuống. “Viên chuyển Ngũ Trược”, phần trên tôi
đă nói rồi, chỉ cần có ḷng tin mới có thể
vào cửa, phải có ḷng tin thực sự. Quư vị có ḷng
tin hay không th́ từ trong cuộc sống thường
nhật của quư vị sẽ có thể thấy ngay. V́
sao? Quả thật là tin tưởng chân thật th́ sẽ
buông xuống vạn duyên. C̣n có ǵ chưa buông xuống
được, c̣n có phân biệt, c̣n có chấp trước
th́ ḷng tin chưa có cội rễ, chẳng phải là ḷng tin
chân thật. Chẳng thể nói là kẻ ấy không tin,
cũng chẳng thể nói là có ḷng tin. V́ sao không buông
xuống được? V́ có nghi lự; nói cách khác, nghi t́nh
đối với pháp môn này chưa đoạn, nên trong tín
nguyện có xen tạp. Những xen tạp ấy là
chướng ngại nghiêm trọng cho việc tu học
pháp môn này, chướng ngại công phu chẳng thể thành
phiến, không chắc được văng sanh!
Trong t́nh h́nh đó, làm cách nào để
giúp đỡ kẻ ấy? Nghe kinh, học giáo. Nghe kinh là
chuyên nghe kinh sách Tịnh tông. Kinh sách Tịnh tông gồm sáu
loại, tức “năm kinh, một luận”. Hoặc là
chuyên nghe kinh A Di Đà, hoặc là chuyên nghe kinh Vô
Lượng Thọ, như vậy mới được.
Cứ nghe nhiều lần, phải nghe bao nhiêu lần? Nghe
đến khi quư vị thực sự tin tưởng, nghi
hoặc, nghi t́nh thực sự đoạn, vạn duyên
buông xuống, lúc ấy mới có thể không nghe nữa. Một
câu Phật hiệu niệm đến cùng cực là
được, đó gọi là “chân
tín”. Quư vị phải hiểu mục đích của
việc nghiên cứu giáo pháp là đoạn nghi sanh tín.
Phải đầy đủ tín nguyện tŕ danh, cầu
sanh Tịnh Độ, thực sự có thành tựu.
“Phi tư
nghị sở hành cảnh giới” (cảnh giới sở hành chẳng
thể nghĩ bàn), “phi tư
nghị” là “bất khả
tư nghị”. V́ sao nói “chẳng
thể nghĩ bàn”? Phần trên đă nói rồi, cảnh
giới này là cảnh giới sở hành của chư
Phật, niệm Phật thành Phật là cảnh giới
sở hành của chư Phật. Chúng sanh trong chín pháp
giới ai niệm Phật người ấy thành Phật,
đó là chẳng thể nghĩ bàn! Địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh chịu niệm Phật, không một
ai chẳng thành Phật, đời sau thành tựu Phật
pháp, đều là hoành siêu. Do vậy, loại Phật pháp này
được gọi là pháp khó tin.
“Thiết
phi Bổn Sư lai nhập ác thế, thị đắc Bồ
Đề, dĩ đại trí, đại bi, kiến thử,
hành thử, thuyết thử, chúng sanh hà do bẩm thử dă
tai” (Nếu không phải là đức
Bổn Sư vào trong đời ác, thị hiện
đắc Bồ Đề, dùng đại trí, đại
bi, thấy điều này, hành điều này, nói
điều này, chúng sanh do đâu mà được bẩm
thọ pháp này vậy?) Chuyện này mấy ai biết?
Đừng nói là những người nghiên cứu Phật
pháp không biết, nói thật ra, người tu học
Tịnh Độ, tại gia hay xuất gia, lại có được
mấy người biết? Thực sự là họ không
biết, bởi thế, công phu chẳng thể thành tựu,
công phu chẳng thể thành phiến, trong một
đời này chẳng thể văng sanh. Nếu thực
sự hiểu, không một ai sẽ chẳng thành tựu
trong đời này. Quư vị thực sự hiểu, quư
vị sẽ cảm ân! Đây là giả thiết, nếu
đức Thích Ca Mâu Ni Phật (Bổn Sư là Thích Ca Mâu Ni
Phật) không thị hiện trong thế gian này, nhằm đúng
đời ngũ trược ác thế này, ở trong
thế gian này biểu diễn niệm Phật thành
Phật, “thị hiện
đắc Bồ Đề”, tức là v́ chúng ta biểu
diễn niệm Phật thành Phật; trong kinh, đức Phật
thường dạy chúng ta “v́
người diễn nói”, Thích Ca Mâu Ni Phật tự
thực hiện. Phật v́ chúng ta biểu diễn, v́ chúng ta
nói rơ Ngài tu học pháp môn này. Pháp môn này là Tŕ Danh Niệm
Phật, nhất tâm bất loạn, tâm không điên
đảo, chứng đắc A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề như vậy.
“Dĩ đại
trí” (dùng đại trí), trí
huệ viên măn rốt ráo, tâm từ bi triệt để,
thấy
trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, chỉ có pháp môn này thành
tựu nhanh chóng nhất, đơn giản nhất, dễ
dàng nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất, thành
tựu cao nhất, không ǵ sánh bằng. Một đời
viên măn thành tựu, chẳng cần đợi đến
đời thứ hai, một niệm, mười niệm
đều có thể thành công. Mấu chốt ở nơi
đây là quư vị phải thực sự hiểu
được đạo lư này, triệt để
liễu giải phương pháp chẳng thể nghĩ
bàn. Có thể thực sự buông xuống được! Tôi
thường nhắc đến mười sáu chữ,
buông tự tư, tự lợi xuống, buông danh văn,
lợi dưỡng xuống, buông hưởng thụ
ngũ dục, lục trần xuống, buông tham - sân - si -
mạn xuống, một câu Phật hiệu niệm
đến cùng tột, không có một ai chẳng thành công,
không một ai chẳng văng sanh.
Dù là văng sanh Hạ Hạ Phẩm trong
Phàm Thánh Đồng Cư độ, Ngẫu Ích đại
sư bảo cũng là chẳng thể nghĩ bàn! Bởi
lẽ, Tây Phương Tịnh Độ là pháp giới b́nh
đẳng, sanh vào cơi Đồng Cư là sanh vào cơi Thật
Báo, là sanh vào cơi Thường Tịch Quang! Sanh vào một là
sanh vào hết thảy, mười phương các cơi
Phật không t́m được cơi nào giống như
vậy. Người văng sanh Hạ Hạ Phẩm trong Phàm
Thánh Đồng Cư Độ, hằng ngày nghe A Di Đà
Phật răn dạy, hằng ngày cùng Quán Âm, Thế Chí,
Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc những vị
đại Bồ Tát như thế, nắm tay cùng đi.
Mọi người sống cùng một chỗ, học
tập cùng một chỗ, t́m đâu ra được hoàn cảnh
ấy! Thực sự chẳng thể nghĩ bàn. Đức
Phật thấy những lợi ích ấy, tự bản
thân Ngài làm được. Ngài nói: “Ngă kiến thử lợi”
(ta thấy sự lợi
ích ấy), nhưng nếu chính Ngài không làm, ắt chúng
ta hoài nghi. Thực sự thấy lợi ích ấy th́
nhất định phải làm; nếu không làm, ông nói
lợi ích tốt đẹp dường ấy, tôi nghe
rồi cười h́ h́, không dám tin tưởng! Thực
sự làm, thực sự nói!
Bởi vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật
giảng pháp môn Tịnh Độ rất nhiều lần
trong suốt bốn mươi chín năm, chuyên giảng
Tịnh Độ Tam Kinh. Cổ đức bảo kinh Vô
Lượng Thọ không chỉ giảng một lần, mà kinh
Vô Lượng Thọ tối thiểu phải giảng ba
lần. Trong hiện tại, chúng ta thấy có năm
bản dịch gốc, chú ư xem kỹ từng bản th́
thấy nguyên bản của những bản dịch
chắc chắn không thể chỉ là một. Nếu là cùng
một bản th́ khi phiên dịch ra, dù người phiên
dịch khác nhau th́ cũng chỉ đại đồng
tiểu dị, không thể sai biệt nhiều như
vậy. Năm bản dịch gốc khác biệt nhau
rất nhiều; rơ ràng nhất là số lượng các
nguyện khác nhau. Trong năm bản ấy, hai bản nêu
bốn mươi tám nguyện, hai bản nêu hai mươi
bốn nguyện, một bản nêu ba mươi sáu
nguyện. Nếu quư vị bảo là cùng từ một
bản Phạn Văn dịch ra th́ không thể có sai
biệt như vậy được, chắc chắn không
phải là một bản. Do vậy, cổ nhân nói tối
thiểu phải có ba thứ nguyên bản, tức là có ba
thứ bản gốc bất đồng. Nói cách khác, đức
Thế Tôn diễn giảng ba lần khác nhau.
Trong số đó lại c̣n có bảy
bản dịch bị thất truyền, bảy bản
dịch có khác nhau hay không, ta không biết. V́ vậy,
khẳng định Thích Ca Mâu Ni Phật tuyên thuyết kinh
Vô Lượng Thọ nhiều lần, cả một
đời giảng kinh của lăo nhân gia chưa từng có
hiện tượng ấy. Nhiều lần tuyên nói, ắt
phải hết sức trọng yếu! Đó là nhằm “thuyết thử” (nói
điều này). Nếu Thích Ca Mâu Ni Phật không v́ chúng ta nêu
gương, nhiều lần tuyên thuyết, khuyên dạy, “chúng sanh hà do bẩm thử” (chúng
sanh nhờ vào đâu [để lănh nhận] pháp này), tức là chúng sanh nhờ vào
đâu để tu học pháp môn này? Cái để chúng ta
nhờ cậy chính là ǵ? “Bẩm”
(稟) là nhờ vào,
nhờ vào cái ǵ? Nhờ vào Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện
cho chúng ta thấy, Thích Ca Mâu Ni Phật một rồi hai,
hai rồi ba, ba rồi bốn lượt xót ḷng buốt
họng tuyên nói khuyên dạy, chắc chắn không giả.
Đó là đức Phật thực sự đại
từ đại bi lưu lộ!
Hiểu đến mức độ này,
quư vị mới thực sự cảm ơn! Cảm ơn
th́ dùng cách nào để báo đáp? Y giáo phụng hành! Trong
một đời này, y theo pháp môn này được sanh về
Tịnh Độ, thân cận Phật Di Đà mới là báo
đáp đại ân của Thích Ca Mâu Ni Phật, mới ḥng
báo đáp ân đức của mười phương
chư Phật khen ngợi trong pháp hội này. Mười
phương Phật khen ngợi khiến cho tín tâm của
chúng ta được thành tựu, đoạn trừ nghi
hoặc cho chúng ta. Lại xem tiếp đoạn kế.
“Nhược
bất thâm tri kỳ thậm nan, tương vị cánh hữu
biệt pháp khả xuất Ngũ Trược” (Nếu chẳng biết sâu xa là rất
khó, sẽ nói c̣n có pháp khác để thoát Ngũ
Trược). Nếu quư vị không biết (“tri” ở đây là biết sâu
xa, không phải là biết nông cạn) th́ khó lắm! Chuyện
ǵ khó? Vượt thoát lục đạo luân hồi
thật khó! Tám vạn bốn ngàn pháp môn, bất cứ pháp
nào cũng phải đoạn phiền năo, phải
đoạn Kiến Tư phiền năo, trong phần trên
gọi [Kiến Tư phiền năo] là Ngũ Trược.
Nói thật ra, cái nhân của Ngũ Trược là Kiến
Trược và Phiền Năo Trược, ba thứ kia là
quả báo, nhân lẫn quả đều trược. Ai có
năng lực đoạn Kiến Tư phiền năo?
Kiến Tư phiền năo chẳng đoạn, vĩnh
viễn chẳng thể thoát khỏi lục đạo luân
hồi, bởi lẽ, lục đạo luân hồi do
Kiến Tư phiền năo biến hiện.
Lúc tôi mới học Phật, hâm mộ
kinh giáo, đặc biệt thích kinh giáo. Sau khi thâm nhập
một chút mới biết là thực sự khó. Nhân duyên
dốc ḷng nơi Tịnh Độ vẫn là nhờ vào
kinh giáo, tôi đă thưa cùng quư vị nhiều lần. Tôi
giảng Lăng Nghiêm bèn phát hiện trong hai mươi
lăm pháp Viên Thông, pháp do Quán Âm và Thế Chí thị hiện
đúng là môn viên thông đặc biệt. Quán Âm và Thế Chí
thuộc vào Tây Phương Tam Thánh trong pháp môn Tịnh
Độ, pháp môn được các Ngài chỉ dạy trong
hội Lăng Nghiêm là pháp môn đặc biệt, ban cho chúng
ta một khải thị rất lớn. Cuối kinh Hoa
Nghiêm, “mười đại
nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, hai
vị đại sĩ Văn Thù và Phổ Hiền phát
nguyện nói kệ cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, nhờ thế tôi mới phục, mới
buông bỏ nghi hoặc. V́ sao? Văn Thù, Phổ Hiền,
Quán Âm, Thế Chí là những vị trong tâm chúng tôi kính
ngưỡng, ngưỡng mộ nhất. Các Ngài
đều niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ
th́ tôi c̣n ǵ để nói nữa, phải làm theo thôi!
Chết sạch ḷng mong ngóng, chụp giật, so đo, khiêm
hư sát đất, không c̣n nghi hoặc nữa!
Về kinh giáo, tôi cũng đă kể
cùng quư vị nhiều lần, sau khi tôi hiểu rơ, kinh giáo
cũng buông xuống. Hiện thời vẫn c̣n giảng
nhiều kinh điển là v́ thế tục nhân t́nh, quá
nhiều người khải thỉnh, tôi suy nghĩ: Nếu
không giảng sẽ có lỗi. V́ vậy, bỏ chút thời
gian giúp đỡ hậu học, dụng ư là như vậy.
Nếu thực sự chỉ v́ chính ḿnh, th́ tôi đă
từng thưa cùng quư vị rồi đó, tôi chỉ
giảng một bộ kinh, bộ nào vậy? A Di Đà Kinh
Yếu Giải. Bộ này tôi được lợi ích
lớn nhất, tôi ưa thích A Di Đà Kinh Yếu Giải
nhất! Một bộ ấy là đủ rồi, há c̣n
phải làm ǵ khác? Liên Tŕ đại sư nói: “Tam Tạng mười hai bộ
kinh dành cho người khác ngộ”. Bao nhiêu năm qua, tôi thâu thập các sách vở
thế gian và xuất thế gian không ít, nay bày đầy
trong pḥng học của chúng ta. Tôi có muốn đọc
những sách ấy nữa hay không? Không! Tôi chưa từng
mong đọc nhiều sách như thế. V́ sao lại
phải thâu thập nhiều như vậy? Sợ chúng
bị thất truyền. Thế giới hiện nay
nhằm thời loạn, t́m được một chỗ
an toàn để tàng trữ, lưu lại cho hậu nhân,
dụng ư của tôi là như vậy.
Bởi vậy, chỉ cần là
người thích đọc sách, t́m đến đây, tôi
đều hoan hỷ, tôi đều cúng dường, tôi vui
ḷng thành tựu người ấy. Ở chỗ tôi đây,
sách vở Nho, Thích, Đạo đều có, nhưng sách
vở Đạo Gia khá ít, hiện thời người
học cũng không nhiều, học Phật và Nho nhiều
hơn. Các bạn đồng học nếu hiểu
dụng tâm của tôi, hiểu rơ sự tu học của tôi
sẽ thấy tôi “một môn
thâm nhập”. Tôi giảng kinh Vô Lượng Thọ
mười lần, lần giảng này ở Tân Gia Ba là
lần thứ mười một. V́ sao phải giảng
kinh này? V́ được hai người phó thác.
Người thứ nhất là thầy tôi, tức lăo cư
sĩ Lư Bỉnh
“Hỏa trạch
chi trung, hư luận phân nhiên” (Trong
nhà lửa, hư luận tưng bừng). Hôm nay chúng tôi
đọc đến hai câu này, cảm khái rất sâu. “Tam giới hỏa trạch”
(nhà lửa ba cơi) là câu nói của đức Phật trong
kinh Pháp Hoa. Khi xưa tôi đọc Pháp Hoa, đọc
đến câu này, cảm xúc không sâu đậm. Nay nh́n vào xă
hội hiện tại, đúng là nhà lửa! Tai nạn
dồn dập, có thể nói là người sống trên
địa cầu này, có mấy ai thân tâm an ổn? Tợ
hồ t́m chẳng được một ai! Quư vị hăy
đi hỏi: “Ông có cảm thấy an toàn hay chăng?”
Người ta sẽ đáp: “Không cảm thấy an toàn!”
Trong một đời, bất luận theo đuổi
nghề nghiệp nào, bất luận sống tại
một địa phương nào, đều không có
cảm giác an toàn! Quư vị nói có phải đáng sợ hay
không? “Hư luận tưng
bừng”, hư luận là tà tri tà kiến, ngày nay quá rơ ràng.
Quư vị thấy truyền h́nh phát đi những ǵ? Nội
dung của báo chí, tạp chí là ǵ? Trên Internet đăng
tải những ǵ? Hư luận tưng bừng!
“Duy thâm tri
kỳ thậm nan” (Chỉ
có ai biết sâu xa điều này rất khó), chỉ có
những ai thực sự biết sâu sắc chuyện này,
tức là biết liễu sanh tử thoát tam giới rất
khó th́ sau đấy mới “tử
tận thâu tâm” (chết sạch cái tâm tham ngóng), buông
hết thảy pháp môn xuống, “bảo
thử nhất hạnh” (quư báu một hạnh này),
một hạnh ấy là ǵ? Một hạnh “tín nguyện tŕ
danh”. Tín nguyện tŕ danh nương theo kinh điển
đơn giản nhất, đáng tin cậy nhất là ba
bộ sách:
- Đại Thừa Vô Lượng
Thọ Kinh: Nay ta chọn bản hội tập của lăo
cư sĩ Hạ Liên Cư, chủ yếu là giúp chúng ta
sanh khởi tín tâm, giúp chúng ta phát nguyện, rồi mới
tín nguyện tŕ danh, văng sanh Tịnh Độ.
- Ngoài ra c̣n có hai bộ, A Di Đà Kinh
Sớ Sao và A Di Đà Kinh Yếu Giải.
Ba bộ sách này chỉ cần hành theo
một bộ bèn thành công, chết sạch cái tâm mong ngóng,
khiêm hư sát đất [y giáo phụng hành]. Có thể
học cả ba bộ ấy, rất tốt! Chúng hỗ
trợ, thành tựu lẫn nhau, khiến quư vị càng
hiểu sâu thêm, càng thấu triệt. Nếu không có thời
gian, không có nhiều tinh lực th́ chỉ học một
bản là được rồi!
“Tử
tận thâu tâm” (chết sạch tấm ḷng tham ngóng), câu
này rất trọng yếu, quư trọng một hạnh này.
Thế nào là “thâu tâm” (cái tâm
trộm cắp, ở đây tạm dịch là “cái ḷng tham
ngóng”)? Thâu tâm là cái tâm chụp giựt cơ hội: Có
phải là c̣n có pháp môn nào tốt hơn hay không? Có phải là
c̣n có pháp nào nhanh chóng hơn hay không? Tổ sư đại
đức bảo chúng ta: Không hề có, chỉ có mỗi
một môn này! “Thử Bổn
Sư sở dĩ cực khẩu thuyết kỳ thậm
nan, nhi thâm chúc ngă đẳng đương tri dă” (Do
vậy, Bổn Sư phải hết lời nói đây là pháp
rất khó, dặn ḍ sâu xa, chúng ta phải biết như
vậy). Đức Thế Tôn quả thật ở trong
thế gian này “v́ hết thảy thế gian nói pháp khó tin
này, thật là rất khó”, một lần nữa, đức
Phật lại bảo cùng chúng ta pháp này rất khó, chúng ta
phải biết. Biết điều ǵ? Biết lục
đạo luân hồi, ngũ trược ác thế rất
khó vượt thoát. Ở đây, Ngẫu Ích đại
sư nhắc nhở chúng ta “Ngũ Trược nan siêu” (khó thể vượt thoát Ngũ
Trược).
Thứ nhất là Kiếp Trược, “quyết định vị thời
sở vi, vị khổ sở bức” (quyết
định bị thời kiếp vây hăm, bị sự
khổ bức bách). “Quyết
định” nghĩa là khẳng định, đây là nói
về Kiếp Trược, hiện nay đang là thời
đại nào? Thời đại hiện tại có thể
nói là kể từ khi có lịch sử đến nay,
chưa bao giờ có thời đại nào ô nhiễm nghiêm trọng
đến thế, ai có năng lực không bị ô
nhiễm trong thời đại ô nhiễm lớn lao này? Không
thể nào! Tà tri, tà kiến, ngũ dục, lục trần
dụ hoặc tột bậc! Quư vị có thể không bị
dụ hoặc hay chăng? Chỉ cần quư vị bị
dụ hoặc, quư vị nhất định bị sự
khổ bức bách, không có cách nào ĺa khổ được
vui! Nay quư vị tưởng là hưởng thụ một
chút, có chút vui sướng nhỏ nhoi, nhưng sự vui
ấy là ǵ? Chúng tôi thường nói nó là ma túy, là uống thuốc
độc, không phải là sự vui chân chánh, đàng hoàng. Quư
vị hưởng một chút vui, nay ở trong thế gian
hưởng niềm vui ngũ dục lục trần th́
phải trả giá bao nhiêu?
“Kiến
Trược: Quyết định vị tà trí sở
triền, tà sư sở hoặc” (Kiến Trược: Quyết định
bị tà trí trói buộc, bị tà sư mê hoặc). Đây
là nói về kiến giải. Kiến giải bị nhuốm
bẩn, chẳng rời khỏi tà tri tà kiến, chẳng
tách khỏi tà sư thuyết pháp, nhất định sẽ
bị ảnh hưởng.
Thứ ba, “Phiền Năo Trược: Quyết định vị
tham dục sở hăm, ác nghiệp sở thích” (Phiền
Năo Trược: Quyết định bị tham dục vây hăm, bị ác nghiệp chích
đốt[4]). Nay
chúng ta gọi Kiến Trược là cuộc sống tinh
thần. Phiền Năo Trược là coi trọng cuộc
sống vật chất, không có cách nào buông được
sự hưởng thụ ngũ dục, lục trần,
chắc chắn phải cạnh tranh với hết
thảy mọi người trong thế gian, cạnh tranh là
khổ. Quư vị hy vọng được hưởng
ngũ dục, lục trần tốt hơn th́ sẽ tạo
ác nghiệp. Quư vị vẫn không hiểu phương pháp,
tạo ác nghiệp ắt phải chịu ác báo.
“Chúng Sanh
Trược: Quyết định an ư uế liệt, bất
năng đỗng giác, phấn phi” (Chúng Sanh Trược: Quyết
định ở yên trong nhơ bẩn, hèn kém, chẳng
thể hiểu thấu suốt, bay cao). Quyết
định ở yên trong đời ác ngũ trược,
quư vị cứ ở trong ấy không biết giác ngộ,
không thể mạnh mẽ vĩnh
viễn thoát ly sáu nẻo luân hồi.
Điều cuối cùng là “Mạng
Trược: Quyết định vị vô thường
sở thốn, thạch hỏa, điển quang, thố
thủ bất cập” (Mạng
Trược: Quyết định bị vô thường
nuốt chửng, như ánh lửa xẹt từ đá,
như ánh chớp, trở tay không kịp). Vô
thường là ǵ? Vô thường là chết! Quư vị không
cách ǵ tránh được cái chết, lúc cái chết xảy
đến, trở tay không kịp, có hối cũng không
kịp. Lúc ấy biết là sai đă quá muộn. Huống
chi rất ít người lúc sắp chết biết ḿnh
lầm, ít lắm! Đến khi nào biết ḿnh đă
lầm? Đến lúc tự ḿnh
đọa lạc tam đồ, mới biết ḿnh thực
sự lầm lạc. Nay đă hết giờ rồi!
Tập
39
Hôm nay chúng ta xem đến đoạn
cuối cùng của kinh văn này:
Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá
Lợi Phất cập chư tỳ-kheo, nhất thiết
thế gian, thiên, nhân, A Tu La đẳng, văn Phật
sở thuyết, hoan hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ.
佛說此經已。舍利弗。及諸比丘。一切世間天人阿修羅等。聞佛所說。歡喜信受。作禮而去。
(Phật
nói kinh này xong, Xá Lợi Phất và các tỳ-kheo, hết
thảy thế gian, trời, người, A Tu La v.v… nghe
lời Phật dạy, hoan hỷ tin nhận, làm lễ mà
lui).
Đây là đoạn cuối cùng của
kinh này, đoạn này nói thính chúng nghe kinh đạt được
lợi ích, chính là đoạn tổng kết của cả
bản kinh. Chúng tôi đặt tiểu đề cho
đoạn này là “đại
chúng đắc ích, kết khuyến”.
“Văn Phật
sở thuyết” (nghe
lời Phật dạy), ư nói: Đức Phật giới
thiệu kinh này đă hoàn tất, bọn họ
được lợi ích. Nói chung, lợi ích gồm
bốn loại:
1) Thứ nhất là hoan hỷ: “Thân tâm di duyệt, tâm khai ư giải”
(Thân tâm vui sướng, tâm khai ư giải). Thật ra,
không có cách nào h́nh dung sự hoan hỷ này! Trong các pháp
thế gian lẫn xuất thế gian, pháp này thực
sự khó gặp gỡ. Trong một đời này, có
thể vượt thoát tam giới, vĩnh viễn thoát
khỏi luân hồi. Không chỉ như vậy, mà c̣n đúng
như đức Thế Tôn đă nói trong kinh Thập
Thiện Nghiệp Đạo: “Năng
ly nhất thiết thế gian khổ” (có thể ĺa hết
thảy nỗi khổ thế gian). So với kinh Thập
Thiện Nghiệp Đạo, kinh này càng thù thắng
hơn! Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo giảng
về tự lực cảm động Phật, Bồ Tát
gia tŕ; c̣n kinh này dạy chúng ta chấp tŕ danh hiệu
nếu viên măn bèn được bổn nguyện và oai
thần của A Di Đà Phật gia tŕ, đồng
thời được mười phương hết
thảy chư Phật Như Lai hộ niệm, không có pháp
môn nào thù thắng như thế! Chúng ta nghe thấy, sao không
hoan hỷ? Nếu chú tâm quán sát, tư duy, sẽ thấy mọi
pháp thế gian và xuất thế gian không có pháp nào sánh
bằng được niềm hoan hỷ ấy.
“Thân tâm di duyệt” (thân tâm vui
sướng) tức là pháp
hỷ sung măn, niềm hoan hỷ ấy từ tự tánh
lưu lộ. Đây là nói về quả, do nguyên nhân nào mà quư
vị có được pháp hỷ thù
thắng như vậy? Do “tâm
khai ư giải”. Ngạn ngữ Trung Quốc có câu “mao tắc đốn khai” (cái
nút bấc được mở ra nhanh chóng, ư nói: Đột
nhiên minh bạch), c̣n nhanh ǵ bằng! Nếu nay ta dùng cái nút
bấc (cork) để làm tỷ dụ, từ vô thỉ
kiếp đến nay giống như cái nút bấc
đậy chặt, chưa hề có cách mở ra, nay nghe
Thích Ca Mâu Ni Phật tuyên nói pháp môn này, [cái nút bấc ấy]
bèn nhanh chóng bật tung ra. Quư vị nghĩ xem, điều
này có ư nghĩa ǵ? Đồng thời lại phải nghiêm
túc phản tỉnh, chúng ta nghe kinh này xong, có thực sự
tâm khai ư giải hay không? Nếu quả nhiên tâm khai ư giải,
chắc chắn quư vị buông xuống vạn duyên,
chắc chắn cũng lập tức bỏ ngay vọng
tưởng, phân biệt, khai ngộ nhanh bèn buông bỏ
nhanh, bỏ nhanh nên khai ngộ nhanh. Nếu vẫn không buông
xuống được th́ cái nút chai của quư vị
vẫn chưa mở được! Dẫu đă đượm
một chút hơi ấm[5],
cái nút ấy vẫn không nhúc nhích chút nào! Nói theo Phật pháp
là nghiệp chướng của quư vị tŕ kéo quá
nặng!
Có cứu được hay chăng?
Thiện Đạo đại sư nói: “Tổng tại ngộ duyên bất đồng” (nói
chung do gặp duyên khác nhau). Duyên phải cậy vào chính ḿnh.
Duyên ǵ? Nghe nhiều. Nay quư vị đă nghe kinh này một
lần th́ nghe lần nữa, nghe thêm lần nữa. Cổ
nhân Trung Quốc nói rất hay: “Độc
thư thiên biến, kỳ nghĩa tự kiến” (Đọc
sách ngàn lần, tự thấy được nghĩa). Hiện
tại, quư vị muốn nghe một ngàn lần sẽ không
khó! Trước kia, không dễ ǵ, ai chịu giảng cho quư
vị nghe đây? Nay chúng ta có băng thâu âm, băng thâu h́nh,
quư vị muốn nghe cả ngàn lần thực sự chẳng
khó. Như mấy năm trước đây, lăo cư sĩ
Trần Quang Biệt ở Tân Gia Ba một ngày nghe suốt
tám tiếng, thật giống như thời Thích Ca Mâu Ni
Phật tại thế giảng kinh thuyết pháp. Lúc
Phật tại thế, mỗi ngày giảng kinh hai thời,
hai thời bằng với tám tiếng đồng hồ
hiện thời. Tám tiếng đồng hồ giảng
kinh, nghe kinh; tám tiếng đồng hồ niệm
Phật. Nếu quư vị thực sự làm được
như vậy, làm chừng mười năm, hai
mươi năm, những thiện căn chứa
đựng trong A Lại Da Thức của quư vị không
đủ sẽ đều được bổ sung đầy
đủ hết. Chắc chắn quư vị đầy
đủ thiện căn, phước đức, nhân duyên
viên măn, chúng tôi tin là không những quư vị văng sanh mà c̣n là
văng sanh bậc thượng. V́ sao? Thực sự tâm khai ư
giải!
Tôi đă thưa cùng quư vị rất
nhiều lần, tôi là kẻ căn tánh trung hạ. Thầy
khuyên tôi tu pháp môn này, tôi vẫn rất hoài nghi, hoài nghi
suốt nhiều năm, rất khó tiếp nhận. Đúng
là như kinh này nói, pháp này khó tin. Một đời này, thiện căn, phước đức,
nhân duyên được bổ sung đầy đủ.
Bổ sung đầy đủ bằng cách nào? Ngày ngày
giảng kinh. Ngày ngày thân cận Phật, Bồ Tát, năm
mươi hai năm! Năm mươi hai năm, cả
một thời gian như thế để bổ sung cho
đủ! Không có thời gian dài như vậy, ắt
không xong! V́ thế, học Phật, từ kinh nghiệm
cả một đời tôi nhận ra, nếu quư vị
muốn thực sự thành tựu, nói thật ra, trong
thời kỳ Mạt Pháp, thiện căn, phước
đức, nhân duyên thực sự không nhiều, chẳng
đạt được những tiêu chuẩn như kinh
đă nói. Tiêu chuẩn theo kinh dạy là “bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước
đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (chẳng
thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân
duyên để được sanh về cơi ấy). Nói cách
khác, phải có nhiều thiện căn, nhiều
phước đức, nhiều nhân duyên, lời ấy nói
vô cùng hợp lư. Trong một đời này, gặp
được pháp Tịnh Độ, có thể văng sanh hay
không, có thể nâng cao phẩm vị hay không th́ lời khai
thị này là mấu chốt!
Người đọc kinh Di Đà,
người tu Tịnh Độ, thậm chí người
giảng kinh Di Đà có xem trọng câu nói ấy hay không?
Mấu chốt nằm trong câu nói ấy! Phải biến ít
thiện căn, ít phước đức, ít nhân duyên
của bản thân chúng ta thành nhiều thiện căn,
nhiều phước đức, nhiều nhân duyên th́
vấn đề được giải quyết.
Chuyển biến như thế nào? Ngày ngày thực
hiện, nắm chắc không bỏ. Đương nhiên,
lúc mới học, chưa buông vạn duyên xuống
được. Nếu thực sự làm được,
làm trong mười năm, hai mươi năm, nếu
đạt đến tâm khai ư giải th́ hết thảy
vạn duyên không kêu quư vị bỏ xuống, quư vị
cũng tự nhiên buông xuống, đâu cần ai phải
khuyên! V́ sao? Giống như chúng ta đi đường xa,
tay cầm túi xách quá nặng, những thứ lặt
vặt tạp nhạp chứa trong túi xách ấy
đều trở thành vô dụng, đều có thể vứt
đi hết. Đến khi tâm khai ư giải, ta có c̣n
phải làm ǵ nữa hay không? Thảy đều bỏ
sạch rồi! Tự nhiên buông xuống được,
thân tâm vui sướng.
Do vậy, khi giảng kinh tôi cũng
thường nói: Mọi người học Phật v́ sao
công phu chẳng thể tiến bộ? Là v́ quư vị không có
pháp hỷ, tôi cũng thường nêu tỷ dụ: Quư
vị không nếm được pháp vị. Giống
như ăn uống trong thế gian, quư vị không
thưởng thức được mùi vị. Đă
nếm được hương vị ấy, bất
cứ vị nào trên cơi trời hay trong nhân gian cũng không thể
sánh bằng vị này. Do vậy, tự nhiên quư vị
bỏ được, bỏ sạch sành sanh. Sách Di Dà Kinh
Yếu Giải là vô thượng pháp bảo! Lời Ấn
Quang đại sư không quá mức chút nào cả! Tôi hoàn
toàn đồng ư với lời tán thán của lăo pháp sư.
2) Có hoan hỷ th́ mới có thể “tin nhận”; như vậy,
hiện thời nói “tin
nhận”, thật ra, rất miễn cưỡng. V́ sao?
V́ tâm hoan hỷ chưa sanh khởi. Tâm hoan hỷ thực
sự sanh khởi sẽ thực sự tin tưởng, thực
sự tiếp nhận. “Hào vô
nghi nhị, lănh nạp bất vong” (không nghi ngờ
mảy may, lănh nhận chẳng quên). Đoạn sạch
nghi hoặc, sanh tín tâm thanh tịnh, tín tâm kiên định;
đă có tín tâm th́ nguyện tâm nhân đó bèn sanh khởi, ta
c̣n nghĩ ǵ nữa không? Mục tiêu và phương
hướng chỉ có một, ta nghĩ đến thế
giới Cực Lạc, ta nghĩ đến A Di Đà Phật.
Trong vũ trụ, rất nhiều cơi Phật, ta chỉ
cầu thế giới Cực Lạc. Chư Phật
Như Lai rất nhiều, ta chỉ cầu thân cận A Di
Đà Phật. Ta rất thanh tịnh, rất minh bạch,
thân cận A Di Đà Phật là thân cận hết thảy
chư Phật Như Lai, kinh giảng rất rơ ràng!
Trong kinh này, đức Phật dạy
chúng ta: “Kỳ độ chúng
sanh, thường dĩ thanh đán, các dĩ y kích, thịnh
chúng diệu hoa, cúng dường tha phương thập vạn
ức Phật” (Chúng sanh cơi ấy thường vào sáng
sớm, mỗi người dùng lẵng hoa đựng
những thứ hoa mầu nhiệm, cúng dường
mười vạn ức Phật ở các phương khác).
Đối với câu này, trong chú giải của các vị
đại sư như Liên Tŕ và Ngẫu Ích đều nói “mười vạn ức”
không phải là con số mà nhằm biểu thị pháp. V́
sao biểu thị pháp lại dùng chữ “mười vạn ức”? Có hai nghĩa. V́
khoảng cách giữa Tây Phương Cực Lạc thế
giới và thế giới Sa Bà là mười vạn ức
cơi Phật nên đặc biệt dùng câu này để
thuyết minh: Đến Tây Phương Cực Lạc
rồi có thể thường trở về thế
giới Sa Bà, hằng ngày đều có thể trở về
được, có ư nghĩa như vậy. Ư nghĩa thực
sự là vô lượng vô biên các cơi Phật trong
mười phương, hằng ngày quư vị đều
có thể đến được những nơi ấy.
Do vậy, trong bản chú giải của Ngẫu Ích
đại sư, ở phần trên chúng ta đă đọc
rồi đó, có nói: Sanh về thế giới Cực
Lạc là sanh về hết thảy thế giới của
chư Phật, thấy A Di Đà Phật là thấy hết
thảy chư Phật Như Lai, chúng ta phải hiểu
đạo lư này, trong các pháp môn khác không có đạo lư
ấy. Thực sự sanh khởi tín tâm, sanh khởi
nguyện tâm. “Thọ” (受) là hành, y giáo phụng hành. Như
vậy, ư nghĩa của hai chữ “tín thọ” (信 受) là tín nguyện tŕ danh, trọn
đủ ba tư lương!
Bằng một hội này, không biết đức
Phật đă độ bao nhiêu chúng sanh! Thích Ca Mâu Ni
Phật một đời thị hiện, giảng kinh
thuyết pháp bốn mươi chín năm, hội nào độ
chúng sanh nhiều nhất? Một hội Di Đà độ
chúng sanh nhiều nhất, độ chúng sanh triệt
để nhất, viên măn nhất, rốt ráo nhất! Chúng
ta phải hiểu như vậy! Hội Hoa Nghiêm nhằm
độ Pháp Thân đại sĩ, chứ không độ
kẻ b́nh phàm, chúng sanh trong chín pháp giới không có năng
lực tham dự pháp hội Hoa Nghiêm của đức
Thế Tôn. V́ sao? Pháp hội Hoa Nghiêm được
giảng trong Định, v́ thế, pháp Tiểu Thừa
không thừa nhận [kinh Hoa Nghiêm]. Pháp Tiểu Thừa cho
rằng đức Thích Ca Mâu Ni giảng kinh thuyết pháp
lần đầu tiên tại Lộc Dă Uyển độ
năm tỳ-kheo, khởi đầu từ đó.
Dưới cội Bồ Đề, [đức Phật] ngồi
nhập Định, bọn họ không biết điều
này, nhưng Thích Ca Mâu Ni Phật ở dưới cội
Bồ Đề, nhập Định mười bốn
ngày tuyên giảng Đại Phương Quảng Phật
Hoa Nghiêm Kinh, người nghe là bốn mươi mốt
địa vị Pháp Thân đại sĩ. Chúng ta cũng
thấy trong kinh ấy có nhiều nhân chúng, thiên chúng,
quỷ thần chúng, chẳng phải là rất nhiều [loại
thính chúng] đó sao? Những vị ấy là ai? Họ
đều là Pháp Thân đại sĩ ứng hóa trong
lục đạo, không thực sự là phàm phu. Do vậy,
quư vị thấy thần núi, thần cây, thần sông,
thần biển, thần thảo mộc chính là chư
Phật Như Lai hay Pháp Thân Bồ Tát ứng hóa chẳng
thể nghĩ bàn! Phàm phu không có cách ǵ tham dự pháp hội
này!
Nếu quư vị chú tâm quán sát pháp hội
ấy sẽ thấy mầu nhiệm đến cùng
cực! Cuối kinh, Văn Thù, Phổ Hiền “mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc”; do vậy,
hội Hoa Nghiêm nhằm độ Pháp Thân đại sĩ văng
sanh Cực Lạc. Bởi thế, quư vị hiểu kinh Di
Đà và kinh Vô Lượng Thọ nhằm độ chúng
sanh trong chín pháp giới, tín nguyện tŕ danh cầu sanh
Tịnh Độ. Đại sự nhân duyên “độ
chúng sanh thành Phật đạo” của Thích Ca Mâu Ni
Phật và mười phương tam thế hết
thảy chư Phật Như Lai đến đây viên măn
rốt ráo. Hết thảy những kinh luận khác đều
là đức Phật đại từ đại bi
đối với những ai mà nói? Đối với
những kẻ ít thiện căn, ít phước
đức, ít nhân duyên mà nói. V́ sao? Họ chẳng thể
thành tựu trong một đời, họ chẳng thể
tiếp nhận pháp môn này. Do vậy, đức Phật
từ bi, quư vị thích tiếp nhận pháp môn nào, đức
Phật liền v́ quư vị giảng pháp môn ấy. “Tùy chúng
sanh tâm, ứng khả tri lượng” (thuận ḷng chúng sanh, ứng theo khả năng
hiểu biết của họ). Rốt ráo viên măn là hai
bộ kinh này.
Chúng ta học Phật, hằng ngày nghiên
cứu kinh giáo, nếu đối với mật nghĩa,
đối với ư nghĩa này của Thích Ca Mâu Ni Phật
mà không thể nh́n ra, tức là học uổng công. Như
vậy, hàng hậu học chúng ta là kẻ làm học tṛ,
phải bắt chước thầy, hiểu
được ư thầy, hiểu phương tiện
thiện xảo của thầy, chúng ta phải biết làm
như thế nào đối với chúng sanh đông đảo
trong xă hội hiện tại. Chúng ta phải làm sao
để giúp đỡ họ? Phải làm thế nào
để thành tựu họ? Giúp đỡ họ, thành
tựu họ th́ hăy nhớ kỹ: Trước hết chính
ḿnh phải thành tựu, tối thiểu là chính ḿnh phải
trọn đủ hoan hỷ và tín thọ. Nếu quư vị
không hoan hỷ, tín thọ, làm sao có thể giúp người
khác hoan hỷ, tín thọ cho được?
3) “Tác
lễ” nhằm biểu lộ
ḷng cảm ơn, “cảm
đại ân đức”. Cảm ơn tuyệt
đối chẳng thể chỉ biểu đạt bằng
ngôn ngữ, mà phải có hành động, hành động là “đầu thân quy mạng” (gieo
thân quy mạng). Toàn thể thân tâm quy y A Di Đà Phật,
quy y Tịnh Độ, chẳng những hết một
đời này, mà đời đời kiếp kiếp
vĩnh viễn không rời A Di Đà Phật, vĩnh
viễn chẳng ĺa Tịnh Độ. Đó là thực
sự cảm ân! Giúp đỡ A Di Đà Phật, giúp
đỡ hết thảy chư Phật Như Lai phổ
độ chúng sanh. Trong kinh giáo, đức Thế Tôn
thường dạy chúng ta phương thức phổ
độ: “Thọ tŕ
đọc tụng, diễn nói cho người khác”. Đặc biệt xem trọng
Diễn. “Diễn” (演) là biểu diễn, là làm gương cho
người khác thấy, người khác trông thấy
ắt cảm động. Nếu người khác không
cảm động là do quư vị làm chưa tốt, tâm không
đủ chân thành, chí thành cảm thông
mà! V́ sao người khác không cảm động? Do quư
vị không đủ thành ư. Nếu thành ư trọn
đủ, tự nhiên sẽ cảm động. Cổ nhân
nói thật chính xác, nói thật đúng: “Tinh thành sở chí, kim thạch vị khai” (Ḷng tinh
thành đến cùng cực, vàng đá c̣n phải nứt).
Vàng, đá là khoáng vật, không phải là thực vật;
quư vị chân thành đến mức cùng cực th́ ngay
cả đá cũng phải cảm động.
Trong nhà Phật chúng ta có một công án: “Sanh công thuyết pháp, ngoan
thạch điểm đầu” (ngài Đạo Sanh
thuyết pháp, đá phải gật đầu), đó là
một ví dụ về chuyện “kim thạch vị khai”,
có thể như vậy được hay không? Nay chúng ta
đă biết, chuyện này chắc chắn có thể
xảy ra. V́ sao? Thực vật và khoáng vật có Pháp Tánh,
đặc chất của pháp tánh là có linh tri, hay có thể
nói là thấy - nghe - hay - biết. Chẳng qua sự
thấy - nghe - hay - biết của chúng hết sức
chậm chạp, quư vị tinh thành đến cùng cực
th́ cũng cảm động được chúng, chúng
cũng sanh ra những đáp ứng thuận theo tâm ư
của quư vị. Tiến sĩ Giang Bổn Thắng nghiên
cứu nước kết tinh, nước cũng là khoáng vật,
đem so với đá, chúng ta cảm thấy rất rơ
nước nhạy bén, đá chậm chạp. Bùn, cát,
đá đem so với nước sẽ chậm hơn
nhiều lắm. Do đó, quán sát nước dưới
kính hiển vi, thấy nó phản ứng rất nhanh,
rất rơ rệt. Cùng một đạo lư ấy, chúng ta tin
rằng: Đối với bùn, cát, đá nếu chân thành
đến cùng cực th́ chúng cũng phản ứng
rất nhanh, rất rơ ràng, y báo chuyển theo chánh báo mà!
Thế nhưng hữu t́nh chúng sanh
lại có cái phiền, phiền phức ở chỗ nào?
Nghiệp chướng! Họ có nghiệp chướng
rất sâu, có lúc c̣n khó khăn hơn đá nữa. Quư
vị giảng kinh, đá cứng c̣n có thể gật
đầu, chứ con người không gật đầu.
Kẻ ấy đă nhiễm phải tà tri tà kiến, so ra
khó hóa độ hơn tảng đá. Độ tảng đá
c̣n dễ, độ một kẻ tối tăm, ương
ngạnh, không nhanh nhạy, tà tri, tà kiến khó lắm! Nói
chung, hễ có tâm chân thành, tốn thời gian dài th́ không
một ai chẳng thể cảm hóa. Như vậy, tự
độ, độ người, điều kiện tiên
quyết là phải khẳng định: Hết thảy
hữu t́nh chúng sanh đều có Phật Tánh, hết
thảy vô t́nh chúng sanh đều có Pháp Tánh. Nho gia bảo “con người tánh vốn lành”,
đấy là khái niệm cơ bản, khẳng
định hết thảy chúng sanh tánh thiện, bản
tánh là chí thiện.
Như Mạnh Tử giảng về tánh
thiện, Tuân Tử giảng tánh ác; khi xưa, tôi ở
Hương Cảng, đài truyền h́nh Á Thị ở
Hương Cảng đến phỏng vấn tôi.
Người phỏng vấn h́nh như là tiên sinh Hà Thủ
Tín. Ông ta nêu câu hỏi như thế này:
- Cổ nhân bảo “con người tánh vốn ác”, thấy trong xă
hội này, tâm con người trên thế giới là ác, không
thiện, trong xă hội này làm sao t́m được
những người lành? Dẫu ta hành thiện, người
ta đều hoài nghi ta đang ấp ủ ư định ǵ?
Đại khái là mang ḷng bất hảo.
Tôi bảo ông ta:
- Mạnh Tử bảo là tánh thiện, Tuân
Tử bảo là tánh ác, không phải là bản tánh, mà là tánh
ǵ? Tập tánh! Đó là “cận
châu giả xích, cận mặc giả hắc” (gần
son th́ đỏ, gần mực th́ đen), tập tánh
đấy! Tập tánh có thiện và ác, bản tánh không có.
Không có thiện - ác th́ mới là chân thiện, mới là chí
thiện. V́ sao? Có thiện, có ác là rớt vào hai, là rớt
trong hai - ba.
Chân Như bản tánh gọi là Nhất
Chân, trong Nhất Chân không có đối lập. Thiện - ác
là đối lập, không có thiện - ác, không có sanh - tử,
không có xa - gần, không có lớn - nhỏ, không có Bồ
Đề, Niết Bàn, tất cả hết thảy
đối lập đều không tồn tại. Đó là
nhất tâm bất loạn. Nhất tâm bất loạn có
thể chứng, nói theo nhà Phật là “có thể hiện, có
thể biến”, Nhất Chân pháp giới là cái
được hiện, cái được biến. Khi nào
quư vị sẽ khế nhập Nhất Chân pháp giới? Khi
nào quư vị dùng phương pháp Niệm Phật thực
sự niệm đến mức nhất tâm bất
loạn, Nhất Chân pháp giới sẽ hiện tiền. Nhất
Chân pháp giới ở tại đâu? Như trên đă nói, khi
quư vị buông vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước xuống th́ chính là nó đấy!
Quư vị hăy suy nghĩ, một câu A Di
Đà Phật quả thật là đức hiệu của
Nhất Chân pháp giới. Do vậy, cảm ơn th́ phải
biểu hiện bằng hành động, chứ không
phải là miệng nói xuông. Trong xă hội hiện thời, mọi
người quên sạch luân lư đạo đức, không
ai nhắc đến. Bởi thế, xă hội động
loạn, nhân tâm bất an, chúng ta thường nói: “Không có
cảm giác an toàn”. Thực sự an toàn là phải ngộ
từ giáo huấn của bậc thánh hiền, như trong
phần trên đă nói: “Thân tâm di
duyệt, tâm khai ư giải” (Thân tâm vui sướng, tâm
khai ư giải), từ nơi ấy mà được, đó
là thật, không phải giả.
4) “Nhi
khứ” (mà đi), làm lễ
mà đi. Đi không phải là hết chuyện, đi làm ǵ?
Đi y giáo phụng hành. Do đó, “y giáo tu tŕ, nhất văng bất thoái” (theo lời
dạy tu tŕ, một mực không lùi bước), đó là “nhi khứ”. Quư vị thấy mấy câu sau cùng: “Hoan hỷ tín thọ, tác lễ
nhi khứ”, ư nghĩa rất phong phú. Tuyệt
đối chẳng phải như người hiện
tại chúng ta đi nghe kinh, nghe xong, làm lễ lui ra, ra
khỏi rồi bèn làm ǵ? Ra khỏi cửa bèn suy nghĩ lung
tung, làm càn, làm bậy, quên tuốt luốt những
điều mới được nghe nơi giảng
đường. Thực sự nghe hiểu, thực sự
nghe thấu triệt, sẽ đoạn nghi sanh tín, khai phát nguyện
tâm. Mọi người làm lễ là cảm ân, thân tâm quy
nhất; “nhi khứ” là
đi “thọ tŕ đọc
tụng, v́ người khác diễn nói”, thực sự
làm! Cuối cùng, chúng tôi dẫn mấy câu trong tác phẩm giảng
nghĩa cuốn A Di Đà Kinh của pháp sư Viên Anh
Yếu Giải, cuối sách Sư viết mấy câu cổ
vũ chúng ta:
“Tùng kim nhật
khởi, thế gian danh lợi, phao khứ, phiết khứ,
thiết mạc tẩu hướng kỳ tha lộ khứ”
(Từ nay trở đi, danh
lợi thế gian vứt đi, bỏ đi, chớ đi
theo con đường nào khác nữa). Ngài nói năm câu,
đây là câu thứ nhất. Danh lợi trong thế gian là
giả, không thật. Tham chấp danh lợi thế gian, cái
tâm ấy là tâm luân hồi, quư vị khởi tâm động
niệm, nói năng, tạo tác là nghiệp luân hồi. Tâm luân
hồi là mê hoặc, nghiệp luân hồi là nghiệp
bất thiện, quả báo là luân hồi trong lục
đạo. Người thực sự hiểu rơ, giác
ngộ, phải buông xuống những thứ ấy. Danh
văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần,
hưởng thụ ngũ dục, lục trần phải buông
xuống, trong cuộc sống thường ngày bèn tùy duyên,
quyết định không được so đo.
Người ta cho ǵ ăn nấy, ăn ngon rất tốt,
ăn dở cũng xong; từ đây, cái tâm phân biệt
xấu - tốt đă đoạn, tâm b́nh đẳng
sẽ hiện tiền.
Nhưng phải nhớ kỹ, nếu
chúng ta cúng dường người khác, phải tận tâm
tận lực chọn cái tốt nhất, v́ sao? Nhằm
thể hiện ḷng cung kính. Khi tiếp nhận vật
của người khác cho, quyết định không có tâm phân
biệt, thành tựu đức của chính ḿnh. Cúng
dường người khác là thành tựu phước báo
của chính ḿnh, tu phước báo cho chính ḿnh. Do vậy,
niệm niệm nghĩ thật viên măn cho người khác,
không cần nghĩ đến ḿnh. Tự ḿnh tiếp
nhận người khác cúng dường, quyết
định không có tâm phân biệt. Chúng ta tu hành ở
chỗ này! Cái ǵ cũng đều mong cầu th́ quư vị
không thể ra khỏi lục đạo luân hồi. Thực
sự ĺa khỏi lục đạo luân hồi th́ trong
cuộc sống thường ngày, nhất định
chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, chẳng
phân biệt, chẳng chấp trước, không có những
thứ bất hảo như thế, mọi thứ
đều tốt. Có như vậy mới ḥng dưỡng
được cái tâm thanh tịnh cho chính ḿnh, dưỡng
ḷng từ bi của chính ḿnh.
Nhiếp thọ hết thảy chúng sanh
th́ phải nhớ kỹ, “hằng
thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức”, đức Phật
dạy chúng ta Tứ Nhiếp Pháp. Vậy th́ v́ sao
đạo tràng phải trang nghiêm dường ấy?
Chẳng phải để tự ḿnh thọ dụng, điều
này rất quan trọng. Nay đạo tràng trang nghiêm
để chính ḿnh thọ dụng, chứ không phải để
người khác thọ dụng, là sai rồi! Quư vị
thấy thời cổ, các tự viện, tùng lâm xây cất
choáng lộn, huy hoàng, rồi lại nh́n vào liêu pḥng của
người xuất gia, nh́n rồi sẽ hiểu, họ
vẫn thực sự tu hành. Ngay cả vị phương
trượng ḥa thượng, cái pḥng Ngài ở
được gọi là Phương Trượng. Phương
Trượng to bao nhiêu? Vuông vức mỗi bề một
trượng. Trong ấy chỉ có thể kê
được một cái giường nhỏ, đặt
một cái tủ nhỏ, kê một cái bàn nhỏ là chật
ních. Đúng là Phương Trượng! Pḥng của các
vị chấp sự rất nhỏ, đại chúng cùng
ở gian nhà chung (quảng đơn). Những kiến trúc
lộng lẫy, huy hoàng để mọi người
đến lễ bái, đến tham học, khiến cho người
khác sanh ḷng hoan hỷ, nhằm cúng dường đại
chúng, chứ không phải để cung phụng chính ḿnh. V́
chúng sanh như thế nào? V́ chính ḿnh th́ sao? Chính ḿnh không mong
cầu hưởng thụ, làm như vậy nhằm
biểu diễn cho chúng sanh thấy, đó là người tu
hành chân chánh, cuộc sống vật chất hết
thảy đều đơn giản!
Đối đăi người khác th́
phải tận tâm tận lực. Pháp thứ nhất trong
Tứ Nhiếp Pháp là Bố Thí. Sự bố thí ấy chúng
tôi thường giảng là mời khách nhiều, biếu
tặng nhiều, cúng dường nhiều. “Ái ngữ” là thực sự quan hoài, thành tâm thành ư
quan hoài. “Lợi hành”: Hết
thảy hành vi của ta đối với chúng sanh nhất định
là hữu lợi vô hại, có như vậy th́ mới có thể
nhiếp thọ hết thảy chúng sanh. Đối với
bản thân, đối với yêu cầu của chính ḿnh th́
phải đơn giản, khắc khổ, tương
ứng với pháp, đối với thế gian này không
lưu luyến. Đối với người khác th́ trọng
hậu, khiến cho người khác sau khi cảm nhận,
họ có thể cảm ân, họ cũng có thể quy y Tam
Bảo, gieo thân quy mạng. Ư nghĩa là đây, đó là
tiếp dẫn chúng sanh. Tự hành như thế nào? Hóa tha
như thế nào? Đức Phật đều đă nêu
gương cho chúng ta thấy. Điều đầu tiên là
phải bỏ danh văn, lợi dưỡng.
Điều thứ hai là “tùng kim nhật khởi, nhất thiết Hoặc nghiệp,
hưu khứ, hiết khứ, thiết mạc tẩu hướng
kỳ tha lộ khứ” (từ nay trở đi, hết
thảy hoặc nghiệp phải ngưng đi, dứt
đi, chớ đi theo con đường nào khác nữa). “Hoặc” (惑) là mê hoặc. Tham - sân - si - mạn - nghi
trong tâm là mê hoặc; danh văn, lợi dưỡng, ngũ
dục, lục trần bên ngoài đều là mê hoặc. Mê
mất cái tâm, mê mất cái trí, chẳng thể tách rời
những thứ ấy! Tôi thường khuyến khích các
đồng học, ngày nay bản thân tôi có chút thành tựu,
đắc lực là nhờ sự giáo huấn của
thầy, tức Chương Gia đại sư dạy
dỗ. Lăo nhân gia dạy tôi buông xuống, thấy thấu
suốt, buông xuống tự tư tự lợi, buông
xuống danh văn, lợi dưỡng, buông xuống tham -
sân - si - mạn, tôi thực sự làm nên mới có một chút
thành tựu như vậy. Làm được nhưng
chưa đủ, mỗi ngày vẫn cứ phải tích
cực nỗ lực thực hiện. Nay tôi rất có tín
tâm, rất nắm chắc, tiến bộ hết sức
nhanh chóng.
Trong tu học Phật pháp, sự
tiến bộ ban đầu rất chậm, đặc
biệt là trong mười năm đầu, bởi có thể
nói là giống như quư vị phải chiến đấu
với tập khí vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước, hết sức cực nhọc.
Nếu quư vị quả thật khắc phục
được th́ sau đấy sẽ thuận buồm
xuôi gió, mười năm đầu quả thật là
mấu chốt. Nếu quư vị duyên không rất thù
thắng, phiền năo tập khí quá nặng, thời gian
mười năm sẽ không đủ, tâm chưa
định được, nói chung phải hai mươi
năm, ba mươi năm. Nhưng quư vị phải
nhớ: Dẫu cho ba mươi năm đi nữa, so
với vô lượng kiếp luân hồi vẫn là quá
ngắn, ba mươi năm ấy qua nhanh lắm. Sau
đấy dần dần trở thành tự nhiên, tự
nhiên buông xuống, mảy may miễn cưỡng cũng
không có, như vậy quư vị bèn tự tại.
Thế nhưng nhân duyên đầu tiên là
quư vị có thành tựu nơi mấu chốt ấy hay
không. Nhân duyên ấy là ở nơi thầy. Đối
với thầy, quư vị có ḷng tin thực sự hay không?
Đấy là mấu chốt bậc nhất. Tôi tôn kính thầy,
tin tưởng thầy, thầy dạy tôi những ǵ tôi thực
sự làm theo, đó là cái ải đầu tiên. Nếu
như hoài nghi thầy, quư vị sẽ không có cách ǵ
hết. Đừng nói là ba mươi năm, ba trăm
năm quư vị cũng không thể tiến bộ
được. A! Nay đă hết giờ rồi!
*
Chúng ta xem tiếp lời khai
thị sau cùng của pháp sư Viên Anh. Ngài nói năm câu, câu
thứ nhất là “tùng kim nhật
khởi, thế gian danh lợi, phao khứ, phiết khứ,
thiết mạc tẩu hướng kỳ tha lộ khứ”
(từ nay trở đi, danh lợi thế gian vứt đi,
bỏ đi, chớ đi theo đường nào khác
nữa). Câu thứ hai là “tùng
kim nhật khởi, nhất thiết Hoặc nghiệp, hưu
khứ, hiết khứ, thiết mạc tẩu hướng
kỳ tha lộ khứ” (từ nay trở đi, hết
thảy Hoặc nghiệp phải ngưng đi, dứt
đi, chớ đi theo đường nào khác nữa).
Hai câu này quả thật bọn chúng ta tu
hành, học Phật, đặc biệt là cầu sanh
Tịnh Độ, vĩnh viễn thoát khỏi lục
đạo sanh tử luân hồi, không thể không nỗ
lực học tập. Bởi lẽ, [những điều
được nói trong hai câu ấy] chính là chướng ngại
căn bản đối với hết thảy thành
tựu và sự văng sanh Tịnh Độ của chúng ta. Nếu
không thể đột phá những chướng ngại
ấy th́ trong một đời này, bất luận nỗ
lực tu học như thế nào đi nữa, chỉ là
gieo một chút thiện căn trong A Lại Da Thức,
trở thành tư lương để đắc
độ trong tương lai, chứ trong một
đời này, chắc chắn không thể thọ dụng
được! Do vậy, nếu muốn thành tựu th́
đối với đạo lư này, đối với chân
tướng sự thật này, chẳng thể không
triệt để hiểu rơ. Triệt để hiểu
rơ th́ gọi là “khán phá”
(thấy thấu suốt), thực sự thấy rơ ràng,
thấy minh bạch. Thấy thấu suốt
rồi mới có thể buông xuống, mới có thể đạt
được tâm thanh tịnh, không nhiễm trước
mảy may, đó chính là công phu chân thật của các
đồng học Tịnh Tông chúng ta.
Những năm gần đây, chúng ta đă
nắm được cương lănh tu tập. Chúng ta tu
tâm th́ phải lấy chân thành, thanh tịnh, b́nh
đẳng, chánh giác, từ bi làm mục tiêu. Nói cách khác,
chúng ta phải chuyển hư ngụy thành chân thật. Phật
tâm chân thật, phàm tâm hư giả. Chẳng
được dùng cái tâm hư giả, không được
dùng nó! Đừng sợ thua thiệt, đừng sợ
bị lừa, đừng sợ khổ, đừng
sợ khó, đừng sợ chết, chúng ta chỉ cầu
sanh về thế giới Cực Lạc, chỉ mong
mỏi thân cận A Di Đà Phật th́ phải dùng cái tâm
chân thành. Phải chuyển hết thảy phân biệt,
chấp trước thành tâm thanh tịnh, buông xuống
hết thảy nhiễm ô. Nhiễm ô là [nhiễm ô nơi] Ư,
đặc biệt là thức thứ bảy, tức Mạt
Na, nhiễm ô Ư [nặng nề nhất]. Hăy chuyển cái tâm
nhiễm ô thành tâm thanh tịnh, chuyển cái tâm kiêu căng
ngạo mạn thành tâm b́nh đẳng. Ngă mạn là
phiền năo rất nghiêm trọng.
Chúng ta thấy ở phần trên đă
nói đến Phiền Năo Trược. Đức Thế
Tôn quy nạp phiền năo thành năm loại căn bản:
Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi. Tham và Sân là nhiễm ô, Mạn là kiêu
căng ngạo mạn, tự cho ḿnh là đúng, trong mắt
không người. Đây đều là những thứ
chướng đạo nghiêm trọng. Phải chuyển
ngạo mạn thành b́nh đẳng, chuyển ngu si thành trí
huệ, chánh giác là trí huệ. Quư vị thấy chẳng
phải mọi thứ đều bị chuyển hay sao?
Chuyển nghi hoặc thành chân thành, chuyển tự tư
tự lợi thành đại từ đại bi, đó
gọi là tu tập công phu thực sự! Chuyển trong cuộc
sống thường nhật, chuyển trong công việc,
chuyển trong xử sự, đăi người, tiếp
vật.
Người khác đối đăi với
ḿnh bằng hư ngụy, bằng nhiễm ô, bằng cao - thấp,
bằng tự tư tự lợi, ta không đối
xử với họ như thế. Nhất định ta
phải dùng chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác,
từ bi để đối đăi họ, ta nhất
định phải giống như Phật, Bồ Tát.
Phật, Bồ Tát đối xử với chúng sanh như
thế nào? Rồi chúng ta nghĩ xem chúng sanh đối
với Phật, Bồ Tát như thế nào? Đối
với Phật, Bồ Tát, chúng sanh c̣n lừa dối th́
đối với ta c̣n ǵ để nói nữa! Ngay cả
Phật, Bồ Tát mà họ c̣n dối gạt, họ kiêu
căng ngạo mạn đối với Phật, Bồ
Tát th́ đối với ta họ coi ra chi! Thế nhưng
chúng ta hăy suy nghĩ, Phật, Bồ Tát đối với
chúng sanh như thế nào? Điều này rất quan
trọng. Nay chúng ta phải học theo Phật, Bồ Tát,
chớ học theo phàm phu, sẽ chuyển biến một
trăm tám mươi độ, chúng ta hoàn tất ngay trong
một đời này, một đời này vĩnh viễn
thoát khỏi luân hồi trong lục đạo. Bọn
họ vẫn cứ luân hồi trong lục đạo, ta
không như vậy, ta muốn hoành siêu, muốn vượt
thoát. Thực sự thấy thấu suốt lục
đạo luân hồi, vở tuồng ấy đă diễn
từ vô lượng kiếp cho đến ngày nay, đủ
rồi, không diễn nữa! V́ vậy, buông xuống
vạn duyên, hết thảy pháp thế gian và xuất
thế gian không ǵ chẳng buông xuống. Thân tâm quy mạng
Tịnh Độ, quy mạng Phật Di Đà, như
vậy là đúng!
Thông đạt, hiểu rơ pháp thế
gian và xuất thế gian, tức là thấy thấu
suốt. Không nhiễm trước mảy may là buông
xuống. Hết thảy Hoặc nghiệp (những
chuyện điên đảo mê hoặc) chúng ta đều
hiểu rơ. Hiểu rơ là thông suốt, là huệ. Chẳng
thể không tiếp xúc, nhưng tiếp xúc rồi vẫn
như như bất động, có thể nói là như
vậy. Chắc chắn chẳng khởi tham - sân - si -
mạn - nghi, tiếp xúc xong, niệm niệm đều có
thể tương ứng với chân thành, thanh tịnh,
b́nh đẳng, chánh giác, từ bi. Đó là Bồ Tát
đạo, là con đường thành Phật. Chúng ta đi
theo con đường thành Phật, ngàn vạn phần
chẳng được bận ḷng đến người
khác, chẳng cần suy tưởng đến
người khác[6]. Hễ
nghĩ bèn đọa lạc. Chẳng cần bàn luận chuyện
người khác, hễ bàn luận bèn tạo nghiệp!
Đối với người thiện
căn, phước đức, nhân duyên th́ có thể cùng họ
tṛ chuyện, chúng tôi gọi là đối thoại, cổ
vũ lẫn nhau. Đối với những kẻ
chẳng thể tiếp nhận, thành kiến quá sâu,
phiền năo tập khí quá nặng th́ chắp tay hoan hỷ.
Họ nói với ḿnh, nói nhiều đến đâu đi nữa,
ta vẫn giữ thái độ cung kính lắng nghe, trong tâm
thầm niệm A Di Đà Phật, mong Phật, Bồ Tát
dùng thần lực đại từ đại bi gia tŕ
người ấy, mong mỏi người ấy sớm
có ngày giác ngộ, sớm ngày quay đầu. Chúng ta
đạo đức, trí huệ, năng lực không
đủ, không có cách ǵ độ người ấy
được, chúng ta cầu Phật lực gia tŕ, chúng ta
có thể làm được chuyện này.
Câu thứ ba: “Tùng
kim nhật khởi, nhất thanh A Di Đà Phật tử tâm
niệm khứ, tu khứ, thiết mạc tẩu hướng
kỳ tha lộ khứ” (Từ ngày nay trở đi,
một tiếng A Di Đà Phật hăy chết sạch tấm
ḷng [mong ngóng, chụp giựt] mà niệm đi, tu đi,
chớ đừng đi theo con đường nào khác
nữa). Hai câu trên đây được kiến lập trên
Tín và Nguyện. Đă có Tín, Nguyện th́ Hạnh rất quan
trọng. Trong pháp môn này, Hạnh là chấp tŕ danh hiệu,
mục đích là nhất tâm bất loạn, tâm không điên
đảo. Nhất tâm bất loạn bèn nhập cảnh
giới Phật.
Trước kia, chúng tôi giảng kinh Di
Đà, đă nhiều lần bảo cùng quư vị, nhất
tâm là năng chứng, Nhất Chân là sở chứng.
Nếu chúng ta muốn chứng được Nhất Chân
pháp giới th́ quư vị phải biết: Tây Phương
Cực Lạc thế giới là Nhất Chân pháp giới, thế
giới Hoa Tạng là Nhất Chân pháp giới. Thật Báo
Trang Nghiêm độ của hết thảy chư Phật đều
là Nhất Chân pháp giới. Làm thế nào để chứng
đắc? Nhất tâm bèn chứng đắc. Tu nhất
tâm từ đâu? Tu nhất tâm trong cuộc sống
thường nhật. Thế nào là nhất tâm? Trong hết
thảy cảnh duyên (cảnh là hoàn cảnh vật
chất, duyên là quan hệ giữa con người với
nhau), không khởi tâm, không động niệm, không phân
biệt, không chấp trước, lúc ấy gọi là “nhất tâm”. Vừa khởi
tâm động niệm th́ cổ nhân nói đă rớt vào hai
- ba, không c̣n là nhất tâm nữa. “Hai, ba” có nghĩa là ǵ? Hai
là phân biệt và chấp trước, tức là thức
thứ sáu và thức thứ bảy. Hai là hai ư. Thức
thứ bảy là Ư Căn, thức thứ sáu là Ư Thức; đó
là hai ư. Ba là ǵ? Ba là hai thức trên đây, thêm vào A Lại Da
Thức thành ba. Tam tâm nhị ư đấy! Tam tâm là thức
thứ tám, thức thứ bảy và thức thứ sáu,
gọi chung là “tam tâm”. Nhị ư là thức thứ bảy và
thức thứ sáu. Quư vị vừa động một
niệm bèn rớt vào hai, ba. Nói cách khác, từ chân tâm bèn
lập tức rớt vào vọng tâm.
Nếu trong hết thảy cảnh duyên,
hết thảy pháp thế gian hay xuất thế gian, quư
vị đều có thể ǵn giữ chẳng khởi tâm,
chẳng động niệm, chẳng phân biệt, chẳng
chấp trước, quư vị sẽ vĩnh viễn
giữ được nhất tâm. Ai không có nhất tâm? Ai nấy
đều có nhất tâm, cổ đại đức nói
rất hay: “Niệm thứ nhất là nhất tâm,
niệm thứ hai bèn rớt vào hai, ba”. Do v́ quư vị
không giữ được cái niệm thứ nhất ấy,
dù có, nhưng không giữ được, mà rất nhanh
chóng rớt vào hai, ba. Do vậy, [tâm của] quư vị bèn là
vọng tâm, để phiền năo tập khí làm chủ. Trong
A Lại Da Thức là những chủng tử tập khí
phiền năo từ vô lượng kiếp đến nay, chủng
tử gặp duyên bèn hiện hành. Duyên từ đâu mà có? Do
năm thức đầu (Nhăn Thức, Nhĩ Thức
v.v...) tiếp xúc cảnh giới bên ngoài, đó là duyên.
Vừa tiếp xúc, thức thứ sáu bèn dấy lên vọng
tưởng, thức thứ bảy là hư vọng
chấp trước bèn lập tức sanh khởi. Đó là
ranh giới giữa phàm và thánh; thánh nhân chẳng có ǵ khác,
các Ngài có thể giữ được cái niệm thứ
nhất, vĩnh viễn để cái niệm thứ
nhất làm chủ, tám thức, năm mươi mốt Tâm
Sở chẳng làm chủ. Đó là chư Phật Như
Lai, chúng ta phải học theo, học được
bản lănh ấy th́ mới thực sự được
thọ dụng.
Thuận hay nghịch đều là
Tăng Thượng Duyên, trong hội Lăng Nghiêm, Văn
Thù Bồ Tát giảng: “Thuận
nghịch giai phương tiện” (Thuận hay nghịch
đều là phương tiện). Câu nói này không sai một
tí nào, đối với người thực sự có trí
huệ, thuận cảnh hay nghịch cảnh không ǵ chẳng
phải là phương tiện thiện xảo để
thành tựu đức hạnh của chính ḿnh, thành tựu
cơ duyên thù thắng cho hết thảy chúng sanh. Thuận
hay nghịch đều là phương tiện. Thế
nhưng, nếu không phải là người đă đạt
nhất tâm th́ thuận hay nghịch đều là tạo
nghiệp. Trong thuận cảnh khởi tham si, nơi nghịch
cảnh khởi sân khuể, không ǵ chẳng tạo
nghiệp. Do đây biết đúng là như Ngẫu Ích
đại sư đă nói: “Cảnh
duyên vô hảo xú, hảo xú tại ư tâm” (cảnh duyên
không tốt - xấu, tốt - xấu chỉ do tâm). Tâm
thiện th́ hết thảy cảnh giới đều
thiện; thuận hay nghịch đều là thiện. Tâm
bất thiện, hết thảy cảnh giới thuận
hay nghịch đều bất thiện, cảnh chuyển
theo tâm mà! Đó là chân lư, phải thông đạt, phải
thấu hiểu đạo lư này!
Vậy th́ chúng ta tu bằng cách nào?
Phật, Bồ Tát dạy chúng ta một câu A Di Đà
Phật. Niệm một câu A Di Đà Phật ấy như
thế nào? Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần
bên ngoài bèn khởi tâm động niệm, cổ nhân
thường nói: “Bất phạ
niệm khởi, chỉ phạ giác tŕ” (Chẳng sợ
niệm khởi, chỉ sợ biết chậm). Niệm
ấy vừa khởi bèn lập tức “A Di Đà Phật” để đánh tan cái
niệm ấy đi. Câu A Di Đà Phật này là giác, dùng
một câu chánh giác, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác
này để đánh tan hết thảy vọng niệm.
Một câu A Di Đà Phật vốn tốt lành, khởi tâm
động niệm đều là tập tánh, đó là bản
tánh. Dùng bản tánh để hoàn toàn khống chế tập
tánh, đó là có công phu, công phu thực sự! Bồ Tát, Thanh
Văn, Duyên Giác đều biết dùng công phu này,
đều có thể giữ vững chánh giác, đều có
thể giữ không lui sụt.
B́nh thường, Phật, Bồ Tát
dạy quư vị niệm một câu A Di Đà Phật trong
từng niệm, các Ngài dạy chúng ta đừng hoài nghi, đừng
xen tạp, đừng gián đoạn. “Không gián
đoạn” có rất nhiều cách giải thích. Đối
với kẻ sơ học chúng ta, một câu Phật
hiệu phải miên miên mật mật, chẳng
được gián đoạn. V́ sao? Vừa gián
đoạn, vọng tưởng liền khởi lên, tập
khí phiền năo bèn trùm lấp. Không gián đoạn nhằm
khống chế tập khí phiền năo, chẳng cho nó
khởi hiện hành. Nhất định phải nhớ
kỹ, sáu căn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài, không
khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không
chấp trước, đó là tu tập nhất tâm. Tổ
sư đại đức thường chỉ dạy
chúng ta “nhất tâm xưng
niệm”, quư vị phải hiểu thế nào là nhất
tâm. C̣n khởi tâm động niệm, c̣n có phân biệt,
chấp trước th́ đó là vọng tâm. Quư vị
vọng tâm niệm Phật th́ chẳng phải là niệm
Phật. Trong bản dịch của Huyền Trang đại
sư có nói đến điều này, nhưng Ngài không
dịch là “nhất tâm bất
loạn” mà là “nhất tâm
hệ niệm”.
Quư vị hăy suy nghĩ: Trong kinh
điển, đức Phật dạy chúng ta niệm
Phật như thế nào? Trừ A Di Đà Phật ra,
trừ thế giới Cực Lạc ra, cái ǵ cũng không
nghĩ đến. Phương pháp đơn giản
nhất là ngay cả thế giới Cực Lạc cũng
không nghĩ đến, chuyên tưởng A Di Đà
Phật. V́ sao? Thấy A Di Đà Phật không phải là sanh
về thế giới Cực Lạc hay sao? Nghĩ
đến thế giới Cực Lạc vẫn c̣n là
phiền phức lắm! Mười Sáu Phép Quán là nghĩ
đến thế giới Cực Lạc. Trong bản
hội tập kinh Vô Lượng Thọ của cụ
Hạ Liên Cư, phẩm thứ bốn mươi tám là
tưởng thế giới Cực Lạc, giảng về
thế giới Cực Lạc. Nếu quư vị vẫn quán
tưởng, tức là tưởng thế giới Cực
Lạc, đâu có thuận tiện bằng một câu A Di
Đà Phật? Người thực sự thông minh, ngay
cả thế giới Cực Lạc cũng không nghĩ
đến, chuyên tưởng A Di Đà Phật, chuyên
niệm A Di Đà Phật, lẽ đâu không thành tựu? A
Di Đà Phật là chỗ chân chánh cho thân và tâm của chúng
ta quy mạng. V́ thế, mới bảo chúng ta: “Tử tâm niệm khứ, tu khứ”
(Chết ḷng niệm đi, tu đi!) Tu là tu chứng,
tất cả vọng tưởng thảy đều buông
xuống, đó là Tu.
Một câu A Di Đà Phật phải khéo
niệm, cốt sao phải đạt đến tiêu
chuẩn của Đại Thế Chí Bồ Tát: “Đô nhiếp lục căn, tịnh
niệm tương kế” (Nhiếp trọn sáu căn,
tịnh niệm tiếp nối). Đó chính là bí quyết
dụng công thành tựu của Đại Thế Chí Bồ
Tát lăo nhân gia chỉ dạy chúng ta. Ư nghĩa của “nhiếp
trọn sáu căn” không phải là buộc quư vị
mắt không nh́n, tai không nghe, không có nghĩa như vậy;
mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, mũi vẫn
ngửi, lưỡi vẫn nếm, nhưng nhất
định không giữ lại ấn tượng! Cũng
có nghĩa là quyết định không vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước, quyết định không
khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không
chấp trước. Dẫu cho nh́n khắp tất cả,
nghe khắp tất cả, nhưng quả thật chẳng
có phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có
khởi tâm, chẳng có động niệm. Niệm
niệm A Di Đà Phật miên miên mật mật, chẳng
bị cảnh giới bên ngoài ảnh hưởng mảy
may. Người minh tâm kiến tánh trong Tông Môn thường
nói Cảnh giới ấy là “bách hoa tùng trung quá, phiến
diệp bất triêm thân” (qua rừng trăm hoa
nở, mẩu lá chẳng dính thân),
cảnh giới như vậy đấy! Họ dùng
phương pháp tham cứu đạt đến cảnh
giới này, Tịnh Tông dùng Niệm Phật, dùng
phương pháp chấp tŕ danh hiệu để
đạt đến cảnh giới này. Trong tâm quả
thật chỉ có một câu A Di Đà Phật, ngoại
trừ A Di Đà Phật ra, cái ǵ cũng đều
chẳng có. Chẳng thể nghĩ bàn! Đó mới đúng
là “một câu A Di Đà Phật hăy chết ḷng niệm
đi, tu đi”.
Thế nào là “chết ḷng”?
Đối với hết thảy pháp thế gian và xuất
thế gian, hết thảy người, sự, vật,
chẳng c̣n bận tâm, chẳng c̣n khởi tâm, không
động niệm, đó là cơi ḷng thực sự chết
rồi. Chẳng phải là cảnh giới không tồn
tại, cũng không phải là chẳng tiếp xúc cảnh
giới, mà là cảnh giới nhất định chẳng
phương ngại tâm ḿnh, cũng nhất định
chẳng bị nó lôi kéo mà khởi vọng tâm, quư vị
vĩnh viễn dùng chân tâm, người như vậy
mới là biết niệm! Tông Môn thường nói là “biết
chăng?” Tịnh tông chúng ta cũng có thể nói là “quư
vị biết cái ǵ?” Quư vị có biết niệm hay không?
Nếu biết niệm th́ tuyệt lắm! Cao hơn
Thiền nhiều! Đó là thực tại quư vị
phải tin tưởng. Trong kinh Đại Tập, Thích Ca
Mâu Ni Phật đă nói tŕ danh
niệm Phật là thượng thượng thâm diệu Thiền,
quư vị phải thực sự hiểu được câu
nói này của Thích Ca Mâu Ni Phật. Câu tiếp theo,
đại sư dạy chúng ta:
“Tùng kim nhật khởi, cầu sanh Cực
Lạc ngũ thanh Tịnh Độ khứ, thiết mạc
tẩu hướng kỳ tha lộ khứ” (Từ nay trở
đi, hăy cầu sanh cơi Cực Lạc có năm điều
thanh tịnh, chớ đi theo đường nào khác
nữa). Chúng ta phải
đi theo con đường nào? Con đường lớn
dẫn đến Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Con đường lớn ấy được gọi
là “cơi có năm điều thanh tịnh”. Sư dùng danh
từ ấy để đối ứng với “ngũ
trược ác thế” của thế gian này, Sư
gọi cơi kia là “ngũ thanh tịnh độ”. V́ sao?
Ở bên này là Kiếp Trược, tức là thời
đại không tốt; trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới, A Di Đà Phật mới thành Phật
mười kiếp, Phật và tất cả nhân dân trong thế
giới Cực Lạc đều là vô lượng thọ.
Đă vô lượng thọ mà thế giới ấy
mới thành tựu mười kiếp, tức là nhằm
thời đại quá tốt đẹp. Chúng ta ở trong
Kiếp Trược, c̣n bọn họ là Kiếp Thanh, thanh
tịnh.
Chúng sanh tại nơi này có Kiến
Trược, tà tri, tà kiến, mê hoặc, điên
đảo, c̣n Tây Phương Cực Lạc thế
giới là chánh tri, chánh kiến. Trong thế gian của chúng
ta, tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng, kinh
Lăng Nghiêm nói như vậy. Trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, chư Phật Như Lai thuyết
pháp, số lượng ấy dù có dùng số cát sông Hằng
để tỷ dụ cũng không có cách ǵ sánh ví
được, [chư Phật thuyết pháp trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới] nhiều như
số vi trần trong tam thiên đại thiên thế
giới. Số cát trong sông Hằng làm sao có thể sánh ví
được? Kiến giải thanh tịnh mà! Chúng ta
ở đây phiền năo, tập khí rất nặng; chúng
sanh trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
mỗi ngày nghe kinh, nghe pháp, cúng dường chư Phật,
cúng dường hết thảy chúng sanh trọn khắp pháp
giới hư không giới. Quư vị hăy nghĩ đi: Người
bên đó đừng nói chi nhiều, phước huệ
họ tu trong một ngày ước chừng bằng
với phước huệ chúng ta phải tu trong vô
lượng kiếp. Họ tu xong trong một ngày. Bọn
chúng ta ở đây có phiền năo, c̣n bên thế giới của
người ta, ai cũng có trí huệ, chuyển tám thức
thành bốn trí, chuyển phiền năo thành Bồ Đề,
đó là thế giới có năm thứ thanh tịnh.
Trong thế
gian này có Chúng Sanh Trược, sao gọi là Chúng Sanh
Trược?
Là v́ cư dân trong thế gian này kiến giải, tư
tưởng thác loạn, hết thảy chúng sanh vô t́nh
lẫn hữu t́nh đều bị nhiễm ô, biến
Nhất Chân pháp giới thành thế gian trược ác. Trái
lại, con người trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới tâm thiện, tư tưởng thiện,
ngôn hạnh thiện, nên cảm được thế
giới Cực Lạc, chứ không là ngũ trược ác
thế. Trong thế gian này, chúng sanh thọ mạng rất
ngắn; người bảy mươi tuổi xưa nay hiếm
hoi, từ sáu mươi tuổi trở lên đă thuộc lớp
tuổi văn niên rồi!
Tôi nhớ lúc cầu học tại Đài
Trung, thầy Lư dạy chúng tôi Cổ Văn, giảng
đến bài Thu Thanh Phú (bài phú Tiếng Thu), cảm thán
bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông biến hóa, đời
người cũng có bốn thời: Trước năm
hai mươi tuổi là mùa Xuân, hai mươi đến
bốn mươi là mùa Hạ của đời
người, từ bốn mươi đến sáu
mươi là mùa Thu của đời người, sáu
mươi tuổi trở đi là mùa Đông. Thầy
giảng thiên văn chương ấy, cảm khái vô
hạn. Người thế gian muốn sống qua
được mùa Đông lạnh lẽo, th́ ba mùa Xuân,
Hạ, Thu phải chuẩn bị sẵn; nhưng có
mấy ai biết cách sống qua tuổi già? Người
thế gian mê hoặc điên đảo nhiều, thanh xuân
trẻ khỏe hưởng phước, quên sạch
chuyện tuổi bóng xế. Lúc tuổi già xộc tới,
dẫu hối cũng không kịp; không biết tu
phước, tích đức lúc trẻ khỏe.
Giáo dục Trung Quốc thời cổ
rất coi trọng vấn đề này. Thanh thiếu niên
chú trọng giáo dục đạo đức, đó là bám
chắc rễ trước khi tṛn hai mươi. Từ hai
mươi đến bốn mươi bèn phục vụ
xă hội, tạo phước. Từ bốn mươi
đến sáu mươi, bồi dưỡng người
kế tục. Sáu mươi tuổi trở đi lui
về hưu, hưởng phước!
Như vậy là biết cách sống qua mùa Đông.
Đấy chính là giáo dục tư tưởng, hoàn toàn khác
với người Tây phương; người Tây phương
điên đảo. Trong một đời
người, lúc nào mới hưởng phước?
Tuổi nhi đồng. V́ thế, mọi người
tại ngoại quốc thường nói: “Tuổi nhi
đồng là thiên đường. Tuổi trung niên là chiến
trường, tuổi già là phần mộ”. Nói nghe sao bi
ai quá đỗi! Không như tư tưởng Trung Quốc.
Tư tưởng, lư luận của Trung Quốc khác
hẳn bọn họ. Tuổi thanh thiếu niên rất cay
đắng th́ mới phát phẫn, nỗ lực học
tập, theo kịp bước tiến của xă hội, v́
xă hội tạo phước. Tuổi già hưởng
phước, tuổi già không phải là mồ chôn, tuổi
già là hưởng phước. Trong tư tưởng
của người ngoại quốc, phước báo hưởng
hết trong mười mấy năm trẻ trung,
phước báo cả đời đă hưởng xong,
họ lại không biết tu phước, tuổi già sao
không rất khổ?
Chúng ta thấy điều tốt
đầu tiên của Tây Phương Cực Lạc
thế giới là vô lượng thọ! Vô lượng
thọ ấy chẳng phải là vô lượng có số
lượng, mà thực sự là vô lượng một cách
vô lượng. Chuyện này là như thế nào? Sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi,
quyết định trong một đời chứng đắc
viên măn Vô Thượng Bồ Đề. Chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề là thực
sự vô lượng thọ, không giả đâu, v́ sao?
Đừng nói đến Vô Thượng Bồ Đề,
chỉ nói đến Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc
Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo phá một phẩm vô
minh, thấy một phần chân tánh, chứng một
phần Pháp Thân, trong cảnh giới này không c̣n sanh diệt
nữa. Sanh diệt không c̣n tức là bất sanh bất
tử, Phật pháp gọi đó là Đại Niết Bàn.
Đại Niết Bàn là bất sanh bất diệt, bất
sanh bất diệt là vô lượng thọ thực sự!
Đó là mục tiêu tu hành chân chánh của Phật pháp
Đại Thừa.
Tiểu Thừa Tứ Quả A La Hán
cũng chứng đắc Niết Bàn, nhưng Niết Bàn của
họ không phải là thật. Nói theo cách thông thường,
các Ngài chỉ đạt tương tự Niết Bàn, không
phải chân thật Niết Bàn. Các vị ấy chưa
kiến tánh, cho nên Phật gọi [cảnh giới Niết
Bàn của Tiểu Thừa] là “thiên chân Niết Bàn”. Chỉ có Đại
Thừa Bồ Tát mới chứng đắc Niết Bàn
chân chánh, tức đại Niết Bàn. Sơ Trụ Bồ
Tát của Viên Giáo đă chứng đắc, nhưng không
viên măn, muốn viên măn phải thuộc vào Như Lai quả
địa, đấy mới là chứng đắc
đại Niết Bàn viên măn rốt ráo. Cái hay nhất
của Tây Phương Cực Lạc thế giới không
chỉ là vô lượng thọ, mà c̣n là “viên chứng ba
thứ Bất Thoái”, thật phi phàm, thật khó tin! Bậc
Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo chứng được
ba thứ Bất Thoái, nhưng chưa viên măn. Viên chứng
ba thứ Bất Thoái, nói thật ra, bậc thực sự
viên chứng là Đẳng Giác Bồ Tát. Chúng ta hạ
thấp tiêu chuẩn một chút, không cần phải nâng cao
như thế th́ viên chứng ba thứ Bất Thoái trong kinh
thường gọi là A Duy Việt Trí Bồ Tát. A Duy
Việt Trí thuộc đẳng cấp nào? Từ Thất
Địa trở lên, được oai thần và bổn
nguyện của A Di Đà Phật gia tŕ, chứ không
phải do chính ḿnh thực sự có năng lực chứng
đắc.
Dù được Phật gia tŕ, chính ḿnh
vẫn phải nghiêm túc tu học. Tu học th́ công phu
của mỗi người tiến triển khác nhau. Có người
tiến bộ nhanh chóng, có người tiến bộ chậm
chạp hơn, nhưng người ấy chắc chắn
không thoái chuyển. Mức học tập tiến bộ có
nhanh, có chậm, thật đấy. Kẻ nhanh th́ sớm
có ngày tự ḿnh thực sự chứng đắc viên măn
ba thứ Bất Thoái. Dù chưa chứng đắc, nhưng
được A Di Đà Phật gia tŕ, nên thọ dụng,
trí huệ, đức năng cũng chẳng khác ǵ
lắm. Chuyện thù thắng này mười phương
các thế giới Phật thảy đều không có.
Như vậy, ở đây đại
sư khuyến khích chúng ta, từ ngày nay trở đi,
nhất định phát nguyện cầu sanh cơi nước
Tây Phương Cực Lạc có năm thứ thanh
tịnh, chúng ta phải lấy đó làm tông chỉ tu
học cho bản thân. Điều cuối cùng vô cùng
trọng yếu, nhất định tiến đến
Phật quả viên măn rốt ráo, đây cũng là câu
cuối cùng trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện: “Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành”, quư
vị mới thực sự đạt được viên
măn rốt ráo, chứng được Phật quả viên
măn rốt ráo.
Do vậy, “tùng kim nhật khởi, tật
thú A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề khứ,
thiết mạc tẩu hướng kỳ tha lộ khứ”
(từ ngày nay trở
đi, nhanh chóng tiến đến A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề, chớ đi theo
đường nào khác nữa). Con đường
khác là ǵ? Là danh văn lợi dưỡng thế gian.
Phải tranh giành những phẩm hàm ǵ, phải tranh giành
những địa vị ǵ, phải tranh giành những
quyền lợi ǵ, lầm hết! Chúng ta hăy chú tâm suy
tưởng, chú tâm quán sát: Thích Ca Mâu Ni Phật đă nêu
gương ǵ cho chúng ta? Ngài là vương tử, lẽ
đương nhiên sẽ kế thừa ngôi vua. Ngôi vua cũng
không cần, đức Phật đă biểu diễn cho
chúng ta thấy, chúng ta c̣n phải giành làm ǵ nữa đây?
Nay chúng ta muốn giành lấy một địa vị,
nếu nghĩ đến Thích Ca Mâu Ni Phật ở bên cạnh
chúng ta, Ngài sẽ nghĩ như thế nào? Đức Phật
dạy chúng ta như thế nào? Đức Phật không
cần! Không cần danh, không cần cái danh đế
vương, cũng không cần địa vị
đế vương, cũng không cần quyền lợi
của đế vương, mọi thứ đều
buông bỏ hết, cũng chẳng hưởng thụ phú
quư. Những hưởng thụ vật chất trong
cuộc sống đế vương Ngài đều
bỏ hết, bỏ sạch sành sanh.
Ngài là kẻ b́nh dân, thân phận ǵ
cũng không có, chức tước ǵ cũng không có,
được người khác tôn kính, mọi người
gọi Ngài là Thế Tôn. Thế Tôn nghĩa là ǵ? Nói như
bây giờ, đặc biệt rất thông dụng tại
Trung Quốc là tôn kính. Nếu nói theo cách bây giờ là
“đức Thích Ca Mâu Ni Phật tôn kính”. Đức Phật
là thánh nhân. Người Trung Quốc gọi là “thánh nhân”,
người Ấn Độ gọi là Phật, Phật có
nghĩa là người có trí huệ, có đạo
đức, bậc giác ngộ. Đối với danh
hiệu của Ngài, chúng ta thêm vào chữ “tôn kính”, bậc
thánh nhân Thích Ca Mâu Ni tôn kính, hoặc là Thích Ca Mâu Ni Phật,
Thích Ca Mâu Ni Giác Giả, đối với bậc giác
ngộ, xưng hô như vậy đó!
Những việc suốt một
đời lăo nhân gia thực hiện, chúng ta phải
học tập: Đó là giáo học. Chính ḿnh phải ngày ngày
không ngừng học tập, mỗi ngày không ngừng
dạy người khác. Do vậy, nếu quư vị chú tâm
quan sát, dùng thuật ngữ hiện tại để nói
về Ngài th́ cả một đời Ngài theo đuổi
sự nghiệp giáo dục. Nếu dùng thuật ngữ
hiện tại để mô tả Ngài th́ đức
Phật là một nhà giáo dục đa nguyên văn hóa.
Những hành động suốt đời Ngài là thực
hiện công tác nghĩa vụ giáo dục xă hội đa
nguyên văn hóa, bởi lẽ, Ngài dạy học không thâu
học phí, không tiếp nhận cúng dường, mỗi
ngày sống đơn giản nhất, cầm bát khất
thực, ngày ngày ra ngoài khất thực. Ôm bát đi xin, ai
cho ǵ ăn nấy, quyết định không phân biệt, mà
đều là tâm cảm kích. Quư vị cúng dường
một bát cơm rất ngon, Ngài rất cảm kích, cảm
ân; quư vị cúng dường cơm không dễ nuốt, Ngài
vẫn b́nh đẳng cảm ơn. V́
sao? Người cúng dường đă tận tâm. Mỗi cá
nhân giàu hay nghèo khác nhau, trạng huống sinh hoạt khác
nhau, đến xin ở chỗ nghèo cùng, họ ăn
những thứ rất dở, họ cúng dường cho
quư vị những thứ tốt nhất rồi đó. V́
vậy, chư Phật, Bồ Tát đều b́nh
đẳng cảm ơn.
Chúng ta học Phật, học Phật
chính là học theo Thích Ca Mâu Ni Phật, học theo tấm
ḷng của Ngài, học hỏi cuộc đời của Ngài,
học theo cách Ngài đăi người tiếp vật,
học tập cách Ngài từ bi giáo hóa hết thảy chúng
sanh. Đức Phật biết chuyện trọng yếu
nhất trong việc từ bi tế thế là giúp cho chúng
sanh giác ngộ, phá mê khai ngộ, có như vậy mới thực
sự ĺa khổ được vui. Vui do đâu mà có? Vui do
giác ngộ mà có. Khổ do đâu mà có? Khổ do mê hoặc
mà có. Chỉ có phá mê khai ngộ mới thực sự ĺa
khổ được vui. Thích Ca Mâu Ni Phật hiểu
đạo lư này, liễu giải chân tướng sự
thật này, cả đời giúp người khác, giúp
người khác ĺa khổ được vui. Ngài giảng
về nhân để giúp chúng sanh phá mê khai ngộ,
để rồi chính họ ĺa khổ được vui.
A! Kinh A Di Đà trong Hệ Niệm Pháp
Sự chúng tôi giới thiệu đến đây thôi.
Đoạn sau là Văng Sanh Chú, bài chú Văng Sanh này chúng tôi cũng
cần phải giảng. Phải có nhận thức,
phải hiểu rơ bài chú ấy. A! Bây giờ hết giờ
rồi.
Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 13 hết
[1] Bát (撥) có nghĩa là bài bác.
[2] Sanh trưởng tự nhiên, không qua
đột biến gene, cũng không dùng hóa chất, phân bón
hóa học để kích thích tăng trưởng.
[3] Hậu di chứng: Những hậu
quả bất lợi nẩy sanh sau đó.
[4] Thích (螫): Côn trùng
như ong kiến châm đốt th́ gọi là Thích. Ở
đây, phiền năo khiến con người ta đau
đớn, bứt rứt, vật vă như bị ong
đâm kiến đốt nên mới dùng chữ Thích
để tỷ dụ.
[5] Đây là dùng cách mở nút chai bằng
cách hơ nóng cổ chai để làm tỷ dụ. Nghe pháp
môn này mà không buông xuống vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước được th́ cũng
giống như nút chai bị hơ chưa đủ nóng,
nút chai không bung ra được!
[6] Xin đừng hiểu lầm ư của
Ḥa Thượng trong đoạn này: Đừng hiểu là
Ḥa Thượng dạy chúng ta vô cảm, không quan tâm tới
người khác, mặc kệ người khác sống
chết không cần biết đến. Nói “đừng quan tâm tới người khác, chẳng
cần suy tưởng đến người khác” có
nghĩa là đừng lo t́m kiếm, suy xét khuyết
điểm của người khác, điều khiển
người khác theo ư kiến của riêng ḿnh v.v... Nói chung
là phải phá được Ngă Kiến, Nhân Kiến, Chúng
Sanh Kiến và Thọ Giả Kiến.