Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư
Phần 14
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh
Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học
Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Tập
40
7. Chú Văng Sanh
Xin xem tiếp phần sau kinh Di
Đà có Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng
Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni.
Câu này phải đọc như thế này “Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng
Căn Bản, Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La
Ni”, thường gọi là chú Văng Sanh. Thông thường
tụng kinh Di Đà xong, mọi người thường
niệm ba biến hoặc bảy biến chú Văng Sanh. Nếu
chiếu theo truyện kư ghi chép th́ phải niệm hai
mươi mốt biến, ba lần bảy là hai
mươi mốt biến, kinh truyện nói như vậy.
Con người hiện tại thích giản lược, hai
mươi mốt biến giản lược thành bảy
biến, nay bảy biến giảm thành ba biến.
Chúng tôi dựa theo lời
giải thích của Liên Tŕ đại sư trong Sớ Sao
để giới thiệu khái lược ư nghĩa bài chú
này. Đại sư giải thích ư nghĩa bài chú này như
sau: “Dĩ chú phụ kinh” (đem
chú ghép thêm vào kinh), kinh Di Đà vốn không có chú này, do chú này
cũng nói về việc văng sanh, nên tổ sư
đại đức đem bài chú này (bài chú này không dài) ghép
vào sau kinh. “Dĩ chú phụ
kinh, kinh đắc chú nhi di hiển” (đem chú ghép thêm
vào kinh, kinh có thêm chú càng rơ ràng). Chữ “kinh” ở đây là kinh A Di Đà, được bài
chú Văng Sanh ghép thêm đằng sau th́ kinh ấy càng thêm rơ
rệt. Chú là mật chú, hiển mật viên dung, thể
hiện ư nghĩa: Kinh là hiển thuyết, chú là mật
thuyết. Nói “dĩ kinh tiên chú”
(kinh được đặt trước chú), kinh
đặt ở đằng trước, chú đặt
ở sau, “chú đắc kinh nhi
dũ linh” (chú được kinh [giảng rơ] càng linh), chú là chú của kinh, kinh là
kinh của chú. Chú này có ư nghĩa ǵ? Ư nghĩa của bài chú
đều nằm gọn trong kinh, kinh là hiển thuyết,
chú là mật thuyết, “giao tương
vi dụng” (dùng lẫn cho nhau), kinh và chú hỗ trợ
nhau, thành toàn lẫn nhau. “Ưng
kết thích dă” [nghĩa là] hăy nên giải thích
như
vậy!
Trước hết, hăy nói
về xuất xứ của bài chú này. “Thử chú tường kiến Bất Tư Nghị
Thần Lực Truyện” (Chú này thấy [ghi chép]
tường tận trong Bất Tư Nghị Thần
Lực Truyện). Đây là xuất xứ của bài chú này,
chú được chép trong Bất Tư Nghị Thần
Lực Truyện. Sách nói: “Tŕ thử
chú giả, diệt tội văng sanh” (tŕ chú này, diệt
tội văng sanh). Ư nghĩa này rất hy hữu, trong Hiển
giáo chúng ta nói văng sanh Tây Phương Cực Lạc là “đới
nghiệp văng sanh”, chú này lại có thể diệt tội
văng sanh, há chẳng phải là viên măn hơn kinh ư? Do
vậy, quả thật có người không niệm kinh Di
Đà, chuyên tŕ chú Văng Sanh. Tŕ chú có được linh
nghiệm hay không? Trước kia, tôi giảng kinh ở
Đài Bắc, có một vị cư sĩ bảo ông ta hoàn
toàn tuân theo những ǵ Bất Tư Nghị Thần Lực
Truyện đă nói, niệm chú Văng Sanh ba mươi vạn
biến. Ông ta niệm đủ ba mươi vạn
biến, không thấy có cảm ứng, đến hỏi
tôi. Ông ta nói: “Thưa pháp sư! Chú này không linh!” Thật ra, chẳng
phải chú không linh! Cùng một đạo lư, như trong
phần trước chúng tôi đă nói về kinh, quư vị
có hiểu hay không? Chú cũng giống như vậy đó,
quư vị có hiểu hay không? Nếu không hiểu th́ chỉ
là học khẩu ngữ, khó ḷng lắm!
Chú linh như thế nào? Nói thật ra,
từ cổ đến nay thần chú không được
giải thích. Người Ấn Độ nghe cũng không
hiểu, bởi nó chẳng phải là tiếng Phạn.
Trước kia, thầy Lư từng bảo tôi thầy đă
từng học Mật, học suốt tám năm. Thầy
bảo: Quá nửa thần chú là ngôn ngữ của lục
đạo. Khi Phật giảng kinh, thuyết pháp, thần
linh trong lục đạo đều đến nghe,
đại khái thính chúng [trong lục đạo] c̣n
nhiều hơn loài người chúng ta. Chúng ta mắt
thịt không thấy họ, chứ Phật, Bồ Tát, A La
Hán đều có thể thấy được họ.
Phải biết đạo tràng giảng kinh của Phật,
ngoại trừ thiên long bát bộ ra, quỷ thần trong
sáu nẻo đều thực sự đến nghe kinh.
Họ đều có năng lực nghe hiểu những ư
nghĩa trong lời thuyết pháp của đức
Phật. Đúng là như kinh Đại Thừa
thường nói: “Phật dĩ
nhất âm nhi thuyết pháp, chúng sanh tùy loại các đắc
giải” (Phật dùng một âm thanh để thuyết
pháp, chúng sanh tùy theo mỗi loại đều hiểu) Như
vậy, âm thanh thuyết pháp của Phật là Viên Âm,
tức là âm thanh viên măn, bất luận loài chúng sanh nào
đến nghe Phật thuyết pháp đều hiểu
được, tựa hồ như nghe Phật đang nói
bằng chính ngôn ngữ của loài ḿnh. Đó là thần
lực chẳng thể nghĩ bàn!
Sau khi giảng xong một
bộ kinh, thông thường đức Phật dùng
những ngôn ngữ của thính chúng để nói mấy
câu. Mấy câu ấy hết sức thân thiết, dùng ngôn
ngữ của chính họ để nói, cũng là ḷng
từ bi lưu lộ, thân thiết từ bi. Chúng ta thấu
hiểu sâu xa, đối với thần linh trong lục
đạo đến nghe, đức Phật cũng dùng
ngôn ngữ của họ để nói mấy câu, nhất
định khiến cho họ hết sức hào hứng,
hết sức hoan hỷ. Đó là lư do mật chú chỉ có
âm thanh chứ không thể giảng giải ư nghĩa. Đa
số ư nghĩa của chú là những ư nghĩa đă
được tuyên nói trong kinh, đương nhiên đức
Phật cũng chẳng thể nói tỉ mỉ, chỉ nói
mấy câu trọng yếu mà thôi. Thầy Lư dạy tôi: Do
vậy, chúng ta cung cung kính kính niệm thần chú là được
rồi, thế nhưng chúng ta niệm lại sợ ǵ? Sợ
rằng tiếng niệm không chuẩn xác, [niệm không chuẩn
xác vẫn] chẳng sao cả! Âm thanh không chuẩn xác,
quỷ thần cũng lượng thứ. Đương
nhiên, đức Phật niệm sẽ chuẩn xác nhất;
sau đức Phật, người thực sự niệm
chuẩn xác không nhiều. Cốt sao tâm chân thành, như
thường nói: “Hễ thành ắt
linh”, chân thành ắt cảm ứng. Đó là một
loại thần chú.
Trong Đại Tạng Kinh c̣n
có một loại chú ngữ ta không thể gọi là
thần chú được, nó cũng không mang ư nghĩa
ấy. Chú ngữ thuộc loại nào vậy? Loại
trị bệnh. Trị bệnh th́ không phải là thần
chú; đối tượng của những chú ấy không phải
để nói cho quỷ thần nghe, mà nhắm vào căn
bệnh. Đại khái là huyệt đạo bế
tắc, đức Phật biết bộ phận nào
bị bế tắc không thông suốt nên bệnh tật
phát sanh. Đức Phật đem âm thanh dạy cho quư
vị, dạy quư vị niệm, niệm những câu
chữ ấy, âm thanh lớn hay nhỏ đều đă
khảo cứu. Dùng âm thanh để chấn động
những bộ vị bế tắc; do chấn
động, sự bế tắc bị tiêu trừ, kinh
mạch thông suốt. Do vậy, trong kinh điển cũng
có rất nhiều chú ngữ trị
bệnh, nhưng ngày nay c̣n linh hay không? Hiện thời, thực
sự không linh. Là v́ loại chú ngữ ấy nhất
định phải được khẩu truyền. Chúng
ta dựa theo kinh ấy, thấy bệnh như thế bèn
niệm chú ấy không thấy linh nghiệm chút nào hết. Chẳng
phải chú ấy không linh, mà là v́ chúng ta không biết
niệm, chúng ta không biết cách phát âm. Phát âm phải chính
xác, âm lượng phải rất chuẩn th́ mới thực
sự thấu đến bộ vị ấy.
Đây có thể gọi là
phương pháp trị bệnh cao minh nhất, chẳng
cần phải châm cứu. Châm cứu vẫn cần phải
đâm kim. Cách này không cần, dùng âm thanh trị bệnh là
phương pháp cao minh nhất; cách này đă thất
truyền. Dù Đại Tạng Kinh vẫn có [ghi chép],
nhưng quả thật không linh là v́ tiếng niệm
của chúng ta không chuẩn, mà cũng không biết âm
lượng lớn hay nhỏ. Trong thế gian này cũng có
rất nhiều thổ dân, tổ tổ tương
truyền, rất có thể vẫn c̣n giữ
được phương pháp này, nhưng hiện tại
chúng ta rất ít thấy. Điều này thực sự có
lư, chứ không phải vô lư, những chú ngữ ấy không
có ư nghĩa ǵ hết. Điều này thuộc về kiến
thức thông thường, chúng ta phải hiểu như
thế. Nếu trong tương lai, có ai phát hiện,
người ấy dùng âm thanh chữa bệnh sẽ
hiểu được đạo lư này. Lúc đức Thế
Tôn c̣n tại thế thường dùng phương pháp này.
Đại khái ở Trung Quốc, đến đời Đường
vẫn c̣n phương pháp dùng các chú ngữ để trị
bệnh này, rất có hiệu quả. Hơn một ngàn
năm sau, loại chú ngữ này bị thất truyền,
hết sức đáng tiếc!
Ở đây, Liên Tŕ đại
sư nói: “Tŕ thử chú giả,
diệt tội văng sanh, cố dĩ Bạt Nghiệp Chướng
Sanh Tịnh Độ chi danh” (Người tŕ chú này diệt
tội văng sanh, nên đặt tên là Bạt Trừ Nghiệp
Chướng Sanh Về Tịnh Độ). Bài chú này có danh xưng là Bạt Nhất Thiết
Nghiệp Chướng Căn Bản, Đắc Sanh
Tịnh Độ Đà La Ni. Đà La Ni có nghĩa là
Tổng Tŕ.
Sau lời Sớ có lời Sao, Sao nhằm
giải thích Sớ, Sớ để giải thích kinh, tức
là lại có phần chú giải những lời chú giải
[kinh]. Chúng tôi cũng không cần phải đọc
hết, chỉ nhắc đến những phần
trọng yếu. Nói đến nghiệp chướng th́
thông thường, nghiệp chướng gồm ba loại
lớn: Phiền Năo Chướng, Nghiệp Chướng, Báo
Chướng. Nhà Phật thường nói “nguyện tiêu tam chướng trừ phiền năo,
nguyện đắc trí huệ chân minh liễu”; ba
chướng vừa nói ấy chính là những chướng
vừa được liệt kê ở đây: Phiền Năo Chướng,
Nghiệp Chướng, và Báo Chướng.
V́ sao không nói dẹp trừ Phiền
Năo Chướng và Báo Chướng? Trong ba chướng v́
sao chỉ nhắc đến ḿnh Nghiệp Chướng?
Đối với Nghiệp Chướng th́ Phiền Năo Chướng
là nhân của Nghiệp Chướng, Báo Chướng là
quả của Nghiệp Chướng. Nói thật ra,
những thứ nhân quả báo ứng đều lần lượt
làm nhân quả lẫn nhau. Phiền Năo Chướng là nhân, Nghiệp
Chướng là quả. Do v́ phiền năo, quư vị bèn
tạo nghiệp, Nghiệp Chướng là nhân, Báo Chướng
là quả. Nói như vậy chắc quư vị hiểu rơ. Do
v́ phiền năo, quư vị mới tạo nghiệp. Nếu
không có phiền năo, làm sao quư vị tạo nghiệp
được? Phiền năo là ǵ? Tham, sân, si, mạn, trong phần
trên gọi là Kiến Hoặc và Tư Hoặc. Quư vị có
Kiến Tư phiền năo nên mới tạo nghiệp;
tạo nghiệp rồi, nhất định có quả báo.
Ác nghiệp th́ quả báo là ngạ quỷ, súc sanh,
địa ngục; thiện nghiệp th́ quả báo là
thiện quả nhân thiên. Như vậy, lục đạo
luân hồi thuộc về quả báo. Lục đạo
luân hồi v́ đâu mà có? Do khởi Hoặc tạo
nghiệp nên mới biến hiện ra như thế.
Đại sư cũng giải thích rất khéo: “Nghiệp tất hữu nhân, nghiệp
tất chiêu quả” (Nghiệp ắt có nhân, nghiệp
ắt chuốc lấy quả). V́ thế, có thể nói là Phiền
Năo Chướng và Báo Chướng được bao
gồm trong Nghiệp Chướng.
Ở đây, đại sư cũng nói mấy câu rất hay: “Trừ chướng, quư
trừ kỳ
bổn. Như căn tuyệt
bất sanh nha. Nha bất sanh, tắc chi, diệp, hoa, quả,
tất bất sanh cố” (Trừ
chướng quư ở chỗ trừ tận gốc.
Nếu rễ tuyệt sẽ chẳng nẩy mầm.
Mầm chẳng sanh th́ cành, lá, hoa, quả đều
chẳng thể sanh được). Ư nghĩa này hay
lắm, chúng ta phải hiểu. Cổ đức
thường chỉ dạy người học tu hành là tu
từ đâu? Tu từ căn bản, ư nghĩa như
vậy. Căn bản là ǵ? Căn bản là khởi tâm
động niệm. Cách tu hành cao minh nhất là ư niệm
vừa khởi, lập tức “chiếu
trụ”. Chiếu trụ là ǵ? Biết rơ ràng minh bạch
ư niệm này của ḿnh là thiện hay ác. Ư niệm là
thiện, thiện là lợi ích hết thảy chúng sanh,
điều thiện ấy chính là ư niệm tốt,
phải làm cho nó tăng trưởng. Nếu ư niệm
ấy là ác niệm, lập tức phát hiện, ngay lập
tức dùng một câu A Di Đà Phật để thay
thế nó. Đó là tu từ căn bản.
Do vậy, quư vị phải biết: Pháp
môn Tịnh Độ là tu từ căn bản, so với
bất cứ pháp môn nào cũng đều dễ dàng
hơn. Do v́ pháp môn này là đề khởi chánh niệm,
chánh niệm là một câu Phật hiệu, vô cùng dễ dàng,
vô cùng đơn giản. Ư niệm vừa khởi bèn A Di
Đà Phật, đưa về A Di Đà Phật. Niệm
thứ nhất vừa khởi, niệm thứ hai bèn
chuyển. Nếu quư vị thực sự niệm Phật
như thế, công phu sẽ đắc lực! Lợi
căn th́ ba tháng hay nửa năm sẽ có hiệu quả
rất tốt. Độn căn th́ ước chừng ba
năm hay năm năm sẽ thấy hiệu quả. Quan
trọng nhất là tŕ cho thường hằng, phải giác
ngộ nhanh, đừng để vọng niệm tiếp
tục tăng trưởng. Đấy là điều chúng
tôi thường giảng, phải thường dấy lên
sự cảnh giác cao độ, quán chiếu kín nhiệm, đấy
mới là chân chánh dụng công!
Liên Tŕ đại sư nói: “Kim thử chú tŕ chi, tắc phiền
năo bất khởi, thị bạt nghiệp chướng căn
bản dă” (Nay tŕ chú này th́ phiền năo không khởi,
đó là dẹp trừ cội rễ của nghiệp
chướng vậy). Cội rễ của nghiệp
chướng là phiền năo, suốt ngày từ sáng
đến tối niệm chú Văng Sanh, thân - miệng - ư
đều chuyên chú vào chú ngữ (tổng cộng gồm mười
bốn câu), niệm đâu chú tâm vào đó khiến cho phiền
năo bị khuất phục. Đến lúc công phu đắc
lực, dù không niệm phiền năo vẫn chẳng khởi
hiện, bèn đạt được công phu thành phiến.
Dùng phương pháp tŕ chú để đạt công phu thành
phiến.
Tiếp theo đó, [đại
sư] giảng những câu được ghi trong Bất
Tư Nghị Thần Lực Truyện: “Như Truyện ngôn: Nhật dạ các tŕ tam thất
biến, diệt Ngũ Nghịch, báng pháp đẳng tội,
thị dă” (Như Truyện nói: Ngày đêm mỗi
thời đều tŕ hai mươi mốt biến,
diệt các tội như Ngũ Nghịch, báng pháp v.v…) Nói “ngày
đêm” không có nghĩa là buổi sáng niệm hai
mươi mốt biến, buổi tối niệm hai
mươi mốt biến. Nếu quư vị hiểu như
vậy là đă hiểu lầm ư nghĩa mất rồi.
Ấn Độ thời cổ, ngày gồm ba thời,
đêm gồm ba thời, trong mỗi một thời
niệm hai mươi mốt biến. Nói cách khác là ngày
đêm sáu thời. Thật ra, cũng không có ǵ nhiều,
mỗi thời niệm hai mươi mốt biến, ngày
đêm phải niệm sáu lần, tổng cộng niệm
sáu lần, phương pháp tu hành là như vậy.
Thời cổ, chúng sanh thiện căn
sâu dầy, hiểu luân lư, đạo đức,
đều có mức tu dưỡng kha khá, phương pháp
tu tŕ này có hiệu quả. Trong thế giới hiện
tại th́ rất khó, bên trong có phiền năo tập khí nghiêm
trọng, bên ngoài có sức dụ dỗ mê hoặc to
lớn. Công phu hiện tại phải là trong mười
hai thời không được gián đoạn trong từng
sát-na. V́ sao? Hễ gián đoạn, phiền năo tập khí
bèn hiện tiền, đây là chuyện rất khó khăn!
Đại sư lại nói: “Luân
hồi Sa Bà, giai do nghiệp chướng. Nghiệp
chướng kư không, uế độ chủng diệt, tùy
nguyện văng sanh, cố đắc sanh A Di Đà Phật
Cực Lạc quốc độ” (luân hồi trong Sa Bà
đều v́ nghiệp chướng. Nghiệp
chướng đă không th́ chủng tử của uế
độ diệt, tùy nguyện văng sanh, nên được
sanh về cơi nước Cực Lạc của A Di Đà Phật).
Ư nghĩa này rất hay.
Tiếp đấy, lại có mấy câu
nhằm giải thích chữ Tổng Tŕ. Chúng ta thường
nói đến Tổng Tŕ rất nhiều. “Tổng nhất thiết pháp, tŕ nhất thiết
nghĩa” (Gồm chung hết thảy pháp, nắm giữ
hết thảy nghĩa), đó là ư nghĩa của chữ
Tổng Tŕ. Tổng Tŕ tiếng Phạn là Đà La Ni (Dhāranī), là tên gọi khác của Chú. “Truyện danh Bất Tư Nghị
Thần Lực giả, tức kinh danh Bất Tư Nghị
Công Đức dă” (Truyện mang tên là Bất Tư
Nghị Thần Lực, tức là bản kinh mang tên Bất
Tư Nghị Công Đức). Hợp kinh và chú lại
để xét th́: “Tŕ chú, tŕ
danh, tức đắc văng sanh, cố đồng danh Bất
Tư Nghị” (Tŕ chú, tŕ danh bèn được văng sanh,
nên cùng gọi là Bất Tư Nghị). Đây là ư nghĩa
lớn lao của việc ghép đem Văng Sanh Chú vào sau kinh, đại
sư đă giảng cho chúng ta biết đại ư.
Câu tiếp đó nói về
người phiên dịch chú Văng Sanh: “Tống Nguyên Gia Thiên Trúc Tam Tạng Cầu Na Bạt
Đà La dịch”. Giảng kinh nhất định
phải giới thiệu người phiên dịch. Bởi
lẽ, Phật pháp từ Ấn Độ truyền sang, từ
Tây Vực truyền đến Trung Quốc. Sau khi được
truyền đến Trung Quốc phải qua phiên dịch
mới thành kinh điển bằng Hoa văn. Nhất
định phải ghi chép niên đại phiên dịch, tên
người phiên dịch ở đầu kinh, nhằm
chứng thực kinh điển này quả thật do Thích
Ca Mâu Ni Phật đă nói, từ nguyên văn tiếng
Phạn dịch ra ḥng thủ tín cùng tín đồ ở
Đông phương. Do vậy, phần danh đề [của
một bản kinh] rất quan trọng.
Nhà Tống được đề
cập ở đây chính là nhà Lưu Tống[1]
thuộc thời Nam Bắc Triều, Nguyên Gia là niên
hiệu, tức những năm cuối của niên hiệu
Nguyên Gia thời Tống Văn Đế (424-453). Thiên Trúc[2]
nay gọi là Ấn Độ. V́ sao gọi là Tây Vực? Vào
thời ấy, từ Trung Quốc sang Ấn Độ, quá
nửa là theo đường Tây Vực[3],
vượt qua Thông Lănh (cao nguyên
Cầu Na Bạt Đà La là tên hiệu
của vị pháp sư dịch kinh. Đồng thời
với Ngài có một vị pháp sư cũng là người
Ấn Độ, tên họ rất giống, tức ngài
Cầu Na Bạt Ma (Gunavarman). Có khi [kinh sách] ghi [tên ngài Cầu
Na Bạt Đà La] là Cầu Na Bạt Đà, không có chữ
La ở sau, âm thanh từa tựa Cầu Na Bạt Ma. Do
vậy, rốt cuộc bài chú Văng Sanh này do vị nào phiên
dịch vẫn là điều tồn nghi. Thế nhưng cả
hai vị đều là người Ấn Độ, sống
cùng thời đại, khẳng định Văng Sanh Chú
quả thật đă được phiên dịch từ
kinh điển Phạn Văn, ta có thể khẳng
định điều này. Tiếp sau đây là chú ngữ,
tôi đọc một lượt rồi xem tiếp
những lời giảng giải của Liên Tŕ đại
sư. Chú ngữ gồm mười bốn câu:
Nam mô a di đa bà dạ, đá tha
già đa dạ, đá địa dạ tha: A di rị
đô bà tỳ, a di rị đá, tất đam bà tỳ, a
di rị đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá,
tỳ ca lan đá. Già di nị, già già na, chỉ đa ca
lệ, sa bà ha.
南無阿彌多婆夜。哆他伽跢夜。哆地夜他。阿彌利都婆毗。阿彌利哆。悉耽婆毗。阿彌利哆。毗迦蘭諦。阿彌利哆。毗迦蘭哆。伽彌膩。伽伽那。枳多迦隸。娑婆訶。
Ba hàng
tiếp theo đó là những lời trích từ truyện,
tức là những câu trích từ Bất Tư Nghị
Thần Lực Truyện. “Nhược hữu thiện nam tử,
thiện nữ nhân, năng tụng thử chú giả, A Di
Đà Phật, thường trụ kỳ đảnh, nhật
dạ ủng hộ, vô linh oán gia nhi đắc kỳ tiện,
hiện thế thường đắc an ổn, lâm mạng
chung thời, nhậm vận văng sanh” (Nếu có thiện nam tử, thiện
nữ nhân có thể tụng chú này th́ A Di Đà Phật
thường ở trên đảnh đầu người
ấy, ngày đêm ủng hộ, chẳng để cho oán
gia có dịp thuận tiện [làm hại], đời hiện
tại được an ổn. Lúc mạng chung, tùy ư văng
sanh). Đoạn kinh văn này nêu lên thật rơ mối quan
hệ mật thiết giữa kinh A Di Đà và bài chú này.
Thế nhưng khi đọc kinh, chúng ta thường không
lưu ư đến những chữ then chốt trong kinh. V́
thế, chúng ta hay nói “đọc kinh không linh”, ta chiếu
theo kinh điển tu học dường như không
đạt được hiệu quả như kinh đă
nói. Người nói như vậy không biết kinh luôn đặt
ra những điều kiện rơ ràng! Quư vị thấy
đó: “Thiện nam tử,
thiện nữ nhân”, chứ không nói “nhược hữu nam tử, nữ nhân” (nếu
có kẻ trai, người gái), không hề nói như vậy!
Trước đó phải có chữ Thiện. Thử
hỏi: Chúng ta đă hội đủ tiêu chuẩn
Thiện hay chưa? Nếu hội đủ tiêu chuẩn
Thiện, chiếu theo phương pháp này tu học,
chắc chắn có hiệu quả. Đấy là những
điều chúng tôi thường cảnh tỉnh các
đồng học trong những buổi giảng, chớ
nên coi thường!
Tiêu chuẩn của Thiện là ǵ?
Trong Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, đức
Phật đă nói ra những tiêu chuẩn của Thiện.
Trong đoạn kinh nào vậy? Mọi người
đều biết rất rành là “Tịnh
nghiệp tam phước”. Đó chính là tiêu chuẩn
của thiện nam tử, thiện nữ nhân. Điều
thứ nhất: “Hiếu dưỡng
phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm
bất sát, tu Thập Thiện nghiệp” (Hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng,
từ tâm bất sát, tu Thập Thiện nghiệp). Đó là
điều thiện của nhân - thiên, tức tiểu
thiện. Chúng ta có trọn đủ hay không? Nếu trọn
đủ bốn câu này th́ quư vị chính là thiện nam
tử, thiện nữ nhân như kinh đă nói. Nếu không trọn
đủ bốn câu này, quư vị chỉ là nam tử,
nữ nhân, chẳng thể thêm vào chữ Thiện
được! Thế nhưng quư vị phải hiểu:
Quư vị đạt được điều kiện
này, bèn chiếu theo phương pháp tu hành, th́ có
được cảm ứng thù thắng ǵ hay chăng?
Chưa chắc! Do nguyên do nào? V́ kinh này là kinh Đại
Thừa, không phải kinh Tiểu Thừa. Câu thứ
nhất ấy chỉ là thiện pháp thuộc nhân thiên,
chưa phải là thiện của Đại Thừa. Tu
nhân thiên tiểu quả th́ được, v́ đă
đạt tiêu chuẩn!
Điều thứ hai trong
Tịnh nghiệp tam phước là “thọ tŕ Tam Quy, cụ túc chúng giới, bất phạm
oai nghi” (thọ tŕ Tam Quy, đầy đủ các
giới, chẳng phạm oai nghi). Ngoài bốn câu trên, thêm ba
câu này vào thành bảy câu. Làm được bảy câu này
mới là điều thiện của Nhị Thừa.
Học Thanh Văn, học Duyên Giác, trong kinh điển
Tiểu Thừa thường nói “thiện
nam tử, thiện nữ nhân”, quư vị phải làm
được cả bảy câu này. Kinh Di Đà, kinh Vô
Lượng Thọ là kinh Đại Thừa, Văng Sanh Chú
cũng là kinh Đại Thừa, nên quư vị c̣n phải
làm được điều sau đây nữa. Điều
sau đây chính là Đại Thừa thiện: “Phát Bồ Đề tâm, thâm tín
nhân quả, độc tụng Đại Thừa, khuyến
tấn hành giả” (Phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân
quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến
tấn hành giả). Tổng cộng là mười một
câu, mười một câu này là căn bản của
mọi căn bản. Làm được hết mười
một câu này th́ chính là Đại Thừa thiện. Như
vậy chữ Thiện là then chốt, thiện nam tử,
thiện nữ nhân đầy đủ Tịnh nghiệp
tam phước. Quư vị có đủ cơ sở ấy
th́ được, quư vị “năng
tụng thử chú, A Di Đà Phật, thường trụ
kỳ đảnh, nhật dạ ủng hộ” (có
thể tụng chú này, A Di Đà Phật thường ở
trên đảnh đầu, ngày đêm ủng hộ). Quư
vị tu thành tựu Tịnh nghiệp tam phước, rồi
lại tu pháp môn này, quư vị sẽ thấy có hiệu
quả hay là không!
Tuy vậy, như tôi đă
kể cùng quư vị, trước kia, tại Đài Bắc
tôi đă từng gặp một vị cư sĩ niệm
chú Văng Sanh đến ba mươi vạn biến mà không có
hiệu quả, do nguyên nhân ǵ vậy? Ông ta không có Tịnh
nghiệp tam phước! Ông ta chỉ là “nam tử, nữ
nhân”, không có chữ Thiện này. Bởi thế, niệm xong
ba mươi vạn biến không có hiệu quả. V́ tuổi
ông ta đă cao, cũng có thân phận kha khá, khi đó chúng tôi
tuổi trẻ, chẳng tiện nói. Xử sự, đăi
người, tiếp vật, lời lẽ phải có
chừng mực. Điều ǵ nên nói th́ phải coi
người ta có tiếp nhận được hay không,
mới có thể cùng người bàn luận. Người
ta không thể tiếp nhận, không cần phải nói,
cứ chắp tay hoan hỷ. Trong xă hội, ông ta có thân
phận, có địa vị, cũng có tài nghệ văn
chương, thường đúng là vác mặt lên trời, chẳng
có mấy ai được ông ta coi trọng. Những
điều ấy đều là chướng ngại,
đều là nghiệp chướng của ông ta.
Do vậy biết rằng: Tu
hành chẳng thể không biết căn bản, căn
bản chính là “thiện”. Trước hết, chúng ta
phải đạt được tiêu chuẩn Thiện theo
nhăn quan của đức Phật, chúng ta phải tự
nỗ lực đạt được! Sau đấy, y
giáo phụng hành th́ mới có hiệu quả. “A Di Đà Phật thường
trụ kỳ đảnh” (A Di Đà Phật
thường ở trên đảnh đầu) chính là A Di
Đà Thế Tôn hộ niệm. Oán thân trái chủ toan
chướng ngại quư vị tu hành, chướng ngại
quư vị văng sanh, nhưng có Phật lực, có hộ pháp
thần bảo vệ, che chở quư vị, chúng không có
dịp nào thuận tiện [gây rối]. “Hiện thế thường đắc an ổn” (trong
đời hiện tại thường được an
ổn), nghĩa là sống trong thế gian này, quư vị
được Phật hộ niệm, được long
thiên thiện thần ủng hộ, nên tai nạn,
chuyện bất tường chẳng dễ ǵ gặp
phải. Lúc lâm chung, “nhậm vận
văng sanh” (tùy ư văng sanh), “nhậm
vận” nghĩa là tự tại.
Đoạn kinh văn này
thuyết minh công đức của thần chú, giảng
rất tường tận. Ba câu đầu có thể phiên
dịch, bởi lẽ chúng không phải là chú ngữ. Câu
thứ nhất “nam mô a di đa
bà dạ” là niệm Nam-mô A Di Đà Phật. A-di-đa-bà
(Amitabha) là A Di Đà, đọc theo Phạm âm Ấn Độ
là A-di-đa-bà-dạ (Amitabhaya); nay chúng ta tỉnh
lược thành A Di Đà Phật. A Di Đà chứ không có
chữ Phật, trong câu trên không có chữ Phật. Câu
kế đó, “đá tha già
đa dạ” (tathagataya), dịch là Như Lai. Như
vậy, niệm toàn bộ hai câu này, th́ “nam mô a di đa bà da, đá tha già đa dạ” chính
là A Di Đà Như Lai, trước đó có chữ Nam Mô,
tức Nam Mô A Di Đà Như Lai. Có thể dịch nghĩa
theo cách đọc hiện thời như vậy, nên hai câu
này có thể phiên dịch được. Câu “đá địa dạ tha”
(tadiyatha) cũng dịch nghĩa được, dịch
sang nghĩa tiếng Hán là “tức
thuyết chú viết” (liền nói chú rằng), có nghĩa
như vậy. Những câu tiếp đó mới là chú,
từ chữ “a di rị đô
bà tỳ” (amrtodbhave) trở xuống gồm mười
một câu; mười một câu ấy là chú ngữ.
Những chú ngữ này từ xưa đến nay không phiên
dịch, chỉ có ba câu đầu là có thể dịch.
Trong lời chú giải, Liên Tŕ
đại sư giảng: “Thần
chú tùng cổ bất phiên, lược hữu ngũ ư” (Thần
chú từ xưa đă chẳng phiên dịch, đại
lược có năm ư). Năm
ư ấy chính là năm quy định trong thể lệ
dịch kinh:
1) Ư nghĩa thứ nhất là giống
như đế vương thời cổ, đế
vương có những ư chỉ bí mật, chẳng thể
tùy tiện tuyên truyền. Quư vị nhận được
[chiếu chỉ] cứ y giáo phụng hành là
được rồi, cứ chiếu theo đó mà làm,
chẳng cần phải hỏi han.
2)
Ư thứ hai: Hoặc trong một câu có quá nhiều ư
nghĩa, như Tiên Đà Bà[5]
mang nhiều nghĩa nên không phiên. Bởi lẽ không t́m
được thành ngữ hoặc từ ngữ Trung
Quốc tương tự, nên bèn phiên âm kèm theo giải
thích.
3) Ba là ở Trung Quốc không có, đại
sư nêu thí dụ như Diêm Phù Đề (Jambudvipa). Trong
kinh chúng thường thấy chữ sau: Am Ma La quả
(Amarapuspaka), Trung Quốc từ trước đến nay
chưa hề có, hoặc Hưng Cừ[6]
trong Ngũ Tân (năm thứ cay hôi), Trung Quốc cũng
không có. Nhưng hiện tại giao thông phát đạt, hàng
hóa lưu thông dễ dàng, Am Ma La quả là trái ǵ vậy?
Người Đài Loan gọi nó là trái Ba Lạc (trái xoài)[7]. Trước
kia, lăo ḥa thượng Đạo Nguyên (Ngài là vị pháp
sư giảng kinh tại Đài Loan) đi triều bái
Ấn Độ. Do Ngài thường giảng kinh,
thường giảng trái Am Ma La ở Trung Quốc không có, rốt
cuộc vẫn không biết là trái ǵ. Lần ấy, Ngài
đến Ấn Độ, hỏi người Ấn
Độ: “Trái Am Ma La là trái ǵ? Xin đem đến cho tôi
xem!” Rốt cuộc họ đem lại, nhận ra trái ấy
Đài Loan cũng có, nhưng ở Trung Quốc đại
lục không có. Đó là một loại. Hưng Cừ là
một loại trong Ngũ Tân, chính là thứ ǵ vậy? Nay
chúng tôi biết nó là một loại hành tây; ở Trung
Quốc không có. Như vậy, những thứ giống
như vậy không có cách nào phiên dịch được,
chỉ c̣n cách phiên âm.
4) Thứ tư, thuận theo lối
cổ không phiên. Thời cổ dịch kinh, những
chữ, những câu đă được dịch âm, ai
nấy đều biết nên không cần thay đổi. Hăy
nêu một thí dụ: A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề. Nói thật ra, cũng là do tôn trọng cổ
nhân, do tôn trọng nên không phiên dịch.
5) Thế nhưng điều thứ
năm cũng mang ư nghĩa tôn trọng: “Hoặc tôn trọng, phi Đường ngôn khả đối,
như Bát Nhă cố” (Hoặc do tôn trọng, chứ chẳng
phải không thể dịch sang tiếng Hán, như chữ
Bát Nhă chẳng hạn). Nói thật ra, Bát Nhă cũng có
thể dịch thành trí huệ. A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề dịch là Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác. Thế nhưng danh từ Pháp Tướng
trong kinh luận hết sức nhiều, chúng ta đọc đă
quá quen, như vậy chúng thuộc về loại từ
ngữ được tôn trọng. Nhất là A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, đă là
người học Phật th́ bất luận Tiểu
Thừa hay Đại Thừa, Hiển Giáo hay Mật Giáo,
chúng ta học Phật nhằm mong mỏi điều ǵ?
Chính là mong đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác. Bát Nhă không dịch nghĩa, cũng có lư đôi chút.
Bởi lẽ, trí huệ Bát Nhă chẳng phải là trí
huệ theo quan niệm thông thường, không giống
với khái niệm trí huệ thông thường!
Thần chú thường không phiên
dịch, nhưng có khi nào được phiên hay không? Có
chứ! Ngay cả năm hội thần chú Lăng Nghiêm
cũng được phiên dịch. Đời Thanh, pháp
sư Quán Đảnh đem toàn bộ bài chú ấy dịch
ra. Đó chỉ là thiểu số, tất nhiên đa số
tôn trọng thể lệ dịch kinh của cổ nhân, nên
cũng không cần phải phiên dịch ra. Không phiên
dịch ra th́ được tôn trọng. Dịch ra
rồi, ư niệm tôn trọng không c̣n nữa. A! Bây giờ
đă hết giờ rồi.
*
Xin xem tiếp phần giảng giải
về Văng Sanh Chú của Liên Tŕ đại sư.
Lời Sớ viết: “Kinh chú tương liên, chánh Hiển Mật viên thông
nghĩa” (Kinh và chú liên quan, chính là ư nghĩa Hiển
Mật viên thông). Sau kinh Di Đà, ghép thêm chú Văng Sanh, nói
thật ra, ư nghĩa thực sự là Hiển Giáo và Mật
Giáo dung hợp thành một Thể. Đó là ư nghĩa chân
chánh. Trong phần Sao viết: “Tường
trần bỉ quốc” (tŕnh bày rơ cơi ấy), cơi ấy
chính là Tây Phương Cực Lạc thế giới, “y chánh trang nghiêm, Tín Hạnh Nguyện
môn” (y báo và chánh báo trang nghiêm, Tín Hạnh Nguyện môn).
Tín - Nguyện - Hạnh: Cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới phải hội đủ ba
điều kiện này. “Như
kinh sở minh, thị chi vị Hiển” (như kinh
đă giảng rơ, đó gọi là Hiển), nghĩa là
chỉ dạy rơ ràng cho chúng ta. Sách Yếu Giải của
Ngẫu Ích đại sư thật là khó có. Ngài chia cả
bản kinh thành ba phần: Tự Phần, Chánh Tông Phần,
và Lưu Thông Phần. Trong ba phần, mỗi một
phần lại chia thành ba phần, tức ba đoạn
lớn, mỗi một đoạn dùng Tín - Nguyện -
Hạnh để phân định. Tự Phần gồm ba
đoạn Tín - Nguyện - Hạnh, Chánh Tông phần
cũng gồm ba đoạn Tín - Nguyện - Hạnh,
phần Lưu Thông lại có Khuyến Tín - Khuyến
Nguyện - Khuyến Hạnh. Ba phần đều
chẳng ĺa Tín - Nguyện - Hạnh, khai thị hết
sức rơ ràng. Đó gọi là Hiển.
Tiếp đó, lời Sao viết: “Tuân Phật bí sắc, đản
tŕ thử chú, tức đắc văng sanh, thị chi vị Mật”
(Tuân lời sắc truyền bí mật của Phật,
chỉ tŕ chú này liền được văng sanh, đó
gọi là Mật). Tuân theo lời Phật răn dạy, quư
vị chuyên tŕ Văng Sanh Chú, tốt lắm, cũng
được văng sanh. Chú ngữ không có ư nghĩa ǵ v́ là
mật thuyết. Vậy Hiển và Mật liên quan với
nhau như thế nào? “Hiển
giả, hiển thử Mật dă. Mật giả, hiển
thử Hiển dă” (Hiển là nhằm hiển cái Mật
này, c̣n Mật nhằm kín nhiệm cái Hiển ấy), cho
thấy mối quan hệ giữa Hiển và Mật là
một, không hai. Một đằng là hiển thuyết,
một đằng là mật thuyết; ở phần trên
tôi đă tŕnh bày cùng quư vị rồi. V́ sao sau khi
đức Phật hiển thuyết, lại phải
mật thuyết? Chủ yếu là nói với chúng sanh trong
chín pháp giới, dùng ngôn ngữ của bọn họ
để nói. Chú không phải là tiếng Phạn nên
người Ấn Độ cũng không hiểu.
Ở đây, đại sư bảo cùng
chúng ta: “Kiêm tŕ tắc song mỹ
tất cụ” (Kiêm tŕ th́ cả hai đều cùng được
tốt đẹp trọn vẹn), ư nói Hiển, Mật
đều tŕ. Chẳng hạn như khi tụng kinh,
tụng kinh Di Đà xong bèn niệm ba biến chú Văng Sanh,
đó là thông lệ trong hiện tại. Tốt nhất là
niệm bảy biến, niệm bảy biến chú Văng Sanh
chính là Hiển Mật cùng tu. Nếu như chỉ “đơn cử diệc giao nhiếp
bất di, cố viết Viên Thông” (chỉ tŕ một
thứ th́ cũng dung nhiếp lẫn nhau không sót, nên
bảo là Viên Thông). “Đơn
cử” nghĩa là chỉ niệm kinh không niệm chú, có
được hay không? Được chứ! Mật
nằm trong Hiển; chỉ tŕ chú mà không niệm kinh th́ cũng
được, v́ Hiển nằm trong Mật. V́ thế
gọi là Viên Thông. Viên là viên măn, Thông là thông đạt, không
chướng ngại. Nói như vậy, rốt cuộc
chúng ta nên tu cách nào? Liên Tŕ đại sư rất từ
bi, lời khai thị tiếp theo đó hết sức
trọng yếu:
“Tuy vân giao
nhiếp, nhi chuyên tŕ danh hiệu do thắng tŕ chú, diệc
thắng dư chú, diệc thắng nhất thiết chư
dư công đức” (Dẫu
nói là giao nhiếp, nhưng chuyên tŕ danh hiệu vẫn
hơn tŕ chú, cũng tốt hơn tŕ các chú khác, cũng thù
thắng hơn hết thảy các công đức khác). Đoạn
khai thị này hết sức tinh vi đẹp đẽ:
Chớ có nghe nói Hiển - Mật dung nhiếp lẫn nhau
như trên đây rồi Hiển pháp lẫn Mật pháp, pháp
nào cũng đều tu hết. Lợi ích chân chánh là thâm
nhập một môn. Tu pháp nào? Cổ nhân thường nói: “Niệm kinh không bằng niệm
chú, niệm chú không bằng niệm Phật”. Câu nói
ấy rất có lư, hoàn toàn tương ứng với
đoạn khai thị này của Liên Tŕ đại sư.
Kinh dài quá, chẳng dễ ǵ nhiếp tâm! Chú ngắn hơn,
dễ nhiếp tâm hơn, nhưng một câu danh hiệu
lại ngắn hơn nữa, càng dễ nhiếp tâm hơn
nữa!
Chân chánh tu hành dụng công, nhiếp tâm là
bậc nhất. Bởi lẽ, mục đích tu hành của
quư vị là ǵ? Mục đích là nhất tâm bất loạn.
Bất luận tu pháp môn nào, tổng cương lănh, tổng
mục tiêu là nhất tâm bất loạn. Bất luận
Hiển Giáo hay Mật Giáo, Tông Môn hay Giáo Hạ, Đại
Thừa hay Tiểu Thừa th́ tổng cương lănh,
tổng nguyên tắc, tổng phương hướng,
tổng mục tiêu đều là muốn đạt đến
nhất tâm bất loạn. Dùng phương pháp nào sẽ
khiến cho chúng ta nhanh chóng đạt được
nhất tâm bất loạn? Niệm Phật là phương
pháp thù thắng nhất. Do vậy, ở đây đại
sư bảo chúng ta: “Chuyên tŕ danh
hiệu do thắng tŕ chú” (Chuyên tŕ danh hiệu c̣n hay
hơn tŕ chú), hơn hẳn tŕ chú. Tŕ chú ở đây ư nói
tŕ Văng Sanh Chú. Thù thắng hơn những chú khác! Trong
tất cả hết thảy chú ngữ th́ Phật hiệu
luôn thù thắng vượt trỗi, không những
vượt trội mật chú mà c̣n vượt trội
cả Hiển Giáo. Hiển Giáo [nghĩa là nói] tu hết
thảy các pháp công đức khác đều không bằng
tŕ danh. Tiếp đó, lại có lời thuyết minh tỉ
mỉ trong phần Sao về lời Sớ:
“Thiên tán tŕ
danh dă” (Riêng khen ngợi tŕ
danh). Ở đây, đại sư giảng ba câu. Câu
thứ nhất là “thắng bổn
chú giả” (thù thắng hơn bổn chú), “bổn chú” chính là Văng Sanh Chú.
Tŕ danh thù thắng hơn tŕ chú Văng Sanh. V́ sao? “Dĩ chú vân: Tụng tam thập
vạn biến, tắc kiến A Di Đà Phật” (Do chú
nói: ‘Tụng ba mươi vạn biến sẽ thấy A
Di Đà Phật’). Quư vị phải nhớ kỹ, phải
đủ ba mươi vạn biến mới
được thấy A Di Đà Phật; c̣n tŕ danh th́ “tŕ danh, tắc nhất nhật
nhất tâm, tức Phật hiện tiền cố” (tŕ
danh th́ một ngày nhất tâm, Phật bèn hiện tiền).
Văng Sanh Chú tụng đủ ba mươi vạn biến,
chắc chắn không thể làm xong trong một ngày. Dẫu
niệm nhanh cũng không được, không có cách ǵ
niệm xong [ba mươi vạn biến] trong một ngày.
Thế nhưng Phật hiệu chỉ cần quư vị
nhất tâm hệ niệm một ngày, ắt có cảm
ứng, Phật bèn hiện tiền. Trong Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục, chúng ta thấy pháp sư Oánh Kha
niệm Phật ba ngày ba đêm, A Di Đà Phật bèn
hiện tiền. Năm năm trước, khi Hàn Quán
Trưởng văng sanh, chúng tôi trợ niệm bên cạnh bà,
bà ta hai lần thấy A Di Đà Phật hiện tiền,
một lần thấy Liên Tŕ hải hội. So với tŕ
chú [th́ niệm Phật] dễ dàng hơn, dễ đắc
nhất tâm!
“Hựu chú
vân: Trú dạ lục thời, các tụng tam thất” (Chú c̣n nói: Ngày đêm sáu thời, mỗi
thời tụng hai mươi mốt biến). “Tam
thất” (ba lần bảy) là hai
mươi mốt biến. Ngày đêm sáu thời, mỗi
một thời đều phải niệm hai mươi
mốt biến, “năng diệt Ngũ Nghịch đẳng
tội, nhi tŕ danh, tắc chí tâm niệm Phật nhất
thanh, tức diệt bát thập ức kiếp sanh tử trọng
tội cố” (có thể diệt tội Ngũ
Nghịch; nhưng tŕ danh th́ chí tâm niệm Phật một
tiếng, liền diệt được trọng tội
trong tám mươi ức kiếp sanh tử). Quư vị hăy
so sánh kỹ càng giữa kinh và chú, sẽ hiểu: Quả
thật tŕ danh thù thắng hơn tŕ chú.
Câu thứ hai: “Thắng
dư chú giả” (thù thắng hơn các chú khác), “dư chú” là những chú khác,
tức là tất cả hết thảy thần chú trong
Đại Tạng Kinh, kể cả năm hội thần
chú Lăng Nghiêm. Một câu A Di Đà Phật chẳng
thể nghĩ bàn, mọi người chớ nên coi
thường. Quá dễ dàng nên bèn coi thường, không
biết văng sanh là thù thắng. “Chuyên
tŕ danh hiệu, tức đại thần chú, đại
minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú” (Chuyên
tŕ danh hiệu chính là đại thần chú, là đại
minh chú, là vô thượng chú, là chú không ǵ sánh bằng).
Mấy câu này Liên Tŕ đại sư mượn từ Bát
Nhă Tâm Kinh để dùng. Một câu Phật hiệu quả
thật là đại thần chú, do nó vượt trỗi
hết thảy các chú. V́ sao? “Dĩ
thập niệm tiện đắc văng sanh, nhất sanh tiện
đắc Bất Thoái, oai linh bất trắc, tư danh đại
thần, dư khả lệ tri cố” (Do mười
niệm liền được văng sanh, vừa sanh về cơi
ấy liền được Bất Thoái, oai linh khôn ḍ; do
vậy, gọi là “đại thần”. Các điều khác
cứ phỏng theo đây ắt sẽ biết). Giải
thích một điều là đủ. Trong bốn
mươi tám nguyện, nguyện thứ mười tám: “Lâm chung mười niệm hay một
niệm bèn được văng sanh”, đúng là chẳng
thể nghĩ bàn. Sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới, chứng trọn vẹn ba thứ Bất
Thoái. Thần chú nào có được năng lực như
thế? Chẳng có chú nào! T́m không ra! Bởi vậy, một
câu A Di Đà Phật đúng là danh phù hợp thực, “đại thần chú,
đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng
đẳng chú”, chẳng sai chút nào. Tiếp đó
lại có một câu vấn đáp giúp chúng ta đoạn
nghi sanh tín.
“Vấn:
Chuẩn Đề công đức, chí quảng, chí đại,
như hà đản tŕ Phật danh, nhi năng thắng bỉ”
(Hỏi: Chú Chuẩn
Đề công đức rất rộng, rất lớn,
cớ sao chỉ tŕ danh hiệu Phật lại có thể
vượt trỗi chú ấy được). Quư vị
thường đọc Liễu Phàm Tứ Huấn,
thấy trong sách ấy nói thiền sư Vân Cốc dạy
ông Viên Liễu Phàm tŕ chú Chuẩn Đề. Tiên sinh Viên
Liễu Phàm hằng ngày tŕ chú Chuẩn Đề, ai nấy
đều biết chú Chuẩn Đề vô cùng linh
nghiệm, công đức niệm chú Chuẩn Đề rất
lớn; v́ sao niệm một câu A Di Đà Phật lại có
thể vượt trỗi, thù thắng hơn
được? Liên Tŕ đại sư giải đáp cho
chúng ta: “Chuẩn Đề thị
nhân địa Bồ Tát, Di Đà quả vị Như Lai” (Chuẩn
Đề là Bồ Tát c̣n đang thuộc địa vị
tu nhân, Di Đà là quả vị Như Lai), khác nhau! Trong
Mật giáo, Chuẩn Đề Bồ Tát chính là hóa thân
của Quán Thế Âm Bồ Tát. “Tŕ
Chuẩn Đề kư hữu thần công, niệm Di Đà
ninh vô diệu ứng?” (Tŕ chú Chuẩn Đề đă
có công năng thần diệu, há niệm Di Đà lại
chẳng có cảm ứng mầu nhiệm ư?) Cảm
ứng đương nhiên rất rơ rệt.
“Thị
cố kinh vân: Tŕ lục thập nhị
ức Hằng sa Bồ Tát danh hiệu” (V́ thế kinh nói: Tŕ danh hiệu sáu
mươi hai ức Hằng hà sa Bồ Tát), quư vị hăy
nghĩ xem, kinh [Pháp Hoa] nói như vậy đó. Đức
Phật dạy: [Tŕ niệm] danh hiệu của sáu
mươi hai ức Hằng hà sa Bồ Tát, “bất như nhất xưng Quán
Thế Âm Bồ Tát, kỳ phước chánh đẳng” (chẳng
bằng xưng một tiếng danh hiệu Quán Thế Âm
Bồ Tát, phước ấy giống hệt nhau). Phước
báo niệm một tiếng “Nam-mô Quán
Thế Âm Bồ Tát” và phước báo của người
tŕ danh hiệu sáu mươi hai ức Hằng hà sa
Bồ Tát bằng nhau. Chuẩn Đề đă là hóa thân của
Quán Thế Âm Bồ Tát, nên tŕ chú Chuẩn Đề
giống như tŕ danh hiệu Quán Âm. Tiếp đó, sách lại
viết: “Hựu vân: Tŕ vô
lượng vô số Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu, bất
như nhất xưng Địa Tạng Bồ Tát, kỳ
phước chánh đẳng” (Lại nói: Tŕ vô
lượng vô số danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng
bằng xưng niệm Địa Tạng Bồ Tát một
tiếng, hai phước báo ấy như nhau). Ngài Địa
Tạng có công đức to lớn! V́ sao? Sau khi Thích Ca Mâu Ni
Phật diệt độ, trước khi Di Lặc
Phật xuất thế, trong khoảng thời gian dài
như thế, ai sẽ thay Phật hóa độ chúng sanh? Địa
Tạng Bồ Tát! Do vậy, trong khoảng thời gian
trống rỗng ấy (tức thời gian không có Phật xuất
thế), Địa Tạng Bồ Tát thay mặt
đức Phật. Quư vị đọc kinh Địa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện phải hiểu
điều này. Hiện tại, người tu pháp môn
Địa Tạng rất nhiều, người niệm
Địa Tạng Bồ Tát rất nhiều, nhưng
phải hiểu: Công đức niệm Địa Tạng
Bồ Tát không bằng công đức niệm A Di Đà
Phật! Tiếp đó, [sách Sớ Sao] lại viết: “Huống Như Lai hồ?” (huống
hồ là [xưng niệm danh hiệu] Như Lai ư?)
Như Lai là Quả Địa!
Chúng ta biết Địa Tạng Bồ
Tát thật ra đă thành Phật từ bao kiếp lâu xa, nhưng
Ngài chẳng muốn ở địa vị Phật,
cứ muốn ở trong địa vị Bồ Tát,
vĩnh viễn làm Bồ Tát, “địa
ngục bất không, thệ bất thành Phật” (địa
ngục chẳng trống, thề chẳng thành Phật).
Không biết bao nhiêu đồ đệ của Ngài đă
thành Phật, từ phẩm Tự của kinh Địa
Tạng quư vị đă có thể thấy rồi đó. Đây
là luận định về việc niệm danh hiệu A
Di Đà Phật vượt trỗi [công đức tŕ tụng]
hết thảy các thần chú vậy.
Câu thứ ba là “diệc thắng chư dư công đức giả”
(cũng thù thắng hơn các công đức khác).
Đối với Hiển Giáo, quư vị tu hết thảy
các pháp công đức không bằng niệm Phật, công
đức niệm Phật thù thắng bậc nhất, thù
thắng khôn sánh. “Lục độ
vạn hạnh, pháp môn vô lượng, nhi chuyên tŕ danh
hiệu, tắc chủng chủng công đức, nhiếp
vô bất tận, dĩ bất xuất nhất tâm cố,
như tiền văn trung quảng thuyết” (Lục
độ vạn hạnh, pháp môn vô lượng, nhưng
chuyên tŕ danh hiệu th́ mọi thứ công đức sẽ
được thâu nhiếp bất tận, v́ [các thứ công
đức ấy] chẳng ra khỏi nhất tâm, như
đă giảng trong những đoạn văn trước).
Ở đây, chữ “đoạn
văn trước” chỉ [đoạn văn giảng
về nhất tâm trong] sách Sớ Sao. Trong Di Đà Sớ Sao
đă luận về điều này rất nhiều. Công
đức niệm Phật thực sự lớn lao
đến như thế ư? Nhưng trong quan niệm
của người thế gian, họ lại chẳng nghĩ
như vậy. Quư vị thấy đó: Nếu trên thế
giới này có tai nạn, có người bỏ tiền
bỏ sức để giúp đỡ nạn nhân th́
mọi người đều khen ngợi công đức
ấy rất lớn lao; c̣n quư vị ở bên cạnh,
chuyện ǵ cũng không lư đến, niệm mấy câu A
Di Đà Phật, công đức này có thể vượt
trỗi công đức trên đây ư? Người thế
gian khó thể tin tưởng nổi, nên gọi là “pháp khó tin”.
Nay chúng ta mới hiểu được
một chút: Bỏ tiền bỏ sức cứu tế tai
nạn chỉ là cứu người nhất thời;
xưng niệm một câu danh hiệu A Di Đà Phật,
nếu người ta nghe được, vừa lọt
qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo.
Chủng tử ấy gieo vào A Lại Da Thức, trong
tương lai gặp duyên, chủng tử ấy hiện
hành, người ấy có thể vượt thoát tam
giới theo chiều ngang, niệm Phật văng sanh, bất
thoái thành Phật. Quư vị hăy so sánh xem công đức nào
lớn hơn? Tuy vậy, bỏ tiền ra sức là
chuyện cứu tế tai nạn ngay trước mắt,
quư vị thấy được; c̣n niệm Phật là
chuyện tương lai, quư vị không thấy
được, nhưng chủng tử ấy quư hơn
bất cứ thứ ǵ khác!
Thuyết pháp như vậy người
minh bạch ắt hiểu, nhưng người mê không giác
hoàn toàn chẳng thể tiếp nhận, họ không
hiểu. Dù không hiểu, nhưng một câu A Di Đà
Phật từ nhĩ căn lọt vào A Lại Da Thức,
đến lúc nào người ấy mới cảm ơn
quư vị? Đến khi văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, người ấy mới thực
sự giác ngộ: “Vô lượng kiếp trước, ông
niệm một câu A Di Đà Phật ban cho tôi [chủng
tử], nên ngày nay tôi mới có thể sanh vào thế
giới Cực Lạc”. Người ấy bèn nẩy sanh
tâm cảm kích, mới biết công đức lợi ích
ấy chẳng thể nghĩ bàn, hết thảy những
sự từ thiện cứu tế nhất định chẳng
thể sánh bằng được. Do vậy, lúc đức
Thế Tôn c̣n tại thế, Ngài v́ chúng ta thị hiện:
Suốt bốn mươi chín năm giảng kinh,
thuyết pháp, chứ không làm ǵ khác. Nay chúng ta mới
hiểu: Ngài làm như vậy chính là sự nghiệp từ
thiện cứu tế bậc nhất trong thế gian
lẫn xuất thế gian, không một ai có thể sánh
bằng Ngài!
Tiếp đó, Liên Tŕ đại sư
đau ḷng rát miệng khuyên dạy chúng ta: “Nguyện tịnh nghiệp đệ tử, chuyên kỳ
tín, bất nhị kỳ tâm” (Nguyện tịnh
nghiệp đệ tử ḷng tin chuyên nhất, chẳng
sanh hai tâm). Ở đây, Liên
Tŕ đại sư mong chúng ta là những đệ tử đang
tu tịnh nghiệp của đức Phật hăy chuyên tâm,
chớ có tam tâm, nhị ư! Tam tâm nhị ư th́ hết sức
đáng tiếc, quư vị bỏ lỡ cơ duyên, chẳng
thể thành tựu trong một đời này! Rồi Ngài
lại dẫn kinh để chứng minh: “Như kinh vân: Thiết hữu nhất pháp, quá ư Niết
Bàn, diệc bất sở nguyện” (Như kinh dạy: “Dẫu
có một pháp cao hơn Niết Bàn th́ cũng chẳng muốn
[nghe, tu tập theo]”). Nói thật ra, lời khuyên dạy trong
tỷ dụ trên đây chẳng ngoài những ǵ đă dạy
trong chương Thượng Phẩm Thượng Sanh
của Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, nhất là
trong bản chú giải của Thiện Đạo đại
sư. Trước đây, chúng tôi đă đọc qua,
giảng qua, đặc biệt là chương Thượng
Phẩm Thượng Sanh đă giảng rồi. Không có
bất cứ pháp nào có thể vượt trỗi pháp này.
Sau đó, lại nói: “Thiền tông tri thức, hữu giáo nhân đản tŕ
thoại đầu, nhất thiết bất tác” (Bậc
tri thức Thiền tông có vị dạy người
chỉ tŕ câu thoại đầu, hết thảy [những
hạnh khác] đều không làm).
Câu thoại đầu nào vậy? “Tham niệm Phật thị thùy” (tham cứu câu
“người niệm Phật là ai?”), vẫn thuộc
về pháp môn Niệm Phật, đây là một phương
pháp Niệm Phật riêng biệt. Niệm A Di Đà
Phật, niệm mấy câu A Di Đà Phật xong, lại
hỏi “người niệm
Phật là ai?” Đó là phương pháp niệm Phật
trong nhà Thiền. “Cố tri
nguyên nghiệp dư môn giả” (Nên biết họ
vốn tu các pháp môn khác), “nguyên
nghiệp” nghĩa là họ vốn tu học các pháp môn
khác, “thượng đương
cải tu niệm Phật” (rồi đổi pháp họ
vốn tôn sùng thành tu niệm Phật). Đấy là tổ sư đại đức
thường khuyên người, các Ngài tự lấy thân
ḿnh làm gương. Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư
đại triệt đại ngộ nơi Thiền, quay
đầu chuyên tu Tịnh Độ, trở thành tổ sư
đời thứ sáu của Tịnh Độ Tông. Bậc
đại đức trong Tông Môn làm gương cho chúng ta,
khuyên dạy người học Thiền kiêm tu Tịnh
Độ. Trong Tứ Liệu Giản, Ngài nói rất hay: “Hữu Thiền, hữu Tịnh
Độ” (có Thiền có Tịnh Độ), tức
Thiền Tịnh song tu, “do như
đới giác hổ” (khác nào cọp mọc sừng).
Lại c̣n nói: “Vô Thiền, hữu
Tịnh Độ, vạn tu, vạn nhân khứ” (Không
Thiền, có Tịnh Độ, vạn người tu,
vạn về). Quư vị hăy nh́n thấu suốt ư nghĩa thực
sự nơi câu nói của Ngài. Không Thiền, có Tịnh
Độ, vạn người tu,
vạn người về, tức là khuyên người tu
Thiền nếu Tu Thiền chẳng thể thành tựu, hăy
quay đầu tu Tịnh Độ. Tu Tịnh Độ
sẽ có thể thành tựu.
Người tu những tông phái khác,
như trong tông Thiên Thai, Trí Giả đại sư niệm
Phật văng sanh. Do vậy, tổ sư tông Thiên Thai từ
đấy về sau măi cho đến thời cận
đại, pháp sư Đế Nhàn niệm Phật văng
sanh, pháp sư Đàm Hư, pháp sư Bảo Tịnh đều
là những vị tổ sư cận đại của
tông Thiên Thai, đều niệm Phật văng sanh. Trong
những vị đại đức cư sĩ, chắc
quư vị đă biết, cư sĩ Giang Vị Nông, cư
sĩ Châu Chỉ Am, “giáo tông Bát
Nhă, hạnh tại Di Đà” (dạy bảo th́
đề cao Bát Nhă, nhưng hạnh tại Di Đà).
Những vị tu hành thuộc các tông phái khác, cuối cùng
đều niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,
chúng ta chẳng thể không biết điều này. “Hà huống nguyên niệm Phật
nhân” (Huống hồ người vốn niệm
Phật), chúng ta vốn là
kẻ niệm Phật, “năi biến
kỳ sở thủ, nhi phục tha thượng” (há lại
thay đổi cái ḿnh tuân giữ, tôn sùng pháp khác): Chúng ta thay
đổi pháp Niệm Phật của chính ḿnh, đi tu học
pháp môn khác. “Tâm hoài nhị lộ,
chí bất quy nhất, vân hà tam-muội, nhi đắc thành tựu?”
(ḷng ôm ấp hai đường lối, chí không quy
nhất, làm sao thành tựu tam muội cho được?) Đấy
là lời cảm thán hết mực của Liên Tŕ
đại sư.
Chúng ta đọc đến
đoạn văn này, nghe câu nói ấy, phải nghiêm túc
phản tỉnh: Chúng ta có thực sự tu hay chăng?
Đừng hỏi ai khác, phải hỏi chính ḿnh. Chúng ta có
tam tâm nhị ư hay chăng? Vẫn nghĩ học pháp môn khác
ư! Công phu cạn nhất trong Niệm Phật tam-muội
là công phu thành phiến, v́ sao chúng ta chưa đạt
được? Có phải là như Liên Tŕ đại sư
đă nói ở đây hay chăng? “Biến kỳ sở thủ, nhi phục tha thượng”
(Thay đổi cái ḿnh tuân giữ, tôn sùng pháp khác), hâm
mộ pháp môn khác, hướng về pháp môn khác, “tâm hoài nhị lộ” (ḷng ôm
ấp hai đường lối). Tuy chẳng bằng ḷng
buông bỏ Tịnh Độ, nhưng vẫn muốn
học pháp môn khác, v́ thế “chí
không quy nhất”, phương hướng và mục tiêu
không nhất trí, như vậy th́ ngay cả công phu thành
phiến cũng không đạt được, sẽ bị
rắc rối như thế này:
“Trực
chí vô thường, không vô sở hoạch” (Kịp
đến khi vô thường, rỗng tuếch, chẳng
đạt được ǵ). Đến lúc vô
thường, vô thường là mạng chung, vô
thường xảy đến; nói cách khác, lúc quư vị sắp
chết, không thành tựu một điều nào cả. “Vơng tư kỷ quá, phản khởi
phỉ báng, ô hô mậu tai” (Chẳng nghĩ tới lỗi
của ḿnh, lại ngược ngạo báng bổ! Ôi chao!
Lầm lạc thay!) Quư vị chẳng biết phản
tỉnh lỗi lầm của chính ḿnh, cho rằng lời
Phật, Bồ Tát nói không linh, ấy là báng Phật. Báng
Phật, báng Pháp là tội A Tỳ địa ngục,
đúng là kết thành tội lỗi quá lớn lao, khiến
cho người mắt sáng cảm thán không ngớt, trách
nhiệm ấy chính ḿnh phải gánh lấy. Kinh không có lầm
lỗi, pháp môn không sai lầm, mà do chính ḿnh phạm lỗi,
không biết đạo lư thâm nhập một môn, huân tu dài lâu.
Đoạn cuối cùng là Xứng Lư.
Trong bản chú giải Di Đà
Kinh Sớ Sao của đại sư, mỗi một
tiết (một phân đoạn giải thích) đều quy
về tự tánh, trong Giáo Hạ cũng thường nói “tiêu quy tự tánh”, mỗi
đoạn như vậy hết sức tinh vi, đẹp
đẽ, ngay cả phần giải thích chú Văng Sanh
cũng không ngoại lệ. “Xứng
Lư tắc tự tánh không, thị bạt nghiệp
chướng nghĩa, tự tánh hữu, thị đà la ni
nghĩa, tự tánh bất hữu bất không, thị sanh Tịnh
Độ nghĩa” (Xét theo Lư th́ Tự Tánh Không là ư
nghĩa của Dẹp Trừ Chướng, Tự Tánh Có là
ư nghĩa của Đà La Ni, Tự Tánh Chẳng Có Chẳng Không
là ư nghĩa của Sanh Về Tịnh Độ).
Đoạn này hoàn toàn tiêu quy tự tánh và trí huệ chân
thật. Chúng ta xem lời giải thích trong phần Sao,
dẫu không chỉ vỏn vẹn ba câu như thế,
nhưng vẫn rất khó lănh hội.
Trong phần chú giải, [lời Sao] viết:
“Mịch tâm liễu bất khả
đắc, nhất thiết nghiệp chướng, thùy vi
căn bản” (T́m tâm trọn chẳng thể
được, trong hết thảy nghiệp chướng
cái ǵ là căn bản?). “T́m tâm trọn
chẳng thể được” là chuyện trong Thiền
Tông. Đạt Ma Tổ Sư đến Trung Quốc
truyền pháp, không có người, t́m không ra người để
truyền pháp, không ai nhận biết Ngài. Lăo nhân gia thật
từ bi, nếu như bọn chúng ta ắt sẽ nói: “Nơi
đây không có pháp duyên, không có pháp duyên th́ ra đi, c̣n ở
đây làm chi?” Ngài cứ đợi ở đó, đợi
không ít năm, đợi một người là Huệ
Khả. Thiền Tông nói Tổ nh́n vách chín năm mới gặp
được Huệ Khả.
Huệ Khả t́m đến thỉnh
giáo, Đạt Ma Tổ Sư cũng chẳng đếm
xỉa tới. Lúc ấy nhằm mùa Đông tuyết
rơi, Huệ Khả đứng ngoài cửa, tuyết
ngập đến gối; từ chỗ này, chúng ta có
thể tưởng tượng Ngài đứng lâu
đến chừng nào. Trời đổ tuyết rất
lớn, tuyết ngập đến gối, Huệ Khả
thấy Đạt Ma Tổ Sư vẫn chẳng ngó ngàng
đến ḿnh; trước kia người xuất gia
đều mang theo giới đao[8],
Ngài bèn rút giới đao chặt phăng cánh tay của chính
ḿnh, chặt đứt một cánh tay cúng dường
Đạt Ma Tổ Sư. Đạt Ma tổ sư
thấy thế, mới mở miệng: “Ngươi
đến đây làm ǵ?” Huệ Khả chặt tay cúng
dường mà Đạt Ma tổ sư chỉ hỏi: “Rốt
cuộc, ngươi đến đây làm ǵ?” Huệ
Khả thưa: “Con cầu đại sư an tâm cho con!” Tâm
không yên. Đạt Ma Tổ Sư x̣e tay ra: “Ngươi lấy cái tâm ra đây, ta sẽ thay
ngươi an nó”. Nay quư vị thấy rất nhiều
bức tượng tạc h́nh Đạt Ma Tổ Sư
giơ một tay ra, đó chính là lúc Tổ bảo Huệ
Khả: “Lấy cái tâm ngươi ra đây, ta sẽ thay
ngươi an cho”.
Nhờ câu nói này, Huệ Khả hồi
quang phản chiếu, “Nay
ngươi đem cái tâm đưa ra, ta sẽ thay
ngươi an nó”. Hồi quang phản chiếu nơi câu
nói này, t́m không được tâm, Ngài bèn nói: “Con trọn chẳng
t́m được cái tâm”. Ngài muốn con t́m cái tâm, con không
biết cái tâm nằm đâu, Đạt Ma Tổ Sư bèn
nói tiếp: “Ta đă an cái tâm
cho ngươi rồi”. Ta đă thay ngươi an cái tâm,
an định rồi, t́m tâm trọn chẳng thể
được! Nhờ câu nói ấy, Huệ Khả
đại triệt đại ngộ. Đạt Ma Tổ
Sư đến Trung Quốc chẳng uổng công, có truyền
nhân rồi. Huệ Khả đại triệt, đại
ngộ, minh tâm, kiến tánh, trở thành Tổ thứ hai
của Thiền tông Trung Quốc! Tâm chân thành cầu pháp.
Ấn Quang đại sư nói: “Mười
phần thành kính được mười phần lợi
ích”, Huệ Khả quả thật mười phần
chân thành, nên mới có thể khai ngộ. Ngày nay chúng ta nghe những
câu trao đổi giữa Đạt Ma Tổ Sư và Tổ
Huệ Khả không thể khai ngộ; mà sao Huệ Khả
đại sư lại khai ngộ? V́ Ngài chân thành, thành
ắt linh, thành bèn cảm thông. Chúng ta không có thành ư, không có
thành tâm, có nghe như thế nào, nh́n như thế nào đi
nữa, vẫn chẳng thể giác ngộ!
T́m tâm trọn chẳng thể
được! Trong kinh Phật, chẳng hạn như
kinh Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật bảo ngài A Nan t́m tâm.
Tâm nằm ở đâu? Ngài A Nan nói bảy chỗ
đều bị Thích Ca Mâu Ni Phật bác bỏ: “Đúng là
ngươi chưa biết cái tâm nằm đâu!” Rốt
cuộc tâm nằm ở đâu? Khắp hư không pháp
giới, không chỗ nào chẳng tồn tại, quư vị chẳng
thể nói tâm ở một chỗ nào. Hễ nói nó ở
một chỗ nào là sai rồi! Không chỗ nào nó chẳng
hiện hữu, không lúc nào nó chẳng tồn tại. V́ sao?
Hư không, pháp giới do tâm mà thành Thể. Kinh Lăng Nghiêm
đă giảng rất minh bạch như thế này: “Chư pháp sở sanh, duy tâm sở
hiện, nhất thiết nhân quả, thế giới, vi trần,
nhân tâm thành Thể” (Các pháp được sanh chỉ do
tâm hiện, hết thảy nhân quả, thế giới, vi
trần đều do tâm mà thành Thể). Tâm ở đâu?
Không lúc nào, không chỗ nào nó chẳng tồn tại. Nó
bất sanh, bất diệt, không đến, không đi,
không tăng, không giảm, không tương đối, mà
cũng chẳng tuyệt đối, ngôn ngữ dứt
bặt, tâm hạnh xứ diệt.
Đặc tánh của tâm là linh
tri, trong Hệ Niệm Pháp Sự, thiền sư Trung Phong đă
giảng rất rơ ràng: “Linh tri
tâm”. Tâm sẵn đủ linh minh giác tri, cũng có
thể nói rơ ràng hơn một chút là nó đầy
đủ khả năng thấy - nghe - hay - biết. Thấy
- nghe - hay - biết là bản tánh, thấy - nghe - hay - biết
là chân tâm, bất sanh, bất diệt, không đến, không
đi, chẳng phải có, chẳng phải không, tất
cả hết thảy vạn sự, vạn vật, kể
cả hư không [đều thấy - nghe - hay - biết].
V́ vậy, quư vị phải thực sự hiểu rơ, quư
vị hỏi tâm ở chỗ nào ư? Tùy tiện chọn
lấy một pháp, có pháp nào chẳng phải là tâm ư? Cái
ǵ cũng đều có thấy - nghe - hay - biết. Như
vậy, hiểu được chân tướng sự
thật này “hết thảy
nghiệp chướng, ǵ là căn bản?”, đúng là dẹp
trừ nghiệp chướng tận cội rễ. Chân tâm bổn
tánh cái ǵ cũng
không
có, sạch sẽ, không vướng mắc mảy may.
“Tức
tâm vô sở bất cụ, nhất thiết công đức,
hà phất tổng tŕ” (Cái tâm này không ǵ chẳng
đủ, hết thảy công đức không ǵ chẳng
tổng tŕ). Chân tâm đầy đủ trí huệ Bát Nhă viên
măn, đức năng viên măn, tướng hảo viên măn.
Đó chính là ư nghĩa của chữ Tổng Tŕ. “Đương tổng tŕ nhi bất
lập tiêm trần, hữu thị tức không chi hữu, vô
căn bản nhi xuất sanh vạn pháp, không thị tức
hữu chi không” (Dẫu tổng tŕ nhưng chẳng
lập mảy trần, Hữu chính là Tức Không chi Hữu
(cái Có chính là Không); không có căn bản mà sanh ra vạn pháp,
Không chính là Tức Hữu Chi Không (cái Không chính là Có). Ư
nghĩa hai câu này rất sâu, rất khó hiểu! Thế
nhưng khoa học ngày nay đă phát hiện, bảo cho chúng
ta biết một chuyện: Các khoa học gia phát hiện Hữu
do đâu mà có? Hữu do Vô biến hiện ra, vô trung sanh
hữu (trong không sanh ra có), Hữu lại quy về Vô. Phát
hiện ấy giống với những điều đă
dạy trong kinh Phật.
Tổng Tŕ là có tướng. Có tướng,
nhưng cái Có ấy là huyễn có, sanh diệt trong từng
sát-na, niệm niệm chẳng ngừng. Chúng ta trông
thấy sắc tướng ấy, hết thảy hiện
tướng (tướng được biến hiện
ra) đều là tương tục tướng (tướng
tiếp nối). Kinh Kim Cang dạy: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn,
bào, ảnh. Như lộ, diệc như điển” (Hết
thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng;
như sương, cũng như chớp). Sương là
tướng tiếp nối, “chớp”
ngụ ư sanh diệt trong từng sát-na. Kinh Lăng Nghiêm có
câu: “Đương xứ xuất
sanh, tùy xứ diệt tận” (Sanh ra từ chỗ nào,
diệt tận ngay nơi ấy), tốc độ rất
nhanh, chúng ta nh́n không ra. Đây là đối với câu
hỏi về Không và Có mà nói ra chân tướng của Có và
Không. “Vô căn bản nhi xuất
sanh vạn pháp” (Không có căn bản mà sanh ra vạn pháp),
tức là Không có thể sanh ra Có, Hữu từ Vô mà sanh ra. Mấy
câu tiếp theo giảng về nghĩa lư Trung Đạo.
“Tức Hữu
tắc bất không, tức không tắc bất hữu, bất
không bất hữu, duy thị nhất tâm, bất việt nhất
tâm, thị danh Tịnh Độ” (Hữu chính là bất Không, Không chính là
bất Hữu, chẳng Có chẳng Không, chỉ là nhất
tâm, chẳng vượt khỏi nhất tâm, nên gọi là
Tịnh Độ). Chân Tịnh Độ! Vốn đă
sống trong Tịnh Độ, Tịnh Độ ở
đâu vậy? Tịnh Độ ở ngay trước
mặt, vấn đề là quư vị có hiểu hay không? Có
thấy được hay không? Thấy được
Tịnh Độ th́ thấy Pháp Tánh, hiểu rơ pháp
tướng. Tánh và Tướng là một không hai.
Tướng là Có, Tánh là Không. Tánh - Tướng nhất
như (là một, đồng nhất), Tánh - Tướng
bất nhị. “Chẳng Có,
chẳng Không”: Chẳng Không là Tướng, tướng
mộng, huyễn, bọt bóng. Chẳng Có là Tánh, là Pháp Tánh.
Tánh cũng vậy, Tướng cũng vậy, đều
là nhất tâm, Tánh và Tướng là một, không phải hai.
V́ sao không phải là hai? Bởi từ Tánh biến hiện
những tướng ấy, tướng ấy chỉ do
tâm hiện. Bản năng, đặc tánh nơi tự tánh
của chúng vĩnh viễn bất biến, tức là thấy
- nghe - hay - biết. V́ thế, hết thảy vạn
sự vạn vật linh tri, sống động, linh minh
giác tri, chẳng chết cứng.
Ba ngàn năm trước, Phật pháp
đă nói ra chân tướng sự thật này, đến
nay các nhà khoa học mới phát hiện, nhưng vẫn
hiểu biết chưa viên măn, vẫn mới chỉ
biết được một chút xíu như thế đó,
chỉ là từ lư luận suy diễn rằng có khả
năng là như vậy, nhưng hiện thời họ vẫn
chưa có cách nào chứng thực. V́ thế, tiến sĩ
Giang Bổn Thắng của Nhật Bản rất hy
hữu. Ông ta đă dùng nước để chứng minh
sự thật ấy. Hy vọng khi ông ta đến
thăm, chúng tôi sẽ cung cấp cho ông ta một thông tin: “Vạn
sự vạn vật trong vũ trụ đều có
đủ khả năng có thể thấy, có thể nghe,
có thể cảm nhận, có thể biết, chứ không
riêng ǵ nước” để ông ta làm thí nghiệm thêm.
Bọn họ rất kinh ngạc, lấy làm lạ, chứ
trong nhà Phật chúng ta không kinh ngạc tí nào, mà cũng chẳng
sững sờ tí xíu nào, v́ sao? Vốn sẵn là như
vậy. Kinh đă dạy rơ ràng, minh bạch. Thôi được!
Giới thiệu Bạt Nhất Thiết Nghiệp
Chướng Căn Bản, Đắc Sanh Tịnh
Độ Đà La Ni đến đây thôi!
Tập
41
Mở đầu Hệ Niệm Pháp
Sự là Hương Tán, tiếp đó là tụng kinh, tức
là tụng Phật Thuyết A Di Đà Kinh. Theo sau tụng
kinh là niệm chú, “Bạt
Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản
Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni”, niệm chú
ba lần. Rồi đến phần khai thị của thiền
sư Trung Phong. Mở đầu phần khai thị
lại niệm ba lần:
南無蓮池會菩薩摩訶薩。
Trước lúc tụng kinh, niệm ba
lần Nam Mô Liên Tŕ Hải Hội Phật Bồ Tát. Liên Tŕ
Hải Hội Phật Bồ Tát và Liên Tŕ Hội Bồ Tát
Ma Ha Tát ở đây có sai khác ǵ chăng? Nếu không sai khác,
sao không dùng Liên Tŕ Hải Hội Phật Bồ Tát? V́ sao
không dùng thống nhất? Đă xưng tán hai cách,
đương nhiên ư nghĩa khác nhau. Dù có thể nói là ư
nghĩa tương đồng, nhưng cũng có thể
nói là có chút sai khác, đại đồng tiểu dị. Nói
Liên Tŕ Hải Hội Phật Bồ Tát th́ là hải hội
rộng lớn, có thể bao trùm khắp pháp giới hư
không giới mười phương vô lượng vô biên
các cơi Phật, hết thảy chư Phật Như Lai đều
ở trong ấy tuyên nói pháp môn Tŕ Danh Niệm Phật văng
sanh thành Phật. Chúng ta có thể nói: Liên Tŕ Hải Hội bao
gồm trọn khắp hư không pháp giới, rất
lớn lao!
Mỗi một người niệm
Phật đều thuộc trong Liên Tŕ Hải Hội,
thậm chí trong xă hội hiện thời, những kẻ
phản đối niệm Phật, bài xích người niệm
Phật, hủy báng người niệm Phật, thậm
chí những kẻ phát tâm muốn tiêu diệt pháp môn
Niệm Phật cũng đều thuộc trong Liên Tŕ
Hải Hội. Nguyên nhân ǵ vậy? Danh hiệu A Di Đà
Phật vừa lọt qua tai vĩnh viễn trở thành
hạt giống đạo. Nay kẻ ấy bài xích là v́ mê
hoặc, sau khi chịu quả báo xong, nhân duyên chín muồi,
vẫn là v́ chủng tử A Di Đà Phật trong A Lại
Da Thức của kẻ ấy chín muồi! Nói cách khác,
nhất định văng sanh Cực Lạc. Sợ nhất
là ǵ? Sợ nhất là trong một đời này quư vị hoàn
toàn không có duyên phận nghe đến, đó mới thực
sự là khổ. Nghe rồi phản đối không sợ!
Tạo ác nghiệp cũng không sợ! Thiện căn
ấy (tức là thiện căn được nghe danh
hiệu A Di Đà Phật) là chủng tử kim cang, vĩnh
viễn bất hoại. Do vậy, pháp môn này là pháp môn
chẳng thể nghĩ bàn, Liên Tŕ Hải Hội.
Ở đây nói Liên Tŕ Hội Bồ Tát
Ma Ha Tát, không thêm chữ Hải Hội, ta có thể nghĩ [Liên
Tŕ Hội] là bổn độ (cơi chính, tức chỉ riêng
ḿnh cơi Cực Lạc) Tây Phương Cực Lạc
thế giới, chứ không phải là trọn khắp pháp
giới hư không giới. Nếu trọn khắp hư
không giới pháp giới, ta phải thêm chữ Hải
Hội thành Liên Tŕ Hải Hội. Như vậy, giống nhau
và khác nhau, sai biệt ở chỗ này. Ở đây là nói
riêng về thế giới Cực Lạc.
Bồ Tát: Những vị thuộc
Địa Tiền (chưa chứng nhập địa
vị từ Sơ Địa trở lên) đều
gọi là Bồ Tát. Hạ Hạ Phẩm văng sanh là
những người đới nghiệp văng sanh, phiền
năo tập khí dẫu một phẩm cũng chưa
đoạn, vẫn là Bồ Tát. Là hạng Bồ Tát nào vậy?
Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín! Pháp môn này là
Đại Thừa Viên Giáo, chí viên, chí đốn. Trong quá
khứ, tổ sư đại đức nói pháp này ngang
bằng Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Đấy chẳng phải là tuyệt
diệu ư? Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín
trong Viên Giáo nhất định phải đoạn tám
mươi tám phẩm Kiến Hoặc, c̣n người
đới nghiệp văng sanh chúng ta một phẩm trong tám
mươi tám phẩm Kiến Hoặc cũng chưa
đoạn, đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát,
thật chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, trong sách
Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đă nói: Người
đới nghiệp văng sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới chẳng thể gọi là Bồ Tát,
v́ sao? V́ kẻ ấy chưa đoạn một phẩm Hoặc
nào, nhưng cũng chẳng thể nói kẻ ấy là phàm
phu. V́ sao? Kẻ ấy cũng là A Duy Việt Trí Bồ Tát.
Do vậy, Ngẫu Ích đại sư nói thân phận
của người Tây Phương Cực Lạc thế
giới rất lạ lùng, hết thảy đều không
phải, mà hết thảy đều là phải, là thân
phận chẳng thể nghĩ bàn. Nếu chúng ta nói miễn
cưỡng th́: Do kẻ ấy chưa phá một phẩm phiền
năo nào, ta có thể bảo kẻ ấy là Tương
Tự Vị Bồ Tát, chưa phải là Bồ Tát
thật, chỉ tương tự. Rất giống Bồ
Tát, nhưng lại chẳng phải là Bồ Tát, Phàm Thánh
Đồng Cư độ mà! Chưa đoạn một
phẩm phiền năo nào!
Đương nhiên sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới rồi th́ có
cần đoạn phiền năo hay chăng? Phải
đoạn chứ! Phải đoạn sạch sành sanh
mới có thể viên thành Phật đạo. Như
vậy, đến Tây Phương Cực Lạc thế
giới để tu hành, nơi đó là hoàn cảnh tu hành
thù thắng nhất. Chúng ta tu hành ở thế giới này
có người, có sự, có vật khuấy nhiễu. Hoàn
cảnh tu hành và tu học của tiền nhân thù thắng
hơn chúng ta. Bao nhiêu người tu hành t́m lấy một
hoàn cảnh thanh tịnh, u nhă, dựng một cái lều
tranh nhỏ, mấy chục năm không xuống núi, rất
dễ thành tựu. Thế nhưng rốt cuộc
người thành tựu vẫn là thiểu số, v́ nguyên
nhân nào? Tâm địa thanh tịnh, họ đạt
được điều kiện ấy; nhưng thầy
giỏi và đồng tham đạo hữu cũng
chẳng dễ ǵ gặp được. V́ thế,
phải tầm sư phỏng đạo, phải đi
tham học khắp nơi. Nghi hoặc hoàn toàn đoạn
trừ, thực sự giác ngộ, hiểu rơ, lại t́m
một hoàn cảnh u tịnh để dưỡng
đạo, xa ĺa hết thảy cảnh duyên. Trụ trong
núi sâu hiếm dấu chân người lui tới để
dưỡng đạo.
Chúng ta thấy tổ sư đại đức
bất luận tông phái nào trong các đời được
thành tựu [là do thân tâm thanh tịnh], ngay cả Tịnh
Độ Tông cũng không ngoại lệ. Vào thời
đại Đông Tấn, Huệ Viễn đại sư
dựng Niệm Phật Đường đầu tiên ở
Lô Sơn, một trăm hai mươi ba người
lấy Hổ Khê làm giới hạn, chẳng ra ngoài
giới tuyến ấy, thân tâm thanh tịnh, nên ai nấy
đều có thành tựu. Hoàn cảnh hiện thời khó
khăn lắm, dẫu quư vị ở trong núi thẳm,
nhưng hiện thời giao thông thuận tiện, khách khứa
vẫn rất nhiều. Khách đến thăm, quư vị chẳng
thể không tiếp đăi. Tiếp đăi, xă giao quá
nhiều, thị phi xảy ra, cái hay của họ Trương,
cái dở của họ Lư chẳng thể không nghe, những
thứ ấy không ǵ chẳng phải là nhiễm ô. Nếu
chính ḿnh chẳng cam ḷng chịu tịch mịch, lại gắn
truyền h́nh Internet (online TV) chi đó th́ phiền phức
càng lớn hơn nữa, dẫu ở trong núi thẳm
vẫn không thoát ly xă hội bên ngoài.
V́ thế, tu hành trong hiện tại,
luận về hoàn cảnh, thật rất kém xưa kia,
nhưng hiện thời cơ hội nghe kinh, cơ hội
đồng tham đạo hữu cùng tu học so thuận
tiện hơn xưa. Đó là do giao thông và truyền thông thuận
tiện, nhanh chóng, khoa học kỹ thuật tiến
bộ. Như vậy, xưa kia và hiện nay đều có
những điểm thuận lợi lẫn tệ hại.
Làm thế nào để giữ điều lợi, bỏ
điều tệ? Đó là trí huệ, là phương
tiện thiện xảo. Ngày nay chúng tôi chọn ở
nơi này v́ đây là một thành phố nhỏ của Úc
Châu, cư dân chỉ có tám vạn người, từ
Bố Lư Tư Bản (Brisbane) lái xe đến đây
mất hai tiếng đồng hồ. Bản thân tôi
vẫn ở chốn làng quê, nói chung là mong xa ĺa phiền
phức, mong mỏi thân tâm thanh tịnh, có nhiều thời
gian đọc kinh, niệm Phật. Mỗi ngày chúng tôi
ở tại studio phát h́nh bốn tiếng đồng
hồ để báo ân: Trên báo ân chư Phật, ân tổ
sư đại đức, ân hộ pháp, dưới báo ân
hết thảy chúng sanh. Cuộc sống càng đơn
thuần càng tốt.
Tại nơi đây, những bậc
hiền giả, hiển đạt trong xă hội, những
lănh tụ tôn giáo đều hết sức quan tâm
đến những tai nạn trong thế gian, cầu
nguyện thế giới ḥa b́nh, các sắc dân khác nhau, các
nền văn hóa khác nhau đều đối xử ḥa thuận
với nhau. Mọi người luôn mở rộng tâm
lượng, bao dung, tôn trọng lẫn nhau, đối
xử b́nh đẳng, đối xử ḥa thuận.
Đây là một chuyện tốt, đúng là đường
lối để tiêu tai tránh nạn. Bọn họ
đến t́m tôi, mời tôi tham dự. Chuyện này là
chuyện v́ nghĩa chẳng thể chối từ, tôi
phải tận hết sức giúp đỡ họ thành
tựu thiện nguyện. Thế nhưng đối
với việc thanh tu của chính ḿnh vẫn là bị
phiền nhiễu, tốt đẹp đôi bề chẳng
dễ!
Đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới là tốt nhất, v́ sao? Có khả
năng phân thân, đó mới thực sự là đúng.
Đừng nói tốt đẹp đôi bề, mà vạn
bề đều tốt đẹp. Bất cứ
chuyện ǵ cũng có thể tham dự, phân thân là xong!
Một thân có thể biến thành vô lượng thân
đến tham dự những chuyện tốt đẹp của
hết thảy chúng sanh, bản thân ta vẫn trụ trong thế
giới Cực Lạc y như cũ, ở trước
mặt A Di Đà Phật, không hề tách rời. Tự hành
hóa tha thảy đều thực hiện viên măn, đó không
phải là chuyện lư tưởng mà là sự thật.
Nếu quư vị biết sự thật ấy th́ quư vị
mới thực sự phát nguyện, gấp rút cầu sanh
Tịnh Độ ḥng măn hoằng nguyện chân thật
của chính ḿnh.
“Ma Ha Tát” là đại Bồ Tát, đă chứng
địa vị Bồ Tát. “Bồ
Tát” là Tam Hiền Bồ Tát. Mười địa
vị thuộc Thập Tín đều gộp trong Tam
Hiền, ngay cả địa vị tương tự
như chúng ta (vẫn chưa thể tính là địa
vị Sơ Tín, mới là Tương Tự mà thôi)
đều được tính gộp vào đây. Đó là
cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn trong thế
giới Cực Lạc.
8. Khai Thị
Tiếp theo đây, trước phần
khai thị của đại sư, chúng ta hăy đọc
một
bài
kệ như sau:
Thế giới hà duyên xưng Cực
Lạc?
Chỉ nhân chúng khổ bất năng
xâm,
Đạo nhân nhược yếu
tầm quy lộ,
Đản hướng trần trung
liễu tự tâm!
世界何緣稱極樂。
只因眾苦不能侵。
道人若要尋歸路。
但向塵中了自心。
(Tạm
dịch:
Thế
giới duyên ǵ tên Cực Lạc?
Chỉ v́
các khổ chẳng hề xâm,
Nẻo
về nếu muốn t́m cho được,
Hăy đối
trần lao tự hiểu tâm).
Chúng ta biết thiền sư Trung Phong là
Pháp Thân Bồ Tát, chứ không phải là kẻ tầm
thường, cũng có thể nói Ngài quả thực là
bậc minh tâm kiến tánh. Hễ minh tâm kiến tánh th́
mức độ thấp nhất sẽ là bậc Sơ
Trụ trong Viên Giáo, đó là mức độ thấp
nhất. Ngài là bậc Đồng Sanh Tánh với chư Phật
Như Lai, chứ không phải là Dị Sanh Tánh. Cũng có
thể nói là trong cuộc sống thường ngày, Ngài dùng
bốn trí Bồ Đề, chứ không dùng tám Thức,
năm mươi mốt Tâm Sở. Chúng ta dùng tám Thức,
năm mươi mốt Tâm Sở, c̣n Ngài dùng bốn trí
Bồ Đề. Do đâu biết được
điều ấy? Từ lời khai thị này mà biết.
Nếu chưa kiến tánh, Ngài chẳng thể nói
được những câu như vậy.
Hai câu đầu dễ hiểu, không khó
lắm. V́ sao? Đọc kinh Di Đà nhuần nhuyễn
rồi, quư vị hiểu ngay. Thế giới kia v́ sao
gọi là thế giới Cực Lạc? Trong kinh Di Đà,
chẳng phải Thích Ca Mâu Ni Phật đă bảo rất
rơ ràng cùng tôn giả Xá Lợi Phất đó ư? “Bỉ độ hà cố danh vi
Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh, vô hữu chúng khổ,
đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc”
(Cơi ấy v́ sao tên là Cực Lạc? Chúng sanh cơi ấy
không có các sự khổ, chỉ hưởng các điều
vui, nên tên là Cực Lạc). Chẳng phải là giải
đáp rất rơ ràng hay sao? V́ thế, hai câu đầu trong
bài kệ không có vấn đề ǵ, chúng ta cũng có thể
nói được như vậy.
Nhưng hai câu kệ sau chúng ta không
thể nói được, nhất là câu cuối cùng. “Đạo nhân nhược
yếu tầm quy lộ” (đạo nhân nếu muốn
t́m đường trở về), “đạo nhân” là người tu hành, “quy lộ” là đường
nào? Là con đường thành Phật. Con đường
này không dễ, t́m ở đâu đây? Nay chúng ta nói chúng ta
đă t́m ra, chúng ta tín nguyện tŕ danh, cầu sanh Tịnh
Độ, chính là con đường thành Phật, không sai,
mọi người chúng ta đều có thể nói như
thế; nhưng thiền sư Trung Phong không nói như
vậy, Ngài bảo: “Đản
hướng trần trung liễu tự tâm” (Chỉ
hướng vào trong trần lao mà liễu ngộ tự
tâm), người b́nh phàm chẳng thể nói như vậy
được. Nếu là chúng ta ắt sẽ nói: “Đạo nhân nhược
yếu tầm quy lộ, tín nguyện tŕ danh cầu văng
sanh”, nhất định chúng ta sẽ nói như vậy,
chúng ta chẳng thể nói “đản
hướng trần trung liễu tự tâm”.
Người kiến tánh rốt ráo minh
tâm kiến tánh, khác với phàm phu thuộc chín pháp giới. “Trần” (塵) là trần lao, nay chúng ta gọi là hoàn cảnh sinh hoạt hiện thực, “liễu” (了) là minh liễu (hiểu
thấu suốt), “tự tâm” là tâm tánh của chính ḿnh. Như vậy
một câu này có thiền vị rất sâu. Nói cách khác, “liễu tự tâm” là minh tâm
kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Vị Phật này là “Phần Chứng Vị Phật”
(Phật thuộc địa vị Phần Chứng), không
phải là địa vị tương tự. Bốn thánh
pháp giới là địa vị tương tự, Thiên Thai
đại sư gọi [các địa vị] đó là “Tương Tự Tức
Phật”, c̣n minh tâm kiến tánh là thật, là “Phần Chứng Tức
Phật”. Trong lục đạo luân hồi mà tu hành
giỏi giang, chưa đoạn được Kiến Tư
phiền năo, th́ gọi là “Quán Hạnh
Tức Phật”, chưa đoạn phiền năo.
Đoạn được phiền năo, đoạn
được Kiến Tư Phiền Năo th́ gọi là
Tương Tự Tức Phật. Đó là Tương
Tự Tức Phật của Tứ Thánh Pháp Giới; c̣n
Nhất Chân pháp giới là Phần Chứng Tức Phật.
Minh tâm kiến tánh đạt đến Nhất Chân pháp
giới, chẳng những vượt thoát lục
đạo, mà c̣n vượt khỏi mười pháp
giới. Thiền sư biết rằng: Nhất
định phải cầu minh tâm
kiến tánh trong cuộc sống thường nhật,
nếu nói theo cách thuyết pháp của Bát Nhă th́ là “hiểu thấu Thật
Tướng của các pháp”. Hiểu thấu Thật
Tướng của các pháp là minh tâm kiến tánh. Đối
với chân tướng của nhân sinh vũ trụ mà quư
vị thông đạt, hiểu thấu, không c̣n nghi
hoặc, th́ quư vị đă đạt đến
Nhất Chân pháp giới; đó là “quy
lộ” (đường về).
Như vậy, học Phật theo
Đại Thừa Phật pháp, bất luận tông phái nào,
bất luận pháp môn nào, mặc kệ phương pháp sai
biệt, mặc kệ [những pháp môn ấy] dựa theo
những kinh giáo khác nhau, phương hướng,
đường lối và mục tiêu vẫn hoàn toàn
tương đồng, là ǵ vậy? Là minh tâm kiến tánh.
Thiền cũng thế, Giáo cũng thế, Mật cũng
thế, Tịnh cũng thế! Tịnh Độ của chúng
ta cũng là minh tâm kiến tánh. Lư nhất tâm bất
loạn chính là minh tâm kiến tánh, Giáo Hạ gọi [minh tâm
kiến tánh] là đại khai viên giải. Như vậy,
với bài kệ mở đầu này, quư vị thấy
Ngài đă giăi bày hết cả ra, không giấu diếm
mảy may, đem kinh nghiệm tu hành chứng quả
của chính ḿnh phô bày trọn vẹn.
Hai câu kệ đầu khuyên chúng ta tu
Tịnh Độ, thế giới ấy không có các sự
khổ. Không có các sự khổ chính là cực lạc
(rất vui). Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo,
đức Phật dạy chúng ta: “Bồ Tát hữu nhất pháp, năng ly Nhị
Thừa thế gian khổ” (Bồ Tát có một pháp có
thể ĺa được hết thảy nỗi khổ
thế gian). Pháp ấy là “thường
niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp, quán sát thiện
pháp”. Trong hoàn cảnh hiện tại của chúng ta,
muốn thực sự đạt được tâm lành,
tư tưởng lành, quán hạnh lành chẳng phải là
chuyện dễ, khó lắm! Thế nhưng nếu quư
vị thực sự phát tâm tín nguyện tŕ danh, cầu sanh
Tịnh Độ, sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, vĩnh viễn thoát khỏi hết
thảy các khổ, so với tu mười thiện
đạo dễ hơn nhiều. Tu viên măn mười
thiện nghiệp đạo bèn thành Phật, trong những
buổi giảng chúng tôi đă nhiều lần giảng
cặn kẽ. Lại xem đoạn văn kế tiếp
đó:
Tâm tâm tức Phật.
心心即佛。
(Chân tâm và
vọng tâm đều là Phật).
Câu này là thuyết pháp, hai câu sau đó
tỷ dụ:
Đề hồ, tô, lạc, hàm tự
nhũ sanh.
醍醐酥酪。咸自乳生。
(Đề
hồ, tô, lạc đều sanh từ sữa)
Đề hồ, tô, lạc đều
là những chế phẩm từ sữa. Nay chúng ta nói
những chế phẩm của sữa đều tinh
luyện từ sữa, càng luyện càng thù thắng. Như
vậy, từ sữa luyện thành Lạc, từ Lạc
luyện thành Tô, Tô lại luyện kỹ hơn thành
Đề Hồ. Đề Hồ là chế phẩm tinh hoa
của sữa, vị nó ngon lành nhất. Nhà Phật
thường dùng Đề Hồ để tỷ dụ
Phật, Bồ Tát, hoặc tỷ dụ cảnh giới
thù thắng nhất. Đề Hồ thực sự ra chính
là ǵ vậy? Hiện tại có hay không? Có chứ! Rất
b́nh thường, nó là thực phẩm ngon nhất trong
cuộc sống thường ngày.
Lúc chúng tôi mới học Phật, lăo ḥa
thượng Đạo Nguyên có lần theo phái đoàn sang
Ấn Độ triều bái thánh địa, qua Ấn
Độ ngắm cảnh, du lịch, thăm viếng. Do
Ngài là pháp sư giảng kinh, kinh thường nhắc
đến Đề Hồ, nhắc đến Am Ma La
quả, Ngài đều không thể giảng rơ Đề
Hồ là ǵ? Quả Am Ma La là quả ǵ? Đến Ấn
Độ, Ngài đặc biệt t́m người Ấn
Độ hỏi: “Hăy đem Đề Hồ cho tôi coi,
đem trái Am Ma La cho tôi xem”. Người ta đem trái Am Ma La
đến, hóa ra là trái Ba Lạc (trái xoài). Ngài vừa thấy
bèn cười, Đài Loan cũng có, rất nhiều
nữa cơ! Đề Hồ là ǵ? Họ đem lại,
nó vốn cũng rất b́nh thường, đều là
thứ ḿnh thường ăn. Hiện tại gọi là phó-mát[9] (fromage,
cheese), người ngoại quốc gọi là “phó-mát”, kinh
Phật gọi là Đề Hồ. Đến lúc đó,
Ngài mới hiểu rơ, sau này giảng kinh thường
kể cho chúng tôi nghe. Trước kia v́ sao không có cách nào
phiên dịch được? V́ Trung Quốc không có, Trung
Quốc không có loại thực phẩm ấy. Do đây
biết rằng, ba ngàn năm trước Ấn Độ
đă chế luyện được một loại
thức ăn ngon như thế.
“Tâm tâm
tức Phật”, v́ sao Ngài
dùng đến hai chữ Tâm? Một chữ Tâm không
được hay sao mà phải dùng đến hai chữ
Tâm? Dùng hai chữ nhất định phải có hai ư
nghĩa, nhưng ư nghĩa ǵ vậy? Chúng tôi hiểu là chân
tâm và vọng tâm. Quả thật chân tâm là Phật, mà
vọng tâm cũng là Phật. Có như vậy đức Phật
mới nói hết thảy chúng sanh đều là vị lai
Phật. Hết thảy chúng sanh hiện đang dùng
vọng tâm, vọng tâm do đâu mà có? Vọng tâm vẫn là
chân tâm bị mê, chân tâm khi bị mê th́ gọi là vọng tâm.
Như vậy, cái Thể của vọng tâm là chân tâm. Ĺa
khỏi chân th́ vọng do đâu mà có? Chân và vọng không hai,
chân và vọng là một. Do vậy, tỷ dụ này rất
hay, dùng Đề Hồ tỷ dụ chân tâm; lấy Tô và
Lạc ví với vọng tâm. Tất cả những thứ
này đều do sữa chế luyện thành, không thứ ǵ
rời khỏi sữa, đều là chế phẩm
của sữa. Chân và vọng bất nhị.
Nếu từ chỗ này, quư vị thực
sự giác ngộ toàn thể vũ trụ là một, không
hai, th́ quư vị thực sự khai ngộ. Chân - vọng
bất nhị, mê - ngộ bất nhị, thánh - phàm bất
nhị, sanh - tử bất nhị, phiền năo - Bồ
Đề bất nhị, đó là nhất tâm! Nhất tâm
bất loạn. Là cảnh giới nào? Là cảnh giới
Nhất Chân pháp giới. Ở nơi đâu? Ngay trong
hiện tiền. Nếu quư vị không nhập Bất
Nhị, sẽ không thấy được. Nói cách khác, quư
vị không đắc nhất tâm sẽ không thấy
Nhất Chân, vẫn thuộc trong vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước. Vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước là mê không giác. Lời khai thị
của đại sư “mở cửa thấy núi”, ngay câu
đầu tiên đă hiển thị chân tướng vũ trụ nhân sinh cho quư vị thấy.
Vấn đề là quư vị có hiểu hay không, hiểu
được hay không vậy? Câu thứ hai nhắc lại
ư nghĩa này:
Phật Phật duy tâm.
佛佛惟心。
Ở trên là “tâm tâm tức Phật”, c̣n ở đây là “Phật Phật duy tâm”, nói
đến hai chữ Phật. Hai chữ Phật cũng có
ư nghĩa, có thể hiểu là hết thảy chư
Phật, hoặc kim Phật (Phật hiện tại) và
cổ Phật (Phật quá khứ). Hai chữ “Phật Phật” tượng
trưng cho mười phương ba đời hết
thảy chư Phật. Phật là ǵ? Phật chính là tâm, tâm
chính là Phật. Tâm này là chân tâm, ai chẳng có chân tâm? Ai
nấy đều có chân tâm, chân tâm ở đâu? Chân tâm
ở ngay trước mặt, từ trước
đến nay quư vị chưa hề rời khỏi chân
tâm. Không riêng ǵ quư vị có chân tâm, mà hết thảy hữu
t́nh chúng sanh, nay chúng ta gọi là động vật, tất
cả động vật đều có chân tâm. Không riêng ǵ
động vật có chân tâm, mà thực vật, khoáng
vật, cho đến hư không [đều có chân tâm]. V́
sao? Chân tâm là bản thể của hết thảy các pháp, Thể
là chân tâm.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Pháp Tánh biến tại nhất thiết xứ” (Pháp
Tánh trọn khắp hết thảy các nơi); hết
thảy các nơi bao gồm cả hư không. Rời
khỏi Pháp Tánh th́ hư không từ đâu mà có? Hư không
do Pháp Tánh biến hiện ra, hư không thuộc về
Tướng Phần. Các nhà khoa học cận đại
đă dần dần hiểu rơ chân tướng sự
thật, họ nói không gian và thời gian chẳng thật.
Dưới một điều kiện nào đó, không gian và
thời gian bằng zéro, không c̣n nữa! Không có thời gian,
không có không gian, không gian cũng là từ “vô trung sanh hữu” biến hiện ra. Đấy
chẳng phải là có cùng một ư nghĩa với những điều
đă nói trong kinh Hoa Nghiêm hay sao? “Pháp
Tánh biến tại nhất thiết xứ, nhất thiết
chúng sanh cập quốc độ, tam thế tất tại
vô hữu dư” (Pháp Tánh trọn khắp hết thảy
nơi, hết thảy chúng sanh và cơi nước, ba
đời đều bao gồm trong ấy chẳng c̣n sót),
hết thảy chúng sanh và cơi nước là không gian, ba
đời là thời gian, “diệc
vô h́nh tướng nhi khả đắc” (cũng không có
h́nh tướng để có thể đạt
được). Đấy chính là như kinh Bát Nhă đă
giảng: Hết thảy các pháp (kể cả hư không),
chân tướng của chúng là ǵ? Chân tướng là vô
sở hữu, là rốt ráo không, là bất khả
đắc. Nói ra chân tướng sự thật như
vậy. “Phật Phật duy
tâm” là câu thuyết pháp, hai câu tiếp đó là tỷ
dụ:
Thoa, xuyến, b́nh, bàn, tận tùng
kim xuất.
釵釧瓶盤。盡從金出。
(Thoa, xuyến, b́nh, mâm
đều chế từ vàng).
Dùng Vàng để ví cho tự
tánh, lấy những món bằng vàng [để tỷ dụ]:
Thoa làm bằng vàng, Xuyến (ṿng đeo tay) cũng làm
bằng vàng, b́nh và mâm là những vật dụng trong
cuộc sống thường ngày, đều do hoàng kim
chế ra. Dù các đồ vật khác nhau, cách sử
dụng cũng sai khác, nhưng thể tánh của chúng là
một, không hai. Kim Phật và cổ Phật chẳng
rời tự tánh. Hai câu này giảng về quan hệ, tánh
chất của Tánh và Tướng rất rơ ràng, minh
bạch. Nếu hoàn toàn thông đạt hai câu này th́ chính là
Pháp Thân Bồ Tát, quư vị sống trong thế gian này,
tư tưởng, kiến giải, ngôn hạnh,
sinh hoạt, xử sự, đăi người,
tiếp vật chắc chắn khác với mọi phàm nhân,
v́ sao? Quư vị đang sống như Phật, Bồ Tát, đang
hành Bồ Tát đạo, quả thật đă nêu tấm
gương tốt nhất cho hết thảy chúng sanh: Cuộc
sống của bậc giác ngộ, hành vi của bậc giác
ngộ. Đây là đoạn thứ nhất của lời
khai thị, nêu lên tổng nguyên tắc và tổng
cương lănh. Hăy xem tiếp đoạn dưới, Ngài
dạy chúng ta như thế nào:
Thập vạn ức tŕnh,
Đông Tây bất cách.
十萬億程。東西不隔。
(Đường xa
mười ức cơi Phật, Đông Tây há đâu xa cách)
“Thập
vạn ức tŕnh” do chính kinh Di Đà nói ra. Ở
phương Tây của thế giới Sa Bà, qua khỏi
mười vạn ức cơi Phật có một thế
giới là thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật.
“Thập vạn ức tŕnh”
là nói về khoảng cách, tức mười vạn ức
cơi Phật. Mỗi một cơi Phật là một tam thiên
đại thiên thế giới. Quư vị nghĩ xem cái
khoảng cách mười vạn ức tam thiên đại
thiên thế giới to lớn lắm! Một câu “Đông Tây bất cách” đă
nói lên điều ǵ? Không có khoảng cách về mặt không
gian, xa - gần bất nhị, trong khoảng khảy ngón
tay, trong một sát-na bèn đến được.
Nhị lục thời nội.
二六時內。
(Trong mười hai thời).
Đây là nói về thời gian.
Nói “mười hai thời” là theo cách nói của người
Hoa, người Ấn Độ chỉ nói “đêm ngày sáu
thời”, người Hoa nói mười hai thời. “Nhị lục” tức là
mười hai “thời thần”. Thời xưa người
Hoa tính giờ giấc bằng Tư, Sửu, Dần, Măo, Th́n,
Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Đó là
mười hai thời thần. Dùng cách tính thời gian này
cho măi đến cuối đời Thanh, lúc Dân Quốc
thành lập mới không sử dụng nữa, mà dùng theo cách
tính hai mươi bốn giờ của Tây phương, cho
nên [mỗi một giờ trong hai mươi bốn giờ]
gọi là “tiểu thời”. V́ sao gọi là “tiểu
thời”? V́ nhỏ hơn cách tính giờ [theo lối “thời
thần”] của người Hoa. Một giờ của
Trung Quốc [theo lối cổ] bằng hai giờ hiện
thời, cho nên gọi là “nhị tiểu thời”. Nguồn
gốc của chữ “tiểu thời” là như vậy. Giờ
Ấn Độ so với giờ Trung Quốc c̣n lớn
hơn nữa, một giờ Ấn Độ bằng hai
giờ Trung Quốc, nói theo giờ giấc hiện thời
là bốn tiếng đồng hồ. V́ thế, trong kinh
thường nói “nhị
thời giảng kinh” th́ có nghĩa là bằng với tám
tiếng đồng hồ hiện thời.
Qua kinh điển, chúng ta
biết lúc Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n tại thế, Tăng
đoàn mỗi ngày học tập tám tiếng đồng
hồ. Hết sức quan trọng, đây là thị
hiện cho chúng ta thấy. V́ sao ngày nay chúng ta công phu không
đắc lực? Không đắc lực cũng không
bận ḷng, cứ ngày ngày khởi vọng tưởng,
niệm niệm đều tạo nghiệp, thật là
đáng sợ! Làm thế nào để xa ĺa vọng
tưởng, không c̣n tạo nghiệp nữa? Đức Phật
thị hiện cho chúng ta thấy chỉ có một
phương pháp, lên lớp. Giảng kinh, nghe kinh, lên
lớp mỗi ngày tám tiếng đồng hồ, hằng ngày không gián đoạn. Thích Ca Mâu Ni Phật
thị hiện như vậy suốt bốn mươi
chín năm, mỗi ngày lên lớp tám tiếng. Như vậy
mới ĺa vọng tưởng. Xa ĺa vọng tưởng
th́ thân khẩu chẳng tạo nghiệp, có thể khôi
phục b́nh thường. Hành vi sinh hoạt b́nh
thường, đúng mức th́ là Phật, Bồ Tát, đó
gọi là học Phật chân chánh, thực sự
được thọ dụng nơi Phật pháp, chúng ta
phải hiểu rơ!
Như vậy, không đọc
kinh, không nghe kinh, há có được chăng? Phật giáo
ngày nay suy đồi là v́ tứ chúng tại gia và xuất
gia không nghe kinh, không chịu học tập. Hễ không nghe
kinh, không học tập, nhất định quư vị
sẽ tùy thuận tập khí phiền
năo của chính ḿnh. Tùy thuận tập khí phiền năo
của chính ḿnh th́ sinh hoạt cũng vậy, làm
việc cũng vậy, đăi người, tiếp vật
cũng vậy, không ǵ là chẳng tạo nghiệp. Đúng
là như kinh Địa Tạng đă dạy: “Diêm Phù Đề chúng sanh, khởi
tâm động niệm, vô phi thị nghiệp” (Chúng sanh
trong Diêm Phù Đề khởi tâm động niệm không ǵ
chẳng phải là nghiệp). Đáng sợ quá! Nghĩ ḿnh
tạo nghiệp nhất định có quả báo, chẳng
thể nói tạo nghiệp rồi thôi. Ở những
phần trên, chúng tôi đă giảng rất rơ ràng, Hoặc -
Nghiệp - Khổ. Trong ba chướng, Phiền Năo
Chướng, Nghiệp Chướng, Báo Chướng th́
Báo là khổ báo
trong
tam đồ, quư vị có biết hay chăng?
Thưa cùng quư vị! Quư vị nghe như
vậy dường như cảm động, nhưng
thời gian cảm động ngắn ngủi lắm.
Độ mấy giây thôi, lại y chang như cũ,
phiền năo tập khí lại hiện hành. V́ nguyên nhân ǵ
vậy? Là v́ sức lực của phiền năo tập khí
quá lớn mạnh, năng lực tu học Phật pháp
của chúng ta quá mỏng yếu, chống cự không
nổi! Chống cự không nổi th́ làm cách nào? Đức
Phật dạy chúng ta: Thâm nhập một môn, trường
thời huân tu. Nếu quư vị làm được, hiểu
được câu ấy th́ khống chế phiền năo
tập khí của chính ḿnh có mất nhiều thời gian hay
chăng? Thường là từ ba năm đến năm
năm, tiêu chuẩn thời cổ là từ ba năm
đến năm năm. Hiện tại th́ ba năm,
năm năm không đủ, v́ sao? Phiền năo tập khí
bên trong quá nặng, sức dẫn dụ bên ngoài quá
mạnh. V́ thế, hiện tại chúng ta sống trong
thế giới này, hằng ngày
đọc kinh, hằng ngày nghe kinh, hằng ngày giảng
kinh, từ ba mươi năm đến năm
mươi năm, đó là kinh nghiệm của tôi. Tôi
học Phật đến nay là năm mươi hai năm
rồi, tôi mới có thể khống chế
được, tôi mới chẳng bị xă hội dụ
hoặc. Ngày ngày phải hành, không hành không
được!
Nói cách khác, trong thời
đại này, không những là thiện căn, phước
đức, nhân duyên trong đời quá khứ phải sâu
dầy, nếu quư vị muốn thành tựu th́
điều kiện đầu tiên là thọ mạng! Nếu
quư vị không có thọ mạng dài lâu như thế, công phu
tu hành c̣n chưa đủ, thọ mạng đă hết
rồi! Thọ mạng hết bèn luân hồi, hễ luân
hồi th́ sẽ mê khi cách ấm. Dẫu tu hành khá lắm,
đời sau lại được làm thân người th́
đă quên sạch sành sanh những ǵ ta tu trong đời
trước, phải làm lại hết thảy từ
đầu, rất đáng sợ! Bắt đầu
lại từ đầu, chẳng đảm bảo không
bị dụ dỗ, mê hoặc. Nhưng trong xă hội này,
từ lịch sử chúng ta thấy diễn biến ô nhiễm
ngày càng nghiêm trọng, thói đời ngày càng tệ,
đời sau kém hẳn đời trước. Do vậy,
biện pháp đáng tin cậy nhất là trong một
đời này nhất định sanh về Tịnh
Độ, quyết định chẳng luân hồi
nữa. Hai câu nói trên của đại sư dạy chúng ta
việc ấy. Nay đă hết giờ rồi!
*
Xin xem đoạn văn
tiếp theo:
Thập vạn ức tŕnh,
Đông Tây bất cách, nhị lục thời nội, phàm
thánh đồng đồ.
十萬億程。東西不隔。二六時內。凡聖同途。
(Đường xa mười
vạn ức, Đông Tây chẳng cách ngăn. Trong
mười hai thời, phàm thánh cùng là một
đường).
“Thập vạn ức tŕnh” là xa - gần bất nhị. “Nhị lục thời nội”
là nói về thời gian, quá khứ - vị lai bất
nhị. “Phàm Thánh đồng
đồ” thuyết minh cảnh giới Nhất Chân,
nhất tâm có thể chứng, có thể hiện, có thể
biến, có thể chứng. Nói chung, chẳng ĺa nhất tâm
bất loạn. Nhất tâm rất quan trọng.
Đoạn văn tiếp theo là:
Đê đầu hiệp
chưởng bạch ngọc hào, tinh minh nhật lệ.
低頭合掌白玉毫。星明日麗。
(Cúi đầu chắp tay
trước tướng bạch ngọc hào, sao sáng
ngời, mặt trời rạng rỡ).
Câu này thể hiện sự
lễ kính. Nguyện thứ nhất trong mười
đại nguyện vương Phổ Hiền Bồ Tát là
“lễ kính chư Phật”.
Nguyện thứ hai là “xưng
tán Như Lai”. Trong câu “đê
đầu hiệp chưởng bạch ngọc hào” th́
Bạch Ngọc Hào là một trong ba mươi hai
tướng của Như Lai, tức là tướng Bạch
Hào giữa hai chân mày. Chữ “bạch
ngọc hào” chỉ cho tướng ấy. Chúng ta đọc
kinh điển thấy kinh nói đến và ghi chép
tướng ấy rất nhiều, tướng Bạch Hào
của Phật phóng quang, trong quang minh hóa Phật phổ
độ chúng sanh, nhằm biểu thị lễ kính,
dạy chúng ta phải thường giữ ḷng lễ kính:
Đối với hết thảy chúng sanh, hết thảy
người, hết thảy sự, hết thảy vật
phải thường biết lễ kính. Trong “lễ kính chư Phật” th́
chư Phật bao gồm cả hữu t́nh lẫn vô t́nh
như kinh Hoa Nghiêm đă nói. V́ sao? Vô t́nh có Pháp Tánh, hữu
t́nh có Phật Tánh. Phần trên đă nói “tâm tâm tức Phật” và “Phật Phật duy tâm”. “Phật Phật” bao
gồm ba đời hết thảy chư Phật, bao
gồm hữu t́nh lẫn vô t́nh. Như vậy chẳng
thể rời bỏ cái tâm lễ kính dẫu chỉ
khoảnh khắc.
“Tinh
minh nhật lệ” là Thiền cơ, phải hiểu
như thế nào? Ĺa vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước! Nói “tinh
minh nhật lệ” để sánh ví với nhất tâm.
Có nhất tâm th́ mới thực sự chân thành, thanh
tịnh, b́nh đẳng, chánh giác lễ kính, trong ấy chắc
chắn chẳng vọng tưởng, chấp trước
mảy may, không khởi tâm động niệm, không có vọng
tưởng, chấp trước. Câu tiếp theo là tán thán:
Ca vịnh tán dương tử
kim dung.
歌詠讚揚紫金容。
(Ca
ngâm khen ngợi dung nhan vàng ṛng).
Từ kinh Vô Lượng
Thọ, chúng ta đọc thấy thân tướng Phật
là “tử ma chân kim sắc” (màu
vàng ṛng rực tía được giồi mài sáng bóng). Trong
phần lễ kính ở trên chỉ nhắc đến
tướng Bạch Hào phóng quang trong ba mươi hai
tướng, c̣n ở đây xưng tán toàn thân Phật. “Ca vịnh tán thán”: Ở
đây chúng ta dùng phạm bái, kệ tán [để tán
tụng].
Đ́nh chấn lôi oanh.
霆震雷轟。
(Sét
động, sấm rền).
Tán thán ắt có âm thanh, lễ
kính không có âm thanh. Tán thán có âm thanh th́ âm thanh ấy như
chúng ta thường nói là “rền vang thấu trời
thẳm”, nên dùng chữ “đ́nh
chấn lôi oanh” để h́nh dung. “Đ́nh chấn” là sấm nổ th́nh ĺnh, ngạn
ngữ có câu: “Tấn lôi
bất cập yểm nhĩ” (sấm nổ chẳng
kịp bưng tai). V́ sao? V́ khoảng cách quá gần. Vừa
thấy chớp ḷa th́ ngay lập tức đă có âm thanh,
khoảng cách quá gần, âm thanh vô cùng vang động,
nổ ra không kịp bịt tai. Bốn chữ “đ́nh chấn lôi oanh” dùng
để h́nh dung điều này. Chúng ta thường nói âm
thanh tán thán ca vịnh vang rền thấu trời thẳm
cũng nhằm ngụ ư gần giống như vậy. Tán
Phật mà! Quư vị phải biết: Tán Phật là khen
ngợi tánh đức. Do v́ hết thảy chẳng
rời tự tánh, tự tánh Như Như Phật. Tán A Di
Đà Phật là tán thán tự tánh Di Đà.
Các vị đồng học tu học
Phật, v́ sao đă lâu mà quư vị chẳng nhập
cảnh giới, chẳng được hưởng
lợi ích chân thật từ Phật pháp? Chớ nói chi
nhiều, lợi ích tí tẹo quư vị cũng không
đạt được, nguyên nhân là do đâu? Nguyên nhân là
do không buông vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước xuống được! Phân chia ḿnh - người!
Nói cách khác, quư vị thường rớt vào hai ba, không quy
nhất. Lúc nào quư vị có thể quy nhất th́ sẽ
hưởng lợi ích chân thật nơi Phật pháp.
Quy nhất? Nhất là ǵ? Nhất tâm
bất loạn đấy! Bất luận tu pháp môn nào,
chúng tôi thường nói: Phương tiện không giống
nhau, phương pháp khác nhau, nhưng tu cái ǵ? Đều là
tu nhất tâm. Trong Thiền Tông gọi nhất tâm là minh tâm
kiến tánh, trong Giáo Hạ gọi nó là đại khai viên
giải, trong Tịnh Độ Tông của chúng ta gọi nó
là nhất tâm bất loạn. Như vậy th́ mới thực
sự thọ dụng được. Nhà Thiền nói
đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh
rồi mới thọ dụng. Lúc chưa ngộ, quư vị
là phàm phu, không sống trong cảnh giới Phật, ngộ
rồi bèn khác hẳn. Quư vị phải biết chúng ta
niệm Phật quyết định phải nhắm
đến mục tiêu ǵ? Quyết định phải
nhất tâm bất loạn.
Muốn đạt
được nhất tâm bất loạn mà không thể
buông vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
xuống th́ nhất tâm bất loạn sẽ vĩnh
viễn bị chướng ngại. Nói cách khác, nhất tâm
bất loạn là điều mà tự tánh vốn sẵn có,
tự tánh vốn sẵn nhất tâm bất loạn. Quư
vị mê mất nhất tâm, mê mất tự tánh, nên sáu
căn mới khởi vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước đối với cảnh duyên sáu
trần, quên mất nhất tâm bất loạn sẵn có, mê
mất rồi! Đấy là chân tướng sự
thật. Đại sư đau ḷng rát miệng chỉ
dạy chúng ta, không có ǵ khác cả, Ngài bảo chúng ta hăy quay
đầu, bảo chúng ta hăy buông phân biệt, chấp
trước xuống, quay về nhất tâm. Lại xem
đoạn văn tiếp theo:
Thanh lương nguyệt hề
hữu thủy giai hàm.
清涼月兮有水皆含。
(Mặt
trăng trong mát, hễ chỗ nào có nước đều
hiện bóng).
“Thanh
lương nguyệt” tỷ dụ Phật Tánh.
Người đời thường nói “thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt”
(nước ngàn con sông hiện bóng ngàn mặt trăng). Ở
đây đại sư dùng mặt trăng trong mát
để sánh ví Phật Tánh, dùng bóng trăng hiện trong
nước để ví cái được hiện, cái
được biến. Các pháp được sanh ra
chỉ là do tâm hiện. Cái có thể hiện (năng
hiện) là vầng trăng trên không, vầng trăng ấy
là thật, v́ thật nên được ví với Phật
tánh. Bóng trăng in trong nước là cái được
hiện (sở hiện), cái được biến (sở
biến), ví như pháp tướng. Trong pháp tướng có
tánh, chẳng rời khỏi chân tánh, không có chân tánh th́ há có pháp
tướng ư? Căn nguyên của pháp tướng là
tự tánh, câu này khiến cho chúng ta liễu giải chân
tướng sự thật.
Công đức vân nhi vô sơn
bất đới.
功德雲而無山不戴。
(Mây
công đức không núi nào chẳng phủ).
Tự tánh vốn sẵn đủ
công đức, công đức chẳng đến từ
bên ngoài. Điều này tỷ dụ Pháp Tánh. Phật Tánh và Pháp
Tánh là cùng một tánh. Núi cao có mây mù, mây mù từ hang núi
bốc lên, dần dần bay lên cao th́ gọi là mây, lúc c̣n
ở trên mặt đất th́ gọi là “vụ khí” (sương mù). Ở thành phố
nhỏ Đồ Văn Ba (Toowoomba) chúng ta thường
thấy chuyện này. Chúng ta lái xe trên đường
thường thấy sương mù rất dày. Lúc
sương mù quá dày, chúng ta chỉ thấy được
rất gần, nên phải lái xe rất chậm. Có lúc chúng
tôi thấy sương mù phủ kín mặt đất, trông
như nhà cửa, cây cối đang ở trong mây vậy.
Cảnh tượng ấy những kẻ ở trong núi
như chúng tôi thường thấy.
Kinh Phật dùng “mây” để
tỷ dụ rất nhiều thứ. Mây biểu thị
điều ǵ? Chẳng phải có, chẳng phải không.
Nh́n từ xa thấy mây có từng đám một,
[dường như] là có; nh́n gần bèn chẳng thấy
ǵ. Điều này cho thấy tất cả hết thảy
vạn sự vạn vật trong vũ trụ như
mộng, huyễn, bọt, bóng. Mộng, huyễn, bọt,
bóng giống như mây, chẳng thể nói là không có,
nhưng cũng chẳng thể nói là có. Tướng có,
thể không, sự có, lư không, đều thuyết minh chân
tướng của vạn vật trong vũ trụ; nhờ
vậy quư vị mới thấy thấu suốt thế
gian. Chẳng những thấy thấu suốt thế gian,
mà c̣n thấy thấu suốt xuất thế gian. Lại
xem tiếp đoạn kế tiếp của phần khai
thị.
Hương tượng
độ hà, nhất cử hồng danh siêu nhị tử.
香象渡河。一舉洪名超二死。
(Hương tượng vượt
sông, vừa niệm hồng danh bèn thoát khỏi Phần
Đoạn Sanh Tử và Biến Dịch Sanh Tử).
“Hương
tượng”[10]
tỷ dụ người tu hành. “Độ
hà” (vượt sông), sông tượng trưng cho bờ
bên này và bờ bên kia. Bờ bên này là thế giới Sa Bà,
bờ kia là thế giới Cực Lạc. Người
niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới rất giống với Hương Tượng,
thật khó có! Trong một đời này, người
ấy quả thật giác ngộ triệt để, không
có năng lực đoạn phiền năo, nhưng
người ấy biết cầu sanh Tịnh Độ,
biết thân cận Di Đà, biết tu bằng phương
pháp tín nguyện tŕ danh
“Nhất
cử hồng danh”, [nhờ niệm] sáu chữ hồng
danh Nam-mô A Di Đà Phật bèn vượt thoát “nhị tử”. Nhị tử
là ǵ? Chính là Phần Đoạn Sanh Tử trong lục
đạo và Biến Dịch Sanh Tử trong bốn thánh
pháp giới. Chẳng những vượt khỏi lục
đạo, mà c̣n vượt thoát mười pháp giới. “Nhất cử hồng danh”: “Cử”
(舉) có ư nghĩa giống như Xưng;
Cử, Xưng (稱),
Dương (揚)
có cùng một ư nghĩa. Một tiếng Nam-mô A Di Đà
Phật bèn vượt thoát lục đạo tam giới,
vượt thoát mười pháp giới, công đức
chẳng thể nghĩ bàn. Tín nguyện tŕ danh là Công,
vượt thoát mười pháp giới văng sanh Tịnh
Độ là Đức.
Thiền sư Trung Phong thị hiện
làm bậc đại đức đại triệt
đại ngộ trong nhà Thiền, nhưng chỗ Ngài quy
túc là niệm Phật văng sanh Tịnh Độ.
Người như vậy niệm Phật văng sanh Tịnh
Độ, chúng ta biết rơ sẽ sanh vào cơi nào trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới? Thật Báo Trang
Nghiêm độ, chứ không thuộc Đồng Cư
độ, mà cũng chẳng thuộc vào cơi Hữu Dư.
Thế nhưng Tây Phương thế giới rất thù
thắng, chúng ta vô cùng tin tưởng, chúng ta đới
nghiệp văng sanh dẫu chưa đoạn một phẩm
phiền năo nào, đương nhiên sanh vào Phàm Thánh
Đồng Cư độ; sanh vào Phàm Thánh Đồng
Cư độ có gặp được Trung Phong quốc
sư hay chăng? Được chứ! Chắc chắn
không thành vấn đề! V́ sao? V́ Tây Phương Cực
Lạc thế giới bốn cơi cùng ở một chỗ,
sanh về một là sanh về hết thảy. Chẳng
những gặp Trung Phong quốc sư mà c̣n gặp
được ngài Vĩnh Minh Diên Thọ, gặp Trí
Giả đại sư, gặp được Quán Âm,
Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc Bồ Tát,
đó là những vị Đẳng Giác Bồ Tát. Thấy
được mười phương tam thế hết
thảy chư Phật Như Lai, đúng là “sanh về
một là sanh về hết thảy”. Thấy A Di Đà
Phật là thấy hết thảy chư Phật, Bồ
Tát. Chẳng thể nghĩ bàn!
Ca Lăng xuất xác, thiên xưng
gia hiệu áp quần âm.
迦陵出殼。千稱嘉號壓群音。
(Chim Ca Lăng ra khỏi
vỏ trứng, niệm danh hiệu tốt lành ngàn lần vượt
trỗi các âm thanh khác).
Ca Lăng chính là chim Ca Lăng
Tần Già tại Tây Phương Cực Lạc thế
giới như đức Thế Tôn đă nói trong kinh Di
Đà. Mấy loài chim ấy ở thế giới này
đều có, nên đức Thế Tôn nêu tượng
trưng mấy loại. Đức Phật bảo chúng ta: Chim
Cộng Mạng, Ca Lăng Tần Già ở Tuyết Sơn cũng
có. Tuyết Sơn chính là núi Hỷ Mă Lạp Nhă (
Nay
có người tranh luận, rốt cuộc chúng ta phải
niệm là Omituofuo hay là niệm Amituofo?[11]
Chúng tôi gặp rất nhiều người, mỗi một
địa phương Trung Quốc đều có
phương ngôn. Đúng là sáu chữ ấy, về mặt
chữ viết th́ thống nhất, nhưng mỗi
địa phương đọc một kiểu khác nhau.
Lấy cách nào làm tiêu chuẩn? Luận theo Phật pháp, tiêu
chuẩn thực sự là thành tâm, tâm chân thành chính là tiêu
chuẩn. Tâm chân thành cảm th́ Phật bèn ứng. Như
vậy, bất luận là phương ngôn nào, cốt sao
trong tâm quư vị niệm câu Phật hiệu này, tâm niệm
Phật của quư vị tương ứng với A Di
Đà Phật th́ âm thanh ấy chính là diệu âm.
Chúng ta thấy chuyện này hiện nay
đă được các nhà khoa học chứng minh. Từ
chuyện nước kết tinh chúng ta thấy họ dùng
mấy loại văn tự khác nhau để viết
chữ Ái (yêu), viết chữ Ái bằng tiếng Hán,
bằng tiếng Anh, bằng tiếng Đức, viết
bằng mấy loại văn tự, đưa cho
nước xem. Đựng nước trong cái b́nh pha lê
nhỏ, lấy chữ đă viết dán trên b́nh. Một
tiếng đồng hồ sau, quan sát nước kết
tinh đều thấy hết sức xinh đẹp. Dùng ư
tương phản (họ cũng làm thí nghiệm), chúng tôi
thấy họ viết chữ “hỗn
đản”[12],
cũng viết bằng rất nhiều thứ tiếng khác
nhau. Một tiếng đồng hồ sau, nh́n vào sự kết
tinh của nước thấy xuất hiện những
kết tinh hết sức xấu xí.
Do đây biết rằng: Bất
luận dùng văn tự nào; nói cách khác, lúc nghe, không cần
biết là phương ngôn nào, chỉ cần quư vị
biểu lộ ḷng yêu thương thực sự th́
nước phản ứng bằng cách kết tinh
đẹp đẽ. Điều này cho thấy
nước có Pháp Tánh, bản năng của tánh là có
thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có
thể biết. V́ vậy, ngôn ngữ hay phù hiệu khác nhau
không quan trọng, ư nghĩa tương đồng [mới
quan trọng]. Đúng là như trong Tứ Y Pháp, đức
Thế Tôn đă dạy chúng ta: “Y
nghĩa, bất y ngữ” (nương vào ư nghĩa,
đừng dựa vào lời nói). Chúng ta cũng có thể
nói là “y nghĩa, bất y
văn tự”, mọi thứ văn tự không có ảnh
hưởng ǵ, dùng văn tự của quốc gia nào
cũng không quan trọng, cốt sao ư nghĩa tương
đồng th́ Pháp Tánh nhất định phản ứng
giống nhau.
Thí nghiệm trên đây đă
chứng tỏ “nhất cử
hồng danh siêu nhị tử”, “thiên xưng gia hiệu áp
quần âm” đă được khoa học chứng
minh. Quan trọng nhất là thành ư, bởi thế, không
nhất định phải niệm là A hay O, không quan tâm
đến điều đó, không cần phân biệt,
chấp trước. Hễ phân biệt bèn chấp
trước, mức độ thành ư bị kém hẳn
đi. Không phân biệt sẽ không chấp trước,
thành ư của quư vị bèn viên măn. Phải hiểu
đạo lư này. Câu tiếp theo:
Hạ t́nh duy thổn dĩ nan
tư, nhất niệm hồi quang nhi dị văng.
下情唯忖以難思。一念回光而易往。
(Dùng t́nh thức để suy
nghĩ sẽ khó hiểu thấu, một niệm hồi
quang ắt dễ về).
Hai câu này ư nói niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ là đạo dễ hành. Trong
tám vạn bốn ngàn pháp môn, trong vô lượng pháp môn, pháp
này dễ dàng nhất. Dù phương pháp dễ dàng,
nhưng lư rất sâu. Trong kinh đức Phật bảo
đạo lư y cứ của pháp môn này “duy Phật dữ Phật phương năng cứu
cánh” (chỉ có Phật và Phật mới có thể
thấu hiểu rốt ráo). Chỉ có Như Lai quả
địa mới hiểu rành rẽ, mới hiểu rơ;
Đẳng Giác Bồ Tát vẫn như nh́n trăng qua
một lớp sa. Đây là tỷ dụ, vào ban đêm, nh́n mặt
trăng qua một lớp sa rất mỏng, sợi sa
rất mịn, dù giống như pha lê ngày nay, nhưng
vẫn là c̣n cách một lớp. Như Lai không có tí xíu
chướng ngại nào, không có vật ǵ cách trở. Quư
vị muốn hiểu được đạo lư này th́
đạo lư ấy rất sâu, nhưng phương pháp
dễ dàng.
“Nhất
niệm hồi quang” là như ta thường nói “hồi đầu thị
ngạn” (quay đầu lại là đă đến
bờ). Chỉ cần quư vị tiếp nhận lời
Phật, Bồ Tát răn dạy, y giáo phụng hành là
được, rất dễ dàng đạt
được thành tựu! Quư vị muốn hỏi
đến đạo lư ư? Tốt nhất là về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, gặp A Di
Đà Phật, hướng về Phật thỉnh giáo là
dễ nhất. C̣n ở đây muốn hiểu rành rẽ
đạo lư th́ không ai có thể giảng rành rẽ
được. Dù có giảng rành rẽ, quư vị vẫn không
hiểu. V́ sao? Đó không phải là cảnh giới của
chúng ta, mà là cảnh giới thuộc quả địa
Như Lai. Thế nhưng trong hai câu cuối, thiền
sư Trung Phong vẫn chỉ điểm một chút:
Cứu cánh bất cư tâm
ngoại, phân minh chỉ tại mục tiền!
究竟不居心外。分明祇在目前。
(Rốt ráo nào phải ngoài tâm,
phân minh chỉ ở ngay trước mắt).
Hai câu này Thiền ư rất sâu.
Niệm Phật văng sanh, thấy Phật chứng quả, “cứu cánh bất cư tâm ngoại”
(rốt ráo chẳng ở ngoài tâm). A Di Đà Phật,
tự tánh Di Đà, Tây Phương Tịnh Độ, duy
tâm Tịnh Độ đều do tâm tánh của chính ḿnh biến
hiện. V́ thế, chẳng ở ngoài tâm. “Phân minh chỉ tại mục tiền” (phân minh
chỉ ở ngay trước mắt), bản thể của
hết thảy các pháp trước mắt là tâm tánh. V́
thế, các nhà Pháp Tướng Duy Thức tông thường
nói đến “duy thức”. Trong vũ trụ chỉ có duy
thức, trừ thức ra, cái ǵ cũng đều không có.
Thức là ǵ? Là năng biến (chủ thể có khả năng
biến), c̣n hết thảy các pháp là sở biến (cái
được biến ra bởi Thức). Quư vị
phải nắm lấy cái Năng Biến, đừng
bận tâm đến Sở Biến, đừng phân
biệt, chấp trước nữa, hăy triệt
để buông xuống.
Thế nhưng Thức vẫn chưa
phải là Đệ Nhất Nghĩa, Đệ Nhất
Nghĩa là ǵ? Đệ Nhất Nghĩa là Tánh. Tuy vậy,
Tánh và Thức là một, chẳng phải hai. Giác ngộ th́
gọi là Tánh, bất giác th́ gọi là Thức. Tánh và
Thức quả thật là một, không hai, chỉ v́ giác và
bất giác nên nói thành hai danh từ. Duy tâm sở hiện,
duy thức sở biến, cái được hiện là
Nhất Chân pháp giới, cái được biến là y báo
và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới. Quả
thật là một, chứ không phải hai.
“Phân
minh chỉ tại mục tiền”, mười pháp
giới ở ngay trước mắt, Nhất Chân pháp
giới cũng ở ngay trước mắt. V́ sao chúng ta
không thể nhận biết? Là v́ có vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước, nên chẳng thể
chứng đắc. Đó là như trong kinh Hoa Nghiêm,
đức Thế Tôn đă nói: “Nhất
thiết chúng sanh giai hữu Như Lai trí huệ, đức
tướng, đản dĩ vọng tưởng, chấp
trước, bất năng chứng đắc” (Hết
thảy chúng sanh đều có đức tướng, trí
huệ của Như Lai, chỉ v́ vọng tưởng,
chấp trước nên chẳng thể chứng
đắc). Thật đáng tiếc! Nói cách khác, nếu quư
vị nghe hiểu câu nói này của Phật, chỉ cần
quư vị buông được vọng tưởng, chấp
trước, phân biệt xuống th́ sẽ đúng như thiền
sư Trung Phong đă nói: “Phân
minh chỉ tại mục tiền”.
Hai câu “cứu cánh bất cư tâm ngoại, phân minh chỉ
tại mục tiền” (rốt ráo nào ở ngoài tâm, phân
minh chỉ ngay trước mắt) là cảnh giới
của thiền sư Trung Phong. Nói cách khác, đó là cảnh
giới của bậc kiến tánh, là cảnh giới
của người đại khai viên giải, là cảnh
giới của người niệm Phật đạt Lư nhất
tâm bất loạn. Hễ công phu của quư vị
đạt đến tŕnh độ ấy, cảnh
giới ấy sẽ là cảnh giới của chính quư
vị; công phu chưa tới, cảnh giới ấy
chẳng hề bị mất đi, chỉ là ḿnh mê nên không
giác. Đó là Thật Tướng của các pháp. Trung Phong
đại sư khai thị đến đây thôi;
đoạn kế tiếp là Ngài muốn khảo nghiệm
công phu của chúng ta.
Thẩm như thị.
審如是。
(Xét
kỹ như thế).
“Thẩm”
(審) là ḍ xét kỹ càng, là quan sát kỹ
lưỡng, là tư duy, quan sát tỉ mỉ. “Như thị” là như Thật
Tướng của các pháp đă nói ở phần trên,
kể cả chân tướng sự thật của chuyện
tín nguyện tŕ danh, văng sanh Tịnh Độ của chúng
ta.
Tức kim chúng đẳng.
即今眾等。
(Vậy
nay đại chúng).
Lại hỏi đại chúng,
tức đại chúng hiện tiền chúng ta.
Hệ niệm Di Đà.
繫念彌陀。
Chữ Niệm là “kim tâm” (cái tâm hiện thời) [ghép lại]. Trong cái
tâm hiện tại của chúng ta quả thật có Di Đà.
Chúng ta thường gọi Hệ (繫:
buộc chặt) là dính mắc,
trong tâm vương vấn, vương vấn nơi
chuyện ǵ? Vương vấn A Di Đà Phật. Trong tâm
không vướng mắc chi khác, chỉ vương vấn
A Di Đà Phật, trong tâm quả thật có A Di Đà
Phật nên gọi là “hệ
niệm”. Hệ niệm như thế nào mới có
cảm ứng? Có cảm ứng rất rơ ràng th́ gọi là
nhất tâm, tức nhất tâm hệ niệm. Nói cách khác,
trong tâm trừ A Di Đà Phật ra, cái ǵ cũng đều
chẳng có, nhất tâm hệ niệm, đó là niệm
Phật chân thật.
Niệm Phật chẳng phải ở
cửa miệng, phải niệm trong tâm. Bởi thế,
cổ đức thường dạy chúng ta: Chữ
Niệm trong Niệm Phật chẳng thể thêm vào chữ
Khẩu, thêm chữ Khẩu vào sẽ biến thành “miệng
có, tâm không”. Không thể thêm chữ Khẩu, hăy dùng chữ
Niệm (không có bộ Khẩu). Chữ Niệm ấy cho
thấy trong tâm thực sự có Phật, chẳng
được niệm xuông ngoài miệng. Trong tâm quả
thật có A Di Đà Phật, ngoại trừ A Di Đà
Phật, cái ǵ cũng chẳng để vào ḷng. Đó là
nhất tâm hệ niệm, cảm ứng đạo giao
chẳng thể nghĩ bàn! Đúng là “một niệm tương ứng một niệm
Phật, niệm niệm tương ứng niệm
niệm Phật”. Hiện tại Tam Thời Hệ
Niệm của chúng ta là chuyên tu pháp môn này.
Tam thời Phật sự.
三時佛事。
“Phật sự” có ư
nghĩa gốc là sự việc để tu Giác chứ
không Mê. Phật là giác chứ không mê; nay chúng ta đang
học tập chuyện giác chứ không mê này nên gọi là “Phật
sự”. Như vậy, pháp sự Tam Thời Hệ
Niệm thoạt nh́n dường như để độ
vong nhân, nhưng trên thực tế, kẻ c̣n lẫn người
mất cùng được lợi lạc. Kinh Địa
Tạng giảng rất rành rẽ, người chết
được hưởng một phần bảy lợi
ích, chính bản thân người tu chúng ta được hưởng
sáu phần bảy, chúng ta đạt được
lợi ích viên măn. Vong nhân được hưởng chút
phần lợi ích ǵ? Là được cảnh tỉnh.
Nếu họ hoảng nhiên đại ngộ, cùng chúng ta học
tập th́ họ sẽ đạt được lợi ích
viên măn. Nếu họ vẫn mơ mơ màng màng, nay chúng ta
lay tỉnh họ, lôi kéo họ; họ vẫn không giác
ngộ, chủng tử đă gieo trong A Lại Da Thức
không thể phát khởi trong hiện tiền, th́ đó
gọi là “chỉ được hưởng một
phần bảy lợi ích”. Lư và Sự của chuyện
này chúng ta đều phải nên hiểu rơ, phải minh
bạch. Nay trong ba thời chuyên tu, chúng ta đang tu thời
thứ nhất của ba thời.
Chỉ như bất thiệp
chứng tu, thân mông thọ kư nhất cú, như hà cử
dương? .
只如不涉證修。親蒙授記一句。如何舉揚。
(Nhưng nếu không lạm
dự cả tu lẫn chứng, giải thích câu nói “đích
thân được Phật thọ kư” như thế nào
đây?)
Đây là câu nói của nhà Thiền, nay
chúng ta chất phác niệm Phật, nhất tâm hệ
niệm, chúng ta chẳng dính dáng đến việc
chứng quả lẫn phương pháp tu, các pháp khác ta
đều không can dự đến, vậy th́ phải
hỏi: “Thân mông thọ kư nhất
cú” (câu nói: ‘Đích thân được Phật thọ kư),
A Di Đà Phật đích thân thọ kư cho chúng ta, phải
giảng câu này như thế nào? “Như
hà cử dương”: Nói theo cách bây giờ, [“như hà cử dương”]
là giải thích như thế nào, hoặc là phải được
hiểu như thế nào. Thông thường sau khi câu
hỏi được nêu ra, nhất định [vị pháp
sư chủ tŕ pháp sự Tam Thời Hệ Niệm] phải
trầm mặc một hai phút để mọi
người đều ngưng lặng. Tịnh cực
quang thông (tịnh đến mức cùng cực sẽ sáng
tỏ), mọi người tịnh rồi, tịnh sẽ
sanh huệ, khi ấy chỉ một câu bèn có thể
cảnh tỉnh quư vị khiến cho quư vị từ
đó ngộ nhập. Tông môn gọi đó là “Thiền
cơ”. Ngài Trung Phong là thiền sư mà! Như vậy, trong
Pháp Sự này quả thật có Thiền, có Tịnh. Ngài nói
hai câu kệ:
Phong ngâm thụ thụ thiên ban
nhạc, hương tẩm tŕ tŕ tứ sắc hoa.
風吟樹樹千般樂。香浸池池四色華。
(Gió
luồn cây tấu ngàn muôn nhạc, ao bốn màu sen tỏa
ngát hương).
Quư
vị có hiểu hai câu này hay không? Quư vị không biết là quư
vị không thể hỏi ư nghĩa của hai câu này, v́ sao?
V́ đây là Thiền cơ. Nếu quư vị hiểu th́
sẽ do hai câu này bèn đại triệt đại
ngộ. Không hiểu cứ việc nói là không hiểu. Không
hiểu th́ “A Di Đà Phật
thân kim sắc” ở phần sau cứ chất phác
niệm đi! Ư nghĩa được diễn tả trong
hai câu này, chúng tôi thực sự không hiểu ư nghĩa. Tôi
vừa mới nói đó thôi, Thiền cơ mà! Nh́n từ mặt
ngoài th́ câu đầu tiên diễn tả hàng cây bảy báu
nơi trong Tây Phương thế giới.
“Phong
ngâm thụ thụ thiên ban nhạc”: Trong cảnh giới
Tây Phương Cực Lạc thế giới, gió lùa qua cây
báu, cành, lá, hoa, quả của cây báu gió vừa lay bèn va
chạm nhau, giống như những cái “phong linh” (wind
chimes) hiện thời, âm thanh rất mỹ diệu.
Những cái phong linh chúng ta dùng hiện thời quá nửa
làm bằng đồng, cũng có cái làm từ những
phiến mỏng bằng pha lê hay thủy tinh, âm thanh
hết sức thanh tao. Gió rung cây báu nơi Tây Phương
Cực Lạc thế giới bèn phát ra âm thanh thuyết
pháp, muốn nghe âm thanh nào đều được nghe âm
thanh ấy, chẳng thể nghĩ bàn! Muốn nghe kinh ǵ,
gió, nước đều thuyết pháp, sáu trần
thuyết pháp, đó là do oai thần của A Di Đà
Phật gia tŕ.
Thật ra, trong thế giới
này sáu trần có thuyết pháp hay không? Cũng thuyết pháp,
cũng biểu thị pháp, tiếc là chúng ta không hiểu.
Nếu chúng ta thực sự hiểu, ắt sẽ lănh
hội: Tam thế hết thảy chư Phật, Bồ Tát
vốn chẳng rời chúng ta một bước,
đều hiện diện v́ chúng ta thuyết pháp, không pháp
nào chẳng nói. Pháp ấy có tên chung là Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, mở rộng ra
thành vô lượng vô biên Phật pháp. Đúng là vi trần
nói, cơi nước nói, Phật nói, Bồ Tát nói, sơn hà
đại địa, cây cối hoa quả không lúc nào
chẳng thuyết pháp. Chỉ v́ chúng ta mê quá sâu, không
nhận biết được. Mấy năm qua, đọc
kinh Hoa Nghiêm mới hiểu được một chút
sự t́nh, mới biết hết thảy hữu t́nh và vô
t́nh đều biểu thị pháp, hoặc thuyết pháp.
Chúng ta chỉ mới hiểu được chút ít sự
việc như vậy.
Đến khi nào chúng ta mới có thể
tiếp nhận thông điệp ấy? Đến khi nào quư
vị nhất tâm bất loạn sẽ lănh nhận
được, cảm nhận được, quư vị
bèn thấy đạo, nghe đạo, nếm đạo,
ngửi đạo. Đạo ấy chẳng phải là cái
đạo để đạt được, nó là vô thượng
đại đạo, thấy đạo, nghe đạo,
nếm đạo, ngửi đạo. Lúc ấy, quư vị
mới hiểu nơi đây vốn là thế giới Hoa
Tạng, vốn là Cực Lạc. Trong pháp hội này, qua những
lời khai thị đơn giản ngắn ngủi, thiền
sư Trung Phong đă nhắc đến những ư nghĩa
đó.
“Hương
tẩm tŕ tŕ”: “Tŕ tŕ” là
ao bảy báu, nước tám công đức. “Tứ sắc hoa”: Kinh Di Đà nói hoa sen có bốn
màu. Bốn màu ở đây là bốn nguyên sắc (màu
gốc), bốn sắc dung hợp lại sẽ thành vô
lượng vô biên màu sắc, đẹp đẽ khôn
ngằn. Đó là ư nghĩa trên mặt văn tự của
hai câu này, c̣n mật nghĩa rất sâu trong ấy quư vị
phải tự lănh hội, ngôn ngữ dứt bặt, tâm
hạnh xứ diệt. Nay đă hết giờ rồi,
chúng tôi giảng đến đây mà thôi!
Tập
42
9. Kệ Tán Phật
Xin xem tiếp phần Tán Phật Kệ[13]. Hệ
Niệm Pháp Sự chia thành ba thời, trong ba thời
đều có phần Niệm Phật, tức là lấy
tụng kinh, niệm Phật làm chánh, trong ấy xen vào
những phần khai thị để thời thời
khắc khắc cảnh tỉnh. Tám câu kệ tán Phật
này chúng ta thường hay đọc, mọi người
đều niệm rất quen, ư nghĩa rất rơ ràng. Chúng
tôi giới thiệu đại lược như sau:
A Di Đà Phật thân kim sắc,
Tướng hảo quang minh vô
đẳng luân.
阿彌陀佛身金色。
相好光明無等倫。
(A Di Đà
Phật thân vàng ṛng,
Tướng
tốt quang minh khôn sánh ví).
Chúng tôi giảng hai câu này. Câu thứ
nhất tán thán thân tướng của A Di Đà Phật,
thân chân tử ma kim sắc (thân có màu như vàng ṛng màu tía được
giồi mài sáng bóng), thân xinh đẹp. Tán Phật chính là
tán chính ḿnh, bởi lẽ mỗi người niệm
Phật chúng ta sau khi sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, thân thể và tướng hảo
của chúng ta giống hệt đức A Di Đà Phật.
Do vậy, thế giới Cực Lạc là thế giới thực
sự b́nh đẳng, quư vị có thể thấy
được điều này từ bốn mươi tám
nguyện. A Di Đà Phật phát đại nguyện: Chúng
sanh trong cơi nước của Ngài nếu chẳng giống
hệt Phật, Ngài thề chẳng thành Phật. Nay Ngài
đă thành Phật mười kiếp, chứng tỏ
nguyện ấy đă được thỏa, nguyện nào
cũng viên măn, đều thành hiện thực. Do vậy,
chúng ta không c̣n mảy may nghi ngờ ǵ nữa: Văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, thân thể và
tướng hảo nhất định phải giống
với Phật. V́ thế, thấy tướng hảo
của Phật chính là thấy tướng hảo của
chúng ta trong tương lai khi văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Đọc bài tán tụng này có
động tâm hay chăng? Động tâm nghĩa là phát nguyện,
phải văng sanh, phải sanh về cơi nước ấy.
Câu thứ hai: “Tướng
hảo quang minh vô đẳng luân”, chẳng phải
như trong thế gian này chúng ta thường nói ba
mươi hai tướng, tám mươi tùy h́nh hảo.
Trong kinh Phật cũng thường nói: Thân ấy (tức
thân ba mươi hai tướng, tám mươi tùy h́nh
hảo) là Liệt Ứng Thân (thân ứng hiện ở mức
độ thấp kém). Con người trong thế giới Sa
Bà của chúng ta đây, nay gọi là người trên
địa cầu, cho rằng ba mươi hai
tướng, tám mươi tùy h́nh hảo là quư tướng
trong thế gian, tức là tướng phú quư, tướng
phước đức, thực sự viên măn rốt ráo, nên
đức Phật thị hiện như thế đó, chứ
tướng hảo thực sự [nơi báo thân của Phật],
người thế gian chúng ta không thể nào tưởng
tượng được nổi. Trong kinh đức
Phật dạy: Báo thân của Như Lai có vô lượng
tướng, chứ không phải chỉ là ba mươi hai
tướng. Mỗi tướng có vô lượng hảo,
chứ không phải chỉ có tám mươi tùy h́nh hảo.
Tướng và tùy h́nh hảo đều vô lượng vô
tận.
“Tướng
hảo” là quả báo do chính
ḿnh tu hành viên măn. Chúng ta có thể nói “quang minh” là quả báo tiếp dẫn và giáo hóa
chúng sanh, nhân viên quả măn. “Vô
đẳng luân” là không có ǵ bằng, không có ai có thể
sánh bằng được. Những ai vậy? Hết
thảy Bồ Tát, những người kém hơn Bồ Tát
đừng nói làm chi, ngay cả Pháp Thân Bồ Tát,
Địa Thượng Bồ Tát, Đẳng Giác Bồ
Tát đều chẳng thể sánh bằng Phật. Như
vậy, Tây Phương Cực Lạc thế giới
thật chẳng thể nghĩ bàn!
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di.
白毫宛轉五須彌。
(Năm Tu
Di uyển chuyển bạch hào).
Bạch Hào là hai sợi lông trắng
giữa hai mày đức Phật. Đức Phật nói
tướng Bạch Hào có tám cạnh, chính giữa trống
rỗng, trong suốt. Hai sợi Bạch Hào ấy rất
dài, cuộn tṛn lại, trông giống như một viên minh
châu trên trán giữa hai chân mày. Bạch Hào không phải là minh
châu, mà là hai sợi lông màu trắng cuộn tṛn lại, là một
trong ba mươi hai tướng, nhưng ba mươi hai
tướng thế gian chẳng thể sánh bằng
được. Bạch Hào cuộn lại lớn
đến chừng nào? To bằng năm quả núi Tu Di, quư
vị nghĩ xem thân tướng Phật rất to lớn!
Tu Di là quả núi cao nhất trong thế giới Sa Bà. Trong
kinh, đức Phật dạy chúng ta: Địa cầu
này gọi là Nam Thiệm Bộ Châu, tức là một
tiểu tinh cầu ở quanh núi Tu Di. Núi Tu Di không ở trên
địa cầu, rất nhiều người nghĩ núi
Tu Di chính là núi Hỷ Mă Lạp Nhă tức ngọn núi cao
nhất trên địa cầu này. Nếu chỉ là núi
Hỷ Mă Lạp Nhă th́ Bạch Hào to bằng năm quả
núi Hỷ Mă Lạp Nhă là cũng đă phi thường
rồi! Nếu Thích Ca Mâu Ni Phật đầu to tối thiểu
cũng bằng quả địa cầu th́ thân tướng
của Ngài lớn đến chừng nào? Chẳng thể
nghĩ bàn! Chúng ta không có cách ǵ tưởng tượng
được!
Núi Tu Di chẳng ở trên địa cầu, mặt
trời, mặt trăng xoay
quanh núi
Tu
Di; nay chúng ta biết mặt trời, mặt trăng không
xoay quanh núi Hỷ Mă Lạp Nhă. Chúng xoay quanh đâu? Xoay quanh
hệ Ngân Hà, khoa học hiện tại nói rất rơ ràng.
Lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ nói: Do đây biết rằng
trên thực tế, một hệ Ngân Hà chính là một
đơn vị thế giới được nói trong kinh
Phật. Núi Tu Di ở đâu? Ở ngay chính giữa Ngân Hà,
lớn cỡ nào? Nói thật ra, phải lớn gấp
rất nhiều lần so với Thái Dương Hệ.
Tướng Bạch Hào của Phật lớn như
thế đó. Chúng ta nghĩ xem đầu đức
Phật lớn cỡ nào? Tối thiểu phải lớn
bằng một hệ Ngân Hà. Thân tướng như vậy
th́ quư vị làm sao tưởng tượng được
nổi!
Cám[14] mục trừng thanh tứ đại
hải.
紺目澄清四大海。
(Bốn
biển lớn trong ngần mắt biếc).
Đây là nói về mắt đức
Phật. Mắt Phật lớn cỡ nào? Giống như
biển cả, to như biển. Đây là tỷ dụ
để chúng ta từ đó hiểu thân tướng của
đức Phật vĩ đại chẳng thể
nghĩ bàn, rồi th́ sẽ tưởng tượng Tây
Phương Cực Lạc thế giới lớn lao
đến độ nào. Người trong thế giới
Cực Lạc đều cao lớn như vậy, số người
trong thế giới ấy không có cách ǵ tính toán
được. Trong kinh điển, đức Thế Tôn chỉ
giới thiệu một hạng người là A La Hán mà đă
không có cách ǵ tính toán được, chỉ có thể nói là “dĩ vô lượng vô biên
A-tăng-kỳ thuyết” (dùng vô lượng vô biên A
Tăng Kỳ để nói), vô lượng vô biên A-tăng-kỳ!
“chư Bồ Tát chúng diệc
phục như thị” (các vị Bồ Tát cũng
giống như thế). Ngoài các vị Bồ Tát c̣n có chúng
trời người trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ
từ mười phương thế giới sanh về,
không biết là bao nhiêu. Vậy th́ thế giới ấy
phải bao lớn? Không thể nghĩ bàn!
Nếu đem địa cầu
đặt trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới sẽ chẳng thấy ǵ hết. Địa
cầu c̣n chẳng thấy, huống ǵ người trên
địa cầu? Đại khái chúng ta biến thành vi sinh
vật, e rằng kính hiển vi cao cấp c̣n chưa nh́n
thấy được, con người quá nhỏ bé.
Thế nhưng trong kinh điển Đại Thừa, Phật
thường dạy chúng ta: Trong tâm tánh không có lớn hay
nhỏ; trong nhỏ có thể hiện lớn, trong lớn
có thể hiện nhỏ, đó là cảnh giới giải
thoát chẳng thể nghĩ bàn. Kinh Hoa Nghiêm bảo không có lớn
hay nhỏ. V́ vậy, trong vi trần có thế giới,
Phổ Hiền Bồ Tát thường vào trong đó.
Thế giới trong vi trần không nhỏ, chúng ta cảm
nhận thế giới ấy giống hệt như
đại vũ trụ vậy, không khác ǵ hết. Vi
trần không nở to ra, thế giới cũng không rút
nhỏ lại.
Một vi trần có phải là một
thế giới? Không chỉ như vậy. Vô lượng
vô biên thế giới ở trong một vi trần, chẳng
thể nghĩ bàn! V́ sao? Trong vi trần có thế giới,
trong thế giới lại có vi trần, trong vi trần
lại có thế giới. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức
Thế Tôn dạy chúng ta chân tướng sự thật:
Thế giới trùng trùng vô tận, không lớn hay nhỏ.
V́ sao lại có hiện tượng ấy? Kinh Phật
thường nói: Pháp vốn là như vậy (pháp nhĩ như
thị), vốn sẵn là như thế đó. Chẳng có
lư do ǵ cả, vốn sẵn là như thế, Pháp Tánh là
như thế. Chư Phật Bồ Tát dạy chúng ta không
nhằm mục đích nào khác, chỉ nhằm khiến cho chúng
ta minh tâm kiến tánh, khế nhập cảnh giới này.
Đó là đại viên măn. Như vậy, tám câu kệ chúng
ta thường niệm này nói lên cảnh giới thực
sự chẳng thể nghĩ bàn!
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên.
光中化佛無數億。
化菩薩眾亦無邊。
(Trong quang
minh hóa vô số Phật,
Hóa các
Bồ Tát cũng vô biên).
Hai câu kệ này nói về quang minh. Hai câu
trước tán dương tướng hảo. “Bạch
hào, cám mục” đều là tướng hảo, nêu một
hai tướng hảo đại diện. Trong quang minh
cũng chỉ nêu tượng trưng. “Quang trung hóa Phật vô số ức”: Một
Phật chính là hết thảy Phật, hết thảy
Phật chính là một Phật. Nếu quư vị quả
thật hiểu được đạo lư này, sẽ
không hoài nghi: Phật nhiều đến như thế, sao
ta chỉ thân cận một ḿnh A Di Đà Phật, không thân
cận các vị Phật khác? Danh hiệu Phật nhiều
như thế, sao lại chỉ khăng khăng niệm A
Di Đà Phật, không niệm những đức Phật
khác? Nghi vấn ấy không c̣n nữa! V́ sao? Một chính là
nhiều, nhiều chính là một, một và nhiều không
hai. V́ sao không niệm Thích Ca Mâu Ni Phật, lại niệm A
Di Đà Phật? Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta niệm
A Di Đà Phật. V́ sao không niệm các đức Phật
khác? Hết thảy các đức Phật khác đều
dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật, chúng ta phải
thuận theo. Thuận theo chính là hiếu thuận, thuận
theo là tôn sư.
Tuân theo lời thầy răn dạy nhất định có điều hay, hay như thế nào?
Bây
giờ không cần phải hỏi, đến thế
giới Cực Lạc rồi, quư vị sẽ hoàn toàn
hiểu rơ. Thật giống như ví dụ ba cỗ xe trong
kinh Pháp Hoa vậy, ba cỗ xe tỷ dụ điều ǵ?
Phù hợp căn cơ. Kinh Pháp Hoa ví thế giới Sa Bà
như một căn nhà đang bốc cháy, đức Phật
như một vị đại trưởng giả,
tất cả hết thảy chúng sanh trong thế giới
này là con cái của Ngài. Căn nhà đột nhiên bốc
cháy, trẻ thơ không hay biết vẫn cứ chơi
giỡn trong ấy, kêu chạy ra không chịu ra. Lúc đó,
người làm cha biết những thứ mà con thơ yêu
thích, ham mến: “Ngoài cửa cha bày rất nhiều
đồ chơi, có xe dê, xe nai, xe ngựa. Ra khỏi
cửa, tụi con thích chơi món ǵ th́ chơi món ấy”. Con
thơ nghe nói, như ong vỡ tổ xông ra. Ra khỏi nhà
rồi, không có xe dê, cũng chẳng có xe nai, chỉ có xe
ngựa. Xe ngựa gọi là đại bạch ngưu xa (“đại bạch ngưu xa”
là xe ngựa), ví như Đại Thừa. Ra khỏi nhà
lửa rồi đều ban cho Đại Thừa,
đều đăi ngộ b́nh đẳng. Đó mới là thực
sự sanh tâm đại hoan hỷ, ban cho quư vị thứ
tốt đẹp nhất.
V́ thế, trong quang minh của A Di Đà
Phật, bạch hào phóng quang, “quang
trung hóa Phật vô số ức”, “hóa Bồ Tát chúng diệc
vô biên”. Biến hóa để làm ǵ? Đến mười
phương thế giới phổ độ chúng sanh.
Những vị Phật, những vị Bồ Tát ấy
ở trong mười phương thế giới, nên dùng
thân ǵ để độ bèn hiện ra thân ấy. Như
quư vị thường niệm phẩm Phổ Môn; phẩm
Phổ Môn nói Quán Thế Âm Bồ Tát ứng hiện ba
mươi hai thân, nên dùng thân Phật để độ
bèn hiện thân Phật, nên dùng thân Bồ Tát để
độ bèn hiện thân Bồ Tát. Nên dùng thân Thanh Văn
để độ bèn hiện thân Thanh Văn. Nên dùng thân
tể quan để độ bèn hiện thân tể quan.
Nên dùng thân đồng nam, đồng nữ (trẻ trai, trẻ
gái) để độ bèn hiện thân đồng nam,
đồng nữ. Thân tướng nào Ngài cũng hiện
được, ở đâu vậy? Chính ngay trong xă hội
chúng ta đây.
Từ sáng đến tối chúng ta
tiếp xúc rất nhiều người, không thể nói xác
quyết trong số ấy ai là Phật, Bồ Tát thị
hiện. Chúng ta phàm phu mắt thịt không nhận biết,
các Ngài cũng chẳng hé lộ thân phận, chúng ta làm sao
biết được? Trên thực tế, họ do A Di
Đà Phật biến hóa ra, họ chính là A Di Đà
Phật, chứ không phải ai khác! Trong lịch sử Trung
Quốc, dường như có mấy vị bộc lộ
thân phận. Vĩnh Minh Diên Thọ là A Di Đà Phật hóa thân,
chúng tôi cho rằng có lẽ Ngài chính là một vị
Phật được biến hóa từ quang minh, hay là
Bồ Tát hóa hiện từ quang minh. Ngài đến thị
hiện trong thế gian này, xuất hiện dưới thân
phận tổ sư. Nghe nói Thiện Đạo đại
sư cũng là hóa thân của A Di Đà Phật. Ngoài ra c̣n
có ḥa thượng Phong Can ở chùa Quốc Thanh tại núi
Thiên Thai cũng là hóa thân của A Di Đà Phật. Có
mấy vị bộc lộ thân phận, c̣n những vị
không
bộc
lộ thân phận chẳng biết là bao nhiêu.
Do vậy, Phổ Hiền Bồ Tát
dạy chúng ta lễ kính chư Phật là hữu lư. Quư
vị coi thường ai ư? Lỡ người ấy là
Phật, Bồ Tát hóa hiện, nếu quư vị biết
được thân phận của người ấy, không
cảm thấy hết sức đáng than thở ư? Quư
vị nghĩ xem: Ḿnh thấy Phật ngay trước
mắt mà bỏ lỡ, vẫn coi thường người
ta. V́ thế, trong ḷng chúng ta phải sanh tâm b́nh đẳng,
tâm cung kính, lễ kính chư Phật. Huống chi trong
hết thảy chúng sanh quả thật có rất nhiều
Phật, Bồ Tát hóa thân.
Tứ thập bát nguyện độ
chúng sanh.
四十八願度眾生。
(Bốn
mươi tám nguyện độ chúng sanh).
Đây là nói về nguyện tâm. A Di
Đà Phật có bốn mươi tám nguyện, nguyện
nào cũng đều v́ độ chúng sanh. Trong số các
vị cổ đại đức, có vị chuyên môn
đề xướng Bổn Nguyện Niệm Phật.
Cổ nhân đề xướng không sai, con người
hiện tại hiểu sai, cho bổn nguyện chỉ là
nguyện thứ mười tám. Họ không hiểu. Thiền
sư Trung Phong giảng rất rơ ràng, trong phần Khai
Thị ở phía sau chúng ta sẽ đọc thấy:
Bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật là một
nguyện, là một bổn nguyện. Mỗi một
nguyện nhất định bao gồm bốn mươi
bảy nguyện kia. Hễ thiếu một nguyện nào th́
nguyện ấy của Phật sẽ không viên măn, sẽ
bị thiếu sót. Nguyện nguyện dung nhiếp lẫn
nhau, bất cứ một nguyện nào cũng viên măn trọn
đủ bốn mươi tám nguyện. Đấy chính
là bổn nguyện của A Di Đà Phật. Như
vậy, “bổn nguyện niệm Phật” là hoàn toàn tuân
thủ bốn mươi tám nguyện, chứ không phải
chỉ chọn lấy một nguyện trong bốn
mươi tám nguyện, không phải như vậy. Nếu
chỉ chọn lấy một nguyện, bốn mươi
bảy nguyện kia không c̣n nữa th́ nguyện này cũng
không thể thành lập. Nhất định phải
hiểu rơ đạo lư này, muôn vàn chẳng được
hiểu sai. Nếu hiểu sai th́ cả đời này, quư
vị tu uổng công, chẳng thể văng sanh.
Sau khi Tịnh Tông Học Hội
được thành lập, chúng tôi quán sát kỹ càng căn
cơ con người hiện thời, chúng tôi tu chỉnh
kinh văn nghi thức để đọc
tụng trong khóa tụng sáng tối, sửa đổi
đôi chút. V́ sao? Nhằm thích hợp với con
người hiện tại. Khóa tụng do cổ
đức biên soạn thích hợp với người thời
ấy. Trong xă hội hiện đại, con người
hiện đại có tư tưởng, kiến giải, sinh
hoạt, và hành vi khác với cổ nhân; do vậy, kinh
văn để tụng trong hai khóa tụng sáng tối
không thể không tu chỉnh. Do đó, kinh văn để đọc
tụng trong khóa sáng không phải là tụng chú Lăng Nghiêm,
cả mười chú nhỏ cũng không niệm. Quư vị
hỏi tại sao ư? Chúng tôi vừa mới nói đó,
niệm kinh không bằng niệm chú, niệm chú không
bằng niệm Phật!
Công đức lợi ích của một
câu hồng danh A Di Đà Phật này thù thắng hơn chú
Văng Sanh, vượt trỗi hết thảy các thần chú,
vượt trỗi hết thảy các pháp công đức
Đại Thừa. Trong thời gian này, nghiệp
chướng, phiền năo, tai nạn nghiêm trọng như
vậy, dùng các phương pháp khác không thể cứu
được, chỉ có sáu chữ hồng danh mới có
thể cứu. Lời này không phải do tôi nói đâu nhé, mà
do Liên Tŕ đại sư nói đấy, do Ngẫu Ích
đại sư nói đấy. Trước kia, pháp sư Từ
Vân Quán Đảnh cũng nói (Ngài sống vào thời Càn
Long). Trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh Trực Chỉ
(bản chú giải Quán Kinh của ngài Từ Vân gọi là
Trực Chỉ hoặc Quán Kinh Trực Chỉ), tôi đọc
thấy Ngài nói đến chuyện tiêu nghiệp
chướng. Nghiệp chướng nghiêm trọng nhất
trong thế giới này, nếu tất cả kinh chú và sám
pháp đều không thể tiêu được th́ vẫn c̣n
một phương pháp cuối cùng là tŕ danh niệm
Phật sẽ có thể tiêu nghiệp chướng.
Điều này chứng tỏ công đức tŕ danh
niệm Phật thù thắng khôn sánh, không có pháp môn nào có
thể sánh bằng, đúng là “vô
đẳng luân”.
“Tứ
thập bát nguyện độ chúng sanh” là tín nguyện tŕ danh. Nguyện là
bốn mươi tám nguyện. Đấy chính là cốt
lơi của Tịnh tông, pháp môn Tịnh tông dựa trên
bốn mươi tám nguyện. Quư vị hăy chú tâm quan sát,
một bộ Vô Lượng Thọ kinh giảng những
ǵ vậy? Từ đầu đến cuối là nói về
bốn mươi tám nguyện. Một bộ Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh giảng những
ǵ? Chính là giảng Đại Thừa Vô Lượng
Thọ Kinh. Do đây biết rằng: Vô Lượng
Thọ kinh nhằm chú giải, giảng giải bốn
mươi tám nguyện, c̣n Hoa Nghiêm là giảng giải
tường tận bốn mươi tám nguyện,
chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta phải tin vào bốn
mươi tám nguyện, nguyện nào cũng chẳng nghi hoặc,
tin nhận vâng làm. Biến bốn mươi tám nguyện
của A Di Đà Phật thành bổn nguyện của
bản thân, ta và A Di Đà Phật đồng tâm,
đồng nguyện, đồng đức, đồng
hạnh, làm sao không văng sanh cơ chứ? Chí đồng
đạo hợp với A Di Đà Phật mà! Câu kệ
tiếp theo đây nói về quả đức:
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ
ngạn.
九品咸令登彼岸。
(Chín
phẩm đều đưa lên bến giác).
V́ sao có chín phẩm? V́ công phu học
tập và thành tích có sai khác, người công phu cao phẩm
vị bèn cao, người công phu kém hơn một bậc th́
phẩm vị phải kém hơn một chút, đạo lư
là như vậy. Trước kia, tôi nghĩ chắc không ít các
vị đồng học c̣n nhớ, ở nước
Mỹ có một vị Thượng Sư[15] bảo
mọi người “đới nghiệp chẳng thể
văng sanh, phải tiêu nghiệp mới được văng
sanh”. Bọn họ kêu gọi đồng học t́m trong
Đại Tạng Kinh, t́m không ra chữ “đới nghiệp văng sanh”, bèn khẳng
định đới nghiệp chẳng thể văng sanh,
phải tiêu nghiệp mới ḥng văng sanh! Sự việc
ấy chấn động toàn thể những vị
đồng tu niệm Phật trên toàn thế giới. Có
rất nhiều người hoài nghi, làm thế nào đây?
Đới nghiệp chẳng thể văng sanh, bọn ḿnh
hết hy vọng rồi, ngay cả những người
tu hành đă lâu cũng bị dao động.
Nhằm ngay lúc ấy, tôi từ Đài
Loan đến Lạc Sam Cơ (
- Thưa pháp sư! Hiện tại có
người nói đới nghiệp chẳng thể văng
sanh, làm như thế nào đây?
Tôi nghe mấy câu ấy bèn mỉm
cười:
- Không thể văng sanh th́ thôi!
Cụ nghe tôi nói vậy rất kinh
ngạc, ngây người ra đó, không nói được
câu nào. Sau đó, tôi mới giải thích cùng cụ:
- Nếu đới nghiệp chẳng
thể văng sanh th́ Tây Phương Cực Lạc thế
giới chỉ trơ trọi có mỗi một ḿnh
đức A Di Đà Phật, chứ c̣n ǵ nữa!
Cụ nghe vẫn không hiểu câu nói
đó. Tôi thấy vậy, lại nói thêm chút nữa, tôi nói:
- Quán Âm, Thế Chí là Đẳng Giác
Bồ Tát, đúng không?
Cụ đáp:
- Đúng!
- Như cụ biết đó:
Đẳng Giác Bồ Tát vẫn c̣n một phẩm sanh
tướng vô minh chưa đoạn, như vậy có tính
là đới nghiệp hay không?
Tôi nói vậy cụ hiểu liền,
cười x̣a. Đẳng Giác Bồ Tát vẫn c̣n
đới nghiệp, chỉ có Như Lai mới không
đới nghiệp, cụ hiểu rơ ngay. Nếu không
đới nghiệp th́ Tây Phương Cực Lạc
thế giới chẳng phải là trơ trọi một
ḿnh A Di Đà Phật hay sao? Ngoại trừ chư Phật
Như Lai, ai không đới nghiệp? Chỉ là đới
nghiệp nhiều hay ít khác nhau! Đới nghiệp ít th́
phẩm vị cao, đới nghiệp nhiều th́ phẩm
vị thấp! Tôi nói: “Tra trong Đại Tạng không
thấy nói đới nghiệp văng sanh ư?” Tôi bèn
hỏi:
- Tây Phương Cực Lạc thế
giới có nói đến bốn cơi hay không? Có! Có nói chín
phẩm hay không? Có! Nếu không đới nghiệp th́
bốn cơi chín phẩm ở đâu ra? Chẳng phải
bốn cơi chín phẩm đă cho thấy đều là
đới nghiệp, đới nghiệp ít phẩm vị
cao, đới nghiệp nhiều phẩm vị thấp,
hoàn toàn minh bạch!
Tôi bảo:
- Cụ cứ chắc thật niệm
Phật, chớ nghe lời đồn đăi. Huống chi
Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta bốn pháp Tứ Y: “Y pháp bất y nhân, y nghĩa
bất y ngữ” (Nương
theo pháp không nương theo người, nương vào
nghĩa chứ không nương theo văn tự, lời nói).
Văn tự là kư hiệu của ngôn ngữ, đức Phật
không nói như thế, nhưng bao hàm những nghĩa
như thế. Ngài giảng bốn cơi chín phẩm là có ư
như vậy, ư nghĩa đới nghiệp văng sanh là có.
Chúng ta y nghĩa, không y ngữ, chẳng phải vấn
đề đă được giải quyết rồi
ư?
“Cửu
phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn”: Bốn cơi đều có chín phẩm.
Ngày nay nói thật ra, chúng ta đới nghiệp đông
nhất, [văng sanh về] Phàm Thánh Đồng Cư
độ. Thường nói là “nghiệp tập phiền năo”,
chúng ta đới nghiệp văng sanh là Vô Minh phiền năo,
Trần Sa phiền năo, Kiến Tư phiền năo
đều mang theo hết. Tiểu Thừa A La Hán, Quyền
Giáo Bồ Tát đă đoạn Kiến Tư phiền năo,
vẫn đới nghiệp: Họ mang theo Vô Minh phiền
năo và Trần Sa phiền năo. Đó là tứ thánh pháp
giới. Sanh về Nhất Chân pháp giới, phá một
phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, sanh vào
Thật Báo Trang Nghiêm độ, c̣n đới nghiệp hay
không? Vẫn c̣n, mang theo ǵ? Mang theo Vô Minh phiền năo,
bốn mươi mốt phẩm Vô Minh. V́ thế, bốn
mươi mốt địa vị Pháp Thân đại
sĩ trong hội Hoa Nghiêm cứ đoạn một
phẩm vô minh, phẩm vị bèn nâng cao lên một bậc.
Đoạn sạch bốn mươi mốt phẩm Vô
Minh, chứng địa vị Diệu Giác là Phật
Quả trong Viên Giáo. Chứng Diệu Giác là không đới
nghiệp. Như vậy, Đẳng Giác Bồ Tát vẫn
c̣n mang theo một phẩm sanh tướng vô minh, há có thể
nói là không đới nghiệp ư?
“Cửu
phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn”: Hàm (咸) là phổ độ. Đúng là
b́nh
đẳng phổ độ từ chúng sanh trong
địa ngục đến Đẳng Giác Bồ Tát, câu
này có ư nghĩa như thế. Chín phẩm hàm linh lên bờ
kia, trên đến Đẳng Giác Bồ Tát, dưới
đến chúng sanh địa ngục đều phổ
độ hết. Pháp môn rộng lớn chẳng thể
nghĩ bàn. Tám câu kệ này tán thán A Di Đà Phật tu hành
chứng quả, phổ độ chúng sanh đến cùng
cực; chúng ta chẳng thể không bội phục tổ
sư đại đức viết tám câu kệ này quá hay!
Măi cho đến tận giờ không ai dám thay đổi,
cũng không ai dám làm bài kệ khác để so sánh, viết
quá hay rồi. Tiếp theo là niệm Phật hiệu:
南無西方極樂世界。大慈大悲。阿彌陀佛。
10. Kệ
tán và phát nguyện
Chúng tôi lướt
qua câu này, tiếp theo là bài kệ tụng:
Đệ nhất
đại nguyện.
Quán tưởng Di Đà.
Tứ thập bát nguyện độ Sa
Bà.
第一大願。
觀想彌陀。
四十八願度娑婆。
(Đại
nguyện bậc nhất,
Quán
tưởng Di Đà,
Bốn
mươi tám nguyện độ Sa Bà).
Sau khi chúng ta niệm Phật phải phát
nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Cầu sanh Tịnh
Độ chính là đại nguyện bậc nhất, đại
nguyện bậc nhất của ai? Là đại nguyện
bậc nhất của hết thảy chư Phật
Như Lai. Lạ lùng thay! Chư Phật Như Lai vẫn
phải cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới ư? Đúng vậy, không sai! Chư
Phật Như Lai là ai? Những ai là chư Phật Như
Lai? Quư vị đọc cuốn Kim Cang Kinh Giảng
Nghĩa của cư sĩ Giang Vị Nông sẽ biết
ngay. Trong cuốn Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, cư sĩ
Giang Vị Nông bảo chúng ta: Kinh Kim Cang thường nói
đến chư Phật, “chư Phật” là nói về ai vậy?
Là nói đến các Pháp Thân đại sĩ. Từ Sơ
Trụ của Viên Giáo đến Đẳng Giác
đều là Phật, tức là Phần Chứng Tức
Phật, nghĩa là Phần Chứng Tức Phật trong sáu
loại Tức Phật do Thiên Thai đại sư đề
xướng. Họ là Phật thực sự, không phải
giả, nhưng có bốn mươi mốt tầng
lớp, nên gọi là “chư Phật”. Chư Phật Như
Lai, Văn Thù, Phổ Hiền mười đại
nguyện vương dẫn về Cực Lạc, chư
Phật Như Lai cũng niệm Phật cầu sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới, thân cận A Di Đà
Phật. C̣n nếu nói đến Bồ Tát th́ Bồ Tát là
Tương Tự Tức Phật, tức là những
vị thuộc nơi đâu? Thuộc trong Tứ Thánh pháp
giới! Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác trong bốn thánh pháp
giới và lục đạo chúng sanh.
Như vậy, đệ nhất
đại nguyện là đại nguyện của Pháp Thân
Như Lai. Pháp Thân Như Lai c̣n như thế, huống ǵ
chúng ta mà chẳng nên phát đại
nguyện này ư? Đương nhiên phải phát, nhất
định phải phát. Chẳng những phải phát
nguyện, mà c̣n sau khi phát nguyện rồi, c̣n phải “quán tưởng Di Đà, bốn
mươi tám nguyện độ Sa Bà”. Cốt lơi
của Tịnh Tông là bốn mươi tám nguyện. Bốn
mươi tám nguyện mở rộng thành Vô Lượng
Thọ Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh triển khai thành
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh triển khai thành
Đại Tạng Kinh như hiện thời. Trong tất
cả hết thảy Phật pháp, bốn mươi tám
nguyện là cốt lơi. Nay các đồng học Tịnh Tông
chúng ta lấy bốn mươi tám nguyện làm kinh văn
đọc tụng trong khóa sáng là do đạo lư này.
Khóa tối chúng tôi chọn từ
phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi
bảy của kinh Vô Lượng Thọ. Đoạn kinh
văn này là pháp sám hối, nội dung là Ngũ Giới,
Thập Thiện. Chúng ta đem đoạn kinh văn này
đối chiếu những khởi tâm động
niệm, ngôn ngữ, tạo tác của chính ḿnh trong suốt
một ngày hôm nay, đức Phật dạy chúng ta nên làm
những ǵ, chúng ta có làm được hay không? Đức Phật
dạy chúng ta không được làm ǵ, chúng ta có tuân thủ
hay không? Hăy nghiêm túc phản tỉnh. Đức Phật dạy
chúng ta những ǵ phải làm, những ǵ không được
làm th́ chúng ta nhất định phải y giáo phụng hành,
thực sự tu tập. Đó là lư do chọn những
đoạn kinh văn ấy làm khóa tụng sáng tối.
Cửu phẩm dũng kim ba.
九品湧金波。
(Chín
phẩm trỗi sóng vàng).
“Dũng
kim ba” (vọt lên trên mặt
sóng vàng) nghĩa là ǵ? Văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới là liên hoa hóa sanh. Hoa sen trong ao bảy báu,
đáy ao bảy báu trải cát bằng vàng, cát bằng vàng
làm đáy. V́ thế, nước trong ao bảy báu chói
sắc vàng. Hoa sen mọc lên từ cát vàng, hoa nở trên
mặt nước, “cửu
phẩm dũng kim ba” (chín phẩm vọt lên trên mặt
sóng vàng), câu này là tả cảnh. Chúng ta nghĩ xem: Trong ao
bảy báu có rất nhiều hoa sen như vậy,
người niệm Phật liên hoa hóa thân, chín phẩm
phổ độ, chỉ cần có duyên là không một ai chẳng
được độ. Thế nào là có duyên? Đối
với pháp môn tín nguyện tŕ danh này, quư vị có thể
tin, có thể phát nguyện, có thể niệm Phật, quư
vị chắc chắn được văng sanh. Phẩm
vị cao hay thấp là như Ngẫu Ích đại sư đă
giảng rất hay: Đều là do công phu tŕ danh sâu hay
cạn. Nếu quư vị hiểu được
đạo lư này, ta hy vọng sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới đạt phẩm vị cao
th́ đơn giản là một câu Phật hiệu suốt
ngày từ sáng đến tối không gián đoạn. Tay
cầm xâu chuỗi, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A
Di Đà Phật, trong mười hai thời không gián
đoạn, phẩm vị bèn cao. Chúng ta phải nhớ câu
nói ấy của Ngẫu Ích đại sư.
Rốt cuộc Ngẫu Ích đại
sư là người như thế nào? Ngài không bộc
lộ thân phận, nhưng chúng tôi xét rằng Ngài không
phải là hạng tầm thường. V́ sao? Ấn Quang
đại sư bộc lộ thân phận, Ngài là
Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai, Ấn Quang
đại sư là Đại Thế Chí Bồ Tát. Tổ
Ấn Quang tán thán A Di Đà Kinh Yếu Giải như sau: “Dẫu cho cổ Phật tái lai,
chú giải kinh A Di Đà cũng không thể hay hơn
được nữa!” Vậy th́ Ngẫu Ích
đại sư là hạng người nào? Chúng tôi cho
rằng: Nếu không phải là A Di Đà Phật đích thân
tự đến th́ cũng chắc chắn là Quán Thế
Âm Bồ Tát tái lai. Nếu không, sẽ chẳng xứng với
lời tán thán của Đại Thế Chí Bồ Tát, nhưng
Ngài không bộc lộ thân phận. Quả thật A Di
Đà Kinh Yếu Giải rất hay, người hiện
tại năm vóc gieo sát đất, đọc xong không ai
không động tâm. Động tâm ǵ? Cầu nguyện văng
sanh! Có sức nhiếp thọ lớn lao như thế, “cửu phẩm dũng kim ba”.
Bảo vơng giao la.
寶網交羅。
(Lưới báu giăng xen).
Cũng nhằm tả cảnh, Tây
Phương Cực Lạc thế giới có bảy
tầng lưới báu, bảy tầng hàng cây. “Bảy” biểu thị viên
măn, chứ không phải là con số.
Độ vong linh xuất ái hà.
度亡靈出愛河。
(Độ
vong linh vượt sông ái) .
Không chỉ độ vong linh mà c̣n là
độ chính chúng ta. Quư vị thực sự hiểu rơ, thực
sự biết Ái là phiền năo, tham ái là tham - sân - si -
mạn. “Xuất ái hà” là
vĩnh viễn thoát phiền năo, vĩnh viễn ĺa luân
hồi. Luân hồi là nói về quả, phiền năo là
luận về nhân. Cái nhân phiền năo biến hiện thành quả
báo luân hồi trong lục đạo. Đoạn
được cái nhân phiền năo th́ quả báo tự nhiên
không c̣n nữa. Chính là như đại sư Vĩnh Gia nói: “Giác hậu không không, vô
đại thiên” (Giác rồi tam giới rỗng toang
hoang). Bài tán tụng này chủ yếu là phát nguyện,
niệm Phật xong phải phát nguyện, phải cầu
chứng quả. Tiếp theo là:
南無蓮池會菩薩摩訶薩。
Liên Tŕ Hội Bồ Tát Ma Ha Tát là nói
đến ao sen bảy báu trong thế giới Cực
Lạc. Ao sen bảy báu nơi thế giới Cực
Lạc rất nhiều, chỗ nào cũng có. Ao sen có
lớn, có nhỏ. Rốt cuộc quư vị sẽ sanh vào ao
nào? Quư vị có cảm ứng với cái ao nào? Tôi nghĩ
rằng cảm ứng ao sen lớn hay nhỏ nhất
định do tâm lượng, có mối quan hệ với
tâm lượng. Tâm lượng của chúng ta nhỏ
sẽ sanh về ao sen nhỏ trong Tây Phương Cực
Lạc. Tâm lượng lớn sẽ sanh về ao sen lớn
trong Tây Phương Cực Lạc. V́ thế, chẳng thể
không mở rộng tâm lượng. Tâm bao thái hư,
lượng châu sa giới th́ quư vị sẽ sanh về ao
sen lớn. “Hết thảy pháp
từ tâm tưởng mà sanh”, Tây Phương Cực
Lạc thế giới cũng không ngoài lệ ấy. A! Nay
đă hết giờ rồi!
*
11. Khai thị
Hăy xem tiếp bài kệ sau đây trong
phần khai thị của thiền sư Trung Phong. Trong bài
kệ này, hai câu đầu là câu hỏi, hai câu sau là lời
đáp:
Chư khổ tận tùng tham dục
khởi,
Bất tri tham dục khởi ư hà?
Nhân vong tự tánh Di Đà Phật,
Dị niệm phân tŕ tổng thị ma!
諸苦盡從貪欲起。
不知貪欲起於何。
因忘自性彌陀佛。
異念紛馳總是魔。
(Các
khổ đều từ tham dục khởi,
Từ đâu
dục khởi biết chăng là?
Do quên
tự tánh Di Đà Phật,
Dị niệm
lăng xăng trọn hóa ma).
Hai mươi tám chữ này phô bày
trọn vẹn Thật Tướng của chúng sanh trong
lục đạo. Chúng ta niệm đi niệm lại,
nghĩ tới nghĩ lui, nhất định có chỗ
ngộ. “
Nếu bây giờ truy vấn: Tham dục
do đâu mà có? “Bất tri tham dục
khởi ư hà?” (Chẳng biết tham dục do đâu mà
dấy lên?) Con người v́ sao có tâm tham? V́ sao có dục
vọng? Chúng ta biết trong chân tâm bản tánh không có
những thứ ấy. Bởi thế, người giác
ngộ, người hiểu rơ bảo chúng ta: Những
thứ ấy không thật, chúng là hư vọng. Kinh Kim Cang
giảng rất hay: “Phàm sở
hữu tướng, giai thị hư vọng” (Phàm
những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng), “nhất thiết hữu vi pháp,
như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết thảy
pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng).
Vốn không có, v́ sao hiện thành có? Hiện tại
những thứ ấy trói buộc thân quư vị, quư vị không
có cách ǵ gỡ thoát, không có cách ǵ vượt khỏi
lục đạo luân hồi, chẳng thể thoát khỏi
khổ báo của ba chướng. Tiếp đó, thiền
sư Trung Phong v́ chúng ta chỉ ra:
“Nhân vong tự
tánh Di Đà Phật” (Do quên
tự tánh Di Đà Phật). Di Đà Phật là tự tánh,
tự tánh Di Đà Phật. Tự ḿnh vốn đă là
[Phật]. Danh hiệu A Di Đà Phật có thể dịch
được, không phải chẳng thể dịch
được. A dịch là Vô, Di Đà dịch là Lượng,
Phật là Giác. Chúng ta nghĩ xem: Tự tánh chẳng
phải là vô lượng giác hay sao? Vô Lượng Giác là A
Di Đà Phật; tự tánh vô lượng giác, vô
lượng trí huệ, vô lượng đức năng,
vô lượng tướng hảo; hết thảy vô
lượng một cách vô lượng. Tự tánh vốn
sẵn đầy đủ, chẳng thiếu khuyết
mảy may. Quên mất tự tánh, mê mất tự tánh nên
mới sanh khởi vọng tưởng, sanh khởi phân
biệt, sanh khởi chấp trước. Do vậy,
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là
phiền năo tập khí, từ đâu mà có? Từ mê mất
tự tánh mà ra.
Đại sư nói “nhân vong tự tánh” (do quên tự tánh) đă hay
rồi, sao c̣n phải thêm “Di
Đà Phật”? Dụng ư trong câu này rất sâu; câu này nói
theo lối song quan[16].
Quư vị quên mất tự tánh vô lượng giác, nay
khiến quư vị niệm A Di Đà Phật với ngụ
ư ǵ? Niệm cho vô lượng giác nơi tự tánh bật
ra, đó gọi là “một
niệm tương ứng một niệm Phật,
niệm niệm tương ứng niệm niệm
Phật”. V́ thế, Ngài không dùng danh hiệu Phật,
Bồ Tát nào khác, mà dùng [danh hiệu] A Di Đà Phật. Dùng
danh hiệu A Di Đà Phật v́ tất cả danh hiệu
Phật, Bồ Tát đều bao gồm trong ấy, đó
là tổng danh hiệu. Chúng tôi thường nói: Danh hiệu
ấy là tên gốc của tự tánh, hết thảy các
danh hiệu khác là biệt danh, biệt hiệu của
tự tánh, c̣n đây là bổn danh (tên chính, tên gốc).
Mê mất tự tánh, “dị niệm” bèn sanh khởi, dị niệm là
vọng tưởng, “phân tŕ” là
phân biệt, chấp trước, đó là ma! Trong kinh Bát
Đại Nhân Giác, đức Thế Tôn bảo có bốn
loại ma: Thứ nhất là Ngũ Ấm Ma; Sắc,
Thọ, Tưởng, Hành, Thức là Ngũ Ấm Ma. V́ sao
Ngũ Ấm biến thành Ma? V́ quên mất tự tánh Di
Đà Phật, nên Ngũ Ấm biến thành Ma. Nếu quư
vị giác ngộ, t́m được A Di Đà nơi
tự tánh, th́ Ngũ Ấm biến thành Phật.
Đấy chẳng phải là y báo chuyển theo chánh báo
đó ư? Chẳng phải là như trong kinh, đức
Phật thường nói “nhất
thiết pháp tùng tâm tưởng sanh” (hết thảy pháp
từ tâm tưởng mà sanh)
đó ư? Tùy theo ư niệm của quư vị như thế
nào, cảnh giới bên ngoài sẽ chuyển theo ư niệm
ấy. Phần sau lại c̣n khai thị tường
tận hơn nữa.
Như vậy, phải biết Ma do
đâu có, Ma là vọng niệm, ư niệm của quư vị
không tương ứng với tự tánh; ấy là Ma. Yêu
ma, quỷ quái từ đó mà sanh, tự tánh của chúng
cũng là A Di Đà Phật. Đúng như Ngẫu Ích
đại sư đă nói: “Cảnh
duyên vô hảo xú, hảo xú khởi ư tâm” (Cảnh
duyên không xấu - tốt, xấu - tốt từ tâm
khởi). Phật là tốt, ma là xấu, cổ đức
thường nói: “Vô Phật, diệc
vô ma” (Không Phật, cũng không ma), chánh xác! Lại xem
phần khai thị tiếp theo. Đoạn khai thị này
khá dài, cũng nên chia thành vài đoạn. Chúng tôi đọc
từng đoạn một để học tập.
Giáo trung đạo: “Sanh nhi vô sanh, Pháp
Tánh trạm nhiên, vô sanh nhi sanh, nghiệp quả nghiễm
nhiên”.
教中道。生而無生。法性湛然。無生而生。業果儼然。
(Trong giáo
pháp có nói: “Sanh nhưng vô sanh, Pháp Tánh lặng trong; vô sanh mà
sanh, nghiệp quả rành rành”).
Đây là một đoạn. Đoạn
này là cương lănh của phần khai thị nhằm thuyết
minh đạo lư cho chúng ta. “Giáo
trung đạo”: Giáo là lời dạy dỗ của
đức Thế Tôn, đức Thế Tôn răn dạy
có nói như thế đó,
“đạo” nghĩa là nói. Thông thường cũng có
thể hiểu Giáo là kinh luận, “giáo trung đạo” là kinh luận Phật giáo có
nói như thế này. Hai cách hiểu này tương
đồng, nhưng chúng tôi dùng cách thứ nhất ngơ
hầu con người hiện tại dễ hiểu
hơn: [“Giáo trung đạo”
nghĩa là] trong khi giảng dạy, đức Thích Ca Mâu Ni
Phật đă có nói như thế đó. Giải thích như
vậy chắc mọi người đều hiểu
được.
“Sanh nhi vô
sanh, Pháp Tánh trạm nhiên”, v́
sao nói “sanh nhi vô sanh”? Sanh là
hiện tướng, tướng sanh khởi lên, tức là
hiện tướng sanh khởi. Có những kẻ chấp
tướng, mê tướng, như thế là lầm
lạc, không hiểu rơ chân tướng sự thật. Chân
tướng sự thật là ǵ? Chân tướng là vô sanh.
Chân tướng là sanh nhưng không sanh. Đạo lư này sâu
xa lắm. Nếu quư vị biết sanh nhưng vô sanh,
chẳng chấp tướng, chẳng sanh khởi vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước th́ quư vị
đă trụ trong cảnh giới của Phật.
Nói “sanh
nhưng vô sanh”, biết “Pháp
Tánh trạm nhiên”. “Trạm
nhiên” là thanh tịnh đến tột bậc. Giống
như nước, nước không có tí xíu sóng gợn nào
th́ gọi là “trạm”; không
có chút nhiễm ô nào, nước giống như một
tấm gương, nh́n thấu tận đáy, sạch
sẽ, chẳng nhiễm mảy trần. “Trạm nhiên” là như vậy đó. Pháp Tánh
trạm nhiên: Pháp Tánh vĩnh viễn lặng trong, Pháp Tánh
bất sanh, bất diệt, Pháp Tánh không đến, không
đi, Pháp Tánh không nhơ, không sạch, Pháp Tánh chẳng
phải có, chẳng phải không. V́ sao là chẳng phải
có? V́ Pháp Tánh lặng trong. V́ sao là chẳng phải không? V́
nó có thể hiện tướng. Giống như
nước sạch, nước không sóng ṃi, nó hiện
tướng; sơn hà đại địa bên ngoài
hiện bóng trong nước, nó có tướng. Tuy có
tướng, nhưng chẳng thể nắm bắt
được tướng ấy, nên tướng ấy
chẳng liên quan ǵ đến cái Có. Nó vốn không có
tướng, cảnh giới bên ngoài chiếu vào nó, cho nên
nói là “sanh nhưng vô sanh”.
Dùng nước để tỷ dụ, quư vị hăy quan sát
kỹ. Hoặc dùng tấm gương [làm tỷ dụ],
lại càng dễ thấy hơn. Gương chiếu h́nh
ảnh bên ngoài, tướng trong gương là “sanh nhưng
vô sanh”. Sanh v́ trong ấy có tướng, vô sanh v́ quả
thật không có tướng.
Đây là nói về chân tâm của chúng ta,
luận về bản tánh, Pháp Tánh. Trong bản tánh quả
thật không có tướng, nhưng nó có thể hiện
tướng. Chuyện này rất lạ lùng, [Pháp Tánh] không
giống như tấm gương, chẳng có cách nào
tỷ dụ được. Dùng gương hay nước
để tỷ dụ Pháp Tánh đều chẳng thể được!
Gương hay nước là bên ngoài có tướng soi bóng
vào chúng, c̣n Pháp Tánh có thể hiện được tướng,
tuy nó vốn không có tướng! Không có tướng mà
lại có thể hiện tướng, hiện tướng
nhưng [tướng được hiện ra ấy] không
phải là cái nó vốn có, đấy mới là diệu.
Không dễ hiểu đâu, quả thật rất khó
hiểu! Hiện thời, các nhà khoa học đă phát
hiện, đă nói: “Có là do đâu mà có?” Có từ Không mà sanh ra!
Không là Pháp Tánh, Pháp Tánh vốn không có, nhưng nó có thể
hiện tướng, có thể sanh ra Có. Có lại quy về
Không, vẫn trở về nơi Không. Vô là Pháp Tánh, Hữu
là pháp tướng.
Pháp tướng là ǵ thế? Pháp
tướng là hiện tướng (tướng được
biến hiện), hiện ra những tướng nào? Hư
không, pháp giới! Trong kinh điển Đại Thừa,
đức Phật dạy chúng ta: Những tướng
được hiện là thế giới Cực Lạc, thế
giới Hoa Tạng, [những thế giới ấy] do Pháp
Tánh hiện ra. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp
giới cũng do nó hiện, thật ra, [tất cả những
tướng được hiện ấy] đều là
Nhất Chân pháp giới nhưng đă bị biến
dạng đi. Cái ǵ có khả năng làm biến dạng nó?
Chính là Thức! Thức là phân biệt, chấp
trước. Vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước khiến cho những tướng ấy bị
biến dạng. Có vọng tưởng nhưng không có phân
biệt và chấp trước th́ mức độ
biến dạng ít, Nhất Chân pháp giới bị biến
dạng thành tứ pháp giới. Nếu trong ấy lại
c̣n thêm phân biệt, chấp trước th́ mức
độ biến dạng rất lớn, [Nhất Chân pháp
giới] biến thành lục đạo luân hồi. Bởi
thế, lục đạo luân hồi và tứ thánh pháp
giới vốn chỉ là Nhất Chân pháp giới.
Điều đó cho thấy: Nếu quư vị ĺa
được vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước th́ ngay lập tức những tướng bị
biến dạng ấy sẽ khôi phục đúng
đắn, thế giới được khôi phục
đúng đắn sẽ chính là Cực Lạc, chính là Hoa
Tạng!
Thế giới này chỉ do tâm hiện,
biến hiện ra, thời gian hiện hữu là bao lâu?
Không có thời gian. Thưa cùng quư vị, không có thời gian
mà cũng chẳng có không gian. Thời gian lẫn không gian
hoàn toàn là giả, không thật. Thời gian và không gian
từ vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước mà sanh. Pháp Tánh hiện tướng là Nhất
Chân, quư vị phải chú tâm thấu hiểu điều
này, nó rất khó hiểu. V́ sao? Đây chẳng phải là
chuyện chúng ta thường nhận biết, kiến
thức thông thường không thể lănh hội nổi.
Khoa học không thể giải thích được,
triết học cũng không thể giải thích. Nhà
Phật nói “nhất thời
đốn hiện” (nhanh chóng xuất hiện trong cùng
một lúc), nay khoa học hiện tại đă biết nói
“nhất thời đốn hiện”. Hiện thời các nhà
khoa học đă biết vũ trụ vốn là nhất
thời đốn hiện. Gần đây, các nhà khoa
học nói “trong Không sanh ra Có,
nhất thời đốn hiện”. Thời gian
hiện diện hết sức ngắn, ngắn đến
mức độ nào th́ chúng ta không có cách ǵ tưởng
tượng được. Chúng ta nói đến sát-na
ư? Sát-na c̣n là quá dài!
Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật
dạy: “Đương xứ
xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (sanh ra từ
nơi đâu, sẽ diệt mất ngay nơi đó). Hai
câu trên h́nh dung chân tướng của sự “nhất thời đốn
hiện”. Thế nhưng nhất thời đốn
hiện không ngừng; cái nhất thời đốn
hiện này vừa diệt th́ cái thứ hai lại nhất
thời đốn hiện. Cái nhất thời đốn
hiện thứ hai vừa diệt, cái thứ ba lại
nhất thời đốn hiện. Thế giới
được chúng ta cảm nhận trong hiện tại
chỉ là tướng nhất thời đốn hiện
liên tục, từng cái tiếp nối nhau, tướng tương
tục (tiếp nối nhau), chuyện là như vậy,
quyết định không có hai tướng hoàn toàn
tương đồng. Đến khi nào mới
tương đồng? Phật Phật đạo đồng.
Đến khi chứng được Phật quả
rốt ráo, cũng có nghĩa là vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước thảy đều
đoạn sạch, lúc đó, những tướng
được hiện sẽ tương đồng. Tướng
ấy vẫn là tướng tương tục y như
cũ, nhưng cái tướng tương tục ấy
tương đồng, không biến đổi. Phải là
ở nơi Quả Địa Như Lai mới thấy
được điều ấy, Đẳng Giác không
thấy được, v́ sao? Đẳng Giác Bồ Tát c̣n một phẩm sanh tướng vô minh
chưa đoạn, vẫn c̣n sai khác cảnh giới
Phật đôi chút, không hoàn toàn tương đồng. Câu
nói này (tức câu “sanh nhưng
vô sanh, Pháp Tánh trạm nhiên”) đă nói toạc Thật
Tướng của các pháp và chân tướng nhân sinh vũ
trụ.
“Vô sanh nhi
sanh, nghiệp quả nghiễm nhiên”: Thuyết minh v́ sao trong Không có thể
sanh ra Có. Câu trước ngụ ư Sanh là có, Vô Sanh là không,
trong Không sanh ra Có. Phần trên đă giảng trong Có v́ sao là
Không. Nói như thế rồi, bây giờ bèn nh́n
ngược lại, tức là từ cảnh giới
Như Lai nh́n ngược vào cảnh giới đă bị
biến dạng: “Vô sanh mà sanh”.
Khoa học gia hiện thời đă phát hiện vô sanh mà sanh,
nhưng câu trên đây tôi vẫn chưa nghe nói tới. “Nghiệp quả nghiễm nhiên”:
Mê hoặc tạo nghiệp, thọ báo. Trong những
phần trên tôi đă nói đến tam chướng; trong
phần Văng Sanh Chú có nói: Phiền Năo Chướng,
Nghiệp Chướng, Báo Chướng. “Vô sanh mà sanh” là nói đến cái bị biến
dạng. Thật tướng của các pháp bị biến
dạng như thế nào? Chính là nghiệp quả rành rành.
Câu “nghiệp
quả nghiễm nhiên” nói cách khác là nhân quả chẳng
không! “Vạn pháp giai không, nhân
quả bất không” (vạn pháp đều không, nhân
quả chẳng không). Nghiệp báo nghiễm nhiên là nhân
quả chẳng không. V́ sao lại nghiễm nhiên? V́ sao nhân
quả chẳng không? Nhân biến thành quả, quả
lại biến thành nhân. Nhân quả biến chuyển
chẳng không, nhân quả tuần hoàn chẳng không, nhân
quả tiếp nối chẳng không. Đó là chân
tướng sự thật. Đạo lư này chung cho cả
pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian. Phật pháp
chẳng ĺa nhân quả. Thanh Lương đại sư
phán định Đại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm Kinh là “ngũ châu nhân quả” (năm tầng lớp nhân
quả). Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là “nhất thừa nhân
quả”. Bỏ đi nhân quả, đức Phật
cũng không c̣n pháp ǵ để nói nữa. Do vậy, pháp
thế gian và xuất thế gian chẳng ĺa nhân quả.
Do đây biết rằng: Chớ nên
tạo nhân ác, quyết định chớ nên tổn
hại hết thảy chúng sanh. Chẳng những không
được tổn hại, mà ư niệm tổn hại
cũng chẳng được có. Khởi lên ư niệm
ấy tức là tạo một chủng tử ác trong A
Lại Da Thức. Như vậy, chúng ta tu hành chính là tu
điều ǵ? Quan trọng nhất là ác niệm không sanh.
Tiêu chuẩn thiện ác đối với người
mới học Phật giáo là Thập Thiện Nghiệp
đạo. Nói cách khác, giết, trộm, dâm, dối, nói
đôi chiều, ác khẩu, nói thêu dệt, tham, sân, si là
mười ác nghiệp. Không có những ư niệm ấy,
đương nhiên chẳng cần phải nói đến
hành vi. Đó là thực sự tu hành, đó là thực sự
dụng công. Lục căn tiếp xúc cảnh giới
lục trần bên ngoài mà vẫn có ư niệm th́ là trật
rồi! Quư vị nói thân tôi không tạo, nhưng ư quư vị
đă tạo! Công cụ để tạo nghiệp có ba
thứ (ba loại lớn): thân - ngữ - ư. Thân không
tạo, miệng không tạo, nhưng ư tạo. Quư vị
động niệm th́ vẫn chẳng thể thoát khỏi
luân hồi trong lục đạo.
V́ vậy, nếu ba nghiệp thanh
tịnh, trong ba nghiệp quan trọng nhất là ư
nghiệp, chỉ cần nơi ư nghiệp không tạo ác
th́ thân và miệng chắc chắn không tạo ác. [Những ác
nghiệp nơi] Thân và Miệng gồm bảy chi, thân ba (giết,
trộm, dâm), miệng bốn (nói dối, nói đôi chiều,
nói thêu dệt, ác khẩu), chịu sự chỉ huy của
Ư, tiếp nhận sự chỉ huy của Ư, vâng lệnh
tạo tác. Ư không có th́ làm sao Thân và Miệng tạo tác
được? Nghiệp quả nghiễm nhiên, chúng ta
phải thời thời khắc khắc cảnh tỉnh
cao độ nơi chỗ này. Trong phần khai thị
tiếp theo, thiền sư Trung Phong giải thích bốn câu
cương lănh nói trên:
Sở vị sanh giả.
所謂生者。
(Như
sanh vừa nói đó)
Thế nào là Sanh? Thế nào là Vô Sanh?
Ở đây, đại sư giải thích cho chúng ta
biết “cái Sanh vừa nói
đến đó”:
Tức chúng sanh sanh diệt chi Tích dă.
即眾生生滅之跡也。
(Chính là
dấu vết sanh diệt của chúng sanh).
“Tích” (跡) là huyễn tướng, là dấu
vết, chúng ta thường gọi là hiện tượng.
“Chúng sanh sanh diệt chi Tích dă”.
Hai chữ “chúng sanh” là
mấu chốt. Có rất nhiều người hễ
thấy chữ “chúng sanh” bèn
nghĩ ngay đến con người, không sai, con
người là do các duyên ḥa hợp sanh ra; nhưng chúng ta
thấy ngoài con người ra, c̣n có rất nhiều
động vật, động vật cũng do các duyên ḥa
hợp mà sanh. Ngoài động vật c̣n có thực vật,
vẫn là do các duyên ḥa hợp mà sanh. Ngoài thực vật c̣n
có khoáng vật, núi, sông, đại địa, bùn, cát,
đất, đá. Tây Phương Cực Lạc thế
giới có bảy báu, vô lượng trân bảo, có thứ nào
chẳng do các duyên ḥa hợp mà sanh. Thậm chí hư không,
vẫn là do các duyên ḥa hợp mà sanh. Không có duyên, hư không
chẳng xuất hiện!
Các nhà khoa học hiện thời phát
hiện không gian mười phương lẫn thời
gian ba đời đều là giả, không thật. Trong
một t́nh huống nào đó, không gian lẫn thời gian
không tồn tại, chúng có thể bằng zéro. Không gian có xa
- gần, bằng với zéro là không c̣n xa - gần; thời
gian có quá khứ, hiện tại, vị lai; bằng với
zéro th́ không c̣n quá khứ, hiện tại, vị lai. Các duyên
ḥa hợp mà sanh, cho nên ư nghĩa của chữ “chúng sanh” hết sức
rộng lớn, bao gồm cả hư không, pháp giới,
hữu t́nh, vô t́nh, không có một hiện tượng nào
chẳng phải do các duyên ḥa hợp sanh ra. Nói cách khác, sáu
cảnh mà sáu căn tiếp xúc đều gọi là chúng
sanh. Những hiện tượng ấy đều có sanh
diệt, chúng tôi vừa mới nói đó thôi, “sanh ra từ chỗ nào, sẽ
diệt mất ngay nơi đó”.
Chỉ có đức Phật biết “sanh ra từ chỗ nào, sẽ
diệt mất ngay nơi đó”, chắc chắn phàm phu
chúng ta không thể biết được; bởi lẽ,
tốc độ ấy quá nhanh, chúng ta không có cách ǵ
tưởng tượng được, không có cách nào
diễn tả được! Thế giới theo cảm
nhận của chúng ta chính là những hiện tượng có
h́nh tướng tiếp nối; nhưng trong tướng
tiếp nối ấy, chúng ta cũng thấy chúng có sanh
diệt, nhưng sự sanh diệt ấy không phải là
sanh diệt của Pháp Tánh, mà là sự sanh diệt thuộc
về phân biệt, vọng tưởng, chấp
trước của chúng ta. Hết thảy hoàn cảnh và
vạn sự vạn vật trong hoàn cảnh, thuận theo
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
của chúng ta mà sanh diệt. Chúng có sự đáp trả, có
phản xạ, chúng ta chỉ có thể nhận biết
được chuyện này; c̣n những chuyện sâu
hơn, rộng hơn, kín nhiệm hơn, chúng ta hoàn toàn
không biết. Nay chúng ta học Phật biết
được đôi chút là do từ kinh luận
Đại Thừa mà thấy, nếu chư Phật,
Bồ Tát không chỉ dạy chúng ta, làm sao chúng ta nghĩ ra
được? Đó là “chúng
sanh sanh diệt chi Tích”.
Vị vô sanh giả.
謂無生者。
(C̣n vô sanh
th́ ).
Thế nào là vô sanh?
Tức chư Phật tịch diệt
chi bổn dă.
即諸佛寂滅之本也。
(Chính là tâm
tánh tịch diệt của chư Phật vậy)[17].
Sở chứng của chư Phật
Như Lai là quả địa rốt ráo. “Tịch diệt chi bổn” nghĩa là ǵ? Bổn
là Phật tánh, là tâm tánh, tâm tánh thanh tịnh tịch
diệt, nhưng cái thanh tịnh tịch diệt ấy
lại có thể sanh khởi, hiện tướng. Dù sanh khởi,
hiện tướng, nhưng nó không mất bản tánh.
Cũng có thể nói: Tướng được biến hiện
[bởi bản tánh] và bản tánh (Thể) là một,
Tướng có, Thể không! Chánh nhân là Thể không có,
Thể là không tịch, như vậy tướng ấy
ngăn ngại hay không ngăn ngại? Không ngăn
ngại! Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại.
Chướng ngại do đâu mà có? Chướng ngại
từ vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước mà sanh. Trong tự tánh không có vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, nên không có
chướng ngại. Pháp giới vô chướng ngại
chính là điều được chứng đắc bởi
chư Phật Như Lai. Trong pháp giới vô chướng
ngại không có khổ, hết thảy các nỗi khổ
trọn chẳng thể có được. Trong
chướng ngại có khổ nên trong mười pháp
giới có khổ, trong Nhất Chân pháp giới chẳng có khổ.
Pháp Tánh trạm nhiên giả, linh minh
trạm tịch, huyền diệu chân thường, cá cá
bất vô, nhân nhân bổn cụ.
法性湛然者。靈明湛寂。玄妙真常。箇箇不無人人本具。
(Pháp Tánh
trạm nhiên là linh minh trạm tịch, huyền diệu
chân thường, không ǵ chẳng có, ai nấy sẵn đủ)
Đoạn này giảng thật hay! Đoạn
này vô cùng khó hiểu. “Pháp Tánh” là Phật Tánh, là chân tâm
của chúng ta, là bản tánh của chúng ta. Chúng ta phải
hiểu “trạm nhiên” là ǵ?
Là thuần tịnh! Chỉ có thể nói như thế này
để h́nh dung: Không nhiễm ô mảy may, không dao
động mảy may, bất sanh, bất diệt. Trung Quán
Luận nói đến “bát
bất”: bất lai, bất khứ, bất
thường, bất đoạn, bất cấu, bất
tịnh (không đến, không đi, không thường c̣n,
không đoạn diệt, không dơ, không sạch).
Đại Thừa Phật pháp đem hết thảy
những h́nh dung từ ấy gộp thành pháp môn Bất
Nhị. Bất Nhị có nghĩa là không có ǵ đối
đăi, phàm phu chúng ta nói là “tương
đối”. Trong Pháp Tánh không có tương đối.
Không những trong Pháp Tánh chẳng có tương đối
mà trong Pháp Tánh từ trước đến nay không
khởi tâm động niệm, từ trước
đến nay không phân biệt, chấp trước. Trong
hội Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật nói “thanh tịnh bổn nhiên”, “diệu minh chân tâm”, nó
vốn sẵn là như vậy.
“Linh minh
trạm tịch” là tánh
đức, nó vốn sẵn là như vậy; không những
“linh” mà c̣n “minh” nữa! Do đó, trong phần khai thị
của thời thứ hai, thiền sư Trung Phong nói
đến Linh Tri Tâm. Linh Tri Tâm là Pháp Tánh, là Chân Tâm, là Chân
Như, là Bản Tánh, là Bản Giác, c̣n gọi là Đệ
Nhất Nghĩa. Một sự việc mà đức Phật
gọi bằng mười mấy danh từ, v́ sao lại
nói như vậy? Một mặt nhằm hiển thị
đức năng của tâm tánh là vô lượng vô biên,
mặt khác nhằm dạy chúng ta chớ nên chấp
trước, biết những danh từ ấy đều
nhằm chỉ một sự việc. V́ sao? Ĺa vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước th́ quư vị
mới tự chứng được. Nếu quư vị
vẫn c̣n vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
sẽ vĩnh viễn chẳng thể chứng đắc.
Nói cách khác, quư vị vĩnh viễn mê hoặc, vĩnh
viễn bất giác. Pháp Tánh linh minh là như kinh Đại
Thừa thường nói: Nó có thể thấy, có thể
nghe, có thể cảm nhận, có thể biết, thấy -
nghe - hay - biết; “linh minh” là
nói đến sự thấy - nghe - hay - biết ấy. Nó
vốn sẵn có năng lực đó.
Như hiện thời, tiến sĩ
Giang Bổn Thắng làm thí nghiệm kết tinh trên
nước, phát hiện nước có khả năng
thấy, nghe, hiểu được ư tưởng của con
người. Con người có thiện ư đối
với nước hoặc là có ác ư đối với nó, nó
có thể cảm nhận, chứng tỏ nước có khả
năng thấy - nghe - hay - biết. Nước thuộc
về khoáng vật, do khinh khí (hydrogene) và dưỡng khí
(oxygene) hợp thành. Nếu quư vị tách nước ra, tách
thành khinh khí và dưỡng khí th́ nước không c̣n
nữa. Vậy mà thưa cùng quư vị, nguyên tử khinh khí
và dưỡng khí vẫn đầy đủ [khả
năng] thấy - nghe - hay - biết. Điện tử (electron)
và hạch tử (nuclear) hợp thành nguyên tử. Mỗi
một điện tử và nguyên tử cũng có khả
năng thấy - nghe - hay - biết. Nếu lại tách ra nữa,
chia chẻ thành lạp tử (lepton và những hạt nhỏ
hơn nữa) th́ mỗi một lạp tử vẫn thấy
- nghe - hay - biết. V́ sao? Pháp Tánh trạm nhiên mà!
Như vậy, toàn thể vũ trụ,
kể cả hư không, hết thảy chúng sanh trong hư
không thế giới, bản thể của nó là Pháp Tánh.
Bản năng của Pháp Tánh nhất định không
bị mất đi, bản năng của Pháp Tánh là linh
minh giác tri, cũng tức là thấy - nghe - hay - biết.
Như vậy, chúng ta có thể biết là hết thảy
vạn sự, vạn vật trong vũ trụ đều
có thể thấy - nghe - hay - biết, chứ không riêng ǵ
nước. Hiện thời, rất nhiều đồng
học làm thí nghiệm, [nhận thấy] hoa quả, cây
cối cũng thấy - nghe - hay - biết. Đối xử
tốt với chúng th́ lá đặc biệt xanh, hoa
đặc biệt thắm, đặc biệt thơm. Nó
đền đáp ḿnh. Đối với nó bất
thiện, nó gục đầu ủ héo úa, hết c̣n
thơm tho, vẻ rực rỡ cũng mất tiêu. Chúng
hiểu thiện ư của con người, có thấy - nghe -
hay - biết, chúng có Pháp Tánh. V́ sao lại có hiện
tượng ấy? Trong kinh đức Phật giải
đáp rất hay: “Pháp nhĩ
như thị”, nghĩa là chúng vốn sẵn như
vậy. Nay chúng ta thâm nhập kinh tạng một chút bèn
hiểu rơ. Bởi lẽ, Thể của chúng là Pháp Tánh, Pháp
Tánh vốn sẵn có đầy đủ năng lực
ấy, năng lực ấy nhất định chẳng
bị mất đi; năng lực ấy trọn khắp
hư không pháp giới. V́ thế, nói là nó bất sanh, bất
diệt, không đến, không đi, không tăng, không
giảm, “linh minh trạm
tịch”.
“Huyền
diệu chân thường”: Thực
sự không có cách chi để tưởng tượng
được nổi th́ đó là “huyền diệu”. Cảnh giới chẳng
thể nghĩ bàn là Chân. Thường là vĩnh hằng,
không giả, bất sanh, bất diệt, vĩnh viễn
tồn tại. Đó là chân tánh, chân tâm, hay bản lai
diện mục của chúng ta. Tông Môn thường nói: “Bản lai diện mục
trước khi cha mẹ sanh ra”, bản lai diện
mục (diện mạo sẵn có) là Pháp Tánh.
Hai câu kế đó nói tuyệt hay, “cá cá bất vô, nhân nhân bổn cụ”
(không ǵ chẳng có, ai nấy sẵn đủ). “Nhân nhân bổn cụ” ư trong loài
người chúng ta, không một ai chẳng có đủ. “Cá cá bất vô” ư nói toàn
thể vũ trụ, bất luận hư không, bất
luận pháp giới, bất luận cơi nước – nay
chúng ta gọi cơi nước là tinh cầu, là tinh hệ,
đó là cái lớn; cái nhỏ là vi trần. Đúng như
kinh Lăng Nghiêm bảo là “chư
pháp sở sanh” (các pháp được sanh), chữ “chư pháp” chỉ hết
thảy các pháp trong vũ trụ: hư không, pháp giới,
cơi nước, chúng sanh, hết thảy các pháp, “chỉ do tâm hiện”, tâm
ở đây là Pháp Tánh, [tất cả các pháp ấy đều]
do tâm tánh biến hiện. Đức Phật lại nói
tiếp: “Nhất thiết nhân
quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành Thể” (Hết
thảy nhân quả, thế giới, vi trần, do tâm mà thành
Thể). Tâm ấy là Pháp Tánh, Thể của nó là ǵ? Thể
là Pháp Tánh. Pháp Tánh vốn sẵn đầy đủ linh
tri, há có thứ ǵ không linh? Há có thứ ǵ không tri (biết)?
Tri chính là giác! Như vậy, hết thảy pháp đều
có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận,
có thể biết.
Người chết đi, mới
chết chưa lâu, thần thức vẫn có thể thấy
- nghe - hay - biết. V́ sao? Thần thức do Pháp Tánh
biến hiện ra. Dù thần thức tách ĺa [thân thể],
thân thể không hít thở nữa, tất cả mọi
bộ phận đều ngưng vận hành, nhưng
mỗi tế bào trên thân thể ấy vẫn c̣n thấy -
nghe - hay - biết, v́ sao? Mỗi tế bào là một vật
thể, vật thể ấy lấy tâm làm Thể. Ta dùng
thiện ư đối đăi chúng, chúng sẽ đáp ứng
tốt lành. Dùng ác ư đối với chúng, chúng sẽ
đáp ứng xấu ác. Do vậy, chúng ta dùng thiện ư
đối với người mất, chúc phước cho
người ấy, người ấy sanh trong ba
đường lành; dùng ác ư đối với người
ấy, người ấy bèn phản ứng ác, sanh vào ba
đường ác.
Bởi thế, người chết qua
đời, chúng ta thường nói là “tắt thở”, trong
tám tiếng đồng hồ chẳng được
đụng chạm người ấy. V́ sao? Đụng
vào người ấy, người ấy vẫn c̣n
cảm giác, cảm giác đau khổ. Đau khổ bèn sanh
tâm sân hận. Đó là một tin tức không tốt,
người ấy sẽ có phản ứng không tốt,
người ấy chịu quả báo trong tam đồ. V́
thế, trong tám tiếng, tốt nhất là mười hai
tiếng, chớ có đụng chạm đến, ngay
cả giường cũng đừng đụng vào. Chúng
ta ở bên cạnh niệm Phật giúp cho người
ấy, trợ niệm. Một câu A Di Đà Phật như
mọi người đều biết là tin tức tốt
lành nhất, là tin tức thù thắng nhất. Nếu
người chết hoàn toàn tiếp nhận tin tức
ấy, phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, người ấy thành công rồi!
Nếu người ấy phiền năo tập khí quá
nặng, dẫu mọi người trợ niệm,
người ấy vẫn không có ư niệm văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Tuy vẫn không
có ư niệm như vậy, nhưng không bị đọa trong
ba ác đạo. Sự thật là như thế, đạo
lư là đây, chúng ta chẳng thể không biết. “Cá cá bất vô, nhân nhân bổn cụ”
(Không ǵ chẳng có, ai nấy sẵn đủ). A!
Bữa nay hết giờ rồi, chúng tôi giảng
đến đây thôi!
Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng
Kư,
Phần 14 hết
[1] Lưu Tống (353-422) là triều
đại đầu tiên của thời Nam Bắc
Triều, do Lưu Dụ lập ra. Gọi Lưu Tống
để phân biệt với nhà Tống (960-1279) của
Triệu Khuông Dẫn sau này. Lưu Dụ xuất thân là
tướng lănh. Nhân khi nhà Đông Tấn suy vi,
tướng Hoàn Huyền khởi binh soán ngôi, Lưu Dụ
cùng Lưu Nghị dấy binh dưới danh nghĩa
Cần Vương, tiêu diệt Hoàn Huyền. Cuối cùng,
Lưu Dụ diệt Lưu Nghị, triệt hạ các tông
thất của nhà Tấn như Tư Mă Hưu Chi, Tư Mă
Sở Chi v.v... ép Tấn Cung Đế nhường ngôi,
lập ra nhà Tống. Tống Văn Đế là vua thứ
ba, thời kỳ niên hiệu Nguyên Gia (424-453)
được coi là thời đại hoàng kim của nhà
Lưu Tống. Tống Văn Đế chăm việc
nước, phát triển văn hóa, giáo dục, chỉnh đốn
tăng đoàn, chú trọng kỷ cương nhà Phật.
[2] Thiên Trúc: Theo các nhà khảo cứu,
chữ Thiên Trúc là biến âm của chữ Thân Độc
(Sindhu, tên cổ của lưu vực sông
[3] Tây Vực là từ ngữ phiếm
chỉ các quốc gia cổ ở phía Tây Trung Hoa cho
đến Bắc Ấn Độ, nằm dọc theo Thiên
Sơn, tính từ hai cửa ải Ngọc Môn Quan và
Dương Quan của Trung Hoa. Các quốc gia này chủ
yếu nằm trong vùng trũng Tarim (Tháp Lư Mộc), Turfan
(Thổ Lỗ Phồn), và
[4] Cầu Na Bạt Đà La (394-468), c̣n
dịch nghĩa là Công Đức Hiền, người
xứ Trung Thiên Trúc (Ấn Độ) là một dịch
giả nổi tiếng, thuộc ḍng Bà La Môn. Do đọc
Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận, Ngài bèn quy hướng
Phật pháp, nghiên cứu Đại Thừa, tinh thông giáo
nghĩa Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa. Do tích
cực xiển dương Đại Thừa,
người đương thời gọi Ngài bằng
mỹ hiệu Ma Ha Diễn. Ngài đến Quảng Châu,
Trung Hoa vào năm Nguyên Gia 12 (435). Tống Văn Đế
phái người đón Ngài về kinh đô Kiến Khang,
vừa hoằng pháp vừa dịch kinh. Những dịch
phẩm chủ yếu của Ngài là Tạp A Hàm Kinh,
Lăng Già Kinh, Đại Pháp Cổ Kinh, Tương
Tục Giải Thoát Kinh, Thắng Man Sư Tử Hống
Nhất Thừa Đại Phương Tiện
Phương Quảng Kinh. Do dịch kinh Lăng Già, ngài
được coi là sáng tổ Lăng Già Tông, tổ Bồ
Đề Đạt Ma là học tṛ của vị này.
Lăng Già Tông c̣n gọi là Nam Thiên Trúc Nhất Thừa Tông,
hoặc Nam Tông, là một tông phái Phật giáo tại Trung Hoa
chuyên nghiên cứu kinh Lăng Già. Tông này thuộc học phái
chuyên nghiên cứu Như Lai Tạng trong Duy Thức, và
thường được coi là tiền thân của
Thiền Tông, chỉ thịnh hành ở phương Bắc
Trung Hoa trong thời Nam Bắc Triều. Lăng Già Tông này
chủ trương tu hạnh Đầu Đà, tu tập
Thiền Quán. Sau này, giáo nghĩa của Lăng Già Tông
bị thay thế bởi Thiền Tông do ngài Bồ
Đề Đạt Ma đề xướng.
[5] Tiên Đà Bà (saindhava): Vốn là một loại
muối sản xuất ở Ấn Độ, sau
được dùng để chỉ bốn sản vật
nổi tiếng là: Muối, ly, nước và ngựa. Trong
kinh Niết Bàn, từ ngữ này dùng để tỷ
dụ mật ngữ của Như Lai sâu xa khó hiểu.
Giống như quốc vương đ̣i Tiên Đà Bà,
đại thần thông minh sẽ tùy theo hoàn cảnh mà
biết vua muốn đi chơi th́ đem ngựa đến,
vua đang ăn mà đ̣i Tiên Đà Bà th́ dâng muối v.v...
Từ đây, Tông môn có từ ngữ “tiên đà khách”
để chỉ người học có khả năng lănh
hội mau chóng pháp cơ nơi thầy, tổ (theo Huệ
Quang tự điển).
[6] Hưng Cừ (hingu, devil’s dung) c̣n
gọi là A Ngụy, A Ngu, Cáp Tích Ni, Vân Đài v.v... là một
loại gia vị, có tên khoa học là Ferula Assafoetida. Hưng
Cừ có mùi rất nồng giống mùi hẹ, nhưng
rất khó chịu khi chưa nấu. Do đó, khi chưa
sử dụng, Hưng Cừ phải được
bỏ trong lọ đậy kín để khỏi làm các
thứ khác bị nhiễm mùi. Ở Ấn Độ,
loại cây này mọc phổ biến nhất tại vùng
[7] Đúng ra Ba Lạc là trái ổi, ở
đây chúng tôi dịch Ba Lạc là trái xoài để
thuận theo nghĩa chính xác của trái Am Ma La. Trong nguyên
ngữ Sankrit, Amarapuspaka có tên khoa học là Mangifera
Indica, tức là trái xoài.
[8] Giới đao (sastraka) là một trong 18
vật dụng tùy thân của tỳ-kheo. Do loại dao này
được phép cất giữ theo giới luật nên
gọi là giới đao. Theo Căn Bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp
Sự quyển 3 chép, lúc đức Phật ngự tại
thành Thất La Phiệt, có tỳ-kheo muốn may y, phải
dùng tay xé vải, khiến vải bị rách mà may y không
được nên Phật mới cho phép dùng dao. Nhóm Lục
Quần tỳ-kheo thừa cơ dùng các chất báu trang trí
cán dao, nên đức Phật quy định dao phải
bằng sắt, dài sáu ngón tay, h́nh cong như cánh quạ.
Giới đao dùng để cạo tóc hoặc để
cắt vải, xén y khi cần may vá. Đừng lầm với
cái gọi là Giới Đao là một món binh khí cồng kềnh
của tăng nhân Thiếu Lâm Tự sử dụng sau này.
[9] Trong nguyên văn, ḥa thượng nói
Đề Hồ là Sa Lạp (沙拉),
Sa Lạp là cách người Hoa phiên âm chữ Salad. Chúng tôi đoán
Ḥa Thượng nói đến các loại sốt (dressing) để
ăn salad thường chế từ cheese. Hơn nữa,
theo các sách vở khác, Đề Hồ chính là cheese nên chúng tôi
vẫn dịch theo cách này thay v́ ghi đúng như nguyên văn
lời Ḥa Thượng nói.
[10] Hương Tượng (Gandhahastin): Theo luận Đại Tỳ Bà Sa, hương tượng là con voi đực trong thời kỳ động dục, nách nó tỏa mùi thơm hăng nồng nên gọi là “hương tượng”; sức nó mạnh bằng mười con voi thường. Trong kinh Niết Bàn có từ ngữ “hương tượng độ hà”: Thỏ, ngựa, hương tượng cùng vượt sông. Thỏ qua sông th́ nổi, ngựa qua sông ngập nửa thân, c̣n hương tượng chân đạp đến tận đáy sông. Kinh luận dùng h́nh ảnh này để tỷ dụ sự chứng đắc sâu hay cạn khi nghe giáo pháp.
[11] Đây chỉ là chuyện quan tâm của người Hoa, người Việt chúng ta luôn đọc là A. Điều này cũng giống như hiện thời người Việt đang tranh luận phải đọc A Di Đà là A Mi Đà, thậm chí bất kính khi cho rằng các vị tổ sư, đại đức dịch kinh từ trước đến nay đă “đọc ngọng” chữ Mi thành Di!
[12] Chữ “hỗn đản” (渾蛋) là một từ
ngữ để chửi rủa kẻ hồ đồ,
chẳng hiểu biết, ngốc nghếch, trong một số
vùng, nó c̣n có ư nghĩa nhục mạ rất nặng: Con
hoang, ty tiện, ác ôn, côn đồ v.v...
[13] Theo Ấn Quang đại sư, bài Tán Phật Kệ này do Anh pháp sư tức ngài Đức Tạng Trạch Anh soạn ra (xin xem lá thư 52 trong Ấn Quang Văn Sao Tam Biên, quyển 1, tức lá thư thứ 4 gởi cho ông Đinh Phước Bảo). Ngài Đức Tạng Trạch Anh (1045-1099) sống vào thời Bắc Tống, người huyện Đồng Giang (tỉnh Chiết Giang), họ Du, tên tự là Uẩn Chi. Sư mất mẹ từ bé, có lần theo cha đến Hàng Châu, gặp được ngài Nam Sơn Đoan Phong bèn xin theo xuất gia. Năm Thiên Ninh thứ nhất (1068), Sư thọ Cụ Túc Giới, chuyên tâm tŕ luật cũng như theo học giáo nghĩa Chỉ Quán với ngài Xử Khiêm chùa Bảo Các, rất được ngài Xử Khiêm coi trọng, đặc biệt truyền dạy Thập Bất Nhị Môn Luận, Kim Cang Bễ Luận, do vậy Sư ngộ hiểu sâu xa giáo nghĩa Thiên Thai lẫn chỗ huyền áo của Tịnh tông. Đồ chúng các tỉnh Giang, Hàng, Hồ… theo học rất đông, Sư chú tâm dạy họ bằng giáo nghĩa Tịnh Độ và thường răn nhắc đại chúng siêng tu Tịnh nghiệp. Do kính trọng, mọi người đều gọi ngài là Đồng Giang pháp sư hay Đồng Giang Anh pháp sư chứ không gọi thẳng tên. Ngài để lại cho đời các bộ chú giải Tâm Kinh, Tam Châu Luận, Tịnh Độ Tu Chứng Nghi, Văng Sanh Tịnh Độ Thập Nguyện Văn, Biện Hoành Thụ Nhị Xuất, Khuyến Tu Tịnh Độ Tụng…
[14] “Cám” là màu xanh biếc có pha ánh hồng. Từ điển Từ Hải giảng: “Thâm thanh lư thấu hồng đích nhất chủng nhan sắc, tục xưng thiên thanh” (Một loại màu xanh đậm ánh sắc đỏ, thường gọi là màu thiên thanh).
[15] Vị Thượng Sư này là một cư sĩ Phật giáo, tức ông Trần Kiến Dân, thường được biết đến dưới danh xưng Yogi Chen, thầy của ông Lâm Ngọc Đường (Lin Yutang). Ông Trần đề xướng tu Mật Tông kiêm tu Tịnh Độ. Trong “giáo nghĩa” Tịnh Độ được ông Trần và ông Lâm tuyên giảng, có nhiều điều “phát kiến” rất lạ, không biết do đâu mà “phát minh” ra, cũng như cách tu rất tạp, không phải là chuyên tu Tịnh Độ.
[16] Song quan: Lối nói bao gồm ư nghĩa
kép.
[17] Xin chú ư, ở đây Trung Phong đại sư dùng hai khái niệm đặc thù của tông Thiên Thai: Bổn và Tích. Bổn là cái gốc, chỉ cho bản thể, chân tâm bản tánh, Phật tánh, chân như… Tích là những ǵ biến hiện từ Bổn. Sách vở tông Thiên Thai thường giảng Bổn như mặt trăng, Tích như bóng trăng hiện trong nước; hoặc nói Tỳ Lô Giá Na là Bổn, Thích Ca Mâu Ni Phật trong thế giới Sa Bà là Tích. Ở đây, tướng chúng sanh sanh diệt là Tích, c̣n chư Phật tịch diệt là Bổn. Lời giảng của Ḥa Thượng Tịnh Không không ngoài những ư này.